127 ❤︎ Bài viết: 653 Tìm chủ đề
PHẦN 22

Văn Lang Nam Bắc mãi chiến chinh

Bách Việt còn đâu cảnh thái bình

Đói nghèo khốn đốn ôi cùng khắp

Trận địa rền vang tiếng quân binh.

Nói về Chủ Tướng Huỳnh Trung Kỳ sau khi đánh bại Triệu Phàn đóng đô ở Quang Hải Châu. Trải qua hơn 15 năm Huỳnh Trung Kỳ mấy lần thống lĩnh quân binh tiến đánh ra Bắc nhưng bị quân loạn tặc phản loạn Việt Trung Nguyên đánh bật trở vào Trung Văn Lang.

Có nhiều người tự hỏi rằng: Bách Việt Văn Lang tương tàn như thế lỗi thuộc về ai? Và câu hỏi nầy đến với những người tu tiên Đắc Đạo và được trả lời như sau: Bách Việt Văn Lang không ai là người có lỗi, mà cái lỗi lớn ở đây là Bách Việt Văn Lang đã lạc Cội mất Nguồn nền Văn Hiến Văn Hóa Quốc Đạo Văn Lang biến mất. Mặt Trời Tổ Quốc không còn, bóng u minh trùm xuống Bách Việt Văn Lang Yêu Tinh Quỉ dữ lộng hành gieo rét chiến tranh thảm khốc. Bách Việt Văn rơi vào kiếp nạn Yêu Tinh Quỉ dữ mà thôi.

Chiến trận Nam – Bắc phân tranh cảnh đen tối đất nước Văn Lang những cuộc giao tranh sống chết sanh tử có nhau thường nẩy sinh tình cảm trai gái, con trai lớn chủ tướng Huỳnh Trung kỳ. Huỳnh Văn Bá nên duyên chồng vợ với Kỳ Duyên con của Tri Phủ Kỳ Thọ nữ tướng anh hùng thời đó. Kỳ Duyên không những xinh đẹp vô cùng mà trí tuệ cũng hơn người thường giúp cho chồng lập nhiều công trạng lớn.

Văn Bá, Kỳ Duyên đóng quân ở Môn Hải Châu được quân thám báo báo tin là Quân loạn tặc phản loạn Việt Trung nguyên tổng sắp tấn công vào Trung Văn Lang, trước hết là xóa sổ Quang Hải Châu. Kỳ Duyên tức tốc về Quang Hải Châu báo tin cho cha là Kỳ Thọ cùng chủ tướng Huỳnh Trung Kỳ chuẩn bị đối phó. Kỳ duyên ở lại cùng với Cha Mẹ mấy hôm mới trở về Môn Hải Châu cùng ba vạn quân do Phó chủ tướng Lý Hạo chỉ huy hợp lực cùng quân Văn Bá trấn giữ Môn Hải Châu.

Lại nói về Triệu Phàn, Triệu Quân, Triệu Hàn được lệnh Việt Vương Doãn Thường tổng tấn công vào Trung Văn Lang chiếm lấy Quang Hải Châu, Môn Hải Châu, Ninh Hải Châu và tiếp tục đánh chiếm Trung Văn Lang.

Triệu Phàn đóng quân tại Linh Giao châu lúc nầy quân binh vô cùng hùng mạnh trên 20 vạn quân. Triệu Phàn liền triệu tập hai con đến. Triệu Quân khi ấy đóng đô ở Lạc Trung Giao Châu. Triệu Hàn đóng đô ở Liêu Giang Giao Châu.

Được lệnh của Cha. Triệu Hàn, Triệu Quân tức tốc đến Linh Giao Châu. Triệu Phàn nói với Triệu Quân, Triệu Hàn rằng:

Việt Vương Chúa Công ra lệnh cho cha con Ta chiếm lấy cho được Quang Hải Châu, thời Môn Hải Châu không đánh cũng lấy được.

Triệu Phàn nói nhỏ:

Theo kế sách của Việt Vương Chúa Công đã dự bị. Triệu Quân, Triệu Hàn mỗi người được nhận thêm 3 vạn quân bổ sung quân từ kinh đô Việt Trung Nguyên. Triệu Quân từ Lạc Trung Giao Châu tiến đánh Môn Hải Châu. Triệu Hàn Từ Liễu Giang Giao Châu đến phục kích tại rừng Tam Điệp. Cho thám báo theo dõi đường viện quân từ Quang Hải Châu, đến Môn Hải Thành tức thời xua quân chận đánh.

Nói về Kỳ Duyên vừa về đến Môn Hải Châu thời cũng vừa lúc Quân loạn tặc phản loạn kéo đến bao vây Môn Hải Châu. Môn Hải Châu là thành nhỏ không kiên cố cho mấy.

Huỳnh Văn Bá, Lý Hạo, Kỳ Duyên ở trên thành nhìn thấy quân loạn tặc phản loạn chia làm hai đạo quân từ Bắc kéo đến đông như kiến như muốn ăn tươi nuốt sống Môn Hải Châu. Quân loạn tặc phản loạn duy chuyển thần tốc không bao lâu thời phủ tới bao vây Môn Hải Châu.

Kỳ Duyên nhìn quân giặc trùng trùng nói:

Không ngờ quân loạn tặc phản loạn lại tiến đánh Môn Hải Châu ta. Không như những gì thám báo biết.

Văn Bá nói:

Có lẽ chúng đổi mục tiêu tấn công. Tình hình quân loạn tặc đã chuyển hướng mục tiêu tấn công. Không còn cách nào hơn là chúng ta tử chiến với quân loạn tặc một còn một mất vậy.

Kỳ Duyên liền thả chim bồ câu lên không trung khẩn báo tình hình ở Môn Hải Châu. Lại nói về Triệu Quân duy chuyển quân binh nhanh chóng bao vây Môn Hải Châu chưa ra lệnh tấn công phá thành ngày nào cũng bắc loa kêu gọi Huỳnh Văn Bá đầu hàng thời được tha chết bằng không thời con gà con chó cũng không còn. Những bậc tu tiên đắc đạo trên những dãy núi cao nhìn thấy đất nước Văn Lang hung khí khắp cùng sát khí mịt mù thời than rằng còn đâu Bách Việt Văn Lang cảnh Đồng Bào cứ mãi chém giết lẫn nhau thời ngâm vịnh thi rằng:

Vinh với nhục cũng chỉ là trò hề cuộc thế

Đúng với sai trò đời cùng lạc lối U Minh

Chỉ có người luôn hướng về Nguồn Cội

Mới thoát ra quyền pháp thuật Yêu Tinh.

Nói về Huỳnh Trung Kỳ đang ở Quang Hải Châu được tin báo là quân loạn tặc phản loạn tiến đánh Môn Hải Châu khí thế hùng mạnh hiện đang bao vây Môn Hải Châu thời kinh hồn thở dài: Số mạng Văn Bá khó mà giữ vững.

Liền cho mời Tri Phủ Kỳ Thọ đến tìm kế giải vây cho Kỳ Duyên, Văn Bá.

Kỳ Thọ nói:

Thành Môn Hải Châu không kiên cố như thành Quang Hải Châu nếu quân phản loạn Việt Trung Nguyên tấn công thời khó mà giữ nổi. Không như thành Quang Hải Châu kiên cố dù cho 20 vạn quân cũng khó mà công phá thành nổi trong vòng một tháng. Chỉ cần 3 vạn quân trấn giữ thành thời không hề gì. Chủ Tướng đem quân đến Môn Hải Châu ngoài đánh vào trong đánh ra thời có thể phá vòng vây giải cứu cho Kỳ Duyên, Văn Bá.

Huỳnh Trung Kỳ cho rằng phải liền tức tốc điều động quân binh đến Môn Hải Châu. Khi còn cách Môn Hải Châu 10 dặm thời từ rừng Tam Diệp quân loạn tặc phản loạn duy chuyển quân binh nhanh chóng ra khỏi rừng Tam Điệp chận đánh quân Văn Lang không cho cứu viện. Huỳnh Trung kỳ không ngờ quân loạn tặc phản loạn chận đánh. Bằng dừng quân bày binh bố trận giao chiến. Triệu Hàn hình như biết rõ mọi ý đồ kế sách của Huỳnh Trung Kỳ. Triệu Hàn chuyển thế đối mặt với quân Văn Lang thành thế liên thủ tấn công. Sự điều khiển quân binh tài tình của Triệu Hàn khác xa năm xưa một trời một vực.

Triệu Hàn thúc ngựa lên phía trước quát như sấm nổ:

Thằng Huỳnh Trung Kỳ ngu ngốc kia có tài cán gì cùng ta giao đấu một trận.

Tô Vũ phi ngựa tới trước quát:

Thằng bại trận sống sót kia ra đây đấu với Tô Vũ Ta.

Tướng Hắc Hổ thấy Tô Vũ oai phong lẫm liệt, bằng nói với Triệu Quân rằng:

Phó Soái để thằng đó cho Hắc Hổ tôi đưa hồn y về Địa Phủ.

Nói xong Tướng Hắc Hổ phi ngựa lao ra chém Tô Vũ như trời giáng. Tướng Thanh Ngưu phi ngựa theo lược trận. Tô Vũ thấy song búa Hắc Hổ vô cùng lợi hại múa trường đao đánh trả choang đinh tai nhức óc.

Thơ rằng:

Song búa vung lên dậy đất trời

Đao Thần cuồn cuộn khiếp ghê nơi

Cát bay đá chạy rền sấm sét

Chuyển núi rung đồi gió tả tơi.

Hai bên giáo qua đao lại chớp nhoáng 30 hiệp có dư. Bỗng Tô Vũ bị trúng tên quày ngựa bỏ chạy, thì ra Tướng Thanh Ngưu bắn Tô Vũ. Tướng Hắc Hổ phi ngựa rượt theo chém Tô Vũ. Chu An hét lên một tiếng phi ngựa ra chém Hắc Hổ, Hắc Hổ múa song búa chống trả hai bên giao tranh khốc liệt. Bảo Đồng đang đứng bên Huỳnh Trung Kỳ thấy tướng Thanh Beo định bắn Chu An tức thời quát lên một tiếng như sấm nổ phi ngựa lao ra chém Tướng Giặc Thanh Beo. Thanh Beo múa song chùy chống trả. Hai bên quân binh chiêng trống dậy trời.

Huỳnh Trung Kỳ thấy Tô Vũ trúng tên rất nặng chất độc phát tán rất nhanh. Nếu không cứu chữa kịp thời, thời toi mạng. Liền đánh trống thu quân. Triệu Hàn chuyển trận thế liên hoàn đối mặt thành thế liên hoàn bao vây quân Văn Lang. Huỳnh Trung Kỳ suốt ba ngày đêm án binh bất động không giao tranh với quân loạn tặc phản loạn vì chưa tìm ra giải pháp đánh bại quân phản loạn.

Trong lúc nửa đêm Huỳnh Trung Kỳ vét óc suy nghĩ thời có quân vào báo:

Quân loạn tặc phản loạn tấn vào quân ta, hai mặt Tây – Nam.

Trận chiến xảy ra một lúc thời có quân vào báo:

Quân loạn tặc tấn công cả Đông, Bắc.

Huỳnh Trung Kỳ đã thấm mệt vì ba ngày đêm không chợp mắt thần lực suy yếu nghe quân phản loạn Việt Trung Nguyên tấn công tứ phía thời có phần lo lắng. Nói về Chu An trấn giữ phía Đông thấy quân Việt Trung Nguyên ào ào xông vào doanh trại gươm đao giáo mác dậy trời liền xua quân chống trả hai bên xáp chiến dậy trời dậy đất. Tướng Hắc Hổ như con cọp dữ chém quân Văn Lang như chém chuối. Chu An phi ngựa tới giao tranh với tướng Hắc Hổ. Thế lực hai bên quân bình quân loạn tặc phản loạn tiến sâu vào doanh trại không nổi.

Bỗng nghe quân reo dậy đất gươm giáo dậy trời, một đạo quân loạn tặc phản loạn khác Tướng Thanh Ngưu cầm đầu chỉ huy duy chuyển nhanh chóng hợp lực cùng quân Hắc Hổ tràn tới chém xối xả vào quân Văn Lang. Quân Văn Lang chống đỡ không nổi, quân loạn tặc tràn vào đốt doanh trại lửa cháy đỏ trời.

Lại nói về Huỳnh Trung Kỳ thấy doanh trại bị đốt cháy thời kinh hãi liền điều động quân binh xuống phía Đông. Đạo quân vừa duy chuyển thời Trương Nhân phi ngựa tới:

Bẩm Chủ Tướng cánh Bắc doanh trại thất bại Tướng Bảo Đồng tử trận. Chủ Tướng mau ra lệnh thu quân phá vòng vây cửa Tây thoát khỏi sự tấn công quân địch.

Huỳnh Trung Kỳ tức thời ra lệnh thu quân thoát chạy hướng Tây. Thật ra sự công kích quân loạn tặc phản loạn phía Tây doanh trại chỉ là kế sách dương tây kích đông mà thôi. Huỳnh Trung Kỳ điều khiển quân binh thoát ra khỏi vòng tấn công quân địch chạy trở về Quang Hải Châu thời trời cũng vừa hừng sáng. Huỳnh Trung Kỳ điểm lại quân binh thời đi tiêu hơn một vạn tổn thất mất ba tướng trong đó có tướng Bảo Đồng.

Huỳnh Trung Kỳ về gần tới Quang Hải Châu xa xa nhìn thấy cờ Việt Trung Nguyên tung bay phất phới trên thành thời kinh hồn bạt vía ra lệnh dừng quân không trở về Quang Hải Châu nữa mà chạy về Ninh Hải Châu. Vì Quang Hải Châu mất rồi. Kỳ Duyên nghe Quang Hải Châu thất thủ quân loạn tặc phản loạn chiếm mất thời khóc ròng, không biết cha mẹ cùng hai anh còn sống không.

Lý Hạo nói:

Nội trong đêm nay chúng ta phải phá vòng vây chạy về Ninh Hải Châu nếu chậm trễ không còn kịp nữa.

Cũng may trong đêm ấy trời tối mịt mưa lùn phùn. Quân Môn Hải Châu vì thuộc đường lối nên duy chuyển không lạc đường. Lại nói về Triệu Quân theo kế sách của Việt Vương Doãn Thường cho một vạn quân phục kích đường rút lui của Văn Bá chạy về Ninh Hải Châu.

Văn Bá, Kỳ Duyên, Lý Hạo nửa đêm mở toan cổng thành 5 vạn quân bất thình lình lao ra tấn công vào quân phản loạn chớp nhoáng, quân phản loạn rối loạn cả lên. Văn Bá, Kỳ Duyên, Lý Hạo nhờ thế phá vòng vây chạy về Ninh Hải Châu. Khi đi qua đường rừng hiểm trở thời nghe chiêng trống dậy trời gươm đao giáo mác dậy đất, quân loạn tặc phản loạn bắn tên rối xả vào quân Văn Lang. Quân Văn Lang quá bất ngờ mất chủ động bị quân Việt Trung Nguyên đánh chém tơi bời. Văn Bá, Lý Hạo, Kỳ Duyên không còn liên lạc với nhau mạnh ai nấy ra sức chống đỡ. Kỳ Duyên đuối sức liền kêu Mẹ Âu Cơ cứu con với. Tức thời một trận gió nổi lên cuốn Kỳ Duyên rời khỏi trận địa. Lý Hạo bị loạn tên bắn trúng bỏ mạng tại rừng Hạ Giang.

Văn Bá cùng bại quân vượt qua khỏi khu rừng mệt thở không ra hơi. Văn Bá cho người điểm quân chỉ còn 3 vạn đi tiêu 2 vạn. Văn Bá không tìm thấy Kỳ Duyên ôm mặt khóc ròng thời bỗng thấy một người lao ngựa tới. Văn Bá nhìn thấy Kỳ Duyên an toàn thời mừng quá không cầm được giọt nước mắt miệng nói cảm ơn trời đất.

Kỳ Duyên nói:

Mẹ Âu Cơ cứu em trước làng tên mũi giáo quân địch.

Văn Bá kinh ngạc hỏi lại:

Mẹ Âu Cơ linh thiêng đến thế ư.

Kỳ Duyên nói:

Em thường ngày hay niệm danh hiệu của Mẹ nên Mẹ Âu Cơ mới cứu em như thế. Em nguyện cầu lên Cha Trời Lạc Long Quân cứu Cha Mẹ cùng hai anh của em.

Kỳ Duyên vừa nói xong thời một trận gió nổi lên hiện ra một đạo sĩ. Đạo Sĩ nói:

Cha Mẹ cùng hai anh con đã được cứu thoát đang trên đường đến Ninh Hải Châu. Đạo Sĩ nói xong liền biến mất.

Thành tâm kính bái Cha Trời

Long Quân phù hộ cuộc đời tai qua

Thành tâm kính bái Âu Cơ

Tai qua nạn khỏi bình yên, yên bình

Vậy nên con cháu Tiên Rồng

Nương về Nguồn Cội tôn thờ Cha Ông

Hiển linh che chở, chở che

Thoát vòng sanh tử hiểm nguy khốn cùng.

* * *

PHẦN 23

Chinh chiến, chiến chinh biết bao phen

Thắng thua, thua thắng chẳng ai khen

Nam Bắc tranh nhau xưng Vương Bá

Bách Việt nghèo đói máu thịt văng.

Đây nói về quân loạn tặc phản loạn ba Cha Con Triệu Công thống lĩnh đại binh đánh chiếm Âu Tây Châu. Tây Bắc Trung Văn Lang. Bị chủ tướng Lê Quang đánh bại rút tàn quân chạy về Uất Lang Việt Châu. Triệu Côi trấn thủ ở Phù Châu. Triệu Chi trấn thủ Lâm Giang Tây Châu. Ba cha con ngày đêm cũng cố lực lượng chống trả lại quân Văn Lang tiến ra Bắc. 15 năm trôi qua quân Văn Lang, quân Việt Trung Nguyên đụng độ nhiều trận nhưng bên nào cũng không chiếm được ưu thế đánh qua đánh lại máu đổ đầu rơi khắp chiến trường.

Việt Vương Doãn Thường là tay binh pháp số một ở vào thời đại đó. Doãn Thường là tay cao thủ Võ Lâm khi còn làm Quang Tri Phủ lập lên một thế lực đen, thế lực tuyệt mật, thế lực toàn những cao thủ võ nghệ xuất chúng. Mạng lưới thế lực đen lên đến hơn vạn người trà trộn khắp nơi. Trong quân binh, trong quan, tướng, cả trong dân chúng, với mưu đồ nuốt trọn Văn Lang với chiến lược 10 năm cấy người vào các Châu Thành Trung Văn Lang, Quan, Tướng các Châu, Quận, Huyện. Mà không một ai hay biết gì cả. Chỉ đánh giá qua sức mạnh quân binh Việt Trung Nguyên mà thôi. Không ngờ sức mạnh Việt Trung Nguyên còn có một sức mạnh kinh hồn đó là thế lực đen Việt Trung Nguyên. Thế lực nầy vừa là mật báo, vừa thủ tiêu những kẻ chống đối lại Việt Vương Doãn Thường. Và đương nhiên tai mắt Việt Vương Doãn Thường khắp mọi nơi mọi chốn. Có thể nói tai nghe nghìn dặm, mắt thấy nghìn dặm. Việt Vương Doãn Thường không bao giờ bỏ lỡ thời cơ. Khi nhận thấy tình hình Phương Bắc các nước thôn tính với nhau dữ dội. Nhất là Ngô đang dốc toàn lực đánh Sở. Đây chính là cơ hội tập trung lực lượng đánh chiếm Trung Văn Lang, Việt Vương Doãn Thường đã cấy thế lực đen trong các Châu Thành chủ lực Trung Văn Lang mà không một ai hay biết gì cả. Vì sự cấy người đó trong có bài bản. Suốt thời gian mười năm hợp tình hợp lệ nên không ai phát hiện được. Chỉ cần ngoài tấn công thành trong làm nội ứng thời nhất định chiếm được thành không mấy khó khăn.

Việt Vương Doãn Thường chi viện cho Triệu Công 10 vạn quân ra lệnh cho cha con Triệu Công tiến đánh chiếm Âu Tây Châu, Hồng Thượng Châu, Thạch Vân Châu. Được lệnh Triệu Công cho người gọi hai con đến nói Việt Vương Tế Gia lệnh cho cha con Ta đánh chiếm các Châu trọng yếu Tây Trung văn Lang với kế sách như thế nầy thế nầy. Triệu Công bổ sung cho Triệu Côi 3 vạn quân. Triệu Chi 3 vạn quân, đồng loạt tiến quân đánh chiếm Âu Tây Châu. Mùa Thu năm ấy lá vàng rơi rụng khí hậu mát mẻ nhưng ai còn quan tâm đến cảnh ấy vì cuộc giao tranh lớn giữa quân Nam Bắc sắp xảy ra.

Nói về Lê Quang chủ tướng sau khi đánh bại ba cha con Triệu Công đóng đô Âu Tây Châu, không bao lâu thời tiến quân đánh ra Bắc đánh với quân Việt Trung Nguyên bị trúng tên độc không bao lâu thời qua đời. Văn Khánh thống soái lập con lớn Lê Quang là Lê Mạnh Càn lên thay thế.

Lê Mạnh Càn là người cao ngạo luôn cho mình là tài cao học rộng nên thường quyết đoán không nghe theo ai. Cha con Tri Phủ Thục An Kim lấy làm bất mãn nhưng không dám nói. Lê Mạnh Càn được tin báo là quân Việt Trung Nguyên sắp tấn công thành Âu Tây Châu.

Mạnh Càn nghe xong cao ngạo nói:

Thành Âu Tây Châu kiên cố lo gì không chống đỡ nổi.

Thục An Kim tuy tuổi đã già nhưng vẫn còn uy phong không kém gì trung niên khuyên can:

Chủ Tướng nên đề phòng cũng như củng cố lực lượng cũng không thừa.

Mạnh Càn như có vẻ không bằng lòng nhưng cũng giả đò nói:

Cảm ơn Tri Phủ đại nhân nhắc nhở.

Qua ngày hôm sau ở trên thành thấy ở hướng Bắc khói bụi mịt mù thì ra quân loạn tặc phản loạn đã vượt qua nhiều quận, huyện cánh Bắc Âu Tây Châu tiến đánh Âu Tây Châu. Ba đạo quân loạn tặc phản loạn Việt Trung Nguyên duy chuyển nhanh chóng không bao lâu thời tới thành Âu Tây Châu. Đứng trên thành nhìn xuống thấy quân Việt Trung Nguyên trùng trùng điệp điệp cờ xí lớp lớp, gươm đao giáo mác sáng ngời. Chiêng Trống dậy trời ước lượng trên 20 vạn quân không ít người khiếp hồn khiếp vía.

Mạnh Càn tuy trong lòng lo sợ nhưng cũng làm mặt cả nói:

Quân Việt Trung Nguyên tuy đông nhưng không thể nào chiếm được thành Âu Tây Châu đâu. Vì bổn tướng cho người báo tình hình nguy cập đến thống soái rồi nay mai quân Văn Lang sẽ kéo đến. Ngoài đánh vào trong đánh ra quân địch trở tay không kịp rút tàn quân chạy thục mạng về đất Bắc mà thôi.

Tướng La Thông nói:

Chủ tướng chớ xem thường quân địch nhìn cách điều binh khiển tướng ba cha con Họ Triệu lần nầy khác xa năm xưa. Ba cha con Họ Triệu hình như rất tự tin điều khiển quân binh như ý muốn. Quân Việt Trung Nguyên dùng thế liên hoàn hạ trại trấn thủ những chỗ trọng yếu khi ra lệnh tấn công thành.

Qua ngày hôm sau Triệu Công cho người đến khiêu chiến nhục mạ chửi rủa inh ỏi:

Thằng Mạnh Càn có tài thời cùng ta giao đấu một trận cứ như con rùa rụt cổ thời còn chi là nam nhi hảo hán.

Mạnh Càn nói:

Có tướng nào ra lấy đầu thằng loạn tặc lập công đầu.

Tướng Nhị Beo nói:

Bẩm chủ tướng để tôi ra lấy đầu thằng giặc hổn láo đó cho.

Tướng Nhị Beo dẫn theo một nghìn quân mở cổng thành phi ngựa lao ra không nói không rằng chém tướng giặc một nhác như trời giáng. Tướng giặc múa giáo chống đỡ choang một tiếng đinh tai nhức óc, tướng giặc như muốn vuột giáo khỏi tay kinh hồn bạt vía. Tướng Nhi Beo nhanh như tia chớp chém tới một đao tướng giặc bị chém rụng đầu quân Văn Lang thắng thế lao tới chém xối xả vào quân Việt Trung Nguyên.

Ở trên thành Mạnh Càn cười ha hả:

Sức mạnh quân địch chỉ có thế là cùng.

Nhị Beo tuy thắng thế nhưng cũng lấy làm lạ: Sao ta lại thắng dễ dàng như vậy phải chăng quân loạn tặc phản loạn có âm mưu gì?

Quân loạn tặc phản loạn lại cho người ra khiêu chiến lần nầy là một nữ tướng tuổi độ trung niên nhưng vô cùng xinh đẹp. Tướng La Thông nhận ra người ấy thời không khỏi lo lắng. Tướng Sơn Tây cũng thế vì đã nhận ra nữ tướng kia là ai. Nữ Tướng xinh đẹp kia chính là Phù Châu công chúa Vua Phù Việt vợ của Triệu Côi.

Phù Châu không những võ nghệ cao cường mà còn có pháp thuật thần thông, nhất là quạt Thần vô cùng lợi hại.

Mạnh Càn thấy quân Việt Trung Nguyên chỉ là một nữ tướng đến khiêu chiến thời có ý xem thường hỏi:

Có tướng nào ra trận bắc con nữ tặc tướng kia không?

Hỏi đi hỏi lại mấy lần không có tướng nào ra trận. Mạnh Càn nói:

Thôi để bổn tướng vậy ra trận vậy.

Mạnh Càn liền điều động ba nghìn quân tinh nhuệ ra trận với hai tướng Nhị Beo với Mạnh Hổ phải nói khí thế gấp đôi quân địch Việt Trung Nguyên.

Mạnh Càn đầu đội kim ô tay cầm trường đao, mặc áo giáp sắt cỡi con ngựa Hắc Long uy phong lẫm lẫm. Phi ngựa tới quát:

Nữ tặc tướng kia tên họ là gì mau xưng tên họ rồi hồn du Địa Phủ.

Phù Châu phi ngựa tới quát:

Ta không đánh với kẻ vô danh tiểu tốt mau xưng họ tên kẻo làm quỉ không đầu.

Mạnh Càn quát lớn:

Nầy nữ tặc đứng cho vững khi nghe danh ta kẻo vỡ mật mà chết.

Mạnh Càn ngâm rằng:

Mạnh Càn vốn thật tên ta

Lẫy lừng Nam Bắc quỉ ma kinh hồn.

Phù Châu nghe xong phi ngựa tới quát:

Ngươi là con của Lê Quang.

Mạnh Càn nói:

Không sai.

Phù Châu mặt đầy sát khí vung song kiếm chém tới như tia chớp. Mạnh Càn xem thường vung trường đao chống trả ken ken đinh tai nhức óc. Phù Châu như con Phụng Hoàng song kiếm chém tới như mưa sa bão táp, nội lực tuôn ra kinh người. Mạnh Càn chống đỡ muốn hụt hơi. Phù Châu thổi ra một luồng yêu thuật Mạnh Càn tối tăm mặt mày.

Cũng may lúc ấy tướng Nhị Beo, tướng Mạnh Hổ đến cứu kịp. Quân Văn Lang như rắn mất đầu không người chỉ huy, quân Việt Trung Nguyên ào ào xông lên chém quân Văn Lang tơi bời.

Sau có thơ rằng:

Tánh tự cao chính là tự sát

Xem thường quân địch tự giết hại mình

Xưa nay vẫn thế thường tình

Tự cao tự đại khốn cùng chẳng sai.

Nói về Mạnh Càn bại trận tí nữa thời toi mạng tự lấy làm xấu hổ cải hối ăn năng nói:

Nếu không nhờ hai tướng cứu kịp thời giờ nầy Mạnh Càn tôi hồn du địa phủ.

Mạnh Càn bàn cùng các tướng thượng sách vẫn là thủ thành vững chắc chờ quân Văn Lang tới. Triệu Công thấy Mạnh Càn không giao chiếm nữa thúc quân binh thủ thành kiên cố. Thành Âu Tây Châu ngoài hào trong lũy. Lũy Thành Âu Tây Châu xây đắp bằng đất sét xen lẫn cọc tre kiên cố vô cùng.

Triệu Công được tin là quân Văn Lang sắp kéo đến liền theo kế sách chỉ đạo của Việt Vương Doãn Thường là dồn lực lượng tấn công vào cửa chính Nam, còn cửa Đông, cửa Tây chỉ cho quân bao vây mà thôi. Chiếm lĩnh thành Âu Tây Châu trước khi quân Văn Lang kéo đến.

Triệu Công ra lệnh cho vợ chồng Triệu Côi thống lĩnh quân binh phục kích cách thành Âu Tây Châu về hướng Tây Nam năm dặm chờ cho quân Văn Lang kéo đến đánh bọc sau lưng đánh tới, hai mặt giáp công bao vây quân Văn Lang vào giữa tiệt diệt.

Lúc ấy trời đã xế chiều lệnh tấn công thành Âu Tây Châu bắt đầu. Tiếng còi hụ lên vang động núi rừng quân loạn tặc phản loạn Việt Trung Nguyên từ trong doanh trại kéo ra phủ tới tấn công vào ba cửa Đông – Tây – Nam, nhất là cửa chính Nam thành Âu Tây Châu Quân Việt Trung Nguyên lớp lớp leo tường thành, lớp lớp công phá cửa thành. Hai bên giao chiến rền trời rền đất.

Thơ rằng:

Nhìn trận chiến mà đau xót dạ

Cảnh Đồng Bào quyết hạ lẫn nhau

Cũng dân cũng chúng Văn Lang

Giờ đây thảm cảnh tương tàn còn chi

Bởi lạc Nguồn xảy ra loạn lạc

Lũ yêu Tinh có dịp bày mưu

Làm cho đất nước Văn Lang

Rồng Tiên Bách Việt nát tan cơ đồ

Nhìn trận chiến ngậm ngùi rơi lệ

Dân Văn Lang ngã gục thây phơi

Rồng Tiên Bách Việt con Trời

Tương tàn chém giết lạc Nguồn mà ra.

Mặt trời đã lặng màng đêm phủ xuống khắp non sông tiếng cung tên, gươm đao giáo mác càng lúc càng dậy trời kéo dài cho đến nữa đêm. Bỗng trên thành Âu Tây Châu quân binh hỗn loạn. Tướng Nhị Beo, tướng Mạnh Hổ bị giết bất ngờ. Cửa Nam thành đã bị quân Việt Trung Nguyên phá hỏng nhờ có nội ứng bên trong. Quân Việt Trung Nguyên tràn vào thành như cơn bão, quân Văn Lang chống trả quyết liệt hai bên thi nhau ngã gục. Quân Văn Lang càng lúc càng yếu thế bị quân Việt Trung Nguyên chém như chém chuối.

Tướng La Thông nói với Mạnh Càn:

Chủ tướng mau hạ lệnh rút quân ra cửa Đông phá vòng vây tẩu thoát.

Thục An Kim tức thời ra lệnh mở cửa Đông thành quân Văn Lang thi nhau tràn ra như nước lũ phá vòng vây chạy về hướng Đông Nam. Mạnh Càn dẫn tàn quân Văn Lang chạy về Thạch Vân Châu, chạy cho đến lúc gần sáng quân binh bơ phờ chạy hết nổi nữa.

Mạnh Càn nhìn lên trời than rằng:

Không ngờ quân Việt Trung Nguyên chiếm thành nhanh đến thế.

Tướng Sơn Tây nói:

Không nhanh sao được vì trong thành có quân nội ứng.

Mạnh Càn nhìn bốn cha con Tri Phủ Thục An Kim không nói gì. Mạnh Càn cho điểm lại quân binh 7 vạn quân giờ chỉ còn có 2 vạn, năm vạn quân binh chôn vùi trong trận chiến. Thành Âu Tây Châu đã bị quân Việt Trung Nguyên chiếm đóng giờ chỉ còn đến Thạch Vân Châu tá túc mà thôi.

Văn Lang Thảm cảnh biết bao

Ôi thôi chinh chiến lao đao khốn cùng

Vinh chẳng thấy, thấy toàn binh lửa

Mãi chiến tranh khốn khổ đao binh

Văn Lang Bách việt khốn nguy

Nồi da nấu thịt còn chi Đồng Bào

Ôi ôi hỡi Ông Trời có thấu

Dân Văn Lang chém giết lẫn nhau

Nghĩ càng, càng nghĩ càng đau

Lạc Nguồn Lạc Cội mới nên nỗi nầy

Lạc Nguồn Cội sa vào Yêu Quỉ

Quên Ông Cha sao khỏi chiến chinh

Anh hùng lạc đạo chí nguy

Lạc vào chinh chiến con chi anh hùng.

* * *
 
127 ❤︎ Bài viết: 653 Tìm chủ đề
PHẦN 24

Đây nói về Hạp Lư Vua Ngô Phương Bắc lúc nào cũng dòm ngó Việt Trung Nguyên. Mấy lần xua quân xâm lược Việt Trung Nguyên đều bị Việt Vương Doãn Thường đánh bại. Hạp Lư củng cố lại binh hùng tướng mạnh hầu quyết tâm chiếm cho được Việt Trung Nguyên. Không ngờ Sở Chiêu Vương thấy nước Ngô Suy yếu liền đem quân thôn tính nước Ngô. Hạp Lư vô cùng tức giận quyết diệt cho bằng được nước Sở.

Một hôm Ngũ Viên nghe báo:

Có người Nước Đường và Nước Sái đến sai sứ sang thông hiếu. Hiện đã tới ở ngoài chờ đợi.

Ngũ Viên mừng rỡ nói rằng:

Ý trời giúp Ta. Nước Đường, Nước Sái đều là thuộc quốc của Nước Sở. Nay tự nhiên sai sứ sang thông hiếu với Nước Ngô. Tất có lòng oán Sở ấy chính là cơ hội trời xui khiến cho Ta phá tan quân Sở tiến vào Sính Đô thời cơ đã tới.

Mối hận Sở Bình Vương giết Cha, giết Anh, giết cả gia đình Ngũ Viên không lúc nào quên và đây chính là cơ hội cho Ngũ Viên tiêu diệt Nước Sở trả mối hận trong lòng.

Đây nói về các nước thuộc quốc xưa nay tùng phục Nước Sở. Nghe nói Sở Chiêu Vương bắt được thanh kiếm (Trạm Lư) đều đến chúc mừng. Nước Đường là Đường Thành Công. Nước Sái là Sái Chiêu Công cũng đến chúc mừng.

Sái Chiêu Công có một đôi ngọc bích quý hiếm màu mỡ dê và hai chiếc áo cừu bằng lông Điêu Bạch vô cùng hiếm quý. Bằng đem mỗi thứ mỗi cái dâng cho Sở Chiêu Vương để làm lễ chúc mừng Sở Chiêu Vương bắt được kiếm quý. Còn lại mỗi thứ một cái để đeo và mặc. Nang Ngõa vừa trông thấy thời thích lắm lòng tham nổi lên muốn chiếm lấy cho bằng được.

Bằng sai người đến gặp Sái Chiêu Công nói:

Muốn Nước Sở quan tâm đến Nước Sái thời phải dâng nạp Bích Ngọc và áo Cừu Lông Điêu Bạch cho Nang Ngõa.

Sái Chiêu Công lấy làm tức lắm nhưng nhẫn nhịn nói rằng:

Chuyện gì thời được chứ chuyện nầy thời không được.

Từ chối không chịu đưa Ngọc Bích, Áo Quý cho Nang Ngõa.

Đường Thành Công có một đôi ngựa rất quý tên gọi là Túc Sương. Thành Công có ý muốn khoe đôi ngựa quý của mình. Bằng cho đôi ngựa ấy kéo xe đi đến Nước Sở xe ngựa đi nhanh và êm lắm. Nang Ngõa nhìn thấy thời lòng tham nổi lên muốn chiếm về mình.

Nang Ngõa sai người đến nói với Đường Thành Công rằng:

Quan Lệnh Doãn tôi muốn có đôi ngựa của Ngài. Nếu Ngài đem dâng thời Nước Đường sẽ được bình yên.

Đường Thành Công nghe xong vô cùng tức giận nói rằng:

Đường Thành Công ta không thể theo ý của lệnh Doãn được.

Nang Ngõa lấy làm tức lắm lập mưu hại Đường Thành Công và Sái Chiêu Công. Bằng vào triều tâu với Sở Chiêu Vương rằng:

Đường Thành Công và Sái Chiêu Công tư thông với Nước Ngô. Nếu tha cho về thời tất dẫn Ngô sang đánh Sở, chi bằng bắt giữ lại.

Sở Chiêu Vương nghe lời Nang Ngõa bằng truyền bắt Đường Thành Công và Sở Chiêu Công.

Nói về Đường Thành Công và Sái Chiêu Công chưa kịp về nước thời thấy quân binh ập tới bắt đem giam ở quán xá cho một nghìn quân canh giữ. Đường Thành Công và Sái Chiêu Công ngậm đắng nuốt cay. Ở vào thời điểm nầy Sở Chiêu Vương còn ít tuổi. Quyền chính đều ở trong tay Nang Ngõa. Nang Ngõa muốn làm gì thì làm. Không ai là không sợ. Đường Thành Công và Sái Chiêu Công bị giam tại Sở đã ba năm trời. Không biết chừng nào trở về không chừng bỏ mạng tại nơi đây.

Của quí khoe ra họa biết bao

Gặp phải ác quan mạng âm tào

Thế sự xưa nay phường ăn cướp

Vua quan đầy rẫy bụng gươm đao

Giết người cướp của xưa nay thế

Vỏ bọc nghĩa nhân bán chào rao

Miếng mồi danh lợi luôn câu nhắp

Chém giết tranh giành khổ biết bao.

Nói về Thế Tử Nước Đường không thấy Đường Thành Công trở về liền sai Quan Đại Phu là Công Tôn Triết đến Nước Sở dọ tin, mới biết là Đường Thành Công bị giam.

Công Tôn Triết nói với các thị vệ rằng:

Chúa Công Ta tiếc đôi ngựa quý, để chịu giam mãi ở Nước Sở. Chúa Công sao lại trọng súc vật mà xem thường mạng sống coi thường nước nhà như thế. Chi bằng chúng Ta lấy trộm đôi ngựa quý ấy, đem dâng cho Quan Lệnh Doãn nước Sở để Chúa Công được về. Khi Chúa Công về nước rồi có trị chúng ta về tội lấy trộm ngựa đem dâng cho Quan Lệnh Doãn thời chúng ta cũng cam lòng.

Các thị vệ theo lời liền đem rượu ngon mạnh cho kẻ giữ ngựa uống. Những người giữ ngựa liền uống say, các thị vệ liền trộm ngựa đem giao cho Công Tôn Triết.

Công Tôn Triết liền đem đôi ngựa quý đến giao nạp cho Nang Ngõa nói rằng:

Chúa Công tôi có lòng kính mến Quan Lệnh Doãn. Sai chúng Tôi đem đôi ngựa quý đến đây dâng lên Ngài.

Nang Ngõa trong lòng khoang khoái vô cùng nói:

Có thế chứ. Thức thời sớm phải có hay hơn không.

Nang Ngõa liền nhận lấy đôi ngựa. Sáng hôm sau vào chầu Nang Ngõa tâu với Sở Chiêu Vương rằng:

Đường Thành Công bị giam ba năm như thế cũng đủ biết sợ không dám phản lại sở Ta. Dẫu Ta có tha cho về cũng chẳng làm gì Ta nổi. Nước Đường đất nhỏ quân ít nếu Đường Thành Công manh tâm tạo phản. Thời đêm quân thảo trừ cũng không muộn.

Sở Chiêu Vương nghe lời Nang Ngõa tha cho Đường Thành Công. Đường Thành Công về đến Nước Đường. Công Tôn Triết cùng đám thị vệ đều sụp lạy trước sân rồng xin chịu tội.

Đường Thành Công nói:

Các ngươi không đem ngựa mà dâng lên cho đứa tham phu ấy, thời dễ gì chúng tha cho ta về nước. Đó là lỗi của Ta vì quá tiếc của quý.

Đường Thành Công liền trọng thưởng cho Công Tôn Triết cùng đám thị vệ.

Nói về Sái Chiêu Công nghe nói Đường Thành Công dâng ngựa được thả về. Cũng đem áo cừu lông Bạch Điêu quý hiếm cùng ngọc bội cho người đem dâng cho Nang Ngõa.

Nang Ngõa nhận áo cùng ngọc bội lấy làm đắc ý nói:

Ta muốn là Trời muốn. Ai không dám tuân.

Sáng hôm sau Nang Ngõa lại vào chầu tâu với Sở Chiêu Vương rằng:

Sái Chiêu Công cũng như Đường Thành Công. Ta đã tha cho Đường Thành Công, thời còn giữ Sái Chiêu Công để mà làm gì nữa.

Sở Chiêu Vương nghe theo lời Nang Ngõa thả Sái Chiêu Công. Sái Chiêu Công trên đường trở về nước trong lòng căm hận Vua Sở vô cùng.

Khi đến sông Hán Thủy bằng cầm lấy viên Bích Ngọc ném xuống sông Hán Thủy mà thề rằng:

Nếu Ta không đánh được Sở mà lại qua sông nầy lần nữa thời xin chết như thế nầy.

Khi về đến Nước Sái. Tức khắc Sái Chiêu Công cho Thế Tử Nguyên sang làm con tin tại Nước Tấn. Để mượn quân Tấn đánh Sở. Hơn nữa Tấn Định Công khi ấy quyền uy rất lớn. Tấn Định Công đem việc Nang Ngõa nước Sở tham lam tố cáo lên Nhà Chu, Chu Kính Vương.

Chu Kính Vương Nhà Chu nghe xong ra vẻ giận dữ, cũng như tỏ rõ sự uy quyền của mình. Liền sai quan Khanh Sĩ là Lưu Quyền đem quân đến giúp Sái Chiêu Công.

Từ khi Nang Ngõa lên nắm Quyền Lệnh Doãn Nước Sở. Thời xem thường các nước thuộc quốc. Như Tống – Tề – Lỗ – Vệ – Trần – Trịnh – Hứa – Tào – Cử – Châu – Đốc – Hồ – Đằng – Tiết – Kỷ – Tiêu – Châu – Tử – Đường – Sái. Cả thảy 20 nước đều oán Nang Ngõa là người tham lam thấy ai có của quý thời kiếm cớ lấy cho bằng được.

Nói về quan Khanh Sĩ là Lưu Quyền thừa lệnh Chu Kính Vương đem quân đến nước Tấn. Lúc bấy giờ Sĩ Ưởng nước Tần làm đại Tướng. Tuân Di làm phó Tướng đem quân các trấn chư hầu hội ở đất Thiệu Lăng. Tuân Di nghĩ mình vì nước Sái mà đánh Sở. Là có công với Nước Sái nên muốn đòi ăn tiền.

Bằng đến gặp Sái Chiêu Công rằng:

Tôi nghe nói nhà Vua có áo Cừu lông điêu bạch, và ngọc bội đêm dâng cho Vua Nước Sở, sao Tôi lại không có gì cả. Chúng Tôi vì nhà Vua mà cất quân đi đường xa nghìn dặm, chẳng hay nhà Vua lấy gì, lấy gì mà khao thưởng quân sĩ nước Tôi?

Sái Chiêu Công nghe Tuân Di đòi ăn tiền trước thời ngán ngẩm chán nản vô cùng. Nang Ngõa kia chưa diệt thời Nang Ngõa khác mọc ra. Tất cả chỉ vì sự tham lam mà gây ra bao chiến tranh loạn lạc bất hòa chém giết triền miên.

Sái Chiêu Công nói:

Tôi thấy Quan Lệnh Doãn Nước Sở là người tham lam không kể gì đến phải trái. Tôi mới bỏ Sở mà đi theo Tấn coi nước Tấn là Minh Chủ của nước Tôi. Nếu Ngài nghĩ đến cái nghĩa của Minh Chủ giúp đỡ các thuộc quốc mà đem quân đánh Sở. Thời năm trăm dặm ở đất Sở kia mặt sức tha hồ mà khao thưởng quân sĩ, còn gì lợi hơn nữa.

Tuân Di nghe Sái Chiêu Công nói thế có ý hổ thẹn không muốn giúp Sái Chiêu Công đánh Sở nữa.

Lúc bấy giờ Phương Nam Văn Lang đến thời mạc pháp Văn Hóa Cội Nguồn không còn. Nước Văn Lang ngày càng rơi vào cảnh tối tăm tình hình chính trị bất ổn Bắc Văn Lang rơi vào tay cha Con Việt Vương Doãn Thường Nước Văn Lang bị chia cắt làm hai. Nam Bắc phân tranh Doãn Thường và Hùng Vương đánh nhau kịch liệt.

Phương Bắc Nhà Chu các trấn chư hầu tham lam chém giết nhau dữ dội vô cùng thảm khốc. Lúc bấy giờ trời mưa dầm dề muỗi sanh ra hoành hành dữ dội dân chúng bị bệnh dịch sốt rét nhiều vô số kể. Quan Khanh Sĩ Nhà Chu bị bệnh cũng không tránh khỏi bị bệnh sốt rét nằm liệt giường chưa ngồi dậy nổi.

Tuân Di nói với Sĩ Ưỡng rằng:

Ngày xưa Tề Hoàng Công cường thịnh hùng mạnh như thế mà còn phải đóng quân ở Thiệu Lăng để giảng hòa với Sở. Tiên Quân nước Tấn ta là Văn Công tài trí vô song mà chỉ đánh thắng được Sở có một trận. Mà chiến tranh lan tràn mãi không thôi. Nước Tấn Ta từ khi cùng Sở giảng hòa hai bên vẫn chưa hiềm khích gì với nhau. Nước Sở vô cùng hùng mạnh không thể đánh là thắng liền được đâu, hơn nữa độ nầy mưa nhiều nước lụt. Bệnh dịch sốt rét đang phát. Tôi e rằng tiến quân đánh Sở vị tất đã đánh được Sở, khi hai bên giao tranh tiến không được mà lui về thời bị quân Sở đuổi theo tổn hại quân binh không sao lường trước, Ta nên lo tính trước mới được.

Sĩ Ưởng không khác gì Tuân Di cũng là tay tham phu chỉ biết tiền tài vàng bạc. Muốn ăn tiền của Nước Sái nhưng chưa được mãn nguyện. Hai tay tham phu nầy mới viện cớ mưa nhiều nước lụt, bệnh dịch, tiến binh bất lợi. Nước Sở hùng mạnh khó mà đánh.

Tuân Di, Sĩ Ưỡng cho Thế Tử trở về Nước Sái rồi hạ lệnh lui quân. Hơn 18 nước thuộc quốc trấn chư hầu thấy nước Tấn là con chim đầu đàn lui quân không đánh Sở. Thời cũng đều lui quân về cả.

Sái Chiêu Công thấy các nước rút quân về không ai chịu giúp mình nữa hết còn hy vọng đánh Sở để trả thù rửa hận, trong lòng vô cùng chán ngán. Sái Chiêu Công đành rút quân từ Thiệu Lăng trở về khi đi qua Nước Thẩm. Sái Chiêu Công nổi giận vì Vua Thẩm không theo Sái đánh Sở. Sái Chiêu Công liền sai quan đại phu là Công Tôn Tính, đem quân đánh Thẩm. Vua Thẩm đánh không lại bị Sái Chiêu Công bắt được giết đi để cho hả lòng oán Sở.

Nhìn thế cuộc đảo điên, điên đảo

Tham, với Sân, vì của vì tiền

Tranh nhau chém giết giựt giành

Khác gì cầm thú chẳng còn người ta.

Nang Ngõa quan lệnh Doãn nước Sở nghe Sái Chiêu Công giết Vua Thẩm với cái tội không chịu giúp Sái đánh Sở. Nang Ngõa giận lắm đem quân kéo đến vây hãm thành Sái Chiêu Công.

Công Tôn Tính nói với Sái Chiêu Công rằng:

Chúa Công không thể trông cậy ở Nước Tấn được nữa. Chi bằng sang cầu viện nước Ngô. Các quan nước Ngô như Ngũ Viên, Bá Hi đều là cừu địch với Nước Sở tất thế nào cũng giúp Ta.

Sái Chiêu Công nghe lời sai Công Tôn Tính sang hội ước với Đường Thành Công để cùng đi mượn quân Nước Ngô đánh Sở. Lại cho người con thứ là Công Tử Kiền sang ở làm con tin. Ngũ Viên đưa sứ giả Nước Đường và Nước Sái vào yết kiến Hạp Lư.

Và nói với Hạp Lư rằng:

Nước Đường và Nước Sái oán hận Nước Sở. Xin làm tiên phong đem quân đánh Sở. Đây là một cơ hội hiếm có. Đem quân đến cứu Nước Sái gây tiếng vang tốt. Nhân cơ hội nầy đánh Sở là một lợi to. Đại Vương muốn tiêu diệt Nước Sở tiến vào Sính Đô lên ngôi bá chủ chính là cơ hội nầy.

Hạp Lư mừng trong bụng liền nhận lời hợp tác cùng Nước Đường Nước Sái tiêu diệt Nước Sở. Bằng nói với Công Tử Tính về trước nói với Sái Chiêu Công và Đường Thành Công biết.

Hạp Lư đang bàn việc tiến binh cùng Ngũ Viên thời Quân Sư Tôn Vũ cũng vừa tới. Hạp Lư hỏi Tôn Vũ:

Thời cơ thuận lợi đã đến Quân Sư liệu kế ra sao?

Tôn Vũ nói:

Tâu Đại Vương. Nước Sở khó đánh là vì có nhiều thuộc quốc trấn chư hầu. Nên chưa thể tiến quân tiêu diệt Sở, Nay các thuộc quốc trấn chư hầu phần đông là oán Sở. Cụ thể như Vua Tấn chỉ cần xướng lên một câu mà có tới 20 nước hợp sức đánh Sở. Trong 20 nước ấy. Thời Nước Trần, Nước Hứa, Nước Hồ, Nước Đốn, Nước Sái, Nước Đường. Đều là thuộc quốc trấn chư hầu của Sở. Mà nay bỏ Sở theo Tấn. Xem thế thời biết các nước đều oán Sở. Chẳng những Nước Đường, Nước Sái mà còn nhiều nước khác nữa. Phen nầy Nước Sở cô thế chính là cơ hội cho Đại Vương tiến binh diệt Sở.

Hạp Lư là tay tham tàn bạo ác đời nào bỏ lỡ cơ hội nầy nghe theo lời nhận định của Ngũ Viên cũng như Tôn Vũ. Bằng sai Bị Ly cùng Chuyên Nghị giúp Thế Tử Ba giữ Nước. Còn mình thời thống lĩnh quân binh tiến đánh tiêu diệt Nước Sở.

Hạp Lư phong cho Tôn Vũ làm Đại Tướng. Ngũ Viên, Bá Hi làm phó Tướng. Công Tử Phu Khái làm tiên phong. Công Tử Sơn đốc vận lương thực. Rồi thống lĩnh 15 vạn quân Ngô chia làm hai đạo quân một đạo quân theo đường thủy. Một đạo quân theo đường bộ tiến thẳng đến giải vây cho Nước Sái.

Nói về Nang Ngõa thống lĩnh hơn 5 vạn quân Sở bao vây kinh thành Nước Sái tìm cách phá thành giết chết Sái Chiêu Công với cái tội phản Sở. Thời nghe nói quân Ngô chia làm hai đạo quân. Một đạo quân vượt sông Hoài tràn tới. Một đạo quân theo đường bộ tràn tới. Hai đạo quân như nước vỡ bờ tiến tới bao vây quân Sở.

Nang Ngõa biết đánh không lại vì trong thành quân Sái đánh ra, bên ngoài quân Ngô đánh vào. Bằng bỏ Sái Thành rút về nước. Lại sợ quân Ngô vượt qua Sông Hán tiến đánh Sính Đô. Mới cho đóng quân canh giữ nơi đây. Và sai người về Sính Đô cấp báo.

Nói về Sái Chiêu Công ở trên thành thấy quân Sở rút lui không bao vây Sái thành nữa. Xa xa nhìn thấy quân Ngô từ hai hướng Tây Nam kéo tới đông như kiến thời không khỏi kinh hoàng: Không ngờ quân Ngô lại hùng mạnh như vậy. Thảo nào quân Sở không dám chống trả kéo quân rút lui bỏ đi.

Sái Chiêu Công nghinh tiếp Hạp Lư. Rồi vừa khóc vừa kể những tội ác của Vua tôi Nước Sở. Sái Chiêu Công tiếp đãi Hạp Lư một lúc thời Đường Thành Công cũng tới. Đường Thành Công và Sái Chiêu Công tình nguyện cùng theo Ngô đánh sở. Lúc sắp khởi hành tiến đánh Sở. Tôn Vũ truyền cho quân sĩ lên cả đường bộ, còn bao nhiêu thuyền bè cứ để ở khúc sông Hoài.

Ngũ Viên thấy vậy hỏi riêng Tôn Vũ:

Kế sách dụng binh như thế nào?

Tôn Vũ nói:

Đi đường thủy ngược dòng nước rất chậm lại tốn nhiều sức lực Sở lại phòng bị trước khó mà phá nổi. Chi bằng ta tiến quân bằng đường bộ gây sự chú ý bất ngờ cho quân địch, chúng không đoán ra kế sách của Ta, nên chúng sa vào bẩy kế sách của Ta, và Ta cho chúng một trận nên thân.

Ngũ Viên nghe xong lấy làm bội phục. Đại binh nước Ngô tiến qua đường Dự Chương, tiến thẳng đến phía Bắc Sông Hán. Khi ấy quân Sở đóng ở phía Nam sông Hán Thủy ngày đêm phòng bị quân Ngô dọc theo sông Hán tiến đánh. Chừng Nang Ngõa nghe lại thuyền quân Ngô đều đóng ở cả Sông Hoài, Nang Ngõa lấy làm yên lòng không hiểu nổi kế sách điều quân khiển tướng của Tôn Vũ.

Nói về Sở Chiêu Vương nghe tin quân Ngô tiến đánh Sở liền hợp các quan lại hỏi kế sách. Công Tử Thâm nói:

Muốn đánh bại quân Ngô. Đại Vương nên sai quan Tư Mã là Thẩm Doãn Thú trấn giữ không cho quân Ngô tiến qua sông Hán. Quân Ngô đi đường xa xôi lại không có tiếp ứng tất lui quân trở lại, không làm gì được nước Sở ta đâu.

Sở Chiêu Vương cho là chí phải liền sai Thẩm Doãn Thú đem một vạn rưỡi quân hợp cùng quân Nang Ngõa để chống lại quân Ngô không cho quân Ngô tiến qua sông Hán.

Thẩm Doãn Thú được quân cấp báo là:

Quân Ngô bỏ thuyền bè ở sông Hoài theo đường bộ qua Dự Chương tìm đường vượt qua sông Hán.

Thẩm Doãn Thú nghe xong cười ngất rồi nói rằng:

Tiếng đồn Tôn Vũ dụng binh như thần, nhưng dưới mắt của Ta, Tôn Vũ chỉ là hữu danh vô thực dụng binh như lũ trẻ con.

Nang Ngõa không tin tài phán đoán của Doãn Thú bằng hỏi:

Lấy cơ sở nào nói Tôn Vũ dụng binh như trẻ con?

Thẩm Doãn Thú nói:

Người nước Ngô quen thạo về thuyền bè, lợi thế về việc đánh thủy, nay lại bỏ thuyền bè ở khúc sông Hoài để đi cho chóng, vạn nhất thua trận thì lấy đường nào mà chạy về? Ta nghĩ cũng nực cười cho Tôn Vũ quá.

Nang Ngõa nói:

Quân Ngô hiện đang đóng ở phía Bắc sông Hán ta dùng kế sách gì mà phá được?

Thẩm Doãn Thú nói:

Tôi chia thêm cho Ngài năm nghìn quân. Ngài cứ dọc theo bờ sông Hán gôm hết thuyền bè của dân lại ở bên nầy sông lại cho sai quân đi tuần khắp mặt sông khiến cho quân Ngô không thể nào qua sông được. Tôi đêm đại binh qua đường Tân đến sông Hoài, đốt sạch thuyền bè của quân Ngô. Làm cho quân Ngô sợ hãi hoang mang. Khi ấy Ngài đem quân sang sông Hán đánh vào mặt trước quân Ngô. Tôi đem quân đánh vào mặt sau quân Ngô. Quân Ngô hết đường mà chạy chắc hẳn bắt sống được Vua Tôi nước Ngô.

Nang Ngõa nghe xong mừng lắm nói:

Tôi chịu kém tài không bằng quan Tư Mã rồi.

Thẩm Doãn Thú cho quan đại tướng là Vũ Thành Hắc thống lĩnh năm nghìn quân ở lại trợ giúp Nang Ngõa còn mình thời đem đại binh theo đường Tân đến sông Hoài đốt thuyền bè quân Ngô. Nhưng kế hoạch Thẩm Doãn Thú không thực hiện được bị Tôn Vũ, Ngũ Viên xây chuyển tình thế đánh bại Nang Ngõa, cũng như Thẩm Doãn Thú.

Hạp Lư Vua Ngô tiến về Sính Đô không có một thế lực nào ngăn nổi, không những thế Tôn Vũ còn biết vận dụng cả nước sông Chương Giang, tháo nước sông Chương Giang chảy vào kỷ Nam Thành, rồi tràn vào Sính Đô ngập trắng xóa như biển cả.

Sở Chiêu Vương phải bỏ Sính Đô cùng em gái là Quý Vu xuống thuyền chạy trốn khỏi nước Sở. Hạp Lư không những lấy sạch của cải châu báu nước Sở, mà xài cả vợ của Sở Chiêu Vương. Tâm ý hung bạo tận diệt nước Sở bằng cho người đập phá tôn miếu của nước Sở, phá hủy sự anh linh của nước Sở.

Ngũ Viên trả thù Cha, Anh cũng đào mồ mả Sở Bình Vương. Lôi xác Sở Bình Vương ra lấy roi đồng đánh ba trăm roi, giẫm chân lên bụng Sở Bình Vương, móc mắt Sở Bình Vương, cắt lấy đầu Sở Bình Vương đem xác Sở Bình Vương quăng ở giữa cánh đồng. Văn Hóa phương Bắc là như thế hung dữ hơn sói, lang, hổ, báo. Độc hơn rắn, rít là do thể chế độc tài độc trị cường hào ác bá tạo ra. Văn Hóa cường hào ác bá nầy xâm nhập vào Bắc Văn Lang. Phá hoại nền Văn Minh đoàn kết hưng thịnh nước Văn Lang.

* * *
 
127 ❤︎ Bài viết: 653 Tìm chủ đề
PHẦN 25

Nói về phương Bắc nhà Chu các nước tranh bá tranh hùng thôn tính với nhau vô cùng khốc liệt. Các nước Phương Bắc những nước lớn nhất cũng chỉ bằng một bộ Văn Lang mà thôi, phần đông các nước Phương Bắc chỉ bằng một Châu, nhiều nước chỉ bằng Quận, Huyện Văn Lang. Ở điểm nầy cũng đủ biết Văn Hóa Văn Lang là Văn Hóa thống nhất từ Trung Ương đến Bộ, Châu, Quận, Huyện, không phải là Văn Hóa phân chia thành các trấn chư hầu nhiều nước như phương Bắc. Dẫn đến thôn tính lẫn nhau tranh bá tranh hùng.

Chỉ có một nước Văn Lang rộng lớn duy nhất nhiều Bộ, nhiều Châu, nhiều Quận, Huyện thống nhật từ trên xuống dưới. Không có cảnh tranh giành thôn tính lẫn nhau. Trừ khi các Bộ, Châu, Quận, Huyện nổi lên đòi tự trị xưng là Vua nầy Vua nọ theo xu thế Văn Hóa Phương Bắc nhà Chu tranh bá tranh hùng thôn tính lẫn nhau, phương Bắc thời nhà Chu có cả đến hàng trăm nước. Nước nầy thôn tính nước kia, nước kia thôn tính nước nọ chiến tranh triền miên lúc thì dữ dội lúc thời thâm trầm bao cái độc được đem ra sử dụng đến đỉnh cao độc quyền, độc tài, độc trị, độc tâm, độc tánh, độc ác, bao cái độc đem ra dùng hết không chừa món chi cũng chỉ vì thâu tóm quyền lực danh với lợi cũng cố độc tài độc trị cho cá nhân mình. Không kẻ gì đạo lý con người, không ít Vương, Quan, Vua, Chúa hung tàn bạo ác tàn sát cả người thân ruột thịt, mất hết lương tri.

Ở vào thời kỳ đen tối ấy xuất hiện kỳ nhân ra đời hiệu là Khổng Tử. 555 trước công nguyên, Khổng Tử sinh ở Ấp Trâu, thuộc làng Xương Bình người nước Lỗ. Tên là Khâu. Tự là Trọng Ni. Cha là Thúc Lương Ngột.

Thúc Lương Ngột lấy con gái họ Thi nước Lỗ không có con, người thiếp sanh được một con, tên là Mạnh Bì, nhưng lại có tật ở chân. Thúc Lương Ngột mới sai người đến nhà họ Nhan để cầu hôn. Họ Nhan có năm người con gái đều chưa gả chồng, có ý chê Thúc Lương Ngột đã già.

Nhan Ông mới bảo các con rằng:

Các con có đứa nào thuận kết duyên với quan đại phu ở Trâu Ấp không?

Các con các cô chị không ai trả lời cả, chỉ riêng người con gái út tên là Nhan Thị đứng dậy thưa rằng:

Phận làm con thời phải theo lời Cha. Cha đặt đâu thời con ngồi đó còn phải hỏi gì.

Nhan Ông nghe con gái út nói thế lấy làm lạ, bằng gả Nhan Thị cho Thúc Lương Ngột. Vợ chồng Thúc Lương ngột sợ tuổi già hiếm con nên thường đến cầu tự ở Ni Sơn.

Một hôm Nhan Thị nằm mộng thấy Thần Hắc Đế triệu đến mà bảo rằng:

Sau nầy nàng sẽ sanh được con Thánh.

Một hôm Nhan Thị mơ mơ màng màng, trông thấy năm ông cụ già đứng dưới sân, tự xưng là năm vì sao, dắt một con thú như con trâu con có một sừng, mình lại có vằn. Con Thú ấy trông thấy Nhan Thị thời nằm phục ngay xuống nhả cái thước ngọc trong miệng ra. Trên cái thước ngọc có câu văn rằng: "Con nhà Thủy Tinh, nối đời Chu suy mà làm Tố Vương". Nhan Thị lấy dải lụa buộc vào sừng con thú dắt đi khi tỉnh dậy thời biết mình đã có thai.

Nhan Thị đem chuyện thấy trong mơ cũng như sự mang thai của mình kể lại cho Thúc Lương Ngột nghe. Thúc Lương Ngột nói:

Con thú ấy chính là con Kỳ Lân.

Nhan Thị sanh ra đứa bé có nhiều tướng lạ trên đầu gồ giữa lõm cho nên đặt tên là Khâu, tức là trên đầu nhô lên cái gò, môi như môi Trâu, tay như tay Hổ, vai như vai Chim Uyên, lưng như lưng con Rùa. Miệng rộng, hầu lộ, trán phẳng mà cao.

Thúc Lương Ngột nói:

Vì hai ta cầu Tự ở Ni Sơn mà được đứa bé nầy, vậy thì ta đặt tên cho con là Khâu tự là Trọng Ni.

Khổng Tử sanh ra thời Thúc Lương Ngột qua đời, chôn ở núi Phòng Sơn. Núi Phòng Sơn ở phía đông nước Lỗ. Khổng Tử không biết mộ Cha ở đâu. Vì Mẹ Ông kiêng kỵ không nói cho Ông biết mồ Cha ở đâu. Đến khi Mẹ chết Khổng Tử chôn tạm Mẹ ở con đường Ngũ Phụ. Vì Ông cẩn thận. Mẹ của Văn Phụ người đất Trâu, nói cho Khổng Tử biết nơi mộ của Cha. Cho nên về sau Khổng Tử hợp tán cả Cha và Mẹ ở núi Phòng Sơn.

Khổng Tử nghèo hèn lớn lên làm công cho họ Quý nhờ sự thông minh hơn người tính toán đo lường minh bạch, nên được làm chức coi súc vật. Được ít lâu thời được Lỗ Định Công trọng dụng.

Khổng Tử trưởng thành mình dài chín thước sáu tất, có Thánh Đức, ham học. Một hôm Họ Quý trọng đãi những kẻ sĩ. Khổng Tử cũng đến để tham dự.

Dương Hổ mắng Khổng Tử:

Họ Quý trọng đãi kẻ sĩ không phải trọng đãi nhà ngươi đâu.

Khổng Tử nghe xong bèn rút lui. Từ đó Khổng Tử chỉnh đốn tu Thân hàng ngày diệt Tà Ý bất chính trong lòng bằng phương pháp túi hạt đậu đen đậu trắng, nếu nói câu trái lương Tâm chẳng lành thời bỏ hạt đậu đen vào cái túi. Nói được một lời thiện thời bỏ hạt đậu trắng vào cái túi. Và cứ thế Khổng Tử ngày nào cũng tự mình phân xử lấy thiện ác của mình đến năm thứ 3 thời hạt đậu trắng nhiều hơn hạt đậu đen. Khổng Tử biết mình sắp thành chính nhân quân tử và nhiều tháng liền Khổng Tử thấy trong bao đựng ngày nào cũng toàn là hạt đậu trắng thời biết mình đã trở thành Thánh Thiện.

Từ đó Khổng Tử thường đi chu các nước, khắp thiên hạ chỗ nào cũng có học trò. Khi còn nhỏ Khổng Tử thích chơi trò Tế Lễ Cúng Bái. Lớn lên Khổng Tử thông thạo các Lễ nhạc, cũng như hiểu rõ sự lợi ích của Nhân – Nghĩa – Lễ – Trí – Tín. Nên Vua các nước đều muốn trọng dụng Khổng Tử. Nhưng lại bị các nhà quyền quý đem lòng ganh ghét, thành ra không nước nào dùng được. Khổng Tử người nước Lỗ.

Năm thứ 19 đời Chu Kính Vương. Khổng Tử thấy Lỗ Định Công ngày đêm ham mê tử sắc lời ca tiếng hát, chẳng nghĩ gì đến chính sự chán ngán thở dài.

Học trò Khổng Tử là Trọng Do đứng hầu bên cạnh nói rằng:

Chúa Công chẳng nghĩ gì đến chính sự Thầy nên đi nước khác.

Khổng Tử liền bỏ nước Lỗ sang nước Vệ. Một hôm Vệ Linh Công ngồi cùng xe với nàng Nam Tử, để Khổng Tử đi xe sau.

Khổng Tử thở dài mà than rằng:

Vua Vệ yêu đức không bằng yêu sắc.

Khổng Tử liền bỏ Vệ sang Tống cùng học trò giảng Lễ ở dưới một gốc cây lớn. Quan Tư Mã nước Tống là Hoàn Khôi được Tống Cảnh Công trọng dụng nên có quyền thế y rất ghét Khổng Tử sai quân binh chặt cây đi rồi tìm cách giết Khổng Tử.

Khổng Tử phải cải trang bỏ trốn sang Trịnh. Trịnh có ý muốn hãm hại Khổng Tử.

Khổng Tử lại trốn sanh Tấn. Tấn không dùng Khổng Tử. Khổng Tử trở về nước Vệ. Không bao lâu thời Vệ Linh Công mất. Con Khoái Quý lên ngôi thay cha trở thành Vệ Xuất Công.

Khổng Tử nhìn thấy cảnh hai cha con Khoái Quý tranh giành quyền lợi lẫn nhau, không kể gì Đạo Cha Con. Tấn giúp Khoái Quý. Tề giúp Công Tử Triếp. Hai cha con tương tàn chém giết lẫn nhau không còn nhân tính.

Khổng Tử thấy vậy bỏ Vệ sang Trần, nước Trần không trọng dụng Khổng Tử.

Khổng Tử sang nước Sái. Nhưng nước Sái cũng không mấy mặn mà với Khổng Tử.

Sở Chiêu Vương nghe tin Khổng Tử không ở nước Trần cũng như nước Sái thời cho người đi đón. Các Quan đại phu nước Trần nước Sái sợ nước Sở dùng Khổng Tử thì nguy cho nước mình, bằng đem quân vây Khổng Tử.

Khổng Tử phải nhịn đói liền trong ba ngày. Nước Sở đem quân đón Khổng Tử. Khổng Tử đến nước Sở. Sở Chiêu Vương mừng lắm, toan đem đất lý xa phong cho Khổng Tử.

Quan Lệnh Doãn là Công Tử Thân can rằng:

Ngày xưa Văn Vương ở phong, Vũ Vương ở kiểu, chỉ độ một trăm dặm đất mà biết tu thân tích đức. Thành ra thay quyền Nhà Ân lên làm vua. Nay đức tính của Khổng Khâu chẳng kém gì Văn Vương và Vũ Vương mà học trò đều là bậc nhân sĩ hiểu đạo lễ nghĩa bậc hiền. Nếu phong đất cho Khổng Khâu thời sau nầy tất là thay quyền nước Sở ta mất.

Sở Chiêu Vương nghe Công Tử Thân khuyên can như thế nên thôi không phong đất cho Khổng Tử. Khổng Tử biết là Sở Chiêu Vương không thể dùng mình được. Khổng Tử lại bỏ Sở trở về nước Vệ.

Cuộc đời Khổng Tử là như thế Vua các nước đều muốn trọng dụng Khổng Tử. Nhưng lại bị các nhà quyền quý ganh ghét hãm hại Vua phải nghe theo các triều Thần. Vì phương Bắc ở vào thời đó là thời đại đỉnh cao của Phong Kiến Thần Giáo. Vua thường làm theo nghe các Triều Thần. Đạo Khổng Tử là Thánh Giáo luôn bị Thần Giáo bác bỏ vì sợ Thánh Giáo của Không Tử chuyên xây làm hại.

Những học trò ưu tú Khổng Tử như Tử Lộ, Trọng Do, Tử Cống, Nhan Hồi, Nhiễm Cầu thường nghe Khổng Tử than:

Thiên hạ mất Đạo làm người từ lâu rồi. Chỉ biết chạy theo cái tài tranh hùng tranh bá, nên không mấy ai biết theo ta, để trở thành Đạo Quân Tử đích thực.

Ở vào thời đại Phong Kiến Thần Giáo tôn thờ cái Tài là chính, cái Đức chỉ là phụ tranh bá tranh hùng tôn tính lẫn nhau bất chấp thủ đoạn tàn độc vô cùng. Khổng Tử đi đến đâu thường gặp bất lợi đến đó.

Một hôm Khổng Tử hỏi Nhan Hồi:

Nho Đạo của Ta phải chăng là sai? Tại sao Ta mãi gặp cảnh thế nầy?

Nhan Hồi nói:

Đạo Quân Tử Phu Tử hết sức lớn lao, nên cả Thiên Hạ không ai dung nạp được. Nhưng Phu Tử cứ theo đó mà làm, người ta không dung nạp thời có hại gì? Người ta sau nầy sẽ thấy Đạo Phu Tử là Đạo người quân tử. Cái Đạo làm sáng cái Đức con người. Cái Đạo an ban tế thế. Kẻ làm Vua, Chúa mà không dung nạp cái Đạo của Phu Tử thời khó mà giữ yên ngôi vị độc tôn của mình.

Và đúng vậy. Hai trăm năm sau đến thời Nhà Hán. Khi ấy Bắc Việt Trung Nguyên đã xác nhập về Phương Bắc ở vào thời Chu Nguyên Vương. Nhà Hán ra đời Đạo Khổng được phát huy tác dụng tôn vinh lên đến đỉnh cao của Nho học Khổng Giáo. Phương Bắc chuyển sang giai đoạn mới, Giai đoạn Phong Kiến Vua Chúa theo Nho Giáo, lấy Nhân – Nghĩa – Lễ – Trí – Tín làm sáng cái Đức của người quân tử. Và Lễ luôn đặc lên hàng đầu. Những điều cơ bản của Lễ, trong nghi lễ. Lễ nghi, Lễ Nhạc vô cùng quan trọng làm hưng thịnh của Nho Giáo.

Lại nói về Vua Ngô là Hạp Lư thôn tính nước Sở uy danh lừng lẫy. Sanh ra chơi bời sửa sang cung thất, lập cung thường lạc ở giữa kinh thành. Lại cho người xây đắp Cao Đài ở trên núi Cô Tô (Núi ở phía Tây Nam thành nước Ngô cũng là núi Cố Tư). Mở một con đường chín khúc đi vòng quanh núi. Mùa xuân và mùa Hạ, Hạp Lư ở ngoài thành. Mùa thu mùa đông thời vào ở trong thành. Ăn chơi trác tán. Tôn Vũ là người thức thời, hiểu rõ tướng sự đời cũng chỉ vì tham vọng tranh hùng tranh bá chém giết lẫn nhau không mấy Vua tôi là người có Đạo chỉ lo cho cái túi tham của mình. Tôn Vũ không muốn làm quan nữa tuy biết rằng mình đã lập nhiều công lớn cho nước Ngô. Tôn Vũ xin về núi tu tiên trở lại. Hạp Lư sai Ngũ Viên lôi kéo Tôn Vũ ở lại.

Tôn Vũ bảo Ngũ Viên rằng:

Ngài còn không biết Đạo Trời hay sao? Nóng lắm thời rét nhiều. Xuân qua thời Thu đến. Nay Đại Vương cậy mình cường thịnh tất sinh lòng kiêu ngạo không coi ai ra gì tất nhiên nhiều biến loạn. Nếu tôi không xin đi ở ẩn thời tránh sao cho khỏi hậu hoạn. Chẳng những Tôi lo cho Tôi mà còn lo cho Ông nữa.

Ngũ Viên nghe Tôn Vũ nói không cho là phải. Tôn Vũ trở về núi tìm nơi ẩn dật tu tiên. Hạp Lư đưa tặng mấy xe vàng, lụa. Lúc đi đường Tôn Vũ đem ban phát vàng lụa cho những dân nghèo khổ về sau không ai biết Tôn Vũ đi đâu.

Thơ rằng:

Tôn Vũ ngộ ra Đạo luật Trời

Nhân nào quả nấy khó an ngơi

Hại người người hại xưa nay thế

Huyền cơ xây chuyển họa đến nơi.

Một hôm Hạp Lư nghĩ đến cái thù Việt Trung Nguyên đánh bại Ngô khi trước, càng nghĩ càng giận. Hạp Lư nghe theo Ngũ Viên lập Phù Sai làm Thế Tôn.

Phù Sai đến nhà Ngũ Viên tạ ơn. Năm thứ 24 đời Chu Kính Vương. Hạp Lư tuổi già. Tính khí càng thêm nóng nảy. Nghe tin Việt Vương Doãn Thường qua đời. Con là Câu Tiễn lên thay thế.

Khi ấy ở Phương Nam Văn Lang Hùng Việt Vương Tuân Lang đã nhường ngôi cho con là Hùng Ánh Vương, Chân Nhân Lang. Hùng Vương đời thứ 14 Hạ Hùng Vương. Hùng Ánh Vương, Chân Nhân Lang đời thứ 14 lên ngôi đã được 10 năm nhờ thực hiện theo chính sách của Lạc Hầu Vương. Nam – Trung Văn Lang trở nên hùng mạnh nhiều lần đánh bật quân Việt Trung ra khỏi Trung Văn Lang chiếm lại nhiều Châu, Quận, Huyện.

Khi ấy phương Bắc bên kia sông Trường Giang Hạp Lư nước Ngô nghe tin Việt Vương Doãn Thường đã mất. Con là Câu Tiễn lên thay thế, bèn nhân khi nước Việt có tang đem quân sang đánh vì lúc ấy thế lực quân Ngô rất hùng mạnh tiếng tăm lừng lẫy.

Ngũ Viên can rằng:

Việt Trung Nguyên tuy nhiều lần đánh Ngô ta nhưng nay đang có tang chớ nên đánh vội.

Hạp Lư không nghe, giao quốc chính lại cho Ngũ Viên và Phù sai rồi cùng bọn Bá Di, Vương Tôn Lạc và Chuyên Nghị đem 10 vạn tinh binh tiến đánh Việt Trung Nguyên.

* * *

PHẦN 26

Nói về Hạp Lư 496 trước công nguyên thống lĩnh 10 vạn chủ lực tinh binh vượt qua sông Trường Giang tiến đánh Việt Trung Nguyên. Hạp Lư quá rõ Việt Trung đang xuống đà suy yếu vì Quân Văn Lang tấn công ra Bắc dữ dội, bao nhiêu sức lực Việt Trung Nguyên dồn hết lực lượng cho cuộc chiến tranh Nam – Bắc nầy. Với tình hình trong Nam Văn Lang đánh ra. Còn Ngô thời phương Bắc đánh vào Việt Trung Nguyên keo nầy nhất định thất thủ.

Việt Vương Câu Tiễn được tin báo là Hạp Lư Vua Ngô thống lĩnh đại quân vượt Trường Giang đánh chiếm Việt Trung Nguyên, bằng thân hành thống lĩnh quân Việt Trung Nguyên giao chiến.

Việt Vương Câu Tiễn. Phong cho Chư Kế Dĩnh làm đại tướng. Linh Cô Phù làm tiên phong. Trù Vô Dư và Tư Hãn làm tả hữu dực. Đối mặt với quân Ngô ở đất Hề, hai bên đóng dinh cách nhau 10 dặm. Ngày nào cũng cùng nhau giao chiến, chưa phân thắng bại.

Hạp Lư giận lắm mới dồn hết quân lên bày trận ở Ngũ Đài Sơn nghiêm cấm trong quân không được kinh động, chờ quân Việt Trung Nguyên trễ nải sẽ đánh.

Việt Vương Câu Tiễn trông thấy quân Ngô quân lệnh nghiêm chỉnh bèn bảo Chư Kế Dĩnh rằng:

Khí thế quân Ngô đang hăng hái như thế kia, ta chớ nên khinh thường, dùng kế làm cho quân binh Ngô rối loạn ta mới nắm chắc được phần thắng.

Việt Vương Câu Tiễn sai Quan Đại Phu là Trù Vô Dư và Tư Hãn thúc quân binh hai bên tả hữu đánh thẳng vào hai bên tả hữu dinh trại của quân Ngô. Quân Việt Trung Nguyên phất cờ chiêng trống dậy trời gươm đao giáo mác sáng ngời ào ào lao tới.

Hạp Lư không những lúc nào cũng tham lam dòm ngó Việt Trung Nguyên mà còn vô cùng căm giận Doãn Thường Việt Vương lên tới đỉnh vì Doãn Thường đã đánh bại vua Ngô Hạp Lư suýt bỏ mạng nhiều lần. Hạp Lư thấy quân Việt Trung Nguyên ào ào xông tới đánh vào tả hữu đại quân liền ra lệnh giữ nguyên tư thế dùng cung tên, cung nỏ mà chống trả lại. Quân Việt Trung Nguyên không phá nổi quân Ngô lại tổn hao quân binh càng đánh quân Việt Trung Nguyên càng thua thiệt.

Câu Tiễn đành phải rút quân trở lại. Câu Tiễn không làm gì được trước trận của quân Ngô lấy làm lo lắng.

Chư Kế Dĩnh liền mật tâu rằng:

Ta nên dùng lũ tội nhân.

Ngay ngày hôm sau Việt Vương Câu Tiễn liền làm theo kế sách của Chư Kế Dĩnh, mật truyền quân lệnh bắc lũ tội nhân sung vào quân binh, cả thảy hơn năm trăm người, chia làm ba toán quân để trần vai áo dàng thành hàng ba cùng hơn vạn quân binh tiến tới dinh trại quân Ngô.

Nói về Hạp Lư nhìn thấy quân Việt Trung Nguyên từ xa tiến đến có điều khác lạ chỉ có hơn một vạn quân, quân tiên phong là những chiến binh vai lưng trần. Thời nghĩ rằng: Quân Việt Trung Nguyên điên rồi chắc không sợ tên của ta sao? Lại chỉ hơn một vạn quân không sợ ta xơi một phát là hết sạch. Không những Hạp Lư nghĩ như thế mà cả quân Ngô đều nghĩ như vậy nên ai nấy chăm chú mà nhìn.

Tốp quân đi đầu tiến sát đến quân Ngô nói lớn với quân Ngô rằng:

Chúa Công tôi không biết tự lượng sức mình, đắc tội với quý quốc. Nay quý quốc đã đem quân sang đánh chúng tôi không dám tham sống xin tình nguyện chết thay cho Chúa Công chúng tôi.

Người tốp đi đầu nói xong thời cả bọn thi nhau thứ tự đâm vào cổ mà chết. Tốp nầy chết sạch tốp khác tiến lên thi nhau đâm vào cổ mà chết. Chuyện lạ chưa từng thấy xảy ra bao giờ quân Ngô ngơ ngác trước chuyện quái lạ bất ngờ đang xảy ra trước mắt không tập trung đề phòng cảnh giác chú ý quân Việt Trung Nguyên. Quân Ngô cứ ngây mặt ra mà nhìn hết lớp nầy đâm cổ tự sát, tới lớp kia đâm cổ tự sát lần lược thi nhau ngã gục có hơn năm trăm người lao nhao hỏi lẫn nhau.

Bất thình lình nghe thấy quân Việt Trung nguyên những người chưa tự sát nổi trống. Từ xa quân Việt Trung Nguyên Trù Vô Dư và Tư Hãn lãnh đạo duy chuyển quân binh thần tốc từ phía bên phải đánh bọc lên vào bên trái quân Ngô. Chư Kế Dĩnh, cùng Linh Cô Phủ từ phía tả duy chuyển quân thần tốc đành bọc vào cánh hữu quân Ngô. Quân Ngô hốt hoảng quân binh rối loạn.

Việt Vương Câu Tiễn thần tốc duy chuyển quân binh tấn công vào mặt trước. Phía hữu có Trừ Vô Dư, Tư Hãn. Phía tả có Chư Kế Dĩnh, Linh Cô Phù, trước mặt có Việt Vương Câu Tiễn ba mặt tấn công thần tốc.

Tướng quân Ngô là Vương Tôn Lạc cố sức chống trả lại sức mạnh tấn công của Chư Kế Dĩnh, Linh Cô Phù nhìn thấy Vua Ngô là Hạp Lư liền phi ngựa lao tới cầm trường đao chém Hạp Lư như sấm sét. Hạp Lư kinh khiếp bỏ chạy Linh Cô Phù đuổi theo, chém vào chân phải của Hạp Lư rụng hết mấy ngón chân, còn bị trúng tên Hạp Lư ngã lăn xuống đất. May có Chương Nghị đến cứu kịp thời. Chương Nghị cũng bị nhiều vết thương nặng. Bá Di cũng tiếp ứng bảo vệ Hạp Lư. Vương Tôn Lạc thấy Hạp Lư bị thương không còn ham đánh nữa vội rút quân. Quân Ngô thua to ở đất Lý Hề.

Quân Việt Trung Nguyên thắng thế đuổi theo giết chết quân Ngô quá nữa. Hạp Lư bị thương quá nặng dẫn quân tàn quân bại trận trở về nước trong nổi vừa khiếp sợ vừa nhục nhã ê chề. Linh Cô Phù lượm chiếc giày cùng năm ngón chân đầy máu của Hạp Lư dâng lên cho Việt Vương Câu Tiễn. Việt Vương Câu Tiễn mừng lắm thưởng vàng bạc châu báu mấy xe cho Linh Cô Phù.

Bấy giờ Hạp Lư tuổi đã già, không chịu đau không nổi trên đường rút tàn quân về nước, sự nhục nhã còn đau hơn vết thương nặng ức khí thét to lên một tiếng trào máu mà chết. Trước khi chết Hạp Lư thều thào nói với Vương Tôn Lạc, Bá Di, Chuyên Nghị là nói với Phù Sai trả thù mối nhục nầy.

Nói về quân Việt Trung Nguyên đuổi theo quân Ngô chém giết đã đời hơn bảy dặm thời rút quân trở lại. Bá Di, Vương Tôn Lạc, Chuyện Nghị đưa xác Hạp Lư về nước Ngô.

Phù Sai lên nối ngôi thay thế Hạp Lư đưa linh cữu Hạp Lư ra an tán ở Hải Dũng Sơn. Phù Sai cho người đào núi làm huyệt, rồi đem Ngư Trường của Chuyên Chư dùng khi trước đâm chết Vương Liêu chôn theo, cùng rất nhiều vàng ngọc. Khi an táng Hạp Lư xong Phù Sai cho người giết sạch những bọn thợ an tán Hạp Lư. Chương Nghị bị thương khá nặng không bao lâu cũng qua đời chết theo Hạp Lư phụ tán ở sau núi.

Phù Sai an tán Hạp Lư không bao lâu thời lập con trưởng là Hữu lên làm Thế Tử. Để nhắc nhở mối thù không đội trời chung với Việt Vương Câu Tiễn. Phù Sai cho lập một đội nội thị hằng ngày đứng giữa sân.

Mỗi khi Phù Sai đi ra đi vào thời đội quân nội thị quát to lên rằng gọi tên mà bảo:

Phù Sai. Mầy quên cái thù Vua Việt giết chết Ông Cha mầy rồi sao?

Phù Sai liền khóc mà đáp rằng:

Dạ không bao giờ dám quên.

Phù Sai ngày đêm dốc toàn lực sai Ngũ Viên và Bá Hi luyện tập thủy quân ở Thái Hồ, luyện tập trường bắn ở Linh Nham Sơn, đợi khi hết tan ba năm sẽ khởi binh đánh nước Việt Trung Nguyên báo thù.

Việt Vương Câu Tiễn được tin Vua Ngô ngày đêm luyện tập quân binh chuẩn bị đánh Việt. Việt Vương Câu tiễn muốn tiến quân sang Ngô đánh trước không để cho Ngô đủ sức mạnh đánh Việt.

Phạm Lãi can:

Tôi thường nghe nói khi xưa Hùng Vương dựng nước Văn Lang, cực chẳng đã mới đem quân sang đánh nước người ta. Đưa quân xâm lược là điều trái với Đức. Tranh nhau là việc thấp hèn nhất. Lo âm mưu thôn tính nước khác là điềm gở, trái Thiên Ý của Trời. Nếu làm là bất lợi. Tôi nghe đâu Hùng Vương truyền dạy như vậy.

Việt Vương Câu Tiễn không muốn nghe về lời truyền dạy Quốc Tổ Vua Hùng nên không nghe lời khuyên của Phạm Lãi bằng nói:

Ta đã quyết định.

Bèn cất quân sang đánh nước Ngô. Vua Ngô là Phù Sai đem tất cả tinh thần luyện tập cũng như sự quyết tử của mình đánh quân Việt Trung Nguyên thua to ở Phù Liêu đi tiêu hơn 10 vạn quân. Việt Vương Câu Tiễn đem tàn quân trở về Việt Trung Nguyên củng cố lại lực lượng phòng khi Phù Sai cử binh sang tấn công.

Khi ấy ở phía Nam Việt Trung Nguyên quân Văn Lang được lệnh Hùng Ánh Vương, Chân Nhân Lang tấn công ra Bắc. Do Hùng Lạc Vương thống lĩnh 20 vạn quân trực tiếp chỉ huy từ Kinh Đô Văn Lang tiến thẳng đến Ninh Hải Châu kết hợp với quân Huỳnh Trung Kỳ, quân Văn Bá tiến đánh lấy lại Quang Hải Châu, Môn Hải Châu. Quân loạn tặc phản loạn Việt Trung Nguyên thua chạy về Lạc Trung Giao Châu ra sức cố thủ chống trả lại quân Văn Lang.

Hùng Lạc Vương thần tốc duy chuyển quân binh nhanh chóng tiến về Tiên Châu kết hợp với quân thống soái Văn Trội con trai lớn Văn Khánh tiến quân đánh Bạch Lang Châu, quân loạn tặc phản loạn Việt Trung Nguyên thua chạy về doanh trại núi Bà Lộc Điền cố thủ ở đấy quyết liệt chống trả lại quân Văn Lang.

Hùng Lạc Vương lại kéo đại binh đến Thạch Vân Châu kết hợp với quân Lê Mạnh Càn tiến đánh lấy lại Âu Tây Châu đánh không được vì có Phù Châu có pháp thuật thần thông làm cho đất trời u ám cuồng phong ù ù quân Văn Lang không cách gì tiến đánh thành Âu Tây Châu được. Hùng Lạc Vương chưa biết phải làm sao thời bỗng xuất hiện một tiểu đồng cầm gậy Rồng chỉ vào thành Âu Tây một cái tức thời trời quang mây tạnh cuồng phong cũng tan biến hết. Hùng Lạc Vương liền tiếng quân đánh chiếm lấy lại thành Âu Tây Châu quân loạn tặc phản loạn Việt Trung Nguyên thua chạy về Uất Lang Việt Châu ra sức chống trả cố thủ ở đấy.

Quân Văn Lang lấy lại Âu Tây Châu, Bạch Lang Châu, Quang Hải Châu, Môn Hải Châu. Đại quân Văn Lang còn thọc sâu ra Bắc Văn lang tức là Việt Trung Nguyên chiếm lĩnh nhiều Châu, Quận, Huyện khác nữa.

Nói về Việt Vương Câu Tiễn không thể điều động quân binh từ trận địa phía Nam về Kinh Đô được củng cố lực lượng được.

Mùa xuân tháng hai năm thứ 26 đời Chu Kính Vương Vua Ngô là Phù Sai đã hết tang Cha mới cáo nhà thái miếu, rồi sai Ngũ Viên làm đại tướng, Bá Hi làm phó tướng, thống lĩnh đại binh theo đường thủy qua Thái Hồ xuôi theo sông Dương bọc theo sông Lạc tiến đánh Việt Trung Nguyên. Vua Việt Vương Câu Tiễn họp triều thần lại bàn kế sách chống lại quân Ngô đang tiến quân theo đường thủy trên đường thọc sâu vào địa phận Việt Trung Nguyên.

Quan đại phu là Phạm Lãi tâu rằng:

Vua Ngô Phù Sai vì trả mối thù Ông, Cha chí báo thù ba năm nay rồi, quyết tiêu diệt Việt Trung Nguyên ta. Lại thêm khí thế hừng hực vì đã đánh bại quân ta ở Phù Liêu ta khó mà lòng địch nổi phải nên nghĩ cách cố thủ mới được.

Quan đại phu là Văn Chủng tâu rằng:

Cứ như tôi thiển nghĩ thời không gì bằng sai người xin lỗi để cầu hòa, để cho Phù Sai rút quân về rồi sau sẽ định liệu.

Việt Vương Câu Tiễn nói:

Hai người một người nói thủ, một người nói hòa, đều không phải là thiện kế. Phù Sai Vua Ngô hiện giờ là kẻ thù của ta, quyết tâm đem quân sang đánh ta, nếu ta không đánh lại thời chẳng hèn lắm ư.

Việt Vương Câu Tiễn liền thống lĩnh bảy vạn quân cùng mấy trăm chuyến thuyền chận đánh quân Ngô ở địa phận Tiêu Sơn. Lúc mới giao chiến thuyền quân Ngô hơi lùi lại Quân Việt Trung Nguyên thừa lấn thế tiêu diệt hơn bảy tám chiến thuyền đi tiêu hơn vài trăm quân Ngô. Việt Vương Câu Tiễn thừa thắng ra sức chống chèo rượt quân Ngô đến mấy dặm. Đến khúc sông lớn từ nơi lùm lách kinh rạch đại binh quân Ngô bất ngờ lao ra chật cả sông hai bên xáp chiến. Quân Ngô lợi thế gió Bắc. Quân Việt Trung Nguyên thất thế ngược gió.

Phù Sai đứng ở mũi thuyền tay cầm dùi đánh trống đốc thúc quân binh tướng sĩ chiến đấu. Gặp lúc gió Bắc nổi lên cấp 8 cấp 9 sóng nổi dữ dội. Ngũ Viên, Bá Hi mỗi người một chuyến thuyền lớn giương bườm thuận gió xuôi dòng mà tiến. Quân Ngô lợi thế về mọi mặt, thi nhau nỏ, cung, bắn ra như mưa, bắn xối xả vào quân Việt Trung nguyên. Quân Việt Trung Nguyên ngược gió không thể đương nổi, thua to bỏ chạy.

Quân Ngô chia làm hai đạo quân đường thủy đường bộ rượt đuổi theo tiêu diệt quân Việt Trung Nguyên. Tướng Việt là Linh Cô Phù đắm thuyền mà chết. Tư Hãn cũng bị tên bắn chết.

Vua Ngô Phù Sai thừa thắng đuổi theo giết quân Việt Trung Nguyên không biết bao nhiêu mà kể. Việt Vương Câu Tiễn thua chạy về cố thành Quân Ngô rượt theo vây kín. Cũng may ở cố thành sông suối có nhiều cá để mà sống. Biết không thể nào trụ vững ở cố thành được. Việt Vương Câu Tiễn liền dẫn tàn quân lẻn chạy về núi Cối Kê quân sĩ chỉ còn hơn năm nghìn quân. Quân Ngô biết được kéo đại binh bao vây Cối Kê con gà con chó cũng khó lọt qua. Phù Sai lại ra lệnh siết chặt vòng vây Cối Kê.

Câu Tiễn thở dài mà nói rằng:

Ta có thể cùng một số người theo đường bí mật trở về Kinh Đô nhưng làm như thế quân binh còn sót lại nơi đây chết hết. Phù Sai Vua Ngô sẽ tiến đánh kinh đô truy sát ta. Hùng Ánh Vương, Chân Nhân Lang mà biết kinh đô thất thủ về tay nước Ngô thời sẽ dồn hết lực lượng tấn công ra Bắc xóa sổ Việt Trung Nguyên Ta. Không còn hy vọng lập lại Việt Trung Nguyên nữa. Ta thà quy phục Ngô còn hy vọng có ngày hồi phục lại Việt Trung Nguyên hùng mạnh còn hơn để Hùng Ánh Vương xóa sổ hủy diệt. Từ Ông đến đời Cha Tiên Quân gần năm mươi năm đến giờ chưa hề thua trận nào như thế nầy cũng bởi ta không nghe lời Phạm Lãi và Văn Chủng đến nông nỗi nầy biết phải làm thế nào?

Phạm Lãi nói:

Kẻ nào giữ được trọn vẹn cái cảnh ngộ của mình khi đầy đủ, chờ thời cơ bình định được tình hình nguy cập. Lúc nầy cần phải tuân theo người, dùng lời lẽ khiêm nhượng bao cái lợi đưa cho người ta. Nếu người ta không nghe thời thân hành đến thờ người ta vậy.

Văn Chủng hiến kế thêm rằng:

Nay việc đã nguy cấp quân Ngô vây kín Cối Kê mỗi lúc một nguy cấp quân ta không thể chống trả kéo dài lâu hơn nữa, cho người xin ra cầu hòa còn có thể kịp được.

Việt Vương Câu Tiễn nói:

Phù Sai không chịu hòa thì làm thế nào?

Văn Chủng nói:

Nước Ngô có quan thái Tể là Bá Hi người ấy thấy vàng bạc ngọc ngà châu báu là hiếp cả mắt, thấy gái đẹp thời chuyện gì cũng dám làm, tuy Bá Hi đồng triều với Ngũ Viên nhưng không hợp ý nhau. Vua Ngô sợ Ngũ Viên mà thân với Bá Hi lắm. Ta nên sang quân Ngô tìm gặp Bá Hi, khéo nói với hắn, để hắn chủ việc giảng hòa cho. Bá Hi rất thân với Vua Ngô, Ngũ Viên biết ngăn cản cũng không thể kịp.

Việt Vương Câu Tiễn hỏi:

Nhà ngươi sang yết kiến Bá Hi, nên dùng lễ vật gì?

Văn Chủng nói:

Người như Bá Hi không gì bằng nữ sắc, ta nên tìm mỹ nữ mà đem dâng, cũng như vàng ngọc châu báu quý hiếm. Nếu Trời con thương nước Việt Trung Nguyên ta thời Bá Hi tất nghe lời giúp ta.

Câu Tiễn tức khắc cho người về Kinh Đô nói với Phu Nhân tuyển chọn cung phi mỹ nữ đẹp nhất trong cung cả thảy được tám người. Thêm hai mươi đôi ngọc bích, một nghìn nén hoàng kim, nhanh chóng đến núi Cối Kê, qua ngày hôm sau ngay đêm hôn ấy Việt Vương Câu Tiễn sai Văn Chủng đến dinh trại Ngô sang dinh Bá Hi xin vào yết kiến.

Bá Hi lúc đầu toan từ chối, nhưng lại sai người ra dò thời thấy có nhiều lễ vật, mới thuận cho vào. Bá Hi ngồi vắt chân ở trên giường để đợi.

Văn Chủng vào phòng quỳ xuống mà thưa rằng:

Chúa Công tôi là Câu Tiễn còn trẻ, chưa biết gì, không khéo thờ nước lớn, để đến nổi tai vạ. Nay Chúa Công tôi đã biết hối tội, xin đêm cả nước Việt Trung Nguyên làm tôi Vua Ngô. Nhưng sợ Vua Ngô không nghe. Chúa Công tôi biết ngài là người có công lớn với Ngô. Ngài là bức thành che chắn cho nước Ngô, ngài là tâm phúc của nước Ngô, Chúa Công tôi sai tôi là Văn Chủng sang để van lạy ngài trước nhờ ngài nói giùm cho một câu, gọi là có chút lễ bạc đem dâng ngài. Từ rày về sau trở đi còn nhiều ân nghĩa về sau nữa.

Văn Chủng liền đem cái đơn kê khai các lễ vật dâng trình Bá Hi. Nhưng Bá Hi còn làm ra vẻ giận dữ mà mắng rằng:

Nước Việt Trung Nguyên chẳng qua chỉ sớm tối thời bị phá diệt trở thành nô lệ nước Ngô. Của cải nước Việt cái gì không về tay nước Ngô mà nhà ngươi còn dám đem lễ vật nhỏ mọn nầy sang mua chuộc ta hay sao?

Văn Chủng nói:

Chúa Công tôi dẫu thua, nhưng Chúa Công tôi chưa chịu đầu hàng thời khó mà lấy được Việt Trung Nguyên vì còn hơn mấy mươi vạn quân đang ngày đêm chiến đấu với quân Văn Lang. Tuy Chúa Công tôi bị bao vây ở núi Cối Kê nhưng vẫn còn quân binh tinh nhuệ có thể giao chiến một trận. Nếu giao chiến thua. Bấy giờ Chúa Công tôi chạy về Nam Việt Trung nguyên hợp lực quân binh lại, hoặc chạy sang nước Sở chưa chắc Việt Trung Nguyên tôi về tay nước Ngô được.

Văn Chủng giải bày một hồi lâu làm cho lòng Bá Hi chuyển động, Bá Hi mới gật đầu tủm tỉm cười.

Văn Chủng trỏ lại cái đơn kê khi lễ vật mà nói rằng:

Tám mỹ nữ nầy đều là sắc nước hương trời tuyển chọn trong cung nước Việt, nhưng nếu chọn ở ngoài dân chúng Việt Trung Nguyên còn nhiều người đẹp hơn nữa. Chúa Công tôi trở về được kinh đô tìm tòi mỹ nữ dâng nạp cho ngài.

Bá Hi đứng dậy nói rằng:

Quan đại phu không sang hữu dinh. Mà tới đây hẳn cũng biết là tôi không có ý hại người. Để sáng mai, tôi xin đưa quan đại phu vào yết kiến Vua Ngô, rồi sẽ bàn định.

Cha con Việt Vương Tế Gia. Doãn Thường nổi dậy chiếm lấy Bắc Văn Lang, biến cuộc thế Văn Lang Nam Bắc phân tranh chiến tranh loạn lạc, Bách Việt tương tàn thê thảm vô cùng. Việt Vương tế Gia, Doãn Thường chiếm lấy Bắc Văn Lang lập lên nhà nước Việt Trung Nguyên, tưởng đâu bình yên muôn năm, nào hay đâu Bắc Việt Trung Nguyên dân chúng càng ngày càng đói khổ. Một mặt do thể chế độc tài độc trị quản lý tất cả bóc lột dân chúng thậm tệ, phục vụ cho thể chế độc tài độc trị, hà khắc còn hơn nhà nước Văn Lang.

Dân chúng tuy bất mãn nhà nước Việt Trung Nguyên nhưng không một ai dám lên tiếng. Vì đã quá nhiều những người lên tiếng không bị thủ tiêu cũng bị tù đày, chết thê chết thảm trong những trại cải tạo. Nước Việt Trung Nguyên dần dần suy yếu. Một phần là do chiến tranh kéo dài, một phần là do dân chúng bất mãn, một phần là do thể chế độc tài độc trị khắc nghiệt.

Đến đời Việt Vương Câu Tiễn những biến cố lịch sử xảy ra. Bị Ngô đánh bại. Ông Cha Câu Tiễn là người phương Bắc tôn thờ Văn Hóa Phương Bắc không tôn thờ Văn Hóa Phương Nam dù biết rằng dòng họ Vũ đã nhập cư thành dân Văn Lang. Tư tưởng Việt Vương Câu Tiễn thừa kế di chí Ông Cha thà Việt Trung Nguyên mất về Phương Bắc còn hơn mất về Phương Nam trả Bắc Văn Lang về cho nước Văn Lang.

Vì Việt Vương Câu Tiễn biết rõ nếu quân Văn Lang chiếm lại được Bắc Văn Lang thời Tổ Tiên thái miếu Việt Vương Câu Tiễn sẽ bị sang bằng hủy diệt với cái tội phản bội lại nước Văn Lang. Với ý nghĩ nầy Việt Vương Câu Tiễn có xu hướng ngã về Phương Bắc sẵn sàng dâng nước Việt Trung Nguyên cho phương Bắc nếu có cơ hội tiến thân và đúng vậy Việt Vương Câu Tiễn dâng nước Việt Trung Nguyên cho Nhà Chu ở vào thời Chu Nguyên Vương.

* * *
 
127 ❤︎ Bài viết: 653 Tìm chủ đề
PHẦN 27

Nói về Bá Hi nhận lễ vật và lưu Văn Chủng ở lại trong dinh trại bày tiệc thiết đãi. Sáng hôm sau, Bá Hi đưa Văn Chủng vào yết kiến Phù Sai.

Bá Hi vào trước đem những tình ý Câu Tiễn sai Văn Chủng sang xin cầu hòa Phù Sai bừng bừng sắc mặt mà bảo rằng:

Nước Việt Trung Nguyên cùng ta có cái thù không đội trời chung khi nào ta lại cho hòa.

Bá Hi nói:

Đại Vương không nhớ lời của Tô Vũ khi xưa hay sao? Việt binh là việc nên dùng tạm, chớ không nên dùng lâu. Nước Việt Trung Nguyên dẫu đắc tội với ta, là do ta đem quân sang đánh Việt mới xảy ra cảnh thù không đội trời chung. Nay Việt Trung Nguyên tùng phục nước Ngô Ta. Vua Việt xin làm Tôi nước Ngô. Vợ Vua Việt xin làm thiếp nước Ngô. Bao nhiêu châu báu nước Việt đem dâng nộp cho nước Ngô ta cả. Nước Trung Nguyên chỉ xin ta một điều là để cho còn chỗ cúng tế mà thôi. Nếu Đại Vương không cho nước Việt Trung Nguyên hòa. Câu Tiễn phá vòng vây trốn chạy về kinh đô điều động quân binh đang trấn giữ phía Nam Việt Trung Nguyên thời càng bất lợi cho chúng ta thôn tính Việt Trung Nguyên. Chi bằng Ta với nước Việt hòa thời lợi biết dường nào. Đại Vương càng nổi tiếng là tha cho nước Việt. Danh tiếng lại càng lừng lẫy hơn nữa. Như vậy nước Ngô ta có cớ làm bá chủ được. Nếu cố sức mà diệt Câu Tiễn, buộc Câu Tiễn tìm cách trốn thoát khỏi Cối Kê trở về Kinh Đô điều động quân binh phía Nam Việt Trung Nguyên chống trả lại ta. Nếu chúng ta tiêu diệt được Câu Tiễn quân Ngô ta cũng phải trả cái giá không nhỏ. Dù cho giết được người ấy sao bằng thu phục nước ấy chả có phần lợi hơn ư.

Phù Sai hỏi:

Bây giờ văn Chủng ở đâu?

Bá Hi nói:

Hiện Đang đứng chờ bên ngoài.

Phù Sai cho triệu vào. Văn Chủng quỳ gối đi bằng đầu gối kéo lê kéo lết đến trước mặt Phù Sai. Lạy một hồi rồi nói những lời nói với Bá Hi hôm trước.

Phù Sai nói:

Vua ngươi xin làm tôi Ngô. Vậy thời Vua ngươi có chịu theo ta về Ngô không?

Văn Chủng sụp lạy tâu rằng:

Đã xin làm tôi Ngô, thời sống chết ở trong tay Vua Ngô, thế nào cũng xin vân lệnh.

Bá Hi nói với Phù Sai rằng:

Vợ Chồng Câu Tiễn đều tình nguyện xin về Ngô. Vậy thời nước Ngô ta dẫu tha cho Việt cũng chẳng khác gì chiếm được nước Việt. Đại Vương còn muốn chi nữa.

Phù Sai liền cho nước Việt Trung Nguyên giảng hòa. Có người sang hửu dinh báo tin cho Ngũ Viên biết. Ngũ Viên vội vàng vào yết kiến Phù Sai. Khi vào đến nơi thấy Bá Hi và Văn Chủng đã đứng ở bên cạnh Phù Sai.

Ngũ Viên hầm hầm nổi giận hỏi Phù Sai rằng:

Đại Vương đã cho nước Việt Trung Nguyên giảng hòa rồi ư?

Phù Sai nói:

Ta đã cho giảng hòa rồi.

Ngũ Viên khuyên can:

Không nên, không nên.

Văn Chủng hoảng sợ đứng lui xuống mấy bước để nghe Ngũ Viên nói hết.

Ngũ Viên can rằng:

Trời đem nước Việt Trung Nguyên cho nước Ngô đây là cơ hội duy nhất mà chúng ta có được. Việt Trung Nguyên tiếp giáp với nước Ngô ta. Hai bên đã có hiềm thù từ lâu trải qua nhiều đời. Nếu Ngô không diệt được Việt. Thời Việt cũng diệt Ngô. Kìa như Tần, Tấn dẫu ta đánh được mà đất của họ ta không thể ở được. Xe của họ ta không thể đi được vì các nước Phương Bắc đều là Trấn chư hầu của Nhà Chu nếu chúng ta lấy đi đất Tấn, đất Tần, thời Nhà Chu sẽ không để yên cho ta. Còn nước Việt Trung Nguyên lại khác, Cha con Việt Vương Doãn Thường là quân nội loạn nổi lên cướp Bắc Văn Lang trở thành nước Việt Trung Nguyên. Không còn quyền quản lý của nhà nước Văn Lang nữa, ai giành lấy được thời thuộc quyền của người đó. Đất Việt Trung Nguyên sẽ là đất của nước Ngô ta đó là cái lợi của xã tắc không thể bỏ. Huống chi Việt Trung Nguyên là kẻ thù lớn với Ngô ta. Ta không diệt Việt chiếm lấy đất Việt thời lời thề trước sân còn có giá trị gì?

Phù Sai nín lặng không biết nói thế nào, chỉ đưa mắt nhìn Bá Hi.

Bá Hi nói:

Quan tướng quốc nói thế là lầm. Nếu bảo Ngô Việt ở về mặt thủy tất phải diệt nhau. Thì Tần – Tấn – Tề – Lỗ cùng ở đất liền mặt bộ. Có lẽ cũng diệt nhau hay sao? Nếu bảo Việt là kẻ thù lớn của Tiên Vương nước Ngô không thể tha được. Vậy thì quan tướng quốc thù Sở biết dường. Mà sao không diệt Sở, lại cho Sở hòa làm gì. Nay vợ chồng Câu Tiễn điều tình nguyện về Ngô. Nếu đem so với Sở chỉ nộp một công tử Thắng, thời lại càng không giống nhau nữa. Tướng quốc làm điều trung hậu mà muốn cho Đại Vương mang tiếng khắc bạc, trung thần có bao giờ như thế.

Phù Sai nghe xong lấy làm mừng mà bảo Ngũ Viên rằng:

Bá Hi nói phải, tướng quốc hãy lui về, đợi khi nước Việt cống tiến, ta sẽ chia tặng cho nhà ngươi.

Ngũ Viên sầm sắc mặt lại thở dài mà than rằng:

Tiếc thay. Ta không nghe lời Bị Ly mà lại cùng với đứa gian thần đồng sự.

Ngũ Viên căm tức không thôi, mồm cứ lẩm bẩm, khi lui ra ngoài, bảo quan đại phu là Vương Tôn Hùng rằng:

Nước Việt nuôi dân trong mười năm, lại dạy dân trong mười năm nữa chẳng qua chỉ chỉ hai mươi năm, thời cung điện nước Ngô sụp đổ tan tành.

Vương Tôn Hùng cũng chưa lấy làm tin lắm. Ngũ Viên nuốt giận mà trở về hữu dinh. Phù Sai cho Văn Chủng về báo với Câu Tiễn những gì vua Ngô đã hứa.

Câu Tiễn tuy nghe vua Ngô Phù Sai cho giảng hòa nhưng mạng mình đều nằm trong tay vua Ngô thở dài mãi không thôi.

Văn Chủng nói:

Vua Thành Thang bị trói ở Hạ Đài. Vua Văn Vương bị tù ở Dữu Lý. Tùng Nhĩ nước Tấn bỏ chạy đến Địch. Tiểu Bạch nước Tề bỏ chạy đến Cử. Nhưng kết cuộc cuối cùng đều làm Vương làm Bá. Cứ xem việc trước mà rút kinh nghiệm việc sau, biết đâu thế nầy chẳng là phúc.

Câu Tiễn nghe xong lời an ủi của Văn Chủng liền tỉnh táo lại. Câu Tiễn lại sai Văn Chủng sang tạ ơn.

Phù Sai hỏi:

Bao giờ thời vợ chồng vua Việt theo ta sang Ngô?

Văn Chủng nói:

Chúa Công tôi đội ơn Đại Vương xá cho, định trở về Kinh Đô thu xếp những ngọc lụa, trai gái để sang cống xin Đại Vương tạm khoan thời hạn cho. Dẫu Chúa công tôi đem lòng bất tín thời cũng chẳng trốn được búa rìu sấm sét của Đại Vương vì Đại Vương đang ở cách Kinh Đô có bao xa chỉ cần hơn ngày đường thời Kinh Đô Việt Trung Nguyên tan tành mây khói.

Phù Sai nghe cũng hữu lý liền thuận cho. Ước định đến trung tuần tháng năm thời vợ chồng vua Việt phải sang Ngô. Lại sai Văn Tôn Hùng theo Văn Chủng thúc vua Việt mau mau khởi trình. Còn quan Thái Tể là Bá Hi thời đóng một vạn quân ở Ngô Sơn để chờ Vua Việt. Nếu Vua Việt sai hẹn không sang thời sẽ khởi binh tiêu diệt nước Việt Trung Nguyên. Phù Sai sau đó mấy ngày thời kéo đại quân về nước.

Câu Tiễn nghe vua Ngô cho người thúc dục mau sang cầu cống làm nô lệ nước Ngô thời hai hàng nước mắt chảy ròng ròng.

Văn Chủng nói:

Kỳ hạn đã gần đến nơi Chúa Công mau mau trở về Kinh Đô để thu xếp việc nước, chứ thương khóc làm gì.

Câu Tiễn gạt nước mắt trở về Kinh Đô trông thấy chợ búa làng xóm vẫn như cũ, mà trai tráng dân chúng thời tiêu điều thời lấy làm hổ thẹn. Việt Vương Câu Tiễn mời Vương Tôn Hùng nghĩ ở Công Quán rồi thu xép vàng ngọc châu báu mười mấy xe. Lại chọn mỹ nữ xinh đẹp trong nước được ba trăm năm mươi người. Định đem ba trăm người nạp cho Phù Sai, còn năm mươi người nạp cho Bá Hi.

Nói về quân Văn Lang do Hùng Lạc Vương tổng chỉ huy ba đạo quân ở ba chuyến tuyến Tây Bắc Trung Văn Lang tiến đánh ra Bắc, Trung Trung Bắc Văn Lang tiến đánh ra Bắc, Đông Bắc Trung Văn Lang tiến đánh ra Bắc.

Đạo quân Tây Bắc Trung Văn Lang từ Âu Tây Châu Lê Mạnh Càn thống lĩnh đại quân tiến đánh Uất Lang Việt Châu.

Đạo quân Đông Bắc Trung Văn Lang từ Quang Hải Châu Văn Bá, Kỳ Duyên thống lĩnh đại quân tiến đánh Lạc Trung Giao Châu.

Đạo quân Trung bắc Văn Lang từ Bạch Lang Châu, Văn Trội thống lĩnh đại quân tiến đánh doanh trại núi Bà Lộc điền Đức Châu.

Nói về Triệu Công qua đời Triệu Côi lên thay thế chức Trung quân Nguyên soái, cùng Triệu Chi thống lĩnh đại quân ra sức chống trả quân Văn Lang tiến ra Bắc đánh chiếm nhiều quận, huyện cũng như tiến đánh Uất Lang Việt Châu.

Cũng cùng lúc ấy. Triệu Quân lên thay thế Triệu Phàn chức Thượng Quân Nguyên soái, cùng Triệu Hàn, Triệu Anh thống lĩnh quân binh chống lại quân Văn Lang trong tình thế vô cùng nguy cập. Phạm Đổ Chinh khi ấy cũng đã già con là Phạm Thụ lên nắm quyền chỉ huy chức Tân quân Nguyên soái cùng Trường Lê, Võ Bị giao chiến với Văn Trội thắng bại chưa phân rõ thuộc về ai.

Được tin báo là Việt Vương Câu Tiễn bị Ngô đánh bại tuy cầu hòa nhưng vợ chồng Việt Vương Câu Tiễn phải sang Ngô làm con tin. Triệu Côi, Triệu Quân, Phạm Thụ vô cùng kinh hãi cấp tốc trở về Kinh Đô Việt Trung Nguyên can gián không nên qua Ngô.

Khi ấy nơi Kinh Đô Vương Tôn Hùng giục giã luôn mãi, triều thần ai nấy đều ứa nước mắt, cùng lúc ấy Triệu Côi, Triệu Quân, Phạm Thụ cũng vừa về tới nơi can gián là Chúa Công không nên qua Ngô.

Việt Vương Câu tiễn khóc ròng nói:

Nếu bổn Vương không qua Ngô thời biết làm sao? Khi quân Văn Lang tấn công dồn dập. Nếu Việt Trung Nguyên bị quân Văn Lang chiếm lại được thời chúng ta cũng hiểu rõ chuyện gì sẽ xảy ra. Có thể nói là chấm hết. Còn Ta sang làm con tin Ngô còn có hy vọng Nước Việt Trung Nguyên ta còn có ngày hưng thịnh trở lại, ta đã quyết định rồi các Khanh không nên khuyên can ta nữa hãy dốc sức mà chiến đấu với quân Văn Lang. Và chờ ta trở về nước rồi sẽ tính.

Triều Thần càng nghe càng khóc.

Văn Chủng nói:

Ngày Xưa vua Thang bị giam ở Hạ Đài, Văn Vương bị giam ở Dữu Lý, mà về sau làm nên được nghiệp Vương. Tề Hoàn Công phải chạy sang nước Cử, Tấn Văn Công phải chạy sang nước Dịch mà sau làm nên nghiệp Bá. Xem thế thời biết cái cảnh khổ sở, chính là trời mở đường cho đấng Vương Bá đó. Chúa Công cứ vững lòng tin mà theo ý trời. Triều Thần tin nơi Chúa Công, nước Việt Trung Nguyên ta có ngày hưng thịnh được, can chi mà lo sợ tổn thương ý chí của mình.

Ngay ngày hôm ấy Câu Tiễn làm lễ tế nhà tôn miếu, Vương Tôn Hùng đi trước một ngày. Câu Tiễn và Phu Nhân đi sau. Triều Thần đưa tiễn đến bến sông Chích Giang. Phạm Lãi sắp thuyền ở Cố Lăng và bày một tiệc rượu đưa tiễn. Văn Chủng cũng dâng chén rượu chúc cho Câu Tiễn. Câu Tiễn ngẩng mặt lên trời mà thở dài cầm lấy chén rượu mà rơi nước mắt, chẳng nói gì cả.

Phạm Lãi nói:

Các bậc Thánh Hiền đời xưa cũng thường gặp những cảnh khổ não, những điều sỉ nhục không thể chịu được, có phải là chỉ một Chúa Công thôi đâu.

Câu Tiễn nói:

Ngày xưa vua Nghiêu dùng hiền thần là Thuấn và Vũ mà thiên hạ được yên bình, dẫu có thủy tai, cũng không hại người lắm. Nay ta phải bỏ Việt sang Ngô, giao vận mệnh đất nước Việt Trung Nguyên cho các quan đại phu, các quan đại phu nghĩ sao cho khỏi phụ lòng ta trông cậy.

Phạm Lãi bảo với triều thần rằng:

Tôi thiết tưởng vua phải lo thời bề tôi nhục. Vua phải nhục thời bề tôi nên chết. Nay Chúa Công phải lo về nỗi bỏ nước, phải nhục về nỗi sang Ngô. Bọn ta đây há lại chẳng không có một kẻ hào kiệt vì Chúa Công chia buồn hay sao?

Các quan đại phu đồng thanh đáp rằng:

Ai cũng là tôi con tùy ý Chúa Công sai khiến.

Câu Tiễn nói:

Các quan đại phu còn có lòng thương ta thì xin cứ tự nói chính mình, để xem ai có thể đi theo ta, ai có thể ở nhà mà giữ nước được?

Văn Chủng nói:

Ở nhà để xem xét công việc trong nước thời Phạm Lãi không bằng tôi. Nhưng đi theo Chúa Công mà lâm cơ ứng biến thời tôi không bằng Phạm Lãi.

Phạm Lãi nói:

Văn Chủng xét mình đã rõ lắm. Chúa Công nên đem việc nước mà giao cho Văn Chủng. Còn như việc nhẫn nhục mà theo Chúa Công để nghĩ cách báo thù thời tôi không dám từ chối.

Phạm Lãi nói xong thời lần lượt đến các quan đại phu tỏ bày ý kiến.

Quan Thái Tể là Khổ Thành nói:

Tuyên bố mệnh lệnh để tỏ đức tính của nhà vua, và quyết đoán những việc khó khăn, khiến cho dân biết yên phận, đó là việc của tôi.

Quan Hành Nhân là Duệ Dung nói:

Đi sứ các nước chư hầu, ứng đối không đến nổi chịu nhục đó là việc của tôi.

Quan Tư Trực là Hạc Tiến nói:

Vua có điều gì trái lẽ, xin hết can ngăn, dẫu kẻ thân thích nhà vua cũng không vị nể đó là việc của tôi.

Quan Tư Mã là chư Kế Dĩnh nói:

Bày trận đánh giặc dẫu tên, đao, giáo, mác trùng trùng cũng không bao giờ chịu lui, vẫn một lòng cố tiến, đó là việc của tôi.

Quan Tư Nông là Cao Như nói:

Dốc lòng khuyên dân cố chăm chỉ làm ăn, nghĩ cách tiết kiệm, đó là việc của tôi.

Quan Thái Sử là Kế Nghê nói:

Xét trên thiên văn, dưới rõ địa lý, để dò biết sự cát, hung, đó là việc của tôi.

Các nguyên soái như Triệu Côi, Triệu Quân, Phạm Thụ nói:

Dẫu cho bỏ mạng ngoài trận địa cũng quyết ngăn chặn quân Văn Lang tiến ra bắc đó là bổn phận của các nguyên soái chúng tôi.

Câu Tiễn nói:

Ta dẫu phải sang làm tù ở nước Ngô, nhưng đã có các quan đại phu, cùng các nguyên soái thống lĩnh quân binh chống trả lại quân Văn Lang, chăm lo dân chúng dốc lòng cố sứ vì nước nhà, thời ta còn lo gì nữa.

Câu Tiễn từ biệt triều thần cùng Phạm Lãi sang Ngô. Vua tôi tiễn biệt nhau ai nấy đều ràn rụa nước mắt. Câu Tiễn ngửa mặt lên trời mà than rằng: Cái chết ai không sợ, nhưng ta đây nghĩ đến cái chết mà trong lòng không sợ chút nào.

Nói xong xuống thuyền đi ngay triều thần sụp lạy ở trên bờ sông. Câu Tiễn cũng không ngoảnh lại. Câu Tiễn cùng Phu Nhân vịn mạn thuyền mà khóc. Vương Phu Nhân chợt trông thấy đàn Ô Thước đang nhặt tôm ở ven sông bay đi lượn lại có ý thỏa thích, làm cảm mà làm bài hát rằng:

Đàn chim (hề) bay cao

Vẫy vùng (hề) đường mây

Thân thiếp (hề) vô tội

Trách trời (hề) độc thay

Hây hẩy (hề) gió mây

Trở về (hề) bao ngày

Lòng đau (hề) như cắt

Nước mắt (hề) vơi đầy

Câu Tiễn nghe thấy Phu Nhân than vãn như vậy thời trong lòng đau như cắt, nhưng muốn cho Phu Nhân vui lòng cũng gượng cười mà nói rằng:

Lông cánh của ta cũng đã đủ rồi, tất cũng có ngày bay cao, lo gì điều ấy.

* * *
 
127 ❤︎ Bài viết: 653 Tìm chủ đề
PHẦN 28

Câu Tiễn đã đi đến địa giới nước Ngô, sai Phạm Lãi vào yết kiến quan Thái Tuế là nước Ngô là Bá Hi ở Ngô Sơn và dâng vàng lụa, trai, gái.

Bá Hi không thấy Văn Chủng liền hỏi:

Văn Chủng đâu sao không thấy đến?

Phạm Lãi nói:

Văn Chủng còn phải giữ nước cho Chúa Công, nên không đến được.

Bá Hi theo Phạm Lãi đến gặp mặt Câu Tiễn. Câu Tiễn cảm tạ cái ơn giúp cho. Bá Hi hứa với Câu Tiễn thế nào cũng lập mưu cho Câu Tiễn trở về nước Việt Trung Nguyên. Câu Tiễn nghe Bá Hi hứa như vậy cũng thấy hơi yên lòng. Bá Hi cho quân giải Câu Tiễn về Ngô đưa vào nạp Phù Sai. Câu Tiễn trần vai áo. Sụp lạy ở dưới thềm, Câu Tiễn Phu Nhân cũng theo vào. Phạm Lãi đêm cái đơn kê khai các vật quý và mỹ nữ dâng lên Phù Sai.

Câu Tiễn sụp lạy hai lạy mà kêu rằng:

Tôi tới nhà vua Việt Trung Nguyên ở miền Đông Hải là Câu Tiễn vì không tự lượng sức mình để đến nổi đắc tội với Đại Vương. Nay Đại Vương xá tội lại cho được sang đây hầu hạ, nếu Đại Vương thương tình mà tha cho tội chết thời lấy làm đội ơn vô cùng.

Phù Sai nói:

Nếu ta nghĩ đến cái thù Tiên Vương ngày xưa thời không thể nào tha cho nhà ngươi được.

Câu Tiễn lại lạy mà kêu rằng:

Tội tôi thật đáng chết xin Đại Vương thương lại cho.

Bấy giờ Ngũ Viên đứng bên cạnh vua Ngô mắt trợn trừng quắc ra lửa, tiếng vang như sấm nói với Câu Tiễn rằng:

Con chim bay ở trên mây xanh, ta còn giương cung ra bắn huống chi nay nó lại đậu ở trước sân.

Câu Tiễn vốn là người nham hiểm, bây giờ như con cá nằm trong hũ, sống chết ở trong tay kẻ nhà bếp. Vậy nên nịnh hót van lạy để cầu khỏi chết, một mai đắc chí, khác nào như con Hổ về núi, con cá Kình ra biển, còn làm gì được.

Phù Sai nói:

Ta nghe nói người đã hàng phục mà mình còn giết thì họa đến ba đời. Ta không phải vì yêu Vua Việt mà không giết, nhưng sợ trái với Đạo Trời.

Bá Hi nói:

Quan tướng quốc chỉ nghĩ đến cái lợi trước mắt một lúc, mà không hiểu cái lợi yên nước về sau. Đại Vương suy xét nói thế, thật quả là một bậc nhân giả quân Vương.

Ngũ Viên thấy Phù Sai tin lời dụ nịnh của Bá Hi, không theo lời can của mình, thời căm tức mà lui ra. Phù Sai nhận lễ vật của Câu Tiễn, rồi sai Vương Tôn Hùng làm một cái nhà đá ở bên cạnh Hạp Lư, giam vợ chồng Câu Tiễn ở đấy lột áo mão đi mà cho mặt cho mặt quần áo xấu thậm tệ của những dân đen cho ăn cơm hẩm hôi thiêu lúc đói lúc no khốn khổ. Bắt chăng ngựa làm đủ những điều cực nhọc.

Bá Hi vì nhận quá nhiều của đút lót nên cho người bí mật đêm thực phẩm ăn no đến cho vợ chồng Câu Tiễn. Mỗi khi Phù Sai đi chơi lại bắt Câu Tiễn cầm roi ngựa đi chân đất ở trước xe cho quân binh dân chúng xem.

Dân chúng nước Ngô đều trỏ vào Câu Tiễn mà bảo nhau rằng: Người nô lệ kia rách rưới cầm roi chăng ngựa đi trước ngựa Đại Vương chính là vua Việt Trung Nguyên đấy thê thảm quá nhục nhã quá đáng đời cho cái tội không tự lượng sức của mình. Nếu như tôi thà chết quách còn hơn là sống không ra sống, chết không ra chết.

Câu Tiễn chỉ cúi đầu mà đi. Câu Tiễn ở nhà đá được hai năm. Phạm Lãi sớm tối hầu hạ, không rời một bước luôn khuyên Câu Tiễn cố mà luồn cúi nhịn nhục. Một hôm Phù Sai triệu Câu Tiễn vào yết kiến. Câu Tiễn sụp lạy. Phạm Lãi đứng ở phía sau.

Phù Sai bảo Phạm Lãi rằng:

Ta nghe nói gái khôn không lấy chồng ở nơi cửa nhà tan nát, danh hiền không làm quan ở một nước diệt vong. Nay Câu Tiễn vô đạo, nước đã sắp diệt, vua tôi đều làm nô bộc, bị giam cầm ở trong nhà tù chẳng cũng đã nhục lắm rồi. Ta muốn tha tội cho nhà ngươi, nếu nhà ngươi biết đổi lỗi, bỏ Việt theo Ngô thời ta sẽ trọng dụng nhà ngươi đó là bỏ ưu hoạn mà lấy phú quý. Nhà ngươi nghĩ thế nào?

Bấy giờ Câu Tiễn đang quỳ phục dưới đất mà khóc, chỉ sợ Phạm Lãi theo Ngô mất.

Phạm Lãi sụp lạy mà tâu với Phù Sai rằng:

Kẻ đã mất nước, không dám nói hay, tướng đã thua trận không dám nói mạnh. Tôi là kẻ bất trung bất tín ở nước Việt, không biết giúp Chúa Công tôi làm điều thiện, để đến nổi đắc tội với Đại Vương. May mà Đại Vương không giết, cho vua tôi được gần nhau, để vào hầu hạ Đại Vương, thế là tôi đã được mãn nguyện lắm rồi còn đâu dám mong phú quý.

Phù Sai nói:

Nhà ngươi đã không chịu đổi ý thời lại cứ về nhà đá sống trong tù ngục.

Phạm Lãi nói:

Xin vâng mệnh.

Phù Sai đứng dậy trở về cung. Câu Tiễn và Phạm Lãi trở về nhà đá sống trong cảnh ngục tù. Câu Tiễn ăn mặc tồi tàn, làm việc suốt ngày, cắt cỏ nuôi ngựa. Câu Tiễn Phu Nhân cũng ăn mặc tồi tàn rách rưới, đi gánh nước để quét dọn phân ngựa. Còn Phạm Lại thời đi kiếm củi để nấu củ pha lẫn ít gạo mà ăn sống qua ngày. Vợ Chồng Câu Tiễn cũng như Phạm Lãi mặt mũi gầy gò chẳng khá gì những người dân đen đói khổ.

Phù Sai trong suốt thời gian giam giữ Câu Tiễn, Phạm Lãi cho người theo dõi thấy vua tôi nước Việt cực khổ lao động suốt ngày mà không đủ no, áo quần rách rưới cũng không thấy buồn rầu chút nào mới cho là đồ vô chí hằng chi bại dưới tay ta cũng phải, người như thế mà làm nên trò trống gì. Phù Sai không cần bận tâm nghĩ đến nữa.

Một hôm Phù Sai lên Cô Tô đài trông thấy vợ chồng Câu Tiễn ngồi ở cạnh đống phân ngựa chẳng khác gì dân đen tầm thường, Phạm Lãi cầm chổi quét rác đứng hầu một bên.

Mới ngoảnh lại bảo Bá Hi rằng:

Câu Tiễn tuy là vua một nước, nhưng là đồ vô chí không có chí Hùng Bá, cũng là người tầm thường. Phạm Lãi chẳng qua là kẻ học trò. Nhưng không bỏ khi vua hoạn nạn, mà còn giữ được lễ vua tôi ta rất có lòng kính trọng.

Bá Hi nói:

Chẳng những đáng kính phục, thực cũng đáng thương.

Phù Sai nói:

Bắc Văn Lang Việt Trung Nguyên có lòng trung hiếu quật cường là do truyền thống con Rồng cháu Tiên ung đúc tạo nên, nên rất khó đánh chiếm hàn phục được. Nhưng theo ta thấy thời không đúng sự thật. Câu Tiễn là vua một nước đứng đầu dân chúng triều thần, cũng chỉ là kẻ tham sống sợ chết cúi đầu lạy dạ khiếp sợ trước oai linh của nước Ngô Ta. Cũng như lời quan Thái Tế nói. Ta đây nghĩ cũng thương tình nếu hắn biết lỗi thời có nên tha không?

Bá Hi nói:

Đại Vương mở lượng hải hà mà thương kẻ cùng khốn gia ân cho Vua Việt chắc là Vua Việt cũng biết đền ơn. Xin Đại Vương phải tự quyết đoán.

Phù Sai nói:

Ta sẽ chọn ngày tốt để tha cho Vua Việt về nước.

Bá Hi mật cho người báo tin cho Câu Tiễn biết. Câu Tiễn mừng lắm nói với Phạm Lãi.

Phạm Lãi nói:

Để thần bói một quẻ, xem lành dữ thế nào.

Phạm Lãi bói xong nói với Câu Tiễn rằng:

Dẫu có tin như vậy, cũng chưa nên lấy làm mừng.

Câu Tiễn nghe nói có ý làm buồn. Ngũ Viên nghe tin Phù Sai sắp tha Câu Tiễn, vội vàng vào yết kiến Phù Sai mà tâu rằng:

Ngày xưa Vua Kiệt giam vua Thành Thang mà không chết. Vua Trụ giam Văn Vương mà không giết. Đến lúc đạo trời xoay chuyển. Chuyển họa thành phúc, chuyển bại thành thắng, chuyển nhục thành vinh, thời Vua Kiệt bị Vua Thang đuổi. Nhà Thương bị nhà Chu diệt. Nay Đại Vương giam Câu Tiễn mà không giết, tôi e rằng sắp có họa như Nhà Hạ cũng như Nhà Thương.

Phù Sai nghe Ngũ Viên nói cũng có lý vì gương lịch sử vẫn sờ sờ trước mắt. Phù Sai có ý muốn giết Câu Tiễn bèn sai người triệu Câu Tiễn vào. Bá Hi lại báo trước cho Câu Tiễn biết là Phù Sai định giết Câu Tiễn theo lời đề nghị của Ngũ Viên. Câu Tiễn kinh sợ lại nói với Phạm Lãi.

Phạm Lãi nói:

Chúa Công đừng sợ. Vua Ngô đã giam Chúa Công đã ba năm nay. Trong ba năm còn không nỡ xuống tay, huống chi bây giờ, Chúa Công cứ đi không ngại.

Câu Tiễn nói:

Ta chịu ẩn nhẫn bấy lâu nay không đến nỗi chết đều là nhờ mưu kế của quan đại phu cả.

Câu Tiễn lấy lại tự tin vào thành yết kiến Phù Sai. Phải chầu chực quỳ lạy đến ba ngày mà không thấy Phù Sai ra thượng triều. Bá Hi ở trong cung ra phụng mệnh Phù Sai truyền cho Câu Tiễn về nhà đá. Câu Tiễn lấy làm lạ liền hỏi.

Bá Hi nói:

Đại Vương nghe lời Ngũ Viên, định đem giết Ông vậy, nên triệu Ông đến để giết. Cũng may gặp lúc Đại Vương bị cảm không thể dậy được.

Tôi vào thăm bệnh nhân tâu với Đại Vương rằng:

Người bệnh muốn cầu yên thời phải làm phúc nay vua Việt đang chầu chực ở đây, chỉ đợi ngày chịu chết, oán khí xông lên đến Trời. Đại Vương nên tạm tha cho y trở về nhà đá, đợi khi khỏi bệnh rồi sẽ định liệu.

Vì nghe lời tôi mà Đại Vương tạm tha cho ngài về nhà đá quyết định sinh mạng của ngài sau.

Câu Tiễn cảm tạ không xiết, ở nhà đá được ba tháng Câu Tiễn nghe tin Phù Sai vẫn chưa khỏi bệnh, mới bảo Phạm Lãi bói một quẻ.

Phạm Lãi bói xong bảo Câu Tiễn rằng:

Phù Sai không chết ngày Tỵ thời bớt, đến ngày Nhâm thời khỏi. Đây là cơ hội Đại Vương Chúa Công cố xin vào thăm. Khi được vào thăm Đại Vương cố tình nếm phân cho Phù Sai để đoán ra bệnh rồi nói ngày khỏi bệnh, đến kỳ khỏi bệnh đúng như lời nói của Chúa Công Đại Vương thời tất nhiên y cảm ơn mà tha cho Đại Vương.

Câu Tiễn ứa nước mắt mà nói rằng:

Ta đây dẫu chẳng ra gì nhưng cũng là một Ông Vua không nhẽ lại nếm phân cho người chịu nhục đến thế sao?

Phạm Lãi nói:

Ngày xưa Vua Trụ giam Văn Vương ở Dữu Lý. Vua Trụ giết con Văn Vương là Bá Ấp Khảo rồi ướp thịt đưa cho Văn Vương ăn. Thế mà Văn Vương cố nén đau đớn mà ăn thịt con. Chúa Công muốn thành đại sự thời cần chi để ý những điều nhỏ mọn. Vua Ngô lòng thương người như đàn bà, mà không có lòng quả quyết như kẻ trượng phu. Đã toan tha rồi đổi ý. Nếu ta không làm thế thời làm gì qua mặt được Phù Sai, làm sao Vua Ngô rũ lòng thương mà tha cho chúng ta, nhờ sự nhẫn nại, nhẫn nhịn, nhẫn nhục cao chúng ta mới có thể qua khỏi kiếp nạn nầy.

Câu Tiễn tức khắc sai Phạm Lãi đến nói với Bá Hi rằng Chúa Công tôi nghe nói bệnh tình Đại Vương không thiên giảm, Chúa Công tôi lo lắng ăn ngủ không yên nên sai tôi đến cầu xin ngài cho Chúa Công tôi theo ngài vào thăm Đại Vương, để tỏ chút tình thành kính.

Bá Hi suy nghĩ một giây lác cho đó là dịp may có thể cứu sống được Câu Tiễn thời cái lợi lớn về sau một sức mà thừa hưởng.

Bá Hi nói:

Câu Tiễn ngài có lòng tốt, để tôi xin chuyển tấu.

Bá Hi vào yết kiến Phù Sai, bày tỏ cái tình Câu Tiễn nhớ mến, xin vào thăm bệnh. Phù Sai đang khi cơn bệnh trầm trọng, nghĩ thương tình Câu Tiễn mà cho vào. Bá Hi đưa Câu Tiễn vào thăm Phù Sai.

Phù Sai trừng mắt nhìn mà bảo rằng:

Câu Tiễn cũng vào thăm ta đó à?

Câu Tiễn sụp lạy mà tâu rằng:

Kẻ bề tôi ở trong tù nghe nói Đại Vương Long Thể bất hòa, thật là nát gan héo ruột chỉ mong được trông thấy mặt Rồng mà không biết phải làm thế nào.

Câu Tiễn nói chưa dứt lời thời Phù Sai đau bụng muốn đi ngoài, mới lấy tay xua bảo Câu Tiễn ra.

Câu Tiễn nói:

Khi Tôi ở đông hải có học người y sư, học được cách xem phân biết bệnh chính xác, bệnh chóng khỏi hay kéo dài trầm trọng. Nhờ thế mà bốc thuốc chính xác chữa trị khỏi bệnh ngay.

Câu Tiễn nói xong chắp tay đứng ở cửa sổ. Nội thị đưa cái thùng đến cạnh giường nằm, rồi vực Phù Sai dậy đi ngoài. Phù Sai đi ngoài xong rồi nội thị bưng cái tùng đưa ra ngoài cửa. Câu Tiễn mở nắp thùng ra, thò tay bốc phân rồi quỳ xuống mà nếm. Mọi người xung quanh đều bịt cả mũi.

Câu Tiễn lại vào sụp lạy Phù Sai mà tâu rằng:

Kẻ tù nầy xin chúc mừng Đại Vương, bệnh Đại Vương đến ngày Kỷ Tỵ thì bớt, sang tháng ba về ngày Nhâm Thân thời khỏi hẳn không cần thuốc thang gì cả. Đó cũng là nhờ cái đức của Đại Vương trùm bá thiên hạ mà khỏi bệnh.

Phù Sai nghe Câu Tiễn quả quyết về bệnh tình mình như vậy liền hỏi:

Nhà ngươi căn cứ vào đâu mà quyết đoán bệnh tình của ta như vậy?

Câu Tiễn nói:

Tôi thường nghe y sư chỉ dạy phân là gốc của vị, hể thuận thời khí thời vô bệnh mà sống lâu, hể trái thời khí thời phát bệnh có khi dẫn đến cái chết. Nay kẻ tù nầy nếm phân Đại Vương thấy vị đắng và chua, chính hợp cái thời khí Xuân, Hạ phát sinh biến động trong cơ thể chỉ làm tăng tuổi thọ Đại Vương mà thôi. Nên bề tôi mới quả quyết bệnh tình Đại Vương chóng khỏi không cần thuốc thang như vậy.

Phù Sai nghe Câu Tiễn nói vô cùng bùi tai. Phù Sai bằng lòng nói rằng:

Câu Tiễn nhân đức thay. Thần tử đối với quân phụ, ta chưa thấy ai chịu nếm phân đoán bệnh bao giờ.

Bấy giờ nhân Bá Hi đứng cạnh Phù Sai bèn hỏi rằng:

Quan Thái Tế có nếm được không?

Bá Hi lắc đầu nói:

Thần thật rất yêu Đại Vương, nhưng việc ấy Thần không làm nổi.

Phù Sai nói:

Chẳng những quan Thái Tể không làm nổi, dẫu cho Thế Tử của Ta cũng không thể làm được.

Phù Sai truyền tha Câu Tiễn không bắt về nhà đá nữa, được tùy tiện tìm chỗ ở, đợi khi Phù Sai khỏi bệnh sẽ cho về nước. Câu Tiễn lạy tạ lui ra, từ đó về sau Câu Tiễn tìm được chỗ ở trong nhà dân, nhưng vẫn chăm chỉ giữ việc nuôi ngựa như trước, Phù Sai quả nhiên khỏi bệnh đúng như lời Câu Tiễn nói.

* * *
 
127 ❤︎ Bài viết: 653 Tìm chủ đề
PHẦN 29

Lại nói về Phù Sai cho là Câu Tiễn trung thành với mình, nên khi đã khỏi bệnh liền truyền bày tiệc ở trên vân đài, cho Câu Tiễn vào dự yến. Câu Tiễn giả cách không biết, vẫn mặc áo tù mà đến. Phù Sai trông thấy truyền Câu Tiễn tắm gội và ban cho mũ áo. Câu Tiễn hai ba lần từ tạ rồi mới dám nhận. Câu Tiễn thay áo mũ xong lại vào lại vào sụp lạy Phù Sai.

Phù Sai vội vàng đỡ dậy và hạ lệnh rằng:

Vua Việt là người nhân đức không nên làm nhục lâu, ta định tha tội cho về nước nay nên tiếp đãi tử tế.

Các Quan đại phu nước Ngô đều vái nhường Câu Tiễn mời Câu Tiễn ngồi, rồi ngồi cả hai bên cạnh. Ngũ Viên thấy Phù Sai quên hẳn thù xưa, trong lòng căm tức không chịu ngồi vào liền quay trở ra.

Bá Hi nói:

Đại Vương ta lấy cái lòng một người nhân đức. Mà tha cái tội của người nhân đức. Tôi nghe nói "đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu" ngày nay ai là nhân thời ngồi lại, ai bất nhân thời bỏ đi. Quan tướng quốc là người cương dũng cho nên thẹn không dám ngồi, chớ sao?

Phù Sai cười mà nói:

Quan Thái Tể nói phải lắm.

Rượu đã ba tuần, Phạm Lãi và Câu Tiễn đều đứng dậy dâng chén chúc thọ Phù Sai. Phù Sai bằng lòng lắm ngày hôm ấy uống rượu thật say. Rồi sai Vương Tôn Hùng đưa Câu Tiễn ra công quán, đợi trong ba ngày nữa sẽ đưa về nước.

Sáng hôm sau Ngũ Viên vào tâu với Phù Sai rằng:

Hôm qua Đại Vương lấy khách lễ mà đãi kẻ thù là nghĩa thế nào? Câu Tiễn trong bụng như hổ báo, lang sói mà mặt ngoài giả cách cung kính. Đại Vương thấy y nói những lời xu nịnh, chẳng nghĩ đến tai họa về sau ư? Bỏ lời trung trực mà nghe kẻ gièm pha, nghĩ đều nhân nhỏ mà nuôi kẻ thù lớn, khác nào như buông nắm lông ở trên lò than mà mong khỏi cháy. Ném quả trứng ở dưới cân nặng mà muốn được toàn thời làm sao?

Phù Sai nghe Ngũ Viên nói thời không bằng lòng nói rằng:

Ta ốm trong ba tháng, quan tướng quốc chẳng thấy hỏi thăm được một câu, thế là quan tướng quốc bất trung, lại chẳng thấy quan tướng quốc làm quà cho cái gì, thế là quan tướng quốc bất nhân. Làm bề tôi mà bất trung và bất nhân thời còn dùng được việc gì nữa. Câu Tiễn bỏ nước mà sang đây, đem của cải đến dâng nạp, đem thân làm tôi tớ đó là điều trung khi ta có bệnh. Lại chịu nếm phân ta mà lòng không oán giận, đó là điều nhân. Nếu ta theo ý riêng của quan tướng quốc mà giết kẻ thiện sĩ ấy thời Trời nào còn giúp ta nữa.

Ngũ Viên nói:

Sao Đại Vương lại nghĩ lầm như vậy? Con Hổ thu mình lại thời tất là chực vồ con mồi. Con Cáo mà rụt cổ lại thời tất định cắn một cú chí tử. Vua Việt lâm vào tình thế buộc mới sang tùng phục Ngô ta, dẫu trong lòng oán hận cũng không dám để lộ ra ngoài. Đại Vương nên hiểu người xưa thường nói dò sông dò biển dễ dò, nhưng nào ai lấy thước mà đo lòng người. Bây giờ y cúi xuống mà nếm đống phân của Đại Vương, chắc đâu không có một ngày kia ngẩng lên mà ăn gan ruột của Đại Vương. Vì nước Việt Trung Nguyên tiềm năng con người cũng như kinh tế rất mạnh Đại Vương không suy xét kỷ mà mắc mưu tất có ngày bị hại.

Phù Sai nói:

Quan tướng quốc chớ nói nữa, ý ta đã quyết định rồi.

Ngũ Viên biết không thể can được ấm ức mà lui ra. Đến ngày thứ ba, Phù Sai lại bày tiệc ở ngoài Sà Môn để tiễn Câu Tiễn. Các quan đều dâng chén rượu tiễn chân. Chỉ có Ngũ Viên không đến dự.

Phù Sai bảo Câu Tiễn rằng:

Ta tha cho nhà Vua về nước, nhà Vua nên nhớ ơn nước Ngô mà cống nạp cho phải lễ, chớ đem lòng thù oán.

Câu Tiễn sụp lạy mà nói rằng:

Đại Vương thương tôi là kẻ còn non dại không tự lượng sức mình làm những điều ngu xuẩn lại biết ăn năng, nên mới tha cho được sống mà về nước. Tôi xin đời đời không dám quên ơn. Trời cao thăm thẳm soi xét lòng tôi, nếu tôi phụ Ngô thời Trời sẽ giáng họa.

Phù Sai nói:

Quân Tử không sai lời. Thôi nhà Vua lên đường nên gắng hết lòng hàng năm cống nạp cho nước Ngô.

Câu Tiễn sụp lạy, nước mắt đầm đìa, làm ra vẻ quyến luyến. Phù Sai thân hành vực Câu Tiễn lên xe. Phạm Lãi cầm cương xe. Câu Tiễn Phu Nhân sụp lạy tạ ơn rồi cùng lên xe đi về phía Nam.

Bấy giờ Phương Nam là đời thứ 14 Hạ Hùng Vương Hùng Ánh Vương, Chân Nhân Lang. Phương Bắc bấy giờ là năm thứ 23 đời Chu Kính Vương.

Câu Tiễn về đến Chiết Giang, trông thấy phong cảnh khác xưa, thở dài mà nói rằng:

Ta vẫn tưởng phải từ biệt trăm họ Bách Việt Trung Nguyên, bỏ thân nơi cõi khác ngờ đâu nay được trở về nước giữ lấy việc cúng tế.

Câu Tiễn ngoảnh lại Phu Nhân mà khóc. Các người xung quanh cũng đều cảm động mà khóc cả. Văn Chủng đem triều thần và dân trong Kinh Đô ra đón tận ở bến Triết Giang trong tiếng reo hò dậy đất. Câu Tiễn sai Phạm Lãi bói xem ngày nào tốt để vào thành.

Phạm Lãi bấm đốt ngón tay rồi nói với Câu Tiễn rằng:

Ngày mai rất tốt. Chúa Công nên đi mau cho kịp.

Câu Tiễn tức khắc giục ngựa trở về Kinh Đô. Muốn ghi sâu trong cái nhục ở Cối Kê. Câu Tiễn muốn xây đắp thành Thiên Đô ở đó luôn luôn nhớ tới mối thù bằng giao hẳn việc ấy cho Phạm Lãi lo liệu. Phạm Lãi xem thiên văn, xét địa lý, lập ra một cái thành mới bao bọc núi Cối Kê. Phía Tây Bắc Phạm Lãi cho lập lầu Phi Dục ở núi ngọa tang làm nơi Thiên Môn. Đông Nam lập Lâu Thạch Đậu để làm địa bộ. Còn mặt Tây Bắc thời để không. Và nói phao lên rằng đã thần phục nước Ngô, không dám lấp đường cống hiến, cống nạp cho nước Ngô. Nhưng kỳ thực là để tiện đường tiến đánh quân Ngô mai sau. Khi thành đắp xong, bỗng thấy trong thành mọc lên một quả núi chu vi mấy dặm như hình con quỷ, cây cỏ mọc lên rậm rạp. Có người trông quả núi ấy giống như là núi Đông Vũ ở xứ Lang Gia, Nơi con Thuồng Luồng Ngư Tinh thường xuất hiện không biết là vì sao lại bay đến đây được.

Phạm Lãi nói với Câu Tiễn rằng:

Tôi đắp cái thành nầy ứng với Thiên Tượng cho nên quả núi hình con quỷ ấy hiện ra. Đó là điềm phúc nước Việt Trung Nguyên ta có Quỷ thần phù hộ che chở điềm báo trước Chúa Công làm nên nghiệp Bá.

Câu Tiễn nghe xong lấy làm mừng lắm mới đặt tên núi ấy là Quái Sơn cũng gọi là Phi Lai Sơn. Câu Tiễn sang Thiên Đô ở đấy.

Câu Tiễn bảo Phạm Lãi rằng:

Ta thực thực thất đức, để đến nổi nước nhà suy đốn, phải đem thân đi hầu hạ người khác, nếu không có quan tướng quốc và các quan đại phu, cũng như các nguyên soái trấn giữ phía nam bảo vệ nước Việt Trung Nguyên thời nước Việt Trung nguyên là sao trụ vững phát triển hùng mạnh như thế nầy.

Phạm Lãi nói:

Đó là nhờ hồng phúc của Chúa Công, chứ chúng thần có công gì. Nhưng xin Chúa Công chớ lúc nào quên cái nhục ở nhà đá thời mới có cơ báo thù được nước Ngô.

Câu Tiễn nói:

Xin vâng lời dạy bảo.

Lúc bấy giờ nước Việt Trung Nguyên quốc chính giao cho Văn Chủng, quân chính giao cho Phạm Lãi. Câu tiễn luôn tôn trọng hiền tài, kính lão, thương nghèo, trăm họ đều bằng lòng. Câu Tiễn từ khi nếm phân, thành ra bệnh hôi miệng. Phạm Lãi biết có một thứ rau ở một quả núi về phía Bắc thành, tên gọi là rau trấp, rau ấy ăn được nhưng có mùi hôi nên mới sai người đi hái đem về, để cả triều cùng ăn, cho lẫn mùi hôi nhưng có mùi hôi. Sau người ta gọi tên núi ấy là núi Trấp Sơn.

Câu Tiễn muốn gấp báo thù, mới cố chăm chỉ suốt ngày suốt đêm, khi buồn ngủ thời lấy cỏ lục mà đánh vào mắt, chân lạnh muốn rụt lại thời lấy nước vào. Mùa đông thường ngồi gần nước băng, mùa hạ thường ngồi gần đống lửa, xếp củi mà nằm lên trên, chớ không nằm giường nệm. Lại treo một quả mật ở chỗ ngồi, thỉnh thoảng lại nếm một ít.

Câu Tiễn đêm nào cũng khóc sụt sùi, khóc chán rồi thở dài. Lại luôn luôn nhắc hai tiếng "Cối kê". Câu Tiễn thấy sau khi đất suy bại trai trán chết vô số kể, dân số giảm kém mới hạ lệnh cấm con trai không được lấy vợ già. Ông già không được lấy vợ trẻ. Con gái mười bảy tuổi không lấy chồng, con trai hai mươi tuổi không lấy vợ thời bắc tội cha mẹ, đàn bà sắp chửa đẻ đều phải trình quan. Để quan cho thầy thuốc đến coi sóc. Sinh con trai thời thưởng cho hồ rượu và con chó. Ai sinh con gái thời thưởng cho hồ rượu và con lợn. Ai sinh ba con thời quan nuôi hộ hai, ai sanh hai thời quan nuôi hộ một. Hể có ai chết thời quan thân hành đi đưa đám và thương khóc. Câu Tiễn mỗi khi đi đâu thời cũng đem đồ ăn để ở trong xe hể gặp trẻ con thời cho ăn và hỏi tên họ.

Đến mùa làm ruộng Câu Tiễn cũng vác cày đi cày. Phu Nhân cũng chăm việc dệt cửi, cùng chia sự lao khổ cùng với dân. Trong bảy năm Câu Tiễn không thu thế của dân, ăn mặc rất là tiết kiệm không mặc hai màu, khiêm tốn đối với người hiền, cùng chịu khó với trăm họ. Thế mà chẳng tháng nào Câu Tiễn không sai sứ sang cống hiến cho nước Ngô. Lại người vào núi hái dây cát dệt làm vải nhỏ, đem dâng Phù Sai, nhưng chưa kịp dâng Phù Sai khen lòng trung thành của Câu Tiễn. Bằng sai người trả lại trả lại đất phía đông Câu Dụng phía Tây Hề Lý. Phía Nam Cô Việt. Phía Bắc Bình Quyên. Cả thảy hơn tám trăm dặm mà quân Ngô đã chiếm đóng.

Từ khi Câu Tiễn trở về nước Việt Trung Nguyên, xây dựng Thiên Đô ở Cối Kê, ra sức trong bảy năm cũng cố lực lượng vỗ về binh sĩ, chăm lo dân chúng có thể nói là hùng mạnh, nhân cơ hội Ngô trả đất tiến quân đánh Ngô để rửa mối hận thù.

Đại Phu Phùng Đồng can rằng:

Tuy nước ta phồn thịnh no đủ, nhưng thế lực nước Ngô còn mạnh lắm chỉ cần phát hiện Chúa Công tiến quân chinh phạt Ngô. Thế nào Ngô cũng tức giận đem quân tiến đánh trong khi thế lực của ta chưa nắm chắc phần thắng, thời tai nạn cho nước Việt ta không sao tránh khỏi. Vả lại con Chim Ưng muốn tấn công thời nói phải biết dấu mình không cho con mồi biết thời hiệu quả mới đạt đến đỉnh cao. Nay quân Ngô sắp đánh Tề và Tấn. Ngô tuy nổi danh thiên hạ, nhưng thực chỉ cốt làm tổn hại uy danh Nhà Chu. Hiện nay đối với nước Việt Trung Nguyên ta, không gì bằng biết đợi thời cơ, âm thầm liên kết với nước Tề, thân với nước Sở, khi thời cơ đã đến, ba nước đánh Ngô thời nhất định tiêu diệt được Ngô.

Câu Tiễn cho lời nói Phù Đồng là có lý, cẩn thận ẩn kín ý niệm đánh Ngô, mà tiếp tục làm cho Ngô tin mình. Câu Tiễn sai người đem vải cát mười vạn tấm, cam mật một trăm vò. Áo cầu lông chồn năm đôi, tre nứa mười thuyền sang dân Phù Sai để tạ cái ơn đã trả lại đất đai. Ngũ Viên nghe nói liền cáo ốm không vào triều. Phù Sai thấy Câu Tiễn một lòng thuần phục không những trả đất chiếm đóng cho Câu Tiễn mà còn tin lời Bá Hi.

Một hôm Phù Sai hỏi Bá Hi rằng:

Ngày nay trong nước thái bình ta muốn mở thêm cung thất để lấy chỗ vui chơi, nên làm tại chỗ nào?

Bá Hi nói:

Gần Đô Thành ta, đài cao cảnh đẹp, còn đâu bằng Cô Tô, nhưng cái đài của Vua trước dựng lên chưa được tráng lệ lắm. Đại Vương nên sửa lại cái đài ấy, khiến cho cao có thể trông thấy trăm dặm, rộng có thể dung được nghìn người. Rồi hợp những ca đồng vũ nữ ở đấy, thời thật là một sự khoái lạc đệ nhất trần gian.

Phù Sai cho khen phải, liền trao giải, tìm kiếm những cây gỗ quý.

Văn Chủng nghe tin vào nói với Câu Tiễn rằng:

Thần nghe nói "Con chim bay ở trên mây cao, chỉ chết vì miếng ăn tốt. Con cá lặn dưới vực sâu, chỉ chết về miếng mồi thơm" Nay Chúa Công muốn báo thù Ngô thời phải xem Ngô thích cái gì mới có thể trị nổi.

Câu Tiễn nói:

Dẫu tìm được điều họ thích, nhưng làm thế nào mà trị nổi?

Văn Chủng tâu:

Thần có nghĩ cách phá Ngô cả thảy được bảy kế.

1 - Chịu tốn của làm cho nước Ngô bằng lòng.

2 - Lấy giá đắc mua thóc làm cho Ngô thiếu lương thực.

3 - Đem mỹ nữ sang dâng để làm cho vua Ngô mê hoặc.

4 - Đem thợ khéo, gỗ tốt sang đem dâng, để Ngô làm cung thất tốn hại tiền của.

5 - Dùng kẻ mưu thần để làm cho nước loạn.

6 - Làm cho vua Ngô hại trung thần rơi vào cảnh thế cô.

7 - Tích của luyện quân, đợi khi địch suy yếu.

Câu Tiễn nói:

Quan tướng quốc nói phải lắm, nhưng nên dùng kế nào được?

Văn Chủng nói:

Nay Ngô sửa lại đài Cô Tô, ta nên tìm cây lớn gỗ quý đem dâng.

Câu Tiễn liền sai hơn ba nghìn thợ mộc vào rừng tìm gỗ, tìm hơn một năm mà chưa mà chưa được cây nào thật tốt. Thợ mọc đều đêm lòng oán hận, đêm ngày than oán với nhau. Một hôm đang đêm bỗng cuồng phong nổi lên núi rừng rung chuyển một con quỷ Ngư Tinh xuất hiện sau đó thời trời quang mây tạnh xuất hiện hai Thần Mộc to hai người ôm, cao năm mươi tầm, một cây ở phía Nam núi, gọi là cây tử. Một cây ở phía Bắc núi gọi là cây nam. Thợ mộc kinh ngạc cho người vội vàng về báo với Câu Tiễn.

Triều thần chúc mừng Câu Tiễn rằng:

Lòng thành Chúa Công đã cảm động đến lòng trời, cho nên trời sanh gỗ thần để giúp Chúa Công.

Câu Tiễn mừng lắm thân hành đến làm lễ tế trời, cho thợ mộc đốn xuống sai đêm bào láng và dùng thuốc xanh, đỏ vẽ hình rồng rắn, sai Văn Chủng đưa sang Ngô dâng lên cho Phù Sai. Phù Sai thấy gỗ to đẹp lạ thường, xiết bao mừng rỡ.

Ngũ Viên can rằng:

Ngày xưa vua Kiệt làm linh đài, vua Trụ làm lộc đài khổ dân hao của đến đổi mất nước. Câu Tiễn muốn hại ta, nên đem dâng gỗ nầy đó.

Phù Sai nói:

Câu Tiễn được cây gỗ quý nầy, không để mà dùng, lại đem dâng ta, thế là lòng tử tế sao ta lại từ chối.

Nước Văn Lang chia đôi Nam Bắc, Bách Việt tương tàn làm suy kiệt nước Văn Lang, Đồng Bào khốn khổ lầm than. Bắc Văn Lang đã rơi về tay quân loạn tặc phản loạn trở thành nước Việt Trung Nguyên. Việt Trung Nguyên không những giàu có về lúa gạo, mà còn giàu có về mọi mặc. Thủy Sản, sơn hào, hải vị, gái đẹp vàng bạc, ngọc ngà, châu báu chẳng thiếu chi. Là miếng mồi béo bở, không những nước Ngô, mà còn nhiều nước Phương Bắc thời Nhà Chu lúc nào cũng thèm thuồng dòm ngó. Vì thế Việt Trung Nguyên không lúc nào yên, trong thời các Vua Hùng đánh ra đòi lại Bắc Văn Lang. Ngoài thời các nước Phương Bắc dòm ngó thôn tính chẳng hạn như nước Ngô.

* * *

PHẦN 30

Phù Sai thấy gỗ quý thời mừng lắm, Ngũ Viên nói gì cũng không nghe, truyền đem hai cây gỗ quý để sửa đài Cô Tô. Trong năm năm mới làm xong đài cao ba trăm trượng, rộng tám mươi tư trượng, trèo lên thời trông suốt được hai trăm dặm. Nguyên trước đó có con đường chín khúc đi thẳng lên núi, bây giờ làm rộng thêm ra. Trăm họ phải ngày đêm phục dịch, lao lực mà chết rất nhiều.

Câu Tiễn nghe tin báo Văn Chủng rằng:

Kế sách dâng gỗ tốt cho hắn làm cung thất, tốn hại tiền của kế ấy đã thành rồi. Nay trên đài cao tất nhiên phải tuyển ca nhi vũ nữ, nếu ta không tìm được người tuyệt sắc thì làm sao làm cho hắn mê hoặc được.

Câu Tiễn nói:

Quan tướng quốc hãy bàn mưu giúp ta.

Văn Chủng nói:

Việc gì cũng bởi trời cả. Trời đã sanh thần mộc giúp Chúa Công thời lo gì không có mỹ nữ tuyệt sắc. Nhưng nếu ta sục tìm thời dân tình náo động. Thần nghĩ được một kế có thể xem mặt hết con gái trong nước tùy ý Chúa Công kén chọn.

Văn Chủng hiến kế rằng:

Chúa Công phái một trăm nội thị đi lẫn với Thầy Tướng giả cách đi xem tướng số khắp trong đất nước, thấy mỹ nữ thời ghi lấy tên và chỗ ở. Dùng cách ấy chọn thời lo gì không có người.

Câu Tiễn theo kế ấy, mới trong nửa năm mà đã tuyển chọn được hai nghìn mĩ nữ. Câu Tiễn sai chọn lại được hai người đẹp nhất, truyền vẽ tranh đêm dâng Phù Sai. Hai người ấy là Tây Thi và Trịnh Đán.

Tây Thi là con một người kiếm củi ở núi Trữ La. Trữ La có hai thôn, Đông Thôn và Tây Thôn, dân chúng phần đông là họ Thị. Người con gái ở Thôn Tây gọi là Tây Thi. Trịnh Đán cũng ở Tây Thôn làng giềng với Tây Thi. Nhà lại gần sông hai người ngày nào cũng gặp nhau ra đập sợi ở bến sông phải nói là tuyệt sắc giai nhân sắc nước hương trời, mặt hoa da phấn, đúng là trong ngọc trắng ngà, da như tuyết, mắt như hồ thu êm dịu trong suốt, người như hoa xuân đại ngàn, lưng ong, mông nở, ngực đầy, dáng đi uyển chuyển, đúng là hoa nhường nguyệt, chim sa cá lặn khuynh quốc nghiêng thành, ai nhìn thấy cũng mê ngây ngất tâm hồn.

Câu Tiễn sai Phạm Lãi đem một trăm ném vàng đón về đón hai cô gái đẹp như tiên nữ giáng trần. Phạm Lãi vừa nhìn thấy Tây Thi, Trịnh Đán thời tâm hồn xao xuyến càng nhìn càng thấy đẹp đúng là báu vật chốn nhân gian. Phạm Lãi cho ăn mặt đồ the lụa, ngồi xe có màng phủ mỗi khi hai mĩ nữ bước lên xe xuống xe đều bừng lên rực sáng cả một khung trời, tiếng đồn lan nhanh, người trong nước ai cũng muốn xem mặt, tranh nhau đón theo dọc đường không biết bao nhiêu mà kể.

Phạm Lãi để Tây Thi và Trịnh Đán ở hội quán rồi truyền dụ rằng:

Ai muốn xem mặt hai tuyệt đại mỹ nhân, thời phải nộp một đồng tiền.

Chỉ trong một lúc đồng tiền đầy mấy thùng lớn. Hai mỹ nữ đi lên lầu đứng tựa vào bao lơn, ở dưới trông lên chẳng khác nào hai tiên nữ giáng trần đứng trên không. Tây Thi và Trịnh Đán ở lại ngoại thành, tiền thu được không biết bao nhiêu mà kể, đều nộp vào kho cả.

Câu Tiễn cho hai mỹ nữ ở riêng tại Thổ Thành, rồi sai một nhạc sư già dạy cho hát múa, khi nào thành nghề sẽ sang tiến Phù Sai.

Bấy giờ Phương bắc là đời Chu Kính Vương. Phương Nam là thời Hùng ánh Vương, Chân Nhân Lang. Nước Việt Trung Nguyên Việt Vương Câu Tiễn lên làm Vương đã hơn mười năm. Trước đó một năm Phương Bắc Tề Cảnh Công mất. Con nhỏ là Trà lên Ngôi. Năm ấy Sở Chiêu Vương cũng mất, thế tử Chương lên nối ngôi Sở còn đang củng cố xây dựng. Tấn lại suy yếu, Tề thời Án Anh chết. Lỗ thời Khổng Tử đi, những nước hùng mạnh Phương bắc xa gần nước Ngô nước nào cũng suy yếu cả. Chỉ có nước Ngô là cường thịnh nhất. Phù Sai cậy mình binh hùng tướng mạnh, có ý xâm chiếm dần các Sơn Đông các nước trấn chư hầu Nhà Chu đều lấy làm lo sợ. Phù Sai luôn tìm cách thôn tính lần các nước Sơn Đông nhưng chưa có cớ để tiến quân. Gặp lúc Điệu Công nước Tề sai sứ mượn quân nước Ngô, cùng đánh Lỗ.

Phù Sai nói:

Ta vẫn muốn dùng quân sang đánh các nước Sơn Đông nay đã có cớ rồi.

Phù Sai thuận cho nước Tề mượn quân. Lỗ Ai Công nghe Ngô khởi binh kinh sợ, tức khắc tha cho Vua Châu về nước rồi sai sứ sang xin lỗi với nước Tề.

Tề Điệu Công sai quan đại phu là Mạnh Xước sang nói lại với nước Ngô rằng:

Nước Lỗ đã phục tội rồi, không dám phiền đến nước Ngô nữa.

Phù Sai nổi giận, nói:

Nước Ngô ta có phải là thuộc quốc của Tề đâu, mà Ngô ta đánh hay không đánh đều phải vâng lệnh nước Tề. Âu là thân hành đêm quân đến nước Tề, để hỏi cái tội làm sao mỗi lúc nói một khác.

Nói xong bằng đuổi Mạnh Xước ra. Nước Lỗ nghe tin vua Ngô giận Tề liền sai sứ đem lễ vật sang dâng vua Ngô lại ước với vua Ngô cùng đánh nước Tề. Phù Sai vui lòng thuận ngay.

Ngũ Viên can:

Chớ nên. Tôi nghe nói Câu Tiễn ăn không hai món. Cùng vui cùng khổ với trăm họ. Con người nầy chưa chết là còn lo cho nước Ngô ta không lo coi chừng đề phòng Nước Việt là nguy cơ sắp đến nơi. Tề chẳng qua chỉ là ghẻ lở ở ngoài da. Xin Đại Vương bỏ Tề mà kìm hãm sức mạnh nước Việt.

Vua Ngô Phù Sai không nghe cứ đánh Tề. Tức khắc cất quân cùng với nước Lỗ đến vây phía nam nước Tề. Người nước Tề ai cũng kinh hoảng, và thầm oán Tề Điệu Công tự nhiên sinh sự chọc giận nước Ngô.

Bấy giờ Trần Khất đã chết rồi, con là Trần Hằng giữ quyền chính. Nhân dịp người trong nước không thuận mới bảo Bão Tức rằng:

Sao nhà ngươi không làm "đại sự" đi. Ngoài thì làm cho quân Ngô khỏi giận. Mà trong thời báo được cái thù cho gia tiên.

Bão Tức từ chối là không làm nổi.

Trần Hằng nói:

Ta xin giúp nhà ngươi.

Nhân khi Điệu Công đi luyện quân Trần Hằng dâng rượu độc cho Điệu Công rồi giết đi, cho quân binh bắt Cao Chiêu Tử và Quốc Huệ rồi sai người dâng nạp cho Phù Sai nói với Vua Ngô Phù Sai rằng:

Chúa Công tôi đắc tội với thuộc quốc đã bị bệnh mà chết, thế là Trời đã thay Đại Vương mà trị tội Chúa Công tôi rồi. Nếu Đại Vương rủ lòng thương xót không phá hủy xã tắc nước tôi, thời nước tôi xin đời đời thần phục thượng quốc.

Phù Sai nghe xong liền rút quân về, quân nước Lỗ cũng kéo về nước.

Bấy giờ Vua Việt Trung Nguyên là Câu Tiễn cho người luyện tập mỹ nữ học múa hát trong ba năm đã được điêu luyện, liền cho đeo ngọc trai, ngồi xe ngọc, hương thơm ngào ngạt, có một số thị nữ rất đẹp theo hầu, rồi sai quan tướng quốc là Phạm Lãi đem sang nước Ngô tiến Phù Sai. Khi Phù Sai ở nước Tề về trong niềm vui chiến thắng.

Ngũ Viên nói:

Đại Vương chớ vội mừng.

Phù Sai nổi giận nói:

Nhà ngươi ỷ mình có công lớn coi thường Bổn Vương lúc nào cũng xàm tấu những lời bất trung, ngươi tưởng rằng Bổn Vương không làm gì được nhà ngươi sao?

Ngũ Viên trở về dinh có ý tự sát. Phù Sai nghe tin đến ngăn lại. Qua ngày hôm sau Phù Sai đang chểnh chệ trên chiếc ngai vàng nghe triều thần chuẩn tấu. Cũng vào thời điểm ấy Phạm Lãi xin vào yết kiến Phù Sai. Phù Sai cho vào.

Phạm Lãi quỳ lạy mà tâu rằng:

Kẻ bề tôi hèn ở bên đông hải là Câu Tiễn, cảm ơn Đại Vương, không thể cùng thê thiếp ở bên cạnh Đại Vương hầu hạ được, nên bề tôi kẻ hèn cố công tìm khắp trong nước được hai người khéo nghề múa hát, sai chúng tôi đem nạp Vương Cung, để giữ việc quét rửa.

Phạm Lãi tâu xong liền cho người đưa kiệu vào từ ngoài sân rồng một chiếc kiệu ngọc cùng các mỹ nữ đẹp xinh đẹp vô cùng đi hai bên kiệu ngọc từ từ đi vào hương thơm ngào ngạt triều thần mê mẩn. Phù Sai vừa trông thấy chiếc ngọc với đàng mỹ nữ thời đã mê rồi. Tiếng sáo du dương nổi lên tức thời trên chiếc kiệu ngọc hai tuyệt sắc mỹ nhân bước xuống cả triều thần như sáng rực lên.

Phù Sai vừa trông thấy Tây Thi và Trịnh Đán thời hồn xiêu phách lạc, cho là Thần Tiên mới giáng hạ. Cả triều thần im phăng phắc quả tim như muốn nhảy ra ngoài. Phù Sai mê mẩn không còn biết gì nữa.

Ngũ Viên thấy thế can rằng:

Bẩm Đại Vương. Tôi nghe nói Nhà Hạ mất vì nàng Muội Hỉ. Nhà Ân mất vì nàng Đắc Kỷ. Nhà Chu khốn đốn vì nàng Bao Tự. Mĩ Nữ là một vật có hại cho quân Vương làm cho mất nước Chúa Công Đại Vương chớ nên nhận.

Phù Sai lúc nầy đã mê mẩn nghe Ngũ Viên Can nổi giận nói:

Người ta ai chẳng có lòng hiếu sắc. Câu Tiễn tìm được mỹ nữ mà chịu đêm dâng tiến ta, điều đó chứng tỏ Câu Tiễn một lòng trung thành với ta, quan tướng quốc chớ nghi.

Rồi không còn nghe Ngũ Viên khuyên can. Phù Sai nhận lễ cống của Nước Việt Trung Nguyên. Nhìn hai người mỹ nữ tuyệt sắc hương thơm ngào ngạt Phù Sai yêu cả hai. Nhưng đẹp lộng lẫy và khéo ăn nói cũng như làm dáng nũng nịu thời Tây Thi có phần hơn. Bởi vậy Tây Thi được ở Đài Cô Tô. Còn Trịnh Đán thời ở Ngô Cung.

Phù Sai đến với Trịnh Đán thấy Trịnh Đán xinh đẹp quá Phù Sai ngây ngất cả tâm hồn quên hết cả cung phi mỹ nữ ở với Trịnh Đán được vài hôn rồi sang Cô Tô. Phù Sai vừa nhìn thấy Tây Thi thời hồn xiêu phách lạc mê mẩn say sưa. Phải nói Tây Thi không những đẹp như tiên giáng trần mà đàn ca múa hát thanh thót du dương mỗi nét rung động trên người Tây Thi như cơn bão cuốn hút tâm hồn Phù Sai bay tận mây xanh.

Nụ cười vừa nở trên môi

Tưởng chừng trời đất rực ngời đầy hoa

Thân hình cá lặn chim sa

Lưng ong, ngực nở nhô cao, mông đầy

Mảnh mai yểu điệu liễu hờn

Hoa nhường nguyệt thẹn lu mờ trăng sao

Tóc nàng như vạn tầng mây

Hồ thu trong suốt đẹp thay mắt nàng

Da nàng trắng ngọc sáng ngần

Tuyết không sánh nổi phải nhường màu da

Phù Sai mê mẩn, mẩn mê

Quên luôn tổ quốc, quên đi triều thần.

Tây Thi đẹp đến nổi, đi cũng đẹp, ngồi cũng đẹp, nằm cũng đẹp, khóc cũng đẹp, đau bụng cũng đẹp. Tây Thi khéo ăn nói, khéo nũng nịu suốt ngày làm cho Phù Sai mê mẩn quên tổ quốc, quên triều thần, quên luôn nàng Trịnh Đán xinh đẹp. Tây Thi đến đâu thời nghi vệ chẳng khác gì Phi Hậu.

Trịnh Đán ở Ngô Cung không thấy Phù Sai đến với mình vô cùng ghen tức với Tây Thi, uất khí không nói ra được, hơn một năm thời qua đời.

Phù Sai thương lắm, đem chôn ở núi Hoàng Mao và cho lập đền thờ cúng tế. Nói về Phù Sai yêu Tây Thi sai Vương Tôn Hùng lập ra cung Quán Khê ở núi Linh Nham, trang sức toàn bằng châu ngọc để làm chỗ cho Tây Thi ra chơi. Ở đấy có lập ra Hưởng Điệp Lang, trên núi có hồ Ngoạn Hoa, ao Ngoạn Nguyệt. Lại có giếng nước trong gọi là giếng Ngô Vương, Tây Thi thường đứng ở trên mà soi mặt. Phù Sai đứng ở bên cạnh lấy tay vuốt tóc cho Tây Thi. Lại có động gọi là động Tây Thi. Phù Sai cùng Tây Thi cùng ngồi ở đấy. Trên núi lại có Cầm Đài. Phù Sai Tây Thi thường gảy đàn ở đấy. Phù Sai lại sai người trồng hoa ở Hương Sơn, để Tây Thi và cung nữ chở thuyền đi hái hoa, lại có Thái Liên hình ở phía đông nam thành Đô, đó là chỗ Tây Thi cùng Phù Sai đi hái sen. Phù Sai lại bắt đào một con sông nhỏ ở trong thành, từ Nam sang Bắc, rồi làm cái bườm gấm để chơi thuyền, gọi là Cẩm Phàm Hình. Phía Nam Đô Thành có Tường Châu Uyển, để làm nơi săn bắn. Lại có Ngư Thành để làm nơi nuôi cá. Áp Thành để nuôi vịt, Kê Bi để nuôi gà, Tửu Thành để nấu rượu. Lại thường cùng Tây Thi nghỉ mát tại Nam Loan, hồ Hạ Loan ba mặt đều là núi chỉ có một mặt Nam hướng về quê Tây Thi. Phù Sai đặt tên lại là Động Đình. Mỗi lần Tây Thi nhớ quê thời đến đây cùng Phù Sai. Vì quê Tây Thi ở Việt Trung Nguyên gần Tây Hồ Động Đình. Phù Sai từ khi có được Tây Thi, cứ ở luôn bên Tây Thi thường ở Cô Tô, bốn mùa vui chơi rượu chè đàn địch, chẳng cần thiết đến việc gì cả. Chỉ có quan Thái Tế là Bá Hi và Vương Tôn Hùng thường hay hầu bên cạnh. Mỗi khi Ngũ Viên xin yết kiến, Phù sai từ chối không cho vào.

* * *
 
127 ❤︎ Bài viết: 653 Tìm chủ đề
PHẦN 31

Nói về Việt Vương Câu Tiễn nghe tin Phù Sai say mê Tây Thi xây chỗ chơi hết cái nầy tới cái kia, chiến tranh xâm lược hết hết nước nầy đến nước khác, làm cho dân chúng Ngô than oán quân binh mỏi mệt, lại bày mưu tính kế với Văn Chủng.

Câu Tiễn nói:

Lời Tiên Vương có ghi chép. Quốc Tổ Hùng Vương dựng nước Bách Việt Văn Lang lấy Đạo làm kim chỉ nam đoàn kết dân chúng, vua, tôi. Nhà Nước Văn Lang lấy dân làm gốc. Dân chúng lấy ăn làm đầu. Nay nước Việt Trung Nguyên ta thất mùa, có cái cớ xin vua Ngô cho vay thóc mà chu cấp cho dân. Nếu trời giúp ta thời xui khiến vua Ngô cho ta vay thóc một mũi tên bắn trúng hai mục đích. Một là làm cho nước Ngô suy yếu lương thực, hai là làm cho chúng ta được lòng dân chúng. Hể có dân ủng hộ thời việc gì cũng làm nên sức mạnh nào cũng đánh bại.

Câu Tiễn sai Văn Chủng đem nhiều lễ vật đút cho Bá Hi, để Bá Hi giúp đở yết kiến với Phù Sai. Phù Sai cho Văn Chủng vào yết kiến ở Cô Tô đài.

Văn Chủng sụp lạy mà tâu rằng:

Nước Việt Trung Nguyên tôi năm nay mất mùa thê thảm, trăm họ khốn khổ. Xin Đại Vương cho vay một vạn thạch thóc ở kho Thái Sương, để cứu cho dân khỏi đói, sang năm lúa chín lại đem trả nộp.

Phù Sai nói:

Vua Việt thuần phục nước Ngô ta, dân Việt đói khát, như dân Ngô đói khát, ta có tiếc gì thóc kho mà không đem ra để cứu dân Việt.

Ngũ Viên nghe tin sứ nước việt đến Cô Tô đài cũng theo đến vào yết kiến Phù Sai. Thấy Phù Sai cho nước Việt vay thóc Ngũ Viên lại can rằng:

Không nên. Sự thế ngày nay Ngô thôn tính Việt, tức Việt diệt Ngô. Tôi xem ý vua Việt sai sứ đến vay thóc, không phải thực là vì dân đói mà vay. Chính là định làm cho nước Ngô ta hết thóc đó. Ta có cho vay cũng chẳng thêm tình nhân ái, mà không cho vay cũng chưa đến nỗi oán thù, chi bằng Đại Vương từ chối đi là hơn.

Phù Sai nói:

Câu Tiễn bị giam ở nước ta, phải đi giật lùi mà dắt ngựa cho ta, dân chúng nước Ngô cũng như chư hầu ai cũng biết cả. Nay được ta tha cho về, Câu Tiễn cảm ơn không giết mới còn được mạng sống mà về nước. Nên vẫn một lòng trung thành tháng nào cũng cống hiến cho nước Ngô ta. Khi nào lại còn dám làm phản nghịch mà lo.

Ngũ Viên nói:

Tôi nghe nói vua Việt ngày đêm chăm chỉ, luyện tập quân binh để định báo thù nước Ngô. Nay Đại Vương đem thóc cho vay khác gì hổ báo mọc thêm cánh, tôi e rằng họa sắp đến nơi rồi.

Phù Sai nói:

Câu Tiễn nguyện xin làm bề tôi ta, lại còn thế thốt nếu ăn ở hai lòng phản lại Ngô thời trời tru đất diệt có lẽ nào phản lại lời hứa, làm bề tôi mà dám đánh vua hay sao?

Ngũ Viên nói:

Vua Thang đánh vua Kiệt, vua Vũ đánh vua Trụ, không phải là bề tôi đánh vua là gì?

Bá Hi đứng bên cạnh quát lên rằng:

Quan tướng quốc nói quá, sao lại ví Đại Vương như vua Kiệt, vua Trụ được.

Bá Hi lại tâu với Phù Sai rằng:

Ngày xưa Tề Hoàn Công hội chư hầu ở quỳ khâu, có ước với các nước phải cho nhau vay thóc, là để giữ lấy nghĩa giao lân. Huống chi Việt là một nước luôn cống hiến hàng tháng xưa nay cho Ngô ta. Sang năm lúa chín thời Việt lại đem đủ số thóc sang nộp. Thế thì chẳng thiệt gì cho Ngô, mà lại được ơn với Việt, việc gì mà Đại Vương không thấu hiểu mà quan tướng quốc lại nói quá như thế.

Phù Sai bèn truyền cho nước Việt vay một vạn thạch thóc, sang năm được mùa, phải đêm nộp trả đủ chớ có thất tín.

Văn Chủng sụp lạy mà tâu rằng:

Đại Vương thương nước Việt mà cho vay nước Việt mang ơn không hết, khi nào dám thất tín nhất là lúc nào cũng nhớ đến lòng tôi trung của mình.

Văn Chủng lĩnh một vạn thạch thóc đem về nước Việt. Câu Tiễn mừng lắm. Triều thần hô vạn tuế. Câu Tiễn liền đem cấp phát cho dân nghèo trong nước. Dân chúng Bắc Việt Trung Nguyên ca tụng công đức Câu Tiễn không hết lời. Năm sau nước Việt được mùa to.

Câu Tiễn lại hỏi Văn Chủng rằng:

Ta không trả thóc cho Ngô thời thất tín, nếu trả thời hại Việt mà lợi cho Ngô, biết làm sao?

Văn Chủng nói:

Trả thời ta phải trả, nhưng chúng ta hết sức bí mật nên chọn những hạt thóc tốt luộc đi rồi đem trả, kẻ kia thấy thóc tốt tức nhiên gieo trồng ấy là trúng kế của ta đó. Nước Ngô dân chúng không những bị đói to mà ngân khố kho thóc Ngô cũng thâm hụt vô kể.

Câu Tiễn theo kế ấy đem thóc chín trả cho Ngô không thiếu một đấu nào Phù Sai khen rằng:

Câu Tiễn thật là người biết giữ chữ tín.

Phù Sai lại trông thấy hạt thóc to lớn lạ thường, bèn bảo Bá Hi rằng:

Nước Việt Trung Nguyên nổi tiếng đất tốt xưa nay nhìn hạt thóc cũng đủ biết là đất tốt như thế nào. Thảo nào các đời Tiên Đế luôn muốn chiếm lấy đất Việt Trung Nguyên. Ta nên lấy giống tốt nầy phân phát cho dân để lấy giống.

Năm ấy khắp nước Ngô đều gieo thóc nước Việt. Nhưng gieo xuống chờ đợi mãi không thấy mọc lên cây nào cả hạt thóc đã trở nên thâm đen hủy mục dân Ngô đói to. Phù Sai cho là thổ nghi không giống nhau mới có chuyện kỳ lạ như vậy, ngoài ra không một ai biết vì nguyên do nào. Câu Tiễn nghe nói Ngô bị đói toan đem quân đánh Ngô.

Văn Chủng can rằng:

Chưa đánh vội vì nước Ngô còn nhiều kẻ trung thần nhất là Ngũ Viên là trụ cột vững mạnh của nước Ngô. Sở dĩ nước Ngô trở nên hùng mạnh làm cho các nước khiếp sợ là nhờ có hai nhân vật kỳ tài. Một là Ngũ Viên, hai là Tôn Vũ. Tôn Vũ đã bỏ Ngô đi từ lâu rồi. Chỉ còn Ngũ Viên nhưng hiện nay vua Ngô với Ngũ Viên không hợp lòng nhau, có lần Ngũ Viên muốn tự tử chỉ còn chờ Ngũ Viên bị hại là thời cơ đã đến.

Câu Tiễn hỏi Phạm Lãi:

Chừng nào thời cơ đến?

Phạm Lãi nói:

Cũng chẳng bao lâu nữa đâu, xin Đại Vương gấp rút ngày đêm luyện tập quân binh chuẩn bị cho cuộc đánh Ngô.

Câu Tiễn nói:

Quân binh nước ta còn phải luyện tập nữa sao?

Phạm Lãi nói:

Việc chiến tranh cần phải có quân binh tinh nhuệ, ngoài binh pháp trận pháp ra, quân binh tinh nhuệ cần phải có tài kiếm, kích, đao, thương, gươm, giáo, cung tên phải thật lão luyện. Mà các tài ấy nếu không được minh sư dạy bảo thời không sao tài giỏi được. Thần biết có người Xử Nữ ở Nam Lâm giỏi nghề kiếm, kích, đao, thương lắm. Lại có người nước Sở tên gọi là Trần Am Nguyên, giỏi nghề cung nỏ. Xin Đại Vương cho người đón về mà truyền dạy cho quân binh.

Câu Tiễn liền sai sứ đem lễ vật đi mời Xử Nữ và Trần Anh người Xử Nữ ấy không biết tên họ là gì, nguyên vẫn ở trong rừng, chẳng học ai mà giỏi nghề kiếm, kích, đao, thương. Sứ giả phụng mệnh đến Nam Lâm mời Xử Nữ. Xử Nữ bằng lòng đi ngay.

Nửa đường gặp một ông cụ đầu bạc đứng trước xe mà hỏi rằng:

Nàng có phải là Xử Nữ ở Nam Lâm đó không? Kiếm thuật của nàng thế nào mà nàng dám nhận lời của Vua Việt. Âu là ta hãy thử nhau một phen.

Xử Nữ nói:

Xin tùy ý ông.

Ông lão liền bẻ bụi trúc ở trong rừng như bứt nắm cỏ khô liền đâm Xử Nữ như tia chớp. Ngọn trúc vừa lao tới Xử Nữ còn nhanh hơn nữa bắt luôn ngọn kích rồi đâm lại ông lão. Bỗng thấy ông lão nhảy lên trên cây hóa làm con vượn trắng kêu hú lên rồi phi thân đi mất. Sứ giả lấy làm lạ và thuật lại cho Việt Vương Câu Tiễn nghe. Xử Nữ vào yết kiến Câu Tiễn. Câu Tiễn mời ngồi rồi hỏi nghề kiếm, kích, đao, thương Xử Nữ.

Xứ Nữ nói:

Nghề kiếm, kích, đao, thương trong phải định tâm giữ vững tinh thần. Ngoài phải làm ra vẻ tầm thường trông như mềm yếu như đàn bà vậy, nhưng thật ra dữ như con hổ nhanh như con thỏ, khiến người ta không kịp trở tay chớp mắt hạ gục đối thủ. Ai theo được cái đạo ấy thời là một người địch nổi trăm người. Nếu Đại Vương không tin cho quân binh thử xem.

Câu tiễn sai một trăm dũng tấn công đâm Xử Nữ. Xử Nữ chỉ cần quơ tay lạng lách vài cái các ngọn kích bị Xử Nữ cướp sạch ném xuống đất. Câu Tiễn Vô cùng kinh ngạc khâm phục cho là tài giỏi, mới giao cho luyện tập binh sĩ. Xử Nữ lựa khắp quân binh, chỉ được có ba nghìn quân theo học với Xử Nữ. Dạy hơn một năm Xử Nữ cáo từ trở về Nam Lâm. Lần sau Câu Tiễn đến mời thời không thấy Xử Nữ đâu cả.

Lại nói về Trần Am Nguyên là người nước Sở, vì tội giết người, phải trốn sang nước Việt. Phạm Lãi thấy là người bắn giỏi trăm phát chẳng sai phát nào, liền nói Câu Tiễn đón làm xạ Sư.

Câu Tiễn hỏi Trần Am Nguyên rằng:

Chẳng hay cung nỏ từ đâu mà sinh ra?

Trần Am Nguyên trả lời rằng:

Nỏ sinh ra bởi cung, cung sinh ra bởi ná, ná sinh ra bởi một người Hiếu Tử thời xa xưa. Nguyên thời xưa nhân loại thời còn sơ khai thời ăn lông ở lỗ, đói thời ăn thịt giống vật. Khác thời tìm uống nước mưa, người chết thời lấy cỏ bọc lại, đêm ném ra ngoài gò cho chim thú ăn. Sau có một người Hiếu Tử không nở để cho chim thú ăn thịt Cha Mẹ mình mới phát minh cái ná để giữ. Ở vào thời ấy chỉ có hai Phương Nam Bắc. Nam xuất hiện Viêm Đế Thần Nông. Bắc xuất hiện Viên Hiên, Phục Hi. Từ Ná nghiên cứu ra Cung, từ Cung nghiên cứu ra Nỏ để dẹp loạn bốn phương.

Câu Tiễn nghe Trần Am Nguyên nói cung, nỏ xuất xứ làu thông như thế liền giao cho Trần Âm Nguyên luyện tập ba nghìn quân binh truyền dạy nghề bắn nỏ, bắn cung đội quân xạ thủ thiện nghệ.

Trần Am Nguyên dạy phép "liên nỏ, liên cung" bắn luôn ba mũi tên không ai tránh kịp, trong ba tháng thời quân sĩ học được hết phép bắn cung, bắn nỏ. Trần Am Nguyên dạy xong phép xạ tiễn lâm bệnh mà chết. Câu Tiễn làm lễ hậu tán ở núi, mới đặc cái tên núi ấy là núi Trần Am Sơn.

Ngũ Viên cho người dò biết Câu Tiễn ngày đêm luyện tập quân binh không ngừng nghĩ liền vào yết kiến Phù Sai khóc mà tâu rằng:

Đại Vương cứ tin nước Việt một lòng thần phục nước Ngô. Nay nước Việt dùng Phạm Lãi, ngày đêm luyện tập quân binh, các nghề kiếm, nỏ, đao, thương, giáo, cung đều tài giỏi cả. Một mai nhân chuyện gì mà sang đánh nước ta thời nước ta nguy lắm. Nếu Đại Vương không tin sao không cho người dọ thám xét xem.

Phù Sai liền cho người sang dọ thám nước Việt, người ấy biết hết những việc Xử Nữ và Trần Am, về báo với Phù Sai.

Phù Sai bảo Bá Hi rằng:

Việt đã thần phục ta rồi, sao còn luyện tập quân binh làm gì nữa?

Bá Hi nói:

Nước Việt đội ơn Đại Vương trả hết đất lại cho Việt Trung Nguyên, nếu không có quân sĩ thời lấy gì mà giữ là việc thường can chi mà Đại Vương lo ngại.

Phù Sai luôn trong lòng thấy lo muốn khởi binh đánh Việt.

* * *

PHẦN 32

Đây nói về nước Lỗ sắp bị nước Tề thôn tính Khổng Tử liền sai Tử Cống đi gấp sang Ngô vào tâu với vua Ngô Phù Sai rằng:

Khi trước Ngô hợp quân Lỗ đánh Tề. Nước Tề tuy thua nhưng vẫn căm thù lắm. Nay quân Tề tiến quân đã đóng ở Vân Thủy sắp sang đánh Lỗ, rồi cũng sẽ đánh Ngô sao Đại Vương không đánh Tề để cứu Lỗ. Đại Vương mà phá tan Quân Tề thu phục được nước Lỗ thời uy danh lừng lẫy hơn cả Tấn, chắc là nước Ngô nên nghiệp Bá.

Phù Sai nói:

Khi nước Tề đã tình nguyện xin thần phục nước Ngô. Vì thế Ta mới rút quân về. Nhưng từ đó đến nay chẳng thấy triều cống gì cả, ta vẫn định đêm quân hỏi tội. Nhưng nghe nói vua Việt ra sức luyện tập quân sĩ có ý rình ta, nên ta muốn đánh Việt trước, rồi sau sẽ đánh Tề, cũng chưa lấy gì làm muộn.

Tử Cống nói:

Không nên. Việt yếu mà Tề mạnh. Cái lợi đánh Việt nhỏ mà cái hại thả Tề thời to. Vả chăng sợ nước Việt yếu mà tránh đánh Tề mạnh. Thời sao gọi là trí và dũng đều mất cả hai thời tranh thế nào được nghiệp Bá. Nếu Đại Vương có ngại nước Việt thời tôi xin sang báo vua Việt đem quân theo hầu Đại Vương đi đánh Tề Đại Vương nghĩ thế nào?

Phù Sai bằng lòng mà nói rằng:

Nếu như thế thời chính hợp ý ta.

Tử Cống cáo từ Phù Sai rồi sang yết kiến vua Việt là Câu Tiễn. Câu Tiễn nghe nói Tử Cống sắp đến thời lấy làm kinh ngạc âu đây cũng là dịp mau cho mình vì Tử Cống là học trò giỏi của Khổng Tử, liền thân hành ra đón ngoài ba mươi dặm, mời vào công quán, tiếp đãi rất hậu.

Khúm núm hỏi rằng:

Nước tôi hẻo lánh về xứ đông hải, tiên sinh không ngại đường xa mà đến đây chẳng hay có điều chi dạy bảo?

Tử Cống nói:

Tôi đến đây để viếng Đại Vương.

Câu Tiễn nghe Tử Cống nói thế liền sụp lạy mà nói rằng:

Tôi nghe nói Họa với Phúc là láng giềng với nhau. Tiên sinh đến đây viếng tôi là phúc báo cho tôi đó, xin tiên sinh dạy bảo cho biết.

Tử Cống nói:

Mới rồi tôi vào yết kiến vua Ngô, bảo vua Ngô đánh Tề cứu Lỗ. Vua Ngô nghi nước Việt có âm mưu phản, vậy nên muốn đánh Việt trước. Nếu Đại Vương không có chí báo thù mà khiến cho người ta nghi thời vụng lắm. Nếu có chí báo thù mà khiến cho người ta biết thời thật là nguy lắm.

Câu Tiễn ngạc nhiên quì xuống mà nói rằng:

Xin tiên sinh nghĩ cách mưu cứu cho.

Tử Cống nói:

Vua Ngô kiêu ngạo mà ưa nịnh. Bá Hi chuyên quyền mà khéo gièm. Nay Đại Vương dùng đồ lễ hậu và lời nói ngọt, rồi xin đem một toán quân theo Ngô đánh Tề, kẻ kia đánh mà thua thời từ đó suy yếu đi. Nếu đánh mà được tất sinh lòng kiêu ngạo, muốn làm bá chủ chư hầu, chắc phải đem quân đánh Tấn. Như thế thời nước Việt mới có dịp mà thừa thế sang đánh Ngô phần thắng ắt nắm chắc trong lòng tay.

Câu Tiễn nghe xong quỳ lạy hai lạy mà nói rằng:

Tiên Sinh đến đây, thật là trời giúp cho tôi, khác nào như tôi đã chết mà lại được sống lại. Tôi xin vâng lời tiên sinh.

Câu Tiễn bằng đem trăm nén hoàng kim, một thanh bảo kiếm và đôi ngựa tốt đưa tặng Tử Cống. Tử Cống khéo từ chối, trở về báo với vua Ngô rằng:

Vua Việt cảm ơn Đại Vương sinh toàn cho, nghe nói Đại Vương có bụng nghi, lấy làm sợ hãi lắm, nay mai sắp sai sứ đến tạ.

Phù Sai mời Tử Cống ra công quán, ở lại trong năm ngày. Quả nhiên nước Việt sai Văn Chủng đến nước Ngô, tâu với Phù Sai rằng:

Kẻ bề tôi hèn Việt Trung Nguyên đông hải là Câu Tiễn đội ơn Đại Vương không giết, cho được sống để giữ việc cúng tế, dẫu chết cũng chưa đủ đền ơn. Nay nghe nói Đại Vương vì nghĩa lớn mà đánh kẻ mạnh, cứu kẻ yếu. Vậy có sai tôi là Văn Chủng đem hai mươi chiếc tinh giáp, một cái mâu khuất lư, và một thanh kiếm. Bộ quang của Tiên Vương để lại sang dâng Đại Vương. Khi nào Đại Vương cất quân thời Câu Tiễn xin đem ba nghìn quân dốc lòng dốc sức vì Đại Vương xông pha trong chốn gươm, đao, tên, giáo, dẫu chết cũng vui lòng.

Phù Sai nghe xong lấy làm vừa lòng mới triệu Tử Cống vào mà bảo rằng:

Câu Tiễn thật là người tín nghĩa. Hắn định đem ba nghìn quân theo ta đánh Tề, tiên sinh nghĩ thế nào?

Tử Cống nói:

Không nên. Ta đã dùng quân Việt mà lại cho vua Việt đi theo thời cũng quá lắm. Đại Vương nên nhận cho quân Việt theo từ chối không cho Vua Việt đi.

Phù Sai nghe lời. Tử Cống cáo từ nước Ngô lại đi sang nước Tấn, vào nói với Tấn Định Công rằng:

Tôi nghe nói. Hễ không lo xa thời tất có hại gần. Nay Ngô sắp sửa đánh Tề. Ngô mà đánh được Tề, tất cùng Tấn tranh hùng với nhau làm Bá Chủ, nhà vua nên luyện tập quân sĩ để mà đợi sẵn.

Tấn Định Công nói:

Xin vâng lời dạy.

Khi Tử Cống trở về nước Lỗ thời quân Tề đã bị quân Ngô đánh thua rồi.

Lúc bấy giờ Phương Nam là năm thứ 30 đời Hùng Ánh Vương, Chân Nhân Lang. Phương Bắc là năm thứ 36 đời Chu Kinh Vương. Vua Việt Vương Câu Tiễn sai quan đại phu là Chư Kế Dĩnh đem ba nghìn quân giúp Ngô đánh Tề. Vua Ngô là Phù Sai thống 20 vạn quân đi đánh Tề. Cho người lập biệt quán ở đất Câu Khúc xung quanh trồng Ngô Đồng, mùa thu gọi là Ngô Cung cho Tây Thi ra nghỉ mát ở đấy đợi khi thắng Tề, thời Phù Sai cũng về nghĩ ở đấy cho qua mùa hạ.

Khi quân Ngô sắp khởi hành, Ngũ Viên lại can rằng:

Nước Việt chính là cái mối lo cho nước Ngô ta, còn nước Tề chẳng qua chỉ là bệnh ghẻ lở bên ngoài da mà thôi. Nay Đại Vương đem 20 vạn quân đi nghìn dặm đường, để chữa cái bệnh ghẻ lở, mà quên cái bệnh trong ruột vua Việt sắp thôn tính nước ta, tôi e rằng chưa thắng được Tề, mà đã phải mất nước Ngô.

Quan Thái Tuế là Bá Hi bằng trách Ngũ Viên, cãi nhau với Ngũ Viên về vấn đề Việt. Nhân đấy Bá Hi gièm pha Ngũ Viên nói:

Ngũ Viên bên ngoài có vẻ trung, nhưng thâm tâm là con người tàn nhẫn. Con người đã chẳng đoái thương gì đến Cha và Anh thì còn thương tiếc gì đến vua? Trước đây nhà Vua muốn đánh nước Tề, Ngũ Viên ra sức can ngăn, kết quả là đánh thành công. Do đó sinh ra oán hận. Nếu nhà Vua không đề phòng thời Ngũ Viên sẽ làm loạn.

Bá Hi mưu với Phùng Đồ ra sức gièm pha Ngũ Viên lúc đầu vua Ngô không nghe, nhưng sau đó vua Ngô thấy Ngũ Viên như cái gai trong mắt muốn nhổ đi.

Nói về vua Ngô chuẩn bị xuất quân đánh Tề. Thời Ngũ Viên lại khuyên can nữa:

Đại Vương nhất định nuôi kẻ thù trong bụng mà đánh kẻ thù ngoài da sao thế thời nước Ngô nguy mất.

Phù Sai nổi giận mà nói rằng:

Ta định ngày xuất quân mà lão tặc dám đem lời quái gở trù mạt nước Ngô cũng như ngăn trở quân ta, nghĩ có đáng tội không?

Lúc bấy giờ Phù Sai đã có ý giết Ngũ Viên. Bá Hi mật tâu với Phù Sai rằng:

Ngũ Viên là bậc lão thần đời trước, ta không nên giết, chi bằng Đại Vương sang ước chiến với Tề, để cho người Tề giết đi, không phải là tốt đẹp hay sao?

Phù Sai nói:

Quan Thái Tể nói phải lắm.

Phù Sai liền viết một bức thư kể tội nước Tề đánh Lỗ là khinh Ngô, sai Ngũ Viên đưa sang vua Tề. Mượn tay vua Tề giết Ngũ Viên. Ngũ Viên biết Phù Sai muốn giết mình cũng như biết nước Ngô sắp mất về tay nước Việt. Bằng đem người con là Ngũ Phong cùng đi. Khi đến Lâm Tri Ngũ Viên đem bức thư của Phù Sai dâng lên Tề Giản Công. Tề Giản Công nổi giận, toan chém Ngũ Viên.

Bảo Tức can rằng:

Ngũ Viên là Trung Thần nước Ngô, đã nhiều lần can ngăn vua Ngô không nên tin nước Việt. Vua ngô không những không nghe mà còn muốn loại bỏ Ngũ Viên. Mục đích vua Ngô sai Ngũ Viên sang đây là mượn dao giết người. Muốn mượn tay Ta giết Ngũ Viên để khỏi mang tiếng là giết Trung Thần. Chi bằng ta tha cho về, khiến cho bọn trung, bọn nịnh công kích lẫn nhau, tàn sát lẫn nhau mà Phù Sai phải chịu tiếng ác.

Tề Giản Công tiếp đãi Ngũ Viên tử tế, rồi hẹn đến cuối mùa xuân thời khai chiến. Nguyên Ngũ Viên cùng với Bảo Mục quen nhau, cho nên Bảo Tức can Tề Giản Công không giết Ngũ Viên.

Bảo Tức hỏi riêng Ngũ Viên về việc nước Ngô. Ngũ Viên ứa nước mắt mà không nói gì cả, chỉ cho con là Ngũ Phong nhận làm em Bảo Tức, rồi gửi ở đấy cải tên đổi họ thành Vương Tôn Phong không dùng họ Ngũ nữa.

Bảo Tức thở dài mà nói rằng:

Ngũ Viên định về cố can mà chịu chết, cho nên mới để con ở lại nước Tề đây.

Lại nói về vua Ngô là Phù Sai hẹn ngày xuất quân, cùng quân Việt. Đi qua Cô Tô đài ăn cơm trưa ở đấy. Ăn cơm xong thời chợp mắt ngủ đi chiêm bao thấy vào Chương Minh cung. Khi vào đến nơi, thấy hai cái nồi đun chưa chín. Lại có hai con chó đen, một con sủa về phía Nam, một con sủa về phía Bắc. Lại có hai cái cuốc bằng gang, cắm trên tường. Lại thấy nước chảy cuồn cuộn vào chốn điện đường. Còn về hậu phòng thời nghe tiếng ầm ầm chẳng ra chuông, chẳng ra trống. Trông ra phía vườn trước, chẳng thấy cây gì khác cả, chỉ toàn là giống Ngô Đồng, khi giật mình tỉnh dậy.

Phù Sai trong lòng hốt hoảng mới gọi Bá Hi vào kể lại tất cả nói rằng:

Quan Thái Tuế thử đoán hộ ta tốt xấu thế nào?

Bá Hi sụp lạy mà chúc mừng rằng:

Tốt thay. Giấc mộng của Đại Vương ứng vào việc đánh Tề nầy. Hai chữ Chương Minh. Nghĩa là phá giặc thành công tiếng tăm lừng lẫy. Hai cái nồi đun mà chưa chín, nghĩa là khí thế Đại Vương đang hưng thịnh. Hai con chó đen, một con sủa phía Nam. Một con sủa phái Bắc có nghĩa là Phía Nam – Phía Bắc các nước phải thần phục nước ta. Hai cái cuốc cắm ở trên tường nghĩa là dân thợ, dân cày chăm làm ruộng. Nước chảy cuồn cuộn và chốn điện đường nghĩa là các nước Nam Bắc đem đồ triều cống nhiều. Nơi hậu phòng nghe tiếng ầm ầm chẳng ra chuông chẳng ra trống nghĩa là cung nữ vui vẻ. Trông ra phía vườn trước toàn là một giống Ngô Đồng nghĩa là đem thứ gỗ cây Ngô Đồng ấy làm đàn cầm, đàn sắt thời tiếng kêu rất êm ái. Mộng của Đại Vương tốt không biết dường nào mà kể.

Phù Sai dẫu ưa lời nịnh nhưng nghe nhiều chỗ không hợp lý, bằng hỏi Vương Tôn Lạc.

Vương Tôn Lạc nói:

Tôi dốt không biết đoán mộng, nhưng ở núi Dương Sơn về phía Tây thành có một người dị sĩ, tên gọi Công Tôn Thánh. Người ấy học rộng lắm nếu Đại Vương còn hồ nghi, sao không triệu đến mà bảo đoán xem.

Phù Sai nói:

Nhà ngươi triệu đến đây cho ta.

Vương Tôn Lạc liền đi triệu Công Tôn Thánh. Công Tôn Thánh hỏi cớ, nghe Vương Tôn Lạc nói rõ lý do là quan Thái Tể Bá Hi đã đón mộng rồi nhưng vua Ngô chưa tin nên triệu mình đến giải rõ cơn mộng có trùng hợp lời nói Bá Hi không. Công Tôn Thánh phục xuống đất mà khóc.

Người vợ đứng cạnh thấy vậy cười bảo:

Phu Quân dở hơi quá. Được vua triệu đáng lý ra phải mừng sao lại khóc như mưa?

Công Tôn Thánh thở dài mà nói rằng:

Thương thay việc nầy nàng không biết được đâu, ta đã tính số ta đến ngày nay là hết. Bây giờ ta phải vĩnh biệt với nàng cho nên ta thương khóc đó.

Vương Tôn Lạc giục Công Tôn Thánh lên xe, cùng đến Cô Tô đài. Phù Sai triệu Công Tôn Thánh vào, rồi nói chuyện chiêm bao biểu đoán mộng cho nghe.

Công Tôn Thánh nói:

Tôi biết nói thời tất chết, nhưng dẫu chết cũng phải nói giấc mộng của Đại Vương. Ứng vào đánh Tề lần nầy. Chữ "Chương" có nghĩa là thua chạy vất vả. Chữ "Minh" nghĩa là về nơi Âm Ti. Hai cái nồi đun mà chưa chín nghĩa là Đại Vương thua chạy "không kịp nấu ăn". Hai con chó đen, một con sủa về Nam, một con sủa về Bắc nghĩa là phải chạy về Âm Phương "vì âm thuộc về sắc đen". Hai chiếc cuốc bằng gang cắm trên tường nghĩa là quân Việt Trung Nguyên vào cày cuốc nền xã tắc nước Ngô. Nước chảy cuồn cuộn vào chốn điện đường nghĩa là chốn điện đường bỏ không, nước trôi sóng vỗ. Nơi hậu cung nghe tiếng ầm ầm chẳng ra chuông chẳng ra trống nghĩa là cung phi mỹ nữ bị bắt, thở vắn than dài. Trông ra phía sau vườn toàn là một giống Ngô nghĩa là đem gỗ cây Ngô Đồng làm đồ tống táng. Xin Đại Vương bãi đánh Tề đi và sai Quan Thái Tể là Bá Hi sang tạ tội với Câu Tiễn thời nước mới yên mà thân mới toàn được.

Bá Hi đứng ở cạnh tâu với Phù Sai rằng:

Đứa thất phu ở nơi thảo dã, lại dám ăn nói càn rỡ, chẳng giết còn để làm gì.

Công Tôn Thánh trừng mắt mà mắng Bá Hi rằng:

Quan Thái Tể quyền cao chức trọng, lộc nước cơm vua mà chẳng hết lòng trung thành, lại cứ giữ lối dua nịnh. Ngày kia quân Việt diệt Ngô, Quan Thái Tể có còn giữ được cái đầu hay không?

Phù Sai nghe hai người cãi lộn nói:

Đứa thất phu không có kiến thức gì, chỉ một mực nói càn, không giết thời lời nói nầy sẽ làm mê hoặc lòng người làm hại nước Ngô ta.

Nói xong truyền cho lực sĩ đem cái dùi sắt đánh Công Tôn Thánh. Công Tôn Thánh kêu to lên rằng:

Trời ơi trời có thấu cho nỗi oan tình nầy cho tôi không? Trung mà bị tội thật là chết oan. Sau khi tôi chết. Xin chớ mai táng quăng thây tôi ở dưới núi Dương Sơn, sau nầy còn làm vang cái bóng để báo Đại Vương.

Phù Sai đánh chết Công Tôn Thánh, mới sai người quăng thây dưới núi Sơn Dương mà kể tội rằng:

Giống sài lang ăn thịt mầy, lửa đốt xương mầy, gió bay tro mầy, hình tiêu ảnh diệt còn đâu là vang bóng để báo được ta.

Bá Hi rót chén rượu dâng lên mà chúc mừng rằng:

Mừng thay Đại Vương đã trừ được giống yêu quái, xin cạn một chén rượu nầy, rồi sẽ phát binh.

Trung quân thời Phù Sai và Bá Hi. Thượng quân thời Tư Môn Sào. Hạ quân thời Tào Cô, thống lĩnh 20 vạn quân cùng ba nghìn quân Việt. Di chuyển thẳng về phía Sơn Đông. Phù Sai sai sứ sang hội ước với Lỗ Ai Công để hợp quân đánh Tề. Ngũ Viên đem lời hẹn của Tề Giản Công báo với Phù Sai ở ngang đường rồi cáo ốm mà về trước, không theo đi đánh Tề.

* * *
 
127 ❤︎ Bài viết: 653 Tìm chủ đề
PHẦN 33

Lại nói về tướng nước Tề là Quốc Thư đóng quân ở bến sông vấn, nghe tin Ngô và Lỗ hợp quân đến đánh, liền hợp các tướng lại để thượng nghị. Bỗng nghe báo quan tướng quốc là Trần Hằng sai em là Trần Nghịch đến. Quốc Thư và các tướng mời vào.

Trần Nghịch nói:

Quân đã kéo sang đất Doanh Bác, việc nguy cấp đến nơi quan tướng quốc sợ các tướng không chịu cố sức, vậy sai tiểu tướng đến đây để đốc chiến. Cứ như việc ngày nay có tiến không thoái, có chết không sống. Trong quân chỉ có đánh trống, cấm không cho đánh chiêng.

Các Tướng đều nói:

Chúng tôi xin liều chết để quyết chiến.

Quốc Thư truyền lệnh cất quân đi đón đánh Ngô. Đi đến Ngải Lăng, gặp toán thượng quân của nước Ngô là tư Mao Sào.

Quốc Thư hỏi:

Ai dám đối địch?

Công Tôn Huy hớn hở xin đi, rồi đem quân đi nghinh chiến. Hai bên đánh nhau hơn ba mươi hiệp, chưa phân được thua. Quốc Thư thống lĩnh quân binh từ cánh tả xông vào. Tiếng trống như sấm. Tư Môn Sào bị hai mũi quân Tề tấn công không thể địch nổi phải bỏ chạy.

Quốc Thư thắng trận, càng thêm hăng hái, truyền cho quân sĩ mỗi khi ra trận, phải đem theo một cái thừng dài mà bảo rằng:

Tục nước Ngô đều húi tóc cả, ta lấy cái thừng để mà xâu đầu.

Quân Tề nhao nhao như điên cuồng cho là sắp phá được quân Ngô. Tư Môn Sào đem bại binh về yết kiến Phù Sai. Phù Sai nổi giận toan chém Tư Môn Sào.

Tư Môn Sào nói:

Tôi mới ra trận chưa biết hư thực thế nào, cho nên bị thua. Nếu đánh một trận nữa mà không thắng, bấy giờ xin chịu tội chết.

Bá Hi cũng cố xin hộ cho. Phù sai đuổi Tư Môn Sào ra, rồi giao đạo quân binh thượng quân cho Đại Tướng là Triển Như. Gặp có tướng Lỗ là Thúc Tôn Châu Cừu đem quân đến giúp. Phù Sai đưa ra một thanh kiếm và một bộ áo giáp, sai làm hướng đạo, đóng quân ở cách Ngãi Lăng năm dặm.

Quốc Thư sai người đưa chiến thư đến. Phù Sai hẹn đến ngày hôm sau. Hôm sau Phù Sai sai Thúc Tôn Châu Cừu bày trận thứ nhất. Triển Như bày trận thứ hai. Tào Cô bày trận thứ ba.

Tư Môn Sào đem ba nghìn quân Việt đi lại để dụ địch. Còn mình cùng Bá Hi thống lĩnh đại binh đóng nơi gò cao mà tùy cơ ứng biến. Lại cho tướng nước Việt là Chư Kế Dĩnh theo ở bên cạnh để cùng xem đánh. Quân Tề đã bày trận xong, Trần Nghịch cùng với các tướng đều ngậm ngọc. Mà bảo cùng nhau rằng ai chết thời đêm liệm ngay.

Công Tôn Hạ và Công Tôn Huy bắt quân sĩ hát bài ca tống tán, và cùng thề với nhau rằng:

Hể ai còn sống mà về thời không phải là liệt sĩ trượng phu.

Quốc Thư nói:

Các Tướng, Sĩ mà quyết đánh thời nhất định phải thắng quân Ngô nhất định tan tác tơi bời.

Hai bên bày trận xong. Tư Môn Sào ra khiêu chiến. Quốc Thư bảo Công Tôn Huy rằng:

Viên bại tướng trong tay ngươi đó, nhà ngươi nên ra mà bắt lập công đầu hạ nhuệ khí quân Ngô xuống.

Công Tôn Huy thúc quân binh phi ngựa lao ra múa kích đâm Tư Môn Sào. Tư Môn Sào đánh trả hai bên đánh nhau dữ dội. Tư Môn Sào bỏ chạy, Công Tôn Huy phi ngựa thúc quân binh đuổi theo chém quân Việt. Thúc Tôn Châu Cừu thúc quân binh ra đón đánh Công Tôn Huy. Tư Môn Sào thúc quân binh quay trở lại khiêu chiến. Quốc Thư lại sai Công Tôn Hạ ra đánh. Hai bên đánh với nhau dậy trời dậy đất. Tư Môn Sào lại bỏ chạy, Công Tôn Hạ phi ngựa thúc quân binh rượt đuổi theo chém giết. Đại Tướng nước Ngô là Triển Như thúc quân binh chận đánh Công Tôn Hạ. Tư Môn Sào thúc quân quay trở lại khiêu chiến. Tướng nước Tề là Cao Vô Bình và Tôn Lâu đem quân ra đánh. Tướng Ngô là Tào Cô một mình đánh nhau với hai tướng nước Tề mà chẳng sợ hãi một chút nào cả. Hai bên xáp chiến, chiến trường thây phơi khắp lối.

Thơ rằng:

Văn hóa phương Bắc là thế đây

Tranh hùng tranh bá chẳng nương tay

Kể chi đồng loại tàn sát giết

Máu đổ đầu rơi thảm thê thay.

Lại nói về Quốc Thư thấy quân Ngô không lui, bèn cầm dùi đánh trống để thúc đại binh tiến vào. Phù Sai đứng trên gò cao, trông thấy quân Tề hăng hái. Quân đã dần dần kém thế. Liền sai Bá Hi đem ba vạn quân xuống tiếp ứng.

Quốc Thư trông thấy quân Ngô lại kéo đến, đã toan chia quân ra đối địch, bỗng nghe tiếng chiêng dậy đất. Quân Tề tưởng là quân Ngô định lui, chẳng ngờ Phù Sai thống lĩnh 10 vạn tinh binh chia làm ba đạo quân chủ lực lấy tiếng chiêng làm tiếng quân, theo lối tắc xông vào trận địa tấn công quân Tề như vũ bão. Làm cho quân Tề đứt ra làm ba ngả. Bọn Triển Như và Tào Cô nghe nói Phù Sai lâm trận càng thêm hăng hái đánh quân Tề thất điên bát đảo. Triển Như bắt sống được Công Tôn Hạ. Tư Môn Sào đâm chết Công Tôn Huy. Phù Sai bắn trúng Tôn Lâu.

Lư Khâu bảo Quốc Thư rằng:

Quân Tề chết gần hết rồi, ngài nên đổi y phục trốn đi rồi sau sẽ liệu kế.

Quốc Thư thở dài mà nói rằng:

Ta cầm gần 20 vạn quân Tề mà bị nước Ngô đánh bại, còn mặt mũi nào mà về triều nữa.

Quốc Thư nói xong, liền cởi bỏ áo giáp xông vào trong đám quân Ngô bị quân Ngô đâm chết. Lư Khâu Minh núp trong đám cỏ cũng bị tướng nước Lỗ là Thúc Tôn Châu Cừu bắt được. Phù Sai phá tan quân Tề, các tướng hiến công, chém được tướng nước Tề là Quốc Thư và Công Tôn Huy. Bắt sống được Công Tôn Hạ và Lư Khâu Minh cũng đem chém nốt. Chỉ có Cao Vô Bình và Trần Nghịch hai người trốn thoát mà thôi, còn người khác hoặc bị chém hoặc bị bắt không biết bao nhiêu mà kể.

Phù Sai hỏi Chư Kế Dĩnh rằng:

Nhà ngươi xem quân Ngô cường dũng so với quân Việt thế nào?

Chư Kế Dĩnh sụp lạy mà tâu rằng:

Quân Ngô cường dũng khắp thiên hạ không nước nào địch nổi, huống chi là nước Việt vốn dĩ yếu hèn xưa nay.

Phù Sai bằng lòng với câu trả lời của Chư Kế Dĩnh. Bằng trọng thưởng cho quân Việt. Sai Chư Kế Dĩnh về trước báo tin thắng trận cho Câu Tiễn biết. Tề Giản Công vô cùng lo sợ cùng với Trần Hằng và Hàm Chỉ thượng nghị đầu hàn nước Ngô. Rồi sai sứ đem thật nhiều lễ vật sang lễ lạy Phù Sai.

Phù Sai bảo nước Tề và nước Lỗ giảng hòa giao hiếu với nhau, không được gây hấn chiến tranh nữa. Nước Tề và nước Lỗ đều vâng mệnh cả. Phù sai rút quân về đến Ngô Cung ở Câu Khúc và nói với Tây Thi rằng:

Ta để Mỹ Nhân ở đây là muốn cho được chóng mặt.

Tây Thi sụp lạy và chúc mừng bấy giờ gió thu mát mẻ Phù Sai và Tây Thi đi lên trên đài uống rượu rất vui, đến đêm khuya xa xa có tiếng lũ trẻ hát.

Lá đồng gặp mùa lạnh

Vua Ngô tỉnh, chưa tỉnh

Lá ngô đang mùa thu

Vua Ngô sầu, lại sầu.

Phù Sai không bằng lòng sai người bắt lũ trẻ đến mà hỏi rằng:

Ai dạy chúng bây hát câu ấy?

Lũ trẻ nói:

Có một đứa trẻ áo đen, không biết ở đâu đến dạy bài hát như thế.

Phù Sai nổi giận nói rằng:

Ta đây tự trời sinh ra, có Thần Thánh ủng hộ, khi nào lại sầu.

Phù Sai toan giết lũ trẻ. Tây Thi cố xin mãi mới thôi.

Bá Hi tâu rằng:

Xuân đến thời muôn vật vui, thu đến thời muôn vật sầu, đó là Đạo Trời. Đại Vương lúc vui lúc sầu cũng là chuyện thường tình hợp lẽ trời còn lo gì nữa.

Phù Sai ở Ngô Cung ba ngày rồi mới về kinh thành. Các quan triều thần đều vào chúc mừng. Ngũ Viên cũng đến không nói gì cả.

Phù Sai trách Ngũ Viên rằng:

Quan tướng quốc can ta không nên đánh Tề, nay ta thắng được Tề trở về, quan tướng quốc không có công gì cả, tưởng cũng nên hổ thẹn.

Ngũ Viện giận lắm, vùng vằng buông thanh kiếm xuống mà tâu rằng:

Trời định làm mất nước cho điều mừng nhỏ, rồi mới giáng họa to lớn. Việc thắng Tề chẳng qua là điều mừng nhỏ tôi e rằng sắp có điều họa lớn đến nơi.

Phù Sai tức giận nói rằng:

Đã lâu không gặp quan tướng quốc, tai ta được im lắng dễ chịu, nay lại đến kể lễ rầy rà hay sao?

Phù Sai nói xong bưng tai nhắm mắt ngồi trên điện một lúc bỗng trừng mắt mà quát to lên rằng:

Quái Lạ.

Các quan tâu rằng:

Đại Vương thấy gì?

Phù Sai nói:

Ta trông thấy bốn người tựa lưng nhau rồi mỗi người chạy về một phía. Lại thấy dưới điện có hai người đứng đối nhau. Người ngoảnh mặt phía Bắc giết người ngoảnh mặt phía Nam. Các ngươi có trông thấy như thế không?

Các quan đều nói:

Chúng thần không nhìn thấy gì cả.

Ngũ Viên tâu rằng:

Bốn người chạy về bốn phía, nghĩa là bốn phương ly tán. Người ngoảnh mặt phía Bắc giết người ngoảnh mặt phía Nam nghĩa là kẻ dưới làm hại người trên, bề tôi giết vua. Nếu Đại Vương không biết tu tỉnh thời tất có ngày hại thân mất nước.

Phù Sai nổi giận nói:

Tướng quốc điềm gở như vậy ta không muốn nghe.

Bá Hi nói:

Bốn phương ly tán, nghĩa là bốn phương chạy đến phục dịch trước sân Ngô. Nước Ngô ta làm Bá Chủ, sắp có cơ thay Nhà Chu, ấy cũng là cái điềm Bề Tôi phạm đến vua đó.

Phù Sai nói:

Quan Thái Tể nói một lời làm cho lòng ta mở rộng. Tướng quốc thời già nua lắm rồi, chẳng nói được câu nào như thế cả.

Mấy hôm sau vua Việt là Câu Tiễn đem bề tôi nước Việt thân hành đến nước Ngô mục đích là nắm rõ tình nước Ngô cũng như đường tiến quân đánh Ngô đội lớp là thân hành đến nước Ngô chúc mừng Phù Sai thắng trận. Đối với các quan nước vua Việt đều có quà biếu cả.

Bá Hi nói:

Thế là bốn phương phải phục dịch trước sân Ngô đó.

Phù Sai bày tiệc ở trên vân đài. Câu Tiễn ngồi hầu. Các quan đại phu đều đứng hầu bên cạnh Phù Sai nói:

Vua không quên người bề tôi có công, Cha không quên người con có công. Nay quan Thái Tể là Bá Hi vì ta luyện tập binh sĩ có công ta dự định thưởng cho làm thượng khanh. Vua Việt thờ ta như Cha, một lòng hiếu thuận. Ta cũng định trả hết đất đã chiếm đóng trước đây lại còn phong thêm cho đất biên giới mở rộng đất đai Nước Việt Trung Nguyên để trả công lao giúp ta, các quan đại phu nghĩ thế nào?

Các quan đại phu đều nói:

Đại Vương thưởng công cho kẻ khó nhọc đó là quyền của Bá Vương.

Ngũ Viên sụp lạy xuống đất khóc mà tâu rằng:

Than ôi, thương thay. Người trung bịt miệng, lũ nịnh nâng tay trái làm cho phải, gian tưởng là ngay. Có một ngày kia diệt nước Ngô nầy miếu tổ tông tàn phá cung điện đầy gai.

Phù Sai nghe xong nổi trận lôi đình:

Lão tặc gian trá, làm tai làm quái, chỉ muốn chuyên quyền để hại nước Ta. Ta nghĩ đến Tiên Vương, mà không nở giết, cho về mà tự xử lấy, đừng trông thấy mặt ta nữa.

Ngũ Viên nói:

Lão thần nầy nếu bất trung bất tín, thời đã chẳng được làm tôi cho Tiên Vương. Nay khác nào như Long Bàng gặp vua Kiệt. Tỉ Can gặp vua Trụ. Tôi dẫu bị giết nhưng Đại Vương cũng khó mà toàn. Tôi xin từ đây vĩnh biệt không trông thấy mặt Đại Vương nữa.

Ngũ Viên nói xong tức khắc lui ra trở về nhà. Phù Sai vẫn chưa nguội cơn giận.

Bá Hi nói:

Tôi nghe nói khi trước Ngũ Viên sang sứ nước Tề, có đem con gửi cho họ Bảo, thế là có ý muốn phản lại Ngô, Đại Vương nên xét kĩ.

Phù Sai nghe xong cả giận nói:

Quả thật Ngũ Viên lừa dối quả nhân, muốn làm phản.

Bèn sai người tới nhà Ngũ Viên trao cho Ngũ Viên thanh kiếm Chúc Lâu để tự sát Ngũ Viên cầm lấy thanh kiếm cười lớn một hồi rồi than rằng:

Đại Vương muốn giết ta đây.

Ngũ Viên nói xong liền chạy ra đứng trước giữa sân mà kêu to lên rằng:

Trời ơi là trời. Ta làm cho nhà ngươi nên nghiệp Bá, ta lại lập nhà ngươi lên ngôi, lúc đầu nhà ngươi muốn chia một nửa nước Ngô cho ta, nhưng ta không nhận. Bây giờ ngươi lại nghe lời gièm pha mà giết ta. Ta vì mầy mà phá Sở, ta vì mầy mà đánh Việt, khiến cho uy danh lừng lẫy khắp chư hầu. Than ôi, con người cô độc một mình không thể nào đứng được. Nay mầy không nghe theo lời can gián của Ta. Lại bắt ta chết. Ta chết ngày nay, thời mai đến lượt ngươi. Quân Việt Trung Nguyên đến đào bới xã tắc nước Ngô ngươi đó.

Ngũ Viên bảo với người nhà rằng:

Khi ta chết rồi, các ngươi phải khoét mắt ta mà treo ở cửa Đông để ta được xem quân Việt kéo vào.

Nói xong Ngũ Viên tự đâm cổ mà chết.

Nội thị đêm thanh kiếm về tâu với Phù Sai và thuật lại những lời nói của Ngũ Viên. Ngũ Viên trong khi gần chết thời Phù Sai thân hành đến xem thi thể rồi nói rằng:

Ngũ Viên mầy đã chết rồi thời có biết gì nữa.

Phù Sai lại truyền cắt thủ cấp Ngũ Viên đem treo ở cửa Bàn Môn, còn thi thể thời bỏ vào cái bao da ngựa, sai người quăng xuống khúc sông tiền đường mà bảo rằng:

Nhật nguyệt cháy xương mầy, thuồng luồng ăn thịt mầy. Hình thể mầy tiêu diệt. Phỏng có còn gì không.

Thi thể Ngũ Viên theo dòng sông trôi đi sóng đánh dạt vào bờ. Dân ở đấy sợ hãi bảo nhau vớt lên, đêm chôn ở núi Ngô Sơn. Phù Sai giết Ngũ Viên rồi, mới phong cho Bá Hi làm tướng quốc. Câu Tiễn trở về Việt Trung Nguyên, càng dốc lòng nghĩ mưu đánh Ngô.

* * *
 
127 ❤︎ Bài viết: 653 Tìm chủ đề
PHẦN 34

Nói về Câu Tiễn dốc lòng mưu nghĩ đánh Ngô. Thế mà Phù Sai chẳng để ý gì đến. Càng ngày càng kiêu căng phóng túng. Ăn chơi trác tán mấy mấy vạn dân đi đắp Hàn Thành đào một cái kênh ở phía Đông Nam xuyên sang Tây Bắc, khiến nước Sông Trường Giang, chảy vào Sông Nghị, rồi thông sang Sông Tề. Thế Tử Hữu biết ý Phù Sai muốn hội thông Nam Bắc Sơn Đông gắng liền với Việt Trung Nguyên trở thành thời đại mới Trung Quốc. Thời đại thay thế Nhà Chu. Thế Tử Hữu muốn can ngăn nhưng lại sợ Phù Sai giận, mới nghĩ ra một kế để làm cho Phù Sai tĩnh ngộ.

Một hôm đang buổi sáng sớm, Thế Tử Hữu đeo cung mang tên ở hậu cung viên đi về, áo giày ướt sạch cả. Phù Sai thấy lạ, liền hỏi.

Thế Tử Hữu nói:

Con ra chơi sau hậu viên, nghe tiếng con Ve kêu ở trên cây chạy lại gần xem. Thấy con Ve tưởng mình yên ổn khoe khoang cái giọng ngân nga của mình. Không ngờ có con Bọ Ngựa giơ hai càng rình bắc con Ve để ăn thịt. Con Bọ Ngựa chỉ biết miếng mồi là con Ve nên không chú ý gì cả. Không ngờ có con chim Sẻ vàng bay lượn ở gần đấy định mổ con Bọ Ngựa. Con chim Sẻ chỉ biết chăm chăm vào con Bọ Ngựa. Nào ngờ có Con đứng ở đấy giương cung định bắn con chim Sẻ chỉ lo chăm chú con chim bước tới bước lui không ngờ sụp xuống cái hố ướt cả áo giày đến nổi làm trò cười cho Phụ Thân.

Phù Sai nói:

Mầy chỉ ham cái lợi trước mắt, mà không nghĩ đến cái hại sau lưng thiên hạ còn ai ngu như thế nữa.

Thế Tử Hữu nói:

Thế mà thiên hạ còn có người ngu hơn con. Nước Lỗ là dòng dõi Chu Công. Lại nhờ công dạy bảo của Khổng Tử. Không xâm phạm gì đến lân quốc thế mà nước Tề tự nhiên đem quân đánh Lỗ. Tề tưởng lấy được Lỗ, chẳng ngờ có Ngô đem quân đi nghìn dặm để đánh Tề. Ngô đánh Tề tưởng lấy được Tề. Chẳng ngờ nước Việt Trung Nguyên đem quân quyết tử vượt qua tam giang, thông ngũ hồ để diệt nước Ngô.

Phù Sai nghe xong nổi giận nói:

Mầy học đâu ra cái giọng lưỡi của Ngũ Viên, ta nghe chán tai lắm, bây giờ mầy lại bắt chước, để làm ngăn trở công việc của ta hay sao?

Thế Tử Hữu sợ hãi lui ra. Phù Sai giao cho Thế Tử Hữu cùng Vương Tử Địa và Vương Tôn Dị Dung giữ nước, còn mình thời đem quân sang hội với Lỗ Ai Công ở đất Thái Cao, với Vệ Xuất Công ở đất Phát Dương, rồi ước với các Chư Hầu đại hội ở Hoàng Trì, muốn cùng với nước Tấn tranh nhau Bá nghiệp.

Câu Tiễn nghe tin Phù sai đem quân đi vắng, tinh binh nước Ngô đều điều động đi theo mới cùng Phạm Lãi thương nghị.

Câu Tiễn hỏi Phạm Lãi:

Đánh Ngô được chưa?

Phạm Lãi nói:

Được rồi đấy.

Việt Vương Câu Tiễn bèn đem hai nghìn người bị đày, cùng bốn vạn quân binh thường được huấn luyện, sáu nghìn kẻ sĩ, sáu nghìn quân tử. Hơn một nghìn tướng lĩnh chỉ huy theo đường thủy vượt qua Sông Trường Giang bất ngờ tiến đánh quân Ngô. Tiền đội là Trù Vô Dư thần tốc đánh thọc sâu vào nước Ngô chiếm lĩnh nhiều quận huyện. Quân sĩ và dân chúng Ngô đã quá mệt mỏi vì chiến tranh. Vì sự ăn chơi trác tán của Phù Sai. Những người mạnh khỏe hăng hái phần lớn đã chết ở trận chiến với Tề, phần thời theo Phù Sai họp chư hầu ở Hoàng Trì. Quân Ngô trấn giữ nơi biên giới cũng như các quận huyện bị quân Việt Trung Nguyên đánh bại nhanh chóng.

Trù Vô Dư di chuyển quân binh thần tốc tiến đánh thẳng vào Kinh Đô nước Ngô. Vương Tôn Dị Dung đem quân ra chống cự, đánh nhau được mấy hiệp. Cùng lúc ấy Vương Tử Địa đem quân ra xáp chiến. Trù Vô Dư đánh không lại ngã ngựa bị bắt. Ngày hôm sau Việt Vương Câu Tiễn thống lĩnh đại quân đến. Thế Tử Hữu định giữ thế thủ.

Vương Tôn Dị Dung nói:

Quân Việt vẫn có lòng sợ nước Ngô Ta. Vả lại từ xa kéo đến đây tức nhiên mệt nhọc. Ta thắng lần nữa, thời họ phải chạy. Nếu không thắng bấy giờ giữ thế thủ cũng chưa lấy gì làm muộn.

Thế Tử Hữu nghe lời. Liền sai Dị Dung ra đánh, Hữu đêm quân theo sau. Câu Tiễn thân hành đốc quân binh đánh nhau với Ngô. Phạm Lãi và Thế Dung ở hai bên tả hữu cũng thúc quân reo hò mà tiến. Khí thế mạnh như chẻ tre. Lúc bấy giờ ở nước Ngô, quân binh tinh dũng đều theo Phù Sai. Ở trong nước toàn là quân sĩ chưa luyện tập. Trong khi quân nước Việt Trung Nguyên toàn là quân tinh dũng đã luyện hơn mười năm. Nhất là đội quân tinh nhuệ đạt đến cảnh giới xuất quỉ nhập thần đã được Xử Nữ cũng như Trần Am Nguyên đã luyện tập. Lại thêm Phạm Lãi và Thế Dung đều là tướng lão luyện nhiều năm ở chiến trường thời quân Ngô làm sao địch lại nổi quân Ngô thua to.

Vương Tôn Dị Dung bị Thế Dung tướng Việt giết chết. Thế Tử Hữu bị vây hãm trong vòng vây quân Việt bắt được thời nhục liền tự tử mà chết.

Quân Việt kéo thẳng đến dưới chân thành. Vương Tôn Địa đóng chặt cửa thành lại rồi cố giữ thế thủ và sai người đi cáo gấp với Phù Sai. Câu Tiễn cho thủy quân đóng ở Thái Hồ. Lục quân đóng ở Tư Môn. Câu Tiễn sai Phạm Lãi đốt đài Cô Tô lửa cháy hơn một tháng chưa tắt, bao nhiêu chuyến thuyền của Ngô đều chiếm lấy đem về Thái Hồ cả, quân Ngô thủ thành không dám ra đánh.

Lại nói về chuyện Phù Sai cùng với Lỗ Ai Công và Vệ Xuất Công cùng đến Hoàng Trì, sai người mời Tấn Định Công. Tấn Định Công sợ phải đến hội. Phù Sai sai Vương Tôn Lạc cùng với quan thương khanh nước Tấn là Triệu Ưởng bàn việc để tên trước sau ở trong tờ tái thư.

Triệu Ưởng nói:

Nước Tấn đã mấy đời nay làm Minh Chủ còn phải hỏi gì nữa.

Vương Tôn Lạc nói:

Tổ nước Tấn là Thúc Ngu, là em của vua Thành Vương. Tổ nước Ngô là Thái Hà là bá Tổ vua Vũ Vương. Tôn ti cách nhau mấy tần. Huống chi Tấn dẫu làm Minh Chủ. Mà khi hội ở nước Tấn, ở quắc đều phải đứng dưới Sở. Nay Đại Vương muốn đứng trên Ngô hay sao?

Hai bên tranh nhau, mấy ngày chưa ngã ngũ đi đến dứt khoát. Bỗng có sứ giả của Vương Tử Địa sai đến, mật báo việc quân Việt đánh Ngô, giết Thế Tử Hữu, nay đang vây thành sự thế rất nguy cấp. Phù Sai kinh sợ. Bá Hi rút gươm chém chết sứ giả.

Bá Hi nói:

Việc nầy hư thật chưa rõ, nếu để sứ giả tiết lộ ra thời Tề và Tấn tất thừa cơ sinh sự, Đại Vương tài nào mà về yên được.

Phù Sai nói:

Quan tướng quốc nói phải lắm, nhưng Ngô và Tấn còn đang luận chưa xong, nay lại có tin nầy, vậy ta nên bỏ về ngay, hay ở lại dự hội mà chịu cho Tấn làm trưởng?

Vương Tôn Lạc nói:

Hai đường đều không được cả. Ta bỏ không dự hội mà về ngay thời biết ta có sự nguy cấp. Nếu dự hội mà chịu cho Tấn làm trưởng rồi thời ta làm gì cũng tất phải vâng mệnh nước Tấn. Vậy thời ta quyết tranh cho ngã ngũ mới khỏi lo ngại.

Phù Sai hỏi:

Muốn tranh cho được thời phải làm thế nào?

Vương Tôn Lạc mật tâu rằng:

Nay việc đã nguy cấp lắm, xin Đại Vương nổi hiệu trống mà khiêu chiến để làm cho người nước Tấn phải sợ.

Phù Sai cho là phải, đêm hôm ấy điều động quân binh kéo sang chỗ quân Tấn đóng cách nhau chỉ độ một dặm, rồi bày trận ở đấy. Vua Ngô tự tay cầm dùi đánh trống, hơn một vạn cái trống trong quân đều đánh theo. Tiếng chiêng trống nổi lên inh ỏi. Quân Tấn sợ hãi không biết vì cớ gì, mới sai quan đại phu là Đổng Cát sang hỏi.

Phù Sai rằng:

Ta phụng mệnh thiên tử Nhà Chu làm Minh Chủ các nước, nay vua Tấn trái mệnh tranh Trưởng, để đến nổi dùng dằng mãi không xong. Ta sợ sứ giả đi lại thêm phiền vậy phải thân hành đến đây mà thượng nghị. Nước Tấn theo không theo ngày hôm nay phải quyết.

Đổng Cát về báo với Định Tấn Công. Bấy giờ Lỗ Ai Công và Vệ Xuất Công cũng ngồi ở đấy.

Đổng Cát nói riêng với Triệu Ưởng rằng:

Tôi xem ý vua Ngô, ngoài miệng dẫu nói cứng, nhưng nét mặt buồn rầu, tất là trong bụng như có điều gì lo nghĩ lắm. Hay là quân Việt Trung Nguyên đã sang đánh Ngô rồi nếu quả vậy ta không chịu cho hắn đứng tên trước, thời tất hắn liều mà đánh ta, nhưng ta cũng không nên chịu nhường suông, phải bắt hắn bỏ Vương Hiệu đi mới được.

Triệu Ưởng nghe xong bằng tâu với Tấn Định Công. Định Công lại sai Đổng Cát sang nói Phù Sai rằng:

Đại Vương phụng mệnh thiên tử Nhà Chu hội chư hầu Chúa Công tôi không dám trái, nhưng nước Ngô nguyên là Tước Bá mà lại hiệu Xưng Ngô Vương thời đối với Thiên Tử Nhà Chu ra sao? Đại Vương nên bỏ Vương Hiệu Ngô Vương đi mà xưng là Ngô Công thời Chúa Công tôi xin vâng mệnh.

Phù sai cho là lời nói ấy là phải, liền tự xưng là Ngô Công rồi ra tiếp kiến các vua chư hầu. Ngô Công thề trước, thứ đến nước Tấn, đến Lỗ và Vệ. Phù Sai rút quân theo đường thủy về nước Ngô. Đi đến nửa đường được luôn mấy tin nước nhà lâm nguy cấp báo. Quân sĩ nghe nói ai cũng sợ hãi vả lại đi đường xa mỏi mệt, nên chẳng ai nghĩ gì đến sự giao chiến.

Khi đại quân Ngô kéo về gần đến Ngô Thành thời bị quân Việt Trung Nguyên chận đánh. Phù Sai thấy quân Việt Trung Nguyên anh dũng lạ thường, kiếm, cung, đao, thương, nỏ, giáo kỳ lạ đánh quân Ngô như đàng hổ xông vào đàn dê mà xơi, quân Ngô lớp lớp ngã gục. Phù Sai nhìn thấy kinh hoàng khiếp vía 20 vạn quân Ngô chủ lực tinh nhuệ, bị quân Việt Trung Nguyên đánh tơi bời. Quân Ngô thua to.

Phù sai sợ hãi lắm nói với Bá Hi rằng:

Quan tướng quốc nói vua Việt không bao giờ làm phản cho nên ta nghe mà tha cho về nước. Sự thể ngày nay như thế nầy quan tướng quốc phải sang xin cầu hóa với Việt. Nếu không thời thanh kiếm ta đưa cho Ngũ Viên ngày trước ta lại đưa cho quan tướng quốc đó.

Bá Hi liền sang quân Việt, sụp lạy Câu Tiễn xin tha tội cho nước Ngô còn mang theo lễ tạ tội cầu giảng hòa với nước Việt. Nước Ngô lại xin theo nước Việt.

Phạm Lãi nói với Câu Tiễn rằng:

Nước Ngô, ta cũng chưa nên diệt, ta hãy cho hòa để đền ơn cho Bá Hi. Từ đây Ngô không còn cường thịnh được nữa đâu, vì Việt Ta luôn theo dõi Ngô.

Câu Tiễn cho nước Ngô giảng hòa, rồi rút quân về nước, vào năm đó năm thứ 38 đời Chu Kính Vương phương Bắc, phương nam năm thứ 32 đời Hùng Ánh Vương, Chân Nhân Lang đời thứ 14 Hạ Hùng Vương. Lúc bấy giờ phương Bắc phía bên kia sông Trường Giang thấy nước Ngô đã bị nước Việt Trung Nguyên kìm hãm không còn lo sợ Ngô thôn tính nữa. Bằng thôn tính lẫn nhau nước nầy đánh nước kia. Nước kia đánh nước nọ tranh bá tranh quyền chém giết lẫn nhau thảm khốc.

* * *
 
127 ❤︎ Bài viết: 653 Tìm chủ đề
PHẦN 35

Nói về Việt Vương Câu Tiễn cho Ngô giảng hòa được bốn năm. Bấy giờ là năm 42 đời Chu Kính Vương phương Bắc năm thứ 36 đời Hùng Ánh Vương, Chân Nhân Lang phương Nam. Vua Việt Vương Câu Tiễn cho người dọ thám biết Phù Sai từ khi thua quân Việt. Thời không còn chí khí tranh Bá tranh Hùng. Mà suốt ngày chỉ mê tửu sắc, chẳng thiết gì đến triều chính, vả lại mấy năm mất mùa luôn, lòng dân than oán. Câu Tiễn liền thống lĩnh đại quân đánh Ngô. Quân Việt Trung Nguyên chuẩn bị xuất quân lên đường. Câu Tiễn nhìn thấy ở trên đường cái có một con ễnh ương to lớn dị thường trợn mắt phình bụng, ra ý tức giận, Câu Tiễn đang ngồi xe đứng dậy để to lòng kính.

Những người theo hầu đều hỏi:

Đại Vương thấy gì mà kính vậy?

Câu Tiễn nói:

Ta trông thấy con ễnh ương tức giận, khác nào như quân sĩ đang hăng say chiến đấu xáp chiến đánh giặc, cho nên ta kính.

Quân sĩ đều bảo nhau rằng:

Con ễnh ương tức giận mà Đại Vương còn có lòng kính. Chúng ta cố công luyện tập trong mười năm lại không bằng con ễnh ương hay sao?

Bấy giờ quân sĩ đều khuyên bảo nhau liều chết để đánh giặc. Người trong nước tiễn con em đi đánh Ngô khóc mà từ giả rằng:

Chuyến nầy đi mà không diệt được Ngô thời chớ có mà trở về nước mà gặp nhau nữa.

Câu Tiễn lại hạ lệnh cho quân binh rằng:

Ai mà hai Cha con cùng ở lính thời cho Cha về. Hai anh em cùng ở lính thời cho Anh về. Có Cha Mẹ mà không anh em thời cho về để nuôi Cha Mẹ. Có tật bệnh không thể đi lính được thời quan địa phương chu cấp thuốc men lương thực cho.

Quân sĩ cũng như dân chúng cảm ơn ấy đều reo hò mừng rỡ khi sắp tiến quân qua đất Ngô, những kẻ vi phạm quân lệnh đều bị chém đầu để giữ nghiêm quân pháp. Nên quân binh tuân theo hiệu lệnh răm rắp sức mạnh quân binh tăng lên đáng kể.

Vua Ngô là Phù Sai nghe tin quân Việt tiến đánh, cũng đem hết quân binh ra đối địch. Quân Việt đóng đồn ở bờ sông phía Nam Dương Tử Trường Giang. Quân Ngô đóng đồn ở bờ sông phía Bắc Dương Tử Trường Giang. Câu Tiễn chia ra làm hai đạo quân. Phạm Lãi coi hữu quân, Văn Chủng coi tả quân. Đại quân Câu Tiễn đi giữa có sáu nghìn quân thiện chiến bật nhất của quân Việt Trung Nguyên. Hai bên định sáng hôm sau thời cùng nhau giao chiến ở giữa dòng sông.

Quân ngô là quân giỏi về thủy chiến đã từng đánh bại quân Việt ở Sông Lạc Phù Sai rất tin tưởng ở trận quyết sanh quyết tử nầy.

Tối hôm trước. Câu Tiễn truyền cho trung quân im lặng theo dòng sông cánh tả cách năm dặm ẩn không cho quân Ngô biết đến nửa đêm thời nổi hiệu trống tiến đánh quân Ngô. Lại truyền cho hữu quân im lặng theo dòng sông cánh hữu cách xa mười dặm ẩn không cho quân Ngô biết. Đợi khi tả quân trống hiệu nổi lên, thời tiếng quân nổi trống mà đánh, đều dùng trống lớn để vang động dậy trời.

Nói về quân Ngô nửa đêm bỗng nghe tiếng trống dậy trời, biết là quân Việt đến đánh lén, vội vàng đốt đuốc soi lên chưa trông rõ gì cả. Lại nghe có tiếng xa nổi lên quân Việt hai mặt vây kín quân Ngô. Phù Sai kinh sợ vội vàng chia quân ra để đối địch. Chẳng ngờ Câu Tiễn đem sáu nghìn quân, nhân khi trời tối lẻn vào trong trận quân Ngô. Bấy giờ trời vừa hừng sáng, quân Ngô trông thấy trước sau, tả, hữu, trong trận địa chỗ nào cũng có quân Việt tấn công dữ dội, đao, kiếm, cung, nỏ bắn đâu ngã gục đó, chém đâu ngã gục đó.

Quân Ngô biết mình không thể địch nổi vội vàng bỏ thuyền lên bờ trốn chạy. Câu Tiễn thúc quân binh đuổi theo đến đất Lập Trạch thời đuổi kịp chém quân Ngô xối xả, quân Ngô chống trả hai bên đánh nhau long trời lở đất. Quân việt đao thương cung nỏ đều tài giỏi, lại thêm khí thế quyết tử hào hùng quân Việt ào ào xông tới chém thôi là chém quân bỏ xác khắp nơi thây phơi như rạ, quân Ngô chiến ba trận đều thua cả ba.

Tướng nước Ngô là bọn Tào Cô và Tư Môn Sào đều chết tại trận cả. Phù Sai thua chạy về Đô Thành đóng chặt cửa thành lại. Câu Tiễn bọc lên Hoàng Sơn đánh bọc xuống lại cho quân đắp cái thành ở ngoài cửa Tư Môn gọi là Việt Thành. Câu Tiễn ở đó chỉ huy quân binh Việt bao vây khuấy động binh đao làm cho nước Ngô phải khốn khổ.

Câu Tiễn vây Ngô lâu ngày làm cho dân Ngô cũng như binh sĩ khốn quẫn quá. Bá Hi cáo ốm liên miên không dám ra đối đầu với quân Việt. Phù Sai bằng sai Vương Tôn Lạc sang gặp Việt Vương Câu Tiễn Vương.

Tôn Lạc lột trần vai áo kéo lết đầu gối cả vài trăm mét mà tâu với Câu Tiên rằng:

Kẻ bề tôi cô độc là Phù Sai xin bày gan ruột, ngày trước thần đã đắc tội ở Cối Kê. Đã được Đại Vương tha cho từ đó không dám trái mệnh, nên được Đại Vương cho giảng hòa. Nay Đại Vương lại cất quân sang đánh cô thần, nếu Đại Vương muốn giết cô thần, cô thần cũng xin vâng theo không dám trái ý. Nhưng cô thần cũng muốn Đại Vương tha tội cho cô thần, như việc trước đây ở Cối Kê kẻ bề tôi cô độc một lòng tùng phục, không dám nghĩ tới hai lòng mong được Đại Vương nghĩ đến chút tình ngày trước mà tha tội cho.

Câu Tiễn có ý không nở toan cho hòa. Phạm Lãi can rằng:

Đại Vương ngày đêm lo nghĩ mưu tính kế ra công khó nhọc trong suốt 20 năm thôn tính nước Ngô nay sắp thành công mà lại bỏ đi nghĩa làm sao? Việc xảy ra ở Cối Kê trước kia đó là do trời đem nước Việt Trung Nguyên giao cho nước Ngô, nhưng nước Ngô lấy. Nay trời lại đem nước Ngô trao cho nước Việt. Nước Việt có nên làm trái mệnh trời không? Vả chăng nhà Vua ra triều sớm, bãi triều muộn chẳng phải là để trả thù nước Ngô đó sao? Trời đã cho mà không lấy, trái lại cơ trời từ phước chuyển thành họa. Nhà Vua không nên quên bài học mà vua Ngô đã làm tha cho vua Việt mà ngày nay phải trả giá bằng sinh mạng cũng như sự mất nước.

Câu Tiễn nghe xong tỉnh Ngộ bèn không cho hòa. Sứ giả nước Ngô đi lại bảy lượt nói to nhỏ với vua Việt cũng như Văn Chủng và Phạm Lãi những lời tha thiết nhất, nhưng Phạm Lãi, Văn Chủng nhất định không nghe.

Câu Tiễn có lúc mềm lòng nói:

Ta không nở từ chối lòng sứ giả.

Phạm Lãi, Văn Chủng nói:

Việc nầy để thần giải quyết.

Phạm Lãi, Văn Chủng nói với sứ giả:

Nhà vua đã giao quyền quyết định cho Lãi và Chủng nầy, sứ giả nên về ngay nếu không sẽ trị tội.

Bằng sai đánh trống thúc cho quân binh tiến lên công phá thành. Quân nước Ngô tuy mất đi sức mạnh vốn có. Nhưng muốn phá thành tiến quân vào thời không phải dễ vì kinh thành nước Ngô vô cùng kiên cố không dễ gì một mươi ngày mà phá được đâu. Nếu phá được thời cũng phải trả cái giá tổn thất không nhỏ. Đêm hôm ấy mọi người bỗng thấy trên cửa thành có treo một cái đầu Ngũ Viên, mặt to bằng bánh xe, mắt sáng như tia chớp râu và tóc dựng đứng cả lên, sáng rực trong mười dặm. Tướng sĩ nước Việt ai nấy cũng sợ hãi, phải tạm lui quân. Đến nửa đêm hôm ấy, bỗng mưa to gió lớn, sấm ran chớp giật cát bay đá chạy ù ù quân Việt không chết thời cũng bị thương quả là không sao tưởng tượng được, dây cáp đức hết thuyền chao đảo không kết với nhau được.

Phạm Lãi, Văn Chủng vô cùng lo sợ. Trời đang mưa to gió lớn Phạm Lãi, Văn Chủng nhìn lên cửa thành mà sụp lạy một lúc tạ tội với Ngũ Viên. Tức thời mưa to gió lớn im lặng trở lại. Phạm Lãi, Văn Chủng đang ngồi ngủ gà ngủ gật đợi trời sáng. Bỗng chiêm bao thấy Ngũ Viên ngồi trên một cái xe trắng con ngựa trắng đi đến áo mão chỉnh tề cũng như lúc còn sống bảo với Phạm Lãi và Văn Chủng rằng: Ta biết nổi giông nổi gió làm khiếp đảm quân Việt là phạm ý Trời. Nhưng lòng trung của ta chưa tuyệt, nên mới nổi cơn mưa gió để làm quân Việt phải lui. Nhưng ý trời đã định. Trời cho nước Việt chiếm lấy nước Ngô quỉ thần nào ai dám cải. Bọn ngươi muốn chiếm thành thời phải theo cửa Đông ta sẽ mở đường cho.

Hai người cùng chiêm bao giống nhau, liền nói với Câu Tiễn. Câu Tiễn sai người khai một cái kênh từ phía Nam qua phía Đông, khi khai đến cửa Xa Môn và cửa Tương Môn, thời bỗng thấy nước ở Thái Hồ từ cửa Tư Môn chảy vào, làn sóng dữ dội, làm thành một cái vũng rộng lớn, có nhiều giống cá chuyên cá phù theo nước kéo vào.

Phạm Lãi nói:

Ấy là Ngũ Viên mở đường cho quân ta đi.

Phạm Lãi nói xong liền thúc quân binh tiến vào cửa Đông quả nhiên quân Ngô chống cự không lại cửa Đông bị phá vỡ, quân Việt Tràn vào thành như nước lỡ.

Phù Sai nghe tin quân Việt Trung Nguyên đã phá được cửa Đông tràn vào thành như nước lỡ thời kinh hồn bạt vía. Bá Hi đã xin ra hàng. Phù Sai cùng với Vương Tôn Lạc và ba con chạy sang Dương Sơn, đi suốt ngày suốt đêm, bụng đói miệng khác, hai mắt hoa mờ. Các quan chạy theo bứt được mấy trái Ngô sống, đem bóc ra rồi dâng cho Phù Sai, Phù Sai ăn xong ngồi xuống đất, lấy tay bụm nước ở dưới mương mà uống lại hỏi:

Mới rồi ta ăn thứ gì?

Các quan nói:

Đó là Ngô sống.

Phù Sai nói:

Công Tôn Thánh ngày trước bảo ta, rồi phải chạy vất vả và không kịp nấu cơm ăn, chính là thế nầy.

Vương Tôn Lạc nói:

Ăn no rồi thời hãy đi, phía trước có một cái hang sâu, ta hãy tránh vào đấy.

Phù Sai nói:

Mộng đón đã đúng thời sắp đến ngày chết, ta còn tránh làm gì nữa.

Nói xong cứ ngồi ở Dương Sơn, bảo Vương Tôn Lạc rằng:

Ngày trước ta giết Công Tôn Thánh, ném ở trên đỉnh núi nầy, chẳng hay còn có thiêng hay không?

Vương Tôn Lạc nói:

Đại Vương thử gọi xem.

Phù Sai gọi to lên rằng:

Công Tôn Thánh.

Ba lần gọi đều nghe tiếng dội theo. Phù Sai kinh sợ, lại trốn sang ở Vu Tọa. Câu Tiễn lại đem một nghìn quân kỵ mã đuổi theo vây kín mấy dặm. Phù Sai viết một bức thư, buộc đầu mũi tên, bắn vào trong đám quân Việt. Quân Việt nhặt được đệ trình Phạm Lãi và Văn chủng cùng mở ra xem thư rằng: Tôi nghe giống thỏ đã hết thời chó săn tất bị mỗ địch quốc đã diệt nưu thần tất không còn. Sao quan đại phu không giữ lại cho nước Ngô một sợi tơ mành, để làm chỗ thoát cho mình về sau.

Văn Chủng cũng viết một bức thư buộc vào mũi tên bắn vào rừng rậm mà đáp rằng: Nước Ngô có sáu điều lỗi to. Giết chết trung thần Ngũ Viên. Giết chết Công Tôn Thánh. Bá Hi là người xàm nịnh lại tin dùng. Đó là ba điều lỗi to. Tề, Tấn vô tội thế mà Ngô cứ đêm quân quấy nhiễu. Việt và Ngô là hai nước láng giềng Nam Bắc thế mà Ngô hết xâm lược lần nầy đến lần khác hết đời con, đời cha, đến đời ông. Nước Việt giết tiên vương nước Ngô mà nước Ngô lại không biết báo thù dung túng kẻ địch để hậu quả gây nên tai họa. Có sáu điều lỗi to ấy, thời tài nào mà không mất nước. Ngày xưa trời đem nước Việt cho Ngô. Ngô không chịu nhận: Nay trời lại đem nước Ngô cho Việt, có Việt lại dám trái mệnh trời.

Phù Sai cho người tìm lấy mũi tên do Văn Chủng bắn đi ngồi đọc, đọc đến điều lỗi thứ sáu thời ứa nước mắt mà nói rằng:

Ta quên kẻ thù của Tiên Vương mà không giết Câu Tiễn như thế là bất hiếu. Vì thế mà trời không giúp nước Ngô ta nữa.

Vương Tôn lạc nói:

Tôi xin sang yết kiến vua Việt một lần nữa và cố xin vua Việc tha.

Phù Sai nói:

Ta cũng không phục lại nước Ngô như cũ nữa. Nếu nước Việt cho nước Ngô làm một nước phụ thuộc nhỏ để đời thần phục nước Việt thời ta cũng đành lòng.

Vương Tôn Lạc sang đến quân Việt Phạm, Lãi Văn Chủng không tiếp. Câu Tiễn trông thấy sứ giả nước Ngô khóc lóc thảm thiết mà về, liền động lòng thương sai người bảo Phù Sai đến nói rằng:

Ta nghĩ cái tình nhà vua ngày trước, xin để nhà vua ở đất Dũng Đông cấp cho năm trăm nóc nhà để trọn đời nhà vua sanh sống nơi đó.

Phù Sai sụt sùi mà đáp rằng:

Đại Vương thương tình mà xá cho Ngô, thời Ngô cũng là một nước Đại Vương cai quản thần phục Việt đó. Nếu phá xã tắc bỏ Tôn Miếu thời còn gì nước Ngô. Thời tôi nhận lấy năm trăm nóc nhà để mà làm gì. Nay tôi đã già, không thể theo sau hàng bách tính chỉ còn chết mà thôi.

Câu Tiễn nghe vô cùng tức giận nói:

Nhà ngươi còn muốn nuôi mộng đời sau tiêu diệt ta sao?

Câu Tiễn bảo Phạm Lãi, Văn Chủng rằng:

Sao hai ngươi không giết Phù Sai đi cho rồi?

Phạm Lãi, Văn Chủng nói:

Phù Sai cũng là một ông vua, chúng tôi không dám giết xin Đại Vương phụng mệnh trời mà làm chớ nên chậm trễ.

Câu Tiễn liền chống thanh kiếm "bộ quang" ở trước quân. Sai bảo Phù Sai rằng:

Ở đời chẳng có ông vua nào sống mãi, rốt cuộc cũng chết là xong, việc gì phải đợi quân ta kề gươm lên cổ?

Phù Sai thở dài mấy tiếng. Ngoảnh lại trông bốn phía khóc than mà rằng:

Ta giết trung thần là Ngũ Viên và Công Tôn Thánh, nay ta phải tự tử cũng là muộn lắm rồi.

Phù Sai bảo các người xung quanh rằng:

Giả chết mà linh hồn không chết, thời ta còn mặt mũi nào mà trông thấy Ngũ Viên và Công Tôn Thánh ở dưới suối vàng. Âu là các nhà ngươi lấy ba thước lụa phủ mặt cho ta.

Nói xong rút gươm đâm cổ mà chết. Vương Tôn Lạc cởi áo để phủ lên mặt Phù Sai rồi cũng lấy dây lưng thắt cổ chết ở bên cạnh.

Thơ rằng:

Vua Ngô chăm chuốt cuộc hề

Khói mây rồi cũng trở về khói mây

Bể trần xấu xé lẫn nhau

Chết đi luân chuyển tránh đâu đọa đày

Luật trời há dễ làm càn

Huyền cơ xây chuyển tan tành bụi tro.

Câu Tiễn truyền chôn cất theo lễ vua chư hầu, chôn Phù Sai ở Dương Sơn, lại sai quân sĩ mỗi người một sọt đất mà đắp vào, chỉ trong chốc lát thành ra nấm mồ to lớn. Còn ba con Phù Sai thời đem đày đi ở núi Long Vi.

Câu Tiễn vào thành Cô Tô ngự ở cung vua Ngô. Triều thần vào lạy mừng. Quan Thái Tể là Bá Hi cũng ở trong hàng ấy cậy có ơn giúp đỡ Câu Tiễn ngày trước, ra vẻ đắc ý.

Câu Tiễn bảo Bá Hi rằng:

Nhà ngươi là quan Thái Tể nước Ngô, ta đây không dám xem ngươi là bề tôi. Vua nhà ngươi ở Dương Sơn, sao nhà ngươi không đi theo?

Bá Hi thẹn mà lui ra. Câu Tiễn sai bắt Bá Hi mà giết đi. Nhổ cỏ diệt tận gốc Câu Tiễn lại cho quân binh giết cả gia tộc Bá Hi.

Câu Tiễn nói:

Thế là ta trả thù cho Ngũ Viên.

Thơ rằng:

Ai thâm hiểm cho bằng Câu Tiễn

Giết Bá Hi vì sợ Bá Hi

Rắn độc mà ở kề bên

Có ngày nó cắn nát tan cuộc đời

Nên nói dối an lòng Ngô chúng

Trả hận thù tướng quốc Ngũ Viên

Lương tâm gian trá vô biên

Tránh đâu cho khỏi đảo điên cơ đồ

Đêm đất Việt dâng về phương Bắc

Mua công danh cấu kết ngoại ban

Làm cho nước Việt nát tan

Văn Lang đất Bắc hết mong trở về.

* * *
 
127 ❤︎ Bài viết: 653 Tìm chủ đề
PHẦN 36

Lại nói về Câu Tiễn muốn theo chí khí mộng Bá Vương của Phù Sai, kết hợp Nam Bắc các nước xa gần Dương Tử Trường Giang xây dựng lên một Sơn Đông Trung Quốc hùng mạnh mà Phù Sai làm chưa được. Câu Tiễn phủ dụ quân Ngô theo quân Việt vì thế quân Việt vô cùng hùng mạnh đủ sức để làm Bá Chủ.

Câu Tiễn càng ngày càng Độc Tài Độc Trị không nghe lời ai nữa bằng đem quân về hướng Bắc, vượt qua Sông Bắc Giang, Sông Hoài ở vào thời đó có sông Dương Tử Trường Giang, và Sông Bắc Giang. Cùng các trấn chư hầu Nhà Chu như Tề, Tấn, Tống, Lỗ. Đông Bắc phương Đông hợp ở từ Châu. Các nước biết Câu Tiễn có ý liên minh thống nhất nhiều nước Nam bắc Dương Tử Trường Giang thành một liên minh Trung Quốc.

Chữ Trung có nghĩa là Trung Nguyên. Liên kết Nam – Bắc nhiều nước thành Trung Quốc.

Các nước Tề, Tấn, Tống, Lỗ nhất trí tán thành nhưng phải quy thuận Nhà Chu. Việt Vương Câu tiễn liền nghe theo. Sai người đem lễ vật vào cống Thiên Tử Nhà Chu nói rõ nguyện vọng của mình. Lúc bấy giờ Chu Kính Vương đã mất. Thái Tử Nhân lên ngôi, tức là Chu Nguyên Vương. Triều thần Nhà Chu nghe xong còn gì vui sướng hơn nhất là Chu Nguyên Vương. Việt Trung Nguyên không cần chiếm lấy mà tự có không đổ một giọt máu. Chu Nguyên Vương bằng đem Cổn Niệm, Khê Bích, Đồng Cung, Hồ Thỉ ban cho Câu Tiễn. Phong cho làm mệnh làm Bá Chủ Sơn Đông, Trung Quốc. Câu Tiễn cúi đầu vâng mệnh. Chu Nguyên Vương Nhà Chu sai sứ thần ban nhiều rượu thịt đến Câu tiễn các trấn chư hầu Nhà Chu đến chúc mừng.

Lúc bấy giờ Việt Vương Câu Tiễn là Bá Vương Sơn Đông Trung Quốc có quyền quyết định hòa giải các nước. Câu Tiễn đưa quân vượt qua phía nam sông Hoài cắt đất nước Sở mà trả lại phong cho nước Lỗ đất đai một trăm dặm ở phía đông Sông Tứ. Những đất đai mà nước Ngô chiếm được nước Tống trả lại cho nước Tống. Các trấn chư hầu Nhà Chu đều kính phục. Câu Tiễn về đến nước Ngô. Bằng bày tiệc ở trên Vân đài nước Ngô cùng với các quan tướng uống rượu chúc mừng Việt Vương Câu tiễn lên ngôi Bá Vương Trung Quốc, đứng đầu mấy trăm thuộc quốc. Phải nói Trung Quốc ra đời hùng mạnh nhất thời bấy giờ.

Đây nói về Phạm Lãi là dân Bách Việt Văn Lang. Thấy Việt Vương Câu Tiễn đem dâng nước Việt Trung Nguyên cho Nhà Chu thời vô cùng bất mãn khuyên can mấy lần. Câu Tiễn không nghe cứ làm theo ý mình nhưng trong lòng có ý dè chừng Phạm Lãi.

Phạm Lãi có ý bỏ Việt Vương Câu Tiễn khi còn ở Từ Châu nhưng còn chần chừ chưa dứt khoát. Khi về nước Ngô Phạm Lãi mới dứt khoát biết nếu mình ở lại thời cái chết không biết lúc nào bằng bỏ đi trong lúc Việt Vương Câu Tiễn còn khoe khoang với bá quan văn võ Nhà Chu Phong cho Bá Vương chủ quản Trung Quốc.

Phạm Lãi ngay trong hôm ấy đi một chiếc thuyền nhỏ ra Tề Nữ Môn qua Tam Giang vào Ngũ Hồ. Ngày hôm sau Câu Tiễn sai người triệu Phạm Lãi vào thời Phạm Lãi đã đi rồi.

Câu Tiễn biến sắc bảo Văn Chủng cho quân binh đuổi theo bắt Phạm Lãi lại cho ta.

Văn Chủng nói:

Mưu trí của Phạm Lãi, quỉ thần cũng khó mà lường được, ta không nên đuổi theo.

Nói về Phạm Lãi vượt qua Tam Giang, Ngũ Hồ nhìn lên trời mà than rằng: Ta có tội với Bách Việt Văn Lang. Anh Hùng Lạc Đạo tôn thờ tên ác Bá kẻ bán nước phản bội Ông Cha.

Phạm Lãi nghĩ mình đã theo Việt Vương Câu Tiễn không thể vào Văn Lang để sống được. Bằng cải tên đổi họ thành Chi Di Tử Bì đi theo đường biển sang qua Tề tìm được chỗ sanh sống không trở về nước Việt Trung Nguyên Nữa.

Phạm Lãi trước khi bỏ Việt Vương Câu Tiễn mà đi có một bức thư cho quan đại phu Văn Chủng. Một hôm Văn Chủng vừa ra khỏi cung thời có một người đưa cho Văn Chủng một bức thư nội dung như sau: Chim đã hết thời cung nỏ phải cất. Thỏ khôn đã chết thời chó săn lại bị nấu. Vua Việt là người cổ dài, miệng diều hâu. Con người chỉ vì danh lợi cá nhân. Đem đất Bắc Văn Lang cầu vinh mà dâng cho phương Bắc Nhà Chu. Một con Cáo Già đã lộ cái đuôi chồn lòng dạ hiểm sâu nói một đường làm một nẻo, giả nhân giả nghĩa lừa gạt tấm lòng tốt của người dân Bách Việt khi hiểu ra thời mọi việc đã rồi. Nếu Ngài không bỏ đi tất có tai họa vì Ngài rất yêu Bắc Văn Lang.

Văn Chủng xem xong thời người đưa thư cũng đi đâu mất. Văn Chủng nhận được thư của Phạm Lãi trong lòng lấy làm căm hận cho cuộc đời mình anh hùng lạc đạo tôn thờ một kẻ bán nước. Văn Chủng bật khóc từ đó cáo bệnh không vào chầu nữa. Có người gièm nói Văn Chủng làm phản.

Việt Vương Câu Tiễn đến nhà đưa kiếm cho Văn Chủng rồi nói:

Nhà ngươi thường dạy quả nhân bảy thuật để đánh Ngô. Quả nhân mới dùng có ba mà nước Ngô đã thua. Còn bốn thuật nữa ở nhà ngươi. Nhà ngươi hãy giúp ta mà diệt Hùng Ánh Vương, Chân Nhân Lang, thời công ngươi mới to tác hơn nữa.

Văn Chủng nhìn lên trời nói lớn:

Con đã biết sai xin Bách Việt Văn Lang tha tội cho con.

Văn Chủng nói xong liền tự sát. Câu Tiễn ở nước Ngô không bao lâu cho người ở lại cai quản, còn mình thời rút đại quân về Việt. Đem cả Tây Thi về. Câu Tiễn Phu Nhân mật sai người bắt Tây Thi đem ra bờ sông, buộc viên đá lớn vào người rồi đẩy xuống sông mà bảo rằng:

Nó là vật vong quốc, còn để làm gì.

Phạm Lãi nghe Tây Thi bị Tiễn Phu Nhân dìm chết dưới sông thời than rằng:

Nước nhà còn mất bởi cơ trời

Sao cứ Tây Thi đổ lỗi hoài

Tây Thi nếu làm Ngô mất nước

Thời nay Việt mất bởi tay ai.

Nói về Phạm lãi ở đất Tề một thời gian cải dạng thương buôn trở về Việt Trung Nguyên lén dẫn cả gia quyến đi theo qua sống bên nước Tề ra sức khổ thân cày ruộng không bao lâu thời làm giàu nổi tiếng cả vùng. Sau lại dời đến đất Đào để ở. Tiện đường buôn bán đổi chác gia súc, lúa gạo làm giàu hơn nữa. Tự gọi mình là Đào Chu Công.

Câu Tiễn từ Ngô trở về Việt Trung Nguyên sai sứ đàm phán với nhà nước Văn Lang. Nội dung đàm phán như sau:

Kính Gởi

Quốc Vương Thiên Tử Bệ Hạ.

Bá Vương Trung Quốc.

Là Câu Tiễn. Không thể không nghe Thiên Tử Nhà Chu. Thương lượng cùng Quốc Vương Thiên Tử Bệ Hạ.

Việc Bắc – Nam, chinh chiến hơn mấy mươi năm. Hai bên Nam – Bắc đều không có lợi. Không những làm cho bá tánh muôn dân trăm họ khốn khổ điêu linh. Mà còn gây ra cảnh tang thương chết chóc dân chúng lầm than bỡi binh đao máu lửa. Đất nước hai bên càng ngày càng suy kiệt dân không đủ no nói gì đến mặt ấm than oán khắp nơi. Chi bằng hai bên đi đến hiệp ước giao hòa. Đất ai nấy ở nước giếng không phạm nước ao, nước ao không phạm nước giếng. Hai bên Nam – Bắc cùng có lợi. Nhất là dân chúng sống trong cảnh thái bình, bù đắp lại hơn mấy mươi năm chiến tranh.

Bá Vương Câu Tiễn tôi thiết nghĩ.

Chấm dứt chiến tranh cũng là cái đức của bậc Quân Vương làm cho dân chúng được hưởng thái bình.

Vì thế. Bá Vương Câu Tiễn tôi tuy là Bá Chủ Trung Quốc, cũng như thế lực Nhà Chu, phải nói là vô cùng hùng mạnh. Nếu Bá Vương Câu Tiễn tôi là tay háo chiến, thời nhất định diễn ra một cuộc tranh hùng Nam – Bắc chưa biết ai là kẻ thắng người thua. Nhưng chiến tranh xảy ra trên đất nước Văn Lang, là một điều thiệt hại lớn cho đất nước Văn Lang. Quốc Vương Thiên Tử bệ hạ nên suy nghĩ đưa quyết định giao chiến hay nghị hòa là tùy ở Quốc Vương bệ Hạ.

Bá Vương Trung Quốc Câu Tiễn kính thư.

Hùng Ánh Vương, Chân Nhân Lang xem xong chỉ biết thở dài. Rồi cho người đọc lớn cho triều Thần nghe. Triều thần không ai là không ngán ngẩm cho cuộc chinh chiến Nam Bắc dai dẳng kéo dài mãi thiệt hại không những về kinh tế, mà còn thiệt hại nhân mạng vô số kể.

Hùng Ánh Vương hỏi triều thần:

Ai có ý kiến gì không?

Lạc Hầu Vương nói:

Muôn tâu Quốc Vương Bệ Hạ. Chỉ một nước Việt Trung Nguyên mà hơn mấy mươi năm chúng ta không đánh thắng nổi. Nay Việt Vương Câu Tiễn đem Việt Trung Nguyên dâng cho Nhà Chu tội bán nước đã rành. Nhưng chúng ta không thể làm gì khác hơn vì thế lực Câu Tiễn quá lớn. Không những Bá Chủ Trung Quốc, mà còn có cả thế lực Nhà Chu. Nếu chúng ta không đi đến nghị hòa, thời nước Văn Lang trở thành bãi chiến trường thiệt hại vô cùng to lớn. Nhưng nếu chúng ta chấp thuận lời yêu cầu của Câu Tiễn. Thời coi như Bắc Văn Lang không còn của chúng ta nữa mà là của Phương Bắc trở thành Trung Nguyên Trung Quốc.

Hầu Tôn Vương nói:

Muôn tâu Quốc Vương Bệ Hạ. Vận hóa Cơ Trời không thể cãi được. Theo như lời Quốc Tổ truyền dạy nước Văn Lang mất dần về phương Bắc hiện nay đã xảy ra. Việc nầy chỉ có Quốc Vương Bệ Hạ mới quyết định được. Các thần chỉ biết nghe theo và làm theo.

Hùng Ánh Vương viết một bức thư nghị hòa phân chia Nam – Bắc không ai xâm phạm đến ai nữa. Việt Vương Câu Tiễn không còn lo chiến tranh nữa. Cao ngạo tàn độc. Trung thần can ngăn đều bị giết sạch ăn chơi trác tán còn hơn cả Vua Ngô.

Câu Tiễn làm vua được 27 năm thời chết, tức là năm thứ 8 đời cuối Chu Nguyên Vương. Chu Trinh Định lên ngôi thay thế 469 trước công nguyên. Ở phương Nam Văn Lang là năm thứ 37 Hùng Ánh Vương, Chân Nhân Lang. Sau khi Việt Vương Câu Tiễn qua đời, con cái Việt Vương Câu Tiễn tranh giành quyền lực cấu xé lẫn nhau. Nước Trung Nguyên dần dần dấy loạn Bách Việt nổi lên lật đổ triều đại Việt Vương Câu Tiễn với cái tội. Việt Vương Câu tiễn bán đứng Việt Trung Nguyên cho Nhà Chu. Sự tan rã nhà nước Việt Trung Nguyên bắc đầu từ 468 đến 425 trước công nguyên.

Khi ấy Trung Quốc tan rã mạnh nước nào xưng hùng xưng bá nước nấy. Những nước có thế lực hùng mạnh tranh nhau càng quyết liệt hơn. Như Tần – Sở – Tề – Ngụy – Triệu – Yên – Hàn. Nước Việt Trung Nguyên hỗn loạn tan rã là cơ hội cho Sở – Triệu – Ngụy thôn tính nước Việt Trung Nguyên chia nước Nước Việt Trung Nguyên làm ba Đông – Tây – Nam sau nầy luôn là bãi chiến trường của nhiều nước phương Bắc tranh giành với nhau thôn tính chiếm lấy Việt Trung Nguyên.

VĂN LANG CHIẾN SỰ 3

ĐẾN ĐÂY ĐÃ HẾT

CHỦ BÚT: NGUYỄN ĐỨC THÔNG
 
127 ❤︎ Bài viết: 653 Tìm chủ đề
QUỐC BẢO

CHÂN KINH


LONG

HOA

MẬT

TẠNG


THIÊN ẤN THIÊN BÚT

GÒ HỘI

ĐỨC PHỔ QUẢNG NGÃI

2000

Cao Đức Thắng

LỜI NÓI ĐẦU

CHƯƠNG 1

Tôi là người Việt nên rất yêu mến Cội Nguồn người Việt.

Tôi thường nghe thầy tôi là Đức Hư Không Tạng Diệu Không kể lại rất nhiều lịch sử, nhưng đáng chú ý nhất đó là lịch sử Tiên Rồng.

Thầy tôi kể, lịch sử Tiên Rồng là một lịch sử có thật, lịch sử tốt đẹp nhất của dân tộc Việt Nam. Đã trải qua nghìn năm Văn Hiến do các Vua Hùng tôn thờ truyền lại. Thầy tôi nói, Quốc Tổ Hùng Vương là Đấng Chí Tôn Thiên Đế lâm phàm, đã để lại cho con cháu Việt Nam. Hai di sản quí hiếm.

1 - Là di sản Non Sông Tổ Quốc

2 - Là di sản Văn Hóa Cội Nguồn

Nền Quốc Đạo Tiên Rồng Dân Tộc. Nền Quốc Đạo Tiên Rồng là Tinh Hoa vũ trụ, là tiền đồ ung đúc bao thế hệ tinh thần Dân Tộc, trở thành Dân Tộc Thần Thánh. Rừng vàng biển bạc Non Sông đất nước là tiền đồ ung đúc lên sự giàu sang ấm no hạnh phúc.

Tôi lại hỏi. Thưa thầy: Nền Quốc Đạo Tiên Rồng tốt đẹp như vậy, sao không phát triển truyền bá rộng rãi cho thế hệ con cháu gìn giữ?

Thầy nói: Nền Quốc Đạo Tiên Rồng là Nền Thiên Luật vũ trụ, Hiến Pháp Đại Đồng Tạo Hóa, Đạo Trời, Thiên Đạo. Chỉ dành riêng cho Vua thờ, không phải Đạo của dân thờ. Hơn nữa trình độ dân trí thời ấy quá lạc hậu, tập tục mê tín dị đoan quá lớn. Hơn nữa Nền Quốc Đạo Tiên Rồng lời lẽ thâm sâu khó hiểu nên không thể truyền rộng rãi xuống dân được. Chỉ vào ngày hội lớn mới được nghe. Nhưng đó chỉ là lời truyền dạy khuyến thiện mà thôi, còn Tinh Hoa của Nền Quốc Đạo thì dân khó mà được nghe.

Nền Quốc Đạo Dân Tộc là Nền Hiến Pháp, Luật Pháp trị Quốc an dân, Nền Quốc Học Văn Minh thời đại. Nhất là lọt vào Tà Ma Ngoại Đạo thì nguy hiểm cho đất nước, họ lợi dụng chánh giáo mê hoặc dân chúng, y giáo một đường giảng một nẻo. Bóp méo Luật Thiên chuyện không nói có chuyện có nói không. Nhất là kẻ thù có dã tâm xâm lược. Thì tai họa không biết đâu mà lường.

Thầy nói: Giữ Tổ Quốc Non Sông đã khó. Giữ gìn Nền Quốc Đạo lại càng khó hơn, vì thế Văn Hóa Cội Nguồn được coi như là báu vật vô giá, được giữ gìn nghiêm ngặt. Hơn nữa Thiên Cơ chưa đến thời cơ chưa phù hợp. Thời xa xưa ấy Dân Tộc Văn Lang nói riêng, nhân loại thế giới nói chung. Khoa học thế giới vật chất trên đà đang hình thành tượng búp, chưa thành búp nói gì đến nở hoa khoa học Văn Minh vật chất. Nên chưa chế tạo ra giấy bút tinh vi. Chỉ dùng da Thú thay cho giấy. Còn dùng thanh tre thay cho giấy là sau này mới có. Không những nền Văn Minh vật chất chưa thành búp mà ngay cả chữ viết cũng còn thô sơ lạc hậu không kém. Khó mà diễn tả ý của Văn Kinh. Lấy việc khắc tượng, vẽ hình họa cảnh lên đất, lên đá, lên cây để truyền dạy cho thế hệ sau. Sự truyền dạy ấy không mấy đem lại kết quả. Quốc Tổ Vua Hùng cũng thấy rõ được điều này.

Nên nói rằng ta sẽ trở lại trần gian ở kỳ 3. Là thời kỳ trình độ dân trí lên cao. Khoa học vật chất đã nở hoa rực rỡ. Văn Hóa Cội Nguồn ra đời không có điều kiện để lại Kinh Luân. Mọi chuyện truyền giáo chỉ truyền khẩu cho nhau, thông qua khẩu tự ngôn từ Từ thế hệ này sang thế hệ khác. Cứ thế kéo dài mấy nghìn năm thì chuyện gì xảy ra. Đó là tam sao thất bổn. Làm sai lệch chính văn là đều không tránh khỏi vì thế Nền Tinh Hoa Quốc Đạo cũng dần dần biến mất, thay vào đó là những chuyện sai lệch.

Có thể nói buổi ban đầu truyền giáo, Quốc Tổ Vua Hùng thuyết kể về Con Rồng Cháu Tiên thật. Về sau qua nhiều thế hệ truyền giáo thuyết kể Con Rồng Cháu Tiên, qua những lý luận mơ hồ, kể lần ra loài Rắn nước không còn chút uy lực nào cả. Rồi bị ngoại xâm biến thành con giun dưới chân của chúng, Dân Tộc Tiên Rồng trở thành dân tộc nô lệ. Thế hệ con cháu Vua Hùng càng về sau càng đánh mất Tinh Hoa Văn Hóa Cội Nguồn. Từ một lịch sử anh linh cao đẹp, rồi trở thành một tập quán truyền thuyết chân lý mơ hồ. Từ đây con cháu Tiên Rồng sa vào cảnh tối tăm. Nô lệ ngoại bang, nô lệ Thần Quyền, nô lệ Kiến Thức. Nhất là những nhận thức vô cùng độc hại dẫn đến cảnh nồi da nấu thịt, anh em tàn sát lẫn nhau. Đạo Đức xã hội xuống cấp trầm trọng, dẫn đến chiến tranh triền miên khó mà kết thúc. Đói nghèo lạc hậu đeo bám cuộc đời. Thương thay. Thương thay.

* * *

Hết phần mở đầu Long Hoa Mật Tạng, mời khắp tầng lớp xã hội con cháu Việt Nam, xem tiếp phần 1 chương 2 Long Hoa Mật Tạng Bộ Kinh tối cao, có một không hai trên toàn nhân loại. Chỉ cần đọc qua một lần, thời nhất định siêu sanh lên các tầng trời, cõi trời hoặc trở thành những nhà lãnh tụ thiên tài. Lưu danh mãi nơi hậu thế. Nếu như đọc tụng ấn in, hoặc giảng giải cho người khác nghe, thì công đức phải nói là vô cùng vô tận. Phải nói là cầu đâu linh đó, cầu chi đặng nấy. Bằng có lời chi xúc phạm thì đại họa giáng xuống không biết đâu mà lường.

Chỉ cần khen ngợi một câu

Muôn đời vạn kiếp siêu sanh cõi trời

Chỉ cần xúc phạm một lời

Họa tai giáng xuống đứng ngồi không yên

Linh thiên linh ứng vô biên

Chỉ cần thành kính cũng nên sang giàu.

* * *

CHƯƠNG 2

PHẦN 1

MẶT TRỜI CHÂN LÝ LẶNG BÓNG ĐÊM TRÙM XUỐNG NHÂN GIAN

Vào năm 110 trước công nguyên lúc đó giấy bút thô sơ mới được ra đời. Cho đến 542 sau công nguyên mới có dịp hưng thịnh nhưng chưa tinh vi mấy. Cũng từ đây các học giả Việt Nam. Hồi tưởng về Cội Nguồn. Tìm toài qua sự thờ cúng, Thơ ca, Hò vè, Truyện kể, Khắp mọi miền đất nước. Rồi đúc kết lại viết lên lịch sử Tiên Rồng, làm mối ghiền Bản sắc đoàn kết dân tộc, bảo vệ giữ gìn quê cha Đất Tổ. Đánh đuổi ngoại xâm.

Nhưng tiếc thay các Ngài chỉ là người thường tục. Chưa tu luyện Đắc Đạo nên không có Huệ Nhãn, Pháp Nhãn. Khó mà thấy rõ quá khứ vị lai, phân biệt được sai lệch, giả chân, đúng sai. Trong sự thờ cúng, truyện kể, thơ ca hò vè. Ở quá khứ và hiện tại sai lệch ở điểm nào, ghi đại những thu thập không hiểu là đúng sai cứ kết thành sử liệu, để lại cho đời sau.

Sự truyền khẩu kéo dài, lại thêm sự thêm bớt khi truyền khẩu. Có nhiều điểm vô lý thiếu khoa học. Nào có phải là tinh hoa Văn Hóa Cội Nguồn. Cái sai dây chuyền. Dựa vào đó mà kết thành sử liệu. Khác nào đưa cái sai đến chỗ sai thêm.

Ở đây chúng tôi nêu lên vài điều vô lý. Đối chiếu giữa mình và Trung Quốc ở sát bên nhau. Không những liên quan về Họ Tộc mà còn liên quan nhiều điểm khác nữa. Nếu nói Lạc Long Quân lấy bà Âu Cơ cách đây hơn 4 nghìn năm. Sinh ra một cái bọc đẻ ra trăm trứng nở ra trăm con.

Nếu nói trăm trứng nở ra trăm con, 50 Nam, 50 Nữ, Gái theo Mẹ lên núi, Trai theo Cha xuống biển. Lớn lên gặp lại lấy nhau. Thành Tổ Tiên của người Bách Việt là không có cơ sở khoa học. Vì sao?

Vì vào thời kỳ ấy, cách đây hơn bốn nghìn năm. Thì chỉ trước thời nhà Hạ, trước thời Nghiêu, Thuấn mà thôi. Không những không đúng sự thật mà còn có hại nữa là khác.

Nếu nói Âu Cơ sinh ra 50 Nam, 50 Nữ, Gái theo Mẹ lên núi, Trai theo Cha xuống biển, lớn lên gặp lại lấy nhau trở thành Tổ Tiên của người Bách Việt.

Chỉ ở thời điểm này thời chúng ta đã thấy bất ổn. Họ sẽ cho chúng ta có nguồn gốc loạn luân. Trong khi nước bạn Trung Quốc ở sát bên ta. Ở vào thời kỳ này nền Văn Minh Thần Giáo đang trên đà Văn Minh cực thịnh. Nhơn Luân cũng đã khá rõ ràng, anh em ruột không lấy lộn nhau. Nếu có lấy cũng chỉ là con nhà Cô Cậu, Dì Dượng mà thôi, còn trong họ tộc ít lắm cũng phải qua ba đời. Huống chi Nền Văn Minh Quốc Đạo Tiên Rồng, Văn Hóa Cội Nguồn, Hiến Pháp Văn Lang cấm hẳn anh em ruột thịt lấy lộn nhau.

Nếu còn nói Âu Cơ chỉ sanh một trăm con Trai, tránh đi sự loạn luân, thì nguồn gốc của người Bách Việt lại càng thêm bất ổn. 100 người con trai Âu Cơ lớn lên lấy vợ ở đâu? Và những người vợ ấy là dân tộc nào? Không ai giải thích nổi, đó là nói đến phàm trí. Còn bậc Đại Thánh trí thì thấy quá rõ ràng. Có thể nói tóm tắt câu chuyện, Lạc Long Quân và Âu Cơ sanh ra bọc trứng. Từ bọc trứng nở ra trăm con sau đây.

(Xem Kinh Long Hoa Thiên Tạng sẽ nói rõ hơn)

QUỐC TỔ VUA HÙNG KỂ RẰNG:

Cách đây 3 trăm 27 triệu 600 nghìn năm. Ở vào thời kỳ ấy. Cuối kiếp tăng, đầu kiếp giảm. Thời kỳ ấy là thời kỳ chánh khí. Khí Tiên Thiên dày đặc. Côn trùng thảo mộc, sinh linh vạn vật, muôn loài Cầm Thú tiến hóa rất nhanh. Lại thêm tuổi thọ sống lâu vô kể nên sự sanh sôi nảy nở lan rộng rất nhanh. Cùng khắp mặt Địa Cầu ở khắp năm châu bốn bể. Và cái ác, cái thiện sơ khai cũng từ từ ló dạng ra đời.

Loài Rồng và loài Quỷ thường đánh nhau, sự bất phân thắng bại ấy kéo dài tới hàng triệu triệu năm. Hết tiểu kiếp này sang tiểu kiếp khác.

Cho đến một hôm, Trái Đất xảy ra chuyện lạ. Đó là con người xuất hiện sanh con đẻ cháu, lưu truyền cho đến ngày nay. Cách đây 75 triệu 600 nghìn năm. Giữa tiểu kiếp thứ 5 của kiếp trụ. Tức là ở đỉnh kiếp tăng đầu kiếp giảm.

Thời kỳ ấy ở phương Đông có một dãy núi cao, to, rộng lớn vô cùng. Quanh năm tuyết phủ che lấp hết thảy ngọn núi, khí lạnh bao trùm. Chim muôn vạn thú ở dãy núi này đông vô số nhiều vô biên, không thể tính đếm hay luận bàn cho hết được. Phần nhiều muôn loài Cầm Thú đều có pháp thuật thần thông. Sự đi đi lại lại của các loài Cầm Thú thường gây lên những cơn gió lốc. Cây cối ngã đổ ầm ầm. Lại thêm loài Rồng đánh nhau với các loài Quỷ dữ dội. Nhất là đánh nhau với Mộc Tinh, Hồ Tinh và Ngư Tinh tạo ra cảnh mù trời mịt đất. Chết chóc ghê hồn.

Ngọn núi cao chót vót khoảng độ 10 nghìn mét, dài, to, rộng ấy, bao hàm rộng lớn gồm 3 nước. Lào, Campuchia và Việt Nam, hình thể như một con Rồng vươn mình bay về vũ trụ.

Chân núi ở phía Đông rộng xa kéo dài thăm thẳm, giáp liền tới các Đảo. Ngày nay gọi là Đảo Hải Nam, Trường Sa, Hoàng Sa.

Chân núi ở phía Nam kéo dài rộng xa thăm thẳm. Giáp liền tới các Đảo Na Tu Na, MÃ LAI (Malaysia).

Chân núi ở phía Tây kéo dài rộng xa thăm thẳm. Giáp liền Mê gui, Ta voi, Nam tu, Mit ti na, Miến Điện (Myanma).

Chân núi ở phía Bắc bao trùm cả Quảng Đông, Quảng Tây, Vân Nam, Quý Châu. Nói chung bao trùm hầu hết giang Nam lĩnh Nam Trung Quốc.

Một dãy núi cao to đã kinh khiếp. Cộng thêm chân núi bốn phía xung quanh bao trùm rộng lớn như đã kể trên. Chưa hết, còn có 7 dãy núi khác nữa, bao bọc xa gần. Nói chung là 7 nước xa gần là 7 nước Đông Nam Á hiện nay.

Một dãy núi cao dài rộng lớn kinh khiếp ấy. Hình thể như một con Rồng vươn mình bay lên hư không vũ trụ. Nên gọi dãy núi đó là dãy núi Long Hoa. Long Hình Địa Cốt. Địa Long của quả Địa Cầu.

Ở dưới dãy lòng núi, nằm sâu dưới đất. Có một khoảng trống chạy dài theo dãy núi. Linh Địa đều tập trung nơi đây. Trải qua hàng triệu triệu năm. Linh tuyền linh. Cốt của Địa Long hết sức quí hiếm. Trên đỉnh núi tuyết phủ quanh năm, khí hậu lạnh lẽo.

Lưng chừng núi rải rác có hàng trăm hàng nghìn cái động lớn. Hàng vạn cái động nhỏ. Phần do tự nhiên. Phần do Thú Cầm có pháp thuật thần thông tạo ra. Quang cảnh nhộn nhịp bởi quá đông chim muôn vạn thú. Cây cao bóng cả tàng tán xum xuê. Xanh um bạc ngàn lớp áo bọc ngoài dãy núi. Hoa văn sặc sỡ chen nhau đua sắc đua hương của nhiều loại hoa. Thêm vào đó là những quả chín đỏ chín vàng. Lúc nào cũng mỉm cười với những cụm đá chồng ngộ nghĩnh. Cành lá rung rinh theo chiều gió, suốt ngày suốt đêm làm bạn hàng nghìn, hàng trăm đám mây ngũ sắc la đà bay lượn xung quanh dãy núi. Làm cho quang cảnh xung quanh của núi có muôn vạn đèo mây.

Dãy núi Long Hoa đẹp như Thiên Sơn Tiên Cảnh, Còn bốn bên chân núi thì rừng xanh thăm thẳm, trải dài vô tận. Suối, sông, ao, hồ tuôn chảy ngày đêm không ngớt. Thời tiết ở bốn phía chân núi chuyển vận theo bốn mùa Xuân, Hạ, Thu, Đông. Khi Chân Núi phía Bắc khí hậu lạnh, mưa to, gió lớn. Thì chân núi ở phía Nam lại là mùa nắng ấm. Chân núi ở phía Tây lạnh lẽo, mưa gió lụt lội. Thì ngược lại chân núi ở phía Đông lại là mùa khô ráo hạn hán. Cứ thế ở bốn phía chân núi thời tiết luân phiên trái ngược nhau.

Có thể nói dãy núi Long Hoa. Long Hình Địa Cốt. Là dãy núi thể hiện đầy đủ huyền Thiên Tạo Hóa, Vô Cực, Thái Cực, ÂM DƯƠNG, Lưỡng Nghi, Tứ Tượng, Ngũ Hành, Bát Quái, Thiên Can, Địa Chi, Hào Quẻ, biến hóa ảo diệu vô cùng. Phải nói là dãy núi linh thiêng nhất của Trái Đất. Trung tâm khí Thiên sông núi, linh ứng của Quả Địa Cầu. Là một Thánh Địa để cho con người ra đời và thật vậy.

* * *

Hết phần 1 chương 2 Long Hoa Mật Tạng, mời xem tiếp phần 2 chương 2. Long Hoa Mật Tạng kinh là bộ kinh quý hiếm không thể nghĩ bàn, những người hữu duyên chỉ cần đọc qua một phần kinh thì coi như tội lỗi tiêu tan muôn vạn ức kiếp, rốt sau đều thành Phật Tổ, Thánh Tổ, Chúa tổ, giáo hóa vô lượng cõi nước trời. Nếu đem in ấn, biên chép truyền bá cho đời, thì phước đức không kể sao cho hết. Không những Ông Bà Cha Mẹ siêu thăng về thượng giới. Mà con cái cháu chắt hiển vinh đời đời, giàu sang bậc nhất.

Long Hoa Mật Tạng quí biết bao

Muôn nghìn ức kiếp khó tìm cầu

Chỉ cần đọc tụng truyền bá khắp

Vua Trời mãi mãi đấng tối cao.

* * *
 
Last edited by a moderator:
127 ❤︎ Bài viết: 653 Tìm chủ đề
CHƯƠNG 2

PHẦN 2

CHA TRỜI – ĐỊA MẪU

XUẤT HIỆN

LẠC LONG QUÂN VÀ ÂU CƠ

Lúc bấy giờ nơi cõi Hư Không trung tâm vũ trụ, Đức Khai Hóa Tối Thượng Tổ Tiên thấy muôn loài Cầm Thú sát phạt lẫn nhau, không còn tiến hóa được nữa với cái tánh ngu si mê muội ác độc, ngự trị mãi linh Hồn của chúng, đầu thai lẩn quẩn, lộn qua lộn lại ở loài Cầm Thú mà thôi.

Tổ Tiên Khai Hóa nhìn vũ trụ nghĩ, giang sang ta rộng lớn thế này, không người cai quản với tính chất ngu si của loài Cầm Thú thì khó mong làm chủ được vũ trụ, chớ đừng nói đến linh Hồn của chúng giác ngộ trở về Cội Nguồn. Chúng mãi mãi ở lớp Thú Cầm, rồi đọa lạc sang Côn, Trùng, Thảo, Mộc.

Linh Hồn 8 muôn 4 nghìn loài sống trong vũ trụ nói chung, bốn quả Địa Cầu nói riêng linh Hồn của chúng cũng chính là linh Hồn của ta, ở hai dạng khác nhau. Ta nước, chúng là bọt nước. Linh Hồn của ta Đại Linh Hồn vũ trụ ví như nước. Còn linh Hồn 8 muôn 4 nghìn loài là tiểu linh Hồn vũ trụ, ví như bọt nước. Tiểu Linh Hồn do Đại Linh Hồn tạo ra. Cũng như bọt nước là do nước tạo ra. Nước chỉ là một, còn bọt nước thì nhiều vô lượng vô biên.

Linh Hồn của chúng không phải do trí giác ta tạo ra mà do thân giác vũ trụ ta tạo ra. Khi trí giác vũ trụ ta ngủ sâu vào Đại Định, không còn kiểm soát thân giác nữa Thân giác ta liền khởi ý phân biệt xâm nhập vào thế giới vật chất. Thế là trở thành Tiểu Linh Hồn vũ trụ nhiều vô lượng vô biên không thể tính đếm, không thể nghĩ bàn.

Linh Hồn của chúng sanh ra khi ta còn đang ngủ. Nên Linh Hồn của chúng vì đó mà tối mê chìm đắm mãi trong cảnh giới vô minh không bao giờ trở về Cội Nguồn được. Cũng như bọt nước u mê, thì không bao giờ hiểu chúng từ nước sanh ra và Tiểu Linh Hồn cũng thế. Không bao giờ hiểu mình từ Đại Linh Hồn sanh ra vì không hiểu rõ Nguồn Cội của mình. Cứ trôi lăn mãi trong sanh tử, đầu thai qua lại ăn nuốt lẫn nhau, Ác tánh khởi sanh như non, như núi, xung đột tàn sát khốc liệt. Vì hiểu rõ muôn loài Cầm Thú tiến hóa đến đây thì không còn tiến hóa được nữa, cũng như trí giác Linh Hồn của muôn loài Cầm Thú không bao giờ tìm thấy Đại Linh Hồn vũ trụ trở về với Cội Nguồn.

Nên Khai Hóa Tổ Tiên mới hiện thân ra con người.

(Xem Kinh Long Hoa Thiên Tạng nói rõ điều này hơn)

Lưu truyền nòi giống con người để mà cứu chúng. Lưu truyền nòi giống con người có nhiều mục đích:

1: Là để cho các loài Cầm Thú, đầu thai làm người. Một thể xác cao cấp tiểu thiên vũ trụ.

2: Linh Hồn muôn loài Cầm Thú nhờ thể xác con người, thể xác cao cấp tiểu thiên vũ trụ. Tiến hóa Linh Hồn nhanh chóng lên cảnh giới, Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa.

3: Thay thế Tổ Tiên cai quản điều hành vũ trụ, lúc Tổ Tiên ngủ, cũng như lúc Tổ Tiên thức.

4: Điều hành nhân loại còn ở cảnh giới phàm, phàm phu theo Thiên Đạo. Hiệp theo bộ máy huyền vi của Tạo Hóa. Hiệp theo Thiên Luật Cội Nguồn.

5: Thay thế Tổ Tiên. Khai tạo lập lên cảnh giới Thiên Đàng Cực Lạc. Cảnh giới cao nhất của loài người.

6: Duy trì: Mật Tạng, Pháp Tạng, Thiên Tạng, Luật Tạng, Công Đạo Hiến Pháp vũ trụ.

7: Đại Đồng vũ trụ, Độc Lập thống nhất bình đẳng, đem lại sự bình yên cho toàn vũ trụ.

8: Phát minh khoa học toàn năng toàn giác, tinh thần, vật chất. Phục cho nền Văn Minh vũ trụ.

9: Trở về Cội Nguồn. Ví như bọt nước tan biến trở về là nước. Tiểu Linh Hồn trở về Đại Linh Hồn. Trở về thật tánh thật tướng của mình. Vô thỉ vô chung như như bình đẳng.

10: Là hiện thân toàn năng toàn giác lập ra vô lượng phương tiện. Phù hợp khả năng ở mỗi thời kỳ, độ tận thiên hạ. Sự hiện thân của Tổ Tiên Khai Hóa, lưu truyền nòi giống con người có 10 mục đích như thế, lợi ích như thế nhưng Tổ Tiên hiện thân bằng cách nào. Khi Tổ Tiên bản thể vốn vô vi, muốn hiện thân thành hữu vi phải có cơ sở khoa học của nó.

Tổ Tiên Khai Hóa phải dùng đến ý niệm tóm thâu, giống như Lực Nam Châm hút lấy sắt, thép, kẽm, chì. Tổ Tiên dùng ý niệm tóm thâu Tiên Thiên Tinh Hoa vũ trụ. Hiện thân ra Đức Cha Trời, đủ 32 tướng tốt, 80 vẻ đẹp, hào quang sáng chói. Tổ Tiên lại tiếp tục dùng ý niệm, tóm thâu Tiên Thiên Chơn Âm, Tinh Hoa vũ trụ. Hiện thân ra Đức Địa Mẫu đủ 32 tướng tốt, 80 mươi vẻ đẹp hào quang sáng chói.

Sự hiện thân của Tổ Tiến, một âm một dương, một nam một nữ. Làm cho không gian bỗng sáng rực rỡ. Như báo hiệu Đức Cha Trời Đức Địa Mẫu ra đời, chuẩn bị cho cuộc hành trình lưu truyền nòi giống con người. Thay thế Tổ Tiên trông coi vũ trụ.

Đức Cha Trời khi có con gọi là Đức Lạc Long Quân.

Đức Địa Mẫu khi có con gọi là Đức Âu Cơ.

Đức Cha Trời cùng Đức Địa Mẫu, chọn lấy quả Địa Cầu Nam Thiện Bộ Châu. Quả Địa Cầu mà chúng ta đang sanh sống, làm nơi sanh sản con người trước nhất. Từ nơi chốn hư không trung tâm vũ trụ, Hai Đấng Tiên Rồng, Cha Trời, Địa Mẫu từ từ bay đến Trái Đất và đáp hạ xuống đỉnh núi Long Hoa, Long Hình Địa Cốt Trái Đất. Làm cho Trái Đất rung động. Chim muôn vạn thú kinh hoàng hoảng sợ, không biết điều gì đã xảy ra. Mây ngũ sắc bỗng nhiên xuất hiện. Dưới mặt đất muôn hoa chen nhau đua nở, cây cối khô héo lâu ngày bỗng đâm chồi nảy lộc xanh tươi trở lại. Sông suối khô cạn, tự nhiên nguồn mạch sung túc róc rách chảy tuôn thấm nhuần mặt đất. Bầu Trời mát mẻ trong xanh, Nhật Nguyệt Tinh Tú thi nhau tỏa sáng. Dưới đất trên cây Phụng Hoàng nhảy múa. Rồng uốn khúc ngúc ngoắc vẫy đuôi, 8 muôn 4 nghìn loài như đi vào an lạc mới.

Từ nơi ngọn núi Long Hoa, muôn đạo hào quang tỏa lên rực rỡ, mang theo mùi hương thơm ngát Loài Cầm Thú nào hít được thì không còn đói khát, như uống phải cam lộ, Linh Đơn. Linh Hồn phấn chấn như muốn bay bổng lên Trời. Các loài Cầm Thú có pháp thuật thần thông, thấy ngọn núi Long Hoa, muôn Đạo hào quang tỏa lên rực rỡ thì bốn phương tám hướng quả Địa Cầu, các loài Thần Thú, Thần Cầm lũ lược bay đến làm cho ngọn núi Long Hoa trên không dưới đất chật nghẹt. Ngày hội của Thú Cầm.

Đây nói về Đức Cha Trời cùng Địa Mẫu đáp xuống ngọn núi Long Hoa gây ra chấn động Địa Cầu. Liền thâu nhỏ thân hình lại cao độ vài mươi trượng mà thôi. Đức Địa Mẫu Âu Cơ liền gồm thâu ngũ khí: Địa, Kim, Mộc, Thủy, Hỏa ở bốn phương Đông, Tây, Nam, Bắc và Thổ Khí Linh truyền sâu dưới dãy núi Long Hoa để tạo thành phôi thai trăm trứng cùng trong một cái bọc to lớn trong bụng Đức Mẹ Địa Mẫu Âu Cơ.

Núi Long Hoa là dãy núi hình Rồng, thu hút Tinh Hoa của Trời Đất hàng triệu triệu năm: Vô Cực, Lưỡng Nghi, ÂM DƯƠNG gồm đủ, tứ tượng đủ đầy, bát quái chuyển xây, Ngũ Hành, Địa Chi không thiếu, một trăm chi khí, trấn khắp ngũ phương Đông, Tây, Nam, Bắc, Trung Ương Thượng, Hạ.

Đức Địa Mẫu Âu Cơ tóm thâu Tinh Hoa, khí hóa Ngũ Địa của dãy núi chân núi Long Hoa là Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ kết tụ thành trăm trứng trong một bọc, trăm trứng vì vậy cũng chia thành năm màu da khác nhau.

Kim trứng da trắng. Mộc trứng da chàm. Thủy trứng da đen. Hỏa trứng da đỏ. Thổ trứng da vàng.

Sự hình thành phôi thai, dưỡng nuôi bào thai phải trải qua một thời gian khá lâu, đúng chu kỳ luật tự nhiên ở đỉnh cao tuổi thọ giữa tiểu kiếp thứ 5, con người sanh ra trung bình thọ 60 nghìn tuổi, yểu 40 nghìn tuổi, thọ 80 nghìn tuổi. Nên Địa Mẫu Âu Cơ phải mang thai 9 năm, 9 tháng, 10 ngày thời thai nhi mới phát triển đầy đủ, lục phủ ngũ tạng, sáu căn, chín khiếu hoàn hảo. Trở thành con người hài nhi (xác thân tiểu thiên vũ trụ) . Tinh Cha, Huyết Mẹ, Tinh của Trời, Khí của Đất. Đức Địa Mẫu Âu Cơ đã mang thai trăm trứng. Sắp đến ngày khai hoa nở nhi, nhân loại con người sẽ ra đời, chào đời, sắp đến giờ quan trọng ấy.

Đức Địa Mẫu Âu Cơ nói với Đức Long Hoa Cha Trời rằng:

Này ông, giờ thì đến lượt ông, ông hãy gọi muôn loài Cầm Thú đến, để chúng đầu thai làm con người, làm con của chúng ta.

Đức Long Hoa Cha Trời nghe Địa Mẫu Âu Cơ nói thế tức thời từ nơi cửa miệng của Đức Long Hoa Cha Trời, trùng trùng điệp điệp lớp lớp hào quang tung tủa phóng ra, tạo ra vô số vô biên âm thanh vi diệu, truyền xa đến tận chân trời góc bể khắp quả Địa Cầu.

Chim muôn vạn thú là những con chúa tể đầu đàn nghe được âm thanh ấy liền cấp tốc lên đường đến nơi Cha Trời đang gọi. Lúc bấy giờ xa gần trên không, xa gần ở đỉnh núi Long Hoa. Lớp lớp mây ngũ sắc biến thành cây báu khổng lồ, các loài Cầm Thú khắp mặt Địa Cầu, loài ở động ở hang, loài ở rừng ở núi, loài ở cây ở đất, loài ở sông ở biển, loài ở tuyết ở lửa, thi nhau bay đến ngọn núi Long Hoa rợp trời rợp đất. Nhìn các loài Cầm Thú đông vô số vô biên, không thể tính đếm không thể nghĩ bàn, lớp ở mặt đất, lớp ở trên cây báu, lớp ở trên không, Chúa Tể của loài bò sát, Cầm Thú đều có mặt.

Các loài Thần Thú, Thần Cầm thấy hai Đấng Tiên Rồng, cao lớn kỳ lạ. Hào quang sáng rỡ muôn màu muôn sắc. Xinh đẹp tôn nghiêm. Nhưng rất hiền lành, có loài bạo dạng đến gần để nhìn cho rõ.

Địa Mẫu Âu Cơ thấy Chúa Tể của muôn loài đến đông đủ, toàn thân của Địa Mẫu Âu Cơ, trổi dậy vô lượng mùi hương lan tỏa khắp, muôn loài Cầm Thú, Bò Sát chỉ cần hít vào, không những hết đói khát cả tháng mà Linh Hồn cũng sáng suốt minh mẫn lạ thường, nhạy cảm vô biên.

Nhất là loài Rồng, loài Phụng, loài Khổng Tước, loài Kỳ Lân, loài Voi, loài Sư Tử, loài Ngựa, Trâu, Dê, Chó, Mèo, v. V.. Đức Long Hoa Cha Trời thấy chúng nó đã hít huệ hương, trí hương, giác hương, giới hương, định hương, thiện hương, dũng hương, tín hương, nghĩa hương, lễ hương, nhẫn hương, xả hương, nhịn hương, nhục hương, lạc hương, thiên hương, v. V.. Liền dùng trăm nghìn muôn ức hào quang phát ra muôn vạn âm thanh vi Diệu, cùng một lúc thuyết giáo nói chuyện với muôn nghìn chủng loại Cầm Thú, Bò Sát.

LỜI TRUYỀN DẠY CỦA ĐỨC CHA TRỜI:

Hỡi các loài Cầm Thú, các loài Bò Sát, ta đây là Đấng Chúa vũ trụ, Đấng tạo lập lên tất cả. Nay ta gọi các ngươi đến đây nói rõ các ngươi từ đâu có ra thì các ngươi phải hiểu để biết đường trở về, thoát khỏi cảnh luân hồi sanh tử, thoát khỏi cảnh ngu si khốn khổ. Khi xưa ta tạo ra Lực, Khí, Lửa, Nước, Đất Ngũ Đại vũ trụ. Thành lập Tam Thiên, Đại Thiên thế giới, ba cõi vật chất Thiên Đàng, Trần Gian, Âm Phủ. Tạo ra Nhật, Nguyệt, Thiên Hà, Ngân Hà, Tinh Tú, Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ sau cùng là 4 quả Địa Cầu. Thì ta cũng đã quá mệt nên đi vào giấc ngủ say sưa. Ta có một cái tánh đặc biệt, khi ta thức thì pháp thân ta Quang Minh, nhưng khi ta đi vào giấc ngủ say sưa, không kiểm soát được pháp thân của ta nữa. Pháp thân ta liền trở thành vô minh, xâm nhập vào thế giới vật chất. Khởi tưởng phân biệt bám lấy vật chất, từ bản thể linh giác Thấy, Nghe, Hay, Biết tự nhiên của ta, nẩy sanh khởi tưởng phân biệt, tức thời thân ta một phần lớn bể ra từng mảnh nhỏ, nhiều vô số vô biên không thể tính đếm, không thể nghĩ bàn như vô số vi trần cát bụi vô tận vô biên. Những mảnh bể Linh Hồn đó đã trải qua vô lượng vô biên số kiếp, tiến hóa ý thức, những mảnh Linh Hồn đó chính là Linh Hồn của các ngươi.

Linh Hồn của các ngươi ví như bọt nước, còn Linh Hồn của ta ví như nước. Bọt nước từ nước sanh ra nhưng bọt nước không biết Cội Nguồn của mình là nước. Ta là Đại Linh Hồn vũ trụ còn các ngươi là Tiểu Linh Hồn vũ trụ. Tiểu Linh Hồn từ Đại Linh Hồn mà ra nhưng Tiểu Linh Hồn các ngươi không biết đường về, bởi vì các ngươi sanh ra mang theo cái tánh vô minh ấy của ta, trở thành tánh ngu si của các ngươi, cũng từ cái tánh ngu si này, dẫn dắt các ngươi đến con đường hung ác, con đường Dục Vọng, cấu xé ăn nuốt lẫn nhau và mãi mãi trong thống khổ, Dục Vọng Điên Cuồng.

Không những các ngươi khốn khổ trong cuộc sống sát phạt, ăn nuốt lẫn nhau mà còn khốn khổ trong sanh tử luân hồi đọa đầy khắp nẻo. Khốn khổ trong bộ mấy tuần hoàn vũ trụ, Thành, Trụ, Hoại, Không. Linh Hồn các ngươi phải lại chìm đắm trong lạnh lẽo, tối tăm ở kiếp không hàng trăm triệu năm.

Linh Hồn của ta ví như nước, Linh Hồn của các ngươi là bọt nước. Bọt nước với nước chính là một không phải hai, mà là hai vì Linh Hồn của các ngươi là bọt nước còn Linh Hồn của ta là nước mà thôi. Nước không xa rời bọt nước, chính bọt nước không biết đấy thôi, Linh Hồn bọt nước của các ngươi đang sống trong Đại Linh Hồn vũ trụ nước của ta vì bọt nước và nước không tách rời nhau, nếu bọt nước tách rời khỏi nước thì bọt nước sẽ bị hủy diệt. Linh Hồn của các ngươi cũng vậy, nếu tách rời khỏi Đại Linh Hồn vũ trụ của ta thì Linh Hồn các ngươi sẽ bị hủy diệt ngay. Các ngươi nghĩ gì, làm gì ta đều nghe thấy tất cả, cũng giống như cá sống trong nước, cá làm gì, nghĩ gì nước đều thấy rõ.

Thân xác của các ngươi là thân xác Cầm Thú, Bò Sát khó mà tiến hóa lên được nữa, Linh Hồn của các ngươi mãi là Linh Hồn Cầm Thú, Bò Sát, đầu thai qua lại ăn nuốt sát phạt, trả quả cho nhau khổ mãi không ngừng.

Các ngươi nên nhân cơ hội này xả bỏ xác thân Cầm Thú, Bò Sát, Linh Hồn đầu thai vào loài người, một thể xác cao cấp thể xác Tiểu Thiên vũ trụ. Không những Linh Hồn các ngươi tiến hóa rất nhanh trí huệ vô tận, nhờ thân xác con người các ngươi tiến tới làm chủ được mình, làm chủ vũ trụ, không những các ngươi thoát khỏi loài Thú, Cầm, Bò Sát, ngu si đần độn. Được làm người đứng thẳng, đầu đội Trời chân đạp đất, không những các ngươi thoát khỏi ngu si đần độn, được làm người, làm con của ta, các ngươi sẽ thay ta, trông coi vũ trụ, đầy đủ Thần Thông trí huệ, phước báo pháp lực vô biên, tạo lập lên thế giới Thiên Đàng Cực Lạc, sống mãi không chết. Thoát khỏi Sanh, Lão, Bệnh, Tử.

Loài nào đầu thai làm người trước, loài đó sẽ ở ngôi vị Chí Tôn, làm đàn anh của loài người và tiếp theo ngôi vị sẽ phân theo thứ lớp.

Khi Đức Long Hoa Cha Trời thuyết giáo xong, liền có 100 Thần Thú, Cầm, Bò, Sát là những Chúa Tể đứng đầu. Thú, Cầm, Bò, Sát vui mừng khôn xiết liền xả bỏ thể xác, đầu thai nhập vào bụng Mẹ Âu Cơ. Chúa Tể loài Rồng xả bỏ thân xác nhanh chóng, đầu thai trước nhất ở ngôi số 1, kế đến là Phụng Hoàng, Khổng Tước, Kỳ Lân ở ngôi số 2, kế đến là Voi, Sư Tử ở ngôi số 3 rồi đến Ngựa, Trâu, Hổ, Gấu, Khỉ, Chó, Mèo, v. V.. (năm ngôi).

Chỉ riêng có 3 con Chúa Tinh yêu quái đứng đầu, các loài không phải Cầm, không phải Thú.

Một là loài Chồn Cáo có cánh: tánh đa nghi xảo hoạt, trộm cướp lén lút, thích nửa tối nửa sáng là lối sống của chúng, nghi ngờ lời thuyết giáo của Đức Cha Trời nên bỏ cơ hội làm con của Trời.

Hai là loài Thuồng Luồng có cánh: không phải Cầm, không phải Thú, không phải loài Bò Sát, tánh tình hung dữ, đa nghi, mưu mẹo, ác độc, háo chiến háo sát, chúng hủy diệt cả tổ tông của chúng là loài Khủng Long. Với cái tính hung ác, đa nghi, bảo thủ cao. Chúng không nghe lời Đức Cha Trời bỏ mất cơ hội làm con của Tiên Cơ Địa Mẫu, làm con của Đức Cha Trời.

Ba là loài cây sống lâu năm: đó là cây Mộc Hương, loài cây ăn thịt. Loài cây này chuyên tiết ra mùi hương lạ dụ các loài Động Vật đến, kể cả các loài Cầm Thú. Chúng cũng được Cha Trời gọi đến nhưng chúng tự cao đến để thực hiện mưu đồ hưởng lợi từ hai bên Cha Trời Địa Mẫu và các loài Động Vật Cầm Thú, Bò Sát. Không những chúng không chịu đầu thai mà chúng còn tỏ thái độ ganh ghét, sự cao sang, uy lực, thần thông quảng đại của Đức Cha Trời cũng như Địa Mẫu Âu Cơ.

Đức Cha Trời, Địa Mẫu Âu Cơ tuy biết thế nhưng cũng để yên cho chúng không phê phán gì, mà nghĩ chúng là kẻ có lợi cho sự tu luyện, con cái nhà Trời. Muốn tu luyện mau thành chánh quả phải nhờ cái ác khảo đảo phản tỉnh, có Đại Ác thì mới thấy Đại Thiện, thấy cái xấu thì mới quí cái tốt, thấy khổ mới đi tìm sự vui, muốn có Cõi Thiên Đàng Cực Lạc phải thoát ra từ cõi Địa Ngục.

Vì hiểu thế Đức Cha Trời không làm hại chúng mà còn nói:

Này ba con quỷ, Luật Trạng vũ trụ rất công minh, nếu ngươi thắng được con ta, thì các ngươi có quyền làm chủ vũ trụ.

Ba con quỷ nghe Đức Cha Trời phán thế không những không cảm ơn mà còn cao ngạo phóng lên không trung bay đi đầy thách thức. Đức Cha Trời thấy thế liền nở nụ cười đầy bí hiểm, khó ai hiểu được thâm ý của Trời, bí mật mãi mãi là bí mật.

Từ khi Chúa Tể của các loài Cầm Thú, Bò Sát đầu thai vào bụng Mẹ Địa Mẫu Âu Cơ để được làm người, làm con Trời phải trải qua chín năm, chín tháng, mười ngày mới chào đời, trong thời gian ấy Đức Địa Mẫu Âu Cơ phải luôn luôn tóm thâu tinh hoa khí hóa Thiên Địa để nuôi con từng ngày từng giờ. Với công lao ấy không có gì đền đáp nỗi.

Đức Cha Trời nhìn sự kham khổ của Địa Mẫu liền ngẫm nghĩ. Vì muốn sanh ra nhân loại con người, lưu truyền nòi giống con người. Để cho muôn loài vạn vật, Côn Trùng, Thảo Mộc muôn loài Cầm Thú tiến hóa lên, được đầu thai làm người. Tiến hóa Linh Hồn trở về Nguồn Cội giải thoát sanh tử, khốn khổ.

Địa Mẫu Âu Cơ mang thai theo quy luật tự nhiên của phàm trần, theo thời kỳ ấy, thì những người con của Địa Mẫu mới ở lại sống trong chốn nhân gian, nơi quả Địa Cầu này, một thứ khổ, mang thai, sanh con, nuôi con mà Địa Mẫu Âu Cơ là người đầu tiên trải qua kham khổ, khổ nhọc ấy.

Thật ra mà nói với Thần Lực của Đức Cha Trời và Địa Mẫu thì không cần mang thai đẻ con lâu như vậy (mà chỉ cần nháy mắt là tạo ra hàng loạt con người) . Nhưng những con người đó chỉ là những con người bằng pháp thuật không phải con người trần tục, xác thân phàm trần, ăn uống đói khát theo quy luật tự nhiên, sanh con đẻ cháu lưu truyền nòi giống con người, chịu kham khổ tu hành tiến hóa, lập công trong Văn Hóa Cội Nguồn, tiến lên cảnh giới Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa lối sống có nhân có quả, gieo Thiện gặt Thiện, gieo ác gặt ác, gieo phúc gặt phúc, gieo họa gặt họa theo quy luật tự nhiên.

Vì vậy để khai tạo ra con người phàm tục, sống chung với muôn loài vạn vật, Đức Địa Mẫu Âu Cơ phải trải qua sự khốn khổ mang thai, nuôi thai, sanh con đều trải qua sự khốn khổ lâu dài. 9 năm 9 tháng 10 ngày mới khai hoa nở nhị.

Đức Địa Mẫu Âu Cơ đã biết sắp đến giờ sanh nở, bằng nói với Đức Long Hoa Cha Trời rằng:

Ông hãy ban cho con cái lời nguyền Hồng Phúc đi.

Đức Long Hoa Cha Trời nhìn về vũ trụ giang sang rộng lớn của mình, chưa có người trông coi và sáng tạo thêm cho xinh đẹp. Lập thành các cõi nước trời trang nghiêm. Đức Cha Trời lại nghĩ rằng. Ta là hiện thân của Đức Tổ Tiên, đấng tối cao vũ trụ, đấng chúa của Linh Hồn và vật chất. Ta cũng cần có người kế nghiệp, đó chính là con cái của ta, thay thế ta làm chủ vũ trụ. Đức Cha Trời lại nghĩ, pháp thân ta vô cùng vi Diệu khó mà nghĩ bàn. Đó là Cội Nguồn của tất cả Trời Đất, vạn vật sanh linh cùng vũ trụ, pháp thân ta là pháp thể Đại Đồng, Tự Do, Bình Đẳng, Hiến Pháp công đạo vũ trụ. Ta cũng cần có người thay thế, duy trì Công Đạo vũ trụ, cầm cân nảy mực phân minh.

NÊN ĐỨC CHA TRỜI PHÁN TRUYỀN RẰNG:

Này hỡi các con của ta, khi các con chào đời sẽ vang tiếng sấm trí tuệ, tiếng sấm Chúa Tể của muôn loài. Các con sẽ có trí Huệ, sáng hơn mặt trời, sáng hơn hào quang của ta, các con sẽ trở thành Phật, Thánh, Tiên vào ba ngôi báu của ta. Đó là Pháp Tạng, Thiên Tạng, Luật Tạng vào ngôi Chí Tôn, thay thế ta điều hành vũ trụ và lập lên các cõi nước Trời, các Thiên Đàng Cực Lạc làm cho Tam Thiên, Đại Thiên vũ trụ mỗi ngày một thêm rực rỡ, xinh đẹp, trang nghiêm.

Lời nguyền của Đức Long Hoa Cha Trời vừa dứt, thì Địa Mẫu Âu Cơ đã sanh ra một bọc to lớn khổng lồ, sau đó là một tiếng nổ kinh thiên động địa, chấn động toàn vũ trụ. (Tiếng sấm Đại Đồng) kế theo là một trăm tiếng sấm nổ làm chấn động liên miên vũ trụ như muốn đến hồi sụp đổ. Như báo hiệu cho tất cả muôn loài vạn vật biết là nhân loại con người đã ra đời thay thế cha ông làm chủ vũ trụ, cai quản thế giới vật chất cũng như thế giới Linh Hồn, kế tục và gìn giữ cơ nghiệp vũ trụ của Ông Cha. Các loài Cầm Thú, Bò Sát vô cùng hoảng sợ, khiếp đảm khi nghe tiếng sấm vang dậy liên tiếp nổ ra làm rung chuyển cả Trời Đất, chấn động không gian vũ trụ, chúng linh cảm là hàng loạt Chúa Tể con người đã ra đời, từ đây chúng sẽ bị cai trị.

Chúng thấy trùng trùng điệp điệp muôn Đạo Hào Quang tỏa lên từ đỉnh núi Long Hoa, và không hiểu chuyện gì đang xảy ra. Chúng liền bay lên không trung hướng về ngọn núi Long Hoa, mỗi lúc một dữ dội. Âm thanh sấm nổ cứ vang rền mãi không dứt. Làm rung động cả núi rừng, cả năm châu bốn bể.

Nhất là ba con Quỷ tâm Hồn hoảng loạn, run sợ không hiểu chuyện gì đang xảy ra. Chúng liền bay lên không trung hướng về ngọn núi Long Hoa bay tới thì hết sức kinh hoàng. Một trăm người con của Đức Cha Trời đã ra đời.

Những tia hào quang tỏa ra từ trăm người con của Đức Cha Trời, làm chúng đau đớn ngạt thở. Như hàng vạn mũi kim đâm vào tim chúng, làm chúng hoảng sợ, khiếp kinh ẩn mình, trốn thoát không dám quay đầu nhìn lại nữa.

Khi ấy những dòng sữa của Đức Mẹ Địa Mẫu Âu Cơ tuông chảy ra và mọc lên hàng loạt ngũ cốc, dần dần lan ra khắp cùng mặt đất. Khi con người đi đến đâu, thì nơi đó có dòng sữa Mẹ ngũ cốc để sinh sống.

Đức Long Hoa Cửu Huyền Cha Trời nói:

Này Bà, không bao lâu nữa thì dãy núi Long Hoa sẽ bị sụp. Đất đai phương Đông này động đất dữ dội. Lục Địa giãn nở tách ra, phần lớn đất đai biến thành biển cả sông Hồ. Ở phương Tây cũng như trung Đông nước cạn dần và lộ ra những đất đai bằng phẳng. Phương Đông phần lớn ngập chìm trong biển nước, dãy núi Long Hoa bị sụp. Vì vậy sự sống của dãy núi cũng như sự sống của con cái không được an toàn.

Chúng ta dẫn con cái về phương Bắc của dãy núi (tức là địa phận Quảng Đông, Quảng Tây, Vân Nam, Quý Châu, nói chung là bao trùm hầu hết miền Giang Nam Lãnh Nam Trung Quốc, giáp liền với sông Trường Giang). Đất đai ở đây bằng phẳng, cây cối sum suê, hoa hiền trái ngọt, phía Đông Nam dãy núi Long Hoa địa chấn sụp xuống thành biển, nơi đây tuy có sụp nhưng vẫn an toàn con cái.

Thế là Đức Cha Trời Lạc Long Quân cùng Địa Mẫu Âu Cơ bay lên không trung phất tay một cái. Tức thời trăm người con bay lên không trung theo Cha mẹ bay về phương Bắc của dãy núi, hạ xuống gần Nam sông Trường Giang bây giờ. Nơi đây đất đai bằng phẳng, cây cối sum suê, sông hồ kinh rạch, núi rừng đều thuận tiện cho cuộc sống. Bốn mùa, tám tiết, Xuân, Hạ, Thu, Đông lúc nào cũng có hoa quả sum xuê bảo tồn nòi giống con người.

Nhìn những dãy đồi mênh mông xa thẳm sông suối nước trong văn vắt. Địa Cuộc Rồng nằm, Hổ phục, Qui định, Phụng an, Chim muôn vạn Thú ở đây đông vô số vô biên, nhất là loài khỉ, loài vượn, loài Tinh Tinh, hàng vạn vạn con. Một hôm Đức Cha Trời Lạc Long Quân cùng Địa Mẫu Âu Cơ nhìn trăm người con đã lớn, uy nghi như sứ Thần Tạo Hóa. Đức Địa Mẫu Âu Cơ nhìn đàn con khôn lớn, chúng có thể nghe có thể hiểu, bằng nói Ông hãy dạy bảo cho con đi.

Đức Cha Trời Lạc Long Quân thường thấy các con không được đoàn kết cho lắm, luôn luôn phân biệt màu da. Da vàng theo da vàng, da trắng theo da trắng, da đen theo da đen, da đỏ theo da đỏ, da chàm theo da chàm, luôn luôn phân biệt chia rẽ nhau.

Đức Cha Trời Lạc Long Quân phán rằng:

Này hỡi tất cả con của ta, các con từ một bọc mà ra, tuy các con khác màu da nhưng các con chung cùng một Cội, một Cha, một Mẹ, một Tổ Tiên, một chiếc nôi Quả Địa Cầu, một ngôi nhà chung vũ trụ. Các con là anh em, các con phải biết thương yêu nhau, đùm bọc nhau để mà sống, các con phải có tinh thần đoàn kết. Tôn trọng lẫn nhau, đối xử với nhau thật Bình Đẳng, tôn trọng quyền Tự Do, quyền Tự Chủ, quyền sống, quyền mưu cầu hạnh phúc. Trong cái riêng có cái chung, cái chung chính là Hiến Pháp Đại Đồng. Sẽ khởi sanh ra Luật Pháp bảo vệ cái riêng của các con. Các con phải có tấm lòng Quảng Đại, có chí nghĩa Nhân, có lòng hiếu thuận đối với Tổ Tiên, Ông Bà, Cha Mẹ, biết thương yêu đồng loại, nòi giống Tiên Rồng. Trung thành lẽ công, bảo vệ cái chung và cái Riêng. Đã là loài người, đầu đội trời chân đạp đất, nòi giống Tiên Rồng. Thì các con phải khác với loài Cầm Thú, Bò Sát. Các con phải sống chân thật, khác với loài Cầm Thú, lừa dối, phỉnh gạt lẫn nhau. Các con phải lấy nhơn Đức làm đầu, tha thứ cho nhau khi có lỗi, nâng đỡ nhau khi lâm nạn, lúc đói khổ. Đoàn kết là lối sống văn minh, chia rẽ là lối sống Địa Ngục, biết yêu thương con cái, biết hi sinh vì đại nghĩa, luôn luôn hướng về Cội Nguồn. Phụng thờ Tổ Tiên, Cha Trời, Địa Mẫu cho con cái noi theo, đừng để lạc mất Cội Nguồn, chăm lo và giữ gìn Đức tánh con người luôn luôn hướng thiện (xem Kinh Nhơn Luân).

Nhờ các con luôn luôn hướng thiện nên các con tìm thấy Cội Nguồn. Trở về Tạo Hóa lên ngôi Chánh Đẳng Chánh Giác. Đó là ngôi Phật, ngôi Thánh, ngôi Tiên. Nếu các con có công lớn trong Văn Hóa Cội Nguồn trong việc truyền giáo độ sanh. Thì các con sẽ lên ngôi Chí Tôn vô thượng phật Tổ, Thánh Tổ, Tiên Chúa.

Nếu các con nghe theo lời dạy của ta chỉ cần được một nửa. Thì các con sẽ được làm vua, làm Chúa, phạm Thiên, Đế Thích ở các tầng Trời. Hưởng phước quả, hạnh phúc vô tận vô biên. Sống trên Châu Báu tột đỉnh của sự giàu sang.

Nếu các con chỉ cần làm được một lời ta dạy. Thì các con sẽ được làm Vua làm Chúa nơi chốn phàm trần. Nếu các con làm theo hai ba bốn lời ta dạy, thời các con sẽ là Vua lớn trên các Vua Chúa lớn trên các Chúa nhỏ.

Nếu các con chỉ cần nghe theo một lời ta dạy, chỉ được một thời gian, nhất là thời gian ở cuối đời. Thời các con sẽ được làm các vị Thần may mắn, vị Thần của sự giàu sang, vị Thần hạnh phúc, vị Thần uy lực, vị Thần Trí Huệ. Công danh địa vị rực rỡ, huống chi các con làm theo trọn một lời cha dạy, nhiều lời cha dạy, thì phước báo không thể nghĩ bàn, có thể nói mãi mãi làm Vua, làm Chúa ở nhân gian, cũng như ở các cõi Trời, sống mãi trên cung vàng Điện ngọc.

Nếu các con chỉ cần nghe qua rồi nhớ 1, 2 điều, trọn đời không quên thì các con sẽ được làm các vị Thần, Thiên Thần ở các cõi trời, muốn chi đặng nấy, cầu chi đặng nấy, đặng nhiều phép lạ để vui chơi. Nếu các con nghe những điều ta dạy, tuy chưa làm theo, nhưng không làm ác thì các con sanh lên các cõi Thiên Đàng Cực Lạc, làm Chư Thiên, Thiên Chúng làm dân ở cõi Trời, tưởng ăn có ăn, tưởng mặc có mặc, muốn cái gì có cái đó.

Nếu các con chỉ cần khen một lời ta dạy, thời các con sẽ được làm các vị Thần ở chốn nhân gian như: Thần Núi, Thần Rừng, Thần Sông, Thần Biển, Thần Mưa, Thần Gió, Thần Lửa, Thần Tuyết, Thần Thổ Địa, Thần Tài. Nếu có công ca ngợi Văn Hóa Cội Nguồn khi mãn số sẽ được thăng lên Thần Mặt Trời, Thần Mặt Trăng, Thần Sao Hôm, Sao Mai và các vị Thần Tinh Tú khác.

Nếu các con chỉ cần truyền lại một lời dạy của ta, thời đời đời kiếp kiếp ta sẽ luôn luôn phù hộ cho con, cho đến khi nào con ngộ được chân tâm thấy được chân tánh trở thành Phật, Thánh, Tiên.

Nếu các con tôn thờ ta, truyền lời dạy ta dạy cho thế hệ sau, thì các con sẽ trở thành Phật Tổ, Thánh Tổ, Tiên Chúa, lên ngôi Chí Tôn vô thượng, Chánh đẳng Chánh giác, làm chủ vũ trụ.

Này các con của ta:

Nếu các con làm ngược lại lời ta dạy, thì đi vào bất hiếu, nghịch Thiên, tai họa giáng xuống không sao kể xiết, các con sẽ biến thành Quỷ dữ, Ma Tinh. Các con sẽ trở thành chủ nhân của bóng đêm, chủ nhân của sự chết chóc. Các con sẽ tạo ra thế giới Địa Ngục, thế giới đau khổ không sao tả nổi, thế giới của sự chém giết, ăn sắt uống đồng, sự thống khổ không một giờ nghỉ.

Nếu các con đi theo con đường ác, thời Chúa Tể của u minh sẽ sai Đại ác Quỷ ăn tinh, hút khí của các con. Làm cho các con kiệt sức vì chiến tranh. Chúng sẽ biến tâm hồn của các con thành tâm hồn ác Quỷ của chúng. Tham lam, gian trá, hận thù và sát phạt, tàn sát lẫn nhau. Chúa Tể u minh sẽ biến các con thành những linh hồn ngu si. Mãi Mãi làm nô lệ cho chúng. Chiến tranh tàn sát là thú vui của chúng. Thế Giới đau khổ, những Địa Ngục sát phạt dã man nhất, Chính là Vương Quốc của chúng. Khoái lạc của chúng là sự chia ly, chết chóc, bệnh tật, tù đày, Keo kiệt, tham lam, ganh tị, hận thù, là cửa ngõ u minh. Bước vào thế giới đau khổ, thế giới của sự khảo tra áp bức đến kinh người. Chúng không bao giờ muốn các con tiến lên cảnh giới của Phật, Thánh, Tiên, vào ba ngôi Báu của Trời. Ba ngôi Báu ấy luôn luôn tỏa ánh sáng tâm linh làm chúng khiếp sợ.

Nếu các con đi ngược lại lời dạy. Không những các con đi vào cảnh giới đau khổ. Không bao giờ nhìn thấy thế giới Thiên Đàng Cực Lạc. Cũng như không bao giờ nhìn thấy thật tướng, thật tánh Linh Hồn của các con. Vĩnh viễn không thấy được Cội Nguồn. Mãi mãi đọa lạc trong luân hồi sanh tử. Các con chỉ thấy sự giả dối, sự chết chóc. Chiến tranh, áp bức, bệnh tật, già nua. Và sự tàn sát chém giết, ăn nuốt lẫn nhau. Các con luôn luôn nếm đủ mùi cực nhọc khốn khổ và đau đớn. Đau đớn về thể xác, đau đớn về Linh Hồn. Đau đớn cảnh nồi da nấu thịt. Cảnh cha khóc con, vợ khóc chồng, anh em cấu xé tàn sát lẫn nhau. Nước mắt của các con, kiếp nầy sang kiếp khác. Cộng lại sẽ nhiều hơn một Đại Dương.

Các con hôm nay đã được làm người. Lại là con của ta. Hai đấng Tiên Rồng Tối Cao Vũ Trụ, sự nghiệp giàu sang vô tận. Cái giàu không sao kể xiết, vàng, bạc, Châu Báu vô tận. Đầy cả Hư Không, Tam Thiên Đại Thiên thế giới. Đó là các cõi nước Trời. Các con hôm nay đã là con của ta. Chỉ cần nghe lời của ta dạy. Thì các con sẽ thay ta làm chủ Vũ trụ. Sống trong bất tử và sự giàu sang. Nếu các con không nghe lời thì đáng tiếc biết bao.

Hỡi các con, ta là Đấng Cha Trời, Đấng biết trước. Những gì xảy ra trong tương lai ta đều thấy rõ biết rõ. Vì vậy các con phải tuyệt đối tin tưởng ta. Vì ta là Chúa Tể vũ trụ. Đấng thương yêu các con hơn hết.

Những gì nơi vũ trụ. Cha đã tạo ra, đều là của các con. Nhưng các con muốn có được nó. Thì các con phải có Tài, có Trí, có Đức. Biết áp dụng khoa học kỹ thuật. Nguyên lý thuận nghịch, biến ảo vũ trụ, vận dụng sức mạnh vũ trụ, làm sức mạnh của mình. Thì các con mới làm chủ được nó. Đó là nói đến những người con, người cháu có Đức, có tâm, có trung, có hiếu đối với Tổ Tiên Cội Nguồn, nghe theo và làm theo lời ta dạy.

Còn những kẻ nghịch Thiên, đi ngược lại lời ta dạy. Dù có làm nhiều, ra sức nhiều, tóm thâu, bầu vét khắp thiên hạ vũ trụ, cuối cùng cũng chỉ là trắng tay. Nếu các con nghe lời dạy của ta, các con sẽ luôn luôn gặp ta ở khắp mọi nơi, che chở và dìu dắt các con. Dù cho các con có trải qua vô lượng ức kiếp sanh tử, ta cũng theo sát các con, hộ trì các con, cứu khổ các con, làm cho trí huệ các con mỗi ngày mỗi thêm tỏa sáng, làm chủ được tâm, làm chủ được tánh. Phát Đại Nguyên rộng lớn tận độ vô tận, vô biên, lớp lớp con cháu nhân loại các thế hệ sau vào ngôi vị Chí Tôn Chánh Đẳng, Chánh Giác. Các con Hạnh Nguyện viên mãn, bọt nước trở về là nước, Tiểu Linh Hồn trở về Đại Linh Hồn vũ trụ, bản nguyên là đấng Tạo Hóa Tổ Tiên vũ trụ, đấng Tạo lập lên tất cả.

Đức Địa Mẫu Âu Cơ thấy 100 người con chăm chú lắng nghe Đức Cha Trời Lạc Long Quân dạy bảo lấy làm vui vẻ, thì nghĩ rằng chúng nó đã lớn, có thể tự lập sanh sống, không cầm nương dựa vào Cha Mẹ nữa. Biết mình không thể ở lâu nơi này. Đức Cha Trời Lạc Long Quân, Địa Mẫu Âu Cơ chia hai con cái. 50 con theo Cha làm quen với biển, 50 người con theo Mẹ làm quen với núi rừng.

Đức Cha Trời Lạc Long Quân dẫn 50 người con Trai làm quen với biển, từ biển này sang biển khác, từ đảo nọ sang đảo kia, từ Đông sang Tây rồi trở về chỗ cũ. Đức Mẹ Âu Cơ cũng thế, Đức Mẹ dắt theo 50 người con gái, hết núi rừng này sang núi rừng khác, hết núi rừng phương Đông rồi đến núi rừng phương Tây rồi dẩn con về chỗ cũ.

Đức Cha Trời Lạc Long Quân, Địa Mẫu Âu Cơ dẫn con khắp cùng trái đất, năm châu bốn biển bằng con đường hàng không đi trên mây, tham quan khi cần thì hạ xuống núi xuống rừng, xuống biển xuống đảo. 100 người con của Đức Âu Cơ, Lạc Long Quân thấy nào là biển rộng mênh mông, nào là núi cao chót vót, nào là rừng xanh thăm thẳm bạt ngàn, nào là đảo biển lô nhô xanh um giữa biển cả mênh mông. Cảnh đẹp như tranh, đất liền sông Hồ uốn khúc, không những tham quan trên biển đảo, núi rừng mà còn tham quan nơi đáy biển, các Động tuyệt đẹp nằm sâu trong lòng núi.

Đúng là trên khô ôi là Chim muôn vạn thú, đáy biển mênh mông ôi là chen chúc cá lội tung tăng, nào hang Động, thác nước phủ màn lụa trắng. Hết tham quan trái đất, Cha Trời, Địa Mẫu dẫn con tham quan đến các vì sao gần trái đất, thấy dẫn các con tham quan đến đây là đủ, hai người dắt các con trở về trái đất, trở về chỗ cũ.

Trước khi từ giã con cái, Đức Cha Trời Lạc Long Quân dạy bảo lần cuối cùng:

Này các con, Quả Địa Cầu này tuy là rất đẹp, Quả Địa Cầu Cha tạo ra sau cùng, khi Cha tạo lập vũ trụ, Tam Thiên Đại Thiên thế giới, Quả Địa Cầu này chỉ là Quả Địa Cầu trần tục, khí hóa ô trược cặn bã của Hậu Thiên khí hóa, các con đang sống trong cõi trần giả tạm, không phải là cõi vĩnh hằng, thân xác các con cũng thế, cũng chỉ là thân xác phàm tục khác với thân xác của Cha, Mẹ đây, thân xác Tiên Thiên Tinh Hoa vũ trụ.

Khi các con tu luyện tiến hóa Linh Hồn thành tựu, trí huệ giác ngộ, Đạo Đức, nhân hạnh cao các con sẽ bỏ xác phàm. Linh Hồn siêu lên Thượng Giới, thì các con sẽ có thân xác Tiên Thiên, biến hóa như ý, các con muốn già thì nó già, các con muốn trẻ thì nó trẻ, các con muốn nó lớn như quả núi thì nó lớn như quả núi, các con muốn nó nhỏ như cây kim thì nó nhỏ như cây kim. Nói chung ý tưởng các con muốn gì thì pháp thân các con ứng hóa theo nấy, dạo chơi khắp cùng vũ trụ, Tam Thiên Đại Thiên thế giới, các con hãy ghi nhớ lời ta dặn, cố gắng tu luyện tiến hóa Linh Hồn, sớm mau trở về Cội Nguồn làm chủ vũ trụ.

Trước khi Hai Đấng Tiên Rồng từ giã con cái, đưa tay chỉ về ngọn núi Long Hoa nói:

Cuối tiểu kiếp thứ 9, sắp chuyển sang tiểu kiếp thứ 10, các con hãy khiến con cháu của các con đến dãy núi Long Hoa ấy làm nhà Rồng Tiên.

Nói xong Hai Đấng Tiên Rồng bay lên không trung, ẤN dấu Cốt Tiên Rồng xuống ngọn núi Long Hoa, Hai Đấng Tiên Rồng bay xuống đất ôm lấy con lần cuối.

Hai tòa sen báu như trái núi nhỏ hào quang rực rỡ, không biết hiện ra từ lúc nào, Hai Đấng Tiên Rồng từ từ bay lên tòa sen, bầu trời đang sáng bỗng nhiên tối sầm, thế gian rơi lệ vì Hai Đấng Tiên Rồng ra đi. Hai tòa sen báu từ từ bay vào chốn không gian rồi mất hút trước sự ngơ ngác của 100 người con, 200 con mắt nhìn theo, nhìn theo mãi.

Bầu trời hôm qua đã khác với bầu trời hôm nay, bầu trời hôm qua là bầu trời mùa Xuân, bầu trời hôm nay là bầu trời mùa Đông, cái lạnh bơ vơ, mồ côi mồ cút, trên nẻo đường vạn dặm của cuộc đời. Nhân loại anh em sẽ đi về đâu, Ông Bà Tổ Tiên chúng ta làm gì để sống và tồn tại như thế nào.

(Xem Kinh Long Hoa sẽ hiểu rõ hơn).

Có thể nói Văn Hóa Cội Nguồn, Nền Quốc Đạo Tiên Rồng triết lý, lịch sử cao thâm, lời lẽ khuôn mẫu như thế, chỉ truyền khẩu cho nhau, từ thế hệ này sang thế hệ khác, kéo dài đến mấy nghìn năm, thử hỏi làm sao không sai lệch cho được. Vì thế cốt cán cơ bản tinh hoa của Nền Quốc Đạo Tiên Rồng dần dần bị mất gốc.

Có thể nói buổi ban đầu Quốc Tổ truyền giáo là Rồng, càng về sau con cháu thuyết kể ra loài Rắn nước, rồi bị ngoại xâm thêm bớt, con cháu ghi chép sai đã biến Văn Hóa Cội Nguồn trở thành văn hóa con giun. Từ một lịch sử Cội Nguồn tốt đẹp rồi trở thành một truyền thuyết mơ hồ, ánh sáng chân lý Cội Nguồn đã tắt. Từ đây con cháu Tiên Rồng sa vào cảnh tối tăm, dẫn đến nô lệ, chiến tranh triền miên khó mà kết thúc, cảnh nồi da nấu thịt, đói nghèo lạc hậu khổ thay.

* * *

Hết phần 2 chương 2 Long Hoa Mật Tạng, mời xem tiếp phần 3 chương 2.

Cái khổ nào hơn khổ lạc Nguồn

Họa cùng khắp nẻo khó qua truông

Non sông tổ quốc đầy u ám

Ngoại xâm thôn tính nghĩ mà thương.

* * *
 
127 ❤︎ Bài viết: 653 Tìm chủ đề
CHƯƠNG 2

PHẦN 3

MẶT TRỜI CHÂN LÝ LẶNG BÓNG ĐÊM TRÙM XUỐNG NHÂN GIAN

Vào năm 110 trước Công Nguyên lúc đó giấy bút thô sơ mới được ra đời, cho đến năm 542 sau Công Nguyên mới có dịp hương thịnh nhưng chưa tinh vi mấy. Cũng từ đây các học giả yêu nước Việt Nam hồi tưởng về Cội Nguồn, tìm tòi qua sự thờ cúng, truyện kể, thơ ca, hò vè khắp mọi miền đất nước, rồi đúc kết viết lên lịch sử Tiên Rồng một cách mơ hồ làm mối ghiền đoàn kết dân tộc, chung lòng chung sức, bảo vệ giữ gìn quê Cha đất Tổ, đánh đuổi ngoại xâm. Nhưng tiếc thay các Ngài chỉ là người thường tục, chưa tu luyện Đắc Đạo nên không có Huệ Nhãn, Pháp Nhãn thấu suốt quá khứ vi lai, khó mà thấy rõ sự sai lệch trong Văn Hóa Cội Nguồn qua sự truyền khẩu, truyện kể, thờ cúng, thơ ca hò vè, liền cho đó là bản nguyên Văn Hóa Cội Nguồn. Rồi kết thành sử liệu để cho đời sau, sự truyền khẩu qua nhiều thế hệ, thêm bớt làm cho Văn Hóa Cội Nguồn biến dạng mất gốc, có nhiều điểm sai sự thật, dựa vào đó mà kết thành sử liệu thì cũng sai, cái sai dây chuyền.

Cũng từ đây Văn Hóa Cội Nguồn mất gốc, trở thành truyền thuyết mơ hồ, anh sáng Văn Hóa Cội Nguồn đã mất, mặt trời chân lý đã tắt, bóng đêm trùm xuống con Cháu Lạc Hồng kể từ đời AN DƯƠNG VƯƠNG trở xuống.

41 đời Hùng Vương kết thúc, thì những gì tinh hoa Văn Hóa Cội Nguồn còn sót lại cũng theo Vua Hùng biến mất luôn. Từ thời AN DƯƠNG VƯƠNG trở xuống, đến thời Hậu Lê cuối thế kỷ thứ 17 sau công nguyên, kéo dài hơn 2000 năm. Các học giả của mỗi triều đại đi qua, mỗi khi tìm hiểu về truyện kể, thờ cúng, thơ ca hò vè, thêm bớt cho hợp tình hợp lý rồi đúc kết thành sử liệu.

Nhưng học giả có biết đâu, việc thêm bớt Văn Hóa Cội Nguồn vốn đã sai mà vẽ Rồng, vẽ Rắn thêm bớt cho phù hợp tình thế, thì dẫn đến tai hại hơn nữa, chỉ cần ghi chép sai về Văn Hóa Cội Nguồn một li thì cái sai đã đến hàng vạn dặm, đưa lịch sử Tiên Rồng vào chỗ vô lý, nghi ngờ không đáng tin.

Lịch sử Tiên Rồng truyền khẩu kéo dài từ thời Hùng Quí Lân đến thời Hùng Duệ Vương kéo dài 2622 năm. Sự truyền khẩu càng về sau. Sự mất đầu, mất đuôi sai lệch càng nhiều. Không còn đúng Văn Hóa Tinh Hoa Hiến Pháp Văn Lang, Nền Quốc Đạo nữa. Mà Quốc Tổ Hùng Vương đã truyền lại cho con cháu chúng ta cách đây gần năm nghìn năm.

Các học giả từ thời AN DƯƠNG VƯƠNG trở xuống, khi tìm hiểu về Văn Hóa Cội Nguồn Tiên Rồng. Liền gặp phải bao sự khó khăn. Vì sự truyền khẩu có nhiều điểm không giống nhau. Đưa người đọc, người nghe đến chỗ phân vân, sanh ra nhiều nghi vấn. Lắm lúc sanh ra ý niệm tội lỗi. Phỉ bán Cội Nguồn dân tộc, tai họa liền gián xuống. Nhà tan cửa nát con cháu ly tán. Khổ ơi là khổ.

Các học giả chỉ dựa theo suy đoán của mình, dẫn đến kết tập sử liệu. Đưa Văn Hóa Cội Nguồn chuyển sang giai đoạn giả tưởng. Vô tình mở màn nội chiến. Mở màn cho các thế lực ngoại xâm. Truyền thống mất, Văn Hóa Cội Nguồn mơ hồ không đủ cơ sở lý luận vững chắc, thiếu đi mạch lạc khoa học, Văn Hóa Cội Nguồn có nhiều điểm bất ổn.

Dựa vào nhược điểm bất ổn này. Lại thêm lòng tin của Đại Đa số con cháu phân vân gió chiều nào ngã theo chiều ấy. Đây là cơ hội cho các học giả nước ngoài, thuộc hạ cao cấp chính trị với tính toán mưu đồ ngoại xâm. Họ góp ý thêm bớt sửa chữa tưởng chừng như là thiện chí. Nào hay đâu đó là một âm mưu lớn. Ếm đối tài tình, chồng chất thêm nhiều mâu thuẫn. Càng học càng thấy nhiều phi lý rồi trở thành mất gốc hẳn.

Một dân tộc mất đi Văn Hóa Cội Nguồn mất đi bản sắc dân tộc. Thì sức mạnh tinh thần dân tộc ấy sẽ bị yếu ớt, suy giảm đoàn kết dân tộc. Đó là lúc thuận lợi cho cuộc mưu đồ xâm lược ngoại bang. Xâm lược bằng học thuyết, kèm theo văn hóa nghệ thuật. Nhất là xâm lược một loại văn hóa độc hại. Làm cho tinh thần đi vào sa đọa. Xâm lược bằng vũ lực, biến dân tộc ta trở thành dân tộc nô lệ. Cụ thể hơn một nghìn năm, dưới ách thống trị của Tàu. Hơn trăm năm dưới sự cai quản của Tây. Lại thêm nồi da nấu thịt từng ngày. Càng thêm lạc hậu đọa đày gian truân.

* * *

Hết phần 3 chương 2 Long Hoa Mật Tạng, mời xem tiếp phần 4 chương 2.

Việt Nam con cháu Tiên Rồng

Trở về Nguồn Cội lẫy lừng năm châu

Văn Lang Văn Hóa cao sâu

Anh linh truyền thống rạng bầu tinh hoa

Lạc Nguồn lạc Cội Ông Cha

Hết mong độc lập đọa sa khốn cùng

Nghìn năm nô lệ tan thương

Cũng vì lạc Cội mất Nguồn mà ra.

* * *

CHƯƠNG 2

PHẦN 4

THÀ MỘT SỰ ĐÚNG CÒN HƠN MỘT THÚNG SAI

Thà giữ lấy một điều đúng còn hơn ôm trọn một thúng sai. Như chúng ta đã biết, các học giả của các triều đại. Mỗi khi dựng dậy Hồn Thiêng dân tộc, phải dựa vào Văn Hóa Cội Nguồn. Nhưng Văn Hóa Cội Nguồn đã thất truyền từ lâu. Khi các học giả nhất là thời Đinh, Lê, Lý, Trần, Lê. Nỗ lực ngày đêm không mệt mỏi. Tìm hiểu về Cội Nguồn Tiên Rồng cũng như về gia thế Hùng Vương liền gặp phải bao sự khó khăn. Nhưng không thể vì sự khó khăn ấy mà các học giả lại bỏ qua. Thu nhập chứng cứ, qua thờ cúng, truyện kể, thơ ca, hò vè. Tôm góp lượm lặt dù đúng hay sai cũng quí giá cả, đúc kết thành sử liệu.

Như :(Lĩnh Nam Chính Quái), (Việt Điện U Linh), (Việt Sử Lược), (Đại Việt Sử Toàn Thư) và còn nhiều bộ sách khác nữa, v. V.. Sự thêm bớt qua các sử liệu, sự mâu thuẫn các câu truyện kể, sai lệch về thờ tự không chỗ nào giống chỗ nào.

Tuy sử liệu để lại nhiều như vậy, nhưng Văn Hóa Cội Nguồn vẫn không mấy sáng sủa, chỉ là con đom đóm không đủ sức soi đường mở lối cho con cháu đi theo. Tuy ánh sáng Văn Hóa Cội Nguồn có lúc chỉ là con Đom Đóm nhưng cũng khó khăn cho con Cháu gìn giữ tôn thờ, tuy chỉ còn một phần đúng. Còn hơn ôm trọn một khối sai. Tôn Thờ Văn Hóa Độc Hại ngoại xâm, làm ngu si mù quáng dẫn đến nô lệ.

Một khi nô lệ, thì dân ta mất hết những Quyền cơ bản mà Tổ Tiên Tạo Hóa đã ban cho mỗi con người, cho mỗi dân tộc. Đó Quyền Độc Lập, Quyền Tự Do, Quyền mưu cầu hạnh phúc, Quyền sống, Quyền được sống. Nếu chúng ta khơi dậy và đòi lại những quyền cơ bản ấy, thì thế lực thống trị ngoại bang áp chế đàn áp ngay. Nhất là chúng ta khơi dậy Văn Hóa Cội Nguồn, thì thế lực ngoại xâm dập tắt tiêu diệt ngay. Vì họ sợ dân ta vốn mang hai chữ Đồng Bào, Đoàn Kết nổi dậy đánh đuổi chúng ra khỏi Non Sông Tổ Quốc. Các thế lực ngoại xâm rất sợ văn hóa Chủ Nghĩa Tiên Rồng. Vì Văn Hóa Cội Nguồn chính là Văn Hóa Đại Đồng, có sức mạnh dời non lấp biển. Một thứ Văn Hóa Linh Thiêng, có một không hai trong nhân loại con người.

Văn Hóa Cội Nguồn sống dậy. Mặt Trời Nhân Nghĩa Đạo Đức tỏa sáng, làm khiếp đảm tà ma ác Đạo của các thế lực ngoại xâm. Cơ may cho các thế lực ngoại xâm, vì Văn Hóa Cội Nguồn đã bị thất truyền nên chúng mới có cơ hội xâm lược nước ta. Chúng dựa vào yếu điểm mất gốc Văn Hóa Cội Nguồn, Nền Quốc Đạo Dân Tộc làm cái cớ để bài xích dập tắt Văn Hóa Cội Nguồn còn sót lại. Hầu mong cai trị ta vĩnh viễn.

Văn Hóa Cội Nguồn Chủ Nghĩa Đại Đồng là một Chủ Nghĩa cao tột, không có một Chủ Nghĩa nào có thể vượt qua. Văn Hóa Tiên Rồng là Văn Hóa Linh Thiêng tối thượng. Một dân tộc đi đôi với truyền thống Linh Thiêng như thế, thử hỏi ngoại xâm không sợ truyền thống Tiên Rồng sao được. Nên ngoại xâm lúc nào cũng muốn tiêu diệt đi để dễ bề xâm lược. Chúng cố tìm sơ hở, sự thất truyền trong Văn Hóa Cội Nguồn của chúng ta để mà bài xích. Biến truyền thống Văn Hóa Cội Nguồn chúng ta thành truyền thống, từ Văn Hóa Rồng thành văn hóa con giun để chúng xơi, chúng đạp dưới chân của chúng.

* * *

Hết phần 4 chương 2, mời xem tiếp phần 5 chương 2 Long Hoa Mật Tạng, bộ kinh tối cao, quốc bảo của toàn thế giới nói chung, dân tộc Việt Nam nói riêng. Chỉ cần đọc qua một lần không những tội ác vô lượng kiếp tiêu tan, mà còn thành Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa, không gì là khó. Nếu biên chép in ấn truyền bá cho đời, thì không gì phước đức hơn. Ông Bà, Cha Mẹ siêu thăng về các cõi trời hưởng phước, con cái cháu đời đời vinh hiển, còn bản thân thì thường làm vua các cõi trời giáo hóa vô lượng vô biên thiên chúng. Uy danh khắp cùng vũ trụ.

* * *

CHƯƠNG 2

PHẦN 5

CÂY CÓ GỐC NỞ CÀNH XANH NGỌN, NGƯỜI MẤT NGUỒN PHƯỚC CẠN ĐỨC KHÔ

Các thế lực ngoại xâm luôn luôn đánh phá, bài bác Văn Hóa Cội Nguồn của chúng ta. Làm cho dân tộc chúng ta mờ mịt yếu đi, tan rã đoàn kết. Đưa đất nước ta đến con đường nô lệ.

Vậy mà có người cũng nghe theo. Tệ hại hơn nữa, có người tự cho mình là trí thức. Nghe theo sự xuyên tạc của ngoại bang, ếm chặn sự phát triển Văn Hóa Cội Nguồn, truyền thống Linh Thiêng tốt đẹp của chúng ta. Lắm khi còn tỏ ra bất kính đối với các bậc Cha – Anh tiền sử đã có công vun đắp lên vẻ đẹp Non Sông Tổ Quốc, cũng như Văn Hóa Cội Nguồn còn sót lại. Để cho con cháu chúng ta vươn lên. Những kẻ ấy thật đáng phê bình nếu đúng luật thời những kẻ ấy nghiêm trị thích đáng.

Đã là dân tộc Rồng Tiên. Con dân Đại Việt, chúng ta phải tin tưởng những gì ông cha ta truyền lại. Dù cho đó có nhiều chỗ mâu thuẫn chưa giải thích được. Chúng ta cũng cần trân trọng gìn giữ. Chúng ta là con cháu Tiên Rồng, thì phải tận trung, chí hiếu, tôn thờ bảo vệ gìn giữ Cội Nguồn Văn Hóa Tiên Rồng.

Văn Hóa Cội Nguồn Quốc Đạo Tiên Rồng do Quốc Tổ Hùng Vương sáng lập và truyền lại cho chúng ta, sự ra đời của Nền Quốc Đạo làm chói lọi dân tộc Văn Lang. Có thể nói ở vào thời kỳ ấy, khắp cùng thế giới. Chưa có một Nền Quốc Đạo nào ra đời, ngay cả Phật Giáo, Thiên Chúa Giáo, Khổng Giáo, Lão Giáo, các Giáo Đạo khác nữa, v. V.. Cũng chỉ là ở giai đoạn sau này hàng nghìn năm mà thôi.

Việc thất truyền của Nền Quốc Đạo là do truyền khẩu quá dài. Lại không có giấy bút để lưu chép, dẫn đến sai lệch về sau càng lớn. Những gì còn sót lại ở cuối thời Hùng Vương tức là Hùng Duệ Vương trước công nguyên. Kết thúc vào năm 258 chuyển sang giai đoạn ÂU LẠC, thì Văn Hóa Cội Nguồn Quốc Đạo Tiên Rồng còn sót lại cũng đi theo Vua Hùng sau cùng về Trời. Từ đây về sau Vua là trên hết, không còn Hiến Pháp, Luật Pháp trên hết nữa. Vua muốn làm gì thì làm, cá mè một lứa như các nước bạn mà thôi. Thôn tính lẫn nhau tranh giành quyền lực, được là Vua thua là giặc, giặc và Vua cũng cùng chung một loại (Vô Đạo) độc trị mà thôi, dân chúng lầm than khốn khổ. Nếu không bị ngoại xâm thống trị, thì cũng bị Chế Độ Độc Tôn, Độc Trị đè bẹp mà thôi, không bao giờ có tự do, công bằng xã hội.

Nếu nói toàn dân kháng chiến bảo vệ đất nước, bảo vệ Tổ Quốc. Đất nước là của chung, Tổ Quốc là của chung, thì phải sống theo Hiến Pháp, Luật Pháp, dựng nước giữ nước mà thôi. Không ai là tối cao, chỉ có Hiến Pháp, Luật Pháp là tối cao. Dân, Vua, Quan bình đẳng, có tội đều bị xử như nhau. (Tối cao của nước Văn Lang không phải là Vua Hùng mà chính là Hiến Pháp, Luật Pháp của Nền Quốc Đạo). Cái Đạo cao quí của Vua, Quan, Dân thờ.

Văn Hóa Cội Nguồn Hiến Pháp Quốc Đạo Văn Lang, ở đoạn kinh thờ phụng nói. Cha Trời, Địa Mẫu sinh ra Nhân Loại Bình Đẳng. Phật, Tiên, Thánh, Thần, Chúa, phàm nhân, Bình Đẳng, tất cả đều là anh em một nhà vũ trụ. Chỉ thờ Tổ Tiên Khai Hóa hiện thân là Trời (Cha Trời Mẹ Trời) sau đó là thờ Ông Bà, kế nữa là thờ Cha Mẹ, người sanh ra mình. Còn xã hội là thờ Hiến Pháp, Luật Pháp, Vua, Quan, Dân chúng bình đẳng. Nói tóm lại việc thất truyền Văn Hóa Cội Nguồn Nền Quốc Đạo dân tộc là do truyền khẩu quá dài, lại không có giấy bút lưu chép, khi có giấy bút lưu chép, thì chỉ lưu chép Tinh Hoa còn sót đọng lại mà thôi.

Các học giả qua các Triều Đại. Lưu chép lịch sử Văn Hóa Cội Nguồn chỉ dựa trên sự thờ cúng, truyện kể, thơ ca, hò vè, các ngài nào hiểu, đó chỉ là cái vỏ của Văn Hóa Cội Nguồn mà thôi. Còn Tinh Hoa lớp ruột của Văn Hóa Cội Nguồn thì các ngài không tìm thấy được, vì các ngài là người phàm tục, không có Nhãn Huệ để thấy biết Quá Khứ, Hiện Tại vị lai. Chỉ có những bậc Đại Giác Ngộ dùng Huệ Nhãn, Pháp Nhãn thấy rõ quá khứ vị lai, tôm góp tinh hoa vũ trụ làm lợi ích cho toàn nhân loại con người.

Còn người thường tục, dù đó là Bác Học, Tiến Sĩ, nếu không tu luyện đến cảnh giới cao, làm chủ tâm mình, tánh mình an trụ vào Tạo Hóa, thì khó mà hiểu rõ Thật Tướng, Thật Tánh vũ trụ, khó mà thấu suốt Quá Khứ, Hiện Tại, Vị Lai.

* * *

Hết phần 5 chương 2, mời xem tiếp phần 1 chương 3 Long Hoa Mật Tạng. Bộ kinh vô cùng quý hiếm báu vật của trần gian nói chung, nói riêng dân tộc Việt Nam. Có duyên gặp được bộ kinh nầy thì coi như người đó đã tu luyện vô lượng ức kiếp. May mắn thay cho con cháu Việt Nam làm chủ báu vật kho tàng tri kiến vô giá nầy. Chỉ cần đọc tụng một câu cũng chuyển họa thành phúc, huống chi là truyền bá bộ kinh nầy cho nhân loại anh em thời làm vua các tầng trời là chuyện hiển nhiên không có chi là bàn cãi. Nơi nào có bộ kinh nầy, thì nơi đó có Cha Trời ngự trị, Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa gia hộ. Hồn thiên dân tộc che chở, khí thiêng sông núi phù trì, luôn được bình yên vạn sự.

Thấy Thiên Bút như thấy Trời Cha

Thành tâm cung kính

Nạn khỏi tai qua

Cầu chi đặng nấy, phước muôn vạn đời.

* * *
 
127 ❤︎ Bài viết: 653 Tìm chủ đề
CHƯƠNG 3

PHẦN 1

QUỐC ĐẠO TIÊN RỒNG

Quốc Đạo là Đạo khai dựng lập lên đất nước Văn Lang. Bất chiến tự nhiên thành. Văn Hóa Cội Nguồn Quốc Đạo Tiên Rồng là Đại Đạo cao quí. Chí Tôn vô thượng, Đại Đạo Nguồn Cội nhân loại con người, Chủ Nghĩa Hòa Hợp Dân Tộc, Chủ Nghĩa Đại Đồng.

Hiến Pháp Văn Lang Nền Quốc Đạo Tiên Rồng ở đoạn thờ tự nói. Chỉ có bốn cấp trên đầu, trên cổ thiên hạ chúng ta, hay còn gọi là bốn ngôi.

1: Đó là Tổ Tiên Khai Hóa. Đấng tạo lập lên vũ trụ.

2: Là Hai Đấng Cửu Huyền Cha Trời Lạc Long Quân và Địa Mẫu Âu Cơ.

3: Ông Bà Tổ chúng ta cũng như ông bà nhiều đời nhiều kiếp, ông bà hiện tại.

4: Là Cha Mẹ sinh ra chúng ta song thân Phụ Mẫu.

Còn ta là ngôi số 5 ngôi con cháu.

Chúng ta lạy bốn lạy là lạy bốn ngôi trên. Còn bái bốn bái.

1: Là ơn Đồng Bào.

2: Là ơn Tổ Quốc.

3: Là ơn Chúa ơn Phật, Thánh, Tiên, Thần.

4: Là ơn Thầy, Cô dạy dỗ.

Nói chung 8 ngôi này là 8 ngôi Chí Thánh Chí Linh, công ơn như non như biển.

Trong 8 ngôi ấy có 2 ngôi không thể nghĩ bàn. Đó là Ngôi Tổ Tiên Khai Hóa. Ngôi Cửu Huyền Cha Trời Lạc Long Quân và Địa Mẫu Âu Cơ. Hai ngôi này tuy 2 là 1, tuy 1 mà 2, có thể nói Tổ Tiên Khai Hóa khai tạo lập nên vũ trụ rồi hiện thân ra Đức Cha Trời, Đức Địa Mẫu để mà cai quản điều hành vũ trụ, sanh con đẻ cháu. Chánh Thân, Chánh Mẫu của nhân loại con người. Hiến Pháp Văn Lang Kinh Cội Nguồn nói: Khi nào nhân loại hướng về Cội Nguồn nơi sanh ra Linh Hồn thể xác của họ, thì Chủ Nghĩa Đại Đồng sẽ ra đời, nhân loại sẽ sống chung trong nền Hiến Pháp vũ trụ.

Quốc Tổ Hùng Vương thừa lệnh của Đức Cha Trời khai lập lên nước Văn Lang, đi đôi với Văn Hóa Cội Nguồn, Hiến Pháp Văn Lang Nền Quốc Đạo Tiên Rồng Dân Tộc. Là Đức Chí Tôn thừa hành theo di chí của Tổ Tiên, đặc nền móng Thiên Đạo, Đạo Trời xuống chốn nhân gian. Đưa nhân loại trở về vũ trụ, hội nhập Cội Nguồn đến với Đấng Cha Ông, Đấng Chúa tối cao vũ trụ.

Có thể nói Quốc Tổ Vua Hùng đã để lại cho dân Văn Lang ngày xưa, dân tộc Việt Nam ngày nay, hai di sản quí hiếm.

1: Đó là Tổ Quốc Non Sông.

2: Là Văn Hóa Cội Nguồn Nền Quốc Đạo Tiên Rồng Dân Tộc.

Những kẻ thiếu hiểu biết, không có lòng trung nghĩa hiếu kính, xem thường Văn Hóa Cội Nguồn. Nhưng họ biết đâu Văn Hóa Cội Nguồn là Văn Hóa Chí Tôn vô thượng, linh thiêng thuộc hàng bậc nhất trong trời đất.

Sự bài bác của những kẻ thiếu hiểu biết, chẳng đem kết quả tốt đẹp nào đến mà phải nhận lãnh đầy tai họa, không những tai họa cho bản thân mà còn tai họa sang con cháu. Cái tội chống phá Cội Nguồn, chia rẽ Đồng Bào, phản bội Cha Ông, nòi giống Tiên Rồng thì khó có thể mà tha thứ được. Loại người như vậy đã trở thành những kẻ đại gian đại ác, đại bất trung, đại bất hiếu. Chạy theo ảo tưởng dục vọng cuồng điên, làm hại con cháu, làm hại xã hội. Nếu không từ bỏ, một phen chết đi liền sa ngay xuống Địa Ngục, khó mà đầu thai trở lại làm người, vì đã phạm vào tội Đại Nghịch, đã phá Tổ Tiên, Cội Nguồn, Đấng Ông Cha lập lên vũ trụ và con người.

Quốc Tổ Hùng Vương là Chí Tôn Thiên Đế, con lớn của Đức Cha Trời đầu thai xuống trần, dựng nước Văn Lang, mở ra Văn Hóa Cội Nguồn, Nền Quốc Đạo Tiên Rồng, theo Thiên ý của Đức Cha Trời, nên Quốc Tổ có quyền năng vô hạn. Những kẻ hủy bán Quốc Tổ sẽ bị giảm tuổi, lại gặp bao điều xui rủi, Thần, Thánh, Phật, Tiên không độ mạng, con cháu sanh nghịch tử.

Những người trước đây không hiểu nên đã phạm tội. Nên Long Thần Hộ Pháp, Thần Thánh còn tha thứ. Đã gặp lời Kinh dạy rồi mà còn vi phạm, dù là người ngoại Quốc cũng không tránh khỏi đại họa, huống chi là con cháu Tiên Rồng. Chỗ nào cũng trời, chỗ nào cũng đất, Thiên La Địa Võng tránh đâu cho thoát.

Tổ Tiên ta thường dạy, dù con cháu có đi đến đâu, nơi đâu, chân trời góc biển cũng mang triết lý lời dạy Ông Bà Tổ Tiên đến đó để thờ phụng, giữ gìn Văn Hóa Cội Nguồn đừng để mất. Lời dạy ấy đã thấm nhuần trong tim của người dân Đại Việt, vì vậy con cháu Đại Việt đi đến đâu, thì đền thờ Cha Trời Lạc Long Quân, đền thờ Địa Mẫu Âu Cơ, đền thờ Hùng Vương đến đó. Dù là ở nước ngoài cũng thế huống chi là trong nước, có như vậy mới xứng đáng Con Lạc cháu Hồng, Con Rồng Cháu Tiên.

Cây có Cội Nước có Nguồn

Con Chim có Tổ con người có Tông

Mất đi Nguồn Gốc Tiên Rồng

Như cây mất Gốc, như sông mất Nguồn.

PHẦN HỎI ĐÁP:

Hỏi: Vì sao ta phải yêu mến Văn Hóa Cội Nguồn?

Đáp: Vì Văn Hóa Cội Nguồn là Văn Hóa Kim chỉ Nam. Là con đường truyền thống để cho con cháu đi theo, hết thế hệ này đến thế hệ khác, là con đường dẫn ta đến An Lạc. Không những An Lạc về vật chất mà cả về Linh Hồn, con đường Cực Lạc Quốc, sống mãi trong Tự do, Độc lập, Hạnh phúc.

Hỏi: Vì sao ta phải bảo vệ và giữ gìn Cội Nguồn?

Đáp:

Cây có Cội Nước có Nguồn

Con Chim có Tổ, con người có Tông

Mất đi Nguồn gốc Tiên Rồng

Như Cây mất gốc, như sông mất Nguồn.

Hay là:

Cây có gốc, nở cành xanh ngọn

Người có Nguồn người nở mùa xuân

Uy phong tỏ rạng anh linh

Vững bền Độc Lập, vững bền tự do.

Dân Tộc nào đánh mất truyền thống Cội Nguồn. Thì dân tộc đó, tan rã sự đoàn kết, dẫn tới nô lệ. Vì vậy bảo vệ và giữ gìn Cội Nguồn. Là bổn phận, là trách nhiệm đối với Con Cháu Rồng Tiên. Đó là nét cơ bản của Đạo pháp dân tộc. Thể hiện lòng Trung, Hiếu đối với Non Sông Tổ Quốc. Đối với Cha Ông.

Hỏi: Quốc Tổ Hùng Vương để lại cho chúng ta những gì?

Đáp:

Vua Hùng dựng nước dựng non

Dựng Nền Quốc Đạo vàng son Tiên Rồng

Công lao trời bể non sông

Cháu con mãi mãi nhớ ơn công người.

Quốc Tổ Hùng Vương là Đấng Chí Tôn Thiên Đế đầu thai xuống trần. Là vì Quốc Tổ Thiên Tài có một không hai trong hàng Đế Vương thời đó, từ Đông sang Tây. Quốc Tổ mở mang bờ cõi nước xích Quỷ thành nước Văn Lang, truyền bá Văn Hóa Cội Nguồn, Nền Quốc Đạo Tiên Rồng Dân Tộc. Như vậy Quốc Tổ Hùng Vương đã để lại cho chúng ta hai di sản quí hiếm. Đó là: Non Sông Tổ Quốc và Văn Hóa Cội Nguồn Nền Quốc Đạo Tiên Rồng Dân Tộc. Công ơn ấy muôn đời không trả nổi.

Hỏi: Vì sao Nền Quốc Đạo Tiên Rồng lại thất truyền?

Đáp: Vì thời xa xưa ấy. Dân Tộc Văn Lang nói riêng, nhân loại thế giới nói chung. Chưa chế tạo ra được giấy bút, chỉ dùng da Thú thay cho giấy. Lại thêm chữ viết chưa được hoàn hảo, lấy việc khắc tượng, vẽ hình, họa cảnh lên đất lên đá lên cây, thay cho chữ viết. Truyền dạy cho thế hệ sau. Sự truyền dạy ấy vừa lạc hậu vừa không bền vững, vừa khó diễn đạt ý nghĩa của Văn Kinh. Nên việc lưu chép Kinh sử khó thực hiện được. Mọi chuyện chỉ truyền khẩu cho nhau, từ thế hệ này sang thế hệ khác. Cứ thế kéo dài mấy nghìn năm. Tam sao thất bổn. Thử hỏi y văn sao được. Dẫn đến thất truyền là điều hiển nhiên khó tránh khỏi. Dẫn đến mất bốn gốc Tinh Hoa Văn Hóa Cội Nguồn Nền Quốc Đạo Dân Tộc.

Hỏi: Vì sao Dân Tộc ta dẫn đến đói nghèo, lạc hậu, chiến tranh triền miên?

Đáp: Ánh sáng chân lý Cội Nguồn đã tắt. Bóng đêm trùm xuống con cháu Lạc Hồng, mở màn cho các thế lực ngoại xâm. Một khi truyền thống Văn Hóa Cội Nguồn yếu đi. Thì sức mạnh yêu nước yêu nòi giảm sút. Thậm chí còn quên đi nữa là khác, đoàn kết dân tộc tan vỡ. Đó là lúc thuận lợi cho cuộc mưu đồ xâm lược ngoại bang. Xâm lược bằng học thuyết chính trị, văn hóa độc hại, xâm lược bằng vũ lực. Họ truyền bá văn hóa độc hại, làm mê hoặc tinh thần của dân tộc ta. Sau đó là thôn tính non sông Đại Việt, con cháu Tiên Rồng thành con cháu nô lệ. Cụ thể hơn một nghìn năm dưới ách thống trị của Tàu. Hơn trăm năm dưới sự cai quản của Tây. Lại hơn năm mươi năm nồi da nấu thịt từng ngày. Non Sông Đại Việt đi vào thê thảm, đói nghèo, lạc hậu, chán chê, chiến tranh, loạn lạc ê hề chiến tranh.

Hỏi: Vì sao các thế lực ngoại xâm rất sợ Văn Hóa Cội Nguồn Nền Quốc Đạo Tiên Rồng Dân Tộc?

Đáp: Vì Văn Hóa Cội Nguồn là Văn Hóa Linh Thiêng, Đầy chính nghĩa ung đúc nuôi dưỡng tinh thần đoàn kết yêu nước yêu dân tộc. Mạnh như Rồng, đẹp như Tiên. Văn Hóa của sự Độc Lập, Tự Do, chủ quyền hạnh phúc. Con người đứng vững là nhờ đôi chân mạnh mẽ. Dân tộc đứng vững là nhờ dân trí yêu nước, yêu văn hóa truyền thống vững vàng. Nhất là thứ văn hóa đầy Chính Nghĩa. Mạnh như Rồng, đẹp như Tiên ấy, thì ngoại xâm không sợ sao được.

Hỏi: Phật Giáo, Khổng Giáo, Lão Giáo, Thiên Chúa Giáo có trước hay sau Văn Hóa Cội Nguồn. Quốc Đạo Tiên Rồng?

Đáp: Văn Hóa Cội Nguồn Thiên Đạo vũ trụ ra đời cách đây năm nghìn năm. Còn Phật Giáo, Lão Giáo, Khổng Giáo ra đời cách đây hơn 2 nghìn 5 trăm năm mà thôi. Bằng một nửa thời gian Văn Hóa Cội Nguồn Nền Quốc Đạo Dân Tộc ra đời. Còn Thiên Chúa Giáo thì mới sau này, hai nghìn năm sau Văn Hóa Cội Nguồn ba nghìn năm. Có thể nói Văn Hóa Cội Nguồn là Văn Hóa lâu đời. Có trước tất cả các Văn Hóa, Đạo Giáo Tôn Giáo.

Hỏi: Vì sao Văn Hóa Cội Nguồn Thiên Đạo vũ trụ là Đạo của Vua thờ, còn dân không được thờ?

Đáp: Đó là cách đây hơn mấy nghìn năm thời Hùng Vương. Còn thời này thì dân có quyền được thờ. Văn Hóa Cội Nguồn là Đại Đạo tối cao vũ trụ. Đạo Luật công bằng xã hội, cán cân công lý dùng để trị Quốc. Cứu dân độ thế, cái Đạo của Vua thờ. Thế Thiên hành Đạo, Hành theo Đạo Luật vũ trụ.

Hỏi: Bài bác chống phá Văn Hóa Cội Nguồn Thiên Đạo vũ trụ, có tội không?

Đáp: Phải nói là Đại Tội. Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa thường dạy rằng. Thuận Trời thì sống hạnh phúc. Chống Trời thì họa đến, chết rồi hồn chẳng được yên thân. Muôn kiếp luân hồi đọa đày khốn khổ, khó mong trở lại làm người, luân hồi mãi trong Địa Ngục. Ngạ Quỷ, súc sanh mà thôi.

Hỏi: Tin theo, làm theo Văn Hóa Cội Nguồn thì được lợi ích gì?

Đáp: Còn gì vui sướng hơn nghe theo, làm theo lời dạy của Đức Cha Trời. Nếu kể ra lợi ích nầy, thì dù kể đến trăm nghìn năm cũng không hết. Đây chỉ là kể sơ qua lợi ích, tin theo, làm theo. Lập công trong Văn Hóa Cội Nguồn lời dạy của Đức Cha Trời, 10 lợi ích cơ bản.

1 - Là Tổ Tiên Khai Hóa, Cha Trời, Địa Mẫu. Phật, Thánh, Tiên, Thần Chúa thường hộ trì, độ mạng, che chở, phù hộ, họa tiêu phước đến, cầu chi đặng nấy, muốn gì đặng nấy. Nếu điều ước muốn không trái với Đạo Đức, nếu công càng lớn Đức càng cao, thì cầu càng linh.

2 - Con cháu hiếu thuận, hiển đạt công danh, ông bà siêu thăng, cha mẹ tăng tuổi thọ, niềm vui kéo đến, tai nạn giảm đi cải số, chuyển họa thành phúc, chuyển nghèo thành giàu, dư ăn dư để. Bệnh tật tiêu trừ, bệnh nặng chuyền thành bệnh nhẹ, bệnh nhẹ chuyển thành hết bệnh. Nhờ lập công trong Văn Hóa Cội Nguồn. Rời xa tội lỗi, tạo lập nhiều Công Đức. Nên đã chuyển đổi số mạng. Từ họa chuyển ra phúc, tuổi về già không lẩn não, Linh Hồn minh mẫn, Siêu sanh về thượng giới. Sống trong Cực Lạc.

3 - Không sanh vào ba ác Đạo, Địa Ngục, Ngạ Quỷ, Súc Sanh, phước lớn thì sanh về Trời, phước nhỏ thì sanh trở lại làm người, hưởng phú quí vinh hoa giàu sang, trí huệ sáng láng, gia đình êm ấm. Muôn phúc nghìn lành. Vô cùng toại nguyện.

4 - Nếu là dân thường nhờ lập công trong Văn Hóa Cội Nguồn, thì lên chức Thần, nếu là Thần thì lên chức danh Phật, Thánh, Tiên, vào ba ngôi chí Bảo, Pháp Tạng, Luật Tạng, Thiên Tạng, nếu là Phật, Thánh, Tiên, có công trong Văn Hóa Cội Nguồn Thiên Đạo vũ trụ, thì lên ngôi Phật Tổ, Thánh Tổ, Thiên Tổ, Chí Tôn vô thượng.

5 - Trí Huệ vô ngại, biện tài vô ngại, chuyển đại pháp Luân, thay Trời hành Đạo làm theo thiên ý Đạo Trời.

6 - Phước báo vô tận, trang nghiêm thù thắng, uy quyền tột đỉnh, Báo Thân có đủ 32 tướng tốt 80 vẻ đẹp, Pháp Thuật, Thần Thông, Trí Huệ không thể nghĩ bàn vô tận.

7 - Bất sanh – Bất diệt – Bất cấu – Bất tịnh – Bất tăng – Bất giảm trong sạch. Như hoa sen thường còn vô lượng thọ không còn cái thọ nào hơn.

8 - Nhất thiết chủng trí, đồng nhất một trí, quá khứ vị lai, chỉ là một trí. Trí vũ trụ.

9 - Viên mãn trí Huệ, viên mãn Hạnh Nguyện vào ngôi Chánh đẳng Chánh giác, an trụ niết bàn (Vô Trụ) Tự Nhiên Trụ.

10 - Toàn năng, Toàn giác làm chỗ tựa vững chãi cho toàn pháp giới cháu con.

* * *

Hết phần 1 chương 3 Long Hoa Mật Tạng, mời xem tiếp phần 2 chương 3.

* * *

CHƯƠNG 3

PHẦN 2

ĐI TRƯỚC VỀ SAU

Các Giáo Đạo ra đời sau Văn Hóa Cội Nguồn Thiên Đạo vũ trụ. Nhưng lại có dịp truyền bá rộng rãi. Nhằm lúc con người đang trên đà phát triển văn minh về vật chất, tuy giấy bút còn thô sơ, có cơ hội lưu chép Kinh Luân. Cũng như tạc tượng họa hình mỗi ngày một thêm phong phú, dễ in sâu vào lòng người. Lại thêm Kinh luân văn tự lưu truyền không thay đổi, nên không có sự thất truyền, vì vậy các Tôn Giáo, Đạo Giáo đứng vững, vì bổn gốc không mất và lần lần lan truyền khắp cùng thế giới.

Còn Văn Hóa Cội Nguồn Thiên Đạo vũ trụ ra đời trước các Giáo Đạo Tôn Giáo hàng nghìn, nghìn năm. Gặp lúc con người còn lạc hậu về vật chất, chưa chế tạo ra giấy bút, thì lấy đâu ra giấy bút để lưu chép Kinh Luân. Chưa nói đến chữ viết còn lạc hậu thô sơ ở dạng tượng gạch, tượng hình. Nên việc lưu truyền Chánh Giáo rất hạn hẹp, rồi dần dần đi vào bế tắc. Dẫn đến thất truyền, không còn phát huy rộng lớn được nữa, đi vào bế tắc, vì vậy Văn Hóa Cội Nguồn tưởng như là mất hẳn, bất ngờ đâm chồi nảy lộc, đơm hoa kết trái rực thắm mùa xuân cả đất trời. Có thể nói Văn Hóa Cội Nguồn Chủ Nghĩa Đại Đồng ra đời trước nhưng lại nở hoa sau, đi trước về sau bao chót. Đây là điều bí mật Thiên Cơ Đức Cha Trời Lạc Long Quân sắp xếp như vậy, nở hoa Văn Hóa hồi kết thúc của tiểu kiếp thứ 9, mở màn cho tiểu kiếp thứ 10.

Thời kỳ Văn Hóa Cội Nguồn ra đời. Đạo Nhơn Luân Hiếu Nghĩa ở đỉnh cao làm sáng rực Nền Quốc Đạo Tiên Rồng, ít có người dối trá, bất nhân, bất nghĩa, bất trung, bất hiếu, ngược lại họ còn Trung Hiếu, Nhân Nghĩa vô cùng. Có thể nói người xưa thực hiện Đạo làm người rất đạt. Biết liêm sỉ, biết hổ thẹn khi làm sai, công minh chính trực, kính trên nhường dưới, tôn ti trật tự, khiêm tốn dung hòa, anh em họ tộc, chồng vợ cha con có khuôn phép. Vua, Tôi, Quan, Tướng giữ lễ hàng đầu, xã hội nghiêm minh, tất cả đều sống theo Hiến Pháp, Luật Pháp, thật thà chất phát lòng ngay thẳng, tham lam tật đố ít sanh ra, yêu nước yêu non lòng nhường nhịn, tướng vương, tôi tớ rất dung hòa, xã hội muôn phần đều tốt đẹp, thái bình Độc Lập khắp Âu Ca, dân giàu nước mạnh luôn phồn thịnh, văn minh Quốc Đạo thật sâu xa, Độc Lập kéo dài xuân cùng khắp, mấy nghìn năm hạnh phúc mấy ai qua. Nước Văn Lang kéo dài Độc Lập mấy nghìn năm, phần lớn là do Văn Hóa Cội Nguồn Nền Quốc Đạo Tiên Rồng ung đúc sự bền vững của thái bình thịnh trị, không có một quốc gia nào trên thế giới thời đó sánh kịp.

Lấy trường dạy Đạo thay thế cho nhà tù, cải tạo gội rửa tâm linh bằng Văn Hóa Cam Lồ Cội Nguồn, ít dùng đến bạo lực đàn áp khổ sai, hình ảnh Đức Quốc Tổ lúc nào cũng coi như là Đấng Cứu Thế. Mà thật đúng vậy, Đức Quốc Tổ là con lớn của Đức Cha Trời Lạc Long Quân, Chí Tôn Thiên Đế đầu thai xuống trần, đấng cứu thế, nên Thiên Thần, Địa Thần luôn luôn theo phò trợ Đức Quốc Tổ. Văn Hóa Cội Nguồn Nền Quốc Đạo Tiên Rồng. Là nền Quốc Đạo cao quí của toàn dân. Cái Đạo Quốc Vương tôn thờ. Vì vậy sự truyền bá Văn Hóa Cội Nguồn đều nằm trong dòng dõi Vương tộc. Trải suốt một dọc đường 2622 năm Vương trước truyền Vương sau tôn thờ gìn giữ.

Y Giáo chơn truyền. Quốc Vương trước truyền cho Quốc Vương kế vị sau mà thôi. Cũng vì vậy tiếp nhận Văn Hóa Cội Nguồn. Cũng có nghĩa là tiếp nhận Thiên Ấn chiếu chỉ của Trời. Thay Trời hành Đạo.

Đến cuối giai đoạn Hùng Vương thời Hùng Vương thứ 41 thượng hạ Hùng Vương. Hùng Vương đời thứ 18 hạ Hùng Vương. Hùng Duệ Vương là Hùng Vương sau cùng. Mang theo Y Giáo Văn Hóa Cội Nguồn còn sót lại về trời. Không truyền xuống AN DƯƠNG VƯƠNG. Có thể nói Thiên Ấn Cội Nguồn đến thời Hùng Vương cuối cùng là chấm dứt.

AN DƯƠNG VƯƠNG lên ngôi Quốc Vương làm chủ nước Văn Lang. Vì không có Y Giáo Thiên Ấn ẤN truyền, Nên An Dương Vương đổi sang niên hiệu ÂU LẠC. Nước Văn Lang chuyển sang giai đoạn nước ÂU LẠC. Niên hiệu Hùng Vương chuyển sang niên hiệu AN DƯƠNG VƯƠNG. Quốc Tổ Hùng Vương để lại hai Di Sản. Nhưng đến thời ÂU LẠC An Dương thì chỉ còn lại một Di Sản mà thôi. Đó là Tổ Quốc Non Sông. Còn Thiên Ấn, Văn Hóa Y Giáo Cội Nguồn không truyền xuống nữa. Từ đây trở về sau là thời loạn. Mạnh là Vua thua là giặc. Cảnh tượng nồi da nấu thịt luôn luôn xảy ra. Chờ cho Thiên Bút ra đời. Thời Thiên Ấn Văn Hóa Cội Nguồn mới trở lại non sông và NGÀY ĐÓ ĐÃ ĐẾN. Ngày mà Thiến Ấn Thiên Bút ra đời.

* * *

Hết phần 2 chương 3 mời xem tiếp phần 3 chương 3 Long Hoa Mật Tạng. Để hiểu rõ nguồn gốc sâu xa các dân tộc ở tiểu kiếp thứ 9 nói chung, cũng như dân tộc Văn Lang, nay là dân tộc Việt Nam nói riêng. Thì chúng ta mới hiểu thế nào những lời tiên tri về dân tộc Việt Nam, cũng như đất nước việt Nam. Có thể nói những gì qua sấm truyền, cũng như cơ bút ứng linh truyền ra tất cả đều đúng sự thật. Nhưng chỉ có các bậc đại giác ngộ mới thấu rõ cơ bút ứng linh nầy. Còn những suy luận tầm thường thì không thể nào trúng được. Hầu hết là đoán sai, luận sai không trúng những gì cơ bút đã truyền dạy. Và chỉ có Thiên Ấn, Thiên Bút xuất hiện mới làm sáng tỏ những lời cơ bút tiên tri báo trước. Nói về đất nước Việt Nam. Con người Việt Nam, Văn Hóa Việt Nam. Tỏ rạng khắp năm châu bốn biển.

Long Hoa Mật Tạng quá huyền vi

Tu nhanh kẻo trễ mới kịp kỳ

Vận hội Tiên Rồng kìa tỏ rạng

Đại Đồng Đại Đạo một đường đi

Muốn hiểu Việt Nam đặng thể nào

Long Hoa Mật Tạng đọc xem vào

Huyền Cơ ẩn hiện trong kinh giáo

Quốc Tổ anh linh sáng làm sao.

* * *
 
127 ❤︎ Bài viết: 653 Tìm chủ đề
CHƯƠNG 3

PHẦN 3

NGUỒN GỐC CÁC DÂN TỘC NĂM MÀU DA ANH EM CÒN SỐNG SÓT Ở TIỂU KIẾP THỨ 9

Gần cuối tiểu kiếp thứ 8. Tứ Đại Đất – Nước – Gió – Lửa. Thái chuyển hoành hành dữ dội. Nên con người khó mà sống sót. Còn lại không còn bao nhiêu. Mở màn người nguyên thủy ra đời. Sang qua tiểu kiếp thứ 9. Càng gần cuối tiểu kiếp thứ 8. Thì cơn bão bình thường cũng lên tới 200 cây số giờ cuối tiểu kiếp lên tới 300 cây số giờ. Còn cơn bão mạnh lên tới 500 – 600 cây số giờ. Nước dâng ngập hầu hết các lục địa Đồng Bằng. Cuối tiểu kiếp các dãy núi thấp cũng ngập luôn, nhấn chìm hết thảy nền văn minh vật chất ở cuối tiểu kiếp thứ 8. Nhiệt độ trung bình trên 60 độ C, có lúc tăng lên 100 độ C nhất là mùa nắng nóng, ngược lại đến mùa băng giá có lúc âm xuống 100 độ. Động đất liên miên xảy ra các Châu lục, quả đất co giãn rất mạnh và cuối cùng là thay đổi lục địa. Năm châu bốn biển thay đổi địa hình, nhân loại đi vào nguy hiểm.

Gần cuối tiểu kiếp thứ 8 mực nước biển dâng cao, nhấn chìm vô số hầu hết các nước trên toàn thế giới. Nhân loại phải di cư lần đến những vùng đất cao, bỏ lại sau lưng là bao nhiêu thành thị thôn quê, Đời sống khoa học vật chất hiện đại. Vì tất cả giờ đây đã ngập chìm trong biển nước. Nền văn minh vật chất kéo dài hơn mười nghìn năm đã kết thúc, bị tiêu hủy hoàn toàn. Nhân loại còn sống sót ở các dãy núi cao khắp mặt địa cầu vào Đầu tiểu kiếp thứ 9 trở thành người thượng Cổ ở hang, ở động, ở lỗ, sống chung bầy đàn. Trải qua hàng triệu năm trở thành dân tộc Hồng Hoang Bàng Cổ sơ khai và cho đến cách đây hơn một triệu năm mực nước biển đã cạn lần. Nhân loại đang sanh sống ở các dãy núi cao của nhiều Châu Lục. Trong các dãy núi cao của nhiều Châu Lục chỉ có những dãy núi cao ở khắp Tây Tạng và những dãy núi xa gần giáp ranh với Tây Tạng. Nơi đây dân tộc Hồng Hoang sống đông đúc hơn cả, đủ 5 màu da sắc tộc anh em, còn những dãy núi khác rải rác khắp địa cầu thì rất ít. Dân Tộc anh em không nhiều như ở đây.

Ở tiểu kiếp thứ 9 theo thời gian mực nước biển cạn lần, cạn lần. Núi, đồi, đất đai cũng dần dần lộ ra, hàng năm càng rộng lớn. Những trận lụt kinh khiếp theo dòng chảy ra sông ngòi kinh rạch. Nước từ các dãy núi cao Tây Tạng giáp ranh với Tây Tạng chảy xuống các vùng đồi thấp, rồi chảy xuống Đồng Bằng, chảy lần ra biển cả, Thái Bình Dương, Ấn Độ Dương, Đại Tây Dương, Bắc Băng Dương. Mực nước biển rút đến đâu, để lại lớp phù sa màu mỡ đến đó, cộng thêm sông ngòi kinh rạch, mang theo lớp phù sa, là do những trận lụt lớn làm lở núi sụp đồi cuốn theo động vật, thực vật. Lớp bùn phù sa bồi đắp lấp lần ra biển, lấp lần ao hồ, thành những đồng bằng màu mở bạt ngàn, làm cho cây cối sanh sôi nẩy nở, đâm chồi nảy lộc. Rừng xanh tăm tắp bạt ngàn, hoa thơm trái ngọt thi nhau mà chen mà chúc. Chim muôn vạn thú mặc sức mà xơi, nhân loại anh em thi nhau mà sinh mà sản. Bốn phương tám hướng, Đông Tây Nam Bắc khắp vùng xa gần dưới chân núi Tây Tạng cổ xưa. Con đàn cháu đống năm màu da anh em từ bốn phương tám hướng ở dãy núi cao Tây Tạng xuống lần đồi thấp, xuống lần đồng bằng, Theo con suối, con khe từ thượng nguồn của các dòng suối, rồi đến thượng nguồn của các dòng sông, xuống lần đồi thấp, xuống lần đồng bằng. Dân Tộc Hồng Hoang đi lần về hướng Tây, Tây Nam, Tây Bắc, hình thành lên các dân tộc gần vùng Tây Á, Tây Bắc Á, Tây Nam Á. Còn lại là các dân tộc Châu Âu, Châu Phi, Châu Mỹ, Châu Úc. Có thể nói là tiểu kiếp thứ 8, nhất là gần cuối tiểu kiếp thứ 8 nhân loại anh em cũng đã từng ở khắp những Châu này, cả tỷ tỷ dân, nhưng đã bị xóa sổ ở giai đoạn cuối tiểu kiếp thứ 8. Những người sống sót ở cuối tiểu kiếp thứ 8, trở thành dân tộc Hồng Hoang ở đầu tiểu kiếp thứ 9 và tuần hoàn lặp lại họ đi lần về bốn biển năm Châu nơi mà Tổ Tiên ông bà ở tiểu kiếp thứ 8 của họ đã ở. Và từ đây hình thành lên nhiều thế lực chia nhau làm chủ núi rừng, đồng bằng, sông hồ, kinh rạch. Nhân loại ở tiểu kiếp thứ 9 càng ngày càng đông, thì sự di cư từ nơi này sang nơi khác lan tỏa càng nhanh, rồi trở thành những cuộc xung đột của nhiều thế lực xảy ra tàn khốc, tiêu diệt lẫn nhau.

* * *

Hết phần 3 chương 3 mời xem tiếp phần 4 chương 3 Long Hoa Mật Tạng. Bộ kinh tối cao giải rõ bao điều bí mật vũ trụ. Nhất là sự bí mật về địa long hình chữ S địa cuộc của nước Việt Nam. Tiền thân Quốc Tổ Hùng Vương, lịch sử Tiên Rồng cũng như nhân loại về Châu Á.

* * *

CHƯƠNG 3

PHẦN 4

NGŨ LUÂN DA VÀNG

Như chúng ta đã biết, Địa Mẫu Âu Cơ sanh ra nhân loại con người, ông bà Tổ Tiên chúng ta. Cách đây 75 triệu 600 trăm nghìn năm, giữa tiểu kiếp thứ 5. Trăm người con, 50 Nam, 50 Nữ. Gồm 5 màu da ngũ hành, Kim Mộc Thủy Hỏa Thổ. Kim Da Trắng, Mộc Da Chàm, Thủy Da Đen, Hỏa Da Đỏ, Thổ Da Vàng, ngũ hành. (Ngũ Hành, sanh ra Ngũ Luân).

Nói tóm lại Địa Mẫu Âu Cơ sanh ra nhân loại Ngũ Hành. Còn nhân loại Ngũ Hành, sanh ra con cháu Ngũ Luân, ứng hiệp theo Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ.

Đây nói về dân tộc Hồng Hoang Bàng Cổ sơ khai, kéo dài hàng triệu triệu năm. Dân tộc Da Vàng ở tiểu kiếp thứ 9, Hầu hết là con cháu Hồng Đế, luân chuyển sanh ra 5 màu da Vàng Trắng, Vàng Chàm, Vàng Đen, Vàng Đỏ, còn Vàng Hồng đó là chính da. Vì ứng dụng theo Kim Mộc Thủy Hỏa Thổ nên anh em da Vàng có hai lối sống khác nhau, kẻ thích sống ở trên cao gọi là Thượng, người thích sống ở đồng bằng ao hồ sông rạch gọi là Kinh. Kinh, Thượng qua lại chung sống với nhau vì anh em một nhà. Con cháu Hồng Đế trải qua hàng triệu triệu năm, Từ các thượng nguồn con suối, thượng nguồn con sông, xuống lần dưới thấp theo hai hướng, theo các dòng sông và theo các sườn đồi. Phần lớn anh em da Vàng, Kinh, Thượng đi theo hướng mặt trời mọc, rồi tẻ ra Nam, Bắc, Và cho tới cách đây hàng chục nghìn năm anh em Da Vàng theo các con sông xuống Đồng Bằng, trong đó phải kể ba nguồn sông lớn là, Sông Mê Công, Sông Trường Giang, Sông Hoàng Hà. Anh em Da Vàng xuống đồng bằng rồi tiến lần về biển, phần lớn là tiến lần về Thái Bình Dương, phần lớn tiến về hướng Đông Đông Nam ra biển Thái Bình Dương, gần giáp ranh với ẤN ĐỘ DƯƠNG. Hình thành lên hai dân tộc anh em, Đông Nam Á và Bắc Đông Á, lấy Bắc sông Trường Giang làm chuẩn Bắc, Nam. Và cho đến cách đây 7 nghìn năm, lúc bấy giờ nền văn minh Đông Nam Á trên đà phát triển. Dân Tộc Kinh cũng như Dân Tộc Thượng anh em, sống dọc theo thượng Nguồn sông Mê Công, thượng Nguồn sông Trường Giang. Đột phá tiến lên chuyển sang giai đoạn mới, giai đoạn văn minh Ngũ Cốc, trong đó có nền văn minh lúa nước là độc đáo.

Vì sao lại có chuyện như thế? Vì Đông Nam Á khí hậu ôn hòa, bốn mùa tám tiết, nhiệt độ trung bình lên xuống không cao, không thấp. Nên Thực Vật nói nôm na là cây, cỏ, củ rất phong phú, những giống quí hiếm sanh sôi cùng khắp, nhất là về Ngũ Cốc và các giống cỏ, lúa đuôi phụng, đuôi công. Nhưng phát hiện ra Ngũ Cốc cũng như các giống cỏ lúa, liên quan mật thiết đối với con người không phải dễ, tuy biết rằng chúng ở ngay trước mặt chúng ta. Để khám phá ra chúng, sử dụng chúng, đưa đời sống con người lên cao. Đương nhiên phải có nhân tài xuất chúng ra đời, tóm thâu Ngũ Cốc hoang dại, cỏ lúa hoang dại. Lai tạo chúng, nhân giống chúng thành thuần chủng, nâng cao đời sống con người. Đó là ai chúng ta tìm hiểu những đoạn Kinh ở sau.

Còn Đông Bắc Á nhiệt độ lên cao xuống thấp quá lớn. Mùa nóng thì nóng khô hạn. Mùa mưa thì bão tuyết phủ xuống ngập tràn, tương sanh thì nhỏ, tương khắc thì quá lớn không phù hợp cho thực vật nẩy sinh phong phú. Nhất là những giống quí hiếm ít sanh sôi nẩy nở như Ngũ Cốc hoang dại, cũng như cỏ lúa đuôi Công, đuôi Phụng, nên nhà Bác Học vũ trụ không đầu thai xuống Đông Bắc Á mà chỉ đầu thai xuống Đông Nam Á cách đây khoảng 7 nghìn năm.

Nhà Bác Học nông nghiệp Thiên Tài vũ trụ đó là ai? Chính là Đức VIÊM ĐẾ THẦN NÔNG ra đời, mở màng cho nền văn minh Ngũ Cốc. Trong đó nền văn minh Lúa nước là độc đáo hơn cả. VIÊM ĐẾ THẦN NÔNG tìm tòi Ngũ Cốc hoang dại, năng suất thấp, đem về lai tạo nhân giống chúng thành giống thuần chủng năng suất cao. Đưa đời sống nhân loại nhảy vọt lên một bước cao, đánh dấu sự hưng thịnh của Đông Nam Á.

Kế đến là các nhà Bác Học vũ trụ xuống trần ra đời, trong niên đại Viêm Đế Thần Nông, như nền văn minh hội họa, hình tượng, gạch tượng, động tượng và biểu tượng. (XemKinh Văn Lang Chiến Sự sẽ rõ).

Thay cho lời nói, mở ra trang sử mới trong giao tiếp, văn minh tinh thần, vật chất lần lần xuất hiện. Sau thời đại Viêm Đế Thần Nông là thời đại KINH DƯƠNG VƯƠNG. Sau thời đại Kinh Dương Vương là thời đại HÙNG VƯƠNG. Sau thời đại Hùng Vương là thời đại ÂU LẠC.

* * *

Hết phần 4 chương 3 mời xem tiếp phần 5 chương 3 Long Hoa Mật Tạng, bộ kinh nói rõ về Cội Nguồn của dân tộc Văn Lang nay là dân tộc Việt Nam. Kéo dài hàng triệu triệu năm không phải chỉ có năm nghìn năm Văn Hiến, mà hàng triệu năm Văn Hiến. Năm nghìn năm Văn Hiến là nói từ thời Quốc Tổ Vua Hùng khai dựng nước Văn Lang đến bây giờ. Một dân tộc có truyền thống lâu đời nhất thế giới như vậy. Mới có cơ sở làm tỏ rạng năm màu da anh em khắp cùng trái đất.

* * *

CHƯƠNG 3

PHẦN 5

PHẦN TÓM LƯỢC

1: Lịch sử: Quốc Tổ Hùng Vương, khai dựng nền Quốc Đạo Văn Hóa Cội Nguồn dựng lên nước Văn Lang. Quá trình tiến hóa của xã hội nay là nước Việt Nam.

2: Đức Quốc Tổ Hùng Vương chính là Đức Giáo Tổ, Chí Tôn Thiên Đế con cả của Đức Cha Trời Lạc Long Quân, đầu thai xuống trần làm con Kinh Dương Vương.

3: Đức Quốc Tổ Hùng Vương chứng quả vô thượng, Chánh Đẳng Chánh Giác, thuyết ra Văn Hóa Cội Nguồn, hàng phục trăm bộ lạc, lập lên nước Văn Lang rộng lớn.

4: Do chính sách trị dân bằng Văn Hóa Cội Nguồn Nền Quốc Đạo Chính Nghĩa, đất nước Văn Lang Độc Lập kéo dài, thời dựng nước 79 năm, thời giữ nước 2622 năm, cộng chung là 2701 năm.

5: Vì do truyền khẩu quá lâu dài hàng nghìn năm, Văn Hóa Cội Nguồn càng về sau càng mất gốc, mất dần Tinh Hoa ý chính, trở thành truyền thuyết không đầu, không đuôi, không thứ lớp, thiếu thực tế.

6: Cũng vì mất gốc Văn Hóa Cội Nguồn, Con Cháu Tiên Rồng rơi vào hố thẳm, bóng đêm trùm xuống, chiến tranh loạn lạc, nồi da nấu thịt, nô lệ triền miên.

7: Sống theo kế sách bạo lực, thắng là Vua, thua là giặc. Đi ngược lại Văn Hóa Cội Nguồn, Hiến Pháp Văn Lang.

8: Hiến Pháp Văn Lang là Hiến Pháp Đại Đồng, Bình Đẳng là cán cân công lý xã hội, là Chí Tôn vô thượng. Bảo vệ Quyền Tự Do, Quyền Độc Lập. Quyền Tự Chủ, Quyền Bình Đẳng, Quyền mưu cầu hạnh phúc của mỗi người dân, của mỗi dân tộc, không một ai có quyền xâm phạm.

9: Là tôn trọng lẫn nhau, sống đúng Hiến Pháp và làm đúng Luật Pháp, hai bên cùng có lợi, cả hai mặt, tinh thần lẫn vật chất.

10: Ra sức bảo vệ Văn Hóa Cội Nguồn Nền Quốc Đạo Dân Tộc. Ra sức Cống Hiến sức lực tài năng, trí huệ, của cải vật chất. Xây dựng, gìn giữ mỗi ngày một lớn mạnh, gánh vác mọi khó khăn, làm cho nền Quốc Đạo ngày một sáng tỏ phát Đại Dương Quang, đưa con cháu Tiên Rồng nói riêng, nhân loại thế giới nói chung đến cảnh Cực Lạc Hạnh Phúc.

* * *

Hết phần 5 chương 3 mời xem tiếp phần 1 chương 4 Long Hoa Mật Tạng, bộ kinh nói rõ về Cội Nguồn của dân tộc Văn Lang nay là dân tộc Việt Nam. Long Hoa Mật Tạng là bộ kinh Quốc Bảo làm sống dậy khí thiêng sông núi, sống dậy Hồn Thiên Dân Tộc. Đưa dân tộc Việt Nam tỏa sáng khắp năm châu bốn biển. Gươm thiên trấn quốc, độc lập tự do, thái bình an lạc muôn năm. Mùa xuân mãi mãi nở trong lòng người, xuân giàu sang, xuân hạnh phúc trên khắp đất nước quê hương.

* * *

CHƯƠNG 4

PHẦN 1

NGUỒN GỐC TIỀN THÂN QUỐC TỔ HÙNG VƯƠNG

Đức Quốc Tổ Hùng Vương chính là Đức Giáo Tổ, Chí Tôn Thiên Đế đầu thai xuống trần, là một trong trăm người con của Địa Mẫu ÂU CƠ và LẠC LONG QUÂN. 100 người con của Đức Cha Trời LẠC LONG QUÂN và Địa Mẫu ÂU CƠ, sanh ra tại dãy núi Long Hoa, chốn Hồng Trần, cách đây 75 triệu 600 nghìn năm, giữa tiểu kiếp thứ 5. Một trăm người con của Đức Cha Trời LẠC LONG QUÂN và Địa Mẫu ÂU CƠ hiện đang làm Phật Tổ, Thánh Tổ, Tiên Chúa, Mẫu Hoàng, Phật Mẫu, Tiên Mẫu, Thánh Mẫu cai quản khắp tầng trời, Tam Thiên Đại Thiên vũ trụ. Đức Giáo Tổ Chí Tôn là anh cả, theo di chí Tổ Tiên, làm theo lời dạy của Đức Cha Trời.

Cho đến cách đây hơn năm nghìn năm, nơi tầng Trời thứ 11 trung Thiên Giới, nơi tầng Trời Thiên Vân, cõi Long Vân, Đức Giáo Tổ Chí Tôn ra khỏi Thiên Cung nhìn về chốn trần gian, trong lòng bỗng nhiên hồi hộp, một chuyện lạ chưa từng có, không hiểu chuyện gì sắp xảy ra. Thì thấy vũ trụ bỗng nhiên tối đen như mực, cuồng phong nổi dậy ù ù, tiếng gào thét kêu la thật thảm thiết. Đức Chí Tôn suy nghĩ, đây là cuồng phong chốn nhân gian, tiếng gào thét kêu la từ Địa Ngục sao lại bay lên tới tận trung Thiên nơi này hay là Đức Cha Trời có điều chi dạy bảo, đang suy nghĩ, thì thấy Chư Thiên nhiều vô số vô biên lâm phàm, bị vô minh vây phủ, không trở về Trời được nữa, không biết bao nhiêu là Chư Thiên rơi luôn xuống Địa Ngục âm phủ thống khổ vô cùng.

Đức Chí Tôn thở dài, bỗng chốn hư không Ba Đạo hào quang, kéo theo hàng loạt tiếng sấm lớn, tức thời màn đêm từ từ biến mất. Vũ trụ giờ đây đã trở lại yên bình, hiện ra vô số hoa sen báu, sau đó thì biến mất.

Biết Đức Cha Trời có điều muốn dạy, Đức Chí Tôn liền chắp tay vái lạy chốn hư không khấn rằng:

Thưa Đức Cha Trời, hiện tượng vừa hiện ra nơi vũ trụ, con đây chẳng rõ, vừa mừng vừa lo. Xin Đức Cha Trời dạy bảo cho con hiểu.

Lời khấn vái của Đức Chí Tôn xong, thì nơi chốn hư không phát ra tiếng nói:

Này A DI ĐA con là anh cả trong 100 người con của ta, nay ta giao cho con việc lớn. Tiểu kiếp thứ 9 sắp kết thúc, chuyển sang tiểu kiếp thứ 10. Con đem Văn Hóa Cội Nguồn Thiên Đạo vũ trụ truyền xuống chốn nhân gian, mở đường đưa nhân loại về Trời. Qua khỏi sông mê đến bờ giác, mùa gặt hái linh hồn đã đến. Nhân loại tu luyện tiến hóa Linh Hồn đã trải qua 16 triệu 800 nghìn năm, thời kỳ trình độ dân trí tiến hóa lần đến chỗ chí cao. Nhân loại cần có đường để về Trời, tiến lên Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa. Còn những Linh Hồn chậm tiến sẽ ở lại chốn nhân gian, tiếp tục đầu thai chuyển qua tiểu kiếp thứ 10, tiếp tục tu luyện chờ mùa gặt sau. Nơi chốn Hồng Trần dãy núi Long Hoa, sau một thời gian sụp lở đã thấp xuống, gãy khúc lởm chởm tạo ra núi non trùng điệp. Nay mực nước biển đã xuống thấp, Địa Long đã lộ ra, dọc theo bờ biển từ Nam cho tới Bắc. Con hãy đầu thai xuống chốn nhân gian, sanh vào dòng dõi KINH DƯƠNG VƯƠNG, lớn lên dùng gươm trí huệ, hàng phục ma quân, đại quỷ yêu quái, hàng phục Thần Giáo lập lên Văn Hóa Cội Nguồn Thiên Đạo vũ trụ, Đất Nước Văn Lang. Đóng đô ở Đầu Địa Long hình chữ S . Con phải đầu thai ba lần con mới làm xong sứ mệnh.

Lần thứ nhất: Con đem Thiên Ấn Văn Hóa Cội Nguồn Thiên Đạo vũ trụ xuống nhân gian, lập lên Nền Quốc Đạo Tiên Rồng. ẤN TRUYỀN xuống con cháu thay nhau gìn giữ. Nhưng không bao lâu thì Thiên Ấn thất truyền, con cháu Tiên Rồng nhân loại con người phàm trở lại rơi vào cảnh tối tăm. Cho nên con phải đầu thai lần thứ 2.

Lần thứ hai: Không phải đầu thai làm con Quốc Vương trở thành Thái Tử Điện Hạ, quyền thế uy nghi mà đầu thai vào gia đình trung nông bình thường, mồ côi mồ cút, sống trong cảnh chiến tranh loạn lạc, thiếu ăn thiếu mặc, lang thang khắp chốn, rồi trở thành cư sĩ ẩn dật, chịu nhiều khảo đảo của ác Ma và ác Quỉ, gian truân khốn khổ trăm bề suốt 30 năm. Lúc này nhân loại trên đà văn minh vật chất cao, đã chế tạo ra giấy bút mực tinh xảo, đầy đủ nhân duyên cho con để lại cả ẤN lẫn BÚT. Văn Hóa Cội Nguồn Thiên Đạo vũ trụ lại tiếp tục ra đời, Long Hoa Hội tiếp tục khai mở. Kinh luân lưu truyền đến tiểu kiếp thứ 15 thì mãn. Thời Long Hoa kéo dài 84 triệu năm, chuyển sang giai đoạn Liên Hoa Hải Tạng.

Lần thứ ba: Con đầu thai xuống chốn nhân gian, giữa tiểu kiếp thứ 10, làm Chuyển Luân Thánh Vương, xuất gia tu hành, làm tổng trì cho Tổ Tiên Khai hóa, thay Cha Trời, Địa Mẫu chuyển Đại Pháp Luân. Thị hiện Bản Thể, Bất Cấu, Bất Tịnh, Bất Tăng, Bất Giảm, trong sạch, bản thể Đại Đồng, Tánh Đại Đồng, Tướng Đại Đồng, Trí Đại Đồng, quá khứ vị lai cũng chỉ là một. Thọ ký cõi nước trang nghiêm cho những người có công lớn trong Văn Hóa Cội Nguồn Thiên Đạo vũ trụ.

Đức Cha Trời truyền dạy xong, nơi không trung bỗng nhiên ba Đạo Hào Quang hiện ra chiếu xuống đầu Đức Chí Tôn, tức thời nhục kế trên đỉnh đầu Đức Chí Tôn liền trong suốt hóa thành gươm Thiên vũ trụ. Trí Huệ của Đức Cha Trời, thần thông trí huệ quảng Đại Vô Biên.

Tiếp nhận xong lời truyền dạy của Đức Cha Trời. Đức Chí Tôn trở về Thiên Cung Đại Điện, ngồi xếp bằng phóng ba Đạo Hào Quang xuyên suốt không gian vũ trụ. Hiệu triệu các vị Phật Tổ, Thánh Tổ, Tiên Chúa, Lão Lão Tổ, Vương Mẫu, Thánh Mẫu, Mẫu Hoàng, Phật Mẫu đang cai quản khắp các tầng trời, khắp cùng Tam Thiên, Đại Thiên vũ trụ.

Nói về 6 phương trời là: Đông Phương, Tây Phương, Nam Phương, Bắc Phương, Thượng Phương, Hạ Phương. Mỗi phương lại có thập phương, vô số, vô biên, cõi nước Chúa, cõi nước Thánh, cõi nước Phật. Nhận được lời hiệu triệu của Đức Chí Tôn, liền đằng vân giá vũ tức tốc lên đường đến trung ương Thiên Giới để họp. Từ 6 phương thập hướng, từng cụm mây vàng, mây xanh, mây đỏ, mây trắng, trùng trùng điệp điệp lớp lớp vô tận vô biên, nhắm hướng cõi Long Vân bay đến.

Đức Chí Tôn thấy Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa, đến dự Hội Long Vân đông đủ, các ngài là các bật Tôn Sư, Giáo Tổ, Phật Tổ, Vương Mẫu, Thánh Mẫu, Mẫu Hoàng, Phật Mẫu cùng các Thượng Đế, Vương Đế, Vua, Chúa vô lượng cõi Trời, đến hội họp đông đủ. Tức thời Kim Đồng Ngọc Nữ bay lên không trung xông hương trổi nhạc, ca hát ngợi khen tán thán, cúng dường xong đâu vào đấy.

Đức Chí Tôn mới chắp tay hướng về Đại Hội thưa rằng:

Theo thường lệ cứ 5 năm là Đại Hội Long Vân một lần, nhưng hôm nay lại sớm hơn 1 năm là vì Đức Cha Trời có lệnh, dạy bảo chúng ta có điều cần làm. Các anh em khắp vũ trụ có nghe thấy lời dạy của Đức Cha Trời không?

Đại Hội thưa rằng:

Bạch Đức Chí Tôn anh em chúng tôi đều nghe thấy rõ cả, nên đã chuẩn bị tinh thần, chờ Đức Chí Tôn hiệu triệu là lên đường ngay.

Đức Chí Tôn nói:

Anh em chúng ta là dòng dõi Tiên Rồng, con cái nhà Trời, từ khi Cha Trời, Mẹ Trời hiện thân sanh ra chúng ta, rồi trở về với Tạo Hóa, trở về ngôi vị Khai Hóa Tổ Tiên, đấng lập lên tất cả vũ trụ, vạn vật và con người. Cha Trời, Mẹ Trời trở về với Tạo Hóa chuyển xây bộ máy huyền Cơ vũ trụ và đã giao cho anh em, con cháu chúng ta làm chủ vũ trụ.

NHƯ CHÚNG TA ĐÃ BIẾT:

Vũ trụ chúng ta đang cai quản không phải là vũ trụ đầu tiên, mà là vũ trụ anh em ta cai quản đã có vô lượng vô biên vũ trụ hủy diệt rồi.

Các thế giới đàn anh của chúng ta, sau khi vũ trụ hủy diệt, thì Linh Hồn các ngài đã nhập vào bản thể Cội Nguồn vũ trụ rồi. Từ bọt nước, Tiểu Linh Hồn nhập vào bản thể Nước, Đại Linh Hồn vũ trụ, bọt nước trở lại là nước. Tiểu Linh Hồn trở thành Đại Linh Hồn. Anh em chúng ta đang làm chủ sống trong vũ trụ mới, kế tiếp vũ trụ đã hủy diệt cách đây hàng tỷ năm. Chúng ta đang sống trong vũ trụ của chúng ta, chúng ta phải biết gìn giữ và phải có bổn phận dìu dắt hướng dẫn và giúp đỡ cho thế hệ sau tiến lên giải thoát đau khổ, giải thoát sanh tử như các vũ trụ trước. Anh em chúng ta phải theo lời Cha Trời dạy bảo, tùy sự giác ngộ của mỗi người mà phát Đại Nguyện tận độ lớp lớp thế hệ sau. Trải qua hàng triệu năm, dưới sự cai quản của anh em chúng ta, Thiên Giới vẫn bình yên trong Bình Đẳng tự do, An Lạc hạnh phúc.

Chốn nhân gian tuy là cõi phàm tục nhưng lại là nơi sanh ra anh em chúng ta. Cứ mỗi tiểu kiếp là một chu kỳ lớp học vũ trụ, từ các loài Cầm Thú, Bò Sát đầu thai làm người, rồi từ người Linh Hồn tiếp tục tu luyện, tiến hóa lên Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa. Rồi tùy theo công hạnh, lập công trong Văn Hóa Cội Nguồn. Theo Thiên Luật luân chuyển mà làm Đế làm Vương, làm Vua, làm Chúa các tầng trời, Tam Thiên, Đại Thiên thế giới khắp cùng vũ trụ.

Nơi chốn nhân gian đang ở giai đoạn gần cuối tiểu kiếp thứ 9, giai đoạn vô cùng khẩn cấp, vô cùng quan trọng, giai đoạn gặt hái Linh Hồn, giai đoạn mãn chu kỳ lớp học tiến hóa Linh Hồn của một tiểu kiếp.

Nhưng cũng là giai đoạn đầy nguy hiểm đối với anh em chúng ta, đầu thai xuống chốn nhân gian. Hầu hết nhân loại ở vào thời kỳ này nhục thể ô trược nặng nề, khi đầu thai vào bụng Mẹ, thì coi như Linh Căn tối tăm mù mịt, quên hết kiếp trước của mình. Sanh ra gặp phải thời thế bất công, chiến tranh loạn lạc, đói nghèo áp bức, tranh giành đua chen, ganh ghét hận thù, nhất là danh lợi cám dỗ. Bát phong xây chuyển, Ngũ Quỉ khảo tra, tai nạn dập dồn khổ thôi là khổ. Lục trần bẩn đục, lục căn bệnh tật điên đảo, lục thức bị vô minh che khuất không rõ giả chân chạy theo bám níu. Nhân loại ác tánh phủ khắp xã hội Địa Cầu, bẫy Quỉ, bẫy Ma, bẫy Gian, bẫy Xảo giăng khắp hang cùng ngõ hẻm.

Dòng phiền não tuông nhau chảy xiết

Bả lợi danh cuốn hút liên miên

Có mấy ai đi ngược trở lên

Mà không bị chúng lôi chúng níu.

Đừng nói chi đến tu hành đắc ngộ. Chỉ cần làm một việc lành cho vững thì cũng đã thấy khó lắm rồi, nói chi đến mở đường khai Lộ cho Thiên Hạ đi theo, mà đó lại là con đường về Trời, thì khó biết là bao nhiêu. Chưa nói đến cảnh bệnh tật, nghèo đói lạc hậu, cảnh anh em, chồng vợ, cha con, họ hàng, thân tộc, người này khổ lôi kéo người kia, người kia khổ lôi kéo người nọ, tâm hồn yên tỉnh được đâu, cứ mãi vùi đầu trong vòng xoáy sanh lão bệnh tử, hận thù triền miên, tham si chẳng dứt, tự mình chẳng cứu được mình, lặn hụp trong biển khổ, còn cứu được ai nữa. Khó biết bao là khó, nguy hiểm biết bao khi sanh xuống chốn nhân gian.

Vì Đại Nguyện, vì Cha Trời đã dạy. Anh em chúng ta lần lượt xuống trần, lấp cửa Địa Ngục mở lối Thiên Đàng. Nếu chậm trễ, thì nhân loại nhân gian tự hủy diệt nhau, rơi vào ác Đạo, Địa Ngục, Ngạ Quỉ, Súc Sanh, không sao tránh khỏi, uổng công 16 triệu 800 nghìn năm luân hồi tu luyện.

Gần cuối tiểu kiếp thứ 9, trình độ khoa học vật chất dân trí đã lên cao, văn minh vật chất đang tiến lên đà cực thịnh, chế tạo vũ khí giết nhau hàng loạt. Nếu không có Văn Hóa Cội Nguồn, Thiên Đạo vũ trụ giải mã bí mật vũ trụ, duy trì Chính Nghĩa Đại Đồng. Thì họa diệt vong sẽ không sao tránh khỏi, thảm khốc vô cùng, Địa Ngục nới rộng, luân hồi chuyển kiếp súc sanh, đầu thai trở lại Thú Cầm, Ngạ Quỉ súc sanh.

Nói xong Đức Chí Tôn toàn thân phóng ra vô lượng Hào Quang: Hào Quang Trì Giới, Hào Quang Thiền Định, Hào Quang Đại Định, Hào Quang Chuyển Luân, Hào Quang Trí Huệ Bát Nhã, Hào Quang Đại Hùng Đại Lực, Hào Quang Đại Từ Đại Bi, Hào Quang Đại Hỷ Đại Xả, Hào Quang Phương Tiện, Hào Quang Đại Phương Tiện, Hào Quang Nhẫn Nhục – Nhẫn Nhịn – Nhẫn Nại, Hào Quang Đại Tinh Tấn, Hào Quang Đại Nguyện.

Đức Chí Tôn phóng ra vô lượng Hào Quang: Hào Quang Đại Đồng, Hào Quang Bình Đẳng, Hào Quang Tự Do, Hào Quang Cực Lạc vô lượng vô biên tạng tánh Công Đức, thù thắng trang nghiêm.

Hiện ra tiếng sấm lớn làm chấn động vũ trụ. Tuyên thuyết rằng ta sẽ đầu thai xuống trần mở màn sớm nhất, tức thời 3 cõi Thiên Đàng, Trần Gian, Địa Ngục bỗng sáng trở lên. Tam Thiên, Đại Thiên thế giới, Chư Thiên mừng rỡ, Chí Tôn sắp lâm phàm cứu thế, tức thời đàn ca sáo thổi, ca hát nhảy múa tán thán Công Đức. Nhiệm mầu thay, lời ca tiếng hát, đàn sáo nhảy múa ấy theo Hào Quang của Đức Chí Tôn luân chuyển cùng khắp vũ trụ, thật là hi hữu chưa từng thấy bao giờ.

Sau Đức Chí Tôn là các vị Phật Tổ phóng vô lượng Quang, vô lượng Quang thanh tịnh, hiện ra vô lượng vô biên hoa sen báu, mỗi tòa sen báu đều có Phật Tổ an ngự, từ vô lượng vô biên tòa sen báu đồng cùng lúc phóng ra vô lượng vô biên Hào Quang: Hào Quang giải thoát, giải thoát phiền não, giải thoát Tri Kiến, giải thoát Địa Ngục, giải thoát Ngạ Quỉ, giải thoát súc sanh, giải thoát luân hồi sanh tử. Hào Quang cứu khổ cứu nạn, Hào Quang tạng tánh Công Đức, Hào Quang Đại Từ Đại Bi, Đại Hỷ, Đại Xả. Vô lượng vô biên Phật Tổ phóng ra vô lượng Hào Quang, Nhơn Chú, Phật Chú, Thánh Chú, Thần Chú làm lợi ích cho toàn nhân loại vũ trụ, Tam Thiên Đại Thiên thế giới. Hào Quang vô ngại trí huệ, Hào Quang nhất thiết chủng trí, Hào Quang Chánh Đẳng, Chánh Giác, cho đến vô lượng Quang, Đà La Ni Tạng Tánh Công Đức thanh tịnh vũ trụ, hi hữu chưa từng thấy bao giờ.

Sau Phật Tổ là các vị Thánh Tổ phóng ra vô lượng Quang. Hiện rõ:

Luật Tạng vũ trụ. Hiện rõ Thiên Tạng vũ trụ. Hiện rõ Pháp Tạng vũ trụ. Phật, Thánh, Thần, Tiên, Chúa đều Bình Đẳng. Hào Quang công lý vũ trụ. Hào Quang Nhân Quả vũ trụ. Hào Quang Phước Báo. Hào Quang Ác Báo. Hào Quang Trọng Tài. Hào Quang Công Tố. Hào Quang Hành Pháp. Hào Quang Phân Xử. Hào Quang Thế Thiên Hành Đạo. Vô lượng Thánh Tổ, đồng phóng vô lượng Hào Quang. Hiện rõ khắp Tam Thiên, Đại Thiên, Thế Giới, Trần Gian, Địa Ngục. Vô lượng vô biên vị Thánh phán xét phân xử Công Minh theo Thiên Luật, Nhơn Luật vũ trụ. Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa, phàm nhân, Quỉ, Ma hể phạm tội liền bị luân chuyển nhận lãnh quả báo như nhau. Thiên Luật vũ trụ không thiên vị một ai. Cán cân công lý vũ trụ mãi mãi ứng dụng theo Luật Đại Đồng Bình Đẳng. Không thay đổi, hi hữu chưa từng thấy bao giờ.

Sau Thánh Tổ là các vị Tiên Chúa phóng ra vô lượng Quang. Hào Quang hình thành lực vũ trụ. Hào Quang hình thành khí vũ trụ. Hào Quang hình thành nước vũ trụ. Hào Quang hình thành lớp bụi vũ trụ càng lúc càng nhiều. Bỗng nổi lên một trận phong Luân dữ dội, sấm chớp lửa đỏ dậy trời, rồi phân ra làm 9 phong Luân vũ trụ. Chia làm ba phần, Thượng Luân, Trung Luân, Hạ Luân. Từ một phong Luân tách ra hàng nghìn hàng vạn phong Luân nhỏ. Rồi từ hàng vạn phong Luân tách ra hàng triệu phong Luân. Lớp bụi vũ trụ bị phong Luân cuốn hút theo xoáy tròn. Lực ép khí, khí ép nước, nước ép lại bụi vũ trụ đã tạo ra sau cùng thành vô lượng, vô biên cõi nước Trời. Nhật, Nguyệt, Tinh Tú, Thiên Hà, Ngân Hà trần gian âm phủ, ba cõi Thiên Đàng trần gian âm phủ. Vô lượng Chúa Tiên lại phóng ra vô lượng Hào Quang hiện rõ quá khứ, từ vũ trụ Vô Cực hiện ra vũ trụ Thái Cực, từ Thái Cực vũ trụ phân ra lưỡng nghi rồi hình thành Âm Dương vũ trụ. ÂM DƯƠNG giao hóa chuyển động theo phong luân, sanh ra ngũ hành, để rõ hơn ÂM DƯƠNG phân ra tứ tượng, tứ tượng âm dương giao hóa với nhau, chuyển động theo phong Luân hình thành Kim Mộc Thủy Hỏa Thổ luân chuyển phân hóa sanh ra thập nhị địa chi. Lục Luân Chuyển Hóa, Ngũ Địa Luân Hoàng, Bát Quái giao tranh, Hào Quẻ sanh ra có lang có lớp, tương sanh tương khắc, sanh trụ dị diệt, thành trụ hoại không. Từ một đầu lông cho đến vũ trụ có sanh có tử, đều theo Luật tuần hoàn, không rồi lại có, có rồi lại không. Văn minh khoa học, tinh thông vật chất, nhờ hiểu rõ cơ lý đa năng bộ máy tiến hóa đa dạng vũ trụ, kết tập kinh nghiệm, hình thành nền văn minh Thiên Địa, Địa Tiên lập lên thế giới Thiên Đàng Cực Lạc, truyền xuống phàm trần làm lợi ích cho toàn nhân loại, thật là hi hữu chưa từng thấy bao giờ.

Sau Tiên Chúa là các Thần Tổ vô lượng vô biên, đồng phóng Quang hộ pháp, vang ra tiếng sấm lớn chấn động vũ trụ, làm cho tà giáo, ác Ma, ác Quỉ khiếp đảm, Đại Hội bất thường Long Vân kết thúc. Tam giáo Quy nguyên, Ngũ Chi hợp nhất trở về chỗ cũ, ở nước nào về nước nấy, tùy theo cơ duyên mà hành sự. Thế là Thiên Đạo Cội Nguồn vũ trụ mở màn xuống trần sớm nhất rồi đến Phật Đạo, Thánh Đạo, Tiên Đạo, Thần Đạo, lập công với Tổ Tiên, Trời Đất trong Văn Hóa Cội Nguồn.

* * *

Hết phần 1 chương 4 mời xem tiếp phần 2 chương 4 Long Hoa Mật Tạng. Bộ kinh tối cao không thể nghĩ bàn. Chỉ cần xem qua một phần thành tâm khen ngợi, thì bao kiếp nạn cũng tai qua nạn khỏi, huống chi là đọc hết một chương, hay trọn bộ kinh Long Hoa Mật Tạng. Thì những người nầy muôn vạn kiếp sau trở thành những lãnh tụ thiên tài. Uy danh lừng lẫy. Binh pháp siêu đẳng khó người hơn được. Nếu phát tâm ấn in truyền bá cho đời, thì những người nầy nhất định trở thành những vị chuyển luân vương ở khắp cõi trời, giáo hóa vô lượng cõi nước. Được Thiên Chúng ca ngợi tôn thờ.

Long Hoa Mật Tạng Đại phúc kinh

Thành tâm lễ bái cầu hiển linh

Phước đến hoa tiêu trong nháy mắt

Huống chi đọc tụng Quỉ, Yêu kinh.

* * *
 
127 ❤︎ Bài viết: 653 Tìm chủ đề
CHƯƠNG 4

PHẦN 2

NGUỒN GỐC DÂN TỘC ĐÔNG NAM Á

Tiểu kiếp thứ 8 kết thúc, nhân loại còn sống sót, chuyển qua tiểu kiếp thứ 9, trở thành người nguyên thủy, rồi từ người nguyên thủy trải qua hàng triệu năm, trở thành dân tộc Hồng Hoang, Bàng Cổ sơ khai, từ dân tộc Hồng Hoang, Bàng Cổ sơ khai, trải qua hàng triệu năm, trở thành dân tộc Hồng Bàng, đứng đầu Hồng Bàng là Hồng Đế. (Niên Hiệu Hồng Đế ra đời). Rồi từ Niên Hiệu Hồng Đế, trải qua hàng trăm nghìn năm, thời chuyển sang giai đoạn Niên Hiệu VIÊM ĐẾ THẦN NÔNG.

Nói về giai đoạn Niên Hiệu Hồng Đế trải qua hàng trăm nghìn năm, đến đời Hồng Đế cuối cùng. Hồng Đế Hậu Nương hạ sanh Quí Tử khôi ngô tuấn tú, thông minh tài trí khác phàm, đặt tên là HỒNG VIÊM. Vì sao lại là tên Hồng Viêm, vì lúc Đế Nương sắp sanh Quí Tử, liền thấy Thiên Thần đến lễ bái nói chúc mừng Đế Nương. VIÊM Đế xuống trần là nhà Bác Học Thần Nông, chủ nhân của Ngũ Cốc, chủ nhân của Lúa Gạo, nói xong các Thiên Thần liền biến mất. Nên sanh ra Quí Tử, Hồng Đế đặt tên cho con là Hồng Viêm. Hồng Chúa Kinh, Thượng khắp nơi đến chúc mừng.

Ở giai đoạn Hồng Bàng, đứng đầu Hồng Bàng là Hồng Đế, dưới Hồng Đế là Hồng Chúa trấn giữ khắp nơi, người kinh lẫn người thượng, kẻ ở cao người ở thấp. Ở giai đoạn Hồng Bàng người Kinh cũng như người Thượng, một phần sống dọc theo hạ lưu thượng nguồn sông Mê Công, một phần người Kinh cũng như người Thượng sống dọc theo hạ lưu thượng nguồn sông Trường Giang.

Hạ lưu thượng nguồn sông Mê Công, hạ lưu thượng nguồn Nam sông Trường Giang song song cách nhau không xa. Thượng nguồn hạ lưu của hai con sông này hình thành dân tộc Đông Nam Á.

Thời Hồng Đế dân tộc Đông Á chỉ là một và sanh sống tại thượng nguồn của các con sông lớn như: Mê Công, Trường Giang, Hoàng Hà, đến giai đoạn cuối một hai đời Hồng Đế, dân tộc Đông Nam Á mới tách lần ra làm đôi, Đông Nam Á và Đông Bắc Á.

Đến thời VIÊM ĐẾ thì coi như tách hẳn ra, Đông Nam Á và Đông Bắc Á thì chuyển sang thời Kinh Dương Vương kéo dài hơn 2 nghìn năm, rồi chuyển sang giai đoạn Hùng Vương kéo đài 2701 năm.

Đây nói về Hồng Viêm ra đời, càng lớn càng thông minh lạ thường, phát minh sáng kiến ra nhiều điều mới lạ, nhất là về lĩnh vực Ngũ Cốc. Hồng Viêm dẫn theo thuộc hạ, trèo non lặng suối tìm kiếm những giống Ngô, giống Quả, giống Củ hoang dại ở khắp nơi. Nhất là những giống cỏ lúa, đuôi Công, đuôi Phụng, đem về lai tạo thành giống thuần chủng cho năng xuất cao, cho kết quả bất ngờ trúng lớn. Ngô, Quả, Củ đầy rẫy, đầy nương. Đặc biệt nhất là từ những cỏ lúa hoang dại, dọc theo hai bên bờ sông, mọc những nơi đầm lầy trên khô dưới nước. Dân Hồng Bàng gọi đó là cỏ phúc nuôi Chim Trời, đủ loại Chim tới đây tìm ăn, nhất là Chim Hồng Lạc loại Chim khôn ngoan hiền lành. Nhờ có tài Lai Tạo, Hồng Viêm lai tạo giống, biến chúng thành giống lúa nước thuần chủng cho năng xuất cao.

Từ trước đến nay, dân tộc Hồng Bàng chỉ biết lấy việc săn bắn hái lượm để mà sanh sống, nay thấy Lúa, Ngô, Khoai, Sắn do VIÊM ĐẾ lai tạo mới lạ đạt năng xuất, ăn ngon bổ dưỡng, đẩy lùi đói khổ bệnh tật, đưa đời sống con người nhảy vọt lên một tầm cao. VIÊM ĐẾ danh nổi như cồn, tiếng tăm lừng lẫy, Công to Đức lớn, được Thiên Hạ suy tôn là Thần Nông, vị thần Ngũ Cốc lúa gạo.

Khi lên ngôi thay Cha là Hồng Đế trị vì Thiên Hạ. Hồng Viêm đổi niên hiệu. Từ Hồng Đế chuyển sang giai đoạn Niên Hiệu VIÊM ĐẾ THẦN NÔNG. Truyền được 10 đời, đồng danh hiệu là VIÊM ĐẾ THẦN NÔNG.

Đến đời VIÊM ĐẾ THẦN NÔNG thứ 10, có cháu Đế Tôn do Đế Nương sanh ra, khôi ngô tuấn tú, dũng mãnh phi thường, mới sanh ra đã biết đi, ba ngày sau thì biết chạy, mau lớn khác thường, đi trên nước cũng như đi trên cạn, sức mạnh quật ngã con Voi lớn lực lãm kinh người, khai phá đất đai mau chóng bằng hàng trăm người, mở mang ruộng đất cho việc trồng ngô, cấy lúa.

Đời sống con người từ đó nhảy vọt lên một mức cao nữa, Uy danh của Ngài nổi như sấm, Đức cả bay xa nên được Thiên Hạ suy tôn là Đức Sùng Lãm, ý nghĩa của ba chữ Đức Sùng Lãm là: Đức là nói đến công lao khai phá mở rộng ruộng đất, đem lại đời sống no ấm cho con người. Sùng là tôn sùng, kính trọng, kính phục. Lãm là nói đến sức mạnh lực lãm không ai hơn. Hay còn gọi ngài là Đế Tôn Thần Sấm ai nghe đến cũng khiếp sợ.

Đức Sùng Lãm khi lên ngôi thay cho Đế Nội (ông nội), VIÊM ĐẾ đời thứ 10 trị vì Thiên Hạ, liền chuyển đổi Niên Hiệu. Từ VIÊM ĐẾ THẦN NÔNG chuyển sang giai đoạn Niên Hiệu KINH DƯƠNG VƯƠNG. Truyền được 9 đời, đồng danh hiệu là Kinh Dương Vương. Đến đời KINH DƯƠNG VƯƠNG đời thứ 9 cầu hôn Thần Long Nữ ở Bộ Tộc Long Giao, Đông Giao Chỉ kết duyên thành phu phụ. Khi Thần Long Nữ sắp sanh con, thì Hoa Lan khắp non sông nước Xích Quỷ đều nở rộ hương thơm ngào ngạt, ngày 20 tháng 2 coi như là ngày hội Hoa Lan nên Kinh Dương Vương đời thứ 9 đặt tên cho con là Hùng Lan.

* * *

Hết phần 2 chương 4 Long Hoa Mật Tạng, mời xem tiếp phần 3 chương 4.

* * *

CHƯƠNG 4

PHẦN 3

NGUỒN GỐC NAM KINH XÍCH QUỶ GIAO CHỈ

Khi Sùng Lãm lên ngôi thay cho Đế Nội (ông nội) trị vì Thiên Hạ, liền chuyển đổi Niên Hiệu từ VIÊM ĐẾ THẦN NÔNG chuyển sang giai đoạn Niên Hiệu KINH DƯƠNG VƯƠNG. Kinh Dương Vương không những có tài mở mang về Nông Nghiệp mà còn có tài Bác Học phát minh ra Nền Văn Hóa giao tiếp, Hội Họa và các dấu hiệu ra ni thành văn pháp thay cho lời nói. Nhờ phát minh ra Nền Văn Hóa giao tiếp, gởi thông điệp cho qua tấm da thú, đưa con người xích lại gần nhau, hiểu nhau cách xa hàng nghìn dặm, hình thành tính cách ngoại giao với nhiều Bộ Tộc, Bộ Lạc trao đổi thông tin cho nhau. Đến đời Kinh Dương Vương thứ 4, Vương Hậu Nương Nương khi sắp sanh Quý Tử liền thấy một con Rồng vàng to lớn đến chào Bà, sau đó không bao lâu chuyển mình sinh ra Quý Tử. Nên KINH DƯƠNG VƯƠNG đời thứ tư đặt tên cho con là Long Nhi. Long Nhi lớn mau như thổi thông minh kỳ lạ, học đâu nhớ đó, võ nghệ siêu quần, triệt hạ đàn Sư Tử dễ như chơi, phóng lao vài dặm chẳng ai qua, đi dưới nước như trên khô.

Ở vào thời kỳ ấy đã có một số ít Bộ Tộc hình thành dọc theo sông Nam Trường Giang, nhưng bị thuồng luồng, sấu Quỉ, Trăn Quỉ, Hổ Quỉ sát hại. Vì sống không nổi với bầy lũ Quỉ, trong số các Bộ Tộc sống rải rác, Bộ Tộc Kinh Hoa là bị lũ Ác Quỉ sát hại nhiều hơn cả, liền gởi thông điệp về cho Kinh Dương Vương với năm bức họa tiết thông điệp như sau.

Bức thứ nhất: Họa tiết đất bằng đất đai rộng lớn, thuận lợi cho việc trồng lúa, trồng ngô.

Bức thứ hai: Họa tiết nói lên nơi đây có nhiều loài Thủy Quái hung dữ như thuồng luồng Quỉ, cá Sấu Quỉ, Trăn Quỉ, Rắn Quỉ, Hổ Quỉ chúng theo bám con người tàn sát dữ dội.

Bức thứ ba: Họa tiết nói lên các loài Thủy Quái phá hại mùa màng, có phép thuật vô cùng lợi hại như đi gió về mây, gây ra cảnh lụt lội tàn phá cuộc sống của dân.

Bức thứ tư: Họa tiết Kinh Dương Vương đem quân đánh Quỉ, đuổi chúng đi nơi khác hoặc tiêu diệt chúng.

Bức thứ năm: Họa cảnh nói lên sau khi dẹp xong loài Thủy Tộc, Thuồng Luồng Quỉ, Cá Sấu Quỉ, Trăn Quỉ, Rắn Quỉ, Hổ Quỉ, dựng lên đất nước giàu có, ấm no hạnh phúc.

Nói về Long Nhi lớn lên trở thành Long Vương Tử Tài Đức song toàn. Kinh Dương Vương xem xong 5 bức thông điệp do Bộ Tộc Kinh Hoa gởi đến, Kinh Dương Vương xem tới đâu gật đầu tới đó nhưng không có ý kiến gì. Liền đưa 5 bức họa tiết thông điệp cho Long Vương Tử xem, Long Vương Tử xem xong lấy làm mừng rỡ, bằng xin Cha ban cho ấn lệnh đem quân dẹp loạn yêu Quỉ. Kinh Dương Vương bằng lòng, Long Vương Tử liền phát động đại quân tiến về Đông Hải đến Long Giao, tiến đánh các loài Thủy Tộc yêu tinh ác Quỉ.

Long Vương Tử đi đến đâu, các loài Thủy Tộc kinh hồn khiếp vía đến đó, Long Vương Tử chính là Rồng Chúa đầu thai nên các loài yêu Quỉ Thủy Tộc thấy Long Vương Tử đến đâu là kinh khiếp đến đó. Bị Long Vương Tử dùng pháp thuật bắt hết, số nào chống cự lại thì bị giết, số nào bị bắt thì xiềng xích chờ ngày trị tội. Diệt xong các loài Thủy Tộc, Trăn Tinh, Xà Tinh, Hổ Tinh phải mất cả năm, số còn sống sót thì trốn chạy ra biển, ở trên các hải Đảo hoặc trốn chạy qua xứ khác, thu phục một vùng đất đai rộng lớn thuộc phía Nam sông Trường Giang giáp biển.

Long Vương Tử từ thượng nguồn Tây Bắc Côn Minh đánh xuống Quý Dương, Trùng Khánh, Quế Lâm, Chu Châu, Liễu Châu, Thiều Quang, Nam Xương, Hàng Châu, Hạ Môn nói chung là hầu hết Lãnh Nam Trung Quốc ngày nay. Dẹp xong loài Thủy Tộc, Thuồng Luồng Quỉ, Cá Sấu Quỉ, Trăn Quỉ, Rắn Quỉ, Hổ Quỉ, sau đó là cho quân binh khai phá đất đai, màu mỡ trồng ngô cấy lúa, đưa thời đại Kinh Dương Vương tiến lên một bước giàu sang mới.

Long Vương Tử lên ngôi thay cha thành vị vua Kinh Dương Vương đời thứ 5 dời Kinh Đô về Giao Chỉ lập lên nước Xích Quỷ. KINH DƯƠNG VƯƠNG đời thứ 5 là vị Vương Thiên Tài, Đức Độ hơn người, chăm lo phát triển Nông Nghiệp, phát triển Nền Văn Hóa giao tiếp, thuận tiện cho việc ngoại giao, trao đổi hàng hóa, dụng cụ, lương thực khắp xa gần lân bang, các nước bạn.

Khi ấy phía Bắc, Bắc sông Trường Giang, các Vương Đế cũng đã hình thành, nói chung là Dân Tộc Đông Nam Á hay Dân Tộc Đông Bắc Á cũng chỉ là con cháu của Huỳnh Đế, Hồng Đế mà thôi.

Ở cuối thời Hồng Đế. Nam sanh VIÊM ĐẾ: Thì Bắc sanh PHỤC HY: Anh em một nhà.

VIÊM ĐẾ: Là nhà Bác Học NÔNG NGHIỆP.

PHỤC HY: Là nhà Bác Học CÔNG NGHIỆP tơ tằm, bông vải dệt lụa.

Khi Nam chuyển sang giai đoạn KINH DƯƠNG VƯƠNG thì Bắc chuyển sang Vương Đế, Đế Lai, Đế Nghi, Đế Minh, Đế Hạ, Đế Vũ, v. V.. Sự giao thương qua lại, Nam Bắc mỗi ngày một nâng cao nhưng mầm họa chiến tranh cũng từ đó mà phát triển. Do đâu? Do tham lam mà ra cả.

Cho đến đời Kinh Dương Vương đời thứ chín, húy hiệu là Lộc Tục hay còn gọi là Lộc Vương. Sanh ngày mùng 6 tháng 3 năm Giáp Tý, tức là năm 3084 trước Công Nguyên. Vương Hậu KINH DƯƠNG VƯƠNG đời thứ 8, lúc đó khi Vương Hậu sắp sinh con, trong lúc mơ màng yên giấc ngủ, liền thấy Thần dân trong nước ở khắp mọi miền đem cúng nạp vô số châu báu trâm bảo quí hiếm, vàng bạc, ngà voi, sừng tê giác, ngọc trai, trầm hương, mật gấu đầy nhà chật kho. Quả thật khi Vương Hậu sanh Quý Tử xong thời dân khắp mọi miền đất nước đem châu báu trâm bảo, sơn hào hải vị hiếm quí dâng lên Vua mừng Thái Tử ra đời, nên Kinh Dương Vương đời thứ 8 đặt tên cho con là Lộc Tục hay còn gọi là Lộc Vương.

Lộc Tục càng lớn càng hiền lành nhưng lại nhà Quân sự tài giỏi nhất đương thời, vốn bản chất chân tu không háo sắc nên không có nhiều thê thiếp. Khi lên nối ngôi thay cha cũng đồng danh hiệu KINH DƯƠNG VƯƠNG đời thứ 9, không tuyển thêm thê thiếp gì cả, tuổi đã lớn gần trăm nhưng chưa có con nối dòng làm lo lắng cho các quan.

Thấy các quan buồn, Kinh Dương Vương hỏi có việc chi mà các quan các khanh lo lắng rầu rĩ. Quốc Sư Thục Lục thưa, bẩm Quốc Vương nước Xích Quỉ không thể không có người nối dõi, Vương Hậu nay đã lớn tuổi gần trăm khó mà có con được nữa. Quốc Vương nên chọn thứ Hậu để sanh Thái Tử nối dõi ngôi vương. Ở Giao Chỉ có Vương Tộc Long Giao vốn nhà tông, sanh ra út nữ, Tiểu Long Công Nương, nổi tiếng xinh đẹp tuyệt trần, nhân từ khắp vùng, không ai là không ngưỡng mộ. Quốc Vương nên cầu hôn với Tiểu Long Công Nương, Thần Long Nữ về làm thiếp may ra sanh được con Trai. Kinh Dương Vương nghe chí phải, liền cho người đến Bộ Tộc Long Giao ở Đông Giao Chỉ giáp biển, cầu hôn. (Bộ Tộc Long Giao sau này trở thành Dân Tộc Nhật).

* * *

Hết phần 3 chương 4 mời xem tiếp phần 4 chương 4 Long Hoa Mật Tạng, Bộ kinh Nguồn Cội tối cao truyền thống anh linh dân tộc Việt Nam. Những gì thất truyền đã hiện rõ. Vầng Thái Dương đã trở lại sáng bừng trên non sông đất Việt.

Việt Nam chữ S nở hoa

Việt Nam tỏ rạng bài ca thanh bình

Cội Nguồn truyền thống anh linh

Sáng bừng chân lý hiển vinh đời đời.

* * *

CHƯƠNG 4

PHẦN 4

DÂN SỐ – CHÂU BỘ

CUỐI THỜI KINH DƯƠNG VƯƠNG

Nước Xích Quỷ thời dựng nước chỉ có 7 Bộ, 42 Châu nhưng về sau dân số tăng lên, nên tăng thêm hai Bộ nữa thành 9 Bộ, 53 Châu.

1- Giao Chỉ: 92.440 hộ, 746.237 người.

2- Cửu Chân: 15.398 hộ, 78.980 người.

3- Nhật Nam: 15.460 hộ, 69.458 người.

4- Hợp Phố: 16.398 hộ, 78.980 người.

5- Nam Hải: 19.613 hộ, 94.253 người.

6- Uất Lâm: 12.415 hộ, 71.162 người.

7- Thương Ngô: 24.375 hộ, 146.160 người.

8- Ninh Hải: 25.437 hộ, 172.263 người.

9- Vũ Ninh: 21.280 hộ, 136.667 người

Phải nói nước Xích Quỷ ở gần cuối thời KINH DƯƠNG VƯƠNG không những rộng lớn mà dân số cũng đông đúc vô cùng. Đây nói đến những Bộ Tộc anh em ở Đồng Bằng, còn những Bộ Tộc anh em ở trên cao sống ở trên cao dân tộc thượng chưa kể đến. Kinh hay Thượng cũng chỉ là danh từ đặt ra để gọi, thật ra Kinh Thượng vốn là anh em một nhà. Kẻ thích ở cao sống dọc theo sườn đồi gọi đó là Dân Tộc Thượng. Người thích ở thấp, Đồng Bằng sông Hồ Kinh rạch gọi là Dân Tộc Kinh. Kinh Thượng thường lên xuống lại qua chung sống với nhau.

* * *

Hết phần 4 chương 4 Long Hoa Mật Tạng, mời xem tiếp phần 1 chương 5. Phong tục tập quán mỗi dân tộc Bách Việt Văn Lang mỗi khác. Nhưng truyền thống anh linh Bách Việt Văn Lang chỉ có một. Đó là Văn Hóa Cội Nguồn Nền Quốc Đạo Văn Lang. Bách Việt Văn Lang đều sống trong một ngôi nhà chung là sống theo Hiến Pháp, Luật Pháp, Đạo Pháp, Công Bằng, Bình Đẳng Nền Quốc Đạo Văn Lang.

* * *
 
127 ❤︎ Bài viết: 653 Tìm chủ đề
CHƯƠNG 5

PHẦN 1

SỰ RA ĐỜI VỊ QUỐC TỔ THIÊN TÀI CÓ MỘT KHÔNG HAI TRONG NHÂN LOẠI CON NGƯỜI

Thời kỳ phồn thịnh của nền văn minh lúa nước, văn minh giao tiếp, kéo dài hơn mấy nghìn năm. Từ thời VIÊM ĐẾ THẦN NÔNG cho đến thời KINH DƯƠNG VƯƠNG với địa thế đất đai rộng lớn màu mỡ, bởi hàng năm phù sa theo các dòng sông bồi đắp, đưa đến dân giàu nước mạnh. Nước Xích Quỷ bao trùm hầu hết Giang Nam Trung Quốc.

Chín vị Vua KINH DƯƠNG VƯƠNG tiếp nối nhau trị vì Thiên Hạ. KINH DƯƠNG VƯƠNG đời thứ 9 là vị vua nổi tiếng không ham thích tửu sắc, Nhân Đức hiền từ, tuổi đã hơn trăm nhưng chưa có con nối dõi nối dòng làm lo lắng cho các vương quan Đại Thần.

Thấy các quan buồn KINH DƯƠNG VƯƠNG hỏi:

Có việc chi mà các quan các khanh lo lắng rầu rĩ.

Quốc Sư Thục Lục thưa:

Muôn tâu Quốc Vương, Vương Hậu gần hết tuổi sanh con, tuổi trung niên sắp qua, tuổi về già lại đến khó thể sanh con được nữa, Quốc Vương nên thu nạp thứ thiếp may ra có thể sanh con nối ngôi Quốc Vương Bệ Hạ. Muôn dân trăm họ đặng nhờ. Giữ vững cơ nghiệp Tiên Đế Cha Ông. Đông Giao Chỉ có Vương Tộc Giao Long, Vương Chúa có con gái út nữ Tiểu Long Công Chúa, sắc nước hương Trời, nổi tiếng thông minh hiền hậu hiếm thấy trên đời, tuy đã lớn tuổi nhưng Tiểu Long không thích lấy chồng vì cho rằng không ai là người xứng đáng với nàng. Vương Chúa vì thương nên không ép có chồng, tùy Công Chúa Tiểu Long Nữ lựa chọn quyết định.

KINH DƯƠNG VƯƠNG nghe Quốc Sư Thục Lục kể về Tiểu Long Nữ tính tình kỳ lạ, mà ngay cả người Cha cũng kỳ lạ như thế, lấy làm kinh ngạc hỏi:

Có chuyện kỳ lạ đó sao?

Thục Lục thưa:

Bẩm Quốc Vương chuyện Hạ Thần kể đều là sự thật. Quốc Vương nên cầu hôn với Tiểu Long Nữ về làm thứ thiếp, may ra có thể sanh con. Nối ngôi Quốc Vương, muôn dân trăm họ đặng nhờ, giữ vững cơ nghiệp Tiên Đế Cha Ông.

Kinh Dương Vương nghe phải gật đầu, nhưng nói:

Để ta suy nghĩ tính sau.

Thục Lục làm thinh không dám tâu nữa.

Nói về Vương Hậu không có con lấy làm lo lắng, lúc nào cũng khuyên Kinh Dương Vương thu nạp thứ thiếp, để sanh con nối dõi ngôi vương. Kinh Dương Vương ầm ừ qua chuyện, ngày qua tháng lại không đá động gì đến kết nạp thê thiếp, làm lo lắng cho các vương quan Đại Thần, nhất là Vương Hậu.

Kinh Dương Vương chỉ thích tu luyện hơn là nạp thê thiếp, Kinh Dương Vương tu luyện đạt đến cảnh giới Địa Tiên, pháp thuật võ nghệ cao cường, đi trên nước như đi trên đất bằng, đi qua con suối, con khe, hố sâu, vực thẳm, núi cao như đi trên thảm cỏ. Không hiểu vì sao hôm nay Kinh Dương Vương lại muốn dạo chơi nơi Hồ Động Đình, danh lam thắng cảnh thời đó, nhất là dịp xuân về, cảnh sắc nơi đây như bồng lai Tiên Cảnh. Kinh Dương Vương quyết định đi một mình nên không cho ai biết, lặng lẽ một người một ngựa âm thầm ra khỏi cung cấm, nhắm mắt hướng Hồ Động Đình vó ngựa lao đi. Kinh Dương Vương tuy đã hơn trăm tuổi nhưng tráng kiện như trai trẻ khôi ngô tuấn tú oai phong lẫm liệt, nhìn vào chỉ độ 40 tuổi là cùng. Có lẽ Kinh Dương Vương nhờ tu thiền luyện khí nên giữ được bản sắc tướng lâu già, da dẻ hồng hào, trai tráng cũng khó mà hơn được. Cưỡi con Huyết Hãn Long Câu Thần Mã lao đi vùn vụt, nhìn cảnh non xanh nước biếc, lũy tre đồng ruộng, cây đa, bến đò con nước, người người đông đúc qua lại, bề bộn, dập dìu.

Cảnh thái bình thịnh trị khắp nơi nơi, không người ăn xin, ai cũng được no cơm ấm áo. Kinh Dương Vương lòng đầy khoan khoái, cho ngựa đi chầm chậm thưởng thức cảnh miền quê êm ả hiền hòa. Trước mặt là con sông lớn nhưng Kinh Dương Vương hình như không để ý, ngựa người vẫn lướt bon bon trên mặt nước, ai nhìn thấy cứ ngỡ đó là Thần Tiên trên trời dạo chơi nơi chốn nhân gian, vượt qua bao rừng núi, con suối, con khe, hố sâu vực thẳm như đi trên đường lộ, nhìn cảnh núi rừng hoa khoe sắc thắm, hương thơm nức mũi, đá chen hoa hoa chen lá, lá trong mây, mây trong gió, gió làm cho người dễ chịu khoan khoái lân lân.

Ôi Quê Hương, ôi Núi Rừng xanh biếc

Đá chen Hoa, nực Hương trời thơm ngát

Hoa chen lá, cảnh Bồng Lai hạ giới

Lá chen Mây, đang thì thầm xuân tới

Mây trong Gió, tình càng thêm nồng ấm

Đưa hồn người lên tới tận trời xa.

Cảnh Thái Bình, trổ no ấm âu ca.

Kinh Dương Vương, lòng đầy khoan khoái, ngựa cùng người chầm chậm lướt lướt qua. Kinh Dương Vương nhìn cảnh Núi Rừng muôn Hoa đua sắc, mùa xuân lại về, mùa hội tụ lại đến, cảnh bà con thân tộc, cha con chồng vợ anh em sum vầy ấm cúng, bên cổ mâm xôi, bên nồi bánh tắc, Xuân Trời, Xuân Đất, Xuân Tình thi nhau nở rộ.

Hồ Động Đình lần lần xuất hiện, Kinh Dương Vương cảm thấy rất vui, thoáng cái người ngựa đã đến nơi. Hồ Động Đình quan cảnh vừa kỳ bí vừa xinh đẹp, chẳng khác gì Bồng Lai Tiên Cảnh, có lẽ nơi đây là Bồng Lai chốn cõi trần. Kinh Dương Vương xuống ngựa đi dạo quanh bờ Hồ như đang lạc vào Bồng Lai Tiên Cảnh. Bỗng xuất hiện giữa Hồ một bóng Hồng tha thướt, tà áo miên man phất phơ theo gió. Kinh Dương Vương bị cuốn hút theo người con gái đẹp như Hằng Nga giáng thế, bước chân nhẹ nhàng trên mặt nước. Kinh Dương Vương nghĩ nàng là ai từ đâu đến, Thần Tiên ở cõi nào đến dạo chơi nơi đây.

Nàng là ai, từ đâu nàng đã đến

Như vầng trăng, rực sáng cõi nhân gian

Ta đang mơ, hay lạc đến Thiên Đàng

Tà áo nhẹ, lướt trên Hồn thi sĩ

Nàng là Ma, hay là loài ác Quỷ

Cuốn hồn ta, theo nhịp bước nàng đi

Nàng là ai, nàng đừng vội bay đi.

Kinh Dương Vương nhìn nàng con gái thanh nhã, cao sang như đang tìm kiếm vật gì đó. Kinh Dương Vương nào có hay biết người con gái xinh đẹp quý phái kia đang tìm kiếm giấc mơ của mình mà Nữ Thần hạnh phúc đã mách bảo. Con hãy đến giữa lòng Hồ Động Đình tìm lấy hạnh phúc của con. Nàng đến đây tìm hơn nữa giờ mà vẫn không thấy, quả tim hạnh phúc ở đâu. Nhưng nàng vẫn kiên trì đi tới đi lui giữa Hồ để tìm kiếm.

Kinh Dương Vương bị cuốn theo sắc đẹp bước chân, tà áo và sự tìm kiếm của nàng. Kinh Dương Vương như bị nam châm hút lấy, phi thân xuống Hồ đi ra gặp nàng. Người con gái đẹp như Tiên Hằng Nga đang tìm kiếm gì đó giữa mặt Hồ, bỗng phát hiện có người từ xa đi đến, đi trên mặt nước như đi trên đất liền, thì lấy làm kinh ngạc, nhìn xem người tài cao đó là ai, Thần Tiên ở cõi nào đến, khi đã nhìn rõ, nàng bỗng nhiên hồi hộp lạ thường. Thì ra người mới đến là một trung niên cao to vạm vỡ, khôi ngô tuấn tú, khí sắc oai hùng, chẳng kém gì Thần Tiên giáng hạ dạo chơi chốn phàm trần, quả tim nàng đã đập loạn lên.

Kinh Dương Vương càng tới gần càng thấy người con gái đẹp lộng lẫy, có lẽ còn đẹp hơn cả Hằng Nga nữa là khác. Kinh Dương Vương vốn là người không màn đến tửu sắc, thế mà nhìn người con gái mới gặp gỡ này quả tim liền rung động. Người con gái thấy khí sắc oai hùng khôi ngô tuấn tú cũng có sự rung động như vậy.

Kinh Dương Vương sanh tâm kính mến bước tới chào hỏi. Nhìn vẻ quí phái cao sang lễ phép cung cách như Công Chúa, thì nhìn sửng nghĩ nàng là ai? Đến khi giật mình thì nhận ra sự thất kính của mình thì:

Xin lỗi, xin lỗi cô nương tha cho sự vô lễ thất kính của tôi.

Nhìn vẽ lúng túng điệu bộ của Kinh Dương Vương có pha chút khôi hài, nàng liền hết giận phì cười, ôi nụ cười của nàng đẹp làm sao, tươi như cánh Hoa mới nở, đẹp như mùa xuân rực rỡ. Kinh Dương Vương không kiềm được lòng mình, khen nàng cười đẹp quá. Có phải đây là duyên nợ hay không. Biết bao nhiêu lần khen nàng cười đẹp nhưng nàng không hề chú ý, nhưng lần này lại khác. Nàng nghe như mật ngọt rót vào hồn lân lân khó tả, quả tim đập mạnh đôi má ửng hồng, như vừa uống phải một ly rượu mạnh.

Bỗng cô bạo dạng lên tiếng:

Ngài là ai tìm tôi có chuyện gì?

Thấy Kinh Dương Vương lặng im không trả lời nàng có ý hờn giận, hỏi lại như có vẻ hơi gắt gỏng hơn:

Ngài tìm Tiểu Long Nữ tôi có chuyện gì?

Kinh Dương Vương à một tiếng, nghĩ thì ra đây là Tiểu Long Công Chúa, Vương Tộc Long Giao. Kinh Dương Vương vô cùng kinh ngạc đến đổi đờ người ra, không lẽ đây là duyên tiền định. Kinh Dương Vương nhìn Tiểu Long Công Chúa đang giận dỗi liền phì cười:

Chắp tay xin lỗi, xin lỗi Tiểu Long Công Chúa, tôi là Lộc Tục, theo giấc mơ đến đây vô tình gặp Công Chúa mà thôi.

Tiểu Long Nữ nghe Kinh Dương Vương nói thế thì lấy làm kinh ngạc, tự nghĩ sao lại trùng hợp với mình thế, mình cũng đang tìm giấc mơ hạnh phúc. Thế là lời qua tiếng lại càng lúc càng tâm đầu ý hợp, như đã quen biết từ lâu rồi, tình yêu liền đâm chồi mọc rễ hòa quyện lẫn nhau.

Mưa yêu từ thuở xa xăm

Cho hạt nẩy mầm xanh tốt từ đây

Trời xanh gió đã dìu mây

Cây đà nẩy lộc, vương cành đơm hoa

Chim Tình mọc cánh bay xa

Vườn xuân vầy hội Bướm Hoa tựa kề

Hồ gương in bóng trăng thề

Trúc – Mai má tựa vai kề yến oanh.

Kinh Dương Vương tuy là người không háo sắc nhưng gần Tiểu Long Nữ cầm lòng không được liền bước tới nắm lấy tay nàng nói:

Ta tuy là vị Vua nổi tiếng giàu có hùng mạnh nhưng ta chưa bao giờ xâm lược hay đàn áp Bộ Tộc, Vương Tộc nào, luôn luôn tôn trọng lẫn nhau, kết tình bằng hữu. Nhất là Vương Tộc Long Giao ta vô cùng kính mến.

Tiểu Long Nữ cắt ngang:

Thì ra chàng đã biết Tiểu Long là Công Chúa Long Giao.

Kinh Dương Vương nói:

Ta nghe nàng nói nàng là Tiểu Long Nữ, ta liền nghĩ ngay nàng là Tiểu Long Công Chúa.

Tiểu Long Công Chúa như chợt nhớ ra điều gì nhìn Kinh Dương Vương một cách kỳ lạ. Kinh Dương Vương thấy cử chỉ Tiểu Long Nữ khó hiểu:

Ta kỳ lạ lắm sao mà nàng nhìn ta dữ vậy.

Tiểu Long Nữ bắt đầu nói:

Không phải.

Kinh Dương Vương không hiểu gì cả.

Tiểu Long Nữ hỏi:

Chàng nói chàng là Vua một đất nước giàu có hùng mạnh.

Kinh Dương Vương gật đầu.

Tiểu Long Nữ lại hỏi tiếp:

Quốc Vương nước Xích Quỷ sao?

Kinh Dương Vương lại gật đầu.

Tiểu Long Nữ lại hỏi:

Chàng là Kinh Dương Vương.

Kinh Dương Vương lại gật đầu, thiếu chút nữa Tiểu Long Nữ la lên vì kinh ngạc. Có lẽ lời đồn đã sai.

Kinh Dương Vương hỏi:

Nàng nghe đồn gì về ta.

Tiểu Long Nữ nói:

Lời đồn Kinh Dương tuổi đã cao có dư trăm, lại chưa có con nối dõi. Ngôi Quốc Vương sẽ đổi chủ. Dòng dõi Kinh Dương Vương kết thúc.

Kinh Dương Vương thở dài:

Cũng tại ta, không chịu kết nạp thê thiếp.

Tiểu Long Nữ nói:

Thật kỳ lạ Kinh Dương Vương lời đồn dư trăm tuổi, còn Kinh Dương Vương, Tiểu Long Nữ gặp đây chỉ độ 40 tuổi là cùng.

Kinh Dương Vương lại thở dài nói:

Có lẽ do ta tu luyện, cũng có lẽ trời phú cho ta lâu già, ta nay đã 100 tuổi hơn nửa đời người.

Tiểu Long Nữ như có điều suy nghĩ, nhưng thoáng chốc Tiểu Long Nữ vui trở lại, hai người dạo chơi hết dưới nước rồi lên bờ Hồ, cuộc vui chơi nào cũng đến lúc chia tay. Tiểu Long Nữ về Vương Tộc Long Giao. Kinh Dương Vương về Kinh Đô Xích Quỷ.

* * *

Hết phần 1 chương 5 Long Hoa Mật Tạng, mời xem tiếp phần 2 chương 5.

* * *

CHƯƠNG 5

PHẦN 2

Hai người chia tay không bao lâu, thì Kinh Dương Vương cho Sứ Thần qua Vương Tộc Long Giao cầu hôn Công Chúa Thần Long Nữ. Thần Long Nữ vừa xinh đẹp vừa hiền thục, nên về làm vương phi chưa lâu, thế mà đã chiếm được lòng các quan lớn nhỏ trong triều.

Vương Hậu không những không ganh ghét mà hết lòng yêu thương Vương Phi. Vương Hậu thấy mình đã có lỗi trong việc sanh con đẻ cái, sợ dòng dõi Kinh Dương Vương tuyệt hậu. Nên sớm hôm lập bàn hương án cầu Trời, cầu cho Vương Phi Thần Long Nữ có con, sớm sanh Quý Tử. Có lẽ lời cầu nguyện ấy cảm ứng đến Đức Long Hoa Cha Trời Lạc Long Quân và Đức Địa Mẫu Âu Cơ, nên Đức Cha Trời sai Đức Chí Tôn đầu thai xuống chốn nhân gian, sanh vào dòng dõi Kinh Dương Vương làm con Thần Long Nữ.

Nói về Thần Long Nữ sau khi về làm vương thiếp không đặng bao lâu thì có mang, tin vui này đã lan truyền khắp nước Xích Quỷ, làm cho cả nước Xích Quỷ reo hò nhảy múa. Còn nơi Cung Vương Phi lúc nào cũng có kẻ ra người vào tấp nập. Vương Hậu thường đến bầu bạn với Vương Phi. Kinh Dương Vương luôn luôn tạ ơn Trời Đất, Hương Hoa, Trà, Quả cúng dường không ngớt. Có điều khác lạ ở đây, Kinh Dương Vương không dâng cúng Gà, Heo, Trâu, Bò mà chỉ cúng bằng Hương Hoa, Trà Quả, Rượu thơm, Xôi Nếp với tấm lòng thành kính của mình.

Có lẽ Kinh Dương Vương nghĩ, Trời là Đức Hiếu sanh, tất cả sanh linh đều liên quan đến nhà Trời nên không thể dùng sanh mạng dâng cúng, chỉ dâng cúng Hương Hoa, Trà Quả, Rượu thơm, Xôi Nếp là thích hợp nhất. Sự cúng dường không sát hại sanh mạng của Kinh Dương Vương làm tăng thêm phước Đức, các vị Thiên Thần hài lòng lắm, nên luôn luôn hộ trì hộ độ cho Kinh Dương Vương cũng như dòng dõi vương tộc bình an vạn sự.

Đúng vào ngày 20 tháng 2 năm giáp thìn, Vương Phi Thần Long Nữ chuyển dạ sanh con. Trước đó mấy hôm vào lúc canh ba, Thần Long Nữ trong lúc mơ màng, Trời Đất đang trong sáng, bỗng nhiên tối sầm, Ma Quỉ lộng hành, chúng thi nhau phù phép thổi luồng tà khí, dục vọng, tham lam, ganh ghét, trộm cướp, hận thù, tranh giành cuồng loạn, chém giết lẫn nhau, máu chảy thành sông, thây chất đầy núi. Cảnh binh đao múa lửa dậy trời, nhà tan cửa nát, tiếng cầu cứu khóc la thảm thiết, ôi thế nhân đến hồi mạt vận. Vương Phi Thần Long Nữ vô cùng kinh sợ, càng thấy càng khiếp vía kinh hoàng, chưa biết phải làm sao.

Thì lạ thay Vương Phi Thần Long Nữ thấy giữa không trung xuất hiện một vị Thiên Đế uy nghi Hùng Dũng, tay cầm gươm báu, ba đạo Hào Quang sáng chói, xông vào đám Yêu Tinh mà diệt trừ. Vị Thiên Đế hét to: Hỡi lũ Yêu Tinh, Tà Quỉ. Tà tánh của các ngươi từ mê si ngu muội mà ra. Các ngươi là loài Quỉ dữ Ma Thiên. Chuyên làm mưa làm gió gieo rắc chiến tranh. Đầu độc nhân loại. Làm tổn hại con cháu nhà Trời. Nay ta vâng lệnh Cha Trời xuống thế mà trừ hại cho nhân loại con người. Tức thời gươm Huệ vung lên Sấm nổ vang trời. Ba Đạo hào quang rực rỡ. Hiện ra hàng nghìn hàng vạn mặt trời thiêu rụi Tà Quỉ Yêu Tinh. Bóng u minh, khói lửa chiến tranh biến mất. Non sông đất nước thái bình. Bầu trời trong xanh mát mẻ. Mùa xuân lại về, muôn hoa thi nhau đua nở. Chim muôn vạn thú ca hát nhảy múa líu lo. Cảnh ăn no mặc ấm, con đàn cháu đống tràng ngập thôn quê, Phố thị, núi rừng. Vương Phi Thần Long Nữ còn đang ngơ ngơ ngẩn ngẩn mở to đôi mắt mà nhìn. Bỗng chốc vị Thiên Đế đến gần, hào quang rực rỡ mỉm cười rồi biến mất.

Nói về Vương Phi chuyển dạ cuối giờ Mẹo đầu giờ Thìn thì sanh ra một Hoàng Nam tướng mạo khôi ngô tuấn tú. Giống hệt vị Thiên Đế trong giấc mơ.

Lúc Vương Phi Thần Long Nữ sắp sanh Thái Tử. Mùi Chiên đàn hương thơm ngát cả cung thành. Kỳ lạ thay Hoa Lan khắp non sông Tổ Quốc đồng nở rộ, hương thơm ngào ngạt rực rỡ chưa từng có trong đời.

Tiếng hát ca từ Thiên Cung vọng xuống ca ngợi Đức Chí Tôn xuống thế Độ Đời. Các Thiên Thần, thi nhau rưới hương Sen, hương Lan, hương Huệ, hương Mai, và còn nhiều thứ hương khác nữa, từ trên không rơi xuống khắp khung thành. Những người ốm đau liền khỏi hẳn. Những người mù lâu năm bỗng dưng sáng mắt ra. Trí Đức tăng cao, mê mụi đẩy lùi. Ai nấy thấy mình trào dâng sức sống. Mùi Hương thơm đã dứt đi sự lo âu sầu muộn, đưa con người đến an lạc yên vui. Kinh Dương Vương nhìn Thái Tử triều mến thương yêu.

Vương Phi Thần Long Nữ ngắm nhìn hài nhi hồi lâu, rồi thưa với Kinh Dương Vương rằng:

Hài Nhi quả đúng là vị Thiên Đế trong giấc mơ ấy rồi. Vị Thiên Đế anh hùng. Một mình quét sạch Yêu Tinh Quỉ Dữ.

Kinh Dương Vương chiếu theo lời kể của Vương Phi. Thì vị Thiên Đế nầy, chính là Chí Tôn anh hùng xuống trần cứu dân Độ Thế. Nên Kinh Dương Vương đặt tên cho Thái Tử chữ đầu tiên là chữ Hùng khi sanh ra Thái Tử. Hoa Lan khắp non sông Tổ Quốc nở rộ. Hương Lan thơm ngát lan tràn khắp hang cùng ngõ hẻm. Ta vốn chữ đầu là Lộc, mùa xuân, Lan cũng thuộc mùa xuân. Mùa xuân là mùa đẹp nhất trong năm. Vì thế ta đặt Tên cho con ta là Hùng Lan. Thêm chữ Cao ở giữa vì Tổ Tiên Ta là Trời. Từ thời Viêm Đế Thần Nông đến thời Kinh Dương Vương Ta đều thờ một chữ Cao. Hùng Cao Lan. Nhưng khi gọi con chỉ gọi Hùng Lan vì Chữ Cao Họ Trời, Trời Cao. Thiên Tổ Chúng Ta. Đây là điều cơ mật nối truyền cho đến ngày nay. Hùng Lan còn nhiều ý nghĩa khác, như Hùng Thiên, Hùng Khí, Hùng Anh. Lan tỏa, Lan tràn, Lan truyền khắp Thế Giới năm Châu bốn bể. Trần gian, Thiên đàng, Vũ trụ.

Còn chữ Lang có "g" là sau nầy Hùng Lan Dựng nước Văn Lang. Là một đất nước hung dữ, như Lang sói Hổ Báo, đụng đến là bỏ mạng vì thế đã làm khiếp đảm quân thù, ngoại xâm hàng nghìn năm. Vương phi Thần Long Nữ đã sanh ra vị Thiên Tài có một không hai nơi trần thế, nên sau này Thần Long Nữ được suy tôn Đức Thánh Tổ Mẫu. Chính là Đức Vương Mẫu trên cung Trời Đao Lợi Thiên, quyền lực vô biên.

* * *

Hết phần 2 chương 5 mời xem tiếp phần 3 chương 5 Long Hoa Mật Tạng. Long Hoa Mật Tạng là bộ kinh tối cao, những tinh hoa Mật Tạng Vũ trụ đều gói gọn trong bộ kinh nầy. Những ai gặp được bộ kinh Long Hoa Mật tạng, phải nói là vô cùng hạnh phúc. Có thể nói những người nầy đã tu vô lượng kiếp làm nhiều phước thiện, nên mới sanh ra đúng thời kỳ Long Hoa Mật Tạng ra đời làm chủ vận mệnh, làm chủ tất cả.

Đất nước Việt Nam thật diệu kỳ

Trổ Rồng trổ Phụng lắm uy nghi

Lịch sử Cha Ông rền sông núi

Tài đức song toàn sách sử ghi

Văn Hóa Rồng Tiên đã ra đời

Sáng bừng chân lý sáng ngời ngời

Con cháu Tiên Rồng anh linh khắp

Việt Nam hùng khí rạng tinh khôi.

* * *

CHƯƠNG 5

PHẦN 3

XEM TƯỚNG

Thành Giang Nam có vị Đạo Sĩ kỳ tài, nổi tiếng chuyên đón mộng lại có tài xem tướng như Thần, nổi tiếng như sấm. Nay Thái Tử Hùng Lan vừa tròn một tuổi. Kinh Dương Vương cho người mời Đạo Sĩ tài ba ấy vào cung đón mộng cho Vương phi Thần Long Nữ, xem tướng cho Thái Tử Hùng Lan, lành dữ vận mệnh về sau thế nào.

Đạo Sĩ nhà tướng số 1 kỳ tài đương thì được đưa vào cung ra mắt Kinh Dương Vương và Vương Phi Thần Long Nữ. Kinh Dương Vương xem qua tướng mạo Đạo Sĩ thấy trên đầu có Hào Quang tỏa ra thì lấy làm vừa lòng lắm nói:

Ta đã nghe tài năng của Đạo Sĩ từ lâu nay ta có việc cần nhờ Đạo Sĩ giúp cho.

Đạo Sĩ chắp tay hành lễ nói:

Bẩm Quốc Vương bần Đạo sẽ làm hết khả năng của mình, Quốc Vương cứ dạy bảo.

Kinh Dương Vương nói Vương Phi hãy kể lại giấc mộng trước khi sanh Thái Tử cho Đạo Sĩ nghe đi. Vương Phi nói thần thiếp tuân lệnh: Vương Phi liền kể lại đầu đuôi giấc mộng trước khi sanh Thái Tử.

Đạo Sĩ ngồi chăm chú lắng nghe, vương phi kể đến đâu Đạo Sĩ kinh hãi đến đó, Vương Phi kể xong Đạo Sĩ nói:

Bẩm Quốc Vương có thể cho Bần Đạo xem qua tướng Thái Tử được không.

Kinh Dương Vương nói:

Được chứ, đó là mục đích chính ta mời Đạo Sĩ đến đây.

Liền cho Cung Nữ Xảo Yếu, hầu tì bồng Thái Tử ra. Đạo Sĩ vừa nhìn thấy Thái Tử thì sửng sốt vì trên đầu Thái Tử phát ra Hào Quang Trí Huệ, tuy chưa sáng tỏ lắm, từ xưa đến nay Đạo Sĩ chưa từng thấy dù cho đó là Thiên Tiên hay Địa Tiên.

Khi được tận mắt chứng kiến một nhân thể bất phàm, có đủ 32 tướng tốt 80 vẻ đẹp. Quả đúng là Chí Tôn Thiên Đế đầu thai xuống trần, có 1 không 2 trong nhân loại. Nếu xuất gia sẽ là Phật Tổ, Chúa Tổ, còn không xuất gia sẽ là Chuyển Luân Vương, không đánh mà hàng phục được Thiên Hạ, Bất chiến tự nhiên thành. Lập lên đất nước rộng lớn, mở ra trang sử mới. Trang sử vẻ vang đưa đời sống nhân loại vượt lên tầm cao mới. Mở màn cho nền văn minh vật chất lẫn tinh thần, khám phá lần về vũ trụ, làm chủ vũ trụ. Chân lý Đại Đồng sẽ mở màn ra đời.

Đạo Sĩ rơi lệ quì xuống vái lạy Thái Tử. Kinh Dương Vương giật mình, vương Phi kinh hãi, không hiểu chuyện gì xảy ra.

Kinh Dương Vương lo lắng hỏi:

Đạo Sĩ làm sao vậy? Điều gì xảy ra cho Thái Tử lành dữ thế nào hãy nói cho ta rõ.

Đạo Sĩ nói:

Bẩm Quốc Vương chỉ có lành chứ không có dữ, Bần Đạo lạy đây là lạy Đức Chí Tôn lâm phàm, Cứu Dân Độ Thế, Đại Từ Đại Bi. Thương dân như thương con ruột của mình. Bần Đạo khóc đây là khóc tuổi đã già, không được nghe Chí Tôn thuyết giáo, uổng biết bao vì kém Đức, thiếu nhân duyên với Đức Chí Tôn nên sanh ra làm người hơi sớm, không được nghe lời dạy của Đức Chí Tôn. Đạo Sĩ càng nói nước mắt càng chảy.

Theo lời Vương Phi kể, vì Thiên Đế tay cầm gươm báu, đó không phải là gươm thường mà đó là gươm Thiên Trí Huệ. Có 3 đạo Hào Quang, đó là ánh sáng Hiến Pháp, Luật Pháp, Đạo Pháp. Thiên Tạng, Luật Tạng, Pháp Tạng vũ trụ, Tam Bảo Chí Tôn. Chỉ cần nghe hiểu một câu trong Tam Bảo Chí Tôn thì diệt được vô lượng tội ác. Mạng chung liền được siêu sanh về thượng giới, huống chi được nghe Chí Tôn thuyết giáo thì hạnh phúc biết bao. Vĩnh viễn không còn đọa lạc. Thường làm Vua làm Chúa ở các cõi Trời. Chỉ có Đức Chí Tôn mỗi lần vung Kiếm Trí Huệ, thì hiện ra vô số Mặt Trời, Mặt Trời Công Lý, Mặt Trời Hiến Pháp, Mặt Trời Đạo Đức, Mặt Trời Bình Đẳng, Mặt Trời Nhân Quyền, Mặt Trời Tự Do, Mặt Trời Luật Pháp, Mặt Trời Khoa Học và cho đến hàng nghìn hàng vạn Mặt Trời cùng chung mục đích là thiêu rụi lòng tà gian tối tăm che khuất tâm linh con người vô minh tan biến, Cội Nguồn vũ trụ hiện ra, nhân loại Thăng Hoa tiến tới cảnh Đại Đồng vũ trụ. Những người nghe Thái Tử thuyết giáo thì coi như siêu thoát Linh Hồn về nơi Cực Lạc. Quốc Vương và Vương Phi sẽ được lưu danh mãi mãi vì đã sanh ra Đức Chí Tôn.

Kinh Dương Vương cùng Vương Phi nghe Đạo Sĩ nói như vậy, thì mừng lắm. Ban thưởng trọng hậu cho Đạo Sĩ, sau đó sắm lễ vật dâng cúng tạ ơn Trời Đất.

PHẦN THƯA HỎI

Hỏi: Nguồn gốc dân tộc Rồng Tiên phát nguồn từ đâu?

Đáp: Phát nguồn từ thời Hồng Hoang Bàng Cổ sơ khai, nếu nói gần thời từ đầu tiểu kiếp thứ 9 đến nay đã trải qua 16 triệu 7 trăm 90 nghìn năm.

Hỏi: Dân Tộc Rồng Tiên phát nguồn xa hơn nữa thời cách đây bao lâu?

Đáp: Dân Tộc Rồng Tiên ra đời cách đây hơn 4 tiểu kiếp, nơi dãy núi Long Hoa, cách 75 triệu 600 nghìn năm.

Hỏi: Dân Tộc Việt Nam thừa hưởng di sản Cội Nguồn quí giá như vậy, sao không biết phát huy để thừa hưởng mà còn tìm kiếm những Văn Hóa đâu đâu, dẫn đến nô lệ chiến tranh loạn lạc, nồi da nấu thịt lạc hậu nghèo đói triền miên.

Đáp: Theo tôi nghĩ, con cháu Việt Nam có nền văn hóa Tiên Rồng lâu đời tốt đẹp như vậy, đáng lý ra Con Cháu Việt Nam ra sức giữ gìn phát huy mỗi ngày mỗi tốt đẹp, nhớ mãi công ơn của Vua Hùng đã truyền lại. Có lẽ vì Văn Hóa Cội Nguồn Tiên Rồng đã thất truyền, phần thì bị ngoại xâm di hại, những kẻ yếu kém về lòng trung hiếu nghe theo tà kiến ngoại bang, làm hại đến truyền thống văn hóa Cội Nguồn dân tộc, mới dẫn đến cái cảnh nồi da nấu thịt, chiến tranh loạn lạc, hạn chế trình độ dân trí phát triển, dẫn đến lạc hậu nghèo đói triền miên. Chúng ta đã làm chủ kho tàng kiến thức vũ trụ là niềm vinh hạnh nhất, không có sự vinh hạnh nào hơn, cũng không có hạnh phúc nào hơn. Nếu chúng ta bỏ lỡ cơ hội lần nữa thì chúng ta sẽ mất tất cả. Con đường nô lệ sẽ lặp lại, Địa Ngục trần gian sẽ bao phủ lấy chúng ta.

Hỏi: Văn Hóa Cội Nguồn Tiên Rồng có phải là giáo phái Tôn giáo không?

Đáp: Văn Hóa Cội Nguồn do chính Hùng Vương Quốc Tổ sáng lập là Thiên Đạo vũ trụ, Chủ Nghĩa Đại Đồng, Hiến Pháp Văn Lang, Quốc Đạo Dân Tộc. Có thể nói Quốc Đạo Tiên Rồng không phải là giáo phái Tôn Giáo mà là hiện thân Hiến Pháp vũ trụ, Luật pháp vũ trụ, Công Lý Bình Đẳng vũ trụ.

Hỏi: Chủ Nghĩa Đại Đồng là gì?

Đáp: Nếu nói gần thì tất cả nhân loại, điểm xuất phát là từ một nguồn gốc, từ trong bọc trứng ÂU CƠ sanh ra, mang ý nghĩa Đồng Bào, nói lên nhân loại thế gian năm màu da đều là anh em một nhà, không phải nói riêng nhân loại trần gian mà ngay cả nhân loại trên các cõi Trời. Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa cũng đều là anh em một nhà, sinh ra từ một nguồn gốc, sống chung trong một nhà vũ trụ. Còn nói xa hơn nữa, tất cả Linh Hồn nhân loại. Tiểu Linh Hồn là do Đại Linh Hồn vũ trụ tạo ra mà thôi ví như Đại Linh Hồn là nước tạo ra Tiểu Linh Hồn bọt nước mà thôi. Bản thể nước thì có một. Còn bọt nước thì nhiều vô lượng vô biên. Chủ Nghĩa Đại Đồng nói về bản thể của nước Đại Linh Hồn vũ trụ mà tất cả bọt nước Tiểu Linh Hồn hướng về Cội Nguồn của mình. Tiến đến cảnh giới giác ngộ tối cao Chánh Đẳng, Chánh Giác, Đồng trí, Đồng tướng, Đồng tánh. Bọt nước trở về là Nước, Tiểu Linh Hồn nhập về Bản thể Đại Linh Hồn.

Hỏi: Thờ Cha Trời Lạc Long Quân. Thờ Địa Mẫu Âu Cơ, Phước Đức giải thoát tội lỗi hơn Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa không?

Đáp: Có thể nói thờ hết Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa khắp vũ trụ Tam Thiên Đại Thiên thế giới, cũng không bằng thờ Đức Cha Trời Lạc Long Quân và Địa Mẫu Âu Cơ. Vì sao như vậy? Vì Đức Cha Trời, Đức Địa Mẫu là do Tổ Tiên Khai Hóa, Đại Linh Hồn vũ trụ hiện thân ra hai Đấng tối cao vũ trụ. Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa cũng như vận mệnh Non Sông Tổ Quốc của mỗi dân tộc, đều do hai Đấng Cha Trời, Địa Mẫu chuyển vận bộ máy huyền cơ quyết định. Phải nói chưa có Phật, Tiên, Thánh, Chúa nào lập lên vũ trụ, Tam Thiên Đại Thiên thế giới mà do Tổ Tiên Khai Hóa, khai tạo lập nên, rồi hiện thân ra Đức Cha Trời Địa Mẫu, cai quản giang san vũ trụ sự nghiệp ấy. Vì vậy thờ Đức Cha Trời Lạc Long Quân cùng Đức Địa Mẫu Âu Cơ, thì phước Đức không thể nghĩ bàn cho hết được. Điều đáng nói ở đây thờ Trời phải thành tâm, thì sự linh ứng cùng tột, có thể nói cầu chi đặng nấy.

* * *

Hết phần 3 chương 5 Long Hoa Mật Tạng, mời xem tiếp phần 4 chương 5.

* * *
 
127 ❤︎ Bài viết: 653 Tìm chủ đề
CHƯƠNG 5

PHẦN 4

Nước Xích Quỷ vang lừng Thái Tử

Dậy Phương Nam trổ đức, trổ nhân

Hùng Lan Thiên Đức Chí Tôn

Xuống trần lập giáo dựng nên cơ đồ.

Thái Tử Hùng Lan càng lớn càng khôi ngô tuấn tú, thông minh khác thường, khôn ngoan, Đạo Đức nhân từ hiếm thấy. Thái Tử tuy tuổi còn nhỏ nhưng tiếng lành đồn xa lan rộng khắp nơi.

Ngày qua tháng lại như thoi đưa, mới đó Thái Tử Hùng Lan đã hơn 14 tuổi, một hôm Thái Tử một mình dạo chơi chốn hoa viên, thì bỗng dưng xuất hiện một người xa lạ, Thái Tử chưa từng gặp bao giờ. Người ấy chắp tay cúi đầu chào Thái Tử. Thái Tử nhìn người xa lạ, Tiên Phong Đạo Cốt khí chất khác phàm sinh lòng kính nể.

Thái Tử chấp tay thi lễ hỏi:

Ngài từ đâu đến, tìm ta có chuyện gì?

Người xa lạ đáp:

Hạ dân từ Cội Nguồn đến, nghe tiếng Thái Tử thông minh hơn người, không có câu hỏi nào mà Thái Tử bí trả lời không được, nên đến đây hỏi Thái Tử vài câu.

Thái Tử nhìn người xa lạ hỏi:

Cội Nguồn là ở nơi nào?

Người xa lạ đáp:

Cội Nguồn nếu nói xa thì xa lắm, nếu nói gần thì ở ngay trước mắt.

Thái Tử khó hiểu với lối trả lời này, thấy Thái Tử chú tâm suy nghĩ, người xa lạ nói Thái Tử cho phép hạ dân hỏi đôi lời được không? Thái Tử đáp Ngài cứ hỏi.

Người xa lạ hỏi:

Thưa Thái Tử ai cũng biết Thái Tử sẽ là vị Quốc Vương chủ nhân của một đất nước Xích Quỷ giàu có hùng mạnh, Thái Tử nghĩ gì về nhân loại khi nhân loại vẫn còn nhiều sự khốn khổ, khổ về mê muội, khổ về chiến tranh, khổ về lạc hậu, khổ về sanh, lão, bệnh, tử. Còn riêng bản thân Thái Tử nghĩ về mình thế nào? Lối sống vinh quang, cũng như sự chết chia ly rốt cuộc Thái Tử được những gì khi Thái Tử rời xa chốn trần gian nầy?

Thái Tử hết sức ngạc nhiên với lối hỏi này, một câu hỏi không dễ gì trả lời ngay được ngập ngừng một lát nhưng rồi Thái Tử cũng trả lời. Thái Tử trả lời rằng:

Con người là Động vật thiêng liêng trên cả muôn loài Cầm Thú. Con người là giai cấp Động vật Chính trị, dòng máu Chính Nghĩa, tự chủ trực tính của chính mình, vì vậy con người có thể nhận thức được cuộc sống của chính mình, sống trong hạnh phúc hay sống trong đau khổ. Sanh ra ở đời ai cũng muốn mình được Thăng Hoa, nhất là sống trong hạnh phúc, sống trong Độc Lập Tự Do, sống trong Hiến Pháp, Luật Pháp Bình Đẳng, nhân quyền, quyền sống con người được bảo vệ, Tự Do mưu cầu hạnh phúc thì cuộc sống ý nghĩa hơn.

Vì thế làm quốc vương chủ nhân của một đất nước thì phải biết tôn trọng ý nguyện của muôn dân, nhất là biết tôn trọng quyền tự do Mưu Cầu Hạnh Phúc muôn dân, cũng như giải thoát sự mê tín dị đoan tôn thờ thú cầm, tôn thờ tà kiến. Hạ thấp giá trị con người. Trên đời nầy không có động vật nào cao hơn con người, linh hơn con người, nên con người không cần cúi đầu trước muôn loài vạn vật, nhất là muôn loài cầm thú. Cũng như không có loại yêu tinh, ác quỉ nào hơn được con người, khi con người hiểu đạo đức và sống theo đạo đức.

Thế giới cuộc sống nhân loại thời nay chưa được như vậy nhất là tầng lớp nhân dân tầng lớp quá lạc hậu, vì họ đang sống trong chế độ hà khắc, sống dưới cửa Quyền Độc trị, phong kiến Thần Giáo. Không phải sống trong Chủ Nghĩa Đại Đồng, Thiên Quyền Nhân Chủ con người sống theo Hiến Pháp, Luật Pháp, Công Lý Bình Đẳng, Thiên ý Đạo Đức. Theo đúng nghĩa Quốc Vương chỉ là người đi đầu, đứng đầu giải quyết mọi vấn đề bất công đem lại sự Công Bằng Bình Đẳng cho cuộc sống xã hội. Xây dựng một môi trường sống cạnh tranh lành mạnh trong Hiến Pháp, Luật Pháp, Đạo Pháp ai cũng được trổ tài cống hiến cho xã hội làm giàu cho xã hội. Quốc Vương chỉ là đầy tớ trung thành, tôn thờ Hiến Pháp, Luật Pháp, bảo vệ Công Lý Bình Đẳng Chính Nghĩa mà thôi, không có sự Độc Tài, Độc Trị, không tôn thờ giáo điều Tà Giáo tà kiến. Nhưng nhân loại hiện nay các Quốc Vương khắp thế giới chỉ biết theo xu thế theo Phong Kiến Thần Giáo Độc Tài Độc Trị, không hiểu gì về Hiến Pháp, Luật Pháp, Đạo Pháp lấy dân làm gốc Công Bằng, Bình Đẳng xã hội, chỉ biết độc tài độc trị muốn làm gì thì làm, tàn bạo lạm sát. Không những không giải thoát được sự khốn khổ của dân, mà còn đẩy dân chúng vào con đường cuồng tín mê tín dị đoan, làm cho xã hội không đi vào ổn định trật tự, cạnh tranh mất bình đẳng mạnh được yếu thua thắng là vua thua là giặc, mãi mãi là đói khổ mê muội chiến tranh lạc hậu tàn sát lẫn nhau. Khi ta làm Quốc Vương ta không giống nhưng những Quốc Vương hiện tại, ta có hướng đi khác. Biết lột bỏ những gì lạc hậu tiến hóa đổi mới đi lên làm cho cuộc sống muôn dân đơm hoa kết quả hạnh phúc.

Hiện nay nhân loại Họ đang sống dưới chế độ phong kiến Thần Giáo, phong kiến Tộc trị, tiến xa hơn nữa là chế độ thể chế Độc trị, chế độ thể chế độc trị Tôn Thờ Thần Mặt Trời như thời Kinh Dương Vương ta, một lối sống được coi như là hơn hẳn các Vương Quốc đất nước khác sống có luật có lệ. Không như các Vương Quốc khác. Nhân loại đang sống trong nô lệ Tộc trị, nô lệ mê tín dị đoan, nô lệ ngoại bang. Sống trong lao dịch khổ sai, sống trong áp bức, sống mất tự do, sống trong lo âu sợ hãi, chưa nói đến nghèo đói và bệnh tật. Sống như vậy thì có ý nghĩa gì và tôi đang tìm hướng đi mới, cho đất nước Xích Quỷ hướng đi của Chủ Nghĩa Đại Đồng, Chủ Nghĩa Bình Đẳng, Công Bằng Văn Minh, Chủ Nghĩa của sự tự do tôn trọng quyền con người lấy dân làm gốc ai ai cũng được tự do hạnh phúc.

Người khách lạ không mời mà đến càng nghe Thái Tử nói càng mở rộng kiến thức cho mình như trong màng đêm thấy được ánh sáng mặt trời, những ý tưởng mới lạ chưa bao giờ được nghe qua nếu không phải là bậc Đại giác ngộ thì không thể nào hiểu nỗi ý tưởng thâm cao ấy của Thái Tử, càng nghe càng khâm phục Thái Tử vô cùng.

Thái Tử nhìn người xa lạ nói:

Ở đời không ai là không chết, dù cho là Vua hay dân, giàu hay nghèo, không chết lúc trẻ thì cũng chết về già, cái chết sẽ nhất định đến với con người sớm hay muộn. Mà chết thì không ai mang theo được gì, kể cả vua chúa nói gì là dân. Nói tóm lại cuộc sống trần gian chỉ là cuộc sống giả tạm tu luyện tiến hóa linh hồn mà thôi. Nhưng khi chết đi không ai mang theo châu báu ngọc ngà mà chỉ mang theo một thứ đó là nghiệp ác hay nghiệp thiện, để rồi nhận lấy quả báo vui hay khổ, lên thiên đàng hay xuống địa ngục.

Vì quá hiểu rõ như vậy, nên tôi đã chọn cho mình một hướng đi. Hướng đi của bậc giác ngộ, sống chết đều có nghĩa. Sống có giá trị là sống vì nhân loại, sống cho nòi giống, sống vì non sông Tổ Quốc. Chết có ý nghĩa là lối chết bất tử. Chết vinh quang mãi mãi thường còn là chết vì Chính Nghĩa, chết vì nhân loại. Nếu không tìm cho mình lối chết bất tử như thế, thì cái chết có ý nghĩa gì. Lối sống vô vị cái chết trống rỗng. Nói đến cái chết thì không ai tránh khỏi, không chết trẻ thì cũng chết về già. Vô thường sẽ cướp đi sinh mạng của chúng ta, cái chết tự nhiên theo qui luật của Tạo Hóa. Vì quá hiểu rõ như vậy nên tôi đã chọn cho mình một hướng đi. Chết, sống đều có ý nghĩa của bậc giác ngộ. Làm Quốc Vương hay không làm Quốc Vương cũng thế mà thôi.

Người xa lạ càng nghe Thái Tử thuyết giáo càng kinh ngạc trước sự hiểu biết phi phàm của Thái Tử có thể nói là chưa từng thấy chưa từng nghe.

Thái Tử nói:

Nếu nói chết là hết, thì ai ai cũng như nhau, thiện ác theo đó cũng không còn. Nhưng chết mà không hết chỉ mất đi thể xác, còn Linh Hồn thì sống mãi, thì sao đây? Không lẽ mang theo cả gánh hành lý tội ác xuống địa ngục. Sống trong đày đọa, thì sống đau khổ chớ có ý nghĩa gì? Sống trong tù đày, sống trong sự tra tấn tàn bạo của Quỷ dữ. Sống trong đói khát đau đớn, sống trên Đao Búa và Chảo dầu, đó là chưa nói đến sống trong hỏa ngục. Thì Linh Hồn thống khổ hơn nữa. Nhưng từ xưa tới nay những bậc tu tiên đắc đạo hiểu rõ chết không phải là hết.

Chết mà không hết chỉ mất đi các xác phàm tục. Còn Linh Hồn thì sống mãi, thì sống Thiện sống Ác có hai kết quả khác nhau. Sống Thiện có kết quả tốt, Sống Ác có kết quả xấu. Sống Thiện thì Linh Hồn được siêu sanh về Trời, hưởng phước báo vô tận muốn gì được nấy. Sống trong cảnh giới Đại Đồng, các quyền con người được thể hiện đầy đủ như: Quyền tự do tự tại, quyền mưu cầu hạnh phúc muốn gì được nấy, không có thống trị, cai trị, sống trong Bình Đẳng, Tôn Trọng lẫn nhau, sống trong hạnh phúc. Sống Ác có kết quả xấu, khi thể xác phàm tục mất, Linh Hồn liền sa đọa vào âm phủ, khi ta muốn ăn năng hối cải thì cũng đã quá muộn. Vì vậy tôi lúc nào cũng loại bỏ sai lầm luôn luôn hướng tới Chân Thiện Mỹ. Loại bỏ quét sạch dơ bẩn, rác rưởi, tội lỗi trong tâm hồn, phát huy cuộc sống Đạo Đức vì nhân loại mà hi sinh, vì nhân loại mà cống hiến đời mình. Khi tôi trở thành Quốc Vương, thì Quyền sống, Quyền Tự Do, Quyền mưu cầu hạnh phúc của mỗi con người được tôn trọng, được bảo vệ không một ai có quyền xâm phạm, khi họ mưu cầu tư lợi đúng Hiến Pháp, Luật Pháp, Công Bằng văn minh là điều trên hết. Thương yêu dân chính là thương yêu bản thân mình, oán lấy ân mà trả, lòng tha thứ đối với kẻ phạm tội giáo dục Đạo Đức thường xuyên đối với dân chúng là giảm bớt hình phạt nhà tù, đó là con đường Chân Chính, cánh cửa Địa Ngục khép lại, cánh cửa Thiên Đàng mở ra, đưa nhân loại đến Chân Trời hạnh phúc.

Sở dĩ con người luôn luôn lầm lỗi là vì con người một phần vì trình độ dân trí còn thấp. Một phần chưa gặp được Chánh Giáo không có Kim chỉ Nam. Lại thường đối mặt với bao cuộc sống gian trá đầy cạm bẫy, đầy chông gai. Dần dần con người trở nên tiêu cực, chỉ biết nghĩ cho mình còn Thiên Hạ thì sao cũng mặc, không mấy quan tâm. Đâu đó cũng là một sự sai lầm trong cuộc sống. Thật ra con người khó sống riêng lẻ được mà phải sống chung cùng nhau, chung gánh vác xã hội. Gánh trách nhiệm bảo tồn cuộc sống cộng đồng. Mình sống vì người, người sống vì mình. Tất cả từ Vua cho tới dân ai ai cũng sống gắn bó cùng nhau, sống theo Hiến Pháp, Luật Pháp, Đạo Đức đó mới là cuộc sống có trình độ dân trí cao. Lối sống lấy dân làm gốc Dân Chủ Công Bằng văn minh. Muốn có một cuộc sống bình yên hạnh phúc mà xung quanh ta với bao kẻ thù chống phá, bao kẻ rình rập trộm cướp, gian ác thời cuộc sống bình yên hạnh phúc sao được.

Vậy mới biết người nông dân ngủ yên không lo đói là kho lúa thóc vẫn còn đầy. Làm Quốc Vương mà ngủ yên trên cung vàng, Điện Ngọc là nhờ dân làm lành hướng Thiện. Xung quanh Quốc Vương là các bậc trung Thần, hết lòng vì Quốc Vương. Hết lòng chăm lo cho dân, cho nước.

Muốn có một gia đình hạnh phúc thật sự, thì làm Cha Mẹ phải có Đạo Nhơn Luân Hiếu Nghĩa, để cho con cái noi theo.

Muốn có một Quốc Gia yên ổn Thái Bình Thịnh Trị, thì phải biết dạy dân sống theo Hiến Pháp, Luật Pháp, Đạo Đức hướng về Cội Nguồn. Dân tự nuôi dân bằng vật chất, còn nhà nước nuôi dân bằng truyền thống văn hóa Chính Nghĩa, nuôi lớn Tinh Thần Dân Tộc, nuôi lớn trình độ dân trí, để dân tự làm chủ Hiến Pháp, Luật Pháp, Đạo Đức cũng như truyền thống Văn Hóa Cội Nguồn. Dân làm chủ Hiến Pháp, Luật Pháp, Đạo Đức làm chủ Văn Hóa Cội Nguồn, thì Quốc Vương được ngủ yên, sống yên không có một đất nào xâm lược nổi, kẻ thù nào cũng đánh thắng. Một vị Quốc Vương anh minh như thế, thì còn lo gì không có Độc Lập Tự Do, dân giàu nước mạnh, nhất định Thiên Đàng Cực Lạc sẽ ở ngay chốn nhân gian.

Còn làm vị Quốc Vương chỉ biết lo củng cố tu bổ cho quyền lực của mình, vây cánh của mình, mới suy nghĩ cho là trúng nhưng đó là một sự sai lầm lớn. Một Quốc Gia hùng mạnh phải nói toàn dân tộc nước đó phải nhận thức được cái chung phải đứng trên cái riêng. Non Sông Tổ Quốc, truyền thống Văn Hóa Cội Nguồn coi trọng hơn bản thân, tư nhân của mình.

Cái chung ở đây không phải là cái chung của Thần Giáo bè phái giáo phái thời phong kiến Thần Giáo hiện nay, phong kiến Địa Chủ, phong kiến tiến bộ Chế Độ, Nói chung là ở các thời phong kiến. Đứng đầu là Đế, Vương, Vua, Chúa của các Họ Tộc, Phần nhiều là do tranh giành quyền lực, được xưng Vua, thua là giặc. Cái chung ở đây là cái chung bảo vệ quyền con người ai cũng như ai, chung nhau gìn giữ Tổ Quốc, chung nhau phát triển xã hội. Những người có công lớn được sự tín nhiệm muôn dân tôn phong suy Tôn lên, tất cả muôn dân phải sống dưới cái chung, trong đó có cái riêng của chính mình. Thống trị Độc Tài Độc Trị của Đế, Vương, Vua thời nay thì cuộc sống không bao giờ thoát khổ được, vì sống dưới chế độ Độc Trị hà khắc khốn khổ.

Còn cái chung ở đây là của chung toàn dân tộc. Chung nhà nước, chung Hiến Pháp, chung Luật Pháp, chung Đạo Pháp công bằng bình đẳng. Không có chế Độ Độc Tài cai trị, mà toàn dân tộc sống chung nhau trong Hiến Pháp, Luật Pháp, Đạo Pháp Quốc Đạo Văn Hóa truyền thống Chính Nghĩa Tinh Hoa xã hội con người tiến bộ. Non Sông Tổ Quốc, Hiến Pháp, Luật Pháp, Văn Hóa truyền thống Dân Tộc không của riêng ai, mà của toàn dân tộc. Toàn dân là Chủ. Vì thế một đất nước hùng mạnh là một đất nước toàn dân là Chủ, chung nhau bảo vệ Tổ Quốc, chung nhau bảo vệ Hiến Pháp. Luật Pháp, truyền thống Văn Hóa Cội Nguồn. Một đất nước có trình độ dân trí cao văn minh như vậy. Thì người đứng đầu nhà nước đó phải là người gương mẫu về mọi mặt, do dân suy tôn tính nhiệm mà ra. Thi hành Hiến Pháp, Luật Pháp, Công Lý xã hội.

Dưới các triều Đại phong kiến độc tài độc trị. Dù là phong kiến Địa Chủ, phong kiến Thần Giáo, phong kiến Chế Độ, thời nào cũng tìm ẩn tham quan quá lớn. Thi nhau mà vơ mà vét làm hại Non Sông Tổ Quốc, làm hại dân tộc, nội bộ chiến tranh triền miên không dứt. Nồi da nấu thịt thê thảm vô cùng, thời trước thi nhau loạn thời này cũng thế. Văn Hóa đồi trụy thi nhau mà ra đời làm hại đến sự phát triển xã hội. Đưa đẩy dân tộc vào cảnh tối tăm khó mà vươn lên một tầm cao mới.

Nói tóm lại cái chung đưa dân tộc đi lên tiến tới dân giàu nước mạnh không phải là cái chung của bè phái, đạo phái, giáo phái, độc tài độc trị nào. Mà là cái chung sống theo Hiến Pháp, Luật Pháp, Đạo Pháp minh chính, công bằng bình đẳng xã hội.

Vậy mới biết cành lá khô héo là do gốc mục nát hỏng, sông cạn kiệt là do nguồn cạn kiệt. Nhìn một Dân Tộc hùng mạnh, cành lá sum suê, thì cũng biết Dân Tộc đó có gốc gác vững vàng, Hiến Pháp, Luật Pháp, Đạo Pháp minh chính, không phải tự nhiên mà có, càng không thể dựa trên thể chế độc tài độc trị mà ra. Mà là Tinh Hoa Truyền thống được chiết lọc nguyện vọng chân chính của con người. Không phải dựa trên cửa quyền truyền thống của Chế Độ độc tài độc trị mà có. Mà Là Tinh mật ngọt đồng nhất nguyện vọng của con người, nguyện vọng ấy ví như mật ngọt của muôn loài hoa không có sự khác biệt nhau, càng không có sự chống bán nhau. Ai cũng thấy quyền lợi cái chung ấy chính là quyền lợi của chính mình. Tinh Hoa Hiến Pháp. Tinh Hoa Luật Pháp. Tinh Hoa Đạo Pháp là cái chung mơ ước của mỗi một con người, bảo vệ Hiến Pháp, Luật Pháp, Đạo Pháp cái chung ấy, là bảo vệ sự sống sức mạnh phát triển của toàn dân tộc. Mà mỗi dân tộc điều chung mơ ước. Đó là quyền con người, những quyền căn bản của cuộc sống. Những Quyền mà Tạo Hóa đã ban cho, những quyền bất khả xâm phạm. Tinh Hoa Hiến Pháp. Tinh Hoa Luật Pháp. Tinh Hoa Đạo Pháp trở thành Truyền thống Tinh Hoa anh linh dân tộc Văn Minh có cả sức mạnh Hồn Thiêng Dân Tộc, khí Thiêng Sông Núi. Hàng nghìn nghìn năm, cho đến hàng triệu năm. Dòng lịch sử truyền thống tuôn trào mãi làm cho tinh thần Dân Tộc luôn tràn trề niềm kiêu hãnh đầy sức sống. Hết thế hệ này đến thế hệ khác liên miên bất tận không dứt.

Nhìn một Dân Tộc luôn luôn bị nô lệ, cành lá héo tàn, thì cũng biết Dân Tộc đó gốc gác có vấn đề. Hiến Pháp, Luật Phát, Văn Hóa truyền thống, không phải là Tinh Hoa Hiến Pháp, Luật Pháp, Đạo Pháp Văn Hóa truyền thống anh linh lâu đời. Mà chỉ là những giáo điều Chính Trị, thể chế trói chặt quyền con người bị thống Trị của Chế Độ đó mà thôi. Chính những đất nước như thế tự mất đi cái gốc Đồ Sộ nền tảng lâu đời đoàn kết của nó mà cũng mất luôn sức mạnh của Hồn Thiên Dân Tộc. Khí Thiên sông núi khó mà bền vững Độc Lập lâu dài. Vì chính độc tài độc trị nó tự hủy diệt lấy nó. Để rồi sanh ra chế độ độc tài độc trị khác. Diệt Sói rồi trở thành Sói. Cứ lẩn quẩn mãi trong cảnh giới thắng là vua thua là giặc xem đi xét lại Giặc với Vua cũng cùng một thứ.

Một Dân Tộc có tương lai rộng mở là một dân tộc có tầm nhìn xa rộng lớn, có kiến thức sâu rộng bỏ những tập tục lạc hậu, góp nhặt Tinh Hoa nhân loại. Làm hành trang cho những bước tiến của mình. Một đất nước dân giàu nước mạnh, không có con đường nào khác hơn là Hiến Pháp, Luật Pháp, Đạo Pháp là vua, trở thành nhà nước Pháp Quyền, thật sự của dân, do dân, vì dân. Vì dân. Nói chung một cách dễ hiểu là Hiến Pháp, Luật Pháp, Đạo Pháp Tam Quyền Phân Lập, Tự Kiểm Soát Nhau, Bảo Vệ Nhau, Tồn Tại Mãi Mãi, không già không trẻ cứ thế mà đi vào cuộc sống. Hiến Pháp, Luật Pháp, Đạo Pháp của dân, bảo vệ dân, để cho dân tự do vươn lên phát triển. Quyền Mưu Cầu Hạnh Phúc phát triển vươn lên một cách mạnh mẽ. Nhà nước ủng hộ bảo vệ, làm trọng tài cho cuộc phát triển về mọi mặt, mọi hoạt động của toàn dân và sự đi lên của xã hội tiến tới dân giàu nước mạnh.

Một đất nước có nền Độc Lập lâu đời. Thì đất nước đó có nền Văn Hóa Quốc Đạo Dân Tộc, nền tảng vững chắc Độc Lập lâu dài. Một đất nước có nền Văn Hóa Quốc Đạo thì đất nước đó nhất định độc lập bình yên lâu dài. Quốc Đạo không phải là dựa vào một giáo đạo nào lấy đó làm Quốc Đạo. MÀ LÀ ĐẠO PHÁP KHAI DỰNG LÊN ĐẤT NƯỚC, KHAI DỰNG LÊN DÂN TỘC không được nhầm lẫn Tôn Giáo, Đạo Giáo, Thần Giáo là nền Quốc Đạo. Mà phải là Đạo Pháp khai dựng lên dân tộc, khai dựng lên non sông Tổ Quốc. Quốc Đạo luôn đi đôi với truyền thống anh linh dân tộc luôn luôn đem truyền thống tốt đẹp ấy truyền dạy cho con cháu, thắp sáng mãi tinh thần yêu nước, yêu truyền thống tốt đẹp của mình.

Cha Mẹ có Đạo là tấm gương sáng cho con cái noi theo. Vương, Quan có Đạo thì trị dân không cần động đến gươm, đao, giáo, mác mà quân dân vẫn tuân theo răm rắp. Vậy mới biết Văn Hóa truyền thống Đạo pháp dân tộc là phép mầu hữu hiệu, uốn nắn dân chúng theo đúng kim chỉ nam, không cần đến bạo lực còn trên cả đòn roi gươm, đao, giáo, mác tầm thường.

Một đất nước có Nền Văn Hiến Quốc Đạo. Vương với Dân cùng hội cùng thuyền, xã hội càng thêm ấm no hạnh phúc độc lập lâu dài.

Người khách lạ càng nghe Thái Tử lập luận càng sửng sốt vô cùng với những điều mới lạ chưa nghe thấy bao giờ liền chắp tay thưa hỏi:

Thưa Thái Tử, Văn Hóa Quốc Đạo là giống gì mà nhiệm mầu uy lực như vậy?

Thái Tử đáp:

Văn Hóa Quốc Đạo không là giống gì cả, mà chỉ là con đường rộng lớn đầy hoa thơm quả ngọt, không chông gai con đường đoàn kết Đại Đồng Bình Đẳng. Con đường yêu nước thương dân hay nói một cách dễ hiểu Văn Hóa Quốc Đạo là con đường Chính Nghĩa, con đường hòa hợp các Dân Tộc. Con đường Đạo Đức làm cho bản thân, gia đình, xã hội, đất nước Tổ Quốc càng ngày càng xuân. Nhân loại đi theo Văn Hóa Quốc Đạo là đi đến chân trời hạnh phúc. Nhưng Đạo thì có hai, Tiểu Đạo và Đại Đạo.

Tiểu Đạo là con đường hẹp và ngắn lại nhiều chông gai, đó là con đường đấu tranh giai cấp, con đường mạnh được yếu thua nhiều chông gai, con đường Phi Chính Trị, Phi Chính Nghĩa con đường tranh bá xưng hùng mạnh được yếu thua, thắng là vua thua cho là giặc, đổi ngôi, đổi chủ như thay áo, con đường hận thù chồng chất.

Đại Đạo là con đường lớn con đường dựa trên căn bản quyền con người, Thấp thì Nhân Quyền, cao thì Thiên Quyền con đường tối cao của cái chung, trong đó có cái riêng của mỗi một con người. Con đường Đại Đạo xuyên suốt lịch sử quá khứ vị lai. Cũng như xuyên từ Địa Ngục cho tới tận Thiên Đàng. Con đường Thiên Quyền Nhân Chủ Đại Đồng Bình Đẳng. Con đường làm chủ bản thân, làm chủ xã hội, làm chủ khoa học, làm chủ Non Sông Tổ Quốc, làm chủ vũ trụ, làm chủ Thiên Đàng Cực Lạc. Ai đi trên con đường Đại Đạo, mỗi bước chân là mỗi bước hạnh phúc. Vì con đường Đại Đạo là con đường từ bi, bác ái nhân nghĩa, con đường giải thoát tội lỗi, giải thoát nô lệ, giải thoát sự ngu muội của chính bản thân mình. Trở thành người thông thái Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa sống tự do và làm chủ vũ trụ, làm chủ Thiên Đàng Cực Lạc.

Người khách lạ hỏi:

Thưa Thái Tử, Đạo thì có hai, Tà Đạo và Chánh Đạo làm sao ta phân biệt nhận biết?

Thái Tử đáp:

Đạo là con đường đi, đường hướng, đường lối nhưng Tà Đạo và Chánh Đạo thì khác nhau rất xa. Thiện ác hai nẻo như Thiên Đàng và Địa Ngục.

Thái Tử nói:

Con đường nào dẫn Thiên Hạ nhân loại đến chiến tranh, tranh giành quyền lực, chiến tranh xâm lược, chiến tranh bè phái, giáo phái đẫm máu nhất là đẫm máu nồi da nấu thịt, tệ hại hơn nữa là đẫm máu trong Họ Tộc. Trong tình thương ruột thịt, giết hại người thân lập công bè phái giáo phái cũng chỉ vì phục vụ cho tranh bá quyền lực, lên quan lên chức. Tà Đạo là con đường tranh bá quyền lực đấu tranh giai cấp triệt hạ thôn tính lẫn nhau dẫn dắt nhân loại đi trên con đường gươm đao giáo mác chiến tranh, tranh giành được là Vua thua là giặc. Thật ra giặc và Vua chẳng khác chi nhau, tham lam tật xấu, gian xảo ích kỷ. Chỉ biết quyền lực Danh và Lợi dẫn đến tàn sát lẫn nhau, kẻ thắng thống trị, người thua bị trị, nô lệ, tù đày hoặc giết đi.

Đã đi trên con đường đấu tranh giai cấp gặp phải những tay hôn Quân tàn bạo. Bất nhân, bất nghĩa, bất trung, bất hiếu thì không nói cũng biết cuộc sống muôn dân vô cùng thê thảm. Xem thường luật nhân quả. Cống Cao Ngạo Mạn. Liêm Sỉ chẳng cần, thêu dệt lên bao tà thuyết hoang tưởng, không thực tế. Tay cứ vấy máu mà miệng hô hòa bình, tham lam vơ vét của công, lấy sạch của dân, ngoài miệng thì hô lo cho dân cho nước. Nhà tù cứ nới rộng, Đao Búa thêm mài bén ngót tàn bạo hết ngõ nói. Oán thêm oán, hận thêm hận, thù chồng thù như núi như non.

Tà Đạo là con đường dẫn đến mọi thói hư tật xấu. Sung sướng chỉ đem lại cho một nhóm người, còn toàn bộ là khốn khổ. Con đường tươi sáng đâu không thấy mà thấy trước mắt chỉ là vực thẳm tối đen, đấu tranh tàn sát nhau. Tìm hạnh phúc, hạnh phúc đâu không thấy mà thấy cảnh Địa Ngục nhà tù bày ngay trước mắt.

Còn Chánh Đạo là con đường rộng lớn Thiên Quyền Nhân Chủ cao hơn Nhân Quyên Dân Chủ mấy bậc con đường hiện thân Hiến Pháp, Luật Pháp, Đạo Pháp, Tự Do Công Bằng Bình Đẳng bỏ Ác hành Thiện. Con đường Chân Thiện Mỹ dẫn tới Thái Bình An Lạc. Con đường dẫn dắt nhân loại tiến tới dân giàu nước mạnh không có sự hận thù mà chỉ có đoàn kết yêu thương. Chánh Đạo là con đường vì dân vì nước vì Cội Nguồn. Chánh Đạo là hiện thân của Hiến Pháp Chính Nghĩa, Luật Pháp Chính Nghĩa, Công Lý Chính Nghĩa, Đạo Đức Chính Nghĩa. Chánh Đạo là con đường rộng lớn, còn đường Đại Đồng Bình Đẳng (Chủ Nghĩa Đại Đồng chủ nghĩa Thiên Quyền, Nhân Quyền xã hội) . Không phải giáo phái, bè phái, tôn giáo không sống theo giáo điều mà chỉ sống theo Hiến Pháp Chân Chính. Luật Pháp Chân Chính. Đạo Pháp chân chính Công bằng văn minh. Chánh Đạo là con đường không đi trên sự đau khổ của nhân loại, mà đi trên con đường cứu khổ an vui của nhân loại. Con đường Chánh Đạo là con đường nới rộng vòng tay đoàn kết, lá lành đùm bọc lá rách. Người giàu sang sẽ bớt cho người nghèo, người mạnh thương người tàn tật. Chánh Đạo chính là Chính Nghĩa, mà Chính Nghĩa chính là lòng nhân Đạo của con người.

– Con đường Tà Đạo là phục vụ cho lòng Tà Đạo Bất Chính.

– Con đường Chánh Đạo là con đường đoàn kết, hòa hợp dân tộc ung đúc lên đạo đức Chính Nghĩa.

– Con đường Tà Đạo chủ ý tranh quyền đoạt lợi.

– Con đường Chánh Đạo chủ thuyết cứu khổ tôn trọng lẫn nhau.

Chủ quyền của Tà Đạo là thống trị, cửa quyền ác bá, chiến tranh và hận thù, máu trả bằng máu, thịt đè lên thịt, bóc lột dã man.

Chủ ý của Chánh Đạo là vì người không vì mình, nhân loại là anh em, không phân biệt màu da chủng tộc, tất cả đều là anh em một nhà thương yêu đùm bọc lẫn nhau lá lành đùm lá rách.

Chủ thuyết của Tà Giáo Tà Đạo là Bè Phái, Giáo Phái. Đối lập nhau và luôn luôn mâu thuẫn với nhau. Thậm chí còn đã kích nhau.

Chủ thuyết của Chánh Đạo là chủ nghĩa Đại Đồng Công Bằng bình đẳng. Trên con đường Thánh Thiện Tôn Trọng Quyền con người ý tưởng khoa học siêu phàm. Sống thực tế loại bỏ những gì lạc hậu tiến tới văn minh tinh thần lẫn vật chất, làm chủ chính nghĩa. Lấp con đường Địa Ngục, mở rộng cửa Trời.

Vì vậy con đường Chánh Đạo rất khó đi cho những người tâm còn nhỏ hẹp. Rất dễ đi với những con người có Đức. Tấm lòng rộng mở. Sống vì người hơn là vì mình.

Tà Đạo là con đường hẹp, đầy dẫy chông gai. Con đường dẫn tới chiến tranh, dẫn tới địa ngục, âm phủ. Mỗi bước chân đi trên con đường Tà Đạo là mỗi bước chân lo âu sợ hãi. Cuối cùng cũng dẫn đến cảnh trầm luân đọa lạc.

Tà Đạo và Chánh Đạo, hai con đường khác nhau quá rõ, trắng với đen khó mà lẫn lộn nhau, đối với người sáng tâm sáng mắt. Còn tâm u minh người mù thì khó mà nhận ra.

Nghe Thái Tử lập luận giảng thuyết Đạo Pháp kỳ lạ. Người khách lạ hết kinh ngạc này đến kinh ngạc khác. Chính Ta ở nơi Hạ Thiên Vũ Trụ cũng không nghe thấy đạo lý như thế nầy huống chi là chốn nhân gian. Người xa lạ nghĩ ý tưởng Thái Tử vô cùng xa lạ. Có thể nói sự hiểu biết của Thái Tử, theo trình độ dân trí hiện nay thời khó mà hiểu được một lời của Thái Tử nói chi đến nhiều lời Ngay cả như ta đây là Thiên Thần trí tuệ mà nghe càng lạ lẫm, cao xa khó hiểu huống chi là người phàm tục ý thức lạc hậu, mê tín dị đoan sâu dày.

Thì ra đây người khách lạ không mời mà đến chính là Thiên Thần Trí Tuệ ở trên sáu tầng Trời Cõi Dục, xuống chốn nhân gian thử Tài năng trí huệ Thái Tử, cũng như sự hiểu biết của Thái Tử. Thiên Thần Trí Huệ ở cõi Trời hạ giới hàng nghìn nghìn năm, chưa nghe thấy ai giảng thuyết thế này. Không lẽ đây là Vương Đạo mà Đức Cha Trời đã dạy cho Đức Chí Tôn.

Thiên Thần Trí Huệ hỏi:

Thưa Thái Tử. Hiện nay chốn nhân gian, phương Đông Thần Giáo thịnh hành như thờ lửa, Thần lửa, thờ Thần mặt trời, thờ Thần núi, Thần sông, Thần biển, Thần mưa, Thần sấm sét, v. V.. Phương Tây thì thịnh hành phù thủy, thờ ma thuật, quỉ thuật, yêu thuật. Đại đa số các nước sống theo giáo điều của Thần giáo, điều lệ của Phù Thủy. Không thấy đất nước nào sống theo Hiến Pháp, Luật Pháp, Đạo Pháp cả. Thái Tử tìm ở đâu ra Đại Đạo, Thiên Đạo Cội Nguồn, lập lên Hiến Pháp, Luật Pháp, Đạo Pháp, thay cho giáo điều và điều lệ đã ăn sâu vào con người hàng nghìn nghìn năm?

Thái Tử đáp:

Đây là một điều rất khó nhưng không phải vì sự khó ấy mà tôi sẽ bỏ qua. Thiên Đạo Cội Nguồn vũ trụ sẽ không ở đâu xa, có thể ở ngay trước mắt. Xét đi xét lại tất cả là vũ trụ, không có chỗ nào là không phải vũ trụ. Thậm chí Linh Hồn Thể Xác chúng ta cũng là thành viên vũ trụ. Chẳng hạn như Nước và bọt Nước. Gốc của các bọt Nước là Nước, tuy hai mà một, bọt Nước cũng chính là Nước, tuy một mà hai vì bọt Nước có hình dạng còn Nước thì không có hình dạng nhất định, ở trong ống thì hình ống, ở trong lu thì hình lu, ở trong không gian thì hình không gian.

Có thể nói muốn tìm thấy Đại Linh Hồn vũ trụ ví như bọt Nước tìm về Cội Nước. Muốn làm được như vậy thì phải làm chủ cho được Tiểu Linh Hồn bọt Nước của chính mình hướng về Cội Nguồn, hội nhập vào Cội Nguồn Đại Linh Hồn vũ trụ, ví như bọt nước trở lại là nước. Thì sẽ tìm ra Đại Đạo Cội Nguồn vũ trụ, lập lên Hiến Pháp, Luật Pháp, Đạo Pháp khai lập lên đất nước mới Văn Hóa Cội Nguồn sẽ trở thành nền Quốc Đạo dân tộc. Làm lợi ích cho toàn nhân loại.

Thiên Thần trí tuệ mừng rỡ vô cùng như ngộ được điều gì, liền vái lạy Thái Tử nói:

Thái Tử là Chí Tôn Thiên Đế đầu thai xuống trần mới có trí huệ vô tận thâm thâm vi diệu như vậy. Đấng Cứu Thế Đã Ra Đời hồng phúc thay cho nhân loại nhân gian, nói xong Thiên Thần biến mất.

Sự xuất hiện và biến mất của Thiên Thần Trí Huệ đã đánh thức Thái Tử một điều hết sức quan trọng mà Thái Tử cần phải nắm bắt. Đó là Thần Thông, có Đức có Trí nhưng thiếu đi Thần Thông thì khó mà vượt qua bao chướng ngại, trên con đường tìm ra Thiên Đạo Cội Nguồn. Và thật vậy Thiên Đạo Cội Nguồn Tiên Rồng là Đại Đạo vũ trụ, Tam Bảo Chí Tôn.

1 – Pháp Tạng

2 – Hiến Tạng

3 – Luật Tạng

4 – Thiên Tạng

5 – Mật Tạng

Thì con đường Công lý Bình Đẳng Văn Hóa Cội Nguồn, Hiến Pháp, Luật Pháp, Đạo Pháp vũ trụ ra đời. Văn Hóa Chính Nghĩa tối cao vũ trụ, con đường Đại Đạo xuyên qua tư tưởng, xuyên qua không gian, thời gian, xuyên qua quá khứ vị lai, con đường làm chủ tất cả. Muốn tìm ra Văn Hóa Cội Nguồn ngoài Hùng Bi Trí Đức còn phải đạt đến cảnh giới tối cao, Thần Thông pháp thuật, Thần Thông trí huệ, thì mới tìm ra Đại Đạo Văn Hóa Cội Nguồn. Thái Tử làm sao để tìm ra Đại Đạo vũ trụ Chủ Nghĩa Đại Đồng Văn Hóa Cội Nguồn. Chúng ta hãy đọc tiếp những đoạn Kinh văn sau.

* * *

Hết phần 4 chương 5 mời xem tiếp phần 5 chương 5 Long Hoa Mật Tạng. Những gì bí mật nơi vũ trụ lần lần hé lộ, phải nói là bộ kinh quý hiếm không gì quý bằng. Những ai có Bộ Kinh nầy trong tay hàng ngày đọc xem nghiên cứu, thì phước đức trí huệ của những người nầy không sao luận bàn cho hết được, và tương lai của những người nầy cũng không sao lường hết được. Nếu ai gặp được những người nầy nên cung kính cúng dường, tán thán ca ngợi. Thì muôn vạn kiếp sau không những đứng đầu đại chúng cũng như giàu sang tột bực.

Long Hoa Mật Tạng tột siêu kỳ

Cúng dường in ấn truyền bá đi

Phước lành muôn ức không thể đếm

Gia đình con cái rạng tông ti

Chuyển đổi mạng căn vào Đức Thánh

Về trời hưởng phước mãi thường khi

Chỉ cầm một niệm tin ca ngợi

Cũng đặng về trời chẳng khó chi.

* * *
 
127 ❤︎ Bài viết: 653 Tìm chủ đề
CHƯƠNG 5

PHẦN 5

CHÌA KHÓA VẠN NĂNG

Thái Tử nghĩ không phải chỉ làm Quốc Vương ngự trên Ngai Vàng Điện Ngọc mới là uy quyền cao cả. Đó chỉ là uy quyền cao cả tạm thời cuộc đời ngắn ngủi sống trên vật chất cung vàng điện ngọc chớp mắt đã qua, mọi chuyện rồi trở về con số không, cái không trống rỗng chẳng có ý nghĩa gì. Chỉ có sự nghiệp Đạo Đức sự nghiệp tận độ nhân loại cứu linh hồn nhân loại về trời. Mới là sự nghiệp vĩ Đại vĩnh cửu, sự nghiệp bất tử không bao giờ mất mãi mãi trường tồn. Chỉ có tìm ra Văn Hóa Cội Nguồn Đại Đạo vũ trụ, đúc kết Tinh Hoa Chân Lý, vạch ra đường hướng đúng đắn chân thiện, để cho nhân loại Thiên Hạ Đồng Bào đi theo làm theo tìm đến cuộc sống ấm no tự do hạnh phúc ở các cõi Trời Thiên Đàng Cực Lạc. Giải thoát sanh tử đi đến cảnh bất tử. Thì đó mới là việc làm cao cả, sự nghiệp vĩ đại, không có một sự nghiệp nào sánh bằng. Ngay cả những Quốc Vương giàu có nhất thế giới, hùng mạnh nhất thế giới cũng không sánh kịp bằng mảnh lông sợi tóc của sự nghiệp Đạo Đức Văn Hóa Cội Nguồn.

Thái Tử phát họa ý tưởng rồi đưa đến một kết luận quyết định. Quyết tìm ra Đại Đạo mở đường dìu dắt nhân loại, đưa xã hội nhân loại tiến lên công bằng văn minh, văn minh vật chất lẫn văn minh tinh thần. Tất cả sống theo Hiến Pháp, Luật Pháp, Đạo Pháp Công Lý xã hội, ai cũng được sống trong Công Bằng Bình Đẳng tiến tới dân giàu nước mạnh, làm chủ bản thân, làm chủ xã hội, làm chủ Hiến Pháp, Luật Pháp, Đạo Pháp, làm chủ non sông Tổ Quốc cho đến làm chủ vũ trụ.

Khi con người mới sanh ra, thì Tổ Tiên Tạo Hóa đã ban cho con người nhiều thứ quyền và làm chủ tất cả. Trong các thứ quyền mà Tổ Tiên Tạo Hóa đã ban cho mỗi con người trong đó có Quyền Sống, Quyền Độc Lập, Quyền Tự Do, Quyền Bình Đẳng, Quyền mưu cầu hạnh phúc, nói chung là Quyền con người (Nhân Quyền). Con người là chủ Hiến Pháp, Luật Pháp, Đạo Pháp Công Lý vũ trụ, tất cả nhân loại sống trong xã hội công bằng văn minh. Cạnh tranh lành mạnh tiến hóa đi lên mở ra Xã hội Thiên Đàng Cực Lạc Quốc ngay nơi trần thế. Con người là tiểu thiên vũ trụ. Tổ Tiên khai lập con người. Thì Tổ Tiên Khai Hóa cũng đã ban cho con người kho tàng trí huệ. Cũng như chiếc chìa khóa vạn năng ấy để mở kho tàng trí huệ, chiếc chìa khóa vạn năng ấy không đâu xa đó là chìa khóa Tiểu Linh Hồn chúng ta vậy. Chúng ta sẽ dùng nó mở cánh cửa Cội Nguồn vũ trụ, tiến tới làm chủ tất cả, cũng như các Quyền mà Tổ Tiên đã ban cho mỗi con người. Để mở tung cánh cửa Cội Nguồn vũ trụ làm chủ kho tàng kiến thức vũ trụ. Thái Tử suy ngẫm lần lần tháo gỡ gút mắc rắc rối ngăn cản của vô thường và vô minh. Lần tiến tới mục đích cuối cùng là Đại giác ngộ Chánh Đẳng, Chánh giác.

Thái Tử là bậc Đại thông minh, nếu không nắm bắt rõ Linh Hồn của chính mình, thì không bao giờ tìm thấy Đại Linh Hồn vũ trụ, Đại Linh Hồn Khai Hóa Tổ Tiên. Bản thể Linh giác tối cao vũ trụ, nếu chỉ hướng ngoại tìm kiếm trong thế giới vật chất dù cho tìm khắp trong vật chất, khắp thế giới vũ trụ cũng không tìm thấy bản thể Linh giác tối cao của vũ trụ, kho tàng tri thức của tâm Linh. Muốn tìm thấy Đại Linh Hồn vũ trụ, trước hết phải tìm thấy nắm bắt Tiểu Linh Hồn của chính mình và nó tự làm chủ lấy nó và dùng nó để mở ra cánh cửa Cội Nguồn vũ trụ và chỉ có bọt Nước mới tìm ra bản thể của Nước.

Lại nữa Linh Hồn là vật thể siêu Linh khó mà nắm bắt, khó mà hàng phục, tìm tàng ẩn chứa muôn vạn Chủng Tánh, của muôn cảnh giới, từ hiện tại đến quá khứ. Cảnh giới sắc từ Linh giác sắc không hiện ra. Cũng giống như cảnh giới của Điện hiện lên màng ảnh ti vi, thật ra Điện vốn không, không có cảnh giới đó. Nếu chúng ta tự hiểu Linh Hồn của chúng ta. Thì chúng ta mới làm chủ chiếc chìa khóa vạn năng vũ trụ. Khám phá bí mật vũ trụ, tiến tới làm chủ vũ trụ.

1: Tánh không tánh: Đó là thật tánh Linh Hồn chúng ta, từ tánh không này Linh Hồn của chúng ta tạo khởi ra vô lượng tánh khác nhau như tánh tham, tánh sân, tánh si, tánh cống cao ngạo mạn, tánh nghi, tánh bảo thủ cho đến tánh Thiện tánh ác, nói chung là 8 muôn 4 nghìn tánh, nhưng tất cả chỉ là giả tánh, do tánh không tánh. Chân Tánh khởi tưởng tạo ra mà thôi. Như vậy nắm bắt thật tánh Linh Hồn, tánh không tánh. Làm chủ Chân Tánh của chính mình nó tự làm chủ lấy nó, trở thành tánh tự nhiên, tự nhiên tánh.

2: Tướng không tướng: Đó là thật tướng Linh Hồn chúng ta.

3: Sắc không sắc: Đó mới là thật sắc Linh Hồn chúng ta. Từ tướng không tướng: Sắc không sắc này, khởi tưởng phân biệt hiện ra vô lượng cảnh giới trong Linh Hồn chúng ta, cảnh giới hữu sắc. Ví dụ như cảnh giới xã hội, cảnh giới chiến tranh, cảnh giới hòa bình, cảnh giới thiện, cảnh giới ác, v. V.. Như vậy nắm bắt thật tướng, thật sắc của Linh Hồn chúng ta là tự nó hiểu nó, không cảnh tướng là tướng thật tướng của mình, không sắc là thật sắc của mình. Tự không làm chủ lấy không, vắng lặng tự nhiên, tất cả cảnh giới trong tâm đều không thật, do tâm thức Linh Hồn khởi tướng tạo ra mà thôi.

4: Ý không ý: Đó mới là thật ý của Linh Hồn, trí không trí đó mới là thật trí của Linh Hồn, tự nó làm chủ ý không trí của nó, đi vào ý trí tự nhiên. Cảnh giới tối cao của người tu trên con đường Đại Giác Đại Ngộ, bước thẳng tới cánh cửa Cội Nguồn, bước vào kho tàng Như Lai Tạng tánh vũ trụ. Kho tàng tri thức vũ trụ.

5: Nhưng cánh cửa Cội Nguồn vũ trụ ấy không dễ gì mở ra được, phải phát Đại Nguyện rộng lớn mới mở nổi Như Đại Nguyện Di Đà, Quan Âm, Thích Ca, Địa Tạng, v. V..

* * *

Hết chương 5 phần 5 mời xem tiếp phần 1 chương 6 Long Hoa Mật Tạng Kinh, tối cao kinh giáo thượng thừa vũ trụ.

* * *

CHƯƠNG 6

PHẦN 1

SỰ THÔNG MINH KỲ LẠ CỦA THÁI TỬ

Thái Tử tuy còn rất trẻ nhưng thông minh kỳ lạ, dù cho Thần Thánh cũng không theo kịp. Thái Tử nghĩ nếu ta nắm bắt và làm chủ thật tánh, thật tướng, thật sắc, thật ý, thật trí của ta. Tánh chủ, Tướng chủ, Sắc chủ, Ý chủ, Trí chủ, tiến sâu vào con đường Tạo hóa, mở cánh cửa Cội Nguồn, tìm ra nguồn gốc Linh Hồn nhân loại, nguồn gốc Tiểu Linh Hồn vũ trụ, nguồn gốc thế giới vật chất, nguồn gốc vạn vật trong đó có nguồn gốc con người. Tìm ra Đại Đạo chủ nghĩa Đại Đồng Văn Hóa Cội Nguồn lưu truyền chốn nhân gian, đưa Nhân Loại qua sông mê đến bờ giác, sống mãi tự do nơi vũ trụ trên khắp cõi Thiên Đàng Cực Lạc. Có làm được như vậy thì cuộc sống mới có ý nghĩa, lối sống đỉnh cao của cuộc sống, sống có ích cho đời, cho người cho muôn sanh linh vạn vật.

Thái Tử tuy còn rất trẻ nhưng lại có tầm nhìn rộng lớn, thấy rõ tình hình thế giới hiện nay, nhất là tình hình ở phương Đông, các Vương Quốc, các Bộ Lạc, các Vương Tộc, người Kinh cũng như người Thượng, thường xảy ra xung đột, nước này với nước kia, Bộ Lạc này với Bộ Lạc nọ. Cảnh chiến tranh xung đột, cảnh chết chóc thảm thương xảy ra hằng ngày hằng tháng, hằng năm. Binh Đao máu lửa lan tràn khắp nơi, cảnh tù binh nô lệ xảy ra khắp châu lục, nhân dân sống dưới ách thống trị tàn bạo của những kẻ háo chiến, cướp mất quyền sống con người, nhất là cảnh dân chúng sống dưới ách thống trị hà khắc, không còn tính nhân Đạo, dữ hơn Lang Sói Hổ Báo.

Thời kỳ tranh giành thuộc địa càng ngày càng dữ, từ phong kiến Thần giáo biến thành phong Kiến Địa Chủ, sự tranh giành thuộc địa càng về sau càng tàn bạo bất chấp thủ đoạn lòng gian trá, mánh khóe, mưu mô xảo quyệt, đánh lừa để mưu lợi, nham hiểm vô cùng, biết lợi dụng danh từ Chính Nghĩa, che đậy sự gian trá tham lam ác độc của mình, bè phái mình. Sự gian trá che đậy nầy chỉ gạt được thành phần nhân loại kém hiểu biết, làm sao che mắt gạt được Thái Tử, vì Thái Tử là Chí Tôn Thiên Đế đầu thai xuống phàm trần. Nếu đất nước nào kém văn hóa, nhất là văn hóa truyền thống, thì không tránh khỏi sự xâm lược của nước khác, trở thành đất nước nô lệ.

Một đất nước mà vô Đạo, không có nền Hiến Pháp, Luật Pháp Đạo Pháp Chân Chính, chỉ sống theo giáo Điều và Điều lệ của các tổ chức thống trị bè phái, giáo phái, thì dân chúng đã coi như sống trong xã hội Địa Ngục trần gian.

Một đất nước có Nền Quốc Đạo, có Nền Hiến Pháp, Luật Pháp Đạo Pháp Chân Chính, thời dân chúng nương tựa vào Hiến Pháp, Luật Pháp, Đạo Pháp thành nề, thành nếp, sức mạnh của một dân tộc đoàn kết, muôn hoa góp phần làm đẹp mùa xuân, trăm sông nghìn suối đều chảy về biển cả, hòa mình vào dòng Đại Dương.

Chỉ có Văn Hóa Cội Nguồn Đại Đồng là chân lý biển cả Đại Dương, cho bao ý tưởng, lý tưởng đổ về, cho bao tổ chức, giáo phái, bè phái hòa mình vào đó trường tồn vĩnh viễn, cũng chỉ có Văn Hóa Cội Nguồn đưa nhân loại xích lại gần nhau, cùng nhau tiến tới xây dựng xã hội Thiên Đàng Cực Lạc.

Sống có Chân lý, sống theo Hiến Pháp, Luật Pháp. Đạo Pháp Chân Chính, thì bản thân, gia đình, xã hội, non sông Tổ Quốc như mùa xuân thắm tươi.

Sống không có Chân lý, không có Hiến Pháp, Luật Pháp, Đạo Pháp Chính Nghĩa như cây thiếu nước, thiếu phân, thiếu ánh sáng mỗi ngày một héo tàn và cuối cùng bị hủy diệt.

Thái Tử càng ngày càng đắm chìm trong suy nghĩ, ít nói, ít cười thường ngồi một chỗ im lặng trầm tư.

Kinh Dương Vương và Vương Phi Thần Long Nữ thấy Thái Tử Hùng Lan ngày càng trầm tư như vậy, thì sinh ra lo lắng chẳng yên, liền triệu tập Vương Quan Đại Thần văn võ hỏi xem cao kiến, hầu tìm ra phương pháp làm cho Thái Tử vui.

Nước Xích Quỷ có vị Quốc Sư Thục Lục, có sáu biệt tài không ai có nổi.

1 – là tài Quân sự

2 – là tài Chính trị

3 – là tài Văn thơ

4 – là tài Võ thuật

5 – là tài Hội họa

6 – là tài Âm nhạc

Lại có nhiều kinh nghiệm về trị Quốc, ngoại giao với các nước láng giềng với tài ngoại giao này làm cho các Vương Quốc lân cận kính nể, coi Vương Quốc Xích Quỉ như là một vương quốc giàu có hùng mạnh nhất thời ấy. Danh tiếng Thục Lục lừng lẫy vang dội như sấm, các Vương Quan Đại Thần nghe nói có kế sách gì làm vui cho Thái Tử, tất cả đều lắc đầu, các Vương Quan Đại Thần còn lạ gì Thái Tử, một Thái Tử thông minh, hiểu biết ngoài sức tưởng tượng của họ, họ nhìn Thái Tử như một dãy núi cao mà họ không bao giờ vượt qua được, nói gì đến có kế sách làm vui cho Thái Tử.

Kinh Dương Vương nhìn thấy cảnh lắc đầu của các Vương Quan Đại Thần thì thở dài.

Quốc sư Thục Lục thấy thế bằng thưa rằng:

Muôn tâu Quốc Vương, Thái Tử là bậc Con Trời sanh xuống thế, thông minh tài trí khác thường, các nhân tài dị sĩ ở nước Xích Quỉ ta lần lượt không còn gì để truyền dạy Thái Tử được nữa. Nay Thần cũng muốn góp chút công sức truyền bá chút kinh nghiệm cả đời mình cho Thái Tử.

Kinh Dương Vương nghe Quốc sư Thục Lục tâu thế thời lấy làm vui mừng vừa lòng lắm. Bằng giao Thái Tử cho Quốc sư dạy bảo.

* * *

Hết phần 1 chương 6 mời xem tiếp phần 2 chương 6 Long Hoa Mật Tạng. Bộ kinh thượng thừa Mật Tạng vũ trụ.

Có duyên gặp được Mật Kinh

Coi như giải thoát ức nghìn họa căn

Nếu như truyền bá ấn in

Linh hồn chuyển hóa vượt lên đỉnh trời.

* * *

CHƯƠNG 6

PHẦN 2

CON TRỜI CÓ KHÁC

Nói về Quốc Sư Thục Lục dạy Thái Tử chưa đầy một năm Quốc sư Thục Lục phải chịu hết tài để mà dạy, để mà truyền. Thái Tử học một biết mười biết trăm, thường làm cho Quốc sư phải nhiều phen sửng sốt, Quốc sư nghĩ con Trời có khác.

Hôm nay là một ngày đẹp trời, nhìn cảnh vật muôn hoa đua nở, Quốc sư nhìn Thái Tử rồi nói:

Năm cũ sắp qua năm mới lại về, thời gian chẳng chờ đợi ai cứ lặng lẽ trôi qua nhanh chóng, con người chẳng mấy chốc rồi già, cuộc đời sống gửi thác về, còn về đâu Thiên Đàng hay Địa Ngục thì chưa rõ. Thế mà lòng tham con người càng lúc càng bùng lớn lên, những nước lân bang chúng có ý dòm ngó mãi nước ta, có cơ hội là xâm lược.

Quốc sư nhìn Thái Tử rồi hỏi:

Khi nước mất nhà tan Thái Tử làm sao để giành lại.

Thái Tử hết sức ngạc nhiên với câu hỏi kỳ lạ đó nhưng cũng trả lời:

Quốc sư hỏi cho vui chứ làm gì có chuyện đó.

Quốc sư nói:

Thái Tử thử nhìn xung quanh nước Xích Quỷ ta, các nước lân bang họ đang làm gì trước con mồi béo bở, chúng không xâm lược nước ta được sao?

Thái Tử đáp:

Tuy đất nước Xích Quỷ ta là một đất nước giàu có, binh lực hùng mạnh nếu riêng lẻ từng nước thì không có đất nước nào đánh bại được đất nước ta. Nhưng nếu các Vương Quốc lân cận thống nhất với nhau thành một khối liên bang xâm lược nước ta, thì nước Xích Quỷ chúng ta sẽ không đỡ nổi. Nhưng không bao giờ có chuyện đó xảy ra, nếu có xảy ra cũng phải hàng nghìn năm nữa và chỉ có một cách, cá lớn nuốt cá bé, các Vương Quốc thôn tính lẫn nhau, rồi trở thành Cường Quốc thì nước Xích Quỷ ta chính là con mồi béo bở cho chúng nuốt.

Quốc sư nhìn Thái Tử lập luận phân tích vô cùng thám phục nhưng có chỗ chưa hiểu hỏi:

Sao phải hàng nghìn năm tới các Vương Quốc mới liên minh nhau, sao không phải là hôm nay hoặc hàng chục năm tới?

Thái Tử đáp:

Hiện nay trình độ dân trí còn quá lạc hậu, các Vương Quốc đang sống trong giáo điều và điều lệ, do Quốc Vương nước đó tự đặc ra để cai quản thống trị độc quyền độc tài khó mà liên minh cùng các nước chỉ còn cách là thôn tính lẫn nhau, mạnh được yếu thua, cá lớn nuốt cá bé, rồi trở thành một cường quốc.

Không thể có chuyện các Vương Quốc vào giai đoạn hiện nay liên minh với nhau thống nhất cùng nhau, trở thành một thế lực Cường Quốc mà phải đến hàng nghìn năm nữa, trình độ dân trí lên cao, không phải sống theo giáo điều và điều lệ do Quốc Vương đặc ra để thống trị. Mà sống theo căn bản Quyền Con Người trở thành Hiến Pháp, Luật Pháp, Đạo Pháp Công Lý công bằng bình đẳng, thì mới liên minh liên kết các nước được Hợp Chủng Tộc Tiến Lên Hợp Chủng Quốc. Với sức mạnh ấy thì không có một đất nước nào chống trả nổi, dù cho đó là một cường quốc. Hiến Pháp, Luật Pháp, Đạo Pháp Công Lý Chân Chính không phải do Quốc Vương tự đặc ra mà do Công Lý Xã Hội dựa trên nền tảng Quyền Con Người công bằng xã hội mà ra, tầng lớp trí thức nhân sĩ soạn ra, được đúc kết tinh hoa nhân loại hàng nghìn nghìn năm.

Nhưng cũng có Hiến Pháp, Luật Pháp, Công Lý trá hình do chế độ Độc Quyền, Độc Tài, Độc Trị lập ra cũng cố địa vị cho mình trói buộc dân chúng hết sức hà khắc biến dân chúng sống trong nhà tù xã hội. Những thức Hiến Pháp, Luật Pháp giả hiệu nầy không mấy hiệu quả cho công cuộc trị quốc an dân vì tính bất công quá lớn. Lại tước đoạt hết quyền con người của mỗi người dân do thể chế độc tài độc trị tạo ra. Vì vậy đối kháng của nước Xích Quỷ chúng ta trong tương lai vài mươi năm nữa, không phải đối kháng Cường Quốc liên minh mà là đối kháng Cường Quốc tàn bạo độc tài độc trị. Chúng thôn tính đất nước ta bằng mọi thủ đoạn, gian manh xảo trá và bạo lực.

Quốc sư với vẻ mặt sáng tỏ nói:

Nếu bị chúng xâm lược thì ta phải làm sao?

Thái Tử suy nghĩ rồi trả lời:

Với tình thế hiện nay, phương Bắc nước Xích Quỷ ta có nhiều Vương Quốc nhưng phải kể ba Vương Quốc đang lớn dần và hùng mạnh, đó là Vương Quốc Đế Lai, Đế Nghi, Đế Minh con cháu nhiều đời của Phục Hi, Hiên Viên.

Thái Tử nói:

Muốn đối kháng hay đánh bại ngoại xâm việc lường trước là việc cần phải làm, phải nói làm thường xuyên lên kế sách nữa là khác, những đường đi nước bước âm mưu của các thế lực ngoại xâm. Phải nói là đừng để mắc mưu chúng, nhất là mưu trong kế sách ngoại giao lâu dài, những cái lợi bao giờ cũng có cái hại. Nếu không tinh ý thì khó phát hiện có thể cả hàng trăm năm sau mới phát hiện được. Thế lực cũng như danh và lợi là ba miếng mồi ngon để câu nhử ta, chúng có thể tôn ta lên rồi hại ta, luồn cúi ta rồi trăm phương nghìn kế để hạ gục ta, chúng khéo léo vơ vét tài nguyên béo bở mà lâu nay chúng mơ ước cũng không bao giờ có. Chúng là những con Sói ngày đêm rình rập con mồi hễ có cơ hội là xơi.

Trước hết chúng ta phải tìm hiểu rõ chúng là Cáo, là Sói, là Beo cho rõ. Nếu chúng là con quái vật vừa là Cáo, vừa là Sói, vừa là Beo thì chúng ta mới có kế sách để đối kháng về lâu về dài. Biết người biết ta là nền tảng cơ sở ưu khuyết của ta, ưu khuyết của địch, để rồi tìm ra kế sách đối kháng, định hướng chiến lược sách lược. Chỉ có Ánh Sáng Chính Nghĩa truyền thống luôn luôn sáng tỏ đến tận hang cùng ngõ hẻm, một ý tưởng xấu nổi dậy là phát hiện ngay, ánh sáng Chính Nghĩa Văn Hóa truyền thống được trao cho mỗi người dân, dù chỉ là một phần nhỏ, dân chúng cũng phát hiện ra âm mưu của giặc. Loại Chồn, Cáo, Beo, Sói ẩn núp bất chính mưu đồ chiếm đoạt nước ta.

Chúng ta chỉ sợ các thế lực ngoại xâm có nội ứng bên trong, còn thế lực không có nội gián bên trong nội ứng chỉ đường cho giặc, đó chỉ là xâm lược mưa rào không có gì đáng sợ. Nếu kẻ thù mạnh hơn ta về vũ lực, thì ta mạnh hơn họ về dân vận chính trị, đoàn kết muôn người như một. Toàn dân kháng chiến, sức mạnh toàn dân là sức mạnh vô địch. Phải biết chờ thời cơ, cướp lấy thời cơ tiêu diệt chúng, tính cách khôn khéo nhẫn nhịn, nhẫn nhục, nhẫn nại, có tam nhẫn chính là Mật Tạng của Hùng, Bi, Trí, Dũng vượt qua bao chướng ngại khó khăn đưa đến thành công.

Nếu ánh sáng Chính Nghĩa đó chính là ánh sáng Văn Hóa Cội Nguồn Nền Quốc Đạo dân tộc thì các thế lực ngoại xâm, xâm lược ấy coi như đã bước chân vào chỗ chết, có đi mà không có trở về tất cả đều bỏ mạng. Nếu ngoại xâm kẻ thù mạnh hơn ta về vũ lực cả chính trị lẫn nội ứng. Thì ta phải mạnh về truyền thống anh linh Ông Cha, phát huy tinh thần Quốc Đạo Dân Tộc, quyết tử cho Tổ Quốc quyết sinh, mỗi người dân là một anh hùng dân tộc. Mỗi chiến sĩ dũng cảm. Mỗi vị tướng tài năng đủ khôn khéo chuyển xây tình thế biến nguy thành an, biến bất lợi thành đại lợi Lòng yêu nước là tường thành kiên cố, ngoại xâm khó mà vượt qua tường thành yêu nước toàn dân nổi. Hơn nữa tà không thắng được chánh. Sức mạnh Chính Nghĩa là sức mạnh bất tử vô địch, bản sắc dân tộc Văn Hóa Cội Nguồn, truyền thống anh linh Ông Cha, truyền thống kế thừa tự hào giữ vững nền độc lập. Mỗi người dân ai cũng vì non vì nước, toàn dân là chủ của đất nước, đồng tâm quét sạch quân thù, sức mạnh nội lực truyền thống dân tộc, là sức mạnh Chính Nghĩa dời non lấp bể. Sức mạnh nội lực ấy đứng vững trên nền tảng Quốc Đạo Dân Tộc, sức mạnh của lòng trung hiếu đối với Cha Ông đối với Non Sông Tổ Quốc. Dù cho ngoại bang họ có mạnh tới đâu cũng bị đánh bật ra khỏi đất nước, thất bại nhục nhã. Những thứ rác rưởi nhơ nhớp xâm lược của chúng đã bị chúng ta quét sạch, và vùi chúng xuống hố rác nhục nhã nhơ bẩn để mùi hôi thối của chúng đến mấy nghìn năm vẫn chưa hết.

Quốc sư lại hỏi:

Thế lực ngoại xâm mạnh quá chúng đè bẹp chúng ta thì làm sao?

Thái Tử đáp:

Nếu thế lực mạnh hơn ta gấp trăm nghìn lần, thế lực ngoại xâm là đá, còn thế lực của ta là trứng. Thái Tử nói nếu có trường hợp đó, chúng ta biến đất nước ta thành đất nước trống không, dân chúng sẽ được dời đến nơi hiểm địa, núi rừng hiểm trở tạo ra thế nước chảy đá mòn, chiến tranh du kích lâu dài, nung nấu thời cơ chờ đợi. Chúng ta thắng giặc phải thắng trên đất nước của họ, tạo ra chiêu pháp làm cho đất nước họ rơi vào kể bẫy tiêu diệt lẫn nhau ngay nơi triều đại của chúng, gậy ông đập lưng ông. Đánh Rắn phải đánh dập đầu, làm cho đất nước họ đảo lộn, tranh giành quyền lực với nhau dẫn đến thôn tính nhau lật đổ nhau, đó chính là thời cơ chúng ta quật khởi, từ thế lực của trứng nước, chuyển thành thế lực di sơn đảo hải ập tới như cơn bão lốc xóa sổ chúng. Chỉ có Văn Hóa anh linh Truyền Thống ung đúc lên sức mạnh tinh thần dân tộc. Nhất quyết không để mất nước, nhất quyết không làm nô lệ, noi gương khí phách Ông Cha xông lên quét sạch quân thù. Một dân tộc luôn luôn ôm ấp Chính Nghĩa ôm ấp lòng yêu nước thì không sợ một thế lực ngoại xâm nào cả. Khi thế lực ngoại xâm mạnh hơn ta, tạm thời ta tạo ra thế vườn không nhà trống mà thôi làm cho ngoại xâm không biết đâu mà lường. Bỗng chốc nở ra thế lực Đại Bàng, mang dòng máu anh hùng, nanh vuốt hận thù, bất khuất, quyết tử cho Tổ Quốc quyết sinh, đồng loạt khởi nghĩa, chắc chắn phần thắng lợi sẽ thuộc về mình. Vì lúc ấy con Mãng Xà hung dữ đã mất sức mạnh từ đất nước của chúng, lại thêm chúng không hiểu về thực lực của ta, sức mạnh của chúng đã bị lung lay, vì đất nước của chúng đã đi vào hỗn loạn. Thời cơ đã chín mùi, chính là lúc chúng ta quét sạch quân thù ra khỏi non sông Tổ Quốc.

Dân là nguồn tài nguyên vô giá của Quốc Gia, vì vậy ta phải chăm lo cho dân thật tốt. Dân là tường đồng vách sắt, ngăn cản và vùi dập quân thù xâm lược. Vì thế ta phải để cho dân tự phát triển mưu cầu nuôi lớn trí huệ, nuôi lớn tài năng, phát huy nội lực dân tộc hùng mạnh. Dân là Gươm Thiêng sông núi, bảo vệ gìn giữ non sông Tổ Quốc. Nên ta phải bảo vệ cái quyền của Dân, nhất là những Quyền Cơ Bản của mỗi con người. Quyền làm chủ xã hội làm chủ non sông Tổ Quốc. Cũng như vận mệnh của một quốc gia Một đất nước Văn Minh là một đất nước dân trí phải được nâng cao dân trí lên cao chính là nguồn tạo ra sự giàu sang xã hội cũng như sức mạnh của một dân tộc. Đem lại sự hùng mạnh của một Quốc Gia dân tộc. Nói tóm lại Dân là nguồn tài nguyên vô giá của non sông Tổ Quốc, không có một thứ quí giá nào sánh kịp, kể cả vàng ngọc Kim Cương Trân Châu. Vậy nên phải có chính sách lo cho dân chu đáo, để cho dân được tự do phát triển, thì không một đất nước nào xâm lược, hay đánh thắng được dân tộc đất nước chúng ta. Kể cả đất nước mạnh hơn đất nước ta gấp mười lần.

Dân là một nguồn tài nguyên đất nước vô giá như vậy, nhà nước lại không biết quan tâm, còn ra thể chế nầy thể chế nọ trói buộc dân chúng tước hết Quyền Con Người thì đất nước đó mạnh về kinh tế giàu về tinh thần sao được, phải nói là lụn bại. Làm Quốc Vương mà ít quan tâm bỏ mặc dân chúng. Không những thế lại còn vơ vét bóc lột thậm tệ làm cho cạn kiệt lòng dân, nước cạn thời cá sống ở đâu? Thuyền lấy nước đâu để mà vươn ra xa. Nếu nói dân là nước còn Vương, Quan chính là cá, thì phải theo kế sách ao sâu béo cá, nước giàu dân mạnh thì cá yên, nước nghèo dân mạc thời cá cùng đường, Chồn, Cáo, Hổ, Báo ăn thịt sạch. Làm Quốc Vương phải kiên định. Thắng không kêu, bại không nản, dù tạm thời bị nô lệ hoặc bị nô lệ nhưng bản sắc Văn Hóa Anh Linh Truyền Thống không mất, đó là thế bất bại của một dân tộc Hổ phục Rồng nằm, chờ thời cơ là quật khởi, một dân tộc bất khuất là dân tộc biết yêu truyền thống Văn Hóa của mình, từ thế bại vì quân giặc quá mạnh, nhưng sẽ chuyển thành thế thắng, sớm hay muộn mà thôi.

Thái Tử nói tiếp:

Xâm lược bạo lực không độc hại bằng xâm lược Văn Hóa, sở dĩ một dân tộc bị nô lệ hàng nghìn năm, chính dân tộc đó đã bị Văn Hóa ngoại xâm đè bẹp tinh thần dân tộc, ngóc đầu dậy không nổi, Văn Hóa ngoại xâm đã thống trị tinh thần dân tộc của họ, làm cho họ khiếp đến nổi phải tôn thờ Văn Hóa ngoại xâm nghe theo và làm theo.

Nước Xích Quỷ ta Tôn Thờ Thần Mặt Trời là vị Thần tối cao vũ trụ, trong khi ấy các nước lân bang các quốc vương Văn Hóa Tôn Thờ thấp hèn. Thờ Quỷ Thần, thờ Thần Cầm, Thần Thú, còn các nước Phương Tây thờ Phù Thủy. Nên các nước Phương Đông cũng như Phương tây không nước nào đủ sức xâm nhập Văn Hóa đánh bại sự tôn thờ của dân tộc ta. Nên tinh thần dân tộc nước Xích Quỷ luôn đứng vững. Độc Lập vì thế mà kéo dài không một đất nước nào sánh kịp. Nhưng tình hình hiện nay đã đổi khác các nước lân bang nổi lên mạnh về bạo lực gươm đao giáo mác, mạnh được yếu thua. Mạnh tồn tại yếu xóa sổ. Nên nước Xích Quỷ Ta phải có chiều hướng đổi mới, mới mong giữ vững nền độc lập thái bình an lạc.

Quốc sư lại hỏi:

Thưa Thái Tử giả sử có trường hợp, giặc ngoại xâm đã đuổi, giặc Tham Quan sanh ra làm hại dân hại nước thì làm cách nào để loại bỏ?

Thái Tử nghe Quốc sư hỏi thế thì lấy làm khó nghĩ mà cũng khó trả lời nhưng rồi Thái Tử cũng phải trả lời. Thái Tử nói:

Thắng giặc ngoại xâm đã khó, nhưng dẹp loạn quan tham lại càng khó hơn. Nhưng không phải khó mà làm không được, biết cách lèo lái chính sách cũng như xóa bỏ Độc Tài Độc Trị, Hiến Pháp, Luật Pháp, Đạo Pháp nghiêm minh. Tam quyền phân lập kiểm soát nhau hỗ trợ nhau. Giữ vững kỷ cương đất nước giáo dục đạo đức Dân, Quan, Vua đều theo một Đạo Luật Minh Chính, ai ai cũng là chủ của xã hội, chủ của non sông Tổ Quốc. Và ai ai cũng có quyền Ngôn Luận góp tiếng nói vào Công Lý xã hội chống giặc nội xâm đó là giặc Tham Quan làm hại dân hại nước.

Quốc Sư Thục Lục lại hỏi:

Đã là quan thì có quyền sanh sát trong tay ai mà dám tố Quan tham ô, móc ngoặc, hối lộ. Quyền lực của quan có thể che được Mặt Trời.

Thái Tử đáp:

Sanh ra quan tham nhiều phần lớn là do thể chế độc tài độc trị mà ra. Không Hiến Pháp Trị, Luật Pháp Trị, Đạo Pháp Công Lý trị, nên tham quan mới lộng hành như vậy. Dân làm sao trị được Quan tham, mà dân phản ảnh lên Hiến Pháp Trị, Luật Pháp Trị, Đạo Pháp Công Lý trị. Công Minh Bình Đẳng không thiên vị một ai, Quan, Dân có tội đều xử như nhau. Thứ Giặc Tham Nầy không chỉ ở Quan mà ngay ở Dân cũng có, Quan tham theo kiểu Quan, Dân tham theo kiểu Dân. Thứ giặc khó trị vô cùng, giặc tham quan sanh ra từ nội tâm con người, ăn sâu vào gốc rễ linh hồn con người. Nhất là Vương, Quan có điều kiện lòng tham khởi lên mạnh hơn sự tham nào cũng dám làm, lòng tham được che đậy dưới quyền lực. Nếu không có Văn Hóa Chính Nghĩa Nhân Quyền Dân Chủ thì khó mà đẩy lùi được. Chúng mãi tồn tại ẩn núp dưới Thể Chế Độc Tài Độc Trị. Không có Hiến Pháp, Luật Pháp, Đạo Pháp minh chính Công Lý hạn chế thì coi như Quốc nạn tham ô tham nhũng không sao tránh khỏi. Dưới thể chế Độc Tài Độc Trị việc lợi dụng sơ hở của thể chế để làm bậy, đã là Vương, Quan làm bậy thì còn sợ ai nữa. Nếu không có Hiến Pháp, Luật Pháp, Đạo pháp minh chính triệt phá. Giặc tham Quan rất nhiều dạng nhưng động cơ sanh ra chúng, đó là Dục Vọng bất chính tà tâm, dựa trên tham lam mưu cầu danh lợi riêng mà ra. Cũng bởi gì không kìm hãm được lòng tham háo danh, háo lợi bất chính mà biết bao người phản Quốc hại dân, phản Tổ, phản Tiên, làm tổn hại Non Sông Tổ Quốc, tổn hại Đồng Bào dân tộc. Tội ác chi cũng dám làm, kể cả người thân của họ cũng bị loại bỏ. Tánh tham lam trục lợi bất chính khó ai mà diệt tận chúng nổi, vì chúng ẩn núp trong linh hồn con người. Linh Hồn con người luôn luôn bảo thủ bao che cho chúng, nhất là tầng lớp Vương Quan hủ hóa lại còn bao che thói hư tật xấu hơn nữa.

Muốn có một xã hội trong sạch công bằng văn minh ít tham quan, thì xã hội đó phải gieo trồng Hiến Pháp, Luật Pháp, Đạo Pháp minh chính quả ngọt hàng chục năm, thậm chí hàng trăm năm, đi theo hai con đường, một là con đường Giáo Dục trong các trường học. Hai là con đường Đạo Pháp Văn Hóa Chính Nghĩa truyền thống truyền dạy nơi các thờ tự. Với chính sách lấy Dân làm gốc, dân là chủ của đất nước, chủ của Hiến Pháp, Luật Pháp, Đạo Pháp Công Lý. Quyền con người cũng như quyền của mỗi người dân phải được tôn trọng và bảo vệ, bất khả xâm phạm dù cho đó là Vương Quan. Tạo Hóa sinh ra đều bình đẳng, những quyền Tạo Hóa ban cho đều được thực thi. Nhà nước chính quyền lúc nào cũng làm hết trách nhiệm thực thi Hiến Pháp, Luật Pháp, Đạo pháp minh chính bảo vệ quyền những quyền cơ bản của dân. Chính quyền là đầy tớ trung thành của Hiến Pháp, Luật Pháp, Đạo Pháp, nhân quyền, Dân Chủ. Một đất nước bình đẳng. Một đất nước mà Đế, Vương, Vua, Chúa không phải là tối cao trên hết mà là Hiến Pháp, Luật Pháp, Đạo Pháp Công Lý Công Bằng, Bình Đẳng trên hết. Thì nhà nước đó không lo về quốc nạn tham nhũng, tham ô. Dân chúng Vương, Quan sống trong môi trường lành mạnh.

Mỗi người dân là mỗi dũng sĩ diệt gian, diệt thói hư tật xấu của chính mình và tệ nạn xã hội, phê bình và tự phê bình, tự mình xóa bỏ điều quấy, không ai thay thế xóa bỏ thói hư tật xấu cho mình, nếu không xóa bỏ thì tự mình hại mình không sớm thì muộn cũng bị sa đọa, trước là sa đọa cuộc đời, sau là linh hồn sa đọa âm phủ. Một đất nước đi vào Hiến Pháp, Luật Pháp, Đạo Pháp, xóa bỏ độc tài độc trị, thì đất nước đó có trình độ dân trí cao, giác ngộ Đạo Đức Chính Nghĩa lớn, làm chủ mình, làm chủ xã hội, làm chủ non sông Tổ Quốc cho đến làm chủ Hiến Pháp, Luật Pháp, Đạo Pháp Công Bằng xã hội. Muốn có xã hội ít tham quan làm hại dân hại nước là tất cả đi trên con đường Văn Hóa Cội Nguồn Chủ Nghĩa Đại Đồng Thiên Ý Cha Trời, Thiên Luật vũ trụ, thực thi rốt ráo quyền con người. Nhân Quyền Dân Chủ Công Bằng Bình Đẳng xã hội tiến tới dân giàu nước mạnh tự do ấm no hạnh phúc.

Quốc sư Thục Lục càng nghe Thái Tử thuyết giáo phép trị quốc mới lạ chưa từng nghe thấy bao giờ, nhưng xem đi xét lại thì câu nào cũng có lý, có cơ sở để mà thành công Thục Lục nghĩ không lẽ lời biện minh của Thái Tử là phép trị quốc trên trời Thái Tử muốn áp dụng vào chốn nhân gian.

Quốc Sư Thục Lục lại hỏi:

Thưa Thái Tử từ xưa tới nay khắp các nước nhỏ lớn, dù xưng Đế, xưng Vương, xưng Vua, xưng Chúa thì cách cai quản đất nước na ná như nhau, giai cấp thống trị và giai cấp bị trị, giai cấp thống trị chính là Vương, Quan của đất nước đó, còn giai cấp bị trị chính là dân. Nay lại nghe Thái Tử nói trên Vương, Quan có Đạo Đức trị, Hiến Pháp trị, Luật Pháp trị, nhà nước chỉ là hiện thân, thực thi Công Lý Hiến Pháp, Luật Pháp, Đạo Pháp, đem lại sự Công bằng, Bình Đẳng xã hội. Giai cấp Vương, Quan chỉ là đầy tớ trung thành, bảo vệ Hiến Pháp, Luật Pháp. Đạo Pháp. Thi hành Hiến Pháp, Luật Pháp, Đạo Pháp không thiên vị một ai, quan cũng như dân hể có tội liền bị xử như nhau, việc này có thể làm được sao? Hay chỉ là một giả thuyết mơ tưởng.

Thái Tử nói:

Không phải giả thuyết mơ tưởng đâu đó là xã hội Thần Thánh, xã hội Công Bằng văn minh nhân loại.

Thái Tử nói:

Đạo Đức trị, Hiến Pháp trị, Luật Pháp trị hay hơn điều lệ trị, giáo điều trị, chế độ trị. Độc tài trị. Nhất là bạo lực trị. Chỉ làm cho cuộc sống khốn khổ, dân khốn khổ thì Vương, Quan cũng chẳng được yên. Chế độ độc tài độc trị dùng bạo lực trấn áp cai trị dân chúng thì nhà tù mở rộng ra, Đạo Đức trị thì nhà tù khép lại.

Thế nào là Văn Hóa Đạo Đức trị?

Đạo Đức trị chính là dùng Văn Hóa Đạo pháp Chính Nghĩa giáo dục con người giảm bớt tội lỗi cũng như tội phạm, thay thế cho thể chế độc tài độc trị bạo lực đàn áp cai trị con người. Đưa xã hội đi lên Văn Minh vật chất lẫn tinh thần, cái hay ở Văn Hóa Đạo Pháp Trị là ở chỗ đó.

Văn Hóa Đạo Pháp Trị không những giảm hận thù mà còn đoàn kết dân tộc. Văn Hóa Đạo pháp trị có ánh sáng Chính Nghĩa có công năng làm cho con người bỏ ác hành thiện, giác ngộ thấy cái sai của mình, tự sửa chữa những hành vi, thói hư tật xấu hình thành nhân cách tư cách con người, đối nhân xử thế văn minh mẫu mực.

Trình độ dân trí được nâng cao. Là nhờ có Văn Hóa Chính Nghĩa cải hóa tư duy ngăn chặn được vô lượng tội lỗi, do tà tâm sanh ra làm hại cho bản thân cho xã hội, cho non sông Tổ Quốc. Văn Hóa Đạo Đức Chính Nghĩa ăn sâu vào lòng dân, thì đem lại thái bình an lạc tận hang cùng ngõ hẻm nhân loại đi đến chân thiện hoàn mĩ, vừa xua đuổi tà ma và ác quỉ, tiến tới dân giàu nước mạnh tự do an vui hạnh phúc.

Thế nào là Văn Hóa Hiến Pháp trị?

Văn Hóa Hiến Pháp trị là Văn Hóa khuôn mẫu. Văn Hóa Tinh hoa Cội Nguồn khai dựng lập lên đất nước. Tổ quốc. Dân Tộc. Văn Hóa Hiến Pháp Trị chính là Văn Hóa chính nghĩa Cội Nguồn. Văn Hóa truyền thống anh linh dân tộc. (hay còn gọi là Văn Hóa Nền Quốc Đạo) Văn Hóa khuôn mẫu của đường hướng Luật Pháp, Đạo Pháp, Chính Trị. Nói chung là Văn Hóa Cội Nguồn cốt lõi nòng cốt của kim chỉ nam truyền thống anh linh dân tộc.

Văn Hóa Hiến pháp trị là Văn Hóa truyền thống anh linh Trị. Văn Hóa Hiến Pháp trị, Luật Pháp Trị, Đạo Pháp Trị không phải là Văn Hóa Chế Độ, hay Văn Hóa truyền thống lâu đời của một Bộ Lạc, hay là Văn Hóa của Tôn Giáo Đạo giáo. Mà là Văn Hóa Hiến Pháp Thống Nhất của Đời lẫn Đạo, Văn Hóa Thống Nhất cả trăm Bộ Lạc, Văn Hóa Bách Việt Văn Lang, Văn Hóa đỉnh cao của cái Chung trong đó gắng liền cái Riêng của mỗi Bộ Lạc. Văn Hóa Chủ Nghĩa Đại Đồng của đại Dân Tộc.

Văn Hóa Hiến Pháp Trị dựa trên nền tảng Quyền con người. Nhân Quyền. Văn Hóa của sự lấy Dân làm gốc Dân Chủ.

Văn Hóa Hiến Pháp Trị là Văn Hóa Chủ Nghĩa của sự công bằng, bình đẳng văn minh, khác xa với Văn Hóa thể chế độc tài độc trị.

Văn Hóa Hiếp Pháp Trị không phải là Văn Hóa phong tục tập quán lạc hậu. Mà là Hiến Pháp khuôn mẫu nền tảng của Luật Pháp. Đạo Luật kim chỉ nam cho mọi hoạt động xã hội.

Hiến Pháp Trị chính là Văn Hóa truyền thống anh linh trị, có công năng cải đổi tư duy con người đưa con người vào một quỷ đạo chung nề nếp trật tự xã hội. Hiến Pháp Trị luôn soi sáng tinh thần yêu nước thương dân, tinh thần trách nhiệm xã hội, Tổ Quốc thiêng liêng trên cá nhân của mỗi con người, gia đình, họ tộc. Hiến Pháp Anh Linh Đại Truyền Thống Dân Tộc chính là Nền Quốc Đạo Dân Tộc. Ánh sáng Hiến Pháp Văn Hóa Cội Nguồn Trị là ánh sáng soi đường cho toàn dân tộc. Nhận thức rõ Chính Nghĩa, Phi Nghĩa. (Hiến Pháp là Vua của Nhà Nước Pháp Quyền, Nhà nước lấy Quyền con người làm Nền Tảng, Nhân Quyền. Lấy dân làm Gốc, Dân Chủ. Trở thành nền Quốc Đạo anh linh dân tộc

Vì thế Hiến Pháp, truyền bá rộng rãi đến mỗi người dân soi rọi tới mỗi người dân, để dân hiểu, dân bàn, dân làm chủ, dân làm theo. Dân tôn thờ, chính quyền các cấp phải có nhiệm khai sáng và truyền đạt đến tận người dân cho dân hiểu dân làm chủ dân kiểm tra, dân làm chủ, dân tôn thờ.

Thế nào là Luật Pháp trị?

Luật pháp trị, là Luật Pháp bảo vệ Công Lý Công Bằng Bình Đẳng xã hội của Hiến Pháp, Đạo Pháp. Luật Pháp Trị là những điều luật khuôn phép đi vào đời sống xã hội giữ vững kỷ cương, ngăn cấm mọi hoạt động đi ngược lại Hiến Pháp, Đạo Pháp.

Luật Pháp Trị là thừa hành những gì Hiến Pháp có, thi hành những gì Hiến Pháp cho phép những chi tiết Văn Từ, Ngôn Từ Văn Pháp trong Hiến Pháp.

Luật Pháp Trị là những điều khoản. Luật lệ khuôn mẫu. Trở thành những Điều Lệnh, Điều Luật, Điều Lệ, đi vào trật tự khuôn phép xã hội Theo Văn Pháp Hiến Pháp Đạo Pháp.

Luật Pháp Trị là những điều khoản của Luật Pháp. Trở thành Điều Chế, Điều Chỉnh, Điều Độ, Điều Khiển, bảo vệ Hiến Pháp, cũng như trừng trị những người vi phạm Hiến Pháp. Vi Phạm Pháp luật.

Luật Pháp Trị khác với Chế Độ trị, Luật Pháp trị khởi nguồn sanh ra từ Hiến Pháp, dựa trên nguyên tắc Nền Tảng quyền con người Nhân Quyền, dựa trên nguyên tắc Dân là Gốc, Dân Chủ Hiến Pháp Đạo Pháp Chính Nghĩa, Nhân Quyền, Dân Chủ công bằng xã hội.

Luật Pháp Trị, là Luật Pháp bảo vệ anh linh truyền thống, bảo vệ quyền con người, cũng như thực thi mệnh lệnh của Hiến Pháp.

Luật Pháp Trị là hiện thân quyền lực tối cao của Hiến Pháp hiện thân Độc Lập, không lệ thuộc bất kỳ ai hay một Tổ Chức, Cơ quan nào. Hể có tội liền bị xử phạt, ngay cả người đang thi hành pháp luật. Ánh sáng pháp luật có công năng giữ vững kỷ cương đất nước, kỷ cương trật tự xã hội, ngăn chặn mọi hành vi tội lỗi của con người, làm hại xã hội làm hại non sông Tổ Quốc thái bình an lạc.

Luật Pháp Trị là Luật Pháp kỷ cương bảo vệ Nhà Nước Pháp Quyền, Nhà Nước Hiến Pháp, Luật pháp, Đạo Pháp trên hết. Nhà Nước Công Bằng Bình Đẳng Nhân Quyền Dân Chủ. Cao hơn nữa Thiên Quyền Nhân Chủ, Nhà Nước của Dân do dân và vì Dân.

Vì thế Ánh sáng pháp luật phải đến tận tay mỗi người dân, dân làm chủ, dân thực thi pháp luật phát hiện tố giác những hành vi phạm tội đi ngược lại Hiến Pháp, Luật Pháp, dù đó bất cứ là ai, dân có đủ quyền quyết định những trọng đại của đất nước, bác bỏ những gì Chính Quyền làm sai không theo đúng Hiến Pháp, Đạo Pháp. Có đủ quyền hạn yêu cầu nhà nước bãi bỏ những điều luật phi lý không nằm trong Hiến Pháp Đạo Pháp.

Vì vậy muốn có một đất nước dân giàu nước mạnh, Độc Lập giữ vững lâu dài, thì mỗi người dân là chủ của Hiến Pháp, Đạo Pháp, Luật Pháp toàn dân thi hành công lý xã hội, công bằng văn minh, loại bỏ Chế Độ Độc Tài Độc Trị Không phù hợp với truyền thống hợp chủng nhiều dân tộc trên 50 dân tộc. Chỉ có Nhà Nước Pháp Quyền. Nhà Nước Hiến Pháp, Luật Pháp, Đạo Pháp trên hết. Nhà Nước Của Dân, Do Dân vì Dân. Nhà Nước Bảo vệ Quyền con người, Nhân Quyền. Lấy dân làm gốc Dân Chủ, tất cả Vua, Quan, Dân, đều sống dưới ngôi nhà chung, ngôi nhà Hiến Pháp, Luật Pháp, Đạo Pháp. Nền Quốc Đạo Dân Tộc. Thời đời sống muôn dân, cũng như sự ổn định xã hội mới được thịnh trị tự do ấm no hạnh phúc, bền vững lâu dài.

Một nhà nước độc tài thì sống theo khuôn khổ Chế Độ. Không có Dân Chủ, Nhân Quyền, tự do.

Một nhà nước pháp quyền thì sống theo Hiến Pháp, Luật Pháp Đạo pháp dân tộc. Vương, Quan, Chính, Quyền là đầy tớ trung thành cho Đạo pháp dân tộc, Hiến pháp dân tộc, Luật pháp dân tộc, sống trong môi trường lành mạnh xã hội công bằng văn minh. Non sông Tổ Quốc Độc Lập lâu dài, không có sự âm mưu lật đổ Nhà Nước cũng như Chính Quyền mà chỉ có sự thừa kế Chính Quyền đi trước, thắp sáng Đạo pháp dân tộc, Hiến pháp truyền thống Cội Nguồn dân tộc, Luật pháp Đạo Luật dân tộc nối tiếp đời đời thế hệ nầy sang thế hệ khác cho đến tận mai sau.

Quốc sư Thục Lục càng nghe Thái Tử nói tưởng như mình đang sống trong xã hội Thiên Đàng Cực Lạc, Quyền sống, Quyền tự do, Quyền bình đẳng, Quyền mưu cầu hạnh phúc. Nhân quyền được bảo vệ tôn trọng. Cuộc sống an vui hạnh phúc.

Trong khi hiện nay không một đất nước nào, Vương Quốc nào có nền Văn Minh ấy. Mà chỉ theo Phong Kiến Thần Giáo Độc Tài Độc Trị. Vương, Đế, Chúa, trên hết.

Những gì Thái Tử thuyết ra có phải đây chính là Văn Hóa Cội Nguồn, Chủ Nghĩa Đại Đồng được nghe trong truyền thuyết nhân gian kể, xã hội Thần Thánh. Xã hội Thiên Đàng Cực Lạc Quốc. Một xã hội có danh có lợi, có cạnh tranh. Nhưng danh lợi, cũng như sự cạnh tranh đều theo một khuôn phép nhất định không ngoài cạnh tranh Công Bằng Bình Đẳng. Tất cả mọi hoạt động xã hội. Theo Kim chỉ nam Hiến Pháp, được Luật pháp công nhận, Đạo Luật cho phép, đó là Chánh Danh, Chánh Lợi, Chánh Cạnh Tranh. Xã Hội Tiến Hóa đi lên tiến tới dân giàu nước mạnh.

Tóm Lại: Những thứ danh, lợi. Cạnh tranh bất chính đi ngược lại Đạo pháp, Hiến pháp, Luật pháp Chính Nghĩa đó là Tà Danh và Ác Lợi. Tà Danh và Ác Lợi luôn luôn tồn tại trong tâm thức ác tánh, lớn mạnh trong các Chế Độ xã hội chuyên quyền Độc Tài Độc trị. Phát nguồn từ Phong Kiến Thần Giáo. Tôn thờ chủ nghĩa cá nhân tồn tại cho tới ngày nay. Và sẽ chấm dứt Không tồn tại trong Chủ Nghĩa Đại Đồng, Thiên Quyền Nhân Chủ, chủ nghĩa tối cao nhân loại con người. Cũng như chủ Nghĩa Nhân Quyền Đa Nguyên Dân Chủ. Vì trình độ dân trí xã hội nhân loại con người đã lên cao, chủ nghĩa Cá Nhân độc tài độc trị không còn phù hợp nữa. Tiến tới xã hội Văn Minh công bằng bình đẳng. Xã hội Đạo Luật nhà nước pháp quyền, Đạo pháp, Hiến pháp, Luật pháp trên hết.

* * *

Hết phần 2 chương 6 mời xem tiếp phần 3 chương 6 Long Hoa Mật Tạng. Long Hoa Mật Tạng là Bộ Kinh Văn Hóa Tinh Hoa Rồng Tiên. Cội Nguồn dân tộc Bách Việt Văn Lang, nay là dân tộc Việt Nam. Một dân tộc anh linh Văn Minh tột đỉnh ở thời Quốc Tổ Hùng Vương khai dựng lập quốc. Có thể nói Văn Hóa mẫu mực trị quốc an dân có một không hai trên nhân loại con người. Những triết lý sâu xa, văn từ thậm thâm vi diệu, chỉ cần hiểu một câu, một chữ cho thông suốt, cũng đặng phước báo vô biên. Hồn Thiêng Dân Tộc che chở. Khí Thiêng Sông Núi Phù Trì. Huống chi truyền bá in ấn biên chép, đọc tụng, thì phải nói là cầu chi đặng nấy, từ nghèo chuyển lên giàu, từ giàu chuyển lên Thánh. Linh ứng vô cùng. Khi mạng chung thời siêu sanh về các cõi trời hưởng phước.

* * *
 
Chia sẻ bài viết

Những người đang xem chủ đề này

Xu hướng nội dung

Back