31 ❤︎ Bài viết: 22 Tìm chủ đề
- NHỮNG LÍ LUẬN VĂN HỌC HAY VỀ TÁC PHẨM VĂN HỌC VÀ TÁC GIẢ LỚP 12

I. Tác phẩm Tây Tiến (Quang Dũng)

1. ".. Tây Tiến là sự tiếp tục của một dòng thơ lãng mạng. Nhưng đã được tác giả thổi vào hồn thơ rất trẻ, rất mới. Khác hẳn những tiếng thơ bi lụy não nùng. Cũng khơi nguồn cảm hứng từ một thời gian khổ và oanh liệt của lịch sử đất nước. Nhưng Tây Tiến đã được thể hiện một cách đặc sắc qua ngòi bút Quang Dũng. Với một tâm trạng cụ thể – nỗi nhớ đồng đội trong đoàn quân Tây Tiến. Chính niềm thương nhớ da diết và lòng tự hào chân thành của tác giả về những người đồng đội của mình đã khiến người đọc của nhiều thế hệ rung cảm sâu xa và đó cũng chính là âm hưởng chủ đạo của bài thơ này..". (Vũ Thu Hương, in trong Vẻ đẹp văn học cách mạng).

2. ".. Tây Tiến- tượng đài bất tử về người lính vô danh.." (Vũ Thu Hương).

3. ".. Tây Tiến nơi mà con người Tây Tiến, chiến sĩ Tây Tiến, núi rừng Tây Tiến đã vượt ra ngoài những cảm quan ban đầu của hồn thơ Quang Dũng để đến với đại ngàn thi hứng. Nơi ấy, cuồn cuộn dòng chảy lạnh lùng và đa tình, hiện thực và lãng mạn, bi và tráng. Một Tây Tiến không chỉ níu kéo bước chân người lính trong nỗi niềm nhớ.. Tất cả đều gợi ấn tượng của sự" lạ hóa ", của những vẻ đẹp kì ảo khó gọi tên..". (Đinh Minh Hằng, in trong Vẻ đẹp văn học cách mạng).

4. ".. Tây Tiến- sự thăng hoa của một tâm hồn lãng mạn (Đinh Minh Hằng)..".

II . Tác phẩm Việt Bắc (Tố Hữu)

1. "Nhà thơ này sử dụng đôi mắt tinh tường. Nhà thơ khác sử dụng bộ óc kì ảo. Còn Tố Hữu – anh chỉ sử dụng tình cảm và trái tim trần" (Chế Lan Viên).

2. ".. Tố Hữu đã đưa thơ chính trị lên đến trình thơ rất đỗi trữ tình.. (Xuân Diệu).

3." Với Việt Bắc, hồn thơ cũng như nghề thơ Tố Hữu chín rộ. Không phải là một cây bút trong tay Tố Hữu nữa mà là nhiều ngọn bút nở cùng một lúc. Bút tả tình, bút tả cảnh, bút tả người. Người ta thấy văn chương cách mạng chí nghĩa chí tình, cái văn chương nên thơ nên nhạc.. ". (Xuân Diệu).

4.".. Bài thơ Việt Bắc là kiệt tác của Tố Hữu. Mà cũng là kiệt tác của thơ ca cách mạng, thơ ca kháng chiến. Bài thơ thể hiện tài hoa nhiều mặt của nhà thơ Tố Hữu. Thể thơ lục bát, lối hát đối đáp, nhiều biện pháp tu từ, được tác giả vận dụng khéo léo. Ngôn ngữ trong sáng, có nhiều nét cách tân. Nhất là hai đại từ Mình- Ta. Và cả tiếng nói yêu thương- nét nổi bật trong phong cách Tố Hữu.

Tư tưởng thì mới mẻ với những dự báo sáng suốt được thể hiện bằng hình ảnh phong phú. Và tấu lên bằng âm nhạc làm say mê lòng người.. "(Nguyễn Đức Quyền, in trong Phân tích thơ văn 12).

III. Tác phẩm Tiếng hát con tàu:

1.".. Tiếng hát con tàu của Chế Lan Viên có một giọng điệu riêng. Không lẫn với những bài thơ khác. Chế Lan Viên chủ yếu nhân danh cá nhân mà nói chính trị. Chế Lan Viên luôn tìm tòi và tạo cho thơ trữ tình chính trị của mình một màu sắc riêng. Nói chính trị một cách văn hóa, sang trọng bằng một ngôn ngữ lấp lánh. Những hình ảnh tân kì, mới lạ, chói lọi.. ". (Trần Đăng Suyền, in trong Chế Lan Viên về tác giả và tác

IV. Tác phẩm Đất nước:

1.".. Điều may mắn với tôi là được sống trong những tháng năm hào hùng của dân tộc để hiểu nước, hiểu người và hiểu cả mình hơn.. "(Nguyễn Khoa Điềm).

2.".. Đất nước- Nguyễn Khoa Điềm đã sáng tạo một hình tượng Đất Nước thân quen mà mới lạ trong thi ca Việt Nam. Nguyễn Khoa Điềm đã khắc họa nên một Đất Nước toàn vẹn. Là sự thống nhất của lãnh thổ và văn hóa, của lịch sử và sự sống. Một Đất Nước trong không gian tinh thần của người Việt Nam.

3. ".. Một Đất Nước như thế không thể có được bằng bút pháp miêu tả bên ngoài. Cho nên tất yếu nhà thơ phải dùng hình thức suy ngẫm, liên tưởng, liệt kê, để dần dần đưa người đọc vào trí tưởng tượng của họ, vào kí ức của họ, nhìn Đất Nước trong chính tâm hồn họ..". (Trần Đình Sử, in trong Đọc văn học văn).

V. Tác phẩm Đàn ghi ta của Lor-ca

1. ".. Với thơ hiện đại, tính hiện đại không chỉ đến từ những kĩ thuật phương Tây. Mà còn đến từ sự phối hợp tự nhiên và bất ngờ của thơ phương Tây. Với khả năng dồn nén, u mặc, phẳng lặng mà sâu thẳm của thơ phương Đông, của tâm hồn thơ Việt. Và cái chính là phải qua ngôn ngữ riêng biệt của từng nhà thơ..". (Thanh Thảo).

2. ".. Đàn ghi ta của Lor-ca. Thành công trước hết và cũng là ấn tượng đầu tiên của bài thơ là ở nhạc tính.." (Nguyễn Văn Bính).

VI. Nhận định về nhà văn Thạch Lam

- Nhà văn Nguyễn Tuân: "Lời văn Thạch Lam nhiều hình ảnh, nhiều tìm tòi, có một cách điệu thanh thản, bình dị và sâu sắc.. Văn Thạch Lam đọng nhiều suy nghiệm, nó là cái kết tinh của một tâm hồn nhạy cảm và từng trải về sự đời..".

- Nhà văn Vũ Ngọc Phan: "Ngay trong tác phẩm đầu tay (Gió đầu mùa), người ta đã thấy Thạch Lam đứng vào một phái riêng.. Ông có một ngòi bút lặng lẽ, điềm tĩnh vô cùng, ngòi bút chuyên tả tỉ mỉ những cái rất nhỏ và rất đẹp.. Phải là người giàu tình cảm lắm mới viết được như vậy..".

- GS. Phạm Thế Ngũ: "Thạch Lam là một nhà văn có khuynh hướng xã hội.. Đối với ông, nhân vật thường là những người tầm thường trong xã hội: Mẹ Lê trong xóm nghèo, cô hàng xén ở phố huyện, cậu học trò đi ở trọ, hai cô gái giang hồ trơ trọi.. Và ông thường để ý vạch vẽ cuộc đời, tình cảm cùng ý chí của họ, chớ không bận tâm lắm đến việc tuyên truyền tư tưởng các mạng xã hội như trong tác phẩm của Nhất Linh hay Hoàng Đạo.. Ta thấy Thạch Lam, luôn hòa đồng trong cái xã hội nhỏ bé mà ông thương xót với tất cả tâm hồn đa cảm của ông..".

- PGS. Nguyễn Hoành Khung: "Về bút pháp, có thể Thạch Lam là nhà văn mở đầu cho một giọng điệu riêng: Trữ tình hướng nội trong truyện ngắn. Ngòi bút của ông thường khơi sâu vào thế giới bên trong của cái" tôi ", với sự phân tích cảm giác tinh tế. Sáng tác của Thạch Lam giàu chất thơ, và đọc ông, đời sống bên trong có phong phú hơn, tế nhị hơn; chúng" đem đến cho người đọc một cái gì nhẹ nhõm, thơm tho và mát dịu "(Nguyễn Tuân).

- Khúc Hà Linh:" Thạch Lam có những tháng năm sống nơi thôn dã, nên trong tác phẩm ông chất chứa nhiều hình bóng con người và đời sống làng quê.. Ông tả nội tâm nhân vật tài tình, nhuần nhị, tinh tế. Văn ông hài hòa giữa lãng mạn và chân thực, và vẫn nồng nàn tình quê, nặng lòng với dân tộc"

(Còn tiếp)
 
31 ❤︎ Bài viết: 22 Tìm chủ đề
1. Hoài Thanh - Hoài Chân.

- Nhấn vào "rung động tinh vi".

"Thơ Xuân Diệu còn là một nguồn sống dào dạt chưa từng thấy ở chốn nước non lặng lẽ này. XD say đắm tình yêu, say đắm cảnh trời, sống vội vàng, sống cuống quýt, muốn tận hưởng cuộc sống ngắn ngủi của mình. Khi vui cũng như khi buồn, người đều nồng nàn tha thiết. Nhưng sự sống muôn hình thức mà trong những hình thức nhỏ nhặt thường lại ẩn náu một nguồn sáng dồi dào. Không cần phải là con hổ ngự trị trên rừng xanh, không cần phải là con chim đại bàng bay một lần 9 vạn dặm mới là sống. Sự bồng bột XD có lẽ đã phát biểu một cách đầy đủ hơn cả trong những rung động tinh vi".

- Nhấn vào cái tôi mới mẻ được giải phóng trong "rung động tinh vi".

"Trong cảnh mùa thu rất quen với thi nhân VN chỉ XD mới để ý đến:

" Những luồng run rẩy rung rinh lá "

Cùng cái:

" Cành biếc run run chân ý nhi "

Nghe đàn dưới trăng thu, chỉ XD mới thấy:

" Lung linh bóng sáng bỗng rung mình "

Và mới có cái xôn xao gửi trong mấy hàng chữ lạ lùng này:

" Thu lạnh càng thêm nguyệt tỏ người

Đàn ghê như nước, lạnh trời ơi.

Long lanh tiếng sói vang vang hận:

Trăng nhớ Tầm Dương, nhạc nhớ người. "

Cũng chỉ XD mới tìm được nơi đồng quê cái cảnh:

" Mây biếc về đâu bay gấp gấp

Con cò trên ruộng cánh phân vân ".

Từ con cò của Vương Bột lặng lẽ bay với ráng chiều đến con cò của XD không bay mà cánh phân vân, có sự cách biệt của hơn một ngàn năm và của hai thế giới.

Cho đến khi XD yêu, trong tình yêu cũng có cái gì rung rinh. Người hồi tưởng lại:

" Rượu nơi mắt với khi nhìn ướm thử;

Gấm trong lòng và khi đứng chờ ngây;

Và nhạc phấn dưới chân mình sánh bước

Và tơ giăng trong lời nhỏ khơi ngòi;

Tà áo mới cũng say mùi gió nước;

Rặng mi dài xao động ánh dương vui ".

2. Nguyễn Đăng Mạnh.

-" Vườn trần - hiện tại ".

" Cái tôi cá nhân phải được tồn tại một cách đầy ý nghĩa trong đời sống - đó là một lẽ sống, một lẽ phải mà XD kiên tài bảo vệ suốt cả đời mình, như là đấu tranh cho một bước phát triển đi lên của lịch sử tư tưởng dân tộc ta của thế kỉ này. Nhưng ý nghĩa nhân bản lớn của tư tưởng XD còn là ở chỗ ông muốn khẳng định cá tôi cá nhân ấy trong quan hệ hòa hợp với đời. Con người ấy rất sợ cô độc và khát khao giao cảm với đời, coi đấy là niềm hạnh phúc tuyệt vời trên thế giới này.

VD: "Ta muốn ôm.. hết".

- "Tuổi trẻ - tình yêu".

VD: Thanh niên, Vội vàng - sử dụng danh từ, tính từ ở độ mặn nồng nhất, say đắm nhất, chín muồi nhất (tuần tháng mật, đồng nội xanh rì, cành tơ phơ phất ".

XD đặt con người thành chuẩn mực cho cái đẹp thiên nhiên >< thơ cũ.

VD:

" Lá liễu dài như một nét mi cong

Hơi gió thổi như ngực người yêu mến. "

(Nhị hồ)

Tình yêu bao giờ cũng hướng về cái vô biên - tuyệt đích - toàn bích - tuyệt mĩ - vĩnh viễn → đời người, lòng người" chật "(hữu hạn).

VD:

" Em ơi! Vũ trụ vô cùng

Trong vô tận mà lòng đôi ta

Muốn gần mãi mãi không xa

Muốn ôm nhau mãi - thật là đau thương ".

(Ăn đào để nhớ Sa Pa)

Bộc lộ mãnh liệt - trực tiếp:

" Yêu tha thiết thế vẫn còn chưa đủ

Phải nói yêu, trăm bận đến nghìn lần

Phải mặn nồng cho mãi mãi đem xuân

Đem chim bướm thả trong vườn tình ái

Em phải nói, phải nói và phải nói:

Bằng lời riêng nơi cuối mắt đầu mày,

Bằng nét vui, bằng vẻ thẹn, chiều say

Bằng đầu ngả, bằng miệng cười, tay riết ".

(Phải nói)

- Nhạy cảm với thời gian.

VD:

" Thời gian rót từng giọt buồn khô héo

Sự sống đi như hương cỏ hoa chiều ".

(Giục giã)

" Mau với chứ, vội vàng lên với chứ

Em em ơi tình non sắp già rồi)

(Giục giã)

- Cô đơn.

"Đời chúng ta nằm trong vòng chữ" tôi ". Mất bề nổi ta đi tìm bề sâu nhưng càng đi sâu càng thấy lạnh. Ta thoát lên tiên cùng Thế Lữ, ta phiêu lưu trong trường tình cùng Lưu Trọng Lư. Ta điên cuồng với Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên. Ta đắm say cùng Xuân Diệu. Nhưng động tiên đã khép, tình yêu không bền, điên cuồng rồi tỉnh, say đắm vẫn bơ vơ. Ta ngẩn ngơ buồn trở về hồn ta cùng Huy Cận." (Hoài Thanh)

VD:

"Người ta khổ vì thương không phải cách

Yêu sai duyên và mến chẳng nhằm người

Có kho vàng nhưng tặng chẳng tuỳ nơi

Người ta khổ vì xin không phải chỗ".

(Dại khờ)

"Lòng ta một cơn mưa lũ

Đã gặp lòng em là lá khoai

Mưa biếc tha hồ rơi giọt ngọc

Lá xanh không ướt đến ngoài da".

(Nước đổ lá khoai)

3. Chu Văn Sơn.

- Tình.

"Đúng là trong đời có khối người mang chữ" xuân "trong tên mình. Nhưng có phải ai cũng có cái đời bị cột chặt vào chữ" tình "như Xuân Diệu đâu!".

VD:

"Hãy sát đôi đầu! Hãy kề đôi ngực!

Hãy trộn nhau đôi mái tóc ngắn dài!

Những cánh tay! Hãy quấn riết đôi vai!

Hãy dâng cả tình yêu lên sóng mắt!

Hãy khăng khít những cặp môi gắn chặt

Cho anh nghe đôi hàm ngọc của răng;

Trong say sưa anh sẽ bảo em rằng:

" Gần thêm nữa! Thế vẫn còn xa lắm!" ".

(Xa cách)

" Sinh ra là để dành cho thơ tình, từ lâu, Xuân Diệu đã được người ta phong tặng những danh hiệu xứng đáng: "Hoàng tử của tình yêu", "ông vua thơ tình", "đệ nhất tình nhân"! Những danh hiệu được tấn phong kia không chỉ do cao hứng, trái lại, hoàn toàn có căn cứ ở số lượng và chất lượng, ở tính chất và tinh chất, ở nồng độ và cường điệu của tiếng thơ XD viết về tình yêu.

* * * Tôi muốn đề cập XD ở một bình diện khác: Riêng một chữ "tình" thôi. Ban đầu, chữ "tình" kia đã là một đặc sản oan trái của con người XD, về sau khi đã lâm vào cõi sáng tạo, thì chính chữ "tình" ấy đã làm nên diện mạo và tầm vóc của XD. Nói khác đi, chữ "tình" này đã sáng tạo nên XD. Nó vừa năn nỉ khêu gợi vừa ngoảnh mặt phụ bạc. Nó biến XD thành vị hoàng tử của vương quốc ái tình, cũng khiến ông luôn bị vây khốn và lưu đày trong vòng ái ân. Nó biến ông thành tình nhân mà cũng thành nạn nhân của tình ái. Nó buộc ông thành thi nhân, đồng thời thành triết nhân của tình yêu. Cho nên, nói XD là tù nhân của một chữ "tình" có lẽ đầy đủ hơn - tù nhân tự nguyện mà cũng là định mệnh. Như là nghiệp dĩ vậy. Thi sĩ đã đăng quang và đã bị cầm tù trong cùng một chữ "tình". Ra ngoài chữ "tình", XD đánh mất mình."

- Tôi - em - thế giới.

Tôi - tình nhân.

Em - giai nhân.

Thế giới - mảnh vườn tình ái/sa mạc cô liêu.
 
2 ❤︎ Bài viết: 9 Tìm chủ đề
Tô Hoài là một trong những nhà văn lớn của nền văn học Việt Nam hiện đại. Ông có vốn hiểu biết sâu sắc về phong tục tập quán của nhiều vùng văn hoá khác nhau trên đất nước ta. Thành công nhất của Tô Hoài là những tác phẩm viết về hiện thực cuộc sống, con người vùng Tây Bắc. Tiêu biểu là truyện ngắn "Vợ chồng A Phủ". Tác phẩm vừa là một bức tranh chân thực về số phận bi thảm của người dân nghèo miền núi dưới ách áp bức phong kiến và thực dân, vừa là một bài ca về sức sống và khát vọng tự do, hạnh phúc của con người. Vẻ đẹp ấy đã ngời lên thật trọn vẹn qua diễn biến tâm trạng Mị và sức sống tiềm tàng mãnh liệt của nhân vật này qua đêm tình mùa xuân ở Hồng Ngài.

Trước khi vào nhà thống lý Pá Tra, Mị là một cô gái trẻ đẹp. Trong tác phẩm này, nhà văn không hề dùng mỹ từ nào để tả cái đẹp của Mị, nhưng vẻ đẹp ấy vẫn hiện lên qua chi tiết: "Trai đến đứng nhẵn vách đầu buồng Mị". Mị chính là bông hoa ngát hương của núi rừng Tây Bắc. Cô có một cuộc sống tự do, hạnh phúc, vô tư giữa tháng ngày tuổi trẻ. Cô gái vùng cao ấy, mỗi khi tết đến xuân về thường làm bao kẻ si tình chết mê, chết mệt bởi tiếng sáo. Mị thổi sáo giỏi "thổi lá cũng hay như thổi sáo, có biết bao người mê ngày đêm đã thổi sáo đi theo Mị".

Không chỉ đẹp người, cô gái ấy còn đẹp nết. Mị giàu lòng hiếu thảo, có tình yêu lao động, yêu tự do, giàu lòng tự trọng. Tô Hoài đã đặt vào miệng Mị tất cả những phẩm chất cao quý ấy qua lời nói đầy tha thiết với cha già: "Con nay đã biết cuốc nương làm ngô" (tình yêu lao động) ; "con phải làm nương ngô giả nợ thay cho bố" (lòng hiếu thảo) ; "bố đừng bán con cho nhà giàu" (giàu lòng tự trọng).

Khi bị bắt làm dâu nhà Pá Tra, Mị có cuộc sống thống khổ, là nạn nhân của chế độ cho vay nặng lãi, bị tước đoạt tự do, hạnh phúc cá nhân: Mở đầu tác phẩm, nhà văn đã giới thiệu nhân vật một cách ấn tượng: "Ai ở xa về có việc vào nhà thống lí Pá Tra thường trông thấy có một cô con gái ngồi quay sợi gai bên tảng đá trước cửa, cạnh tàu ngựa". Lúc nào cô ấy cũng "cúi mặt, mặt buồn rười rượi". Dáng vẻ ấy của Mị gợi ra hình ảnh một con người có số phận đau khổ.

Dù cuộc sống thống khổ, trong Mị vẫn mãnh liệt một sức sống tiềm tàng và khát vọng tự do, hạnh phúc. Khát vọng ấy đã bùng cháy lên khi mùa xuân đến trên đất Hồng Ngài. Mị đã bước vào cái đêm đáng ghi nhớ ấy thoạt tiên, như một tâm hồn câm lặng cái cô Mị xưa kia trẻ đẹp, khao khát yêu đương và cũng đã được yêu đương, cô Mị ấy tưởng như đã chìm hẳn vào dĩ vãng. Chỉ còn một người đàn bà "không nói. Lùi lũi như con rùa nuôi trong xó cửa", người đàn bà bị cầm tù trong một ngục thất tinh thần (hình ảnh cái buồng có một cửa sổ lỗ vuông bằng bàn tay, lúc nào trông ra cũng chỉ thấy mờ mờ trăng trắng). Đã bao năm rồi, người đàn bà ấy chẳng biết đến mùa xuân, chẳng đi chơi Tết.

Vậy mà vào đúng cái đêm tình mùa xuân năm ấy, Mị thốt nhiên lại muốn đi chơi, và đã sửa soạn đi chơi thực sự. Vì sao vậy? Khó có thể cho là tại đất trời. Thời tiết mùa xuân năm nào chẳng đại loại là như thế.

Lý giải sự đột biến khác thường của Mị trong đêm ấy, là một thử thách thật sự đối với Tô Hoài. Hãy xem bằng cách nào mà nhà văn vượt qua thử thách.

Với một người như Mị, muốn đi chơi nghĩa là muốn phá phách, nghĩa là nổi loạn. Cũng với một người như Mị để có thế nổi loạn, thì phải có cái gì có khả năng làm quên đi hiện tại để sống trở về những tháng năm xưa.

Cái đó là men rượu mà Tết năm ấy, Mị đã lén "uống ực từng bát". "Rồi say Mị lịm mặt ngồi đấy, nhưng lòng Mị thì đang sống về ngày trước".. Rõ nhất là tiếng sáo. Mỗi lần tiếng sáo trở lại chuyện là mỗi lần nó được biến đổi đi từ âm thanh của hiện tại dần dần thành tiếng của những mùa xuân trước. Từ chỗ ở ngoài Mị, ở xa Mị, dần dần như tiếng ai mời gọi, hồn ai chờ đợi ngoài đường, đế cuối cùng rập rờn trong đầu người thiếu phụ. Tiếng sáo dìu hồn Mị hay là bước đi của hồn Mị được ghi dấu bằng tiếng sáo.. Như thế là sức sống, lòng ham sống đã thức dậy trong lòng người thiếu phụ. Nhưng sự vượt khỏi hoàn cảnh hiện tại của nhân vật không hề đơn điệu, dễ dàng.

Một thời gian dài. Mị sống trong sự giao tranh giữa quá khứ và hiện tại. Quá khứ đẩy đưa đi, hiện tại thì níu lại. (Nên lòng phơi phới mà Mị vẫn theo quán tính bước vào buồng, ngồi xuống giường, trông ra cái cửa sổ lỗ vuông mờ mờ trăng trắng. Và lòng ham sống trào dậy đầu tiên trong ý nghĩa muốn chết ngay chứ không buồn nhớ lại).

Nhưng sức sống cứ lớn dần, sức ám ảnh của tuổi xuân cứ mạnh dần, cho tới khi nó dường như chiếm trọn tâm hồn Mị. Phải tới lúc đó, Mị mới hành động như một kẻ mộng du. Không thấy, không nghe A Sử nói.

Rồi Mị bị A Sử trói trong trạng thái mơ hồ. Mãi về sau, Mị mới cảm thấy cái Hiện tại tàn khốc khi vùng bước đi mà tay chân không cựa được. Nhưng nếu cái mơ không đến một lần ngay tức khắc thì sự tỉnh ra cũng vậy Lại một giai đoạn chập chờn nữa giữa hơi rượu, tiếng sáo với cái đau nhức của dây trói và tiếng chân ngựa đạp vào vách. Nhưng bây giờ thì theo chiều ngược lại, tỉnh dần ra, đau đớn dần lên, tê dại dần đi để dần dần trở lại với vị trí của con rùa lùi lũi trong xó cửa.

Một làn sóng tình cảm đã tan đi, không làm thay đổi mảy may đời Mị. Những cái gì Tô Hoài đã viết về đêm hôm ấy vẫn đầy ý nghĩa. Nó cho thấy sức sống của con người dù bị giẫm đạp, đè nén đến đâu cũng vẫn không bị mất đi. Ý nghĩa ấy khiến ta thêm tin, thêm yêu mến con người. Thứ hai chế độ phong kiến là chế độ buộc trói, giam hãm chống lại con người và sư sống. Chế độ ấy đáng căm thù, lên án cả từ phía nhân danh quyền sống của con người. Một tình tiết nghệ thuật giàu chất nhân đạo và chất thơ.

Nguồn:

zrakE30.png
 
Last edited by a moderator:
8 ❤︎ Bài viết: 9 Tìm chủ đề
CÁCH PHÂN BIỆT TỤC NGỮ; NGẠN NGỮ; DANH NGÔN; PHƯƠNG NGÔN; CÁCH NGÔN VÀ CHÂM NGÔN

1. Tục ngữ: Là những câu nêu lên những đúc kết về kinh nghiệm lao động, có ý nghĩa giáo huấn thâm sâu, mang tính chất dân gian đậm đà à phong cách văn nói vần điệu. Tục ngữ có cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng

- Trời nắng tốt dưa, trời mưa tốt lúa.

2. Ngạn ngữ: Là những câu nói xưa, nêu lên những bài học về lẽ phải, đạo lý mang tính chất giáo dục và thường biểu hiện bằng từ Hán - Việt, gần với phong cách văn học viết, chỉ có nghĩa đen và chưa hẳn mất xuất xứ. Là một bộ phận của Tục ngữ, ngạn ngữ chiếm số lượng khá lớn trong Tiếng Việt

- Dục tốc bất đạt.

3. Danh ngôn: Là những câu nói của các lãnh tụ, danh nhân, các nhà văn, nhà thơ lỗi lạc, có xuất xứ từ sách vở. Danh ngôn thường rất trau chuốt. Có một bộ phận dùng quen được xếp chung vào Tục ngữ và không để ý đến tác giả

- Học, Học nữa, học mãi.

4. Phương ngôn; Là tục ngữ có tính chất địa phương

- Vắng chủ nhà gà mọc đuôi tôm

5. Cách ngôn: Là tục ngữ, ngạn ngữ hoặc danh ngôn, chỉ có nghĩa đen, đơn thuần về mặt giáo dục. Cách ngôn mang phong cách chức năng

- Tiên học lễ, hậu học văn

6. Châm ngôn: Là tục ngữ, ngạn ngữ, danh ngôn được dùng có tính chất cá nhân, được đặt ra làm lề luật, tiêu chuẩn cho hoạt động hoặc tư tưởng của mình. Châm ngôn mang phong cách chức năng

- Hạnh phúc là đấu tranh
 
2 ❤︎ Bài viết: 9 Tìm chủ đề
Mảnh đất Tây Bắc với thiên nhiên núi rừng hùng vĩ và con người nồng hậu chất phác luôn để lại trong mỗi người ấn tượng sâu sắc. Tuy không sinh ra ở Tây Bắc, nhưng những năm tháng sống và trải nghiệm cùng người dân nơi đây đã để lại cho nhà văn Tô Hoài nhiều tình cảm sâu sắc, từ đó ông viết thành truyện ngắn vợ chồng A Phủ, kể về cuộc đời Mị-cô gái Mèo xinh đẹp, tài năng nhưng phải chịu nhiều đắng cay, khổ cực. Và bước ngoặt lớn nhất của cuộc đời Mị, cũng là của tác phẩm chính là đêm đông chị cởi trói cho A Phủ.

Mị là cô gái vùng cao xinh đẹp, có tài thổi sáo, nhiều chàng trai theo đuổi. Nhưng lẽ đời vốn thế, hồng nhan thì bạc phận, vì món nợ gia đình khi bố mẹ lấy nhau mà Mị bị A Sử-con thống lí Pá Tra lợi dụng tập tục cổ hủ bắt về làm con dâu gạt nợ. Từ đó, cuộc đời cô bước sang những tháng ngày tăm tối thấm đẫm nước mắt. Cuộc sống cơ cực, tủi nhục ở nhà thống lí Pá Tra đã vùi dập hết sức sống, nhận thức của Mị.

Ban đầu cô còn phản kháng, khóc lóc, toan ăn lá ngón tự tử nhưng rồi thương cha nên Mị tiếp tục sống, lâu dần, Mị mất hẳn ý thức về cuộc đời, về thời gian, không gian, "ở lâu trong cái khổ, Mị khổ quen rồi", Mị sống mà như đã chết, không còn cả chút ý niệm nào về cuộc sống diễn ra xung quanh.

Tuy nhiên, với sự tinh tế và nhạy cảm, Tô Hoài đã làm sống dậy nhân vật của mình trong đêm tình mùa xuân với tiếng sáo gọi bạn tình ngân vang, tiếng sáo như một hiện hữu trong tâm hồn Mị, thổi bùng lên đốm lửa khao khát tự do, khao khát thanh xuân bấy lâu nay âm ỉ cháy trong sâu thẳm. Nhưng rồi A Sử đã nhẫn tâm dập tắt đốm lửa ấy, hắn trói cô vào cột, tàn nhẫn không để chút niềm tin sống nào len lỏi lên trong người con gái khốn khổ.

Còn A Phủ là một chàng trai khỏe mạnh, vì tội đánh con quan mà phải sống kiếp nô lệ trả nợ, trong một lần mải mê bẫy nhím để hổ bắt mất con bò, A Phủ bị trói đứng vào cột cho đến khi A Sử săn được hổ. Suốt mấy ngày liền gió rét dữ dội, hàng đêm Mị lại trở dậy hơ tay, thản nhiên không quan tâm đến A Phủ bị trói ngay đấy, "dù cho A Phủ có là cái xác đứng đấy cũng vậy thôi".

Không phải vì cô quá vô tâm độc ác mà vì những chuyện như thế vẫn thường xuyên, thường ngày diễn ra trong nhà này, Mị đã quá quen với những bất công vô lí mà chính cô cũng từng là nạn nhân của chúng. Bỗng một đêm, Mị lén nhìn sang, chợt thấy dòng nước mắt của A Phủ lăn xuống gò má xám xịt tím ngắt vì rét và đói, giọt nước mắt ấy đã làm nhói lên lòng yêu thương trong Mị. Mị nhớ lại đêm xuân ấy, mị cũng bị trói đứng như thế, nước mắt chảy xuống vô kể mà không làm sao lau hết được, Mị nhớ lại câu chuyện người đàn bà từng bị trói đến chết cũng ngay ở chỗ đó, cô căm thù tội ác của bọn giặc thống lí.

Mị xót thương cho số phận của mình rồi xót thương cho A Phủ "cơ chừng này chỉ đêm mai là người kia chết, chết đau, chết đói, chết rét, phải chết" Mị căm ghét những tập tục cổ hủ đã ép buộc cô phải sống đến chết cũng phải rũ xương ở nơi này, nhưng A Phủ không bị trình ma thì việc gì anh ta phải chết thế. Diễn biến tâm lí của Mị phức tạp nhưng cũng rất tự nhiên, hợp lí, từ vô cảm đến xót thương, thương cho mình, thương cho người rồi căm hận sâu sắc bọn chúa đất cường hào "chúng nó thật độc ác".

Mị muốn cởi trói giải cứu A Phủ, Mị thoáng nghĩ về hậu quả sẽ bị trói thay vào đấy đến chết nếu bị phát hiện, nhưng lúc này "dù có làm sao Mị cũng không thấy sợ" rồi không dừng lại ở suy nghĩ, Mị hành động, cô cầm con dao mây cắt dây cởi trói cho A Phủ. Hành động liều lĩnh này xuất phát từ lòng yêu thương, nỗi xót xa cho thân phận mình và cho những kẻ đồng cảnh ngộ.

Sau một hồi đứng lặng trong bóng tối nhìn theo A Phủ, Mị chạy với theo, rồi hai người trốn sang Phiềng Sa nên vợ nên chồng. Hành động này là hệ quả tất yếu của quá trình bị áp bức, đè nén, cần được giải tỏa của con người, đồng thời nó cũng khẳng định ý nghĩa cuộc sống và khát vọng tự do đến cháy bỏng của nhân dân lao động miền núi.

Với hình tượng nhân vật Mị, Tô Hoài đã chứng tỏ khả năng phân tích diễn biến tâm lí nhân vật sắc sảo, thể hiện nỗi đau xót đến tận cùng của một số phận đắng cay, đồng thời là sức sống tiềm tàng và tinh thần phản kháng mãnh liệt của Mị thể hiện qua đêm tình mùa xuân và đặc biệt là đêm đông cứu A Phủ. Qua hành động đó, tác giả đã chứng minh một chân lí: Chỉ cần tình yêu thương và lòng dũng cảm, con người có thể cùng lúc thoát ra khỏi hai nhà tù ớn lạnh: Cường quyền và thần quyền.

Nguồn:

PcGi3nU.png
 
Last edited by a moderator:
3 ❤︎ Bài viết: 5 Tìm chủ đề
Nam Cao là nhà văn chủ nghĩa hiện thực của văn học Việt Nam giai đoạn từ năm 1930 đến năm 1945. Tác phẩm kiệt tác để lại tên tuổi của ông là "Chí Phèo" phản ánh nỗi thống khổ, cơ cực của người nông dân trong xã hội cũ. Nhân vật cùng tên truyện để lại ấn tượng sâu sắc trong lòng độc giả đặc biệt là diễn biến tâm trạng của Chí sau khi gặp thị Nở- quãng thời gian hồi sinh ngắn ngủi nhưng giàu giá trị nhân đạo mà nhà văn dành cho nhân vật của mình.

Chí Phèo bản chất vốn là một người hiền lành, chất phác nhưng vô tình bị xã hội đẩy đến mức đường cùng, đại diện cho cường quyền ấy là Bá Kiến vì ghen với Chí được bà Ba "quý mến" mà tìm mọi cách cho hắn đi ở tù. Bảy tám năm đi biệt khi quay trở về làng Vũ Đại Chí là một kẻ mất nhân hình lẫn nhân tính để cho thế lực hắc ám như cụ Bá hoàn thành nốt công đoạn biến thành con quỷ dữ mà mọi người đều ghê sợ và xa lánh, Chí trở thành tay sai đắc lực cho Bá Kiến kể từ đó hắn chỉ chuyên hành nghề rạch mặt ăn vạ, cướp của giết người. Cuộc đời hắn chìm trong men say hết ngày này qua ngày khác chưa bao giờ hắn tỉnh để biết mình còn tồn tại có mặt ở trên đời.

Nam Cao không nhẫn tâm để nhân vật của mình sống mãi là kiếp thú vật nên đã cho thị Nở xuất hiện cùng bát cháo hành tình người và tình cảm chân thành đánh thức lương tri Chí sau những ngày bị vùi lấp. Đoạn văn miêu tả tâm trạng Chí Phèo sau khi gặp thị Nở chứng tỏ tài năng khám phá và phân tích tâm lí nhân vật của Nam Cao.

Hôm ấy, sau trận nôn mửa lúc nửa đêm khi đã ngủ cùng thị Chí Phèo tỉnh dậy sau một cơn say rất dài "hắn thấy miệng đắng, lòng buồn mơ hồ". Lần đầu tiên kể từ ngày trở về hắn nghĩ đến rượu mới cảm thấy rùng mình "hắn sợ rượu cũng như những người ốm sợ cơm". Hắn cảm nhận được âm thanh của cuộc sống "Tiếng chim hót ngoài kia vui vẻ quá! Có tiếng cười nói của những người đi chợ. Anh thuyền chài gõ mái chèo đuổi cá".. Những âm thanh ấy ngày nào cũng có nhưng đây là lần đầu tiên Chí tỉnh để nghe thấy và cảm nhận tiếng gọi tha thiết của sự sống.

Chí nhận thức được bản thân mình về quá khứ, hiện tại và tương lai. Tiếng bàn tán của người bán hàng gợi nhớ về quá khứ tươi đẹp của Chí từng ước mơ về một gia đình nho nhỏ "Chồng cuốc mướn, cày thuê vợ dệt vải, chúng lại bỏ một con lợn nuôi để làm vốn liếng. Khá giả thì mua dăm ba sào ruộng làm". Đó là ước mơ, là khao khát của anh canh điền hiền lành chất phác. Nhưng éo le thay điều đó không thành hiện thực để rồi giờ đây trong hiện tại "hắn thấy hắn già mà vẫn còn cô độc", "hắn đã tới cái dốc bên kia của đời", cơ thể đã hư hỏng ít nhiều. Chí phèo cũng đã nghĩ về tương lai và "trông thấy trước tuổi già của hắn, đói rét và ốm đau, và cô độc, cái này còn đáng sợ hơn đói rét và ốm đau". Sau những ngày sống như vô thức qua một trận ốm Chí đã tỉnh dậy và suy nghĩ về cuộc đời mình. Như vậy với khả năng nhận nhức về ngoại cảnh và nhận thức về chính mình Chí đã tỉnh dậy và hồi sinh trở về với kiếp người.

Thị Nở xuất hiện với bát cháo hành và tình thương yêu dành cho Chí khiến hắn vô cùng ngạc nhiên, xúc động và trỗi dậy mong muốn được làm người lương thiện. Đây là đoạn văn mang nhiều giá trị nhân đạo nhất mà nhà văn dành cho nhân vật của mình. Trưa hôm ấy Chí được săn sóc bởi đôi bàn tay của thị. "Hắn thấy mắt hình như ươn ướt. Bởi vì lần thứ nhất hắn được một người đàn bà cho." Bởi xưa nay hắn toàn phải cướp giật hoặc dọa nạt chứ nào ai cho không hắn cái gì ấy vậy mà thị lại giàu tình thương, sự cảm thông chia sẻ và quan tâm để làm điều đó cho hắn. Hắn cảm động vô cùng. Giọt nước mắt hạnh phúc được trở lại làm người đã chảy ra, hắn đã thực sự cảm nhận được mùi vị của tình người. Thị chính là hiện thân của tình người với bát cháo hành là liều thuốc giải độc cho cơn sốt bất thường và chữa lành vết thương tâm hồn bị sứt mẻ, bị bóp méo bấy lâu của Chí. Hắn đối với thị hiền lành biết bao "Ôi sao mà hắn hiền, ai dám bảo đó là cái thằng Chí Phèo vẫn đập đầu, rạch mặt mà đâm chém người?" Giờ đây hắn khao khát được làm người lương thiện: "Trời ơi hắn thèm lương thiện, hắn muốn làm hòa với mọi người biết bao! Thị Nở sẽ mở đường cho hắn. Thị có thể sống yên ổn với hắn thì sao người khác lại không thể được." Nhà văn đã cho ta thấy khao khát hoàn lương một cách khẩn thiết và rõ rệt trong con người Chí, hắn đã đặt tất cả hy vọng và niềm tin vào thị Nở. Thị chính là cầu nối để Chí hòa nhập với mọi người và trở về với xã hội của những tấm lòng lương thiện. Chí muốn quay lại làm một người bình thường sống cuộc sống bình dị như trước đây chấm dứt những tháng ngày đen tối và tội lỗi.

Cũng như bao người khác khi nhận thức được giá trị của bản thân Chí khao khát có một hạnh phúc gia đình "Giá cứ thế này mãi thì thích nhỉ?" đây là một lời gợi ý cho một cuộc sống mới cũng là một lời tỏ tình rất bình dị với sự bẽn lẽn của một anh canh điền hiền lành chất phác. Trong con mắt của kẻ say tình những điều xấu xí nhất của người đàn bà xấu xí như thị đối với Chí lại trở nên đáng yêu và có duyên "Xấu mà e lệ thì cũng đáng yêu". Nam Cao để cho con mắt của một kẻ lưu manh tha thóa biến thành con quỷ dữ nay trở lại làm người lại nhìn thấy vẻ đẹp tiềm ẩn trong thị bị xã hội vùi lấp không nhìn thấy. Người đàn bà ấy tuy vẻ bên ngoài "Xấu ma chê quỷ hờn" bởi dòng giống con nhà mả hủi lại có tấm lòng nhân hậu và tình thương ngập tràn dành cho Chí. Năm ngày bên nhau của đôi lứa ngắn ngủi trôi qua trong những phút giây hạnh phúc, Chí trong khoảng thời gian ấy được sống là chính mình. "Hắn không còn kinh rượu nhưng cố uống thật ít. Để cho khỏi tốn tiền, nhưng nhất là để tỉnh táo để yêu nhau." Chí đã ý thức được rằng mình có gia đình và cần phải chăm lo cho điều ấy. Đáng tiếc thay thị lại là một người dở hơi đem câu chuyện tình về hỏi ý kiến của bà cô già gây ra bi kịch bị cự tuyệt làm người cho Chí bởi định kiến xã hội.

Như vậy tâm trạng nhân vật chí Phèo sau ki gặp thị Nở đã được nhà văn miêu tả chi tiết tỉ mỉ đi sâu vào ngóc ngách trong tâm hồn để khám phá ra những điều mới mẻ trong nhân vật. Nhưng giá trị nổi bật nhất của Nam Cao làm nên thành công của tác phẩm là ở chỗ: "Khi miêu tả người nông dân bị lưu manh hóa, Nam Cao không hề bôi nhọ người nông dân mà trái lại đã đi sâu vào nội tâm nhân vật để phát hiện và khẳng định nhân phẩm của họ, ngay trong khi họ đã bị xã hội cướp đi cả nhân hình, nhân tính".

Nam Cao đã khéo lột tả nội tâm nhân vật Chí Phèo trong những ngày hồi sinh khi gặp thị Nở với cách sử dụng ngôn ngữ sinh động, giản dị nồng ấm hơi thở đời sống thường ngày của người nông dân để lại giá trị nhân đạo cao đẹp sống mãi với thời gian. Bản chất lương thiện và khát khao hạnh phúc là bản tính tự nhiên tốt đẹp của con người không bao giờ bị mất đi dù cho bị quỷ dữ tha mất linh hồn nhưng chỉ cần được thắp sáng bởi ngọn lửa tình người nó lại trỗi dậy đòi quyền sống mãnh liệt. Qua đó cũng cho ta bài học nhận thức rằng chỉ có tình thương mới cảm hóa được trái tim sắt đá, cô độc và mỗi chúng ta sống trong cộng đồng người hãy biết yêu thương, chia sẻ cảm thông cho nhau bởi "Nơi lạnh nhất không phải là Bắc cực mà là nơi không có tình thương".
 
2 ❤︎ Bài viết: 9 Tìm chủ đề
Nhận định của To Hoài về văn học

Yếu tố cất lõi tạo cơ sở hình thành cảm quan hiện thực của Tô Hoài không chỉ là hoàn cảnh gia đình, xã hội và bản thân mà còn là quan niệm về văn chương của tác giả. Ngay từ những ngày đầu cầm bút, Tô Hoài đã có một quan niệm văn chương riêng. Dù quan niệm về văn chương của ông chưa được thể hiện một cách có hệ thống và chiều sâu như Nam Cao, nhưng trong nhiều tác phẩm của mình, nhà văn đã bộc lộ một cách khá rạch ròi. Từ khi mới cầm bút, Tô Hoài đã nhận thấy: "Chưa bao giờ tôi bắt chước viết theo truyện của Khái Hưng, Nhất Linh. Mặc dù tôi cũng thích đọc những truyện ấy. Bởi lẽ giản dị: Viết truyện viển vông giang hồ kỳ hiệp, ai cũng có thể tưởng tượng, nhưng viết giống cái thật thì đời và người trong truyện của mấy ông nhà giàu con quan và có đồn điền như thế, tôi không biết những kiểu người ấy, không bắt chước được".

Ý thức sâu sắc về ngòi bút của mình, về cái "tạng" của riêng mình, Tô Hoài đã sớm nhận ra con đường sáng tạo riêng. Ông tâm sự: Những ngày đầu cầm bút, "đời sống xã hội quanh tôi, tư tưởng và hoàn cảnh của chính tôi đã vào cả trong những sáng tác của tôi. Ý nghĩ tự nhiên của tôi bấy giờ là viết những sự xảy ra trong nhà, trong làng quanh mình". Vậy là, viết những chuyện viển vông giang hồ kỳ hiệp không phải là sở trường của nhà văn, mà cuộc sống bình dị của mình, quanh mình mới là mảnh đất để nhà văn khai phá. Chính một "gã" văn sĩ nghèo trong truyện ngắn. Hết một buổi chiều của Tô Hoài đã nghĩ rằng: "Mỗi khi cấm bút lên mà kể chuyện một dòng nước, một cánh hoa, một làn mây trắng, thì gã thấy như mình đương làm một việc gì trào phúng quá. Gã ngượng với bút. Gã ngượng với chính cái mặt gã soi thấy ở trong gương".

Thế là, viết về cái của mình, quanh mình đã là định hướng nghệ thuật của Tô Hoài. Từ đó, một cách tự nhiên, ông đã hướng ngòi bút của mình vào "những chuyện trong làng và trong nhà, những cảnh và người của một vùng công nghệ đương sa sút nghèo khó". Hơn nữa, những năm này, Tô Hoài chịu ảnh hưởng sâu sắc của phong trào Mặt trận dân chủ Đông dương, chịu sự tác động của Hội văn hóa cứu quốc, vậy nên, đi vào con đường chủ nghĩa hiện thực, Tô Hoài không rơi vào sự bế tắc tuyệt vọng. Chính từ quan niệm văn chương ấy, từ ý thức nghệ thuật ấy, nhà văn luôn gắn bó với con người và cuộc sống để tìm nguồn cảm hứng và chất liệu cho ngòi bút.
 
Last edited by a moderator:
7,082 ❤︎ Bài viết: 1936 Tìm chủ đề
Bài viết của em dài quá, em nên chuyển ra chủ đề khác hay có thể dùng thẻ rút gọn không ạ. Adm cho em xin lời khuyên ạ

Tiếng Nhật - Học Tiếng Nhật Cùng Nhau

Bạn đang viết thì cứ viết tiếp thôi, mình thấy bài viết của bạn chia sẻ khá nhiều kiến thức hữu ích.

Còn chuyện dùng thẻ rút gọn thì mình thấy chưa cần thiết lắm vì mỗi phần trả lời của bạn vẫn còn khá ngắn. Rút gọn rồi nhiều khi rất khó để tìm kiếm, tham khảo.

Bạn nên cân nhắc nhé!
 
34,534 ❤︎ Bài viết: 2662 Tìm chủ đề
Mình viết phiên âm pinyin của chữ Trung Quốc mà thanh 3 cứ bị lệch sang một bên, mọi người chỉ mình với ạ! Mình xin cảm ơn

Bạn bôi đen nội dung, nhấn vào icon hình cây bút chì màu trắng trên nền xanh để giữ format nội dung ạ.
 
Last edited by a moderator:
138 ❤︎ Bài viết: 39 Tìm chủ đề
Dạ anh chị ơi, cho em hỏi. Nếu như em học tiếng anh trên một trang web rồi sau đó em dùng bài học của Web app đó để viết bài (có chỉnh sửa) thì có hợp lệ. Em nghĩ kiến thức là của chung và với lại, người ta có quyền dạy học cho người khác bằng những bài học mà người ta học từ thầy cô, bạn bè, sách, internet, vv cho nên việc sử dụng bài giảng của web để chia sẽ kiến thức thì chắc không sai đúng không ạ? Em có chỉnh sửa lại thì chắc là ổn đúng không ạ?

Cảm ơn
 
8,684 ❤︎ Bài viết: 958 Tìm chủ đề
Dạ anh chị ơi, cho em hỏi. Nếu như em học tiếng anh trên một trang web rồi sau đó em dùng bài học của Web app đó để viết bài (có chỉnh sửa) thì có hợp lệ. Em nghĩ kiến thức là của chung và với lại, người ta có quyền dạy học cho người khác bằng những bài học mà người ta học từ thầy cô, bạn bè, sách, internet, vv cho nên việc sử dụng bài giảng của web để chia sẽ kiến thức thì chắc không sai đúng không ạ? Em có chỉnh sửa lại thì chắc là ổn đúng không ạ?

Cảm ơn

À vâng, bạn có quyền chia sẻ kiến thức học tập.
 

Những người đang xem chủ đề này

Xu hướng nội dung

Back