Năm 1927, tác phẩm Đường Kách Mệnh ra đời, được biết đến là cuốn sách bồi dưỡng lớp cán bộ đầu tiên của cách mạng Việt Nam đi theo học thuyết Mác – Lênin. Đặc biệt là phần mở đầu nhấn mạnh về tư cách của một con người Cách mệnh đã chỉ rõ mối quan tâm của chủ tịch Hồ Chí Minh về đạo đức của một con người làm cách mạng.
Trước lúc ra đi, trong bản di chúc của chủ tịch Hồ Chí Minh có để lại lời dặn dò về Đảng và vấn đề đạo đức: "Đảng ta là một Đảng cầm quyền. Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân".
Trong suốt những năm hoạt động cách mạng, chủ tịch Hồ Chí Minh đã luôn quan tâm đến vấn đề đạo đức và cách nuôi dưỡng ra những con người hoạt động cách mạng trọn vẹn tài đức. Người đã để lại một di sản tư tưởng tinh thần vô cùng quý báu cho toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta trong đó có tư tưởng về đạo đức cách mạng, giáo dục, bồi dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên. Là một tấm gương sáng về việc thực hành tác phong đạo đức của một con người hoạt động cách mạng, đại biểu cho toàn thể dân tộc. Có thể nói trong hệ tư tưởng Hồ Chí Minh vấn đề đạo đức luôn được đặt lên hàng đầu và chiếm giữ một vị trí quan trọng. Là một tiền đề luôn được nhắc đến trong những nội dung giáo dục, đào tạo, rèn luyện cán bộ, đảng viên và xây dựng Đảng.
Việc đào tạo ra những con người có đạo đức tốt được xem như là nền tảng của sức mạnh của những con người làm cách mạng. Phải có đạo đức thì mới có thể hoàn thành được nhiệm vụ cách mạng một cách vẻ vang vì sự nghiệp độc lập của toàn dân tôc. Chữ đức luôn đi chung với chữ tài, vì thế không được xem trọng một mặt mà bỏ qua mặt còn lại. Kết hợp tài và đức với nhau để có thể hoàn thành được nhiệm vụ cách mạng.
Hồ Chí Minh coi đạo đức là nguồn nuôi dưỡng, phát triển con người, như gốc của cây, như ngọn nguồn của sông, suối. Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù có tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân. Người đã khẳng định tầm quan trọng của tính đạo đức trong mỗi con người như nguồn nuôi dưỡng và phát triển của con người qua hình ảnh gốc của cây hay ngọn nguồn của suối ở câu nói: "Cũng như sông thì có nguồn mới có nước, không có nguồn thì sông cạn. Cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo. Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân. Vì muốn giải phóng cho dân tộc, giải phóng cho loài người là một công việc to tát, mà tự mình không có đạo đức, không có căn bản, tự mình đã hủ hóa, xấu xa thì còn làm nổi việc gì".
Trong quan niệm của Hồ Chí Minh cấu trúc nhân cách bao gồm hai mặt: Đạo đức và tài năng, phẩm chất và năng lực, hồng và chuyên, trong đó, Người xác định đạo đức, phẩm chất, hồng là gốc, là nền tảng, nhưng điều đó không có nghĩa là tuyệt đối hóa mặt đức, coi nhẹ mặt tài, với Người "Đức" và "Tài" phải đi đôi với nhau cũng như "hồng" và "chuyên". Đức là gốc, nhưng đức và tài phải kết hợp, phải đi đôi, không thể có mặt này, thiếu mặt kia. Hồ Chí Minh đã nói rất rõ, có tài mà không có đức thì chẳng những không làm được gì ích lợi cho xã hội, mà còn có hại cho xã hội nữa. Nếu có đức mà không có tài làm hại gì, nhưng cũng không lợi gì cho nhân dân.
Đạo đức cách mạng theo tư tưởng Hồ Chủ tịch Hồ Chí Minh không phải là đạo đức thuyết giáo, là đạo đức nói suông mà là đạo đức phải được gắn liền với thực tế của cuộc sống, đó là thước đo của đạo đức của cán bộ, đảng viên. Theo Hồ Chí Minh, có đạo đức cách mạng thì gặp thuận lợi và thành công vẫn giữ vững tinh thần gian khổ, chất phác khiêm tốn và khi gặp khó khăn, gian khổ, thất bại, cũng không sợ sệt, rụt rè, lùi bước. Hồ Chí Minh chỉ rõ "tuy năng lực và công việc của mỗi người khác nhau, người làm việc to, người làm việc nhỏ; nhưng ai giữ được đạo đức đều là người cao thượng".
1.2. Quan điểm về những chuẩn mực đạo đức cách mạng
1.2. 1. Trung với nước, hiếu với dân
Trung, hiếu là đạo đức truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam, được Chủ tịch Hồ Chí Minh thừa kế khái niệm cũ "trung với vua, hiếu với cha mẹ" trong đạo đức truyền thống của xã hội phong kiến phương Đông và phát triển thành một nội dung mới trong điều kiện mới để phản ánh đạo đức ngày nay cao rộng hơn. Trung với nước là trung thành vô hạn với sự nghiệp dựng nước, giữ nước, phát triển đất nước.
"Hiếu với dân" nghĩa là trọng dân, yêu dân, quý dân, trong nhân dân có cả cha mẹ, người thân của mình, đồng chí, đồng đội, đồng bào của mình – nhân dân là lực lượng nòng cốt và làm chủ vận mệnh đất nước. Cán bộ đảng, cán bộ nhà nước vừa là người lãnh đạo, vừa là "đầy tớ trung thành của nhân dân" chứ không phải "quan cách mạng" và thể hiện ở tinh thần thương dân, tin dân, phục vụ hết lòng, lấy dân là nguồn gốc làm nên thành công của mọi công việc.
Trung với nước, hiếu với dân là phẩm chất hàng đầu của đạo đức cách mạng. Người dạy, mỗi cán bộ đảng viên phải "Trung với nước hiếu với dân, suốt đời phấn đấu hy sinh vì độc lập tự do của Tổ quốc vì chủ nghĩa xã hội, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng". Phải nắm vững dân tình, hiểu rõ dân tâm, quan tâm cải thiện dân sinh, nâng cao dân trí, làm cho dân hiểu rõ nghĩa vụ và quyền lợi của người làm chủ đất nước.
1.2. 2. Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư
Đây là những phẩm chất đạo đức gắn liền với sinh hoạt hằng ngày của mỗi cán bộ, đảng viên, thực hiện những yêu cầu trên mỗi cán bộ, đảng viên sẽ trở thành những tấm gương sáng để nhân dân noi theo.
Theo Hồ Chí Minh, Cần, kiệm, liêm, chính là bốn đức tính của con người, như trời có bốn mùa, đất có bốn phương. "Cần" là cần cù, siêng năng, chăm chỉ; lao động có kế hoạch, có hiệu quả, năng suất lao động cao với tinh thần tự giác cao. "Kiệm" là tiết kiệm sức lao động, tiết kiệm thì giờ, tiết kiệm tiền của của dân,
Của nước, của bản thân mình, không sử dụng tùy tiện, bừa bãi, làm thất thoát, mất mát; phải tiết kiệm từ cái to đến cái nhỏ, nhiều cái nhỏ cộng lại thành cái to. "Liêm" là liêm khiết, trong sạch, tôn trọng của công, của nhân dân, không tham ô, tư lợi cho bản thân, không tham lam tiền của, danh vọng, đại vị. Phải "trong sạch, không tham
Lam". "Không tham địa vị. Không tham tiền tài. Không tham sung sướng. Không ham
Người tâng bốc mình. Vì vậy mà quang minh chính đại, không bao giờ hủ hóa". "Chính" là thẳng thắn, đứng đắn, không nịnh bợ kẻ trên, không tự cao tự đạo, lên mặt hách dịch với cấp dưới, với nhân dân. Mọi việc đều phải lấy việc chung, việc của nhân dân, đất nước làm trọng từ những việc nhỏ nhất miễn là việc thiện, việc có ích. Đối với mình: Không tự cao, tự đại, luôn chịu khó học tập cầu tiến bộ, luôn tự kiểm điểm để phát triển điều hay, sửa đổi điều dở của bản thân mình.
Chí công vô tư là đặt lợi ích của Tổ quốc, của nhân dân lên trên hết, trước hết. Phải trọng lợi ích của cách mạng hơn tính mệnh của mình. Phải hy sinh lợi ích của mình cho Đảng; việc của cá nhân và lợi ích của cá nhân để lại sau, là công bằng, công tâm, dân chủ, không thiên vị, biết "lo trước thiên hạ, vui sau thiên hạ", là nêu cao tinh thần chủ nghĩa tập thẻ, loại bỏ chủ nghĩa cá nhân. Theo Bác, chí công vô tư là đạo đức cao nhất. Muốn chí công vô tư thì phải chiến thắng được chủ nghĩa cá nhân. Bởi vậy, Hồ Chí Minh coi đây là chuẩn mực của người lãnh đạo, người "Giữ cán cân công lý". Không được vì lòng riêng mà chà đạp lên pháp luật.
Vì vậy, cần, kiệm, liêm, chính có quan hệ chặt chẽ với nhau và với chí công vô tư. Cần, kiệm, liêm, chính sẽ dẫn đến chí công vô tư. Ngược lại, đã chí công vô tư, một lòng vì nước, vì dân, vì Đảng thì nhất định thực hiện được cần, kiệm, liêm, chính.
1.2. Quan điểm về những chuẩn mực đạo đức cách mạng
1.2. 3. Thương yêu con người, sống có tình nghĩa
Hồ Chí Minh đã xác định tình yêu thương con người là một trong những phẩm chất đạo đức cao đẹp nhất. Người cho rằng người cách mạng là người giàu tình cảm, có tình cảm mới đi làm cách mạng. Người dành tình yêu thương rộng lớn cho những người cùng khổ. Những người lao động bị áp bức bóc lột, Người viết: "Tôi chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành".
Hồ Chí Minh yêu thương đồng bào, đồng chí của Người, không phân biệt họ ở miền xuôi hay miền ngược, là trẻ hay già, trai hay gái.. không phân biệt một ai, không trừ một ai, hễ là người Việt Nam yêu nước thì đều có chỗ trong tấm lòng nhân ái của Người. Người yêu thương con người trên lập trường của giai cấp công nhân; chăm lo mọi mặt đời sống con người để con người được thỏa mãn các nhu cầu, lợi ích, có điều kiện phát triển toàn diện cá nhân. Nó đòi hỏi mỗi người phải nghiêm khắc, chặt chẽ với bản than nhưng lại rộng lượng với người khác. Nó đòi hỏi thái động tôn trọng những quyền của con người nâng con người kể cả những lúc lầm lạc chứ không phải là thái độ dĩ hòa vi quý, không phải hạ thấp, không phải vùi dập người khác.
Tình yêu thương đó của Người thể hiện đối với những người có sai lầm khuyết điểm. Với tấm lòng bao dung của một người cha, Người căn dặn, chúng ta: "Mỗi con người đều có thiện và ác ở trong lòng ta, phải biết làm cho phần tốt ở trong mỗi con người nảy nở như hoa mùa xuân và phần xấu bị mất dần đi, đó là thái độ của người cách mạng. Đối với những người có thói hư tật xấu, từ hạng người phản lại Tổ quốc và nhân dân, ta cũng phải giúp họ tiến bộ bằng cách làm cho cái phần thiện trong con người nảy nở để đẩy lùi phần ác, chứ không phải đập cho tơi bời". Trong Di chúc, Người căn dặn Đảng: Phải có tình đồng chí thương yêu lẫn nhau, nhắc nhở mỗi cán bộ, đảng viên luôn luôn chú ý đến phẩm chất yêu thương con người.
1.2. 4. Có tinh thần quốc tế trong sáng
Chủ nghĩa quốc tế là một trong những phẩm chất quan trọng nhất của đạo đức cộng sản chủ nghĩa. Chủ nghĩa quốc tế là tinh thần quốc tế mà ở đó có sự tôn trọng, hiểu biết, thương yêu và tinh thần đoàn kết với giai cấp vô sản toàn thế giới, với các dân tộc bị áp bức, với nhân dân lao động các nước. Đó là tinh thần đoàn kết của nhân dân Việt Nam vỏi tất cả những người tiến bộ trên thế giới vì hòa bình, công lý và tiến bộ xã hội. Ngược lại, nếu tinh thần yêu nước không chân chính và tinh thần quốc tế không trong sáng thì sẽ dẫn đến chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi, sô vanh, biệt lập, kỳ thị chủng tộc hoặc chủ nghĩa bành chướng bá quyền. Tất cả những khuynh hướng ấy có thể phá vỡ một quốc gia dân tộc, hay một liên bang quốc gia đa dân tộc, phá vỡ tình đoàn kết quốc tế trong cuộc đấu tranh chung, thậm chí có thể đưa đến tình trạng đối đầu, đối địch gây chiến tranh sắc tộc, cục bộ. Hồ Chí Minh chủ trương giúp bạn là tự giúp mình
Đó là tinh thần đoàn kết quốc tế vô sản với mục đích lớn là hướng đến hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội là hợp tác với tinh thần hữu nghị mà Hồ Chí Minh đã nêu lên bằng mệnh đề "Bốn phương vô sản, bốn bể đều là anh em". Là tinh thần đoàn kết với các dân tộc bị áp bức, với nhân dân lao động các nước, mà Hồ Chí Minh đã dày công vun đắp bằng hoạt động cách mạng thực tiễn của bản thân mình và bằng sự nghiệp cách mạng của cả dân tộc.
1.3. Quan điểm về những nguyên tắc xây dựng đạo đức mới
1.3. 1. Nói đi đôi với làm, phải nêu gương về đạo đức
Hồ Chí Minh là một tấm gương sáng tuyệt vời về nói đi đôi với làm. Người quan tâm đặc biệt, hàng đầu tới vấn đề đạo đức. Người để lại nhiều bài viết, bài nói về đạo đức và quan trọng hơn là Người thực hiện trước hết, nhiều nhất những tư tưởng ấy. Ngay trong quá trình chuẩn bị thành lập Đảng Cộng sản, bàn về tư cách một người cách mệnh, Hồ Chí Minh đã chỉ rõ "nói thì phải làm". Người còn làm nhiều hơn những điều Người nói, kể cả việc làm mà không nói. Mỗi việc làm, mỗi hành vi của Người đều tiềm ẩn những tư tưởng đạo đức sáng ngời. Đây là một bài học quý giá cho mỗi chúng ta muốn tìm hiểu những tầng sâu bản chất của tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức thì không chỉ dừng lại ở những bài viết, bài nói, mà phải khám phá những hành vi đạo đức của Người, nghiên cứu những bài nói, bài viết của bạn bè quốc tế, những học trò của Người.
Tại sao nói phải đi đôi với làm, phải nêu gương về đạo đức?
Đạo đức cách mạng là đạo đức luôn được nhận thức và giải quyết trên lập trường của giai cấp công nhân, phục vụ lợi ích của cách mạng. Điều này phân biệt một cách rạch ròi với thói đạo đức giả, đạo đức của giai cấp bóc lột với những đặc trưng bản chất là nói nhiều, làm ít, nói mà không làm, nói một đằng, làm một nẻo, đem lại lợi ích không phải cho quần chúng nhân dân lao động, mà cho thiểu số những kẻ bóc lột.
Nói đi đôi với làm còn nhằm chống thói đạo đức giả. Sáu mươi năm qua, từ khi Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công đến nay, nơi này, nơi khác, trên những mức độ khác nhau ở cán bộ, đảng viên ta vẫn còn tồn tại hiện tượng nói không đi đôi với làm. Điều này sẽ dẫn tới nguy cơ làm mất lòng tin của dân đối với Đảng và chế độ mới. Ngay từ tháng 10 năm 1945, Hồ Chí Minh đã nói tới những kẻ "vác mặt làm quan cách mạng". Sau này, trong nhiều lần bàn tới việc cần tẩy sạch bệnh quan liêu, mệnh lệnh, Người chỉ rõ: "Miệng thì nói dân chủ, nhưng làm việc thì họ theo lối" quan "chủ. Miệng thì nói" phụng sự quần chúng ", nhưng họ làm trái ngược với lợi ích quần chúng, trái ngược với phương châm và chính sách của Đảng và Chính phủ".
Nêu gương đạo đức, nói đi đôi với làm là một nét đẹp của văn hóa phương Đông. Hồ Chí Minh chỉ ra rằng: "Nói chung thì các dân tộc phương Đông đều giàu tình cảm, và đối với họ một tấm gương sống còn có giá trị hơn một trăm bài diễn văn tuyên truyền". Noi theo tấm gương của V. I. Lênin, Hồ Chí Minh cũng đào tạo các thế hệ cách mạng người Việt Nam không chỉ bằng lý luận cách mạng, mà bằng chính tấm gương đạo đức cao cả.
Theo Hồ Chí Minh hơn bất kỳ một lĩnh vực nào khác, trong lĩnh vực đạo đức đặc biệt phải chú trọng "đạo làm gương". Làm gương có nhiều cấp độ, phạm vi và hệ quy chiếu khác nhau, ở đâu cũng có người tốt, việc tốt. Giai đoạn cách mạng nào cũng cần có nhiều tấm gương. Tùy theo nhiệm vụ và tình hình cụ thể mà tấm gương đó được biểu hiện ở những mặt nào, trong chiến đấu, lao động, học tập, cuộc sống đời thường trong gia đinh, ngoài xã hội.. Việc bồi dưỡng, nêu gương "người tốt, việc tốt" là rất quan trọng và cần thiết, không được xem thường. Nhiều giọt nước hợp lại mới thành suối, thành sông, thành biển cả. Không nhận thức được điều đó là "chỉ thấy ngọn mà quên mất gốc". Xây dựng đạo đức mới, nêu gương đạo đức phải rất chú trọng tính chất phổ biến, rộng khắp, vững chắc của toàn xã hội và những hạt nhân "người tốt, việc tốt" tiêu biểu.
1.3. Quan điểm về những nguyên tắc xây dựng đạo đức mới (tiếp)
1.3. 2. Xây đi đôi với chống
Làm cách mạng là quá trình kêt họp chặt chẽ giữa xây và chông. Xây dựng đạo đức mới lại càng phải quan tâm điều này. Bởi vì trong Đảng và mỗi con người, vì những lý do khác nhau, nên không phải "người người đều tốt, việc việc đều hay". "Mỗi con người đều có cái thiện và ác ở trong lòng. Ta phải biết làm cho phần tốt ở trong mỗi con người nảy nở như hoa mùa xuân và phần xấu bị mất dần đi, đó là thái độ của người cách mạng". Mặt khác, con đường tiến lên chủ nghĩa xã hội là cuộc đấu tranh lâu dài, gian khổ, cuộc chiến đấu khổng lồ. Trong cuộc chiến đấu đó, có nhiều kẻ địch nhưng thường có ba loại: Chủ nghĩa tư bản và bọn đế quốc là kẻ địch rất nguy hiếm; thói quen và truyền thống lạc hậu cũng là kẻ địch to, nó ngấm ngầm ngăn trở cách mạng tiến bộ; loại địch thứ ba là chủ nghĩa cả nhăn, tư tưởng tiểu tư sản còn ẩn nấp trong mình mỗi người chúng ta; nó chờ dịp - hoặc dịp thất bại, hoặc dịp thắng lợi - để ngóc đầu dậy; nó là bạn đồng minh của hai kẻ địch kia.
Nhận thức như vậy để thấy rằng "đạo đức cách mạng là vô luận trong hoàn cảnh nào, cũng phải quyết tâm đấu tranh, chống mọi kẻ địch, luôn luôn cảnh giác, sẵn sàng chiến đâu, quyêt không chịu khuât phục, không chịu cúi đâu. Có nhu thê mới thăng đuợc địch và thực hiện đuợc nhiệm vụ cách mạng". Đối với từng người, Hồ Chí Minh yêu cầu trước hết phải đánh thắng lòng tà là kẻ thù trong mình, không hiếu danh, không kiêu ngạo, ít lòng tham muốn về vật chất, vị công vong tư..
Chống và xử lý nghiêm là nhằm xây, đi liền với xây và muốn xây thì phải chống. Mục đích cuối cùng là xây dụng con nguời có đạo đức và nền đạo đức mới Việt Nam. Vì vậy, phải xác định đây là nhiệm vụ chủ yếu và lâu dài.
Xây là giáo dục những phẩm chất đạo đức mới, đạo đức cách mạng cho con người Việt Nam trong thời đại mới theo tư tưởng Hồ Chí Minh. Tất nhiên, giáo dục đạo đức phải phù họp với lứa tuổi, ngành nghề, giai cấp, tầng lóp và trong từng môi trường khác nhau. Đồng thời, phải chú ý tới hoàn cảnh, nhiệm vụ từng giai đoạn cách mạng. Xa rời thực tiễn và khư khư giữ lấy những nội dung cũ khi thực tiễn đã vượt qua đều không phù họp với quan điểm xây dựng đạo đức của Hồ Chí Minh.
Xây dựng đạo đức có nhiều cách làm. Trước hết mỗi người và tổ chức phải có ý thức tự giác trau dồi đạo đức cách mạng. Bản thân sự tự giác cũng là phẩm chất đạo đức quý đối với từng người và tổ chức. Điều này càng cần thiết và có ý nghĩa to lớn đối với Đảng và mỗi cán bộ, đảng viên. Bởi vì: "Một Đảng mà giấu giếm khuyết điểm của mình là một Đảng hỏng. Một Đảng có gan thừa nhận khuyêt điêm của mình, vạch rõ những cái đó, vì đâu mà có khuyết điểm đó, xét rõ hoàn cảnh sinh ra khuyết điểm đó, rồi tìm mọi cách để sửa chữa khuyết điểm đó. Như thế là một Đảng tiến bộ, mạnh dạn, chắc chắn, chân chính".
Xây đi đôi với chống trên cơ sở tự giáo dục, đồng thời phải tạo thành phong trào quần chúng rộng rãi. Điều này thuộc quy luật của cách mạng xã hội chủ nghĩa. Bởi vì chủ nghĩa xã hội là công trình tập thể của quần chúng nhân dân tự xây dựng dưới sự lãnh đạo của Đảng. Trong Di chúc, Hồ Chí Minh cũng viết rõ điều này: Để chống lại những gì đã cũ kỹ, hư hỏng và tạo ra những cái mới mẻ tốt tươi, cần phải động viên toàn dân, tổ chức và giáo dục toàn dân, dựa vào lực lượng vĩ đại của toàn dân.
Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Hồ Chí Minh đã luôn phát động phong trào quần chúng rộng rãi và đem lại những hiệu quả thiết thực. Đó là phong trào thi đua tăng gia sản xuất thực hành tiết kiệm, chống tham ô, lãng phí, quan liêu; cuộc vận động "3 xây, 3 chống" : Nâng cao ý thức trách nhiệm, tăng cường quản lý kinh tế - tài chính, cải tiến kỹ thuật, chống tham ô, lãng phí, quan liêu.
1.3. Quan điểm về những nguyên tắc xây dựng đạo đức mới (tiếp)
1.3. 3. Phải tu dưỡng đạo đức suốt đời
Tu dưỡng đạo đức là một truyền thống tốt đẹp của dân tộc và văn hóa phương Đông. Hồ Chí Minh đã nói về ưu điểm của Khổng Tử là "vấn đề tu dưỡng đạo đức cá nhân". Quan điểm của Khổng Tử là "chính tâm, tu thân". Có "tu thân" mới làm được những việc lớn khác như "trị quốc, bình thiên hạ". HÒ Chí Minh nói: "Chúng ta phải nhớ câu" Chính tâm, tu thân "để" trị quốc bình thiên hạ ". Chính tâm tu thân tức là cải tạo. Cải tạo cũng phải trường kỳ gian khổ, vì đó là một cuộc cách mạng trong bản thân của mỗi người. Bồi dưỡng tư tưởng mới để đánh thắng tư tưởng cũ, đoạn tuyệt với con người cũ đè trơ thann con người mới Ktiỏng piiai lá mọt việc dẻ dang.. Du kho khãn gian khổ, nhưng muốn cải tạo thì nhất định thành công".
Đạo đức cách mạng, đạo đức mới khác đạo đức cũ ở chỗ nó gắn với thực tiễn cách mạng và phục vụ cách mạng, phục vụ nhân dân. Vì vậy, việc rèn luyện, tu dưỡng bền bỉ suốt đời phải như công việc rửa mặt hàng ngày là một trong những yêu cầu có ý nghĩa quan trọng hàng đầu. Hồ Chí Minh viết: "Đạo đức cách mạng không phải trên trời sa xuống. Nó do đấu tranh, rèn luyện bền bỉ hàng ngày mà phát triển và củng cố. Cũng như ngọc càng mài càng sáng, vàng càng luyện càng trong.
Có gì sung sướng vẻ vang hơn là trau dồi đạo đức cách mạng để góp phần xứng đáng vào sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và giải phóng loài người" 1. Vì vậy, Người đòi hỏi "gian nan rèn luyện mới thành công". "Kiên trì và nhẫn nại.. Không nao núng tinh thần".
Cái ác luôn ẩn nấp trong mỗi người. Vì vậy, không được sao nhãng việc tu dưỡng, mà phải rèn luyện suôt đời, bên bỉ. Đặc biệt trong thời kỳ hòa bình, khi con người đã có ít quyền hạn, nếu không ý thức sâu sắc điều này, dễ bị tha hóa, biến chất. Hồ Chí Minh so sánh: "Tư tưởng cộng sản với tư tưởng cá nhân ví như lúa với cỏ dại. Lúa phải chăm bón rất khó nhọc thì mới tốt được. Còn cỏ dại không cần chăm sóc cũng mọc lu bù. Tư tưởng cộng sản phải rèn luyện gian khổ mới có được. Còn tư tưởng cá nhân thì cũng như cỏ dại, sinh sôi, nảy nở rất dễ". Nếu không chú ý điều này, sa vào chủ nghĩa cá nhân thì có thể ngày hôm qua có công với cách mạng, nhưng ngày hôm nay lại có tội với nhân dân.
Đạo đức cách mạng là nhằm giải phóng và đem lại hạnh phúc, tự do cho con người, đó là đạo đức của những con người được giải phóng. Vì vậy, tu dưỡng đạo đức phải gắn liền với hoạt động thực tiễn, trên tinh thần tự giác, tự nguyện, dựa vào lương tâm và trách nhiệm của mỗi người. Chỉ có như vậy thì việc tu dưỡng mới có kết quả trong mọi môi trường, mọi mối quan hệ, mọi địa bàn, mọi hoàn cảnh.
CHƯƠNG 2: SINH VIÊN HỌC TẬP VÀ LÀM THEO TƯ TƯỞNG, ĐẠO ĐỨC HỒ CHÍ MINH HIỆN NAY
2.1. Vai trò của việc học tập và làm theo tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh của sinh viên Việt Nam hiện nay
Chủ tịch Hồ Chí Minh từ sớm đã nhận thức được tầm quan trọng của việc tu dưỡng đạo đức cho thế hệ trẻ là thiết yếu, trong vì đối với mỗi người sinh viên, họ chính là những con người được giao nhiệm vụ trọng yếu là kiến thiết và xây dựng đất nước ngay khi họ hoàn thành việc học tập, hay nói cách khác sinh viên chính là "người chủ tương lai của nước nhà"; là cầu nối giữa các thế hệ và sinh viên chính là người tiếp sức cho cách mạng trong thời đại hiện nay.
"Người ta thường nói: Thanh niên là người chủ tương lai của nước nhà. Để thật xứng đáng là người chủ của một nước xã hội chủ nghĩa, thanh niên ta quyết tâm thực hiện mấy điều sau đây:
- Phải thấm nhuần đạo đức cách mạng tức là khiêm tốn, đoàn kết, thực hành chủ nghĩa tập thể, thương yêu, giúp đỡ lẫn nhau, người tiên tiến thì giúp đỡ người kém, người kém phải cố gắng để tiến lên, ra sức cần kiệm xây dựng nước nhà.
- Phải nghiêm khắc chống chủ nghĩa cá nhân như tự tư tự lợi, tự kiêu, tự mãn, chỉ tham việc gì có danh tiếng, xem khinh những công việc bình thường. Phải chống tham ô, lãng phí.
- Phải cố gắng học hỏi để không ngừng nâng cao trình độ chính trị, văn hóa và kỹ thuật để phục vụ Tổ quốc, phục vụ nhân dân."
Sinh viên có thể được xem là những con người tài năng nhất cả nước, vì họ được đào tạo kĩ lưỡng, được tiếp xúc với nền giáo dục tiên tiến. Tuy nhiên, tài năng mà không bồi dưỡng đạo đức, luôn vì tư lợi bản than thì cũng không đóng góp được gì cho đất nước. "Thanh niên phải có đức, có tài. Có tài mà không có đức ví như một anh làm kinh tế tài chính rất giỏi nhưng lại đi đến thụt két thì chẳng những không làm được gì ích lợi cho xã hội mà còn có hại cho xã hội nữa. Nếu có đức mà không có tài ví như ông Bụt không làm hại gì, nhưng cũng không lợi gì cho loài người".
Khi đạo đức và tài năng dần được hoàn thiện, một phẩm chất nữa không thể thiếu đó là lòng trung thành với tổ quốc, với nhân dân. Thế hệ thanh niên vẫn phải tiếp tục tu dưỡng đạo đức cách mạng, phải trung với nước, hiếu với dân, suốt đời đấu tranh cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người.
CHƯƠNG 2: SINH VIÊN HỌC TẬP VÀ LÀM THEO TƯ TƯỞNG, ĐẠO ĐỨC HỒ CHÍ MINH HIỆN NAY
2.1. Vai trò của việc học tập và làm theo tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh của sinh viên Việt Nam hiện nay (tiếp)
Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ là nha đạo đức học lỗi lạc mà con là một tấm gương đạo đức to lớn. Chính điều này đã đem lại cho tư tưởng và tấm gương đạo đức của Người có một sức sống mãnh liệt và cổ vũ lớn lao với nhân dân ta và nhân dân thế giới. Để có đủ tài đức để trở thành chủ nhân tương lai của đất nước, thanh niên cần phải học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh. Cụ thể là học hỏi từ chính lối sống giản dị của Bác, như học cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, đời riêng trong sáng, nếp sống giản dị và đức khiêm tốn vô thường. Một đạo đức hi sinh tính cá nhân của con người, không phải vì tư lợi, vượt qua những ham muốn cá nhân, sống trong sạch, giản dị, giàu lòng nhân ái, gương mẫu trong sinh hoạt học tập, tránh rơi vào thói ích kỉ, cá nhân, tham lam.
Nhấn mạnh vai trò của đạo đức trong đời sống của mỗi cá nhân trong xã hội.
Hồ Chí Minh không phân biệt đạo đức cách mạng và đạo đức đời thường, đạo đức cán bộ và đạo đức công dân. Người chỉ rõ, trong xã hội mỗi người có công việc, tài năng và vị trí khác nhau, người làm việc to, người làm việc nhỏ, nhưng ai giữ được đạo đức cách mạng đều là người cao thượng. Cũng như với cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân khác, đối với tầng lớp sinh viên, thanh niên trí thức, Hồ Chí Minh đã sớm xác định những phẩm chất đạo đức cần thiết để họ có phương hướng phấn đấu rèn luyện.
Hồ Chí Minh cho rằng việc giáo dục sinh viên phải biết dựa vào tổ chức, tập thể. Người chủ trương đưa thanh niên, sinh viên vào các tổ chức Đoàn, Hội, thông qua các tổ chức mà giáo dục. Thông qua các phong trào thi đua, các cuộc vận động, các chương trình hành động do Đoàn, Hội tổ chức góp phần giáo dục lý tưởng cách mạng, giáo dục đạo đức mới, lối sống mới cho sinh viên.
Theo người, để có được những phẩm chất như vậy, sinh viên phải rèn luyện cho mình những đức tính như: Trung thành, tận tụy, thật thà và chính trực. Phải xác định rõ nhiệm vụ của mình, "không phải là hỏi nước nhà đã cho mình những gì. Mà phải tự hỏi mình đã làm gì cho nước nhà. Mình phải làm thế nào cho ích lợi nước nhà nhiều hơn.". Trong học tập, rèn luyện, phải kết hợp lý luận với thực hành, học tập với lao động; phải chống mọi biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân, chống tư tưởng hám danh, hám lợi. "Chống tâm lý ham sung sướng và tránh khó nhọc. Chống thói xem khinh lao động, nhất là lao động chân tay. Chống lười biếng, xa xỉ. Chống cách sinh hoạt ủy mị. Chống kiêu ngạo, giả dối, khoe khoang". Phải trả lời được câu hỏi: Học để làm gì? Học để phục vụ ai? Phải xác định rõ thế nào là tốt, thế nào là xấu? Ai là bạn, ai là thù? Người chỉ rõ: "Đối với người, ai làm gì lợi ích cho nhân dân, cho Tổ quốc ta đều là bạn. Bất kỳ ai làm điều gì có hại cho nhân dân và Tổ quốc ta tức là kẻ thù. Đối với mình, những tư tưởng và hành động có lợi ích cho Tổ quốc, cho đồng bào là bạn. Những tư tưởng và hành động có hại cho Tổ quốc và đồng bào là kẻ thù.. Điều gì phải, thì phải cố làm cho kỳ được, dù là việc nhỏ. Điều gì trái, thì hết sức tránh, dù là một điều trái nhỏ".
Phương pháp quan trọng nhất để rèn luyện đạo đức đối với mỗi sinh viên là "luôn luôn biết sửa lỗi mình", thông qua "tự phê bình", góp phần hình thành và phát triển nhân cách cho sinh viên. Đối với mỗi sinh viên, việc tu dưỡng đạo đức phải được thực hiện trong mọi hoạt động thực tiễn của bản thân: Trong sinh hoạt, học tập, lao động, trong thi đua, trong mối quan hệ từ hẹp đến rộng, từ nhỏ đến lớn.
CHƯƠNG 2: SINH VIÊN HỌC TẬP VÀ LÀM THEO TƯ TƯỞNG, ĐẠO ĐỨC HỒ CHÍ MINH HIỆN NAY
2.2. Thực trạng việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức Hồ Chí Minh của sinh viên Việt Nam hiện nay
Học tập và làm theo tư tưởng Hồ Chí Minh đối với sinh viên là một cuộc vận động lớn vừa mang tính cấp bách trong bối cảnh hiện nay, vừa có ý nghĩa lâu dài đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ Quốc. Thông qua hoạt động giảng dạy môn học Tư tưởng Hồ Chí Minh tại các trường đại học, hầu hết sinh viên Việt Nam hiện nay đã nhận thức được vai trò và tầm quan trọng của công việc này. Tuy nhiên, bên cạnh những mặt tích cực, thực trạng việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức Hồ Chí Minh của sinh viên Việt Nam hiện nay vẫn còn tồn tại một số mặt hạn chế.
2.2. 1. Mặt tích cực
2.2. 1.1. Trong học tập
Trong học tập, sinh viên Việt Nam hiện tại đã cơ bản có nhận thức tốt về vị trí, vai trò của việc trang bị cho bản tân những tri thức xã hội và nhân văn cơ bản, ý chí và đạo đức cách mạng nói chung, và học tập tự nghiên cứu môn Tư tưởng Hồ Chí Minh nói riêng. Phần lớn sinh viên bước đầu đã rèn luyện được kỹ năng, kỹ xảo, phát triển tư duy độc lập, sáng tạo, vận dụng và giải quyết được những vấn đề thực tiễn đặt ra một cách khoa học, đồng thời củng cố, mở rộng, đào sâu, hệ thống hóa kiến thức. Hơn nữa, sinh viên đã chủ động tìm hiểu những đặc điểm, yêu cầu của môn học, nắm được những thuận lợi, khó khăn trong quá trình học tập, qua đó rút ra những biện pháp khắc phục khó khăn, lập kế hoạch học tập và chuẩn bị đầy đủ cho quá trình học tập. Việc xây dựng kế hoạch nghiên cứu của cá nhân cơ bản đã có tính khoa học và được triển khai thực hiện khá nghiêm túc, phát huy vai trò chủ thể trong hoạt động nhận thức, biến quá trình đào tạo thành tự đào tạo.
Đối với ở trên lớp, việc học tập và làm theo tư tưởng Hồ Chí Minh của sinh viên hiện nay cũng có nhiều chuyển biến tích cực. Hình thức thảo luận nhóm được tăng cường trong giảng dạy giúp sinh viên phát huy hoạt động tư duy sáng tạo cũng như rèn luyện kĩ năng làm việc tập thể của sinh viên.
Theo kết quả thu được từ những khảo sát từ các trường đại học về thái độ, tâm lí của sinh viên đối với việc học tập tư tưởng Hồ Chí Minh, phần lớn sinh viên có hứng thú và tích cực, chủ động đối với học phần này, cũng như đánh giá rằng rằng đây là học phần có vị trí "rất quan trọng" và "quan trọng".
2.2. 1.2. Trong các hoạt động của các tổ chức Đảng và đoàn thể
Tổ chức Đoàn, Hội của các trường đại học hiện nay đã có nhiều sáng tạo trong hình thức giáo dục đạo đức, lối sống cho sinh viên, chủ động triển khai nhiều chương trình, phong trào để sinh viên qua đó có thể học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức Hồ Chí Minh. Một số ví dụ điển hình như:
- Phong trào Sinh viên 5 tốt: Chuyển tiếp từ phong trào sinh viên 5 tốt cấp thành phố, Đoàn – Hội sinh viên các trường đại học hiện nay hằng năm đền phát động phong trào sinh viên 5 tốt cấp trường, thu hút sự quan tâm và tham gia của nhiều sinh viên. Với 5 tiêu chí: Đạo đức tốt, Học tập tốt, Kỹ năng tốt, Thể lực tốt và Hội nhập tốt, phong trào khuyến khích sinh viên chủ động rèn luyện bản thân, nâng cao kỹ năng của bản thân về mọi mặt.
- Chiến dịch tình nguyện Mùa hè xanh: Chiến dịch tình nguyện Mùa hè xanh là một hoạt động khuyến khích sinh viên tận dụng thời gian nghỉ hè của bản thân để rèn luyện, đi đến các địa điểm khó khăn để hoạt động chung và giúp đỡ người dân, qua đó phát triển kỹ năng của bản thân.
- Chương trình Hiến máu nhân đạo: Hiến máu nhân đạo là một chương trình được tổ chức 2 lần mỗi năm, thu hút sự tham gia tình nguyện của rất nhiều sinh viên đại học. Chương trình mang ý nghĩa hết sức thiết thực, giúp sinh viên thể hiện tinh thần nhân ái qua việc hiến máu của bản thân, đồng thời giúp ích cho đồn bào đan gặp khó khăn.
CHƯƠNG 2: SINH VIÊN HỌC TẬP VÀ LÀM THEO TƯ TƯỞNG, ĐẠO ĐỨC HỒ CHÍ MINH HIỆN NAY
2.2. Thực trạng việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức Hồ Chí Minh của sinh viên Việt Nam hiện nay
2.2. 2. Mặt hạn chế
2.2. 2.1. Trong học tập
Mặc dù kết quả thu được từ những khảo sát từ các trường đại học về thái độ, tâm lí của sinh viên đối với việc học tập môn tư tưởng Hồ Chí Minh cho thấy phần lớn sinh viên chủ động và hứng thú với môn học, khảo sát cũng cho thấy số lượng sinh viên thiếu quan tâm, thụ động với môn học là không hề nhỏ. Nhiều sinh viên có tái độ gò bó, miễn cưỡng đối với môn học, chỉ chủ động học bài khi đến kì thi hết môn, đặt nặng vấn đề điểm số, thi cử..
Ngoài ra, bên cạnh những sinh viên đã rèn luyện được kỹ năng phát triển tư duy độc lập, sáng tạo, ứng dụng những kỹ năng tư duy này vào học tập và tiếp thu tư tưởng Hồ Chí Minh, vẫn còn nhiều sinh viên chưa có phương pháp học phù hợp, hiệu quả: Chỉ dựa vào kiến thức ghi chép được trong giờ học trên lớp, hoặc chỉ đọc qua sách, giáo trình, đề cương sơ lược để học những kiến thức trọng tâm. Mặc dù đây là những cách tự học truyền thống, có hiệu quả nhất định nhưng cũng là những cách học khiến cho môn học trở nên thiếu sinh động, miễn cưỡng, khó tiếp thu, ít thể hiện sự vận dụng.
2.2. 2.2. Trong các hoạt động của các tổ chức Đảng và đoàn thể
Cũng như đối với thực trạng của việc học tập tư tưởng Hồ Chí Minh, trong các hoạt động của các tổ chức Đảng và đoàn thể, bên cạnh những sinh viên hứng thú và chủ động tham gia, vẫn còn nhiều sinh viên thụ động ít tham gia hoặc tham gia với thái độ miễn cưỡng.
Theo kết quả khảo sát từ một trường đại học về việc tham gia các hoạt động phong trào, ngoại khóa, có 98, 3% trả lời là có tham gia và 5, 4% sinh viên trả lời là "chưa bao giờ tham gia". Khi được hỏi "mục đích tham gia các hoạt động ngoại khóa là gì?" thì có 61, 0% sinh viên trả lời tham gia với mục đích hoàn thiện phẩm chất, năng lực bản thân; tiếp đến là do ảnh hưởng đến kết quả học tập (điểm rèn luyện) chiếm 31, 1% và tham gia với mục đích khác chiếm 7, 8%. Có thể thấy: Có đến 36.5% số sinh viên thực hiện khảo sát ngại tham gia các hoạt động rèn luyện và làm việc theo tư tưởng Hồ Chí Minh, hoặc miễn cưỡng tham gia vì sự ảnh hưởng đến kết quả học tập của những hoạt động này.
Kết quả trên cũng cho thấy việc thu hút sinh viên vào các hoạt động ngoại khóa, qua đó rèn luyện bản thân làm theo lời Bác vẫn là một vấn đề cần được quan tâm hơn.
CHƯƠNG 2: SINH VIÊN HỌC TẬP VÀ LÀM THEO TƯ TƯỞNG, ĐẠO ĐỨC HỒ CHÍ MINH HIỆN NAY
2.2. Thực trạng việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức Hồ Chí Minh của sinh viên Việt Nam hiện nay
2.2. 3. Nguyên nhân
2.2. 3.1 Nguyê. N nhân mặt tích cực
Do sự chú trọng đến việc nâng cao chất lượng và đổi mới phương pháp dạy học Tư tưởng Hồ Chí Minh tại các trường đại học hiện nay: Ứng dụng công nghệ thông tin, hệ thống bài tập mới, tổ chức làm việc nhóm thảo luận ở trên lớp và ngoài lớp.. việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức Hồ Chí Minh đã trở nên sinh động và dễ tiếp cận hơn đối với sinh viên. Hiệu quả từ việc giảng dạy Tư tưởng Hồ Chí Minh đã giúp nhiều sinh viên nhận thức rõ ý nghĩa, tầm quan trọng từ việc rèn luyện tư tưởng đạo đức bản thân hơn, qua đó thúc đẩy sinh viên tự giác học tập và tìm hiểu sâu hơn về học phần này.
Ngoài ra, việc tổ chức các hoạt động phong trào thường xuyên của các tổ chức Đoàn, Hội tại các trường đại học hiện nay đã giúp cho sinh viên có nhiều cơ hội tiếp thu và rèn luyện tư tưởng và đạo đức Hồ Chí Minh ở ngoài lớp hơn. Việc học tập và làm theo tấm gương Hồ Chí Minh đối với sinh viên không chỉ còn qua sách vở, lý thuyết mà còn là qua những hoạt động phong trào thực tiễn.
2.2. 3.2. Nguyên nhân mặt hạn chế
Hạn chế trong việc học tập Tư tưởng Hồ Chí Minh ở một bộ phận sinh viên đến từ thái độ học tập chưa đúng đắn của sinh viên đối với học phần này nói riêng và trong việc học nói chung. Tình trạng học tập với tư duy đặt nặng về vấn đề điểm số, học để đối phó với áp lực từ kiểm tra, thi cử là một vấn đề đáng báo động của sinh viên, học sinh hiện nay. Việc học tập để đối phó với môn học, học vì điểm số đã khiến cho sinh viên thiếu sự chủ động trong nghiên cứu môn học, hứng thú mày mò, tìm hiểu, khai thác và quan trọng hơn hết là vận dụng kiến thức của môn học vào thực tiễn. Hơn nữa, do một bộ phận sinh viên còn chưa thấy vai trò, mối liên hệ giữa học phần Tư tưởng Hồ Chí Minh với các học phần chuyên ngành, xem học phần này là học phần bắt buộc khô khan, không liên quan tới chuyên môn sau này dẫn tới động cơ học tập không cao, không có sự chuyên tâm và hứng thú với môn học.
Mặc dù đã có những đổi mới ở phương pháp dạy học, tổ chức hoạt động thảo luận nhóm, việc học tập Tư tưởng Hồ Chí Minh của nhiều sinh viên hiện nay vẫn chủ yếu là học thuộc lòng kiến thức trong sách, ghi chép trên lớp trước khi kiểm tra hoặc thi. Với kế hoạch học tập kém hiệu quả, thiếu mục tiêu và trao đổi, thảo luận, học phần càng trở nên nhàm chán và gò bó hơn đối với sinh viên, đồng thời dẫn đến việc học tập Tư tưởng Hồ Chí Minh của sinh viên khó tiếp thu hơn và tốn thời gian.
CHƯƠNG 2: SINH VIÊN HỌC TẬP VÀ LÀM THEO TƯ TƯỞNG, ĐẠO ĐỨC HỒ CHÍ MINH HIỆN NAY
2.3. Giải pháp nâng cao chất lượng việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức Hồ Chí Minh của sinh viên Việt Nam hiện nay
Giáo dục đạo đức Hồ Chí Minh cho sinh viên thông qua các môn học, trong đó môn Tư tưởng Hồ Chí Minh là nòng cốt.
Môn học Tư tưởng Hồ Chí Minh có nhiều nội dung, quan điểm và tư tưởng khác nhau, chứa đựng những giá trị đạo đức, xuất phát từ tư tưởng của chủ tịch Hồ Chí Minh. Vì vậy, giảng viên cần khai thác và truyền đạt cho sinh viên những khía cạnh, những nội dung và quan điểm được thể hiện qua môn học Tư tưởng Hồ Chí Minh này.
Bên cạnh đó, giảng viên cũng cần đổi mới phương pháp giảng dạy môn học Tư tưởng Hồ Chí Minh theo hướng tạo tính chủ động, độc lập, sáng tạo, tạo hứng thú cho sinh viên trong việc tiếp nhận tri thức về tư tưởng và đạo đức Hồ Chí Minh một cách hiệu quả. Đổi mới các phương pháp giảng dạy trong giờ, phương pháp thuyết trình truyền thống, lồng ghép những câu chuyện về các tấm gương đạo đức trong bài giảng. Ứng dụng công nghệ thông tin vào giảng dạy và khai thác hình ảnh, tư liệu về Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Phát huy ý thức tự giác, tự giáo dục của sinh viên trong việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức Hồ Chí Minh.
Nâng cao chất lượng công tác giáo dục đạo đức Hồ Chí Minh cho sinh viên cần phát huy tính tự giác, tự giáo dục của sinh viên gắn với thực hiện nhiệm vụ học tập và rèn luyện.
Trong hoạt động học tập: Sinh viên phải có mục tiêu học tập đúng đắn, phải biết tự xây dựng kế hoạch học tập và quyết tâm thực hiện kế hoạch đó một cách nghiêm túc, phải xây dựng được phương pháp tự học hiệu quả.
Trong nhiệm vụ rèn luyện của sinh viên: Rèn luyện bản thân nhằm hoàn thiện về phẩm chất đạo đức, nhân cách cũng là một nhiệm vụ rất quan trọng đối với sinh viên. Nhiệm vụ đó trước là thực hiện nghiêm túc nội quy, quy định của trường, của lớp và được thể hiện thông qua những việc rất nhỏ như: Đi học đầy đủ, đúng giờ, nghiêm túc trong học tập và thi cử, có thái độ tôn trọng thầy cô giáo.. Đó là trách nhiệm và nghĩa vụ, nhưng đồng thời cũng thể hiện thái độ đạo đức của sinh viên.
Tiếp tục đẩy mạnh công tác tuyên truyền về việc "Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh" sâu rộng trong sinh viên.
Cần đẩy mạnh công tác tuyên truyền về tư tưởng và đạo đức Hồ Chí Minh nhất là tạo thành các phong trào mạnh mẽ vào những ngày lễ như kỷ niệm giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước 30/4, ngày Quốc khánh 2/9 gắn liền với các nội dung, chuyên đề cụ thể nhằm làm giúp mọi người cũng như các bạn sinh viên nhận thức sâu sắc những nội dung cơ bản và giá trị to lớn của tư tưởng, đạo đức và phong cách Hồ Chí Minh, thúc đẩy mạnh mẽ việc làm theo tư tưởng, đạo đức của Người. Việc tuyên truyền phải được thực hiện thường xuyên, liên tục, thiết thực và có thể tuyên truyền thông qua các phương tiện khác như website nhà trường, thông qua phát thanh, qua bản tin nội bộ..
CHƯƠNG 2: SINH VIÊN HỌC TẬP VÀ LÀM THEO TƯ TƯỞNG, ĐẠO ĐỨC HỒ CHÍ MINH HIỆN NAY
2.3. Giải pháp nâng cao chất lượng việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức Hồ Chí Minh của sinh viên Việt Nam hiện nay (tiếp)
Cần đẩy mạnh công tác tuyên truyền về tư tưởng và đạo đức Hồ Chí Minh nhất là tạo thành các phong trào mạnh mẽ vào những ngày lễ như kỷ niệm giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước 30/4, ngày Quốc khánh 2/9 gắn liền với các nội dung, chuyên đề cụ thể nhằm làm giúp mọi người cũng như các bạn sinh viên nhận thức sâu sắc những nội dung cơ bản và giá trị to lớn của tư tưởng, đạo đức và phong cách Hồ Chí Minh, thúc đẩy mạnh mẽ việc làm theo tư tưởng, đạo đức của Người. Việc tuyên truyền phải được thực hiện thường xuyên, liên tục, thiết thực và có thể tuyên truyền thông qua các phương tiện khác như website nhà trường, thông qua phát thanh, qua bản tin nội bộ..
Ngoài ra cần kết hợp giữa giáo dục những phẩm chất truyền thống như yêu nước, lòng nhân ái, vị tha, trung hiếu, cần, kiệm.. với các giá trị đạo đức mới như chủ động, sáng tạo, tự lập, tự chủ, vượt khó.
Giáo dục đạo đức Hồ Chí Minh cho sinh viên thông qua hoạt động Đoàn, Hội và các hoạt động ngoại khóa, trải nghiệm.
Thực hiện đa dạng hóa các hoạt động ngoài khóa nhằm giáo dục về tư tưởng và đạo đức Hồ Chí Minh cho sinh viên như: Thông qua hình thức tuyên truyền, tọa đàm, chiếu phim tư liệu về Chủ tịch Hồ Chí Minh, qua hình thức tham quan, qua tổ chức ngày hội đọc sách, triển lãm về Chủ tịch Hồ Chí Minh hoặc các cuộc thi về Tư tưởng Hồ Chí Minh.
Ngoài ra, các hoạt động ngoại khóa, trải nghiệm của Đoàn thanh niên, Hội sinh viên tổ chức cũng như các động xã hội sẽ tạo ra một môi trường hợp tác, phát triển kỹ năng cho các bạn sinh viên. Chẳng hạn như các hoạt động tình nguyện thường niên "Xuân tình nguyện", "Mùa hè xanh" của sinh viên Bách Khoa nói riêng và sinh viên các trường đại học nói chung. Đây cũng chính là cơ hội tốt để các bạn tham gia rèn luyện, tích lũy kiến thức cũng như các kỹ nãng mềm cần thiết cho bản thân mình đồng thời giúp các bạn hợp tác và phát triển mối quan hệ, không chỉ giữa sinh viên mà còn với cộng đồng lớn hơn.
Do đó cần phát huy tốt vai trò chỉ đạo của Đoàn thanh niên, Hội sinh viên của mỗi trường đại học trong việc tổ chức và thu hút sinh viên vào các phong trào chính trị, xã hội. Chủ động tổ chức các hoạt động và phong trào thi đua cho đoàn viên, sinh viên, liên tục đổi mới và phát triển các phong trào tình nguyện vì cộng đồng.
Tổ chức các hoạt động thể dục thể thao cho sinh viên.
Để phấn đấu theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh không chỉ xây dựng hình ảnh sinh viên quốc tài năng, năng động mà còn phải có cả thể lực tốt, phấn đấu Tổ chức các hoạt động thể thao cho sinh viên trong trường, cũng như hoạt động giao lưu với các trường khác, ví dụ như một vài giải đấu với tần suất thường xuyên để sinh viên có cơ hội tham gia nhưng sân chơi bổ ích và rèn luyện sức khỏe.
Tạo ra môi trường học tập thoải mái cho sinh viên.
Ngoài việc nâng cao chất lượng giảng dạy thì việc xây dựng một môi trường học tập thoải mái, năng động cho sinh viên cũng giúp việc thay đổi nhận thức của sinh viên về việc học và tiếp thu các giá trị tư tưởng và đạo đức.
Mặc dù tư tưởngHồ Chí Minh được ra đời vào thời chiến nhưng nó vẫn giữ được giá trị của nó vào thời bình như hiện nay. Ở thời kì hội nhập quốc tế như hiện nay, tư tưởng Hồ Chí Minh được xem như là la bàn đạo đức dẫn lối cho thế hệ trẻ ở Việt Nam. Không những thế nó còn được coi là con đường học tập một cách hiệu quả cho những người tiếp cận với tư tưởng Hồ Chí Minh. Tuy được sinh ra đã từ rất lâu nhưng tư tưởng Hồ Chí Minh vẫn được phát triển và cải thiện qua từng ngày với một lượng đông đảo những người học tập theo tư tưởng Hồ Chí Minh. Được kế thừa từ kho tàng kiến thức, văn hóa của nhân loại, tư tưởng Hồ Chí Minh không chỉ phù hợp với bản sắc của con người Việt Nam mà nó còn được chấp nhận và tiếp thu ở những mảnh đất khác. Không kể đến nội dung tiến bộ về chính trị mà nó còn bao hàm cả về văn hóa, kinh tế và những chủ đề nổi bật khác mà luôn xuất hiện trong cuộc sống hằng ngày của mọi người. Khi học tập và làm theo tư tưởng Hồ Chí Minh bạn sẽ thấy nó như là một cẩm nang giúp bạn cả trong cách suy nghĩ lẫn hành động. Ngày nay, là sinh viên ở Việt Nam thì bạn sẽ một lần được học hỏi về tư tưởng Hồ Chí Minh. Được tiếp xúc từ sớm, thế hệ trẻ sẽ có lối suy nghĩ chín chắn, trưởng thành hơn.