Hoàng hậu Dương Vân Nga by #Cometwithouse. Ảnh chỉ mang tính chất minh họa. Bản quyền thuộc về tác giả
Giới thiệu truyện:
"Hai vai gồng gánh hai Vua
Hai triều hoàng hậu, tu Chùa Am Tiên
Theo chồng đánh Tống bình Chiêm
Có công với nước, vô duyên với đời"
Cuộc đời thăng trầm, khi ở non cao, khi xuống vực thẳm của nàng Hậu này chính là được tóm tắt trong 4 câu thơ ấy. Thăng trầm như thế nào, non cao vực thẳm ra sao..
Khi chắc chắn rằng trang Đông Lỗ đã lùi lại phía sau rất xa;
Khi chắc chắn rằng những rặng tre xanh mướt mát, thâm trầm, cổ kính bao năm nay vẫn bao bọc, che trở cho trang Đông Lỗ đã lùi lại phía sau rất xa;
Khi chắc rằng cánh đồng quê hương với dòng sông Cầu Chày uốn lượn bao quanh, ở nơi đó trang Đông Lỗ hiện lên như một ốc đảo, vừa cô độc vừa rất đỗi yên bình, đã lùi lại phía sau rất xa;
Khi những làng mạc hiền hòa rải rác tứ phía cũng đã lùi lại phía sau rất xa;
Khi chắc chắn rằng không còn ai có thể đi theo và tiễn chân mình nữa;
Ta mới cho phép mình không phải gồng lên nữa.
Thở dài ra một cái. Cằm gục xuống ngực. Nước mắt đã lã chã tuôn rơi.
Không nức nở, nghẹn ngào. Mà cứ thế như mưa rơi xuống.
Lan Nhi ngồi bên cạnh thấy thế nắm lấy bàn tay ta. Nàng cũng phần nào hiểu được những tâm tư của ta, nên chỉ im lặng xiết chặt bàn tay ta, rồi cứ thế để cho ta tự nhiên tuôn nước mắt.
Mấy tháng nay, từ khi nghe tin cho tới lúc bước lên kiệu hoa về Hoa Lư, ta mới chỉ dám khóc có hai bận, dù trong lòng đớn đau khôn xiết.
Lần một là khi nghĩa phụ và nghĩa mẫu báo tin ta đã được hứa gả cho Đinh Bộ Lĩnh - Động chủ động Hoa Lư làm vợ lẽ. Dù nghe tin như sét đánh ngang tai, mà ta cũng chỉ dám nũng nịu, nhỏ vài giọt e lệ, rồi bảo với nghĩa phụ và nghĩa mẫu: "Con vẫn còn nhỏ, chưa muốn lấy chồng đâu!".
Đến khi nghĩa mẫu cười cười, mắng yêu, bảo: "Con gái 15, 16 tuổi rồi còn nhỏ bé nỗi gì nữa! Tuổi ấy con nhà người ta đã dựng vợ, gả chồng, lo toan gánh vác bao chuyện lớn rồi, mà con nhà mình còn định chơi dông dài mãi hay sao?" - thì ta cũng chỉ có thể vờ vùng vằng, thẹn thùng chạy về khuê phòng. Rồi cũng chỉ có thể chua xót âm thầm mà không dám khóc lóc thêm gì nữa. Trong lòng thì như bão tố, mà bên ngoài cũng chỉ dám tỏ chút ưu tư.
Ngày xe đón dâu đến, nghĩa mẫu dắt ta đến bàn thờ tổ tiên, vái chào bài vị của tổ tông họ Dương, của hai song thân, ta cũng chỉ dám giỏ vài giọt nước mắt, ôm lấy nghĩa mẫu giằng giai một lúc, rồi cũng phải lau khô mà bước lên xe hoa chứ đâu dám khóc lóc nhiều.
Đến giờ ta mới có thể tự do mà nghĩ cho số phận của mình. Và nghĩ về chàng. Rồi nước mắt cứ thế tuôn như mưa không sao ngăn được.
Bao ngày qua kể từ lúc nghe tin, ta lúc nào cũng sốt âm âm trong người, khi như tỉnh, lúc lại như say. Chỉ mong sao những tháng ngày này không phải là sự thật. Mong rằng đây tất cả chỉ là một giấc mơ. Mong rằng họ Đinh kia sẽ không tới đón dâu như đã hứa. Mong rằng khi tỉnh giấc mơ dậy, ta vẫn được ở nơi đây thương nhớ tới chàng. Nhưng giờ khi đã ngồi trên kiệu hoa tiến thẳng về Hoa Lư, thì ta biết rằng đã đến lúc cần phải đối mặt với sự thật rồi. Một sự thật làm người ta quá đỗi đau lòng!
Chỉ riêng bản thân ta mà nói, nếu chỉ riêng cái thân này thôi thì cuộc hôn nhân này hay cuộc hôn nhân khác có khác gì nhau - nếu cuộc hôn nhân ấy có thể đảm bảo một tương lai yên bình cho nghĩa phụ, nghĩa mẫu và dòng họ Dương ở võ đường Dương Xá? Nếu chỉ là như thế thì tấm thân này có gì phải tiếc? Nếu chỉ là như thế thì lòng ta có gì phải đớn đau? Nhưng ta còn chàng, còn lời thề ước với chàng trong đêm trăng sáng hôm ấy. Còn lời hứa đợi chàng chiến thắng trở về..
Vậy mà giờ đây, ta đã phụ lại tình chàng. Hơn nữa, ta sẽ trở thành vợ lẽ của chính người mà chàng đang phò tá. Trở thành phu nhân của người mà chàng hàng ngày gọi là "Minh chủ".
Ta đã luôn mong cho tới ngày được gặp lại chàng, kể mùa thu năm trước. Vậy mà không ngờ giờ đây chúng ta rồi sẽ được gặp lại nhau ở Hoa Lư nhưng lại trong tâm thế như thế này!
Nhưng ta có thể trách ai được đây? Ta có thể oán trách ai được? Có chăng chỉ có thể trách tạo hóa đã quá trêu người con người! Ta chẳng thể làm gì để vẹn cả đôi đường cả. Ta chỉ có thể chọn một con đường. Và con đường ấy không thể có chàng!
Ước gì ta có thể khóc mãi. Khóc cho tới khi thân thể tan thành nước. Rồi ta vĩnh viễn không bao giờ phải về Hoa Lư. Vĩnh viễn không bao giờ!
Nhưng ta biết điều đó không được phép.
Bởi thân thể này, tính mạng này là của nghĩa phụ và nghĩa mẫu. Và ta phải sống, phải về Hoa Lư lành lặn vì sự yên bình của hai người. Ta phải lấy tấm thân này để đền đáp công ơn của hai người và mang lại một tương lai an ổn cho dòng họ Dương.
Ta phải lấy tấm thân này để đền đáp công ơn của hai người và mang lại một tương lai an ổn cho dòng họ Dương! Đó chính là điều đã giữ ta lại tới bây giờ. Chính là điều khiến ta phải tỏ ra bình thản mà lên kiệu hoa về Hoa Lư dù vạn lần không muốn.
Ta vẫn còn nhớ như in cái buổi chiều năm ấy, khi ta lên năm tuổi.
Đó là một buổi chiều mùa đông. Khi đó ta vẫn còn sống ở vùng Phú lăng thuộc Đạo Đại Hoàng cùng hai song thân của mình.
Cả nhà ta gồm thân phụ, thân mẫu, ta và hai gia nhân đang trên đường đi lễ chùa về. Lúc này đã qua tiết đông chí, lại đã nhập nhoạng tối, nên trời hết sức lạnh giá.
Tuy nhiên, dù trời có lạnh lẽo đến mấy cũng không ngăn nổi sự đầm ấm đang bao trùm lấy mọi người trong gia đình lúc bấy giờ.
Cha ta vốn là một thầy lang cắt thuốc chữa bệnh trong làng, nên gia đình ta sống tương đối sung túc. Cha mẹ ta lại rất yêu thương nhau và yêu chiều ta, sống chan hòa, nhân ái với kẻ hầu người hạ. Vì vậy tiếng cười lúc nào cũng tràn ngập trong gian tệ xá nhỏ ở ven làng.
Buổi chiều ấy cũng vậy, cả nhà đang ngồi trong xe ngựa cười nói vui vẻ. Bác Lưu xà ích đang giục ngựa bước mau để trở về nhà hơ tay bên lò sưởi. Thân mẫu cầm lấy tay ta đưa lên miệng người, hà hơi ấm vào bàn tay ta, lại lấy tay người xoa xoa xung quanh cho tay ta bớt lạnh, rồi nói:
- Nga nhi đợi chút nữa thôi là về tới nhà rồi nhé!
- Con không lạnh đâu mà, mẹ đừng lo!
Thân mẫu cười hiền rồi ngoảnh sang thân phụ:
- Không ngờ hôm nay lại trở lạnh hơn. Trời sập tối nhanh quá! Biết thế này thiếp đã không ngồi với sư thầy lâu như vậy để cả nhà phải đợi.
- Chút nữa là về tới nhà rồi, nàng lo mà làm gì. Thân phụ nhìn thân mẫu âu yếm, rồi khẽ chạm tay mình vào bàn thay thân mẫu, mỉm cười. Trong ánh sáng chiều tà nhợt nhạt chiếu vào xe, ta vẫn thấy rõ má thân mẫu ửng hồng và mắt người long lanh, lấp lánh hạnh phúc.
Bỗng nhiên xe ngựa đột ngột dừng lại. Mấy người chúng ta cùng xô dúi dụi về phía trước, ta thiếu chút nữa là lăn xuống sàn xe nếu không có cánh tay cứng cáp của thân phụ ngăn lại.
- Có chuyện gì vậy? - Thân phụ vừa hỏi vừa vén rèm nhìn ra ngoài. Vừa lúc đó bác Lưu xà ích cũng hốt hoảng thò đầu vào trong xe, giọng lạnh toát:
- Bẩm ông, cướp đường!
Những năm gần đây tình hình đất nước hết sức loạn lạc, giặc giã cướp bóc nổi lên ở khắp nơi quanh vùng. Nhưng riêng vùng ta ở chưa từng xảy ra những việc tương tự, bởi vậy không ai có ý đề phòng. Vậy nên khi nghe bác Lưu nói vậy, ai cũng hồn bay phách lạc.
Cha vội vàng ngoảnh lại nói nhỏ với mẹ: Nàng và con ở yên trong này! - Rồi vội vã bước ra ngoài.
Mẹ hốt hoảng kéo ta, ôm chặt vào lòng. Cùng lúc ấy nghe bên ngoài vang lên tiếng cười man dại của bọn cướp, không rõ là bao nhiêu tên. Kèm theo đó là tiếng chúng quát tháo:
- Đừng để các ông phải nói nhiều! Khôn hồn thì đưa hết tiền bạc, ngọc ngà ra đây!
- Bẩm các ngài, hạ thần vừa cùng gia đình đi chùa về, quả thực không mang theo nhiều bạc trong người. Chỉ có chút gọi là thôi, xin các đại nhân mở lòng từ bi. Giọng thân phụ từ tốn nói.
- Mang lại đây mau! Bọn cướp quát lên. Vẫn nghe văng vẳng tiếng cười khùng khục như thú vật của bọn chúng.
Im lặng một hồi. Tiếp đó là những tràng cười nham hiểm vang lên. Liền ngay sau đó là tiếng bác Lưu xà ích và Tiểu Hoa hét lên "Chủ nhân!". Vừa dứt lời thì Tiểu Hoa ngã nhào vào trong xe, hết sức hoảng loạn, mặt cắt không ra một giọt máu. Thân mẫu ta giật nảy mình, cũng đã đoán được bảy tám phần sự việc xảy ra, một mặt đỡ Tiểu Hoa dậy, một mặt định hỏi han cho rõ tình hình. Nhưng chưa kịp mở miệng đã nghe bác Lưu xà ích hét lên một tiếng đau đớn. Liền đó chiếc rèm xe bị hất lên một cách thô bạo, một tên cướp thò vào trong xe, túm lấy mẹ và Tiểu Hoa lôi ra ngoài. Mẹ chỉ vừa kịp đẩy ta vào góc xe đã bị lôi xềnh xệch ra khỏi xe. Trông thấy cảnh tượng ấy bọn cướp hú hét reo hò đầy phấn khích.
Ta run rẩy nằm yên trong góc xe, sợ vỡ mật không dám cử động chân tay. Miệng thì cấm khẩu không thể thốt lên được lời nào (cũng có thể chính nhờ thế mà ta thoát chết trong gang tấc. Bởi nếu lúc đó mà khóc lóc, la hét, chắc ta đã không thể giữ nổi cái mạng của mình). Chỉ còn nghe bên ngoài vọng lại tiếng đấm đá túi bụi, tiếng mẹ cùng Tiểu Hoa hét lên "Thả chúng ta ra!", nhưng đáp lại vẫn là những tràng cười của một bầy cầm thú.
- Mang các nàng này theo chúng ta thì cũng vui vẻ được ít bữa đó đại ca! - Một giọng tởm lợm cất lên. Oái! Sao các ngươi dám! Đại ca, chúng đều cắn lưỡi tự vẫn cả rồi..
Lại ồn ào nhốn nháo! Vẫn những tràng cười độc ác! Đột ngột, chiếc xe của ta bị giằng kéo mạnh kèm theo tiếng ngựa hí vang trời. Có lẽ là bọn chúng đã tháo lấy ngựa mang đi. Sau đó thì tiếng hò hét, quát tháo nhau rút lui, tiếng vó ngựa dầm dập xa dần.
Không gian trở lại tĩnh lặng. Một sự tĩnh lặng rợn người. Ta vẫn nằm yên ở trong góc xe, không dám cử động. Không nói. Cũng không khóc. Toàn thân như đông cứng lại.
Ta nằm yên như thế bao lâu? Ta không biết nữa. Mãi đến khi chân tay tê cóng và lạnh buốt không thể chịu được nữa, ta mới dám khẽ cựa mình, rồi thì thào theo hơi thở "Cha ơi! Mẹ ơi!". Chỉ kịp cất lên như thế nước mắt đã lăn dài trên má. Nhưng ta cũng không dám làm gì hơn. Vẫn cứ nằm yên đấy mà mếu máo không thành tiếng.
Lại tiếp tục thêm bao lâu nữa? Đầu óc một đứa trẻ năm tuổi thì có thể đo đếm thời gian như thế nào? Có lẽ là một canh giờ, hai canh giờ, hay nhiều hơn thế? Chỉ biết rằng khi ta đang chìm trong trại thái lơ mơ vì lạnh, vì đói, vì khiếp đảm thì lại nghe thấy những tiếng ồn ào càng lúc càng tiến lại gần. Tiếng xe ngựa cọt kẹt, tiếng người nói chuyện, tiếng vó ngựa đều đều. Có khi nào bọn cướp lại quay lại? Ta tê cứng cả người trước ý nghĩ ấy! Thu mình nép chặt hơn vào góc xe, ta không dám cả chớp mắt.
Tiếng ồn ào mỗi lúc một đến gần. Tiếng người lao xao lên một chặp. Có lẽ họ đã nhìn thấy xe của ta. Một lúc sau thì có tiếng người đàn ông cất lên:
- Bẩm Dương lão quản gia có lẽ là một vụ cướp đường. Thấy bốn người, hai nữ, hai nam đều đã chết. Ngựa kéo xe chắc bị bọn cướp lấy đi rồi.
- Kiểm tra xem trong xe còn ai không? - Một giọng khoan thai, đĩnh đạc đáp lời.
- Vâng lão gia!
Rồi ta thấy ánh đuốc sáng tiến lại gần. Ánh đuốc chiếu qua rèm xe lấp lóa. Sau đó chiếc rèm được vén lên. Rồi một người đàn ông ăn bận gọn gàng, tinh giản theo lối nhà binh thò đầu vào. Ta kinh hãi hét toáng lên và co rúm người vào góc xe trong vô vọng.
- Bẩm Dương lão quản gia có một bé gái trong xe! - Người đàn ông gọi với lại phía đoàn người rồi quay sang phía ta: Tiểu tử đừng sợ, ta không đánh người đâu. Ra đây với ta nào!
- Không! Tránh xa ta ra! Ta run rẩy hét lên, mà giọng khản đặc không thốt được rõ lời. Vẫn khăng khăng trốn sâu phía cuối xe.
Tiếng một vài người lào xào, rồi một lão gia tóc đã bạc trắng, ăn bận đơn giản nhưng lịch thiệp tiến lại gần cửa xe, ghé vào:
- Tiểu thư đừng sợ, đây là xe của quan gia, không phải xe của người xấu. Tiểu thư ra đây yết kiến quan gia rồi người sẽ bảo vệ cho tiểu thư.
Ta vẫn không động đậy.
Lão gia lớn tuổi tiếp tục nài nỉ thêm một hồi nhưng ta vẫn mặc kệ. Bỗng nhiên thấy lão gia ấy nép sang một bên, cất giọng hốt hoảng:
- Bẩm phu nhân, sao người lại ra đây! Sương đêm lạnh lẽo lắm, cẩn thận kẻo lại mang bệnh đấy ạ!
Không thấy tiếng đáp trả. Ngay sau đó thì một vị phu nhân trung tuổi, phục sức tuy đơn giản nhưng vẫn toát lên vẻ cao quý, đường bệ cùng hai thị nữ theo hầu tiến lại gần xe. Phu nhân nhìn vào trong xe một lượt, rồi hai nàng thị nữ đỡ người bước lên xe. Người nhẹ nhàng lại gần ta, rồi cất giọng:
- Tiểu tử, lại đây với ta nào! Không có gì phải sợ cả! Có ta ở đây bảo vệ ngươi rồi!
Nghe giọng nói thâm trầm, khoan thai mà rành rọt như tiếng chuông bình yên trên cánh đồng buổi chiều quê ấy, nhìn khuôn mặt nhân từ phúc hậu của người và ánh mắt ẩn chứa sự yêu thương, cảm thông đang trùm phủ lấy ta, ta bỗng dưng không còn sợ gì nữa, nhào vào hai cánh tay đang chìa ra của người và òa lên khóc.
Phu nhân ôm lấy ta bước xuống xe. Dưới áng sáng của đèn đuốc, ta nhìn thấy một đoàn người ngựa rất đông đúc đang đứng lô nhô ở bên đường. Khi phu nhân quay người bước về phía đoàn xe, thì ta nhìn thấy ở bên vệ đường, thân phụ ta, thân mẫu, Tiểu Hoa và bác Lưu xà ích đều nằm sấp bên vệ đường giữa những vũng máu lớn lúc này đều đã đông đặc lại. Họ đều đã chết!
Nhìn thấy cảnh tượng kinh hoàng ấy ta liền hét lên một tiếng rồi ngất xỉu.
Sau khi cảo táng cho cha mẹ ta và gia nhân bên vệ đường, Chương Dương công và Đặng phu nhân - chính là nghĩa phụ và nghĩa mẫu của ta bây giờ cứ thế đưa ta theo về vùng Ái Châu, quê hương của người.
Tới Ái Châu, ta bị ốm, bị cấm khẩu không ăn, không uống cả tháng trời. Hai người, đặc biệt là nghĩa mẫu ngày đêm săn sóc, túc trực, lại cho mời hết lượt các thầy lang có tiếng trong thành Tư Phố tới bắt mạch, chữa bệnh. Nhờ thế mà ta cũng dần dần bình phục.
Nghĩa phụ và Nghĩa mẫu bèn nhận ta làm con và nuôi nấng, yêu thương ta như thể cha mẹ đẻ.
Để có ta ngày hôm nay, không gì khác chính là nhờ công ơn dưỡng dục của hai người, nhờ những kỷ luật, những quy tắc khắt khe của nghĩa phụ; nhờ tình yêu thương, lòng bao dung, sự chỉ bảo rất mực tận tình về những điều phải quấy của nghĩa mẫu.
Ta vẫn còn nhớ chừng khi ta lên tám, chín tuổi, vốn dĩ là một đứa trẻ nghịch ngợm và hiếu động, dù được nghĩa phụ và nghĩa mẫu dạy bảo, được theo thầy học chữ, nhưng những điều hay lẽ phải ta đều.. tạm để ngoài tai, không ngừng cùng Thị Lan và Thị Ngọc - là hai thị nữ thân cận trốn ra khỏi Đông Lỗ để chơi bời.
Tuy vậy cũng chỉ là những trò ngịch ngợm con nít, như bêu đầu dãi nắng, hái hoa, bắt bướm, thả diều, bắt cá ở trên cánh đồng bên ngoài Trang, cãi lộn với đám trẻ này, đánh nhau với đám trẻ kia ở trong làng.. - Đều là chưa xảy ra vụ việc gì nghiêm trọng.
Cho đến một hôm, đi qua vườn ổi rộng lớn phía sau nhà của một người dân ở trong làng, nhìn những cây ổi sai xúc xỉu, với những trái ổi to tròn, bắt đầu chín căng mịn, láng bóng, không kìm lại được ta bèn bày với hai nàng thị nữ trèo vào vườn hái trộm.
Hai nàng đều sợ nên bàn lùi. Nhưng ta bảo chính ta sẽ trèo vào lấy chứ không phải hai nàng, còn dọa thêm nếu ai không giúp ta lấy ta sẽ nghỉ chơi với người đó. Thế là hai nàng đành miễn cưỡng cồng kênh cho ta trèo qua bức tường bằng đá thấp để vào trong vườn. Hái được quả nào liền buộc túm vào chiếc áo, đến khi nhiều thì tuồn ra cho hai nàng giữ. Càng nhìn càng thèm, càng hái càng hăng. Nên mặc dù đã hái được khá nhiều, hai nàng đã gọi với vào bảo: "Nhiều lắm rồi tiểu thư, về nhà thôi kẻo người ta phát giác" - ta vẫn chẳng màng, tiếp tục trèo hẳn lên một cây ổi to mà hái cho thỏa thích. Rủi thay chân ta dẫm vào một cành ổi bị sâu, thế là "rắc" một cái, cả người và số ổi vừa mới hái theo cành ổi khô rơi xuống đất. Ta bị chính cành ổi khô gãy chọc vào bắp chân chảy rất nhiều máu. Chưa kịp hành động gì thì người trong nhà nghe thấy tiềng động đã kéo ra bắt luôn kẻ trộm, lôi tuột ta vào nhà và trói vào một cái cột ở hè bếp.
Ngọc Nhi và Lan Nhi sợ hãi, vội vã chạy vào khóc lóc van xin. Mãi vẫn không được, lại thấy máu ở chân ta vẫn tiếp tục chảy xối xả, hai nàng sợ quá mới nói thật, ta chính là tiểu nữ con của Dương Công ở trang Đông Lỗ. Nhưng chủ nhà nghe thấy vậy, chỉ cười ngất rồi bảo:
- Bọn giặc non láo toét các ngươi mà là người nhà của Dương Công thì ta đây là cậu ông giời nhé!
Thế rồi vẫn tiếp tục trói nhốt.
Thị Ngọc và Thị Lan thấy ta bị thương nặng mà không làm sao đưa về để chữa trị được, lại nghĩ đến lúc nghĩa phụ và nghĩa mẫu ta biết thì không sao tránh khỏi bị nhừ đòn nên càng thêm hốt hoảng, nước mắt ngắn, nước mắt dài, luống cuống như gà mắc tóc. Ta bèn nhìn hai nàng, bảo:
- Thôi hai người đừng khóc nữa. Lan Nhi ở đây với ta, còn Ngọc Nhi chạy về nhà báo đi.
Lúc ấy hai nàng mới như người tỉnh mộng. Ngọc Nhi vội vã chạy về bẩm báo.
Chừng một canh giờ sau thì quản gia Dương Thuần cùng người trong Trang đi xe ngựa tới. Nhìn thấy thế chủ nhà lúc này mới tin, quỳ mọp xuống khóc lóc van xin tha mạng.
Dương lão quản gia không nói gì, chỉ lặng lẽ đỡ chủ nhà dậy rồi khấu đầu:
- Tiểu thư nhà chúng tôi được nuông chiều quá, nên ngịch ngợm đã thành quen, giờ gây ra việc này, gia chủ trách phạt là phải phép, chúng tôi nào dám ý kiến gì. Còn dám nói chuyện tha tội hay không tha tội với gia chủ nữa hay sao? Hiện nay Dương Công tuổi già sức yếu không tiện đi lại, nên có cử tôi đến đây. Trước xin khấu đầu tạ lỗi cùng gia chủ, sau xin phép đưa tiểu thư về chữa trị thương kẻo để lâu lại sinh tật.
Chủ nhà liền đỡ Dương quản gia dậy rồi vội vã quỳ phục xuống, khấu đầu lia lịa:
- Xin Quan gia đừng làm thế! Xin Quan gia cứ đưa tiểu thư về. Xin ngài nói với Dương Công tha lỗi cho hạ thần có mắt như mù mạo phạm đến tiểu thư. Như vậy hạ thần ngàn lần đa tạ!
Dương quản gia đỡ chủ nhà dậy rồi đưa ta về và cho tìm thầy lang bốc thuốc trị vết thương.
Buổi tối nghe nghĩa phụ truyền xuống phạt đánh hai mươi roi, nhưng cho nợ tới khi khỏi bệnh sẽ đánh. Nghĩa mẫu tới trông nom, nhìn ta nằm sốt mê man ở trên giường, chỉ lẳng lặng ngồi chấm nước mắt, tây vẫn không ngừng lật trở khăn ướt trên trán để giúp ta hạ nhiệt.
Chừng gần một tháng sau thì ta khỏi bệnh. Các thầy lang bảo ta có quý nhân phù trợ, nên mới thoát khỏi cái nạn này mà chân cẳng không bị làm sao.
Khi đã bắt đầu đi lại được, nghĩa mẫu gọi ta qua phòng rồi nói:
- Con nghĩ bấy nay những trò ngịch ngợm bên ngoài của con ta và cha con không biết hay sao? Chỉ là vì quá yêu thương con, muốn con được vui đùa một chút, không muốn con suốt ngày giam mình ở đây mà ta và cha con đã lơ đi cho con thỏa thích. Nhưng đã đến cơ sự này thì con cũng phải xem lại mình thôi. Cha vì việc này mà buồn giận lắm. Còn ta, chỉ có một điều này để nói với con: Vui chơi và nghịch ngợm con trẻ chẳng thể lúc nào cũng cấm cản được. Nhưng vui đùa, nghịch ngợm gì thì nghịch ngợm, con hãy nhớ, một là giữ lấy thể diện cho dòng họ Dương ở vùng đất này; hai là giữ gìn lấy tính mạng và sức khỏe của mình. Đừng để cho người đầu bạc phải đau buồn vì người đầu xanh. Thế là được!
Chỉ bấy nhiêu lời nói thôi mà còn mạnh hơn cả ngàn roi vọt. Chỉ bấy nhiêu lời thôi mà thấu cả tim gan!
Năm ấy nghĩa mẫu đã ngoại tứ tuần, do sức khỏe yếu nên suốt cả đời người không thể nào sinh nở được.
Trước kia khi nghĩa phụ còn làm Vương của thiên hạ, hai người có nhận hoàng tử Ngô Xương Văn, tức Nam Tấn Vương bây giờ làm con nuôi. Nhưng thế sự xoay vần, vật giời sao đổi, mọi sự giờ đã khác. Đối với nghĩa phụ và nghĩa mẫu mà nói, giờ cũng chỉ có một mình ta. Cuộc gặp gỡ ở Đại Hoàng quê ta năm đó đúng là một định mệnh, nhưng thực thà mà nói, nghĩa phụ và nghĩa mẫu hoàn toàn có thể thu nạp ta về làm kẻ hầu, người hạ trong nhà và cho ăn qua ngày. Với một người trong hoàn cảnh như ta khi ấy, còn có thể mong gì hơn thế? Nhưng hai người lại nhận ta làm con nuôi. Tuy chẳng nói ra cũng biết, hai người yêu thương ta khác gì con đẻ?
Chỉ nghĩ bấy nhiêu thôi cũng đã không dám làm phiền lòng hai người thêm một lần nào nữa rồi.
Mấy ngày sau khi họ Đinh đến cầu thân, nghĩa mẫu có gọi ta vào và bảo:
- Ta biết con phải chịu nhiều thiệt thòi. Cha mẹ mất sớm, về ở với ta và cha con, chúng ta chưa mang lại cho con được gì nhiều mà giờ phải gánh vác việc này. Nhưng con cũng biết đấy, gia cảnh nhà ta sa sút, cha con từ ngôi Vương của thiên hạ, giờ thất thế về ở ẩn nơi này. Nhà Ngô thì đã mất. Họ Dương nhà ta cũng không còn nơi nương tựa nữa. Bổng lộc họ Ngô ban cho, tuy thực chất mà nói chẳng đáng là bao, nhưng bấy lâu nó mang lại cho họ Dương ta sự tôn trọng, nể phục của thiên hạ. Nhưn giờ cũng đã theo họ Ngô mà liền mất. Nay họ Đinh niệm tình xưa dưới chướng tổ phụ mà xin cầu thân, âu cũng như là một sự đảm bảo tương lai cho họ Dương nhà ta vậy. Tình hình hiện nay có thể thấy, họ Đinh chắc đến chín mười phần sẽ thống nhất thiên hạ và lên ngôi cao. Chẳng nhanh thì cũng chỉ vài ba năm nữa thôi. Khi ấy nhờ con và cuộc hôn nhân này, nhà họ Dương may ra mới được hưởng yên bình về sau. Ta biết con là con nuôi của chúng ta, phải đứng ra gánh vác việc này thật không công bằng với con. Nhưng trong tình thế hiện nay con thấy đấy, chỉ có con là có thể giúp được việc này thôi.
Nhưng đâu cần đến những lời nói ấy, chỉ cần nghĩ đến công ơn của hai người bao năm qua ta cũng đủ lấy mạng này ra mà báo đáp rồi.
Vì thế nên ta làm sao có thể làm một việc gì khiến hai người lo lắng. Ta càng không thể nói với hai người chàng, về tâm tư của ta khi phụ lại tình chàng. Nói ra những chuyện ấy với hai người liệu có giải quyết được gì? Hay chỉ làm hai người thêm khó nghĩ và làm rối rắm mọi việc?
Đoàn người ngày đi đêm nghỉ, bốn ngày sau thì đến vùng Phú Lăng Đạo Đại Hoàng.
Trở lại quê cũ sau hơn chục năm trời khiến bao tâm sự ùa về. Những rối bời của thực tại, cùng với nỗi thương nhớ quê nhà, đau lòng về song thân đã qua đời quá đỗi oan uổng làm ta thoáng chốc lại rơi lệ. Lan Nhi và Ngọc Nhi lại phải một phen dỗ dành ta mới chịu ngừng khóc.
Từ vùng Ái Châu quê ta tới đây đều là các vùng đất do cha con họ Đinh cai quản, nên đoàn người không gặp trở ngại gì. Ban ngày người ngựa thong thả đi, ban đêm lại vào các nhà trọ bên đường trú tạm. Áng chừng hai ngày nữa là sẽ tới Động Hoa Lư.
Chẳng mấy chốc Hoa Lư đã hiện ra trước mắt.
Đây là một vùng đất sơn thủy hữu tình. Những dãy núi đá vôi bao bọc bốn phía. Uốn lượn xung quanh là sông suối, ao hồ, tạo nên cảnh sắc hết sức ngoạn mục. Xen giữa là những cánh rừng bạt ngàn thâm trầm, những làng xóm yên bình trong khói chiều lan tỏa, là những cánh đồng lúa xanh mướt thẳng cánh cò bay.
Những gam màu xanh thay đổi của núi rừng, của cánh đồng, của nước non, của làng mạc, khiến cho lòng ta cũng phấn chấn lên một chút.
Ta kéo rèm xe xuống, ngồi ngắm phong cảnh xung quanh, cũng tạm thấy lòng bình yên được một chặp.
Buổi sáng ngày thứ sáu, đang mải mê ngắm cảnh thì đoàn người bỗng dừng lại, Đinh tướng quân bước tới trước kiệu nói:
- Dương tiểu thư, chỉ còn mười dặm nữa là tới Động Hoa Lư. Đây là điếm canh ở bên ngoài động, mời Dương tiểu xuống đây nghỉ ngơi, chỉnh trang lại trang phục. Xong xuôi người của Đinh động chủ sẽ tới đây rước tiểu thư về để bái đường làm lễ.
Vậy là đã tới nơi rồi! Nghe báo tin mà ta rụng rời cả chân tay! Cái giây phút mình không muốn nghĩ tới cuối cùng cũng phải đối mặt. Còn cách nào khác nữa chẳng?
Thị Ngọc và Thị Lan đưa ta vào trong điếm canh, giúp ta trang điểm, mặc áo tân nương rồi trùm khăn lên đầu. Xong xuôi tất cả cùng ngồi đợi.
Ta ngồi như hóa đá ở bên bàn. Một phần vì đồ trang điểm và quần áo có phần nặng nề, một phần vì đau xót nghĩ, vậy là giây phút này cuối cùng cũng đã tới. Ước chi con đường đi tới Hoa Lư cứ kéo dài tới vô tận!
Đã chuẩn bị, đã đau đớn suốt mấy tháng qua, mà thời điểm này tới vẫn tê liệt cả các giác quan. Người ta mồ hôi bắt đầu vã ra như tắm. Vì nóng? Hay vì sắp lên cơn hoảng loạn? Ta không biết nữa. Nếu ngồi thêm chút nữa ta sẽ bất tỉnh không chừng!
Đúng lúc đó có tiếng một đoàn người lao xao đi tới. Lan Nhi và Ngọc Nhi đầy lo âu, quay sang bảo ta:
- Đến rồi đó tiểu thư!
Liền sau đó là tiếng người vào trình báo:
- Thưa Dương tiểu thư, thần là Trịnh Tú, là nha tướng dưới chướng của Đinh động chủ. Lẽ ra Đinh động chủ phải thân chinh mang kiệu hoa ra rước tiểu thư về, nhưng vì chuyện quân gấp gáp, người đã rời Hoa Lư đi Bố Hải Khẩu từ sáng sớm, nên thần theo lệnh Động chủ ra đây nghênh đón và đưa tiểu thư về động. Vậy xin mời tiểu thư lên đường!
Ngọc Nhi và Lan Nhi cẩn thận đỡ ta ra kiệu hoa. Rồi đoàn người thong thả nhằm hướng Động Hoa Lư thẳng tiến.
Một phần vì đường xá xa xôi, một phần để đề phòng mọi bất trắc có thể xảy ra, nên đám rước dâu đi rất gọn nhẹ, chỉ bao gồm một viên tướng họ Đinh và mười binh lính tinh nhuệ, tất cả đều ăn mặc hết sức đơn giản. Xe ngựa ta và hai nàng thị nữ ngồi cũng không trang trí gì. Vì vậy khi tới điếm canh, đoàn người phải dừng lại để đổi sang kiệu hoa và để ta ăn bận, trang điểm lại là vì thế.
Tuy nhiên điều không ngờ là họ Đinh lại không thể tự mình ra đón dâu mà phải sai bộ tướng của mình ra đón.
Vào bên trong động, lễ đón mừng được tổ chức rất long trọng với trống rong, cờ mở, nhã nhạc hai bên tưng bừng. Người trong động đều tiến ra dọc các lối đi để chào đón. Chính thức nghênh tiếp ta là Đinh phu nhân, người đang trực tiếp cai quản mọi việc tề gia trong động lúc bấy giờ.
Sau khi dắt ta vào lễ đường thắp nhang vái lạy, chính thức nhận làm vợ lẽ của họ Đinh, Đinh phu nhân lại trực tiếp đưa ta lên kiệu hoa, dẫn ta về nhà Tây, nơi ta sẽ sống sau này.
Ngồi trong kiệu, nàng cầm tay ta, bảo:
- Ta tên thật là Đinh Thục Trinh, tuy hiện cai quản mọi việc tề gia ở đây nhưng vốn dĩ không phải vợ cả. Động chủ có một người vợ cả, chính là Đặng phu nhân, mẹ của Công tử Đinh Liễn, tiểu thư Liên Hoa, và Phù Dung. Đặng phu nhân đã mất lâu rồi. Người vợ thứ hai là Dương phu nhân, hiện đang sống cùng hai tiểu nữ tại quê ngoại. Vậy nên ta và nàng cũng không cần phải quá lễ nghĩa làm gì, hãy cứ coi nhau như chị em cho thoải mái!
- Tiện thiếp đâu dám hỗn xược như vậy!
- Có gì mà không dám chứ! Mà thôi, cứ để từ từ rồi em quen dần vậy. Mà có việc này ta cũng phải nói rõ với em. Lẽ ra rước em về cũng phải làm cỗ bàn tiệc rượu cho linh đình mới phải. Nhưng em biết rồi đấy, Nghĩa phụ Trần Minh Công đột ngột lâm trọng bệnh, không biết có qua khỏi hay không nên Tướng công đã đi Bố Hải Khẩu ngay sáng sớm nay, vì vậy không trực tiếp nghênh đón em được. Thời gian này, các hào trưởng vùng lên cát cứ khắp nơi, nơi nọ đánh phá nơi kia, đặc biệt sau khi có tin Nghĩa phụ bệnh năng thì tình hình càng thêm loạn lạc. Động ta vắng Tướng công thì như rắn mất đầu, mặc dầu có binh lính tinh nhuệ cùng tướng quân Trịnh Tú ở lại canh gác, bảo vệ cận mật, nhưng tuyệt đối không thể lơ là được. Vậy nên ta mới lệnh cho người trong động đâu vẫn ở đó, làm tiệc ăn mừng tại chỗ, đồng thời lệnh cho quân sĩ, người nhà trong động không được rượu chè quá trớn. Bởi nếu để xảy ra chuyện gì bất trắc, thì có trăm ngàn cái mạng cũng không thể đền hết tội được. Vậy nên mới không tổ chức tiệc rượu linh đình quây quần như em thấy. Thật là thiệt thòi cho em. Nhưng việc quân cơ chặt chẽ, em thông cảm cho ta!
- Tiện thiếp thấy Đinh nương sắp đặt như vậy là chu toàn mọi mặt rồi, nào có thể ý kiến gì nữa chứ!
- Em hiểu cho ta được thì tốt quá. Ta cũng có cho chuẩn bị ở nhà mới của em một mâm rượu lạt rồi. Coi như lễ tẩy trần cho em, mà cũng là để chị em ta hàn huyên tâm sự. Lẽ ra đó phải là rượu hợp hoan của em và Tướng công mới phải. Nhưng cảnh đất nước loạn lạc chinh chiến, cũng chẳng thể nào mong vạn sự đều chu toàn được.
- Tạ ơn Đinh phu nhân đã chuẩn bị chu đáo!
Nói chuyện một hồi kiệu cũng đã đi tới nhà phía Tây. Lan Nhi và Ngọc Nhi dắt tay đưa ta vào buồng tân nương, bỏ khăn che đầu, thay quần áo, cởi bỏ đồ trang sức nặng nề. Rồi ta vội vàng quay ra phòng khách dùng bữa với Đinh nương.
Lúc này mới có dịp để nhìn ngắm nàng. Đinh nương khi này chừng hai sáu, hai bảy tuổi. Nàng bận một bộ xiêm y màu xanh da trời nhạt. Khuôn mặt trái xoan của nàng bừng sáng như trăng rằm. Dáng người nàng nhỏ nhắn, săn chắc, làn da hồng hào, khỏe mạnh, toàn thân toát lên một sự mềm dẻo mà lại rất thanh thoát và linh hoạt. Ta nghe nói từ trước rằng nàng là con nhà nòi võ nghệ, đã cùng bốn người anh của mình luyện võ nhiều năm trước khi về dưới trướng họ Đinh. Bởi vậy bởi vậy chẳng có gì lạ khi nhìn vào nàng, người ta thấy toát lên một khí chất khảng khái, hào sảng, tự nhiên, một sức sống tươi mới tràn trề như một bông hoa mùa hạ tươi mát và khỏe khoắn. Nhìn ngắm nàng người ta thấy tâm trí mình bỗng trở nên phấn chấn và vui vẻ.
- Chà! Em đúng là một tuyệt sắc giai nhân! Đinh nương thấy ta bước ra, vội tiến lại cầm tay ta nói - Thiên hạ đồn Dương Công có người con gái tên Nga đẹp như chị Hằng giáng trần quả không sai chút nào! Tướng công ta quả là có con mắt tinh đời!
- Cảm ơn Đinh nương ngợi khen! Tuy nhiên tiện nữ phận mỏng nên đến giờ mà nói, thực tình chưa có phúc được diện kiến Động chủ lần nào.
- Vậy ư? Đinh nương thảng thốt - Tướng công trực tiếp đến Đông Lỗ cầu thân, chẳng lẽ em không được diện kiến người hay sao?
- Hôm Tướng công đến Đông Lỗ, tiện nữ cùng thị nữ đang đi dự Hội ở trong làng. Đến tối trở về thì người đã đi rồi.
- Ra là như vậy! Đinh nương nói, giọng thoáng chút trầm ngâm. Nhưng phút chốc nàng lấy lại được tâm trạng vui vẻ, dắt ta lại bàn tiệc rồi bảo.
- Ta đã cho người đi về Đông Lỗ để báo tin em đã đến nơi an toàn. Kẻ hầu người hạ ở đây ta cũng đã cắt đặt cho em cả. Ngoài hai người hầu thân cận đi theo em, chăm lo việc trang điểm, ăn ngủ, phục trang, trà nước; trong nhà sẽ có ba người làm bếp kiêm các công việc nặng nhọc chân tay, giặt giũ; một người làm vườn lo chăm sóc cây cối, rau cỏ trong vườn. Mọi việc chung thì có Lưu quản gia lo liệu. Người này là một người đã hầu hạ lâu năm ở trong Động nên em có thể hoàn toàn tin cậy được. Có việc gì cần cắt đặt, sai bảo, hay truyền đạt ra ngoài, em cứ báo với Lưu quản gia một câu là được.
Ta cảm ơn Đinh nương đã sắp xếp mọi việc chu tất, rồi cứ thế cùng nàng vừa uống rượu, ăn cơm vừa nói chuyện. Đinh nương thực sự là người rất thân thiện. Nên chẳng mấy chốc ta và nàng đã trở nên gần gũi, ngồi tâm sự với nhau đủ điều.
Cỗ bàn xong xuôi thì trời đã xẩm tối, ta cùng Lan Nhi ra đầu ngõ tiễn Đinh nương và nàng hầu của nàng về nhà nghỉ. Trước khi về nàng còn quay lại bảo ta:
- Em cứ nghỉ ngơi cho thoải mái, mai kia khỏe khoắn rồi thì qua nhà Đông uống trà, rồi ta sẽ dẫn em đi thăm thú khắp động một lượt, vừa là để biết được đường đi lối lại, cũng vừa ngắm cảnh luôn. Cảnh quan trong động cũng nhiều nơi ngoạn mục hữu tình lắm, sẽ cùng em ngao du, ngắm nghía một phen!
Ta cảm tạ rồi quay trở vào nhà. Lan Nhi vội vã cùng với Ngọc Nhi đi chuẩn bị nước tắm cho cả ba người. Tiết trời đã cuối thu rồi, nên đêm về đã bắt đầu se se lạnh, không thể tắm bằng nước lạnh được nữa.
Còn lại một mình ngồi trong phòng, tựa đầu vào lòng ban tay nhìn chăm chăm vào ánh nến, lòng ta ngổn ngang bao bề bộn, tơi bời. Ngẫm hoàn cảnh của bản thân giờ đây thật lạ kỳ. Đã cưới chồng, đón rước về nhà chồng rồi mà vẫn chưa một lần nhìn thấy mặt chồng. Trong vài tháng tới cũng chưa chắc đã gặp mặt. Rồi không biết mai này tương lai sẽ còn xảy ra những điều gì..
Tuy nhiên mọi chuyện cũng chỉ khiến cho ta thấy bất ngờ đôi chút chứ cũng chẳng lấy gì làm buồn. Lần lữa chưa phải lo nghĩ tới việc giữ đạo phu thê ngày nào càng làm cho ta dễ chịu ngày đó. Không phải ta mong chờ gì vào phép màu hay bà tiên ông bụt hiện ra. Ván đã đóng thuyền rồi còn mong chờ gì được nữa? Nhưng ít ra những nỗi đau khổ người ta phải chịu, những nỗi chua xót người ta phải đối diện cũng không đến nỗi ba thu dồn lại một ngày. Từ giờ về sau cứ thế thong thả mà gặm nhấm thôi..
Chỉ mong sao ở chốn này không đến nỗi xảy ra chuyện vợ cả chèn ép vợ lẽ tủi nhục ê chề như vẫn thấy trong dân gian.
Mà suy cho cùng ta cũng có định tranh giành gì đâu nhỉ? Từ đây trở đi chính là sẽ cố gắng hết sức bình lặng mà sống, không màng gì tranh giành cao thấp hơn thua! Hi vọng cuộc đời không đến nỗi cay nghiệt.
Cứ tưởng mình sống ở chốn thôn dã dãi nắng dầm mưa, chạy nhảy suốt bốn mùa nên sức khỏe cũng không đến nỗi nào. Vậy mà ngay ngày hôm sau ta ốm một trận liệt giường, mê man suốt bốn, năm ngày liền. Do chuyến đi đường dài, do thời tiết cuối thu nóng lạnh thất thường, do lạ nước lạ cái nơi vùng đất mới, hay do những ngổn ngang ở trong lòng? Chẳng biết nữa. Từ khi năm, sáu tuổi được Nghĩa phụ và Nghĩa mẫu nhận nuôi đến nay ta mới lại mốm một trận như thế này, cứ nằm đó, người thì lúc nóng, lúc lạnh và không ngừng mê sảng. Khi thì những hình ảnh đau thương của tuổi thơ ám ảnh; lúc thì cái thời khắc trèo ổi bị ngã, bị trói bên hè bếp với cẳng chân chảy máu ròng ròng bủa vây; khi thì cảm giác tắc nghẹn tưởng như mình đang chìm dần, sắp sửa chết đuối ở trên sông Cầu Chày xâm chiếm. Ta ú ớ, gào thét, rồi lại ngủ thiếp đi. Khi khác, lại là những niềm vui ấm áp khi còn ở bên song thân như một cơn gió dịu mát chợt trở về. Lúc khác là nụ cười dịu hiền của nghĩa phụ và nghĩa mẫu; là những ngày phơi phới vui vẻ chạy nhạy trên cánh đồng, giữa bầu trời xanh Đông Lỗ. Đôi lần ta còn mơ thấy ta và chàng, hai ta đang cùng phi ngựa ở bên nhau..
Giữa những lúc mê man ấy, ngoài hai thị nữ túc trực ban đêm, ban ngày ta luôn thấy bóng dáng một người ngồi bên ta ân cần chăm sóc. Khi thì bón cháo, đút thuốc, lúc lại thay khăn cho ta mau hạ sốt. Lúc khác thì dém thêm chăn khi ta kêu lạnh hoặc ra sức quạt mát khi ta kêu nóng.
Trong cơn mê man, lúc thì ta tưởng đó là mẹ; lúc thì lại nghĩ đó là nghĩa mẫu, cứ thế mà nắm lấy bàn tay của người không biết bao nhiêu lần. Đến khi hồi tỉnh lại, mới nhìn kỹ thì ra là Đinh nương. Nhìn nàng có vẻ mệt mỏi vì trông nom, chăm sóc ta mà vẫn mỉm cười vui mừng mỗi khi ta mở mắt tỉnh lại, ân cần như một người mẹ, một người chị, ta thấy lòng ấm áp. Trong cơn mê man vẫn nẩy ra được một ý nghĩ tươi vui, chắc những ngày tháng về sau cũng không đến nỗi nào..
Đến ngày thứ sáu, thứ bảy thì ta bắt đầu khỏe lại, có thể đi bộ nhẹ nhàng quanh nhà được. Đợi buổi chiều mát, bèn bảo hai thị nữ mang một chiếc chõng tre và một ấm trà ra ngồi dưới bóng hàng cau, hàng lựu ở trước sân cho thoáng đãng. Đôi lúc lại đứng dậy nhẹ nhàng đi loanh quanh cho đỡ bí chân.
Khu nhà này, Nhà Tây - nơi ta sẽ sống những ngày sau này, gồm một căn nhà chính có năm gian. Gian nhà giữa rộng rãi nhất dùng để thờ cúng và tiếp khách khứa, bốn gian buồng còn lại chia đều ở hai bên là nơi ở và sinh hoạt ta và thị nữ. Nhà làm hoàn toàn bằng gỗ mới. Ngay trước cửa ra vào chính là tấm bình phong đan từ phên liếp, chính giữa lại có một tấm cửa liếp nhỏ có thể chống lên để đón gió và hạ xuống tránh mưa hắt.
Phía sau nhà chính là ba gian nhà nhỏ cho người giúp việc và gia nhân. Cạnh đó là ba gian nhà bếp để nấu nướng, củi lửa.
Ta ưa nhất ở ngôi nhà này chính là khu vườn. Có thể nói là được thiết kế rất công phu, mà lại rất đỗi tự nhiên và dẫn dã. Ở phía cuối vườn, giáp với hàng rào tre trúc là rặng nhãn cao lớn, xen với những hàng chuối tiêu trổ những tàu lá lớn xanh mát. Một số cây đang ra những buồng chuối non tơ đầy hứa hẹn đầu tiên. Tiếp đến là hai hàng cây bưởi, cây cam. Mùa này bưởi đang độ, quả sai xúc xỉu. Rồi đến hàng cây cau, cây lựu - nơi ta đang đặt chõng ngồi đây. Gần về phía sân, ngay trước cửa nhà là những hàng ngâu đang nở hoa hương thơm ngào ngạt. Mấy bữa nữa khỏe lại, ta sẽ bảo các thị nữ hái hoa ngâu phơi khô để mùa đông ướp trà uống dần. Phía bên trái ngôi nhà, gần với cổng vào là một cây khế, rồi đến bụi cây quỳnh, cây giao kề vai, xem kẽ với những bụi nhài được cắt tỉa khéo léo ở hai bên lối đi. Tít ngoài cùng giáp với cổng vào và hàng rào, là cây hoa dạ hương lớn. Mùa này hoa dạ hương cũng đang nở rộ. Ban ngày những bông hoa trăng trắng xanh xanh, mỏng manh khép hờ đôi mắt, gục xuống lim dim ngủ, nhưng đêm đến, chúng nở bung và tỏa hương mãnh liệt vô cùng.
Dọc ngang khắp khu vườn, người thợ khéo léo đã dùng gạch đỏ lát thành những lối đi nhỏ xinh, duyên dáng. Hai bến lối đi trồng rất nhiều những khóm tóc tiên xanh mướt, những khóm hồng, khóm cúc, khóm thược dược.. Đây đó lại điểm xuyết những khóm trúc với thân vàng óng, thẳng tắp, lá xanh mát, rì rào hay gốc liễu lơ thơ lá rủ; chỗ thì trồng một vài bụi phù dung xanh với những bông hoa trắng hồng mỏng manh. Mùa này, cứ mỗi buổi sáng những bông tóc tiên hồng và trắng lại nở bung ra, đón những giọt sương trong trẻo và những ánh nắng ban mai đầu tiên. Hoa hồng, hoa cúc cũng đang độ nở rực. Hương thơm ngào ngạt khắp vườn.
Tựa tay trên một cái gối cao, nằm nghiêng mình trên chõng, ta vừa nặng nhọc thở vừa lặng lẽ ngắm khu vườn. Dù đã khỏe lại nhưng cứ chiều đến là người lại sốt âm âm lên một lúc. Nhưng ta mặc kệ, cứ nằm im trên chõng, mặc cho Lan Nhi bên cạnh, vừa không ngừng phe phẩy quạt để đuổi côn trùng, vừa luôn miệng khuyên ta vào nhà.
Yên bình quá! Tiếng giun dế, côn trùng bắt đầu ngân vang. Ước gì thời gian cứ mãi ngưng đọng tại nơi này!
Đang mơ mơ màng màng thì thấy có bóng người thướt tha đi tới. Ngẩng lên nhìn hóa ra là Đinh nương. Vội ngồi dậy cất lời chào.
Nàng hôm nay bận một bộ xiêm y màu hồng nhạt, bên trong mặc chiếc yếm màu hồng đậm, lưng thắt một dải lụa màu trắng trong veo, trông hết sức trang nhã và hài hòa. Trên tóc nàng cài một đóa hồng đỏ tươi vừa hái trong vườn. Trông nàng rất đỗi tươi vui, tràn trề sức sống như bông hoa hồng ấy vậy. Vừa thong thả đi tới, nàng vừa bảo:
- Thôi em không cần phải đa lễ. Đến tìm em thì gia nhân bảo em ra đây. Đang lo em vừa mới ốm dậy mà ra vườn làm gì khéo lại ốm thêm, ai ngờ lại thấy em như ông tiên bà bụt đang sung sướng tận hưởng nơi này.
- Em ở trong nhà mãi thấy bí bức quá nên ra đây hít chút khí trời.
Nàng ngồi xuống bên chõng, tự tay rót một chén trà đưa lên uống, vừa chăm chú nhìn ta hỏi:
- Hôm nay ta bận bịu quá, mãi giờ mới qua thăm em được. Em đã thấy khỏe nhiều chưa?
- Em đỡ nhiều lắm rồi. Đa tạ Đinh nương mấy ngày qua chăm nom, săn sóc cho em. Em thật lấy làm hổ thẹn quá! Vừa mới về Động, chưa làm nên trò trống gì đã làm người một phen lo lắng, vất vả như vậy!
Đinh nương mỉm cười, cầm tay ta bảo:
- Em cứ khách sáo thế mà làm gì. Có em về đây ta vui lắm. Từ rày về sau có người bầu bạn tâm sự, không lo buồn phiền nữa. Vậy mà em cứ nghĩ tới những chuyện ơn nghĩa đó mãi sao? Ta về đây đã mấy năm. Khi về cũng là theo các anh trai mà về. Nhưng liền mấy năm các anh theo Tướng công nay đây mai đó, nên ở đây ta cũng chỉ có vò võ một thân một mình. Bởi vậy em về đây ta coi như bầu bạn, như chị em trong nhà. Từ rày về sau em đừng nói mấy chuyện khách sáo ấy nữa làm gì!
Ta xin vâng rồi mới hỏi:
- Ngôi nhà này thiết kế đẹp quá. Em thích nhất là khu vườn. Công phu mà lại dân dã. Là Đinh nương sắp xếp hay cho người thiết kế vậy?
Nàng cười ngất, bảo:
- Ta mà lại còn làm được cả mấy chuyện thiết kế nhà cửa vườn tược nữa hay sao? Em đề cao ta quá rồi đấy! Trong động có một người họ Chu chuyên làm việc thiết kế, xây cất nhà cửa, vườn tược, thành quách, vô cùng tinh xảo và khéo léo. Chính ông ta làm đấy! Ta làm sao lo được mấy chuyện này? Sau khi Tướng công từ Châu Hoan và Đạo Ái trở về đã lệnh cất ngay ngôi nhà này cho em ở. Dựa trên thế đất và vườn cây có sẵn, ông ấy liền vẽ ra ngôi nhà này. Ai xem cũng phải phục tài ông ấy có con mắt tinh đời, biết lựa theo địa thế cây cỏ sẵn có mà thiết kế đấy!
- Vâng, đúng thật là kỳ tài! Em thấy ngôi nhà thì mới cất. Mà cây cối lâu năm trong vườn lại mọc rất xum xuê, chắc chắn phải là vẽ rất khéo léo trên đất trồng cây cũ. Rất lấy làm thán phục.
- Ừ, đa phần cây cối trong vườn đều có sẵn. Chỉ có một số cây lựu, cây ngâu, hoa cỏ là trồng sau cho hài hòa mà thôi. Em thấy thích thì thật là may quá! Nhưng mà thôi, không phải là lúc để mà nói chuyện phiếm nữa đâu. Sương bắt đầu xuống rồi đấy. Em vừa mới ốm dậy không nên ở ngoài này lâu, mau vào nhà ngay đi!
- Vâng, có lẽ nên vào nhà rồi thật. Đợi sáng mai trời nắng lên rồi em sẽ đi dạo tiếp vậy.
- Muốn ra ngoài đổi gió đến vậy sao?
Ta gật đầu không nói, chỉ nghĩ thầm, vốn dĩ sống ở vùng thôn dã, chạy nhảy đã quen chân, nên việc ốm nằm liệt giường một chỗ quả là rất khó chịu đối với ta.
Nàng thấy ta không nói, cũng chỉ mìm cười, lẳng lặng đỡ ta dậy. Mấy thị nữ lục cục hò nhau khiêng chõng, mang ấm trà, rồi cả bầu đoàn đi vào nhà.
Chiều hôm sau, khi ánh mặt trời thu đã bắt đầu dịu, Đinh nương ngồi xe qua nhà đón ta, rồi bảo:
- Để ta đưa em đến một nơi này ngắm cảnh, hít khí trời trong lành mát mẻ, có khi em sẽ nhanh bình phục hơn chăng? Nói rồi dắt ta lên xe. Có Lan Nhi theo hầu.
Ra khỏi thành, trên đường đi ta hết sức gặng hỏi nàng nơi đến mà nàng không chịu nói. Vén rèm nhìn ra chỉ thấy ngựa đang chạy giữa một lối mòn nhỏ xuyên qua một rừng cây rậm rạp.
- Đây là nơi nào sao rừng cây rậm rạp quá! Không phải ta đã ra khỏi động rồi chứ, thưa Đinh nương? Ta thảng thốt.
Đinh nương bật cười nói:
- Đây vẫn là ở trong động mà. Làm sao ta có thể đi ra ngoài động dễ dàng thế được. Nói là động, nhưng thực ra doanh trại của chúng ta nằm trong một thung lũng thì đúng hơn, rộng mấy chục mẫu với phía sau là núi non hiểm trở bao bọc và phía trước là đầm lầy rộng lớn. Vậy nên người ở bên trong ra ngoài không dễ, mà người ở bên ngoài vào còn vạn lần khó hơn. Mấy bữa nữa em khỏe hẳn ta sẽ đưa em đi một vòng thăm thú, em sẽ nắm được địa thế ngoạn mục nơi này.
- Như vậy quả thực rất ngoạn mục. Thoạt nghe ai cũng tưởng chỉ là một vùng đất nhỏ hẹp, không ngờ ngựa chạy mãi từ nãy tới giờ mà vẫn là ở trong Động.
- Ngốc thật! Nàng phì cười. Vậy thì làm sao mà đóng được cả một doanh trại quân đội với những thành quách vững trãi chứ. Chính địa thế ngoạn mục này đã góp phần đưa quân của ta trở thành một trong những đội quân bất khả chiến bại đấy, em không biết hay sao?
Ta chưa kịp trả lời nàng thì đã thấy xe ngựa dừng lại.
- Tới rồi đó. Nàng nói rồi dắt tay ta ra bên ngoài!
- Chà! Ta khẽ reo lên khi nhìn thấy phong cảnh hữu tình bày ra trước mắt. Chúng ta mấy người giờ đang đứng bên một hồ nước lớn. Lối đi chỗ này được lát đá và trồng hoa hai bên hết sức tao nhã, dẫn thẳng ra một gian lầu xây nổi trên mặt hồ. Phía trong lầu thì cây rừng cổ thụ xòa ra, tỏa bóng xanh mát. Phía ngoài hồ là một đầm sen bát ngát, mênh mông. Mùa này sen đã hết hoa, chỉ còn lại một số gương sen nở muộn và lá sen đã bắt đầu tàn. Nhưng màu xanh của những lá sen vẫn còn tươi lắm. Tất cả cùng rập rờn theo gió, làm cho gian lầu như một ốc đảo nổi giữa một biển lá màu xanh. Bước chân lên lầu mà ngỡ như mình đang đứng giữa chốn bồng lai tiên cảnh. Khắp không gian dìu dịu một thứ hương thơm rất nhẹ. Chính là hương thơm từ hồ sen tỏa ra. Chỉ là hương của lá sen, của thân sen cuối mùa thôi mà cũng thanh tao biết nhường nào.
- Chỗ này tự nhiên mà có hay sao? Ta quay sang Đinh nương hỏi.
- Tự nhiên thì chỉ có cây và đầm thôi. Còn lầu thì ta cho người làm đấy. Ta vẫn hay gọi là Lầu Vọng Nguyệt. Mấy năm trước cưỡi ngựa qua đây, thấy chỗ này bờ đầm vững chãi, cây cối lại xanh mát, xum xuê, nước đầm thì không quá sâu, có thể thả sen, súng được, nên mới nảy ra ý xây lầu ở đây để hóng gió. Tiếp đó nhờ người kiếm được ít củ sen thả xuống, trồng thêm ít hoa cỏ. Thế là thành nơi này. Thư thoảng ra đây ngắm cảnh, cũng khiến lòng được chút thảnh thơi. Ngồi ở đây ngắm bốn mùa xuân hạ thu đông trôi qua, cũng thấy đời có đôi phần thi vị.
- Nơi này quả thực rất thần tiên thoát tục. Đinh nương đúng là có con mắt tinh đời!
- Em lại trêu ta rồi! Chẳng qua muốn có một nơi để có thể tự mình hưởng chút nhàn thôi. Chứ có gì mà thần tiên thoát tục. Ta còn muốn xây ở đây hai, ba gian nhà để khi rảnh có thể ở lại nghỉ ngơi qua đêm nữa. Mùa hè thì có thể nghe tiếng chim quyên gọi bạn dưới tàng hoa sen; mùa thu thì có thể ngắm trăng soi bóng cúc. Nhưng rồi thì xảy ra bao nhiêu, thành ra trì hoãn tới bây giờ vẫn chưa thực hiện được.
Nói chưa dứt lời thì hai nàng hầu của Đinh nương đã bày những khay nhỏ mang theo sẵn ở trong xe lên bàn. Nhìn kỹ thì là chè long nhãn hạt sen và một ấm trà đang ủ kỹ.
- Đã cuối thu rồi mà người vẫn còn bày được những món này thật tài tình quá!
- Cũng chỉ tốn chút công phu gọi là thôi. Đinh nương nói rồi đẩy về phía ta chén chè long nhãn hạt sen - Nào em thử đi. Hạt sen và long nhãn đều là từ cuối hè, đầu thu sai người lựa những gì ngon nhất, đẹp nhất, đem phơi khô rồi cất đi đấy. Đến khi thèm thì mang ra dùng. Tuy không thể ngon bằng đúng mùa nhưng cũng gọi là bớt nhớ nhung đi một chút.
Ta nâng chén chè lên, múc từng muỗng nhỏ, từ từ đưa lên thưởng thức.
Nước chè ngọt mát, thanh dịu. Nhãn ngọt mềm mà không gắt. Hạt sen thì rất bùi và thơm. Vì là mùa kết thúc cũng chưa lâu, hạt sen và long nhãn còn mới cả, nên tuy là đồ khô mang ra dùng, mà cũng chẳng kém đồ tươi là mấy. Hết sức dịu mát và tinh tế.
Ta đặt chén chè xuống sau khi đã dùng hết, cười bảo:
- Đối với kẻ vụng về như tiểu nữ mà nói thì chè quả là đệ nhất thiên hạ! Đa tạ Đinh nương cho tiện thiếp được hưởng ân huệ này!
Đinh nương khẽ đưa khăn lên lau miệng, lườm ta một cái rồi bảo:
- Em thật là phụ mất bao công phu của người khác. Coi em là tri kỉ mới mời em ra đây thưởng cảnh ăn chè, vậy mà một câu đa tạ hai câu ân huệ. Thật là làm người ta cụt hứng quá! Nào thôi, uống trà đi!
Ta đỡ lấy chén trà còn bốc hơi nghi ngút đưa nhẹ qua trước mặt. Hương sen thoang thoảng theo hơi trà tỏa ra, thoáng chốc làm nhẹ nhõm, thanh thoát cả người.
- Ngồi giữa hồ sen, uống trà sen. Cuối thu rồi mà cứ ngỡ như mình vẫn đang ở giữa mùa hạ vậy!
Đinh nương phì cười không nói gì. Hai người lặng lẽ ngồi bên nhau, phóng tầm mắt theo mặt nước mênh mông rộng lớn ở tít xa, mê mải theo đuổi những suy nghĩ của riêng mình. Một lúc, nàng thong thả bảo:
- Nếu không phải em vừa ốm dậy thì ta đã sai người mang thuyền tới, hai chúng ta chèo một vòng quanh đầm thì còn vui nữa. Đinh nương trầm ngâm.
- Hay người cứ bảo mang thuyền tới, em đã khỏe rồi mà!
- Sao như vậy được chứ! Em thấy khỏe nhưng ta thấy chưa. Trông em vẫn còn xanh xao lắm. Ra hồ gió máy, hơi nước sương chiều, rồi em có làm sao ta biết nói thế nào với Tướng công? Không phải vội! Từ giờ tới khi lá sen tàn hết, ta hứa sẽ đưa em đi bơi thuyền một buổi, được chưa?
Ta mỉm cười gật đầu. Nàng lại bảo:
- Thôi, chiều cũng đã xuống rồi. Mùa này mặt trời xuống núi một cái là sương liền dâng lên. Sương lạnh ở nơi hồ, đầm càng không tốt cho người mới ốm dậy. Không nên nấn ná ở đây nữa. Ta về thôi!
Nói rồi các thị nữ lục tục thu dọn ấm chén, bát muỗng, rồi cùng nhau lên xe tiến về doanh trại.
- Đinh nương vào động từ khi nào? Xe chạy được một lúc, ta bèn hỏi nàng.
- Ta vào đây từ năm Ất Mão.
Nàng trả lợi cụt lủn rồi thốt nhiên rơi vào im lặng. Thấy nàng như vậy ta cũng ngồi yên không nói gì. Đưa mắt nhìn qua cửa sổ rèm đã vén cao, thấy cây cối lướt lướt qua như thể chạy lùi về phía sau hết sức vui nhộn.
Đột nhiên nàng cất lời:
- Vào thời gian đó, Thiên Sách Ngô Vương sau khi được Nam Tấn Ngô Vương vời về Cổ Loa cùng trị vì đất nước bỗng trở mặt tiếm quyền, một mặt đẩy Nam Tấn Ngô Vương ra khỏi chính sự, tự mình thâu tóm hết quyền lực; một mặt thì ăn chơi, hưởng lạc vô độ, lơ là việc dân việc nước, nên đời sống nhân dân hết sức chật vật. Các hào trưởng khắp nơi đều chiêu binh, mãi mã hùng cứ từng phương. Ta cùng bốn anh trai cũng đứng ra tuyển quân, lập ra căn cứ của họ Đinh ta ở quê nhà. Lúc đó cũng không phải định đi giao chiến với các hào trưởng khác, ôm mộng bá vương gì; mà chỉ đơn giản là để bảo vệ xóm làng, quê hương, tránh khỏi bị các hào trưởng khác đến chiếm đóng, hay bị các thế lực xấu đến quấy nhiễu mà thôi. Sau đó thì Tướng công cùng bộ tướng Nguyễn Bặc đến, nói rõ ý định của người về việc thu nạp người hiền tại, thâu phục các hào trưởng để thống nhất đất nước, mang lại cuộc sống thanh bình cho trăm họ. Chính vì lý tưởng ấy mà các anh trai ta đã tự nguyện theo người về Hoa Lư. Liền sau đó người xin cưới ta làm vợ để thắt chặt tình gắn bó giữa hai bên.
Ra là vậy - Ta ngồi lặng yên ngẫm nghĩ. Hóa ra cuộc hôn nhân của họ Đinh với nàng cũng không khác gì cuộc hôn nhân với ta. Đều nhắm tới mục đích chính trị, toan tính rõ ràng. Bảo sao khi ta nói tới việc ta chưa từng gặp họ Đinh trước đó, nàng lại thốt nhiên trở nên trầm tư đến vậy. Không rõ với Dương Nguyệt Nương phu nhân thì sao? Còn Đặng phu nhân, người mẹ đã quá cố của Công tử Đinh Liễn nữa..
- Ta nghe nói Đặng Thị phu nhân năm xưa là do cha mẹ Tướng công kén chọn. Như đoán được ý nghĩ trong đầu ta, nàng đột ngột tiếp - Năm đó Tướng công mười sáu tuổi thì phải. Dương Nguyệt Nương phu nhân thì Tướng công thành thân từ dạo còn chưa về với nghĩa phụ Trần Minh Công. Năm đó Tướng công đang trên đường phiêu bạt đi tìm minh chủ, gây dựng lực lượng thì được cha mẹ của Dương phu nhân giúp đỡ về lương thực lẫn tiền bạc. Nhờ đó mà Tướng công đã tuyển được lính, lập ra được những đội quân đầu tiên của mình. Tướng công kết thân với Dương phu nhân cũng vì lẽ đó.
Ta khẽ gật đầu. Không biết nói gì cho phải. Đành im lặng, lơ đễnh nhìn ra phía cửa xe. Nàng cũng im lặng một lúc. Rồi chợt như dứt ra khỏi được những suy tư, nàng ngẩng lên, cầm tay ta cười:
- Dương Nguyệt Nương phu nhân hiện đang sống ở quê, tận vùng Đặng Xá, vùng này do Sứ quân Nguyễn Siêu cai quản. Do cách trở địa phận lại phải lo chăm nom ba nàng tiểu nữ nên chưa tiện về đây ở. Vậy nên mấy năm nay ta ở đây cũng chỉ thui thủi một mình. Quan quân ra vào đông, người hầu kẻ hạ không ít, nhưng ai cũng bận bịu cả. Vậy nên giờ có em về ta vui lắm. Hai chị em ta bầu bạn cho đỡ buồn.
Ta mỉm cười siết chặt bàn tay nàng. Nhìn vào đôi mắt rộng mênh mông và sâu thăm thẳm của nàng, phút chốc cũng thấu hiểu được phần nào những nỗi buồn khổ của nàng.
Họ Đinh vốn ôm mộng bá vương mà cả đời gắn chặt trên lưng ngựa. Mấy năm nay đất nước lại xảy ra nhiều biến động, nên không thể tránh khỏi cảnh chiến trận liên miên. Bởi vậy nàng ở đây chắc cũng chịu nhiều cô quạnh.
Nhưng nghĩ đi cũng phải nghĩ lại, bản thân họ Đinh không biết nghĩ gì về những cuộc hôn nhân này, có thấy hạnh phúc với những cuộc hôn nhân toan tính kỹ lưỡng, mà chắc chắn là không tình yêu này không? Nghĩ rồi lại tự cười mình. Có khi những người như vậy chẳng có thời gian đâu để mà nghĩ đến những chuyện đó. Hoặc đối với những con người có hoài bão to lớn như thế, họ không đặt ra vấn đề yêu đương nam nữ. Hạnh phúc của họ là ở chỗ mộng bá vương của họ thành hay bại. Còn đàn bà với họ, có khi chỉ là một quân cờ trong cả ván cờ mà họ đã dày công bày bố cũng nên.
Mải miên man suy nghĩ, ta rơi vào tâm trạng ủ ê lúc nào không biết. Ngẩng lên nhìn thấy Đinh nương cũng đang lơ đãng nhìn ra cửa sổ xe, tâm trạng trầm tư. Không tiện mở lời nữa. Hai người cứ thế ngồi im lặng trong xe cho tới lúc về thành.
Chừng nửa tháng sau, thì ta hoàn toàn bình phục. Đinh nương bắt đầu dẫn ta đi quanh động, vừa là để nắm được địa thế, địa hình trong động, vừa là để nhận mặt quan quân trong doanh trại, tiện cho mọi việc về sau.
Bấy giờ mới thấy hết được sự ngoạn mục của Hoa Lư Động. Nhớ lại năm xưa nghe chuyện hai Ngô Vương mất gần hai tháng dòng bao vây động mà cuối cùng phải tay không trở về, giờ nhìn tận mắt nhìn ngắm địa thế nơi đây thì thấy, đó không phải là chuyện gì khó hiểu.
Động Hoa Lư là một thung lũng rộng lớn, phía sau là những dãy núi đá điệp điệp trùng trùng vô cùng hiểm trở như những bức tường thành tự nhiên bao bọc; phía trước là Đầm Cút rộng mênh mông, từ đây lại có thể thông ra sông Đáy, tạo thành một con hào tự nhiên rộng lớn bảo vệ Động. Giữa đầm chỉ có một lối vào duy nhất được đắp cao, nơi đó họ Đinh cho xây cổng thành vững chãi, kiên cố. Muốn vượt qua được cổng thành này rất khó. Đấy là chưa kể ngay phía trước cổng thành là cầu nâng bằng gỗ đồ sộ, mà chỉ cần nâng cầu lên thì quân địch chỉ có còn một cách là phải đi bằng đường thủy để sang. Mà để băng qua được đầm tiến vào động trước những vòng phòng ngự chặt chẽ ở ngay trên bờ cũng như ở trong thành là một điều gần như không tưởng. Chẳng thế khi xưa hai Ngô Vương kéo tới mai phục trong hai tháng, họ Đinh rút cầu lên và cố thủ trong động, cũng chẳng cần động tĩnh gì, chẳng cần nghênh chiến mà quân của hai Ngô Vương cũng tự suy yếu. Đến khi mai phục quá lâu, quan quân đều rệu rã vì ăn đói mặc rét, hai Vương đành rút quân mà về.
Ở trên vùng thung lũng bằng phẳng và rộng lớn ở giữa, là nhà cửa, thành quách và doanh trại luyện tập của quân đội, được bố trí hài hòa, đan xen giữa những rừng cây cổ thụ râm mát. Nghe nói khi họ Đinh mới tới lập nghiệp tại động Hoa Lư, ở đây chỉ có lau lách và cây cối rậm rạp, um tùm. Trải qua thời gian dài đóng quân, xây dựng, cải tạo, nơi đây đã trở thành như ngày nay với nhiều cây ăn trái và đất đai canh tác trù phú, xanh tươi.
Từ cổng thành đi vào sẽ phải đi qua một vọng gác. Sau đó đến Khu nhà chính, gồm Đại sảnh đường ở chính giữa để họ Đinh bàn bạc việc lớn, hai bên Đại sảnh đường là nơi ở của các bộ tướng tin cẩn.
Lúc ta qua nơi này thì Trịnh Tú tướng quân đang ngồi bàn bạc việc quân với các bộ tướng trong Động. Họ Đinh mang theo hai thân tướng là Đinh Điền và Nguyễn Bặc đi bố Hải khẩu để lo cho sức khỏe của Nghĩa phụ Trần Minh Công; Đinh Liễn công tử và Lê công tử vẫn trấn giữ vùng Cổ Loa. Lưu Cơ tướng quân thì đang đi khắp các vùng để thu tô thuế, gom lương lực cho quân đội, chuẩn bị cho mùa đông. Trịnh Tướng quân tạm thời cai quản mọi việc binh lược, lo việc canh phòng, bảo vệ Động.
Để tiện cho công việc cũng như cuộc sống về sau, Đinh nương dẫn ta thẳng tới Đại sảnh đường để chào các vị tướng quân.
Thế là lúc này mới được giáp mặt với Trịnh Tú tướng quân.
Mặc dù Trịnh tướng quân là trưởng đoàn rước kiệu hoa đón ta từ ngoài Động khi trước, nhưng khi ấy ta còn là cô dâu mới, phải ngồi kiệu và che mặt. Đến giờ mới vinh hạnh được diện kiện.
Trịnh Tú tướng quân có dáng người cao gầy, làn da sạm đen vì sương gió. Các nét trên khuôn mặt chàng thanh nhỏ, nhưng rắn rỏi và cương nghị. Khi nhìn vào chàng người ta thấy một sự uy nghiêm, đáng tin cậy, tuy vậy vẫn có chút gì đó rất phóng khoáng và tràn đầy ngẫu hứng.
Mới chỉ gặp Trịnh tướng quân lần đầu mà kỳ lạ thay ta đã thấy có cảm giác rất thân thiện và gần gũi. Có lẽ tại nụ cười lúc nào cũng nở trên môi của vị tướng trẻ này.
Hậu cung phía sau là khu nhà ở của gia tộc Đinh Động chủ. Khu nhà được xây dựng theo hình chữ nhật, gồm dãy nhà giữa, nhà Đông, nhà Tây, nhà tả và nhà hữu nằm ở hai bên lối vào. Tất cả các khu nhà đều gồm nhiều căn nhà có nhiều gian, với những vườn cây xum xuê phủ bóng mát, với hoa thơm trái ngọt tỏa hương quanh năm. Chính nhờ những vườn cây này mà tuy nằm giữa một quần thể, từng dãy nhà vẫn như tách biệt và hết sức riêng tư.
Liền ngay sau khu hậu cung là Ban Y phục, nơi đây là nơi ở tập trung của những người phụ nữ khéo tay thuộc mọi lứa tuổi để may trang phục cho quan quân và binh lính, gửi ra xa trường. Các nàng ở đây cũng tham gia trồng trọt, canh tác trên những mảnh đất màu mỡ quanh Thung để tự cung, tự cấp lương thực cho người trong động và cho quân đội.
Bao quanh khu thành quách là khu doanh trại đóng quân và luyện tập của quân đội. Khu vực này nằm rải rác khắp thung gồm cả khu nhà ở, khu đúc binh khí và các thao trường dành cho binh sĩ luyện tập đủ các môn: Từ cưỡi ngựa, bắn cung, cho tới tập võ, luyện đao, luyện kiếm.. Nơi đây không khí luyện tập của quan quân nhộn nhịp cả một ngày. Tiếng đao khiên va chạm nhau, tiếng vó ngựa, tiếng hò hét không dứt cho tới khi bóng chiều buông xuống. Các binh lính ở doanh trại cũng tham gia tăng gia sản xuất vào những giờ không phải luyện tập. Một số người trong bọn họ kết nghĩa vợ chồng với người bên Ban Y phục. Vì vậy cuộc sống ở trong động giống như tại một quốc gia thu nhỏ, rất an ổn và sung túc.
Động Hoa Lư còn có khu căn cứ địa vô cùng hiểm trở là các hang động ở những dãy núi phía sau. Đó là nơi cất lương thảo dự trữ của quân đội. Đồng thời là lối đi bí mật để thoát ra ngoài nếu Động bị vây đánh. Tuy nhiên lối đi bí mật đó như thế nào thì chỉ có một vài người thân tín của họ Đinh biết được. Xưa nay cũng chưa phải sử dụng tới lần nào. Nếu không có người dẫn đường mà đi vào những khu động đó, thì chỉ còn cách bỏ xác nơi rừng hoang, núi thẳm vì đói khát hoặc thú dữ.
Mới thăm thú qua loa được một vài nơi trong Động mà đã hết một ngày. Mặt trời đã bắt đầu xuống núi. Đinh nương lệnh cho xe ngựa nhằm hướng hậu cung thẳng tiến. Trên đường về vừa hay đi qua một khu thao trường gần khu hậu cung đã vắng bóng người luyện tập. Đinh nương bèn nhìn ta cười khúc khích:
- Em có biết cưỡi ngựa không?
- Em có biết một chút. Ta nhìn nàng, trả lời đầy đề phòng, vì lần đầu tiên kể từ khi về đây thấy nàng không còn vẻ nghiêm nghị, mà thay vào đó là nụ cười tinh nghịch như vậy.
Nàng thấy ta có vẻ dè chừng, cười ngất:
- Đang sẵn quần áo nai nịt gọn gàng ở đây, chỉ định rủ em ở đây chơi, cưỡi ngựa một lúc thôi, làm gì mà em phải tỏ vẻ đa nghi như vậy?
- Trông mặt em thể hiện rõ như vậy sao? Ta ngượng ngùng.
- Lại còn không! Trông mặt em thấy luôn được cả gan ruột của em ấy chứ! Ha ha..
Nói rồi nàng sai người đánh xe ngựa về trước, một mặt bảo thị nữ chạy đi báo cho người chuẩn bị hai con ngựa.
Một lúc sau gia nhân đã mang tới hai con ngựa to khỏe, thêm một bộ cung tên. Khi nãy không thấy nàng nhắc gì tới cung tên mà gia nhân lại tự động mang ra, chứng tỏ cái việc cao hứng này của nàng Đinh không phải là hiếm.
Gia nhân vừa trao cương ngựa vào tay, nàng bèn nhảy ngay lên, quất roi cho ngựa phi vun vút quanh sân tập. Trong ánh nắng chiều hoàng hôn đỏ ối của mặt trời gần tắt, chỉ nhìn thấy bụi bay lên mù mịt tung trời, còn nàng thì lao đi như một mũi tên. Tà áo màu lam bay phần phật trong gió.
Bất ngờ nàng cho ngựa dừng ngay lại trước mặt ta làm ta hoảng hồn né sang một bên. Nàng nhìn ta cười vang:
- Em không lên ngựa, còn đứng ngẩn ra đó làm gì?
Ta lục cục trèo lên, bắt đầu cho ngựa chạy nước kiệu quanh sân. Quả thực ta cũng không phải là một tay cưỡi ngựa tồi, đã từng dọc ngang khắp cánh đồng quê nhà vui chơi trên lưng ngựa, nhưng so với kỹ thuật điêu luyện của nàng thật chỉ là múa rìu qua mắt thợ. Nàng lại quất ngựa lao vun vút trước mặt ta.
Đi gần lại phía gia nhân đang đứng, nàng bèn dùng tay ra hiệu. Người đó liền tung cánh cung và ống đựng tên về phía nàng. Trong chớp mắt, nàng đã đỡ gọn trong tay. Cũng nhanh gọn không kém, nàng lắp tên vào cung và bắn. Trong khi ta còn ngơ ngác chưa nhìn ra hướng ngàng ngắm bắn ở đâu, thì đã nghe mũi tên vun vút xé gió lao đi, rồi cắm phập và hồng tâm gắn ở phía cuối sân tập. Nàng lại tiếp tục hai, ba vòng như thế. Không mũi tên nào lệch đích. Ta ngần ngơ nhìn nàng đến nỗi quên cả thúc cho ngựa chạy. Cả người và ngựa chậm dần rồi đứng như phỗng trên sân tập. Nàng áp ngựa lại gần ta, đưa cung tên cho ta và bảo:
- Em có muốn thử một chút không?
- Em.. đâu dám múa rìu qua mắt thợ!
- Thôi nào, vui chơi một chút chứ ta có bảo em phải so tài với ta đâu mà lo chuyện thuyền với thợ.
Nói rồi nàng tung cung cùng hộp tên sang cho ta. Chỉ kịp đỡ cánh cung, còn hộp tên thì rơi lẹt bẹt xuống đất. Đinh nương cười vang. Lần đầu thấy nàng có được nụ cười sảng khoái như vậy.
Ta loay hoay chưa biết xử trí ra sao thì gia nhân đã nhặt tên lên đưa ta. Ta rút lấy hai mũi. Thúc ngựa lại gần bia một chút rồi dương cung lên. Vút.. hụt! Mũi tên bay xa tấm bia vài bước chân. Ta thúc ngựa lại gần hơn chút nữa, rồi cho ngựa dừng hẳn lại. Lần này thì mũi tên đã trúng vào bia ngắm bắn, nhưng còn khuya mới tới được hồng tâm.
Đinh nương và các thị nữ thấy vậy vỗ tay rồi cười vang. Ta thẹn thùng thúc ngựa quay lại phía các nàng đang đứng:
- Em chỉ gọi là biết chút ít do khi trước có nghịch ngợm qua loa thôi. Làm sao sánh được với khí phách bao năm ngồi trên lưng ngựa của người. Người lại còn cười em!
Đinh nương đỡ lấy cung ở tay ta đưa cho người nhà cất đi, rồi chợt như nghĩ ra điều gì nàng mỉm cười, rồi quay sang ta bảo:
- Ta có ý này, sẵn tiện ngựa đây, hai chị em ta đi dạo một vòng không? Cũng lâu không cưỡi ngựa chạy vòng vòng một chuyến rồi. Phi ra đầm Cút mà ngắm hoàng hôn lúc này có vẻ rất là thi vị đấy!
Quả là một ý hay, ta bèn gật đầu luôn.
Đinh nương lệnh cho gia nhân và các thị nữ về trước. Xong rồi quất ngựa lao đi. Các thị nữ can gián một hồi, nhưng biết là không thể ngăn được nàng đành lững thững đi về. Ta theo nàng cũng quất ngựa phóng về phía đầm.
Nhìn Đinh nương gò mình trên lưng ngựa vun vút phóng ở phía trước, ta chợt hiểu, thì ra đây mới là con người thực của nàng. Tự do và sống động. Năm xưa cùng bốn anh chiêu quân mãi mã, lập trại bảo vệ xóm làng, nàng hẳn đã cùng các anh tung hoành dọc ngang trên lưng ngựa. Hẳn là dấu chân ngựa và tiếng cười khoáng đạt của nàng đã vang vọng và in dấu khắp nơi. Không hiểu sao ta bỗng như thấy rõ ràng trước mắt mình hình ảnh tươi đẹp của nàng khi phi ngựa trên những cánh đồng quê ấy. Một nàng Đinh Thục Trinh xinh đẹp, ung dung, tự do, tự tại, hào sảng, mà cũng rất lạng mạn và bay bổng. Về Hoa Lư, nàng như chim trong chậu, cá trong lồng. Lầu son gác tía mà mất đi sự tự do khoáng đạt ấy. Mà suy cho cùng, đó đâu phải chỉ là số phận của nàng, đó chẳng phải cũng là số phận của ta ở chốn này sao? Nghĩ tới đó bỗng thấy lòng buồn thăm thẳm.
Mải suy nghĩ mà bóng nàng đã mất hút phía trước. Ta đành cứ thế mà thúc ngựa theo hướng tiếng vó ngựa và tiếng nàng vọng lại. Một hồi cũng đến được bờ đầm. Đã thấy Đinh nương buộc ngựa ở một gốc cây, còn người thì đang nằm dài trên bãi có sát mép đầm.
Ở chỗ này đầm không có sen. Cây cối cũng không quá xum xuê, rậm rạp, bờ đầm lại rất thoải với một lớp cỏ dày, xanh mượt, rất hợp để ngồi ngắm cảnh.
Ta bước lại ngồi bên cạnh nàng, lặng yên nhìn ngắm mặt hồ phẳng lặng đang ánh lên màu đỏ ối dưới những tia mặt trời cuối cùng. Ở phía tít xa, nơi bờ đầm uốn thành hình vòng cung, có thể nhìn rõ những rặng núi điệp trùng, vượt lên cao bên trên rừng cây xanh, tạo thành hình răng cưa xanh thậm trên nền trời. Không gian rất đỗi yên bình. Chỉ có tiếng hai con ngựa thở phì phò ở phía sau lưng. Một vài tiếng dế và tiếng côn trùng rù rì đâu đó rất đỗi mơ hồ, chỉ làm nổi bật thêm sự tĩnh lặng của cảnh vật.
Ngồi một lúc, ta cũng bắt chước nằm xuống bên cạnh nàng. Ngước nhìn lên bầu trời, mặt trời đã lặn hẳn, chỉ còn một góc trời phía tây ửng đỏ và rộng đến vô cùng. Một làn sương mỏng mảnh đang từ từ dâng lên từ mặt hồ làm đất trời thêm mênh mông. Bỗng nhiên thấy nhớ những ngày tháng tuổi thơ ở Đông Lỗ trang, cũng không thiếu những buổi chiều hè cùng hai nàng thị nữ, nằm ra bãi cỏ trên bờ đê để ngắm nhìn những cánh diều vừa thả trên bầu trời..
- Nói xem ai là người dạy em cưỡi ngựa?
Tiếng Đinh nương bỗng cất lên bên cạnh làm ta khẽ giật mình.
- Sao bỗng dưng người lại hỏi em việc ấy?
- Vậy không được hỏi em như vậy hay sao? Nàng vẫn bình thản hướng mắt lên bầu trời.
- Không phải vậy, em thấy câu hỏi chẳng mấy liên quan tới cảnh vật thôi. Ta đánh trống lảng.
Nàng im lặng không nói gì. Ta tưởng nàng đã quên câu chuyện, lại tiếp tục hướng lên ngắm nhìn bầu trời. Lúc này nếu tinh mắt, đã có thể nhìn thấy một số ngôi sao xuất hiện mờ mờ nhấp nháy trên bầu trời phía đông.
- Là Lê Hoàn tướng quân đúng không?
Nàng lại cất lời. Lần này không phải là ta giật mình vì câu hỏi đột ngột của nàng, mà chính là bốn chữ "Lê Hoàn tướng quân" làm ta choáng váng. Ta cảm giác như có ai đó vừa giáng mạnh vào đầu. Mọi vật xung quanh tối sầm đi trong chốc lát. Ta bật ngồi dậy, nhìn sang nàng, chỉ lắp bắp được vài từ:
- Làm sao.. sao người?
Nàng vốn vẫn đang bình thản hướng mắt lên bầu trời, đến khi thấy ta lắp bắp không nên lời mới đưa mắt nhìn sang ta. Chắc thấy khuôn mặt của ta quá đỗi nhợt nhạt, nàng tỏ vẻ sửng sốt, cũng ngồi bật dậy:
- Sao em phải hốt hoảng như vậy chứ? Ta không đáng tin tưởng như vậy sao?
Nói rồi nàng cầm lấy bàn tay ta - bàn tay lạnh toát mà mồ hôi thì lại túa ra ướt nhẹp.
- Sao.. sao người lại biết?
Cái viễn cảnh Đinh nương biết chuyện giữa ta và chàng, rồi nhiều người khác biết, rồi họ Đinh biết phút chốc choáng ngợp trong trí não làm ta tê liệt cả người.
Đinh nương khẽ vuốt ve bàn tay ta ân cần:
- Em xem kìa, em sợ ta sẽ nói với Tướng công hay sao mà kinh hãi như thế? Em sợ ta sẽ dựa vào đó để gây khó dễ cho em hay sao? Em nghĩ về ta như vậy hay sao?
- Em không.. Ta lí nhí - Chỉ là em quá sợ hãi, không hiểu làm sao người biết nên thoáng chốc mất hết cả lí trí thôi.
- Thực ra ta không biết. Ta chỉ chắp nối và đoán mò thôi. Mấy hôm em ốm ta có ở bên em suốt, em quên rồi hay sao? Khi ốm em có mê sảng, gọi tên huynh ấy mấy lần. Lúc đầu ta còn hoài nghi, sau đó nhớ ra huynh ấy cũng người Đạo Ái, nên ngầm đoán giữa em và huynh ấy hẳn có mối liên hệ. Nay nghĩ ra việc đem chuyện học cưỡi ngựa này ướm thử em. Không ngờ đúng là huynh ấy dạy em thật. Và không ngờ là giữa hai người quả từng có quen biết như ta đã ước đoán.
Ta lẳng lặng gật đầu mà trong lòng thoáng chốc đau như cắt. Đinh nương xiết chặt tay ta, nói:
- Khi nào có tâm trạng hãy tâm sự với ta, chắc sẽ bớt ưu phiền đi chút đỉnh. Còn lại em đừng lo, ta nếu định mang những chuyện ấy để dành lấy lợi thế cho mình, lẽ nào lại đi kể với em như thế này hay sao? Hỏi em cũng là để nhắc nhở em từ nay về sau ở đây cần hết sức cẩn thận. Không ai biết được những gì có thể xảy ra đâu.
Lời nói của nàng làm ta vừa yên tâm, vừa xúc động. Nàng vừa dứt lời mà nước mắt đã lăn dài trên má. Đinh nương đưa tay quệt nước mắt cho ta rồi bảo:
- Thôi nào Tiểu thư, sương ở hồ bắt đầu lên rồi đó, ta cũng nên về thôi.
Ta gật đầu, cùng nàng lên ngựa đi về thành. Một cảm giác biết ơn và một tình cảm sâu nặng với nàng dâng lên ở trong lòng.
Cuộc nói chuyện với Đinh nương bất ngờ làm sống lại tất cả những chuyện cũ. Từ khi biết tin sẽ phải về Hoa Lư làm vợ lẽ họ Đinh, nhất là từ khi về đây, đã gần tháng nay ta cố che đậy tâm tư của mình, không muốn nghĩ chút gì về những chuyện xưa cũ. Nhưng nay tất cả chợt sống dậy, như một mặt hồ yên ả bỗng bị khua khoắng khiến trăm ngàn đợt sóng cuồn cuộn nổi lên không ngừng.
Nằm trên giường trở mình mấy lượt không ngủ được, ta ngồi dậy, lẳng lặng đi ra gian nhà ngoài. Đêm khuya cuối thu đã se lạnh rồi, ta lấy thêm chiếc áo choàng khoác lên vai. Châm thêm mấy cây nến cho sáng, bỏ thêm ít trầm hương vào lò để xua muỗi và côn trùng. Rồi lẳng lặng ngồi ở bên bàn.
Ngoài trời đêm tịch mịch. Khu vườn im phăng phắc một màu đen huyền bí. Một làn sương mỏng mảnh giăng mắc từ ngọn cây này sang ngọn cây kia. Thoang thoảng mùi dạ hương từ ngoài đầu ngõ đưa vào. Một vài tiếng lẻ loi của một loài chim lạ nào đó cất lên lạc lõng giữa đêm khuya rồi biến mất, thốt nhiên khiến lòng ta nặng chĩu. Nước mắt cứ thế lăn dài trên má..
Ta với hai thị nữ của mình sau khi bị ngã, bị bắt và bị phạt một trận nhừ đòn vì tội trộm ổi lần đó đã chừa không bao giờ dám giở mấy trò gian dối tương tự nữa. Nhưng những trò tai quái thì vẫn không thể thiếu và còn ngày càng tai quái, ngấm ngầm hơn.
Mùa hè năm đó chúng ta hay trốn ra một bãi bồi rất rộng ở ngay bên sông Càu Chày để chơi bời, chạy nhảy, thả diều và câu cá.
Một buổi chiều, bọn ta đang chơi trên bãi bồi. Câu cá, thả diều, chọi cỏ gà mãi cũng chán. Vừa lúc ấy thì nhìn thấy gia nhân trong nhà đang dắt hai con ngựa ra đồng cỏ gần đấy để thả. Ta bèn nảy ra một ý nghĩ điên rồ. Ta phi lên trước mặt gia nhân, bảo:
- Lý thúc, thúc cho tiểu nữ mượn con ngựa để tập cưỡi chơi cho vui được không? Ta đang hết trò vui rồi đây?
Lý thúc thúc là một lão nô bộc trông ngựa ở trong Trang, do đã già lại không có con cái, nhà cửa, nên người trong nhà ta hay gọi là thúc thúc vừa để tỏ lòng tôn trọng tuổi tác của thúc, vừa như là một cách gọi thân mật. Nghe ta nói vậy, Lý thúc thúc giật nảy mình, tái mặt:
- Tiểu thư nói thật hay dọa chơi lão già này vậy, mà người lại bảo là mượn ngựa để tập cưỡi chơi cho vui. Cưỡi ngựa có phải là việc đùa được đâu sao lại vui được? Mất mạng như chơi đó Tiểu thư!
- Mất mạng ta cũng kệ, thúc cứ đưa đây ta một con. Tội đâu ta chịu!
- Việc này tuyệt đối không được đâu Tiểu thư! Nếu Tiểu thư muốn học cưỡi ngựa, hãy về bẩm báo với Dương Công, người sẽ cho quan gia dạy cho Tiểu thư tử tế. Chứ không thì nguy hiểm lắm!
- Thúc lo rằng ngựa của thúc sẽ bị nguy hiểm hay sao? Ta cứng giọng.
- Ấy chết! Sao tiểu thư lại nói vậy! Ngựa này dám nào lại là của nô tài. Thần lo là lo cho tính mạng của Tiểu thư thôi!
- Tính mạng của ta tự ta lo, không phiền đến thúc. Được không? - Mặc dù biết tuyệt đối không nên hống hách với gia nhân, nhưng ta không còn cách nào khác, đành sẵng giọng quát lên.
Lý thúc thúc lúc này đã run lên như cầy sấy. Quả là rủi cho thúc chiều nay lại dắt ngựa qua đây để ta trông thấy. Nghe ta quát lên, thúc cứ đứng đó vân vê hoài cái dây cương ngựa mà không biết phải xử trí ra làm sao. Đành tiếp tục nhẫn nại cất lời:
- Nô tài không dám tranh cái với Tiểu thư. Nô tài biết tội rồi. Nhưng thực sự tập cưỡi ngựa mà không có người chỉ bảo nguy hiểm lắm..
- Thôi không cần thúc nói nhiều - Ta quát lên - Thúc hãy mau chóng đưa đây! Hay thúc muốn chết rồi vậy! Ta cố tình gào lên, dù thực sự ta chẳng có cách nào làm cho thúc thúc "chết" đâu nếu như thúc không nghe lời. Nghĩa phụ và nghĩa mẫu ta không phải là kiểu cha mẹ bênh con chằm chặp bất chấp mọi lý lẽ. Không chừng biết chuyện ta cố tình ra oai với người ăn kẻ ở, ta còn bị quở trách cũng nên. Nhưng vì đang quá ham chơi mà ta trở thành như vậy.
Thấy ta cứ hùng hổ xông lại, Lý thúc thúc nhũn như con chi chi, đành buông cho ta dây cương của một con ngựa, xong rồi vội vã lôi con ngựa còn lại tránh đi thật mau cho khỏi tai ương.
Ta với hai thị nữ hí ha hí hửng, nghĩ cách bày trò vui. Ta phân công Ngọc Nhi giữ dây cương ngựa, còn ta với Lan Nhi chạy lung tung khắp nơi hái ít cỏ non đút cho nó ăn. Được một hồi thấy ngựa có vẻ đã quen người, ta bèn bảo hai nàng trông chừng để ta trèo lên tập cưỡi. Ngọc Nhi giữ chặt cương ngựa, còn Lan Nhi đỡ ta trèo lên ngựa, tiếp đó Ngọc Nhi cầm lấy cương ngựa khẽ chầm chậm dắt ngựa đi. Con ngựa dường như cảm nhận được người cưỡi nó không có kinh nghiệm, nên bắt đầu ngoan cố và tỏ vẻ chống đối. Sau đó nó bắt đầu quay vòng vòng xung quanh Ngọc Nhi. Ta bực mình bảo:
- Em sao thế? Dắt con ngựa mà cũng không nổi nữa! Em đưa dây cương đây cho ta!
Con ngựa bắt đầu hí vang vẻ bồn chồn. Ta cầm lấy dây cương giật mạnh một cái thô bạo - ta đâu có biết làm như thế nào để điều khiển một con ngựa cho đúng đâu - kèm theo đó ta bực tức hét lên:
- Đi mau! Đồ láo toét!
Thế là, như giọt nước làm tràn ly, con ngựa chợt hí lên một tràng dài và lao vút đi. Ta thiếu chút nữa là ngã ngửa ra sau, may sao chân quặp chặt được vào bụng ngựa và hai tay kịp thời túm chặt lấy dây cương mà không bị ngã. Tiếng ta la hét thất thanh, tiếng hai thị nữ hốt hoảng chạy theo càng làm cho con ngựa thêm điên loạn. Nó lồng lộn tung vó trước, đá vó sau như muốn hất ta xuống. Ta túm chặt được vào cổ nó mà vẫn bị nó vật qua vật lại như bị bông.
Ta càng hoảng loạn, các thị nữ càng hò hét, thì con ngựa cũng càng trở nên điên cuồng. Sau cùng nó lượn vòng vòng trên bờ sông, gần ngay nơi mép nước, rồi bất ngờ nhấc bổng hai chân trước như thể chổng ngược lên, hất tung ta ra khỏi lưng nó trong một cú hất vó quyết định, dứt khoát. Và rồi.. tùm! Ta rơi xuống dòng Cầu Chày! Khốn thay, ta không biết bơi! Ta ngoi lên ngụp xuống mấy lần trong tiếng la hét thất thanh của hai thị nữ. Nước thộc vào mồm, vào mũi ta cay xè. Ta không thở được. Ta hét lên. Vẫy vùng. Nước lại thộc vào nhiều hơn, chặn ngang họng ta. Đắng ngắt. Bỏng rát. Tất cả mọi thứ xung quanh dần tối xầm. Ta chới với. Rồi ta không biết gì nữa!
Đến khi tỉnh dậy, ta thấy hai thị nữ nước mắt đầm đìa, vừa khóc vừa cười, vừa rèo hò nhảy múa ôm chầm lấy nhau như điên xunh quanh ta. Lý thúc thúc cũng đứng gần đó, không ngừng chấm nước mắt. Còn ngồi bên cạnh ta, đang nhìn ta chăm chú với nụ cười hết sức dịu dàng và nồng ấm - chính là chàng.
Quần áo chàng ướt. Mặt chàng ướt. Mái tóc chàng cũng ướt. Nước từ tóc chàng nhỏ xuống, rớt cả vào mặt ta. Ta biết chính là chàng đã cứu ta. Mãi sau này ta mới biết, chiều hôm đó ta đã quá may mắn khi chàng đang trên đường từ nhà trở lại Võ đường, do trời nắng nóng, chàng muốn đi bộ qua cánh đồng để bơi trên dòng sông một lúc. Vừa hay khi gần đến nơi thì thấy cảnh ta bị ngựa hất xuống dòng sông.
Chậm một lúc nữa thôi chắc xác ta đã trôi theo dòng Cầu Chày rồi.
- Tiểu thư thấy trong người khỏe chứ? Hai thị nữ lúc này mới xúm lại hỏi han ta.
Ta chống tay nặng nhọc ngồi dậy, giọng thều thào:
- Ta vẫn thấy đau rát ở trong ngực và đầu thì biêng biêng. Nhưng chắc là một lát nữa sẽ ổn thôi.
- Tại cô nương bị sặc nước đấy! Vẫn nụ cười hiền hậu trên môi, cùng anh mắt chăm chú, chàng nói với ta rồi quay sang bảo hai thị nữ: Mau đưa Tiểu thư các ngươi về nhà thay quần áo, nghỉ ngơi một lúc là khỏe lại thôi.
- Vâng! Tiểu thư..
- Không được! Ta ngắt lời hai nàng, rồi quay sang chàng - Đa tạ Công tử hôm nay cứu mạng tiểu nữ. Chưa biết khi nào và làm sao báo đáp được. Vậy nên xin Công tử hãy nhận của tiểu nữ một lạy, ngày sau nếu có dịp xin báo đáp.
Ta nói rồi thụp xuống lạy. Hai thị nữ và Lý thúc thúc thấy vậy cũng vội vã quỳ theo. Ta chưa kịp hành lễ chàng đã đỡ ngay dậy:
- Cô nương đâu cần làm thế! Ai thấy hoàn cảnh như vậy cũng sẽ làm như hạ thần thôi. Xá gì đâu mà ơn với huệ. Xin Cô nương không cần bận tâm tới hạ thần, hãy mau chóng về nhà thay đồ, nghỉ ngơi đi.
- Phải đấy Tiểu thư, người ướt hết cả rồi! Hai thị nữ cũng chen vào.
Ta không thèm để ý đến các nàng, đưa mắt nhìn chàng. Không phải chàng cũng ướt hết từ đầu đến chân hay sao? Nghĩ vậy nhưng cũng không tiện nói gì cả, chỉ cất lời bảo hai thị nữ:
- Hai ngươi với Lý thúc thúc muốn chết rồi hay sao mà giục ta về nhà? Giờ về nhà mà cha mẹ ta truy ra, không phải hai ngươi và Lý thúc thúc nhừ đòn hay sao? Lý thúc thúc hãy mau mau đi tìm lại ngựa, nếu về cha ta có hỏi thì nói là sơ xuất để ngựa sổng mất. Còn Ngọc Nhi với Lan Nhi giúp ta hong tóc và quần áo cho khô, chỉnh chang lại chỉnh tề, rồi tối về nhà như thường. Chuyện này coi như chưa từng xảy ra, biết chưa?
- Đúng là giờ mà về thì bọn em chỉ có nhừ đòn. Nhưng ướt như thế này lỡ như tiểu thư ốm.. Ngọc Nhi lí nhí.
- Ngươi thấy ta hay ốm lắm hay sao? Ta ngắt lời - Lý thúc còn không mau đi tìm ngựa, định để nó chạy mất hay sao?
Lý thúc thúc run rẩy lẩy bẩy, cúi đầu:
- Vâng Tiểu thư! Rồi quay về phía chàng: Đội ơn Công tử ngàn vạn lần. Nô tài nghe thấy tiếng hò hét từ xa chạy lại đến nơi đã hay Công tử cứu được Tiểu thư rồi. Nếu hôm nay không có Công tử, chúng tôi chắc chỉ còn nước nhảy xuống sông mà đi với Tiểu thư thôi, chứ còn mặt mũi nào mà gặp Dương Công nữa.
- Thì ra đây là Tiểu thư nhà Chương Dương Công. Hạ thần đã nghe danh từ lâu nay mới có vinh dự được gặp mặt. Nếu có gì thất thố xin Tiểu thư bỏ quá. Giờ hạ thần xin phép được cáo lui.
- Xin cho tiểu nữ được biết tên họ để tiện xưng hô về sau?
- Hạ thần họ Lê, tên Hoàn, hiện đang là môn sinh trong Võ đường Dương Xá nhà ta.
- Ra đây là Công tử Lê Hoàn. Ta cũng nghe danh đã lâu, nay mới được gặp.
Chàng nhìn ta mỉm cười không nói gì, rồi lẳng lặng cúi xuống nhặt tay nải quả mướp và thanh đoản kiếm vứt trên mặt đất - có lẽ chàng vứt vội xuống đó khi lao mình xuống cứu ta.
Đang định dợm bước đi, đột nhiên chàng quay lại:
- Số Tiểu thư có thần linh phù trợ, nên hôm nay mới ngã xuống sông như vậy. Chứ nếu cú hất đó của ngựa mà không phải là rơi xuống sông, thì e giờ này chắc Tiểu thư không còn lành lặn như vậy để mà giấu diếm Dương Công được đâu. Thêm nữa, lần sau cưỡi ngựa, Tiểu thư nhớ bảo người nhà lắp yên vào. Không ai lại cưỡi ngựa mà không có yên như vậy đâu trừ khi là một cao nhân chuyên đi thuần ngựa! Thôi, hạ thần xin phép cáo từ.
Ta đỏ mặt nhìn chàng, khẽ gật đầu cúi chào. Ta chợt nghĩ, chẳng biết nếu không ngã xuống sông thì như thế nào, chứ trong trường hợp này thì chàng mới chính là thần hộ mệnh của ta. Không phải nếu hôm nay không có chàng thì ta đã về chầu hà bá, diêm vương rồi hay sao? Cứ vừa ngẫm nghĩa như thế vừa đứng ngẩn nhìn theo chàng. Bóng dáng đã khuất rồi mà ta vẫn đứng nhìn theo..
Đột nhiên nghe tiếng cười rúc rích của Lan Nhi bên cạnh, kèm theo đó là cái thúc nhẹ cùi trỏ của nàng vào cánh tay ta:
- Tiểu thư, người hóa đá rồi đấy hả? Haha..
Nói rồi nàng phá lên cười. Ta nguýt nàng một cái, rồi đánh trống lảng:
- Tên giặc non nhà ngươi còn đứng đó mà cười đến tối đi. Không lo hong tóc và quần áo cho ta, định để ta cứ thế này mà về cho các người nhừ đòn nát đít hay sao?
Lúc ấy hai nàng mới cuống cuồng giúp ta xõa tóc ra phơi nắng. Rồi cả bọn nghĩ ra đủ trò vui chơi, chạy nhảy, cốt chỉ để cho quần áo của ta nhanh khô. Xong xuôi tới chiều tối mới dám mò về nhà. Kết quả ta và hai nàng bị mắng vì tội mải chơi về muộn, không biết liệu giờ về. Lý thúc thúc thì bị mắng một trận vì tội chăn ngựa không cẩn thận để ngựa xổng ra. Còn lại nghĩa phụ và nghĩa mẫu không hề hay biết về những chuyện xảy ra.
Rồi thời gian cứ thế thấm thoát qua. Ta cũng không nghĩ gì về buổi gặp gỡ đó nữa cho tới khi gặp lại chàng ở sân chùa Giáp Mau. Đến lúc đó ta mới hiểu được trái tim mình.
Hôm đó là ngày mùng một tháng Tám. Bình thường nghĩa mẫu sẽ là người mang lễ lên chùa. Ta vốn tính tình hiếu động, nên những chốn linh thiêng, tich mịch đó ta không mấy hứng thú. Nhưng hôm đó nghĩa mẫu bị cảm lạnh. Thế là ta phải thay người lên chùa lễ Phật.
Ta nhớ hôm đó đã ăn mặc khá là chỉnh tề và chỉn chu. Bên trong thì mặc chiếc áo yếm và váy màu trắng, bên ngoài khoác chiếc áo dài màu xanh có thêu những bông hoa nhỏ li ti màu vàng trên viền áo. Tóc ta vấn cao, bên ngoài đội chiếc mũ miện nhỏ bằng bạc hình hoa sen được chạm trổ cầu kỳ. Hai dải dây buộc miện màu xanh lam đậm ta cố tình buông xuống sau gáy để chúng tự do tung bay trong gió, cho thêm phần yểu điệu. Xong xuôi tự ngắm mình trong gương, cũng thấy xinh đẹp, nghiêm trang, ra dáng con nhà có học hơn những ngày khác bội phần.
Buổi sáng mùa thu trong lành nắng vàng như giót mật. Hương hoa đại thanh khiết trùm phủ khắp không gian. Văng vẳng bên tai là tiếng tụng kinh, gõ mõ đều đều. Khung cảnh ấy làm người đi lễ Phật tự dưng cũng thấy mình trở nên sâu lắng và thanh tịnh. Đến như ta và hai thị nữ hàng ngày chạy nhảy, nô đùa, nghịch ngợm là thế, mà khi bước qua cổng chùa một cái, liền trở nên cẩn trọng và nhẹ nhàng.
Thong thả vào chùa, dâng lễ, cùng hai thị nữ đọc một bài kinh, lạy tạ trước ban thờ Phật. Rồi ta và các nàng vòng ra sân sau chùa, ngồi trên các ghế đá bên hồ sen ngắm cảnh, nghỉ ngơi. Đang ngồi nhìn Ngọc Nhi trêu đùa mấy chú các vàng ở trong hồ tiểu cảnh, nghe hương sen nở muộn cuối mùa đưa vào hết sức tinh khôi, tao nhã thì ta nhìn thấy chàng. Chàng và chừng năm, sau bạn đồng môn trong Võ đường có lẽ vừa lễ phật xong, đang tiến ra đây để nghỉ ngơi trước khi trở về. Trong khi các bạn đồng môn cười nói, trêu đùa hết sức nhí nhố, thì chàng vẫn một cái phong thái đĩnh đạc, điềm tĩnh. Khuôn mặt sáng ngời với hai nét lông mày rậm, vút cao đầy cương nghị. Nụ cười ấm áp và hiền hòa vẫn nở ở trên môi.
Cái khoảnh khắc ấy, khoảnh khắc nhìn thấy khuôn mặt ấy giữa vô vàn khuôn mặt, mà rồi ta không thể nào rời mắt đi được, ta chợt hiểu rằng từ giờ tới mãi mãi về sau, sẽ chỉ có khuôn mặt ấy, nụ cười ấy, hình dáng ấy chiếm trọn tâm trí và con tim ta.
Có lẽ thấy ái ngại vì ta vẫn ngẩn ra nhìn chằm chằm vào chàng, Lan Nhi lại khẽ huých cùi chỏ vào mạng sườn ta, nói:
- Tiểu thư!
Ta bừng tỉnh, bối rối mỉm cười rồi bước lại phía đoàn người, cúi chào rồi hỏi:
- Lê Công tử cùng các huynh đệ đây cũng đi chùa lễ Phật sao?
Việc ta tiến lại chào và hỏi thăm làm các đồng môn của chàng xôn xao như ong vỡ tổ. Người thì thốt lên "Tiên nữ giáng trần", người thì bảo "Con cái nhà ai xinh đẹp vậy mà giờ ta mới được gặp, hầu như tháng nào ta cũng đi chùa cơ mà", người khác lại nói "Thì ra đây là lí do các huynh chăm đi chùa hả? Giờ đệ mới biết đấy!", lại nghe tiếng đáp lại "Đệ đừng nói bậy, bọn ta đây cũng là lần đầu tiên gặp cô nương này mà".
Ta chút nữa đã phì cười vì mấy huynh đệ này. Nếu gặp ở ngoài cánh đồng, chắc ta và các thị nữ đã phải đấu khẩu với các huynh một trận vì ăn nói linh tinh hàm hồ rồi.
Thấy thái độ của ta như vậy, chàng nhẹ nhàng quay sang các huynh đệ, bảo:
- Các huynh đệ đừng nói bậy nữa! Đây là Dương Tiểu thư, con gái của Chương Dương công, ở trang Đông Lỗ đấy.
Nghe đến đây thì các chàng đều im bặt, đưa mắt liếc nhìn nhau. Rồi không ai bảo ai, người trước người sau lại nhao nhao lên tiếng:
- Chúng tôi và Lê huynh đây hay đi chùa lắm, mà sao giờ mới gặp Tiểu thư ở đây nhỉ?
- Tiểu nữ cũng không thường xuyên đi chùa, chỉ thư thoảng mới theo mẹ lên đây nên các huynh ít gặp là phải.
Thấy ta trả lời như vậy, các huynh lại nhốn nháo cả lên với nhau "Thể nào!", "Bảo sao!", "Từ rày về sau Tiểu thư phải chăm đi chùa hơn mới được", "Chúng ta cũng nên đi chùa nhiều hơn thôi!".
Lan Nhi và Ngọc Nhi đứng gần đó thấy các chàng bạo mồm như vậy thì nguýt dài một cái, rồi quay sang bảo ta:
- Ta về thôi Tiểu thư, kẻo lát nữa nắng lên là nóng lắm đó. Mà cũng về mau không Dương công và Phu nhân lại mong.
Chưa kịp nói gì thì một huynh đệ lại bảo:
- Hôm nào Tiểu thư và các nàng sang võ đường thăm chúng tôi một chuyến nhé!
Một người khác lại chêm vào:
- Sắp tới Trung thu rồi đấy, Tiểu thư và các nàng đây có vào thành Tư phố chơi không? Nghe bảo ở trong đó có hát hò với nhiều trò diễn sướng vui lắm, lại có cả mua lân, múa rồng đẹp lắm đó!
Nghe thấy nói tới trung thu, hát hò diễn sướng, Ngọc Nhi quay lại reo lên:
- Thật vậy sao? Vậy các huynh đây có đi không?
- Đương nhiên là có rồi! Một huynh đệ nào đó bạo dạn trả lời - Các nàng mà cũng đi thì vào thành ta đi chung cho vui!
Ngọc Nhi chưa kịp đáp lời thì Lan Nhi đã lém lỉnh quay lại phía các huynh đệ:
- Vậy Lê Công tử có đi không?
- Tất nhiên là có rồi! Các huynh đệ nói rồi người đá chân, người huých cùi chỏ vào chàng ra hiệu: Có phải vậy không Lê huynh?
Chàng phì cười, nụ cười hiền khiến trái tim của bất kỳ cô gái nào nhìn thấy cũng tan chảy, rồi quay sang bảo các huynh đệ:
- Thôi đừng đứng ở đây nói bừa nữa, chúng ta mau về luyện tập thôi! Nói rồi chàng quay sang ta: Tiểu thư và hai nàng cũng nên về đi kẻo Dương công và phu nhân lại lo.
Ta gật đầu cúi chào, bảo:
- Vậy tiểu nữ xin cáo từ trước. Đang định dợm bước đi thì chợt nhớ ra, ta quay lại chàng: Một lần nữa đạ tạ Lê công tử về chuyện lần trước. Xong cùng hai thị nữ rời đi.
Đi một quãng rồi vẫn thấy các huynh đệ huyện náo ở phía sau "Chuyện lần trước là chuyện gì hả Lê huynh, kể cho bọn đệ nghe đi", "Nhà Dương công có Tiểu thư xinh đẹp vậy mà sao giờ ta mới biết nhỉ?", "Hai nàng thị nữ của nàng ấy cũng xinh đẹp chẳng kém", "Mà biết rồi thì làm sao chứ?
Bụm miệng cười mà không dám bình luận gì vì sợ các chàng phía sau nghe thấy. Ta và hai thị nữ im lặng đi một mạch ra khỏi chùa rồi lên xe ngựa về nhà. Lúc đã yên vị trên xe, Ngọc Nhi bèn bảo:
- Các chàng này nghịch ngợm quá! Nhưng cũng có vẻ vui tính. Có các chàng ấy chơi cùng chắc cũng sẽ vui đấy! Từ giờ có lẽ ta nên chăm chỉ sang Võ đường hơn Tiểu thư ạ.
Ta lúc này chỉ muốn được yên tĩnh để đắm chìm trong những hình ảnh của chàng, nụ cười của chàng, ánh mắt của chàng, trong một thứ tình cảm rất ngọt ngào đang dâng lên ở trong lòng nên chẳng thèm đáp lời tiểu nữ ngốc ấy.
Lan Nhi thì lườm Ngọc Nhi một cái rồi nói:
- Ta thấy các chàng ngốc đó chả có gì mà hay. Chuyện hay là chuyện về một số người đã bị hớp mất hồn rồi cơ!
- Chuyện gì? Ngọc Nhi ngơ ngác.
Ta đỏ bừng mặt, nguýt nàng một cái mà không nói gì, vì biết nàng đã đi giày cỏ vào bụng ta rồi nên đấu khẩu với nàng có ích gì.
Nàng xích lại gần ta, khẽ kéo tay áo rồi bảo:
- Chàng cũng bị vẻ đẹp của Tiểu thư hớp hồn rồi. Em dám chắc với Tiểu thư như thế. Lúc bất ngờ trông thấy tiểu thư ở bên hồ, chàng đã sững sờ mất một lúc, nhưng rồi che dấu được ngay. Có lẽ chàng không thể tưởng tượng được cái cô Tiểu thư ướt lẹp nhẹp, tả tơi hôm đó lại có thể trở nên kiều diễm đến vậy. Ha ha..
- Thôi em đừng có nói lăng nhăng nữa! Ta cố tình đánh trống lảng. Nhưng tự mình cũng thấy hai tai và hai má của mình nóng bừng lên.
- Hai người nói chuyện gì vậy, sao em không hiểu? Ngọc Nhi vẫn ngơ ngác.
Lan Nhi dí tay vào trán Ngọc Nhi nói:
- Cái đồ tiểu yêu nhà ngươi chỉ có nói chuyện ăn chơi là nhanh thôi!
- Thật vậy chứ không à? Ngọc Nhi chu môi lên: Tiểu thư, Trung thu này mình xin phép Lão gia và Phu nhân cho vào thành Tư phố chơi đi. Nghe các huynh kể đã thấy đông vui tấp nập rồi.
- Ngươi có giỏi đi mà xin cha mẹ ta! Khéo mà lại nhừ đòn!
- Đúng vậy đấy cái đồ ngốc nhà ngươi ạ! Lan Nhi chêm vào - Ngươi thấy có năm nào chúng ta được vào thành Tư Phố chơi trung thu chưa? Đời nào Lão gia và Phu nhân cho chúng ta đi chơi đêm, lại còn vào tận trong Thành như vậy chứ?
- Phải đó! Em đừng có ở đó mà nói lung tung nữa. Ta hùa vào với Lan Nhi cho xong chuyện.
Ngọc Nhi nghe đến đó thì xìu mặt xuống.
Nhưng nói xong như vậy, ngẫm nghĩa lại lại thấy chính mình cũng buồn phiền vì điều đó. Chàng và các huynh đệ có vào thành chơi mà! Giá ta và hai nàng cũng được vào thì vui biết mấy! Đi chơi cùng chàng trong đêm Trung thu ngắm đèn lồng, ngắm đèn hoa đăng khắp nơi, ngắm trang sáng trên bầu trời thì còn gì tuyệt bằng nữa?
Nhưng đúng là từ bé tới giờ ta chưa bao giờ được đi chơi Trung thu ở trong thành cả.
Năm xưa từ Chương Dương ấp chuyển về cố hương lập nghiệp, nghĩa phụ đã quyết định sống một cuộc đời nhàn tản, không màng thế sự. Bởi vậy người đã cho xây trang Đông Lỗ như một trang trại khép kín trên vùng đất rộng lớn, màu mỡ ngay tại Ấp Giáp mau, bên sông Càu Chày. Tứ bề xung quanh đều được trồng tre hàng hàng lớp lớp tạo thành một bức tường thành tự nhiên, kiên cố, nội bất xuất, ngoại bất nhập. Bên trong Trang, người họ Dương và gia nhân canh tác, cấy cầy, trồng lúa, nuôi gà tự cung tự cấp phần lớn mọi nhu cầu trong Trang. Bởi vậy hoạt động giao lưu và mua bán với bên ngoài rất ít, trừ những vải vóc và một số mặt hàng không thể tự sản xuất được. Bản thân nghĩa phụ không giao du với bên ngoài. Nơi duy nhất người hay lui tới chính là võ đường Dương Xá của dòng họ Dương do tổ phụ Dương Đình Nghệ năm xưa dựng lên. Thời Tổ phụ còn sống Võ đường được chuyển từ ấp Giáp Mau về gần Thành Tư Phố cho dễ bề quản lý. Nhưng sau khi người họ Ngô thay nhau nắm quyền lực, nhất là sau khi nghĩa phụ ta về đây sinh sống, Võ đường lại được chuyển về Giáp Mau, bên cạnh trang Đông Lỗ để tránh phiền hà với các thế lực quan lại trong thành. Hiện Võ đường do thúc thúc Dương Nhị, em họ của nghĩa phụ cai quản.
Chính vì thế mà bản thân ta cũng không được khuyến khích giao lưu với bên ngoài. Ngày thường, nếu có vào các xóm chơi hay là ra cánh đồng chạy nhảy, nghịch ngợm đều là trốn đi mà thôi. Đầu năm mới hoặc vào các dịp đặc biệt trong năm như Tết Thanh minh, Tết Trung thu.. chúng ta cũng có thể tới các lễ hội, chùa chiền để vui chơi, nhưng cũng hết sức hạn chế, chỉ loanh quanh trong ấp Giáp Mau mà thôi. Ngay như thành Tư Phố bản thân ta cũng chỉ đi vào đó có vài lần cùng nghĩa mẫu và gia nhân để mua một số trang sức và vải vóc. Nhưng cũng chỉ là ngồi trên xe ngựa tới thẳng tiệm hàng của người quen rồi về, chứ nào được vui chơi la cà ở đó?
Bởi vậy tối trung thu mà muốn vào tận thành chơi quả là điều không tưởng.
- Chà, như vậy thì buồn lắm đây! Ngọc Nhi bỗng nhiên thở dài một tiếng.
- Cái gì mà buồn? Ta và Lan Nhi cùng đồng thanh.
- Thì không được vào thành Tư Phố chơi trung thu ấy. Bao năm nay rồi mình đã đón trung thu ở tại Đông Lỗ. Năm nay lớn rồi phải khác chứ nhỉ!
Ta chút nữa phì cười vì cái ý nghĩ" năm nay lớn rồi"của nàng. Nhưng vẫn ra vẻ nghiêm nét mặt:
- Thôi hãy quên chuyện đó đi kẻo cha mẹ ta mà nghe thấy thì ta và Lan Nhi không chịu đòn chung với người được đâu.
Miệng nói Ngọc Nhi hãy quên chuyện đi vào thành Tư Phố chơi trung thu đi, nhưng chính ta lại là người nhắc nhỏm, xin xỏ với nghĩa mẫu việc vào thành ấy. Ý nghĩ tới đó sẽ được gặp chàng thôi thúc ta mãnh liệt. Nếu chỉ có đèn, hoa, có trò diễn sướng múa lân thì ta cũng chẳng quan tâm. Nhưng ở đó ta sẽ được hít chung bầu không khí với chàng, được nhìn thấy bóng dáng chàng, khuôn mặt chàng, được thấy nụ cười ấm áp của chàng.
Những viễn cảnh ấy, hình ảnh ấy cứ diễn đi diễn lại trong đầu ta hàng ngàn lần không biết chán, khiến ta trở nên nôn nóng, quyết tâm thuyết phục nghĩa mẫu cho bằng được.
- Ai bày cho con, sao tự dưng con nghĩ ra cái việc ấy? Lại đám gia nhân xúi bẩy đúng không? - Nghĩa mẫu giật minh hỏi - Bao năm nay rồi chúng ta có vào đó trung thu, lễ hội gì đâu, sao giờ con lại muốn như vậy?
- Thì chính vì bao năm rồi mình chưa vào nên giờ con mới muốn chứ. Tự con nghĩ ra thôi chả ai bày cho cả. Nếu đã vào đó rồi, biết rồi thì con còn vào đó làm gì nữa. Năm nay con cũng đã lớn rồi, nghĩa mẫu cũng phải cho con đi chơi một lần cho biết đó biết đây gọi là chứ? Ta nũng nịu nắm lấy cánh tay của nghĩa mẫu.
- Không được đâu con! Đêm hôm vào tận trong thành nguy hiểm lắm. Những nơi như vậy lại hết sức phức tạp và rắc rối, con không nên đến làm gì.
- Thì ngưuời cho gian nhân đưa con và hai thị nữ đi là được mà! Gia nhân của nhà ta chẳng phải đều là môn đệ của Võ đường Dương Xá hay sao? Vậy mà lại không thể bảo vệ cho Tiểu thư của mình đi chơi lễ hội một buổi hay sao? Hơn nữa chùng con sẽ ngồi trên xe ngựa, thong thả ngắm cảnh một lượt sau đó sẽ về, tuyệt đối không xuống khỏi xe, thì làm sao có gì mà phức tạp với nguy hiểm cơ chứ?
- Không thể được con ạ. Con biết đấy, từ khi về đây chúng ta rất ít giao lưu với bên ngoài. Cả ta và cha con đều muốn con tránh xa khỏi những nơi thị phi, ồn ào ấy.
- Thì con và thị nữ cứ ăn mặc đơn giản như con những nhà thường dân, ngồi trên xe mà đi, thì làm sao mà xảy ra việc gì được cơ chứ.
Thấy nghĩa mẫu có vẻ đã bắt đầu đuối lý, ta chuyển sang đấu dịu, bèn quàng tay quanh cổ người, rồi nũng nịu:
- Con cũng đã mười ba tuổi rồi. Cha mẹ cũng phải cho con ra ngoài dần cho quen, mới mong sau này kiếm được chàng rể tốt cho cha mẹ chứ. Nếu cứ quanh quẩn ở trong nhà mãi thì sau này biết làm sao đây?
Nghĩa mẫu xửng xốt một chút, bảo:
- Thời gian trôi nhanh thật! Thoắt một cái Nga Nhi nhà ta cũng đã mười ba tuổi rồi. Đúng là chẳng mấy chốc nữa là phải tính tới chuyện gả chồng rồi..
Nói đến đó nghĩa mẫu bỗng trở nên trầm ngâm. Rồi sau đó người bỗng dưng thay đổi thái độ, quay qua ủng hộ việc ta đi chơi Trung thu một chuyến ở trong thành với điều kiện có gia nhân đi kèm hộ tống. Chính người đã nói giúp với nghĩa phụ để người đồng ý cho ta đi.
Có lẽ tại thời điểm đó người chợt nhận ra ta đã lớn thật rồi. Không nghĩ là ta sẽ kiếm rể chọn chồng được đâu. Nhưng có lẽ người biết, dù thế nào thì những ngày vui chơi tự do của ta cũng không còn nhiều nữa..
Thế là Trung thu năm ấy ta và hai nàng được một phen chộn rộn.
Chúng ta háo hức chờ tới Trung thu tới mức chơi những trò thường ngày cũng cảm thấy kém vui đi phân nửa. Mà thời gian nửa tháng chao ơi cứ là dài dằng dặc. Trong khi đó trời thì cứ lúc mưa gió, lúc bão sụt sùi làm chúng ta như ngồi trên đống lửa sợ ngộ nhỡ trời mua đúng hôm Trung thu thì thật là..
Mọi năm Trung thu trời mưa hay tạnh ráo? Ta không nhớ nổi nữa. Nhưng năm nay lá phổi của chúng ta cứ phập phồng trồi sụt cùng với những cơn nắng cơn mưa.
Đến đúng ngày Trung thu, vào buổi chiều trời mưa rào một trận. Ta và các nàng thị nữ thiếu chút nữa thì khóc. Ấy vậy mà may sao, đến cuối giờ Thân trời bỗng tạnh, mây quang đãng. Thế là ta và các nàng ba chân bốn cẳng vội vàng chuẩn bị đi chơi.
Tuy vậy chúng ta cũng không phải chuẩn bị gì nhiều, vì theo lời nghĩa mẫu, ba người đều ăn mặc, phục sức rất giản dị, không mang theo đồ trang sức vàng bạc.
Đi theo trên xe có ba gia nhân, đều là những người thân tín, võ nghệ cao cường để bảo vệ cho ta và hai thị nữ.
Xe ngựa đi chừng một canh giờ, băng qua cầu Sông Chu, đi thêm một đoạn đường nữa thì tới Thành Tư Phố.
Màn đêm vừa bắt đầu buông xuống, mà Thành đã rực rỡ hoa đèn, rộn ràng náo nhiệt. Quả không hổ danh là thành trì sầm uất nhất vùng Ái Châu.
Nhà nhà hai bên đường đều giăng nhiều đèn lồng sặc sỡ. Lũ trẻ trong thành đứa thì cầm đèn sao, đứa thì cầm đèn kéo quân, đèn hạt bưởi đủ mọi hình dạng, kích cỡ đi lại, túm tụm ở trên phố khiến đường phố thêm nhộn nhịp và lung linh, lấp lành.
Nam thanh nữ tú thì phục sức lộng lẫy, rủ nhau tụ tập nói chuyện, tán tỉnh. Người già thì thong thả đi lại xem xét, mua sắm hàng hòa. Các gánh hàng rong bán bánh kẹo, hoa quả xiên thì hò hét inh ỏi, chào mời ở bên đường. Quả là một cảnh tấp nập, đông vui hiếm thấy với ta và các nàng từ Đông Lỗ tới.
Càng về đêm, phố phường càng tấp nập. Mọi người bắt đầu tụ tập lại để chờ xem múa hát, diễn sướng, múa rồng và múa lân. Xe ngựa không đi lại được nữa vì quá đông đúc. Ta và gia nhân phải buộc nhờ trong một ngõ nhỏ gần cửa hiệu vải ta và nghĩa mẫu vẫn tới mua hàng, rồi đi bộ xem hội. Lúc này ta chợt nhận ra một điều: Giữa biển người mênh mông như thế này biết chàng và các huynh đệ bên Võ đường đang ở đâu. Rồi đột nhiên nhận ra mình thật ngốc nghếch. Vì háo hức với ý nghĩ sẽ được gặp chàng mà ta không tính đến việc này. Ta và các huynh đệ bên đó có hẹn hò gì đi đâu, gặp nhau ở đâu đâu nhỉ? Mà không hẹn hò thì làm sao tìm được chàng giữa biển người mỗi lúc một đông đúc này.
Càng đi, càng xem, phố phường càng như nêm như cối thì ta càng thấy tuyệt vọng. Vì phố phường có nhộn nhịp, vui tươi đến mấy mà cái bóng hình ta muốn thấy không xuất hiện thì đều chẳng còn nghĩa lý gì nữa. Những nhiệt huyết cho chuyến đi bắt đầu giảm dần.
Vừa khi đó người đi lễ hội bỗng nhao nhao lên, dạt hết sang hai bên đường. Ta và các nàng cùng gia nhân không rõ vì sao, cũng chỉ biến đứng lẫn giữa phố ngó nghiêng, ngóng chờ. Hóa ra là đoàn biểu diễn rồng và lân đang đi dọc phố.
Đi đầu đoàn là một người đóng giả làm chú tễu đeo cái mặt nạ gỗ cười toe toét, với cái bụng độn rơm phệ ra trông hết sức vui nhộn. Chú tễu đi đầu, tay cầm cái quạt, vừa phe phẩy, múa may. Có khi chú quay lại trêu chọc các con lân, rồng, cùng nhau nhảy nhót theo nhịp chống nhịp phèng rất vui mắt.
Các con rồng và lân đều được trang trí rất công phu. Riêng rồng thì dài có khi đến vài vài thước. Phải đến gần chục người cùng nhau mới điều khiển được nó. Lúc thì nó lượn như sóng biển trập trùng, lúc lại cuộn xoáy như gió lốc, khi nó ghé vào hai bên đường trêu ghẹo người dân làm mọi người được một phen vừa thích thú vừa sợ hãi, thi nhau hú hét váng trời.
Ta và các nàng bị hớp hồn vào đoàn diễu hành, phút chốc quên đi nỗi chán nản ở trong lòng, cũng không ngừng hò hét, vỗ tay cổ vũ.
Đoàn diễu hành sắp đi qua phía trước, thình lình con rồng quay đầu lại phụt ra một ngọn lửa dài về phía góc đường nơi ta và gia nhân đang đứng chen chân cùng mọi người. Lửa phun ra bất ngờ khiến những người đứng ở khu vực này giật mình hoảng loạn, ù té chạy dạt sang hai bên làm cho người nọ ngã dúi dụi lên người kia, người này xô đẩy, đâm sầm vào người khác hết sức hỗn loạn. Trong khi đó thì ở xunh quanh lại dậy lên tiếng vỗ tay tán thưởng cùng tiếng cười sảng khoái vì cảnh tượng ấy.
Ta và hai nàng thị nữ cũng không tránh khỏi tình cảnh trớ trêu trước sự xô đẩy của đám đông. Khi định thần lại thì thấy đều đang nằm ngổn ngang trên đường, người khác thì ngã đè lên mình còn mình lại vắt vẻo trên người người khác.
Ba gia nhân vì là con nhà võ nên kháng lại được, vội vàng tiến lại nâng ta và các nàng lên.
Vừa kịp đứng dậy, đang chỉnh trang lại trang phục thì liền nghe vang lên sau lưng tiếng quát tháo:
- Các ngươi là ma quỷ xứ nào sao dám xô ngã bổn cô nương! Các ngươi muốn chết rồi hay sao!
Ngẩng lên nhìn, thì thấy một tiểu cô nương rất xinh đẹp, phục sức lộng lẫy và sang trọng, theo sau là hai nàng hầu cũng ăn bận rất cầu kỳ. Có lẽ là con một vị quan lại hoặc một lái buôn nào đó trong Thành.
Chưa định thần lại được, ta với hai thị nữ cứ đứng ngây ra nhìn làm tiểu cô nương kia càng thêm bực nội, sừng sộ tiến lại:
- Bổn cô nương hỏi mà các ngươi câm hết rồi hay sao? Ai cho phép các người xô ngã bổn cô nương! Các ngươi chán sống rồi phải không?
Ra vậy! Tiểu cô nương này vừa bị ta và hai thị nữ vô tình ngã đè lên người. Giờ nàng bất bình vì việc ấy. Nhưng rõ ràng đây chỉ là một tai nạn ngoài ý muốn. Chính bản thân bọn chúng ta cũng bị những người khác ngã xô vào người và các nàng thì cũng dúi dụi vào người khác. Vậy sao các nàng lại làm ầm lên như vậy? Phải chăng các nàng cố ý gây hấn với người ta?
Hiểu ra vấn đề, Ngọc Nhi vùng lên. Có lẽ nàng ta định đôi co với các nàng một phen. Nhưng ta đã nhanh tay túm nàng lại, gằn giọng:
- Ngọc Nhi!
Nghe ta nói và nhìn vào ánh mắt ta Ngọc Nhi dừng sững lại. Nàng sửng sốt vì bị bắt nạt một thì bất ngờ vì bị ta chặn lại hai. Bình thường gặp những việc như thế này ta sẵn sàng cầm đầu hai nàng lao vào hỗn chiến với đối thủ ngay. Và theo ta nhớ được thì ta và hai nàng đã chiến thắng tám phần mười các cuộc chiến rồi.
Tuy nhiên lần này, một là vì cũng chẳng còn hứng thú gì; hai là nghĩ đã phải rất khó khăn mới xin được nghĩa phụ và nghĩa mẫu cho tới đây để chơi, vậy mà còn gây chuyện thì đừng hòng có lần sau; ba là các nàng dám lộng hành, hống hách như vậy thì chắc chắn nhà các nàng phải ở trong Thành, ăn mặc trang sức như thế thì tức là nhà quyền quí, trong khi Đông Lỗ thì cách đây hàng chục dặm, nước xa có cứu được lửa gần thì ta và hai nàng cũng đã bầm dập rồi. Có ba gia nhân đi theo, nhưng ba người thì dù có giỏi giang đến mấy cũng làm sao đánh được cả nhà họ nếu họ kéo hết ra.
Nghĩ thế, nên ta dứt khoát gạt phắt Ngọc Nhi sang một bên, trừng mắt nhìn nàng một cái nữa cho nàng im lặng rồi tiến lại, chắp tay, cúi đầu bảo:
- Bọn tiểu nữ mải chơi vô ý, đã làm kinh động đến Tiểu thư, bọn tiểu nữ thành thật xin lỗi. Mong Tiểu thư bỏ quá, không trách phạt bọn tiểu nữ!
- Lũ nhà quê các ngươi! Cứ đâm xầm vào xô ngã người ta xong xin lỗi là xong ư? Như thế ở trên đời hỏi còn có tôn ti trật tự gì nữa? Tiểu cô nương xinh đẹp vẫn hùng hổ quát lên.
Tôn ti trật tự gì? Ta nghĩ thầm trong bụng. Là một tai nạn không ai mong muốn và ta đã phải cúi mình xin lỗi nàng. Vậy mà nàng còn không bằng lòng, cứ nhất định phải làm căng lên là sao?
Quay nhìn ra xung quanh, thấy một số người đi chơi tết Trung thu thấy cuộc đôi co giữa đôi bên đã bắt đầu tò mò vây lại. Phải chăng nàng nhất định phải thị uy ra oai trước đám đông một trận mới được hả dạ? Nàng định làm cái trò gì để diễu võ dương oai đây?
Ta còn đang suy nghĩ, chưa kịp mở lời, còn tiểu cô nương xinh đẹp cũng chưa kịp động tĩnh gì thì một giọng cười đã vang lên:
- Lưu tiểu thư, người ta đã xin lỗi rồi, hà cớ gì nóng giận như vậy? Hôm nay là ngày Tết Trung thu, trời đẹp trăng sáng, lễ hội tưng bừng như thế này, thiết nghĩ cũng nên bỏ qua cho người ta để giữ hòa khí chung mới phải chứ?
Mọi người theo hướng tiếng nói quay đầu lại nhìn. Tiến vào là hai chàng Công tử khôi ngô. Chính là hai môn sinh của Võ đường họ Dương - hai chàng này ta đã gặp ở chùa cùng Lê Công tử.
Các nàng kia thấy hai chàng Công tử tuấn tú khôi ngô xuất hiện mở lời như vậy, thành ra ngượng ngiụ, loay hoay chưa biết xử trí ra sao. Mọi người xung quanh thì bắt đầu xúm vào:
- Phải đó Lưu Tiểu thư, các Công tử nói đúng đó, bỏ qua cho người ta đi để đôi bên cùng vui vẻ. Ngày Tết ngày Lễ cũng nên dễ tính chút mà!
Thấy nhiều người lên tiếng, Tiểu thư họ Lưu đâm ra lúng túng. Bọn ta trong phút chốc cũng đứng như trời trồng ở đó.
Thấy vậy một Công tử tiến lại gần ta, nói nhỏ:
- Dương Tiểu thư không mau đa tạ rồi đi đi thôi, còn đứng chờ gió xoay chiều nữa hay sao?
Ta lúc ấy mới giật mình như người tỉnh mộng, lại cúi đầu, chắp tay:
- Đạ tạ Tiểu thư cùng các cô nương đã bỏ quá. Tiểu nữ và gia nhân không dám làm phiền người nữa, xin phép cáo từ.
Nói rồi rẽ đám đông đi ra. Gia nhân cùng hai huynh đệ tại Võ đường cũng nối bước theo sau. Đến khi đã đi xa một đoạn, chắc chắn rằng đã khuất mắt các nàng họ Lưu, ta mới quay lại bảo hai Công tử:
- Đa tạ hai Công tử đã giúp tiểu nữ. Nếu hôm nay không có hai Công tử, không biết tiểu Cô nương kia sẽ dở trò gì. Nếu việc ầm ĩ lên, lại đến tai cha mẹ ta, e là sẽ rất phiền phức.
- Dương tiểu thư khách khí như vậy mà làm gì. Nhưng cũng phải nói là Tiểu thư rất may mắn vì hôm nay dẹp được vụ này, không thì sẽ rắc rối to đó. Lưu tiểu thư này là con của lão Lưu Bao, dân trong vùng hay gọi với biệt danh là Lưu Bao Gạo vì là đầu mối buôn gạo của cả thành. Do nắm trong tay mọi mối hàng, nên các nhà buôn nhỏ lẻ trong thành đều phải qua tay lão Lưu này cả. Vì gia đình có thế lực và giàu có như thế, nên Lưu tiểu thư dù tuổi còn nhỏ mà đã ngổ ngáo và ương bướng lắm. Gây ra không biết bao nhiêu trò tai quái rồi. Dân trong thành Tư Phố ai mà không biết chứ.
Ra là vậy. Bảo sao nàng lại cư xử như thế.
- Năm nay nàng ấy bao nhiêu tuổi rồi? Ta hỏi hai Công tử.
- Mười một, mười hai gì đó thì phải. Là con một của nhà họ Lưu nên được nuông chiều dữ lắm.
Vậy là nàng nhỏ hơn ta một ít. Tuy nhiên cũng chẳng lấy gì làm bất ngờ. Thực tình mà nói thì nàng cũng giống ta thôi. Vì ta và hai thị nữ của mình cũng chẳng từng gây ra bao nhiêu trò ăn hiếp người khác rồi đấy thôi? Lạ là dạo gần đây những trò bốc đồng tai quái như thế không còn khiến ta hứng thú nữa.
Thấy ta im lặng suy tư một hồi hai chàng liền bảo:
- Bọn hạn thần định đi lấy ngựa để về Võ đường bây giờ vì phải dậy sớm để tập võ. Dương Tiểu thư có về cùng không?
- Có chứ, tiểu nữ cũng đang định về luôn đây.
Nói rồi bảo gia nhân đi lấy xe và hẹn hai chàng ở ngoài cổng thành rồi về cùng. Dù sao ở đây cũng chẳng còn gì vui nữa. Mà đi cùng hai chàng biết đâu lại hỏi được ít tin tức gì về Lê Công tử.
Có Phạm Cự Lượng công tử và Trịnh Hàm công tử đi cùng đường về ấp Giáp Mau vui nhộn hơn hẳn. Thì ra nhà Trịnh công tử ở trong thành, nhân dịp Tết trung thu rủ Phạm công tử về nhà chơi, đoàn tụ với gia đình, chứ cũng không phải là chủ ý vào thành xem lễ hội. Phạm công tử vốn là người Đằng Châu, vì mến mộ môn võ bí truyền của Võ đường Dương xá mà tìm đến đây để học tập. Hai Công tử chính là những huynh đệ rất thân tín của Lê Hoàn Công tử.
- Vậy các huynh đệ khác trong Võ đường có đi không? Ngọc Nhi nghe nói thế bèn hỏi các chàng qua cửa sổ xe để ngỏ đã vén cao rèm che.
- Có chứ, nhiều huynh đệ có xin Dương sư phụ cho vào thành chơi Tết lắm. Nhưng chúng tôi đây mục đích chính là về thăm nhà, nên cũng không đi cùng với các huynh đệ ấy. Không rõ giờ họ đang vui chơi ở đâu nữa.
- Lê Hoàn Công tử đó đi không? Lan Nhi liếc nhìn ta đầy ẩn ý rồi cất lời.
- Lê huynh còn bận cùng với Dương sư phụ cúng rằm. Công tử hiện đang là Trưởng tràng nên phải phụ giúp Sư phụ nhiều việc. Hơn nữa nghĩa phụ của Lê Công tử vừa mới qua đời được hơn một năm nay, vì thế huynh ấy tạm thời không mấy hứng thú với những nơi đông người, hội hè náo nhiệt.
Nghe Trịnh Công tử nói vậy ta mới thấy mình rõ thật là ngốc nghếc. Chuyến đi này chỉ có một mong muốn là được trông thấy chàng, vậy mà cũng coi như công cốc rồi. Nghĩ tới đó, trong lòng bỗng trở nên ủ dột, chẳng còn thiết tha gì nữa.
Trời càng về khuya trăng càng lên cao, ánh sáng càng mênh mông bát ngát. Cả không gian được bao trùm bởi một thứ anh sáng lấp lánh, mơ màng, như thể muôn vảy vàng vảy bạc không rõ từ chốn thiên đàng nào cùng nhau theo gió cuộn bay khắp muôn phương.
Ra khỏi Thành nhà cửa dần thưa thớt. Thay thế vào đó là những cánh đồng lúa bao la, trải xa tít tắp tận chân trời. Đây đó một vài dải núi đá vôi nổi lên đen thẫm giữa biển lúa. Thảng hoặc hiện lên một vài xóm làng nép mình dưới những rặng tre, những lùm cây thâm trầm đang chìm trong giấc ngủ dưới ánh trăng trong.
Giữa cảnh yên bình, nên thơ ấy chợt mong ước giá ta có thể cùng người kề vai bên nhau đứng giữa đất trời, im lặng mà ngắm nhìn khắp cả thế gian tươi đẹp dưới ánh trăng sống động này.
Nói chuyện với hai Công tử mới biết hóa ra Lê Công tử cũng thân bồ côi bồ cút như ta. Cha mẹ chàng nghèo khó mất sớm vì bệnh tật. Thấy chàng sáng dạ, khôi ngô, quan Giám sát ở trong Thành Tư Phố mới nhận về nuôi, cho học chữ, lại cho tới Võ đường nhà ta theo học võ. Cách đây hơn một năm, ngài Lê Giám sát qua đời. Thế là chàng lại trở thành kẻ thân cô thế cô một lần nữa. Chính vì lẽ đó hơn một năm nay chàng lánh xa những chốn hội hè, tấp nập. Nơi chàng hay đến nhất chính là chùa Giáp Mau ở trong ấp, nơi ta đã gặp chàng.
Nghe câu chuyện của hai Công tử, phút chốc thấy vừa xót xa, vừa gần gũi. Lê Hoàn Công tử! Lê Hoàn Công tử! Ta không ngừng nhắc thầm tên chàng mà trong lòng dâng lên bao nhiêu cảm xúc rối bời..
Chẳng mấy chốc ấp Giáp Mau đã hiện ra xa mờ dưới anh trăng trong văn vắt. Băng qua cánh đồng là sẽ tới Võ đường. Đi qua võ đường một chốc là tới cổng vào Trang Đông Lỗ. Tuy tất cả đều mờ ảo dưới ánh trăng huyền bí, nhưng ta có thể tưởng tượng ra mọi thứ rõ mồn một như dưới anh sáng ban ngày.
Vì sắp về tới nhà sau một chặng đường dài, nên mọi người có phần mệt mỏi. Các câu chuyện bắt đầu thưa nhạt dần. Chính vì thế, hoặc vì không gian quá đỗi yên bình, tĩnh lặng dưới ánh trăng, mà khi đi qua cánh đồng, mọi người đều nghe thấy văng vẳng trong làn gió nhẹ mùa thu tiếng sáo hết sức du dương, trầm bổng. Khi thì mau, khi thì thưa. Khi thì khoan, lúc thì nhặt. Khi thì cao, lúc lại thấp. Khi trong trẻo, lúc lại u trầm. Khi thì như rõ ràng mà lúc lại như mơ hồ, ảo huyễn, rất đỗi mê hoặc.
Tò mò ta ghé qua cửa sổ để nghe cho rõ hơn, rồi quay lại hỏi các nàng:
- Các em có nghe thấy tiếng sao không?
- Có, tiểu nữ cũng nghe thấy. Đôi khi rất rõ ràng nhưng đôi khi lại rất mờ hồ. Bởi vậy còn đang nghi hoặc không dám hỏi, hóa ra Tiểu thư cũng nghe thấy sao.
- Ha ha.. Phạm Công tử cưỡi ngựa ở gần xe nghe thấy cuộc nói chuyện giữa ta và các thị nữ bèn cất tiếng cười lớn - Đó chính là tiếng sao của Lê huynh đấy. Thư thoảng rảnh rỗi hay có tâm trạng, huynh ấy vẫn hay ra bờ sông Cầu Chày ngồi thổi sáo mà. Đi một đoạn nữa, đến gần võ đường, hạ thần sẽ chỉ cho Tiểu thư và các nàng chỗ huynh ấy hay ngồi. Tiếng sáo của huynh ấy thì khắp vùng này hạ thần nghĩ không ai sánh kịp đâu!
- Vậy sao? Cả ta và các nàng đều tò mò nhìn ra ngoài cửa xe. Cái tên Lê Hoàn được nhắc tới làm ta thấy xáo động trong lòng.
Xe ngựa chạy thêm một lúc thì Võ đường Dương Xá đã hiện ra trước mắt. Phạm Công tử bèn ra hiệu dừng lại rồi phóng tầm tay chỉ ra hướng sông Cầu Chày. Ở tít xa đó dưới gốc một cái cây to đơn lẻ có dáng một người ngồi đó, trên những tảng đá lớn.
- Ta cùng ra đó nghe Lê Công tử chơi một bài rồi hãy đi về chứ Tiểu thư? Ngọc Nhi bỗng cất lời. Lần đầu tiên từ khi ta biết nàng đến giờ mới thấy nàng nói một cái gì đó mà lại đúng lúc, đúng chỗ như vậy. Nhưng ta chưa kịp trả lời thì đã nghe tiếng gia nhân cất lời khuyên giải:
- Cũng đã khá khuya rồi, Tiểu thư nên về nhà kẻo Lão gia và Phu nhân mong.
- Đi thưởng ngoạn Trung thu thì càng về khuya trăng càng lên cao càng đẹp đẹp chứ. Không có gì đâu, các người đừng sợ. Hãy cho xe về trước, ta xuống đó chơi một lúc rồi sẽ bảo các Công tử đây đưa về.
- Dạ không được Tiểu thư! Nếu như vậy tội bọn hạ thần còn nặng hơn. Vậy Tiểu thư và các Công tử đây cứ xuống đó chơi, bọn hạ thần sẽ đợi - Nói rồi quay sang Phạm Công tử và Trịnh công tử: Nhờ các Công tử đây trông chừng nhắc nhở Tiểu thư, không để Tiểu thư ở dưới đó quá lâu. Đêm hôm khuya khoắt lại nước non sông hồ không tốt đâu.
Giằng giai một hồi gia nhân vẫn khăng khăng không chịu về, đành để cả xe và người đứng chờ ở đó rồi ta và thị nữ cùng hai Công tử nhẹ nhàng đi xuống bờ sông.
- Tính ra mà nói, Lê Công tử thật là có con mắt tinh đời đó Tiểu thư. Trung thu mà ngồi đây thưởng trăng mới đúng là thi vị. Chứ như chúng ta đi vào Thành chơi, vừa đông đúc, vừa chật chội lại còn rước thêm cái bực vào người - Ngọc nhi làu bàu.
Ta nguýt nàng một cái thật dài dưới ánh trăng. Nhưng phải công nhân nàng lại nói đúng. Từ chỗ này nhìn ra là cánh đồng bao la, bát ngát như được dát bạc dưới ánh trăng. Mỗi khi một cơn gió nhẹ thổi qua, hương lúa cùng với những bụi trăng li ti lại dập dìu đưa tới. Vừa bình đị mà lại rất đỗi thần tiên như ở chốn thiên đường.
Bước tới gần hơn nữa, chúng ta đã nhìn thấy mặt sông Càu Chày lấp lánh. Trăng lúc này đã lên cao và trong văn vắt, in bóng và quệt thành một vệt dài những lớp vảy óng ánh trên mặt sông. Ở giữa không gian ấy, in nổi bật trên nền trời là dáng chàng ngồi dưới gốc cây đang khoan thai thổi sao.
Nếu sớm biết chàng không đi, mà đang rất đỗi tự do tự tại ở nơi này thì ta bon chen vào Thành Tư Phố để làm gì?
Khi đoàn người tiến lại gần, tiếng sao đột nhiên dừng bặt. Chàng đã biết có người đi tới, nên đứng dậy nghênh đón. Không dấu nổi ngạc nhiên khi thấy ta và hai thị nữ đi cùng với hai huynh đệ của chàng, nhưng chàng chỉ mỉm cười hiền dịu rồi cất lời chào. Chỉ Dưới ánh trăng ta có thể nhìn thấy nụ cười của chàng lấp lánh. Mái tóc dài buộc cao cùng với hai dải lụa tung bay phấp phới trong gió. Anh trăng sáng vẽ những đường viền sắc nét trên khuôn mặt tươi đẹp của chàng. Cái sống mũi cao, vầng trán vời vợi, và đôi mắt ân cần, ấm áp như chứa cả một bầu trời bát ngát ánh trăng trong ấy.
Nhìn thấy hình ảnh ấy, ta phút chốc không thốt nên lời mặc cho mọi người hỏi han chuyện trò gì không rõ. Ta muốn giữa mãi hình ảnh này ở trong tim mình.
Đang ngây ra với cái ý nghĩ ấy, thì giật mình vì cái huých tay nhẹ của Lan Nhi. Ta "hả" một tiếng như kẻ ngốc, quay sang nhìn nàng. Nàng bưng miệng cười rồi bảo:
- Lê Công tử bảo buổi luyện sáo của huynh ấy đã kết thúc rồi. Tiểu thư phải có ý kiến gì đi chứ. Không phải ta cố tình đi bộ ra đây để nghe huynh ấy chơi một bản hay sao?
Ta ngơ ngác quay lại nhìn chàng. Chàng bảo:
- Đúng vậy đấy Dương tiểu thư, hạ thần đã kết thúc buổi tập rồi. Cũng đang định đi về Võ đường bây giờ đây.
Trịnh Công tử đứng bên cạnh bèn ghé vào tai ta thì thầm: "Thật ra không phải là huynh ấy đã tập xong, mà vốn dĩ huynh ấy chưa bao giờ đồng ý thổi sáo cho ai nghe cả. Vậy nên hôm nay Tiểu thư xem có cách nào làm cho chúng tôi được nghe một bản thì chúng tôi mới phục".
- Lê Công tử đã kết thúc rồi thì còn nài ép làm gì nữa - Ta cất lời làm cho mọi người ai cũng ngỡ ngàng và có phần tiu nghỉu - Tuy nhiên trăng ở đây đẹp quá, và dù sao cũng đã xuống đây rồi, sao ta không ngồi chơi ngắm cảnh một chút rồi hãy về cho đỡ phí công nhỉ?
Mọi người đều cho là phải, lại ngồi trên các tảng đá, vừa nói chuyện thong thả vừa thưởng trăng thanh, gió mát.
Các công tử họ Phạm và Trịnh kể cho chàng nghe chuyện ta chút nữa là bị Tiểu thư họ Lưu bắt nạt, rồi không hiểu sao ta lại kìm chế lại được. Các chàng còn bảo nếu không phải đang ở trong thành Tư Phố, mà cứ để cho ta và nàng ấy đánh nhau thì cũng chưa thể biết mèo nào cắn mỉu nào đâu, vì trông hai chúng ta đều hiếu chiến như nhau cả.
Câu chuyện làm mọi người cười vang. Chàng cũng cười. Lần đầu tiên ta thấy chàng cười thoải mái như vậy. Tiếng cười giòn tan sảng khoái làm xáo động cả ánh trăng, làm mặt sông thêm lấp lánh.
Ta cũng cười. Thấy trong lòng ngân lên những hương vị ngọt ngào. Lần đầu tiên biết thế nào là cảm giác giữa vạn người thấy lòng trống trải, mà chỉ cần một nụ cười là đủ thấy ấm áp trong tim.
Đêm trăng tuyệt đẹp bên dòng sông ấy, ta không bao giờ có thể quên được. Duy chỉ có một điều càng ngày càng day dứt ta: Tại sao chàng không bao giờ chơi sáo cho ai nghe? Ngay cả ta chàng cũng không muốn sao? Ý nghĩ ấy làm cho ta buồn rười rượi. Đối với chàng ta cũng chỉ là một người không đáng để chàng tấu lên một bản - như hàng ngàn vạn những người xung quanh sao?
Hình ảnh chàng trong đêm trăng hôm ấy càng in đậm trong lòng ta, thì cái ý nghĩ ấy càng bám riết lấy ta. Đôi khi ta thấy trái tim mình như bị bóp nghẹt.
Một buổi chiều ta xông thẳng vào phòng nghĩa mẫu, lúc ấy người đang ngồi thưởng trà chiều bên cửa sổ, bảo:
- Thưa mẹ, dạo này chơi bời lông bông cũng chán rồi, con muốn được sang Võ đường học cưỡi ngựa, bắn cung.
Nghĩa mẫu thong thả đặt chén trà xuống bàn, rồi ngẩng lên nhìn ta:
- Chán chơi bời lông bông sao không tập trung vào học thêu thùa, may vá, nữ công gia chánh, mà lại muốn học cưỡi ngựa? Không phải là con đang định bày trò để vui chơi đấy chứ?
- Sao người lại nói tập cưỡi ngựa là vui chơi cơ chứ. Ta phụng phịu vùng vằng - Thời buổi ngày càng loạn lạc, không phải biết cưỡi ngựa cũng rất là tốt hay sao? Bây giờ các tiểu thư, công tử nhà người ta ai mà chả biết cưỡi ngựa, bắn cung. Lẽ ra con phải học từ lâu rồi mới phải. Chỉ là do ham chơi mà mãi tới giờ mới nghĩ ra thôi. Mà người tính xem, đường đường là con gái của Dương công, cháu nội của tổ phụ Dương Đình Nghệ nổi danh một thời với Võ đường Dương Xá, nơi từng đào tạo ra ba nghìn người con nuôi võ nghệ cao cường, đập đá vá trời một thời; vậy mà không biết cưỡi ngựa, bắn cung, như vậy không phải là đáng xấu hổ lắm sao - Ta nói một mạch không kịp thở ra hơi.
Nghĩa mẫu nghe xong, phì cười rồi nguýt ta một cái:
- Nga Nhi cứ nói là Nga Nhi sang đó để bày trò chơi ta cũng đồng ý cơ mà. Làm sao mà phải nói cả một bài như hô binh gọi tướng như thế?
Ta rõ ràng bị Nghĩa mẫu cố ý trêu trọc, vùng vằng:
- Người chọc quê con!
Nói rồi chạy lại dụi đầu vào lòng người mà nũng nịu. Nghĩa mẫu vuốt ve bàn tay ta, nói:
- Cứ vui chơi cho thỏa thích đi rồi một, hai năm nữa tìm một đám ưng ý gả thôi. Con cũng lớn tướng rồi, đã đến lúc lo chuyện gia đình được rồi.
- Con mà lớn cái gì chứ! Ta ấm ứ trong miệng. Cũng không thèm để ý tới lời nói của người nữa. Bởi vì điều quan trọng là ta đã được toại nguyện.
Thực ra mà nói, không phải là ta bỗng nhiên hứng thú muốn học cưỡi ngựa, bắn cung gì đâu. Năm xưa còn bé, có lần theo Nghĩa phụ sang Võ đường, thấy các chàng bên đó phải dậy sớm, lao động cực nhọc để rèn luyện thể lực, đã thế lúc nào cũng đánh đánh, đấm đấm, đá đá, rồi thì hò hét, múa may suốt cả ngày; mùa đông cũng như mùa hè lúc nào trông cũng mồ hôi mồ kê nhễ nhại đến là chán. Chính vì thế cho nên bao năm qua, dù Võ đường và Trang Đông Lỗ giáp rào với nhau, nhưng ta có thèm sang đó chơi bời bao giờ. Tất cả chẳng qua chỉ là chiêu trò ta và các thị nữ bày ra để được gặp Lê Công tử mà thôi.
Từ cái đêm Trung thu đó trở về, ta đã đặt quyết tâm là phải được gặp chàng nhiều hơn, phải được một lần thấy chàng vì ta mà thổi lên một khúc nhạc.
Thế nhưng chưa nghĩ ra cách nào cả. Đăm chiêu tư lự đến nỗi quên cả chơi đùa với hai nàng thị nữ. Thế là Lan Nhi mới bày cho ta cách ấy.
Cũng chỉ hi vọng sang võ đường học cưỡi ngựa, bắn cung sẽ có cơ hội được gặp chàng nhiều hơn, không ngờ khi thấy ta nói muốn học, Thúc thúc Dương Nhị bèn bảo:
- Vậy để ta bảo Lê Hoàn chiều chiều sau buổi tập mang ngựa, cung ra cánh đồng trước Võ đường dạy con vậy. Chỉ có giao con cho Lê Hoàn trông nom ta mới yên tâm thôi. Nếu không có chuyện gì xảy ra, ta biết ăn nói thế nào với cha mẹ con?
- Con cảm ơn Thúc thúc!
Ta cúi tạ Thúc phụ mà thiếu chút nữa đã nhảy lên vì vui sướng. Không ngờ mọi sự lại thuận lợi như vậy! Chỉ chờ xem ý của chàng như thế nào nữa mà thôi.
Nhưng chàng chẳng có ý gì cả. Hoặc chỉ là chàng thể hiện ra nhưng thế. Nhưng đối với ta chàng lúc nào cũng cư xử đúng mực, một câu Tiểu thư hai câu hạ thần. Chàng chỉ bảo ta ân cần từ cách lên ngựa sao cho đúng, nắm dây cương sao cho chắc, thúc ngựa đi sao cho có uy lực, và dừng ngựa lại sao cho dứt khoát. Nhờ có sự dạy bảo nghiêm túc của chàng, chỉ vài ngày sau là ta đã có thể ngồi vững trên lưng ngựa, chạy nước kiệu nhẹ nhàng. Nửa tháng sau là có thể cùng chàng phi nước đại băng qua cánh đồng.
Những lúc nghỉ ngơi chàng có vui đùa cùng ta và các thị nữ. Đôi lúc còn bày trò chơi đùa, nghịch ngợm cùng chúng ta. Chúng ta có khi còn vừa phi ngựa, vừa thả diều cho con diều mau no gió. Có bữa còn phi ngựa phóng theo cánh diều đứt dây mãi tận làng bên.
Chúng ta nhiều khi rất vui vẻ, đã từng cùng nhau bò lăn ra cánh đồng cười đùa với nhau. Nhưng với riêng ta chàng lúc nào cũng giữ vẻ tôn trọng và nụ cười hiền hòa. Chàng chưa bao giờ thể hiện với ta điều gì hơn thế. Không một ánh mắt, không một cái chạm tay, không một cử chỉ ân cần riêng tư.
Tất cả đều làm ta đau lòng.
Ban chiều vui đùa trên cánh đồng với chàng vui vẻ bao nhiêu. Thì ban tối về ta lại đau khổ cật vấn mình bấy nhiêu. Chàng như vậy là như thế nào? Chàng không có chút tình cảm nào với ta hay sao? Làm sao để biết được lòng chàng đây?
Tuổi mười ba, mười bốn ngây dại, khi đã lỡ mang chữ tình vào rồi thì lòng chẳng thể nào nghĩ tới chuyện gì khác được. Và khi đã trót thương yêu ai thì úc nào cũng chỉ mong thể hiện cho người đó biết được tình cảm của mình, mong biết được tâm tư của đối phương và mong tình cảm của mình được đáp lại.
Ta những tháng ngày ấy đúng là ngây dại như vậy.
Mùa đông lạnh lẽo đã về trên cánh đồng.
Ta giờ đây bắt đầu chuyển sang tập bắn cung tên. Nhưng ta chẳng thấy có chút hứng thú gì cả. Chỉ khắc khoải trong lòng một niềm mong mỏi chiếm được tình cảm của chàng.
Ăn cũng không ngon, ngủ cũng không yên, chơi bời không còn thấy vui nữa. Đôi khi thẫn thờ như kẻ mất hồn. Ta khiến cho hai nàng thị nữ nhiều phen phát cáu.
Một buổi tối sau khi đã sai Ngọc Nhi đi làm một số việc lặt vặt. Lan Nhi kéo ta ngồi xuống bên nàng rồi bảo:
- Tiểu thư dạo này cứ như kẻ mất hồn vậy? Người có tâm sự gì cứ nói với em, đừng giữ mãi ở trong lòng như vậy lại thành ra u uất, không tốt đâu.
- Ta không có tâm sự gì cả, em đừng có nói xằng bậy! Ta vùng vằng định bỏ ra ngoài.
Nàng kéo tay ta lại, cười bảo:
- Em với Tiểu thư tuy là chủ tớ, nhưng chúng ta đã sống và lớn lên bên nhau sáu, bảy năm nay rồi, em không biết người thì thế nào, nhưng em coi Tiểu thư như người thân thích, ruột thịt trong nhà. Những tâm tư của người em đều rõ cả. Có khi tâm tư của người em còn rõ hơn tâm tư của mình cũng nên. Vậy nên dù Tiểu thư có nói ra với em hay không em thực tình cũng đều biết cả. Em chỉ đang muốn nghĩ cách giúp người làm sao để giải tỏa được nỗi lòng của mình thôi.
Thấy nàng nói thế, ta nghi nghi hoặc hoặc, không rõ là nàng đang rung cây nhát khỉ hay là nàng thực biết được chuyện gì thật. Ta bèn hỏi vu vơ:
- Vậy em nghĩ ra cách gì?
- Thấy người dạo này cứ bần thần, nên em cũng đã thao thức suốt mấy đêm nay. Có cách này không biết người nghĩ sao?
- Em đừng có vòng vo mãi thế? Em định trêu ta đấy à?
- Em nào dám! Để biết được lòng của người khác, xem người ta có yêu thương mình không thì chẳng có cách nào khác là lấy sự sống còn của mình ra mà thử thôi.
Ta giật mình nhìn vào mắt nàng. Quả tình nàng biết hết tâm tư của ta. Phút chốc hai má đỏ bừng, ngượng ngùng quay đi, nhưng giọng nói vẫn cố tỏ ra thản nhiên:
- Thôi em đừng có mà hồ đồ. Lấy chuyện sống còn ra thử là sao chứ? Chuyện sống còn không phải là chuyện có thể mang ra để đùa được đâu.
- Em đâu có bảo người phải làm việc đó thật đâu mà lo. Chỉ là mình bài binh bố trận ra như thật để thử chàng thôi.
Thế rồi nàng bày cho ta một mưu kế. Ta sẽ vờ ngã ngựa để xem chàng phản ứng như thế nào. Ở bên sông Cầu Chày có một đoạn bờ sông bị sạt lở từ mùa hè, tạo thành một miệng vực tuy chỉ cao chừng hai thước nhưng cũng khá nguy hiểm nếu ngã từ bên trên xuống. Mùa này nước đã rút bớt, ở phía chân nhô ra một khoảng đất nhỏ. Nếu giả ngã từ trên xuống, thì cũng khá là hợp lí mà lại không bị rơi xuống nước. Chỗ này lại khuất xa bãi tập nhờ một rặng tre gần đó che chắn, nên rất thuận lợi để chuẩn bị và dàn cảnh.
Ta suy nghĩ băn khoăn mãi không biết có nên sử dụng cách của Lan Nhi không. Nhưng quả tình cái lý của nàng đã làm ta lung tay, để biết được tình cảm của đối phương, thực chẳng còn cách nào khác là phải đặt mình vào những hoàn cảnh nguy hiểm. Những lúc ấy ta mới thực sự biết được người ta quan tâm, lo lắng cho mình tới mức nào. Thế là ta, dù vẫn còn hơi lăn tăn một chút, vẫn để mặc cho nàng lên kế hoạch cho việc ấy.
Chiều hôm ấy cuối buổi tập, chúng ta đang thả diều trên cánh đồng, thì cánh diều dứt dây. Việc diều đứt dây này đều do Lan Nhi tính toán và sắp đặt cả. Vì là gió mùa thổi rất mạnh, nên con diều bay đi rất xa. Lê Công tử định tự mình phi ngựa đi tìm, nhưng ta đã bảo ta sẽ đi. Chàng còn đang lừng chừng thì Lan Nhi bảo, cứ để ta đi, còn chàng ở lại tranh thủ dạy nàng tập bắn cung một lúc. Thế là chàng đành miễn cưỡng để ta đi.
Theo như đúng kế hoạch đã thống nhất trước, ta xuống ngựa bên cạnh chỗ sạt lở, thả cho ngựa tự chạy lung tung trên đồng, rồi tìm đường đi vòng xuống chân miệng vực, tự mình lăn vài vòng ở dưới chân cho quần áo dính đầy bụi đất, sau đó dùng ít thuốc đỏ đã chuẩn bị từ trước bôi một ít lên chân tay, quần áo, rồi nằm xuống đó.
Lan Nhi sẽ giữ chân chàng một hồi cho tới khi trời nhập nhoạng tối. Rồi sau đó nàng vờ thắc mắc không biết ta sao đi lâu, rồi nàng sẽ bảo Ngọc Nhi thử đi về hướng ta đã phi ngựa để tìm. Nàng Ngọc Nhi ngốc nghếch cứ đi lơ vơ mãi, làm Lan Nhi khó lắm mới giữ chân được chàng không phi ngựa đi tìm ta. Nhưng rồi cuối cùng nàng cũng đến được chỗ phải đến. Nàng nhìn thấy con ngựa đang thơ thẩn ở trên cánh đồng, còn ta thì ngã vật ở dưới miệng vực. Thế là nàng hét lên, rồi chạy vội về phía bãi tập, hốt hoảng, thất thanh:
- Nguy rồi! Nguy rồi! Lan Nhi! Lê Công tử! Tiểu thư! Tiêu thư bị ngã ngựa xuống sông rồi.
Thế là chàng, ném luôn chiếc cung tên xuống đất và lao theo hướng Ngọc Nhi chỉ. Hai nàng thị nữ chạy hết cả hơi mà vẫn không thể nào theo kịp.
Chàng lao như điên đến bờ sông, rồi khi thấy ta nằm dưới đó, không một chút do dự, chàng phi một cái từ trên bờ xuống. Chàng nhào lại, nâng người ta lên tròng vòng tay của chàng:
- Nga nhi! Nàng có sao không?
Rồi ta thấy những giọt nước nhỏ mát lạnh rớt trên mặt ta. Rồi ta thấy chàng xiết lấy bàn tay ta. Chàng áp bàn tay vào má ta. Một khắc im lặng. Rồi đột nhiên ta thấy giọng chàng thay đổi hẳn, lạnh toát:
- Dương Tiểu thư, người có sao không? Người đã tỉnh rồi chứ?
Nghe thấy giọng điệu lạ lùng ấy, ta thấy lạ lùng tới mức không thể kiềm chế được, đành mở mắt ra nhìn chàng:
- Lê huynh, tiểu nữ không sao.
Nói rồi chống tay ngồi dậy. Chàng đỡ cho ta ngồi vững rồi đứng dậy bên cạnh hỏi:
- Tiểu thư có bị đau, hay bị thương ở đâu không?
- Ta.. ta không bị đau, bị thương ở đâu cả.
- Vậy chúng ta mau về thôi kẻo người nhà lại lo.
Nói rồi chàng sải bước đi trước. Ta ngơ ngác không biết là mọi chuyện đang diễn ra theo hướng nào, nhưng vẫn phải đứng dậy lầm lũi đi theo chàng.
Hai người vừa lên khỏi bờ sông thì Ngọc Nhi và Lan Nhi ùa tới. Ngọc Nhi thì khóc lóc, la hét om xòm, còn Lan Nhi nhìn ta và chàng đi lên với vẻ kinh ngạc, nhưng rồi vẫn cùng Ngọc Nhi lao lại hỏi han ta ân cần. Đến khi ta bảo không sao thì hai nàng mới bình tĩnh lại. Mọi người cứ thế im lặng đi bên nhau trở lại bãi tập. Chàng thu cung tên, bia bắn, dắt ngựa, chuẩn bị ra về. Ta và Lan Nhi im lặng đứng nhìn chàng, không biết phải nói gì, làm gì cho phải nữa. Chỉ có Ngọc Nhi là vẫn ngơ ngác:
- Vậy.. mình không đi tìm diều nữa sao Tiểu thư?
- Nhìn Tiểu thư như vậy ngươi còn tiếc con diều hay sao. Lan Nhi nổi cáu - Không mau đưa Tiểu thư về, nhà người còn muốn gì nữa?
Nói rồi cùng nhau cáo biệt chàng ra về. Chàng vẫn giữ một giọng hết sức điềm tĩnh, bảo:
- Dương tiểu thư về bảo trọng. Hai nàng đưa Tiểu thư về cẩn thận. Nhớ nói với người nhà kiểm tra xem Tiểu thư có bị thương ở đâu không để chữa trị cho kịp thời. Hạ thần xin cáo lui.
Rồi chàng quay gót đi.
Nhưng trong bóng tối nhờ nhờ của chiều tàn, ta vẫn kịp thấy một cái nhíu mày thoáng qua trên vầng trán cao rộng của chàng, sự lạnh lùng trong ánh mắt của chàng, khuôn mặt tối sầm của chàng.
Bước chân của ta trở về nhà chưa bao giờ nặng nề đến thế.
Tối đến, sau khi đã tắm rửa xong, Ngọc Nhi đã ra phòng ngoài ngủ trước rồi. Lan Nhi mới đến bên giường ta thì thầm:
- Như vậy là thế nào? Sao trông hai người lại như vậy? Sao Lê Công tử có thái độ lạ lùng như thế?
Ta vặn vẹo hai tay vào với nhau:
- Ta không biết nữa..
Mà thực sự là ta không biết thật. Có lẽ chàng đã biết là ta và thị nữ cố tình bày chuyện? Lúc chàng lao lại đỡ người ta lên, chàng đã gọi ta là "Nga Nhi" là "nàng" mà không phải là "Dương Tiểu thư" như chàng vẫn luôn gọi. Chàng đã nắm lấy tay ta, đã áp bàn tay mình vào má ta.. Những cử chỉ lời nói ấy sao dịu dàng, ngọt ngào đến vậy.
Ta còn cảm thấy dường như chàng đã khóc, ta dường như đã thấy những giọt nước mát lạnh rớt đâu đó trên mặt mình. Có khi nào chàng đã vì ta mà khóc? Có khi nào chàng thấy ta nằm đó, đã gọi tên ta, đã bất chợt nhỏ lệ?
Ta chẳng biết nữa.
Chỉ có điều liền sau đó chàng lại gọi ta là "Dương Tiểu thư". Thay vì cái sự lo lắng, sốt sắng ban đầu là sự điềm tĩnh đến lạnh nhạt khi ra về.
Phải chăng chàng đã rõ hết mọi chuyện?
Mà cũng chỉ có điều đó mới giải thích được thái độ thay đổi đột ngột của chàng. Ta vò đầu bứt tai cảm thấy lo lắng tột cùng. Nếu chàng biết, nếu chàng từ đây nghĩ xấu về ta, căm ghét ta thì sao? Nghĩ rồi ta ngồi đó khóc thút thít ở trên giường. Lan Nhi cuống cuồng đi lại quanh phòng, cũng tự vặn vẹo mình:
- Em thật là đáng tội chết, bày ra trò này cho tiểu thư. Giờ nghĩ lại đúng là hồ đồ. Lê Công tử là người võ công cao cường, lại am hiểu, tinh thông sách lược. Một người như vậy thì nhìn vào là biết bị ngã ngựa thật, bị thương thật hay không chứ. Mình đúng là đã lấy màn thưa mà che mắt thánh rồi.. Em thật ngu ngốc đã làm hại Tiểu thư rồi!
Câu nói đó của nàng đúng là đánh trúng vào nỗi lo sợ mơ hồ của ta. Giờ thì mọi việc đã hai năm rõ mười rồi còn gì nữa. Ta thốt nhiên quá kinh hãi với ý nghĩ rằng chàng đã biết hết mọi việc, và có trời mới biết được chàng sẽ nghĩ gì về ta sau việc này, thế là ta khóc tu tu lên, nước mắt tuôn ra như mưa không sao ngăn được.
Ngọc Nhi lao từ nhà ngoài vào, hốt hoảng:
- Lan Nhi! Tiểu thư sao thế? Người bị đau ở đâu à? Ta đã bảo từ chiều là phải báo với Lão gia và Phu nhân để cho mời thầy lang mà ngươi còn bảo không cần. Giờ tính sao đây?
- Tiểu thư không sao cả, chỉ mệt chút thôi, đừng có mà làm ồn lên. Ngươi cứ ra ngoài đó ngủ và trông nhà đi.
- Nhưng Tiểu thư..
- Ta bảo ngươi ra thì ngươi ra, còn nhưng nhị cái gì! Lan Nhi không bình tĩnh được với Ngọc Nhi, bèn quát lên với nàng - Ngươi cứ ra ngoài đó ngủ và đừng có mà làm ồn lên nữa.
Ngọc Nhi thấy vậy lủi thủi đi ra. Vừa sợ vừa uất ức vì bị hắt bủi, nàng vừa đi ra vừa ứa nước mắt. Nhìn cái dáng nàng vừa lững thững đi ra vừa đi vừa đưa tay lên quệt nước mắt làm ta thương quá, định mắng Lan Nhi vài câu, nhưng tâm trạng cũng đang rối bời, đành cứ mặc kệ nàng, lăn ra giường, vùi mặt vào gối khóc.
Lan Nhi ngồi lại bên giường, vỗ vỗ vào người ta:
- Thôi Tiểu thư đừng khóc nữa, người cứ như vậy thì em sao sống nổi. Mình cũng mới chỉ đoán như vậy chứ chưa biết rõ ý tứ chàng đến đâu. Để mai kia xem thái độ chàng ra sao đã rồi mình sẽ tìm cách xử trí. Giờ có lo nghĩ nhiều cũng có giải quyết được gì đâu.
Thấy nàng nói cũng phải, và cũng muốn được ở một mình, ta bèn đưa tay quệt hết nước mắt rồi bảo:
- Ừ, em nói cũng phải. Thôi em về giường ngủ đi. Ta cũng mệt rồi, cũng muốn đi ngủ.
- Nhưng Tiểu thư hứa đừng có khóc nữa đấy. Người cứ như vậy em sẽ rất khổ tâm đấy.
Ta hứa với nàng sẽ không khóc nữa, thế rồi nàng thổi nến, trèo lên chiếc giường nhỏ của nàng ở gần cửa ra vào, buông rèm và đi ngủ.
Còn lại một mình trong bóng tối lòng ta cứ rối bời bời. Các hình ảnh ban chiều cứ quay mòng mòng trong đầu ta. Lúc là thứ cảm giác ngọt ngào khi một ánh lửa le lói của hi vọng nhen lên trong lòng ta, rằng hẳn có thể chàng cũng có chút cảm tình với ta; lúc là sự bóp nghẹt đến ngạt thở của ý nghĩ, liệu cái trò ngốc nghếch ấy có khiến chàng vì thế mà giận, mà ghét ta hay không? Cứ vật qua vật lại, rồi ta cũng ngủ thiếp đi lúc nào không biết.
Buổi chiều hôm sau ta tới sân tập, trong lòng hết sức hồi hộp, căng thẳng. Một mặt muốn gặp để xem thái độ chàng như thế nào; nhưng một mặt lại hết sức lo sợ khi không biết phải đối diện với chàng sau sự việc vừa rồi. Ta cứ đi đi lại lại quanh sân tập như một kẻ tâm thần. Làm hai thị nữ cũng đứng ngồi không yên vì ta. Ngoài trời thì lạnh mà tay chân thì mồ hôi túa ra ướt đẫm.
Nhưng kỳ lạ thay, người đến dạy ta chiều hôm đó, không phải là chàng, mà là Trịnh công tử.
Trông thấy Trịnh công tử từ đằng xa đi tới ta rất đỗi ngạc nhiên. Có chuyện gì xảy ra với chàng sao hôm nay chàng lại không đến? Phải chăng vì sự việc chiều tối qua mà hôm nay chàng không muốn gặp ta? Ta đứng ngây người, nước mắt đã trực trào ra. Nhưng rồi thấy nụ cười tươi tắn, hiền lành của Trịnh công tử mà lấy lại được bình tĩnh, bèn cất lời:
- Phải chăng hôm nay Trịnh công tử sẽ kèm tiểu nữ học bắn cung?
- Đúng vậy Tiểu thư. Lê huynh bận một chút việc gia đình nên trong mấy ngày tới hạ thần sẽ kèm Tiểu thư học. Nếu có gì thất thố, xin Tiểu thư và các nàng đây bỏ quá cho.
- Gia đình Lê công tử có chuyện gì đột xuất hay sao phải về gấp vậy? Chiều qua huynh ấy vẫn bình thường mà?
- Tiểu thư và các nàng đừng lo lắng, không có gì nghiêm trọng đâu. Thực ra ngày tới đây là giỗ của ngài Lê Giám sát, nghĩa phụ của Lê huynh, nên huynh ấy về quê để lo liệu công việc thôi.
- Ra là vậy! Vậy chúng ta bắt đầu thôi. Ta với Lê công tử mới học được mấy buổi thôi, chưa đâu vào đâu cả, Trịnh công tử xin cứ chỉ bảo tự nhiên, không cần phải khách khí.
Trịnh công tử gật đầu rồi chúng ta bắt đầu buổi tập.
Suốt cả buổi Trịnh công tử chỉ bảo ta rất nhiệt tình và cẩn thận. Có thể thấy võ công và kiến thức của chàng cũng uyên thâm không kém gì Lê công tử, có chăng cũng chỉ là thấp hơn một, hai bậc là cùng. Tuy nhiên điều đó cũng không có gì lạ, bởi Lê công tử hiện đang là Huynh trưởng ở võ đường. Võ công của chàng chỉ sau có mỗi Thúc phụ ta mà thôi.
Vì cha ta thì không có con cái; Thúc phụ có hai người con trai, nhưng hiện đều đang theo đuổi nghiệp buôn bán ở trong Thành Tư Phố, cả hai huynh đều chẳng mấy hứng thú với sự nghiệp của cha ông. Nên gần đây ta có nghe nghĩa phụ ta nói về việc Lê công tử đang được nhắm đến để thay sư phụ quản lý võ đường về sau. Vậy nên chẳng có gì lạ nếu võ công của chàng chỉ đứng sau Thúc phụ, còn các huynh đệ khác thì kiểu gì cũng phải thấp hơn một, hai bậc.
Tuy nhiên điều đó có ý nghĩa gì với ta cơ chứ? Ta vốn dĩ chẳng hứng thú gì với cung tên võ nghệ cả. Không phải ta bày ra cái trò này để được ở bên chàng hay sao? Thế mà giờ chàng ở nơi đâu? Vẫn sân tập ấy, cung tên ấy, bãi bắn ấy, thế mà lại là Trịnh Công tử đang ở đây, đang chỉ bảo ta mà không phải là chàng. Có ai hiểu được cái cảm giác trống trải trong lòng ta khi nhìn ra khắp tứ phía đều không thấy bóng dáng quen thuộc, thân thương của chàng không? Có ai hiểu cái cảm giác quay quắt của ta khi nhớ đến nụ cười rạng rỡ, ấm áp của chàng không? Thế giới còn có nghĩa lý gì khi cái thế giới ấy vắng mất bóng hình mà ta yêu dấu? Ta chỉ buồn là không thể hóa thành cánh chim để bay theo chàng, để xem giờ chàng đang ở nơi đâu, đang suy nghĩ gì, đang thương nhớ ai..
Ta vừa tập vừa mong sao giữa buổi tập chàng sẽ bất ngờ xuất hiện, rồi lại chỉ bảo ta ân cần, rồi chúng ta sẽ cùng vui đùa, chạy nhảy trên cánh đồng.
Tuy nhiên điều đó đã không xảy ra.
Không phải một ngày, hai ngày, bốn ngày, năm ngày mà là mười lăm ngày.
Sự vắng mặt ấy của chàng làm cho ta như kẻ mất hồn. Ban đầu ta lo lắng hay có chuyện gì xảy ra với chàng. Nhưng đến khi nghe Trịnh công tử bảo chàng có biên thư về cho Thúc phụ rằng công việc giỗ chạp của song thân chàng đã được lo liệu chu toàn, mọi việc đều tốt đẹp cả, nhưng chàng muốn xin ở lại quê nhà thêm vài ngày với gia đình, thì ta chuyển từ lo lắng sang buồn khổ và tự dằn vặt mình.
Tại sao mọi việc đã xong xuôi mà chàng vẫn chưa trở lại Võ đường? Không phải song thân của chàng đều đã qua đời và chàng không còn nhiều người thân thích ở quê nhà nữa, nên bao năm nay chàng vẫn coi Võ đường là nhà hay sao? Sao nay tự dưng chàng lại ở lại quê lâu vậy? Có khi nào chàng không muốn trở lại Võ đường nữa? Có khi nào chàng vì giận ta buổi hôm đó mà muốn kiếm cớ để không phải gặp ta? Có khi nào chàng rất căm ghét ta, coi khinh khi biết mọi chuyện? Có khi nào họ hàng đã chọn cho chàng một Tiểu thư ở quê nhà, rồi hai người đã kết tóc xe tơ với nhau?
Những ý nghĩ lẩn thẩn ấy làm trái tim ta đau đớn. Đêm ta ngủ không yên. Có những đêm nằm khóc ướt đẫm cả gối đến khi khi mệt quá mới ngủ thiếp đi. Còn ban ngày thì ăn không ngon, người thì lúc nóng lúc lạnh. Nếu tình trạng ấy cứ tiếp tục kéo dài ta sẽ ốm mất không chừng.
Lan Nhi thấy tình cảnh ấy lo lắng hết mức, bèn bảo ta:
- Tiểu thư đừng như vậy nữa. Em nghĩ là Lê công tử bận việc riêng gì đó thôi. Tiểu thư nghĩ huynh ấy là loại người gì mà chỉ vì một việc cỏn con như vậy mà đến nỗi không muốn gặp người? Nếu người đĩnh đạc, chín chắn như huynh ấy mà giận Tiểu thư vì một việc trẻ con như vậy, thế không phải là người đã yêu thương nhầm người rồi hay sao?
Thấy nàng nói cũng có lí, nên ta cũng bớt lo lắng đi phần nào. Nhưng mấy ngày sau, khi nghe tin chàng đã trở lại Võ đường, vậy mà chiều hôm đó vẫn thấy Trịnh công tử đến dạy ta và bảo Lê công tử cáo bận vài ngày tới thì ta không giữ được bình tĩnh nữa. Tối đến đứng giữa phòng mà khóc tu tu:
- Em còn bảo không phải nữa đi! Nếu không phải chàng tránh mặt ta thì tại sao đã về Võ đường rồi mà chàng vẫn cáo bận, không trực tiếp ra mặt dạy ta? Ta phải làm sao bây giờ chứ? Huhu..
- Tiểu thư hãy bình tĩnh lại đi, đừng tự mua dây mà buộc vào người như thế chứ. Chắc bận việc gì đó thật nên chàng mới không tới chứ.
Lan Nhi nói như vậy nhưng có vẻ nàng cũng đã đuối lý, cứ đi đi lại lại trong phòng rồi để mặc cho ta đứng đó khóc lóc, chẳng buồn đến dỗ dành ta nữa.
Được một lúc nàng bảo:
- Theo em nghĩ chỉ còn một cách để làm sáng tỏ mọi chuyện, để Tiểu thư không phải ngồi đây mà nghi nghi hoặc hoặc nữa, đó là Tiểu thư hãy gặp Lê công tử và giải thích cho rõ một lần.
- Như thế nào chứ? Nếu chàng cố tình tránh mặt ta thì làm thế nào để ta gặp chàng được đây?
- Thì đành hẹn gặp riêng huynh ấy thôi chứ biết làm sao. Mà em nghĩ, dù huynh ấy có tránh gặp mặt Tiểu thư hay vẫn đến kèm Tiểu thư học như bình thường, thì ta cũng nên một lần giải thích cho huynh ấy rõ mọi chuyện. Nếu không huynh ấy lại nghĩ chúng ta định lấy huynh ấy ra làm trò đùa, định chơi xấu gì huynh ấy thì không tốt chút nào.
Ta lúc này đã ngừng khóc, bị những lý lẽ của Lan Nhi thuyết phục, bèn ngồi lại bên giường bảo với nàng:
- Em nói rất phải. Đúng là chỉ sợ chàng không hiểu cho lòng ta, lại tưởng ta cố tình mang chàng ra để trêu trọc, để vui đùa thì ta biết phải làm sao đây? Nhưng làm sao để gặp được chàng đây?
- Việc đó thì người không cần phải bận tâm. Em sẽ lo liệu việc này.
Ngày hôm sau Lan Nhi báo cho ta, nàng đã hẹn được chàng buổi tối hôm đó tới gặp ta bên bờ sông Càu Chày, nơi mọi ngưuời đã cùng trò truyện đêm Trung thu vừa qua.
- Em đã bảo với chàng như thế nào? Ta vừa tò mò, vừa thán phục nhìn Lan Nhi.
- Em bảo Tiểu thư xin gặp vì có một số chuyện cần được giải thích cho chàng rõ. Chàng nghe rồi liền gật đầu đồng ý chứ cũng không có ý kiến gì.
Vậy là cả ngày hôm đó ta lại như kẻ mất hồn vì lo lắng và hồi hộp cho cuộc gặp mặt vào buổi tối. Làm cái gì cũng không thể tập trung nổi. Nói trước quên sau, rơi cái này mất cái kia lung tung hết cả lên. Lan Nhi chỉ biết lắc đầu nhìn ta đầy ái ngại.
Mãi rồi buổi tối cũng đến.
Ăn xong bữa tối, sau khi đi qua vấn an và chúc nghĩa phụ, nghĩa mẫu ngủ ngon, ta và Lan Nhi dùng chăn, đệm xếp lên giường giả như ta đã đi ngủ sớm, rồi phân công Ngọc Nhi ở nhà trông nhà. Nhiệm vụ của nàng là phải giữ chân không cho nghĩa phụ, nghĩa mẫu và gia nhân vào phòng ta và phát hiện ra sự việc - dù thực tế buổi tối mọi người cũng chẳng mấy khi qua phòng ta nếu không có việc gì cấp bách.
Xong xuôi ta và nàng mặc áo ấm đầy đủ, ta khoác thêm chiếc áo choàng lông chồn cho ấm rồi lặng lẽ rời khỏi nhà.
Đến gần bờ sông, Lan Nhi dừng lại ở trên đường đứng canh chừng. Ta rẽ xuống con đường đất nhỏ đi thẳng xuống phía những tảng đá bên gốc gạo lớn đơn độc.
Đêm mùa đông gió thổi rất lạnh. Ánh sáng của vầng trăng thượng huyền xuyên qua những đám mây dày đặc làm không gian trở nên nhờ nhờ, đục đục, nhờ thế tuy không rõ ràng, nhưng khi tới thật gần vẫn có thể nhận ra bóng dáng thân thuộc của chàng đang ngồi đó, dưới gốc cây gạo, áo choàng dài buông phủ trên những tảng đá. Chàng đang thổi một bản nhạc gì đó rất đỗi du dương trên cây sáo của chàng. Vừa trông thấy chàng tim ta đã đập lên loạn xạ. Bước chân bắt đầu cao thấp, nhấp nhô.
Lúc ở nhà thì rất mong được đến gặp chàng. Nhưng không hiểu sao đến khi nhìn thấy chàng đang rất đỗi tự do tự tại ngồi đó chờ ta, thì ta bỗng thấy run rẩy lẩy bẩy, không muốn bước tiếp nữa. "Nhuệ khí" ban chiều giảm đi tới tám, chín phần.
Thế là ta cứ đứng đờ ra ở đó nghe chàng chơi hết bản nhạc này đến bản nhạc khác. Đều là các bản sáo rất du dương, dìu dặt, nhẹ nhàng, ấp áp và tràn ngập một niềm vui dịu nhẹ. Nghe các bản nhạc chàng chơi, người ta bỗng thấy cơ thể được thả lỏng, hết sức thoải mái và thoáng chút hân hoan.
Chơi hết bản thứ ba thì chàng dừng lại.
Tiếng sao dừng lại, khiến không gian trở nên im lặng làm ta giật mình. Đầu óc trở lại quay cuồng, tim lại đập lên loạn xạ. Ta cuống cuồng không biết nên xử trí ra làm sao. Tiến lên hay lùi lại? Bản thân không thể tự quyết định được.
Vừa khi ấy thấy chàng chuẩn bị đứng lên hướng về phía ta, thế là ta quay người dợm chân định bước đi. Ta định bỏ chạy. Trong khoảnh khắc ấy bỗng ước gì mình từng chưa từng đến đây, ước gì mình có thể biến mất ngay lúc này. Việc một mình đối mặt với chàng ở nơi này quả không đơn giản như vẫn tưởng..
- Nàng đến rồi sao không lên tiếng?
Tiếng chàng cất lên làm toàn thân ta như đông cứng. Không động đậy cũng không thể cất tiếng trả lời. Cứ đứng đó mặt cúi xuống ngực, tay vân vê cái vạt áo choàng.
Thấy ta vẫn im lặng như thế, chàng chầm chậm bước lại trước mặt ta, lại cất tiếng hỏi:
- Không phải nàng có điều gì định nói với ta hay sao?
- Tiểu nữ.. Tiểu nữ.. - Ta chỉ lắp bắp được có như vậy rồi lại im bặt. Biết nói như thế nào với chàng? Biết bắt đầu tư đâu chứ? Trong thoáng chốc thấy rất chán ghét bản thân sao lại có ý định đến đây để giải thích cho chàng trong khi chẳng biết chàng có ý nghĩ như thế nào và chẳng biết nói cái gì chứ?
Chàng đứng im ở đó một lúc. Tuy không dám ngẩng mặt nhìn lên nhưng ta vẫn cảm nhận được ánh mắt chàng đang chăm chú nhìn ta.
Việc chàng im lặng và nhìn ta như thế làm ta như muốn ngạt thở. Tim ta như ngừng đập. Cái ý nghĩ cáo từ chàng rồi về nhà mặc kệ mọi chuyện hiện lên trong đầu. Ta chỉ mong sao được thật nhanh chạy về Đông Lỗ. Hoặc giả như có cái lỗ nào mà chui tọt xuống được thì càng hay.
Bất ngờ, từ từ, chàng đưa tay nắm lấy bàn tay ta. Ta giật nảy mình, rút ngay bàn tay lại. Nhưng không kịp nữa! Bàn tay chắc khỏe của chàng đã xiết chặt lấy bàn tay ta, dứt khoát, đầy uy lực. Ta thử xoay xoay bàn tay mình vài lần nhưng có vẻ như vô ích. Đành cứ để im như thế. Toàn thân thì như tê liệt. Hồn phách bay đi đâu cả. Chỉ còn nghe thấy rõ mồn một trong đêm tiếng trái tim mình đập thình thịch, loạn xạ. Mồ hôi có lẽ cũng đã túa ra ướt hết cả hai bàn tay rồi.
Chàng khẽ mỉm cười, đưa bàn tay còn lại áp chặt quanh bàn tay ta rồi xiết chặt. Ta có thể cảm nhận được đôi bàn tay to rộng, ấm áp, bao bọc và che chở biết nhường nào. Vô thức ngẩng lên nhìn chàng. Chàng nhìn thẳng vào mắt ta rồi nhẹ nhàng cất lời:
- Lúc đó ta đã rất lo lắng cho nàng - nếu đó thực sự là điều nàng muốn biết. Cái khoảnh khắc đứng ở trên miệng vực nhìn xuống nàng nằm đó, ta thấy bất lực và đau đớn tột cùng như những lần ta chứng kiến những người yêu thương nhất của mình bỏ ta đi vậy. Đến khi đỡ nàng lên thì ta biết nàng và các thị nữ đã dàn cảnh ra như vậy. Để làm gì? Ta cũng đã suy nghĩ và tự vấn mình mãi.
Nàng thử nghĩ xem bấy lâu nàng cũng có thể hiện điều gì rõ ràng với ta đâu? Nàng muốn biết tình cảm của ta ư? Ta cũng muốn biết như nàng vậy. Ta cũng muốn một lúc nào đó tìm hiểu xem lòng nàng đối với ta như thế nào. Nhưng cũng chưa có lúc nào thích hợp cả. May sao lại xảy ra những việc này để hôm nay ta có dịp nói rõ lòng mình. Từ giờ về sau nàng hãy luôn ở bên ta nhé, được không?
Được chứ! Đó thật sự là những điều ta muốn. Trái tim ta nhói lên một cái trong lồng ngực. Nhưng không phải vì nó đang đau đớn, mà vì những cảm xúc quá đỗi ngọt ngào.
Trong những câu chuyện tình từ cổ chí kim, khi chàng trai nói với người con gái của chàng những điều như chàng đã nói với ta, thì các cô nương ấy sẽ xử trí như thế nào nhỉ? Sẽ cười? Sẽ nhảy lên vui sướng? Hay sẽ khóc? Ta thật không biết nữa. Và cũng không biết phải đáp lại chàng ra sao. Đó là khoảnh khắc ta mong đợi, thế mà ta chỉ biết đứng đó nhìn chàng, đắm mình trong ánh mắt sâu thẳm, tràn ngập yêu thương của chàng mà không thốt lên được lời nào.
Không biết biểu cảm của ta lúc ấy có buồn cười không, nhưng ta thấy chàng phì cười. Rồi chàng nhẹ nhàng bước lại, vòng tay ôm ta vào lòng.
Này những làn sương trắng đang kéo về dày đặc đầy đe dọa trong đêm.
Này thế giới bao la với biết bao tai họa và bất trắc bên ngoài.
Tất cả không còn ý nghĩa gì nữa.
Tất cả như đều lùi xa mãi mãi.
Bởi ở đây quá đỗi yên bình và ấm áp. Quá đỗi ngọt ngào. Ở đây. Trong vòng tay của chàng.
Dường như trái tim của ta và trái tim của chàng đã ngừng đập trong giây lát, để rồi sau đó ta thấy chúng cùng hòa chung một nhịp rất đỗi hân hoan, rộn ràng.
Chàng xiết chặt hơn một chút vòng tay của mình, rồi khẽ thì thầm trên mái tóc của ta:
- Sao nàng không trả lời ta? Nàng không muốn như vậy sao? Không muốn mãi mãi ở bên ta sao?
Ta bất giác thấy những giọt nước mắt nóng hổi, không rõ từ đâu đã đua nhau lăn dài trên má mình. Ta vô thức vội vàng vòng tay lên ôm chặt lấy tấm lưng rộng và khỏe khoắn của chàng rồi gật đầu lia lịa:
- Nga Nhi muốn! Nga Nhi muốn!
Rồi cứ thế gục mặt vào vòm ngực của chàng mà nức nở, thấy lòng rất đỗi nhẹ nhàng, dường như những cảm xúc chất chứa bao lâu nay đều được giải tỏa.
Chàng xiết chặt vòng tay hơn một chút nữa, cứ để cho ta nức nở một lúc. Rồi sau đó nắm vào hai bờ vai ta khẽ đẩy ta ra một chút, nhìn ta trìu mến rồi đưa tay lên lau nước mắt trên má ta, vuốt lại những sợi tóc lướp tướp trên mặt. Rồi chàng cười:
- Sao mà phải khóc như con nít thế Nga Nhi của ta? Nàng đừng có khóc như vậy nữa, nước mắt của nàng sẽ làm trái tim ta tan chảy mất nàng có biết không?
Nói rồi lại đưa tay lên lau thật khô hai bên má. Xong xuôi lại ôm ta vào lòng.
Chúng ta cứ đứng như thế rất lâu bên dòng Càu Chày.
Ta chỉ ước gì thời gian dừng lại mãi mãi nơi đó. Dừng lại mãi mãi trong vòng tay của chàng.
Những tháng ngày sau đó ta thực sự là cô gái hạnh phúc nhất thế gian này. Ta giống như một cánh chim được tự do bay nhảy trên bầu trời cao xanh rộng lớn. Ta giống như một bông hoa hồn nhiên khoe sắc tỏa hương giữa cánh đồng bao la và khoáng đạt. Lòng ta phơi phới và hân hoan.
Mùa đông ta cùng chàng nắm tay cưỡi ngựa và rong ruổi khắp cánh đồng, cùng chàng nắm tay thả diều và ca hát bên sông.
Mùa xuân ta cùng chàng đi ngắm hoa mơ hoa mận nở khắp rừng. Cùng chàng đạp cỏ xanh đi ngắm hoa lê trắng giữa tiết Thanh minh ấm áp. Cùng chàng vui chơi, hội hè làng trên xóm dưới.
Mùa hè chúng ta đầu trần đi đón những cơn mưa rào. Cùng nhau nghịch ngợm và vầy mưa, cùng chèo thuyền ra hồ hái sen, ngắm cảnh.
Lúc nào chúng ta cũng tay trong tay và lúc nào tiếng cười cũng rộn ràng, lấp lánh.
Suốt mùa Thu, mùa Đông, mùa Xuân, mùa Hè ấy, chàng đã vì ta mà tấu lên không biết bao nhiêu bản sáo ấm áp, hân hoan. Những bản nhạc chàng chưa từng tấu lên cho ai trong đời. Những tháng ngày đó, ta chính là cô gái hạnh phúc nhất thế gian này.
Có một ngày mùa hè mà ta nhớ mãi, hôm đó ta với chàng phóng ngựa đi hái hoa sen. Vừa hái xong, cho thuyền vào bờ thì trời bất ngờ đổ mưa rào dữ dội. Mưa rào mùa hạ bất chợt rất gắt, không thể phóng ngựa về được, chúng ta đành xuống dắt bộ.
Vừa hay khi đó nhìn thấy một bìa rừng gần đó, thế là chúng ta liền dắt ngựa vào đó trú tạm. Buộc ngựa vào một gốc cây, hai người cùng đứng lại dưới tán lá để tránh mưa. Nhưng do đã dắt ngựa đi bộ một quãng dưới mưa, nên quần áo, đầu tóc cũng đã ướt sũng cả. Nước cứ thế chảy từ đầu xuống chân dòng dòng. Tuy nói là trú mưa nhưng tán lá mỏng mà mưa quá lớn, nên nước từ trên các tán lá vẫn nhỏ xuống đầu, xuống người chúng ta tí tách. Chàng thấy thế bèn đưa lá sen đang cầm trên tay che lên đầu cho ta. Ta trong lòng xúc động, nhưng ngoài mặt lại chuyển sang tinh nghịch nhìn chàng phì cười.
- Sao nàng lại cười?
- Nga Nhi buồn cười vì thấy người ngợm, quần áo chúng ta đều đã ướt như chuột lột cả rồi mà còn trú mưa làm gì không biết!
Chàng lấy tay lên vuốt bớt nước mưa trên mặt, đưa mắt nhìn ra ngoài trời, cũng phì cười:
- Đúng thật! Chỗ này nước mưa cũng hắt có khác gì ngoài trời đâu.
Nói rồi chúng ta cùng nhìn bộ dạng hết sức lếch nhếch tả tơi của nhau, cùng cười vang. Ta chợt nhảy ra một ý, bảo:
- Đứng trú mưa cũng ướt như ngoài trời vậy tại sao ta không ra bên ngoài mà tận hưởng cho trọn cơn mưa nhỉ?
Nói rồi kéo tay chàng ra đứng giữa trời. Rồi chúng ta chạy nhảy, trêu đùa như hai kẻ điên dưới cơn mưa. Chưa bao giờ chúng ta được thoải mái và cười vui đến như vậy.
Chơi một lúc đã thấm mệt, ta lại cầm tay chàng lôi vào dưới tàng cây, bảo:
- Nga Nhi mệt quá, chúng ta hãy nghỉ một lát rồi chơi tiếp.
Ta đang nắm tay chàng vừa cười vừa thở chưa dứt được, thì trời bỗng ngớt mưa, cũng bất ngờ như lúc đến. Ánh mặt trời xuyên qua những đám mây đen sắp tan chiếu những tia le lói xuống mặt đất.
- A! Nắng lại rồi! Chúng ta về thôi!
Ta nói rồi kéo tay chàng đi. Nhưng chàng vẫn không hề nhúc nhích làm cánh tay ta bị giật mạnh lại. Ta quay lại sửng sốt nhìn chàng. Chàng mỉm cười, nhẹ nhàng bảo:
- Ta chưa muốn về.
- Sao chứ? Chàng còn ham chơi hơn cả Nga Nhi sao?
Chàng nhìn ta gật đầu, không nói gì. Ta phá lên cười ngặt nghẽo:
- Trời ơi nhìn chàng kìa! Thường ngày oai nghiêm, đĩnh đạc trước các huynh đệ là thế, hóa ra là..
Chưa kịp dứt lời, thì tiếng nói cười của ta đã bị chặn lại. Vì chàng đã bước lại gần và trong khoảnh khắc ta đã ở gọn trong vòng tay của chàng.
Ta nửa phần ngượng ngùng, nửa phần bất ngờ định đẩy chàng ra, nhưng vòng tay của chàng đã đan chặt quanh ta, không sao cựa quậy được. Ta đành im lặng ở yên đó không nhúc nhích.
Phút e ngại ban đầu cũng dần qua đi, ta từ từ đưa tay ra sau ôm lấy lưng chàng.
Cơ thể sát với cơ thể.
Qua làn áo dính nhép lại vì mưa, ta dần dần có thể cảm nhận được vòm ngực khỏe khoắn của chàng đang rung động theo từng nhịp thở; những thớ cơ chắc khỏe, hào sảng trên đôi cánh tay của chàng đang bao quanh ta.. Sự tiếp xúc quá gần gũi ấy khiến ta vừa lạ lẫm, vừa e sợ, ngượng ngùng, định đẩy chàng ra lần nữa. Nhưng lần này hai cánh tay của chàng lại siết chặt thêm, rồi chàng bất ngờ cúi xuống hôn ghì lấy đôi môi của ta.
Một luồng tê dại chạy từ đỉnh đầu xuống tới chân làm ta phút chốc cứng đờ cả người, không biết phải làm sao nữa. Đến khi định thần lại thì chàng đã vòng một tay ra sau đầu kéo ta sát lại hơn. Đôi môi nóng hổi và ướt mềm của chàng áp chặt thêm, áp chặt thêm. Càng lúc càng tham lam, cuồng nhiệt và si mê. Ta chẳng biết tự lúc nào đã mở rộng miệng để đón nhận môi chàng. Và rồi cũng dần dần, từ từ trở nên cuồng nhiệt đáp lại chàng.
Hai đôi môi cứ thế mà quện lấy nhau không rời. Ngọt ngào. Mê lịm. Quên trời đất..
Mấy đóa sen và những chiếc lá sen vốn ở trên tay hai người đã bị bỏ rơi xuống đất tự lúc nào, nằm yên trên mặt cỏ xanh còn ướt đẫm nước mưa. Một chiếc cầu vồng bảy màu rực rỡ hiện lên lộng lẫy trên bầu trời.
Mùa hè năm Ất Sửu Nam Tấn Ngô Vương mang quân đi đánh hai thôn Đường, Nguyễn bị trúng tên độc, qua đời.
Tham tá thân cận là Lã Xử Bình vốn được Ngô Vương trọng thị, yêu chiều mà ban cho quốc tính, thường gọi Ngô Bình, chớp thời cơ làm loạn, chiếm lấy Cổ Loa, thâu tóm toàn bộ quân đội ở kinh thành, và dễ dàng đoạt được Binh phù, Ấn tướng cùng Ngọc tỉ. Hoàng tử Ngô Xương Xí chống cự không nổi phải bỏ chạy về vùng Bình Kiều, Hoan Châu để bảo toàn tính mạng.
Lợi dùng bối cảnh loạn lạc đó, Công tử Đinh Liễn, lúc bấy giờ đang làm con tin trong thành Cổ Loa, đã chạy trốn khỏi kinh đô. Trở về Hoa Lư, Công tử Đinh Liễn liền mang theo một vài bộ tướng thân tín, tiến vào vùng Ái Châu để chiêu mộ binh lính, tập hợp lực lượng, hòng thực hiện lý tưởng của hai cha con họ Đinh bấy lâu nay, giấy nghiệp thống nhất nước nhà.
Vốn biết Ái Châu là vùng đất thượng võ, lại có Võ đường Dương Xá là quê hương của người anh hùng Dương Đình Nghệ mà dòng họ Đinh đã mấy đời phò tá dưới trướng; là cái nôi đào tạo binh hùng tướng giỏi của cả vùng, Công tử Đinh Liễn nhanh chóng tìm tới bái kiến Nghĩa Phụ và Thúc phụ. Ba người cứ thế mà bàn bạc việc nước, việc quân mấy ngày mấy đêm liền.
Đến ngày thứ tư Thúc phụ cho tập hợp toàn bộ môn sinh để Công tử Đinh Liễn diễn thuyết. Biết được lý tưởng lớn lao của cha con họ Đinh là thu phục các Sứ quân, thông nhất giang san, mang lại bình yên cho muôn dân, hàng trăm môn sinh trong Võ đường đã nhất loạt theo chàng.
Khi ấy Công tử Đinh Liễn đã gặp Lê Hoàn, hai anh hùng hào kiệt chí lớn gặp nhau, chẳng mấy chốc họ đã trở nên tâm đầu ý hợp. Lê Hoàn ngay lập tức được phong làm bộ tướng chỉ dưới Công tử Đinh Liễn một bậc.
Biết tin các môn sinh trong Võ đường đã nhất tề theo về với cha con họ Đinh, thanh niên trai tráng khắp vùng Ái Châu cũng đua nhau về quy phục. Thế là lực lượng của Đinh công tử đã lên tới con số ba nghìn. Bèn báo tin về cho Đinh Động chủ, chuẩn bị thêm viện binh để tiến về chiếm lấy Cổ Loa. Hai bên cùng thống nhất đúng ngày rằm tháng Tám sẽ xuất phát.
Tối ngày mười bốn, ở Võ đường và Đông Lỗ trang tổ chức tiệc chiêu đãi lớn để chia tay các môn sinh, chúc cho đội quân của Đinh Công tử chân cứng đá mềm, trăm trận trăm thắng.
Cả Võ đường và Đông Lỗ đông vui rộn rịp như có hội, người ra người vào tấp nập cả lên. Nghĩa phụ và nghĩa mẫu vốn không thích những nơi đông người, nhưng dịp này cũng cao hứng sang tham dự. Chỉ có ta là lòng buồn rười rượi.
Chàng gặp Đinh Công tử như cá gặp nước, như người tâm giao gặp người tri kỷ, hai người lúc nào cũng như hình với bóng, suốt đêm ngày chong đèn bàn bạc sách lược cùng nhau; lại thêm phải bố trí, tổ chức lực lượng quân đội vừa tuyển mộ được; lo liệu cho cuộc tiến quân sắp tới, mà bận trăm công nghìn việc. Mấy ngày nay chàng chẳng có thời gian mà nhìn đến ta một lần.
Đã thế chàng còn sắp đi xa..
Nghĩ đến đó mà lòng ta vừa buồn vừa giận ngổn ngang trăm mối. Chẳng biết buồn hơn hay giận nhiều hơn. Chẳng thiết tha gì tới tiệc rượu liên hoan nữa.
Sau khi nghĩa phụ và nghĩa mẫu đã về nhà nghỉ, cũng chẳng còn hứng thú gì với việc nghe hát, xem diễn trò, ta bảo hai thị nữ lẳng lặng đưa ta về, nhưng một mặt lại bảo gia nhân chưa về báo tin cho nghĩa phụ và nghĩa mẫu vội, vì ta còn muốn dạo chơi một lúc.
Rồi ta cùng hai thị nữ cứ thế lang thang trên cánh đồng, dưới ánh trăng mười bốn.
Cứ thế đi vô định một hồi mà đã ra tới bờ sông Càu Chày tự lúc nào. Chính là nơi mà Trung thu năm trước chàng đã ngồi thổi sao. Chính là nơi mà chàng đã nói yêu ta.
Vậy mà giờ..
Vầng trăng mười bốn chưa tròn đầy, mà ánh trăng đã sáng trong vằng vặc. Ánh trăng im phăng phắc buông trên mặt sông làm trời đất như nối liền một dải trong một thứ ánh sáng mờ ảo như thơ như mộng. Vậy sao ta thấy thê lương làm vậy. Hay chỉ tại chính ta đang sầu não mà thôi? Năm trước đã cùng nhau đứng nơi đây trao lời nguyện ước. Bao ngày tháng qua đã cùng nhau ngồi trên các tảng đá này, dưới gốc cây gạo này để cùng nhau vui đùa, trò chuyện. Nơi đây chàng đã vì ta mà tấu lên bao bản nhạc ân tình. Thế mà giờ chỉ còn lại những tảng đá trơ chọi, lạnh lẽo. Chỉ còn thân gạo cô độc đứng đó ngóng mãi lên trời. Rồi đây sẽ chỉ còn ta làm bạn với cây gạo cô đơn này. Cây gạo già! Người đã đứng đây bao nhiêu năm rồi và sẽ còn đứng đây bao nhiêu năm nữa? Đã có bao nhiêu kẻ phải nhỏ lệ chia ly dưới gốc của Người?
Nhìn cảnh đó, người đó, nghĩ tới đó, nước mắt cứ thế trào ra. Rồi ta cứ đứng đấy mà khóc nức nở ngon lành. Ánh trăng và dòng sông lấp lóa, tất cả đều nhòe đi theo làn nước mắt đớn đau.
Lan Nhi và Ngọc Nhi hốt hoảng chạy lại bên ta. Lan Nhi bám vào cánh tay ta rồi lắc lắc, bảo:
- Tiểu thư sao thế? Có gì ấm ức hãy nói cho chúng em chứ? Sao tự dưng ra đây khóc lóc như vậy? Bọn em biết phải làm sao đây?
Chưa ai kịp nói gì thêm thì giọng Ngọc Nhi vừa bất ngờ vừa hốt hoảng cất lên:
- Lê Công tử!
Ta cùng Lan Nhi quay lại nhìn, thấy chàng đang vội vàng đi đến.
Chưa kịp chào hỏi gì, chàng đã bảo hai thị nữ:
- Xin hai nàng hãy lui đi một lúc, ta có chút chuyện muốn nói riêng với Dương Tiểu thư. Vừa nói chàng vừa bước nhanh lại phía ta đang đứng.
Hai thị nữ nhanh chóng trở lên trên đường đứng, vừa nói chuyện vừa canh chừng. Bấy giờ ta mới vội vã đưa tay quệt nước mắt. Rồi vờ như không thèm để ý đến chàng, mắt vẫn đăm đăm nhìn xuống dòng Càu Chày.
- Sao nàng lại khóc? Sao đang khóc mà thấy ta đến lại vội ngừng?
Ta im lặng không nói gì cả, dù thực tình khi nghe câu hỏi ấy của chàng, bao ấm ức, giận hờn, buồn tủi mấy ngày qua đã dâng lên đến cổ họng, phải khó khăn lắm ta mới ngăn được, không để nó vỡ òa ra.
Thấy vậy chàng ân cần cầm lấy tay ta, dịu dàng bảo:
- Nàng giận ta vì mấy ngày hôm nay không quan tâm được tới nàng đúng không?
Ta vẫn quyết không nói gì. Rút bàn tay ra khỏi tay chàng, trong khi tay còn lại lẳng lặng đưa lên lau vội hai hàng nước mắt đã lăn dài trên má.
Chàng bước lại vòng tay ôm lấy ta, sau đó khẽ kéo đầu ta sát vào ngực chàng rồi thì thầm bên tai:
- Ta biết nàng giận ta mà. Muốn khóc thì nàng cứ khóc đi.
Nói rồi đưa tay vuốt lên mái tóc ta, tay kia thì vỗ vỗ vào lưng ta an ủi, vỗ về.
Thế là không kìm được nữa, ta bắt đầu khóc lên nức nở. Chàng vòng tay ôm chặt ta vào lòng rồi xúc động nói:
- Không nhìn thấy nàng đâu cả ta vội vã đi tìm. Không ngờ ra đây đã thấy nàng thế này. Ta biết ta sai rồi. Ta biết ta đã làm cho nàng buồn. Muốn trách mắng gì nàng cứ trách mắng đi. Nhưng xin nàng hãy hứa với ta một điều: Nàng sẽ đợi ta về được không?
Ta không trả lời, vẫn cứ ấm ức úp mặt vào ngực chàng mà khóc dữ dội hơn.
Ly biệt! Điều ấy cuối cùng cũng đã đến rồi!
Mấy ngày qua ta có chút giận dỗi chàng vì chàng bận bịu quá không để tâm đến ta nhiều được. Nhưng ai có thể trách chàng vì sự bận bịu ấy được? Phận nữ nhi như ta cũng biết tình hình đất nước hiện tại đang nước sôi, lửa bỏng. Nếu không nhanh chóng dẹp tan được bọn phản loạn Lã Xử Bình ở Cổ Loa, bình định các sứ quân thì thiên hạ sẽ đại loạn. Các sứ quân sẽ vì tranh giành quyền lực mà chém giết lẫn nhau, chiến tranh vì thế sẽ diễn ra liên miên không dứt, dân đen sẽ phải chịu cảnh lầm than còn bọn giặc phương Bắc sẽ lợi dụng tình thế ấy mà trở lại xâm lược đất nước. Thế nên chàng và Đinh Công tử phải quay như chong chóng để chuẩn bị, không chút nghỉ ngơi, điều đó ai cũng biết. Ta có dỗi hờn chàng, tủi thân vì chàng không quan tâm được tới ta, nhưng ta nào có thể trách cứ các chàng được?
Cái ta sợ nhất, cái làm cho ta đau khổ nhất chính là phải đối mặt với giây phút ly biệt này!
Ta ước sao những chuyện này không bao giờ xảy ra, ước sao ta và chàng sẽ mãi mãi được bên nhau, cùng nắm tay vui chơi ca hát trên cánh đồng Cầu Chày. Nhưng giờ đây, đó không phải là một ước mơ viển vông giống như thuở nhỏ người ta vẫn hay mơ được gặp các bà tiên và được cho nhiều kẹo bánh hay sao?
Mà khi đã đi rồi thì biết bao giờ trở lại? Một năm. Hai năm. Năm năm. Hay là biết đến khi nào? Nghĩ đến những tháng ngày không có chàng ở bên cạnh mà ta đã thấy đau đớn, trống trải tới tận cùng. Có lẽ những cánh đồng mùa đông bên dòng sông Càu Chày, nơi những cơn gió mùa Đông Bắc vần vụ và gào thét cũng không thể trống trải đến thế.
Càng nghĩ ta càng không làm sao cho nước mắt ngừng rơi được. Có lẽ cũng đã thấm ướt đẫm ngực áo chàng rồi. Chàng thấy thế cũng không nói gì nữa. Chỉ xiết chặt ta vào lòng.
Khóc lóc một hồi trong vòng tay chàng, ta cũng đã phần nào bình tâm lại, bèn nhẹ nhàng đẩy chàng ra, lấy khăn tay lau nước mắt trên mặt. Thì thấy nước mắt cũng đã chan chứa trên khuôn mặt của chàng tự lúc nào.
Đây là làn thứ hai chàng khóc vì ta. Lần một chính là khi thấy ta nằm ở dưới đáy vực bên sông Càu Chày để thử lòng chàng ngày ấy. Những giọt nước nhỏ mát lạnh rớt lên mặt ta khi đó chính là nước mắt của chàng. Và đây chính là lần thứ hai.
Nhìn nước mắt chảy dài trên gương mặt hàng ngày vốn cương nghị, đĩnh đạc mà nay lại nhuốm thêm phần mệt mỏi vì bận bịu và lo lắng của chàng sao thấy đau lòng đến thế. Ta vội vã lấy tay lau nước mắt trên mặt chàng rồi cuống quít:
- Chàng cũng phải hứa sẽ trở về với Nga Nhi chứ? Dù thế nào chàng cũng phải trở về đây, trở về Đông Lỗ bình an với Nga nhi chứ? Nga Nhi sẽ đợi chàng, sẽ mãi mãi ở đây đợi chàng!
Chàng ôm ta vào lòng rồi bảo:
- Nhất định rồi. Ta nhất định sẽ trở lại. Nàng hãy đợi ta ca khúc khải hoàn trở về, rồi chúng ta sẽ sớm tối bên nhau.
Ta gật đầu. Rồi hai ta trao nhau một nụ hôn rất dài ở bên sông Càu Chày. Rồi cứ thế đứng bên nhau mãi, mong không phải chia rời.
Khi chúng ta đứng bên nhau như thế, chúng ta có một sự chắc chắn đến khờ khạo về tương lai của mình. Bản thân ta khi đó ôm chặt lấy chàng dưới ánh trăng lồng lộng, trao cho chàng nụ hôn ly biệt thật dài dưới bầu trời cao rộng, giữa cánh đồng mênh mang bên dòng sông quê hiền hòa, cũng nghĩ rằng chỉ có cái chết mới có thể chia lìa được chúng ta. Thế mà rồi..
Nếu người đến cầu thân với ta vào đầu mùa hè năm sau đó là bất kỳ ai mà không phải Đinh Bộ Lĩnh thì ta đều có thể từ chối, đều có thể nói cho nghĩa phụ và nghĩa mẫu biết về lời hứa hẹn của ta với chàng. Rồi ta sẽ giữ được lời hứa với chàng. Nhưng chớ trêu thay người đến khi đó không là bất kỳ ai khác, mà lại chính là Đinh Bộ Lĩnh!
Sau khi từ Ái Châu tiến quân về Hoa Lư, đoàn quân của Đinh công tử và chàng tiếp tục chiêu mộ thêm nhiều binh lính, đồng thời nhận được tiếp viện từ Động Hoa Lư, rồi nhanh chóng tiến thẳng về Cổ Loa. Với lực lượng gồm nhiều quân tinh nhuệ, khí thế như chẻ tre, chỉ trong vòng vài ngày đã tiêu diệt được Lã Xử Bình, chiếm đóng Cổ Loa. Các tháng sau đó lực lượng chàng và Đinh Công tử, với viện quân của các tướng tài Nguyễn Bặc, Đinh Điền đã tiến quân lên Phong Châu, Bạch Hạc, tiêu diệt Kiều Tri Hựu - kẻ vốn vẫn nhăm nhe tiến về Cổ Loa tranh giành với Lã Xử Bình.
Chiếm được Cổ Loa, Phong Châu, Bạch Hạc, nắm Binh phù, Ngọc tỉ trong tay; tiếp sau đó là việc dũng tướng Phạm Phòng Át tới bái kiến Đinh Bộ Lĩnh xin quy phục về dưới trướng đã tạo ra cho quân đội của Đinh Bộ Linh một thế và lực rất lớn. Để rộng đường dư luận, thuận lợi cho việc đánh dẹp và hàng phục các sứ quân, thống nhất đất nước, họ Đinh xác định việc cần làm trước nhất tại thời điểm đó chính là thu phục được quân đội của cựu Hoàng Tử Ngô Xương Xí.
Cuối Xuân năm Bính Dần, Đinh Bộ Lĩnh mang theo hai bộ tướng thân tín Đinh Điền và Nguyễn Bặc cùng một nghìn binh lính tiến về vùng Hoan Châu. Trên đường đi, đã ghé qua Đông Lỗ trang bái kiến nghĩa phụ ta.
Năm xưa Thứ sử Hoan Châu Đinh Công Trứ, là thân sinh của Đinh Bộ Lĩnh, từng là bộ tướng thân tín của tổ phụ Dương Đình Nghệ. Đến khi nghĩa phụ về làm Vương tại Cổ Loa từ năm Ất Tỵ đến năm Canh Tuất, họ Đinh cũng đã hết mực trung thành hầu hạ dưới trướng. Tình nghĩa mấy đời không gì có thể sánh được. Hơn nữa Võ đường họ Dương chính là nơi đã đóng góp những lực lượng tinh nhuệ nhất cho quân đội của họ Đinh, vì thế việc vào bái kiến này chẳng có gì làm lạ.
Sau khi hạ trại cho binh lính nghỉ ngơi, sáng sớm Đinh Bộ Lĩnh cùng với hai bộ tướng Đinh Điền, Nguyễn Bặc đã lặng lẽ rời doanh trại, ba người ba ngựa cứ thế thong thả tiến vào Trang. Mấy người đã cùng nghĩa phụ ta đối ẩm, bàn bạc chính sự suốt cả một ngày liền. Chính nghĩa phụ là người đã hiến kế cho họ Đinh, rằng lực lượng của Ngô Xương Xí rất yếu, nên họ Đinh không cần phải giao chiến làm gì cho bao binh tổn tướng của cả hai bên, chỉ cần tiến thẳng về đất Bình Kiều, cho quân dựng trại cạnh thành họ Ngô, rồi mở tiệc khao quân, trống rong cờ mờ, chiêng trống khua khoắng là ắt cựu Hoàng tử sẽ phải ra hàng. Về sau họ Đinh đã áp dụng đúng sách lược này của Nghĩa phụ và nhanh chóng hàng phục được cựu Hoàng tử Ngô Xương Xí.
Buổi tối hôm đó trước khi rời đi, họ Đinh đã xin với nghĩa phụ đón ta về làm Hoa Lư làm vợ lẽ. Hẹn một đôi tháng sau đó sẽ chọn ngày lành tháng tốt cho người từ Hoa Lư về đón rước.
Nếu là một ai khác không phải họ Đinh cầu thân thì mọi chuyện đã có thể khác. Nhưng là một người mà như nghĩa phụ đã thấy được khi đó, rằng chỉ còn là vấn đề thời gian thôi sẽ nắm cả thiên hạ trong tay, thì ta còn có thể làm gì?
Khi ta và chàng hứa hẹn với nhau dưới ánh trăng sáng bên sông Cầu Chày, ai có thể nghĩ tới việc, rằng ta sẽ phải về Hoa Lư, sẽ phải trở thành vợ lẽ của người mà chàng hàng ngày cúi đầu gọi là Minh chủ? Nếu là chàng, nếu chàng ở bên cạnh ta khi đó, thì chàng sẽ làm gì? Và chàng, khi chàng ở nơi xa đó hay tin ta đã về Hoa Lư trong tâm thế như thế này, chàng sẽ cảm thấy như thế nào? Chàng có đau lòng không? Chàng có hiểu cho nỗi lòng ta không? Rồi mai đây ta với chàng sẽ đối diện với nhau như thế nào giữa đất Hoa Lư này? Rồi mai đây chúng ta sẽ đối diện với nhau và đối diện với lòng mình ra sao mỗi khi thấy ánh trăng sáng gợi nhắc những lời hẹn ước còn dang dở khi xưa..
Ngồi suy nghĩ miên man về những chuyện đã qua, vậy mà ta đã ngủ gục ở bên bàn tự lúc nào không biết. Đến khi thấy người thấm lạnh tỉnh dậy, thì đã nghe tiếng mõ điểm canh năm. Nhìn sang thấy nến đã cháy gần hết, định đứng dậy thắp thêm cây nến mới thì chợt nghe bên ngoài có tiếng chim ríu ran. Bước lại cửa sổ đẩy tấm liếp lên nhìn ra, thấy không gian bên ngoài đã hửng sáng, lại thôi không thắp nến nữa, buộc lại áo choàng định bước ra ngoài đi dạo để hít thở không khí trong lành buổi sáng sớm. Đúng lúc đó thấy Lan Nhi đầu tóc, quần áo tả tơi bước vội từ trong phòng ra, hốt hoảng:
- Tiểu thư! Hóa ra người ở đây mà làm em hết cả hồn. Nói rồi hết nhìn chằm chằm vào mặt ta lại nhìn những ngọn nến gần tàn trên giá, mới giật mình hỏi tiếp: Không phải là người đã thức suốt cả đêm đấy chứ Tiểu thư?
- Ta không ngủ được nên ra ngoài này ngồi một lúc ấy mà, em việc gì mà phải làm ầm lên như vậy?
- Em không làm ầm lên có được hay không! Lan Nhi vừa nói vừa tiến lại gần, cầm vào bàn tay ta, hốt hoảng: Người đã thức khóc suốt cả đêm sao? Sao mắt mũi lại xưng đỏ hết lên thế kia? Người lại nghĩ ngợi cái gì chứ?
Ta giật mình:
- Mắt mũi ta xưng lên thật sao? Nhìn rõ lắm hay sao?
- Chứ còn gì nữa! Người hãy đợi ở đây em đi lấy ít nước lạnh cho người rửa mặt, chườm mắt cho bớt đỏ đi.
Nói rồi nàng chạy vội đi lấy một chậu nước lạnh và khăn mặt mang vào. Ta thấm nước vào khăn rồi rửa mặt, chườm mắt một lúc cho bớt đỏ và xưng. Xong xuôi hai người chỉnh trang gọn gàng rồi ra vườn đi dạo.
Buổi sáng sớm, mặt trời vẫn chưa lên, nên hơi lạnh và sương đêm vẫn giăng mắc trong các lùm cây, tán lá. Bước nhẹ trên những lối đi âm ẩm ta khẽ hít căng lồng ngực bầu không khí trong lành buổi sáng. Cảm nhận rất rõ những mùi hương hoa lẫn trong không khí: Hương hoa ngâu thơm ngào ngạt, mùi dạ hương còn vương lại từ đêm qua, mùi thanh khiết của những nụ tóc tiên đang chờ nắng để hé nở, và cả những mùi hương gì rất mơ hồ, khó đoán định còn vương vấn lại như những dấu chân bí hiểm của đêm.
- Đi dạo một chốc cho thư giãn gân cốt xong rồi Tiểu thư nên về nhà nghỉ, kẻo người sẽ bị mệt đấy!
- Ta thấy khỏe lắm, không cần nghỉ ngơi gì đâu, em đừng lo.
Lan Nhi mím môi không nói gì, hai người phút chốc rơi vào im lặng. Lững thững bước đi bên nhau ở trong vườn, theo đuổi những ý nghĩ riêng. Rồi Lan Nhi bỗng nhiên lại cất lời, tiếng nàng thì thầm, ngắt quãng:
- Thời gian đầu khi nghe tin Tiểu thư sẽ về Hoa Lư làm vợ lẽ của họ Đinh em đã rất bất ngờ vì thấy Tiểu thư im lặng đồng ý mà không hề phản kháng gì. Bình thường người đâu phải là một người nhu nhược và cam chịu, vậy nên em cứ thắc mắc sao người lại như thế? Người không nghĩ gì tới tình cảm của Lê Hoàn công tử hay sao? Nhưng rồi khi có thời gian ngẫm nghĩ kỹ lại, em mới hiểu được cái khó của người.. Là một tiểu tử nha đầu như em mà còn hiểu được điều đó, thì em nghĩ.. em nghĩ..
Ta nãy giờ vẫn vừa nghe nàng nói, vừa lơ đãng đưa mắt sang ngắm nhìn những bông hoa ngâu đang ngậm những hạt sương sớm trông long lanh như những hạt ngọc, thấy nàng có vẻ lưỡng lự, bèn quay lại nhìn nàng:
- Em nghĩ sao?
- Em nghĩ.. Chắc chắn Lê Công tử cũng sẽ hiểu cho người thôi. Vậy nên người đừng buồn rầu và suy nghĩ nhiều nữa. Bọn chúng em nhìn thấy người như vậy cũng rất là đau lòng.
Những lời nói chân tình của Lan Nhi, cùng với mấy chữ Lê công tử sẽ hiểu như những mũi tên bắn vào trái tim ta đau nhói, trong thoáng chốc lại khiến nước mắt trào ra, lăn dài trên má.
Trông thấy ta khóc, Lan Nhi trở nên bối rối. Nàng ngốc này định an ủi ta, không ngờ lại làm cho ta xúc động trở lại, thành ra trở nên luống cuống loay hoay không biết xử trí ra sao.
Ta vẫn nước mắt ngắn nước mắt dài mà vẫn phải phì cười vì nàng. Không muốn làm cho nàng lo lắng, ta vội vã lau nước mắt vừa bảo:
- Ta không sao đâu, chỉ là trong phút chốc có người cảm thông với mình nên xúc động thôi. Ta hứa từ giờ sẽ không nghĩ ngợi linh tinh như hôm nay nữa. Em đừng lo lắng. Giờ chúng ta hãy nhanh chóng đi dạo rồi về ăn sáng, sau đó ta còn phải qua nhà Đông để Đinh nương giao việc cho ta nữa.
Lan Nhi khẽ gật đầu không nói gì thêm. Hai người lại người trước kẻ sau bước đi thong thả ở trong vườn, hết ngắm hoa cúc rồi lại hoa hồng, hoa thược dược.
Tình cảm của hai nàng thị nữ đối với ta ta rất hiểu, nhưng thực ra các nàng, thậm chí cả cái nàng ngốc Lan Nhi này vốn là người hiểu sự đời hơn cả cũng làm sao hiểu hết được lòng ta? Chàng sẽ hiểu cho hoàn cảnh của ta chứ? Ta nghĩ là chàng sẽ hiểu. Nhưng hiểu để rồi sao? Chẳng phải chúng ta vẫn phải xa nhau đó hay sao? Cái làm cho ta đau đớn chính là ta đã mất chàng rồi, chính là sẽ có ngày ta và chàng đối mặt ở đất Hoa Lư này mà nghìn chùng xa cách.
Mất nhau rồi! Có hiểu hay không thì cũng mãi mãi mất nhau rồi! Đó mới là sâu thẳm của nỗi đau..
Đi dạo trở về và dùng bữa sáng xong xuôi, ta cùng hai thị nữ vội vã ngồi xe sang nhà Đông để Đinh nương giao việc.
Từ ngày về Động đến nay cũng đã hơn một tháng, vậy mà vì ốm đau nọ kia ta chưa kịp tiếp nhận việc gì cả. Hôm nay Đinh nương hẹn sang để bàn giao và hướng dẫn việc cai quản Ban Y phục, vốn là nơi tập hợp gần một trăm phụ nữ khéo léo sinh sống trong Động làm công việc may vá trang phục cho toàn Động, nhất là trang phục cho quan quân, binh lính để gửi ra xa trường.
Mùa đông đang đến rất gần kề rồi, nên công việc ở đây đang ngày một bận rộn.
Khi ta đến nơi thì hai thị nữ đang hầu Đinh nương dùng trà sáng. Nàng nhìn lướt qua mặt ta rồi bảo ta ngồi. Thị nữ của nàng rót cho ta một chén trà nhài nóng, thơm phức. Xong xuôi nàng cho gia nhân lui, rồi chậm rãi đặt chung trà xuống bàn, nhìn ta:
- Sao hôm nay trông em mỏi mệt vậy. Em không được khỏe chỗ nào hay sao?
- Hôm qua em khó ngủ một chút, nên hôm nay sắc diện không được tốt. Nhưng em vẫn thấy trong người khỏe khoắn lắm, Đinh nương không phải lo lắng cho em đâu!
- Sắc diện em như thế không thể nói là khỏe được đâu. Không phải là em mất ngủ cả đêm để nghĩ ngợi gì đấy chứ?
- Vâng.. Thấy Đinh nương đoán trúng tình trạng của mình, ta thành ra ấp úng: Thực ra.. em có mất ngủ một lúc.
- Nếu mệt quá em hãy cứ về nhà nghỉ ngơi cho khỏe. Rồi hôm khác qua nhận việc sau.
- Em không sao cả đâu. Xin người cứ giao việc cho em như bình thường.
- Thôi, vậy cũng được, hôm nay đã đến đây rồi thì cứ đến Ban y phục nhận việc, sau đó em có thể về nghỉ, từ ngày mai bắt đầu công việc cũng được. Nhưng lần sau nếu thấy mệt, em cứ sai gia nhân qua báo với ta là được rồi. Nếu trong người không thấy khỏe thì cũng không nên cố quá, vì công việc cũng đâu phải ngày một ngày hai là xong đâu; cứ bắt bản thân mình phải cố, chất lượng công việc cũng chưa hẳn đã tốt, mà lại thêm bệnh tật trong người, ảnh hưởng tới mọi việc về sau. Như vậy không phải là thiệt hại đủ đường, thiệt đơn thiệt kép hay sao?
Thấy Đinh nương nói có lí, ta chỉ dám đáp một tiếng "vâng" rồi lẳng lặng ngồi uống nốt chén trà.
Xong xuôi ta và nàng lên xe tới Ban Y phục. Vừa đi đường Đinh nương vừa giảng giải cho ta những công việc ta cần làm.
Công việc chính của ta ở đây là tiếp nhận yêu cầu từ các mặt trận báo về - cái đó Đinh nương hoặc những người có chức trách trong Động sẽ thông tin tới ta, rồi phân công cho các tổ, nhóm trong Ban để may vá theo số lượng và quy cách đã định. Hàng ngày ta sẽ qua Ban kiểm tra, đốc thúc công việc, nắm bắt số lượng, kiểm tra chất lượng để điều chỉnh cho kịp thời. Đến khi xong xuôi thì vận binh sẽ chuyển ra xa trường theo thời gian đã định. Công việc thực ra cũng không có gì nặng nhọc, nhưng nếu không theo dõi sát sao, đốc thúc kịp thời, để trễ hàng ra xa trường thì quan quân, binh sĩ ngoài mặt trận sẽ thêm gian khổ. Bởi vậy cần dốc hết sức hết tâm mà làm.
Sau khi đã phổ biến công việc xong xuôi, đi một lượt gặp gỡ những người có chức trách trong Ban, ta và Đinh nương lại lên xe trở về. Ngồi trên xe, Đinh nương chợt tươi cười bảo:
- Ta nhớ khi em mới ốm dậy, có hứa hôm nào đưa em đi bơi thuyền trong đầm sen. Sẵn tiện hôm nay em chưa bận bịu, ta làm một buổi du ngoạn luôn nhỉ? Kèo mấy bữa nữa gió lạnh về, lá sen tàn hết, là phải hè sang năm mới đi vãn cảnh được đó. Mà hè sang năm.. ai biết được như thế nào, phải không?
Ta hớn hở như mở cờ trong bụng:
- Như vậy thì còn gì bằng nữa! Đinh nương đúng là người chiều chuộng em nhất rồi!
Rồi nàng cho người đánh xe ra bờ đầm, lại sai người đưa thuyền đến. Một thị nữ phụ thạo việc thuyền bè được cử tới để chèo thuyền.
Con thuyền tuy nói là dùng để vãn cảnh hồ, ngắm hoa, hái sen chơi nhưng lại khá lớn, có mái che, được trang hoàng lộng lẫy, sơn son, thếp vàng, thả rèm, buông châu, chẳng khác gì thuyền rồng, thuyền ngự ngày xưa. Chứng tỏ Đinh nương đã đầu tư không ít công phu vào việc này.
Tuy nhiên điều đó cũng chẳng có gì là bất ngờ so với những thú vui, sở thích hết sức tao nhã thường ngày của nàng.
Sau một hồi chuẩn bị, chẳng mấy chốc con thuyền đã lướt nhẹ trên mặt đầm. Ngày cuối thu, mặt trời không chiếu nổi qua làn mây xám; nhưng mây cũng không đủ dày để ngăn không cho ánh sáng mặt trời xuyên qua. Nhờ vậy bầu trời vẫn hửng sáng mà không gian lại không bị ánh mặt trời thiêu đốt, chói chang. Bốn bề chung quanh sáng sủa, trong trẻo, dìu dịu những làn gió thu mát mẻ.
Mặt đầm nước trong veo, long lanh phản chiếu chiếc bóng của lầu Thủy Nguyệt đang soi bóng xuống mặt đầm. Đi trên thuyền nhìn xuống, có thể nhìn rõ cả những ngọn rong đuôi mọc sâu dưới đáy hồ đang vươn mình lên gần mặt nước để đón ánh sáng mặt trời. Lá sen đã tàn đến năm, sáu phần. Những chiếc lá đã héo đen và những chiếc gương sen đã khô quắt gục đầu xuống mặt nước trầm tư soi bóng. Nhưng những chiếc lá nở muộn vẫn mạnh mẽ vươn lên quanh đầm. Hơi lạnh của đêm và sương cuối thu làm cho chúng không thể giữ được màu xanh ngăn ngắt những chiếc lá nở độ hè. Nhưng không vì thế mà chúng mất đi vẻ thanh tao vốn có của mình. Vẫn tỏa ra thứ hương dịu nhẹ, thoang thoảng khắp mặt hồ.
Thuyền bơi ra giữa đầm sen, ta và các thị nữ còn phát hiện ra hai bông sen nở muộn đang nằm là là sát mặt nước. Có lẽ củ của chúng bị chìm quá sâu dưới bùn mà đến giờ chúng mới vươn lên mặt nước được. Giữa tiết trời cuối thu, nhìn thấy hai bông hoa sen đang hé mở với những cánh hoa mịn hồng, gương sen vàng rực cùng những nhị sen thơm ngào ngạt, thấy lòng hân hoan thế! Như thể gặp lại cố nhân thuở nào.
Ta và các thị nữ háo hức quay sang bảo Đinh nương:
- Chúng ta cho thuyền ghé lại hái sen để ngắm thôi chứ, thưa Đinh nương?
Đinh nương đi lại mạn thuyền, chỗ ta cùng mấy thị nữ đang túm tụm ngắm ra các bông sen, bảo:
- Chỉ có hai bông hoa nở muộn mà lại hái mất thì thật là đáng tiếc, sao ta không buông neo ở đây, rồi pha trà mà thong thả ngắm hoa! Không phải là nhã lắm hay sao?
Ta gật đầu bằng lòng. Đinh nương sai các thị nữ đi pha trà - vốn đã được nàng sai người chuẩn bị mang theo từ trước. Ta chỉ biết lắc đầu phục tài nàng vì sự chu đáo tính toán trước sau.
Trong khi các thị nữ đang chú tâm vào pha trà, Đinh nương ngồi lại bên ta, rồi nhẹ nhàng bảo:
- Có phải vì cuộc nói chuyện với ta bên bờ đầm chiều qua mà làm em mất ngủ không?
Ta nhìn nàng, lặng lẽ gật đầu. Rồi chẳng đợi hỏi thêm, cứ thế mà chậm rãi kể cho nàng chuyện của ta và Lê Hoàn công tử.
Khác với những hồi tưởng đêm qua, mỗi hồi tưởng là một lần đau đơn, một dòng nước mắt; thì mỗi lời ta kể cho nàng nghe bỗng dưng làm ta thấy nhẹ nhõm, dễ chịu xiết bao. Tưởng đâu những cơn gió cuối thu đã mang những u sầu đi xa, và dịu dàng, mơn man xoa dịu, an ủi lòng ta vậy.
Đinh nương ngồi im lặng nghe kể. Đến khi ta đã kết thúc câu chuyện nàng vẫn trầm tư ngồi đó, chiếc quạt thêu che hờ hững ngang mặt.
- Giờ ta đã hiểu tại sao khi ta nhắc tới Lê Tướng quân em lại phản ứng như thế. Ta thực sự xin lỗi em vì sự sơ xuất của ta đã khiến em phải buồn!
- Em không buồn nữa rồi. Ta nắm lấy bàn tay nàng: Tâm sự với người cũng như em đã bày tỏ được với mẹ với chị gái mình vậy, xong em thấy rất nhẹ nhàng và thoải mái. Nên em phải cảm ơn người mới phải, sao lại có thể trách lỗi gì người được?
Đinh nương đang định nói gì thêm thì một thị nữ của nàng lại báo trà đã sẵn sàng. Ta và nàng không nói chuyện nữa, lại bàn dùng trà.
- Ta bảo các thị nữ pha trà cúc hái trong vườn nhà dạo đầu thu đấy. Em thử thưởng thức xem sao?
Ta phì cười trêu nàng:
- Thô lỗ như em có trà của Đinh nương mời uống là mừng rồi, nào dám gọi là thưởng thức gì cơ chứ? Em mà thưởng trà của người cũng như đàn gảy tai trâu thôi, Đinh nương lượng thứ cho em!
Nói rồi cố tình trêu nàng, ngửa cổ uống một hơi cạn chén trà, chút xíu nữa là bị bỏng làm cả Đinh nương và các thị nữ được một mẻ cười vỡ bụng.
Mọi người đang cười nói hết sức vui vẻ thì có tiếng người ở bờ đầm gọi với sang:
- Trịnh tướng quân nhắn rằng hai Phu nhân và các nàng vui vẻ, cẩn thận kẻo lại ngã xuống đầm, là hai chúng tôi không cứu được hết đâu nhé! Ha ha..
Mọi người đều ngừng cười nhìn sang, thì ra là Trịnh Tú tướng quân và bộ tướng thân cận là Phạm Đình tướng quân, cùng hai thị vệ đang đi tuần, kiểm tra các chốt canh dọc bờ đầm.
Từ giữa đầm nhìn vào, nổi bật trên nền xanh mướt của lá cây là hình ảnh hai vị Tướng quân và thuộc hạ đang ngồi trên lưng ngựa, áo choàng đỏ tung bay trong gió. Bóng của mấy người in xuống mặt hồ thu phẳng lặng như một bức tranh hết sức thơ mộng thốt nhiên khiến mọi người đều không nói nên lời. Đến lúc bừng tỉnh ra thì mấy người đã phi ngựa đi xa. Chỉ còn lại tiếng cười văng vẳng lại trên mặt hồ.
Ta lúc bấy mới ngơ ngác:
- Sao Trịnh tướng quân lại nhắn nhủ như vậy cơ chứ?
- Chuyện này phải hỏi Đinh phu nhân mới rõ được. Hương Liên, thị nữ của Đinh nương mỉm cười rồi hất hàm sang phía Đinh nương đầy ẩn ý.
Thấy Hương Liên có vẻ bí hiểm, úp mở, ta gặng hỏi nàng mấy lần nhưng không được; mà cũng chẳng tiện hỏi Đinh nương lúc này đã ngồi lại bên bàn, truyện trò cùng mấy người còn lại, nên rốt cục cũng chẳng biết được Trịnh tướng quân và Phạm Đình tướng quân nói vậy có dụng ý gì.
Đầu tháng chạp, họ Đinh cho người từ Bố Hải Khẩu đưa tin về, sức khỏe của nghĩa phụ Trần Minh Công ngày càng xấu đi vì vậy họ Đinh vẫn chưa thể trở về Hoa Lư được. Mọi công việc trong Động vẫn do Trịnh tướng quân, Đinh Phu nhân cùng Dương phu nhân - tức là ta - cai quản. Họ Đinh cũng không quên nhắc nhở Trịnh tướng quân và Đinh nương phải thu xếp việc ăn ở cho ta chu toàn trong lúc họ Đinh vắng mặt.
Tết đã đến rất gần kề, nhưng do họ Đinh vắng nhà, nghĩa phụ Trần Minh Công lại đang lâm trọng bệnh, nên việc vui tết ở trong Động hế sức hạn chế. Khắp nơi đều có gói bánh chưng, bánh giày, mổ lợn và nấu rượu mới, nhưng nơi nào thì tự tổ chức ăn tết ở đó, chứ cũng không tổ chức liên hoan gì linh đình.
Những năm trước ở tại Trang Đông Lỗ, việc tết nhất đều do cha mẹ và gia nhân trong nhà chuẩn bị. Ta và các nàng thị nữ chỉ việc mặc quần áo mới, vui chơi, ăn bánh kẹo thỏa thích, nhận lì xì rồi đi hội ở các làng bên cạnh. Chúng ta chẳng mấy khi phải lo lắng việc gì. Bởi vậy tết trôi qua nhanh như người ta vẫn bảo, "ngắn chẳng tày gang". Năm nay là năm đầu tiên ăn tết xa nhà. Ngồi nhớ nghĩa phụ, nghĩa mẫu; mới thấy những năm tháng ở Đông Lỗ ta đã vui vẻ và hạnh phúc biết chừng nào; và những ngày vui đó ta đã vung vẩy và hoang phí ra sao. Chẳng mấy khi sống thong thả lại để lắng đọng, để suy nghĩ, để biết ơn nghĩa phụ và nghĩa mẫu đã chăm sóc và yêu thương ta. Giờ xa quá rồi mới thấy xót xa!
Đêm giao thừa, sau khi đã cùng Đinh nương và Trịnh tướng quân làm lễ cúng trời đất, gia tiên, đang định dợm bước đi về nhà thì Đinh nương kéo tay ta lại rồi bảo:
- Năm nay là năm đầu tiên ăn tết trong Động, mà em lại định về nhà cùng hai thị nữ của mình đóng cửa đi ngủ sớm hay sao? Nào hãy qua nhà Đông, ta bảo gia nhân bày một mâm rượu ta với em hàn huyên cho vui.
Nghĩ thấy nàng nói cũng phải, không lẽ bây giờ lại cùng hai thị nữ về nhà đóng cửa, ngồi nhìn nhau cho thêm buồn nản. Thế là theo Đinh nương sang nhà Đông.
Nàng đã lệnh cho gia nhân chạy về trước chuẩn bị, nên đến khi xe về tới nhà, thì cỗ bàn đã chuẩn bị xong. Lò sưởi đã được nhóm, hương trầm đã đốt, gian nhà hết sức ấm cúng, và vui vẻ.
Gia nhân bày một mâm rượu thịt ra sập gụ giữa phòng nàng. Các thị nữ thì ngồi hết ở gian nhà ngoài, cũng được bày hẳn một mâm đủ cả thịt rượu. Đinh nương bảo các nàng cứ ăn uống thoải mái và tự nhiên vì cả năm các nàng đã lo cho chúng ta đủ rồi. Hôm nay ta và Đinh nương sẽ tự lo. Thế là các nàng chúc tụng nhau, rồi ăn uống, sát phạt nhau om xòm hết cả lên. Ta và Đinh nương chỉ còn biết nhìn các nàng mà lắc đầu.
Nhắc nhở các nàng vui vẻ nhưng cũng không nên quá chén, xong rồi ta và Đinh nương tự mình mang gối tựa lưng ra đặt trên sập gụ, ngồi xuống bên nhau và cũng rót rượu, chúc tụng nhau.
Qua vài lượt chúc tụng, dăm ba chén rượu đã thấy trong người ấm áp trở lại. Nhưng rượu ngấm vào người lại làm người ta bỗng như trầm tư hơn. Bao nhiêu suy nghĩ, tâm sự như chợt kéo về. Nhìn sang thấy Đinh nương cũng rơi vào im lặng, lơ đãng nhìn vào lò sưởi ở cạnh sập gụ, ta thốt nhiên cũng chẳng biết nói gì. Vậy là cứ thế, ta và nàng lặng lẽ ngồi bên nhau.
Nói gì cho hợp vào lúc này cơ chứ? Nói đến cha mẹ thì thương nhớ. Nói đến tình hình đất nước thì bề bộn, ngổn ngang. Mà nói chồng con thì cô đơn, lạnh lẽo. Biết nói gì để đỡ mất giông, mất vui đầu năm đây?
Đinh nương vào đây từ năm Ất mão. Tính từ đó đến nay đã chục năm rồi. Hàng năm nàng vẫn đón tết như thế này hay sao? Có năm nào họ Đinh đón tết ở nhà không? Có năm nào nàng được vui vẻ không? Chẳng biết số ngày họ Đinh ở nhà có đếm hết các đầu ngón tay không nữa? Còn ta, Tết năm ngoái ta đang làm gì và ở đâu nhỉ? Hình như ta và chàng đã cùng vui chơi hội hè suốt cả mùa xuân đó, đã cùng đi ngắm hoa mơ, hoa mận.. Thế mà giờ này chàng đang nơi đâu? Chàng đang đón tết như thế nào? Thế mà sao ta lại một mình nơi đây. Xa cha mẹ, xa gia đình. Mà ta đã có chồng rồi à? Hay là chưa có chồng? Ta còn chưa gặp mặt chồng của mình nên cứ nghĩ là mình chưa lấy chồng. Thế mà sao ta ở đây đón Tết với những người không máu mủ ruột rà? Trừ Đinh nương ra thì ta có quen biết mấy ai đâu? Chà, có khi ta say mất rồi!
Đột nhiên hình ảnh những chiếc áo bào đỏ của Trịnh Tú Tướng quân và thuộc hạ tung bay phấp phới phản chiếu trên mặt nước đầm mùa thu, cùng câu nói vui đùa và tiếng cười hào sảng của họ hôm đó hiện về trong đầu ta. Ta bèn quay sang hỏi Đinh nương:
- Vì lẽ gì mà buổi chơi thuyền hôm đó hai vị Tướng quân và các thị vệ lại trêu đùa chúng ta như vậy?
- Cũng là có lý do đó - Đinh Nương trầm ngâm. Nói rồi nâng chén rượu lên, uống một hơi cạn sạch, sau đó mới thong thả kể: Đó là một buổi chiều hè chừng như ta đã về Động được bốn, năm năm gì đó. Khi ấy sen nở rất nhiều trong đầm. Em có tưởng tượng được không? Vì buồn chán quá, chính ta đã sai người kiếm rất nhiều củ sen thả vào đầm hai, ba năm trước đó. Thế mà năm đó đã thành một góc đầm mênh mông đầy sen. Những chiếc lá xanh to khỏe mạnh, khoáng đạt; những bông hoa màu hồng, màu trắng thanh tao chen nhau nở ở trong đầm. Phấn khích quá ta bèn sai thị nữ mang một chiếc thuyền tới rồi bơi ra đầm để hái sen, để ngắm, để ướp trà. Vì không cẩn thận lại thêm chiếc thuyền quá mong manh nên đã bị lật úp xuống, ta và hai thị nữ bị ngã xuống hồ. Chúng ta đều biết bơi cả nên nhanh chóng bơi vào bờ. Đúng lúc đó thì Trịnh Tướng quân, Phạm Đình Tướng quân cùng hai tùy tùng đi tuần tra qua vội vàng nhảy xuống ngựa, định bơi ra ứng cứu. Nhưng thấy chúng ta đang bơi vào, lại biết chúng ta đều là con nhà võ nên thôi. Chứng kiến cảnh chúng ta ba người lóp ngóp bơi vào bờ họ không khỏi cảm thấy khôi hài, cứ đứng cười ngặt nghẽo suốt. Riêng Trịnh Tướng quân vẫn giữ nét mặt nghiêm nghị, quay sang quát nạt thuộc hạ không được thất lễ. Nhưng từ đó về sau giai thoại chúng ta mải chơi bị ngã xuống đầm sen vẫn lan khắp Động. Cứ có dịp là Phạm Đình Tướng quân lại trêu ta. Ngay cả Tướng công khi biết chuyện cũng không giấu nổi tiếng cười. Thời gian sau đó Trịnh Tú Tướng quân đã đóng một con thuyền lớn tặng ta để chúng ta đi vãn cảnh được an toàn. Chính là con thuyền mà em đã đi hôm đó.
- Thế rồi chuyện tiếp theo ra sao? Người cho em biết nốt đi?
- Thế rồi sao? Câu chuyện đến đó là kết thúc rồi. Còn trăng sao gì nữa! Ha ha..
Đinh Nương nói vậy rồi cất tiếng cười vang. Nhưng đó là tiếng cười gượng. Trong tiếng cười dường như có gì đó u uẩn.
Ta chợt nhớ tới khuôn mặt tươi đẹp của Trịnh tướng quân, hình ảnh khoáng đạt lúc chàng và bộ tướng cưỡi ngựa bên bờ đầm. Rồi bỗng tự có ý nghĩ vẩn vơ, nuối tiếc. Ta chưa gặp mặt họ Đinh, nên chẳng biết có thể là người như thế nào, nhưng Trịnh Tú tướng quân quả là một người mà người ta không yêu quý không được. Dáng người cao ráo, giọng cười hào sảng. Khi cần nghiêm thì nghiêm, mà lúc cần vui lại hết sức vui. Vị Tướng quân tuấn tú ấy đã tốn bao công phu đóng cho Đinh Nương một chiếc thuyền lớn để nàng dạo chơi, ngắm cảnh. Nếu Đinh Nương không phải là vợ lẽ của họ Đinh, thì Đinh Nương và chàng sẽ trở thành một cặp thanh mai, trúc mã không biết chừng! Nghĩ tới đó rồi ta lại thấy trí tưởng tượng mình đi xa quá, đành lắc đầu, nâng chén rượu lên uống liền một hơi. Cay xè! Ta "A" lên một tiếng, nhìn Đinh nương. Hai người cùng phì cười. Xong rồi hai người cũng không nói thêm với nhau gì nữa, cứ ngồi thẫn thờ bên nhau như thế cho đến lúc ngủ quên trên sập. Các thị nữ phải dọn mâm đi và mang chăn ấm ra đắp lên người lúc nào không biết
Cuối tháng giêng năm Đinh Mão, lúc ta đang bận bịu ở Ban Y phục, phân công cho các nhóm đội số lượng trang phục tương ứng với từng kiểu cách may để chuẩn bị cho đợt chuyển hàng ra xa trường vào mùa hè thì người của Trịnh tướng quân đến báo ta trở về Đại sảnh đường ngay, họ Đinh vừa cho người chuyển thư gấp từ Bố Hải Khẩu về.
Ta theo người của Trịnh tướng quân vội vàng về đến Đại sảnh đường thì đã thấy Đinh nương đứng chờ ở đó. Trịnh tướng quân đang đi đi lại lại ở sảnh hết sức căng thẳng. Người đưa thư đang quỳ ở dưới sàn, nâng bức thư lên ngang đầu chờ lệnh.
Thấy ta về đến nơi, Trịnh tướng quân vội vã đỡ lấy bức thư rồi nhìn Đinh nương và ta, bảo:
- Hai phu nhân đều đã có mặt, vậy hạ thần xin phép được đọc thư!
- Xin Tướng quân bắt đầu ngay cho! Đinh nương nói.
Ta nhìn hai người gật đầu, trong lòng không giấu nổi hồi hộp, không biết có thể là tin gì mà họ Đinh phải biên thư về gấp như vậy?
Trịnh tướng quân liền mở phong thư và đọc cho mọi người cùng nghe. Theo đó họ Đinh cấp báo nghĩa phụ Trần Minh Công bệnh nặng không qua khỏi, đã tạ thế nhằm ngày mười tám tháng Giêng.
Họ Đinh cùng hai bộ tướng là Đinh Điền và Nguyễn Bặc sẽ ở lại Bố Hải Khẩu để lo việc hậu sự cho nghĩa phụ, một mặt bảo vệ Bố Hải Khẩu trong lúc ở đây đang việc tang bối rối. Họ Đinh yêu cầu triệu tập ngay Lưu Cơ tướng quân trở lại Động để cùng với Trịnh tướng quân canh phòng, bảo vệ Động. Việc thu gom lương thảo sẽ giao cho bộ tướng của Lưu tướng quân là Lưu Lang tướng quân trực tiếp cai quản. Trong thời gian tới quân đội ở Cổ Loa và Bố Hải Khẩu sẽ được điều về để tăng cường bảo vệ Hoa Lư. Hai tướng quân cùng hai phu nhân phải cùng toàn quân, toàn dân trong Động nêu cao tinh thần cảnh giác, đề phòng các sứ quân khác lợi dụng tình hình ở Bố Hải Khẩu và lợi dụng tình trạng Hoa Lư Động không chủ để thực hiện mưu đồ thôn tính Hoa Lư. Họ Đinh cũng yêu cầu người trong Động để tang Trần Minh Công trong vòng ba ngày, nơi nơi đều phải vận đồ trắng, tạm ngừng các hoạt động hỉ tiệc, vui chơi trong thời gian này. Cai quản việc tang chế này sẽ do Đinh phu nhân và Dương phu nhân làm chủ. Nơi nào vi phạm sẽ bị xử phạt nghiêm minh.
Vậy là trong phút chốc Động Hoa Lư rơi vào tịnh tràng hết sức khẩn cấp. Ta và Đinh nương thì lo việc tang chế. Một mặt cắt đặt người người tức tốc may vá đồ tang cho quan quân trong Động, một mặt bài trí lại khắp nơi trong Động, thay các loại rèm, chướng màu sắc sặc sỡ thành màu trắng hoặc tối màu. Trong khi đó các công việc thường ngày là may vá quần áo, chuẩn bị quân trang, quân dụng cho chiến trường vẫn không được phép lơ là, bởi vậy hết sức bận rộn.
Trịnh tướng quân thì lo tăng cường canh gác khắp nơi, nêu cao cảnh giác của toàn quân, đồng thời phái người tức tốc chuyển tin để Lưu tướng quân trở về.
Ai ai cũng bận rộn liên miên, không ai còn có thời gian mà vui chơi. Những người khác và Đinh nương như thế nào thì ta không biết, nhưng ta thì thấy rất áp lực và khó thở, như mình đang sắp sửa đón một cơn bão lớn vậy.
Nghe tin khoảng năm trăm lính tinh nhuệ ở Cổ Loa và Bố Hải Khẩu đang được điều động về để tăng cường phòng bị cho Hoa Lư thoạt đầu ta khá hồi hộp. Không biết Lê Hoàn có lãnh đạo đội quân trở về Động đợt này không. Sau đó thì lại thấy ý nghĩ ấy của mình thật là ngốc nghếch. Chàng hiện đã được họ Đinh giao cho lãnh đạo hai nghìn binh lính tinh nhuệ, lại là bộ tướng tin cẩn dưới trướng của Đinh công tử, thì đương nhiên phải cùng Đinh công tử trấn giữ Cổ Loa rồi, làm sao có chuyện trở về Hoa Lư được. Nghĩ thế rồi vừa thấy nhẹ nhõm, vừa thấy chán nản, thành ra suốt ngày lại chỉ biết có công việc, công việc và công việc.
Đầu tháng hai tin ở chiến trường báo về liên tục làm cho người trong Động Hoa Lư quay như chong chóng, mà không khí thì vô cùng căng thẳng, lúc nào cũng như đàn đã lên dây, như mũi tên đã giương.
Đầu tiên là tin Đỗ Cảnh Công lợi dụng tình hình chủ tướng Trần Minh Công vừa qua đời bèn kéo quân đến Bố Hải Khẩu giao chiến.
Đỗ Cảnh Công chính là Thái úy Ngự lâm quân tại Triều Đỗ Cảnh Thạc, một vị tướng rất được trọng dụng dưới thời Nhị Hậu Ngô Vương. Sau khi Lữ Xử Bình thâu tóm toàn bộ lực lượng quân đội ở triều đình, chiếm lấy Cổ Loa, vì không chống cự lại được để bảo vệ sự nghiệp của nhà Ngô, Đỗ Cảnh Thạc đã cùng gia quyến và bộ hạ bỏ về vùng Quốc Oai, Sơn Tây vốn là thực ấp được Ngô Vương ban cho, xây dựng thành quách, tuyển binh mộ tướng, tạo nên vùng căn cứ Đỗ Động Giang rất hùng mạnh và kiên cố. Thời gian sau đó, năm trăm con cháu họ Ngô bỏ chạy khỏi kinh đô cũng theo về đây nương nhờ, làm cho binh lực của Đỗ Cảnh Thạc càng thêm lớn mạnh. Đỗ Cảnh Thạc ngày đêm cùng con cháu họ Ngô chỉ đạo quan quân luyện tập, nuôi mộng khôi phục lại nhà Ngô.
Nay thấy chủ tướng Trần Minh Công vừa qua đời, việc phòng bị ở Bố Hải Khẩu không thể tránh khỏi những lúc lơ là, nên định tiến tới chiếm lấy Bố Hải Khẩu, tiêu diệt họ Đinh. Nếu việc ấy mà thành thì khác nào một bước mà nắm được toàn thiên hạ?
Nhưng chưa kịp thực hiện ý đồ, quân của Đỗ Cảnh Công mới đi đến vùng Ô Mân đã bị quân của Ngô Phó Sứ đánh cho một trận thiệt hại nặng nề, đành lùi quân về Đỗ Động Giang để củng cố lực lượng.
Hay tin này, mặc dù công việc tang chế ở Bố Hải Khẩu còn hết sức bừa bộn, Đinh Bộ Lĩnh vẫn quyết định dẫn quân, chớp thời cơ tiến thẳng vào vùng Đỗ Động Giang để tiêu diệt lực lượng của Đỗ Cảnh Công.
Tuy nhiên do đường xa, lại không lường hết được địa hình hiểm trở, rậm rạp, nhiều đầm lầy, lau sậy của vùng Đỗ Động Giang nên cuộc tiến công của Đinh Bộ Lĩnh nhanh chóng bị quân đội ở Đỗ Động Giang đẩy lùi. Thiệt hại không biết bao nhiêu mà kể. Quân của hai tướng Đinh Điền và Nguyễn Bặc thua chạy khắp nơi.
Trước bối cảnh ấy, Lưu Cơ tướng quân và Lê Hoàn tướng quân đã phải nhanh chóng từ Hoa Lư và Cổ Loa tiến về yểm trợ, nhờ đó quân của họ Đinh mới không bị tiêu diệt hoàn toàn.
Suốt cả mùa hè, cuộc giao chiến vẫn diễn ra giữa hai bên giằng dai không dứt. Nhận thấy không thể để tình trạng này kéo dài, bởi nếu tiếp tục kéo dài, việc tham chiến liên miên không nghỉ ngơi ở đất khách quê người sẽ làm cho binh lực của họ Đinh kiệt quệ, Lê Hoàn tướng quân bèn hiến kế dương đông kích tây nhằm chiếm lấy một trong hai vị trí thành quan trọng nhất của Đỗ Động Giang, đó là thành Quèn.
Đỗ Động Giang vốn là một vùng căn cứ địa rất rộng lớn ở chân núi Ba Vì, được sông Tích bao bọc tạo thành thế rồng chầu hổ phục rất đỗi ngoạn mục. Vùng này được chia ra làm hai khu thành lớn là thành Quèn và Thành Bảo Đà. Khi đó, Đỗ Cảnh Công đang trấn giữ ở Thành Quèn, còn thành Bảo Đà được giao cho các tướng thân tín là Phan Truật và Đặng Khôi trấn giữ.
Theo kế của Lê Hoàn tướng quân, Đinh Bộ Lĩnh một mặt lệnh cho phần lớn lực lượng hiện có mang theo nhiều lương thảo, quân trang, quân dụng nhất tề tiến về bao vây quanh thành Bảo Hòa, dồn tổng lực để chuẩn bị tiến công; trong khi đó lực lượng của Liên hoa tiểu Thư, Đinh Liễn công tử, Trịnh Tú tướng quân sẽ âm thầm từ các nơi tiến tới tạo nên một mũi tiến công bất ngờ vào thành Quèn.
Nghe tin cấp báo Đinh Bộ Lĩnh đang chỉ hủy tất cả các dũng tướng là Lưu Cơ, Nguyễn Bặc, Đinh Điền, Phạm Hạp, thậm chí cả Lê Hoàn tướng quân đang rầm rộ tiến về Bảo Hòa, Đỗ Cảnh Công không hề nghi ngờ, đã ngay lập tức dồn phần lớn lực lượng sang bảo vệ thành Bảo Hòa. Không ngờ khi đó, quân của Đinh Công tử, Liên Hoa tiểu thư, Trịnh Tú tướng quân đã nhanh chóng tiến thẳng vào thành Quèn. Sau khi đánh lạc hướng được quân địch, Lê Hoàn tướng quân đã mang theo một lực lượng lớn quay lại yểm trợ cho mũi tiến công vào thành Quèn. Bị tấn công bất ngờ, trước lực lượng lớn do Đinh công tử chỉ huy, chỉ trong ít ngày toàn bộ thành Quèn đã bị san phẳng.
Mùa thu, toàn bộ lực lượng của họ Đinh tập trung lại bao vây Bảo Hòa. Vì một phần lực lượng và thành quách quan trọng, cùng lương thảo, vũ khí tại thành Quèn đã bị tiêu diệt, quân của Đỗ Cảnh Công có cố gắng đến mấy cũng không thể chống cự nổi với hàng chục ngàn binh hùng tướng giỏi của họ Đinh.
Đầu mùa đông năm Đinh Mão, trong trận chiến tổng lực cuối cùng, thành Bảo Hòa đã bị tiêu diệt. Đỗ Cảnh Công sống sót chạy thoát khỏi thành về vùng núi Sài Sơn. Nhưng tại đây đã bị hai dũng tướng của họ Đinh là Trần Công Mẫn và Trần Ứng Long truy sát, bắn tên độc mà chết.
Sau khi tiêu diệt xong Đỗ Cảnh Thạc, họ Đinh tự mình chỉ huy hai tướng Nguyễn Bặc, Đinh Điền tiến tới vùng Tây Phù Liệt, tiêu diệt Nguyễn Siêu, là sứ quân hùng mạnh thứ hai, chỉ sau lực lượng của Đỗ Cảnh Thạc. Tiếp đó thừa thắng, đánh chiếm luôn vùng Tam Đái, tiêu diệt Nguyễn Khoan. Đinh Liễn công tử cùng Lê Hoàn tướng quân tiến quân về củng cố Cổ Loa, sau đó tiến thẳng lên phía Tây Bắc tiêu diệt Kiều Thuận ở Hồi Hồ và Kiều Công Hãn ở Phong Châu. Hai tướng Lưu Cơ, Phạm Hạp thì đánh bại Lý Khuê ở Siêu Loại.
Sau khi các sứ quân này bị tiêu diệt, các sứ quân còn lại là Nguyễn Thủ Tiệp ở vùng Tiên Du, Lã Đường vùng Tế Giang, Ngô Nhật Khánh ở Đường Lâm đều nhất loạt tự xin hàng phục.
Mùa xuân năm Mậu Thìn, non sông đã thu về một mối. Họ Đinh mang theo Ngọc tỷ, binh Phù từ Cổ Loa tiến thẳng về Hoa Lư. Đi đến đâu dân ở đó đều kéo hết ra hai bên đường, nhất loạt quỳ rạp xuống mà hô vang "Vạn Thắng Vương vạn tuế".
Động Hoa Lư thế là được một phen nhộn nhịp chuẩn bị chào đón Họ Đinh thắng trận trở về. Ta cũng như người ở trong Động chưa bao giờ được trải qua một việc như thế này nên trở nên hết sức hỗn loạn, không biết phải tổ chức tiếp đón, trang hoàng Động sao cho phù hợp. Ta thì không nói làm gì, người trong Động trước kia vẫn gặp họ Đinh, nhưng khi đó họ Đinh đơn giản chỉ là Đinh Động Chủ của Hoa Lư Động. Nhưng hiện giờ đã khác rồi. Họ đinh đã nắm Binh Phù, Ngọc tỷ trong tay, tất cả các binh hùng tướng giỏi trong cả nước đều quy về dưới trướng, muôn dân nhất tề tôn làm Hoàng Đế. Họ Đinh bây giờ đã trở thành Vua của nước Việt rồi! Thế nên làm thế này cũng sợ không phải mà làm thế kia cũng sợ không phải. Thành ra ta và Đinh Nương, cùng người trong Động đều hết sức rối ren. Nhiều lúc không quyết được, đành cứ thế phó mặc cho gia nhân tự lo liệu.
May sao đến khi quân tiền trạm về báo tin họ Đinh chỉ còn cách Động Hoa Lư ba ngày đường nữa thì mọi việc trang hoàng, chuẩn bị nhã nhạc, tiệc rượu chào mừng cũng đã đâu vào đấy. Ta và Đinh nương cùng Trịnh Tú tướng quân cuối cùng cũng được ngơi tay, chỉ còn phải ngồi đợi đến ngày đoàn quân trở về.
Nhưng ngơi tay rồi thì những suy nghĩ, lo lắng lại không để ta yên. Suốt ba ngày ấy ta gần như không chợp mắt được nhiều. Cũng chỉ về cái việc trở về ấy.
Cuộc trở về này đối với ta mà nói, đâu phải chỉ đơn thuần là sự trở về của một vị Vua vừa thắng trận; đó còn là sự trở về của người chồng mà ta đã được gả cưới. Bấy lâu nay làm hậu phương cho chiến trường, công việc bận bịu liên miên cuốn người ta theo như một cơn bão lũ. Giờ ngoảnh lại cũng đã hơn một năm rồi. Thế mà người chồng ấy ta chưa hề gặp mặt. Đến lúc gặp mặt rồi không biết sẽ ra sao?
Hơn một năm qua, tiếng là đã có chồng, nhưng chuyện đạo nghĩa phu thê ta chưa hề phải lo lắng. Có bận bịu, mệt mỏi, cũng vẫn là cùng Đinh nương muốn làm thì làm, muốn ăn thì ăn, muốn chơi thì chơi; khi thưởng nguyệt, hái sen, lúc hóng gió, dạo mát, hết sức tự do tự tại. Nhưng đến giờ thì sao còn có thể như vậy được đây? Khi họ Đinh trở về, những chuyện vợ chồng làm sao tránh khỏi. Rồi ra sẽ như thế nào? Mới nghĩ đến đó thôi đã thấy chân tay toát mồ hôi lạnh, sốt âm âm ở trong người rồi.
Còn chàng nữa! Cái ngày ta và chàng phải đối diện nhau giữa đất Hoa Lư này chẳng phải đã đến rồi sao? Đối diện nhau như thế nào đây? Ta không biết mình có đủ can đảm để nhìn vào đôi mắt, nhìn vào khuôn mặt của chàng không nữa? Chao ơi! Bóng hình ấy, ta đã mong mỏi biết bao nhiêu; khuôn mặt ấy ta đã yêu thường biết chừng nào; ánh mắt ấy ta đã đắm chìm say mê quá đỗi! Thế mà rồi đây sẽ phải như hai kẻ xa lạ ở Hoa Lư này sao? Những nụ hôn, những cái nắm tay, những vòng ôm xiết chặt, những nụ cười ngập tràn hạnh phúc bên nhau trên cánh đồng.. tất cả trở về như vừa mới hôm qua mà lại cũng xa vời như từ muôn kiếp trước; như những ảo ảnh mơ hồ, mà cũng như những vật nặng vô hình mà ghê gớm đè nghẹt lên ngực ta. Rồi ta sẽ phải đối diện với tất cả ra sao đây?
Thấy ta cứ không ngừng đi lại và vặn vẹo hai bàn tay vào nhau, Lan Nhi chỉ biết lắc đầu nhìn ta đầy ái ngại, rồi lại cúi xuống thêu nốt chiếc khăn tay của nàng. Một lúc, chừng không chịu nổi nữa, nàng bảo:
- Người cứ như vậy cũng có giải quyết được gì đâu? Những việc chưa đến thì lo lắng cũng có ích gì? Chi bằng hãy lo cho sức khỏe của mình mà nghỉ ngơi đi một chút, rồi sau chuyện đến đâu ta tìm cách giải quyết đến đó, như vậy không phải tốt hơn hay sao?
Nghe Lan Nhi nói, ta cũng chẳng buồn đối đáp lại, lẳng lặng theo lời nàng chèo lên giường đi ngủ. Nhưng suốt mấy đêm liền cũng chỉ là chợp mắt được một hai canh.
Những giấc ngủ chập chờn, những cơn bóp nghẹt ở trái tim, những lo lắng và căng thẳng làm ta mệt mỏi đến tột độ. Có đôi khi cảm giác như mình chẳng thể nào mà sống nổi nữa..
Tưởng là không thể sống nổi nữa. Vậy mà vẫn phải sống thôi!
Ngày hai mươi hai tháng ba năm Mậu Thìn, đoàn quân chiến thắng đã về đến Hoa Lư.
Từ sáng sớm, các võ tướng ở trong Động đã dẫn theo nhiều binh lính tiến ra ngoài Động để nghênh đón.
Đinh nương, ta và cá gia nhân thì đều đứng chờ cả ở Đại sảnh đường.
Các binh đoàn trở về phần lớn sẽ đóng quân và mở tiệc chiêu đãi ở bên ngoài Động. Chỉ có các tướng lĩnh chỉ huy và một đội quân tinh nhuệ sẽ tiến vào trong Động. Ấy vậy mà đã đông đảo, hùng dũng không biết bao nhiêu mà kể!
Giữa giờ Tị, đoàn người đã về đến Động Hoa Lư, tiến thẳng vào Đại sảnh đường.
Đinh Bộ Lĩnh dẫn đầu!
Cuối cùng thì ta cũng giáp mặt con người ấy!
Cao tám chín thước, vai rộng mặt vuông, râu quai nón xồm xoàm tua tủa chĩa ra tứ phía cùng hai con mắt xếch ngược làm cho khuôn mặt Đinh Bộ Lĩnh có vẻ gì dữ tợn, nhưng cũng rất oai phong và hùng dũng.
Nhìn thấy hình dung ấy, ta không hiểu vì đâu bỗng chốc thấy trong lòng tràn ngập nỗi sợ hãi vô cơ, đứng ngây ra không biết phải làm gì. Đến khi Đinh nương giật khẽ vào gấu váy, mới giật mình vội quỳ xuống bên nàng rồi đồng thanh bảo:
- Bọn tiện thiếp chúc mừng Tướng công đã bách chiến bách thắng trở về!
Đinh Bộ Lĩnh cúi xuống nhìn bọn ta rồi cất tiếng cười vang, tiếng cười như đao kiếm, vàng bạc chen nhau vang vọng khắp cả gian sảnh rộng. Rồi bảo:
- Các nàng đứng dậy cả đi!
Sau đó lần lượt đỡ Đinh nương và ta đứng dậy. Lại nhìn ta bảo:
- Đây là Dương phu nhân, là gái yêu của Nhạc phụ Chương Dương Công ở Trang Đông Lỗ đây mà!
Ta lí nhí đáp "Chính là tiện thiếp". Nhưng câu trả lời đã nhanh chóng bị át đi bởi một tràng cười nữa của họ Đinh. Cười xong lại dùng hai bàn tay vỗ bồm bộp vào hai bên vai ta như thể vỗ vai các tướng lĩnh, chiến hữu của mình, nói:
- Hơn một năm qua đã để cho nàng phải buồn tủi. Nhưng giờ thì tốt rồi! Nào các nàng cùng ngồi đi.
Sau khi họ Đinh đã ngồi ở chính giữa, Đinh nương và ta một người bên phải, một người bên trái cũng lần lượt ngồi xuống thì các quan quân, tướng lĩnh cũng lần lượt tiến vào. Đi đầu chính là Đinh Liễn công tử với khuôn mặt thừa hưởng nhiều đường nét của Đinh Bộ Lĩnh, tuy dáng vẻ trẻ trung, thư sinh và bớt dữ dằn hơn. Tiếp theo là các tướng Đinh Điền, Nguyễn Bặc, Lưu Cơ, Trịnh Tú, Phạm Hạp, Lưu Lang, Nguyễn Bồ, Nguyễn Phục, Phạm Bạch Hổ, Ngô Nhật Khánh, Trần Thăng, Trần Nguyên Thái, Đỗ Thích, Đinh Dưỡng Xã, Đinh Cung Linh, Đinh Đại Mộc, Đinh Bắc Phương.. Trong số ấy ta nhận ngay ra một người quen, đó chính là tướng quân Phạm Cự Lượng - chàng Phạm Công tử ta đã thân quen ở Võ đường Dương Xá năm xưa, giờ đây khuôn mặt đã in hằn nhiều sương gió.
Ta lơ đễnh nhìn từng người tiến vào Đại sảnh đường. Nhưng ta nhận thấy trong vô thức ta đang chờ đợi cái khoảnh khắc ấy: Khoảnh khắc thấy khuôn mặt quen thuộc của chàng xuất hiện nơi ngưỡng cửa!
Nhưng kỳ lạ thay, đến khi tất cả các quan quân, võ tướng dưới trướng họ Đinh đều đã quy tụ thành hai hàng ở hai bên Đại sảnh đường, ai nấy đều đã ổn định vị trí, vẫn không hề thấy bóng dàng chàng tiến vào.
Lúc tất cả mọi người đều đồng loạt phủ phục xuống chúc mừng họ Đinh đã toàn thắng vẻ vang, đã nhất thống giang sơn; nhìn ra ngoài sân Đại sảnh đường thấy hoàn toàn im lặng, không còn ai qua lại nữa, chỉ còn hai hàng lính với khiên giáo đứng trang nghiêm như hai hàng tượng đá hai bên, ta mới thực sự giật mình. Chẳng lẽ nào chàng đã bước vào mà ta không nhìn thấy, mà ta không nhận ra? Sao có thể như thế được? Chẳng có lẽ nào chàng đã thay đổi đến mức ấy? Hay mọi thứ trong lòng ta đã phai nhạt đến mức ấy? Ta vội vã nhìn lại tất cả những khuôn mặt giờ đã lại đứng lên thành hai hàng chỉnh tề, nhưng không có khuôn mặt nào ta quen biết cả, trừ Phạm Cự Lượng và Trịnh tướng quân. Vậy là chàng không vào Động cùng mọi người..
Ta vốn luôn cảm thấy sợ hãi cái giây phút phải đối mặt chàng ở Hoa Lư này. Có đôi khi ta sợ hãi đến mức mong sao cái khoảnh khắc ấy không bao giờ đến. Nhưng đến giờ, vào cái thời khắc mà ta nghĩ là ta sẽ được gặp chàng, nhưng rồi chàng không xuất hiện, ta mới biết tận sâu thẳm trong tâm hồn mình ta vẫn mong chờ được nhìn thấy khuôn mặt ấy biết bao. Có thể là đau đớn, có thể là câm nín, có thể là không biết phải nhìn vào mắt nhau như thế nào, có thể là như hai người xa lạ; nhưng trong suốt hai năm qua, kể từ khi chia tay nhau bên dòng sông Càu Chày trong đêm trăng hôm đó, ta vẫn luôn mang trong mình mong mỏi ấy: Mong mỏi được một lần gặp lại.
Đau đớn! Có thể. Nhưng việc nhìn thấy người mà ta rất đỗi yêu thương vẫn đang ở đó, đang hiện diện ở đó sẽ an ủi lòng ta biết bao nhiêu.. Vậy mà..
Một tràng cười của Đinh Bộ Lĩnh lại vang lên làm ta quay trở về hiện tại, nhìn lên thấy Nguyễn Bặc tướng quân đang quỳ ở dưới đất, vừa nói một điều gì đó làm họ Đinh rất hài lòng, vẫn tiếp tục cười vang.
Mọi người ai nấy đều có vẻ hồ hởi, phấn khởi ra mặt. Đinh Điền tướng quân thấy vậy cũng liền quỳ xuống bên cạnh Nguyễn Bặc tướng quân, nói:
- Nguyễn Bặc huynh nói rất phải, giờ đây các sứ quân đều đã được bình định, non sông đã liền một dải, Động chủ nên mau chóng lên ngôi để yên ổn lòng dân. Nước sớm có Vua ngày nào tốt ngày ấy. Có như vậy thù trong giặc ngoài mới không thừa cơ mà toan tính mưu đồ làm loạn.
Tất cả mọi người đến lúc ấy đều đồng loạt quỳ cả xuống và bảo:
- Phải đấy! Động chủ hãy mau chóng lên ngôi, bố cáo rộng rãi trong thiên hạ để an ổn lòng dân!
Họ đinh lúc ấy lại tiếp tục cười vang, vỗ tay vào đùi đánh đét một cái rồi bảo:
- Tốt lắm! Vậy thì ta không thể chần chừ được nữa! Ta sẽ lấy Quốc hiệu là Đại Cồ Việt và lên ngôi Hoàng Đế!
- Động chủ đúng là phải lên ngôi Hoàng Đế! Nước Việt ta xưa nay vốn là một quốc gia độc lập, ngang hàng với các nước lân bang, hà cớ gì người đứng đầu nước Việt không thể xưng làm Hoàng Đế! Cần phải xưng Đế để khẳng định chủ quyền, để chúng ta đường hoàng sánh vai với phương Bắc và các nước lân bang khác - Lưu Cơ tướng quân lúc này đã quỳ xuống mà tâu.
Nguyễn Bặc tướng quân lại quỳ xuống bên cạnh:
- Vậy bọn hạ thần mạn phép dâng người tôn hiệu Đại thắng minh Hoàng Đế! Điều này cũng là xuất phát từ ý của muôn dân, trăm họ. Bởi như Động chủ và các huynh đây đều thấy, trên đường ta tiến về Hoa Lư không phải muôn dân đều quỳ phục hết bên đường mà tôn người là Vạn thắng Vương hay sao?
- Ha ha.. Nói có lý lắm! Vậy Nguyễn Bặc và Đinh Điền tướng quân, hai người phụ trách giúp ta soạn thảo bản Bố cáo. Ngày mai sẽ cho khẩn truyền đi khắp nơi. Từ nay ta chính thức lên ngôi Đại thắng minh Hoàng Đế của nước Đại Cồ Việt! Ha ha..
Họ Đinh vừa dứt lời, tất cả các quan quân, tướng lĩnh đều nhất loạt quỳ xuống; Đinh nương và ta cũng lập tức rời ghế ngồi, quỳ xuống ngay dưới chân họ Đinh, rồi cùng tất cả tướng lĩnh đồng thanh hô vang:
- Đại thắng minh Hoàng Đế vạn tuế! Vạn vạn tuế!
Họ Đinh cười vang một tràng, rồi bảo:
- Thôi hãy để từ mai chúng ta sẽ nghĩ tới triều nghi lễ phục. Hôm nay mọi người hãy cùng nhau vui vẻ thoải mái một bữa cho bõ bao tháng ngày lăn lộn bên nhau chứ! Nói rồi quay sang Đinh nương và ta bảo: Hai nàng còn ở đó làm gì, mau mau cho xếp cỗ bàn ra chiêu đãi các huynh đệ đây chứ!
- Thần thiếp xin tuân lệnh! - Đinh nương nói rồi ta với nàng vội vàng chạy ra nhà sau chỉ đạo gia nhân sắp xếp ghế bàn, trải chiếu, ngả mâm, bày cỗ. Lại có chuẩn bị cả một ban nhã nhạc, diễn trò để hầu rượi. Họ Đinh cùng các tướng lĩnh thân tín của mình cứ thế chén tạc, chén thù ăn uống, chúc tụng cười nói say sưa vui vẻ tới tận chiều tối.
Sáng hôm sau như đã định, hai tướng Nguyễn Bặc và Đinh Điền đã soạn thảo một bản Bố cáo rộng rãi, tuyên bố họ Đinh sau khi dẹp loạn các sứ quân, nắm được Ngọc tỉ, Binh phù trong tay, thuận theo mệnh trời, lòng dân sẽ chính thức lên ngôi Hoàng Đế, lấy Quốc hiệu là Đại Cồ Việt. Bố cáo cũng nêu rõ, kinh đô của nước Đại Cồ Việt từ nay sẽ được chuyển về Hoa Lư. Cổ Loa giờ trở thành cố đô của nước Đại Cồ Việt mới. Nhân dịp Đại thắng minh Hoàng Đế lên ngôi, sẽ tiến hành miễn tô thuế cho người nghèo và đại xá cho toàn dân.
Kinh đô mới ban đầu họ Đinh định đặt ở Động Hoa Lư, là nơi giấy binh khởi nghiệp mà cũng gần kề nơi quê nhà của họ Đinh. Nhưng các tướng Nguyễn Bặc, Đinh Điền đều phần tích, đây là vùng có địa thế hiểm trở, phù hợp để dấy binh khởi nghĩa, nhưng lại không đủ rộng lớn để xứng với tầm vóc với kinh đô nên sau đó đã cùng nhau quyết định chọn vùng đất cách Động Hoa Lư chừng hai mươi, ba mươi dặm để xây dựng. Kinh đô mới được bao bọc bởi sông Hoàng Long, sông Sào Khê, núi Cột Cờ, núi Hang Quàn, núi Ghềnh Tháp, núi Mông Mang và núi Cổ Giải, rộng chừng một ngàn mẫu. Việc xây dựng kinh đô mới dự kiến sẽ diễn ra trong vòng hai tới ba năm. Trong thời gian kinh đô mới được xây dựng, Động Hoa Lư vẫn sẽ là nơi đóng đô tạm thời của Vương triều nhà Đinh.
Mấy ngày sau đại tiệc liên hoan trở về, một chiều rảnh rỗi đang lang thang ở trong vườn thì Đinh nương qua chơi. Thong thả uống trà, nói chuyện một hồi, rồi nàng chợt hỏi:
- Không thắc mắc tại sao chàng không đến sao?
- Ai cơ thưa Đinh nương? Ta thoạt nghe chưa định hình được nàng đang muốn nói đến ai, ngơ ngác hỏi. Đến lúc nhìn vào mắt nàng thì chợt hiểu. Bảo nàng:
- Em thắc mắc hay không thì cũng có giải quyết được gì đâu?
- Thấy Hoàng Thượng bảo chàng xin được ở lại ngoài thành để cùng các tướng lĩnh khác dưới trướng vừa chung vui liên hoan vừa quản lý binh lính đóng ngoài Động. Thực ra chàng cũng không cần thiết phải ở lại ngoài đó, nhưng thấy chàng tận tâm với công việc như vậy nên Hoàng Thượng bảo đành chiều theo ý chàng. Nói xong trầm tư một lúc rồi nàng tiếp: Ta thấy như vậy là tốt nhất đấy, em cũng không nên suy nghĩ hay u buồn mà làm gì. Giờ em cũng biết là mọi thứ không còn như xưa nữa. Từ rày về sau nên cẩn trọng vẫn hơn.
Ta nhìn nàng không nói, cảm giác như nàng hiểu hết mọi tâm sự trong lòng ta vậy. Mặt khác thấy hết sức biết ơn nàng, bởi đây là lần thứ hai nàng nhắc nhở ta về việc cần cẩn trọng ở đất Hoa Lư này rồi. Nghe xong vẫn là một cảm giác gắn bó với nàng như chị em ruột thịt. Giờ họ Đinh đã làm Hoàng Đế, nàng không những không tỏ ra tranh giành cao thấp hay ganh ghét gì với ta mà còn tử tế với ta như vậy, hỏi xung quanh được mấy người!
Việc xây dựng kinh thành mới trong thời gian này hết sức bận rộn. Nhưng ta và Đinh nương thì lại rảnh rỗi hơn xưa, bởi hiện tại họ Đinh đã về cai quản trong Động. Mọi việc lớn nhỏ trong triều đều có các tướng lĩnh, quan lại lo lắng. Việc cai quản ở hậu cung cũng đỡ vất vả hơn rất nhiều bởi người hầu kẻ hạ đều đông đúc, không cần phải chạy đôn chạy đáo như trước kia nữa.
Một chiều cuối tháng tư, khi bóng tối vừa nhập nhoạng buông xuống, ta với các thị nữ vừa dùng bữa tối xong thì có người từ bên nhà Giữa qua muốn gặp ta.
Từ ngày trở về Hoa Lư, họ Đinh ngày thì cùng các tướng lĩnh, quan lại bàn bạc chính sự ở Đại sảnh đường, đêm thì ngủ ở nhà Giữa. Có những khi đi tới giám sát, chỉ đạo công việc xây dựng kinh đô mới mấy ngày liền. Nên Đinh nương và ta vẫn chủ yếu dùng bữa tại nhà mình. Chỉ khi nào họ Đinh về và cho gọi thì mới qua nhà Giữa dùng cơm. Nhưng kể từ ngày trở về, việc kiến thiết kinh đô mới, tổ chức bộ máy nhà nước từ trung ương tới địa phương rất đỗi bận bịu, họ Đinh cùng các tướng thân tín hầu như ngày nào cũng chong đèn bàn bạc tới tận khuya, vì thế số lượng bữa cơm quây quần bên nhau cũng chỉ có thể đếm được trên đầu ngón tay. Ta cũng rất ít khi phải giáp mặt với họ Đinh. Vì thế tâm thế những ngày qua khá thảnh thơi thoải mái. Bởi vậy khi thấy gia nhân bên nhà Giữa qua đòi gặp, ta giật mình chột dạ, phút chốc trở nên hoang mang.
- Dương nương nương đã dùng bữa tối xong chưa? Lý Công Công, người phụ trách đưa tin, truyền lệnh bên nhà Giữa đứng trước mặt ta vừa cúi đầu chào vừa hỏi.
- Ta đã ăn xong rồi, Lý công công có điều gì căn dặn vậy?
- Hoàng Thượng lệnh cho hạ thần qua báo trước cho Nương Nương: Tối nay, khoảng giờ Hợi người sẽ ngự giá qua đây nghỉ ngơi. Vậy xin Nương Nương chuẩn bị cho chu tất. Giờ thần xin cáo lui ạ.
Lý Công Công nói chưa dứt lời đã vội vộng vàng vàng đi ra, để lại ta ngồi đó như trời trồng. Ngồi lặng im như một bức tượng đá mà mồ hôi thì đã túa ra khắp người. Vẫn biết là việc này thì không thể tránh khỏi, mà khi đến rồi vẫn thấy choáng váng. Lại thêm thời gian vừa qua, vì không thấy họ Đinh đả động gì đến mình, ta đâm ra tự cho mình cái quyền vui chơi, tự do tự tại thái quá mà giờ thành ra như vậy..
Tối nay họ Đinh ngự giá đến đây sao? Tối nay sao? Vậy ta phải làm gì đây? Ta không thể đứng dậy nổi, vẫn ngồi bất động như thế dù Lý Công công đã đi được một lúc lâu rồi.
Thoạt tiên hai nàng thị nữ không để tâm thấy biểu hiện của ta, vẫn thoăn thoắt dọn dẹp nhà cửa, chuẩn bị quần áo cho ta đi tắm. Nhưng khi thấy một lúc rồi mà ta vẫn ngồi như phỗng giữa nhà, không ngẩng mặt lên, không nói một lời, Lan Nhi bèn tiến lại gần, cúi nhìn vào mặt ta, rồi giờ tay lên trán. Xong nàng hốt hoảng hét lên:
- Tiểu thư! Người làm sao mà mồ hôi toát ra ướt sũng vậy? Còn như bị sốt nữa?
- Ta.. Ta.. Tối nay Hoàng Thượng bảo qua đây. Giờ ta biết làm sao đây? Tà vừa nói vừa ôm mặt khóc. Sự việc đến bất ngờ không được chuẩn bị trước làm ta trở nên hoảng loạn. Cứ ngồi đó khóc nức nở.
Thấy ta như vậy hai ngàng thị nữ ngơ ngác nhìn nhau, rồi chạy đi chạy lại hỏi han an ủi. Lan Nhi mới dắt ta vào trong phòng riêng, đóng cửa lại rồi hỏi nhỏ:
- Tiểu thư, rốt cuộc người bị làm sao vậy? Nín khóc đi nói em nghe xem nào?
Ta định thần một lúc mới ngừng khóc lại được, bảo:
- Tối nay Hoàng Thượng bảo qua đây! Ta sợ lắm, ta phải làm sao đây!
- Hoàng thượng qua thì qua thôi, có gì mà người phải sợ chứ? Em vẫn không hiểu!
Ta chút nữa thì phát bực lên với nàng:
- Trời ơi, em có còn minh mẫn nữa không vậy? Không phải Hoàng thượng là chồng ta sao? Em nghĩ là người qua đây để chơi sao? Sao em lại ngốc vậy nhỉ? Ta biết làm sao đây? Ta không chuẩn bị gì cả.. Ta không muốn!
Lan Nhi ngồi thẫn thờ ở bên cạnh ta suy nghĩ. Có lẽ việc về đây đã gần hai năm rồi mà họ Đinh chưa một lần qua đây đã khiến các thị nữ của ta quên mất việc ta về đây là để làm vợ lẽ hầu hạ họ Đinh, chứ không phải về đây để chơi bời với các nàng. Chả thế bây lâu nay mặc dù người trong Động đều gọi là ta Dương phu nhân, nhưng các nàng thì lúc nào cũng vẫn Tiểu thư, Tiểu thư!
Ngẩn ra suy nghĩ một hồi, chừng như hiểu ra vấn đề, Lan Nhi nhìn ta bảo:
- Nhưng em nghĩ.. người đã về đây rồi thì tránh sao khỏi việc đó? Là vợ chồng thì đó chỉ còn là vấn đề thời gian thôi..
- Ta biết thế. Nhưng ta chưa chuẩn bị tinh thần cho việc này. Em không thấy bao lâu nay ta thoải mái như vậy sao? Giờ chưa chuẩn bị gì cả đã qua báo liền như thế, ta sao đối phó kịp đây?
- Nhưng việc như thế cần chuẩn bị sao?
- Cần chứ! Giờ ta biết phải làm sao đây? Ta.. ta chết mất! - Ta lại ôm mặt vật ra giữa giường mà khóc lóc.
Thấy ta có vẻ khổ sở như vậy, Lan Nhi cũng không thể thờ ơ, đi đi lại lại trong tỏ vẻ ngẫm ngợi, tính toán.
- Là vợ chồng thì sao tránh được đây. Người ta đâu phải lấy Tiểu thư về để làm cảnh chứ. Em có cách này nhưng rõ ràng chỉ trì hoãn được vài ngày thôi Tiểu thư. Nói rồi nàng ghé vào tai ta bảo: Chắc Tiểu thư phải cho người sang gặp Lý Công công báo là người đang tới tháng.. Vậy thì may ra chứ..
Ta ngẫm nghĩ một lúc, thấy nàng nói đúng liền bảo nàng đi sang gặp Lý Công công. Quả đúng như dự đoán, Lý Công công báo lại họ Đinh sẽ không sang nữa mà sẽ qua chỗ Đinh nương.
Ta thở phào nhẹ nhõm. Nhưng Lan Nhi lườm ta một cái rồi bảo:
- Cũng chỉ được vài ngày thôi Tiểu thư. Rồi sẽ tới lúc người không thể kiếm cớ để lẩn tránh được nữa đâu.
Ta gật đầu với Lan Nhi, rầu rĩ ngồi đó suy nghĩ. Đúng là không thể lảng tránh được dài lâu. Giờ chiến tranh đã kết thúc, đất nước đã yên bình trở lại, sẽ không còn chuyện họ Đinh sẽ phải đi xa nhà cả năm trời như lúc trước nữa. Giờ trở đi chính là phải sống đời sống kiếp với nhau đây. Không thể trốn tránh mãi được. Ta biết. Nhưng ta thực lòng ta chưa cam tâm. Không cam tâm!
Mấy ngày sau đó ta đành nghĩ ra cách cáo ốm. Cứ lười biếng nằm trên giường đắp chăn, chẳng buồn dậy. Họ Đinh có cử ngự y sang thăm khám. Không chuẩn đoán ra bệnh gì, nhưng vì chán nản quá nên người ta lúc nào cũng cứ sốt âm âm và uể oải chẳng buồn ăn, thành ra họ Đinh cũng kệ. Chỉ sai ngự y cắt cho vài thang thuốc bổ, an thần. Rồi cũng không thấy nhắc tới chuyện sang nhà ta nghỉ ngơi nữa.
Ta được thể cứ thế lần lữa mãi. Chỉ mong sao họ Đinh cứ thế mà lãng quên mình đi cũng được.
Một buổi chiều cuối tháng năm nóng nực, ngồi bức bí mãi ở trong nhà trong cái nóng hè oi bức cả ngày ta đã chán ngấy cả lên rồi, nên sau khi mặt trời lặn xuống, bèn sai thị nữ mang chõng tre ra ngồi dưới gốc mấy cây lựu cho dễ thở.
Bóng tối dần buông xuống. Gió đêm hè đã bắt đầu tràn về làm cho không khí dần trở nên mát mẻ. Hứng chí ta bèn sai hai thị nữ xếp mâm bát ra ngoài chõng để ăn cơm luôn. Quả nhiên mát mẻ, dễ chịu hơn hẳn.
Ăn cơm xong lại sai hai nàng xách bình trà xanh để nguội ra, rồi cứ nằm ườn trên chõng, vừa uống trà xanh vừa hóng gió, đếm sao lên. Chẳng buồn ngẫm ngợi gì sự đời.
Đang nằm liu riu ngủ quên thì Đinh nương tới. Ta bèn ngồi dậy trên chõng, bảo:
- Người có việc gì cần gặp em sao không cho người qua gọi mà lại tự mình đi sang như vậy?
- Cũng là muốn ra ngoài đi dạo cho dễ chịu thôi, thời tiết nắng nóng, đã gần như ngồi trong nhà cả ngày rồi còn gì!
Nói rồi nàng gồi xuống bên chõng, ta rót cho nàng một cốc trà mát mời nàng uống. Uống xong nàng trầm ngâm bảo:
- Sắp tới ta và em lại bận bịu rồi đây!
Ta ngồi sát lại bên nàng hỏi:
- Bận bịu việc gì thưa Đinh nương?
- Hoàng thượng vừa giao cho ta và em phụ trách việc cắt cử người đi đón Dương Nguyệt Nương phu nhân và các tiểu nữ từ vùng Đặng Xá về. Thêm nữa còn phải cho người qua vùng Trạch Xá đón nàng Sen về nữa..
- Nàng Sen là ai? Ta thảng thốt vì lần đầu tiên nghe tới cái tên này: Với cả.. đón về làm gì?
- Năm trước khi mang quân từ Bố Hải Khẩu đi đánh Đỗ Cảnh Công, trận đầu Hoàng Thượng bị thua lớn em có nhớ không? Khi đó, Nguyễn Bặc, Đinh Điền tướng quân chạy một đằng, còn Hoàng thượng chạy một nẻo trong khi quân của Đỗ Cảnh Thạc bám theo rất sát. Quân giặc đã cận kề mà Hoàng thượng sắp chạy đến đường cùng rồi thì thấy nhà nàng Sen. Người đã chạy vào nhà của nàng Sen xin lánh nhờ. Lúc ấy nàng đang ngồi dệt lụa bên khung cửi. Nàng Sen này đã nghĩ ra cách giấu người trong đống rơm, còn mình vẫn bình thản tiếp tục làm việc, đến khi quân của Đỗ Công chạy đến hỏi mới bảo là đã chạy đi xa rồi, nên mới cứu được Hoàng Thượng. Nhờ thế Lê Hoàn, Lưu Cơ tướng quân mới đến ứng cứu kịp thời. Khi đó Hoàng Thượng có nói với nàng, sau này thành công nhất định quay lại đón nàng về làm vợ. Hôm rồi nhân dịp nói chuyện thiết kế và may triều phục thống nhất theo thứ bậc cho các quan lại, Hoàng Thượng mới nhớ tới việc này. Người còn nói rất ấn tượng với các tấm lụa nàng ấy dệt, màu sắc rất khác lạ và ấn tượng. Vậy nên mới bảo chúng ta sai người đi đón về. Một là để đền đáp ân nghĩa khi xưa, hai là muốn nàng ấy lo việc chỉ dạy cung nữ của ta thêu dệt các loại lụa đẹp mắt đó để may triều phục.
Ta ngồi ngẩn ra nghe, nghĩ, người ta đã cứu mình, hứa hẹn một ngày quay lại trả ơn vậy mà cũng quên đi được; nay nhờ có việc may áo ở Triều đình mới nhớ ra - Chuyện ân nghĩa con người mà lại nhẹ bẫng như vậy thật đáng buồn thay! Ta chỉ mong sao nàng Sen kia đã đi lấy chồng quách đi cho rồi. Chứ mà chưa lấy hoặc giả vì lời hứa đó mà chờ đợi, thì thật khổ cho nàng quá. Lỡ chẳng may họ Đinh không công thành danh toại, không tình cờ nhớ ra việc này thì sao? Thề non hẹn biển, thề bồi đính nguyện gì với con người này không phải là rất uống phí tâm tư của mình hay sao?
Tuy nhiên rồi lại nghĩ, cũng chẳng thể khác đi được. Vì người đó là họ Đinh mà. Trong đầu mưu tính không biết bao nhiêu việc, làm gì có thời gian để mà nghĩ tới những chuyện tâm tư của người khác?
* * * Sao em lại ngẩn ra thế?
- Dạ? À không..
- Ừ, vậy đó, nên sắp tới chúng ta chắc sẽ bận bịu đấy. Sau khi Dương Nương nương và các tiểu nữ trở về còn phải lo chuyện cưới xin cho các nàng ấy nữa, nhưng khi đó Dương nương sẽ cai quản mọi việc rồi, nên ta và em chắc cũng không phải lo nghĩ nhiều, chỉ là người bảo làm gì thì ta cứ theo thế mà làm thôi.
- Cưới xin các nàng nào chứ? Quả là hôm nay ta toàn được nghe những chuyện bất ngờ.
- Thì các Tiểu nữ của Hoàng Thượng chứ còn ai vào đây? Các nàng đều đã đến tuổi cập kê rồi. Việc chọn cho các nàng các phò mã phù hợp là hết sức cần thiết để củng cố quyền lực của Hoàng tộc.
Ra là như vậy! Vừa trở thành con vua một cái các nàng đã lập tức trở thành những công cụ giúp cha, anh các nàng củng cố quyền lực rồi. Hóa ra địa vị càng cao thì người ta càng không có quyền lựa chọn, quyết định số phận của mình. Thế thì như cái thân Nga Nhi ta, về Động Hoa Lư này làm vợ lẽ họ Đinh cũng có gì phải oán trách chứ? Đang bó gối ngồi trầm ngâm, thì Đinh nương, sau một hồi im lặng lại cất tiếng thì thầm bên tai:
- Vân Nga, thực ra thì em về Động Hoa Lư làm vợ lẽ của họ Đinh vì lý do gì?
- Vì lý do gì? Sao.. Sao tự dưng người lại hỏi vậy? Cách chuyển chủ đề đột ngột của nàng làm ta trở nên lúng túng. Nhưng câu hỏi như thể đọc được ý nghĩ của ta khiến ta có phần ngỡ ngàng.
- Ta đang hỏi em cơ mà, cứ trả lời ta rồi hãy hỏi lại chứ?
- Thì là.. Xuất phát từ mối thâm giao lâu đời giữa họ Dương và họ Đinh thôi. Hoàng Thượng khi đó muốn củng cố thêm thế lực, củng cố thêm tình cảm giữa hai dòng họ, còn cha em thì nhận định rằng sau này họ Đinh nhất định nắm thiên hạ trong tay, khi đó nhờ việc cưới gả này họ Dương cũng không còn phải lo lắng gì nữa.
- Trước khi cưới gả em chưa từng gặp mặt Hoàng Thượng đúng không?
- Vâng.. Chuyện đó em đã nói với người rồi mà?
- Ta luôn tự hỏi sao hồi đó em lại chấp nhận về đây? Sao em không từ chối? Đinh nương có vẻ không thèm để ý tới câu hỏi ngược của ta, vẫn lơ đãng nhìn ra bóng đêm trước mặt, tiếp tục những câu hỏi của nàng. Ta không hiểu nàng đang định đào sâu, tìm hiểu điều gì, nhưng vốn từ lâu đã hoàn toàn tin tưởng nàng, nên cũng chẳng hề do dự, cứ thế mà trả lời:
- Em có thể làm thế được không khi sự an ổn của nhiều người họ Dương phụ thuộc vào cuộc hôn nhân này?
- Nếu cuộc hôn nhân này em đã không có lựa chọn nào khác và nó lại có ý nghĩa sống còn như thế, vậy sao thời gian qua em lại cố tình cự tuyệt Hoàng thượng như vậy?
Ta giật mình nhìn sang nàng, trong bóng tối đậm đặc của đêm hè cuối tháng không trăng, vẫn có thể thấy áng mắt chăm chú của nàng lúc này đã hướng về phía ta. Không phải một đôi mắt trách cứ hay móc máy, đó là một đôi mắt thẳm sâu, u buồn nhưng chân thật khiến người ta muốn dốc hết tấm lòng của mình.
- Em.. Em.. Đinh nương..
- Ở vào hoàn cảnh của em, người ta chắc cũng chỉ mong sao mình được lãng quên đi, được vùi lấp đi mãi mãi. Ta hiểu cảm giác của em. Có thể nói ta cũng từng có những ý nghĩ như vậy. Nhưng như thế sao được chứ? Dù rằng mình không muốn tranh giành, ganh đua gì cả thì ở chốn này, cũng cần cố gắng để gây dựng một mối quan hệ cho bình thường chứ. Mình không cần họ yêu thương, sủng ái, thì cũng đừng làm cho người ta phải ghét bỏ hoặc nghĩ tới mình với những ấn tượng xấu chứ. Hiện giờ thì không sao, Hoàng Thượng còn trăm nghìn việc phải làm, phải lo nghĩ nên không bận tâm tới chuyện này; nhưng mai sau, nếu có kẻ nào gièm pha, thêm mắm muối, đặt điều vào chuyện này thì em sẽ ra sao? Liệu những mục đích mà em đã phải hi sinh thân mình để đạt được khi về Hoa Lư này có còn bảo toàn được không?
Ta chết lặng mất một lúc khi những lời này như một mũi tên đen xuyên trúng vào trái tim, vào ý nghĩ của ta. Nàng nhìn ta một lúc, thấy ta không trả lời, cũng không nói gì nữa, lại ngồi đó lặng lẽ đưa mắt nhìn trời. Một con đom đóm rất sáng từ một bụi cây nào đó bay vụt lên, nương mình theo gió, ẩn hiện nơi đuôi mắt kéo ta về với thực tại.
- Em thật là hồ đồ rồi.. Đinh nương! Em thật sự rất hồ đồ rồi!
- Vậy thì từ giờ hãy cố gắng lên! Những chuyện qua rồi hãy để nó lại sau lưng và làm tốt những gì mình đang định làm, mình cần phải làm ở hiện tại. Bởi nếu không như thế, những khổ đau, mất mát mà mình đã phải ghánh chịu trở nên vô nghĩa hay sao?
Ta không nói gì nữa, chỉ thấy một hàng nước mắt nóng hổi đã lăn dài trên má. Chẳng hiểu sao cứ nói chuyện với nàng là ta lại dễ xúc động đến như vậy. Dù tâm trạng có chai lì đến mấy khi bắt đầu, thì sau cùng vẫn thấy mình có thể khóc, vẫn thấy lòng nhẹ nhõm đi rất nhiều.
Nàng không nói thêm gì nữa, lẳng lặng nằm xuống bên chõng, ngước mắt lên nhìn trời, mặc kệ cho ta khóc một lúc, sau cùng ngẩng đầu dậy bảo:
- Hương hoa gì thơm quá! Đêm hè mát mát ngồi ngoài vườn uống trà như thế này thật là tuyệt đúng không – Vẫn cái phong cách chuyển chủ đề đầy ngẫu hứng quen thuộc của nàng.
Ta đưa tay lên quệt vội nước mắt, lặng lẽ gật đầu trong bóng tối đáp lại nàng.
- Hoa sen ngoài đầm đang bắt đầu nở rồi đấy. Hôm nào ta sẽ sai gia nhân ra hái một ít mang về chúng ta cắm với ướp trà. Đang định đợi khi nào sen nở nhiều lại rủ em ra đó bơi thuyền, nhưng chưa kịp thì lại bận bịu mất rồi.
- Vậy ta chờ khi nào rảnh rỗi sẽ đi bơi thuyền nhé Đinh nương! - Nhớ tới chuyến đi chơi thuyền vui vẻ năm xưa làm cho tao hào hứng trở lại. Năm nay đất nước yên bình rồi, chờ đúng lúc sen nở rộ mà chèo thuyền ra đó ngụp lặn giữa hoa và lá, giữa hương thơm và gió mát thì còn gì tuyệt bằng. Ta bèn này ra một ý, bảo: Ban ngày bận quá có thể chơi tối mà. Đợi đêm trăng sáng mà chèo ra ngoài đó, rồi neo thuyền lại giữa đầm, em nghĩ như thế có khác nào mình đang bơi trong các giấc mơ đâu!
- Chà, ý kiến được đó!
Đinh nương đập mạnh tay xuống chõng, reo lên đầy hứng thú. Thế rồi ta và nàng cứ ngồi đó bàn bạc chuyện đi bơi thuyền ngoài đầm cho mãi tới tận khuya. Lúc các nàng thị nữ ra gọi về nghỉ ngơi mới chịu dừng lại, ai về nhà nấy.
Ngẫm nghĩ lại lời Đinh nương nói trong đêm hè đó mới thấy trước nay mình thật hồ đồ. Vì sao mà ta phải bội ước với chàng để về đất Hoa Lư này chứ? Chẳng phải vì cha mẹ, vì dòng họ Dương hay sao? Chẳng phải vì muốn đền đáp công ơn tái sinh, cưu mang của hai người mà ta phải rời xa hai người hay sao? Hai năm trôi qua, hai người ở quê nhà không biết giờ sức khỏe thế nào mà đến nay ta vẫn chưa thể về thăm được? Mái tóc hai người không biết đã bạc đến chừng nào rồi? Không có ta ở nhà nghịch ngợm, hai người có được vui vẻ không?
Mới nghĩ đến đó, nước mắt đã rớt lưng chòng..
Bao nhiêu xa cách, bao nhiêu chia lìa, bao nhiêu đớn đau!
Thế mà bấy lâu nay ta như mơ ngủ ở đây vậy. Quên hết cả trọng trách mà mình phải gánh vác. Còn rắp tâm mong sao người ta lãng quên mình đi, còn rắp tâm mong sao gió bụi thời gian chôn vùi mình đi. Để chính bản thân mình được yên ổn. Nếu thế ta về đây làm gì? Nếu thế ngày đó ta phải dứt áo về đây làm gì! Phải nén nước mắt làm gì? Không phải ta đã quá ích kỷ, chỉ nghĩ đến bản thân mình mà quên mất nghĩa lớn rồi hay sao?
Ngẫm ngợi như thế, nước mắt cứ lã chã chảy. Thư thoảng ta còn cấu vào tay mình để nhắc nhở chính mình rằng từ nay nhất định không được hồ đồ như vậy nữa! Từ nay cần phải chuẩn bị tinh thần thật chu đó để đón tiếp họ Đinh.
Nhưng đến khi ta đã chuẩn bị được tâm thế sẵn sàng để bất cứ khi nào họ Đinh muốn qua cũng có thể nghênh tiếp, không cần phải kiếm cớ để trốn tránh nữa, thì công việc lại quá bận bịu.
Đầu tiên là việc đào móng, khởi công xây dựng một loạt công trình quan trọng ở kinh thành mới. Sau một thời gian chuẩn bị nguyên vật liệu, nhân lực, mặt bằng, bản vẽ, việc xây nhà, đắp thành, đào hào, trồng cây.. được triển khai đồng loạt ở nhiều nơi, trong phạm vi quy hoạch kinh đô mới đã định. Thành ra họ Đinh, Đinh công tử và các quan lại thân tín bận bịu không biết bao nhiêu mà kể. Phần lớn thời gian này họ Đinh và bộ hạ phải ngủ lại ở công trường chứ cũng không mấy khi trở về Động. Những công việc ở khắp nơi báo về, đều trực tiếp qua nhà tạm bên công trường để bẩm báo và giải quyết tại chỗ chứ cũng không báo về Động nữa.
Tiếp đó là việc cắt cử người đi đón Dương Nguyệt Nương phu nhân và nàng Sen. Cử bao nhiêu người đi, cử những ai đi cho an toàn, đáng tin cậy, đi như thế nào, ăn nghỉ dọc đường ra sao cho chu tất, ta và Đinh nương đều phải đứng ra lo toan và tổ chức hết. Bận tối mặt tối mũi!
Đến khi hai đoàn người đón rước đã xuất phát đi thì lại phải lo trang hoàng nhà cửa, đồ dùng sinh hoạt cho Dương Nương phu nhân và các tiểu nữ. Tạm thời trong thời gian này Dương nương nương và các tiểu nữ sẽ sống tại nhà Giữa cùng với họ Đinh, vì nơi đây rất nhiều phòng ốc, mà hiện tại họ Đinh lại ít dùng đến, chủ yếu ăn ngủ ngoài công trường. Về phía nàng Sen thì ngoài lo nhà cửa, nàng sẽ ở căn nhà phía Nam, giáp rào với ngôi nhà Tây ta đang ở, liền phía sau Đại sảnh đường, lại còn phải lo lụa là, gấm vóc, nhã nhạc, rượu mừng để việc vu quy bái tổ được linh đình.
Rồi nữa còn phải gom nhiều vàng bạc, gấm vóc để chuẩn bị cho hôn sự của các tiểu nữ nhà họ Đinh.
Vẫn chưa biết ai sẽ được nhắm làm phò mã, các nàng nào sẽ được dùng trong bàn cờ chính trị của cha mình. Họ Đinh thì đã có chủ ý hết ở trong đầu. Nhưng chưa một ai biết được cụ thể như thế nào. Đến ngay cả Đinh nương cũng không có một manh mối gì cả. Thế nên tất cả đều mù mà mù mờ. Nhưng ta và nàng vẫn cứ phải chuẩn bị kỹ càng theo lệnh. Vừa chuẩn bị vừa hồi hộp chờ đợi.
Đến khi mọi công việc chuẩn bị hoàn tất, đang tưởng được nghỉ ngơi một chút chờ đoàn người trở về, Đinh nương và ta thậm chí còn đang rục rịch rủ nhau đi ngắm hoa sen, thì tin phương xa báo đến, Đinh Ngọc Nương, nàng trưởng nữ của nhà họ Đinh trên đường về kinh đô đã lâm trọng bệnh mà mất.
Cả Hoa Lư lại một phen bàng hoàng!
Từ cờ mừng, rượu hỉ lại phải lập tức chuyển sang màu trắng khăn tang. Lại bận bịu túi bụi. Từ rèm đỏ lọng vàng lại chuyển thành cờ đen chướng rủ. Ai nấy đều rất đỗi thê lương. Khổ tâm nhất vẫn là họ Đinh, cứ phủ phục bên linh cữu nàng Ngọc Nương mà khóc. Bao năm trinh chiến, bao năm cha con xa nhau; đến khi vừa lên đến đỉnh vinh quang, phú quý, thì cha con chưa kịp nhìn mặt, đã phải vĩnh viễn chia lìa. Ai nhìn cảnh ấy cũng không cầm nổi nước mắt!
Người mất thì đã đành. Cha mẹ anh chị em, ai nấy đều thương tâm cả. Nhưng người phải chịu thiệt thòi không kém trong cảnh này chính là nàng Sen. Vì là phận vợ mới, nên phải sắp xếp để nàng được đón về sau Dương Nương phu nhân, người mà từ đây về sau hiển nhiên sẽ trở thành người đứng đầu cai quản hậu cung. Cũng tưởng rằng sẽ được đón đãi linh đình, nở mày nở mặt. Ai ngờ khi về đến Hoa Lư thì khăn trắng rợp trời. Lại đành lủi thủi không nhạc mừng không pháo hỉ, không ngọc ngà gấm lụa, cứ thế lặng lẽ mà về nhà Nam nhập gia.
Đến khi mọi việc đã xong xuôi, không khí bớt thê lương, lòng người bình yên trở lại, thì cũng đã cuối mùa thu.
Lại đến mùa sen tàn.
Một buổi chiều, sau khi bàn bạc một số công việc với Đinh nương ở nhà Đông xong, ta và các thị nữ lững thững trở ra về. Đang đi trên đường thì chợt nghe có tiếng sáo diều vang vọng trong không gian. Ngảnh lại hỏi hai thị nữ, các nàng bảo đúng là có tiếng sao diều thật. Thế là bèn rủ hai nàng đi theo hướng tiếng sao xem sao. Đã mấy năm qua rồi giờ mới lại được nghe tiếng sáo diều. Cũng là lần đầu tiên được nghe kể từ khi vào Động. Chiều nay trời nhiều gió, nghe tiếng sáo diều bỗng nhớ cánh đồng quê nhà bên sông Cầu Chày quá. Nhớ những tháng năm cùng hai nàng thị nữ đội nắng dầm mưa nghịch ngợm trên cánh đồng. Nhớ cả những tháng ngày cùng chàng rong ruổi.. Sao giờ đây tất cả xa vời thế..
Ta như bị thôi miên, cứ cắm cổ theo hướng tiếng sáo mà đi ra bìa rừng phía ngoài thành. Hai nàng thị nữ chạy theo sau, vừa thở hổn hển vừa bảo trời cũng sắp tối rồi, nên về nhà nghỉ ngơi, tắm giặt, cả ngày nay ta đã vất vả rồi. Nhưng ta cũng mặc. Cứ thế đi thẳng tới. Hóa ra là mấy đứa trẻ nít, con các nàng thị nữ ở làm ở Ban y phục. Giờ chiến tranh hết rồi, cha chúng là lính theo họ Đinh đã trở về. Việc binh giờ nhàn rỗi, nên có thời gian làm diều cho chúng. Thấy ta đứng đó say xưa nhìn theo cậu bé đang cầm dây diều thả lên cao, một tiểu nữ áng chừng mười, mười một tuổi, sau khi thi lễ đã bảo ta:
- Dương nương nương có vẻ thích thả diều nhỉ, người có muốn chơi thử một lúc không?
- Ờ, ta..
Thấy ta ậm ừ, mắt thì vẫn chân chối nhìn theo con diều đang vươn lên trên nền trời thẳm xanh trong vắt cuối thu, nàng tiểu nữ chẳng đợi ta trả lời nốt, cứ thế chạy ra phía cậu em. Hai người nói gì đó với nhau một hồi, cậu bé ban đầu cự nự, có vẻ không muốn cho ta chơi, nhưng sau khi người chị khẽ quát nạt, đe nẹt gì đó, đành hậm hực mang dây diều lại cho ta. Ta cũng chẳng khách khí nữa, cười bảo cậu bé:
- Phiền em nhé, cho ta chơi một lúc thôi!
Thế rồi cầm lấy cuộn dây diều thả nốt. Con diều bay lên cao, càng cao, càng nặng. Cảm giác căng nặng đè lên dây, xiết vào tay khiến người ta trở nên hào hứng và phấn khích, chỉ muốn nhanh nhanh nhả thêm dây để cho nó bay lên cao, lên cao mãi. Diều càng lên cao, tiếng sáo cũng theo đó càng lúc càng du dương, cuốn hút. Mấy thị nữ đứng bên cạnh hò hét cổ vũ. Cậu bé cho mượn diều cũng quên mất nỗi khó chịu ban đầu, cùng người chị đứng gần đó, không ngừng chỉ bảo ta cách nhả dây, điều chỉnh diều. Đến lúc dây đã thả hết, chỉ còn chơ lại cái cọc neo, nó bảo ta đầy lo lắng:
- Cẩn thân nha Dương nương nương, giờ người mà buông đoạn tre ra là bay mất diều của em đó.
Chị nó nguýt nó một cái thật dài, còn các thị nữ thì cười vang:
- Dương nương ngày trước vẫn chơi diều suốt đó, em không cần phải lo.
Ta cầm chặt thanh tre ở trong lòng bàn tay, kẹp chắc chắn sợi dây diều ở giữa ngón giữa và ngón trỏ, thư thoảng lại giật nhẹ khi thấy con diều chao liệng ở trên không, bảo:
- Lâu lắm rồi ta không chơi trò này, nhưng trước kia ta cùng các thị nữ của mình là thiện nghệ đó em có biết không? Em đã thử cái trò thả hết dây như thế này, xong rồi mình cầm vào cọc neo, chạy chầm chậm một đoạn chưa? Như thế em sẽ cảm nhận được sức nặng của con diều đang no gió, như có gì đó đang kéo mình lại phía sau rất mạnh vậy. Nhiều khi rất là nặng đấy nhé! Nhưng nhớ chạy chậm thôi, vì nếu chạy nhanh và đột ngột thì dây sẽ bị đứt đó! Ta với các thị nữ của mình đã làm đứt dây diều không biết bao nhiêu lần vì cái trò này rồi đấy! Có lần còn bay mất không thể tìm lại được diều cơ.
Nói xong lại thấy mình lỡ mồm, vì thằng bé mà biết được thành tích làm đứt dây diều của ta như thế khéo nó không cho ta chơi mất, đang định nói gì đó chống chế; thì lại thấy mọi người ở bên cạnh tự nhiên im bặt, không còn nghe thấy tiếng hò hét cổ vũ, cũng không thấy tiếng thằng bé nửa càu nhàu, nửa ủng hộ ở bên cạnh nữa, bèn quay lại, thì hoảng hồn nhận ra họ Đinh đứng sừng sững ở bên cạnh, cũng đang ngửa cổ nhìn lên con diều, còn hai thị nữ lẫn lũ trẻ con đều đã quỳ mọp gối ở dưới đất.
Ta nhất thời cũng mất hết hồn phách, vội vã buông tay rồi ngay quỳ xuống đất:
- Hoàng Thượng vạn tuế!
Chưa kịp dứt lời thì đã thấy họ Đinh cùng thằng bé con đồng thanh hét lên "Diều bay mất rồi!". Sau đó họ Đinh ba chân bốn cẳng chạy theo định túm lấy dây diều. Nhưng không kịp! Con diều no gió đã bay đi quá xa rồi! Thằng bé nãy giờ nhấp nhổm nhìn theo mà không dám đứng lên, đến khi thấy con diều đã vuột mất, lại thấy họ Đinh quay trở lại, lại vội vàng quỳ xuống, mà nước mắt đã ngân ngấn.
Chưa ai kịp hành động gì thì đã thấy họ Đinh nhảy phắt lên con ngựa đang được hai thị vệ giữ chặt cương ở gần đó, rồi thoắt cái đã phóng theo hướng con diều bay. Hai thị vệ thấy vậy cũng vội vã thúc ngựa đi theo để hộ giá. Mọi người còn lại nhấp nhổm kẻ đứng người quỳ cùng ngóng về hướng đó chờ đợi. Không ai nói với ai câu nào.
Mất một lúc lâu sau mới thấy có tiếng vó ngựa quay lại. Mọi người lại nhất loạt quỳ xuống phục xuống dưới đất.
- Chà! Con diều đã bay mất rồi! Họ Đinh vừa nhảy xuống khỏi yên ngựa, tay ném dây cương cho hai thị vệ, vừa bảo: Tiếc quá! Trước kia khi còn trẻ, ta cùng Đinh Điền và Nguyễn Bặc tướng quân cũng hay chơi trò này lắm. Bao nhiêu năm rồi nay mới lại được thấy! Vậy mà lại bay mất!
- Mất rồi thì thôi có gì mà trách tội! Tất cả mau đứng dậy đi!
Mọi người cùng đồng thanh nói "Tạ ơn Hoàng Thượng" xong run rẩy đứng lên. Hai đứa trẻ thì dù đứng dậy vẫn cúi gằm mặt xuống đất không dám nhìn lên. Có lẽ đây là lần đầu tiên chúng đối diện với Hoàng Đế ở khoảng cách gần như vậy lại thêm hình dung khá dữ tợn của họ Đinh khiến cho chúng đỗi khiếp sợ.
Mà không phải chính ta cũng như thế hay sao? Ta thấy mình cũng chỉ là đang nhìn vào đám đất ở ngay dưới chân của họ Đinh mà thôi. Tất nhiên không phải ta sợ. Nhưng không hiểu sao cũng không dám ngẩng mặt mà nhìn lên nữa. Lúng túng không biết nói gì tiếp theo, ta đành quay sang bảo chú bé:
- Ta xin lỗi nhé! Lỡ buông tay để bay mất diều của em rồi! Để ta nhờ người làm lại rồi sẽ mang đền em!
- Là diều của chú bé đây hả? Tiếng họ Đinh cất lên oang oang hướng về phía nó làm thằng bé giật thót mình. Vẫn cúi đầu không ngẩng lên, nó chỉ dám lí nhí "Dạ" một tiếng rồi lại đứng im. Thấy thế họ Đinh liền tiếp: Vậy để mai ta sẽ sai quân lính làm bù cho em. Ta sẽ bảo bọn chúng làm mấy cái liền để em cùng các bạn chia nhau chơi cho vui.
- Tạ ơn Hoàng Thượng!
Hai đứa trẻ nói rồi lại run rẩy quỳ xuống. Có lẽ chúng đang mong được độn thổ xuống đất, rồi lại trồi lên ở một chỗ khác mà không phải nhìn thấy họ Đinh nữa để chúng có thể thoải mái chạy nhảy, vui chơi cũng nên. Thấy cái dáng vẻ ấy, họ Đinh liền xua tay:
- Thôi các em hãy về nhà đi kẻo mẹ mong!
Nói lời như cởi tấm lòng, thấy vậy chúng liền vái lậy lia lịa, miệng không ngừng bảo "Tạ ơn Hoàng Thượng! Tạ ơn Hoàng thượng", xong rồi chưa kịp dứt lời, đã ba chân bốn cẳng chạy về khu nhà ở dành cho người làm quanh Ban Y phục.
Còn lại chơ chọi một mình mình và hai nàng thị nữ run rẩy lẩy bẩy đứng với họ Đinh, ta bỗng chốc cũng trở nên hoảng sợ. Đang quay mòng mòng ở trong đầu không biết nên nói gì, làm gì tiếp theo thì họ Đinh, sau khi nhìn lũ trẻ đã chạy đi xa, bèn quay lại nhìn ta:
- Nàng và thị nữ cũng mau về nhà nghỉ ngơi đi! Trời sắp tối rồi đấy! Đang định trèo lên ngựa rời đi, họ Đinh chợt như nghĩ ra điều gì, dừng lại hỏi: Mà mọi người đi bằng gì đến đây?
- Bọn thần thiếp đi bộ ra đây, thưa Hoàng Thượng!
- Đi bộ sao? Từ thành ra đây cũng đâu có gần. Mà trời lại sắp tối đến nơi rồi. Thôi nàng hãy lên đây ta đưa nàng về!
- Còn hai thị nữ của thiếp.. Nghĩ đến cảnh ngồi chung ngựa với họ Đinh ta đã thấy khớp rồi, đang định kiếm cớ để từ chối, nhưng rồi giọng nói của Đinh nương lại như vang lên ở đâu đây, nên ta bỏ lửng câu nói, phó mặc cho họ Đinh quyết định.
- Hai thị vệ sẽ đưa hai nàng cùng về chứ. Nào nàng lên đây!
Vừa dứt lời đã trèo phắt lên ngựa, ta bèn tiến lại gần, họ Đinh cúi xuống thốc tay vào hai mạng sườn ta, rồi bằng một động tác nhanh, mạnh đã nhấc bổng ta đặt vào lòng mình. Xong xuôi thúc ngựa hướng về thành.
Ta ngồi im trong lòng họ Đinh, lại càng trở nên bội phần lo sợ. Không dám cả cựa mình. Sợ động chạm vào họ Đinh. Càng sợ hơn nếu họ Đinh có biểu hiện, hành động gì đó mà mình không biết phải xử sự ra sao thì lại thành đắc tội. Thế là cứ như thể nín thở cả dọc đường.
May sao suốt chặng đường về, họ Đinh cũng chỉ chú tâm giữ chặt dây cương, thúc cho ngựa chạy một mạch về thành, chứ cũng không hỏi han, trò truyện gì.
Về đến cổng nhà ta, lại nhảy xuống trước rồi đỡ ta xuống ngựa. Ta lí nhí ở trong miệng "Tạ ơn Hoàng Thượng" rồi vờ vịt chỉnh chang lại áo sống, nhưng cái chính cũng chỉ là muốn cúi mặt xuống để không phải đối diện. Những ý nghĩ đối lập như đang đánh lộn trong đầu ta. Không biết nên mở miệng hay ngậm miệng. Cuối cùng, đến lúc họ Đinh sắp nhảy lên ngựa rời đi, ta mới lúng búng được một câu:
- Hoàng Thượng hôm nay hãy về nhà thiếp nghỉ ngơi!
Họ Đinh nhìn ta, cười ha ha rồi bảo:
- Tối nay ta đã hẹn dùng bữa, bàn bạc việc công với một số tướng lĩnh rồi. Nàng hãy cứ về nhà nghỉ ngơi đi. Để khi khác ta sẽ qua thăm nàng.
Nói rồi nhảy lên lưng, thúc cho ngựa đi. Ta trong lòng có một chút tê tái. Vì sao lại cười ầm lên như thế? Không biết mời mọc như thế có thất thố không? Không biết là bận thật hay vì sao mà từ chối thẳng thừng như vậy khiến ta, dù khi mời cũng không thật lòng cho lắm, nhưng khi nghe từ chối như thế vẫn cảm thấy có chút mất mặt. Vừa lúc đó thấy hai thị vệ cũng đã đỡ hai nàng thị nữ xuống đất, hai nàng đang tiến lại phía ta. Đang định đi vào cổng nhà thì chợt họ Đinh cho ngựa quay lại, bảo:
- Thôi vậy đi, tối ăn cơm, bàn bạc xong ta sẽ qua với nàng. Nàng nhớ báo gia nhân chuẩn bị.
Ta "Vâng" một tiếng dù biết rằng họ Đinh đã thúc ngựa đi xa, rồi đứng như trời trồng ở đó. Giờ thì lại chả biết nên vui hay nên buồn. Chả biết nên nghĩ ngợi thế nào.
Hai nàng thị nữ tưởng ta đợi các nàng, cũng không hỏi han gì, cứ thế ùa đến rồi cùng nhau đi vào nhà.
Tối đó nghe tin Hoàng Thượng đến, kẻ hầu người hạ trong nhà bấn loạn hết cả lên. Người lau chùi quét dọn, người đun nước pha trà, người chuẩn bị nước tắm, ai nấy đều như trúng phải tà; làm đi làm lại, lau đi lau lại, đi qua đi lại rối tung rối mù. Các nàng thị nữ cũng không kém phần hoảng sợ vì không biết sẽ phải hầu hạ ra sao khi Hoàng Thượng tới. Đứng chỗ đó có được không, ngồi chỗ kia có được không? Nên làm cái này hay không nên làm cái kia? Các nàng cứ tranh cãi mãi rồi quay sang bực dọc với nhau, chỉ thiếu nước nhẩy bổ vào mà ẩu đã nữa thôi. Đến khi ta quát mắng cho một trận mới bình tâm trở lại.
Tuy quát gia nhân thì quát vậy, nhưng chính bản thân ta cũng hết sức căng thẳng, không biết phải làm như thế nào. Thành ra dùng bữa, tắm táp xong thì cứ thế vào ngồi lì ở bên giường, vặn vẹo chân tay, chẳng thiết làm gì nữa cả. Mong họ Đinh đừng đến nữa hay mong đến? Nên vui hay nên buồn? Hay không nên nghĩ ngợi gì cả? Oán trách hay không nên oán trách bản thân mình? Có cần thiết phải cật vấn, hành hạ mình như thế hay không? Vì sao ta cứ phải như thế? Tất cả những ý nghĩ ấy cứ quay mòng mòng trong đầu ta. Phải lôi những lời dạy bảo của Đinh nương hôm nào ra nhẩm đi nhẩm lại trong đầu mấy lượt, ta cuối cùng cũng mới trấn an được mình để khỏi nghĩ lung tung.
Chờ đợi làm từng thời khắc trôi đi chậm chạp. Ai nấy đều căng thẳng và mệt mỏi. Cảm giác như đêm cứ dài ra mãi.
Mõ canh đã điểm hai tiếng từ lâu mà vẫn chưa thấy họ Đinh đến. Gia nhân đều đã uể oải, ngủ gà ngủ gật tại chỗ. Hai thị nữ cũng ngáp ngắn ngáp dài.
Chẳng biết họ Đinh có đến không? Có khi là họp xong muộn quá nên không đến nữa không chừng. Nhưng cũng không thể cho mọi người về nghỉ hết được, vì nếu lại bất ngờ đến thì không biết làm thế nào. Thế là ta bèn bảo mọi người hoàn thành công việc của mình, rồi ai ở đâu về đó nhưng phải phân công nhau người thức, người ngủ luôn phiên để nếu cần gọi đến là phải có mặt ngay. Riêng các thị nữ lo nước tắm, quần áo thì tìm chỗ tiện lợi trong phòng Lan Nhi, Ngọc Nhi ngủ, để nếu họ Đinh đến là có thể phục vụ ngay.
Xong xuôi cũng bảo hai thị nữ chuẩn bị cho mình lên giường, rồi bảo các nàng nàng cứ theo thế về phòng ngủ.
Chẳng biết các nàng và gia nhân ra sao, còn ta cứ thế nằm chong chong trên giường, nghe tiếng lá xạc xào ngoài vườn theo từng cơn gió lạnh đêm cuối thu. Thư thoảng lại giật thót mình vì âm thanh gì đó như tiếng bước chân ngoài cửa. Nằm nghe ngóng một lúc hóa ra lại không phải.
Cứ như thế, chẳng biết tự lúc nào cũng đã ngủ thiếp đi được một giấc chập chờn.
Đến khi nghe văng vẳng bên tai tiếng mõ canh ba, thì mơ hồ thấy hình như có người mang theo nến nhẹ nhàng đi vào phòng, ngồi lại bên giường. Đến khi thấy người ấy khẽ khàng lật chiếc chăn mỏng lên, chui vào nằm cạnh bên ta thì ta giật mình tỉnh giấc, lập tức ngồi bật dậy. Thiếu chút nữa thì hét lên vì sợ nhưng may thay kịp định thần, nhận ra người đó chính là họ Đinh, lại chuyển sang thành câu "Hoàng thượng!".
Họ Đinh nhìn ta bảo:
- Ta làm nàng tỉnh rồi sao? Ta với các bộ tướng bàn bạc hăng quá, đến giờ mới về được. Nàng nằm xuống ngủ tiếp đi. Vừa nói vừa nằm xuống, kéo chăn đắp hờ đến ngang người.
- Vâng.. Ta cố nén giọng xuống để tiếng đáp không bị run rẩy, rồi khẽ nằm xuống bên cạnh họ Đinh: Hoàng Thượng đã kịp tắm, thay quần áo chưa?
- Rồi. Thấy nàng đã ngủ, nên ta đã lẳng lặng bảo hai thị nữ chuẩn bị nước tắm rồi.
Nói đến đó họ Đinh liền nhắm mắt lại, nằm yên một lúc. Nghĩ rằng họ Đinh đã ngủ, ta thở hắt ra một cái, rồi thả lỏng người.
Đột nhiên họ Đinh lại mở mắt ra:
- Ngẫm nghĩ lại nàng về đây cũng đã được hơn hai năm rồi nhỉ?
- Vâng.. Thiếp về đây từ mùa thu năm Bính dần. Ta trả lời, trong lòng thoáng ngạc nhiên vì thấy họ Đinh lại để tâm đến chuyện ấy.
- Thời gian trôi nhanh thật! Ta còn nhớ ngày nào nhìn thấy nàng, ngay lập tức đã muốn lấy nàng về làm vợ. Vậy mà đã hai năm trôi qua vợ chồng mới được chung gối chăn như thế này.
Ta không hiểu họ Đinh đang nói gì? Ta với họ Đinh không phải chính là lần đầu nhìn thấy mặt nhau ở Hoa Lư này mùa xuân vừa rồi sao? Trong đầu nghĩ như vậy nhưng cũng không muốn hỏi lại, nên cứ im lặng nằm đó.
- Hôm đó nàng không thấy ta. Đó chính là hôm ta với Đinh Điền và Nguyễn Bặc từ doanh trại đến Đông Lỗ Trang để bái kiến phụ thân nàng. Lúc đi qua Giáp Mau thì thấy ở đó đang có lễ hội. Cũng chỉ định đi qua để xem thế nào, thì thấy giữa hội hè đông đúc một cô nương ăn mặc đơn giản mà vẫn không dấu nổi vẻ xinh đẹp, trang nhã lại tươi tắn như hoa vừa chớm nở đang đứng xem hai thị nữ của mình đánh đu, ta đã hỏi dân làng ở đó và biết chính là nàng, là con gái của Chương Dương Công. Ban đầu chỉ định đến vái chào, nối lại thâm tình giữa hai họ rồi xin ý kiến Dương Công về việc thu phục cựu Hoàng tử Ngô Xương Xí. Nhưng sau khi gặp nàng thì ta đã quyết, nhất định phải xin nàng về làm vợ.
À ra là như vậy! Quả thật hết sức bất ngờ!
Những hình ảnh của buổi sáng cuối Xuân đó chầm chậm trở về trong ký ức của ta. Hơi nhòe nhoẹt. Vì thực ra ta cũng không dành nhiều tâm trí cho cái ngày đi chơi Hội đó. Nhưng vẫn có thể mường tượng ra được khung cảnh trong buổi sáng hôm ấy.
Lúc đó hai thị nữ đã ra sức năn nỉ ta chơi đánh đu cùng các nàng. Nhưng vốn dĩ những ngày tháng đó ta chẳng còn thiết tha với bất kỳ điều gì nữa cả. Một nửa hồn ta đã theo Lê Hoàn ra trận rồi. Nửa còn lại lúc thì không ngừng nhớ thương mong ngóng chàng, lúc lại ôm ấp, gặm nhấm những kỉ niệm ngày bên nhau. Vậy nên ta một mực từ chối lời rủ rê đánh đu của hai nàng, chỉ đứng đó mà cổ vũ.
Lần dở lại ký ức chập chờn, ta nhớ có một khoảnh khắc nào đó đã mơ hồ cảm thấy như có con mắt của ai đó chăm chú nhìn về phía mình. Nhưng đến khi ngẩng lên nhìn ra xung quanh thì cũng không thấy có gì bất thường cả. Chỉ có một lúc nào đó, hình như đã nhìn thấy bóng dáng cao lớn của ba người ăn mặc nai nịt gọn gàng theo phong cách nhà binh đang hòa mình vào đám đông ồn ào xem hội, bước đi xa dần. Nhưng việc ấy cũng không có gì đáng chú ý cả. Nên sau đó cũng quên ngay.
Thế mà ngờ đâu số phận ta đã được định đoạt từ cái khoảnh khắc đó!
Nếu ngày đó ta không đi chơi Hội; nếu ngày đó có thể ẩn mình đi giữa đám đông để không lọt vào con mắt của họ Đinh như thế thì giờ ta đang ở đâu? Thốt nhiên thấy một nỗi buồn mơ hồ mà thấm thía như ánh sáng của một ngôi sao rơi trong đêm đông lạnh giá vút qua trong đầu.
Họ Đinh bất ngờ quay mình về phía ta, lấy tay chống lên đầu, nhìn ta rồi bảo:
- Nàng biết không, ngay lúc nhìn thấy nàng đứng đó ta đã yêu nàng rồi. Nàng chính là người vợ duy nhất mà ta thực sự chọn cho mình, người vợ mà ta thực sự muốn, chứ không phải do chủ ý của cha mẹ, hay vì những lý do gì khác. Việc ta đến bái chào Nhạc phụ Dương Công và xin cầu thân thực ra may mắn trùng hợp. Nếu nàng không phải là con của Dương Công, ta cũng nhất định tìm nàng.
Nghe những lời nói của họ Đinh ta không khỏi bất ngờ. Nhưng chẳng biết nên cảm thấy thế nào cho phải! Nếu là một ai khác thì đã có thể khóc nấc lên vì có được tình yêu của Hoàng Đế, có được một phút chân thành và yếu lòng chắc là rất hiếm hoi của người đứng đầu thiên hạ này rồi. Nhưng ta, ta phải cảm thấy như thế nào đây? Nên cảm thấy như thế nào cho phải đây? Đầu óc rối bời, ta cứ nằm đó không nói gì, mà cũng không dám nhúc nhích, cựa quậy.
Họ Đinh im lặng một lúc không thấy ta có phản ứng gì, bèn vòng tay qua vai kéo ta quay lại mặt đối mặt với mình, rồi cứ thế nhìn ngắm một lúc lâu. Ta không thể nhìn vào khuôn mặt, vào đôi mắt ấy, cũng không biết nên đặt ánh mắt của mình vào đâu, đành cụp mắt nhìn xuống ngực áo của họ Đinh. Họ Đinh vẫn không nói gì, chầm chậm đưa ngón tay cái lên vuốt nhẹ trên mi mắt của ta. Lên gò má. Vuốt nhẹ vào cánh tai. Rồi trướt nhẹ qua môi ta. Sau đó chầm chậm đưa bàn tay nâng cằm ta lên. Liền đó chẳng nói chẳng rằng gì nữa, cúi xuống áp chặt miệng vào môi ta và bắt đầu hôn. Người ta căng như dây đàn. Đầu óc hoàn toàn trống rỗng. Có lẽ trong phút chốc đã trở nên tê liệt toàn thân cũng nên. Nhưng kỳ lạ là có một thứ mà ta lại cảm nhận được, nghĩ ngợi đến được rất rõ trong lúc đó, ấy là râu ria của họ Đinh cắm vào má, vào mặt ta rất đau, rát..
Ngấu nghiến đôi môi ta một hồi họ Đinh bỗng ngừng lại, nói trong hơi thở dồn dập:
- Sao nàng không hôn lại ta?
Câu hỏi làm ta choáng váng! Lẫn với hơi thở gấp gáp, nóng rẫy phả ra không ngừng, câu hỏi thì thầm ấy chắc là tràn đầy nhục dục, mà sao ta chỉ thấy như tiếng sấm giáng bên tai mình. Sống hay chết có phải chính ở giây phút này không? Ta ậm ừ lựa lời ứng phó: Thần thiếp.. chỉ là.. thần thiếp chưa quen..
Họ Đinh cười lên một tràng to làm ta giật nảy mình. Không biết kẻ hầu người hạ ngủ ở nhà ngoài có ai bị thức giấc không. Không quan tâm tới điều đó, họ Đinh lại vòng tay ra sau lưng kéo ta áp sát vào ngực mình, rồi liên tục hôn vào má, vào trán ta, vào khóe mắt, vào mang tai ta. Sau đó lại từ từ chuyển xuống áp chặt vào môi ta. Không dám lơ là một giây một khắc nào nữa, khi môi vừa chạm môi, ta lập tức đáp trả. Được đáp trả, họ Đinh càng lúc càng hôn cuồng nhiệt và ướt át. Làm ta thấy mình như cũng như bị cuốn đi theo.
Sau những nụ hôn thật dài và sâu tưởng như nghẹt thở, họ Đinh trườn đôi môi xuống cằm, xuống cổ, xuống ngực ta. Ta có thể cảm nhận rõ hơi thở hổn hển, nóng hổi phả vào làn da mình. Cùng đó thấy bàn tay to ráp, khỏe mạnh lướt khắp toàn thân ta. Vai. Lưng. Thắt lưng. Hông. Đùi. Rồi, sau một động tác nhanh và dứt khoát, đã thấy dây buộc áo yếm bị tháo tung ra. Liền đó họ Đinh chậm rãi nhưng mạnh mẽ luồn bàn tay to khỏe của mình xuống dưới chiếc áo yếm lúc ấy chỉ còn bám hờ trên người ta và bắt đầu khám phá.. Ta thấy mình giờ chỉ còn như một chiếc lá bé nhỏ giữa một dòng thác lớn. Bị cuốn đi. Cuốn đi. Bị nhấn chìm đi. Nhấn chìm đi. Nhấn chìm đi..
Buổi sáng hôm sau tỉnh dậy, nhìn qua khung của sổ, thấy ánh mặt trời đã chiếu rực rỡ bên ngoài, biết là muộn lắm rồi. Không thấy họ Đinh bên cạnh nhưng không biết là đã đi chưa, ta vừa lồm cồm ngồi dậy, vừa gọi Lan Nhi.
- Người đã dậy rồi sao? Nàng thị nữ chạy vào rồi đứng rón rén ở bên giường.
- Ta vừa mới dậy. Hoàng Thượng còn ở đây hay đã đi rồi?
- Đã đi lâu rồi ạ. Hoàng Thượng dậy từ sáng sớm và bảo phải sang bên công trường gấp. Khi đi Hoàng Thượng dặn cứ để cho người ngủ nên bọn em không dám gọi dậy.
Biết họ Đinh đã đi rồi, ta chẳng buồn dậy nữa, chẳng nói chẳng rằng, lại gieo mình nằm xuống giường. Thấy ta như vậy, Lan Nhi cứ nhùng nhằng ở bên giường, nửa định dời đi nửa định ở lại, định nói rồi lại thôi. Rồi cuối cùng sau một lúc lưỡng lự, nàng thẽ thọt cất lời:
- Em đi chuẩn bị nước rửa mặt và quần áo cho người nhé?
- Ừ, em giúp ta với!
Ta hững hờ trả lời rồi lơ đãng ngước nhìn lên những ô sáng hắt trên trần nhà. Là ánh sáng phản chiếu lại từ không gian sáng bừng bên ngoài chứ không phải là nắng rọi vào, nên nhờ nhờ, không rõ nét. Có hình dáng vuông vuông, tròn tròn, mà hình như lại không phải vuông vuông, tròn tròn.. Nhìn hút mắt vào đó một hồi thì lại thấy nghi hoặc, chẳng thể phân biệt nổi là có những ô sáng đó thật hay không. Thế rồi đầu óc trở nên hoàn toàn trống rỗng..
- Người dậy rửa mặt chải đầu đi ạ. Lan Nhi lại rón rén ở bên cánh màn.
Vẫn nằm trên giường ta bảo với Lan Nhi:
- Em bảo gia nhân chuẩn bị xe. Chốc nữa rửa mặt xong ta muốn ra lầu Vọng Nguyệt chơi một chút.
- Chưa ăn sáng gì mà đã đi sao?
- Ta không đói. Nhưng em có thể mang theo đồ ăn nhẹ ra đó để phòng khi ta muốn ăn cũng được.
- Vâng.
Lan Nhi trả lời rồi để chậu nước và khăn lau mặt ở trên ghế, lẳng lặng đi ra ngoài dặn dò Ngọc Nhi báo gia nhân chuẩn bị rồi lại quay vào giúp ta rửa mặt, chải đầu.
Nàng cứ thế lẳng lặng mà làm. Dấp ướt khăn đưa cho ta lau mặt, lấy khăn khô cho ta lau tay, lấy nước cho ta xúc miệng, rồi lấy gương chải tóc, trang điểm.. Nàng tuyệt không nói năng một câu nào. Bình thường, là người thân cận nhất của ta, những lúc như thế này nàng đâu có để yên, kiểu gì chả mồm năm, miệng mười một điều gì đó. Vậy mà giờ thì như ngậm tăm, làm cái gì, nói cái gì cũng ra vẻ trang nghiêm, cẩn trọng, dè chừng. Nàng ta bị sao vậy? Cơn bực mình lại dâng lên khi nhìn thấy cái khuôn mặt đăm chiêu, e dè của nàng. Nhưng rồi ta cũng lại nén lại được.
Ngoài đầm sen nắng cuối thu chiếu xuống chói lòa. Ở phía dưới thì mặt Đầm mênh mông như một tấm gương lấp lánh, sáng rực; còn ở phía trên bầu trời xanh trong văn vắt không một gợn mây. Nhưng ở quanh lầu sen đã tàn hết rồi. Bình thường cữ này trong năm sen cũng chưa tàn đến vậy. Nhưng năm nay không hiểu sao, ngày thì nắng nóng, có những buổi trưa còn nắng như mùa hè, nhưng đêm đến lại rất buốt giá. Cây sen không chịu được cái lạnh ấy cùng với sương đêm nên đã thâm đen, khô đét hết rồi. Mặt đầm không còn chiếc lá nào cả. Chỉ còn lại những cuống lá, những đài sen khô gục xuống mặt nước. Trông rất buồn thảm.
Ánh nắng vàng rực đấy, bầu trời xanh ngắt đấy, nhưng nhìn xuống hồ sen vẫn có thể cảm nhận thấy sự thê lương, lạnh giá đang đến rất gần kề rồi. Tất cả những lấp lánh, chói chang, xanh ngắt này rồi cũng tan biến thôi. Rồi tất cả đều sẽ phải nhường chỗ cho mưa phùn, cho lạnh giá, cho rét mướt. Ừ thì, rồi mùa hè sang năm sẽ lại tới, hoa sen sẽ lại nở rực rỡ. Nhưng ngẫm cho cùng, hoa sen sang năm là của những cây sen sang năm, đâu phải là những cây sen năm nay nữa. Những cây sen của năm nay, chẳng phải trong thời khắc này, thân thể đang dần muc nát ở dưới làn nước lạnh rồi sao?
Nghĩ vẩn vơ như thế, rồi bỗng thấy một sự nuối tiếc mơ hồ mà thấm thía dâng lên trong lòng. Trong thoáng chốc nước mắt đã lăn dài trên má.
Sao bỗng nhiên ta lại trở nên đa sầu đa cảm mà thương cho thân phận những cây sen như thế nhỉ? Thương cho những cây sen đang chết ở trong hồ. Hay thực ra ta đang khóc thương cho một cái gì cũng đang chết đi, hoặc đã chết đi ở trong lòng mình?
Thời gian thì vẫn vậy, ngày tiếp ngày trôi. Nhưng có cái gì đó đã thay đổi hoàn toàn rồi, đã chết thật rồi. Ở trong lòng ta ấy. Có cái gì đó đã vĩnh viễn bị chặn lại ở bên kia bức tường. Cái gì đó hoàn toàn khác với những gì ở bên này bức tường. Một bức tường mơ hồ thôi, không hình dạng, không màu sắc, không âm thanh, không hình khối, không thể nhìn thấy được, nhưng lại vững chắc hơn mọi bức tường trên thế gian. Bức tường ấy vừa được dựng lên tối hôm qua. Khi ta làm những việc đó cùng với họ Đinh. Nhưng đó là cái gì? Cái gì đã chết ở bên kia bức tường? Ta không còn là thiếu nữ nữa? Ta trở thành đàn bà ư? Phía bên kia bức tường ta là thiếu nữ. Phía bên này bức tường ta thành đàn bà. Ừ cũng phải. Nhưng điều đó có đáng gì đâu, đâu đến mức làm ta luyến tiếc đến thế? Đó phải là một thứ gì đó mà ta thấy sự mất mát của nó thấm thía ở trong lòng cơ.. Đó, có phải chăng chính là giấc mơ thiếu nữ của ta? Chính là những giấc mơ thiếu nữ bây giờ đã mãi mãi bỏ ta đi rồi, đã chết ở bên kia bức tường. Đã không bao giờ còn trở về với ta nữa? Ta đã từng mơ về điều gì? Mơ được trở về bên sông Càu Chày chạy nhảy, vui chơi. Mơ lại được một lần ở bên chàng, cùng trao nhau nụ hôn say đắm dưới những cơn mưa mùa hạ hay dưới ánh trăng thu mơ màng. Mơ lại được ở trong vòng tay ấy để một lần nữa cảm nhận thấy những thớ cơ chắc khỏe đang ôm ấp, che trở cho mình. Mơ được trở thành vợ chàng, được chăm sóc và yêu thương.. Giấc mơ ấy chưa bao giờ tắt, ngay cả khi ta đã về Hoa Lư này, suốt hai năm qua. Ta tưởng nó đã chết sau khi ta trở thành vợ lẽ của họ Đinh. Nhưng hóa ra nó vẫn còn leo lắt ở nó, ở nơi sâu thẳm trong tâm khảm ta. Nhưng đến hôm nay, sau những gì xảy ra đêm qua, ta hiểu rằng giấc mơ đó đã mãi mãi tàn lụi rồi..
Hai ba ngày sau họ Đinh cho người làm cả trăm con diều sáo. Một số phân phát cho hai đứa trẻ mất diều hôm trước cùng bạn bè của chúng để chơi cho vui. Số còn lại chia đi khắp nơi trong động. Từ đó chiều chiều tiếng sáo diều lại đua nhau ngân nga ở khắp nơi. Nhưng tiếng sáo như gợi lại kỷ niệm cũ. Như người quen xưa mà lại như không phải; như an ủi mà lại như trêu ngươi ấy chẳng khác nào những mũi dao cứa vào lòng ta.
Những ngày sau đó, khi ở công trường thì không nói làm gì, nhưng cứ khi về tới Động là họ Đinh lại qua nhà Tây ở với ta. Ta trở thành vị Nương nương được sủng ái nhất trong số bốn người vợ của họ Đinh lúc bấy giờ.
Một chiều hè cuối tháng năm năm Kỷ Tỵ, ta đang ngồi bên hiên chờ chiều xuống, hóng gió mát; đợi đêm về để xem rơi bay ra bắt muỗi, rồi cười vui cùng các thị nữ. Ta những ngày tháng này chính là cứ làm ngơ đi mà sống, được đâu vui đó mà không suy nghĩ gì nữa như vậy.
Giữa lúc đó thì thấy họ Đinh mặt mày tía tai, tóc râu dựng ngược hùng hổ đi vào cổng. Hai thị vệ mặt mày tái xanh, chân phải, chân trái líu ríu vào nhau chạy theo ở phía sau mà vẫn không theo kịp.
Ta với thị nữ đang ngồi ở thềm, ai nấy đều bất ngờ vì thấy họ Đinh về sớm hơn mọi ngày, chưa kịp đứng lên thi lễ thì họ Đinh đã đi vụt qua, đạp vào cánh cửa một cái rồi lao thẳng vào phòng.
Thấy cảnh tượng ấy ai nấy đều mặt cắt không ra giọt máu, dồn hết cả ánh mắt về phía ta cầu cứu. Ta thấy thế, ta cũng cứ mặc kệ một lúc, rồi mới theo vào trong nhà. Vào đến nơi đã thấy họ Đinh cởi phăng Hoàng bào vứt ở trên sàn nhà, đang ngồi thở phì phò trên ghế.
Ta vội đi lại giót một chén nước để xuống bên cạnh bàn rồi bảo:
- Hoàng Thượng hãy uống nước đi cho mát. Triều đình có việc gì không vừa ý người hay sao?
Họ Đinh không thèm nhìn ta, đập tay "bốp" một cái xuống bàn rồi gầm lên.
- Thật bực mình không thể chịu nổi nữa! Cái tên tiểu tướng ấy ăn phải gan hùm, mật gấu rồi hay sao hôm nay lại dám không vâng lời ta! Thật làm ta bực mình muốn chết mà!
Nói chưa kịp dứt lời, đã tự mình đứng phắt dậy rồi đá một cái vào chiếc ghế vừa ngồi. Chiếc ghế đổ mạnh xô vào chiếc bàn làm ấm nước và chén trà lăn lông lốc trên mặt bàn. Nước đổ lênh láng.
Thấy cảnh tượng ấy, thừa biết cái tính nóng nảy, cục cằn của họ Đinh một khi đã phát tác thì khó mà hạ hỏa ngay được, ta lẳng lặng đứng dậy định bỏ vào nhà trong để ngồi. Không ngờ khi ấy họ Đinh lại giơ chân đạp thẳng vào chiếc bàn. Chiếc bàn bị xô mạnh thúc vào ta đang đứng cạnh đó, làm ta ngã dúi dụi xuống mặt đất. Chỉ kịp "Á" lên một tiếng. Xong ta cứ thế nằm đó mà khóc ngon lành. Thực tình không đau đến mức phải khóc. Nhưng bị họ Đinh làm ngã một cách vô lý như vậy, ta thấy tủi ở trong lòng nên khóc cho vui thôi.
Lúc này như người mất hồn được nhập hồn rở lại, họ Đinh giật mình lao đến đỡ ta lên:
- Vân Nga! Vân Nga! Nàng có làm sao không? Ta xin lỗi!
Nói rồi tự nhiên khuôn mặt dịu lại, vội vội vàng vàng bế thốc ta vào giường, miệng không ngừng hò hét gia nhân đi gọi ngự y. Đến khi ta kiên quyết bảo ta không sao thì mới chịu thôi, dẫu vậy vẫn phải tự mình kiểm tra một lượt từ chân nọ sang chân kia, từ tay nọ sang tay kia, thấy không bầm dập, xước xát ở đâu mới thở phào ra, bảo.
- Không bị thương ở đâu cả. Nhưng nàng có thấy đau ở chỗ nào không?
- Không, thiếp không còn đau ở đâu nữa. Chỉ là bị bất ngờ nên nhất thời hoảng loạn thôi.
- May quá! Nhưng ta nghĩ vẫn phải gọi ngự y kiểm tra cho nàng ta mới yên tâm được.
Ta ngồi dậy trên giường bảo:
- Nếu vậy để mai thong thả thiếp sẽ cho truyền ngự y qua. Chứ giờ vội vội vàng vàng qua gọi không phải là bắt tội người ta hay sao?
- Nàng nói cũng phải. Vậy cứ theo thế mà làm đi! Xin lỗi nàng ta đã quá nóng giận không kìm chế được. May mà nàng không bị trọng thương ở đâu, chứ nếu nàng có vấn đề gì thì ta biết làm sao đây?
- Thiếp không sao rồi mà. Người đừng băn khoăn về việc ấy nữa. Hãy nói xem vì sao mà người lại bực mình như vậy?
Vừa hỏi đến đó thì họ Đinh đã liền sa sầm nét mặt. Nhưng may sao lại không đến mức nổi khùng nổi đóa lên mà đấm, đá linh tinh.
- Hôm nay ta bàn đến chuyện kén phò mã cho các tiểu nữ. Nàng biết đấy, chỉ còn vài bữa nữa là mãn tang Ngọc Nương, như vậy nên bàn dần đi là vừa rồi. Phất Kim thì ta định gả cho Ngô Nhật Khánh tướng quân, Phù Dung ta đã chọn Trịnh Tú. Ai cũng đều vui vẻ đồng ý cả. Riêng đến Lê Hoàn, ta muốn kén cho Liên Hoa. Vì ta thấy hai bọn họ đều là người ưa tự do, phóng khoáng, lại đã từng giáp mặt trên xa trường, hẳn là sẽ tâm đầu ý hợp. Vậy mà tên tiểu tướng đó đã từ chối. Nàng bảo ta không tức giận sao được đây!
A! Lên Hoàn! Lê Hoàn! Cái tên ấy vừa vang lên thì bao nhiêu hình ảnh, bao nhiêu tâm tư lại đua nhau trỗi dậy như nấm sau mưa ở trong đầu ta. Đã bao lâu rồi ta không nhắc tới cái tên ấy. Đã bao lâu rồi ta trùm chăn lên quá khứ đang ngủ yên. Vậy mà nay..
Lê Hoàn với Liên Hoa tiểu thư ư?
- Nàng làm sao vậy? Đau ở đâu sao?
Thấy ta chợt thất thần như người mất hồn, họ Đinh vội nắm lấy tay ta lắc mạnh. Ta vội vàng chống chế:
- Không, chỉ là thiếp đang tưởng tượng ra hình ảnh Lê Hoàn tướng quân sánh vai với Liên Hoa tiểu thư, thấy quả tình rất hợp. Vậy mà tiếc thay lại không thành hay sao? Thế Lê tướng quân đã trả lời ra sao?
- Nàng cũng thấy rất hợp sao? Vậy là đâu phải ta không có con mắt nhìn người chứ! Chỉ tiếc là tên tiểu tướng đó nói không thể đồng ý được. Hắn bảo thân bắn bồ côi bồ cút bao nhiêu năm nay. Cha mẹ đẻ không may vì ốm bệnh, nghèo khó đã qua đời. Rồi hăn được Lê Giám sát nhận về nuôi dưỡng, hết lòng yêu thương, thế mà mấy năm trước cha nuôi cũng qua đời. Trong lòng hắn vì vậy không tránh khỏi thương xót, không muốn nghĩ tới việc hôn sự, mà cũng không muốn làm lỡ mất chuyện đại sự của Liên Hoa.
Nói đến đó họ Đinh lại đứng bật dậy, quay phắt ra phía cửa, tay nọ đấm vào lòng bàn tay kia hết sức bứt rứt, khó chịu.
- Vậy Hoàng Thượng đã xử trí ra sao?
- Còn sao nữa! Ta cho hắn ba ngày để suy nghĩ, sau đó liền bỏ về đây. Hắn là một trong những tướng trẻ rất được ta trọng dụng mà lại có ý làm những việc ngông cuồng ấy là sao?
- Nếu tới đây Lê tướng quân vẫn khăng khăng quan điểm của mình thì Hoàng Thượng tính sao?
- Hắn dám ư? Họ Đinh lại nổi khùng lên một lần nữa, thét to giữa nhà đến khản cả tiếng: Nếu hắn dám ta không bao giờ tha cho hắn! Ta sẽ tước chức vị của hắn rồi thả hắn vào chuồng cọp cho xé xác! Dứt lời lại đưa chân đá tung tấm bình phong tùng cúc, trúc mai đặt giữa cửa ra vào và giường của ta. Đám người hầu kẻ hạ trong nhà nghe tiếng đổ vỡ lại kéo nhau vào. Nhưng thấy họ Đinh đằng đằng sát khí nên chẳng dám lại gần dọn dẹp, chỉ thập thò bên cửa chờ nghe lệnh.
- Nhưng thiếp nghĩ là câu trả lời trong mấy ngày tới của Lê tướng quân sẽ không thay đổi đâu.
- Sao nàng biết! Hắn dám sao!
Họ Đinh quay lại thét về phía ta như thể chính ta là kẻ từ chối chứ không phải là Lê Hoàn vậy. Ta lẳng lặng cúi nhìn xuống sàn nhà, thấy một nỗi sầu muộn dâng lên ở trong lòng. Nhưng ngoài mặt lại làm vẻ dửng dưng, nở nụ cười rồi nói:
- Năm xưa Lê Tướng quân là môn sinh trong Võ đường Dương Xá, Hoàng Thượng còn nhớ chăng? Khi đó dù ít qua lại bên Võ đường vì thiếp vốn không có hứng thú với mấy trò võ biền, nhưng người ở bên Võ đường và Trang Đông Lỗ không ai không biết tấm lòng hiếu thảo của Lê tướng quân. Song thân của Lê Tướng quân mất sớm, năm nào tới ngày giỗ chạp cũng xin về để tang cha mẹ rất chu toàn. Khi ngài Lê giám sát qua đời cũng đã hết sức đau đớn, không ăn không uống, khóc lóc bao nhiêu ngày trời. Nên thiếp nghĩ nếu Lê tướng quân đã nói vậy thì thực tình là vậy. Có lẽ trong lòng vẫn chưa hết thương nhớ những người đã sinh thành, dưỡng dục nên chưa muốn nghĩ tới chuyện đại sự, chứ không hề có ý gì khinh thường Hoàng thượng cả đâu.
- Vậy nàng bảo ta phải tính sao chứ? Giọng họ Đinh lúc này đã dịu đi đôi chút.
- Thiếp nghĩ dù trong lòng bực tức vì Lê tướng quân dám kháng chỉ, thì ngoài mặt Hoàng Thượng cũng nên tỏ ra hoan hỉ rồi bỏ qua việc ấy. Thậm chí người còn nên đem việc này mà khen ngợi trước quần thần, bá tánh. Tại sao? Nếu Lê tướng quân vì có ý giữ chữ hiếu với cha mẹ mà bị phạt tội, há chẳng phải thiên hạ sẽ không còn ai dám để chữ hiếu lên đầu nữa hay sao? Nếu bá tánh biết được việc ấy, mai sau Hoàng Thượng còn có thể lấy chữ Trung, chứ Hiếu ra mà dăn dạy trăm họ được nữa chăng? Thêm vào đó, mấy năm qua Lê tướng quân cũng đã cùng Hoàng Thượng và Công tử Đinh Liễn lăn lộn xa trường, nay vừa mới thái bình, nhưng công việc kiến thiết còn bề bộn, thành ra vinh hoa phú quý chưa hề được hưởng. Nay vì việc này mà phải bỏ mạng, thiệt thân, thế chẳng phải là công lao bao nhiêu năm đổ xuống sông, xuống biển hết hay sao? Nếu xảy ra như thế thì các tướng lĩnh năm xưa đã cùng Hoàng Thượng vào sinh ra tử về sau có ai còn có thể toàn tâm, toàn ý với người đây?
Họ Đinh lúc này đã hết hẳn vẻ tức giận nhưng không nói gì, chỉ ngồi im lặng vẻ trầm ngâm không hiểu là đang nghĩ gì trong đầu. Ta khẽ thở dài một cái! Nói hết lời hết ý như vậy mà không ích gì thì thôi ta cũng đành chịu. Bỗng thấy toàn thân mệt mỏi rã rời, những nỗi chán nản đã dâng lên đầy ứ nơi cuống họng. Chợt họ Đinh cất giọng bảo:
- Nàng nói cũng phải. Có lẽ ta đã quá nóng giận mất khôn. Nếu xét về khía cạnh làm cha ta có chút mất mặt. Nhưng với tư cách là Hoàng Đế ta cũng nên quay sang ca ngợi tấm lòng hiếu đễ của Lê Hoàn mà bỏ qua việc này. Có như vậy mới lấy được lòng thiên hạ về sau. Thật may có nàng nếu không ta đã làm hỏng bét mọi việc rồi. Nói rồi ngưng một lát, lại bảo: Ở trong này nóng bức quá, chúng ta hãy ra ngoại đi dạo loanh quanh cho thoải mái thôi.
- Vậy hay chúng ta ra đầm sen bơi thuyền?
Không hiểu sao lúc đó ta lại buột miệng nói ra điều đó, dù lúc trước đó chưa từng nghĩ đến việc này. Nói xong lại thấy hối hận. Không hiểu sao ta lại muốn đi bơi thuyền, lại là bơi thuyền với họ Đinh? Chắc hẳn sẽ bị cười cho một trận rồi bị từ chối. Họ Đinh không có vẻ hợp với việc này. Nghĩ thế xong thầm cầu trời khấn Phật, mong sao cho họ Đinh từ chối..
Vậy mà không ngờ họ Đinh lại cười vui vẻ bảo:
- Bơi thuyền ngoài đầm sen ư? Ta chưa đi bao giờ! Nhưng nghe có vẻ vui đó! Chúng ta đi thôi!
Thế là không còn cách nào khác, không thể rút lại lời nói của mình được. Đành phải đi thôi.
Để tránh phiền phức và rườm ra, họ Đinh không cho bất kỳ gia nhân, thị vệ nào theo hầu cả. Chỉ có nàng thị nữ trông coi việc thuyền bè đi theo phụ trách việc chèo thuyền. Như thế ta lại càng thấy thoải mái!
Đây là lần thứ hai bơi thuyền ngoài đầm sen. Nhưng là lần đầu tiên đi bơi thuyền đúng giữa mùa sen nở. Tiếc sao lại không phải là đi cùng với Đinh nương.
Ta với nàng đã hứa hẹn nhau mấy lần đợi mùa sen nở rộ sẽ cùng bơi thuyền ngắm hoa. Vậy mà chưa khi nào thực hiện được. Nhớ năm xưa, lần đầu ta cùng nàng bơi thuyền trong đầm sen, chính là năm đầu tiên khi ta về đây. Khi đó hoa sen đã tàn lâu rồi, lá sen cũng chỉ còn lác đác ba, bốn phần. Vậy mà cũng vui vẻ, thanh tao biết mấy.
Giờ hoa sen đang độ, nở bát ngát cả một góc đầm. Lá sen to, xanh mướt, ken dày đặc. Lại thấy rối rắm, vướng víu và khó chịu. Hay chỉ tại lòng ta không được vui? Vì ta không được đi ngắm sen cùng nàng? Người ta vẫn bảo rằng rượu ngon thì phải có bạn hiền đó hay sao?
Thuyền bơi chầm chậm giữa hồ.
Nàng thị nữ đứng ở mũi thuyền vừa thong thả cắm xào, đẩy con thuyền từ từ, nhẹ lướt về phía trước, vừa cẩn thận chọn những đường đi ít sen mọc nhất, tránh làm hỏng, nát hoa sen. Vậy mà đôi khi hoa sen, lá sen vẫn ghé sát sạt vào mạn thuyền. Chỉ cần chìa tay ra là có thể hái được.
Họ Đinh không mấy quan tâm tới hoa sen, chọn một chiếc ghế dài bên mạn thuyền rồi nằm khểnh lên, chân bắt chữ ngũ, lim dim nhắm mắt như đang ngủ.
Ta ngồi ở mạn thuyền bên này, cũng chỉ là lơ đễnh mà ngắm hoa.
Lê Hoàn! Vì sao chàng quyết định từ chối Liên Hoa tiểu thư?
Liên Hoa tiểu thư chính là con gái của họ Đinh với người vợ cả là Đặng Thị. Nàng chính là em gái của Công tử Đinh Liễn và là chị của Phù Dung tiểu thư. Năm nay nàng mười tám tuổi. Phù Dung tiểu thư thì mười bảy.
Ta chưa từng chính thức đối diện nàng, nhưng đã nhìn thấy nàng ấy một vài lần trong các nghi lễ quan trọng của Hoàng gia cũng như trong đám tang và nghi lễ cúng cơm cho nàng Ngọc Nương. Nàng thường ăn bận gọn gàng, tinh giản theo lối nhà binh và trang điểm rất nhẹ, nhưng vẫn có thể thấy rõ những đường nét thanh tú trên khuôn mặt nàng. Lê Hoàn và nàng lại đã từng gặp mặt nhau ngoài xa trường. Vậy hà cớ gì mà từ chối?
Có một chút tự mãn đàn bà dù mỏng mảnh như sợi chỉ len lỏi trong ý nghĩ của ta, phải chăng trong lòng chàng vẫn có ta? Thời gian trôi qua cùng bao nhiêu biến cố, vậy mà phải chăng trong lòng chàng vẫn có chỗ cho ta? Nhưng mà như thế thì cũng để làm gì cơ chứ? Chàng không nghĩ đến sự an nguy của bản thân mình hay sao mà làm thế? May sao vì mấy lời nói nhảm của ta mà họ Đinh lại bỏ qua việc này. Chẳng rõ vì những lời nói ấy thấu tình đạt lý, hay chỉ là vì ta hiện tại đang được sủng ái nên bỗng lời nói thành có trọng lượng. Nếu không phải như thế thì chàng tính sao đây?
Mà, có phải ta quá ảo tưởng về bản thân mình rồi không? Đã mấy năm trôi qua rồi. Lời thề xưa ta đã bội bạc. Tình cảm xưa cũng chỉ còn là chuyện của hôm qua đã rất xa. Giờ ta đã là gái có chồng. Có lẽ chàng cũng đã quên ta rồi. Vậy mà sao ta cứ làm như thể ta vẫn còn một vị trí nào đó trong cuộc đời chàng vậy? Ta không tự thấy xấu hổ sao sau bấy nhiêu chuyện xảy ra, lại vẫn có thể ngồi đây tỏ ra lo lắng cho chàng! Ta lấy tư cách gì chứ? Liệu chàng có cần đến sự lo lắng của ta? Liệu chàng có quan tâm tới việc ta đang lo lắng cho chàng hay không?
- Bơi thuyền ngoài hồ như thế này quả thật rất thú vị. Ai bày ra cái trò này vậy? Họ Đinh lúc này đã ngồi dậy trên băng ghế, cất tiếng hỏi khiến ta giật nảy mình.
- Vậy mà thiếp nghĩ Hoàng Thượng đang ngủ nên không dám cất lời.
- Ta không ngủ. Chỉ là thấy cảnh hồ gió mát hiu hiu nên nhắm mắt nghỉ ngơi một chút thôi.
- Cái trò bơi thuyền này chính là do Đinh nương bày ra cho thiếp đấy. Sen trong đầm cũng chính là do nàng ấy bỏ nhiều công phu đầu tư mà thành vậy.
- Đúng là việc này chỉ có nàng ấy mới nghĩ ra được.
Nói rồi họ Đinh bất ngờ đi đến đứng ở phía sau ta rồi vòng tay ôm ta vào lòng.
- Nàng có biết là nàng ngồi ở đây, màu hoa màu lá hắt vào trông nàng đẹp như tiên giáng trần không?
Thế rồi đưa tay nâng cằm ta dậy, liền đó cúi xuống mà hôn. Một nụ hôn dài, ướt rượt.
Kỳ lạ là một người thô lỗ, cục cằn như họ Đinh lại làm một hành động lãng mạn như vạy giữa khung cảnh này. Chỉ tiếc là lúc này đầu óc ta ở tận đâu đâu, chả còn cảm nhận được điều gì. Lúc thì đáp lại, lúc thì thờ ơ. May sao họ Đinh không để ý, hoặc có để ý cũng không quan tâm, vẫn cứ tiếp tục ôm lấy khuôn mặt ta mà hôn. Thế rồi bất chợt cúi xuống bế thốc ta lên, đặt vào giữa lòng, lại bắt đầu hôn, mỗi lúc một cuồng nhiệt. Và đôi bàn tay bắt đầu trượt đi khắp nơi trên cơ thể ta. Ta phút hoảng hốt, vội vàng gạt tay họ Đinh ra, dừng lại bảo:
- Giữa thanh thiên bạch nhật như thế này, lại còn có cả thị nữ chèo thuyền ở đây, Hoàng Thượng còn định làm gì chứ?
Họ Đinh đưa mắt nhìn ra đầu mũi thuyền, từ đây nhìn ra thì chỉ thấy từ đầu gối nàng thị nữ trở xuống, nhưng cũng có thể cảm nhận được nàng vẫn đang chăm chỉ cắm mũi xào xuống đầm rồi đẩy khẽ, đưa con thuyền nhẹ nhàng lướt về phía trước. Tuy vậy cũng không thể thản nhiên coi như không có người được.
Họ Đinh cất tiếng cười vang rồi đặt ta xuống, đứng dậy, đi lại trong lòng thuyền, bảo:
- Khi chuyển về kinh thành mới rồi nhất định ta sẽ cho sai người đóng một chiếc du thuyền thật lớn để chúng ta có thể du ngoạn sơn thủy. Đoạn sông Sào Khê dọc núi Mã Yên ta sẽ dành để thủy quân của triều đình luyện tập, còn đoạn phía bên trên ta sẽ cho xây nhiều thành quách dọc bờ sông, làm nhiều bến thuyền để chúng ta có thể du ngoạn, nghỉ ngơi. Chắc là sẽ vui đó!
Ta lim dim đôi mắt như thể cũng đang mường tượng về khung cảnh tráng lệ của kinh đô mới, cười bảo:
- Mới tưởng tượng ra thôi thần thiếp đã thấy rất thú vị rồi. Thiếp mong sao chúng ta sớm được chuyển về kinh thành mới!
- Đúng vậy chứ! Ta cũng rất mong chờ. Rồi đây nàng sẽ thấy, kinh thành của chúng ta sẽ to lớn và tráng lệ không kém gì kinh đô của bất kỳ quốc gia lân bang nào, sẽ trở thành niềm tự hào dân tộc của tất cả người Việt.
Nói rồi lại cười một tràng dài, vang động cả một vùng non nước hai bên đầm.
Ở phía tây mặt trời bắt đầu lặn. Ráng chiều đỏ ối bắt đầu dâng lên.
Ngày tàn!
Tháng Tám năm Kỷ Tị, Động Hoa Lư lại được một dịp chộn rộn, bận bịu vì hai việc hỉ lớn, đó là đám cưới của hai nàng Phất Kim và Phù Dung.
Phất Kim tiểu thư chính là con thứ của Dương Nương nương – Dương Nguyệt Nương phu nhân. Năm nay nàng vừa tròn hai mươi mốt tuổi. So với phong tục dân gian mà nói thì nàng đã khá lớn tuổi rồi. Nhưng so với phò mã là Ngô Lãm Công – Ngô Nhật Khánh khi ấy tròn hai mươi lăm tuổi thì cũng là vừa đôi, vừa lứa.
Phất Kim tiểu thư tuy không có vẻ đẹp sắc sảo, mặn mà, nghiêng thành nghiêng nước, nhưng gương mặt với đôi mắt to cùng cái nhìn đắm đuối lại ẩn chứa một cái duyên ngầm rất lạ. Lần đầu nhìn nàng có thể không để lại ấn tượng gì, nhưng nếu đã nhìn đến lần hai, lần ba thì lại bị thu hút một cách kỳ lạ, khó mà rời mắt khỏi nàng được.
Tuy nhiên ta không thích phò mã Ngô Nhật Khánh. Cũng thân hình cao lớn, to khỏe, vạm vỡ, cũng bộ râu quai nón rậm rạp mọc tua tủa rất gợi nhắc đến họ Đinh; nhưng trong đôi mắt lại thiếu cái nhìn thẳng thắn, khảng khái và bộc trực. Giọng cười của chàng đôi khi khiến người ta hoảng sợ. Và tiếng nói của chàng, nó mềm mại như nhung, du dương như những làn gió biển và ngọt ngào như mật ong, nhưng tạo một cảm giác bất an hơn là tin tưởng. Không hiểu vì sao họ Đinh lại chọn con người này làm con rể của mình. Để ràng buộc một một thế lực. Đã đành. Nhưng cứ nhất thiết phải giao những người thân của mình cho những con người như vậy hay sao? Như vậy cũng có thể an tâm được hay sao?
Ngược lại với Phò mã Ngô Nhật Khánh, việc Phù Dung tiểu thư được gả cho Trịnh Tú tướng quân thì yên tâm quá rồi. Chỉ có điều, giá mà biết được trong lòng chàng đang nghĩ gì thì tốt biết mấy.
Suốt cả buổi lễ chàng không ngừng cười nói, uống rượu, bá vai, bá cổ các tướng lĩnh đến chúc tụng, như thể chàng đang ngất ngây trong hạnh phúc vì lấy được nàng Công chúa xinh đẹp, dịu dàng dù có hơi mong manh, yếu đuối, đúng như loài hoa mà nàng mang tên. Ta không sao đọc được gì trong đôi mắt và cử chỉ của chàng.
Tại sao ta lại cứ muốn đọc được điều gì đó trong đôi mắt và cử chỉ của chàng? Vì không hiểu sao suốt lễ cưới của chàng ta chỉ nghĩ tới hình ảnh chiếc du thuyền đẹp đẽ chàng đã sai đóng để tặng Đinh nương dạo chơi. Chẳng phải việc ấy rất là lãng mạn sao? Có thể nào trong đó cũng có một chút tình?
Nhưng có tình để mà làm gì chứ? Ta tự cười vì những ý nghĩ đảo điên của mình! Không có tình chẳng phải tốt hơn sao!
Chứ như ta và người ấy thì có gì là tốt đâu. Lê Hoàn! Hôm nay con người ấy cáo ốm không tới. Có lẽ cũng nên như thế. Bởi nếu chàng đến, không phải rất khó xử, rất khó để đối mặt với Liên Hoa tiểu thư sao? Không phải nếu chàng không cố cãi lệnh họ Đinh, thì hôm nay cũng là ngày vui của chàng và Liên Hoa tiểu thư sao? Nếu hôm nay cũng là đám cưới của chàng thì sẽ như thế nào? Không biết ta sẽ vui hay buồn đây? Ta có nên chúc phúc cho chàng không?
Nghĩ tới đó liền lặng lẽ buông một tiếng thở dài..
- Sao Dương Nương nương lại thở dài như vậy?
Tiếng nói trong trẻo của ai đó vang lên bên cạnh làm ta giật nảy mình. Quay lại nhìn thì ra chính là Liên Hoa tiểu thư.
Tiệc rượu ồn ào, kẻ ra người vào làm ta bí bức quá, vừa tranh thủ trốn ra ngoài ghế đá ngoài vườn ngồi một lúc cho thoáng đãng, tưởng không ai phát hiện ra, không ngờ lại vẫn bị bắt gặp. Mà người đó lại là Liên Hoa tiểu thư.
Chưa khỏi ngỡ ngàng thì nàng đã tiến lại gần, ngồi xuống bên cạnh ta bên ghế đá.
- Năm nay thời tiết thật là khác thường! Đã sang cuối tháng Tám rồi mà vẫn oi bức quá, chưa có một chút mát mẻ nào cả đúng không Dương nương nương?
Nàng phe phẩy chiếc quạt thêu trên tay, nói. Giọng vừa như mệt mỏi, vừa như lơ đễnh.
Miệng ta khô khốc.
Xét về mặt vai vế, ta là Nương nương, là vợ lẽ của cha nàng. Nhưng về tuổi tác cũng chỉ hơn nàng đúng một tuổi. Trong khi ta chỉ là một nữ nhi thường tình, bị gả về đây làm vợ lẽ của cha nàng; thì nàng là một võ tướng đã cùng cha mình và anh trai là Công tử Đinh Liễn và các tướng lĩnh lăn lộn mấy năm ngoài xa trường, vào sinh ra tử. Mới nghĩ đến đó thôi đã thấy hổ thẹn, thấy mất tinh thần. Huống hồ lại gặp nàng ở đây, trong hoàn cảnh này, một cách đường đột như thế.
Thấy ta hồi lâu không trả lời, một nụ cười phớt qua trên gương mặt nàng, nàng đứng dậy rồi bảo:
- Chắc tiểu nữ làm Nương nương khó chịu rồi. Vậy tiểu nữ xin phép cáo lui.
Nói rồi dợm bước đi. Chiếc quạt vẫn phe phẩy trên tay.
- Không phải vậy đâu! Chỉ là không ngờ lại gặp Tiểu thư ở đây nên ta hơi có chút ngỡ ngàng. Tiểu thư cứ ngồi đi!
Nàng lấy chiếc quạt che hững hờ nửa khuôn mặt, bật cười ra thành những tiếng nho nhỏ rồi dừng lại, nhưng cũng không ngồi xuống mà chỉ đứng trên lối đi.
Không hiểu sao ta lại nói vậy nhỉ? Thật thà đến ngớ ngẩn! Có thể nói rằng tại trời đang nắng nóng nên có hơi mệt, như vậy không phải hay hơn sao?
- Đó chính là lỗi của tiểu nữ rồi. Trở về kinh thành đã lâu mà không thường xuyên qua thăm hỏi Nương nương được. Âu cũng tại trước kia vẫy vùng trên lưng ngựa cùng cha anh đã thành quen, nên giờ về ở đây cảm thấy rất đỗi tù túng, bởi vậy vẫn thường cùng thị nữ mải chơi ở khu rừng ngoài thành mà quên hết lễ nghĩa. Hi vọng Nương nương không trách phạt!
- Tiểu thư không phải khách khí như vậy. Có gì mà phải trách phạt chứ. Chúng ta không phải đều là người một nhà hay sao?
Ta vội vã đáp lời nàng. Nhưng nói xong lập tức lại thấy mình rõ ràng bị lỡ lời. Chắc gì nàng đã coi ta là "người một nhà" với nàng chứ? Ta suy cho cùng cũng chỉ là vợ lẽ nàng hầu của cha nàng, nào có quan hệ máu mủ gì với nàng? Lấy tư cách gì mà ta nói vậy với nàng cơ chứ?
Nghĩ thế rồi thoáng chút chán nản. Đành ngồi im lặng ở trên ghế. Nhưng cũng không thấy nàng bắt bẻ gì câu nói đó. Có thể nàng chẳng thèm để ý, hoặc có thể nàng cũng nghĩ tới điều đó ở trong đầu, nhưng may sao nàng chọn cách không nói ra. Nàng chỉ mỉm cười bước đi loanh quanh trên lối đi. Lúc thì dừng lại quạt, lúc lại ngắm những chậu thược dược đang nở rực rỡ ở bên đường.
Hoa thược dược đón những tia nắng chiều lấp lánh từ trên cành cây, kẽ lá giót xuống, hắt màu hồng, màu đỏ lên khuôn mặt nàng, làm nổi bật làn da trắng ngần như những cánh hoa huệ chớm nở. Kỳ lạ là mặc dù đã lăn lộn trên xa trường từ thuở mười ba, mười lăm đến giờ, nhưng làn da của nàng không hề mang một dấu vết của nắng gió, vẫn giữ được vẻ trắng ngần và vẻ tươi trẻ, mượt mà. Nổi bật trên khuôn mặt đẹp như hoa ấy là đôi mắt tròn xoe, đen lay láy, chiếc mũi nhỏ xinh và khuôn miệng nhỏ với đôi môi mọng đỏ, chúm chím như một nụ sen đang he hé nở.
Nhìn ngắm nàng một lúc mới để ý thấy, hôm nay nàng mặc một bộ váy áo hết sức nữ tính và trang nhã, khác hẳn với những bộ quần áo hơi hướng nhà binh tối giản, tiện cho việc di chuyển, vui chơi của nàng. Chiếc áo yếm của nàng có màu hồng cánh sen đậm, chiếc váy màu hồng rất nhạt và chiếc áo khoác mùa hè bằng lụa trắng. Trông nàng dịu dàng, tươi mát mà thoát tục như thể một nàng tiên vừa hóa thân từ một bông hoa thơm ngát nào đó ở góc vườn.
Bình thường trong những bộ quần tối giản, trông nàng đã rất xinh đẹp. Thế mà khi trang điểm, ăn diện vào nàng lại càng xinh đẹp và lộng lấy gấp bội.
Ấy vậy mà vừa qua nàng đã bị một người con trai từ chối hôn sự.
Chuyện đó về nguyên tắc thì chỉ có các quan lại trong buổi chầu hôm đó biết. Nhưng kiểu gì mà chẳng bị lọt ra ngoài. Bao nhiêu người hầu, kẻ hạ, thị vệ ở quanh đấy cơ mà. Không biết nàng có buồn không? Không biết cái "bông hoa sen" này có đang âm thầm héo úa ở một cõi lòng xa xăm nào đó hay không? Có thể nàng không biết. Hoặc biết mà cũng chẳng thèm quan tâm thì sao? Trông vẻ tươi mát của nàng thì khó mà đoán ra được.
- Nương nương là người Đạo Ái đúng không?
Nàng bất ngờ cất tiếng hỏi khi ngồi lại xuống ghế.
Ta thực lòng không biết nàng đang muốn nhắm tới điều gì.
- Quả vậy. Nhưng nguyên quán thì lại chính là ở Đại Hoàng này. Năm xưa cả cha mẹ ta và gia nhân đều bị sát hại trên đường đi lễ chùa về, chỉ còn mình ta sống sót. Vừa kịp lúc đó Chương Dương Công, nguyên là Dương Bình Vương, là con thứ của Thứ sử Hoan Châu Dương Đình Nghệ, cùng đoàn tùy tùng đi qua. Hai vợ chồng Chương Dương Công đã nhận ta làm con nguôi và đem theo ta về vùng Ái Châu.
- Vậy dòng họ Dương chính là đã sáng lập ra võ đường Dương Xá?
À ra vậy, ta dường như lờ mờ nhận ra cái hồng tâm mà nàng đang hướng đến. Có lẽ nàng cũng đã biết chuyện và cũng có quan tâm, hoặc đơn giản chỉ là tò mò muốn tìm hiểu về con người đã dám từ chối nàng? Hay thực ra đó cũng chỉ là một câu hỏi vô nghĩa mà nàng vu vơ cho có chuyện?
- Đúng vậy. Chính là Tổ phụ Dương Đình Nghệ đã sáng lập ra. Từ đó đến nay Võ đường chính là nơi đã đào tạo ra rất nhiều thế hệ anh hùng hào kiệt cho nước Việt..
Ta cố tình bỏ lửng câu nói để thăm dò xem ý của nàng như thế nào. Vẫn thấy nàng tỏ ra hết sức bình thản. Có lẽ nàng cũng đang cân nhắc có nên tiến xa hơn không?
- Sống ở Hoa Lư này Nương nương có thoải mái không? Có thấy nhớ quê nhà không?
Vậy là mũi tên của nàng đã chuyển hướng!
Hoặc là chính ra nàng đã không hề giương cây cung của mình lên.
- Thoải mái lắm! Dương nương nương và các phu nhân khác đều hết sức giúp đỡ ta. Tuy vậy cũng không tránh khỏi đôi lúc hết sức thương nhớ quê nhà. Vì nghĩa phụ và nghĩa mẫu của ta ở nhà, năm nay cũng đã cao tuổi rồi. Định một vài năm nữa thư thư, mới xin Hoàng Thượng cho về thăm nhà.
- Quả nên vậy! Đợi tới đây chuyển sang kinh thành mới, thư thư một, hai năm nữa cho mọi thứ đi vào quy củ là Nương nương có thể xin về thăm quê. Cha ta, đối với việc này mà nói hết sức rộng lượng.
- Thật vậy sao? Có tiểu thư nói như vậy thì ta yên tâm rồi.
Nàng khẽ gật đầu rồi thong thả đứng dậy, sau đó cất những tiếng nho nhỏ, nhưng là kêu ca với chính mình hơn là nói chuyện với ta:
- Sang tháng tám rồi mà sao chưa thấy trời dịu đi chút nào nhỉ? Còn nóng bức hơn cả mùa hè!
Cả hai chưa kịp nói gì thêm thì đã thấy Lan Nhi tất tả chạy từ xa tới:
- Nương nương, thì ra ngồi đây hóng mát cùng Liên Hoa Tiểu thư mà làm em tìm người hết cả hơi! Đinh nương đang muốn gặp người đó, mau trở vào thôi! Vừa nói dứt lời vội cúi người thi lễ với Liên Hoa Tiểu thư.
- Vậy sao? Có chuyện gì?
- Em cũng không rõ! Người mau đến đó thì hơn.
Ta đứng dậy, quay sang Liên Hoa tiểu thư bảo:
- Vậy ta đi trước nhé!
Nàng khẽ cúi người đáp lại, cũng không nói gì thêm. Rồi ta và Lan Nhi một chủ, một tớ vội vã rời đi.
Chẳng rõ nàng còn ngồi lại trong vườn lâu không hay cũng rời đi luôn.
Đó là lần đầu tiên và cũng là lần cuối cùng ta ngồi nói chuyện với nàng ở Động Hoa Lư.
Sau cuộc gặp gỡ ấy ít lâu, nàng xin phép họ Đinh và Công tử Đinh Liễn rồi cùng những gia nhân thân tín, người ngựa, tay nải lên đường đi ngao du sơn thủy. Từ tấm bé đã theo cha và anh miệt mài trên lưng ngựa, nên cuộc sống bó buộc chốn cung đình không hợp với nàng. Nàng muốn đi đó đi đây để xem cảnh non sông gấm vóc, tìm hiểu về con người và phong tục ở muôn nơi, sống một cuộc đời tự do, phóng khoáng.
Ban đầu họ Đinh và Công tử Đinh Liễn hết sức phản đối. Nhưng không thể khuất phục được nàng. Cuối cùng vẫn phải để nàng đi. Ngày nàng đi, họ Đinh khóc lên khóc xuống. Mấy ngày sau không chịu thiết triều, chỉ ngồi ở nhà ủ rũ. Mỗi khi chợt nhớ tới nàng lại không sao cầm được nước mắt. Mỗi lần như vậy, dù ta cố an ủi rằng "chắc là đi một thời gian, chán rồi nàng sẽ lại trở về" vẫn không làm cho họ Đinh bớt buồn. Đành để mặc cho họ Đinh ngồi thương nhớ con gái của mình.
Kỳ lạ là một người thô lỗ và cục cằn như họ Đinh lại có những giây phút yếu mềm như thế!
Liên Hoa xinh đẹp! Hôm đó ở trong vườn, nàng có định hỏi ta điều gì nữa không? Sao nàng không cất lời? Không biết việc nàng ra đi có phần nào vì người ấy không? Vốn dĩ nàng đã có ý định ra đi, hay chỉ là vì sự từ chối ấy mà đi? Giả sử khi đó người ấy đồng ý, thì có giữ chân được nàng không? Không làm sao mà biết được..
Mong sao ở nơi xa đó nàng được nhàn nhã, thảnh thơi. Mong sao một ngày nào đó nàng sẽ gặp được người tâm đầu ý hợp với mình rồi đêm ngày cùng ngắm mặt trời lặn, mặt trăng lên.
Sau những tháng cuối năm Kỷ Tị tất bật hoàn thành những công đoạn xây dựng cuối cùng, đồng thời chuyển toàn bộ người và tài vật sang kinh thành mới, thì mùa xuân năm Canh Ngọ chính là mùa xuân đầu tiên Hoàng tộc họ Đinh cùng văn võ bá quan tổ chức đón tết ở Kinh đô Hoa Lư mới. Cũng từ đây, người dân Đại Cồ Việt đã chính thức có một kinh đô bề thế, khang trang, được xây dựng quy củ để hướng về.
Họ Đinh ban lệnh phát chẩn lương thực cho người nghèo, miễn tô thuế trong ba tháng và ban bố lệnh đại xá để người dân mở hội ăn mừng khắp nơi.
Cũng mùa xuân năm này họ Đinh quyết định lấy niên hiệu là Thái Bình năm thứ nhất và đúc tiền xu Thái Bình Hưng Bảo để tiện cho việc giao dịch trong cả nước.
Ngày rằm tháng giêng năm Canh Ngọ, triều đình long trọng tổ chức lễ tấn phong Hoàng Hậu cho năm người vợ của họ Đinh. Gồm có Dương Nguyệt Nương phu nhân, Đinh Nương, Nguyễn Thị Sen, ta và Hoàng Thị Lan phu nhân.
Hoàng Thị Lan phu nhân chính là thân mẫu của Phò mã Ngô Nhật Khánh!
Vốn dĩ cho tới cuối năm Kỷ Tị, họ Đinh chỉ có bốn người vợ, chính là không có Hoàng Thị Lan phu nhân. Nhưng sau khi nhận được lời tư vấn từ Khuông Việt đại sư, nhằm thắt chặt mối thâm tình với phò mã trẻ Ngô Nhật Khánh khi đó vẫn chưa thực toàn tâm toàn ý phò tá nhà Đinh, họ Đinh đã thu nhận người mẹ góa của Ngô phò mã làm người vợ lẽ thứ năm của mình. Rồi mùa xuân năm Canh Ngọ, cứ theo đó mà phong liền năm Hoàng hậu. Dương Nguyệt Nương phu nhân được phong làm Đan Gia Hoàng Hậu; Đinh nương làm Trinh Minh Hoàng Hậu, Kiểu Quốc Hoàng Hậu chính là Hoàng Thị Lan phu nhân; ta và nàng Sen lần lượt là Cồ Quốc và Ca Ông Hoàng Hậu.
Hậu cung của các Hoàng hậu cứ theo tên tấn phong mà đặt.
Giữa năm Hoàng hậu thực ra mà nói không có thứ tự cao thấp. Vì vốn dĩ người vợ cả chính thức của họ Đinh là Đặng Thị phu nhân đã qua đời từ lâu rồi. Hiện thời năm Hoàng hậu về lý mà nói, đều chỉ là vợ lẽ. Chịu trách nhiệm cai quản chung ở Hậu cung là Đan gia Hoàng Hậu, còn lại các Hoàng hậu khác, cứ theo thứ tự tuổi tác mà ứng xử với nhau.
Về cơ bản thì Cung của ai người nấy quản. Những công việc chung của Hậu cung như chi tiêu, quản lý kẻ hầu, người hạ, trang phục của người trong cung.. đều được giao cho từng Hoàng hậu chịu trách nhiệm rõ ràng. Phụ giúp từng người trong các công việc chung này đều có các ban bệ chuyên trách ở trong triều đình. Bởi vậy cũng là việc ai người nấy lo, không ai can thiệp vào việc của ai. Theo đó Đan Gia hoàng hậu quản việc chi tiêu chung ở hậu cung; ta với Đinh nương phụ trách mảng tuyển người, cắt đặt nhân sự; Ca Ông Hoàng hậu phụ trách mảng phục trang, quần áo, lụa là; Kiểu Quốc Hoàng hậu phụ trách về khánh tiết, trang trí, đồ dùng vật dụng ở trong cung. Đối với từng Cung, từng Phủ mà nói, cũng là cứ theo định mức đã được quy định về kinh phí, người, đồ dùng, gấm vóc mà cắt đặt, phân phát theo định kỳ. Có hỏng hóc, mất mát, phát sinh ở đâu thì xem xét bổ sung, sửa chữa cho hợp lý. Bởi vậy công việc thực chất cũng hết sức nhàn nhã, ít va chạm.
Họ Đinh làm như vậy là nhằm tránh những xung đột có thể xảy ra giữa những người vợ của mình trong việc cai quản việc trong cung. Hậu cung có hòa thuận thì triều đình mới có thể yên ổn mà lo việc nước được. Họ Đinh vẫn cười bảo với ta như vậy.
Lo xa như thế cũng tốt, cho dù vào thời điểm đó ta thấy, các Hoàng hậu của họ Đinh đều là những người hết sức nhu mì và không có dã tâm tranh giành.
Tuy nhiên đó chỉ là nhận định thiển cận của ta vào thời điểm đó.
Còn về sau này lại là chuyện của sau này.
Mùa xuân, Thái Bình năm thứ hai, lại quy định cấp bậc, tước vị, bổng lộc của văn võ bá quan trong triều. Kèm theo đó là quy định về Triều phục của Hoàng tộc, quan lại, tướng sĩ. Hai việc này một mặt làm cho hoạt động của triều đình đi vào quy củ, nền nếp; một mặt cũng là sự ghi nhận chính thức của họ Đinh đối với những khai quốc công thần đã từng cùng vào sinh ra tử trong những tháng năm loạn lạc.
Đứng đầu bộ máy quan lại giúp nhà Đinh cai quản công việc triều chính phải kể đến tướng Nguyễn Bặc được phong làm Định Quốc Công; Lưu Cơ làm Đô hộ phủ sĩ sư; Đinh Điền làm Ngoại Giáp và Phò mã đô úy Trịnh Tú. Đây được coi là "Tứ trụ" giúp lo liệu công việc triều đình về mọi mặt.
Lê Hoàn được giao chỉ huy việc tuyển mộ, huấn luyện, biên chế mười đạo quân trong cả nước, giữ chức Thập đạo tướng quân.
Các tướng lĩnh khác có công trong công cuộc thống nhất đất nước như Phạm Cự Lượng, Đinh Dưỡng Xã, Đinh Cung Linh, Đinh Đại Mộc, Đinh Bắc Phương.. đều được phong chức tước, cấp thực ấp và bổng lộc hậu hĩnh.
Về triều phục của Hoàng tộc, quan lại, và binh sỹ, chính là nhờ Ca Ông hoàng hậu một tay lo liệu. Suốt mấy năm liền nàng dạy bảo cho các cung nữ ở Ban y phục cách se tơ, dệt lụa, thiết kế mẫu mã, chọn vải chọn màu, thêu rồng, đính phượng. Để đến khi ấy, triều đình nhà Đinh từ trên xuống dưới đã thống nhất được về quan phục, đàng hoàng, nghiêm chỉnh.
Tới thời điểm ấy mà nói, mọi thứ mọi mặt của triều đình cũng đều đã đi vào nền nếp, quy củ, vận hành bài bản và trơn chu.
Lại nói về kinh đô Hoa Lư, quả đúng như lời họ Đinh khi xưa đã nói với ta: Nguy nga lộng lẫy không biết bao nhiêu mà kể! Thành quách tầng tầng lớp lớp, sơn son thếp vàng, chạm rồng khắc phượng. Nơi nơi trang trí bằng hoành phi, câu đối, trướng gấm, đỉnh vàng, lụa là, ngọc quý, sắc màu rực rỡ. Ta chưa từng đến Cổ Loa, kinh đô cũ của Hoàng tộc nhà Ngô, nhưng thiết nghĩ giàu sang phú quý tót vời trong thiên hạ chắc cũng chỉ đến thế là cùng.
Kinh thành Hoa Lư có diện tích lên tới hàng ngàn mẫu đất. Được bao bọc bởi các núi Cột Cờ, Mồng Mang, Mã Yên.. lại có sông Sào Khê uốn lượn xung quanh, tạo nên thế tọa sơn hướng thủy, không những thuận tiện cho việc phòng ngự mà còn tạo cho kinh thành phong cảnh non nước hết sức hữu tình. Chỗ này có thể ngắm núi cao, rừng thẳm, chỗ kia lại có thể ngắm sông hồ, nước chảy; bên này thì săn thú, hái măng, bên kia lại có thể buông thuyền, hái sen, thả cần.
Kinh thành được chia ra làm ba khu thành lớn, thành Đông và thành Tây (hay vẫn được gọi là thành Ngoại và thành Nội) và thành Nam. Thành Đông và Tây là nơi đặt toàn bộ cung điện của nhà Đinh, được gọi chung là Thành Hoa Lư; còn thành Nam, như dân gian vẫn hay gọi là thành Tràng An, là doanh trại của quân đội tại Kinh đô. Đây là nơi dự trữ lương thảo, là căn cứ quân sự, nơi đóng quân, luyện tập của lực lượng quân đội tinh nhuệ ở kinh thành. Từ đây sẵn sàng bảo vệ cho kinh thành khi có chiến tranh xâm lược.
Thành Đông là nơi đặt Ngự điện, là nơi họ Đinh thiết triều, giải quyết các công việc của đất nước, là nơi tiếp Sứ giả của lân bang, tiếp quan lại từ các địa phương về tấu trình, chiêu đãi yến tiệc, tiếp đãi khách khứa của triều đình. Ở đây cũng có các khu nhà khách để cho sứ giả, quan lại từ phương xa về nghỉ ngơi, có biệt điện, Ngự thư phòng để những khi phải giải quyết công việc muộn, họ Đinh có thể nghỉ lại.
Thành Tây chính là hậu cung, là nơi ở của Hoàng tộc họ Đinh, gồm năm cung Hoàng Hậu, Vương phủ của Nam Việt Vương Đinh Liễn, Phủ của hai Phò mã đô úy và gia thất của các quan lại cấp cao: Đinh Điền, Lưu Cơ, Nguyễn Bặc.
Các Cung, Phủ này đều được xây dựng rộng rãi khang trang với nhà trăm gian, với vườn Ngự uyển nhiều hoa thơm cỏ lạ trải rộng trên hàng trăm mẫu đất.
Ngoài Hoàng tộc nhà Đinh, dinh thự của các quan lại cấp cao, Thành Hoa Lư còn là nơi đóng quân của ba nghìn cấm vệ quân tinh nhuệ của triều đình.
Riêng phủ Thập đạo tướng quân của Lê Hoàn được đặt ở thành Nam để thuận tiện cho công việc nhà binh. Những năm này Lê Hoàn tướng quân vẫn chưa chịu lập thất. Nên thực ra mà nói ở đâu cũng không mấy quan trọng.
Cồ Việt quốc đương Tống Khai Bảo
Hoa Lư đô thị Hán Tràng An
Đấy là hai câu thơ vẫn lưu truyền trong dân gian khi ấy để nói về Hoa Lư.
Nhưng bản thân ta mà nói, có đôi lúc thiết nghĩ, lại thích ngôi nhà của mình ở Động Hoa Lư hơn. Hoặc có thể vì ta đã quá thân thuộc với nó nên cảm giác vậy. Nhà nhỏ, vườn nhỏ, mà vẫn đầy đủ, sung túc lại rất gần gũi, giản dị. Khi đó ta và Đinh nương có thể sang thăm hỏi nhau rất dễ dàng. Khi thấy người không được khỏe, hay lười một chút thì ngồi kiệu tay hai người khiêng, hay ngồi võng; nếu hứng chí lên thì có thể đi bộ, mà thường là ta và nàng đi bộ, hơi xa một chút nhưng cũng là rèn luyện thân thể cho dẻo dai.
Còn về đây rồi, muốn sang thăm nàng, lại phải ngựa ngựa xe xe, ra vào phép tắc rất đỗi rườm rà. Chính vì thế việc thăm hỏi chẳng được siêng năng như trước.
Hậu cung lại tách biệt hoàn toàn với Ngự điện, nên mặc dù đi lại thuận tiện, nhưng vì khá xa, nên những hôm giải quyết việc triều đình muộn, đa phần họ Đinh đều nghỉ lại mà không trở về hậu cung thường xuyên như trước.
Bởi vậy cung điện nguy nga, lầu son gác tía nhưng chẳng thể vui vầy bằng gian nhà nhỏ khi xưa. Giầu sang phú quý, mà vẫn không thể tránh khỏi những lúc lòng lạnh lẽo, cô quạnh.
Bị giam lỏng trong một chiếc lồng son hóa ra là cảm giác như vậy!
May ở nơi đây có núi non, sông suối đẹp tươi lúc nào cũng bầy ra trước mắt để mà ngắm nghía, vui vầy sớm tối. Nếu không thì không biết còn buồn não đến nhường nào..
Những ngày dài ở trong cung, hai nơi mà ta thích nhất và thường hay lui tới nhất, không kể Cung Trinh minh của Trinh minh Hoàng hậu, là lầu Vọng Nguyệt và Chùa Am Tiên.
Lầu Vọng Nguyệt ở ngay phía sau cung Cồ Quốc, chính là được đặt tên theo lầu Vọng Nguyệt khi xưa ta với Trinh Minh hoàng hậu rất yêu thích ở Động Hoa Lư. Lầu được xây trên một hồ nước lớn, bao quanh bốn phía đều là núi đá vôi hết sức hữu tình. Từ cung đi ra đây, có một đoạn phải men theo chân núi đá cheo leo rất là ngoạn mục. Tuy không thể rộng mênh mông bát ngát, với tầm nhìn mút mát tận chân trời như ở đầm Cút, nhưng cảnh núi non ở ngay cạnh bên, soi mình xuống mặt hồ trong văn vắt cũng tạo cái hứng thú riêng. Mùa xuân có thể ngắm những bụi hoa tím, hoa trắng không rõ tên nở trên núi đá, theo gió đưa về những mùi hương lạ lẫm thoang thoảng. Mùa hè thì ngắm cây cối xanh thẫm in bóng xuống mặt hồ. Còn mùa thu hay đầu đông, những tia nắng trong vắt như xuyên thấu xuống tận đáy hồ, làm mặt hồ ánh lên lấp lánh, trong trẻo. Núi non như được nhuộm trong thứ ánh nắng vàng thơm như mật, mơ màng tươi đẹp. Vào những hôm trăng sáng ngồi ở trên lầu, ngắm vầng trăng từ từ nhô lên khỏi đỉnh núi, như xa đó mà như gần đó, ngỡ là cứ trèo lên đỉnh núi rồi đưa tay lên là có thể hái được. Lại nghe sương đêm thấm vào người se se lạnh. Thật thú vị vô cùng!
Những lúc như thế ta cứ muốn ngồi ở đó mãi mà ngắm nhìn. Đôi khi vào giữa ngày đông hay cuối xuân nắng ấm, còn bảo người hầu kẻ hạ mang ghế đệm đến để ngủ quên trong ánh nắng ấm áp ấy.
Nơi thứ hai mà ta hay lui tới chính là Chùa Am Tiên. Đây là một ngôi chùa được xây dựng cheo leo trên núi đá, từ đây nhìn xuống, có thể thấy hồ Am Tiên ở phía dưới. Hồ này là nơi họ Đinh cho nuôi cá sấu, nên người trong Cung còn hay gọi là Ao giải. Cùng với Động Am Tiên nhốt hổ và sư tử ở sườn núi phía bên kia, đây là hai nơi họ Đinh dùng để xử tử các tử tù phạm trọng tôi. Giống như các vị vua, chúa thời xưa, họ Đinh cũng thích dùng hình phạt cho cá sấu ăn hay cho hổ vồ để trừng phạt các tử tù và răn đe kẻ khác. Cũng chính vì lẽ đó mà Khuông Việt Đại sư đề xướng việc xây dựng chùa Am Tiên ở chốn này. Một mặt để người trong Cung có nơi lễ lạp, hương khói, tĩnh tâm; mặt khác để cầu siêu cho linh hồn của những người đã bị xử tử. Đại sư mong rằng tiếng cầu kinh sẽ giúp những linh hồn tội lỗi ấy mau chóng siêu thoát về nơi miền cực lạc.
Trụ trì chùa Am Tiên là một ni cô tên là Giác Huệ. Ni cô Giác Huệ tinh thông Phật pháp, am tường thiên văn, địa lý, lại thích uống trà bình hoa, vì thế ta thường hay lui tới chùa để nghe Ni cô giảng Kinh sách và nói chuyện.
Họ Đinh thấy ta chăm chỉ đi lễ chùa thì không hài lòng mấy, bảo ta hãy còn trẻ tuổi, cũng không nên quá đắm đuối với tụng kinh niệm Phật. Việc ấy vốn chỉ dành cho người già mà thôi. Ta cũng chỉ gật đầu bảo "vâng" nhưng rồi cũng kệ. Suy cho cùng nếu không đến những nơi ấy, thì còn có mấy việc để làm?
Trinh Minh hoàng hậu đôi khi cũng cùng ta đi chùa. Những lúc khác khi nàng qua thăm ta, hai người đều tới lầu Vọng Nguyệt ngồi chơi.
Một bận ta và nàng đã bàn bạc rồi sai kẻ hầu người hạ, đến mùa xuân phải sang đầm Cút lấy giống sen về để thả trong hồ. Những ngày sau đó, qua mùa thu rụng lá, qua mùa đông giá rét, cứ khi nào tới lầu ngồi sưởi nắng là chúng ta lại không ngừng mơ tưởng về ngày hồ sẽ nở đầy hoa sen. Sen hồng rồi sen trắng sẽ nở ở ngay đây thôi, ngay bên cạnh chân núi đá. Những ngọn núi sẽ nhốt không cho hương hoa sen bay đi xa. Thế là không gian sẽ dịu ngọt vô cùng!
Những tưởng tượng ấy ít nhiều cũng giúp cho những ngày dài dằng dặc ở trong cung trôi qua bớt muộn phiền.
Ta không nhớ khi đó chính xác là vào ngày nào, chỉ còn nhớ đó là một buổi chiều mùa thu.
Sau khi ở cung Trinh Minh bàn bạc về việc tuyển người dịp cuối năm để chuẩn bị cho năm mới về, ta và Lan Nhi một chủ một tớ bảo nhau, sẽ không về thẳng nhà mà đi luôn tới lầu Nghênh Phong ở phía trước Cung Cồ Quốc để hóng gió cho mát. Lan Nhi sẽ tạt về Cung để sai mấy đứa hầu nhỏ chuẩn bị trà nước, quà chiều mang ra, nên ta đi một mình. Đang đi trên đường thì ta chợt nghe thấy tiếng khóc thút thít vọng lại. Tiếng khóc nhỏ, lúc ẩn, lúc hiện khiến ta thoạt tiên tưởng là tiếng một con mèo hoang, hoặc do mình đang hơi mệt vì trời nóng bức mà tưởng tượng ra như vậy. Nhưng đến khi định dợm bước đi thì tiếng thút thít lại cất lên. Đứng lại lắng nghe kỹ thì thấy tiếng ấy vọng ra từ phía sau một bụi hồng dại um tùm. Sao lại có cung nữ nào ra đây ngồi khóc? Ta đi vòng ra phía sau bụi hồng, thì nhìn thấy ở ngay trên bãi cỏ Ngọc Nhi đang ngồi gục mặt vào đầu gối mà nức nở.
Bất ngờ quá đỗi vì không ngờ đó chính lại là thị nữ thân cận của mình, ta vội vã tiến lại phía nàng:
- Ngọc Nhi, có việc gì vậy? Sao em lại ra đây ngồi khóc?
Giật mình vì có người bắt gặp mình khóc một thì bất ngờ vì người đó chính là ta mười, Ngọc Nhi đứng phắt dậy, vội vàng đưa hai tay áo lên lau mặt, sau đó cúi gằm mặt xuống đất, lí nhí:
- Hoàng Hậu.. Sao người lại về sớm vậy? Em.. Chỉ là em thấy trong người không được khỏe. Nhưng giờ.. em đã hết rồi.. xin người không cần bận tâm!
Nghe câu nói lấp liếm không ra đầu không ra cuối, nhìn điệu bộ lúng túng ấy của nàng, biết ngay là nàng đang nói dối. Vừa khóc lóc rất đỗi thương tâm ngay đây, mà giờ lại bảo không cần bận tâm nữa. Phải chăng nàng có điều gì muốn giấu ta? Nàng thị nữ thân cận vốn hàng ngày tươi cười, nghịch ngợm không ngừng giờ đây lại có điều gì không muốn cho ta biết? Ý nghĩ ấy làm ta lặng đi trong giây lát. Định gặng hỏi thêm cho rõ ngọn ngành, nhưng rồi lại nghĩ, nếu đã nói được thì nàng cần gì phải trốn ra đây mà ngồi khóc, rồi lại cố tình nói dối như vậy. Đành chỉ bảo:
- Thật là em không sao rồi chứ?
Nàng ngượng nghịu gật đầu:
- Vâng, em không sao rồi! Hoàng hậu không cần bận tâm nữa. Mà Lan Nhi đâu sao Hoàng hậu lại ra đây một mình?
- Nàng ta về Cung bảo bọn hầu nhỏ chuẩn bị trà nước rồi.
- Vậy em cũng về xem thế nào nhé!
Nàng nói rồi chưa đợi ta trả lời, đã ba chấn bốn cẳng chạy đi như chạy trốn.
Chỉ còn lại một mình, ta lững thững đi ra phía lầu. Nàng thị nữ ta vừa gặp cứ như thể không phải là Ngọc Nhi ta vẫn thấy vậy. Hóa ra hàng ngày các nàng ở ngay bên cạnh ta, nhưng tâm tư của các nàng ta cũng không thể nào nắm bắt hết được. Ý nghĩ ấy làm ta thoáng ngỡ ngàng và có chút sầu muộn..
Nhưng việc này chắc phải sai Lan Nhi dò hỏi thì mới rõ ngọn ngành được. Có khi nàng ta đã biết rõ từ trước rồi cũng nên.
Nhưng đến khi ta kể với Lan Nhi việc ấy thì nàng cũng bất ngờ không kém. Nàng gặng hỏi ta mấy lần là có đúng Ngọc Nhi không, hay là ta nhìn nhầm? Đến khi ta phát bực bảo rằng ta đã lại hỏi thăm nàng ấy, chứ không phải là trông thấy từ xa rồi đoán là Ngọc Nhi thì nàng mới chịu tin, rồi hứa sẽ đi hỏi cho rõ ngọn ngành.
Mấy hôm sau lúc ta đang ngồi ở Lầu Vọng Nguyệt để sưởi nắng, sau khi đã kiếm cớ sai Ngọc nhi về nhà lấy một vài thứ lặt vặt, Lan Nhi mới ôm bụng cười lăn lóc rồi bảo:
- Hóa ra cái nàng Ngọc Nhi ngốc này đang yêu Hoàng hậu có tin được không? Nói rồi lại lăn ra cười như ăn phải nấm độc.
- Yêu ư? Yêu ai?
Lan Nhi chẳng thèm trả lời câu hỏi của ta vẫn tiếp tục lăn lộn ôm bụng cười ở trên ghế. Ta nhìn nàng rồi sẵng giọng bảo:
- Em hãy ngừng cười đi và nói cho ta rõ nếu không ta sai người nhúng đầu em xuống ao bây giờ! Mà yêu đương thì sao phải khóc lóc như vậy? Hay hai bên lại giận dỗi gì nhau?
Vẻ đăm chiêu của ta không làm cho nàng Lan Nhi này nghiêm túc trở lại được. Vẫn không ngừng cười. Mãi một lúc sau khi đã cười chán chê đến chảy cả nước mắt, hết cả hơi không thể cười nổi nữa nàng ta mới dừng lại được và bảo:
- Yêu một người họ Ngô bên phủ Ngô phò mã. Nghe nói đâu người này là họ hàng bảy, tám đời của Ngô phò mã, từ quê lên đây được một giao chức quan nhỏ, quản lý việc chăm sóc vườn tược, cây cối trong Phủ.
- Ra là vậy! Nhưng vì sao nàng ta lại khóc lóc như vậy chứ? Hai người giận dỗi nhau hay sao?
- Thì là lo sợ Hoàng hậu bắt phải hầu hạ ở Cung Cồ Quốc đến già không cho lấy chồng chứ sao!
Nói đến đó Lan Nhi lại lăn cả ra ghế, ôm bụng cười. Việc ấy thì có gì mà nàng thị nữ này lại thấy buồn cười như vậy nhỉ? Ta lườm nàng một cái nhưng nàng cũng chẳng thèm để ý. Cứ tiếp tục vừa cười vừa vỗ đùi, miệng không ngừng lảm nhảm "Ngọc Nghi ngốc nghếch! Ngọc Nhi ngốc nghếch!".
Nhưng ta thì không thấy việc ấy có gì đáng buồn cười ở đây cả. Ngược lại chỉ thấy một chút thảng thốt ở trong lòng.
Hai nàng thị nữ này theo hầu ta từ nhỏ. Đều là vì gia cảnh hết sức khó khăn nên cha mẹ phải bán về Dương gia để làm kẻ hầu người hạ. Lúc còn bé cũng có liên lạc với gia đình, nhưng về sau đều li tán hết. Cha mẹ anh em vì nghèo khó mà phải bỏ xứ đi kiếm ăn, rồi người nọ người kia ốm bệnh, bỏ mạng nơi xứ người. Thành ra hai nàng cũng chính là chỉ còn Đông Lỗ trang để nương tựa vậy.
Tuy là người hầu kẻ hạ, nhưng vì cũng sàn sàn tuổi, nên ta thực chất mà nói cũng coi hai nàng như chị em gái của mình. Vì tính tình ta ngỗ ngược, lại chỉ thích chơi cùng hai nàng, nên gia nhân trong nhà đều phải chiều chuộng và không dám coi thường hai nàng. Nhiều khi còn đối xử với hai nàng không khác gì đối đãi với chủ. Rồi ta về Hoa Lư này, hai nàng cũng theo về. Ngày qua tháng lại vậy mà hai nàng cũng đã đến tuổi dựng vợ gả chồng tự lúc nào ta không để ý..
Kể ra mà nói đã là người mua về, thì nếu chủ nhân không ban ơn, bắt phải hầu hạ suốt đời các nàng cũng đành chịu. Nhưng ở trong cung một hai năm gần đây, những cung nữ đến tuổi trưởng thành, Trinh Minh hoàng hậu và ta đều cho về để lập gia thất rồi tuyển người mới vào. Vậy nên với hai thị nữ của mình ta cũng không nỡ nào lại bắt các nàng phải ở mãi bên ta. Chỉ có điều việc này ta chưa bao giờ nghĩ tới..
Bao năm nay hai nàng vẫn ở bên ta, cùng ta trải qua biết bao biến cố. Sự có mặt của hai nàng đã trở thành một điều gì hiển nhiên, nên ta chưa bao giờ nghĩ ngợi gì cả. Nhưng nay nhân việc của Ngọc Nhi, ta chợt hiểu rằng thì ra những việc như thế này sớm muộn cũng sẽ tới và ta cần phải suy nghĩ về nó một cách nghiêm túc thôi. Nhưng sẽ ra sao đây nếu hai nàng đều bỏ ta mà đi..
- Vậy thì chúng ta phải nhanh chóng lo liệu việc này cho Ngọc Nhi thôi. Còn em nữa, nếu có muốn lập gia thất, cứ nói với ta một câu, không phải khóc lóc như vậy đâu. Người ngoài không biết rõ đầu đuôi lại nghĩ ta bạc đãi đối với gia nhân của mình.
Lan Nhi lúc này vẫn đang ôm bụng cười trên ghế, có lẽ không nghe rõ những điều ta nói bèn ngóc đầu lên:
- Hoàng hậu nói gì cơ?
- Ta nói là em cũng nên tìm cho mình một đám như Ngọc Nhi đi. Đến lúc đó nhớ báo với ta một câu, ta đâu phải là kẻ đại gian đại ác đâu mà để thị nữ của mình chịu oan ức như vậy.
- Không phải Hoàng hậu định kiếm cớ việc của Ngọc Nhi đây để đuổi em đi luôn đấy chứ?
- Sao em lại nghĩ ta như thế? Không phải là trai lớn dựng vợ, gái lớn gả chồng hay sao? Máy năm nay các cung nữ lớn tuổi, nếu không phải là thành thân với quan lại, binh lính ở trong Triều rồi tiếp tục ở lại cung làm các công việc bên ngoài, thì đều được về quê để lấy chồng. Em với Ngọc Nhi xét cho cùng cũng là người ở trong cung, nên cũng không thể ngoại lệ, cũng nên suy nghĩ về việc đó.
- Vậy chẳng phải là người không muốn nhìn thấy em nữa rồi còn gì! Nàng ta ngúng nguẩy gào lên và nước mắt đã bắt đầu lăn trên má.
Nói phải trái như vậy mà cái nàng Lan Nhi này hàng ngày thông minh là thế vẫn cố tình không chịu hiểu, cứ bù lu, bù loa lên, rồi liền đó lại chuyển vui thành buồn, bắt đầu thút thít khóc. Vừa cười đó lại chuyển sang khóc lóc ngay được, ta cũng đến chịu với nàng ta!
- Không phải thế! Ý ta là nếu em muốn ta hoàn toàn đồng ý. Giờ em chưa có yêu thương ai nên chưa nghĩ đến việc đó, nhưng đến lúc em gặp ai đó mà muốn lập gia thất thì cứ nói với ta, ta không cấm cản gì cả. Tuy em theo ta từ nhỏ, nhưng vào cung rồi thì cũng nên theo phép tắc trong cung mà làm chứ.
Ta vừa dứt lời Lan Nhi liền quỳ xuống nước mắt tuôn như mưa:
- Em không muốn! Em sẽ suốt đời ở bên hầu hạ Hoàng hậu. Em chẳng muốn lấy chồng, chẳng muốn đi đâu hết. Nhưng nếu người định đuổi em đi thì.. - Nói đến đó lại khóc lóc lu loa lên đến nỗi không nói được hết câu.
Ta nhìn bộ dạng ấy của nàng, so với lúc nãy cười lăn lộn trên ghế không khỏi phì cười, nghĩ bụng, đấy là chưa gặp ai ứng ý, chứ mà gặp rồi khéo ta cấm cản cũng chẳng được không biết chừng ấy chứ. Nhưng nói với nàng ta bây giờ thì nàng cũng chẳng chịu hiểu đâu, nên thôi kệ.
- Thôi, em hãy đứng lên đi. Đừng có om xòm lên nữa kẻo Ngọc Nhi đến lại cười cho bây giờ. Ấy là ta cứ nói trước thế, còn như em không muốn thì thôi ta ép uổng làm gì.
Thấy ta nói vậy nàng ta mới chịu thôi, lục cục đứng dậy, lau khô mặt mũi. Vừa khi ấy Ngọc Nhi từ Cung đi tới, may không phát hiện ra chuyện gì.
Một đôi tháng sau người nhà bên Ngô phủ đưa thiệp hồng đến thưa chuyện, rồi xin cưới Ngọc Nhi về cho Ngô Nhân, là một viên quan nhỏ coi sóc ruộng vườn, cây cối ở phủ Phò mã đô úy Ngô Nhật Khánh.
Đám rước dâu được tổ chức rất chu tất, long trọng.
Cưới xin xong xuôi, Ngọc Nhi xin ta vẫn cho tiếp tục làm kẻ hầu người hạ ở cung Cồ Quốc. Nhưng vì chỉ có thể sáng đi, chiều về, nàng không thể hầu hạ ta như trước. Mà việc lặt vặt ở trong Cung cũng không thiếu người lo liệu, nên ta bảo nàng không cần khách khí nữa. Rồi bên Ngô phủ cũng sắp xếp cho nàng một chân phụ việc ở nhà bếp. Thế là nàng trở thành người biên chế Ngô phủ, chỉ thỉnh thoảng mới sang thăm ta và Lan Nhi.
Họ Đinh thấy Ngọc Nhi đi rồi, bảo ta hãy tìm lấy một cung nữ ưng ý thế vào chỗ ấy. Nhưng ngẫm kỹ thì cũng chẳng cần đến hai người, chỉ cần một mình Lan Nhi hầu hạ ta, còn những việc lặt vặt khác thì vẫn có các cung nữ bên ngoài lo đủ cả. Vậy nên lại thôi. Cứ thế một chủ một tớ quấn quít bên nhau.
Qua rằm tháng giêng Thái Bình năm thứ ba, trời bỗng ấm áp dễ chịu. Lại thêm mọi việc trong Cung thời gian gần đây đã đi vào quy củ nên hết sức thảnh thơi, ta định bụng sẽ xin với họ Đinh cho về quê thăm nhà. Mấy năm nay nghe tin nhà thấy nghĩa phụ và nghĩa mẫu cũng đã yếu nhiều rồi.
Vẫn ấp ủ trong bụng chưa có dịp nói ra, thì một chiều giữa tháng Ba, họ Đinh sai ngự vệ đi xe ngựa đến cung Cồ Quốc đón ta và thị nữ đi. Hỏi là đi đâu nhất định không nói, chỉ một mực bảo Hoàng Thượng lệnh cho bọn hạ thần đến đón Hoàng hậu đi và không nói gì thêm. Thế là đành ngồi yên trong xe. Không rõ họ Đinh định bày trò gì.
Xe chạy một hồi thì dừng lại, vén rèm bước ra ngoài thì đã thấy mình đứng ở ngay bến sông, họ Đinh đã đứng sẵn ở trước xe, đích thân đỡ ta xuống rồi bảo:
- Nàng hãy xem ta có gì cho nàng đây!
Nhìn theo hướng tay chỉ ta thấy một con thuyền rất lớn bằng gỗ mới, có mái che, lại được trang trí vô cùng lộng lẫy, nguy nga đang lừng lững tiến vào bến thuyền. Thấy vẻ ngỡ ngàng của ta, họ Đinh cười ha hả rồi bảo:
- Nàng quên rồi sao? Năm xưa khi cùng nàng chèo thuyền ở Đầm Cút, ta đã chẳng hứa khi về kinh thành mới sẽ đóng một con thuyền thật lớn để dạo chơi ở sông Sào Khê phải không? Giờ thì đã xong rồi, hôm nay ta hãy lên thuyền du ngoạn một chuyến! Hoàng hôn sắp xuống rồi, sẽ rất đẹp đấy! Đêm mai lại là đêm trăng rằm, chúng ta sẽ uống rượu thưởng trăng ở trên thuyền cả đêm mới được! Ha ha..
- Nhưng thiếp.. Hoàng Thượng định cứ thế mà đi luôn hay sao? Thiếp không mang theo xiêm y gì cả.. Hay thiếp sẽ sai Lan Nhi trở về Cung lấy ít đồ dùng?
- Nàng không cần phải lo chuyện đó. Ta đã sai người chuẩn bị đầy đủ cả rồi. Chúng ta cứ việc đi thôi!
Nói rồi dắt tay ta, lại dẫn theo Lan Nhi cùng hai người hầu cận thân tín lên thuyền.
Đúng như họ Đinh nói, xiêm y, lụa là cho ta đều đã được chuẩn bị đủ cả. Trên thuyền, ngoài ba người thân cận theo hầu, còn có ba người chuyên lo việc bếp núc, rượu chè, dọn dẹp và hai cung nữ biết đàn hát, diễn kịch để mua vui. Đội quan quân lo việc lái thuyền, chèo thuyền thì ở buồng tầng dưới, không có việc cũng chẳng cần lên trên để tránh làm phiền.
Ta và họ Đinh ở một phòng rất lớn phía trước tàu để tiện cho việc du ngoạn, ngắm cảnh. Còn người hầu kẻ hạ đều ở các phòng phía sau tàu, khi cần có việc thì sẽ gọi lên.
Phòng ta cùng họ Đinh ở được trang hoàng hết sức lộng lẫy. Đều là trải những loại thảm hết sức đắt tiền. Giữa phòng có bố trí bàn trà, ghế tựa. Trong góc thì có đặt giường ngủ hết sức tiện nghi. Cửa phòng phía trước hướng ra một khoang rộng ngay gần mũi tàu, từ đây có thể ngắm cảnh hết sức thuận lợi. Ở giữa khoang có đặt một bộ bàn trà lớn, một bếp sưởi ấm áp. Có thể ngồi đây mà ăn cơm, uống rượu, thưởng trăng luôn được. Hai bên phòng là hai dãy cửa sổ lớn, khi gió lạnh thì buông rèm cho ấm áp, mà khi nắng lên lại có thể vén rèm cho nắng ấm chiếu vào.
Lúc đầu ta tưởng cũng chỉ là dạo chơi qua đêm rồi hôm sau lại về cung, ai ngờ họ Đinh hứng chí lên cứ thế mà dong thuyền dạo chơi sáu, bảy ngày liền. Dọc trên đường đi có tạt vào hai, ba bến thuyền, trên đó đã xây các lầu nghỉ dưỡng, nghỉ lại đó một, hai đêm, xong xuôi lại lên thuyền đi tiếp. Mà công việc triều đình như thế nào cũng mặc kệ. Cứ hết ăn lại ngủ, uống rượu lại nghe hát, ngắm cảnh. Đôi ba lần họ Đinh còn không quản trời lạnh giá, nổi hứng nhảy tùm xuống giữa dòng sông lạnh bơi mấy vòng, rồi vẫy vùng nghịch ngợm, cười vang như một đứa trẻ. Đến lúc lên bờ gia nhân phải vội vàng đốt lửa để sưởi và hâm rượu nóng để uống. Ta có khuyên nhủ mấy lần nên quay về sớm để giải quyết công việc kẻo lại rối tung lên thì cũng chỉ cười ha ha mà bảo, đã có Nam Việt Vương Liễn và các quan đại thần lo rồi, làm vua cũng phải có phải ngày được vui chơi chứ. Thế là ta cũng đành kệ.
Ngày trở về ta chợt nảy ra một ý tưởng, du thuyền ngắm cảnh sông núi Hoa Lư điệp trùng ngoạn mục như vậy mà lại chỉ có mình mình được hưởng thì thật là lãng phí, chi bằng hãy chọn một ngày trong năm tổ chức đua thuyền trong quân, vừa vui vẻ vừa nâng cao tinh thần rèn luyện của binh sĩ. Rồi người ở trong Cung cũng nhân đó dong thuyền trên sông, vừa xem đua thuyền vừa nhàn tản ngắm cảnh một ngày, đêm lại có thể thả đèn hoa đăng nữa. Như vậy có phải là thành một ngày hội vui chung rồi không?
Họ Đinh rất thích ý tưởng đó, cứ thế cười ha hả rồi vỗ vai ta bồm bộp:
- Nàng nói hay quá! Hay quá!
Thế là lúc trở về chọn luôn một ngày đầu tháng Tư, thông báo cho khắp Hoàng cung và binh lính biết, tổ chức thành lễ hội Lập Hạ.
Cả hoàng cung bấy giờ ai nấy đều xôn xao, hồ hởi. Hoàng thân quốc thích thì chuẩn bị thuyền bè, rượu ngon, quần áo đẹp binh lính thì chia tổ, chia đội tranh thủ luyện tập sau giờ huấn luyện hết sức sôi nổi.
Ngày mùng bốn tháng Tư, lễ hội cứ theo kế hoạch mà diễn ra.
Ban ngày thì tổ chức đua thuyền trong binh sĩ. Đích thân họ Đinh cùng nhiều quan lại bơi thuyền rồng giám sát, chấm giải cuộc thi.
Thuyền của Hoàng thân, quốc thích cũng thong thả bơi theo dòng nước, vừa ngắm cảnh, vừa cổ vũ cho các đội đua.
Đua xong lại cứ thế tiệc rượu, ca múa liên hoan ngay trên thuyền.
Tối xuống lại tổ chức thả đèn hoa đăng cầu thái bình cho đất nước, cầu an lạc cho nhân dân, cầu vững bền cho Hoàng tộc. Hàng trăm ngàn chiếc đèn hoa đăng đủ màu sắc trôi theo dòng nước làm sáng rực cả một khúc sông Sào Khê. Dân cư ở các vùng lân cận kéo đến bờ sông xem đua thuyền, xem thả đèn đông như trẩy hội. Thực là một ngày vui lớn ở kinh thành.
Rồi từ đấy hàng năm, cứ đến đầu tháng Tư lại theo lệ ấy mà tổ chức thành một ngày Hội lớn cho cả Hoa Lư.
Ta biết được tin ấy vào một ngày hè cuối tháng năm nóng nực.
Hôm đó sau khi dùng bữa xong, ta ra chõng đặt ngoài hiên Đông để nghỉ. Mấy hôm nay trời nóng nực, trong nhà hết sức ngột ngạt, nên trưa nào cũng sai người đặt chõng ra đây cho tháng đãng. Ở đây có một gốc xoài lớn tỏa bóng hết sức râm mát.
Lan Nhi vừa đỡ ta ngồi xuống chõng xong, đang chuẩn bị ngả lưng vào chiếc ghế tựa bên cạnh. Nàng cung nữ nhỏ đang vừa mắt nhắm mắt mở vừa phê phẩy chiếc quạt lông lớn bên cạnh thì ta đột nhiên thấy một cơn choáng váng. Mặt mũi tối xầm. Chân tay run rẩy. Liền đó một cơn buồn nôn đáng sợ dâng lên. Ta ngồi bật dậy trên chõng, vừa kịp gọi "Lan Nhi" xong chưa kịp nói gì thêm thì đã nôn hết cả ra ngoài.
Lan Nhi vùng dậy đỡ ta rồi vỗ lưng giúp ta nhưng cũng chẳng ích gì. Xong xuôi người ta xỉu đi như một tàu lá héo. Lan Nhi và gia nhân vội vã đưa ta vào phòng rồi đi gọi Ngự y.
Ban đầu cứ đinh ninh là ta bị say nắng hoặc ăn phải thứ gì đó đã bị hỏng do nắng nóng. Nghe tin như thế nhà bếp ai nấy đều hồn bay phách lạc, đứng ngồi không yên, lo lắng phen này khó mà bảo toàn được tính mạng nếu như ta có vấn đề gì.
Đến khi Ngự y bắt mạch xong, trái ngược với vẻ lo lắng của mọi người, ngài chỉ thong thả mỉm cười rồi chắp hai tay ra trước mặt, cúi xuống mà bẩm báo:
- Chúc mừng Hoàng hậu đã có tin vui rồi! Long thai đã được hơn một tháng. Vừa rồi người chỉ bị nghén thôi chứ không có vấn đề gì đâu! Từ giờ về sau người cần hết sức giữ gìn ngọc thể để Long thai được khỏe mạnh. Thần sẽ kê cho người các toa thuốc để bồi bổ, tăng cường sức khỏe.
Đầu tiên, khi nghe tin ấy, là cảm giác sững sờ chiếm lấy tâm trí ta. Ta chưa bao giờ nghĩ về điều này, nên không biết là mình nên cảm thấy thế nào cho phải. Sững sờ bất ngờ tới mức, ngay lúc đó ta thậm chí còn không lĩnh hội được điều ngự y nói có ý nghĩa là gì, liền hỏi lại một cách vô thức:
- Ngài bảo sao? Có thai nghĩa là sao?
- Thưa Hoàng hậu nghĩa là như vậy đấy! Tùy cơ địa của từng người mà sắp tới đây thời gian ốm nghén có thể sẽ kéo dài hay ngắn. Tuy nhiên thần sẽ kê một số thuốc bổ để người tăng cường sức khỏe, hi vọng sẽ không bị mệt mỏi quá.
- Ngài.. chắc chứ?
- Thần hoàn toàn chắc chắn. Chúc mừng Hoàng hậu. Giờ thần xin phép được cáo lui. Ngự y nói rồi thong thả đi ra cửa, xong lại như nhớ ra điều gì, bèn quay vào, nói: Vậy Hoàng hậu muốn tự mình báo tin cho Hoàng thượng hay hạ thần sẽ bẩm báo việc này?
- Vậy ngài.. ngài hãy báo Hoàng thượng giúp ta.
Ngự y gật đầu tuân lệnh rồi cáo lui.
Sau khi tiễn ngự y đi rồi, Lan Nhi vội vã quay trở lại quì xụp xuống:
- Chúc mừng Hoàng hậu!
Những tôi tớ trong nhà hết sức hoan hỉ vì mình không bị vạ lây gì trong việc này cũng đồng loạt quỳ xuống tíu tít chúc mừng.
Ta phất tay cho lui hết rồi nằm đó trên giường, vẫn chưa hết bất ngờ vì cái tin vừa nhận được.
Mà ta buồn cười nhỉ? Ta thì hoàn toàn khỏe mạnh, họ Đinh lúc này mới ngoài bốn mươi tuổi. Lại hương lửa mặn nồng suốt mấy năm qua. Hà cớ gì chuyện này không thể xảy ra. Chỉ là.. ta chưa bao giờ nghĩ về điều này nên nhất thời không biết phải làm quen ra sao với cái ý nghĩ mình sắp làm mẹ. Trong người ta hiện đang mang một hình hài bé nhỏ.. Điều đó quá sức mới mẻ đôi với ta. Quá sức tưởng tượng của ta!
Buổi chiều họ Đinh trở về cung Cồ Quốc sớm, tâm trạng hết sức vui vẻ. Vừa bước vào đã cất tiếng cười ha hả, rồi tiến lại gần ta lúc này đang ngồi uống thuốc ở bên giường, bảo:
- Thật mừng quá thật mừng quá! Không ngờ ta tuổi này rồi vẫn được làm cha. Nàng hãy cố gắng sinh cho ta một hoàng tử, để có thể cùng Nam Việt Vương sau này gánh vác non sông Đại Cồ Việt!
Ta khẽ mỉm cười gật đầu, rồi cứ thế lẳng thẳng uống thuốc mà không nói gì cả. Thực lòng ta không biết phải nói gì cho hợp vào lúc này, khi ta chợt nhận ra vào giây phút ấy, rằng đứa con trong bụng đã tao ra một mối dây liên hệ mới giữa ta và con người này.
Bấy lâu nay ta cũng chẳng qua chỉ là vợ lẽ, cũng chẳng qua là phi tần của Đế vương. Nhưng nay thì giữa ta và con người này còn có một mối liên hệ mới. Bởi nay chúng ta sẽ trở thành cha mẹ của đứa trẻ mà ta đang mang trong bụng. Cái cảm giác gần gũi, thân thuộc, gắn bó gia đình, cái cảm giác rằng chúng ta cùng là người một nhà thì ra chính là như vậy.
Những ngày sau đó họ Đinh cứ thế mà ở rịt tại cung Cồ Quốc. Thiết triều xong là lại vội vội vàng vàng trở về. Lại chăm sóc quan tâm ta rất chu đáo, tận tình. Ta ăn gì, uống gì cũng nếm, cũng quản, chỉ mong sao cho tới khi thai nhi được bốn, năm tháng mà ta không đau ốm gì cả là yên tâm rồi.
Một chiều tháng Sáu, Thái Bình năm thứ ba, ta và họ Đinh đang ngồi hóng mát ở ngoài sân chờ gia nhân chuẩn bị cơm chiều thì Ngự y ngồi xe tới tất tả xin vào yết kiến.
Không biết có việc gì cấp bách hay ai bị ốm đau mà phải xin gặp vào cuối ngày như vậy. Họ Đinh vội vã truyền vào. Nhưng khi vào đến nơi thì tâm trạng Ngự y lại hết sức vui vẻ, khấu đầu mà bẩm:
- Nô tài xin chúc mừng Hoàng thượng. Nô tài vừa ở cung Trinh Minh về đây. Theo như thần vừa bắt mạch, chuẩn đoán thì Trinh Minh Hoàng hậu hiện cũng đang mang thai rồng. Chừng tới mùa xuân năm sau sẽ tới kỳ sinh hạ.
- Thật vậy sao?
Cả ta và họ Đinh không hẹn mà cùng đồng thanh cất tiếng.
Ngự y khấu đầu:
- Dạ không sai! Tình hình Trinh Minh hoàng hậu và thai nhi đều rất tốt. Thần đã kê một số thuốc bổ để Trinh Minh hoàng hậu uống. Tuy nhiên Hoàng thượng cũng cần dặn dò thêm người trong Cung nên hết sức cẩn trọng trong ba tháng đầu của thai kỳ.
- Được được! Nhất định trẫm sẽ ra lệnh như vậy rồi! Ha ha.. Không ngờ trẫm lại có liền một lúc hai tin mừng như vậy! Thật tốt quá! Tốt quá! Vậy ngươi hãy về nghỉ ngơi đi, trẫm sẽ qua thăm Trinh Minh hoàng hậu ngay bây giờ!
Ngự y vui vẻ rời đi. Họ Đinh vội vã thay quần áo đi ra ngoài rồi gọi thị vệ mang xe ngựa tới. Ta cũng đứng ngồi không yên, bảo:
- Hoàng thượng hãy cho thần thiếp đi cùng. Thần thiếp cũng muốn sang chúc mừng Trinh Minh hoàng hậu.
- Không được! Nàng nên ở nhà nghỉ ngơi, hãy để một mình ta đi thôi!
- Nhưng thiếp muốn đi cùng để chúc mừng Trinh Minh Hoàng hậu mà! Thêm nữa cũng không nên bắt thiếp ngồi nhà mãi như thế này, cũng cần để thiếp ra ngoài thay đổi không khí chứ. Thấy họ Đinh có vẻ lưỡng lự, ta cố nài thêm: Qua đó rồi ta bảo người chuẩn bị ít đồ ăn uống chúc mừng nàng ấy luôn, như vậy không phải là vui vẻ hơn nhiều hay sao?
- Chí phải chí phải! Vậy chúng ta đi thôi! Ta sẽ bảo thị vệ đánh xe đi thật thong thả là được.
Thế là buổi chiều hôm đó chúng ta mở một bữa tiệc nhỏ ở cung Trinh Minh để chúc mừng nàng. Năm nay Trinh Minh hoàng hậu cũng đã gần ba mươi tuổi, tin vui đến với nàng khiến nàng hạnh phúc hơn ai hết. Ánh mắt nàng lóng lánh, rạng ngời.
Việc đứa trẻ sẽ mang họ Đinh, sẽ trở thành Hoàng tử hay Công chúa của nước Việt thực tình cũng không quan trọng bằng việc nàng sẽ có một đứa con để vui vầy sớm tối cùng nhau. Ở tuổi hai mươi của mình ta khó mà hình dung được niềm vui đó, nhưng nàng sắp bước vào lứa tuổi ba mươi rồi nên đó mới thực sự là lý do làm nàng cảm thấy hạnh phúc.
Thế rồi những ngày tháng sau đó, vì có Trinh Minh hoàng hậu với ta cùng mang thai, nên mọi việc vui vẻ, thoải mái hơn rất nhiều. Ta và nàng lúc nào cũng quấn quít bên nhau, khi thì ở cung Trinh Minh, khi thì ở cung Cồ Quốc; ăn thì cùng ăn, chơi thì cùng chơi, lại cùng nhau đi dạo ở vườn Ngự Uyển hết sức vui vẻ.
Mùa xuân, Thái Bình năm thứ tư, tháng Giêng ta sinh hạ tiểu Hoàng tử, được đặt tên là Đinh Toàn.
Tháng ba liền đó, Trinh Minh hoàng hậu hạ sinh một tiểu Hoàng tử, được đặt tên là Đinh Tuệ.
Họ Đinh vì việc này mà rất đỗi vui mừng, cứ cười ha hả, không ngừng đi đi lại lại trong nhà bảo, nhìn hai tiểu hoàng tử mà họ Đinh cảm thấy như trẻ lại cả chục tuổi. Xong còn không ngừng lẩm bẩm một mình, nào là sẽ dạy hai Hoàng tử học cái nọ, học cái kia, tập tành võ nghệ ra sao, học cưỡi ngựa như thế nào, hết sức phấn khởi. Thế rồi ban lệnh mở kho lương thực phát cho người nghèo, đại xá khắp thiên hạ và lệnh mở hội ăn mừng khắp nơi. Triều đình ai nấy đều hân hoan, khắp nơi muôn dân ca hát.
Những năm liền sau dó, cả vũ trụ và cuộc sống đối với ta và Trinh Minh hoàng hậu mà nói, cũng chính là xoay quanh hai tiểu Hoàng tử. Chúng ta chăm lo cho hai Hoàng tử lớn lên từng ngày, biết lẫy, biết bò, rồi biết đi, biết nói. Chúng ta dõi theo từng bước chân nhỏ bé của hai tiểu Hoàng tử. Chúng ta cùng vui chơi, cùng đi dạo, cùng sưởi nắng, ngắm hoa, cùng ngồi thưởng trà hóng gió. Có những buổi chiều ta và Trinh Minh hoàng hậu còn sai gia nhân làm những con diều nhỏ để hai Hoàng tử được hưởng những thú vui tuổi thơ như những đứa trẻ chốn dân dã thanh bình.
Hai tiểu Hoàng tử càng lớn lên, vì chỉ sinh cách nhau có hai tháng, nên càng giống như hai anh em sinh đôi, hết sức đáng yêu. Họ Đinh ngày nào cũng quanh quẩn chơi đùa bên hai tiểu Hoàng tử không rời. Ở bên thành Đông lo việc nước thì không sao, chứ khi xong việc là nhất định phải trở về hậu cung để chơi với hai Hoàng tử. Tiếng cười đùa của ba cha con không ngớt ở trong nhà.
Ngẫm nghĩ lại, những năm tháng này chính là những năm tháng tươi đẹp và bình yên nhất của chúng ta bên nhau.
Mùa thu, Thái Bình năm thứ năm, Kiểu Quốc hoàng hậu hạ sinh một tiểu Hoàng tử, được đặt tên là Đinh Hạng Lang.
Đến đầu mùa đông, Ca Ông Hoàng hậu sinh một tiểu Công chúa, lấy tên là Bảo Châu.
Họ Đinh vì thế càng vui mừng khôn siết.
Nhưng những rắc rối và thậm chí tai họa nữa cũng chính là bắt đầu từ đây.
Nhưng tất nhiên là sau này nhìn lại mới có thể thấy được điều đó. Còn khi đó, nhìn những đứa trẻ đáng yêu lớn lên bên nhau, nghe tiếng cười của chúng chỉ thấy hậu cung và lòng mình ấm áp, vui vẻ hơn muôn phần.
Thái Bình năm thứ tám. Trời vào thu mát mẻ, công việc trong cung hết sức nhàn rỗi, ta bèn xin với họ Đinh cho về Ái Châu thăm nghĩa phụ và nghĩa mẫu. Từ ngày về Hoa Lư tới nay thấm thoát cũng đã hơn chục năm trôi qua, nghĩa phụ và nghĩa mẫu cũng đã già yếu. Toàn Nhi năm nay cũng đã gần năm tuổi, cũng nên một lần biết tới quê hương bản quán.
Dù rất bịn rịn không muốn rời, nhưng họ Đinh cuối cùng cũng chấp nhận cho ta và Toàn Nhi về Ái Châu hai tháng. Tuy là một người đôi khi cục cằn và thô lỗ, nhưng họ Đinh vốn cũng là người hết sức yêu thương con cái, hiếu đễ với cha mẹ của mình, bởi vậy về việc này mà nói, cũng không muốn hẹp hòi, ích kỷ với ai. Hơn nữa đi hai tháng, về rồi vẫn kịp đón năm mới ở trong Cung
Vậy là đầu tháng chín, hai mẹ con ta mang theo nhiều kẻ hầu, người hạ, quần áo, đồ dùng, vật dụng, kèm theo nhiều vàng bạc, châu báu, đồ đạc quý giá do họ Đinh ban tặng cho nghĩa phụ và nghĩa mẫu, ngồi trên bốn xe ngựa được nhiều lính tinh nhuệ của triều đình đi theo bảo vệ.
Dọc đường đi, được nhìn thấy các làng mạc, rừng núi, thấy những cánh đồng bao la thẳng cánh cò bay với những người nông dân chăm chỉ làm việc, với đàn trâu, đàn bò thong thả gặm cỏ, với những đứa trẻ nô đùa vui vẻ trên bờ đê quả là những cảnh tượng hết sức thú vị và mới mẻ đối với Toàn Nhi. Nó không ngừng nhảy nhót ở trong xe mỗi khi nhìn thấy cái này cái khác, nhiều khi còn đòi xuống xe để tận mắt nhìn thấy con trâu, con bò. Phải khó khăn lắm ta và Lan Nhi mới giữ được nó ở trong xe để tránh xảy ra bất trắc. Nhưng ta vẫn hết sức vui mừng vì nó đã được đi chuyến đi này, được một lần nhìn thấy thế giới bao la rộng lớn xung quanh.
Đoàn người này đi đêm nghỉ hết sức thong thả, bảy ngày sau đã đến tới Giáp Mau.
Xóm làng xung quanh đã đổi thay ít nhiều, dân cư dường như đông đúc và trù phú hơn. Những cây cối bao quanh Đông Lỗ có vẻ như um tùm, xum xuê, cao lớn hơn. Nhưng Đông Lỗ trang vẫn thế: Vẫn là một ốc đảo xanh nổi lên giữa đồng lúa bao la, được con sông Càu Chày bao bọc. Nhìn từ xa lại, vẫn có thể dễ dàng nhận ra Trang ở cái địa thế đặc biệt đó.
Đã hơn mười năm rồi thế mà như mới hôm qua. Ta trong thoáng chốc không cầm được nước mắt. Lại giọt ngắn giọt dài lăn trên má, tựa như thuở nào ta rời khỏi nơi này. Toàn Nhi nhìn thấy ta như thế thì trở nên hoảng sợ, cũng cất tiếng la khóc om xòm khiến ta vừa buồn cười vừa thương, vội vã lau nước mắt rồi lại an ủi một hồi. Mãi mới chịu yên.
Người ở trang Đông Lỗ đã được lính triều đình về báo trước, nên tiếp đón đoàn người hết sức long trọng. Khắp Trang được trang hoàng lộng lẫy, đèn hoa rực rỡ, nhã nhạc linh đình, khiến ta ban đầu thấy hết sức xa lạ. Nhưng cũng không thể tránh khỏi được, bởi dù sao đây cũng là đón tiếp Hoàng hậu và Hoàng tử của Đại Thắng Minh Hoàng Đế.
Không những kẻ hầu người hạ trong Trang hết sức cung kính, mà nghĩa phụ và nghĩa mẫu cũng hết sức kính cẩn làm ta rất buồn lòng. Nói mãi rồi mới bớt khách khí. Lúc ấy nghĩa mẫu mới ôm lấy ta mà khóc lóc một hồi cho bớt nhớ nhung. Sau rồi thì trở nên quấn quít và chẳng mấy chốc đã quyến luyến bên Toàn Nhi, cưng nựng, yêu chiều nó chẳng muốn rời nữa. Nghĩa phụ và nghĩa mẫu giờ này cũng đã gần đất xa trời rồi, được nhìn thấy đứa cháu nhỏ ấy cũng như vui khỏe lại mấy phần.
Đó là một cảm giác hết sức lạ lẫm khi ta, Lan Nhi cùng với Toàn Nhi dạo chơi trên cánh đồng bên sông Càu Chày.
Nơi này khi xưa ta và thị nữ của mình đã bày biết bao trò nghịch ngợm. Tiếng cười của ta và các nàng như vẫn còn văng vẳng bên tai ta. Vậy mà đã hơn chục năm qua rồi. Giờ thì đến lượt con trai ta đang chạy nhảy ở chính nơi này. Cuộc đời thật kỳ lạ mà cũng hết sức diệu kỳ khi ta nhìn hậu duệ của mình đang chạy nhảy trên chính mảnh đất tuổi thơ của mình. Không biết nó có cảm nhận được niềm vui như ta và thị nữ của mình đã từng cảm nhận dạo trước?
Để Toàn Nhi lúc này đang say mê nhìn Lan Nhi thả một con diều rất to lên bầu trời ở trên bờ đê cùng với thị vệ đứng canh gác gần đó, ta lững thững đi dọc bờ những thửa ruộng vàng óng xuống phía sông Càu Chày. Trong ánh nắng lấp lóa của những ngày mùa thu, dòng sông ánh lên màu trắng bạc. Thấp thoáng đâu đó giữa những tia sáng hắt lên từ dưới sống, ta thấy như thoắt ẩn thoắt hiện hình dáng của hai người vừa quen vừa lạ đang cưỡi ngựa ở trên cánh đồng, vừa vui đùa, vừa nghịch ngợm. Đến khi nhận ra rồi thì ta không kìm được nước mắt nữa. Đó chính là hình ảnh của ta và chàng bên nhau trong những ngày xưa ấy.
Lê Hoàn! Thật không thể tin được bao lâu rồi ta không còn nghĩ gì về con người ấy nữa. Ta đã quên chàng với lời thề thốt xưa mất rồi!
Thế mới biết thời gian thật là vô thủy vô chung mà lòng dạ con người cũng bội bạc chẳng kém. Thề non, hẹn biển đấy, thế mà giờ đây cũng vẫn mỗi người một ngả, bao lâu rồi không gặp.
Ta chẳng có gì để biện minh cho chuyện ấy cả.
Ta chẳng có lựa chọn nào khác? Ta buộc phải lấy họ Đinh, buộc phải vui vẻ mà chiều lòng họ Đinh? Ta phải vì Toàn Nhi, vì con trai của mình mà quên đi tất cả; đôi với một người mẹ thì còn việc gì khác đáng để làm ngoài việc dành tất cả thời gian và tâm huyết cho con cái của mình, mong những điều tốt đẹp nhất cho chúng, thời gian đâu mà lưu luyến tình xưa, nghĩa cũ?
Ôi! Tất cả chỉ là ngụy biện. Lời ngụy biện của một lòng dạ bạc bẽo. Cái chính là ở tận sâu trong đáy lòng ta ta biết, tất cả đã phai nhạt rồi. Phai nhạt hết rồi!
Nhưng giờ thì ta có thể làm gì đây? Cố gắng níu giữ cho mọi thứ đừng rơi vào quên lãng hay đó vốn là một kết cục tất yếu không thể tránh khỏi giữa ta và chàng?
Nếu bây giờ có một phép màu cho phép ta đánh đổi mọi thứ để lại được trở về cái thời xa xưa, được bên chàng như chưa từng có điều gì xảy ra ta có dám đánh đổi không? Vẫn biết phép màu là không có thực, những chuyện như thế sẽ không bao giờ xảy ra, nhưng vẫn phải thú nhận rằng thực lòng ta không dám..
Giờ chàng sống ra sao? Có vui vẻ và hạnh phúc không? Mong chàng sẽ gặp được một người con gái có thể toàn tâm toàn ý ở bên chàng, đem lại hạnh phúc cho chàng. Còn ta, ta chỉ có thể nói ta thực sự xin lỗi chàng mà thôi. Nếu có kiếp sau cũng chẳng dám mong được làm người để gặp gỡ, chỉ mong ta có thể làm thân trâu ngựa để hầu hạ, đền đáp cho chàng ân nghĩa thề bồi khi xưa là đã đủ mãn nguyện lắm rồi.
Gần đến ngày trở lại kinh thành, một buổi tối, ta đang ngồi trên sập gụ nhìn Nghĩa mẫu, Lan Nhi và Toàn Nhi bày trò chơi ở giữa nhà thì gia nhân của nghĩa phụ sang bẩm báo rằng, người muốn nói chuyện riêng với ta. Thoáng bất ngờ vì lâu nay thường rất ít khi nghĩa phụ nói với ta chuyện gì mà không có mặt nghĩa mẫu, ta đứng dậy đi sang phòng nghĩa phụ, lòng không khỏi băn khoăn.
Trong phòng nghĩa phụ lão Dương Quản gia đang pha một ấm trà sen. Hơi ấm cùng hương sen quện với hương trà tỏa ra thơm ngát khắp phòng.
Nghĩa phụ thấy ta vào, khẽ phất tay chỉ vào ghế đối diện cho phép ta ngồi. Ta bước lại đó ngồi xuống, thấy có phần căng thẳng. Không rõ là chuyện gì mà người lại muốn nói với mình ta? Thêm vào đó xưa nay, cha con tuy thương nhau nhưng cũng chưa bao giờ thể hiện ra trước mặt, càng rất hiếm khi có dịp gặp riêng tư như thế này, nên ta cũng thấy có chút lúng túng.
Lão Dương Quản gia thấy ta ngồi xuống, bèn rót một chén trà đặt trước mặt rồi lặng lẽ lui ra ngoài. Khiến ta càng thêm phần khó xử. Nhưng nghĩa phụ vẫn hết sức bình thản. Từ từ uống xong chèn trà, rồi mới thong thả nói:
- Con đã có dự tính gì cho tương lai của Toàn Nhi hay chưa?
- Dự tính cho tương lai của Toàn Nhi ư? Con chưa hiểu ý cha..
- Bấy lâu nay ai cũng biết, ở trong cung con là Hoàng hậu được Hoàng thượng sủng ái nhất, mà Toàn Nhi cũng là Hoàng tử được yêu nhất. Vậy không nhanh chóng tranh thủ những ngày này củng cố địa vị vững chắc cho Toàn Nhi thì còn định đến bao giờ?
- Ý của cha là..
- Đúng! Ý của ta là như vậy đó! Hiện giờ Hoàng Thượng, dù đã lên ngôi, lập quốc được chục năm rồi nhưng vẫn chưa phong Thái tử. Đó quả là một cơ hội lớn cho Toàn Nhi. Nếu con không tranh thủ những ngày này, tranh thủ sự sủng ái của Hoàng thượng để có những toan tính lâu dài thì con còn định đến bao giờ? Đến khi đã ba, bốn chục tuổi, già yếu, không còn được sủng ái nữa hay đến khi Hoàng thượng qua đời, ngôi báu đã rơi vào tay kẻ khác rồi mới tính hay sao?
- Con.. Thực tình con chưa bao giờ tính tới việc này. Con thiết nghĩ, không phải người nối ngôi chính là Nam Việt Vương Đinh Liễn rồi hay sao? Đó là trưởng nam nhà họ Đinh, là một người văn võ toàn tài. Hơn nữa cũng chính là đã cùng họ Đinh vào sinh ra tử, bôn ba trận mạc. Chính là người đã cùng họ Đinh tạo lập nên sự nghiệp ngày nay. Nếu không phải người đó thì còn có thể là ai khác? Vậy thì..
- Nhưng điều cốt yếu là – Nghĩa phụ ngắt lời ta, tuy người vẫn giữ giọng nói hết sức dịu dàng, điềm đạm – Hoàng thượng vẫn chưa phong ai làm Thái tử con có hiểu không? Không phải Đinh Liễn hiện giờ cũng mới chỉ được phong Vương hay sao? Người ta ai ai cũng nghĩ Nam Việt Vương sẽ nối ngôi. Người ta ai ai cũng nghĩ chuyện đó là mười mươi rồi. Nhưng những người muốn tính toán cơ đồ sẽ thấy được điểm mấu chốt đó: Chưa ai chính thức được phong làm Thái tử cả. Theo thiển ý của ta tại thời điểm hiện tại mà nói, cũng chỉ là Hoàng thượng nhất thời chưa suy tính thấu đáo đến việc đó, chứ không phải có ý nào khác. Nhưng dù là vô tình hay hữu ý, đều là một điểm mà người khác có thể tận dụng được. Chỉ cần ai đó được phong làm Thái tử, thì lúc đó Nam Việt Vương có trở tay cũng chẳng kịp nữa rồi.
- Thực tình con chưa bao giờ nghĩ tới..
- Con nên nghĩ đến đi là vừa. Con nghĩ mình sẽ được sủng ái bao nhiêu năm nữa đây. Ở trong Cung hiện giờ, ngoài Toàn Nhi còn có Hoàng tử Tuệ và Hạng Lang. Con không tính tới nhưng ta nghĩ, những người khác đều đã tính toán hết cả rồi.
Kiểu Quốc Hoàng hậu và Trinh Minh Hoàng hậu ư? Kiểu Quốc hoàng hậu thì ta không biết. Vì không cùng trang lứa nên ta rất ít khi giao du với nàng, bởi vậy không rõ lắm về tâm tư của nàng. Nhưng còn Trinh Minh, ta nghĩ đâu phải là người như thế. Nhưng mà.. chuyện này.. liên quan tới Hoàng vị, tới ngai báu.. ta thực lòng cũng không thể dám chắc điều gì.
Thấy ta chợt yên lặng và bắt đầu rơi vào suy tư, nghĩa phụ cũng không nói gì nữa, tự mình rót một chén trà nữa, uống xong rồi khẽ bảo:
- Thôi con hãy về cho Toàn Nhi đi ngủ sớm. Ta cũng đã mệt rồi, muốn đi nghỉ bây giờ.
Ta vái chào nghĩa phụ rồi xin phép rời đi. Ở bên ngoài từng đợt gió mùa thổi về mỗi lúc một mạnh, khua xào xạc những tàu lá chuối khô, rồi tràn vào hành lang hất tung những tà áo của ta theo tứ phía. Lạnh buốt! Vậy là mùa đông lại sắp về!
Cuối tháng Mười, đang chuẩn bị đồ đạc hành lí để trở về kinh thành, cha con bà cháu đang chuẩn bị chia tay nhau hết sức bịn rịn, vì chuyến này ra đi chưa biết bao giờ mới trở lại, thì lính từ Kinh thành phóng ngựa tới đưa tin khẩn, một vùng rộng lớn ở Đạo Đại Hoàng giáp với kinh thành vừa bị một trận động đất lớn. May thay thương vong về người không lớn lắm, chỉ chừng hai, ba trăm người vì sự việc xảy ra vào ban ngày, nên mọi người sơ tán kịp. Nhưng nhà cửa, các công trình xây dựng thì bị đổ, bị hư hỏng rất nhiều, thiệt hại về của cải rất lớn. Nhiều kẻ nhân cơ hội này lại tranh thủ nổi lên cướp bóc, trộm cắp khắp nơi nên tình hình hết sức rối ren. Triều đình đang ráo riết giải quyết nhưng vẫn hết sức lộn xộn, vì vậy họ Đinh lệnh cho ta và Toàn Nhi đợi chừng nửa tháng nữa cho ổn định trở lại rồi hãy trở về triều đình.
Thế là nhân đó lại được ở nhà cùng nghĩa phụ và nghĩa mẫu thêm ít ngày nữa. Ai nấy đều hết sức vui mừng.
Tuy nhiên không hiểu sao, một mặt thì vui mừng, nhưng một mặt ai nếu đều cảm thấy khá bồn chồn. Nghĩa phụ cứ không ngừng trầm ngâm bảo, từ thuở cha sinh mẹ đẻ đến giờ chưa tận mắt chứng kiến động đất, mà cũng không thấy ông bà, cha mẹ nói trong vòng hai, ba trăm năm trở lại đây có xảy ra hiện tượng này, nên quả là hết sức kỳ lạ. Nói rồi cứ thế vặn vẹo chòm râu, đi đi lại lại không yên ở giữa nhà.
Ta cũng thấy trong lòng có cái gì đó dấm dứt. Thử thoảng lại sôi lên như lửa đốt. Chỉ mong sao cho mọi người được an bình, tai qua nạn khỏi.
Đoàn người về tới cung Cồ Quốc thì vừa sát giờ cơm chiều.
Mọi người liền tắm rửa sạch sẽ rồi chuẩn bị ăn cơm để đi nghỉ sớm.
Mâm cơm đã dọn ra, Toàn Nhi rất háo hức gặp lại cha, vậy mà chờ mãi vẫn chưa thấy họ Đinh về. Ta gọi gia nhân bên ngoài vào hỏi:
- Đã sai các báo cho Hoàng thượng rằng ta và Hoàng tử Toàn đã về đến nơi mà các ngươi đã làm chưa? Tại sao giờ này vẫn chưa thấy Hoàng thượng trở về?
Gia nhân khúm núm, lí nhí đáp:
- Dạ đã báo rồi ạ!
- Vậy hôm nay Hoàng thượng bận việc gì hay sao mà giờ này vẫn chưa thấy đâu?
- Bọn nô tài cũng không rõ. Chưa thấy bên Ngự điện báo tin gì vệ cả.
Ta thở dài cho lui rồi quay sang bảo Lan Nhi:
- Em ra ngoài bảo bọn hầu nhỏ chạy ra cổng thành Đông hỏi thị vệ canh gác xem tình hình như thế nào rồi?
Lan Nhi chưa kịp chạy đi thì đã có người ở bên thành Đông đi xe ngựa sang báo, Hoàng Thượng hôm nay bận việc, không qua mừng Hoàng hậu và Hoàng tử hồi cung được, Hoàng thượng gửi lời chúc mừng Cồ Quốc hoàng hậu cùng Hoàng tử Toàn đã an toàn trở về và có bảo khi nào rảnh rỗi, vợ chồng, cha con sẽ gặp nhau để hàn huyên tâm sự. Nói xong rồi vội vã lui đi.
Toàn nhi thấy vậy, phụng phịu một chút, nhưng vẫn nghe lời ăn hết phần cơm Lan Nhi xới cho rất nhanh chóng. Vừa ăn xong, uống nước xúc miệng, nghỉ ngơi một lúc đã lăn quay ra ngủ vì đi đường nhiều ngày mệt nhọc.
Còn lại ta với Lan Nhi vẫn ngồi bên mâm cơm, bỗng thấy không yên ở trong lòng. Có chuyện gì quan trọng đến vậy mà họ Đinh không thể về được? Bình thường yêu chiều Toàn Nhi là thế, có bận đến mấy thì tối cũng phải về chơi với con. Khi chúng ta xin về Ái Châu thăm nhà còn bịn rịn không muốn rời, vậy mà giờ con đã về rồi, lại không trực tiếp về thăm hỏi được là sao? Nhẽ nào trong thời gian ta đi, Hoa Lư lại xảy ra chuyện gì hệ trọng đến vậy? Nghĩ vậy nhưng cũng chưa có cách nào làm sáng tỏ ngay được, đành cứ mặc kệ thế rồi và qua loa một bát cơm cho xong bữa.
Sáng hôm sau ta đang đứng chỉ đạo bọn người hầu kẻ hạ trong nhà chia gà, vịt, trứng, rau, củ quả, nấm hương, mộc nhĩ.. đều là các thổ sản nuôi trồng được ở Trang Đông Lỗ mang về làm quà cho các Cung, Phủ thì Lan Nhi chạy vào bảo muốn nói chuyện với ta, thái độ hết sức bí hiểm. Vì đang mải trông chừng gia nhân, ta lỡ đễnh bảo nàng:
- Có chuyện gì em cứ nói đi, sao phải úp úp mở mở vậy?
- Chuyện này quan trọng lắm Hoàng Hậu! Nói rồi nàng lôi ra vào một góc bếp kín đáo rồi bảo:
- Người có biết hồi nãy em nghe được bọn hầu nhỏ trong nhà thì thầm với nhau điều gì không?
- Điều gì? Em không nói mau còn định úp mở gì? Muốn ta cho ăn đòn một trận hay sao?
- Hồi nãy em đi ra ngoài vườn hái ít hoa tươi để cắm trong nhà thì thấy bọn hầu nhỏ đang xới cỏ trong vườn cười nói rúc rích với nhau chuyện gì đó. Em liền nấp vào một bụi cây, định bụng hù dọa chúng cho sợ một phen chơi, không ngờ em nghe thấy chúng bảo: Cồ Quốc hoàng hậu mới từ quê lên nên không biết, chứ Hoàng Thượng bận gì mà bận đến mức không trở về Hậu cung. Chẳng qua chính là sang cung Kiểu Quốc hoàng hậu thôi. Bọn chúng còn bảo không biết đến bao giờ thì Cồ Quốc hoàng hậu mới nhận ra là mình đã thất sủng rồi.
Nghe những điều Lan Nhi nói, trông cái vẻ mặt của nàng, lại nghĩ tới cái từ "thất sủng" làm ta chút nữa phì cười. Thất sủng thì thất sủng, ta sợ gì thất sủng! Bèn bảo nàng:
- Mấy chuyện nhảm nhí như vậy mà em cũng tin sao? Thôi hãy cùng ta vào sắp xếp quà biếu rồi sai người mang sang các nơi đi.
Nàng định nói thêm gì đó, nhưng thấy ta đã bước ra ngoài rồi nàng đành thôi rồi vội vã chạy theo.
Sau khi mọi việc đã xong xuôi, ta bèn sai người mang quà quê lần lượt sang biếu các cung Đan Gia, Kiểu Quốc, Ca Ông và hai Phủ Phò mã đô úy. Con ta và Lan Nhi cùng Toàn Nhi đích thân ngồi kiệu mang quà sang biếu Trinh Minh hoàng hậu. Cái chính là để cho Toàn Nhi và Tuệ Nhi huynh đệ được đoàn tụ.
Đến nơi, sau những lời chúc tụng, hỏi thăm sức khỏe, chúng ta bèn xếp một bàn trà ra ngoài sân, vừa trông lũ trẻ chơi đùa, vừa hàn huyên tâm sự hết sức vui vẻ sau bao ngày xa cách.
Nhưng buổi chiều hôm đó họ Đinh cũng không trở về cung Cồ Quốc chơi với Toàn Nhi.
Mấy buổi chiều tiếp theo cũng vậy. Toàn Nhi hết sức buồn bã. Ta bèn sai Lan Nhi hỏi dò thì được biết, không riêng gì mấy ngày vừa qua, mà dạo gần đây họ Đinh, sau khi xong việc triều chính đều chỉ trở về nghỉ ngơi ở cung Kiểu Quốc. Họ Đinh giờ đây chỉ biết có Kiểu Quốc hoàng hậu và Hoàng tử Hạng Lang mà thôi.
- Em thấy đám gia nhân người hầu còn thì thầm là, chính là cả Trinh Minh hoàng hậu cũng đã bị thất sủng rồi. Đã lâu Hoàng Thượng cũng không qua chơi với Hoàng tử Đinh Tuệ nữa.
- Lại có những chuyện như vậy thật sao.. Ta trong phút chốc thấy như mình bị hụt hơi.
Việc này quả thực hết sức lạ lùng. Trước khi ta về Ái Châu thăm nhà, dù có thể nói chính là ta được họ Đinh sủng ái nhất. Nhưng dù vậy cũng chưa bao giờ vì thế mà đối xử lạnh nhạt đến mức ấy với các Hoàng Hậu khác. Không những thế, dù sủng ái ta, yêu chiều Toàn Nhi bậc nhất, thì với các Hoàng tử, Công chúa khác đều là yêu thương, quan tâm, hỏi han hết sức thường xuyên. Có khi nghỉ ngơi ở cung Cồ Quốc vẫn cho vời đến để cha con quây quần, còn thường xuyên dẫn các con đi dạo ở vườn Ngự uyển, hóng gió ở lầu Nghênh phong, hay dạo chơi quanh Ngự điện. Đôi ba ngày mà không gặp một Công chúa, Hoàng tử nào thì hết sức nhớ nhung, đều phải hỏi han chu đáo.
Thế mà giờ Toàn Nhi dù vừa đi xa hơn hai tháng trở về cũng không đoái hoài hỏi han, lại cũng không hề quan tâm tới Tuệ Nhi trong suốt cả thời gian qua hay sao? Chuyện này thực tình rất lạ, ta không hiểu nổi.
Ừ thì cứ cho là ta bỗng dưng trở nên thất sủng. Nhưng thực tình mà nói, việc họ Đinh sủng ái ai đối với ta không quan trọng. Ta chưa bao giờ nghĩ rằng mình cần phải giành giật lấy sự sủng ái của Đế vương để làm gì. Bấy lâu được sủng ái, đó có lẽ là sự may mắn của ta, bởi ta vốn dĩ trẻ trung và có chút nhan sắc vượt trội hơn các vị Hoàng hậu còn lại. Nay không còn được sủng ái nữa, bản thân ta mà nói cũng chẳng thấy có gì đáng tiếc. Nhưng không ngờ việc này lại có ảnh hưởng tới Toàn Nhi. Tại sao lại thế? Tại sao lại vì việc này mà thờ ơ với Toàn Nhi? Lòng dạ đế vương vốn dĩ vẫn như thế chăng? Làm con của Hoàng đế là nay được yêu mai thành ghét như vậy thật sao? Bỏ qua ngai vàng, Hoàng vị, không phải họ vẫn là cha con máu mủ của nhau hay sao, sao lại thành ra như thế? Phải chăng đằng sau chuyện này còn ẩn dấu những chuyện khác nữa? Phải chăng có chuyện gì nghiêm trọng đã xảy ra khi ta vắng mặt?
Đột nhiên những lời nghĩa phụ nói với ta bữa trước ở Đông Lỗ lại hiện về rõ mồn một ở trong đầu. Phải chăng có ai đó đã đi một nước cờ, nên tình thế mới xoay chuyển nhanh chóng đến như vậy? Là Kiểu Quốc hoàng hậu ư? Nàng đã tính toán cả rồi sao? Nhưng có thể là chuyện gì? Là nước cờ gì mà có thể xoay chuyển tình thế nhanh chóng đến như vậy?
Nằm trở mình mãi vẫn không ngủ được thì chợt nhớ ra hồi nãy Lan Nhi có nói rằng chính là cả ta và Trinh Minh hoàng hậu cùng bị thất sủng. Bèn ngồi dậy gọi Lan Nhi vào định bụng hỏi lại cho rõ ngọn ngành.
Nhưng đến khi nhìn thấy nàng tóc tai bù xù, quần áo xộc xệch, một tay cầm giá nến một tay đang kéo vội chiếc áo choàng lên vai cho đỡ lạnh đi vào thì ta chợt thấy hối hận vì đã gọi nàng dậy, đành dịu giọng bảo:
- Em cho ta một chén nước. Bỗng nhiên ta thấy khát nước quá!
Nàng lật đật đặt cây nến ở bàn phấn ngay cạnh giường rồi mang lại cho ta một chén nước ấm. Đợi ta uống xong, nàng cất chén rồi mới bảo:
- Hoàng hậu lại nghĩ ngợi chuyện hồi chiều nên không ngủ được chứ gì?
- Đâu có, chỉ là ta thấy hơi mệt thôi! Bị nàng bắt thóp ta đành chống chế như vậy.
- Thôi người không cần chối, em đã biết thừa rồi. Nhưng nghĩ ngợi mà làm gì, có giải quyết được việc ngay đâu? Theo thiển ý của em, chi bằng hãy ngủ đi cho khỏe người, rồi mai sang gặp Trinh Minh hoàng hậu thăm dò thêm, như vậy có phải hơn không. Trinh Minh hoàng hậu ở nhà, ắt hẳn phải nắm rõ mọi chuyện. Đến lúc đã tỏ tường rồi, ta nghĩ cách đối phó vẫn còn kịp cơ mà. Chứ giờ người nằm đó lăn qua lăn lại, hành hạ bản thân mình, chỉ tổ hao mòn sức lực vô ích thôi!
Thấy Lan Nhi nói có lí, ta không biết nói gì, chỉ lẳng lặng nằm xuống giường, tự thấy lòng nhẹ nhõm đi ít nhiều. Chí ít ta vẫn có Trinh Minh hoàng hậu kề vai sát cánh cơ mà? Nghĩ thế rồi cũng ngủ thiếp đi lúc nào không hay.
Sáng sớm hôm sau khi tỉnh dậy, vội vã ngồi xe ngựa sang cung Trinh Minh. Nàng nhìn mặt ta bằng ánh mắt kỳ lạ, chẳng nói chẳng rằng với ta lời nào, chỉ lẳng lặng quay ra lệnh cho người hầu kẻ hạ chuẩn bị trà bánh, rồi chúng ta cùng hai Hoàng tử và các gia nhân thân tín kéo ra ngoài vườn để uống trà, nói chuyện, trông chừng hai Hoàng tử chơi đùa.
- Lan Nhi và Hương Liên, hai ngươi hãy chạy ra chơi cùng hai Hoàng tử, vừa chơi vừa trông chừng bốn phía, thấy ai đi lại thì nhớ ra hiệu. Ta có chuyện muốn nói với Cồ Quốc hoàng hậu.
Ta chỉ biết há hốc miệng nhìn nàng. Có lẽ nàng đã đoán được những điều ta định hỏi nàng? Có lẽ nàng đã biết hết cả những chuyện đó? Cứ trông cái cách nàng bài binh bố trận thay vì hết sức thoải mái như trước kia là đủ hiểu.
Không để ta thắc mắc, đợi chờ lâu, vừa đẩy chén trà nóng và một miếng bánh về phía ta, nàng vừa chậm rãi bảo:
- Dạo gần đây ta cảm thấy ngay cả nói chuyện với thị nữ của mình ở trong Cung cũng không còn an toàn nữa, nên mới phải kéo tất cả ra vườn như thế này để nói chuyện. Tuy trống trải không có gì che đậy, nhưng cũng chính vì thế mà ai lui tới, qua lại đều có thể trông thấy, bởi vậy dễ dàng hơn rất nhiều. Nào em hãy nói đi, em đã nghe ngóng được chuyện gì rồi?
- Vâng, đúng là em đã nghe được một số chuyện. Nhưng em nghĩ là người đã biết hết cả rồi đúng không? Chuyện người trong Cung đang rỉ tai nhau rằng em và người đã thất sủng rồi?
- Quả tình là như vậy! Ta đã định nói cho em biết tình hình ngay hôm em trở về và sang đây. Nhưng rồi lại nghĩ cứ để em tự nghe ngóng được một vài chuyện trước đã rồi nói như vậy sẽ thuyết phục hơn.
Ra là vậy, buổi gặp trước quả là ta có nhận thấy một vài khoảnh khắc trầm tư, một vài biểu hiện bối rối phớt qua trên khuôn mặt nàng. Nhưng lúc đó ta hết sức vô tư lự nên không hề lưu tâm. Bèn bảo nàng:
- Vậy xin người hãy nói cụ thể hơn cho em được rõ với. Ở trong Cung vừa qua đã xảy ra chuyện gì?
- Ừ! Cứ từ từ rồi ta nhất định sẽ nói cho em rõ. Nhưng không phải em cũng thấy, dù là chuyện gì, thì cái chuyện ấy cũng đã được tính toán rất kỹ, để mà xảy ra đúng vào khi em không có mặt ở đây hay sao?
- Quả đúng như vậy! Ta nói rồi ngồi thừ ra.
- Sau khi em đi, chừng nửa tháng đầu, Hoàng thượng vẫn đều đặn qua lại giữa các cung Kiểu Quốc, Trinh Minh và Ca Ông, vẫn hết sức vui vẻ với Tuệ Nhi và các Hoàng tử, Công chúa khác. Thế rồi bẵng đi sau đó, không thấy người qua nữa. Tuệ nhi đã rất buồn. Hai cha con vốn rất quấn quít nhau, cũng như Hoàng tử Toàn với Hoàng thượng vậy, em đã biết rồi. Vì không thể nào gặp Hoàng thượng để hỏi cho rõ ngọn ngành được, nên ta đã phải nhờ các anh trai của mình giúp đỡ việc này. Hai anh ta là Đinh Dưỡng Xã, Đinh Cung Linh chính đang là Phó tướng dưới chướng của Tâm phúc Tướng quân Phạm Cự Lượng, lãnh đạo ba nghìn vệ quân của triều đình, chuyện đó không phải nói thì em cũng rõ, bởi vậy có quen biết nhiều nơi. Nhờ đó dò la ra được, rằng Hoàng thượng dạo gần đây rất sủng ái Kiểu Quốc Hoàng hậu, sau khi ở Ngự điện trở về cũng chính là đều sang bên đó mà ăn uống, nghỉ ngơi. Ai cũng biết Kiểu Quốc hoàng hậu tuy đã lớn tuổi, nhưng vốn dĩ là quốc sắc thiên hương. Mấy dạo gần đây lại hồi xuân, nên thân hình càng đẫy đà, khí xuân càng rừng rực. Lại thêm là một người đã từng trải đời, các ngón nghề chắc chắn đều thuộc cả. Vậy nên Hoàng thượng có chuyển sang mê mẩn nàng ta cũng chẳng lấy gì làm lạ. Nhưng tại sao lại bất ngờ chuyển sang không đoái hoài gì đến các Cung khác, không quan tâm tới Tuệ nhi như xưa, trong khi trước kia người đi lại giữa các Cung rất đều đặn và đều yêu chiều các Hoàng tử, Công chúa như nhau? Từ hôm trở về, chắc em cũng đã nhận thấy điều đó rồi chứ?
- Vâng, quả chính là những điều em đang băn khoăn.
- Chính là vậy đó! Nên ta phải tiếp tục nhờ người hỏi han, điều tra, tốn rất nhiều bạc mới biết được phần nào nguyên do. Chuyện này sẽ hết sức bất ngờ với em, nhưng ta cũng nói trước, em hãy cứ bình tĩnh, rồi từ từ tìm cách giải quyết, đừng quá lo lắng!
Ta nhìn nàng lòng hết sức hoang mang, nhưng nàng vẫn thản nhiên như không, thong thả đặt chèn trà nóng xuống, rồi lại nhón tay lấy một miếng bánh nhỏ lên ăn rồi mới từ từ nói tiếp:
- Người của ta nghe được rằng, không rõ bằng cách nào chuyện em và Lê Thập đạo tướng quân từng là một đôi uyên ương thủa thanh mai, trúc mã đã đến tai Hoàng thượng. Trong khi đó lại có tin đồn rằng ta và Trịnh Tú phò mã từng liếc mắt đưa tình với nhau suốt thời gian Hoàng thượng ở xa trường. Trịnh Tú tướng quân chính là đã đóng chiếc thuyền lớn đem tặng để làm đẹp lòng ta vậy. Do những chuyến đó đến tai nên ta và em liền bị Hoàng thượng ghét bỏ. Lê tướng quân đã bị điều đi tuần thị tình hình quân đội ở các địa phương, còn Phò mã đô úy Trịnh Tú đã bị cử đi xứ phương Bắc rồi.
Mấy lời ngắn gọn của Trinh Minh hoàng hậu mà còn có sức nặng hơn cả đá. Ta nghe xong mà ù hết cả tai, xây xẩm cả mặt mày. Một lúc lâu vẫn không thể thốt nên lời.
Vậy là mấy điều ta lo sợ khi ngồi cùng Trinh minh Hoàng hậu bên đầm Cút thuở nào giờ đã trở thành sự thật. Còn chuyện của nàng và Trịnh Tú tướng quân, đêm Giao thừa năm đó sau khi nghe nàng kể về chuyện tặng thuyền, trong đầu ta, một ý nghĩ mỏng như sợi tóc về việc, nếu không phải phận vua tôi, thì họ có thể là một cặp thanh mai trúc mã cũng nên. Thế rồi những ý nghĩ đó mau chóng trôi đi bởi những cư xử hết mức đúng mực của cả hai người. Thế mà nay những chuyện đó lại được kẻ nào đó thêu dệt và nói ra thành lời tới tận tai họ Đinh, trong hoàn cảnh như thế này! Thật là đáng sợ! Nghĩ tới đó thôi đã lạnh toát mồ hôi khắp người!
- Chuyện của em đã xa xôi lắm rồi. Suy cho cùng yêu thương ai đó khi mình mới mười lăm, mười ba cũng là chuyện thường tình mà. Ai có thể biết rằng sau đó mình sẽ trở thành phi tần của Hoàng thượng chứ? Sao bỗng dưng lại lấy chuyện đó ra để so đo ở đây? Còn chuyện của người và Trịnh Tú tưuớng quân, sao có thể đặt điều như thế, đặc biệt là giờ đây Trịnh Tú tướng quân đã trở thành Phò mã đô úy..
- Em có thấy lạ là, Hoàng thượng vốn hết sức nóng tính, gặp những chuyện như thế này thì nhiều khi chẳng cần tra rõ đầu đuôi, cứ thế lôi người ra mà trừng trị xong rồi mới tính tiếp không? Vậy mà lần này Hoàng thượng không hề nóng nảy, cũng chẳng cần điều tra cho ra nhẽ, cứ thế mà thù ghét chúng ta. Như vậy em không thấy là, người đã thêu dệt lên tất cả chuyện này phải có mưu trước nào đó hay sao? Nếu đã khiến cho Hoàng thượng thay vì nổi cơn lôi đình lại âm thầm rời xa chúng ta, vậy thì việc thêm thắt, thêu dệt để chuyện của em dù đã xảy ra hơn chục năm rồi vẫn thành chuyện không thể tha thứ được; còn chuyện của ta từ trắng hóa ra đen thì có gì mà không thể cơ chứ?
- Quả đúng vậy..
Ta như bị thôi miên, chỉ có thể lẩm bẩm như vậy.
- Điều đáng sợ nhất là khiến cho Hoàng thượng không cần điều tra cho rõ ngọn ngành, cứ thế mà âm thầm ghét bỏ chúng ta. Không nói, không điều tra, không tức giận – cũng chính là không cho chúng ta một cơ hội để biết được mọi chuyện, được giải thích, em hiểu không?
- Vậy có thể là ai mà lại nguy hiểm như vậy?
- Ta nghĩ em thừa biết ai đứng sau tất cả việc này. Mọi thứ rõ mười mươi như vậy còn có thể khác được sao?
- Chính vì hiển nhiên quá mà em không dám tin! Nhưng vấn đề là người đó từ đâu mà biết được tất cả..
Ta bỏ lửng câu nói, vì trong chính khoảnh khắc ta hỏi, ta đã biết được câu trả lời rồi. Nghĩ đến đó ta không giữ được bình tĩnh nữa, đôi tay run rẩy khiến chén trà rơi xuống nền sân gạch vỡ tan tành.
Cuộc nói chuyện vì thế mà gián đoạn khi mọi người xúm vào dọn dẹp chiếc chén vỡ.
Dù không có chứng cứ rõ ràng, nhưng mọi chuyện chẳng có cách lý giải nào khác ngoài cách đó.
Chính là nàng, là Kiểu Quốc hoàng hậu đã sử dụng tất cả những chuyện này để dành lấy ưu thế cho mình. Nếu không phải là như thế thì lý giải làm sao đối với việc nàng bỗng dưng được sủng ái. Lý giải làm sao được việc, chuyện của ta và Lê Hoàn tướng quân tưởng như đã ngủ yên dưới nấm mồ cả chục năm nay bỗng dưng lại đến tai họ Đinh?
Nhưng chuyện của ta và Lê Hoàn tướng quân ở quê nhà xưa kia có mấy ai ở Hoa Lư biết được? Làm sao lại đến tai của nàng để nàng sử dụng nó như một chiếc bàn đạp vào đúng lúc này?
Người thứ nhất biết chuyện chính là Trinh Minh hoàng hậu. Nhưng ta hoàn toàn tin tưởng nàng. Người thứ hai thì ta không chắc, không biết người đó có từng quan tâm và hay biết chuyện đó không: Chính là Phạm Cự Lượng tướng quân. Nhưng chàng vốn là một tướng lĩnh dưới chướng của Lê Hoàn, hiện đang làm Tâm phúc Tướng quân lãnh đạo ba ngàn cấm vệ binh của Triều đình. Tuy không kề vai sát cánh như khi xưa, nhưng tình thâm giữa hai người vẫn vô cùng sâu đậm. Hơn nữa một trang hảo hán như chàng, làm những chuyện nhỏ nhen hại người như thế để làm gì? Suy cho cùng, chàng cũng nào có được lợi gì trong cục diện như hiện nay.
Ngoài hai người này thì chính là hai nàng thị nữ thân tín, theo ta từ Ái Châu tới đây nắm rõ đầu đuôi mọi chuyện. Hai thị nữ này, Lan Nhi thì ta biết, dù có phải nhảy vào lửa để bảo vệ ta thì nàng cũng sẵn sàng, chứ đừng nói là làm gì đó để hại ta. Còn Ngọc Nhi. Ngọc Nhi hiện đang là vợ của Ngô Nhân ở bên phủ của Ngô phò mã. Ngọc Nhi!
Chính là khi nghĩ tới đó ta đã giật mình tới toát mồ hôi mà đánh rơi chén trà của mình. Ngọc Nhi! Chính là nàng ư? Nếu chính là nàng, chính là từ nàng mà mọi chuyện đến tai của Kiều Quốc hoàng hậu, thì việc nàng lọt vào nhà họ Ngô khi xưa là như thế nào? Là tình cờ hay đều đã nằm trong kế hoạch? Nếu là kế hoạch, nếu là đã tính toán tới cả những chuyện ấy, kể từ những ngày tháng ấy, vậy thì ta và Trinh Minh Hoàng hậu thua trong trận này là phải rồi. Chúng ta đã thua thâm chí ngay cả khi chúng ta chưa hề tham chiến. Thế nhưng đánh bại ta và Trinh Minh Hoàng hậu rồi thì sao? Còn Nam Việt Vương Đinh Liễn lừng lững ở đó, nàng ta định làm gì? Sẽ làm gì tiếp theo? Hay là nàng ta đã tính toán cả việc ấy?
Ta chưa bao giờ tính toán, chưa bao giờ suy nghĩ về ngai báu. Bởi đối với ta, người đã chứng kiến cả một chặng đường dài cha con họ Đinh sát cánh bên nhau cho tới khi lập quốc, lên Ngai, thì người có thể kế nghiệp họ Đinh, không ai khác chỉ có thể là Nam Việt Vương Liễn. Vì vậy mà bấy lâu nay, ta vốn cũng chỉ mong muốn một cuộc sống yên lành cho mình, cho con trai, mong cho qua ngày đoạn tháng. Vậy mà đối với một số người, chẳng có gì là không thể thay đổi cả. Họ vẫn có thể nắm mọi thứ trong tay của mình.. Trong khi ta chỉ ngày ngày nhìn họ Đinh vui đùa với Toàn Nhi, Tuệ Nhi và thấy lòng ngập tràn hạnh phúc, thì họ đã bày sẵn các thế cờ của mình rồi.
- Mấy hôm nay ta thấy không được khỏe trong người, ngủ một mình hay bị hốt hoảng tỉnh dậy giữa đêm, tối em vào ngủ cùng ta nhé.
Sau khi đã cho Toàn Nhi về phòng ngủ xong xuôi, ta trở lại phòng mình và bảo với Lan Nhi đang thay đồ để chuẩn bị đi ngủ ở nhà ngoài.
Nàng nhìn ta thoáng chút ngỡ ngàng trong chốc lát, vì việc như thế này chưa từng xảy ra bao giờ. Nhưng dường như đoán được uẩn khúc ở phía sau, nàng khẽ gật đầu, lẳng lặng đi đóng cẩn thận một loạt cửa, rồi vào phòng nằm xuống bên cạnh ta.
- Là người định nói chuyện gì với em đúng không? Vừa đặt mình xuống cạnh ta, kéo chăn ấm lên ngang người, nàng vừa thì thầm.
Quả là ta không đánh giá nhầm nàng thị nữ này của mình.
Cũng với giọng thì thầm, ta nói cho nàng biết tình thế hết sức khó khăn của ta hiện tại, nguyên nhân vì sao ta và Trinh Minh hoàng hậu từ được trọng vọng nay lại trở thành ra thế, và nói cả cho nàng những phỏng đoán của chúng ta về Kiểu Quốc hoàng hậu, về Ngọc Nhi.
Nghe xong, nàng lặng đi một lúc lâu, rồi bảo:
- Nếu tất cả những chuyện này đúng như người nói, thì khả năng liên quan tới Ngọc Nhi là rất lớn. Chẳng còn cách nào khác, chúng ta phải hỏi nàng ta về việc này thôi.
- Như vậy có được không? Ta lưỡng lự.
- Không phải nàng ta đã sống với Hoàng hậu và em từ thuở bé tới giờ hay sao. Nếu bây giờ mình không hỏi thẳng, mà cứ để mãi mọi chuyện ở trong lòng, thì không phải là, nếu sai thì mang tiếng cho nàng ta, mà nếu đúng thì cũng cần phải hỏi cho rõ ngọn ngành hay sao.
Thấy ta vẫn có vẻ nghi ngại, nàng mới bảo thêm:
- Việc này em sẽ có cách, người không nên suy nghĩ nhiều mà làm gì
Nói thế rồi hai người kéo chăn lên đi ngủ.
Tuy bảo với ta là không cần phải lo lắng, suy nghĩ, nhưng chính Lan Nhi lại là người cứ thao thức suốt đêm hôm đó. Khi thì nàng trở dọc, khi thì nàng trở ngang. Có những lúc nàng vờ như đang ngủ, nhưng qua những tiếng thở dài cố nén lại ta biết nàng vẫn còn thức.
Cũng phải thôi, làm sao có thể ngủ yên được khi nghĩ tới tất cả những chuyện này, nhất là lại nghĩ tới Ngọc Nhi. Chúng ta và nàng ấy đã gắn bó với nhau bao nhiêu năm, thân quen như tay với chân, vậy mà giờ lại rơi vào hoàn cảnh như thế này. Chẳng biết thực hư ra sao, nhưng riêng việc phải nghĩ về nhau như thế này thôi đã khiến chúng ta đau lòng rồi.
Vẫn còn nhớ như in ngày đầu hai nàng về ở với ta. Khi đó ta chừng bảy, tám tuổi. Dạo ấy ta về Đạo Ái đã được hai, ba năm.
Ta nhớ khi đó là vào mùa Đông lạnh giá thì phải. Buổi sáng sớm tinh mơ khi mọi người vừa tỉnh giấc, gia nhân đã vào báo, có hai người phụ nữ nhà quê ăn mặc rách rưới, lôi thôi đến quỳ lậy trước cổng Trang xin vào gặp Nghĩa mẫu. Người trong Trang không cho vào thế là cứ ngồi khóc lóc gào thét ở đó. Thấy cảnh huyên náo có vẻ vui tai, ta liền chạy ra trốn sau bờ rào tre để xem. Thì ra là hai người phụ nữ ở làng bên. Do năm nay làm ăn thất bát, mất mùa, cuối năm giáp hạt đói khát, lại thêm trong nhà thì mẹ già đau yếu, con nhỏ ốm bệnh cần tiền để thuốc thang, nên mới rủ nhau tới đây xin bán con gái làm người hầu kẻ hạ cho chúng ta để kiếm chút bạc.
Người trong Trang ra đuổi mấy bận, nói không cần thêm gia nhân nữa nên không mua người, nhưng họ vẫn nhất quyết không chịu rời đi. Càng khóc lóc thảm thiết. Trong khi đó hai tiểu nữ, cũng ăn mặc hết sức rách rưới lại không hề khóc lóc, mặt lạnh te đúng bên nhau nhòm ngó xung quanh.
Người trong Trang vì đuổi mãi không dành phải gọi quản gia Dương Thuần ra giải quyết. Nghe đầu đuôi sự việc Dương lão quản gia bèn cho ít bạc rồi nói hãy về đi. Hai người phụ nữ thấy bạc thì sáng mắt lên, nhận xong vái lậy lia lịa, nói: Bạc thì đã nhận rồi, xin Dương lão quản gia nhận người. Vì nếu đưa hai tiểu nữ về gia đình cũng không nuôi được, mang ra chợ bán mà rơi vào tay các cường hào, bá kiến thì thương tâm lắm, chỉ có bán cho người trong Trang thì mới yên tâm mà thôi. Làm vườn, hót phân, dọn rác gì cũng được. Xin Dương lão quản gia rủ lòng thương!
Dương lão quản gia nhất quyết không nhận, bảo: Nếu nhận hai tiểu nữ này, rồi đây hai mươi người nữa mang con đến thì sao. Nói rồi quay gót đi.
Hai người phụ nữ rú lên, nằm vật ra đất mà cào cấu, dãy dụa. Hai tiểu nữ lúc này mới chạy lại đỡ mẹ lên. Một nàng nhìn theo quản gia Dương Thuần, mặt đầy căm phẫn, bảo:
- Quân giết người! Thấy hoạn nạn mà không cứu!
Dương lão quản gia giật mình, lật đật quay lại. Chưa biết sự thể sẽ ra sao thì ta không kìm được cười phá ra thành tiếng. Dương quản gia ngó vào thấy ta vội vã cúi chào. Ta liền bảo với Dương quản gia: Nhận hai nàng này cũng được, để có người chơi cùng ta. Vì trong Trang ít trẻ con, nên ta toàn lủi thủi chơi một mình. Ngài cứ nhận rồi ta sẽ xin thêm với Nghĩa mẫu. Dương quản gia nghĩa ngợi một lúc rồi gật đầu. Thế là từ đó ta với hai nàng lê la chơi bời, ngó nghiêng khắp nơi. Hái hoa, bắt bướm thả diều không thiếu.
Vậy mà thấm thoát đã gần hai chục năm trôi qua. Gần chục năm ở Ái Châu, gần chục năm ở Hoa Lư này. Ba chúng ta đã trở thành người nhà, thành ruột thịt. Mà chính ra ngay cả đến người nhà, là hai song thân cùng với nghĩa phụ và nghĩa mẫu cũng nào có ai gắn bó với ta ngần ấy năm như hai nàng.
Ngày hôm sau ta loanh quanh ở trong sân vừa chơi với Toàn Nhi, vừa nghe ngóng tin tức của Lan Nhi.
Sáng sớm đã thấy nàng dậy, lục đục chuẩn bị vài thứ đồ gì đó, rồi sau khi cắt đặt người hầu kẻ hạ nhà trong, nhà ngoài chu tất, nàng xin phép ta cho sang thăm Ngọc Nhi rồi ngồi xe ngựa nhỏ đi thẳng sang Phủ Ngô phò mã.
Nàng đi rồi ta sai người mang ghế tựa, đệm ấm ra sân ngồi trông Toàn Nhi chơi với đám hầu nhỏ. Mấy ngày nay trong Cung đã rục rịch chuẩn bị cho Tết Nguyên đán. Nhưng ta cũng chẳng thiết gì nữa.
Chừng qua giờ Ngọ thì Lan Nhi trở về, mặt mày nhợt nhạt, hồn như xiêu, phách như lạc. Nhìn nàng ta biết ngay là có chuyện chẳng lành nhưng cũng chẳng vội gặng hỏi nàng, chỉ khẽ bảo gia nhân xếp cơm ra để ta và nàng dùng bữa trưa.
- Hoàng hậu vẫn chưa dùng bữa trưa sao? Vậy còn Hoàng tử thì sao? Nàng nghe ta ra lệnh cho người hầu kẻ hạ như vậy mới hốt hoảng hỏi.
- Toàn Nhi đã dùng bữa xong và đi nghỉ trưa rồi. Chỉ có ta tự nhiên chưa muốn ăn nên đợi em về để ăn cùng cho vui thôi.
Lan Nhi khẽ gật đầu rồi lẳng lặng ngồi vào mâm sau khi gia nhân đã xếp ra. Định bụng đợi nàng ăn xong bữa cơm mới hỏi han tới chuyện Ngọc Nhi, mà nhìn nàng dùng đũa gẩy gẩy từng hột cơm chẳng thiết tha gì ăn uống, ta biết ngay là có ép nàng ta ăn cũng vô ích, bèn bảo gia nhân lui ra ngoài rồi mới nhẹ nhàng hỏi nàng:
- Tình hình Ngọc Nhi như thế nào rồi? Có gì không ổn sao?
Nàng dường như chỉ chờ ta hỏi, liền buông bát đĩa, nước mắt chảy dài trên má:
- Hoàng hậu, nàng ấy ốm nặng lắm rồi. Không biết có qua khỏi được không nữa! Huhu
Dứt lời cứ ngồi đó khóc nức nở, tấm tức không thốt nên lời. Ta cứ để nàng khóc một lúc, đến khi nghe chừng đã nguôi ngoai, nhẹ nhõm đi phần nào mới bảo:
- Thôi em hãy bình tâm lại, sự thể như thế nào hãy nói cho ta được rõ?
Nàng vẫn nức nở thêm một lúc nữa, rồi mới lặng lẽ chấm nước mắt đi, hạ giọng:
- Sáng nay tỉnh ngủ dậy em mới ngồi bịa ra một cái thư giả làm thư hỏi thăm của gia đình nàng ta; kèm theo ít hương liệu, lụa là, thuốc quý giả làm quà họ hàng ở quê gửi cho nàng ta. Em sang đến phủ Ngô phò mã, tìm đến gian nhà của Ngô nhân thì thấy gia nhân bảo nàng bị ốm. Em bảo muốn thăm và gửi thư nhà cho nàng thì gia nhân bên đó mới chạy đi tìm Ngô nhân. Thấy thế Ngô Nhân hớt hải từ đâu chạy về bảo em, quà quê thư nhà chì cứ chuyển cho hắn vì Ngô phu nhân bị ốm không gặp người ngoài được - ấy là hắn bảo Thầy thuốc nói thế. Nhưng em cứ khăng khăng đòi gặp cho bằng được, bảo có thư nhà gấp phải chuyển tận tay. Đôi co tiếng qua tiếng lại một hồi, Ngô Nhân đành cho em vào gặp. Thoạt đầu thấy hắn không cho gặp em cứ ngỡ là chẳng qua hắn chỉ muốn gây khó dễ cho mình, vì không muốn cho mình gặp nàng ta, chắc là có gì mờ ám. Nhưng đến khi gặp rồi thì mới biết là nàng ốm thật. Nàng nằm liệt ở trên giường, tay chân không cử động được. Nàng còn bị cấm khẩu, không nói năng được gì. Lúc nhìn thấy em nàng tỏ vẻ vui mừng ra mặt, nàng có ú ớ gì đó nhưng không ai có thể hiểu nổi. Điều em băn khoăn là nhìn nàng vẫn rất béo khỏe, đẫy đà, vậy mà không rõ bệnh gì lại thành ra nông nỗi ấy. Em có ngồi hỏi han, nói chuyện với nàng một lúc, nhưng tất cả chỉ làm cho nàng đau khổ, vì nàng muốn đáp lời, muốn nói chuyện với em mà đều bất lực. Lúc em đứng dậy chào về, mắt nàng như điên loạn. Nàng muốn nói gì đó, muốn làm gì đó, thậm chí muốn gào thét, vậy mà không thể. Lúc đi ra cửa quay lại, em nhìn thấy những giọt nước mắt lăn trên gò má nàng, nhìn ánh mắt đau đơn của nàng em không kìm được, đã khóc suốt dọc đường về đây đấy tiểu thư.
Nói rồi nàng lại lặng lẽ lấy khăn mùi xoa chấm đôi mắt nhòa lệ của mình.
- Quả là kỳ lạ thật! Ta lẩm nhẩm.
- Vậy tính sao bây giờ Hoàng hậu?
- Ta biết tính sao bây giờ? Cầu trời khấn phật cho nàng ta mau khỏe thôi chứ biết làm sao. Nàng ta đã được gả cho Ngô Nhân, hơn nữa ta cũng không phải là họ hàng ruột thịt của nàng, thì có thể làm được gì hơn. Thôi hãy cứ đợi vài bữa, rồi em lại mang ít nhân sâm, ngọc linh, thuốc bổ sang hỏi thăm nàng ấy xem thế nào.
- Mình có thể cho vời Ngự y sang khám cho nàng ấy được không?
- Giờ nàng ấy là người của Ngô phủ, nếu có bệnh tình gì thì chính là Ngô phủ sẽ gọi ngự y. Ta làm sao dám làm việc ấy được. Nếu ta làm thế, khác nào bảo với bàn dân thiên hạ là Ngô phủ không quan tâm tới nàng ấy hay Ngô phủ không có quyền hành gì đến nỗi không thể mời Ngự y. Em thấy như vậy mà cũng được hay sao?
- Nhưng em lo lắng lắm. Nhỡ nàng ta có mệnh hệ gì thì sao?
Nói thế rồi Lan Nhi lại bật khóc nức nở thành tiếng. Nàng thị nữ này bao lâu nay rất ít khi yếu đuối đến như vậy, mà giờ đây khóc lóc như mưa thế này, thì có thể thấy Ngọc Nhi đã nguy kịch thật rồi. Nhưng ta giờ đây cũng không thể làm gì hơn. Nàng ta không phải là thị nữ dưới chướng của ta nữa; mà ta cũng không còn là Cồ Quốc hoàng hậu của ngày nào nữa rồi..
Hai ngày sau thì Ngọc Nhi mất.
Lan Nhi còn chưa kịp qua thăm nàng ta lần thứ hai thì phủ Ngô phò mã đã cho gia nhân sang báo tin, dù Ngô phủ đã cho vời Ngự y tận tình chăm sóc, nhưng Ngọc Nhi, tức Ngô Nhân phu nhân đã không qua khỏi. Lan Nhi khóc ngất khi nghe tin. Cũng phải thôi, ta với các nàng dù gắn bó keo sơn, vẫn có một rào cản chủ tớ. Còn hai nàng ấy thân nhau như chị em, gắn bó không rời. Ngọc Nhi đi rồi Lan Nhi không đau lòng làm sao được.
Tang lễ Ngọc Nhi được cử hành trong hai ngày. Ta ghé qua Ngô phủ buổi sáng tiễn đưa nàng. Còn Lan Nhi lăn lộn khóc lóc ở bên linh cữu của nàng đủ cả hai ngày.
Tóc tai nàng rối bù, váy áo thì xộc xệch, mặt mày thì nhợt nhạt. Nhưng ta cũng kệ. Nghĩa tử là nghĩa tận. Thôi hãy cứ để nàng một lần cuối được hết lòng vì người đã khuất.
Nhưng cái chết của Ngọc Nhi đối với ta mà nói, không chỉ giấy lên sự đau buồn, mà cả sợ hãi cũng ngấm ngầm dâng lên.
Nàng ta bị bệnh gì? Tại sao lại ra đi vào đúng thời điểm này? Đúng vào lúc chúng ta đang thực sự muốn gặp nàng để làm rõ những chuyện quan trọng? Hai chuyện này xảy ra tình cờ hay là sự sắp đặt? Ai sắp đặt? Sắp đặt như thế nào? Nếu tất cả đều là từ bàn tay tính toán của người đó, thì nàng ta thật sự là quá kinh khủng.
- Nếu tất cả chỉ là trùng hợp thì quả tình là thiên thu chỉ có một – Trinh Minh Hoàng hậu đã lẩm bẩm như vậy khi ta kể cho nàng nghe tất cả những nghi hoặc của mình – Đó chỉ có thể là một sự tính toán, nàng nói tiếp, chỉ có điều chẳng thể biết được là tính toán từ khi nào? Là Ngọc Nhi và Ngô Nhân thực lòng yêu thương nhau, rồi nhờ đó Ngô phủ vô tình lại có được một quân cờ trong tay hay là ngay cả chuyện Ngô Nhân và Ngọc Nhi quen biết cũng đã được tính toán kỹ lưỡng? Đó là những câu hỏi mà chúng ta có thể sẽ không bao giờ có thể tìm ra câu trả lời. Nhưng nếu là tính toán ngay từ đầu, cũng không có gì lạ nếu họ nhắm vào Ngọc Nhi mà không phải Lan Nhi. Ngọc Nhi là một cô gái tốt bụng, nhưng hơi chậm chạp và có đầu óc giản đơn. Thậm chí đôi khi hơi ngốc nghếch nữa. Em có thấy vậy không?
Ta bảo nàng rằng đúng thế, xưa nay Ngọc Nhi vẫn luôn là người thật thà và dễ tính hơn một chút. Đôi khi còn ham chơi và ngờ nghệch nữa. Nên không có gì lạ nếu ai đó muốn khai thác thông tin lại nhằm vào Ngọc Nhi.
- Nhưng vấn đề là ở chỗ, giờ đây em thấy thật sự sự hãi. Em luôn có cảm giác có những sự đe dọa âm thầm nào đó đang vây quanh mẹ con em. Liệu người ta có đang định gạt bỏ mọi chướng ngại vật trên đường tới đích của họ không? Mẹ con em nên làm gì đây?
- Cũng không loại trừ điều đó. Trinh Minh Hoàng hậu nắm lấy tay ta nói. Mà không riêng gì mẹ con em, mẹ con ta cũng là chịu chung cảnh ngộ thôi. Thực tình dạo gần đây ta cũng hết sức lo lắng. Nhiều đêm không thể chợp mắt được. Nhưng cũng chưa tìm ra được đối sách gì cả. Mọi thứ quá đỗi mơ hồ để có thể làm bất cứ điều gì. Nhưng em đừng lo lắng quá. Ta sẽ bảo các anh trai của mình tăng cường canh gác ở hai Cung Trinh Minh và Cồ Quốc. Như vậy hi vọng sẽ tránh được những bất trắc xảy ra.
- Nếu vậy thì em cảm ơn người quá! Vậy là em đã yên tâm phần nào rồi. Nếu không có người hai mẹ con em thực sự không biết làm sao nữa. Thân cô thế cô giữa Hoa Lư này!
Sau cuộc nói chuyện với Trinh Minh Hoàng hậu, trở về nhà ta thấy yên tâm hơn phần nào. Nhưng buổi tối hôm ấy, cuộc trò chuyện với Lan Nhi đã làm mọi hi vọng tan thành mây khói.
Tối đó ta trở về Cung Cồ quốc đã thấy Lan Nhi về nhà rồi. Nhưng nàng im như thóc, chẳng nói chẳng rằng câu nào. Cơm canh đã xếp ra mà nàng chẳng thèm động đũa. Ta mới bảo gia nhân đi ra ngoài hết, rồi bảo nàng:
- Người chết cũng đã chết rồi, thương tâm quá cũng đâu có làm cho nàng ta sống dậy, cũng có ích gì nữa đâu. Nên em hãy vì ta mà ăn uống vào cho khỏe. Lăn lộn bên đó hai ngày đêm rồi, giờ em vẫn không chịu ăn uống, em mà ốm đâu ra đó không phải người khổ tâm nhất là ta hay sao? Ta còn ai để dựa dẫm ngoài em nữa chứ?
Nàng vẫn im lặng, cũng chẳng khóc lóc. Mặt nàng ta đanh lại, mãi một lúc mới cất giọng:
- Nàng ta không phải là ốm bệnh mà chết. Nàng ta bị chết oan. Cái chết này đã được tính toán hết cả. Chính là để bịt đầu mối đấy Hoàng hậu.
Ta lạnh toát cả người, nói không ra hơi:
- Sao em lại nói thế, em đã nghe ngóng được gì hay sao?
- Người nghĩ vì sao em lại lăn lộn bên ngô phủ suốt hai ngày qua chứ? Em thừa biết là người chết thì đã chết rồi, chết rồi thì lăn lộn, khóc lóc đâu có ý nghĩa gì nữa. Cái chính là em muốn nhân cớ đó mà nghe ngóng xem thế nào thôi. Buổi tối trước khi đưa tang em có ngủ bên linh cữu nàng. Thực ra cũng chỉ là nằm ra đó vờ ngủ thôi, em đã cố thức để nghe ngóng mọi chuyện. Quả nhiên tối đó, hai thị nữ trong Ngô phủ do phải trực đêm bên quan trông nom đèn nhang, hương khói để đỡ buồn ngủ đã ngồi nói chuyện với nhau. Em nghe thấy hai nàng nói, trước đó Ngọc Nhi vẫn rất khỏe mạnh, tươi tắn, không hề đau ốm gì. Vậy mà, chính là vào ngày chúng ta báo tin là sẽ về tới kinh thành, thì ngàng ta đột nhiên đổ bệnh. Không rõ bệnh gì, không sốt, không mệt, vậy mà nằm liệt giường, cấm khẩu ngay được. Rồi như người thấy, mấy ngày sau dù thầy lang không chuẩn đoán ra được bệnh vì, vậy mà qua một đêm lại đi ngay. Họ Ngô có cho vời Ngự y tới khám một bận, thì thấy bảo cũng không chuẩn đoán ra bệnh gì. Như vậy không phải là lạ hay sao? Hoàng hậu, không phải là có kẻ không muốn chúng ta gặp nàng ấy hay sao?
Ta biết trả lời nàng ấy thế nào đây sau tất cả những điều nàng nghe thấy? Nếu đúng là vì không muốn cho chúng ta gặp lại Ngọc Nhi mà nàng phải chết, chết để chôn dấu vĩnh viễn những bí mật nào đó thì chúng ta ngày sau phải làm sao đây? Nếu thực sự đó là một cái chết đã được tính toán thì những thành quách này, những khung cửa này liệu có bảo vệ được chúng ta không? Mẹ con ta và cả nàng nữa, Lan Nhi? Chao ơi trong phút chốc, ta thấy chúng ta mới mong manh và yếu ớt làm sao giữa cung vàng điện ngọc này. Giàu sang phú quý, sa hoa tráng lệ thật đấy, thế mà ra chúng ta hoàn toàn thân cô, thế cô giữa chốn này. Ai sẽ bảo vệ chúng ta đây khi giông bão đến? Liệu sắp tới có thể xảy ra chuyện gì?
Lan Nhi dường như cũng cảm nhận được những suy nghĩ của ta. Một chủ một tớ không nói với nhau câu nào nữa, cứ thế ngồi lặng đi bên nhau, trong lòng ngổn ngang trăm mối.
Thái Bình năm thứ chín.
Tết đến trong tâm trạng sầu thảm của chúng ta. Ta cũng chẳng còn lòng dạ, tâm trí đâu mà quan tâm tới việc dọn dẹp, trang hoàng, đón tết nữa. Chỉ bảo người hầu, kẻ hạ trong Cung cứ tùy cơ mà trang trí. Thế rồi cũng mặc kệ bọn chúng muốn làm sao thì làm. Ta còn cần gì những thứ ấy?
Không biết là do ta tự nghĩ ra, tự tưởng tượng ra vậy, hay sự thực là như thế, mà ta thấy bọn chúng dường như cũng chẳng buồn nghe lời ta nữa, chẳng buồn cố gắng để làm đẹp lòng ta nữa. Ta đã thất sủng rồi thì bọn chúng trông chờ gì ở ta? Ta cứ có cảm giác như bọn chúng cũng đang toan tính những bước đi cho tương lai của mình rồi cũng nên. Có lẽ tại ta bị ám ảnh quá..
Mặc dù Trinh Minh Hoàng hậu đã động viên ta đừng lo lắng và bi quan thái quá như thế, nhưng ta làm sao có thể ngừng lo lắng? Ta đâu phải là nàng. Dù thế nào thì anh nàng đều là những người có quyền lực, chức tước trong Triều. Ấy là còn chưa kể hai người trong số đó đều đang giữ trọng trách trong lãnh đạo Cấm vệ quân triều đình. Dù sao cũng vẫn có thể chống lưng, ứng cứu kịp thời cho nàng. Còn ta, ta chỉ có một mình, thân cô thế cô giữa nơi này!
Điều khủng khiếp nhất là nỗi sợ của ta lại rất đỗi mơ hồ, nên nó càng tăng lên gấp bội. Nếu trước mặt ta là một con hổ dữ, ta có thể trông chừng nó, luôn để mắt đến nó, để biết là nó không làm gì hại mình. Đằng này điều ta lo sợ không hình không bóng, không manh mối, thực thực ảo ảo. Mà lại như trùm phủ cả bầu trời. Ta thấy mình như nỗi sợ ấy bị bóp nghẹt đến héo hon.
Cái chuyện động trời ấy xảy ra đúng vào sáng ngày mồng Một tết, Thái Bình năm thứ Chín.
Hôm đó cả triều đình, hoàng thân, quốc thích, văn võ bá quan đều tề tựu lại ở Đàn Bái Thiên để họ Đinh tổ chức lễ dâng hương tế trời đất. Đây là lễ tế hàng năm vào ngày Đầu năm mới, nhằm cầu cho quốc thái dân an, mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu.
Sau khi tế xong, họ Đinh bất ngờ xuống chiếu chỉ phong Hoàng tử Đinh Hạng Lang làm Thái tử, chính thức trở thành người sẽ kế vị ngai báu khi họ Đinh qua đời. Liền đó cũng phong Hoàng tử Đinh Toàn và Đinh Tuệ lần lượt làm Vệ Vương và Thân Vương, chính thức hưởng bổng lộc theo quy định của Triều đình.
Nghe chiếu xong, toàn bộ triều đình như dậy sóng. Nam Việt Vương như chết đứng giữa sân Đàn. Có lẽ chàng cũng như những người có mặt chưa bao giờ nghĩ tới việc người khác, chứ không phải là chàng trở thành người nối nghiệp họ Đinh – đấy là còn chưa kể tới việc người khác đó chính là Hoàng tử Hạng Lang, khi đó mới chưa đầy bốn tuổi.
Các đại thần của Triều đình từ Định quốc công Nguyễn Bặc, Đô hộ phủ sĩ sư Lưu Cơ, cho tới Ngoại giáp Đinh Điền và Vệ úy Phạm Hạp, ai nấy đều ngơ ngác nhìn nhau. Chứng tỏ họ chẳng hề được họ Đinh bàn bạc việc này. Họ chẳng hề biết trước là việc này sẽ xảy ra.
Sau một thoáng bối rối, cả bốn người cùng vội vã quỳ xuống, đồng thanh bảo:
- Xin Hoàng thượng hãy xem xét lại!
Rồi Định quốc công Nguyễn Bặc mới lên tiếng thưa:
- Muôn tâu Hoàng thượng, xưa nay lập Thái tử kế vị đều là lấy con trưởng mà lập. Nam Việt Vương Đinh Liễn là một người văn võ toàn tài, lại đã cùng Hoàng thượng lăn lộn xa trường bao năm nay, muôn dân đều yêu mến. Vậy mà giờ đây đương không lại bỏ trưởng lập thứ, e rằng..
Không để Định quốc công nói hết câu, họ Đinh khoát tay một cái, nóng nảy bảo:
- Ý trẫm đã quyết rồi. Nếu các khanh không muốn đầu rơi khỏi cổ, hay hổ xé phanh thây thì đừng nhiều lời nữa. Hồi cung!
Dứt lời không nói thêm câu nào nữa, nhanh chóng lên kiệu rời đi.
Mấy ngày liền sau đó, họ Đinh không thiết triều. Chắc làm vậy để không phải nghe lời can gián của văn võ bá quan.
Vì không gặp được họ Đinh, nên nhiều quan lại cấp cao thay phiên nhau chầu chực ngoài Ngự thư phòng xin gặp họ Đinh nhưng đều bị từ chối. Cuối cùng đều phải bỏ về.
Bốn ngày sau đó Thập đạo tướng quân Lê Hoàn lúc bấy giờ đang đi tuần thị ở địa phương cũng vội vã trở về đến quỳ ở chánh điện, xin vào gặp họ Đinh. Nhưng cũng không tránh khỏi kết cục bị từ chối.
Ta nghe người trong cung đồn rằng họ Đinh còn sai người ra chửi mắng Lê Thập đạo tướng quân đừng kết bè, kết phái vào hùa với Nam Việt Vương Đinh Liễn, người vốn trước kia chính là người đã chiêu mộ, thu nạp Lê Hoàn, mà gây loạn ở triều đình.
Mặc dù vậy Lê Thập đạo tướng quân vẫn quỳ trước chánh điện đến tận chập tối. Họ Đinh hết chửi mắng lại cho người năm lần bảy lượt đuổi về không được, bèn ra Thánh chỉ điều Thập đạo Tướng quân đi tuần sát ở vùng biến giới để tránh làm loạn ở Triều đình. Lê Hoàn nhận thánh chỉ nhưng vẫn không chịu rời đi. Chỉ đến khi Nam Việt Vương ra gặp, nói với Lê Thập đạo tướng quân điều gì đó, mới chịu cùng nhau rời đi.
Hai ngày sau Lê Thập đạo tướng quân cứ thế lặng lẽ mà rời Thành.
Biết là không cách nào có thể lay chuyển được chủ ý của họ Đinh, những người vốn tận trung với họ Đinh cũng dần dần đâm ra chán nản, không còn ai có ý định đứng ra khuyên can họ Đinh nữa. Mọi việc dần dần trở lại quỹ đạo của nó, như xuân qua, hè tới, đông về.
Về phần ta mà nói, trong những ngày này bỗng nhiên lại thấy trong lòng phần nào bớt hoảng sợ.
Ván bài đã lật ngửa rồi, Kiểu Quốc hoàng hậu chính là đã đạt được mục đích của nàng. Còn chúng ta thì giờ đã biết đích xác mình cần phải cẩn thận đề phòng với ai, nên không còn thấy khiếp đảm trước một cái bóng vô hình như trước nữa.
Tuy nhiên một khắp nơi từ hậu cung cho tới Ngự điện, đâu đâu cũng có thể cảm nhận thấy không khí ngột ngạt, bức bối, bất an, giống như cái cảm giác mà người ta thường cảm thấy trước một cơn bão, một cơn giông lớn đang hình thành.
Tháng Hai, một cơn mưa đá lớn bất ngờ ập xuống khắp một vùng rộng lớn ở Đạo Đại Hoàng. Nhiều lúa và hoa màu bị phá hoại, nhiều gia súc bị chết, nhiều nhà cửa bị đổ, thiệt hại không biết bao nhiêu kể xiết. Triều đình phải hạ lệnh mở kho phát chẩn lương thực cứu đói cho những gia đình bị thiệt hại lớn.
Đến tháng Sáu, lại thêm một trận hạn hán kéo dài trên một diện rộng ở Đạo Đại Hoàng. Suốt hai tháng liền nắng như thiêu như đốt, không có lấy một giọt mưa, làm cây cối, gia súc chết hàng loạt. Rất nhiều làng xóm rơi vào cảnh tiêu điều, nhiều người bỏ đi lang thang kiếm ăn biệt xứ, nạn cướp bóc xảy ra khắp nơi khiến quân đội của triều đình rất vất vả mới dẹp yên được.
Thiên tai, hạn hán hoành hành, nhiều người kêu ca, oán thán. Nhiều người bảo đó chính là tai họa mà người dân Đại Cồ Việt phải gánh chịu do những việc làm trái nhân tâm, đạo trời của họ Đinh gây nên.
Tuy nhiên mọi hoạt động của triều đình đến lúc đó vẫn diễn ra hết sức bình thường, không có cuộc đấu đá nào cả, không có cuộc tranh giành nào cả, khiến mọi người bắt đầu hoài nghi những ý kiến, những cảm giác của chính mình. Mọi người bắt đầu băn khoăn và dần dần nghĩ rằng có lẽ Nam Việt Vương Đinh Liễn đã chấp nhận để cho em trai cùng cha khác mẹ, mới bốn, năm tuổi của mình kế vị ngai báu.
Một năm kể từ khi Hoàng tử Đinh Hạng Lang được chính thức tấn phong làm Thái tử cũng thấm thoát qua đi.
Khi thấy Nam Việt Vương ngày ngày chỉ siêng năng lên chùa Am Tiên tụng kinh gõ mõ, tối về lại ăn chay niệm phật, còn Thái tử Hạng Lang cùng gia quyết vẫn hết sức tự do tự tại, an nhàn hưởng phú quý, thì bắt đầu để cho mọi việc rơi vào quên lãng.
Nhưng chính khi đó thì mọi việc xảy đến.
Còn khủng khiếp hơn cả điều mọi người đã tưởng tượng.
Hôm đó, chừng vào cuối giờ thìn ngày mùng Bảy tết, Thái Bình năm thứ mười. Vì trời mưa phùn nhỏ lại hết sức lạnh lẽo, nên chúng ta không ra ngoài. Ta và Lan Nhi ngồi bên lò sưởi giữa nhà, vừa uống trà, ăn bánh, nói chuyện phiếm, vừa trông chừng Toàn Nhi đang ngồi tập viết cạnh đó. Mùa thu vừa rồi Toàn Nhi lên sáu tuổi, đã cùng Tuệ Nhi bắt đầu theo thầy học viết chữ ở trong Cung. Toàn Nhi rất hào hứng với việc học hành, nên dù chưa hết Tết, thầy giáo cũng phải qua Rằm mới dạy lại mà đã bắt đầu luyện tập rất chăm chỉ.
Gian phòng lúc này được ánh lửa cùng với hương trà lan tỏa hết sức ấm cúng.
Khi ấy Lan Nhi vừa nâng ấm trà lên định rót cho ta một chén nữa thì trong chớp mắt, một đoàn chừng bốn, năm mươi cấm vệ quân của triều đình đã rầm rập kéo vào. Một tốp bao vây khắp phòng, một tốp khác trong nháy mắt đã tỏa đi khắp các phòng xung quanh tìm kiếm, lục soát.
Tiếng bước chân thình thịch, rầm rập. Tiếng giáo mác loảng xoảng. Tiếng vó ngựa gõ lộp cộp ngoài sân vọng vào khiến chúng ta hiểu rằng toàn bộ Cung Cồ Quốc cũng đều đã bị bao vây.
Hoảng loạn, ta đứng bật dậy. Tay buông rơi chiếc chén. Vỡ Tan! Lan Nhi giót hết cả trà vào bếp lò. Nước nóng gặp than hồng bốc hơi xèo xèo làm bụi bay mùi mịt. Toàn Nhi mặt cắt không còn giọt máu, vội vã chạy lại ôm chặt lấy chân ta. Trong khoảnh khoắc điên loạn ấy ta chỉ đến một từ: Chết. Chết thật ư? Mẹ con ta phải chết thật ư? Ngay giữa Cung Cồ Quốc này ư? Ai? Bằng cách nào, vin vào cớ gì mà có thể điều Cấm vệ quân đến bao vây xung quanh đây như thế này? Rồi tiếp theo sẽ như thế nào? Ôm chặt Toàn Nhi trong tay, trong đầu ta chỉ có một ý nghĩ: Giá có thể làm gì đó để cho đứa con bé bỏng này được sống thì ta cũng sẵn sàng đổi mạng của mình mà làm. Nhưng biết có thể làm gì đây. Đang nghĩ vậy thì thấy Đinh Cung Linh tướng quân vội vàng nhưng vẫn hết sức cung kính, nghiêm trang tiến vào. Liền hiểu là có vẻ như mình đã lo lắng thái quá. Bèn thở phào một cái! Chưa kịp cất lời hỏi thì Đinh tướng quân đã chắp tay thi lễ rồi bảo:
- Thái tử Hạng Lang vừa bị thích khách giết chết, nên bọn hạ thần đang phong tỏa toàn bộ các Cung để truy tìm hung thủ. Xin Cồ Quốc Hoàng hậu không cần quá lo lắng!
Mấy chứ "Thái tử Hạng Lang" "bị giết chết" giống như một tia sét nổ ra giữa trời quang. Chỉ trong một khoảnh khắc mà gieo biết bao nỗi kinh hoàng.
- Tướng quân bảo sao! Thái tử Hạng Lang ư!
- Vâng, cách đây chừng một canh giờ Thái tử và gia nhân đang chơi đùa, tập cưỡi ngựa ở trong vườn Cung Kiểu Quốc thì bị một thích khách áo đen, bịt kín mặt bắn tên giết chết. Thích khách đó đứng trên một cành cây cao ở bên ngoài tường thành bắn vào. Ngay sau đó thích khách đã nhảy xuống và biến mất. Hiện thời toàn bộ Cấm vệ quân đang phong tỏa khắp nơi để tìm tên thích khách này.
Vừa dứt lời thì nhóm Cấm vệ binh lúc nãy đã lục soát xong, trở ra báo cáo. Đều là không có dấu vết gì. Sau khi cắt cử một số nhóm vệ binh ở lại chốt chặn ở khắp nơi trong Cung Cồ Quốc, không quên nhắc nhở họ cần hết sức cẩn trọng không được làm người ở trong Cung khiếp sợ, Đinh tướng quân khấu đầu xin phép rồi vội vã rời đi, tiếp tục cuộc tìm kiếm.
Ta với lan Nhi ngồi lại bên bếp lửa, tìm cách giỗ dành Toàn Nhi cho bình tĩnh trở lại. Nhưng chính là người lớn lại bị cái tin ấy làm cho khiếp đảm, hoang mang hơn. Ai nấy cũng nín lặng như tờ, không dám nói với nhau câu nào. Thật may cho mẹ con ta khi xưa đã không tham gia vào cuộc đấu đá tranh quyền đoạt vị này. Bởi nếu khi xưa có tham vọng gì, biết đâu kết cục thảm khốc ngày nay hôm của Thái tử Hạng Lang chẳng đã rơi vào đầu Toàn Nhi?
Tuy vậy việc vui mừng bây giờ có khi còn quá sớm. Bởi chẳng biết rồi mai đây sẽ còn những chuyện gì xảy ra? Họ Đinh vốn tính nóng như lửa, không biết sẽ xử lí việc này ra sao? Kiểu Quốc Hoàng hậu rồi ra tính toán như thế nào? Kiếp nạn ngày hôm nay dù Toàn Nhi tránh được, nhưng bối cảnh hiện tại cũng không hề sáng sủa gì. Chỉ ước chi mẹ con ta có thể cao chạy xa bay khỏi Kinh thành đáng sợ này!
Ba ngày sau tang lễ của Thái tử Đinh Hạng Lang được cử hành trọng thể. Triều đình bạn bố Quốc tang trong ba ngày.
Nhưng ngay đến tận lúc ấy hung thủ vẫn chưa được tìm ra.
Tại tang lễ, Kiểu Quốc hoàng hậu khóc lóc hết sức bi thương, không ngừng rủa xả rằng chính là Nam Việt Vương Liễn đã giết Thái tử. Nhưng mọi người cũng cứ mặc kệ nàng. Tại nàng quá đau khổ mà nói thế nên chẳng ai trách nàng làm gì.
Trên thực tế thì không phải là những lời rủa xả của nàng không có lý. Bởi dù thế nào thì người được lời nhất trong việc này, không ai khác chính là Nam Việt Vương Đinh Liễn và những người ủng hộ chàng. Nhưng cái chính là khi sự việc diễn ra Nam Việt Vương lại đang ở trên chùa, có Khuông Việt Đại sư cùng nhiều Cấm vệ quân triều đình làm chứng điều đó. Trong khi thích khách thì đã như chim sa, cá lặn không một dấu vết, nên không thể nào biết được chân tướng sợ việc.
Những ngày sau đó Nam Việt Vương vẫn tiếp tục lên chùa ăn chay, tụng kinh niệm phật. Còn sai cả gia nhân, người nhà, vợ con cùng nhau chép kinh Phật để ấn tống, cúng dường khắp nơi. Nghe đâu chàng còn đang cho tìm các thợ đúc đồng giỏi nhất về cung để đúc các cột kinh cúng giàng cho các chùa.
Trong khi đó Kiểu Quốc Hoàng hậu vẫn chẳng thể nguôi ngoai, không ngừng khóc lóc ngày đêm bắt họ Đinh phải tiếp tục điều tra sự việc. Không ít lần nàng mặc kệ tôn ti, trật tự phép tắc của triều đình mà lao thẳng vào Ngự điện, nơi họ Đinh đang bàn chuyện đại sự cùng bá quan văn võ để kêu gào, đòi họ Đinh phải trừng trị Nam Việt Vương.
Ngay cả Phò mã đô úy Ngô Nhật Khánh cũng không giữ được bình tĩnh khi thấy mọi việc cứ thế dần đi vào quên lãng. Rất nhiều lần chàng làm loạn lên ngay giữa triều đình, đòi họ Đinh phải bắt Nam Việt Vương để làm rõ sự việc.
Một tháng trôi qua. Rồi hai, ba tháng. Rồi năm tháng. Mọi thứ vẫn dậm chân tại chỗ, không một manh mối được tìm ra. Ngô phò mã thấy vậy nổi sung lên, đòi giao cho mình quyền điều tra vụ việc. Đến khi họ Đinh bảo đó là nhiệm vụ của Đô hộ Phủ sĩ, mọi việc đã có Đô hộ Phủ sĩ lo liệu, thì Ngô phò mã đã nhảy dựng lên rằng chính là Nam Việt Vương đã giết Thái tử, chính là họ Đinh đã bao che cho Nam Việt Vương, chính là cha con nhà họ Đinh đã ức hiếp mẹ con chàng. Sau sự việc này họ Đinh quyết định cử Ngô phò mã đi Diễn Châu làm An phủ sứ để tránh những lộn xộn trong triều đình. Thế là tháng Tám, toàn bộ gia quyến Phủ Ngô phò mã lục tục chuyển vào Diễn Châu.
Kiểu Quốc hoàng hậu trong phút chốc lại trở thành thân cô thế cô giữa Hoa Lư. Trông nàng gầy xọm đi, tóc bạc trắng và như già đi vài tuổi.
Ngẫm nghĩ lại mới thấy cuộc đời con người đúng thật là phúc họa khôn lường, không nói trước được điều gì cả. Tưởng như đã ở đỉnh cao của danh vọng thì phút chốc lại rơi xuống tận đáy vực sâu. Tưởng như mình đã có thể nắm được mọi thứ trong tay, điều khiển được mọi việc theo ý mình thì rốt cuộc mình cũng chỉ là trò chơi của số phận, để cho con Tạo xoay vần mà thôi.
Vậy nên mới nói thấy phúc cũng không nên vội mừng mà thấy họa cũng chẳng nên quá oán hận. Tái ông thất mã, ai biết cái nào là lợi, hại sau cùng? Chi bằng cứ tự do tự tại thong dong mà tận hưởng cuộc đời thôi.
Cuối tháng Giêng, ta nghe được tin nhà, Nghĩa phụ đã lâm bệnh nặng qua đời. Đến giữa tháng Ba lại nghe tin báo Nghĩa mẫu vì quá thương nhớ Nghĩa phụ mà cũng đã theo người đi rồi. Tin đưa dồn dập khiến ta quá đau xót. Nhưng ở Kinh thành cái chết của Thái tử Hạng Lang đang phủ một bóng đen nặng nền lên khắp chốn, nên ta không dám xin với họ Đinh cho về quê để tang cha mẹ. Đành chỉ biết cùng Toàn Nhi và Lan Nhi tự mặc áo tang, quỳ giữa sân cung Cồ Quốc thắp hương, vái vọng về quê nhà.
Họ Đinh thời gian này chẳng còn quan tâm tới ta, hoặc giả như không biết tin Nghĩa phụ và Nghĩa mẫu qua ta qua đời nên cũng không đả động gì việc ấy. Thế là mọi việc rơi vào quên lãng, không ai còn nhắc nhỏm tới nữa.
Nếu biết trước rằng tất cả mọi chuyện rồi sẽ kết thúc như thế, nếu biết trước rằng rồi sẽ có ngày chúng ta mất đi một người đã từng có mối dây liên hệ gắn bó với chúng ta như thế, thì chúng ta sẽ làm như thế nào? Chúng ta sẽ cư xử ra sao? Liệu chúng ta có thay đổi điều gì không?
Có lẽ ai trong chúng ta, suốt cuộc đời dài đằng đẵng của mình cũng từng một lần đặt ra những câu hỏi như vậy. Chỉ tiếc rằng chúng ta không bao giờ có cơ hội quay trở lại, không bao giờ có thể trả lời câu hỏi ấy, càng không bao giờ có cơ hội để sửa chữa những sai lầm của mình.
Sau khi Thái tử Hạng Lang qua đời, mọi việc trong và ngoài triều đình dần trở lại nếp cũ. Duy chỉ có điều những người đã từng trải qua cơn sóng gió tranh quyền đoạt vị ấy đã không bao giờ còn có thể như xưa được nữa.
Phò mã Ngô Nhật khánh vì nóng lòng muốn báo thù cho em trai mà cuối cùng phải cùng gia quyến chuyển về vùng Diễn Châu hẻo lánh.
Kiểu Quốc hoàng hậu thì thì hết ăn chay, tụng kinh niệm Phật mong cho con mình siêu thoát lại chỉ còn biết khóc lóc và không ngừng oán trách họ Đinh nhu nhược, không tìm ra được thủ phạm hại con, đã thế còn nhẫn tâm đẩy con rể của mình đi xa.
Họ Đinh thì buồn phiền khổ tâm vì thương xót con, và không ngừng tự oán trách chính mình, vì đã quá yêu chiều mà đẩy con vào chỗ chết. Vì những lo lắng muộn phiền ấy mà trông như già đi cả chục tuổi.
Ta thì ngày ngày chỉ còn thiết vui vầy cùng Toàn Nhi, thư thoảng lại sang cùng Trinh Minh hoàng hậu uống trà, thong thả nói chuyện cho qua hết một ngày. Các dịp lễ lạp trong Cung ta đều hạn chế tham gia. Ta những ngày này chính là cố tình tránh xa thế sự vậy. Lòng không muốn bon chen gì nữa, định cứ thế mà sống cho hết một đời.
Vì thế mà kể từ đám tang của Thái tử Hạng Lang trở đi, số lần gặp họ Đinh cũng chỉ có thể đếm được trên đầu ngón tay, và cũng chỉ là đứng từ xa trông lại.
Nếu biết mọi chuyện rồi sẽ xảy ra như thế, có khi ta đã không ẩn mình, chí ít ta cũng tới gặp họ Đinh và nói một đôi lời động viên, an ủi cũng nên. Nhưng sự đời, có ai tính được tất cả mọi việc?
Đêm đó là một đêm đông tháng Mười. Gió Bấc thổi về rất dữ dội kèm theo những cơn mưa lớn.
Suốt cả đêm mưa quật ràn rạt trên mái nhà, gió thì rít lên từng hồi qua những khe cửa, vun vút lùa vào nhà. Dù lò sưởi than lúc nào cũng đỏ lửa giữa phòng, dù mấy lớp chăn đệm trên dưới chặt cứng tới mức không cựa quậy được, vậy mà ta vẫn cảm giác như thể mình đang nằm ở ngoài trời, lạnh tới thấu xương không sao ngủ được. Lên giường từ cuối giờ Thìn vậy mà đến khoảng giữa giờ Tý mới chợp mắt được một lúc. Rồi một lúc sau lại giật mình tỉnh dậy, chẳng rõ là giờ nào. Chỉ thấy bên ngoài trời vẫn tối đen như mực, mưa gió vẫn vần vụ không ngừng. Lan Nhi nằm bên cạnh vẫn thở đều đều, vậy mà ta không sao ngủ lại được. Đành nằm đó nghe mưa.
Giữa tiếng mưa gào gió rít, vẫn nghe thấy tiếng chim gọi vịt kêu vít vít từng hồi rất thê lương.
Phải rồi, con chim này hồi bé ta vẫn hay nghe thấy. Cứ khi bắt đầu mùa đông cho tới cuối mùa xuân, đầu hạ, cả những đêm mưa phùn giá lạnh cho tới những đêm gió Bấc tràn về, vẫn cứ thế mà cất tiếng "vít vít" không ngừng. Nó truyền từ cành này qua cành khác, có đôi lúc bay thật xa rồi lại trở lại, tiếng kêu vang lên đều đều, rời rạc không ngừng nghỉ trong đêm, hết sức não nề. Mỗi khi nghe nó hót, ta vẫn luôn băn khoăn một điều, tại sao lúc nào cũng chỉ thấy con chim ấy kêu một mình trong đêm lạnh vắng? Nó đang đi tìm bạn đời của nó hay đang kêu khóc vì đơn độc giữa cuộc đời? Việc gì khiến nó phải kêu thê lương đến vậy mỗi khi Đông đến, Xuân về? Mà kỳ lạ là giống chim này chỉ thấy xuất hiện trong đêm, nên chẳng thể xem xem chúng hình thù to nhỏ ra sao, lớn bé thế nào mà lại có thể dốc hết sức mình cất lên những tiếng tang thương như thế suốt đêm trường giá lạnh, từ ngày này qua tháng khác..
Cứ nghĩ vẩn vơ như vậy cho tới khi màn đêm bên ngoài đã bớt đặc quánh, mưa đã nhẹ hạt đi, thì ta lại thiếp đi được một chút. Nhưng dường như chỉ vừa kịp chợp mắt, thì liền giật mình tỉnh giấc vì tiếng ồn ào ở bên ngoài. Có tiếng đập cửa và tiếng người gọi ở nhà ngoài. Ai mà có thể vượt qua cả thị vệ gác ở cửa Cung để xông thẳng vào đây? Lại có vẻ đông như vậy? Có việc gì?
Ta ngồi dậy trên giường, vừa hay ở nhà ngoài thị nữ gác cửa đã tỉnh dậy, mở cửa ra hỏi:
- Ai vậy?
Liền đó nghe tiếng trả lời:
- Chính là Định quốc công Nguyễn Bặc và Ngoại giáp Đinh Điền có việc cần gặp Cồ Quốc hoàng hậu gấp. Mau vào đánh thức!
Người thị nữ líu ríu trả lời câu gì đó sau khi nghe danh xưng của các vị đại thần trong Triều đình, rồi vội vàng chạy vào cửa buồng nơi ta đang ngủ, vừa thở phì phò vừa bẩm báo:
- Bẩm Hoàng hậu có Định quốc công Nguyễn Bắc và Ngoại Giáp Đinh điền cùng nhiều quan gia xin yết kiến.
Ta lúc ấy đã ngồi dậy ở trên giường và nghe thấy cả, liền bảo nàng báo các đại thần đợi ta một lúc để mặc quần áo ấm rồi sẽ ra mà không khỏi ngạc nhiên. Tại sao các vị đại thần xưa nay vốn không bao giờ đến chốn hậu cung, lại đến Cung Cồ Quốc tìm ta như thế này? Lại vào giờ giấc trái khoáy như thế? Quả là một việc lạ lùng chưa từng thấy? Hay phải chăng ta đang mơ nhỉ?
Lan Nhi lúc ấy đã bị tiếng ồn đánh thức, cũng sửng sốt không kém, nhưng cũng chẳng kịp nói năng gì, cứ thế lồm cồm bò dậy rồi lấy quần áo ấm mặc lên cho ta. Xong xuôi chủ tớ vội vã đỡ nhau ra phía cửa.
Gió Bấc từ bên ngoài mang theo hơi mưa qua khung cửa mở rộng lùa vào lạnh thấu xương. Ngoài cửa đèn đuốc sáng rực chiếu rõ một đoàn người trùng trùng đang đứng chờ ở đó. Ánh đuốc làm cho đêm tối ở xung quanh lại trở nên đặc quánh, đầy đe dọa. Thấy ta xuất hiện mọi người nhất loạt thi lễ, rồi Định quốc công Nguyễn Bặc khấu đầu mà tâu:
- Bẩm Cồ Quốc hoàng hậu, Vạn Thắng Vương Hoàng Đế Đinh Bộ Lĩnh đã băng hà rồi. Vạn Thắng Vương Hoàng đế không để lại Chiếu thư gì cả. Vì vậy cần mau chóng tổ chức lễ Đăng quang để Vệ vương Đinh Toàn lên làm Hoàng Đế, tránh những loạn lạc có thể xảy ra liên quan tới việc tranh giành ngôi báu. Bởi vậy Hoàng hậu hãy mau chóng đánh thức Vệ vương dậy và đưa người tới Ngự điện.
Tai ta ù đi, không rõ vì mưa gió hay vì những gì ta vừa nghe được!
- Ngươi bảo sao? Hoàng thượng đã.. Ta quá kinh hoàng tới mức không dám nhắc lại lời của ngài Định Quốc Công. Sợ mình nghe nhầm?
- Vâng! Đinh Hoàng đế đã băng hà. Xin Hoàng hậu hãy mau chóng đánh thức Vệ vương dậy trước, sau đó trên đường đi thần sẽ kể rõ đầu đuôi sự việc cho người.
Ta lật đật tiến về hướng phòng Toàn Nhi, không rõ là nhờ Lan Nhi kéo hay đẩy đi nữa.
Có khi nào là ta mệt quá mà thiếp ngủ lại, và rơi vào giấc mơ này không? Sao giấc mơ lại có thể thật đến như vậy? Mà lại kinh hoàng đến vậy? Ta xiết chặt cánh tay Lan Nhi mà ta đang bíu vào, làm nàng khẽ "úi" lên một tiếng, đưa đôi mắt nhìn ta nửa phần oán trách nửa phần thấu hiểu. Ngay cả đến cánh tay của nàng cũng rất thật. Cả tiếng kêu của nàng nữa. Vậy sao có thể là mơ được? Rồi ta chợt nhớ một điều. Ta dừng khựng lại làm Lan Nhi thiếu chút nữa xô nhào về phía trước. Ta cứng nhắc quay người về phía Định Quốc công:
- Vậy.. vậy Nam Việt Vương đâu? Tại sao lại là.. Vệ Vương?
- Nam Việt Vương cũng đã qua đời rồi. Hiện tại Vệ Vương chính là người con lớn nhất của Đinh Tiên đế.
Một tiếng sấm nổ đùng bên tai! Hình như ta còn thấy cả ánh chớp sáng lòa lóe lên trong một tích tắc nữa. Ta run rẩy lẩy bẩy toàn thân. Phải dựa vào Lan Nhi mà đi. Đến giữa phòng Toàn Nhi, ta đứng như trời trồng ở đó, mặc kệ cho Lan Nhi đi đánh thức kẻ hầu người hạ, rồi cùng nhau đánh thức và mặc quần áo ấm cho Toàn Nhi.
Cơn ác mộng gì kinh hoàng vậy nhỉ? Cả họ Đinh và Nam Việt Vương cùng mất trong một đêm ư? Chuyện gì đã xảy ra? Có thể xảy ra chuyện gì khủng khiếp đến vậy? Ta ước gì đây đích thị là một cơn ác mộng và sẽ có ai đó đánh thức ta dậy ngay lúc này. Nhưng không có ai cả!
Sau khi đã mặc quần áo ấm, và quấn quanh mình Toàn Nhi một chiếc chăn bông nhỏ, Lan Nhi bế thốc Toàn Nhi dậy đặt vào tay ta. Hơi ấm và sức nặng của đứa con trai nhỏ bé làm ta tỉnh táo hơn một chút, ôm chặt nó vào lòng rồi vội vã đi ra cửa. Toàn Nhi hồi nãy còn khóc nhấm nhẳng, giờ được mẹ bế lại được cuốn trong chăn ấm, sau một lúc ú ớ lại rơi vào giấc ngủ.
Đoàn người thấy ta đi ra thì rẽ hết sang hai bên. Định Quốc công Nguyễn Bặc và Ngoại giáp Đinh điền cùng cấm vệ binh cầm ô che, dẫn ta tới một chiếc xe lớn. Sau khi đã đỡ hai mẹ con ta lên, hai người cũng vội vã trèo lên xe. Khi tất cả mọi người đã ổn định chỗ ngồi, xe chạy chầm chậm ra phía cổng Hậu cung, tiến về phía thành Đông.
Lúc này Định Quốc Công mới bảo:
- Có thần và Đinh Ngoại Giáp ở đây hộ giá, xin Cồ Quốc Hoàng hậu đừng lo sợ. Giờ xin người hãy hết sức bình tĩnh để hạ thần kể rõ đầu đuôi mọi việc cho người. Chừng canh Hai đêm qua Phó tướng Đinh Cung Linh cùng hạ bộ đi tuần tra qua Ngự điện như thường lệ. Thấy Ngự thư phòng vẫn còn mở cửa và sáng đèn một cách không bình thường, Đinh Phó tướng bèn tới gần để kiểm tra. Cấm vệ quân canh gác quanh Ngự điện báo cáo, tối hôm qua thấy Nam Việt Vương có được Hoàng Thượng cho vời đến, hai cha con có nói chuyện uống rượu với nhau tới tận khuya. Nghĩ là có thể do Hoàng Thượng và Nam Việt Vương uống rượu ngủ say quên đóng cửa, Đinh Phó tướng mới tiến vào phòng. Vừa khi đó thì thấy Chi hậu nội nhân Đỗ Thích đang đứng sững giữa phòng. Còn ở trên tràng kỷ Hoàng Thượng và Nam Việt Vương đều nằm vật ra trong tư thế hết sức lạ lùng. Thấy vậy Đinh Phó tướng cùng hạ bộ vội vàng xông vào, tiến về phía Hoàng Thượng và Nam Việt Vương để kiểm tra. Tên Đỗ Thích thấy vậy vội vàng lẻn đi. Đến khi Đinh Phó tướng phát hiện ra Hoàng Thượng và Nam Việt Vương đã chết thì hắn đã chạy mất. Bèn báo động cho toàn bộ Cấm vệ quân bao vây, phong tỏa Ngự thư phòng. Hiện giờ Đô hộ phủ sĩ sư Lưu Cơ, Tâm phúc Tướng quân Phạm Cự Lượng và Vệ úy Tướng quân Phạm Hạp đang lãnh đạo Vệ binh lục soát khắp nơi, chắc sẽ mau chóng tìm ra Đỗ Thích thôi, thưa Hoàng Hậu.
- Vậy Hoàng Thượng và Nam Việt Vương, hai người vì sao mà chết? Ta ôm chặt Toàn Nhi lúc này đang gục trên vai mình mà không ngăn nổi một cơn lạnh toát chạy khắp toàn thân.
- Theo như dự đoán ban đầu là do bị đầu độc. Trên người Hoàng Thượng và Nam Việt Vương không có vết thương gì cả. Hiện Ngự y đã được mời đến để khám nghiệm cũng như lo liệu chuẩn bị hậu sự. Chắc là chúng ta sẽ sớm biết chính xác thôi.
"Các ngài hãy dừng xe lại, hãy cho ta trở về cung Cồ Quốc ngay lập tức! Hãy cho ta xin một chiếc xe ngựa, ta muốn trở về Đông Lỗ quê ta ngay bây giờ! Xin các ngài hãy làm ơn mau lên! Hãy buông tha cho mẹ góa, con côi chúng ta!" Ta những muốn hét lên với hai vị đại thần đang ngồi bên cạnh mình như thế khi nghe thấy hai chữ "đầu độc". Nhưng ta không thể mở miệng. Tất cả những gì ta có thể làm là ngồi đó và run rẩy.
Nếu họ Đinh và Nam Việt Vương bị chém giết trọng thương mà chết thì sẽ bớt kinh hoàng hơn. Nhưng đầu độc thì quá đỗi nham hiểm. Đã dám đầu độc cả Hoàng đế và Nam Việt Vương thì còn có ai mà bọn chúng không dám đầu độc, còn có thủ đoạn nào mà kẻ thủ ác không dám sử dụng? Đến cả hai người võ nghệ cao cường, lại được bảo vệ cẩn mật như hai cha con họ Đinh mà cũng không tránh khỏi bị sát hại, lại theo cách tàn độc như vậy, thì ai còn có thể bảo vệ bản thân mình ở giữa đất Hoa Lư này?
Ta vội chớp mắt, mà vẫn không ngăn được giọt nước mắt lăn trên má, khiến làn da khô nẻ trở nên xót mặn. Ta gục đầu vào người Toàn Nhi, ước gì chiếc xe đang tiến thẳng về phía Trang Đông Lỗ chứ không phải là Ngự điện. Ước gì khi xe dừng lại, ta sẽ thấy dòng Cầu Chày, thấy cánh đồng xanh quê hương ở ngay trước mặt. Ước gì khi vén tấm rèm nặng nề này lên, sẽ là nghĩa phụ, nghĩa mẫu và gia nhân ra đón mà không phải những quan lại của Triều đình. Ước gì sau đó sẽ chỉ có mẹ con ta và Lan Nhi cùng nhau vui chơi, chạy nhảy trên cánh đồng, thả diều và hái hoa bắt bướm. Không có Hoàng vị. Không có ngai báu. Cũng không có cả nỗi sợ hãi đến tê liệt như thế này.
Nhưng khi mở mắt ra, trong ánh sáng nhờ nhờ phát ra từ chiếc đèn đặt ở gần cửa xe, vẫn là bóng của hai vị Đại thần đang ngồi đó. Lừng lững như hai khối đá đen nặng nề. Nặng nề như bóng tối đang đè nặng lên trái tim, tâm trí ta vậy.
Xe đi chầm chậm rồi dừng lại. Định quốc công Nguyễn Bặc vén tấm rèm lên. Ở bên ngoài sân Ngự điện, Cấm vệ quân với giáo mác đứng thành hàng. Mặc dù trời đã chuyển dần sang sáng, mà đèn đuốc vẫn thắp sáng bừng cả một góc trời.
Ta cùng hai vị đại thần nhanh chân bước vào Ngự điện, ở trong này các vị bá quan văn võ của triều đình đều đã có mặt đầy đủ, chỉ thiếu Trịnh Tú tướng quân, Tâm phúc Tướng quân Phạm Cự Lượng, cùng phó tướng Đinh Cung Linh, Vệ úy Phạm Hạp đang lo lãnh đạo Cấm vệ quân truy lùng Đỗ Thích. Thập đạo Tướng quân Lê Hoàn đang ở ngoài biên ải nên không về kịp.
Ở trong Điện mọi người đang túm lại thành các nhóm nhỏ để nói chuyện rì rầm với nhau. Khi thấy ta cùng Định quốc công và Đinh Ngoại giáp tiến vào, mọi người vội vàng im lặng, đứng lại thành hàng lối, nghiêm trang chỉnh tề.
Định quốc công chỉ cho ta Long ngai, bảo ta đặt Toàn Nhi lên đó rồi bảo:
- Xin Hoàng hậu hãy đánh thức Vệ vương dậy để chúng ta tiến hành nghi lễ. Để tránh cho Vệ vương hoảng sợ, thần đã sai Thị vệ chuẩn bị một chiếc ghế bình thường đặt ngay phía sau Long ngai, Hoàng hậu hãy ngồi đó để trấn an Vệ vương khi cần thiết.
Ta đặt Toàn Nhi ngồi lên Long ngai rồi cố gắng đánh thức nó dậy. Bị đánh thức lần nữa, đứa trẻ nhăn nhó dụi mắt rồi hậm hực trực khóc, nhưng khi thấy đèn đuốc sáng rực cùng với rất nhiều quan lại đang đứng ở trước mặt nó liền im bặt. Ta liền bảo:
- Toàn Nhi, con hãy nghe thân mẫu nói này, giờ con không được ngủ nữa, con hãy tỉnh dậy và ngồi ngoan ở đây một lát được không? Có thân mẫu ngồi ngay sau con đây, không phải sợ, nghe không?
Toàn Nhi vẫn chưa hết hoảng hốt, đưa mắt nhìn một loạt văn võ bá quan đang đứng ở dưới sảnh rồi gật đầu. Xong xuôi ta quay lại gật đầu ra hiệu cho Định quốc công, rồi nhanh chóng lui lại phía sau, ngồi vào chiếc ghế dựa ngay sau tấm rèm đã được chuẩn bị trước, không quên nói với ra với Toàn Nhi:
- Toàn Nhi, mẫu hậu ngồi ngay sau con đây nhé!
Liền sau đó Định quốc công Nguyễn Bặc cùng Ngoại giáp Đinh Điền chủ trì lễ đăng quang của Toàn Nhi. Theo đó vì họ Đinh không để lại Chiếu thư chỉ định người kế thừa, Nam Việt Vương Đinh Liên cũng đã qua đời, nên theo tục cha truyền, con nối, Vệ vương Đinh Toàn – là con trai lớn nhất của Đinh Tiên Đế khi đó sẽ kế vị ngai vàng. Sau khi kết thúc đọc Bố cáo, là nghi thức bề tôi dâng mũ miện, Hoàng bào.
Sau khi Toàn Nhi, dưới sự cổ vũ, động viên của ta, đứng lên đỡ lấy mũ miện và Hoàng bào từ tay Định quốc công Nguyễn Bặc, văn võ bá quan tả hữu hai bên nhất loạt quỳ xuống rồi đồng thanh hô vang:
- Hoàng thượng vạn thuế! Vạn vạn tuế!
Toàn Nhi lúc ấy đang đứng trước Long Ngai, nghe thấy các quan đồng thanh hô như sấm thì giật mình đánh thột, đảo mắt vội nhìn ra xung quanh, ngẩn người ra một lúc rồi vội vàng quỳ xuống đất, hai tay vẫn đỡ lấy Hoàng bào và Ngọc miện, giọng thất thanh:
- Phụ Hoàng vạn tuế! Phụ Hoàng vạn tuế!
Ta vội vã bước ra từ sau tấm rèm mỏng, đỡ Toàn Nhi đứng dậy rồi bế đặt ngồi lại trên ghế mà không cầm nổi nước mắt. Chao ơi! Hình ảnh cái tấm lưng nhỏ bé ấy quỳ lom khom ở dưới đất! Chao ơi đứa con bé bỏng của ta thậm chí còn không nhận biết được điều gì đang diễn ra, thế mà giờ phải gánh vác trên vai trọng trách như thế này. Rồi sau biết sẽ ra sao đây?
Sau khi lễ đăng quang diễn ra, các vị đại thần tiếp tục bàn bạc về việc sẽ giao Định quốc Công Nguyễn Bặc, Ngoại Giáp Đinh Điền cùng Khuông Việt Đại sư soạn thảo một bố cáo thiên hạ gửi đi ngay trong ngày về việc Đinh Tiên Đế và Nam Việt Vương đã qua đời, Vệ Vương Đinh Toàn đã lên nối ngôi, thay vua cha trị vì đất nước. Tiếp đó lại bàn bạc việc chuẩn bị tổ chức tang lễ cho họ Đinh trong vòng bảy ngày, cả nước sẽ để quốc tang trong ba tháng.
Các vị đại thần cứ việc bàn bạc, rồi chiếu theo lệ chung mà đề nghị. Ta với Toàn Nhi, chính là con làm Hoàng Đế, mẹ buông rèm nhiếp chính, cứ theo đề xuất đã thống nhất của các đại thần mà chuẩn y.
Xong xuôi lại cho gọi từng Ban bệ của triều đình đến ra chỉ dụ, trao thẻ bài, phân công công việc chuẩn bị cho tang lễ. Ban bệ nào chuẩn bị tổ chưc chung, Ban bệ nào chuẩn bị trang phục, chuẩn bị tiếp đón các đoàn khách, quan lại từ các nơi về phúng viếng.. đều được nêu rõ ràng, cụ thể và ghi chép cẩn thận vào biên bản.
Giữa buổi chiều Ngự y xin vào gặp để báo cáo về kết quả của việc khám nghiệm tử thi. Thì quả đúng không sai, họ Đinh và con trai chính là vì bị đầu độc mà chết. Loại độc dược này có độc tính cực mạnh, có lẽ là đã được bỏ vào đồ ăn hoặc đồ uống của cha con họ Đinh tối hôm đó.
Ngự y vừa rời đi thì Tâm phúc Tướng quân Phạm Cự Lượng cùng các tướng lĩnh khác lại vào báo cáo về việc vẫn chưa tìm thấy dấu vết của Đỗ Thích. Hiện tại dù đã cho phong tỏa, bao vây khắp nơi trong thành, nhưng vẫn chưa thấy tung tích tên này ở đâu. Trong các ngày tới sẽ tiếp tục bao vây, lục soát, kiểm tra khắp các ngõ ngách, đồng thời sẽ cho người trèo lên kiểm tra tất cả các mái nhà một lượt. Vì như được biết, Đỗ Thích không phải là một người võ nghệ cao cường nên chắc chắn là vẫn ẩn nấp đâu đó trong Kinh thành, chưa thể trốn ra ngoài được.
Sau khi những công việc cấp bách liên quan tới việc truy tìm Đỗ Thích, tổ chức tang lễ cho hai cha con họ Đinh đã được giải quyết xong xuôi, lại đến các công việc hàng ngày của cả nước về thuế má, mùa vụ, đê điều, sông nước. Những việc gấp gáp được bẩm báo trực tiếp và được bàn bạc, giải quyết luôn; còn những việc chưa gấp gáp thì các quan đều trình tấu chương để ta và một số vị đại thần sẽ xem xét và giải quyết dần.
Suốt cả buổi, Toàn Nhi lúc thì ngủ gà ngủ gật, lúc thì mè nheo đòi được ra ngoài chơi. Phải khó khăn lắm ta mới thuyết phục được Toàn Nhi ngồi lại ở Ngự điện để giải quyết cho xong việc.
Thực ra khi họ Đinh còn sống, công việc thiết triều hàng ngày chỉ diễn ra vào buổi sáng. Buổi chiều chủ yếu là phê chuẩn tấu chương và bàn bạc đại sự cùng với các đại thần thân tín. Nhưng riêng hôm nay vì phải giải quyết quá nhiều việc gáp gáp mới thành ra như vậy.
Rồi cuối cùng cũng hết một ngày. Ta trở về Cung Cồ quốc trong trạng thái như đi trên mây, đầu óc căng như dây đàn sau một ngày quá nhiều biến động. Có cảm tưởng như tất cả những việc ta đã trải qua trong suốt hai mấy năm cuộc đời mình cộng lại cũng chẳng thể bằng những việc ta đã nghe, đã thấy, đã làm trong vòng một ngày này. Là một ngày mà dài như cả một kiếp người.
Đến lúc Lan Nhi đỡ ta ngồi vào bồn gỗ trong phòng tắm, nước ấm làm giãn các gân cốt, các thớ thịt trong người thì ta bắt đầu buồn ngủ rũ cả mắt. Vừa tắm vừa ngủ gục mấy bận. Lan Nhi vội vàng giúp ta kì cọ, lau khô người rồi mặc áo ngủ xong xuôi, lại đỡ ta lên giường đi ngủ. Tưởng là sẽ ngủ ngay được. Vậy mà khi vừa nằm xuống thì tất cả những sự kiện xảy ra trong ngày lại như chiếc đèn kéo quân diễu hành qua đầu ta. Ta bừng tỉnh như người vừa ra khỏi cơn mộng, vội vã tung chăn bật dậy, đi thẳng sang phòng Toàn Nhi. Lan Nhi nhìn thấy ta băng qua giường nàng thì cũng vùng dậy, không kịp hỏi gì, chỉ kịp cầm lấy chiếc áo choàng rồi vừa mặc, vừa vội vã chạy theo ta.
Tiếng cánh cửa bị ta đột ngột mở tung ra làm cho hai thị vệ đứng canh hai bên cửa giật nảy mình. Ta cũng đứng sững lại khi nhìn thấy hai người đứng ở đó. Xưa nay vốn không có thị về canh cửa như thế này. Thấy lạ, bèn hỏi thì họ bảo là do Định quốc công Nguyễn Bặc cử đến. Do hiện tại vẫn chưa bắt được Đỗ Thích nên các Cung, nhất Cung Cồ Quốc và chỗ ở của Hoàng Thượng đều được canh gác rất cẩn mật.
Ta gật đầu rồi đi sang phòng Toàn Nhi, quả thấy dọc hành lang và ngay ở cửa phòng đều có Cấm vệ quân canh gác nên đã yên tâm phần nào.
Vào phòng thấy Toàn Nhi đã ngủ, bọn hầu gái thì đang vừa dọn dẹp lại các đồ chơi của Toàn Nhi vừa bỏ thêm than vào bếp lò. Mấy người thấy ta vào vội vàng đứng dậy thi lễ. Ta không nói gì, cứ thế tiến thẳng lại bên giường Toàn Nhi. Một cách không chủ định, ta đưa tay sờ vào mặt Toàn Nhi thấy con vẫn đều đều thở, ta mới thở phào nhẹ nhõm, định quay người trở ra. Rồi một ý ỹ vụt qua trong đầu ta, ta quy lại, cúi xuống bế thốc Toàn Nhi lên vai rồi quay lại bảo với đám người hầu:
- Toàn Nhi sẽ ngủ với ta. Các người cũng mau chóng dọn dẹp rồi ngủ sớm đi.
Sau đó bế Toàn Nhi trở lại phòng mình. Rồi đêm hôm đó Toàn Nhi nằm giữa, ta một bên và Lan Nhi một bên, ba người cứ thế mà ngủ.
Ta biết ta chẳng có võ nghệ cao cường, chẳng có tài cán gì. Ta biết là đến như họ Đinh và Nam Việt Vương còn bị đầu độc mà chết thì vòng tay của ta chắc chắn là không thể bảo vệ được con trai của ta nếu như có ai đó định hại nó. Nhưng khi để nó ở bên cạnh mình ta thấy yên tâm hơn rất nhiều. Ta muốn tự mình trông chừng nó, muốn được ôm nó, được ở bên cạnh nó dù có chuyện dù xảy ra.
Những ngày sau đó ngày nào cũng một lô công việc triều đình phải giải quyết. Mệt mỏi không biết bao mà kể xiết. Toàn Nhi thì không biết thực sự mình đang làm gì cả, chỉ thấy buổi sáng phải ngồi ở Ngự điện, buổi chiều ngồi ở ngự thư phòng, lại liên tục phải tiếp xúc với các vị quan lại râu ria xồm xoàm của triều đình thì hết sức khó chịu, không ngừng quấy khóc. Khi thiết triều thì không nói làm gì, nhưng khi ngồi ở Ngự thư phòng, đều phải cho gọi một số hầu nhỏ ở Cung sang bày trò vui chơi cùng mới chịu.
Có một lần chợt nhớ ra, bèn hỏi ta:
- Mẫu hậu, Phụ hoàng đâu tại sao người lại không làm việc ở Ngự điện?
Ta sững sờ trong giây lát, loay hoay một lúc vẫn chưa biết nói sao thì tốt cho con mình. Một hồi đành bảo:
- Phụ hoàng bị ốm nặng lắm, chính vì vậy giờ đây mẹ con ta phải thay Phụ hoàng cai quản công việc đất nước đó.
Ta nghĩ bụng cứ nói vậy rồi đến lúc đám tang diễn ra sẽ bảo với Toàn Nhi là Phụ hoàng đã qua đời thì sẽ đỡ bất ngờ hơn. Không ngờ Toàn Nhi lại bảo:
- Phụ hoàng ốm làm sao, con muốn đi thăm người?
- Phụ Hoàng đang.. ở bên Cung Kiểu Quốc, mà mẹ con ta ở đây còn rất nhiều việc. Hãy làm việc chăm chỉ đã rồi đây ta sẽ đưa con sang thăm Phụ hoàng có được không?
Toàn Nhi phụng phịu tỏ vẻ không hài lòng nhưng mặt khác vẫn ngoan ngoãn gật đầu. Kể ra mà nói suốt thời gian qua hai cha con rất ít gặp nhau nên mới dễ dàng thuyết phục như vậy, chứ nếu vẫn còn gắn bó như trước kia thì Toàn Nhi hẳn không dễ gì mà để yên như vậy.
Buổi sáng ngày thứ ba sau khi họ Đinh mất, thì Đỗ Thích bị bắt. Tin loan ra làm rúng động tất cả các quần thần văn võ bá quan lúc ấy đang bàn việc nước ở Ngự điện cũng như những người đang tham gia chuẩn bị cho tang lễ.
Theo như kể lại thì hắn trốn ở máng nước trên mái nhà, đã ba ngày liền không có nước uống nên khát quá, vì vậy khi thấy trời mưa đã thò tay ra hứng nước mà uống. Không ngờ khi đó một cung nữ ở trong Cung đi hứng nước mưa về pha trà đã phát hiện ra và gọi thị vệ tới.
Các quan Định quốc công Nguyễn Bặc, Ngoại giáp Đinh Điền, Vệ úy Phạm Hạp lập tức tập trung tại nơi giam giữ để tra khảo Đỗ Thích. Hắn kể lại rằng vốn trước đó hắn nằm mơi thấy có một ngôi sao từ trên trời rớt vào miệng, nên nghĩ rằng vận làm Đế Vương đã tới, vì vậy nhất thời hồ đồ mà âm mưu hạ sát hai cha con họ Đinh như vậy. Hắn bảo rằng chính là hôm đó hắn bỏ thuốc độc vào đồ ăn của hai cha con họ Đinh. Khi bị tra khảo có ai đồng mưu, giúp sức không, là hắn mơ thật hay thực hiện theo chủ ý của ai, thì hắn chỉ một mực khăng khăng kể lại giấc mơ ấy và nói tự mình làm. Sao hắn nghĩ rằng giết xong hai cha con họ Đinh hắn có thể lên làm vua? Còn Vệ Vương và Thân Vương thì hắn tính sao? Hắn trả lời nhất thời cũng chưa tính tới những điều đó. Chỉ là vì quá hồ đồ sau giấc mơ mà sinh ra manh động nên chưa có thời giờ mà tính toán thiệt hơn. Ai cũng thấy những điều hắn nói hết sức hoang đường và vô lý, nhưng tra khảo, nhục hình các kiểu, lúc lại dỗ ngon dỗ ngọt trong ba ngày liền cũng không thể khai thác được thông tin gì hơn, hắn chỉ nhất mực kể đi kể lại cái điệp khúc hết sức vô lý ấy, Ngoại giáp Đinh Điền và Định quốc công Nguyễn Bặc không giữ nổi bình tĩnh đã quyết định chặt đầu Đỗ Thích, rồi cho phanh thây thành trăm mảnh. Đến lúc hành quyết, ngay trước khi đao phủ vung đao xuống thì hắn chắp tay lại mà thốt lên:
- Chủ nhân! Vậy là hạ thần đã báo đáp được ân tình của chủ nhân rồi!
Mọi người ai nấy sững sờ vì câu nói ấy. Nhưng lúc đó thì đã quá muộn rồi. Đầu hắn đã lìa khỏi cổ!
Lại nói về đám tang của họ Đinh, ba ngày sau khi chuẩn bị chính thức phát tang.
Mỗi ngày vào các buổi sáng sớm, vợ con, Hoàng tộc cùng các văn võ bá quan, quần thần trong triều đều đến làm lễ dâng hương buổi sáng, cúng cơm cho hai cha con họ Đinh. Xong xuôi thì chỗ ai người nấy về việc ai người nấy giải quyết. Đan Gia Hoàng hậu, Trinh Minh, Kiểu Quốc, Ca Ông, các nàng cùng con cái đều phải thay nhau túc trực bên lĩnh cữu họ Đinh để trông nom, lo liệu việc tang, tiếp đãi, đáp lễ các quan lại ở khắp các nơi về phúng viếng. Ta vì phải cùng Toàn Nhi nhiếp chính mà không phải làm việc này.
Vào buổi sáng sớm của ngày thứ năm, trong lúc cả Triều đình đang làm lễ cúng cơm buổi sáng thì một đoàn người mặc toàn đồ trắng, không quan phục không mũ miện cứ thế tiến thẳng vào sân Đàn. Cả sân Đàn xôn xao không hiểu người từ phương nào tới mà lại có thể cứ thế ung dung vượt qua cổng thành. Đến khi dừng lại thì mọi người nhận ra chính là Liên Hoa Công chúa và gia nhân thân tín đã cùng nhau rời Động đi chu du thiên hạ khi xưa.
Theo nàng và gia nhân trở về lần này còn có một công tử hết sức khôi ngô, tuấn tú, dáng người dong dỏng, mũi cao thẳng tắp, mày đen môi đỏ, mắt nhìn tinh anh sáng láng. Tuy đối với người xung quanh không thèm nhìn đến một lần, mặt mũi lúc nào cũng lạnh băng, nhưng với Liên Hoa công chúa lại hết sức trìu mến, dịu dàng.
Vậy là trong những năm hành tẩu giang hồ, chu du thiên hạ, nàng đã tìm được người bạn đồng hành này? Sống cuộc đời nay đây mai đó theo đúng sở nguyện, làm bạn cùng gió trăng, lại có ý trung nhân chia sẻ sớm tối, vậy còn gì bằng?
Nhớ khi nào ta và nàng còn gặp nhau nói một câu chuyện không đầu không cuối tại Động Hoa Lư, vậy mà đã gần mười năm thấm thoát trôi qua rồi.
Chỉ tiếc rằng giờ nàng trở về thì cha và anh đều đã qua đời. Mười năm, như một cái chớp mắt, vậy mà biển xanh cũng đã biến thành nương dâu rồi. Đau lòng lắm thay!
Tang lễ của họ Đinh Tiên Đế được tổ chức kéo dài bảy ngày. Nhằm ngày Hai mươi nhăm thì Đinh Tiến Đế được an táng trên núi Mã Yên.
Nơi này khi còn sống, chính là họ Đinh đã lựa chọn làm nơi xây thành quách lăng tẩm chuẩn bị cho việc hậu sự của mình. Ngẫm nghĩ lại cũng thấy thật kỳ lạ, sau khi Thái tử Hạng Lang qua đời, không hề lo lắng tới việc để lại chiếu thư, phong lập Thái tử mới, mà lại chỉ lo chọn nơi yên nghỉ lúc nằm xuống của mình. Nếu bảo không nghĩ tới việc mình sẽ chết nên không quan tâm tới việc lập chiếu thư danh chính ngôn thuận phong ai đó làm Thái tử, thì tại sao lại nghĩ đến chuyện mồ mả, lăng tẩm? Mà nghĩ đến việc mồ mả lăng tẩm, tức là cũng có ý chuẩn bị việc hậu sư cho mình, vậy tai sao cái việc trọng đại của đất nước lại không lưu tâm một chút?
Rồi ngay cả việc chọn nơi xây lăng tẩm ấy cũng chẳng giống ai, chẳng chọn nơi bằng phẳng trù phú, lại chọn một hẻm núi cheo leo trên đỉnh Mã Yên, vừa cao vòi vọi, vừa hiểm trở. Họ Đinh chọn chỗ ấy cũng chỉ bởi cả đời đã gắn trên lưng ngựa, khi chết cũng vẫn muốn được nằm trên "lưng ngựa". Từ đây nhìn xuống lại có thể bao quát hết cả quang cảnh dưới dòng Sào Khê và khung cảnh tráng lệ của kinh thành hoa lư. Có lẽ chọn cũng vì muốn rằng chết rồi vẫn có thể trong nom, lo lắng cho con dân Đại Cồ Việt, cho giang sơn xã tắc chăng?
Ôi chao, một kiếp người, một cuộc đời. Lúc nào cũng chăn trở cho muôn dân bá tánh, cả cuộc đời hào hùng trên lưng ngựa, tính toán từng thế cờ, từng trận đánh để gây dựng cơ đồ, vậy mà đến cuối cùng vẫn không thể tính toán nổi số mệnh của mình. Oai phong, lẫm liệt là thế, mà ngày nay cũng không thể tránh khỏi một kết cục bi thương. Nghĩ đến không ai là không thương cảm, đau lòng!
Cúng lễ Tuần Chung và Tốt Khốc cho họ Đinh xong xuôi, Liên Hoa công chúa lại cùng bạn đồng hành và người hầu thân thiết rời Hoa Lư, tiếp tục đi ngao du sơn thủy, sống cuộc đời mây nước gió trăng.
Suốt những ngày tổ chức tang lễ, không như các Hoàng Hậu và các tỉ muội khác của mình gào thét bi thảm không ngừng, nàng không hề khóc lóc kêu than một lời, cứ lẳng lặng mà chăm chút cẩn thận mọi việc, mà làm tròn nghĩa vụ với người đã khuất. Xong xuôi mọi việc thì rời đi. Đến thế nào, đi thế ấy, không đau thương, không vướng bận. Chu toàn đối với người đã khuất nhưng lòng cũng hết sức tĩnh tại, phẳng lặng. Có lẽ trong suốt mười năm lưu lạc bốn phương, được mất, hơn thua, sinh tử ở đời nàng đều đã ngộ được. Nên mới có thể bình thảm đến vậy.
Hai cha con họ đinh đi rồi. Tiếp theo đến nàng rời đi. Những người còn ở lại Hoa Lư bỗng thấy lòng trống trải, bởi có lẽ đây chính là lần cuối cùng ta và những người ở Hoa Lư này còn được thấy nàng.
Vì là năm đầu tiên sau khi họ Đinh qua đời, nên người trong Cung ăn Tết rất đơn sơ. Đêm giao thừa chỉ chuẩn bị lễ lạt để cúng bái tổ tiên, trời đất và Tiên Đế vừa băng Hà. Sáng mùng Một tết người trong Hoàng tộc cùng các quan lại tập trung tại Ngự điện để chúc thọ ấu Chúa, xong xuôi lại đến Đàn Tế Thiên để tế trời đất, mong cho năm mới thuận hòa. Xong xuôi lại ai về cung, phủ người đấy, tự túc ăn tết, chứ cũng không tổ chức yến tiệc linh đình trong Cung.
Chính là vào sáng mùng Một tết mà ta gặp lại con người ấy – Lê Hoàn.
Trong đám tang hai cha con họ Đinh, ta có biết tin người ấy đã từ biên ải mang theo các tướng sĩ tâm phúc trở về tới viếng họ Đinh, sau đó thì túc trực bên linh cữu Nam Việt Vương. Nhưng ta và Toàn Nhi khi thì cùng các vị đại thần lo việc nước, khi lại lo liệu việc tang của họ Đinh nên cũng không gặp mặt. Ta cũng không có thời gian và tâm trí đâu để mà suy nghĩ về việc đó.
Những năm họ Đinh còn sống, Lê Hoàn đều vào chúc Tết sớm để những ngày đầu năm mới ở lại doanh trại với binh lính. Lý do đưa ra là năm hết tết đến, việc binh càng không thể lơ là, cần năng đi tuần tra để binh lính không mải rượu chè mà bỏ bê việc canh gác, luyện tập. Họ Đinh thấy thế cho là hết lòng vì việc nước, ban cho bạc vàng, quà bánh rồi cho lui. Bao năm nay như thế đã thành lệ.
Năm nay bỗng dưng lại vào chúc Tết vào ngày đầu năm mới, rồi ở lại cùng quần thần văn võ làm lễ Tế thiên. Khi chúc tết ở Ngự điện, ta ngồi buông rèm, Lê Hoàn không nhìn thấy mặt ta. Nhưng ta thì có thể thấy rõ mặt người.
Đến khi Hoàng thân quốc thích, văn võ bá quan tất cả tề tựu ở sân Đàn Tế Thiên, thì chính là đôi bên cùng thấy mặt.
Như mọi năm thì cũng không có gì chắc chắn là sẽ gặp mặt. Vì tuy cùng tề tựu ở sân Đàn, nhưng Hoàng thân quốc thích đều đứng hết về sân tả, còn quan lại văn võ đứng ở sân hữu. Nhưng năm nay vì Toàn Nhi còn nhỏ, ta phải đi theo hộ giá, phải xuất hiện trước mặt quần thần. Vì thế mà thấy mặt.
Ta với người chính là đi lướt qua nhau mà không dám nhìn thẳng. Nhưng vẫn có thể nhìn thấy những dấu vết của thời gian đã in hằn trên khuôn mặt.
Người khi đó đã ba mươi mấy tuổi. Bao năm lăn lộn xa trường cùng cha con họ Đinh gây dựng cơ đồ, bao năm miệt mài trên lưng ngựa, trên thao rường rèn binh luyện tướng. Cả những năm tháng rong ruổi ngoài biên ải.. Đã không còn nữa khuôn mặt thư sinh, tươi trẻ. Đã không còn nữa vẻ hiền hòa, dịu dàng khi xưa. Thay vào đó là nước da xạm nắng, dạn dày, đôi lông mày lúc nào cũng chau lại trên vầng trán suy tư. Hai khóe miệng không hàm chưa những nụ cười ấm áp, mà mím chặt lại nghiêm nghị. Đôi mắt lấp lánh vui vẻ khi xưa giờ vẫn sáng bừng trên khuôn mặt, chỉ có điều những ánh nhìn ân cần đã thay bằng những tia nhìn lạnh lùng, thản nhiên như nước, khiến người đối diện không đoán định được điều gì.
Hơn chục năm trước, khi ta mới về đất Hoa Lư này, ta đã từng khắc khoải mãi về việc rồi ta và con người ấy sẽ đối diện với nhau như thế nào? Thì đây chúng ta đã đến ngày đối diện với nhau.
Không còn dằn vặt đau đớn nữa. Tựa như người quen cũ mà cũng tựa như người xa lạ. Những chuyện khi xưa vẫn còn đó nhưng đã chôn chặt ở nơi nào sâu thẳm trong lòng. Giờ chỉ còn lại đây hai con người già cỗi, chơ chọi, đi lướt qua nhau.
Nếu đối diện nhau ở một nơi nào đó chỉ có hai ta, có thể còn bình thản mà hỏi thăm sức khỏe nhau không biết chừng.
Nhưng cũng không biết được. Có thể chỉ là riêng ta cảm nhận như thế. Ta là kẻ đã bội bạc, kẻ đã phản bội lời thề. Ta bao giờ chẳng dễ tha thứ cho mình hơn, dễ lãng quên mọi thứ hơn? Còn Lê Hoàn – con người ấy bấy lâu nay nghĩ gì ta có khi nào biết được?
Qua rằm tháng riêng, lúc ta và Toàn Nhi đang ở Ngự thư phòng để phê duyệt nốt tấu chương, ta đang ngồi ở trên bàn giấy có Lan Nhi bên cạnh hầu trà, còn Toàn Nhi đang cùng hai hầu gái ngồi chơi ở bàn trà bên cạnh, thì có người vào bẩm báo, Công chúa Phất Kim cùng hai thị nữ thân tín vừa từ vùng Hoan Châu trở về xin vào gặp gấp.
Ta lệnh cho cận vệ đưa nàng vào mà không dấu nổi băn khoăn. Công chúa Phất Kim trở về chắc để chịu tang cha và anh. Nàng ở tận vùng Hoan Châu nên việc nghe tin, cùng gia quyến trở về muộn như thế là điều không tránh khỏi. Nhưng tại sao nàng lại muốn gặp Hoàng Thượng, muốn gặp ta ngay? Tại sao chỉ có nàng và hai thị nữ trở về mà không có Phò mã Ngô Nhật Khánh đi cùng? Không phải là nàng gặp ta để oán trách, chửi bới điều gì liên quan tới cái chết của cha và anh đấy chứ?
Chưa dứt ra khỏi được suy nghĩ miên man thì nàng và hai thị nữ bước vào. Trang phục tuy trông nghiêm trang, chỉnh tề, nhưng cả tớ và chủ đều không dấu nổi vẻ bơ phờ, mệt mỏi. Phất Kim công chúa nhìn gầy xọm, tiều tụy, một bên mặt còn dán hai miếng băng chéo nhau trông rất đáng sợ. Thiếu chút nữa là ta không thể nhận ra nàng nếu không phải nhờ đôi mắt to tròn không lẫn vào đâu được của nàng – dù đôi mắt ấy giờ đây không thể dấu nổi sự sợ hãi, khiếp đảm lẫn đau buồn.
Nàng cùng hai thị nữ đồng thanh cất tiếng rồi phủ phục xuống đất.
Ta vội vàng đỡ nàng dậy rồi bảo:
- Công chúa, nàng không cần đa lễ như vậy!
Chưa kịp nói gì thêm thì khuôn mặt vốn đã kì dị của nàng phút chốc co rúm lại, nước mắt nàng trào ra như thác lũ, rồi ràng nức nở:
- Thái Hậu, mau cùng các vị đại thần chuẩn bị binh lực để đối phó với giặc Chiêm! Ngô Phò mã.. Ngô Phò mã đã bỏ sang đất Chiêm để xúi giục vua Chiêm Thành đánh Đại Việt rồi!
Nói tới đó nàng liền khóc òa lên, người mềm như một sợi bún rồi lả đi trong cánh tay ta. May có Lan Nhi và hai nàng thị nữ kịp chạy lại cùng ta đỡ nàng lên, nếu không cả hai đã theo nhau ngã sóng soài trên sàn nhà rồi.
Toàn nhi đang cùng hai hầu gái ngồi chơi ở bên bàn trà, nhìn cảnh tưởng ấy lại trông thấy hình dung rất đáng sợ của Phất Kim công chúa bèn khóc toáng lên. Ta quát bảo người hầu đưa vào buồng rồi cùng các nàng đỡ Phất Kim lại đặt trên tràng kỷ.
Trong khi Lan Nhi tất tả chạy đi sai thị vệ mời Ngự y, để cho Thiều Liên ngồi bên chăm sóc Phất Kim, ta ngoắc tay Thiều Hoa, là một người hầu thân cận của công chúa từ tấm bé lại rồi bảo:
- Thực hư như thế nào hãy mau nói cho ta biết?
Thiều Hoa vội vã quỳ xuống đất rồi nói:
- Bẩm Thái hậu..
- Ngươi hãy đứng lên và nói đi, không cần đa lễ!
Nghe vậy nàng lại vội vã đứng dậy, lặng lẽ rút chiếc khăn lụa trong tay áo ra, lau nhanh hai hàng nước mắt đã đầm đìa trên mặt, rồi bảo:
- Những gì Công chúa nói đều là sự thật thưa Thái hậu. Sau khi nghe tin Đinh Tiên Đế băng hà, Phất Kim công chúa đã rất đau lòng, khóc lên khóc xuống mấy ngày liền. Người đã bảo Ngô phò mã chuẩn bị ngựa xe để cả gia quyến cùng trở về Hoa Lư chịu tang Tiên Đế. Ngô phò mã đồng ý, bèn thu xếp nhà cửa, chuẩn bị tiền bạc, đồ đạc, vật dụng cần thiết rồi mấy ngày sau cả đoàn bảy, tám xe ngựa xuất phát, ngày đi đêm nghỉ. Phất Kim công chúa dọc đường đi không ngừng khóc lóc vì thương xót vua cha và anh trai qua đời mà không kịp nhìn thấy nhau lần cuối; bọn chúng thần thì phải ở bên chăm sóc, an ủi, cộng thêm không hề nghĩ rằng lại có chuyện tày trời như vậy xảy ra nên không hề để ý đường đi, lối lại. Mãi đến khi đoàn người đã đi được gần nửa tháng, áng chừng đã phải về đến Kinh thành, lẽ ra phải thấy nhà cửa san sát, thì lại chỉ thấy đường đi ngày càng hiểm trở, rừng hoang núi thẳm điệp trùng. Để ý thì thấy người dân ít hỏi gặp trên đường nói được cả tiếng Việt và một ngôn ngữ lạ, chính là tiếng của người Chiêm La, mới giật mình hỏi ra thì thấy mình đã đến sát biên giới nước Chiêm tự bao giờ.
- Tại sao chúng ta lại đi về hướng Chiêm Thành? Tướng công có bị nhầm lẫn gì hay không? Phất Kim công chúa đã hỏi Ngô phò mã như vậy.
Ngô phò mã nghe nói cười ha hả rồi bảo:
- Ta không nhầm lẫn gì cả! Ta chưa bao giờ thờ họ Đinh thì sao phải về Hoa Lư chịu tang họ Đinh? Ta đang định cứ để nàng sang đến Chiêm Thành rồi nói cho nàng biết, nhưng nàng đã biết rồi thì ta nói luôn cho nàng hay: Đinh Bộ Lĩnh và Đinh Liễn cùng nhau qua đời đúng là cơ hội ngàn năm có một, ta đang định sang xin người Chiêm Thành cấp viện binh để tiêu diệt triều đình Hoa Lưa đó nàng biết không? Rồi đây ta sẽ làm vua của nước Đại Việt, còn nàng sẽ làm mẫu nghi của thiên hạ, ở trên muôn người, nàng hiểu không?
- Sao chàng có thể làm như thế? Cha thiếp đâu có làm gì sai! Xưa nay cha thiếp lúc nào cũng yêu chiều chàng hết mực, sao chàng lại đang tâm cõng rắn cắn gà nhà?
Ngô phò mã nghe nói vậy nổi đóa lên, rút kiếm ra khỏi vỏ, chĩa về phía Phất Kim công chúa rồi bảo:
- Còn sao ư? Bởi vì ta chưa bao giờ quên mối thù với Đinh Bộ Lĩnh Cả! Chính là hắn đã cậy quyền cậy thế ức hiếp mẹ góa con côi. Nếu không phải vì cha con nhà hắn, em trai ta sao phải chết oan uổng? Nếu không phải vì hắn ta đã làm Đế vương của nước Việt này rồi. Ta chỉ hận không thể tự tay đâm cho hắn thịt nát xương tan ra mà thôi!
- Tướng công! Người như vậy là sai rồi! Dù cho là cha thiếp không tốt, nhưng chỉ vì thế mà đưa người Chiêm Thành về gây cảnh binh đao máu lửa cho dân đen, con đỏ, chàng nỡ lòng nào!
- Đó không phải là việc của ngươi! Không cần lắm lời nữa! Ngô Phò mã quát lên và kề sát lưỡi kiếm vào cổ Phất Kim công chúa: Niệm tình vợ chồng má ấp tay kề bao năm qua ta cho ngươi một cơ hội, hoặc đi với ta sang đất Chiêm, rồi sau này hưởng vinh hoa phú quý, hoặc chết! Chọn đi!
Phất Kim công chúa quỳ xuống, khóc lóc rồi năn nỉ một hồi. Nhưng chẳng những không làm cho Ngô phò mã thay tâm đổi ý, mà chỉ làm cho hắn điên loạn hơn. Hắn gầm lên như sấm vang lên giữa núi rừng, bảo:
- Thôi nhà ngươi hãy câm mồm đi! Giờ thì nhà ngươi không còn lựa chọn nào khác nữa! Ta sẽ cho nhà ngươi nhanh chóng về đoàn tụ với cha, anh mình!
Nói rồi vung gươm lên định chém. Nhưng may thay vào giây phút cuối cùng, có lẽ tình nghĩa vợ chồng hàng chục năm trời đã lay động lòng hắn, hắn không chém mà chĩa thẳng kiếm vào mặt Phất Kim công chúa, vạch hai đường lên má rồi đuổi Công chúa và bọn hạ thần đi. Rồi đoàn người lại tiếp tục nhằm hướng Chiêm Thành thẳng tiến.
Bọn chúng thần đã phải mất mấy ngày mới tìm được phủ quan ở vùng gần đó để lo chạy chữa cho Phất Kim Công chúa. Vì mất máu và lang thang đói khát nhiều ngày liền mà người đã bất tỉnh mấy ngày liền. Đến khi tỉnh dậy vội vàng xin ngựa xe để về báo cho triều đình. Phất Kim Công chúa phần vì đau lòng vì cái chết của cha anh, phần đắng cay ê chề vì người chồng bội bạc, phần vì thương xót hai người con nhỏ đã bị Ngô Phò mã dẫn theo sang đất Chiêm Thành, lại thêm vết thương không được chăm sóc chu đáo, nên cứ ốm sốt mãi dọc đường đi. Vì vậy xe không thể về nhanh hơn được. Tính đến nay, khi Phất Kim Công chúa và bọn chúng thần về đến đây, thì Ngô Phò mã cũng đã sang đất Chiêm được vài ngày rồi. Vậy nên Thái hậu và các vị đại thần hãy mau chóng bàn cách ứng phó đi là vừa.
Nghe Thiều Hoa nói xong xuôi câu chuyện, mà ta đã lạnh toát cả toàn thân. Chỉ còn biết đứng như hóa đá ở giữa phòng.
Họ Đinh và Nam Việt Vương vừa mất được ba tháng, ta với Toàn Nhi mẹ góa con côi phải chật vật lắm mới cáng đáng được mọi việc ở Hoa Lư, nay lại đến cái họa này ập đến. Mà đâu phải là thiên tai, là cướp bóc thông thường. Mà là địch họa! Là đầu rơi, máu chảy, mất nước trong gang tấc. Ta vốn không biết gì về thao lược binh quyền, con ta thì chưa đầy bảy tuổi. Biết tính toán sao đây?
Mới nghĩ được như thế, giữa ngày tháng giêng giá lạnh, mà mồ hôi đã toát ra ướt đầm toàn thân.
Vừa khi ấy Lan Nhi cùng Ngự y tất tả chạy tới.
Trong khi Ngự y đang bắt mạch, châm cứu cho Phất Kim công chúa, ta quay ra bảo Lan Nhi:
- Mau chóng báo với Lý Công Công cho thị vệ đi triệu tập gấp tất cả văn võ bá quan trong chiều đến Ngự điện gặp ta. Tất cả, không trừ một ai!
Lan Nhi chạy đi thì Ngự y lại bảo:
- Bẩm Thái hậu, Phất Kim Công chúa chính là quá lo lắng đau buồn, lại thêm đi đường dài liên tục trong tâm trạng bồn chồn, thiếu ăn thiếu ngủ mà sinh ra kiệt quệ vậy. Thêm vào đó vết thương ở trên má, do không được chăm sóc cẩn thận nên đã bị lở loét rất nặng. Thời gian tới cần cho Công chúa nghỉ ngơi, bồi bổ cơ thể. Thần cũng sẽ cắt thêm thuốc lá để Công chúa đắp trị vết thương.
- Được, cần cho uống thuốc gì, đắp thuốc gì, bồi bổ ra sao, ngươi hãy kê đơn chi tiết và cho người mang thuốc sang Cung Đan Gia chu đáo, ta sẽ sai thị vệ đưa Phất Kim Công chúa về bên đó để tiện chăm sóc. Giờ người lui về nghỉ ngơi đi.
Ta tiến lại phía Phất Kim lúc này đã được Ngự y châm cứu cho tỉnh lại, đứng bên nàng bảo:
- Việc quốc gia đại sự giờ đã có ta và các vị đại thần lo liệu Công chúa không cần phải lo lắng nữa. Hãy về Cung Đan Gia nghỉ ngơi, tẩm bổ cho khỏe đi. Hãy nghĩ tới sức khỏe của mình một chút. Và nghĩ tới Đan Gia Hoàng Hậu nữa, thời gian gần đây người cũng đã thương nhớ, lo lắng cho nàng nhiều rồi. Tiên Đế thì vừa băng hà, Hoàng hậu rất cần người làm chỗ dựa.
Phất Kim vẫn bơ phờ như người mất hồn, không nói năng gì cả, chỉ khẽ gật đầu rồi nước mắt lại lăn dài trên má.
Ta gọi bốn thị vệ khỏe mạnh lấy kiệu tay đến đưa Phất Kim về Cung Đan Gia tử tế.
Xong xuôi thì phục trang lại chỉnh tề rồi ra ngự điện chờ các quan đại thần.
Lo lắng bồn chồn trong bụng làm ta đứng ngồi không yên. Cứ đi đi lại lại giữa sảnh. Lan nhi chỉ còn biết đứng nhìn ta mà lắc đầu. Cuộc đời nàng thị nữ này cũng vì ta mà trải qua bao thăng trầm, biến cố, nhưng lần này đâu phải là việc đơn giản. Nên nàng ta cũng chẳng biết khuyên bảo điều gì.
Một hai canh giờ sau thì các quan theo thứ tự gần xa lần lượt tề tựu về Ngự Điện. Vị nào cũng mồ hôi lấm tấm vì đi vội vàng. Thi lễ xong lại đứng ở một bên chờ.
Ngoại giáp Đinh Điền, Đô hộ Phủ sĩ sư Lưu Cơ, Vệ úy Phạm Hạp, Khuông Việt Đại sư, Tâm phúc Tướng quân Phạm Cự Lượng, Phó tướng Đinh Cung Linh.. và các vị văn võ bá quan khác đều đến đủ cả. Chỉ thiếu có Thập đạo Tướng quân Lê Hoàn, vì từ doanh trại bên Tràng An sang nên không thể nhanh chóng như các vị khác ở Hoa Lư được. Ta biết vậy nên bảo tiếp tục chờ.
Thấy việc triệu tập hết sức đột xuất, lại chỉ có ta ở Ngự điện mà không có Toàn Nhi, các vị đại thần ai nấy đều tỏ vẻ ngạc nhiên, nhưng trông thấy vẻ lo lắng, bồn chồn của ta ai cũng lấy làm ái ngại, không ai tiện hỏi, chỉ túm tụm với nhau thì thầm to nhỏ, lắc đầu, vò tai bứt tóc.
Ta cũng chẳng thèm quan tâm, cứ mặc kệ mọi người như vậy. Nước đã ngập đến cổ rồi, cần giữ phép tắc mà làm gì? Sự có mặt danh chính ngôn thuận của một đứa trẻ lên bảy vào lúc này phỏng có ích chi?
Cuối cùng Thập đạo Tướng quân Lê Hoàn cũng tới. Lê Hoàn đi vào Ngự điện như một cơn gió. Áo choàng đỏ bay vun vút theo nhịp bước chân gấp gáp, khuôn mặt không giấu nổi sự ngỡ ngàng kín đáo khi đích thân ta triệu hồi chàng vào Ngự điện đột ngột như vậy.
Nhưng ta cũng chẳng tâm trí đâu để ý tới việc đó. Chỉ quay lại bảo các vị đại thần:
- Đã đông đủ văn võ bá quan rồi, chúng ta bắt đầu thôi.
Dứt lời các quan đại thần nhanh chóng xếp theo thứ tự văn võ, cao thấp chỉnh tề, rồi nhất loạt quỳ xuống thi lễ:
- Hoàng Thái hậu thiên tuế!
- Các khanh không cần đa lễ. Ta nuốt nước bọt rồi thu hết sức bình sinh từ từ kể lại vắn tắt chuyện của Phất Kim Công chúa cho họ nghe. Cố gắng để không ai nhận thấy mình đang lo sợ đến khô cả họng, vậy mà vẫn suýt hụt hơi mấy lần.
Quả đúng như dự đoán, vừa nghe xong tin ấy, cả triều đình ai nấy đều choáng váng. Không phải vì họ hoảng sợ. Đất nước chính là được dựng nên từ cơn can qua và họ chính là lớn lên bên nhau cùng họ Đinh mà lập cơ đồ trên lưng ngựa. Nếu bất quá mà lại phải ngồi trên lưng ngựa một lần nữa, suy cho cùng cũng không có gì đáng ngại. Cái làm cho họ choáng váng chính là cái tin Phò mã Ngô Nhật Khánh cõng rắn cắn gà nhà.
Bao năm nay để thu phục con ngựa bất kham này, họ đinh đã đủ cách yêu chiều. Sau khi Thái tử Hạng Lang qua đời, vì có thái độ xúc phạm đến cha con họ Đinh, và để giữ kỷ cương, luân thường, họ Đinh đã để Ngô Phò mã cùng gia quyến chuyển về vùng Hoan Châu. Nhưng họ Đinh vì quá thương yêu hai người, nên hàng tháng vẫn cho chuyển vào đó bao bạc vàng, gấm lụa, của ngon, vật lạ. Bởi vậy mới có tiếng đưa về Kinh thành rằng, gia quyến Ngô Phò mã sống vương giả có khi còn hơn của Hoàng Đế ở Hoa Lư. Nhưng họ Đinh đâu có so đo gì. Miễn thấy Ngô Phò mã cùng gia quyến vui vẻ là được. Thế mà nay Tiên Đến vừa băng hà, Ngô Phò mã đã lập tức lật lọng, lại đặt cả muôn dân Đại Cồ Việt vào thế ngàn cân treo sợi tóc như thế này.
Rồi nghĩ lại thương cho thân phận Công chúa Phất Kim, cha mất, anh mất, chồng lại bội bạc, còn thân thì mang trọng bệnh. Không ai không khỏi chạnh lòng, xót xa.
- Cũng chính là tại lão thần khi xưa đã tư vấn cho Tiên Đế việc để Công chúa Phất Kim thành thân với Ngô Nhật Khánh nên giờ mới ra nông nỗi này. Quả là nuôi ong tay áo! Xin Thái hậu cứ giáng tội! Khuông Việt Đại sư rẫu rĩ quỳ xuống giữa Điện bảo.
- Khi xưa Đại sư cũng là có ý tốt mà hiến kế ấy cho Tiên Đế. Biết người biết mặt làm sao biết được lòng bụng nông sâu. Chính Tiên Đế vốn là người sáng suốt như vậy mà cũng không thể nhìn thấu tâm ý phản trắc của hắn, thì Đại sư tự trách mình mà làm gì. Chi bằng hãy cũng nhau nghĩ cách đối phó với họa ngoại sâm đang cận kề có phải tốt hơn không!
Các quan đại thần cùng xúm lại bảo "phải đấy, phải đấy".
Ta đưa mắt nhìn một loạt các vị đại thần. Cố gắng để ý xem phản ứng của Thập đạo Tướng quân Lê Hoàn ra sao. Nhưng nhìn người vẫn không hề nhúc nhích, khuôn mặt không để lộ một tia cảm xúc, không khỏi cảm thấy băn khoăn. Nhưng chưa kịp nói gì thêm thì Tâm phúc Tướng quân Phạm Cự Lượng đã bước lên phía trước mà bảo:
- Thưa Thái hậu, quân Chiêm thành mà nói về lực lượng so với quân Đại Cồ Việt, cũng chỉ như một Sứ quân thuở trước, nên bất quá việc chiến tranh xảy ra cũng phải không là vấn đề đáng lo ngại. Nhưng việc tối quan trọng bây giờ thần nghĩ cần phải nhanh chóng chặn đường, tiêu diệt trước khi quân địch vào đến lãnh thổ của Đại Cồ Việt để tránh việc can qua gây bất ổn cho cuộc sống của muôn dân, trăm họ. Về việc bài binh bố trận, thần có thiển ý như thế này xin Thái hậu cùng các vị đại thần xem xét: Trước hết cần nhanh chóng lập hai đội quân tiền trạm hỏa tốc đi ngay, một tiến về vùng cửa bể, một tiến về vùng đất liền để nghe ngóng tình hình. Ngay khi có tin tức về hướng tiến công của quân địch sẽ cấp báo cho quân tiếp viện. Về phía quân tiếp viện chiến đấu, mười Đạo quân của Thập đạo Tướng quân Lê Hoàn hãy lấy hai Đạo quân tiến về vùng cửa bể, hai Đạo tiến về vùng biên giới phía nam, và hai Đạo quân bố trí dọc các tuyến đường huyết mạch xung quanh Hoa Lư để bảo vệ Kinh thành. Các hướng tiến công cần giữ liên lạc chặt chẽ để kịp thời ứng cứu cho nhau. Các Đạo quân còn lại luôn trong tư thế sẵn sàng chiến đấu. Đồng thời ba nghìn cận vệ của Triều đình cũng sẽ được huy động toàn bộ, sẵn sàng bảo vệ kinh thành.
Nghe Phạm Tướng quân nói vậy ai cũng cho là phải, bèn cùng nhau tiếp tục bàn bạc xem ngày giờ xuất phát, hướng tiến quân cụ thể như thế nào, ai lãnh đạo các mũi tiến công..
Các đại thần bàn bạc xong ta cứ theo đó mà chuẩn y. Xong xuôi ai việc nấy chia nhau ra để thực hiện.
Các quan đại thần đi rồi, còn mình ta đứng ở Ngự điện, đã thấy lòng bớt hoang mang đi nhiều. Tuy chẳng hiểu gì về việc binh đao, trận mạc, nhưng như vậy cũng là đã có phương án giải quyết rồi.
Xâm xẩm tối, ta đang ngồi giải quyết nốt đống tấu chương còn lại trong ngày, Lan Nhi đang đứng bên cạnh hầu trà, còn người hầu và thị vệ đã đưa Toàn Nhi về Cung Cồ Quốc để chuẩn bị tắm rửa, thay đồ sớm, thì thị vệ vào bẩm báo, có Tâm phúc Tướng quân Phạm Cự Lượng xin vào gặp gấp.
Vừa cùng nhau bàn bạc đại sự ở Ngự điện hồi chiều, giờ lại xin gặp gấp, phải chăng Phạm Tướng quân đã nghe ngóng được việc gì? Vừa lệnh cho Phạm Tướng quân vào mà lòng không khỏi băn khoăn nghĩ ngợi.
Sau khi thi lễ cung kính, Phạm Tướng quân không đợi tao hỏi, bèn trình bày luôn:
- Thần có thiển ý này muốn bẩm lên Thái hậu, nhưng vì không tiện nói trước mặt các văn võ bá quan, nên phải liều mình xin gặp riêng Thái hậu như thế này. Việc bài binh bố trận như ban chiều các đại thần đã thống nhất thần không có ý kiến gì nữa. Chỉ có điều xưa nay mỗi khi có họa xâm lăng, thì đều là Hoàng Thượng, Vương gia phải trực tiếp ra trận để bảo vệ đất nước, giang sơn của mình. Nay Tiểu Hoàng Thượng còn nhỏ, khó có thể gánh vác được việc này, mà anh em, chú bác tâm phúc đứng ra thay mình gánh vác lại không có, thiết nghĩ như vậy khó thu phục được lòng thiên hạ, khó an ổn lòng binh sỹ ra trận. Vậy nên thần mới thiển nghĩ, nên chăng Thái hậu hãy phong Lê Thập đạo Tướng quân làm Phó Vương để thay Hoàng tộc gia trận. Có Vương gia sát cánh bên mình, thì binh sỹ mới có thể yên lòng mà chiến đấu vì đại sự được.
Phạm Tướng quân nói đến đó, rồi im lặng nhìn ta nghe ngóng. Ta trong phút chốc quá đỗi bất ngờ vì cái ý tưởng đó, không thốt nên lời. Thấy ta im lặng, Phạm Tướng quân lại tiếp:
- Trong thời bình mà nói, binh sỹ vẫn là trên bảo dưới nghe. Nhưng lúc ra trận liệu có còn được như thế chăng? Không có Hoàng Thượng, Vương gia lăn xả đi đầu, ghi công luận tội họ, liệu họ có thể hết mình mà chiến đấu? Lê Thập đạo Tướng quân tuy không phải là người nội tộc, nhưng đều là có mối thâm tình tâm giao xưa kia. Như thần đây, vì đội ơn họ Dương và Võ đường Dương Xá mà hết lòng lo lắng cho Thái hậu và Tiểu Hoàng Thượng. Vậy thì một người khảng khái, nghĩa hiệp như Lê Tướng quân, lẽ nào không đáng tin cậy hay sao?
Phạm Tướng quân nói xong lại tiếp tục cúi đầu chờ đợi. Ta vẫn ngồi ngây ra đó không nói gì. Lan Nhi thấy vậy cúi xuống rót trà, cố ý để áo nàng quệt vào mặt ta làm ta trở về với thực tại. Ta nuốt vội cục nước bọt, rồi bảo:
- Phạm Khanh gia nói hết sức có lý, nhưng việc phong Vương là một việc hết sức hệ trọng, ta cần phải hỏi ý kiến các vị đại thần đã.
- Nếu cần hỏi ý kiến các vị đại thần, vậy thần đâu cần phải gặp riêng Thái hậu? Xin Thái hậu hãy hiểu cho hai điều này: Thứ nhất các vị đại thần chính là những người đã cả một đời cùng Tiên Đế dọc ngang xây dựng cơ đồ, hết lòng phò tá họ Đinh lập quốc, họ dễ gì đồng ý để một người ngoại tộc được phong Vương. Thứ hai: Cũng chính vì một đời phò tá họ Đinh, nên Thái hậu cũng cần hiểu rằng, họ chẳng qua là trung thành với họ Đinh mà tôn Tiểu Hoàng Thượng lên ngôi cao. Là họ trung thành với dòng máu họ Đinh đang chảy trong huyết quản của Tiểu Hoàng Thượng chứ họ có thực sự trung thành với Thái hậu và Hoàng Thượng? Thái hậu và Hoàng thượng, hai người đang ở ngôi cao tót vời, nhưng cũng chính là thân cô, thế cô giữa Hoa Lư này thôi.
Phạm Cự Lượng nói đến đó nghe chừng đã hết ý, bèn im lặng đứng sang một bên. Một hồi thấy ta tiếp tục im lặng, mà có vẻ như cũng không chờ đợi câu trả lời của ta, bèn xin phép cao lui rồi trở về phủ thất.
Lan Nhi tiễn chân Phạm Tướng quân rồi đi gọi kiệu để ta trở về bên Cung Cồ Quốc.
Còn lại một mình ta trong bóng tối tịch mịch đang dần buông xuống.
Sao cuộc đời lại bỗng dưng đặt ta vào hoàn cảnh như thế này?
Lê chân lên kiệu trở về Cung Cồ Quốc bỗng thấy người mệt mỏi rã rời.
Tự buông mình vào trạng thái lơ mơ, không buồn suy nghĩ gì thêm nữa, mà vẫn thấy lòng não nề khôn tả.
Trở về Cung Cồ Quốc thấy Toàn Nhi đã được tắm rửa sạch sẽ, đang chuẩn bị ăn cơm để đi ngủ, Cấm vệ quân vẫn canh gác cẩn mật xung quanh mới yên tâm về phòng.
Mặc cho Lan Nhi và thị nữ trong Cung chuẩn bị nước hầu tắm, kì cọ rồi mặc quần áo, xong xuôi lại xếp cơm tối ra ăn, mà ta cũng chẳng thèm để ý. Cơm thì không thèm động đũa.
Lan Nhi thấy vậy bèn bảo hết người hầu kẻ hạ ra ngoài rồi nói:
- Nếu Thập đạo tướng không phải là Lê Hoàn, mà là một huynh đệ nào đó khác ở Dương Xá thì Thái hậu có tận dụng mối quan hệ này không? Sao người không đơn giản là gạt mối quan hệ tư tình qua một bên để suy nghĩ cho đại cục? Suy cho cùng Phạm Tướng quân nói rất đúng. Đó cũng là những điều mà bản thân em suy nghĩ, trăn trở bấy lâu nay. Người và Hoàng Thượng không thể đứng ở ngôi cao chín tầng mà không có ai ở bên mình được. Ngày nay thì chưa xảy ra chuyện gì mọi người đều quy thuận, nhưng rồi mai sau ai biết ra sao?
Nói xong rồi nàng ngồi đó nhìn ta. Ta không đáp lại, vẫn cứ ngồi bên bàn ăn, không thèm cầm tới đũa bát.
Ta hiểu ý của nàng, nhưng đơn giản như thế thì ta suy nghĩ làm gì? Cuộc đời đâu phải cứ nói gạt chuyện xưa sang một bên là có thể gạt được. Những chuyện đã xảy ra, những ân oán của con người, dù có chôn sâu, vùi chặt, thì nó cũng đâu phải là tảng đá, hay khúc gỗ nằm dọc đường mình đi, nói gạt ra là có thể gạt được, mà nếu mình không gạt nổi thì có thể sai người hầu kẻ hạ nhấc qua một bên cho mình?
Ôi nếu cuộc đời của ta và con người ấy, cứ thế mà chạy theo hai đường thẳng xa nhau mãi mãi, rồi mai sau ta nguyện làm kiếp trâu ngựa trả nợ ân tình cho chàng, trả món nợ thề bồi non nước khi xưa chúng ta đã hứa thì ta cũng cam lòng. Nhưng bây giờ thì sao? Hơn mười năm qua chúng ta không hề gặp gỡ. Chúng ta, hoặc ít nhất cũng là ta, đã phải kiếm đủ cớ để không phải nhìn thấy nhau ở Hoa Lư này. Nhất là từ khi tiếng đồn vang khắp Kinh thành rằng Hoàng hậu cung Cồ Quốc chính là được sủng ái nhất trong năm Hoàng hậu. Đến khi Toàn Nhi ra đời thì ta càng hạn chế giao tiếp, chẳng mấy khi tham gia các yến tiệc lễ lạp của Hoàng cung. Có những lúc ta lo cho con mình, lo cho cuộc sống của hai mẹ con tới mức đã quên cả sự tồn tai của chàng, quên mất rằng mình đã từng có một thời thanh xuân thơ mộng như thế, quên mất rằng chúng ta đã từng có những ngày tháng bên nhau, từng thề thốt sẽ mãi mãi không rời. Thế mà rồi bây giờ thì sao? Chồng vừa qua đời chưa được bao lâu lại muốn dựa dẫm vào thế lực của chàng để tăng vây cánh cho mẹ con mình. Ta không phải là trơ chẽn quá hay sao?
Nhưng nếu không dựa dẫm vào chàng thì ta biết làm sao đây? Giặc Chiêm thì đang lâm le ngoài bờ cõi mà ta với Toàn Nhi mẹ góa con thơ, không thể làm gì được. Anh em họ mạc thân thiết cũng không có để tham gia trận tiền. Ai chắc rằng tất cả sẽ vì hai mẹ con ta mà chiến đấu? Ai sẽ sống mái ở nơi xa trường trong khi hai mẹ con ta bất lực ngồi nhà? Rồi ra tính về lâu về dài cũng vậy, nếu ai đó có âm mưu, lòng bụng gì, liệu chúng ta có thể trông cậy vào ai?
"Thân cô thế cô giữa Hoa Lư này"! Phạm Tướng quân thật biết đánh vào điểm yếu ấy mà làm lung lạc ý chí người ta!
Bao năm qua giữa những biến động sóng gió Hoa Lư, kể từ khi không còn được họ Đinh đoái hoài tới, kể từ khi Ngọc Nhi qua đời một cách bí ẩn, cho tới khi Hoàng tử Hạng Lang được chọn làm người kế vị, rồi ngay cả khi họ Đinh qua đời, không phải chính là cái cảm giác đó xấm chiếm lòng ta, làm ta bao phen kinh sợ hay sao? Không phải ta bao lần muốn trốn khỏi nơi này vì quá cô đơn và sợ hãi hay sao?
Bây giờ ngồi trên ngôi cao này như là đã ngồi trên lưng cọp thì làm sao có thể dễ dàng xuống được? Không phải là cần lắm những người thân tín ở bên, để có thể tin tưởng và trợ giúp mình hay sao?
Chao ơi, hãy xem lại ta kìa! Ta lại có thể nghĩ tới chuyện đó một cách thản nhiên như vậy! Lại có thể nghĩ tới việc kéo con người ấy về phía mình. Sao ta có thể trơ chẽn đến vậy! Rồi người sẽ nghĩ thế nào? Liệu con người ấy có chấp nhận việc này không? Có vì việc này mà khinh thường ta, khinh thường kẻ bội bạc năm xưa, giờ lại có thể dựa dẫm vào sức mạnh của người để bảo vệ chính bản thân và đứa con của mình? Rồi đây chúng ta đối diện với nhau như thế nào? Nợ nần xưa chưa trả, ân oán xưa chưa một lần sáng tỏ. Vậy mà giờ lại như thế này. Chúng ta liệu còn có thể đủ tự tin mà nhìn vào mắt nhau một ngày nào đó không? Có đủ không? Có được không?
Ta cứ suy nghĩ như thế, cứ nâng lên đặt xuống, lăn qua lăn lại giữa giường. Rốt cuộc vẫn không thể quyết định được. Rồi lại nghĩ, không biết quân tiền trạm đã đi tới đâu, không biết quân Chiêm Thành đã có động tĩnh gì rồi, không biết cảnh can qua giặc giã chúng ta sẽ đối phó như thế nào? Chuyện nọ lại tới chuyện kia, chuyện này chồng tiếp lên chuyện khác. Thế mà hết một đêm trắng không hề chợp mắt.
Sáng, Lan Nhi tỉnh dậy, nhìn mặt ta đã đoán được sự tình. Nhưng nàng cũng không hỏi han gì cả, cứ thế mà chuẩn bị nước rửa mặt, chải đầu, rồi lấy quần áo ấm giúp ta mặc vào người.
Sáng nay trời trở lạnh hơn. Mưa phùn lại kéo về lê thê. Không gian hết sức não nề, thê lương.
Nhà bên báo Toàn Nhi đã chuẩn bị quần áo chỉnh tề, đang đợi ta gọi sang dùng bữa sáng để hai mẹ con sang Ngự Điện chuẩn bị cho buổi chầu sáng.
Ta cho truyền sang, hai mẹ con cùng ngồi vào mâm cơm, nhưng cũng chẳng buồn ăn gì cả. Chỉ bảo Lan Nhi múc cho bát nước canh hạt sen hầm chân giò nóng, uống một hơi rồi lại lặng im ngồi đó.
Thấy thái độ ta như vậy, Lan Nhi và người hầu kẻ hạ chỉ ai nấy đều im bặt, không dám nói nửa lời. Toàn Nhi thấy không khí nặng nề như thế, hết nhìn ta lại nhìn Lan Nhi, nhưng cũng không thấy có động tĩnh gì, đâm ra sợ sệt, không dám mè nheo gì, cứ thế nhai vội cho hết bát cơm.
Ăn xong hai mẹ con, Lan nhi cùng hai hầu gái lại lục tục khăn áo để sang Ngự điện.
Chính vào lúc Lan Nhi khoác áo choàng lên vai ta, ta bèn bảo nàng:
- Thôi không cần mặc áo choàng nữa, em đi lấy giấy mực ra đây cho ta.
Sau đó gọi Toàn Nhi vào phòng, bảo soạn một Thánh chỉ phong Lê Thập đạo Tướng quân làm Phó Vương, trực tiếp thay mặt Hoàng thượng cai quản việc điều binh khiển tướng chống lại quân Chiêm Thành. Việc cắt đặt lực lượng chống Chiêm Thành theo đó giao hết cho Phó Vương cai quản. Việc thưởng phạt như thế nào cũng đều giao cho Phó Vương trên trận tiền tự mình quyết định cho phân minh.
Viết xong bèn sai Lan Nhi mang sang Ngự điện giao cho Lý Công Công. Lại báo với Lý Công Công thông tin cho các đại thần biết, Hoàng Thượng bị ốm trong mấy ngày tới sẽ không thiết triều được. Những việc gì cần gấp thì sai Lý Công Công tới bẩm báo, còn công việc quốc gia hàng ngày thì chuyển Tấu chương về Cung Cồ quốc để giải quyết. Khi nào Hoàng Thượng khỏi ốm sẽ thông tin tới cho các quan đại thần sau.
Sau khi Lan Nhi ngồi kiệu nhỏ đi rồi, mọi người lại lục tục cởi mũ áo ở nhà.
Toàn Nhi và đấm hầu gái thấy không phải sang Ngự điện thì hết sức vui vẻ. Nhưng thấy thái độ của ta hết sức lạ lẫm thì không dám cười đùa nhiều, cùng nhau kéo nhau về phòng Toàn Nhi chơi đùa hết sức thận trọng.
Ta bảo bọn người hầu kẻ hạ trong nhà bê một chiếc tràng kỷ lớn ra ngoài hiên, trải thêm một chiếc nệm lông chồn ấm cúng, rồi bảo bọn chúng chuẩn bị thêm ấm trà, cứ thế ngồi bên hiên nhà mà vơ vẩn ngắm mưa.
Rồi chợt nhớ ra một việc, bèn cho gọi thị vệ Cung vào dặn dò, trong mấy ngày tới các đại thần, quan lại xin vào gặp Hoàng Thượng, Thái hậu đều nhất mực từ chối. Nếu sai lệnh thì chém đầu, bất kể là ai.
Xong xuôi lại ngồi lún vào chiếc tràng kỷ lơ mơ ngó trời đất.
Ta chính là muốn bắt trước họ Đinh khi xưa, lúc phong Thái tử cho Hạng Lang vậy. Bế quan, tỏa cảng để tránh mọi sự can gián của các vị đại thần. Việc ta bất ngờ phong Vương cho một người ở ngoại tộc như Lê Hoàn chắc chắn sẽ gặp phải sự phản đối mạnh mẽ của các trung thần, nhất là Lưu Cơ, Đinh Điền, Nguyễn Bặc và Phạm Hạp. Nhưng ta thây kệ, không xin vào gặp ta để can gián được, rồi họ cũng đành phải buông xuôi như khi xưa họ Đinh phong Thái tử cho Hạng Lang mà thôi.
Cái ta băn khoăn nhất chính là không biết Lê Hoàn, con người ấy sẽ nghĩ thế nào với việc này? Liệu người ấy có xin vào gặp ta để phản đối hay không? Ta sợ nhất phải đối diện với con người ấy, với sự kháng cự từ con người ấy, với thái độ, với ánh nhìn khinh bỉ của người ấy. Còn các vị đại thần khác hoàn toàn có thể dùng quyền uy hiện thời mà gạt đi được.
Nhưng tạm thời bây giờ cũng chưa phải lo lắng về việc đối diện với Lê Hoàn, bởi hôm nay chính là ngày các mũi tiến công xuất phát, Lê Hoàn chắc chắn chẳng có thời gian đâu mà để tâm tới việc này. Vậy nên thây kệ, ta cứ thong thả đã.
Đầu giờ chiều Lý Công công mang sang một chồng tấu chương và bẩm báo tình hình. Đoàn quân tiền trạm xuất phát ngay buổi tối hôm qua vẫn chưa có tin tức gì, trong sáng nay các mũi tiến quân đã xuất phát như dự định, không có gì trở ngại. Lý Công công nói rồi đưa ra một tấu chương quan trọng do các vị đại thần gồm Đinh Điền, Nguyễn Bặc, Phạm Hạp, Lưu Cơ cùng ký tên yêu cầu giải quyết gấp. Ta chưa dở ra đã biết nội dung là gì, chỉ bảo Công công cứ lui trước ta sẽ giải quyết từng việc rồi sáng mai báo lại sớm cho Công công.
Lý Công Công lui đi rồi ta mới bảo Lan Nhi mặc áo ấm để ra ngoài đi dạo.
Thế là lại một chủ một tớ lục cục đi ra ngoài. Nhưng đến khi Lan Nhi hỏi đi đâu thì ta cũng mới ớ người ra, vì ta đơn giản chỉ là muốn đi ra ngoài, chứ cũng chưa biết là đi đâu cả. Vậy là cứ thế mà lững thững đi ra ngoài vườn.
Qua ngọ một cái là trời trở lại âm u, giờ mới đầu giờ Mão mà mây đã giăng lên xầm xì. Sương mù từ các sông ngòi xung quanh kéo về giăng mắc trên các tán cây, kẽ lá che kín cả lối đi, tầm nhìn.
Ngẫm nghĩ mới thấy không phải tự dưng khi xưa họ Đinh phải dùng mọi cách để thu phục cho bằng được Ngô Nhật Khánh. Vị tướng trẻ này không phải là thừa biết những đặc điểm của khí hậu, thời tiết cũng như phong tục, tập quán của nước Việt, nên mới chọn thời điểm này để mà đưa quân giặc về đánh người Việt hay sao?
Thời gian này là thời điểm nông nhàn, cấy cầy đã xong từ trong Tết, lại vừa ăn Tết xong nên nhân dân đang nghỉ ngơi. Năm nay tuy họ Đinh vừa mất, không được tổ chức hội hè, nhưng tâm lý nhàn tản thì không thể tránh khỏi. Thêm vào đó ra Giêng thường là thời điểm lạnh giá nhất trong năm, mưa phùn và sương mù bao phủ, làm tầm nhìn giảm đi rất nhiều.
Nghĩ tới đó lại tự nhủ, quyết định của ta đâu phải chỉ đơn giản là vì ta và con trai mình? Đó không phải cũng là vì sơn hà, xã tắc, vì người dân Đại Cồ Việt hay sao?
Thở ra một hơi, thấy lòng thêm một phần nhẹ nhõm.
Rồi chợt nảy ra một ý định, ta bèn quay sang bảo Lan Nhi:
- Em về gọi một chiếc xe nhỏ, ta muốn sang thăm Trinh Minh Nương nương.
Lan Nhi đi rồi nhanh chóng trở lại theo chiếc xe một ngựa. Nàng vội nhảy xuống đỡ ta lên xe. Đợi ta yên vị ở trong xe, nàng mới rụt rè bảo:
- Thái hậu, người định sang thăm Trinh Minh Nương nương thật sao?
- Đúng là như vậy đấy! Sao em lại hỏi vậy?
- Vì em nghĩ thời điểm này đâu phải là thời điểm thích hợp để sang thăm Trinh Minh Nương nương..
Nàng nói tới đó rồi bỏ lửng câu nói. Ta nhìn xoáy vào nàng, nhưng nàng như chẳng để ý, tựa đầu vào thành xe rồi nhìn đăm đắm ra ngoài khung cửa sổ nhỏ, cứ như thể ngoài đó là hội hè gì vậy, và đây là đâu chứ không phải là cung Cồ Quốc mà nàng vẫn sống hàng ngày. Thấy vậy ta đành lặng lẽ thở dài quay đi.
Ngẫm nghĩ thì nàng nói cũng phải. Bây giờ gặp Trinh Minh Nương nương ta cũng chưa biết phải đối diện với nàng như thế nào. Sau tất cả bấy nhiêu chuyện như thế, không hiểu Trinh Minh Nương nương, nàng nghĩ gì về ta, liệu nàng có hiểu cho ta không? Trong một chốc, một lát làm sao có thể khiến cho nàng hiểu được tất cả tâm tư của ta đây? Nghĩ thế trong phút chốc lại thấy một nỗi chán nản dâng lên chìm ngập tâm hồn.
Đang ngồi ngây ra với ý nghĩ ấy thì thị vệ đánh ngựa khẽ nói vọng vào qua rèm trước cửa xe, dù rất khẽ mà vẫn khiến ta giật mình:
- Bẩm Thái hậu đã đến Cung Trinh Minh rồi. Có cần sai người báo trước để Trinh Minh Nương nương đón tiếp hay không?
Ta khoát tay như thể thị vệ bên ngoài có thể nhìn thấy được rồi bảo:
- Thôi, hãy đưa ta tới lầu Vọng Nguyệt.
- Lầu Vọng Nguyệt.. Tuân lệnh!
Thị vệ đánh xe không giấu nổi sự ngỡ ngàng, nhưng cũng chỉ nói vậy rồi lặng lẽ đánh xe quay ra.
Lâu lắm rồi không đến nơi này.
Không hiểu sao bỗng dưng ta lại bật ra cái tên ấy.
Men theo con đường nhỏ quanh co, chẳng mấy chốc đã trông thấy mái ngói rêu phong của lầu Vọng Nguyệt ẩn hiện giữa làn mưa và sương mù, trông hết sức thê lương.
Xe ngựa dừng lại bên núi, nơi con đường cheo leo chỉ có thể đi bộ. Hai thị vệ cứ nhất định đòi đi theo để hộ giá, đến khi ta sẵng giọng quát nạt, dọa chém đầu mới đành ở lại trông xe, để ta và Lan Nhi tự đi xuống phía hồ.
Dù bị một làn sương khói bảng lảng bao phủ, vẫn có thể nhìn thấy một mảng mặt hồ nước trong veo. Xuyên quan làn nước lạnh cóng, có thể nhìn thấy những lá sen và thân sen tàn gục chìm trong nước. Im lặng và cam chịu.
Tự ngày nào chính ta và Đinh nương đã tới đây rồi lệnh cho người hầu kẻ hạ sang đầm Cút mang giống sen về trồng. Vậy mà thấm thoát cũng đã gần chục năm trôi qua. Bao lần dự tính vậy mà không biết bao nhiêu chuyện xảy ra, chúng ta vẫn chưa được một lần ngắm hoa sen nở ở Lầu. Giờ mới có dịp ra thì hoa đã tàn, lá đã úa khô tự bao giờ.
Một mình ta đối diện với cảnh ấy, bỗng dưng thấy một nỗi cô đơn lạnh lẽo bủa vây. Thế là lặng lẽ đứng đó, đăm đắm nhìn ra xung quanh. Lan Nhi thấy vậy cũng không nói gì. Thế là hai người, một chủ một tớ cứ đứng bên nhau một lúc lâu như thế, không nói năng gì. Đến khi lạnh lẽo quá không chịu nổi nữa thì dắt díu nhau về.
Năm ngày sau có tin cấp báo từ quân tiền trạm, đã nghe ngóng được tin Ngô Nhật Khánh cùng quân Chiêm Thành đang tiến về nước ta theo hướng cửa biển Đại Ác và Tiểu Khang. Đạo quân do Tướng Phạm Cự Lượng dẫn đầu đang tiến về phía này để sẵn sàng đối phó với quân thù. Cánh quân ở biên giới phía nam vẫn giữ nguyên hướng tiến công, vừa tiếp tục nghe ngóng quân địch trên bộ, vừa sẵn sàng có thể chuyển hướng để kịp thời hỗ trợ Đạo quân thứ nhất nếu cần. Các Đạo quân còn lại vẫn bám dọc các con đường huyết mạch xung quanh Kinh thành, nhưng luôn trong tình trạng sẵn sàng để có thể nhanh chóng di chuyển, tiếp ứng cho một trong hai Đạo quân kể trên.
Nghe tin ngàn chiến thuyền quân giặc đang giong buồm tiến về cửa biển, cả kinh thành Hoa Lư như ngồi trên đống lửa. Túy nói là sức mạnh của quân Chiêm Thành khi ấy không thể so sánh với lực lượng của Đại Cồ Việt, nhưng chiến tranh cũng đã đi qua hơn chục năm rồi, họ Đinh không còn nữa, các tướng lĩnh như Đinh Điền, Nguyễn Bặc, Trịnh Tú đều đã lâu chỉ lo việc Triều chính, không còn ngồi trên lưng ngựa, quân đội tuy hùng hậu nhưng khi ra trận chưa ai biết được sẽ ra sao. Bởi vậy lòng người không tránh khỏi lo sợ.
Những ngày này ta cùng Toàn Nhi và các vị đại thần phải túc trực luôn ở Ngự điện để kịp xử lý các tình huống khẩn cấp. Các vị đại thần buổi tối cũng không về phủ thất, mà thay nhau nghỉ lại ở nhà khách của thành Đông để tiện cho việc bàn bạc việc lớn.
Không khí ở Hoa Lư căng như dây đàn.
Đúng lúc ấy quân tiền trạm lại hỏa tốc báo về, thuyền chiến của quân Chiêm Thành cùng với Ngô Nhật Khánh đã bị bão đánh tan ngoài biển. Chỉ có vua Chiêm Thành và một số bộ hạ thân tín là còn sống sót trở về. Còn lại toàn bộ binh lính cùng với Ngô Nhật Khánh cùng hai con đều đã bỏ xác ngoài biển.
Hiện tại quân Đại Cồ Việt ở các hướng đang chuẩn bị rút về.
Nghe tin cả Hoa Lư như vỡ òa. Ai nấy đều vui mừng hạnh phúc vì đất nước tránh được cảnh can quan, đầu rơi máu chảy. Lại có thể yên bình mà trồng lúa, nuôi gà.
Duy chỉ có Kiểu Quốc Nương nương và Phất Kim công chúa là đau lòng.
Ngô Nhật Khánh và các con đã chết, không những thế còn bỏ xác ngoài khơi làm mồi cho cá dữ, Kiểu Quốc Nương nương không còn ai để nương tựa nữa.
Năm xưa khi Hạng Lang được yêu chiều, mẹ con nàng có thể nói là chỉ ở dưới họ Đinh mà ở trên cả thiên hạ, ngọc ngà châu báu, phú quý tót cùng vậy. Thế mà trong một phút chốc, ngoảnh lại đã tan tác hết cả, không còn ai bên mình. Ngẫm cũng xót xa cho một kiếp người.
Chừng hơn một tháng sau sau khi làm lễ Chung Thất cho Ngô Nhật Khánh xong, Kiểu Quốc Hoàng hậu xin ra khỏi Cung, quy y cửa phật ở một ngôi chùa nhỏ có tên là Đàm Lư, nằm ở vùng ngoại ô phía bắc Hoa Lư.
Còn Phất Kim công chúa mới thật là xót xa. Năm ngày sau khi nghe tin cả chồng và con nhỏ cùng chết theo thuyền giặc ở ngoài biển, nàng nhảy xuống một cái giếng bỏ hoang ở trong Cung mà chết.
Cha, anh vừa qua đời, chồng vì rắp tâm dẫn voi về giầy mả tổ rồi cũng bỏ mạng ngoài biển. Hai con nhỏ vì phải theo cha mà cũng không tránh khỏi kết cục thảm thương. Còn nàng thì tiều tụy, tàn tạ mặt mũi không khác gì quỷ dữ với hai vết xẹo to trên mặt. Ngẫm ra cũng chẳng còn cách nào khác.
Năm xưa đường đường là công chúa của nước Đại Cồ Việt, được họ Đinh yêu chiều, hàng trăm người hầu hạ. Thế mà nay cũng tan tác như một đóa phù dung bị mưa dập gió vùi!
Tang lễ Phất Kim công chúa xong xuôi được chục ngày, Đan Gia Nương nương vì quá thương con, thương cháu, trong khi tang chồng còn chưa kịp đoạn cũng lâm trọng bệnh mà qua đời.
Tang chồng tang. Hoa Lư chìm trong một màu trắng. Thê lương!
Mọi việc tang gia xong xuôi, đời sống ở kinh thành dần trở lại nếp cũ, thì đã hết mùa Xuân. Lại đến một mùa hạ.
Một buổi ta đang ngồi phê duyệt tấu chương, Toàn Nhi đang ngồi ở bàn trà học chữ cùng thầy đồ, còn Lan Nhi và đám hầu gái vừa ngồi may vá, vừa rì rầm nói chuyện gần đó thì thị vệ vào báo cáo, có bốn vị đại thần gồm Đô hộ Phủ sĩ sư Lưu Cơ, Định quốc công Nguyễn Bặc, Ngoại giáp Đinh Điền cùng Vệ úy Tướng quân Phạm Hạp xin vào gặp.
Ta liền bảo thị vệ cho vào.
Nhưng chưa cần gặp ta đã biết là vì chuyện gì. Ấy chính là việc sáng ngày vừa ban Thánh chỉ cấp đất ở thành Đông để Phó vương Lê Hoàn xây phủ thất.
Mấy ngày trước cũng buổi chiều như thế này, ta đang ngồi làm việc thì chính là Tâm phúc Tương quân Phạm Cự Lượng cũng xin vào gặp mà tấu trình việc ấy. Trước kia Lê Hoàn làm Thập đạo Tướng quân, để tiện cho việc quản lí, huấn luyện quân đội nên đã xây nhà lập phủ ở thành Trường An. Nhưng nay Lê Hoàn đã làm Phó Vương, hàng ngày cùng Hoàng thượng và các vị đại thần bàn bạc việc kiến thiết đất nước thì không thể tiếp tục ở thành Trường An được. Không phải nếu muốn bàn bạc việc gì thì sẽ rất mất thời gian để di chuyển, triệu tập hay sao? Đấy là còn chưa nói chuyện hàng ngày Phó Vương phải đi đi về về vô cùng vất vả.
Chính là Tâm phúc Tướng quân đã nói như vậy. Bản thân ta không khỏi ái ngại việc rồi đây sẽ ngày ngày phải chạm mặt Lê Hoàn. Nhưng ta cũng chẳng có cách nào khác, suy cho cùng đã phong làm Phó Vương thì việc cấp đất để xây phủ ở thành Đông cũng là phải lẽ. Trước kia không phải Nam Việt Vương cũng vậy hay sao? Rồi tới Toàn Nhi và Tuệ Nhi, khi trước được phong làm Vệ Vương và Thân Vương, cũng đều đã được cấp đất để lập Phủ, chỉ có điều vì còn nhỏ nên vẫn ở trong Cung với mẹ mà thôi. Lệ đã thế rồi. Nên ta cũng cứ theo ý đó mà cho ban một Thánh chỉ, cấp cho Phó Vương một miếng đất và lệnh cho Phó Vương phải chuyển phủ thất về đó để tiện cho công việc quốc gia đại sự.
Khi Thánh chỉ được ban ra, các vị đại thần có vẻ không hài lòng. Nên giờ đây đòi gặp ta chắc cũng không ngoài việc ấy. Nghĩ vậy nhưng ta không thể tránh khỏi băn khoăn, rốt cục các ngài muốn gặp để làm gì nữa? Mọi việc đã đâu vào đấy cả rồi, là Phó vương thì được cấp đất xây phủ thất là đương nhiên, vậy các ngài muốn ta thay đổi điều gì?
Vẫn đang rối rắm trong những ý nghĩ của mình thì các vị đại thần đã bước vào. Đợi thi lễ xong xuôi ta mới thong thả bảo:
- Các vị xin gặp bổn cung phải chăng có việc gì gấp gáp?
Bốn vị thận trọng đưa mắt nhìn nhau như tìm kiếm sự đồng thuận lần cuối cùng, rồi Định quốc công Nguyễn Bặc mới tiến lên phía trước mà thưa rằng:
- Bẩm Thái hậu, có việc này chúng thần đã định tâu lên Thái hậu từ lâu nhưng chưa có dịp thuận lợi. Lại thêm việc chuẩn bị lực lượng để đối phó với quân Chiêm Thành gấp gáp, mà nay mới có dịp thưa lại.
Nói đến đó Đinh quốc công dừng lại ý chừng nghe ngóng, khiến ta phải mở lời bảo:
- Có việc gì xin các vị cứ nói. Bổn cung ở đây mẹ góa con côi, không phải tất cả mọi việc đều là trông cậy hết vào các vị hay sao? Xin cứ tự nhiên cho!
Lúc ấy Định quốc công mới tiếp:
- Bọn thần chính là vì việc của Phó Vương mà đến. Ai cũng biết Thập đạo Tướng quân Lê Hoàn là người văn võ toàn tài, đã cùng Nam Việt Vương Đinh Liễn chiêu binh mãi mã, có công lớn trong việc phò Đinh Tiên Đế dẹp loạn sứ quân, thống nhất đất nước. Chẳng thế Tiến Đế mới tin tưởng giao cho lãnh đạo mười đạo quân trong cả nước. Nhưng dù công lao lớn tới mức nào thì Lê Thập đạo Tướng quân vẫn là người ngoại tộc. Có thể hưởng bổng lộc lớn lao chẳng kém gì Vương gia, Hoàng tộc thì cũng không thể phong Vương được. Tước Vương vốn chỉ dành cho các Hoàng tử con vua, chính là những người có quyền nối ngôi khi Hoàng thượng băng hà. Vậy mà nay lại phong cho Lê Hoàn, không phải như vậy hiên hạ sẽ thấy quá lạ kỳ và không tránh khỏi chê trách triều đình không biết làm việc cho đúng phép tắc hay sao? Khi Hoàng thượng cùng Thái hậu ban thánh chỉ lập Lê Thập đạo Tướng quân làm Phó Vương, bọn thần đã không kịp xin vào gặp để can gián. Nay sẵn việc Hoàng thượng cùng Thái hậu vừa ban Thánh chỉ cấp đất để Lê Hoàn lập Vương phủ, bọn chúng thần mới có cớ để tâu lại việc này. Xin Thái hậu hãy xem xét lại toàn bộ sự việc.
Nghe Định quốc công nói ta không tránh khỏi cảm thấy sửng sốt. Việc phong Vương này họ không gặp ta can gián được, trải qua mấy tháng lại thêm biết bao biến cố thương hải, tang điền vậy mà giờ vẫn khăng khăng đòi hủy bỏ cả việc ấy. Thế mới thấy, như Tâm phúc Tướng quân Phạm Cự Lượng đã nói, họ trung thành với họ Đinh tới mức nào!
Ta nuốt nước bọt mà thấy trong miệng khô khốc, nói không ra hơi:
- Ý các ngài là ta nên thu hồi lại cả tước Vương đã phong cho Lê Hoàn?
Dường như chỉ chờ ta nói câu ấy, vừa dứt lời bốn vị Đại thần nhất loạt quỳ rạp xuống rồi bảo:
- Thái hậu sáng suốt! Đó chính là mong muốn của bọn chúng thần! Xin Thái hậu hãy phê chuẩn!
- Các ngài đứng dậy cả đi. Ta đã hiểu ý của các ngài rồi! Nhưng ta e rằng không thể nghe theo lời can gián của các ngài được.
Bốn vị Đại thần đang lục cục đứng dậy nghe thấy nói câu đó, lại nhất loạt thủ phục xuống, rồi Vệ úy Tướng quân Phạm Hạp liền lên tiếng:
- Xin Thái hậu hãy cân nhắc lại. Phong vương cho người ngoại tộc xưa nay chưa từng có. Làm thế không phải về sau sẽ thành lệ xấu hay sao. Rồi sau nhỡ xảy ra chuyện tranh giành ngôi báu thì phải làm thế nào? Quốc có quốc pháp, những luật lệ đã quy định rồi không phải ta nên tuân theo để làm gương cho bá tánh, cho người hậu thế hay sao? Hơn nữa..
Nói tới đó Vệ úy Tướng quân bỗng dừng lại không nói tiếp nữa. Ta cùng các vị đại thần hướng mắt chờ đợi một hồi vẫn không thấy nói gì tiếp, áng chứng như thấy mình buột miệng mà kịp thời ngăn lại, Vệ úy Tướng quân cứ đứng im đó, cúi đầu không định nói gì thêm nữa. Ta đành bảo:
- Các vị hãy đứng dậy đi và nghe ta nói. Không phải ta có tư tình gì mà phong Vương cho Lê Tướng quân như thế. Các vị tin hay không là tùy các vị. Khi ấy Tiên Đế vừa băng hà, Nam Việt Vương là người duy nhất có thể gánh vác được giang sơn Đại Cồ Việt cũng không tránh khỏi kết cục bi thương cùng với Tiên Đế. Vệ Vương vì thế chưa đầy bảy tuổi đã phải lên trị vì đất nước. Chưa được bao lâu thì lại đến họa ngoại xâm. Lẽ thường khi đất nước gặp họa, Hoàng Thượng và Vương gia phải gánh vác trọng trách mà ra trận. Nhưng ta với Hoàng Thượng khi đó mẹ góa con thơ, Thân Vương thì cũng còn non nớt, ai sẽ gánh vác việc ấy? Các vị là các trung thần của triều đình, nhưng cũng đều ngấp nghé thất thập cả rồi, lại thêm hơn chục năm nay chỉ lo bàn việc nước chứ đâu có động gì đến binh đao, cung kiếm, ta nào dám phiền tới tuổi già của các vị nữa? Ta trong lúc lo lắng cho đất nước, nhất thời mới nghĩ ra việc phong Lê Hoàn làm Phó Vương, mong rằng Lê Hoàn sẽ mang tài trí của mình ra mà lãnh đạo quân đội, phò tá cho Hoàng tộc nhà Đinh giữ lấy giang sơn Đại Cồ Việt. Các ngài thử nghĩ mà xem, nếu chiến tranh xảy ra, không phải tất cả đều là trông cậy vào ngài ấy hay sao? Ngài ấy chính là người đứng mũi chịu xào, mà cũng là người thế mạng cho Tiểu Hoàng Thượng, cho Hoàng thân Quốc thích vẫn còn nhỏ, chưa tự mình ra trận được vậy. May sao cơn can qua tự tan, đất nước lại yên bình. Thế mà giờ ta nghe theo các ngài thu hồi lại tước Vương của ngài ấy, thì các ngài xem có được hay không? Lúc khó khăn thì giao gánh vác, lúc không cần nữa thì lại gạt ra. Hỏi như vậy có hợp với lòng người chăng? Nếu dân gian mà biết chuyện ấy, không phải mới thực là đề tài chê cười hay sao? Rồi sau còn ai dám vì sơn hà xã tắc, vì dòng dõi nhà Đinh, vì Tiểu Hoàng Thượng mà không quản thân mình nữa đây? Các ngài nghĩ sao về việc này?
Bốn vị đại thần nghe tới đó, lại đưa mắt nhìn nhau. Rồi Vệ úy Tương quân Phạm Hạp, sau một khắc im lặng, bước lên phía trước dứt khoát, cúi đầu rồi bảo:
- Bọn chúng thần trộm nghĩ, việc Thái hậu quyết định là hoàn toàn hợp tình hợp lý. Nhưng về đại cục lâu dài mà nói không phải là việc có lợi. Hiện tại Tiểu Hoàng Thượng còn nhỏ tuổi, mà anh em chú bác thân thích không có ai. Chỉ sợ rằng Phó Vương sẽ nhân đó mà thâu tóm mọi quyền lực rồi cơ nghiệp của Hoàng tộc họ Đinh lại rơi vào tay Phó Vương lúc nào không hay..
À thì ra là như vậy! Ra đó chính là ý của các vị ấy, chính là điều mà các vị ấy lo sợ. Là điều mà các vị cuối cùng cũng phải buột miệng nói ra.
- Các vị nghĩ Phó Vương Lê Hoàn là con người như vậy thật hay sao?
Đô hộ Phủ sĩ sư Lưu Cơ lúc ấy mới lên tiếng:
- Cũng chỉ là bọn thần lo sợ, suy đoán như vậy. Hiện nay lực lượng của Lê Hoàn rất lớn. Không những nắm trong tay toàn bộ quân đội, giờ đây lại được phong Vương ra vào hai thành như chốn không người.. E rằng rồi đây sẽ làm những việc không tốt cho Hoàng thượng.
- Các ngài nói không phải không có lý. Tấm lòng lo lắng cho Hoàng tộc họ Đinh của các vị ta xin ghi lòng tạc dạ. Nhưng nếu chỉ là lo sợ như vậy, không có can cớ gì mà bỗng dưng tước đi tước Vương vừa phong không phải rất là vô lý, khó thuyết phục được lòng người hay sao? Phó Vương lại là người có công lao với đất nước muôn dân không ai không biết. Việc Ngô Nhật Khánh cõng rắn cắn gà nhà, mang người Chiêm Thành về giày mả tổ vừa qua đi, giờ lập tức tước tước vị, như vậy ta có thể thuyết phục được ai đây? Các vị có ý kiến gì không?
Nói tới đó thì ai cũng im lặng, không ai nói thêm điều gì nữa. Thấy vậy ta bảo:
- Thôi các vị cứ về nghỉ ngơi, ta sẽ nghĩ thêm về việc này.
Bốn vị đại thần nghe đến đó thì cùng nhau rời đi, không ai nói thêm câu nào.