Sưu Tầm

The Very Important Personal
539 ❤︎ Bài viết: 795 Tìm chủ đề
15824 5,244
Công thức mở bài chung cho các tác phẩm văn học lớp 12 là một "chìa khóa" quan trọng giúp học sinh bước vào bài viết một cách tự tin và mạch lạc. Ở giai đoạn cuối cấp, các tác phẩm đều mang chiều sâu tư tưởng, giá trị hiện thực và nhân đạo lớn, vì vậy một mở bài tốt không chỉ giới thiệu đúng tác giả, tác phẩm mà còn định hướng được vấn đề nghị luận, tạo nền tảng cho toàn bộ bài phân tích. Việc nắm vững công thức mở bài chung giúp người viết tránh lan man, sáo rỗng, đồng thời linh hoạt vận dụng cho nhiều đề khác nhau, từ đó tiết kiệm thời gian làm bài và ghi điểm ngay từ những dòng đầu tiên.

55020573341_ac2d20d116_o.jpg


Mở bài 1:

Nhà văn người Nga pautopxki từng nói: "Niềm vui của nhà văn chân chính là được làm người dẫn đường đến xứ sở của cái đẹp." Từ bao đời nay, người nghệ sĩ luôn mang trong mình một sứ mệnh cao cả là khơi dậy, tìm tòi, khám phá vẻ đẹp của cuộc sống, đưa độc giả tìm đến những chân trời cao rộng. Nhà văn/thơ.. Là người nghệ sĩ có được niềm vui ấy khi ông đã dẫn dắt người đọc tìm đến vẻ đẹp của.. (vấn đề nghị luận). Điều ấy được thể hiện vô cùng ấn tượng qua đoạn trích:

Mở bài 2:

Bài văn người Nga Lép tôn-xtôi từng viết: "Tác phẩm nghệ thuật là kết quả của tình yêu". Thật vậy, nghệ thuật, thơ ca bao đời nay đều kết tinh từ tình yêu nồng nhiệt, cháy bỏng mà người nghệ sĩ dành cho cuộc sống, thiên nhiên, con người. Tác phẩm.. Của nhà thơ.. Là tình yêu qua đỗi mà ông dành cho.. (tùy vào nội dung mỗi tác phẩm). Đọc tác phẩm này, làm sao chúng ta có thể quên được.. (vấn đề nghị luận). Đặc biệt, điều đó được thể hiện một cách ấn tượng qua đoạn trích:

Mở bài 3:

"Văn chương gây cho ta những tình cảm ta chưa có, luyện cho ta những tình cảm ta sẵn có. Cuộc đời chật chội, phù phiếm của mỗi cá nhân nhờ văn chương mà trở nên thâm trầm và rộng rãi gấp trăm ngàn lần". (Hoài Thanh). Thật thế, văn chương bao đời luôn là kết quả của tình yêu, bồi đắp tâm hồn, là trạm dừng chân cho mỗi chúng ta sau cánh cửa cuộc sống bon chen ngoài kia. Áng thơ/ văn.. Của nhà nhà thơ/ văn.. Là một ví dụ điển hình cho điều ấy. Đọc tác phẩm này tâm hồn ta thấy rộng rãi vô cùng trước.. (vấn đề nghị luận). Ấn tượng nhất là đoạn trích:

Mở bài 4: Phân tích về một nhân vật.

Xây dựng được hình tượng nhân vật đã khó, làm sao để nhân vật gây ấn tượng với bạn đọc lại càng khó hơn. Ấy vậy mà nhà văn/ nhà thơ.. Đã làm được điều đó thông qua nhân vật.. Trong tác phẩm.. Đọc tác phẩm này, làm sao ta có thể quên được hình ảnh.. (nhân vật phân tích) với những phẩm chất tốt đẹp trong tâm hồn (nêu rõ phẩm chất của nhân vật phân tích). Điều ấy được thể hiện rõ nét trong đoạn trích:

Mở bài Vợ chồng A Phủ - Tô Hoài

Mở bài 1

Trong dòng chảy của văn học Việt Nam hiện đại, Vợ chồng A Phủ của Tô Hoài nổi bật như một bức tranh sinh động về cuộc sống và số phận con người vùng núi Tây Bắc trước Cách mạng. Tác phẩm không chỉ phản ánh chân thực xã hội phong kiến miền núi với những hủ tục và cường quyền tàn bạo, mà còn ca ngợi sức sống tiềm tàng, khát vọng tự do mãnh liệt của con người lao động. Qua hình tượng Mị và A Phủ, Tô Hoài đã thể hiện một cách sâu sắc quá trình thức tỉnh, phản kháng và tự giải phóng của con người bị áp bức, để lại giá trị nhân đạo bền vững cho tác phẩm.

Mở bài 2

Văn học hiện thực Việt Nam giai đoạn trước Cách mạng tháng Tám đã ghi dấu nhiều tác phẩm giàu giá trị phản ánh số phận con người trong xã hội cũ, và Vợ chồng A Phủ là một trong những tác phẩm tiêu biểu nhất. Bằng vốn hiểu biết sâu sắc về đời sống miền núi, Tô Hoài đã tái hiện một thế giới u tối nơi con người bị đè nén bởi cường quyền và thần quyền. Tuy vậy, ẩn sâu trong bóng tối ấy vẫn le lói ánh sáng của tình thương, của sức sống và khát vọng vươn lên. Phân tích tác phẩm sẽ giúp làm rõ giá trị hiện thực và nhân đạo sâu sắc mà nhà văn gửi gắm qua câu chuyện về Mị và A Phủ.

Mở bài 3

Không ồn ào, dữ dội nhưng thấm thía và ám ảnh, Vợ chồng A Phủ đã chinh phục người đọc bằng câu chuyện đời đầy đau khổ mà giàu sức phản kháng của người dân miền núi Tây Bắc. Với ngòi bút tinh tế, giàu chất hiện thực và nhân văn, Tô Hoài đã khắc họa thành công hình ảnh Mị và A Phủ như biểu tượng cho những con người bị vùi dập nhưng không cam chịu số phận. Tác phẩm là tiếng nói tố cáo xã hội tàn bạo đồng thời khẳng định sức sống bền bỉ và khả năng tự giải phóng của con người, tạo nên giá trị tư tưởng sâu sắc cần được phân tích và cảm nhận.

c350_soan-bai-vo-chong-a-phu_29c8f.jpg


Mở bài Vợ nhặt - Kim Lân

Mở bài 1

Trong nền văn học Việt Nam hiện đại, Vợ nhặt của Kim Lân là một tác phẩm đặc biệt khi viết về nạn đói năm 1945 bằng một góc nhìn vừa đau xót vừa nhân hậu. Không đi sâu miêu tả cái chết, nhà văn tập trung khai thác tình huống "nhặt vợ" đầy éo le để từ đó làm nổi bật thân phận khốn cùng của con người trong cảnh đói khát. Qua câu chuyện của Tràng và người vợ nhặt, tác phẩm không chỉ phản ánh hiện thực tàn khốc của xã hội cũ mà còn gửi gắm niềm tin vào bản chất lương thiện, khát vọng hạnh phúc và sức sống bền bỉ của con người.

Mở bài 2

Giữa bức tranh u ám của nạn đói khủng khiếp năm 1945, Vợ nhặt hiện lên như một câu chuyện ngắn giản dị nhưng chứa đựng chiều sâu nhân văn cảm động. Kim Lân đã xây dựng một tình huống truyện độc đáo khi hạnh phúc lứa đôi lại nảy sinh trong hoàn cảnh cùng cực của cái đói và cái chết. Chính từ nghịch cảnh ấy, tác phẩm làm nổi bật vẻ đẹp tâm hồn của những con người nghèo khổ, vẫn biết yêu thương, cưu mang và hi vọng vào ngày mai. Phân tích Vợ nhặt giúp người đọc cảm nhận rõ hơn giá trị hiện thực và nhân đạo sâu sắc mà nhà văn gửi gắm qua số phận của những con người bé nhỏ trong dòng đời nghiệt ngã.

Mở bài 3

Vợ nhặt là một trong những truyện ngắn xuất sắc nhất của văn học Việt Nam hiện đại, gắn liền với tên tuổi Kim Lân và in đậm dấu ấn về số phận con người trong nạn đói khủng khiếp năm 1945. Lấy bối cảnh cái đói bao trùm làng quê, Vợ nhặt kể câu chuyện tưởng như éo le, trớ trêu khi Tràng "nhặt" được vợ giữa lúc cái chết rình rập từng mái nhà. Qua tình huống truyện độc đáo ấy, Kim Lân không chỉ tái hiện hiện thực đau xót của xã hội cũ mà còn làm nổi bật vẻ đẹp nhân hậu, niềm khát khao sống và hi vọng mong manh nhưng bền bỉ của con người nghèo khổ. Đây chính là giá trị nhân đạo sâu sắc khiến Vợ nhặt trở thành tác phẩm giàu sức ám ảnh và lay động lòng người.

Mở bài Rừng xà nu - Nguyên Ngọc

Mở bài 1

Trong nền văn học kháng chiến chống Mĩ, Rừng xà nu của Nguyên Ngọc là một tác phẩm giàu tính sử thi và cảm hứng lãng mạn. Lấy hình ảnh rừng xà nu bạt ngàn làm biểu tượng, nhà văn đã tái hiện sinh động cuộc sống chiến đấu kiên cường của dân làng Xô Man trước sự tàn bạo của kẻ thù. Qua số phận và con đường cách mạng của Tnú, tác phẩm không chỉ phản ánh hiện thực chiến tranh khốc liệt mà còn ca ngợi sức sống mãnh liệt, tinh thần bất khuất của con người Tây Nguyên.

Mở bài 2

Viết về đề tài cách mạng và chiến tranh, Nguyên Ngọc luôn hướng ngòi bút của mình tới vẻ đẹp sử thi hùng tráng của con người và thiên nhiên Tây Nguyên. Điều đó được thể hiện rõ nét trong Rừng xà nu – một tác phẩm tiêu biểu của văn học Việt Nam thời kì chống Mĩ. Bằng việc gắn số phận con người với hình ảnh rừng xà nu kiên cường trước bom đạn, nhà văn đã khắc họa thành công chân lí của cách mạng: Chỉ có đứng lên cầm vũ khí, nhân dân mới có thể tự giải phóng mình. Tác phẩm vì thế mang ý nghĩa tư tưởng sâu sắc và giá trị nghệ thuật đặc biệt.

Mở bài 3

Giữa những trang văn viết về chiến tranh, Rừng xà nu nổi bật bởi giọng điệu hùng tráng và hình tượng nghệ thuật giàu sức gợi. Nguyên Ngọc đã dựng lên bức tranh lớn về thiên nhiên và con người Tây Nguyên trong những năm tháng kháng chiến ác liệt, nơi rừng xà nu vừa là chứng nhân lịch sử vừa là biểu tượng cho sức sống bền bỉ của dân làng Xô Man. Qua câu chuyện về Tnú và thế hệ nối tiếp đứng lên chiến đấu, tác phẩm khẳng định sức mạnh của truyền thống, của lòng yêu nước và tinh thần cách mạng bất khuất.

Mở bài Chiếc thuyền ngoài xa - Nguyễn Minh Châu

Mở bài 1

Trong tiến trình đổi mới tư duy nghệ thuật của văn học Việt Nam sau năm 1975, Chiếc thuyền ngoài xa của Nguyễn Minh Châu là một tác phẩm tiêu biểu, giàu tính triết lí và nhân văn. Thông qua câu chuyện của người nghệ sĩ nhiếp ảnh Phùng trong một chuyến đi thực tế, nhà văn đã đặt ra những vấn đề sâu sắc về mối quan hệ giữa nghệ thuật và cuộc sống, giữa cái đẹp bề ngoài và sự thật đầy đau đớn phía sau. Tác phẩm không chỉ phản ánh hiện thực đời sống con người mà còn gợi mở cách nhìn đa chiều, sâu sắc về con người và số phận.

Mở bài 2

Nguyễn Minh Châu được xem là cây bút tiên phong trong công cuộc đổi mới văn học, luôn trăn trở với những câu hỏi về con người và cuộc đời. Chiếc thuyền ngoài xa chính là kết tinh rõ nét cho phong cách nghệ thuật ấy. Qua tình huống phát hiện đầy nghịch lí của nhân vật Phùng, tác phẩm đã làm nổi bật sự đối lập giữa vẻ đẹp hoàn mĩ của nghệ thuật và hiện thực trần trụi, nhiều bi kịch của đời sống. Phân tích tác phẩm giúp người đọc nhận ra giá trị nhân đạo sâu sắc cùng những chiêm nghiệm giàu ý nghĩa mà nhà văn gửi gắm.

Mở bài 3

Không kể một câu chuyện gay cấn, kịch tính, Chiếc thuyền ngoài xa lại chinh phục người đọc bằng chiều sâu suy tư và cảm xúc. Nguyễn Minh Châu đã khéo léo xây dựng một tình huống truyện giàu ý nghĩa biểu tượng, từ đó soi chiếu những góc khuất của đời sống con người. Đằng sau bức tranh thiên nhiên đẹp như mơ là nỗi đau, sự cam chịu và bi kịch thầm lặng của những phận người nhỏ bé. Tác phẩm vì thế trở thành lời nhắc nhở sâu sắc về cách nhìn nhận cuộc sống và trách nhiệm của con người trước sự thật.

Mở bài Hồn Trương Ba da hàng thịt

Mở bài 1

Trong nền văn học Việt Nam hiện đại, kịch nói giữ một vị trí đặc biệt khi trực tiếp đặt con người vào những xung đột tư tưởng và triết lí sống sâu sắc. Hồn Trương Ba, da hàng thịt của Lưu Quang Vũ là một tác phẩm tiêu biểu cho tinh thần đó. Thông qua câu chuyện dân gian quen thuộc được sáng tạo lại bằng tư duy hiện đại, tác phẩm đặt ra vấn đề nhức nhối về sự thống nhất giữa hồn và xác, giữa đời sống vật chất và đời sống tinh thần, từ đó gửi gắm thông điệp sâu sắc về cách con người được sống là chính mình.

Mở bài 2

Lưu Quang Vũ là nhà viết kịch tài năng luôn trăn trở trước những nghịch lí của cuộc sống và số phận con người. Điều ấy được thể hiện rõ nét trong Hồn Trương Ba, da hàng thịt – một vở kịch mang đậm màu sắc triết lí nhân sinh. Bằng tình huống Trương Ba phải sống nhờ trong thân xác anh hàng thịt, tác phẩm đã làm nổi bật bi kịch tinh thần của con người khi không được sống đúng với bản chất của mình. Qua đó, nhà văn đặt ra câu hỏi lớn về giá trị của sự sống và ý nghĩa của nhân cách con người trong xã hội hiện đại.

Mở bài 3

Viết về con người, Lưu Quang Vũ không né tránh những vấn đề gai góc, phức tạp của đời sống tinh thần. Hồn Trương Ba, da hàng thịt là minh chứng tiêu biểu cho phong cách nghệ thuật giàu suy tư ấy. Dựa trên cốt truyện dân gian quen thuộc, tác giả đã xây dựng nên một bi kịch độc đáo, nơi con người bị giằng xé giữa phần hồn thanh cao và phần xác thô phàm. Tác phẩm không chỉ mang giá trị nhân đạo sâu sắc mà còn là lời cảnh tỉnh về nguy cơ tha hóa khi con người đánh mất sự hài hòa giữa thể xác và tâm hồn.

Mở bài Người lái đồ Sông Đà - Nguyễn Tuân

Mở bài 1

Trong nền văn học Việt Nam hiện đại, Nguyễn Tuân được xem là cây bút tài hoa, uyên bác, luôn đi tìm cái đẹp độc đáo và phi thường của con người và thiên nhiên. Người lái đò Sông Đà là một tác phẩm tiêu biểu cho phong cách nghệ thuật ấy. Qua hình tượng con sông Đà hung bạo mà trữ tình cùng hình ảnh người lái đò dũng cảm, tài hoa, Nguyễn Tuân đã ca ngợi vẻ đẹp của thiên nhiên Tây Bắc và tôn vinh con người lao động trong cuộc chinh phục thiên nhiên khắc nghiệt.

Mở bài 2

Viết về thiên nhiên và con người, Nguyễn Tuân luôn tiếp cận hiện thực bằng cái nhìn độc đáo của một nghệ sĩ suốt đời "đi tìm cái đẹp". Điều đó được thể hiện rõ nét trong Người lái đò Sông Đà – một thiên tùy bút xuất sắc của văn học Việt Nam hiện đại. Không chỉ khắc họa vẻ đẹp dữ dội và thơ mộng của dòng sông Đà, tác phẩm còn làm nổi bật hình ảnh người lái đò bình dị mà anh hùng, mang trong mình trí dũng và kinh nghiệm phi thường. Qua đó, Nguyễn Tuân thể hiện niềm trân trọng sâu sắc đối với con người lao động Tây Bắc.

Mở bài 3

Sau Cách mạng tháng Tám, ngòi bút Nguyễn Tuân có sự chuyển biến rõ rệt khi hướng về ca ngợi đất nước và con người trong lao động, chiến đấu. Người lái đò Sông Đà chính là kết tinh tiêu biểu cho chặng đường sáng tác ấy. Bằng bút pháp giàu chất tạo hình, ngôn ngữ điêu luyện và kiến thức uyên bác, tác phẩm đã dựng lên bức tranh sinh động về dòng sông Đà đầy thách thức và người lái đò gan góc, tài hoa. Qua đó, Nguyễn Tuân khẳng định vẻ đẹp lớn lao của con người Việt Nam trong công cuộc chinh phục và làm chủ thiên nhiên.

Mở bài Ai đã đặt tên cho dòng sông - Hoàng Phủ Ngọc Tường

Mở bài 1

Trong nền văn xuôi Việt Nam hiện đại, Hoàng Phủ Ngọc Tường được biết đến như một cây bút bút ký tài hoa, uyên bác và giàu chất trữ tình. Các trang viết của ông luôn kết hợp hài hòa giữa tri thức văn hóa, lịch sử với cảm xúc tinh tế của một tâm hồn yêu quê hương xứ sở. Ai đã đặt tên cho dòng sông là tác phẩm tiêu biểu cho phong cách nghệ thuật ấy, qua đó hình ảnh sông Hương hiện lên vừa thơ mộng, trữ tình, vừa mang chiều sâu văn hóa và lịch sử của cố đô Huế.

Mở bài 2

Có những dòng sông không chỉ chảy trong địa lý mà còn chảy trong tâm hồn con người. Với Hoàng Phủ Ngọc Tường, sông Hương không đơn thuần là một cảnh sắc thiên nhiên mà còn là linh hồn của Huế, là nơi kết tinh vẻ đẹp văn hóa và chiều sâu lịch sử dân tộc. Tác phẩm Ai đã đặt tên cho dòng sông đã khắc họa hình tượng con sông ấy bằng một lối viết giàu chất thơ, thể hiện tình yêu tha thiết và niềm tự hào sâu nặng của tác giả đối với quê hương.

Mở bài 3

Văn học không chỉ phản ánh hiện thực mà còn lưu giữ vẻ đẹp của thiên nhiên và con người qua lăng kính nghệ thuật. Trong dòng văn xuôi giàu chất trữ tình của Hoàng Phủ Ngọc Tường, sông Hương hiện lên như một sinh thể có tâm hồn, có quá khứ và cá tính riêng. Ai đã đặt tên cho dòng sông là một bút ký đặc sắc, nơi tác giả gửi gắm tình yêu sâu lắng với Huế, đồng thời bộc lộ phong cách viết uyên bác, tài hoa và giàu cảm xúc của mình.

Mở bài Hai đứa trẻ - Thạch Lam

Mở bài 1

Trong dòng văn xuôi lãng mạn Việt Nam giai đoạn 1930–1945, Thạch Lam là cây bút có phong cách riêng, nhẹ nhàng mà sâu lắng, giàu chất trữ tình và nhân đạo. Ông không đi tìm những biến cố lớn lao mà lặng lẽ khám phá vẻ đẹp và nỗi buồn ẩn sâu trong những cảnh đời bình dị. Truyện ngắn Hai đứa trẻ là tác phẩm tiêu biểu cho phong cách ấy, qua bức tranh phố huyện nghèo lúc chiều tàn, nhà văn thể hiện niềm xót thương âm thầm đối với những kiếp người nhỏ bé và khát vọng mơ hồ về một cuộc sống tươi sáng hơn.

Mở bài 2

Có những tác phẩm không gây ấn tượng bằng cốt truyện kịch tính mà chạm đến lòng người bằng cảm xúc lặng lẽ, man mác buồn. Hai đứa trẻ của Thạch Lam là một tác phẩm như thế. Qua câu chuyện về Liên và An cùng khung cảnh phố huyện nghèo trước giờ đêm xuống, nhà văn đã khắc họa tinh tế bức tranh đời sống tàn lụi, quẩn quanh, đồng thời gửi gắm tấm lòng nhân ái và sự trân trọng đối với những ước mơ nhỏ nhoi của con người nơi đây.

Mở bài 3

Thạch Lam từng quan niệm rằng văn chương không chỉ để kể chuyện mà còn để làm cho lòng người thêm trong sạch và giàu yêu thương. Tư tưởng ấy được thể hiện rõ trong truyện ngắn Hai đứa trẻ. Không có những xung đột gay gắt, tác phẩm cuốn hút người đọc bằng nhịp điệu chậm rãi, giọng văn dịu nhẹ và những rung cảm tinh tế trước cuộc sống nghèo nàn, tăm tối của phố huyện, qua đó bộc lộ tấm lòng nhân đạo sâu sắc của nhà văn đối với những con người bé nhỏ, lặng thầm.
 
Last edited by a moderator:
1,574 ❤︎ Bài viết: 1459 Tìm chủ đề

Mở bài cho các tác phẩm thơ lớp 12​


Sóng - Xuân Quỳnh

Mở bài 1:

"Trong vườn hoa muôn sắc của nền thơ ca hiện đại Việt Nam, Xuân Quỳnh nổi lên như một đóa hoa dung dị nhưng ngát hương, được mệnh danh là 'nữ hoàng của thi ca tình yêu'. Thơ bà là tiếng lòng của một tâm hồn phụ nữ nhiều trắc ẩn, vừa khao khát tình yêu cháy bỏng, vừa lo âu về sự phai tàn, đổ vỡ. Bài thơ 'Sóng', được sáng tác năm 1967 trong chuyến đi thực tế tại vùng biển Diêm Điền (Thái Bình), là một trong những thi phẩm xuất sắc nhất tiêu biểu cho phong cách ấy. Qua hình tượng sóng, Xuân Quỳnh đã soi chiếu và bộc bạch trọn vẹn vẻ đẹp tâm hồn của người phụ nữ trong tình yêu: Nồng nàn, thủy chung và luôn khao khát sự vĩnh cửu."

Mở bài 2:

"Tình yêu là đề tài muôn thuở của thi ca, là bản nhạc không bao giờ tắt trong tâm hồn nhân loại. Nếu Xuân Diệu cuống quýt, vội vàng và say đắm trong những men tình nồng nàn, thì Xuân Quỳnh lại mang đến một tiếng nói dung dị, đằm thắm và đầy nữ tính. Đến với bài thơ 'Sóng', người đọc như được đắm mình vào những giai điệu của đại dương để cảm nhận nhịp đập của một trái tim đang yêu.'Sóng' không chỉ là thiên nhiên, mà là sự hóa thân của cái tôi trữ tình, là nơi nhà thơ gửi gắm khát vọng về một tình yêu đích thực, vượt qua mọi giới hạn của không gian và thời gian."

Mở bài 3:

"Hình tượng 'sóng' hay 'biển' vốn không xa lạ trong thơ ca Việt Nam. Ta từng bắt gặp một 'Tràng giang' mênh mông rợn ngợp của Huy Cận hay một biển cả dữ dội trong thơ Xuân Diệu. Tuy nhiên, phải đến Xuân Quỳnh, 'sóng' mới thực sự mang một linh hồn đàn bà, trở thành một ẩn dụ nghệ thuật đầy ám ảnh về người phụ nữ đang yêu. Bài thơ 'Sóng' là một cuộc hành trình khám phá bản thể, nơi Xuân Quỳnh mượn quy luật của tự nhiên để lý giải những quy luật phức tạp, bí ẩn nhưng cũng đầy ngọt ngào trong trái tim người phụ nữ."

Mở bài 4:

"Bài thơ 'Sóng' ra đời năm 1967, giữa lúc cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước đang bước vào giai đoạn ác liệt nhất. Giữa bom rơi đạn lạc, khi văn học thời kỳ này tập trung ngợi ca tinh thần chiến đấu và chủ nghĩa anh hùng cách mạng, thì bông hoa 'Sóng' của Xuân Quỳnh lại nở rộ vẻ đẹp của tình cảm riêng tư, đời thường. Điều đó chứng minh rằng, ngay cả trong khói lửa chiến tranh, khát vọng tình yêu và hạnh phúc lứa đôi vẫn là nguồn sức mạnh nội tại bền bỉ. Bài thơ như một minh chứng cho sức sống mãnh liệt của tâm hồn người phụ nữ Việt Nam: Dịu dàng nhưng kiên cường, nồng nàn và đầy bản lĩnh."

Mở bài 5:

"Trước đại dương bao la, con người thường cảm thấy mình nhỏ bé và trỗi dậy những khát khao kiếm tìm tri kỷ. Sóng biển ngàn năm vẫn vỗ vào bờ, cũng như tình yêu ngàn năm vẫn vỗ vào tâm hồn nhân thế. Cảm nhận được sự tương đồng kỳ diệu ấy, Xuân Quỳnh đã viết nên 'Sóng' – một thi phẩm mà ở đó, sóng và em tuy hai mà một, tuy một mà hai. Bài thơ là lời tự bạch chân thành của một trái tim khao khát được thấu hiểu, được yêu thương và được hòa nhập cái tôi nhỏ bé của mình vào biển lớn tình yêu của nhân loại."

Tây Tiến - Quang Dũng:

"Quang Dũng là một người nghệ sĩ đa tài: Làm thơ, viết văn, vẽ tranh và soạn nhạc. Nhưng trước hết, ông là một nhà thơ mang hồn thơ phóng khoáng, hồn hậu, lãng mạn và tài hoa – đặc biệt khi viết về lính và xứ Đoài mây trắng. Bài thơ 'Tây Tiến' được xem là đứa con đầu lòng tráng kiện và hào hoa nhất của đời thơ Quang Dũng. Tác phẩm được sáng tác năm 1948 tại Phù Lưu Chanh, khi nhà thơ đã rời xa đơn vị cũ chưa được bao lâu. Bằng nỗi nhớ da diết và niềm kiêu hãnh về những ngày tháng chiến đấu gian khổ nhưng hào hùng, Quang Dũng đã dựng nên một bức tượng đài bất tử về người lính Tây Tiến trên nền thiên nhiên Tây Bắc hùng vĩ, dữ dội mà thơ mộng."

Mở bài 2:

"Hình tượng người lính trong kháng chiến chống Pháp là một đề tài quen thuộc của thơ ca cách mạng, nhưng mỗi nhà thơ lại có một lối đi riêng để tạc vào lịch sử những dáng hình khác biệt. Nếu Chính Hữu trong 'Đồng chí' mang đến vẻ đẹp mộc mạc, chân chất của những người nông dân mặc áo lính, thì Quang Dũng trong 'Tây Tiến' lại khắc họa chân dung những chàng trai Hà thành với vẻ đẹp hào hoa, lãng mạn và đậm chất bi tráng. Bài thơ không chỉ là khúc ca về vẻ đẹp thiên nhiên Tây Bắc heo hút, hiểm trở mà còn là bản hùng ca về ý chí kiên cường, tâm hồn mộng mơ của đoàn binh Tây Tiến - chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh."

Mở bài 3:

"Có những bài thơ đọc một lần rồi quên, nhưng cũng có những bài thơ như những thước phim quay chậm, gieo vào lòng người đọc những ám ảnh khôn nguôi về một thời 'lửa cháy'.'Tây Tiến' của Quang Dũng là một thi phẩm như thế. Bài thơ được dệt nên từ cảm hứng lãng mạn bay bổng và tinh thần bi tráng hào hùng. Qua lăng kính của nỗi nhớ chơi vơi, Quang Dũng đã làm sống dậy cả một vùng rừng núi miền Tây hoang sơ, bí ẩn và hình ảnh đoàn binh Tây Tiến hào hùng, dữ dội nhưng cũng đầy chất thơ. Đó là sự thăng hoa của một tâm hồn nghệ sĩ tài hoa trước vẻ đẹp kiêu hùng của con người và đất nước trong khói lửa chiến tranh."

Việt Bắc - Tố Hữu:

55020575426_02d7c8deff_o.jpg


Mở bài 1:

Hoài Thanh từng cho rằng: "Thơ là tiếng nói của tình cảm, là nơi con người gửi gắm những rung động sâu kín nhất của tâm hồn". Quả thật, thơ ca không chỉ phản ánh hiện thực mà còn là nơi kết tinh những ân tình, nghĩa nặng của con người đối với cuộc đời và lịch sử. Trong dòng chảy thơ ca cách mạng Việt Nam, Tố Hữu là nhà thơ tiêu biểu cho tiếng nói trữ tình – chính trị đậm đà cảm xúc. Bài thơ Việt Bắc ra đời trong hoàn cảnh chia tay lịch sử năm 1954 chính là khúc hát ân tình sâu nặng giữa cách mạng và nhân dân, để lại nhiều dư âm xúc động trong lòng người đọc.

Mở bài 2:

Có người từng nói rằng: Thơ ca chỉ thật sự sống lâu khi nó được viết bằng cả trái tim của người nghệ sĩ. Thơ Tố Hữu là tiếng lòng gắn bó máu thịt với cách mạng, với nhân dân và với những năm tháng gian khổ của dân tộc. Việt Bắc không chỉ là một bài thơ chính trị mà còn là một khúc ca trữ tình ngọt ngào, thấm đẫm nghĩa tình quân dân, nghĩa tình cách mạng. Qua bài thơ này, Tố Hữu đã tái hiện lại một chặng đường lịch sử đầy gian lao nhưng vô cùng sâu nặng ân tình của dân tộc Việt Nam.

Mở bài 3:

Thơ ca cách mạng không khô cứng bởi khẩu hiệu, mà trở nên sống động khi được thắp sáng bằng cảm xúc chân thành và tình người sâu nặng. Tố Hữu – nhà thơ lớn của nền thơ ca cách mạng Việt Nam – đã làm được điều đó bằng giọng thơ ngọt ngào, đằm thắm mà giàu tính dân tộc. Việt Bắc là một trong những thi phẩm tiêu biểu nhất cho phong cách ấy, vừa là bản tổng kết chặng đường kháng chiến chống Pháp, vừa là khúc tình ca sâu lắng về nghĩa tình thủy chung son sắt giữa cán bộ kháng chiến và nhân dân Việt Bắc.

Vội vàng - Xuân Diệu:

Mở bài 1:

Trong dòng chảy của thơ ca Việt Nam hiện đại, Xuân Diệu được xem là nhà thơ của tình yêu, của tuổi trẻ và của khát vọng sống mãnh liệt. Thơ ông luôn dạt dào cảm xúc, say mê cuộc đời trần thế với tất cả vẻ đẹp rực rỡ của nó. Bài thơ Vội vàng tiêu biểu cho hồn thơ ấy, là tiếng nói cuồng nhiệt của một cái tôi tha thiết yêu đời, yêu từng khoảnh khắc của thời gian và luôn ám ảnh trước sự trôi chảy không ngừng của tuổi xuân.

Mở bài 2

Có người từng nói rằng thơ Xuân Diệu là "nguồn sống dào dạt chưa từng thấy trong thơ Việt Nam". Quả thật, đến với thơ ông, người đọc bắt gặp một tâm hồn luôn cháy bỏng khát khao tận hưởng cuộc sống và níu giữ vẻ đẹp của trần gian. Vội vàng là một trong những thi phẩm tiêu biểu nhất, thể hiện rõ quan niệm sống mới mẻ, táo bạo cùng niềm say mê cuộc đời đến cuồng nhiệt của nhà thơ.

Mở bài 3

Tuổi trẻ, thời gian và sự sống luôn là những ám ảnh lớn trong thơ ca lãng mạn. Với Xuân Diệu, đó không chỉ là đề tài mà còn là nỗi lo thường trực, là niềm khát khao sống đến tận cùng từng giây phút. Bài thơ Vội vàng ra đời như một lời giục giã tha thiết, một tuyên ngôn sống đầy cảm xúc, qua đó bộc lộ rõ cái tôi yêu đời, ham sống và sợ thời gian trôi đi vô nghĩa.
 
Từ khóa: Sửa

Những người đang xem chủ đề này

Xu hướng nội dung

Back