23,402 ❤︎ Bài viết: 3779 Tìm chủ đề
CHƯƠNG 77

Langdon thán phục. Teabing vừa viết ra xong toàn bộ 22 chữ cái của bảng chữ cái Hebrew - alef - bet - theo trí nhớ. Đành rằng ông đã dùng kí tự La Mã tương đương thay vì chính chữ cái Hebrew, tuy nhiên, giờ đây ông đọc qua chúng với cách phát âm không chút sai sót.

A B G D H V Z Ch T Y K L M N S O P Tz Q R Sh Th

Alef, Belt, Gimel, Dalet, Hei, Vav, Zayin, Chet, let, Yud, Kaf, Lamed, Mem, Nun, Samcch, Ayin, Pel, Tradik, Kuf, Reishs Shin va Tav


Teabing lau trán và tiếp tục:

- Trong chính tả Hebrew chính thức, nguyên âm không được viết ra. Do đó, khi chúng ta dùng chữ cái Hebrew để viết từ Bahome, nó sẽ mất đi ba nguyên âm và chúng ta còn lại..

- Năm chữ cái.

Sophie bật ra.

Teabing gật đầu và bắt đầu viết lại:

- Được, đây là Baphomet viết đúng chính tả bằng chữ cái Hebrew. Tôi sẽ phác luôn cả những nguyên âm khuyết diện để cho rõ ràng hơn.

B a P V o M e Th.

- Tất nhiên, hãy nhớ..

Ông bổ sung thêm.

- Rằng tiếng Hebrew thường được viết theo chiều hướng ngược, nhưng chúng ta có thể dễ dàng sứ dụng mật mã Atbash theo cách này. Bước tiếp theo, tất cả những gì chúng ta phải làm là tạo ra cách sắp xếp thay thế bằng cách viết lại toàn bộ bảng chữ cái theo trật tự đảo ngược với bảng chữ cái ban đầu.

- Có một cách dễ hơn..

Sophie nói, lấy bút từ tay Teabing.

- Nó hiệu nghiệm đối với mọi mật mã thay thế phản chiếu, kể cả mật mã Atbash. Một mẹo nhỏ tôi học được ở Royal Holloway.

Sophie viết nửa bảng chữ cái đầu từ trái qua phải, sau đó bên dưới, viết phần còn lại của bảng chữ cái từ phải qua trái.

- Người giải mật mã gọi nó là fold-over. Giảm nửa phần phức tạp. Nhưng lại rõ ràng gấp đôi.


A B G D H V Z Ch T Y K

Th Sh R Q Tz P O S N M L


Teabing nhìn bảng kẻ bằng tay của cô và cười khúc khích:

- Cô đã đúng. Rất vui được thấy là các chàng trai ở Holloway làm tốt công việc của họ.

Nhìn vào ma trận thay thế của Sophie, Langdon cảm thấy một nỗi rộn ràng mỗi lúc một tăng mà ông nghĩ có thể sánh với nỗi rộn ràng của các nhà học giả khi lần đầu tiên họ đùng mật mã Atbash để giải mã Bí mật Sheshach, một bí mật giờ đây đã trở nên nổi tiếng. Suốt nhiều năm, các học giả về tôn giáo đã bối rối khó hiểu những chỗ trong Kinh Thánh quy chiếu đến một thành phố mang tên Sheshach. Thành phố này không xuất hiện trên bất cứ bản đồ nào hay bất cứ tài liệu nào nhưng lại được đề cập đến trong Sách của Jememiah - vị vua của Sheshach, thành phố Sheshach, nhân dân Shesbach. Cuối cùng, một học giả đã áp dụng mật mã Atbash vào từ này, và kết quả công việc của ông làm mọi người ngớ ra. Mật mã tiết lộ rằng Sheshach trên thực tế là một từ mã hóa cho một thành phố rất nổi tiếng khác. Quá trình rất đơn giản.

Sheshach, trong tiếng Hebrew được phát âm là: Sh - Sh - K Sh - Sh - K khi được thay thế trong ma trận trở thành B - B - L B - B - L, trong ngôn ngữ Hebrew, phát âm là Babel.

Thành phố bí ẩn Sheshach được tiết lộ là thành phố Babel, và tiếp đó một phong trào rộ lên như điên: xem xét lại Kinh Thánh. Trong vòng nhiều tuần, nhiều từ mật mã Atbash đã được phát hiện trong Kinh Cựu ước, phơi bày vô số ý nghĩa ẩn giấu mà các học giả cũng không biết là có ở đó.

- Chúng ta đang đến gần.

Langdon thì thầm, không thể kiểm soát niềm phấn khích của mình.

- Vài phân nữa, Robert ạ.

Teabing nói. Ông ngước nhìn Sophie và cười.

- Cô sẵn sàng chưa?

Cô gật đầu.

- Được rồi, Baphomet trong ngôn ngữ Hebrew không nguyên âm viết là: B - P - V - M - Th. Bây giờ chúng ta chỉ cần đối chiếu với ma trận thay thế Atbash để dịch những bí từ này sang mật khẩu năm chữ của chúng ta.

Tim Langdon đập thình thịch: B - P - V - M - Th. Ánh mặt trời đang tràn qua cửa sổ. Ông nhìn vào bảng ma trận đối chiếu của Sophie và chậm rãi thay thế. B là Sh. P là V..

Teabing cười toe toét như một cậu học sinh trong mùa Giáng sinh:

- Và mật mã Atbash hé lộ..

Ông dừng lại một lát.

- Chúa ơi!

Gương mặt ông trắng bệch đi.

Langdon ngẩng phắt đầu lên.

- Có chuyện gì không ổn?

Sophie hỏi.

- Cô không tin được đâu.

Teabing đưa mắt nhìn Sophie.

- Đặc biệt với cô.

- Ông định nói gì?

Cô nói.

- Điều này.. thật là tài tình.

Ông thì thầm:

- Cực kỳ tài tình!

Teabing viết lại trên giấy.

- Nổi trống lên! Đây là mật khẩu của quý vị.

Ông giơ cho họ thấy cái ông đã viết.

Sh - V - P - Y - A

Sophie cau mặt:

- Nó là cái gì?

Langdon cũng không nhận ra.

Gịong Teabing như run lên vì kính sợ:

- Bạn ạ, đây thực sự là một từ thông thái cổ xưa!

Langdon đọc lại những chữ đó. Một từ thông thái cổ giải thoát cuộn giấy này. Lát sau, ông hiểu ra. Ông đã không thấy điều này tới. Một từ thông thái cổ!

Teabing cười:

- Theo nghĩa đen!

Sophie nhìn từ này và sau đó nhìn đĩa chứ. Ngay lập tức, cô nhận ra là Langdon và Teabing đã không thấy một trục trặc nghiêm trọng:

- Khoan! Đây không thể là mật khẩu.

Cô cãi.

- Hộp mật mã không có Sh trên đĩa chữ. Nó dùng bảng chữ cái La Mã truyền thống.

- Đọc từ này lên.

Langdon giục.

- Hãy nhớ hai điều. Trong ngôn ngữ Hebrew, kí tự cho âm Sh cũng có thể được phát âm như S, phụ thuộc vào trọng âm. Cũng như chữ cái P có thể đọc là F.

SVFYA?

Cô nghĩ, bối rối.

- Thiên tài!

Teabing chêm vào.

- Chữ cái V thường thay thế cho nguyên âm O!

Sophie lại nhìn vào các chữ cái, cố đọc lên thành âm chuẩn.

S.. O.. F.. Y.. A

Cô nghe thấy chính tiếng mình, và không thể tin vào cái mình vừa thốt ra.

- Sophia? Chữ này phát âm như Sophia?

Langdon gật đầu:

- Phải! Sophia nghĩa đen là thông thái trong tiếng Hy Lạp. Tên gốc của cô, Sophie, là một "từ thông thái"

Sophie bỗng nhớ ông mình da diết. Ông đã mã hóa viên đá đỉnh vòm của Tu viện Sion bằng tên của mình. Cổ họng cô nghẹn lại. Tất cả dường như rất hoàn hảo. Nhưng khi cô quay lại nhìn vào năm đĩa chữ trong hộp mật mã, cô nhận thấy vẫn còn điều gì đó không ổn.

- Nhưng khoan đã.. Sophia có sáu chữ cái.

Nụ cười của Teabing dường như không bao giờ tắt:

- Hãy xem lại bài thơ. Ông cô đã viết "Một từ thông thái cổ"

- Nghĩa là?

Teabing nháy mắt:

- Trong tiếng Hy Lạp cổ, thông thái được viết là S-O-F-I-A.
 
Chỉnh sửa cuối:
23,402 ❤︎ Bài viết: 3779 Tìm chủ đề
CHƯƠNG 78

Sophie cảm thấy một nỗi háo hức cuồng dại khi cô đặt hộp mật mã vào lòng và bắt đầu quay đĩa chữ cái. Một từ thông thái cổ giải thoát cuộn giấy này. Langdon và Teabing như ngừng thở khi họ đứng nhìn.

S.. O.. F..

- Cẩn thận.

Teabing nài nỉ.

- Thật cẩn thận vào!

I.. A..

Sophie xoay đĩa chữ cuối cùng vào thẳng hàng:

- Được rồi!

Cô thì thầm, ngước nhìn hai người kia.

- Tôi sẽ kéo rời nó ra.

- Chú ý, nhớ cái lọ dấm đấy.

Langdon nói, phấn khởi pha lẫn sợ hãi.

- Hãy cẩn thận.

Sophie biết rằng nếu hộp mật mã này giống những hộp cô đã từng mở trong thời niên thiếu, tất cả những gì cô cần làm là nắm chặt hai đầu hình trụ, ngay mé ngoài chồng đĩa, và từ từ kéo đều tay về hai phía ngược nhau. Nếu chồng đĩa thẳng hàng đúng mật khẩu, thì một trong hai dầu sẽ trượt mở, giống như nắp một ống kính máy ảnh, và cô có thể với vào bên trong lấy cuộn tài liệu viết trên giấy papyrus, quấn quanh lọ dấm nhỏ. Tuy nhiên, nếu mật khẩu mà họ nhập không đúng, lực kéo ra của Sophie đối với hai đầu hình trụ sẽ truyền tới một đòn bẩy có lắp bản lề ở bên trong, đòn bẩy này sẽ xoay xuống lọt vào cái hốc và tạo áp lực trên chiếc lọ thủy tinh, cuối cùng làm nó vỡ tan nếu cô kéo quá mạnh.

Kéo nhẹ nhàng, cô tự nhủ.

Cả Teabing và Langdon đều cúi về phía Sophie khi cô nắm hai đầu chiếc ống hình trụ trong lòng bàn tay. trong niềm hứng khởi vì đã giải được từ mật mã, Sophie hầu như quên mất cái mà họ mong tìm thấy bên trong. Đó là viên đá đỉnh vòm của Tu viện Sion. Theo Teabing, nó chứa đựng một bản đồ chỉ dẫn tới Chén Thánh, tiết lộ ngôi mộ của Mary Maygdalene và kho báu Sangreal.. kho báu tối hậu của sự thật bí mật.

Lúc này, tay nắm chặt ống trụ đá, Sophie kiểm tra lại để đảm bảo tất cả các chữ cái đều đã thẳng hàng với con trỏ. Sau đó, chậm rãi, cô kéo. Không có gì xảy ra. Cô kéo mạnh hơn. Đột nhiên, hòn đá trượt ra giống như một ống kính viễn vọng tinh xảo.

Miếng ghép ở đầu tách rời ra trong tay cô. Langdon và Teabing gần như nhảy lên. Nhịp tim của Sophie đập đồn dập khi cô đặt cái nắp lên trên bàn và nghiêng ống trụ để nhòm vào bên trong.

Một cuộn giấy!

Nhòm vào trong cuộn giấy, Sophie thấy nó được quấn quanh vật hình trụ - cái lọ dấm, cô đoán. Tuy nhiên, lạ thay, tờ giấy bọc xung quanh lọ dấm không phải là thứ giấy mỏng thông thường - papyus mà là giấy da. Thật kì lạ, cô nghĩ, dấm không thể hòa tan giấy bằng da cừu. Cô nhìn lại vào lòng cuộn giấy và nhận ra vật ở giữa cuộn giấy không phải là lọ dấm. Nó là một vật hoàn toàn khác.

- Có gì không ổn sao?

Teabing hỏi.

- Kéo cuộn giấy ra đi.

Cau mày, Sophie nắm lấy cuộn giấy da và vật được gói bên trong, kéo cả hai ra khỏi ống đựng.

- Không phải giấy papyrus.

Teabing nói.

- Nó quá nặng.

- Tôi biết. Nó là thứ để đệm lót.

- Cho cái gì? Cho lọ dấm à?

- Không!

Sophie mờ cuộn giấy ra, để lộ cái gì được gói bên trong.

- Cho cái này.

Khi Langdon nhìn thấy vật bên trong cuộn giấy da, tim ông trĩu xuống.

- Chúa hãy giúp chúng ta?

Teabing nói.

- Ông cô quả là một kiến trúc sư tàn nhẫn.

Langdon ngỡ ngàng nhìn trăn trối. Mình thấy Saunière không có ý định làm cho điều này dễ dàng.

Một cái ống trụ thứ hai được đặt trên bàn. Nhỏ hơn. Làm bằng mã não đen. Được đặt nằm gọn trong ống thứ nhất. Đam mê của Saunière đối với thuyết nhị nguyên. Hai ống trụ. Mọi thứ đều thành đôi. Nghĩa là nước đôi. Đực - cái. Đen nằm bên trong trắng.

Langdon cảm thấy mạng biểu tượng đang triển khai. Trắng sinh ra đen.

Tất cả đàn ông đều sinh ra từ đàn bà.

Trắng - đàn bà.

Đen - đàn ông.

Với lấy cái hộp mật mã nhỏ hơn, Langdon nâng nó lên. Nó trông giống hệt cái hộp thứ nhất, ngoại trừ nó chỉ bằng một nửa về kích cỡ, có màu đen. Ông nghe thấy tiếng ùng ục quen thuộc. Có vẻ như cái lọ dấm mà họ đã nghe trước đây nằm bên trong cái ống trụ nhỏ này.

- Tốt, Robert.

Teabing nói, đẩy trang giấy da về phía Langdon.

- Các bạn sẽ hài lòng khi nghe thấy rằng chí ít chúng ta cũng đang bay đúng hướng.

Langdon xem xét miếng giấy da dày. Đó là bốn câu thơ khác được viết bằng một kiểu chữ hoa mĩ. Lại là thể thơ ngũ bộ iambic. Bài thơ thật bí hiểm, nhưng Langdon chỉ cần đọc câu đầu tiên cũng thấy được rằng kế hoạch của Teabing bay tới Anh là đắc sách.

Ở LONDON YÊN NGHỈ MỘT HIỆP SĨ ĐƯỢC GIÁO HOÀNG MAI TÁNG

Phần còn lại của bài thơ hàm ý rằng mật khẩu để mở cái ống trụ thứ hai có thể được tìm thấy bằng cách đến thăm ngôi mộ của hiệp sĩ này, ở đâu đó trong thành phố.

Langdon náo nức quay về phía Teabing:

- Ngài có biết bài thơ này nhắc đến hiệp sĩ nào không?

Teabing cười:

- Tuyệt đối không. Nhưng tôi biết đích xác chúng ta nên tìm ở hầm mộ nào.

Vào lúc đó cách mười lăm dặm, sáu chiếc xe cảnh sát ở Kent phóng rất nhanh trên những con phố ẩm ướt mưa, hướng về phía sân bay Biggin Hill Executive.
 
Chỉnh sửa cuối:
23,402 ❤︎ Bài viết: 3779 Tìm chủ đề
CHƯƠNG 79

Trung úy Collet tự rót cho mình một ly Perrier từ tủ lạnh của Teabing và sải bước qua phòng khách trở ra ngoài. Thay vì theo Fache tới London là hiện trường hành động, giờ đây anh phải làm "vú em" trông coi đội PTS đang rải ra khắp Château Villette.

Cho tới giờ, các bằng chứng họ phát hiện được không giúp ích gì cho lắm: một viên đạn găm trên sàn nhà, một tờ giấy với các biểu tượng được vẽ nguệch ngoạc kèm theo những từ lưỡi dao và thắt lưng hành xác và một dây lưng có ngạnh đẫm máu mà PTS nói với Collet rằng nó gắn liền với giáo đoàn Thiên Chúa giáo bảo thủ Opus Dei, nhóm này gần đây đã gây chấn động khi một chương trình tin tức vạch trần việc họ tuyển mộ người rất hung hãn ở Paris.

Collet thở dài. Chúc may mắn để hiểu ra được cái mớ hỗn tạp này.

Đi theo hành lang sang trọng, Collet bước vào phòng khiêu vũ rất rộng, nơi người kiểm tra chính của PTS đang bận rộn thu thập dấu vân tay. Anh ta là một người to béo mặc quần có dây đeo.

- Có gì không?

Collet bước vào hỏi.

Người kiểm tra lắc đầu:

- Không có gì mới. Nhiều bộ dấu tay khớp với những dấu tìm được khắp ở phần còn lại của ngôi nhà.

- Dấu tay trên chiếc đai hành xác thì sao?

- Interpol vẫn đang làm việc. Tôi đã nạp vào máy vi tính tất cả những thứ chúng ta tìm thấy.


Collet chỉ vào hai cái túi đựng bằng chứng đã niêm phong ở trên bàn:

- Còn những thứ này thì sao?

Người kia nhún vai:

- Sức mạnh của thói quen. Tôi bỏ vào túi tất cả những gì có vẻ đặc biệt.

Collet bước lại. Đặc biệt.

- Thật là một người Anh kỳ lạ.

Người kiểm tra nói.

- Hãy nhìn cái này mà xem.

Anh ta lục trong các túi đựng vật chứng và chọn ra một thứ, đưa cho Collet.

Bức ảnh thể hiện cổng chính của một thánh đường theo kiến trúc Gothic - một cổng tò vò truyền thống với những chỗ hõm, hẹp dần lại qua nhiều lớp có gờ nối tới một khung cửa nhỏ.

Collet nghiên cứu bức ảnh và hỏi lại:

- Đây là thứ đặc biệt. Hãy lật lại.

Ở mặt sau tấm ảnh, Collet thấy những ghi chú nguệch ngoạc bằng tiếng Anh, mô tả gian giữa trống và dài của một nhà thờ lớn như là một sự bí mật bày tỏ lòng tôn kính đối với tử cung người đàn bà. Điều này thật lạ lùng. Tuy nhiên, lời ghi chú mô tả cửa vào của một thánh đường, mới là cái làm anh giật mình.

- Này! Ông ta nghĩ cửa vào thánh đường biểu hiện cái.. của đàn bà.

Người nhân viên kiểm tra gật đầu:

- Đầy đủ cả mép âm hộ lẹm vào và một cái âm vật nhỏ xinh bên trên khung cửa.

Anh thở dài:

- Kiểu như khêu gợi ta muốn quay trở về nhà thờ.

Collet cầm chiếc túi đựng vật chứng thứ hai lên. Qua lớp nhựa, anh có thể nhìn thấy một tấm ảnh lớn có vẻ như là tài liệu cổ. Trên đầu bức ảnh ghi:

Les Dossiers Secrets - Number 4° lm 2491

- Cái gì đây?

Collet hỏi.

- Tôi không biết. Ông ta có những bản sao như vậy ở khắp nhà nên tôi cho nó vào trong túi.

Collet nghiên cứu tài liệu này.

RIEURE DE SIOIU - LES NAUTONIERS/ GRAND MASTERS JEAN DE GISORS 1188-1220

MARLE DE SAINT-CLAIR 1220-1266

GUILLAUME DE GISORS 1266-1307 EDOUARD DE BAR 1307-1336 JEAN DE BAR 1336-1351

JEAN DE SAINT-CLAIR 1351-1366 BLANCE D "EVREUX 1366-1398 NICOLAS FLAMEL 1398-1418 RENE D" ANJOU 1418-1480 IOLANDE DE BAR 1480-1483 SANDRO BOTTICELLI 1483-1510 LEONARDO DA VINCI 1510-1519

CONNETABLE DE BOURBON 1519-1527

FERDINAND DE GONZAQUE 1527-1575 LOUIS DE NEVERS 1575-1595

- 320 -

ROBERT FLUID 1595-1637

J. VALENTIN ANDREA 1637-1654 ROBERT BOYLE 1654-1691 ISAAC NEWTON 1691-1727 CHARLES RADCLYFFE 1727-1746

CHARLES DE LORRAINE 1746-1780 MAXIMILIAN DE LORRAINE 1780-1801 CHARLES NODIER 1801-1844

VICTOR HUGO 1844-1885 CLAUDE DEBUSSY 1885-1914 JEAN COCTEAU 1918-1963

Prieuré de Sion?

Collet phân vân.

- Trung úy?

Một nhân viên thò đầu vào.

- Tổng đài có một cú điện khẩn cho đại úy Fache, nhưng họ không liên lạc được với đại úy, ông có nhận điện không?

Collet quay trở lại nhà bếp và nhận cuộc gọi. Đó là André Vernet.

Âm sắc tao nhã của ông chủ nhà băng không đủ để che đậy sự căng thẳng trong giọng nói của ông:

- Tôi nghĩ Đại úy Fache nói là sẽ gọi điện cho tôi, nhưng tôi vẫn chưa nhận được tin tức gì từ ông ta.

- Đại úy đang bận.


Collet trả lời.

- Tôi có thể gỉúp gì cho ngài?

- Người ta cam đoan với tôi rằng tôi sẽ được cập nhật về diễn tiến công việc của các ông đêm nay.

Trong khoảnh khắc, Collet nghĩ anh đã nghe thấy giọng nói của người đàn ông này ở đâu đó, nhưng không xác định được cụ thể.

- Ngài Vernet, tôi đang chịu trách nhiệm điều tra ở Paris. Tôi là trung úy Collet.

Có một quãng ngưng dài trên đường dây:

- Trung úy, xin lỗi, tôi có một cuộc điện thoại khác đang chờ. Tôi sẽ gọi cho ông sau.

Ông ta gác máy.

Trong vài giây, Collet vẫn giữ ống nghe. Sau đó mọi thứ trở nên rõ ràng trong đầu anh.

Mình biết mình đã nhận ra giọng nói này! Phát hiện này làm anh há hốc miệng vì kinh ngạc.

Người lái chiếc xe bọc thép Với chiếc Rolex giả.

Bây giờ thì Collet mới hiểu tại sao ông chủ nhà băng lại vội vã cúp máy như vậy. Vernet đã nhớ ra cái tên trung úy Collet - người sĩ quan mà ông ta đã nói dối trắng trợn hồi đầu tối nay.

Collet ngẫm nghĩ về mối liên quan của diễn biến kì lạ này.

Vernet có dính líu. Theo bản năng, anh biết mình nên gọi cho Fache. Theo cảm tính, anh biết sự khám phá may mắn này sẽ là thời điểm để anh tỏa sáng.

Ngay lập tức anh gọi cho Interpol và yêu cầu tất cả những thông tin mà họ có thể tìm thấy về Nhà băng Ký thác Zurich và chủ tịch của nó, André Vernet.
 
Chỉnh sửa cuối:
23,402 ❤︎ Bài viết: 3779 Tìm chủ đề
CHƯƠNG 80
- Thắt dây an toàn.

Phi công của Teabing thông báo khi chiếc Hawker 731 hạ độ cao đi vào một đám mưa bụi ảm đạm buổi sáng.

- Chúng ta sẽ hạ cánh sau năm phút nữa.

Teabing cảm thấy niềm vui của người trở về cố hương khi ông nhìn thấy những ngọn đồi mù sương của Kent trải rộng dưới chiếc máy bay đang thấp dần. Từ Anh đến Paris chưa đầy một giờ bay, vậy mà như cách nhau cả một thế giới. Sáng nay, màu xanh đẫm mưa sương của mùa xuân quê hương như đặc biệt chào đón ông. Thời gian của ta ở Pháp đã hết. Ta đang trở về nước Anh trong tư thế chiến thắng. Viên đá đỉnh vòm đã được tìm ra. Tất nhiên, vẫn còn câu hỏi là viên đá đỉnh vòm đó cuối cùng sẽ dẫn đến đâu. Một nơi nào đó trên Vương quốc Anh. Chính xác là đâu, Teabing chưa biết nhưng ông đang nếm hương vị chiến thắng rồi.

Trong khi Langdon và Sophie nhìn theo, Teabing đứng dậy, đi sang mé bên kia cabin, rồi kéo một tấm ván tường sang bên để lộ một chiếc két được giấu kín sau tường. Ông quay số và mở két an toàn, lấy ra hai tấm hộ chiếu.

- Giấy tờ cho Rémy và cho tôi.

Sau đó, ông rút ra một tập dầy toàn tiền năm mươi bảng.

- Và giấy tờ cho hai bạn.

Sophie có vẻ cảnh giác:

- Một khoản hối lộ?

- Ngoại giao sáng tạo mà. Các sân bay hành chính thường có chút chiếu cố. Một nhân viên hải quan Anh sẽ đón chúng ta tại nhà chứa máy bay của tôi cũng được lên máy bay kiểm tra. Thay vì cho phép anh ta lên, tôi sẽ bảo anh ta là tôi đi cùng một nữ danh nhân Pháp, cô ấy không muốn ai biết mình có mặt ở Anh - báo chí hay làm rùm beng, bạn biết đấy - và tôi sẽ tặng nhân viên đó món tiền boa hậu hĩnh này để cảm ơn về sự kín đáo của anh ta.


Langdon có vẻ ngạc nhiên:

- Và người nhân viên hải quan sẽ nhận?

- Không phải với bất kỳ ai, bình thường thì họ sẽ không nhận, nhưng tất cả những người này đều biết tôi. Tôi không phải là một người buôn vũ khí, lạy Chúa! Tôi được phong hiệp sĩ cơ mà.


Teabing mỉm cười.

- Tư cách thành viên Hoàng gia có đặc quyền của nó.

Lúc này, Rémy theo lối đi giữa các hàng ghế tiến lại gần, khẩu Heckler & Koch trong tay:

- Thưa ngài, nhiệm vụ của tôi là gì?

Teabing liếc nhìn người thân bộc:

- Tôi cần anh ở lại trên máy bay với vị khách của chúng ta cho đến khi chúng tôi quay lại. Chúng tôi không thể kéo lê hắn đi theo khắp London được.

Sophie có vẻ cảnh giác:

- Leigh. Tôi thực sự lo rằng cảnh sát Pháp sẽ tìm thấy chiếc máy bay của ngài trước khi chúng ta trở lại.


Teabing cười:

- Phải, hãy tưởng tượng sự ngạc nhiên của họ nếu họ lên máy bay và thấy Rémy.

Sophie có vẻ ngạc nhiên về thái độ xàm xỡ của ông:

- Leigh, ngài đã vận chuyển một con tin bị trói qua biên giới quốc tế.

- Điều này là nghiêm trọng đấy.

- Các luật sư của tôi cũng nghiêm túc.


Ông đưa mắt nhìn về hướng gã thầy tu ở sau máy bay.

- Đồ súc vật này đột nhập vào nhà tôi và suýt giết tôi. Đó là sự thật và Rémy sẽ làm chứng.

- Nhưng ông đã trói anh ta và chở anh ta bằng máy bay tới London?


Langdon nói.

Teabing giơ bàn tay phải lên và phác một cử chỉ như khi thề ở tòa án:

- Thưa quý tòa, xin hãy tha thứ cho một hiệp sĩ già lập dị về định kiến ngu ngốc của ông ta đối với hệ thống tòa án của Anh. Tôi nhận ra là tôi nên gọi đến các nhà chức trách Pháp, nhưng tôi là một kẻ hợm mình và không tin những người Pháp laise-farei đó. Có thể xử một cách đúng đắn. Người đàn ông này đã suýt giết tôi. Và tôi đã có một quyết định liều lĩnh là bắt người hầu của tôi phải giúp tôi đưa hắn ta về Anh, nhưng tại lúc đó tôi đang chịu áp lực quá lớn. Mea culpa. Mea culpai.

Langdon có vẻ hoài nghi:

- Leigh, từ miệng ngài nói ra, điều ấy có thể cho qua.

- Thưa ngài?

Viên phi công gọi.

- Đài không lưu vừa mới gọi. Họ có vấn đề gì đó về việc duy tu bảo dưỡng ở gần nhà chứa máy bay của chúng ta và yêu cầu tôi đưa máy bay thẳng tới chỗ ga hành khách của sân bay thay vì đến thẳng nhà chứa máy bay.

Teabing thường xuyên đã bay tới Biggin Hill trong hơn một thập kỷ nay và đây là lần đầu tiên có chuyện như thế này.

- Họ có nói vấn đề đó là gì không?

- Người kiểm soát không lưu rất mơ hồ. Điều gì đó về việc khí ga rò rỉ ở trạm bơm xăng thì phải? Họ yêu cầu tôi đỗ phía trước ga hành khách và giữ mọi nguời ở trên máy bay cho đến khi có lệnh khác. Đề phòng về an toàn đấy ạ. Chúng ta không đuợc ra khỏi máy bay cho đến khi chúng ta được những người có thẩm quyền ở sân bay cho phép.


Teabing nghi ngờ. Chắc phải là một vụ rò rỉ khí ga kinh thiên động địa. Trạm bơm xăng cách nhà chứa máy bay của ông những nửa dặm cơ mà.

Rémy cũng có vẻ lo lắng:

- Thưa ngài, chuyện này nghe rất trái lẽ thường.

Teabing quay sang Sophie và Langdon:

- Các bạn của tôi, tôi có mối nghi ngờ chẳng thú vị gì là chúng ta sắp được cả một ủy ban đón tiếp.

Langdon khẽ thở dài:

- Tôi đoán Fache vẫn nghĩ tôi là đối tượng của ông ta.


- Hoặc là như vậy.

Sophie nói.

- Hoặc là ông ấy dấn sâu quá mức vào vụ này để có thể thú nhận sai lầm của mình.


Teabing không lắng nghe. Bất kể sự cố chấp của Fache thì vẫn cần phải hành động gấp. Không được rời mắt khỏi mục tiêu cuối cùng. Chén Thánh. Chúng ta đã ở rất gần. Bên dưới họ, càng máy bay đã hạ xuống với một tiếng cạch.

- Leigh.

Langdon nói, giọng nghe đầy hối hận.

- Tôi nên tự nộp mình và tìm cách giải quyết việc này theo pháp luật. Để ông đứng ngoài toàn bộ chuyện này.

- Ôi trời, Robert!


Teabing khoát tay.

- Anh thực sự nghĩ là họ sẽ thả những người còn lại trong chúng ta sao? Tôi vừa mới vận chuyển các bạn trái phép. Cô Neveu giúp anh trốn thoát từ Louvre, và chúng ta có một gã bị trói ở đằng sau máy bay. Quả thật, tất cả chúng ta cùng hội cùng thuyền mà.

- Có thể có một phi cảng khác?


Sophie nói.

Teabing lắc đầu:

- Nếu bây giờ chúng ta đổi hướng thì vào lúc chúng ta được phép hạ cánh xuống bất cứ nơi nào khác, đoàn chào mừng chúng ta sẽ bao gồm cả xe tăng quân sự!


Sophie ngồi phịch xuống.

Teabing cảm thấy rằng nếu họ có cơ may trì hoãn việc đối mặt với các nhà chức trách Anh đủ lâu để tìm Chén Thánh thì phải hành động táo bạo hơn.

- Chờ tôi một phút.

Ông nói và đi khập khiễng về phía buồng lái.

- Ông đang làm gì vậy?

Langdon hỏi.

- Họp bàn chuyện mua bán.

Teabing nói, tự hỏi không biết phải chi bao nhiêu để thuyết phục phi công của mình thực hiện một chiêu thức hết sức bất thường.
 
Chỉnh sửa cuối:
23,402 ❤︎ Bài viết: 3779 Tìm chủ đề
CHƯƠNG 81

Chiếc Hawker đang trong giai đoạn tiếp đất cuối cùng.

Simon Edwards - quan chức Điều hành Dịch vụ tại sân bay Biggin Hill Executive - đi tới đi lui trong đài quan sát, nheo mắt nhìn lo âu về đường băng ướt mưa. Ông chẳng bao giờ ưa bị đánh thức sớm vào sáng thứ bẩy, nhưng đặc biệt khó chịu khi bị gọi đến để giám sát việc bắt giữ một trong những khách hàng xộp nhất của mình. Ngài Leigh Teabing không chỉ trả cho sân bay Biggin Hill tiền thuê cái hăng-ga riêng, mà còn cả một khoản "phí hạ cánh" cho mỗi lần đến và đi đều đặn của ông. Thông thường, 8ân bay này được báo trước lịch hành trình của Teabing và có thể tuân theo một thủ tục nghiêm ngặt đối với những lần đến của ông. Teabing thích mọi sự phải được thực hiện đúng như thế. Chiếc limousine có thể kéo dài mang nhãn hiệu Jaguar làm theo đơn đặt hàng của khách mà ông giữ trong hăng-ga phải luôn đầy xăng, lau rửa bóng lộn, và một tờ Thời báo Lonlon trong ngày để sẵn ở ghế sau. Một nhân viên hải quan đợi sẵn chiếc máy bay tại hăng-ga để xúc tiến việc kiểm tra hành lý và tài liệu bắt buộc. Thi thoảng, những nhân viên hải quan đã nhận những khoản tiền boa lớn từ Teabing để lờ đi việc vận chuyển một số đồ hữu cơ vô hại - hầu hết là thức ăn xa xỉ - ốc sên Pháp, một loại phomat Requefort đặc biệt không chế biến, một vài loại hoa quả nào đó. Vả chăng nhiều luật của hải quan cũng vô lý, và nếu sân bay Biggin Hill không chiều ý khách của mình thì chắc chắn các sân bay cạnh tranh sẽ hứng ngay. Teabing được đáp ứng những gì ông ta muốn ở đây, tại sân bay Biggin Hill và những nhân viên thì thu được lợi lộc.

Lúc này, Edward cảm thấy thần kinh căng thẳng khi nhìn chiếc phản lực tiến vào. Ông tự hỏi phải chăng khuynh hướng hào phóng của Teabing, cách nào đó, đã làm cho ông ta gặp rắc rối, nhà chức trách Pháp dường như quyết tâm ngăn chặn ông. Edward còn chưa được cho bỉết là ông bị kết những tội gì nhưng rõ ràng chúng rất nghiêm trọng. Theo yêu cầu của nhà chức trách Pháp, cảnh sát Kent ra lệnh cho nhân viên kiểm soát không lưu đánh điện bằng rađiô cho phi công của chiếc máy bay Hawker và yêu cầu anh ta đến thẳng ga hành khách thay vì nhà chứa máy bay riêng của Teabing. Viên phi công đã đổng ý rõ ràng anh ta tin câu chuyện khó tin về vụ rò rỉ khí ga.

Cho dù cảnh sát Anh không thường mang vũ khí, nhưng do tính nghiêm trọng của tình hình nên vẫn xuất hiện một đội được trang bị vũ khí. Tám cảnh sát với súng ngắn đứng ở bên trong ga hành khách, chờ lúc động cơ máy bay dừng hẳn. Đến lúc đó người phục vụ đường băng sẽ đặt những cái nêm an toàn dưới lốp xe để - máy bay không còn dịch chuyển được nữa.

Sau đó cảnh sát xuất hiện và khống chế những người trên máy bay cho đến khi cảnh sát Pháp đến xử lý tình hình.

Chiếc Hawker đã xuống thấp, đang bay là là trên ngọn cây phía tay phải họ. Simon Edwards đi xuống cầu thang để quan sát việc hạ cánh ngang tầm đường băng. Toán cảnh sát Kent đã ở tư thế sẵn sàng, vừa vặn khuất lầm nhìn, và người nhân viên bảo dưỡng đứng chờ đợi cùng với những cái nêm. Bên ngoài đường băng mũi của chiếc Hawker nghếch lên và bánh xe khẽ chạm đất trong thời gian một hơi thuốc. Chiếc máy bay giảm tốc độ lượn thành vệt từ phải sang trái trước ga hành khách, thân màu trắng của nó sáng lấp lánh trong thời tiết ẩm ướt.

Nhưng thay vì phanh lại và quay đầu vào ga hành khách, thì chiếc phản lực bình thản băng qua làn đường vào ga và tiếp tục đi về phía hăng-ga của Teabing ở đằng xa.

Tất cả cảnh sát quay lại và nhìn chằm chằm vào Edwards:

- Tôi tưởng anh nói người phi công đã đồng ý đến thẳng ga hành khách.

Edwards ngớ ra:

- Đúng thế mà!

Lát sau, Edwards thấy mình ngồi kẹp trong chiếc xe cảnh sát phóng qua đường băng về phía hăng-ga ở đằng xa. Tốp cảnh sát còn cách cả năm trăm thước thì chiếc Hawker của Teabing đã thản nhiên tiến vào hăng-ga riêng và bìến mất. Cuối cùng, khi tốp xe con tới và dừng kít lại bên ngoài hăng-ga, cảnh sát ào ra, súng lăm lăm.

Edwards cũng nhảy ra. Tiếng ồn ào đinh tải.

Động cơ của chiếc Hawker vẫn gầm lên khi chiếc phản lực chấm dứt vòng quay thông thường bên trong hăng-ga, vào vị trí quay mũi ra, sẵn sàng cho chuyến xuất phát sau. Khi chiếc máy bay hoàn thành động tác quay vòng 180o và chạy về phía trước hăng-ga, Edwards có thể nhìn thấy mặt viên phi công, có thể hiểu được anh ta kinh ngạc và sợ hãi như thế nào khi thấy cả một hàng rào xe cảnh sát.

Phi công dừng hắn máy bay và tắt động cơ. Cảnh sát tràn vào, chiếm lĩnh vị trí xung quanh chiếc phản lực. Edwards cùng với viên chánh thanh tra cảnh sát quận Kent di chuyển một cách thận trọng về phía cửa máy bay. Sau một vài giây, cửa máy bay mở ra.

Leigh Teabing xuất hiện ở khung cửa khi chiếc thang điện nhẹ nhàng hạ xuống. Nhìn thấy cả một biển vũ khí nhằm vào mình, ông chống đôi nạng và gãi đầu:

- Simon, có phải là tôi trúng xổ số của cảnh sát trong khi vắng nhà không?

Giọng ông có vẻ ngơ ngác hơn là lo lắng.

Simon Edwards bước lên, ráng nuốt cái cục chẹn ngang cổ họng:

- Chào ngài, tôi xin lỗi về sự nhầm lẫn. Chúng tôi có khí rò rỉ và phi công của ngài nói anh ta đến thẳng ga hành khách.

- Vâng, vâng, phải, nhưng thay vì như thế, tôi bảo anh ta đến đây. Tôi đang muộn một cuộc hẹn. Tôi trả tiền cho hăng-ga này, và cái chuyện vẽ vời né tránh chỗ khí ga rò rỉ nghe có vẻ quá ư thận trọng.

- Tôi e rằng việc ngài đến đã làm chúng tôi hơi bất ngờ, thưa ngài.

- Tôi biết Tôi về không đúng lịch chữa bệnh mà. Nói riêng với nhau, phương pháp điều trị mới làm tôi bí tiểu tiện. Tôi nghĩ mình phải về để điều chỉnh lại thuốc.

Đám cảnh sát đưa mắt nhìn nhau. Edwards nhăn nhó:

- Rất tốt, thưa ngài.

- Thưa ngài.

Chánh thanh tra cảnh sát quận Kent bước lên phía trước.

- Tôi yêu cầu ngài ở lại trên máy bay khoảng nửa tiếng nữa.

Teabing có vẻ không vui khi ông tập tễnh bước xuống cầu thang:

- Tôi e là không thể được. Tôi có một cuộc hẹn khám sức khoẻ.

Ông xuống tới đường băng.

- Tôi không thể lỡ hẹn.

Chánh thanh tra tiến đến chặn không để cho Teabing rời khỏi máy bay:

- Tôi tới đây theo lệnh của Cảnh sát tư pháp Pháp. Họ quả quyết ngài đang chở những kẻ lẩn trốn pháp luật trên chiếc máy bay này.

Teabing nhìn chằm chằm vào viên chánh thanh tra hồi lâu rồi cười phá lên:

- Đây là một trong những chương trình quay phim được giấu kín phải không? Hay đấy!

Chánh thanh tra không nao núng:

- Điều này là nghiêm trọng, thưa ngài. Cảnh sát Pháp khẳng định ngài còn có một con tin trên máy bay.

Người hầu của Teabing là Rémy xuất hiện ở ô cửa đầu cầu thang:

- Tôi cảm thấy như mình là một con tin làm việc cho ngài Leigh, nhưng ngài cam đoan với tôi rằng tôi được tự do đi khỏi.

Rémy nhìn đồng hồ.

- Ông chủ, quả là chúng ta đang bị trễ đấy.

Ông ta gật đầu về hướng chiếc limousine có thể kéo dài mang nhãn hiệu Jaguar ở góc đằng kia hăng-ga. Chiếc ô tô đồ sộ màu gỗ mun với kính mờ và lốp màu tường trắng.

- Tôi sẽ đưa xe lại.

Rémy bắt đầu xuống cầu thang.

- Tôi e rằng chúng tôi không thể để các ông đi được.

Chánh thanh tra nói.

- Xin hãy trở lại máy bay. Cả hai ông. Đại diện của cảnh sát Pháp sẽ hạ cánh trong chốc lát.

Lúc này, Teabing nhìn Simon Edwards:

- Lạy Chúa, Simon, chuyện này thật lố bịch! Chúng tôi không có bất cứ ai khác trên máy bay. Chỉ như mọi khi - Rémy, viên phi công của chúng tôi và bản thân tôi. Có lẽ ông có thể làm trung gian chứ? Hãy lên kiểm tra máy bay và chứng thực là không có ai cả.

Edwards biết mình bị mắc kẹt:

- Vâng, thưa ngài. Tôi có thể xem xét.

- Đừng hòng!

Chánh thanh tra quận Kent tuyên bố, rõ ràng nắm khá vững về những sân bay hành chính đủ để ngờ rằng Simon Edwards rất có thể nói dối về những người trên máy bay nhằm duy trì được quan hệ làm ăn với Teabing tại sân bay Biggin Hill.

- Tự tôi sẽ xem xét.

Teabing lắc đầu:

- Không, ông không được làm thế, thanh tra.

- Đây là tài sản cá nhân và cho tới khi ông có lệnh khám xét, ông vẫn phải ở ngoài máy bay của tôi. Tôi đang đề xuất với ông một phương án hợp lý đấy. Ông Edwards có thể thực hiện việc kiểm tra này.

- Không thương lượng gì hết.

Thái độ của Teabing trở nên lạnh lùng:

- Thanh tra, tôi e mình không có thời gian để chiều theo trò chơi của ông. Tôi đã muộn, và tôi phải đi. Nếu điều quan trọng đối với ông là ngăn chặn tôi thì ông sẽ phải bắn tôi.

Nói rồi, Teabing và Rémy đi quành qua viên chánh thanh tra và ngang qua hăng-ga tới chỗ chiếc limousine đang đậu.

Chánh thanh tra quận Kent chỉ cảm thấy ghê tởm đối với Leigh Teabing khi ông này tập tễnh đi quành qua ông, đầy vẻ thách thức. Những người có đặc quyền đặc lợi luôn luôn cảm thấy như là họ đứng trên luật pháp.

Họ không thể. Chánh thanh tra quay lại và nhằm súng vào lưng Teabing:

- Đứng lại! Tôi sẽ bắn!

- Bắn đi.

Teabing nói mà không thèm dừng bước hoặc ngoái lại.

- Luật sư của ta sẽ nấu xốt tinh hoàn của anh làm bữa điểm tâm. Và nếu anh dám lên máy bay của ta mà không có lệnh khám xét, thì lá lách của anh sẽ là món tiếp theo đấy.

Không lạ gì những ngón giương vây quyền lực, viên chánh thanh tra chẳng hề run sợ. Về mặt thủ tục pháp lý, Teabing đã đúng và cảnh sát cần có lệnh khám xét để lên chiếc phản lực của ông ta, nhưng vì chuyến bay này xuất phát từ Pháp, và vì tay Bezu Fache đầy quyền lực đã trao quyền, nên chánh thanh tra quận Kent cảm thấy chắc chắn sự nghiệp của mình sẽ tốt đẹp hơn bằng việc khám phá ra những gì mà Teabing dường như cố gắng giấu kín trên chiếc máy bay này.

- Chặn họ lại.

Chánh thanh tra ra lệnh.

- Tôi sẽ lục soát máy bay.

Người của ông ta lao tới, súng chĩa ra, chặn đường hai thày trò Teabing, không cho tới chiếc limousine.

Bấy giờ Teabing mới quay lại:

- Thanh tra, đây là lời cảnh cáo cuối cùng dành cho anh. Đừng có nghĩ đến chuyện lên chiếc máy bay này. Anh sẽ phải hối tiếc đấy.

Phớt lờ lời hăm dọa, chánh thanh tra nắm chặt vũ khí và bước lên cầu thang rút của máy bay. Tới cửa sập, ông ngó vào bên trong. Lát sau, ông bước vào cabin. Quái quỷ gì thế này?

Ngoại trừ viên phi công vẻ như thất đảm trong khoang lái, máy bay trống không. Hoàn toàn không có sự sống của con người. Nhanh chóng kiểm tra phòng vệ sinh, ghế và nơi để hành lý, chánh thanh tra không tìm thấy dấu vết của bất cứ một người lẩn trốn nào.. chưa nói gì đến nhiều cá nhân.


Bezu Fache đã nghĩ ra chuyện quái quỉ gì vậy? Dường như Teabing đã nói thật.

Chánh thanh tra đứng một mình trong cabin vắng teo và nuốt nghẹn. Cứt. Mặt ông ta bừng đỏ, ông quay lại cầu thang rút, nhìn qua hăng-ga về phía hai thầy trò Leigh Teabing đang đứng gần chiếc limousine trước những họng súng.

- Để họ đi.

Thanh tra ra lệnh.

- Chúng ta nhận được thông tin sai rồi.

Mắt Teabing đầy vẻ đe dọa, ngay cả qua chiều rộng của hăng-ga cũng thấy rõ:

- Anh hãy chờ một cuộc gọi từ các luật sư của ta. Và để tham khảo sau này, nên nhớ rằng cảnh sát Pháp không thể tin cậy được.

Với lời đe da đó, người giúp việc của Teabing mở cửa sau chiếc limousine và đỡ ông chủ tàn tật ngồi vào ghế sau. Rồi, đi theo chiều dài của xe, ngồi vào sau vô lăng và khởi động. Cảnh sát tản ra khi chiếc Jaguar bứt khỏi hăng-ga.


* * *

- Chơi tốt lắm, anh bạn.

Teabing reo lên từ ghế sau khi chiếc limousine tăng tốc ra khỏi sân bay. Ông quay mắt nhìn vào góc phía trước lờ mờ sáng của khoang trong rộng rãi:

- Mọi người đầy thoải mái chứ?

Langdon gật đầu yếu ớt. Ông và Sophie vẫn nằm khom khom trên sàn xe, bên cạnh gã bạch tạng bị bịt miệng và trói chặt.

Nhiều phút trước, lúc chiếc Hawker lăn bánh vào hăng-ga trống vắng, Rémy đã bật mở cửa sập dưới bụng của máy bay trong khi nó khấp khểnh dừng lại giữa chừng vòng của. Trong khi cảnh sát cấp tốc áp sát hăng-ga, Langdon và Sophie kéo gã thầy tu xuống cầu thang rút đến ngang mặt đất và khuất tầm mắt sau chiếc limousine. Sau đó, động cơ máy bay lại gầm lên, hoàn tất vòng của của nó khi đoàn xe cảnh sát tràn vào hăng-ga.

Giờ đây, khi chiếc limousine phóng nhanh về phía Kent, Langdon và Sophie lồm cồm đứng dậy đi về phía cuối khoang trong dài rộng của chiếc xe thượng đẳng, để lại gã thầy tu bị trói trên sàn. Họ ngồi trên chiếc ghế dài đối diện với Teabing. Ông già người Anh tặng cho cả hai một nụ cười tinh quái và mở tủ rượu của quầy bar trong xe.

- Tôi có thể mời các bạn một ly được không? Một chút đồ nhắm nhé? Khoai tây rán? Hạt dẻ?

Cả Sophie và Langdon đều lắc đầu.

Teabing cười tươi và đóng quầy rượu:

- Vậy thì ta bàn về nấm mộ của người hiệp sĩ..
 
Chỉnh sửa cuối:
23,402 ❤︎ Bài viết: 3779 Tìm chủ đề
Mật Mã Davinci - Chương 82

- Phố Fleet?

Langdon hỏi, nhìn Teabing ở phía sau xe. Có một hầm mộ ở phố Fleet ư? Cho đến giờ, Leigh vẫn chơi trò kín kín hở hở về nơi mà ông nghĩ là họ có thể tìm thấy "mộ của người hiệp sĩ", mà theo bài thơ, sẽ cung cấp mật khẩu cho việc mở cái hộp mật mã nhỏ hơn.

Teabing cười và quay sang Sophie:

- Cô Neveu, hãy đưa cho chàng trai Harvard xem qua bài thơ một lần nữa, được không?

Sophie lục tìm trong túi và rút ra chiếc hộp mật mã màu đen, bọc trong giấy da. Mọi người đã quyết định để lại chiếc hộp gỗ hồng mộc và hộp mật mã lớn hơn trong két sắt của máy bay, chỉ mang theo cái họ cần là chiếc hộp mật mã màu đen kín đáo và gọn nhẹ hơn nhiều. Sophie mở tấm giấy bọc và đưa cho Langdon.

Mặc dù Langdon đã đọc bài thơ đó vài lần trên máy bay rồi nhưng ông cũng không thể suy ra được một địa điểm cụ thể nào. Giờ đây, khi đọc lại những từ trong bài thơ, ông từ từ nghiền ngẫm thật cẩn thận, hy vọng giờ đây, ở trên mặt đất, tiết tấu ngũ bộ sẽ hé lộ ý nghĩa rõ ràng hơn.

Ở London yên nghỉ một hiệp sĩ được Giáo hoàng mai táng. Kết quả công sức chàng chuốc lấy cơn thịnh nộ Thần Thánh. Ngươi kiếm tìm trái cầu lẽ ra phải ở trên mộ chàng.

Nó nói về da thịt Hồng và tử cung mang hạt giống.

Ngôn từ dường như khá đơn giản. Có một hiệp sĩ được chôn ở London. Một hiệp sĩ đã khổ công làm một điều gì đó khiến Giáo hội tức giận. Một hiệp sĩ mà mộ của chàng thiếu mất một quả cầu lẽ ra phải có ở đó. Hình tượng cuối cùng được nhắc tới trong bài thơ - da thịt Hồng và tử cung mang hạt giống - là một ám chỉ rõ ràng đến Mary Magdalene, đóa Hồng mang hạt giống của Jesus.

Mặc dù bài thơ có vẻ dễ hiểu, Langdon vẫn không sao biết được hiệp sĩ đó là ai hoặc được chôn ở đâu. Hơn nữa, một khi đã xác định được vị trí ngôi mộ, xem ra còn phải tìm một cái gì đó bị thiếu. Trái cầu lẽ ra phải ở trên mộ chàng?

- Không nghĩ ra à?

Teabing tặc lưỡi ra vẻ thất vọng, mặc dù Langdon cảm thấy nhà sử học Hoàng gia đang khoái vì đã nắm được một nguồn tin.

- Còn cô Neveu?

Cô lắc đầu.

- Hai bạn sẽ làm gì nếu không có tôi?

Teabing nói.

- Được, tôi sẽ dẫn các bạn đi qua bài thơ này. Nó thực sự rất đơn giản. Câu thứ nhất chính là chìa khóa. Xin đọc lên nào.

Langdon đọc to:

- Ở London yên nghỉ một hiệp sĩ được Giáo hoàng mai táng.

- Chính xác. Một hiệp sĩ được pope - Giáo hoàng mai táng.

Ông nhìn Langdon.

- Theo anh, điều đó có nghĩa là gì?

Langdon nhún vai:

- Một hiệp sĩ đã được một Giáo hoàng chôn cất. Một hiệp sĩ được một Giáo hoàng chủ trì tang lễ.

Teabing cười to:

- Ồ, thật. Bao giờ cũng lạc quan, Robert. Hãy xem câu thứ hai. Hiển nhiên là hiệp sĩ này đã làm điều gì đó để chuốc lấy cơn thịnh nộ Thần Thánh của Giáo hội. Hãy nghĩ lại. Hãy xét năng động giữa Giáo hội và các Hiệp sĩ Templar. Một hiệp sĩ đã được một Giáo hoàng mai táng phải không?

- Một hiệp sĩ bị một Giáo hoàng giết phải không?

Sophie hỏi.

Teabing mỉm cười và vỗ vỗ vào đầu gối cô:

- Suy luận tốt lắm, cô bạn thân mến. Một hiệp sĩ bị một Giáo hoàng chôn. Tức bị giết.

Langdon nghĩ đến chiến dịch khét tiếng truy quét các Hiệp sĩ Templar vào năm 1307 - ngày thứ sáu 13 bất hạnh - khi Giáo hoàng Clement đã giết và chôn hàng trăm Hiệp sĩ Templar.

- Nhưng hẳn phải có vô số mộ của những hiệp sĩ bị Giáo hoàng giết?

- Aha, không phải như vậy!

Teabing nói.

- Nhiều người trong số họ bị thiêu trên giàn thiêu và bị ném thẳng xuống sông Tiber. Nhưng bài thơ này nhắc đến một ngôi mộ. Một ngôi mộ ở London. Và có một số hiệp sĩ được chôn ở London.

Ông dừng lại nhìn Langdon như thể đang đợi ánh sáng hé rạng trong đầu ông ta. Cuối cùng ông sốt ruột:

- Robert, vì Chúa! Ngôi nhà thờ do đội quân của Tu viện Sion xây dựng ở London - chính các Hiệp sĩ Templar!

- Nhà thờ Temple?

Langdon hít vào, kinh ngạc.

- Ở đó có hầm mộ?

- Mười trong số những ngôi mộ ghê sợ nhất anh có thể thấy.

Langdon chưa từng đến Nhà thờ Temple, mặc dù ông đã đọc rất nhiều giới thlệu chiếu về nó trong quá trình nghiên cứu về Tu viện Sion. Đã từng một thời là trung tâm cho mọi hoạt động của các Hiệp sĩ Templar và Tu viện Sion ở nước Anh, Nhà thờ Temple được đặt tên như thế để tôn vinh Solomon's Temple - Đền thờ Solomon mà từ đó các Hiệp sĩ Templar rút ra danh hiệu của mình cũng như những tài liệu Sangreal đã mang lại cho họ ảnh hưởng to lớn ở Roma. Có rất nhiều truyện về các hiệp sĩ tiến hành những nghi thức kỳ lạ, bí mật bên trong hậu cung khác thường của Nhà thờ Temple.

- Nhà thờ Temple ở phố Fleet?

- Thực tế, nó ở ngõ Inner Temple ngay sát phố Fleet.

Nom Teabing thật ranh mãnh.

- Tôi muốn thấy anh đổ mồ hôi thêm tí nữa trước khi tôi nói ra.

- Cảm ơn.

- Cả hai đều chưa đến đó phải không?

Sophie và Langdon gật đầu.

- Tôi không ngạc nhiên.

Teabing nói.

- Giờ đây Nhà thờ Temple đã bị che khuất sau những tòa nhà lớn hơn. Thậm chí rất ít người biết có nó ở đó. Nơi cổ kính bí hiểm. Kiến trúc ngoại giáo đến tận cốt lõi.

Sophie có vẻ ngạc nhiên:

- Ngoại giáo?

- Ngoại giáo mang tính chất đa thần!

Teabing thốt lên.

- Nhà thờ hình tròn. Các Hiệp sĩ Templar đã bỏ qua thiết kế quy hoạch hình chữ thập theo truyền thống của người Cơ đốc và xây dựng một nhà thờ hình tròn hoàn hảo để tôn vinh mặt trời.

Lông mày ông biểu diễn một vũ điệu quỷ quái.

- Một lời chào không mấy tế nhị gửi tới những chàng trai ở Roma. Khác nào họ khôi phục lại Stonehenge. Ở trung tâm London vậy.

Sophie nhìn Teabing:

- Thế còn những câu sau của bài thơ?

Vẻ vui thích của nhà sử gia nhạt dần:

- Tôi không chắc. Thật khó mà lần cho ra. Chúng ta cần cẩn thận xem xét từng chiếc trong mười ngôi mộ. Nếu may mắn, ta sẽ thấy một trong số đó rõ ràng là thiếu một quả cầu.

Langdon nhận thấy họ đã gần mục tiêu đến mức nào. Nếu quả cầu thiếu vắng cho biết mật khẩu thì họ có thể mở cái hộp mật mã thứ hai. Ông thấy khó tưởng tượng ra những gì họ có thể tìm thấy bên trong.

Langdon xem lại bài thơ. Nó giống như một loại trò chơi ô chữ thuở xưa. Một từ có năm chữ cái nói về Chén Thánh? Trên máy bay, họ đã thử tất cả những mật khẩu có vẻ là hiển nhiên: GRAIL, GRAAL, GREAL, VENUS, MARI JESUS, SARAH - nhưng hình trụ không nhúc nhích. Quá hiển nhiên. Vẻ như có một từ năm chữ cái nào khác liên quan đến tử cung mang thai của Rose. Việc một chuyên gia như Leigh Teabing cũng không nắm bất được cái từ này cho Langdon thấy rằng đây không phải là một từ quy chiếu đến Chén Thánh một cách thông thường.

- Ngài Leigh?

Rémy gọi qua vai. Ông ta đang nhìn họ trong gương chiếu hậu qua tấm ngăn để ngỏ.

- Ngài nói phố Fleet ở gần cầu Blackriars phải không?

- Đúng, đi theo đường Victoria Embankment.

- Tôi xin lỗi. Tôi không biết chắc nó ở quãng nào. Mọi khi chúng ta chỉ đi đến bệnh viện.

Teabing nhìn Langdon và Sophie, mắt long sòng sọc và lầu bầu.

- Tôi thề, đôi khi thật cứ như làm bảo mẫu giữ trẻ vậy. Xin đợi cho một lát. Các bạn cứ tự nhiên dùng đồ uống và nhấm nháp.

Ông rời bọn họ, hì hụi lết đến nói chuyện với Rémy qua tấm ngăn để ngỏ.

Lúc này Sophie quay sang Langdon, giọng của cô êm ả:

- Robert, không ai biết anh và tôi đang ở Anh.

Langdon thấy cô nói đúng. Cảnh sát quận Kent hẳn đã nói với Fache là chiếc máy bay trống không, và Fache ắt phải cho là họ vẫn ở Pháp. Chúng ta là vô hình. Cái mẹo nhỏ của Leigh đã kiếm được cho họ vô khối thời gian.

- Fache sẽ không bỏ qua dễ dàng.

Sophie nói.

- Ông ta đã sa đà quá nhiều vào trò truy bắt này.

Langdon cố không nghĩ về Fache. Sophie đã hứa sẽ làm mọi thứ trong khả năng của mình để miễn trách nhiệm cho Langdon khi vụ việc này kết thúc, nhưng Langdon đã bắt đầu sợ là điều đó có thể không quan trọng. Fache dễ có thể nằm trong âm mưu này. Mặc dù Langdon không thể tưởng tượng được là Cảnh sát tư pháp lại dây dưa vào chuyện Chén Thánh, ông vẫn cảm thấy đêm nay có quá nhiều trùng hợp ngẫu nhiên đến nỗi không thể bỏ qua khả năng Fache có thể là một tòng phạm. Fache là người có đạo, và ông ta kiên quyêt đổ tội giết người cho ta. Lại nữa, Sophie thì cứ biện luận rằng Fache đơn giản chỉ quá sốt sắng thực hiện việc bắt giữ. Xét cho cùng, bằng chứng chống lại Langdon là đáng kể. Ngoài việc tên của Langdon được viết nguệch ngoạc trên sàn bảo tàng Louvre và trong sổ ghi các cuộc hẹn của Saunière, giờ đây đã rõ ra là Langdon đã nói dối về bản thảo của mình rồi sau đó bỏ chạy. Theo gợi ý của Sophie.

- Robert, tôi lấy làm tiếc anh đã dính líu quá sâu.

Sophie nói, đặt tay lên đầu gối Langdon.

- Nhưng tôi cũng rất vui mừng là anh ở đây.

Lời bình luận nghe có vẻ thực dụng hơn là lãng mạn, tuy nhiên, Langdon vẫn cảm thấy lóe lên bất ngờ một tương quan hấp dẫn giữa hai người. Ông mỉm cười một cách mệt mỏi với cô:

- Tôi sẽ vui hơn nhiều khi tôi được ngủ một giấc.

Sophie im lặng khoảng vài giây:

- Ông tôi yêu cầu tôi tin anh. Tôi lấy làm vui mừng là đã nghe lời ông tôi lần này.

- Ông của cô thậm chí không hề biết tôi.

- Dù vậy, tôi vẫn không thể không nghĩ là anh đã làm mọi thứ ông tôi muốn. Anh đã giúp tôi tìm ra viên đá đỉnh vòm, giải thích về Sangreal, kể với tôi về nghi lễ trong tầng hầm.

Cô ngừng lại.

- Không hiểu sao đêm nay tôi cảm thấy gần gũi với ông tôi hơn nhiều năm trước đây. Tôi biết ông tôi sẽ rất vui sướng về điều đó.

Đằng xa, đường chân trời của London đã bắt đầu hiện ra qua làn mưa bụi lúc rạng đông. Trước kia, thống ngự ở London là đồng hồ Big Bellvà cây cầu Tower Bridge, giờ đây, chân trời cúi chào Millennium Eye - Con mắt Thiên niên kỷ - chiếc bánh xe quay Ferris khổng lồ cực kỳ hiện đại leo tớỉ độ cao một trăm năm mươi mét, từ đó ngắm quang cảnh thành phố thật ngây ngất. Langdon đã thử lên đó một lần, nhưng những "khoang ngắm cảnh" khiến ông nhớ đến những quan tài đá kín bưng, và ông quyết định đứng vững trên mặt đất mà thưởng thức quang cảnh từ đôi bờ lộng gió của sông Thames.


Langdon cảm thấy ai đó bóp mạnh vào đầu gối, kéo ông quay lại và thấy đôi mắt xanh của Sophie dán vào mình. Ông nhận ra là cô đang nói với mình:

- Anh nghĩ chúng ta nên làm gì với những tài liệu Sangreal nếu chúng ta tìm thấy chúng?

Cô thì thầm.

- Những gì tôi nghĩ không thành vấn đề.

Langdon nói.

- Ông cô đã trao hộp mật mã cho cô, và cô nên làm theo những gì mà linh tính mách bảo rằng ông cụ muốn cô làm như vậy.

- Tôi muốn biết quan điểm của anh. Rõ ràng anh đã viết điều gì trong bản thảo đó làm ông tôi tin vào nhận định của anh. Ông tôi đã lên lịch một cuộc gặp riêng với anh. Điều đó là hi hữu.

- Có thể ông cụ muốn bảo tôi rằng tôi đã hiểu sai hoàn toàn.

- Tại sao ông tôi lại bảo tôi tìm anh trừ phi ông tôi thích ý tưởng của anh? Trong bản thảo của mình, anh ủng hộ ý kiến cho rằng tài liệu Sangreal nên được công bố hay cứ để bị chôn vùi?

- Cả hai ý đều không. Tôi không đưa ra nhận định theo một trong hai cách đó. Bản thảo đó bàn về hệ biểu tượng của tính nữ thiêng liêng - truy tìm những minh họa cho tính nữ thiêng liêng trong toàn bộ lịch sử. Chắc chắn tôi không mạo nhận là mình biết chỗ Chén Thánh được cất giấu hoặc cho rằng nó có nên được tiết lộ hay không.

- Tuy nhiên, anh đang viết một cuốn sách về nó, vậy rõ ràng là anh cảm thấy thông tin nên được chia sẻ.

- Có một sự khác nhau rất lớn giữa việc tranh luận trên cơ sở giả thuyết về một lịch sử khác của Christ và..

Ông ngừng lại.

- Và gì?

- Và việc trình ra trước thế giới hàng nghìn tài liệu cổ như là bằng chứng khoa học rằng Tân ước là thư chứng sai.

- Nhưng anh đã nói với tôi rằng Tân ước được dựa trên những điều bịa đặt.

Langdon mỉm cười:

- Sophie, mọi niềm tin vào thế giới đều được dựa trên những điều bịa đặt. Đó là định nghĩa về niềm tin - chấp nhận điều mà chúng ta tưởng tượng là đúng, điều mà chúng ta không thể chứng minh. Mọi tôn giáo đều miêu tả Thượng Đế qua ẩn dụ, ngụ ngôn và cường điệu, từ những người Ai Cập cổ cho đến các trường đạo ngày Chủ nhật hiện nay. Ẩn dụ là một cách để giúp trí óc chúng ta xử lý những gì không thể xử lý được. Vấn đề chỉ phát sinh khi chúng ta bắt đầu tin những ẩn dụ của chính chúng ta theo nghĩa đen.

- Vậy là anh tán thành để những tài liệu Sangreal bị chôn vùi mãi mãi?

- Tôi là một sử gia. Tôi chống lại sự hủy hoại tài liệu, và tôi muốn thấy những học giả tôn giáo có được thông tin nhiều hơn để suy ngẫm về cuộc đời khác thường của Jesus Christ.

- Anh đang lập luận cho cả hai phía trong vấn đề của tôi.

- Tôi á? Kinh Thánh là kim chỉ nam cơ bản cho hàng triệu người trên hành tinh này, và bằng cách tương tự các kinh Koran, Torah và Pali Canon dẫn dắt những người của các tôn giáo khác. Nếu cô và tôi có thể khai quật được tài liệu nói ngược lại những câu chuyện thần thánh của tín ngưỡng Hồi giáo, tín ngưỡng Do Thái, tín ngưỡng Phật giáo, tín ngưỡng của kẻ ngoại đạo, thì liệu chúng ta có nên làm điều đó chăng? Chúng ta có nên phất lên một ngọn cờ và nói với các Phật tử rằng chúng ta có bằng chứng là Phật tổ không sinh ra từ hoa sen? Hoặc giả là Jesus không được sinh ra từ sự thụ thai trinh khiết theo nghĩa đen? Những ai thực sự hiểu tín ngưỡng của mình đều hiểu những câu chuyện đó là ẩn dụ.

Sophie có vẻ hoài nghi:

- Bạn của tôi, một người sùng đạo Cơ Đốc dứt khoát tin rằng Christ đi trên mặt nước theo nghĩa đen, biến nước thành rượu vang theo nghĩa đen, và sinh ra từ sự thụ thai trinh khiết theo nghĩa đen.

- Quan điểm của tôi chính xác là..

Langdon nói.

- Ngụ ngôn tôn giáo đã trở thành một phần kết cấu của hiện thực. Và việc sống trong hiện thực đó giúp hàng triệu người xử thế và trở thành người tốt hơn.

- Nhưng có vẻ như hiện thực của họ là giả dối.

Langdon tủm tỉm cười:

- Cũng chẳng giả hơn hiện thực của một người giải mã toán học lại tin vào số tưởng tượng "i" bởi vì nó giúp cô ta giải những mật mã.

Sophie cau mày:

- Cái đó không hợp lý.

Một khoảnh khắc trôi qua.

- Vừa nãy cô hỏi gì nhỉ?

Langdon hỏi.

- Tôi không nhớ được.

Langdon mỉm cười: Lần nào cũng hiệu quả.
 
Chỉnh sửa cuối:
23,402 ❤︎ Bài viết: 3779 Tìm chủ đề
Mật Mã Davinci - Chương 83

Chiếc đồng hồ đeo tay Chuột Mickey của Langdon chỉ gần 7 giờ 30 khi ông từ chiếc limousine nhãn hiệu Jaguar bước xuống con hẻm Inner Temple với Sophie và Teabing. Bộ ba đi ngoằn ngoèo qua một khu bàn cờ chen chúc nhà cửa để tới cái sân nhỏ bên ngoài Nhà thờ Temple. Tường đá đẽo thô ánh lên mờ mờ trong mưa, và chim câu gù trong các chi tiết kiến trúc trên đầu.

Nhà thờ cổ kính này của London được xây dựng hoàn toàn bằng đá Caen. Gồm một tòa nhà tròn gây ấn tượng với mặt tiền dữ dằn, một thấp nhỏ ở trung tâm và gian giữa giáo đường nhô ra về một bên, nhà thờ nhìn giống một pháo đài quân sự hơn là một nơi thờ cúng. Được Heraclius, giáo trưởng của Jerusalem, làm phép vào ngày 10 tháng 2 năm 1185, nhà thờ đã tồn tại qua tám thế kỷ hỗn loạn về chính trị, cuộc đại hỏa hoạn ở London, chiến tranh thế giới lần thứ nhất, và chỉ bị hư hỏng nặng nề nhất trong lần bị không quân Đức ném bom cháy vào năm 1940.

Sau chiến tranh, nó đã được phục chế trở về dáng vẻ hùng vĩ hoang dại ban đầu.

Nét giản dị của hình tròn. Langdon nghĩ thầm, lần đầu tiên được dịp chiêm ngưỡng tòa nhà. Kiến trúc thô nháp và đơn sơ, khiến người ta nhớ đến Castel Sant Angelo xù xì ở Rôma hơn là Điện Pantheon tao nhã. Dãy nhà phụ hình hộp nhô ra ở bên phải thật chướng mắt, mặc dù nó chẳng làm mấy tí để che khuất hình thù ngoại giáo ban đầu của cấu trúc nguyên thủy.

- Ngày thứ bảy, giờ này vẫn là sớm.

Teabing nói, tập tễnh đi về phía lối vào.

- Cho nên tôi nghĩ chúng ta sẽ không vướng phải lễ chầu nào đâu.

Cổng nhà thờ là một hốc đá, bên trong nó là một cánh cửa gỗ lớn. Ở bên trái cửa, nom hoàn toàn lạc chỗ, treo một bảng thông tin dán đầy những chương trình hòa nhạc và thông báo các buổi lễ chầu.

Teabing cau mày khi đọc bảng tin:

- Hai giờ nữa họ mới mở cửa cho khách tham quan.

Ông đi tới cánh cửa và đẩy thử.

Cánh cửa không nhúc nhích. Teabing áp tai vào gỗ và lắng nghe. Sau một lát, ông lùi lại, vẻ mưu mô hiện trên nét mặt khi ông chỉ lên bảng thông báo.

- Robert, kiểm tra lại lịch lễ chầu xem! Ai chủ trì tuần này?


* * *

Bên trong nhà thờ, một lễ sinh đang sắp hoàn thành việc hút bụi những gối quỳ làm lễ Thánh thể thì nghe thấy tiếng gõ cửa thánh đường. Cậu ta lờ đi. Cha Harvey Knowles có chìa khóa riêng và hai tiếng nữa mới phải có mặt. Tiếng gõ cửa có lẽ là của một khách du lịch tò mò hay một kẻ ăn xin. Cậu ta cứ hút bụi tiếp, nhưng tiếng gõ vẫn tiếp tục. Không biết đọc à? Tấm bảng treo ở cửa đã nói rõ là nhà thờ sẽ không mở cửa cho đến 9 giờ 30 ngày thứ bảy. Cậu bé quay lại với công việc của mình.

Đột nhiên, tiếng gõ chuyển thành những cú đập rất mạnh như thể ai đó đang nện vào cửa bằng một thanh kim loại vậy.

Cậu nhỏ tắt máy hút bụi và cáu kỉnh đi ra phía cửa. Mở khóa cửa từ phía trong, cậu giật tung cánh cửa. Ba người đứng ngay ở lối vào. Khách du lịch, cậu càu nhàu:

- Chúng tôi mở cửa vào lúc 9 giờ 30.

Người đàn ông phục phịch, có vẻ là người dẫn đầu, chống đôi nạng bằng kim loại bước lên phía trước:

- Ta là Ngài Leigh Teabing.

Ông ta nói, giọng Anh Saxon rõ ra là người trí thức:

- Chắc hẳn cháu biết, ta đang tháp tùng ông bà Christopher Wren đệ tứ.

Ông bước sang bên, điệu đàng vung tay về phía cặp uyên ương hấp dẫn phía sau. Người phụ nữ nét mặt dịu dàng, mái tóc rậm màu vang đỏ. Người đàn ông cao, tóc sẫm màu và trông quen quen.

Cậu lễ sinh không biết phản ứng ra sao. Ngài Christopher Wren là vị mạnh thường quân nổi tiếng nhất góp công đức vào Nhà thờ Temple. Ông đã cho trùng tu lại mọi hư hại của nhà thờ do cuộc Đại Hỏa Hoạn gây ra. Ông đã mất từ đầu thế kỉ 18.

- Ưm.. rất hân hạnh được gặp ngài.

Người đàn ông chống nạng cau mày:

- Thật may là cháu không phải là chân bán hàng, cháu chẳng đon đả gì cho lắm. Cha Knowles đâu?

- Hôm nay là thứ bảy. Chưa tới giờ Cha đến.

Vẻ cau có của người đàn ông chân què càng tăng thêm:

- Thế mà gọi là biết ơn đấy! Ông ta cam đoan với chúng ta rằng ông ta sẽ ở đây, nhưng xem ra chúng ta phải tiến hành công việc mà không có ông ta. Sẽ không mất nhiều thời gian đâu.

Cậu bé lễ sinh vẫn đứng chắn lối vào:

- Xin lỗi, việc gì không mất nhiều thời gian?

Đôi mắt của vị khách quắc lên, và ông ta cúi người về phía trước thì thầm như để tránh cho mọi người khỏi bối rối:

- Này chú nhỏ, hình như cháu là người mới ở đây thì phải. Hàng năm, hậu duệ của ngài Christopher Wren đều mang một nhúm tro của ngài để rải trong điện thờ linh thiêng này. Đây là một phần di chúc mà ngài để lại. Không ai thật sự sung sướng khi thực hiện chuyến đi này, nhưng chúng ta biết làm thế nào?

Cậu bé lễ sinh đã ở đây được hai năm nhưng chưa bao giờ nghe nói về tục lệ này:

- Tốt nhất là ngài đợi đến 9 giờ 30. Nhà thờ vẫn chưa mở cửa, và cháu thì vẫn chưa hút bụi xong.

Người đàn ông chống nạng nhìn trừng trừng, giận dữ:

- Này chú nhỏ, lý do duy nhất khiến tòa nhà này còn lại được bất cứ cái gì để cho cậu hút bụi là nhờ quí ngài trong túi áo của bà kia đấy.

- Cháu không hiểu?

- Bà Wren.

Người đàn ông chống nạng nói.

- Bà vui lòng cho cậu bé xấc xược này xem lọ tro trong túi bà chứ?

Người phụ nữ do dự trong giây lát rồi, như tỉnh sau cơn nhập đồng, thò tay vào túi áo len, lấy ra một vật hình trụ bọc trong một miếng vải.

- Kia, cậu thấy chứ?

Người đàn ông chống nạng gắt:

- Bây giờ cậu có thể hoặc là tôn trọng ý nguyện của người đã khuất và để chúng tôi rắc tro của ông ấy vào trong điện thờ, hoặc tôi sẽ thưa với cha Knowles là chúng tôi vừa bị đối xử thế nào.

Cậu lễ sinh lưỡng lự vì đã quá quen với sự tuân thủ nghiêm ngặt của cha Knowles với truyền thống nhà thờ.. và, quan trọng hơn, với sự cáu giận của cha khi bất cứ thứ gì tỏa lên nơi thờ cúng lâu đời này ngoại trừ ánh sáng thích hợp. Có thể cha Knowles đã quên bẵng là những thành viên của gia đình này sẽ tới. Nếu vậy, để họ ra đi còn nguy hại hơn là cứ để họ vào. Xét cho cùng, họ nói chỉ mất một phút thôi mà. Có hại gì đâu?

Hai cậu lễ sinh đứng sang một bên để cho ba người đi qua, cậu dám thề rằng ông bà Wren trông cũng có vẻ hoang mang về chuyện này như cậu. Vẫn ngờ vực, nhưng cậu quay lại với mấy việc vặt của mình, theo dõi họ qua khoé mắt.

Langdon không khỏi mỉm cười khi ba người đi sâu hơn vào trong nhà thờ:

- Leigh.

Ông thì thầm:

- Ngài nói dối quá giỏi.

Mắt Teabing lấp lánh:

- Câu lạc bộ sân khấu Oxford mà. Họ vẫn còn nói về vai Julius Caesar của tôi. Tôi chắc không ai khác đã từng diễn màn đầu Hồi Ba với nhiều tâm huyết hơn.

Langdon liếc sang:

- Tôi tưởng Ceasar đã chết ở màn này rồi kia mà.

Teabing cười tự mãn:

- Phải, nhưng cái áo choàng La Mã của tôi mở toang ra khi tôi ngã, và tôi đã phải nằm trên sàn diễn suốt nửa tiếng đồng hồ với thằng bé thòi lòi ra lủng lẳng. Thậm chí, tôi không dám động đậy một cơ bắp nào. Rất chi là xuất sắc, xin thưa với anh thế.

Langdon co rúm người.

- Rất tiếc là tôi đã bỏ lỡ cảnh đó.

Khi cả nhóm đi xuyên qua gian nhà phụ hình chữ nhật về phía cổng tò vò dẫn vào nhà thờ chính, Langdon rất ngạc nhiên về sự khắc khổ ở đây. Mặc dù thiết kế của bàn thờ cũng giống như ở nhà thờ Cơ đốc, nhưng các đồ bày biện thật ảm đạm và lạnh lẽo, không chút trang trí truyền thống.

- Thật tiêu điều.

Langdon thì thầm.

Teabing tặc lưỡi:

- Nhà thờ của nước Anh mà. Những tín đồ Giáo phái Anh uống ực tôn giáo của mình một cách trực tiếp. Không có gì để làm sao lãng đi nỗi khổ cực của họ.

Sophie chỉ tay qua khoảng trống rộng nhường chỗ cho phần hình tròn của nhà thờ.

- Chỗ này trông như một pháo đài.

Cô nói nhỏ.

Langdon đồng ý. Thậm chí từ đây, những bức tường trông hùng dũng lạ thường.

- Các Hiệp sĩ Templar là những chiến binh mà!

Teabing nhắc nhở tiếng nạng nhôm của ông vang trong khoảng không.

- Một xã hội tôn giáo - quân sự. Nhà thờ là pháo đài và ngân hàng của họ.

- Ngân hàng?

Sophie hỏi, liếc nhìn Leigh.

- Chúa ơi, đúng vậy. Chính các Hiệp sĩ Templar đã phát minh ra khái niệm ngân hàng hiện đại. Đối với giới quý tộc châu Âu, mang vàng theo trong những chuyến đi là rất nguy hiểm, do đó các Hiệp sĩ Templar đã cho phép giới quý tộc gửi vàng vào Nhà thờ Temple gần nhất và sau đó rút vàng ra từ bất kỳ một nhà thờ nào khác của họ ở khắp châu Âu. Tất cả những gì họ cần là giấy tờ hợp lệ.

Ông nháy mắt.

- Và một ít tiền hoa hồng. Họ là những cái máy ATM nguyên thủy.

Teabing chỉ về phía một cửa sổ kính mờ, nơi ánh mặt trời mới ló khúc xạ qua một chiến binh áo trắng cưỡi một con ngựa hồng:

- Alanus Marcel.

Teabing nói.

- Ông Trùm của các Hiệp sĩ Templar vào đầu những năm 1200. Ông và những người kế vị ông ta thực tế nắm giữ chức Nghị viên vùng Primus Baro Angiae.

Langdon ngạc nhiên:

- Nam tước đầu tiên của vùng này?

Teabing gật đầu:

- Ông Trùm của các Hiệp sĩ Templar, một số người khắng định, nắm giữ nhiều quyền lực hơn cả nhà vua.

Khi họ đến bên ngoài điện thờ hình tròn, Teabing liếc nhanh nhìn cậu lễ sinh đang hút bụi cách đó một quãng.

- Cô biết không.

Teabing nói nhỏ với Sophie.

- Người ta kể là có lần Chén Thánh đã từng được giữ qua đêm trong nhà thờ này khi các Hiệp sĩ Templar chuyển chỗ cất giấu nó. Cô có thể tưởng tượng được bốn cái rương tài liệu Sangreal đã được đặt ở ngay đây cùng với chiếc quan tài bằng đá của Mary Magdalene không? Nó làm tôi nổi da gà.

Langdon cũng cảm thấy sởn da gà khi họ bước vào trong căn phòng hình tròn này. Cặp mắt ông lướt theo đường lượn vòng của tường đá trắng, ngắm nhìn những phù điêu trên máng xối - ma quỷ, quái vật, những mặt người đau đớn - tất cả đều nhìn vào phía trong. Dưới những phù điêu là một hàng ghế đá cuộn quanh chu vi căn phòng.

- Rạp hát hình tròn.

Langdon nói khẽ.

Teabing nhấc một chiếc nạng, chỉ về góc xa bên trái của căn phòng rồi lại sang góc xa bên phải. Langdon đã nhìn thấy.

Mười hiệp sĩ đá.

Năm ở bên trái. Năm ở bên phải.

Nằm ngửa trên sàn nhà, những hình người được tạc theo kích thước bằng người thật nghỉ ngơi trong những tư thế rất thanh thản. Những hiệp sĩ được thể hiện với đầy đủ áo giáp, khiên và kiếm, cùng những ngôi mộ khiến Langdon có cái cảm giác bất an như thể có ai đó đã lẻn vào trong khi những hiệp sĩ này đang ngủ và đổ một lớp thạch cao lên người họ vậy. Tất cả những hình người ở đây đã dầu dãi phong sương và mặc dù vậy mỗi hình đều rất riêng, độc đáo - các bộ phận áo giáp, tư thế tay chân rõ rành, nét mặt và dấu hiệu trên khiên, tất cả đều khác nhau.

Ở London yên nghỉ một hiệp sĩ được Giáo hoàng mai táng.

Langdon cảm thấy run khi bước từng bước sâu hơn vào căn phòng hình tròn. Đây tất phải là nơi họ kiếm tìm.
 
Chỉnh sửa cuối:
23,402 ❤︎ Bài viết: 3779 Tìm chủ đề
Mật Mã Davinci - Chương 84

Trong một con hẻm đầy rác rưới rất gần Nhà thờ Temple, Rémy Legaludec lái chiếc limousine hiệu Jaguar tới đậu sau một dãy thùng đựng rác thải công nghiệp. Tắt máy, ông ta kiểm tra xung quanh. Vắng tanh. Ông ta ra khỏi xe, bước về phía sau, và lại trèo vào khoang chính của chiếc limousine nơi đặt gã tu sĩ.

Cảm thấy sự có mặt của Rémy, gã thầy tu ở phía sau dứt ra khỏi trạng thái nửa như cầu nguyện nửa như mê, đôi mắt đỏ của hắn trông có vẻ tò mò hơn là sợ hãi. Suốt buổi tối, Rémy đã rất phục khả năng giữ bình tĩnh của con người đang bị trói gô này. Sau đôi chút kháng cự ban đầu trong chiếc xe Range Rover, gã tu sĩ có vẻ như chấp nhận cảnh ngộ và phó mặc sốphận cho quyền lực tối cao.

Nới lỏng nơ đeo cổ, Rémy mở khuy chiếc áo cổ cao, hồ bột xòe sang hai bên của mình và cảm thấy như lần đầu tiên được thở sau nhiều năm. Đi tới quầy rượu của chiếc limousine, ông ta tự rót cho mình một ly vodka Smirnoff, ông ta tợp luôn một hơi, và rót tiếp ly thứ hai.

Chẳng bao lâu nữa ta sẽ thành người thư nhàn.

Lục trong quầy rượu, Rémy tìm thấy một cái mở rượu tiêu chuẩn và bật mở lưỡi dao sắc nhọn. Con dao thường dùng để cắt lớp thiếc bọc trên đầu nút những chai rượu vang loại tốt, nhưng sáng nay, nó sẽ phục vụ một mục đích ly kỳ hơn nhiều. Rémy quay lại và đối mặt với Silas, giơ lưỡi dao sáng loáng lên.

Bây giờ đôi mắt đỏ ánh lên sự sợ hãi.

Rémy mỉm cười và đi về phía sau chiếc limousine. Gã tu sĩ lùi lại vật lộn với dây trói.

"Nằm im", Rémy thì thầm, giơ con dao lên.

Silas không thể tin là Chúa đã bỏ hắn. Thậm chí nỗi đau thể xác do bị trói cũng được Silas chuyển thành một bài tập tâm linh, biến cái giật thon thót của những cơ bắp khát máu thành sự nhắc nhớ tới nỗi đau mà Chúa Kirixitô đã phải chịu đựng. Mình đã cầu nguyện cả đêm cho sự giải thoát. Giờ đây, khi con dao hạ xuống, Silas nhắm chặt mắt lại.

Một cơn đau xé xuyên qua bả vai. Hắn gào lên, không thể tin được là hắn sắp chết ở đây, phía sau chiếc limousine này, không thể tự bảo vệ. Mình đang làm công việc của Chúa. Thầy Giáo đã nói thầy sẽ bảo vệ mình.

Silas cảm thấy cái gì âm ấm nhoi nhói lan ra khắp lưng và vai, hắn có thể hình

- 342 -

dung máu của chính mình đang trào ra trên da thịt. Bây giờ cơn đau nhức nhối xuyên qua đùi gã, và hắn cảm thấy ập tới con sóng ngẫm dội ngược lại của sự mất phương hướng - cơ chế đề kháng của cơ thể chống lại nỗi đau.

Khi cơn đau rát xé dọc các cơ bắp, hắn nhắm mắt chặt hơn, quyết định rằng hình ảnh cuối cùng của cuộc đời hắn sẽ không phải kẻ giết mình. Thay vào đó, hắn tưởng tượng ra một giám mục Aringarosa trẻ hơn, đứng trước nhà thờ nhỏ ở Tây Ban Nha.. nhà thờ mà ông và Silas đã xây bằng chính đôi bàn tay họ. Sự khởi đầu của cuộc đời mình.

Silas cảm thấy như thể thân xác đang bị thiêu trên lửa.

"Uống một ly đi", người đàn ông mặc xmôckinh thì thào giọng Pháp."nó sẽ giúp cho khí huyết lưu thông"

Silas mở choàng mắt, ngạc nhiên. Một hình ảnh nhạt nhòa cúi vế phía hắn, đưa cho hắn một ly chất lỏng. Một đống băng dính bị xé vụn nằm trên sàn bên cạnh con dao vấy máu.

"Uống đi", ông ta lặp lại."cơn đau mà anh cảm thấy là do máu dồn vào các cơ bắp"

Silas cảm thấy cơn dập dồn nóng rát giờ chuyển thành giậm giựt nhoi nhói. Vị vodka thật kinh khủng, nhưng hắn vẫn uống, cảm thấy biết ơn vì mặc dù số phận đã giáng cho hắn một phần lớn của cái rủi đêm nay, nhưng Chúa đã giải quyết tất cả bằng một xoay chuyển diệu kì.

Chúa đã không bỏ rơi mình.

Silas biết giám mục Aringarosa ắt gọi diễn biến này là sự canthiệp của Chúa.

"Tôi đã muốn giải thoát cho anh sớm hơn", người hầu biện minh, nhưng không thể. Với sự xuất hiện của cảnh sát ở Château Villette, và sau đó ở sân bay Biggin Hill, đây là thời điểm khả thi đầu tiên. Anh có hiểu không, Silas?"

Silas giật mình lùi lại: "Ông biết tên tôi?". Người hầu mỉm cười.

Silas ngồi dậy, xoa những cơ bắp tê cứng, cảm xúc của hắn lúc này là một dòng lũ pha lẫn bán tín bán nghi, cảm phục và bối rối: "Ông có phải là.. Thầy Giáo?"

Rémy lắc đầu, cười cái câu hỏi hàm ý xác nhận: "Tôi ước gì tôi có được quyền năng đó. Không, tôi không phải là Thầy Giáo. Như anh, tôi phục vụ ông. Nhưng Thầy Giáo đánh giá cao anh. Tên tôi là Rémy."

Silas kinh ngạc: "Tôi không hiểu. Nếu ông làm việc cho Thầy Giáo, tại sao Langdon lại mang viên đá đỉnh vòm về nhà của ông?"

"Không phải nhà của tôi, mà là nhà của nhà sử học hàng đầu thế giới về Chén Thánh, ngài Leigh Teabing"

- 343 -

"Nhưng ông sống ở đó. Có lẽ là.."

Rémy mỉm cười, dường như chẳng mắc mớ gì với việc Langdon chọn nơi ẩn náu có vẻ như một sự trùng hợp: "Tất cả đều có thể đoán được. Robert Langdon đang sở hữu viên đá đỉnh vòm, và ông ta cần sự giúp đỡ. Còn nơi nào hợp lý hơn là nhà của Leigh Teabing? Trước hết việc tôi tình cờ sống ở đó là lý do tại sao Thầy Giáo tiếp cận tôi". Ông ta dừng lại."Anh nghĩ làm thế nào mà Thầy Giáo biết nhiều như vậy về Chén Thánh?"

Bây giờ sự việc bắt đầu hiện rõ và Silas vô cùng sửng sốt. Thầy Giáo đã tuyển một người hầu có thể truy nhập tất cả những gì mà ngài Teabing nghiên cứu. Thật là xuất sắc.

"Có rất nhiều điều tôi cần nói với anh", Rémy nói, đưa cho Silas khẩu Heckler & Knoch đã nạp đạn. Rồi ông ta với tay qua vách ngăn để ngỏ, lấy ra từ hộp đựng găng một khẩu súng lục ổ quay nhỏ gọn trong lòng bàn tay."Nhưng trước tiên, anh và tôi có việc cần làm đã"

***

Đại úy Fache bước từ chiếc chuyên cơ xuống sân bay Biggin Hill và lắng nghe đầy ngờ vực báo cáo của chánh thanh tra quận Kent về những gì đã xảy ra trong hăng-ga của Teabmg.

"Chính tôi đã lục soát chiếc máy bay", chánh thanh tra quả quyết "và không có một ai trong đó". Giọng ông ta trở nên ngạo mạn."Và tôi nên nói thêm rằng nếu ngài Leigh Teabing khiếu tố tôi, tôi sẽ.."

"Ông đã thẩm vấn người phi công chưa?"

"Tất nhiên là chưa. Anh ta là người Pháp, và quyền thực thi pháp lý của chúng tôi yêu cầu.."

"Đưa tôi tới chỗ chiếc máy bay"

Khi tới hăng-ga, Fache chỉ cần sáu mươi giây để phát hiện ra một vết máu bất thường trên sàn lát gần chỗ chiếc limousine vừa đỗ. Fache bước lên máy bay và gõ mạnh vào thân máy bay.

"Đây là đại úy Cảnh sát tư pháp Pháp. Mở cửa ra!". Viên phi công sợ hãi mở cửa xập và hạ cầu thang rút.

Fache trèo lên. Ba phút sau, với sự trợ giúp của khẩu súng, ông ta đã có được đầy đủ lời thú nhận, kể cả sự mô tả gã tu sĩ bạch tạng. Thêm vào đó, ông ta còn biết rằng viên phi công đã thấy Langdon và Sophie để lại vật gì trong két an toàn của Teabing, một thứ hộp gỗ gì đó. Mặc dù viên phi công phủ nhận không biết có gì trong hộp, anh ta thừa nhận là Langdon chỉ tập trung chú ý vào nó trong suốt chuyến bay tới London.

"Mở két an toàn ra", Fache yêu cầu.

- 344 -

Viên phi công có vẻ sợ hãi."Tôi không biết mã khóa số!"

"Đáng tiếc. Tôi đang định đề nghị để anh được giữ bằng lái của mình"

Viên phi công vặn hai tay vào nhau: "Tôi biết một vài người trong bộ phận duy tu ở đây. Có lẽ họ có thể khoan nó chăng?"

"Anh có nửa giờ"

Viên phi công lao tới máy bộ đàm.

Fache bước về phía sau máy bay và tự rót rượu cho mình.

Lúc này vẫn sớm, nhưng vì ông ta chưa được chợp mắt nên đây không kể là uống rượu trước buổi trưa. Ngồi xuống chiếc ghế bọc vải nhung, ông ta nhắm mắt lại, cố gắng phân tích những gì đang diễn ra. Sai lầm của cảnh sát quận Kelt có thể làm mình trả giá đắt. Giờ đây, mọi người đang dồn sức tìm kiếm chiếc limousine Jaguar màu đen.

Chuông điện thoại của Fache vang lên, và ông ta ước có được một phút bình yên."Alô?"

"Tôi đang trên đường tới London", đó là giám mục Aringarosa."Tôi sẽ tới nơi trong vòng một giờ nữa"

Fache ngồi xuống: "Tôi tưởng ngài đang đi Paris?"."Tôi rất lo lắng và đã thay đổi kế hoạch"

"Lẽ ra ngài không nên làm vậy"."Ông đã tìm được Silas chưa?"

"Chưa. Những kẻ bắt giữ hắn đã qua mặt được cảnh sát địa phương trước khi tôi hạ cánh"

Giọng Aringarosa gắt lên, giận dữ: "Ông đã cam đoan với tôi là sẽ ngăn chiếc máy bay đó lại!"

Fache hạ thấp giọng: "Thưa giám mục, xét tình cảnh của ngài, tôi khuyên ngài đừng thử thách lòng kiên nhẫn của tôi ngày hôm nay. Tôi sẽ tìm thấy Silas cùng những tên kia trong thời hạn sớm nhất có thể. Ngài sắp hạ cánh ở đâu?"

"Chờ một lát", Aringarosa che ống nghe, rồi nói tiếp."tay phi công đang xin phép hạ cánh ở Heathrow. Tôi là hành khách duy nhất của anh ta, nhưng việc đổi hướng bay là ngoài kế hoạch"

"Hãy bảo anh ta tới sân bay Biggin Hill. Tôi sẽ xin cho anh ta hạ cánh. Nếu tôi không có ở đây khi ngài hạ cánh, tôi sẽ cho xe đợi ngài"

"Cám ơn ông"

"Như tôi đã nói trong lần đầu chúng ta nói chuyện với nhau, thưa giám mục, ngài nên nhớ kỹ rằng ngài không phải là người duy nhất sắp mất hết mọi thứ"
 
Chỉnh sửa cuối:
23,402 ❤︎ Bài viết: 3779 Tìm chủ đề
Mật Mã Davinci - Chương 85

Ngươi kiếm tìm trái cầu lẽ ra phải ở trên mộ chàng.

Mỗi tượng hiệp sĩ bên trong Nhà thờ Temple đều nằm ngửa, gối đầu trên một phiến đá hình chữ nhật. Sophie cảm thấy ớn lạnh. Bài thơ nhắc tới trái cầu gợi lại những hình ảnh về cái đêm trong tầng hầm của ông cô.

Hieros Gamos. Những quả cầu.

Sophie tự hỏi liệu phải chăng lễ tế đó đã từng được tiến hành trong chính điện thờ này. Căn phòng hình tròn dường như được đặt hàng xây dựng riêng cho một nghi thức ngoại giáo như vậy. Một hàng ghế đá dài được đặt thành hình tròn ở khoảng trống giữa phòng. Một rạp hát vòng tròn, như Robert đã gọi nó. Sophie tưởng tượng ra căn phòng về đêm, đầy những người đeo mặt nạ, cầu kinh dưới ánh đuốc, tất cả chứng kiến sự "hợp nhất thần thánh" ở trung tâm căn phòng.

Gắng xua đuổi hình ảnh đó ra khỏi tâm trí, cô tiến lên cùng với Langdon và Teabing đến chỗ nhóm hiệp sĩ đầu tiên. Mặc dù Teabing nhấn mạnh là phải xem xét thật tỉ mỉ, Sophie cảm thấy nôn nóng và dấn lên trước, lướt nhanh qua năm hiệp sĩ ở bên trái.

Quan sát cẩn thận những ngôi mộ đầu tiên, Sophie ghi nhận những nét giống và khác nhau giữa chúng. Mỗi hiệp sĩ đều nằm ngửa, nhưng ba trong số họ chân duỗi thẳng hai người còn lại vắt chéo chân. Sự kỳ lạ này có vẻ chẳng có liên quan gì tới quả cầu thiếu vắng. Xem xét y phục, Sophie nhận thấy hai hiệp sĩ mặc áo dài ra ngoài áo giáp, trong khi ba người còn lại mặc áo chùng đến mắt cá chân. Một lần nữa, những điều này chẳng giúp ích được gì. Sophie chuyển sự chú ý của mình sang sự khác nhau hiển nhiên duy nhất còn lại - tư thế cánh tay. Có hai hiệp sĩ tay nắm chặt kiếm, hai người đang cầu nguyện, và một người đứng chống nạnh. Sau một lúc lâu ngắm nhìn những cánh tay, Sophie nhún vai, chẳng thấy chỗ nào hé lộ dấu vết của quả cầu khuyết diện.

Cảm thấy trọng lượng của hộp mật mã trong túi áo len, cô quay lại nhìn Langdon và Teabỉng. Họ thật chậm chạp, bây giờ mới đi qua người hỉệp sĩ thứ ba, hình như cũng chẳng may mắn hơn. Chẳng có bụng dạ nào mà chờ, cô bỏ mặc họ, hướng tới nhóm hiệp sĩ thứ hai. Khi đi ngang qua khoảng trống, cô nhẩm lại bài thơ mà cô đã đọc thuộc lòng đến mức như khắc cào tâm khảm.

Ở London yên nghỉ một hiệp sĩ được Giáo hoàng mai táng.

- 346 -

Kết quả công sức chàng chuốc lấy cơn thịnh nộ Thần Thánh. Ngươi kiếm tìm trái cầu lẽ ra phải ở trên mộ chàng.

Nó nói về da thịt Hồng và tử cung mang hạt giống.

Khi Sophie đi đến chỗ nhóm hiệp sĩ thứ hai, cô thấy nhóm thứ hai cũng tương tự như nhóm thứ nhất. Tất cả nằm ở những tư thế khác nhau, mang áo giáp và kiếm.

Tất cả, ngoại trừ ngôi mộ thứ mười và cũng là cuối cùng. Đi tới đó thật nhanh, cô nhìn chăm chăm xuống mộ. Không gối. Không giáp trụ. Không áo dài. Không gươm.

"Robert? Leigh?" Cô gọi, giọng vang vọng trong phòng."Ở đây có cái gì thiếu vắng"

Hai người đàn ông cùng ngẩng lên và bắt đầu đi về phía cô ngay lập tức.

"Một quả cầu?". Teabing hỏi đầy phấn khích. Đôi nạng của ông lộc cộc theo một tiết tấu gấp, ngắt đoạn trong khi ông hối hả đi ngang phòng."Thiếu một quả cầu ư?"

"Không hẳn thế", Sophie trả lời, cau mày nhìn ngôi mộ thứ mười."Hình như thiếu cả một hiệp sĩ"

Tới bên cạnh cô, cả hai bối rối nhìn trân trân xuống ngôi mộ thứ mười. Thay vì một hiệp sĩ nằm ở ngoài trời, ngôi mộ này là một quan tài đá đóng kín. Quan tài hình thang, thon đằng chân, loe ra ở đằng đầu, với một cái nắp có chóp nhọn.

"Tại sao hiệp sĩ này không được thể hiện ra ngoài?". Langdon hỏi.

"Hấp dẫn đấy". Teabing nói, tay xoa cằm."Tôi đã quên mất về điều kỳ lạ này. Đã nhiều năm trôi qua từ khi tôi còn ở đây"

"Chiếc quan tài này." Sophie nói, có vẻ như được chạm khắc vào cùng một thời điểm và cùng một người thợ với chín ngôi mộ kia. Vậy tại sao hiệp sĩ này lại ở trong quan tài chứ không ở ngoài?"

Teabing lắc đầu: "Đây là một trong những điều kỳ bí của nhà thờ này. Theo tôi biết thì chưa ai lý giải được điều này"

"Xin chào?". Cậu bé lễ sinh nói, chạy tới với vẻ lo lắng hiện rõ trên nét mặt: "Xin thứ lỗi nếu điều này có vẻ thô lỗ nhưng ngài đã bảo là các ngài muốn rải tro. Vậy mà các ngài hình như đang ngắm cảnh thì phải"

Teabing quắc mắt nhìn cậu bé và quay sang Langdon: "Ông Wren, hình như lòng nhân đức của gia đình ông không mua được thời gian như trước đây, có lẽ chúng ta nên lấy tro ra và bắt đầu công việc thôi". Teabing nhìn sang Sophie."Bà Wren?"

Sophie cũng diễn theo, lôi cái hình trụ bọc da ra khỏi túi áo.

"Nào bây giờ", Teabing gắt cậu bé."cháu có thể cho chúng ta chút riêng tư được chứ?"

- 347 -

Cậu bé lễ sinh vẫn không nhúc nhích. Nó nhìn Langdon chằm chằm: "Trông ông rất quen"

Teabing sẵng giọng: "Có lẽ bởi vì ông Wren hàng năm đều tới đây!"

Hoặc có lẽ, Sophie bắt đầu thấy sợ, bởi vì nó nhìn thấy Langdon trên ti vi ở tòa thánh Vatican năm ngoái.

"Tôi chưa từng gặp ông Wren", cậu bé khẳng định.

"Em nhầm đấy", Langdon trả lời nhã nhặn."Tôi tin là chúng ta đã gặp nhau thoáng qua hồi năm ngoái. Cha Knowles đã quên không chính thức giới thiệu chúng ta với nhau, nhưng tôi đã nhận ra em ngay khi chúng tôi vửa vào. Này, tôi biết đây là một sự đột nhập, nhưng nếu em có thể cho chúng tôi thêm vài phút, tôi đã phải đi rất xa để rắc tro lên các ngôi mộ này"

Langdon nói những lời này với giọng điệu đáng tin đặc trưng của Teabing. Vẻ mặt cậu bé lễ sinh lại càng tỏ ra nghi ngờ: "Đây không phải là mộ"."Xin lỗi?". Langdon nói.

"Tất nhiên đây là những ngôi mộ", Teabing tuyên bố."Cháu đang nói về cái gì thế?"

Cậu lễ sinh lắc đầu: "Mộ thì phải có thi hàỉ. Đây là những hình nộm. Tượng đá để tôn vinh người thật. Chẳng có cái xác nào dưới những bức tượng đá này cả"

"Đây là một hầm mộ tượng trưng trong nhà thờ!" Teabing nói.

"Cái đó chỉ có trong những quyển sách lịch sử lỗi thời mà thôi. Trước kia chỗ này được tin là một hầm mộ nhưng trong cuộc cải cách 1950, người ta đã phát hiện ra rằng không phải thế". Cậu thanh niên quay sang Langdon."Và tôi tưởng ông Wren phải biết điều đó chứ, vì chính gia đình ông ta đã khám phá ra sự thật đó"

Im lặng đè nặng.

Rồi bị phá vỡ bởi tiếng xập cửa trong dẫy nhà phụ.

"Chắc hẳn là cha Knowles", Teabing nói."có lẽ cháu nên ra xem?"

Cậu lễ sinh vẫn có vẻ nghi ngờ nhưng lộn trở ra dẫy nhà phụ, để lại Langdon, Sophie và Teabing nhìn nhau rầu rĩ.

"Leigh", Langdon thì thào."không có xác sao? Nó vừa nói cái gì vậy?"

Teabing có vẻ quẫn trí: "Tôi không biết. Tôi cứ nghĩ.. chắc chắn phải là chỗ này. Tôi không thể tưởng tượng thằng bé biết nó đang nói về cái gì. Thật chẳng ra nghĩa lý gì!"

"Cho tôi xem lại bài thơ được không?". Langdon nói.

Sophie lôi cái ống hình trụ từ trong túi áo ra và cẩn thận đưa cho Langdon. Langdon mở miếng da ra và giữ hộp mật mã trong tay trong khi xem kỹ lại bài

- 348 -

thơ."Phải, bài thơ dứt khoát nhằm chỉ một ngôi mộ hẳn hoi chứ không phải một hình nộm"

"Bài thơ có thể sai không?" Teabing thắc mắc."Có lẽ nào Jacques Saunière cũng mắc cái sai lầm giống như tôi vừa rồi?"

Langdon suy xét và lắc đầu: "Leigh, chính miệng ngài nói ra đấy. Nhà thờ này được xây bởi các Hiệp sĩ Templar, đội quân của Tu viện Sion. Một cái gì đó nói với tôi rằng vị Đại Sư của Tu viện Sion ắt biết rõ các hiệp sĩ có được chôn cất tạì đây hay không"

Teabing có vẻ kinh ngạc: "Nhưng nơi này quá hoàn hảo". Ông quay lại chỗ những tượng hiệp sĩ."Chúng ta chắc hẳn đã bỏ sót điều gì đó!"

***

Bước vào khu nhà phụ, cậu lễ sinh rất ngạc nhiên khi thấy chẳng có ai."Cha Knowles?", mình nghe thấy tiếng xập cửa mà, cậu nghĩ, đi ra cho đến khi nhìn thấy cổng vào.

Một người đàn ông gày guộc mặc xmôckinh đứng gần cửa ra vào, gãi đầu, vẻ bối rối. Cậu lễ sinh thốt ra một tiếng gắt bực bội, nhận ra mình đã quên không khóa cửa lại sau khi để cho mấy người kia vào. Bây giờ một gã bi đát lang thang ngoài phố tạt vào tìm kiếm xem có lễ cưới nào để kiếm chác."Xin lỗi", cậu nói to."chúng tôi đóng cửa rồi"

Một tiếng vái loạt xoạt đằng sau cậu, và trước khi cậu lễ sinh kịp quay lại, đầu cậu giật về phía sau, một bàn tay to khoẻ bịt chặt miệng cậu, không để cậu kêu. Bàn tay bịt miệng cậu lễ sinh trắng như tuyết, và cậu ngửi thấy mùi rượu.

Người đàn ông điềm tĩnh trong bộ xmôckinh lạnh lùng dí khẩu súng lục ổ quay vào giữa trán cậu lễ sinh.

Cậu lễ sinh cảm thấy vùng háng mình nong nóng và nhận ra rằng cậu đã tè ra quần.

"Nghe cho kỹ đây", người đàn ông mặc xmôckinh nói khẽ."Hãy lặng lẽ ra khỏi nhà thờ, và chạy đi. Không được dừng lại. Rõ chưa?"

Cậu gật đầu thật mạnh với bàn tay vẫn bịt miệng cậu.

Nếu mày gọi cảnh sát..". Người đàn ông mặc xmôckinh ấn khẩu súng lên da cậu." tao sẽ tìm ra mày đấy"

Điều tiếp theo cậu biết là chạy thật nhanh qua sân sau và không dừng lại cho đến khi chân còn có thể chạy được.
 
Chỉnh sửa cuối:
23,402 ❤︎ Bài viết: 3779 Tìm chủ đề
Mật Mã Davinci - Chương 86

Như một bóng ma, Silas lặng lẽ dượt sau mục tỉêu của mình. Sophie Neveu cảm thấy sự có mặt của hắn quá muộn. Trước khi cô kịp quay lại, Silas đã gí nòng súng vào xương sống và vòng cánh tay cường tráng qua ngực cô, kéo lưng cô áp vào thân hình hộ pháp của hắn. Cô thét lên kinh ngạc. Teabing và Langdon cùng quay phắt lại, vẻ mặt ngỡ ngàng và hoảng sợ.

Chuyện gì?

Teabing nghẹn lời.

Ngươi đã làm gì Rémy!

Mối quan tâm duy nhất của ông.

Silas nói rất bình tĩnh, là để tôi ra khỏi đây cùng với viên đá đỉnh vòm. Nhiệm vụ thu hồi này, như Rémy đã vạch rõ, phải gọn ghẽ và đơn giản: Vào nhà thờ, lấy viên đá đỉnh vòm và đi ra, không giết người, không vật lộn.

Vẫn giữ chặt Sophie, Silas hạ tay khỏi ngực cô, lần xuống cổ tay của cô và thọc sâu vào túi chiếc áo len chui đầu, lục lọi.

Hắn ngửi thấy hương thơm nhè nhẹ trên tóc cô qua hơi thở nặng mùi rượu của hắn.

Nó đâu?

Hắn thì thào. Lúc trước viên đá đỉnh vòm nằm trong túi áo len của cô ta. Vậy bây giờ nó ở đâu?

Nó đây này!

Giọng trầm của Langdon vang lên từ phía bên kia phòng.

Silass quay lại nhìn Langdon đang cầm chiếc hộp mật mã đen, giơ trước mặt hắn vẫy qua vẫy lại như một võ sĩ đấu bò đang nhử một con thú lì lợm.

Đặt nó xuống!

Silas ra lệnh.

Hãy để Sophie và Leigh ra khỏi nhà thờ.

Langdon đáp.

Tôi và ông có thể dàn xếp vụ này.

Silas đẩy Sophie ra và nhắm súng vào Langdon, tiến về phía ông.

Không được bước tới gần hơn!

Langdon nói.

Cho đến khi họ ra khỏi tòa nhà này.

Ông không có thể để yêu sách.

Tôi không đồng ý vậy.

Langdon giơ hộp mật mã cao quá đầu.

Tôi sẽ không ngần ngại quật cái này xuống sàn và làm vỡ cái lọ bên trong.

Mặc dù bề ngoài Silas cười nhạo nhưng hắn vẫn cảm thấy lóe lên một nỗi sợ. Điều này thật bất ngờ. Hắn nhằm súng vào đầu Langdon và cố giữ cho giọng nói cũng vững như bàn tay cầm súng.

Ông sẽ không bao giờ đập vỡ viên đá đỉnh vòm. Ông cũng muốn tìm thấy Chén Thánh như tôi mà thôi.

Ông nhầm rồi. Ông cần nó hơn tôi. Ông đã chứng tỏ ông sẵn sàng giết người vì nó.


* * *

Cách đó hơn mười mét, nhòm ra từ hàng ghế phụ gần cửa tò vò Rémy Legaludec cảm thấy một nỗi hoảng sợ dâng lên. Kế hoạch đã không được tiến hành như dự kiến, và thậm chí từ chỗ này, ông ta cũng có thể thấy là Silas đang phân vân không biết xử lý tình huống như thế nào. Theo lệnh của Thầy Giáo, Rémy đã cấm Silas nổ súng.

Hãy để cho họ đi!

Langdon lại yêu cầu, giơ cao hộp mật mã trên đầu và nhìn trừng trừng vào khẩu súng của Silas.

Đôi mắt ngầu đỏ của gã tu sĩ đầy vẻ giận dữ và thất vọng, và Rémy cứng người vì sợ Silas có thể bắn Langdon thật trong khi ông ta còn đang cầm hộp mật mã. Không thế để hộp mật mã rơi xuống!

Hộp mật mã đó phải là tấm vé để Rémy đi tới tự do và giàu sang. Hơn một năm trước y chỉ là một lão người hầu năm mươi nhăm tuổi sống quanh quẩn trong những bức tường của Château Villette, phục vụ cho những thói bốc đồng của ngài Leigh Teabing, cái lão què không ai chịu nổi ấy. Rồi bỗng đâu có người tiếp cận y với một đề nghị phi thường. Việc Rémy phục vụ cho Ngài Leigh Teabing - nhà sử học về Chén Thánh nổi tiếng trên thế giới - sắp mang đến cho Rémy tất cả những gì y hằng mơ ước trong đời. Từ đó, mỗi giây phút y sống trong Château Villette đều dẫn dắt y đến chính khoảnh khắc này đây.

Mình đã tới gần kề rồi. Rémy tự nhủ, nhìn vào chính điện của Nhà thờ Temple và viên đá đỉnh vòm nằm trong tay của Langdon. Nếu Langdon thả nó xuống, tất cả sẽ tan biến.

Liệu mình có sẵn sàng ra mặt không? Đó là điều mà Thầy Giáo cấm ngặt. Rémy là người duy nhất biết nhân thân của Thầy Giáo.

Ông có chắc là ông muốn Silas thực hiện nhiệm vụ này không?

Rémy đã hỏi Thầy Giáo khoảng nửa giờ trước khi y nhận lệnh đánh cắp viên đá đỉnh vòm.

Bản thân tôi cũng làm được!

Thầy Giáo rất cương quyết:

Silas đã phục vụ tốt cho chúng ta với việc thanh toán bốn thành viên Tu viện Sion. Hắn sẽ thu hồi được viên đá đỉnh vòm. Anh phải giấu mặt. Nếu để những người kia thấy anh, ta sẽ buộc phải khử họ, mà đến giờ đã quá đủ chuyện giết chóc rồi. Đừng để lộ mặt.

Mặt tôi rồi sẽ thay đổi thôi, Rémy nghĩ. Với những điều mà ông hứa trả cho tôi tôi sẽ trở thành một người hoàn toàn mới. Thậm chí phẫu thuật có thể thay đổi cả dấu vân tay của y, Thầy Giáo đã nói như vậy. Chẳng bao lâu nữa, y sẽ tự do - một gương mặt khác tươi đẹp không ai nhận ra, tắm nắng trên bãi biển

Tôi hiểu rồi!

Rémy nói.

Tôi sẽ giúp Silas từ trong bóng tối!

Nói để anh biết, Rémy!

Thầy Giáo đã bảo y.

Ngôi mộ đó không ở trong Nhà thờ Temple đâu. Vì thế anh không phải sợ. Bọn chúng đã tìm nhầm chỗ rồi.

Rémy kinh ngạc:

Và ông biết ngôi mộ thật sự ở đâu ư?

Đương nhiên. Ta sẽ nói với anh sau. Lúc này, anh phải hành động nhanh chóng. Nếu bọn kia tìm ra vị trí thật của ngôi mộ và ra khỏi nhà thờ trước khi anh lấy được hộp mật mã thì chúng ta sẽ mất Chén Thánh vĩnh viễn.

Rémy bất cần Chén Thánh, ngoại trừ việc Thầy Giáo từ chối trả công cho y trước khi viên đá đỉnh vòm được tìm thấy. Rémy cảm thấy ngây ngất mỗi khi nghĩ đến số tiền mà chẳng bao lâu nữa y sẽ có. Một phần ba của hai mươi triệu euro. Ê hề để biến mất vĩnh viễn. Rémy đã hình dung ra những thị trấn ven biển trên Côte d' Azur, nơi mà hắn dự tính sẽ sống những ngày đổi đời, phơi mình dưới ánh mặt trời và có kẻ hầu người hạ.

Tuy nhiên, giờ đây, trong Nhà thờ Temple này, với Langdon đang đe da sẽ đập nát viên đá đỉnh vòm, tương lai của Rémy đang lâm nguy. Không chịu đựng nổi ý nghĩ miếng ăn đến mồm còn tuột mất, Rémy quyết định hành động táo bạo. Khẩu súng trong tay y là một khẩu súng nhỏ dễ giấu, khẩu Medusa nòng J nhưng ở tầm gần cũng rất lợi hại.

Bước ra từ bóng tối, Rémy tiến vào phòng thờ hình tròn và nhắm súng thắng vào đầu Teabing:

Lão già, ta đã đợi bao lâu để làm điều này.

Tim ngài Leigh Teabing gần như khựng lại khi nhìn thấy Rémy nhắm súng vào đầu mình. Hắn đang làm gì vậy? Teabing nhận ra khẩu Medusa nhỏ xíu của mình, khẩu súng mà ông cất giữ cẩn thận trong hộp đựng găng của chiếc limousine.

Rémy ư?

Teabing lắp bắp vì bị sốc.

Điều gì đang diễn ra thế này?

Langdon và Sophie cũng ngớ ra như thế.

Rémy vòng ra sau Teabing và gí súng vào lưng ông, phía bên trái ngay sau tim. Teabing cảm thấy các cơ bắp mình tê cứng vì kinh hãi:

Rémy, tôi không..

Tôi sẽ nói gọn thôi.

Rémy gắt, đưa mắt theo dõi Langdon qua vai Teabing.

Đặt viên đá đỉnh vòm xuống kẻo tôi sẽ bóp cò.

Langdon như bị liệt trong giây lát:

Viên đá đỉnh vòm là vô giá trị đối với ông.

Langdon lắp bắp.

Ông không thể mở được nó.

Đồ ngu ngốc hợm hĩnh.

Rémy cười nhạo.

Các ngươi không để ý là đêm nay ta đã nghe được các ngươi bàn luận về những bài thơ này sao? Tất cả những điều ta nghe thấy, ta đã nói cho người khác. Họ còn biết nhiều hơn các ngươi. Thậm chí các ngươi đã không tìm đúng chỗ. Ngôi mộ các ngươi tìm kiếm ở một nơi hoàn toàn khác!

Teabing hoảng sợ. Hắn đang nói gì vậy!

Tại sao ông lại cần Chén Thánh?

Langdon hỏi.

Để hủy nó sao? Trước Ngày tận thế ư?

Rémy ra lệnh cho gã tu sĩ:

Silas, lấy viên đá đỉnh òm từ ông Langdon đi.

Khi gã tu sĩ tiến tới, Langdon lùi lại, giơ cao viên đá đỉnh vòm, nom như sẵn sàng sẵn sàng ném nó xuống nền nhà.

Ta thà đập vỡ nó.

Langdon nói.

Còn hơn là nhìn thấy nó trong những bàn tay không chính đáng

Teabing lúc này cảm thấy một làn sóng khiếp sợ. Ông có thể nhìn thấy sự nghiệp của đời mình đang bốc hơi ngay trước mắt. Tất cả mơ ước của ông sắp tan tành.

Robert, không!

Teabing kêu lên.

Đừng! Anh đang cầm chính Chén Thánh đấy! Rémy không bây giờ bắn tôi đâu. Chúng tôi đã biết nhau được mười..

Rémy chĩa súng lên trần và nổ khẩu Medusa. Vũ khí nhỏ mà tiếng nổ vang to như sấm.

Tất cả mọi người đông cứng lại.

Ta không đùa đâu!

Rémy nói.

Viên đạn tiếp theo sẽ là vào lưng ông ta. Đưa viên đá đỉnh vòm cho Silas.

Langdon miễn cưỡng giơ hộp mật mã ra. Silas bước tới, cầm lấy nó, đôi mắt đỏ của hắn long lanh ánh lửa thỏa mãn của sự báo thù. Đút gọn viên đá đỉnh vòm vào trong túi áo choàng, Silas lùi lại súng vẫn chĩa vào Langdon và Sophie.

Teabing cảm thấy cánh tay Rémy kẹp quanh cổ mình khi tên người hầu bắt đầu lùi ra khỏi tòa nhà, kéo theo Teabing, khẩu súng vẫn gí vào lưng ông.

Hãy buông ông ấy ra!

Langdon đề nghị.

Bọn ta sẽ mang theo ngài Teabing một đoạn đường.

Rémy nói, vẫn tiếp tục lùi.

Nếu anh gọi cảnh sát, ông ta sẽ chết. Nếu anh làm bất kỳ điều gì để can thiệp, ông ta cũng sẽ chết. Rõ chưa?

Hãy mang tôi theo!

Langdon đề nghị, giọng khàn đi vì xúc động.

Hãy thả Leigh ra!

Rémy cả cười:

Ta không nghĩ vậy. Ông ấy và ta có một lịch sử tốt đẹp. Ngoài ra, ông ta vẫn còn có thể hữu ích.

Lúc này, Silas mới giật lùi, vẫn chĩa súng vào Langdon và Sophie trong khi Rémy kéo Leigh về phía lối ra, đôi nạng lết quèn quẹt đằng sau.

Giọng Sophie không hề run:

Anh làm việc cho ai?

Câu hỏi khiến một nụ cười tự mãn nở trên gương mặt Rémy:

Cô sẽ ngạc nhiên đấy, thưa cô Neveu.
 
Chỉnh sửa cuối:
23,402 ❤︎ Bài viết: 3779 Tìm chủ đề
Mật Mã Davinci - Chương 87

Lò sưởi trong phòng khách của Château Villette đã lạnh ngắt nhưng Collet vẫn đi tới đi lui trước cưa lò, vừa đọc những tờ fax từ Interpol.

Tuyệt nhên không phải điều anh mong đợi.

André Vernet, theo như hồ sơ chính thức, là một công dân kiểu mẫu. Không hề có hồ sơ hình sự, thậm chí một phiếu phạt đỗ xe trái phép cũng không. Học ở trường dự bị và ở Sorbonne, ông ta đã tốt nghiệp loại ưu trong ngành tài chính quốc tế.

Interpol nói rằng tên của Vernet thỉnh thoảng mới xuất hiện trên báo, nhưng bao giờ cũng dưới một ánh sáng tích cực. Rõ ràng là ông này đã góp phần thiết kế nên những thông số an toàn khiến cho Ngân hàng Ký thác Zurich giữ vững ngôi vị hàng đầu trong thế giới tối tân của an toàn điện tử. Chi chép chi tiêu trong thẻ tín dụng của Vernet cho thấy ông ta có sở thích là sách nghệ thuật, rượu đắt tiền và những đĩa CD nhạc cổ điển - phần lớn là của Brahm - mà ông ta khoái nghe trên dàn âm thanh nổi kỹ thuật tinh vi và đắt giá mà ông ta đã mua cách đây vài năm.

Zero, Collet thở dài.

Điều đáng chú ý duy nhất đến từ Interpol đêm nay là một bộ dấu tay có vẻ như thuộc về người hầu của Teabing. Chánh giám sát PTS đang đọc bản báo cáo trên ghế ở bên kia phòng.

Collet nhìn sang: "Có gì không?"

Gíam sát viên nhún vai: "Dấu vân tay là của Rémy Legaludec. Bị truy nã vì tội vặt. Không có gì nghiêm trọng. Hình như hắn bị đuổi khỏi trường đại học vì tội mắc lại dây điện thoại để hưởng dịch vụ miễn phí, .. sau đó là một số vụ ăn cắp vặt. Đập vỡ cửa kính và đột nhập. Một lần trốn chi trả viện phí bệnh cho một ca mở khí quản cấp cứu". Anh ta ngước lên, cười tủm tỉm: "Dị ứng với lạc"

Collet gật đầu, nhớ lại một cuộc điều tra ở một nhà hàng đã không ghi rõ trên thực đơn là trong thành phần tương ớt có cả dầu lạc. Một khách hàng vô tư đã chết vì sốc do dị ứng sau khi ăn có một miếng.

"Lagaludec có lẽ tá túc ở đây để tránh khỏi bị bắt". Giám sát viên có vẻ thích thú."Một đêm may mắn của hắn"

- 355 -

Collet thở dài: "Được rồi, tốt hơn là anh cứ chuyển tiếp thông tin này đến đại úy Fache"

Gíam sát viên đi khỏi thì một nhân viên PTS khác chạy bổ vào phòng khách: "Trung úy! Chúng tôi phát hiện một thứ trong nhà để xe"

Bằng vào vẻ lo âu trên gương mặt người nhân viên, Collet suy đoán: "Một xác người à?"

"Không, thưa sếp. Một thứ còn..". Anh ta ngập ngừng."bất ngờ hơn"

Rụi mắt, Collet theo người nhân viên đến nhà để xe. Khi họ bước vào cái khoảng ẩm mốc như hang động, người nhân viên chỉ vào giữa nhà, nơi có một cái thang gỗ bắc lên tận xà, tựa vào gờ một gác xép lơ lửng trên đầu họ.

"Lúc nãy cái thang đâu có ở đó", Colle nói.

"Không, thưa sếp. Tôi đã dựng nó lên. Chúng tôi đang tìm dấu vân tay gần chiếc xe Rolls, thì tôi nhìn thấy cái thang nằm trên sàn. Tôi ắt đã không buồn nghĩ thêm về nó, song có điều các bậc thang đều mòn và lấm bùn, chứng tỏ thang này được sử dụng thường xuyên. Độ cao của gác xép khớp với cái thang, vì vậy tôi dựng nó lên và trèo lên để ngó qua một cái"

Mắt Collet dõi theo chiều nghiêng của cái thang lên đến gác xép. Có người lên đó thường xuyên. Từ dưới này nhìn lên, căn gác xép có vẻ hoang vắng và phần lớn bị khuất tầm nhìn.

Một nhân viên cấp cao PTS xuất hiện ở đầu thang, nhìn xuống: "Chắc chắn anh muốn thấy cái này, trung úy à", anh ta nói, giơ bàn tay đeo găng nhựa vẫy Collet lên.

Gật đầu mệt mỏi, Collet bước tới chân chiếc thang cũ kĩ và nắm lấy bậc dưới cùng. Cái thang được thiết kế thon nhỏ theo lối cổ và càng lên cao càng hẹp lại. Khi gần tới nơi, Collet suýt trượt chân trên cái bậc mỏng mảnh. Nền nhà như xoay tròn dưới chân. Giờ đây cảnh giác hơn, anh leo tiếp, cuối cùng cũng lên đến đỉnh. Người nhân viên phía trên chìa tay ra đỡ. Collet chộp lấy và vụng về bước lên sàn gác.

"Nó kia kìa", nhân viên PTS nói, chỉ sâu vào căn gác xép rất sạch như lau như li."Chỉ có một bộ vân tay trên này thôi.

Không bao lâu nữa chúng ta sẽ có một lý lịch"

Collet nheo mắt hướng về bức tường phía xa qua ánh sáng lờ mờ. Cái quái quỉ gì thế này? Nép vào bức tường, là một trạm máy tính tinh vi - hai bộ xử lý trung tâm, một màn hình phẳng kèm theo loa, một dàn ổ cứng và một bảng điều khiển âm thanh nhiều kênh có thiết bị lọc riêng.

Tại sao trên đời lại có người làm việc tận trên này nhỉ? Collet đi về phía các máy móc thiết bị đó: "Anh đã xem kỹ hệ thống này chưa?"

"Đó là một trạm nghe lén"

- 356 -

Collet quay ngoắt: "Theo dõi ư?"

Người nhân viên gật đầu: "Theo dõi rất tinh vi". Anh ta chỉ một cái bàn ngổn ngang những linh kiện điện tử, sổ tay, dụng cụ, dây kim loại, que hàn và những bộ phận điện tử khác."Một kẻ biết rõ mình đang làm gì. Rất nhiều thứ ở đây tinh vi chẳng kém gì thiết bị của chúng ta. Micrô mini, tế bào quang điện, thanh RAM có dung lượng lớn. Thậm chí hắn có cả những ổ biều thị tân tiến"

Collet rất kinh ngạc.

"Đây là một hệ thống hoàn hảo", người nhân viên nói, đưa cho Collet một thiết bị không to hơn một cái máy tính bỏ túi. Dính lủng lẳng vào dụng cụ này là một dây kim loại dài khoảng ba mươi centimet có gắn một mảnh kim loại bằng con tem mỏng dính ở đuôi."Cái đế này là một hệ thống ghi âm dung lượng lớn với một bộ ắc quy có thể nạp điện. Lá kim loại ở cuối đây là một kết hợp gồm cả micrô và tế bào quang điện"

Những thứ này, Collet biết rất rõ. Những cái micrô quang điện có kích thước như những mảnh kim loại là một bước đột phá lớn cách vài năm trở lại đây. Bây giờ, một máy ghi âm có thể được dán sau một cái đèn, ví dụ cái micrô mỏng như là kim loại được dán vào đường viền đáy và nhuộm màu cho phù hợp với cái đèn. Chừng nào micrô được định vị thì nó sẽ nhận được năng lượng ánh sáng mặt trời khoảng vài tiếng một ngày. Tế bào quang điện sẽ nạp điện cho hệ thống. Những "con rệp" như thế có thể nghe vô kỳ hạn.

"Phương pháp nhận sóng ra sao?" Collet hỏi.

Người nhân viên chỉ một dây điện cách âm chạy từ sau máy tính lên bức tường và qua cái lỗ ở mái nhà: "Sóng vô tuyến đơn giản. Ăngten nhỏ trên mái"

Collet biết những hệ thống ghi âm này thường được đặt trong các cơ quan, được khởi động bằng âm thanh để tiết kiệm chỗ trong đĩa cứng và ghi âm những mẩu tin của những cuộc đàm thoại trong ngày, truyền những file âm thanh nén vào buổi đêm để tránh bị phát hiện. Sau khi truyền đi, ổ cứng sẽ tự xóa và chuẩn bị tái hoạt động vào ngày hôm sau.

Lúc này, Collet lia mắt tới một cái giá, trên đó chồng đống hàng trăm băng cátxét ghi âm, tất cả các nhãn được ghi ngày tháng và số hiệu. Một người khá bận rộn. Anh quay về phía người nhân viên: "Anh có biết gì về mục tiêu của vụ nghe trộm này?"

"Vâng, thưa trung úy", người nhân viên nói, đi tới máy vi tính và hiển thị một bộ phận phần mềm."và đây là điều lạ nhất.."
 
Chỉnh sửa cuối:
23,402 ❤︎ Bài viết: 3779 Tìm chủ đề
Mật Mã Davinci - Chương 88

Langdon cảm thấy hoàn toàn kiệt sức khi ông và Sophie chạy vượt qua cái cửa quay ở ga xe điện ngầm Temple và lao sâu vào mê cung nhằng nhịt những đường hầm và sân ke đầy bụi bẩn. Cảm giác tội lỗi như xé lòng ông.

Mình đã kéo Leigh vào cuộc và bây giờ ông ta đang gặp nguy hiểm lớn.

Việc Rémy nhảy vào cuộc là một cú sốc, tuy nhiên, nó có thể hiểu được. Bất kỳ ai đang tìm kiếm Chén Thánh đều tuyển mộ một kẻ làm tay trong. Họ đến chỗ Teabing vì cùng một lý do như mình. Xuyên suốt lịch sử, những người biết tường tận về Chén Thánh bao giờ cũng là cục nam châm thu hút bọn trộm cắp cũng như các học giả. Việc Teabing vốn đã là một mục tiêu như vậy lẽ ra phải khiến Langdon đỡ cảm thấy có lỗi hơn trong việc làm Teabing liên luỵ, song lại không như vậy. Chúng ta cần phải tìm Leigh và cứu ông. Ngay lập tức.

***

Langdon theo Sophie tới sân ke tuyến District và Circle đi về phía tây, ở đó, cô vội vã đến một máy điện thoại công cộng, gọi cho cảnh sát, mặc dù Rémy đã cảnh cáo không được làm thế. Langdon ngồi ở một ghế băng gần đó, cảm thấy hối hận.

- Cách tốt nhất để cứu Leigh!

Sophie nhắc lại trong khi quay số là lôi các nhà chức trách ở London vào cuộc ngay lập tức.

- Tin tôi đi.

Langdon thoạt đầu không tán thành ý kiến này nhưng khi họ bàn tính kế hoạch thì lô-gích của Sophie bắt đầu tỏ ra có lý.

Teabing hiện giờ vẫn còn an toàn. Thậm chí nếu Rémy và bọn kia biết được mộ của các Hiệp sĩ Templar nằm ở đâu, chúng vẫn cần sự giúp đỡ của Teabing trong việc giải mã những chỉ dẫn liên quan đến quả cầu. Điều lo lắng của Langdon là chuyện gì sẽ xảy ra sau khi bản đồ Chén Thánh được tìm thấy. Lúc đó Leigh sẽ trở thành gánh nặng lớn cho chúng.

Nếu Langdon muốn có cơ may cứu Leigh hoặc thậm chí thấy lại viên đá đỉnh vòm, điều cốt yếu là ông phải tìm ra ngôi mộ trước nhất. Khốn thay! Rémy lại có lợi thế xuất phát rất lớn.

Làm chậm bước tiến của Rémy trở thành nhiệm vụ của Sophie. Tìm ra đúng ngôi mộ là nhiệm vụ của Langdon.

Sophie sẽ biến Rémy và Silas thành những kẻ phải chạy trốn cảnh sát London, buộc chúng phải lẩn trốn hoặc tốt hơn nữa, bắt giữ chúng. Kế hoạch của Langdon ít chắc chắn hơn - đi xe điện ngầm tới trường King's College gần đấy, một nơi nổi tiếng về cơ sở dữ liệu thần học điện tử. Phương tiện nghiên cứu tối hậu.

Langdon nghe nói vậy. Trả lời tức khắc cho mọi câu hỏi về lịch sử tôn giáo. Ông tự hỏi không biết cơ sờ dữ liệu này sẽ nói gì về "một hiệp sĩ được Giáo hoàng mai táng". Ông đứng dậy và đi bách bộ, mong sao tầu tới nhanh hơn.

Bên máy điện thoại công cộng, cuối cùng cú gọi của Sophie đã tiếp nối được với cảnh sát London.

- Đồn Snow Hill đây.

Người điều phối nói.

- Tôi có thể chuyển tiếp cuộc gọi của cô đến bộ phận nào?

- Tôi báo cáo về một vụ bắt cóc.

Sophie nói ngắn gọn.

- Xin cho biết tên?

Sophie ngừng lại:

- Nhân viên Sophie Neveu, Cảnh sát tư pháp Pháp.

Danh hiệu đó có hiệu lực như mong muốn:

- Có ngay, thưa cô. Để tôi kiếm một thám tử nói chuyện với cô.

Trong khi chờ cuộc gọi được kết nối, Sophie bắt đầu băn khoăn liệu cảnh sát có tin vào sự mô tả của cô về những kẻ bắt cóc Teabing hay không. Một tên mặc xmôckinh. Một kẻ tình nghi có thể dễ nhận dạng hơn đến mức nào? Thậm chí nếu Rémy thay đổi trang phục, hắn vẫn phải cạ với một gã thầy tu bạch tạng. Không thế trật được. Vả lại, chúng có một con tin và không thể leo lên những phương tiện giao thông công cộng. Cô tự hỏi có bao nhiêu xe Jaguar thân dài ở London.

Sự kết nối của Sophie với viên thám tử dường như bất tận.

Cố lên nào! Cô có thể nghe thấy tiếng lạo xạo trên đường dây như thể cô đang được chuyển tiếp.

Mười lăm giây qua đi.

Cuối, cùng một người đàn ông tiếp máy:

- Nhân viên Neveu?

Sững sờ, Sophia nhận ra ngay giọng nói cộc cằn đó.

- Nhân viên Neveu.

Bezu Fache hỏi.

- Cô đang ở chỗ quái quỷ nào thế?

Sophie không thốt nên lời. Đại úy Bezu Fache đã yêu cầu người điều phối của cảnh sát London báo động cho ông ta nếu Sophie gọi.

- Nghe này.

Fache nói bằng tiếng Pháp ngắn gọn.

- Đêm nay, tôi đã phạm sai lầm khủng khiếp. Rober Langdon vô tội. Tất cả những cáo buộc chống lại ông ta đã được hủy bỏ. Tuy vậy, cả hai người đang gặp nguy hiểm. Hai người cần đến đây ngay.

Hàm Sophia trễ ra. Cô chẳng biết trả lời như thế nào. Fache không phải là người sẵn sàng xin lỗi về bất cứ điều gì.

- Cô đã không cho tôi biết..

Fache tiếp tục.

- Rằng Jacques Saunière là ông của cô. Tôi hoàn toàn có ý định bỏ qua tội bất phục tùng của cô đêm qua, xét vì cơn stress tình cảm mà hẳn là cô phải trải qua. Vào thời điểm này, tuy nhiên, cô và Langdon cần đến ngay sở chỉ huy cảnh sát London gần nhất để ẩn náu.

Ông ta biết mình đang ở London ư? Fachc còn biết được điều gì nữa? Sophie nghe thấy cái gì tựa như tiếng khoan hay tiếng máy móc là âm thanh nền ở đầu dây đằng kia. Cô cũng nghe thấy cả một tiếng lách cách kì lạ trong máy:

- Ông đang truy tìm cuộc gọi này à, Đại úy?

Giọng Fache lúc này trờ nên cứng rắn:

- Cô và tôi cần hợp tác, nhân viên Neveu. Cả hai chúng ta có nhiều thứ để mất ở đây. Đó là cách khống chế thiệt hại. Tôi đã phạm sai lầm trong nhận định đêm qua, nếu sai lầm đó lại dẫn đến cái chết của vị giáo sư người Mỹ và chuyên viên giải mật mã DCP sự nghiệp của tôi sẽ thất bại. Trong vài tiếng vừa qua, tôi đã cố gắng kéo hai người trở về nơi an toàn.

Một ngọn gió ấm áp thổi qua sân ga khi một đoàn tàu ầm ầm tiến đến. Sophie dự định bằng giá nào cũng phải lên tàu.

Langdon hình như cũng có cùng ý định, lúc này ông cố trấn tĩnh và bước về phía cô.

- Kẻ ông muốn truy nã là Rémy Legaludec.

Sophie nói.

- Hắn là người hầu của Teabing. Hắn bắt cóc Teabing bên trong Nhà thờ Temple và..

- Nhân viên Neveu!

Fache hét khi con tàu lao ầm ầm vào sân ga:

- Đây không phải là cái để thỏa thuận trên điện thoại. Ngay bây giờ cô và Langdon phải đến đây. Vì sự sống còn của chính hai người? Đó là mệnh lệnh trực tiếp!

Sophie cúp máy và cùng Langdon lao lên tàu.
 
Chỉnh sửa cuối:
23,402 ❤︎ Bài viết: 3779 Tìm chủ đề
Mật Mã Davinci - Chương 89

Cabin chiếc máy bay Hawker của Teabing, vốn sạch bong, giờ đầy phoi bào thép và sực mùi khí nén và hydro cacbon. Bezu Fache đã ra lệnh cho mọi người đi khỏi và ngồi một mình với ly rượu và chiếc hộp gỗ nặng tìm thấy trong két sắt của Teabing.

Xoa ngón tay trên hình khảm Hoa Hồng, ông ta nhấc chiếc nắp được trang trí tỉ mỉ lên. Fache tìm thấy trong đó một hình lăng trụ bằng đá với những đĩa có khắc chữ. Năm đĩa đó được sắp xếp thành từ SOFIA. Fache nhìn chằm chằm vào từ này hồi lâu rồi cầm hình trụ lên khỏi miếng đệm và xem xét rất kĩ. Rồi, từ từ kéo cả hai đầu trụ, Fache rút một trong hai nắp tuột ra.

Hình trụ rỗng không.

Fache đặt lại hình trụ vào trong hộp và lơ đãng nhìn qua cửa sổ chiếc phản lực vào hăng-ga, ngẫm ngợi về cuộc đàm thoại ngắn giữa ông ta và Sophie, cũng như những thông tin đã nhận được từ PTS ở Château Villette. Chuông điện thoại kéo ông ta ra khỏi sự suy tưởng mơ màng.

Đó là tổng đài DCPJ. Người điều hành xin lỗi. Chủ tịch của Ngân hàng Ký thác Zurich đã gọi liên tục, và mặc dù anh đã nhiều lần nói rằng Đại úy đang có công chuyện ở London, ông ta vẫn cứ gọi, Fache bực bội bảo người trực tổng đài chuyển máy.

- Ông Vernet.

Fache nói, trước khi ông kia kịp cất tiếng.

- Tôi rất tiếc là đã không gọi cho ông sớm hơn. Tôi rất bận. Như đã hứa, tên Ngân hàng của ông sẽ không xuất hiện trên phương tiện thông tin đại chúng. Vì vậy, cụ thể điều ông lo lắng là gì?

Giọng Vernet rất lo âu khi ông ta kể cho Fache nghe đầu đuôi câu chuyện Langdon và Sophie đã lấy được chiếc hộp gỗ nhỏ ra khỏi Ngân hàng như thế nào và sau đó, thuyết phục Vernet giúp họ trốn thoát ra sao.

- Rồi khi tôi nghe đài nói rằng chúng là những tên tội phạm.

Vernet nói.

- Tôi bèn dừng xe bên vệ đường và yêu cầu chúng trả lại chiếc hộp nhưng chúng đã tấn công tôi và đánh cắp cả xe chở hàng.

- Ông đang lo lắng về một chiếc hộp gỗ.

Fache nói, đưa mắt nhìn hình khảm Hoa Hồng trên mặt hộp và một lần nữa nhẹ nhàng mở chiếc nắp để lộ ra hình trụ màu trắng.

- Ông có thể nói cho tôi biết cái gì trong hộp đó được không?

- Cái gì bên trong không quan trọng.

Vernet đáp trả.

- Tôi đang lo lắng cho uy tín của Ngân hàng của tôi. Chúng tôi chưa bao giờ có một vụ cướp nào. Chưa bao giờ. Điều này sẽ làm cho chúng tôi lụn bại nếu tôi không thu hồi lại được tài sản này nhân danh thân chủ của tôi.

- Ông nói rằng nhân viên Neveu và Robert Langdon có mật khẩu và chìa khóa. Thế thì điều gì khiến ông lại nói rằng họ đã đánh cắp chiếc hộp?

- Đêm nay chúng đã giết nhiều người. Trong đó có cả ông của Sophie Neveu. Hiển nhiên chìa khóa và mật khẩu đã bị cướp đoạt.

- Ông Vernet, người của tôi đã kiểm tra lai lịch cùng những quan tâm của ông. Ông thực sự là một người rất có văn hóa và lịch lãm. Tôi hình dung ông là một người có danh dự. Cũng như tôi đây. Đã có lời như vậy rồi, tôi xin hứa với tư cách một sĩ quan chỉ huy của Police Judiciare rằng chiếc hộp cùng với uy tín Ngân hàng của ông đang nằm trong những bàn tay gìn giữ an toàn nhất.
 
Chỉnh sửa cuối:
23,402 ❤︎ Bài viết: 3779 Tìm chủ đề
CHƯƠNG 90

Trên chiếc gác xép ở Château Villette, Collet kinh ngạc nhìn trân trân vào màn hình máy vi tính:

- Hệ thống này nghe lén tất cả các vị trí này phải không?

- Vâng.

Người nhân viên nói.

- Có vẻ như dữ liệu đã được tập hợp hơn một năm nay.

Collet đọc lại danh sách, không thốt nên lời.

COLBERT SOSTAQUE - Chủ tịch Hội đồng lập pháp JEAN CHAFÉE - Phụ trách Bảo tàng Jeu de Paume.

DOUARD DESROCHERS - Chuyên viên lưu trữ cấp cao, Thư viện Mitterand. JACQUES SAUNIÈRE - Phụ trách Bảo tàng Louvre.

MICHEL BRETON - Đứng đầu DAS (Tình báo Pháp).

Người nhân viên chỉ trên màn hình:

- Số bốn hiển nhiên được quan tâm.

Collet gật đầu, thẫn thờ. Anh đã chú ý tới nó ngay lập tức. Jacques Saunière bị đặt rệp nghe trộm. Anh nhìn vào phần còn lại của danh sách lần nữa.

- Làm sao có kẻ xoay sở đặt được rệp nghe trộm những người nổi tiếng? Anh đã nghe cái nào trong số những file âm thanh này chưa?

- Một số. Đây là một trong những cái gần đây nhất.

Người nhân viên nhấn một vài phím máy tính. Loa lạo xạo phát tiếng:

- Đại úy, nhân viên của phòng mật mã đã đến.

Collet không thể tin nổi vào tai mình nữa:

- Đó là tôi. Đó là giọng nói của tôi.

Anh nhớ lại lúc ngồi bên bàn làm việc của Saunère và gọi bộ đàm báo cho Fache đang ở Hành Lang Lớn là Sophie Neveu vừa đến.

Người nhân viên gật đầu:

- Rất nhiều điều về cuộc điều tra tối nay của chúng ta ở Louvre có thể bị nghe lén nếu có kẻ quan tâm làm việc đó.

- Anh đã cử ai đến quét rệp chưa?

- Không cần. Tôi biết chính xác nó ở chỗ nào.

Người nhân viên bước tới một chồng phác thảo và giấy tờ ghi chép cũ trên bàn làm việc. Anh nhặt một tờ giấy đưa cho Collet:

- Trông có quen không?

Collet rất kinh ngạc. Anh đang cầm bản photocopy một sơ đồ mô tả một cái máy thô sơ. Anh không đọc được những nhãn viết tay bằng tiếng ý, nhưng anh biết rõ mình đang nhìn vào cái gì. Mô hình một hiệp sĩ Pháp thời trung cổ với đầy đủ các khớp tứ chi.

Bức tượng hiệp sĩ trên bàn làm việc của Saunère!

Collet nhìn lề tờ giấy, ai đó đã viết nguệch ngoạc lên bản photocopy những ghi chú bằng bút dạ đỏ. Đây là những ghi chú bằng tiếng Pháp về ý tưởng đặt một thiết bị nghe lén vào trong bức tượng hiệp sĩ này một cách tối ưu.
 
Chỉnh sửa cuối:
23,402 ❤︎ Bài viết: 3779 Tìm chủ đề
CHƯƠNG 91

Silas ngồi ở ghế hành khách trong chiếc xe limousine Jaguar đang đỗ gần Nhà thờ Temple. Tay hắn cảm thấy nhâm nhấp trên viên đá đỉnh vòm khi hắn đợi Rémy trói và bịt miệng Teabing ở đằng sau bằng chiếc dây thừng tìm thấy trong thùng xe.

Cuối cùng, Rémy ra khỏi khoang sau xe, đi vòng quanh rồi vào ghế ngồi lái bên cạnh Silas.

- Chắc rồi chứ?

Silas hỏi.

Rémy cười tủm tỉm, giũ sạch nước mưa, ngoái mắt qua tấm ngăn để ngỏ nhìn cái thân hình dúm đó của Leigh Teabing ở phía sau:

- Lão ta không thể đi đâu cả.

Silas nghe thấy tiếng ú ở của Teabing và hiểu rằng Rémy đã dùng băng keo cũ để bịt miệng ông ta.

- Fame ta gueule.

Rémy quát với Teabing. Với tay sang bảng điều khiển, Rémy ấn một nút nhỏ. Một tấm ngăn mờ đục dựng lên bịt kín phía sau. Teabing biến mất và tiếng ông ta câm bặt. Rémy liếc nhìn Silas:

- Tôi đã nghe tiếng rền rĩ khốn khổ của lão ta quá đủ rồi.

Vài phút sau khi chiếc limousine Jaguar lao nhanh trên đường phố thì điện thoại của Silas reo. Thầy Giáo. Hắn phấn khởi trả lời:

- Xin chào Thầy?

- Silas.

Giọng Pháp quen thuộc của Thầy Giáo nói.

- Nghe thấy tiếng con, ta nhẹ cả người. Điều đó có nghĩa là con vẫn an toàn.

Silas cũng yên tâm hẳn khi nghe thấy giọng nói của Thầy Giáo. Suốt nhiều giờ qua, kế hoạch hành động đã bị đối hướng xoay chiều xoành xoạch. Cuốì cùng, giờ đây dường như đâu lại vào đấy:

- Con đã có được viên đá đỉnh vòm.

- Đây là tin tuyệt vời.

Thầy Giáo nói với hắn.

- Rémy ở cùng con chứ?

Silas rất ngạc nhiên khi nghe thấy Thầy Giáo gọi tên Rémy:

- Vâng, Rémy đã giải thoát cho con.

- Vì ta đã ra lệnh cho hắn làm thế, ta chỉ ân hận là con đã phải chịu đựng sự giam giữ quá lâu.

- Gò bó thân xác không có nghĩa ý gì cả. Điều quan trọng là chúng ta đã có được viên đá đỉnh vòm.

- Đúng vậy, ta cần con trao nó cho ta ngay lập tức, thời gian rất quan trọng.

Silas rất háo hức vì cuối cùng cũng được gặp Thầy Giáo mặt đối mặt:

- Vâng, thưa Thầy, con rất vinh dự.

- Silas, ta muốn Rémy sẽ mang nó đến cho ta.

Rémy? Silas tiu nghỉu. Sau mọi việc Silas đã làm cho Thầy Giáo, hắn đã tin rằng chính hắn sẽ là người được tự tay trao vật báu. Thầy Giáo biệt đãi Rémy sao?

- Ta cảm thấy được sự thất vọng của con.

Thầy Giáo nói.

- Điều đó nói lên rằng con không hiểu ý ta.

Thầy Giáo hạ giọng xuống thành một tiếng thì thầm:

- Con phải tin rằng ta muốn nhận được viên đá đỉnh vòm từ con - Người của Chúa - hơn là từ tay của một tên tội phạm. Nhưng Rémy phải bị xử lý. Hắn đã không tuân lệnh của ta và phạm phải một sai lầm nghiêm trọng khiến cho sứ mệnh của chúng ta lâm nguy.

Silas cảm thấy ớn lạnh và liếc qua Rémy. Việc bắt cóc Teabing không nằm trong kế hoạch và quyết định làm gì với ông ta đặt ra một vấn đề mới.

- Con và ta là người của Chúa.

Thầy Giáo thì thầm.

- Chúng ta không thể bị ngăn chặn khỏi mục đích của chúng ta.

Một thoáng dừng dễ sợ trên đường dây.

- Duy chỉ vì lý do đó, ta sẽ yêu cầu Rémy mang viên đá đỉnh vòm cho ta. Con hiểu chứ?

Silas cảm nhận được sự tức giận trong giọng nói của Thầy Giáo và rất ngạc nhiên là Thầy Giáo đã không thông cảm hơn.

Việc Rémy lộ diện là không thế tránh khỏi, Silas nghĩ. Rémy đã làm điều hắn phải làm. Hắn đã cứu viên đá đỉnh vòm.

- Con hiểư.

Silas gượng đáp.

- Tốt. Vì chính sự an toàn của con, con cần phải rời khỏi đường phố ngay lập tức. Cảnh sát sẽ sớm tìm kiếm chiếc limousine và ta không muốn con bị bắt. Opus Dei có một dinh thự ở London, con biết chứ?

- Tất nhiên rồi.


- Con được chào đón ở đó chứ? Với tư cách là một đạo hữu.

- Thế thì hãy đi đến đó và ra khỏi tầm ngắm. Ta sẽ gọi con ngay khi ta có được viên đá đỉnh vòm và giải quyết được vấn đề hiện nay của ta.

- Thầy đang ở London chứ?

- Hãy làm như ta dặn và mọi việc sẽ tốt đẹp.

- Vâng, thưa Thầy.

Thầy Giáo trút một tiếng thở dài, như thể điều mà Thầy phải làm bây giờ là rất đáng tiếc:

- Đã đến lúc ta nói chuyện với Rémy.

Silas đưa máy cho Rémy, hắn cảm thấy đây có thể là cuộc điện đàm cuối cùng của Rémy Legaludec.

Khi Rémy cầm lấy điện thoại, y biết tên thầy tu tội nghiệp dị hợm này không hề biết số phận nào đang đợi hắn sau khi hắn đã hết phận sự.

Thầy Giáo đã lợi dụng ngươi, Silas.

Và giám mục của ngươi chỉ là một con tốt.

Rémy vẫn còn ngạc nhiên trước sức thuyết phục của Thầy Giáo. Giám mục Aringarosa đã tin tưởng mọi thứ. Ông đã mù quáng bởi chính sự liều lĩnh tuyệt vọng của mình. Aringarosa quá ham hố đâu còn bụng dạ nào mà tin. Mặc dù Rémy không thích Thầy Giáo lắm, y vẫn tự hào là đã chiếm được lòng tin của Thầy Giáo và giúp đỡ Thầy đáng kể. Mình xứng với số tiền được trả.

- Nghe kỹ nhé.

Thầy Giáo nói.

- Hãy đưa Silas tới dinh thự của Opus Dei và thả nó xuống cách đó mấy con phố. Sau đó lái xe tới Công viên Saint James. Nó ở cạnh Nhà Quốc hội và tháp Big Bell. Anh có thể đỗ chiếc limousine ở Horse Cuards Parade. Chúng ta sẽ nói chuyện ở đó.

Nói đoạn, ông ta tắt máy.
 
Chỉnh sửa cuối:
23,402 ❤︎ Bài viết: 3779 Tìm chủ đề
CHƯƠNG 92

Đại học Hoàng gia do vua George IV lập vào năm 1829, đặt Khoa Thần học và Nghiên cứu Tôn giáo ở cạnh Nhà Quốc hội trên đất do Vương quốc cấp. Khoa tôn giáo Đại học Hoàng gia tự hào không chỉ về một trăm năm mươi năm kinh nghiệm giảng dạy và nghiên cứu, mà còn về Viện Nghiên cứu Thần học Hệ thơng thành lập năm 1982. Viện này sở hữu một trong những thư viện nghiên cứu tôn giáo đầy đủ nhất, với thiết bị điện tử tiên tiến nhất trên thế giới.

Langdon vẫn cảm thấy run rẩy khi ông và Sophie từ ngoài trời mưa bước vào thư viện. Phòng nghiên cứu chính đúng như Teabing đã mô tả - một căn phòng hình bát giác đầy ấn tượng với một chiếc bàn tròn đồ sộ ở ngôi vị thống ngự, quanh chiếc bàn đó, hẳn vua Arthur cùng các hiệp sĩ của người có thể cảm thấy thoải mái nếu không có sự hiện diện của mười hai dàn vận hành máy vi tính màn hình phẳng. Ở đầu đằng kia căn phòng, một nữ thủ thư giữ sách tham khảo đang rót một bình trà và bắt đầu ngày làm việc.

- Chúc một buổi sáng thú vị.

Cô nói với giọng Anh vui vẻ, để bình trà lại và đi tới.

- Tôi có thể giúp được gì cho ông?

- Vâng, cảm ơn.


Langdon đáp lại.

- Tên tôi là..

- Robert Langdon!


Cô nở một nụ cười khả ái.


- Tôi biết ông là ai.


Trong phút chốc, Langdon bỗng sợ là Fache đã đưa hình ông lên kênh truyền hình Anh, nhưng nụ cười của cô thủ thư gợi lên một điều khác hẳn. Langdon vẫn chưa quen với những lúc bất ngờ phải vào vai người nổi tiếng như vậy. Lại nữa, trên đời có người nhận ra khuôn mặt ông, thì lại là một cô thủ thư ở bộ phận sách tham khảo về nghiên cứu tôn giáo!

- Pamela Gettum.

Cô thủ thư nói và chìa tay ra. Cô có một khuôn mặt thông minh và giọng lưu loát rất dễ thương. Cặp kính gọng sừng lủng lẳng nơi cổ cô thật là dầy.

- Rất vui được biết cô.

Langdon nói.

- Đây là bạn của tôi, Sophie Neveu!

Hai người phụ nữ chào nhau và Gettum ngay lập tức chuyển sang Langdon.

- Tôi không biết là ông đến.

- Cả chúng tôi cũng không biết. Nếu không quá phiền hà, cô có thể tìm giúp chúng tôi một vài thông tin được không?


Gettum có vẻ phân vân:

- Bình thường sự phục vụ của chúng tôi phải có phiếu yêu cầu và có hẹn trước, tất nhiên trừ phi ông là khách của ai đó trong trường này.

Langdon lắc đầu:

- Tôi e rằng chúng tôi đến không báo trước.

- Một người bạn của tôi rất ca ngợi cô. Ngài Leigh Teabing, cô biết chứ?

Langdon cảm thấy day dứt khi nhắc đến cái tên đó.

- Nhà sử học Hoàng Gia Anh.

Bây giờ thì Gettum tươi tỉnh và cười:

- Ôi trời, vâng. Thật là một tính cách đặc biệt. Cuồng tín! Đến lần nào cũng chỉ tìm độc một mục. Chén Thánh. Chén Thánh. Chén Thánh. Tôi thề là con người này sẽ chết trước khi từ bỏ công cuộc tìm kiếm đó.

Cô nháy mắt.

- Có nhiều thời gian và tiền bạc mởi đủ điều kiện chơi những thứ xa xỉ thú vị như thế, phải không? Một Don Kihote chính cống.

- Liệu cô có thể giúp chúng tôi được không?

Sophie hỏi.

- Thực sự quan trọng đấy.

Gettum liếc quanh thư viện vắng vẻ và sau đó nháy mắt ra hiệu cho cả hai:

- Ồ, tôi không thể viện cớ là đang quá bận, đúng không? Nếu hai vị kí nhận, tôi nghĩ sẽ không có ai quá phiền lòng. Hai vị quan tâm đến điều gì nào?

- Chúng tôi đang tìm một ngôi mộ ở London.

Gettum có vẻ nghi ngờ:

- Chúng tôi có khoảng hai mươi nghìn ngôi mộ. Hai vị có thể nói cụ thể hơn một chút không?

- Đó là ngôi mộ của một hiệp sĩ. Chúng tôi không có tên.

- Một hiệp sĩ. Điều đó sẽ khoanh hẹp phạm vi một cách đáng kể. Bớt chung chung đi nhiều.

- Chúng tôi không có nhiều thông tin về hiệp sĩ mà chúng tôi đang tìm kiếm.

Sophie nói.

- Nhưng đây là điều chúng tôi biết.

Cô đưa ra một mảnh giấy, trên đó cô chỉ chép hai câu đầu của bài thơ.

Không muốn đưa toàn bộ bài thơ cho một người ngoài cuộc, Langdon và Sophie quyết định chỉ dưa ra hai câu đầu, những câu xác định nhân thân chàng. "Mật mã phân khoảnh" - Sophie gọi nó như thế. Khi một cơ quan tình báo bắt được một mã số chứa những dữ liệu nhạy cảm, mỗi nhân viên mật mã sẽ làm việc trên một phân đoạn riêng rẽ. Theo cách này, không một người giải mật mã nào có thể độc chiếm được trọn thông điệp đã giải mã.

Trong trường hợp này, sự phòng xa có lẽ là thái quá, ngay cả nếu người thủ thư này xem được toàn bộ bài thơ, xác định được ngôi mộ của người hiệp sĩ và biết được quả cầu bị mất tích là cái gì, thì thông tin cũng sẽ vô dụng vì không có hộp mật mã.

Gettum cảm nhận thấy một vẻ rốt ráo trong mắt vị học giả Mỹ nổi tiếng này, như thể việc nhanh chóng tìm ra ngôi mộ là một vấn đề có tầm quan trọng sống còn đối với ông. Người phụ nữ mắt xanh đi cùng ông cũng có vẻ lo âu.

Bối rối, Gettum đeo kính lên và xem kỹ mảnh giấy họ vừa đưa cho cô. Ở London yên nghỉ một hiệp sĩ được Giáo hoàng mai táng.

Kết quả công sức chàng chuốc lấy cơn thịnh nộ Thần Thánh.

Cô liếc nhìn những vị khách của mình:

- Đây là cái gì? Một kiểu bởi rác tìm vàng của Harvard?

Tiếng cười của Langdon nghe gượng gạo:

- Ờ, đại loại như thế.

Gettum ngừng lời, cảm thấy cô chưa hiểu được toàn bộ câu chuyện. Mặc dù thế, trí tò mò của Gettum bị kích thích và cô thấy mình suy nghĩ rất lung về bài thơ:

- Theo như bài thơ, một hiệp sĩ đã làm điều gì đó khiến Chúa phật ý, tuy nhiên một Giáo hoàng đã có hảo tâm chôn cất chàng ở London.

Langdon gật đầu:


- Nó có gợi ý gì cho cô không?

Gettum tiến về một trong những dàn máy vi tính:

- Tức thời thì chưa, nhưng ta hãy xem những gì có thể có được trong cơ sở dữ liệu.

Trong hai thập kỉ qua, Viện nghiên cứu về Thần học Hệ thống của Đại học Hoàng gia đã sử dụng phần mềm nhận mặt chữ bằng quang học với các thiết bị dịch ngôn ngữ để số hóa và lập danh mục một bộ sưu tập văn bản khổng lồ - từ điển bách khoa về tôn giáo, tiểu sử tôn giáo, thánh thư bằng hàng tá ngôn ngữ, lịch sử, thư tín của Tòa Thánh Vatican, nhật kí của các giáo sĩ, bất cứ những gì được coi là viết về tâm linh con người. Vì bộ sưu tập đồ sộ này giờ đây ờ dưới dạng bit và bye thay vì trên các trang giấy, nên các dữ liệu có thể truy nhập dễ hơn trước nhiều.

Ngồi vào một dàn vận hành máy vi tính, Gettum nhìn mẩu giấy và bắt đầu đánh chữ:

- Để bắt đầu, ta sẽ đi thẳng đến tổng mục lục với một vài từ khóa hiển nhiên và xem điều gì xảy ra.

- Cảm ơn.

Gettum đánh mấy từ.

LONDON, HIỆP SĨ, GIÁO HOÀNG

Khi ấn vào nút SEARCH (tìm), cô có thể cảm thấy tiếng ro ro của máy vi tính lớn ở tầng dưới đang quét hình dữ liệu với tốc độ 500MB/giây.

- Tôi đang yêu cầu hệ thống này chỉ ra cho chúng ta bất kì văn bản nào chứa đựng tất cả ba từ khóa vừa rồi. Sẽ ra nhiều văn bản hơn ta muốn, nhưng đó là một căn cứ tốt để bắt đầu.

Màn hình đã hiển thị những truy cập đầu tiên.

Tranh vẽ Giáo hoàng. Bộ sưu tập chân dung của Ngài Joshua Reynols, nhà xuất bản trường Đại học London.

Gettum lúc lắc đầu:

- Rõ ràng không phải cái ông đang tìm kiếm.

Cô chuyển sang cái thu được tiếp theo.

Những bài viết về Alexander Pope ở London của Hiệp sĩ G. Wilson.


Một lần nữa cô lại lắc đầu.

Hệ thống tiếp tục vận hành và những truy cập được hiển thị nhanh hơn bình thường. Hàng tá văn bản xuất hiện, nhiều trong số đó đề cập đến nhà văn Anh thế kỉ mười tám Alexander Pope. tác giả của những tập thơ chống tôn giáo, nhái chất tráng ca, trong đó nói rất nhiều đến các hiệp sĩ và London.

Gettum lướt nhanh qua các con số dưới đáy màn hình. Máy tính này, bằng cách tính toán số lượng những truy cập hiện có và đem nhân lên với số phần trăm của cơ sở dữ liệu còn chưa được tìm kiếm, sẽ cung cấp một ước đoán sơ bộ về số lượng thông tin có thể tìm thấy. Sự thăm dò đặc biệt này có vẻ như sẽ cho một lượng dữ liệu lớn kinh khủng.

Ước tính tổng số những truy cập: 2, 692

- Chúng ta cần lọc bớt các thông số đi nữa.

Gettum nói, ngừng việc thăm dò.

- Đây là toàn bộ thông tin các vị có về ngôi mộ? Không có gì khác nữa sao?

Langdon liếc sang Sophie Neveu, vẻ phân vân.

Đây không phải là cuộc bớ rác tìm vàng, Gettum cảm thấy thế. Cô đã nghe người ta xì xào về trải nghiệm của Robert Langdon ở Roma năm ngoái. Người Mỹ này được phép tiếp cận thư viện kín cổng cao tường nhất trên trái đất - Phòng lưu trữ bí mật Vatican. Cô tự hỏi không biết Langdon đã lượm được loại bí mật nào trong đó và liệu cuộc săn tìm vô vọng hiện nay của ông về một ngôi mộ bí mật ở London có thể liên quan tới thông tin ông lượm được trong Tòa thánh Vatican hay không. Gettum là một thủ thư có đủ thâm niên để biết rành lý do chung nhất khiến mọi người đến London để tìm các hiệp sĩ. Đó là Chén Thánh.

Gettum mỉm cười và chỉnh lại kính:

- Ông là bạn của Leigh Teabing, ông đang ở nước Anh và đang tìm kiếm một hiệp sĩ?

Cô chắp tay lại.

- Tôi chỉ có thể giả định là ông đang tìm kiếm Chén Thánh.

Langdon và Sophie giật mình nhìn nhau.

Gettum cười:

- Các bạn của tôi ơi, thư viện này là một cơ sở cho những người tìm kiếm Chén Thánh. Leigh Teabing cũng nằm trong số đó. Tôi ước sao mình được một silinh cho mỗi lần giúp dò tìm về Rose, Mary Magdalne, Sangreal, Merovingien, Tu viện Sion, vân vân và vân vân. Ai nấy đều thích chuyện âm mưu.

Cô tháo kính và nhìn họ.

- Tôi cần thêm thông tin.

Trong yên lặng, Gettum cảm thấy ý muốn giữ bí mật của hai vị khách đang nhanh chóng bị lấn át bởi nỗi háo hức sớm có được kết quả.

- Đây.

Sophie Neveu bật ra.

- Đây là những thứ mà chúng tôi biết.

Mượn một cây bút của Langaon, cô viết hai dòng trên mẩu giấy và đưa nó cho Gettum.

Ngươi kiếm tìm trái cầu lẽ ra phải ở trên mộ chàng. Nó nói về da thịt Hồng và tử cung mang hạt giống.


Gettum mỉm cười. Chén Thánh thực vậy, cô nghĩ, nhận thấy đoạn nhắc đến Hồng và tử cung mang hạt giống.

- Tôi có thể giúp được các vị.

Cô nói, ngước lên khỏi mảnh giấy.

- Tôi có thể hỏi bài thơ này có nguồn gốc từ đâu không? Và tại sao các vị lại tìm kiếm quả cầu?

- Cô có thể hỏi.

Langdon nói, với một nụ cười thân thiện.

- Nhưng đó là một câu chuyện dài mà chúng tôi có rất ít thời gian.

Nghe có vẻ như là cách nói lịch sự của câu: Đừng chõ vào việc của người khác!

- Chúng tôi sẽ mang ơn cô mãi mãi, Pamela.

Langdon nói.

- Nếu cô tìm ra được hiệp sĩ này là ai và được chôn cất ở đâu.

- Tốt lắm!

Gettum nói, lại quay ra đánh chữ trên máy tính.

- Tôi sẽ tiếp tục hợp tác. Nếu đây là một vấn đề liên quan đến Chén Thánh, chúng ta nên tham khảo chéo đối chiếu với những từ khóa về Chén Thánh. Tôi sẽ thêm một tham số cận kề và bỏ đi phần tiêu đề rườm rà. Như vậy sẽ hạn chế những truy cập của chúng ta xuống mức chỉ còn những trường hợp từ khóa văn bản ở gần một từ liên quan đến Chén Thánh.

Tìm,

HIỆP SĨ, LONDON, GIÁO HOÀNG, NGÔI MỘ.

Trong vòng 100 từ gần với:

CHÉN THÁNH, HOA HỒNG, SANGREAL, CHIẾC LI.

- Việc này sẽ mất bao lâu?

Sophie hỏi.

- Một vài trăm terabye với nhiều trường tham chiếu chéo.

Mắt Gettum long lanh khi cô nhấn nút SEARCH.

- Chỉ mười lăm phút thôi.

Langdon và Sophie không nói gì nhưng Gettum cảm nhận thấy khoảng thời gian này có vẻ như dài vô tận đối với họ.

- Trà nhé?

Gettum hỏi, đứng lên và đi về phía bình trà mà cô đã pha trước đó.

- Leigh Teabing bao giờ cũng khoái trà của tôi.
 
Chỉnh sửa cuối:
23,402 ❤︎ Bài viết: 3779 Tìm chủ đề
CHƯƠNG 93

Trung tân Opus Dei ở London là một nhà gạch khiêm tốn ở số 5 phố Orme Court, trông xuống đường North Walk ở vườn Kensington. Silas chưa bao giờ đến đây, nhưng hắn cảm thấy đây là nơi an toàn để ẩn náu khi hắn bước lại gần ngôi nhà.

Mặc dù trời mưa, Rémy vẫn thả hắn xuống cách đó một đoạn ngắn để giữ cho chiếc limousine tránh khỏi những phố chính.

Silas đâu có ngại phải đi bộ. Mưa có tác dụng gột rửa mà.

Theo gợi ý của Rémy, Silas đã chùi sạch dấu tay trên khẩu súng của mình và vứt nó qua một cửa cống. Hắn rất vui vì tống khứ được nó. Hắn cảm thấy nhẹ nhõm hơn. Lúc này, chân hắn vẫn còn đau vì vết trói, nhưng Silas đã từng chịu đựng những nỗi đau lớn hơn nhiều. Tuy nhiên, hắn tự hỏi về Teabing, người mà Rémy đã trói go vứt ở phía sau chiếc xe. Giờ đây, chắc chắc lão già người Anh hắn đang phải cảm thấy đau đớn lắm.

- Anh sẽ làm gì với lão ta?

Trên đường tới đây, Silas đã hỏi Rémy.

Rémy nhún vai:

- Đó là một quyết định dành cho Thầy Giáo.

Có một sự dứt khoát kì lạ trong giọng y.

Lúc này, khi Silas gần đến tòa nhà Opus Dei, mưa bắt đầu nặng hạt hơn, thấm đẫm chiếc áo choàng to của hắn, làm nhói đau vết thương của ngày hôm trước. Hắn sẵn sàng bỏ lại phía sau những tội lỗi của hai mươi tư giờ trước và thanh lọc tâm hồn mình. Công việc của hắn đã hoàn thành.

Đi qua một cái sân nhỏ tới cửa trước, Silas không ngạc nhiên khi thấy cánh cửa không khóa. Hắn mở cửa và bước vào căn phòng chờ nhỏ. Một hồi chuông điện tử khe khẽ vang lên trên gác khi Silas bước lên tấm thảm. Chuông báo là một nét chung của những sảnh kiểu này, nơi những người cư ngụ hầu như suốt ngày cầu nguyện ở trong phòng. Silas có thể nghe thấy tiếng đi lại trên các sàn gô kêu cót két.

Một người đàn ông mặc áo chùng bước xuống gác:

- Tôi có thể giúp gì được anh?

Ông ta có đôi mắt dường như thậm chí không hề ghi nhận vẻ bề ngoài kì dị của Silas.

- Cảm ơn. Tên tôi là Silas. Tôi là một thành viên Opus Dei.

- Người Mỹ à?


Silas gật đầu:

- Tôi chỉ ở trong thành phố ngày hôm nay. Tôi có thể nghỉ ở đây không?

- Thậm chí anh không cần phải hỏi. Có hai phòng trống ở trên tầng ba. Tôi có phải mang trà và bánh mì cho anh không?

- Cảm ơn ông.

Silas đang đói ngấu.

Silas lên gác, vào căn phòng khiêm nhường có một cửa sổ, hắn cởi bỏ chiếc áo chùng ướt sũng và quỳ gối cầu nguyện trong bộ đồ lót. Hắn nghe thấy chủ nhân đi lên và đặt một cái khay bên ngoài cửa phòng. Silas thôi cầu nguyện, dùng bữa, đặt mình xuống và chìm vào giấc ngủ.

Dưới đó ba tầng, điện thoại vang lên. Thành viên Opus Dei đã đón tiếp Silas trả lời điện thoại.

- Đây là cảnh sát London.

Người gọi nói.

- Chúng tôi đang tìm một thầy tu bạch tạng. Chúng tôi được tin báo rằng hắn ta có thể đang ở đó. Ông có trông thấy hắn không?

Thành viên Opus Dei giật mình:

- Vâng, anh ta đang ở đây. Có gì không ổn?

- Hắn hiện sống ở đó sao?

- Vâng, đang cầu nguyện trên gác. Chuyện gì xảy ra vậy?

- Hãy để anh ta ở nguyên đó.

Sĩ quan cảnh sát yêu cầu.

- Đừng nói một lời nào với bất kỳ ai. Tôi sẽ phái người đến ngay.
 
Chỉnh sửa cuối:
23,402 ❤︎ Bài viết: 3779 Tìm chủ đề
CHƯƠNG 94

Công viên Thánh Jeam là một biển cây xanh giữa London, một công viên công cộng giáp ranh các cung điện Westminster, Buckingham và nhà thờ Thánh James. Trước kia, vua Henry VIII cho rào kín công viên này, thả nai rừng để săn bắn. Đến nay, công viên Thánh James mở cửa thường xuyên cho công chúng. Vào những buổi chiều đầy ánh nắng, những người dân London pích-ních dưới những gốc liễu và cho đàn bồ nông cư ngụ trong hồ ăn, tổ tiên của chúng là món quà do đại sứ Nga tặng vua Charles II.

Thầy Giáo không thấy một con bồ nông nào hôm nay. Thế chỗ chúng, thời tiết giông bão đã xua những con hải âu từ biển cả về đậu kín các bãi cỏ - hàng trăm cơ thể nhỏ trắng toát cùng quay về một hướng, kiên nhẫn vượt ra ngoài cưn gió ẩm ướt.

Bất chấp màn sương sớm, công viên vẫn bày ra trước mắt quang cảnh tráng lệ của Nhà Nghị viện và Tháp Big Bell. Phóng mắt qua những bãi cỏ thoai thoải, qua hồ thả vịt và những bóng liễu rủ thướt tha, Thầy Giáo có thể thấy những chóp nhọn của tòa nhà có chứa phần mộ của những chàng hiệp sĩ - lý do hoàn hảo khiến ông ta thuyết phục được Rémy đến nơi này.

Khi Thầy Giáo lại gần cửa trước bên phía ghế hành khách của chiếc limousine đang đỗ, Rémy nhoài người sang mở cửa.

Thầy Giáo dừng lại bên ngoài, tợp một ngụm từ chai cô nhắc mang theo. Rồi lau miệng, ông ta ngồi xuống bên cạnh Rémy và đóng cửa lại.

Rémy giơ viên đá đỉnh vòm lên như một chiến lợi phẩm:

- Suýt nữa thì mất tiêu.

- Anh đã làm tốt đấy.

Thầy Giáo nói.

- Chúng tôi đã làm tốt.

Rémy đáp, đặt viên đá đỉnh vòm vào đôi bàn tay háo hức của Thầy Giáo.

Thầy Giáo ngắm nhìn nó hồi lâu, mỉm cười:

- Còn khẩu súng? Anh đã chùi sạch dấu tay rồi chứ?

- Để lại vào hộp đựng găng, nơi tôi đã thấy nó.

- Thật tuyệt!

Thầy Giáo tu một ngụm cô-nhắc nữa và đưa chai cho Rémy.

- Nào cùng uống chúc mừng cho sự thành công của chúng ta. Kết thúc đã gần kề rồi.


Rémy đầy lòng biết ơn nhận lấy chai rượu. Rượu cô-nhắc hơi mặn, nhưng Rémy bất cần. Giờ đây, y và Thầy Giáo là những đối tác thực sự. Y có thể cảm thấy mình đã vươn lên được một vị trí cao hơn trong cuộc sống. Ta vẽ không bao giờ lại làm một tên đầy tớ nữa! Khi Rémy nhìn bờ đắp cao của hồ vịt phía dưới, Château Villitte dường như ở xa lắc tận đâu đâu.

Uống thêm một hớp rượu nữa, Rémy có thể cảm thấy rượu cô nhắc làm máu mình ấm lên. Tuy nhiên, hơi ấm trong cổ họng Rémy nhanh chóng chuyển thành một hơi nóng không thoải mái chút nào. Nới lỏng chiếc nơ, Rémy nếm phải một cái gì sàn sạn thật khó chịu và trả chai rượu lại cho Thầy Giáo:

- Có lẽ tôi đủ rồi.

Y gượng nói một cách yếu ớt.

Cầm lấy chai rượu, Thầy Giáo nói:

- Rémy, như anh biết đấy, anh là người duy nhất biết mặt tôi. Tôi đặt niềm tin rất lớn ở anh.

- Vâng.

Y đáp, cảm thấy như lên cơn sốt khi y nới cái nơ lỏng thêm ra.

- Và nhân dạng của ngài sẽ theo tôi xuống mồ.

Thầy Giáo im lặng hồi lâu:

- Tôi tin anh.

Bỏ chai rượu và viên đá đỉnh vòm vào túi, Thầy Giáo với tay vào hộp đựng găng, lấy ra khẩu súng lục Medusa nhỏ xíu. Trong khoảnh khắc, Rémy cảm thấy nỗi sợ dâng trào, nhưng Thầy Giáo chỉ đơn giản bỏ tọt nó vào túi quần mình.

Ông ta đã làm gì vậy? Đột nhiên Rémy thấy toát mồ hôi.

- Tôi biết mình đã hứa cho anh tự do.

Thầy Giáo nói, giọng nghe đầy hối tiếc.

- Nhưng xét hoàn cảnh của anh, đây là điều tốt nhất tôi có thể làm.

Chỗ sưng phồng trong cổ họng Rémy bùng lên như động đất. Y gục xuống cần tay lái, ôm cuống họng và thấy vị nôn ở trong khí quản đang thít lại. Y thốt ra một tiếng kêu nghẹt lại, thậm chí không đủ to để nghe được từ bên ngoài xe. Vị mặn chát trong rượu cô nhắc giờ đây phát tác.

Ta đang bị mưu sát.

Bán tín bán nghi, Rémy quay sang Thầy Giáo đang thản nhiên ngồi bên cạnh mình, mắt nhìn thẳng về phía trước bên ngoài kính che gió. Mắt Rémy nhòa đi, y thở hổn hển. Ta đã làm mọi thứ có thể cho hắn. Làm sao hắn nỡ thế được! Có phải Thầy Giáo đã chủ định giết Rémy từ lâu hay đó là do những hành động của Rémy ở Nhà thờ Temple đã khiến cho Thầy Giáo mất lòng tin, Rémy sẽ không bao giờ biết. Lúc này đây, kinh hoàng và cuồng nộ đang lồng lên trong y. Rémy cố lao vào Thầy Giáo, nhưng cơ thể cứng đờ của y hầu như không cử động được. Ta đã tin mi mọi điều!


Rémy cố giơ nắm tay xiết chặt để ấn còi xe, nhưng thay vì, y trượt sang một bên, lăn trên ghế ngồi, nằm vật bên cạnh Thầy Giáo, tay vẫn nắm lấy cổ họng. Bây giờ mưa đã rơi nặng hạt hơn. Rémy không nhìn thấy gì nữa, nhưng y có thể cảm thấy bộ óc cạn kiệt ôxy của mình đang ráng hết sức níu lấy chút sáng suốt thoi thóp cuối cùng. Khi thế giới của y từ từ tối đen lại, Rémy Legeludes có thể thề rằng hắn đã nghe thấy tiếng sóng Riviera êm dịu vỗ bờ.

Thầy Giáo bước ra khỏi chiếc limousine, hài lòng thấy không có ai nhìn về phía mình. Ta không có sự lựa chọn nào hết, ông ta tự nhủ, ngạc nhiên thấy mình chẳng thấy hối hận gì mấy về điều vừa làm. Rémy đã tự định đoạt số phận của hắn đấy chứ! Suốt bao nhiêu lâu, Thầy Giáo đã sợ rằng Rémy có thể cần bị thủ tiêu khi nhiệm vụ đã hoàn thành, nhưng bằng cách trâng tráo chường mặt ra ở Nhà thờ Temple, Rémy đã đẩy nhanh quá trình tất yếu ấy một cách đầy kịch tính. Việc Robert Langdon bất ngờ đến Château Villette đã cùng một lúc mang đến cho Thầy Giáo cả một món bở ngẫu nhiên từ trên trời rơi xuống lẫn một tình thế khó xử phức tạp. Langdon đã trao viên đá đỉnh vòm ngay giữa cuộc, một bất ngờ thú vị, nhưng đồng thời lại tạo cho cảnh sát truy sát mình. Dấu tay của Rémy ở khắp nơi trong Château Villette cũng như ở nơi đặt máy nghe trộm trong nhà để xe, nơi Rémy đã tiến hành những hoạt động do thám. Thầy Giáo hài lòng vì đã hết sức cấn thận ngăn chặn mọi liên hệ giữa các hoạt động của Rémy và của chính ông ta. Không ai có thể với tới được Thầy Giáo trừ phi Rémy nói ra và đó không còn là mối lo phiền của ông ta nữa.

Vãn còn một đầu dây lỏng lẻo cần thắt chặt lại ở đây, Thầy Giáo nghĩ, đi về phía sau của chiếc ô tô. Cảnh sát sẽ không biết gì về chuyện đã xảy ra và không còn một nhân chứng sống nào để khai với họ. Liếc nhìn xung quanh để bảo đảm không có ai đang theo dõi, ông ta mở cửa và trèo vào khoang sau rộng rãi.


* * *

Vài phút sau đó, Thầy Giáo băng qua công viên Thánh James. Giờ chỉ có hai người còn lại, Langdo và Neveu. Họ phức tạp hơn. Nhưng có thể xử trí được. Tuy nhiên, lúc này, Thầy Giáo còn phải lo toan đến chiếc hộp mật mã đã.

Đắc ý nhìn qua công viên, ông ta có thể thấy đích đến của mình. Ở London yên nghỉ một hiệp sĩ được Giáo hoàng mai táng. Ngay sau khi Thầy Giáo nghe được bài thơ, ông ta đã biết câu trả lời. Dù vậy, không lấy gì làm lạ là những người kia không đoán ra. Ta có một lợi thế không công bằng. Đã từng nghe những cuộc trò chuyện của Saunière trong nhiều tháng, đôi khi Thầy Giáo thấy vị Đại Sư nhắc đến chàng hiệp sĩ nổi tiếng, thể hiện sự tôn kính với chàng hầu như ngang bằng với chính Da Vinci. Sự ám chỉ của bài thơ đến chàng hiệp sĩ thật đơn giản đến mức thô thiển một khi ta đã trông thấy nó - nhờ trí tuệ của Saunière - và tuy nhiên, bằng cách nào ngôi mộ này có thể tiết lộ mật khẩu cuối cùng thì vẫn là một điều bí ẩn.

Ngươi kiếm tìm trái cầu lẽ ra phải ở trên mộ chàng.

Thầy Giáo mơ hồ nhớ lại những tấm ảnh chụp ngôi mộ nổi tiếng và đặc biệt là những nét nổi bật của nó. Một quả cầu đẹp. Hình cầu lớn gắn trên mộ to gần bằng chính ngôi mộ. Sự hiện diện của quả cầu dường như làm Thầy Giáo vừa phấn khởi lại vừa bối rối. Một mặt, nó như một cây cột mốc chỉ đường nhưng theo bài thơ, cái miếng thiếu trong trò chắp hình lại là một quả cầu lẽ ra phải ở trên mộ chàng.. chứ không phải là cái đã có sẵn ở đó. Thầy Giáo tính xem xét ngôi mộ kỹ hơn để tìm ra câu trả lời.

Mưa trở nên nặng hạt hơn, Thầy Giáo đút viên đá đỉnh vòm sâu vào trong túi áo bên phải của mình dể tránh cho nó khỏi bị ướt. Ông ta để khẩu súng lục Medusa nhỏ xíu trong túi bên trái, không thể trông thấy được. Vài phút, ông ta bước vào nơi tôn nghiêm yên tĩnh của tòa nhà chín trăm năm tuổi nguy nga nhất London.


* * *

Đúng lúc Thầy Giáo bước ra khỏi cơn mưa thì Giám mục Arigarosa bước vào trong mưa. Trên đường băng ướt mưa ở phi trường Biggin Hill Excutive, Arigarosa chui ra từ chiếc máy bay chật hẹp, khép chặt chiếc áo thầy tu để tránh ướt lạnh. Ông đã hi vọng được Đại úy Fache ra đón. Thay vào đó là một sĩ quan cảnh sát người Anh trẻ tuổi với một cái ô.

- Giám mục Arigarosa phải không ạ? Đại úy Fache phải đi nên ông ấy yêu cầu tôi chăm sóc ông. Ông ta gợi ý tôi nên đưa ông đến Scotland Yard. Ông ấy nghĩ đó sẽ là nơi an toàn nhất.

An toàn nhất. Arigarosa nhìn xuống cái cặp nặng đầy trái phiếu của Vatican ghì chặt trong tay. Ông hầu như đã quên:

- Vâng, cảm ơn anh.

Arigarosa trèo vào chiếc xe cảnh sát, tự hỏi Silas có thể ở đâu. Vài phút sau đó, máy quét hình của cảnh sát lạo xạo cho câu trả lời.

Số 5 Orme Court.

Arigarosa nhận ra địa chỉ này ngay lập tức. Trung tâm Opus Dei ở London.

Ông quay sang phía người lái xe:

- Cho tôi đến ngay chỗ đó.
 
Chỉnh sửa cuối:
23,402 ❤︎ Bài viết: 3779 Tìm chủ đề
CHƯƠNG 95

Langdon không rời mắt khỏi màn hình máy vi tính kể từ khi cuộc tìm kiếm bắt đầu.

Năm phút. Cả hai truy cập. Cả hai đều không phù hợp. Ông bắt đầu lo lắng.

Pamela Gettum ở phòng bên cạnh, đang chuẩn bị đồ uống nóng. Langdon và Sophie hỏi xin cà phê đi kèm với thứ trà mà Gettum mời, và từ tiếng bíp của lò vi sóng trong phòng bên, Langdon ngờ rằng yêu cầu của họ sẽ được đáp ứng bằng cà phê tan Nescafé.

Cuối cùng, máy tính reo lên hân hoan.

- Nghe như ông đã có được một truy cập nữa.

Gettum gọi với sang từ phòng kế bên.


- Tiêu đề là gì?


Langdon nhìn màn hình.

Ngụ ngôn về Chén Thánh trong văn học thời trung cổ: Một khái luận về ngài Gawain của Hiệp Sĩ Xanh.

- Ngụ ngôn về Hiệp Sĩ Xanh.

Ông đáp.


- Không phù hợp.


Gettum nói.


- Chẳng có mấy người khổng lồ huyền thoại mặc đồ xanh được chôn ở London đâu.


Langdon và Sophie kiên nhẫn ngồi trước màn hình và đợi qua hai kết quả khác còn đáng ngờ hơn. Tuy nhiên, khi máy vi tính lại reng lên, món quà thật bất ngờ.

DIE OPERA VON RICHARD WAGNER

- Opera của Wagner?

Sophie hỏi.

Gettum ngó lại từ khung cửa, tay cầm một gọi cà phê tan.

- Có vẻ là một sự kết hợp lạ kỳ. Wagner là một hiệp sĩ phải không?

- Không.


Langdon đáp, cảm thấy một tình tiết dột ngột.

- Nhưng ông là thành viên Hội Tam Điểm nổi tiếng. Cùng với Mozart, Beethoven, Shakespeare, Gershwin, Houdini va Disney. Có nhiều tập sách viết về mối quan hệ giữa những thành viên Hội Tam điểm và các Hiệp sĩ Templar, Tu viện Sion, và Chén Thánh.

- Tôi muốn xem cái đó. Làm thế nào để xem được toàn văn?

- Ông không cần cả bài đâu.


Gettum nói với ra.


- Ấn vào tiêu đề siêu văn bản. Máy vi tính sẽ hiện ra các truy cập từ khóa của ông cùng với những mono prelog và triple postlog làm văn cảnh.


Langdon không hiểu cô nói gì, nhưng vẫn nhấn chuột. Một cửa sổ mới đột hiện.


Hiệp sĩ huyền thoại tên là Parsifal, người.. cuộc đi tìm Chén Thánh ẩn du, điều còn chưa ngã ngũ..

Dàn lạc giao hưởng London năm 1855..

Rbecca tuyển tập ca kịch của Pope - DIVA.. mộ của Wagner ở Breyth, Đức..



- Không phải Pope này.

Langdon nói, thất vọng. Mặc dù vậy ông vẫn ngạc nhiên vì thấy hệ thống rất dễ sử dụng. Những từ khóa có văn cảnh đủ để nhắc ông rằng vở opera Parsifal của Wagner là để tôn vinh Mary Magdelene và dòng máu của Jesus Christ qua câu chuyện một chàng hiệp sĩ trẻ đi tìm chân lý.

- Hãy kiên nhẫn.

Gtum động viên.


- Đây là một trò chơi số. Cứ để cho máy chạy.


Trong vài phút tiếp theo, máy vi tính cho thêm mấy tư liệu tham khảo về Chén Thánh, trong đó có một bài về trolbadour - những người hát rong nổi tiếng của Pháp. Langdon biết việc hai từ minstrel (người hát rong) và minister (linh mục, mục sư) có chung một gốc từ nguyên không phải là một sự trùng hợp.

Những người hát rong là những đầy tớ lưu động, hay "mục sư" Nhà thờ, của Mary Magdalene, họ dùng âm nhạc để truyền bá câu chuyện về tính nữ thiêng liêng trong quần chúng. Đến tận ngày nay, những người hát rong vẫn ca ngợi phẩm hạnh của "Công Nương của chúng ta", một giai nhân bí ẩn mà họ nguyện mãi mãi phụng thờ.

Hăm hở, Langdon kiểm tra.. nhưng không thấy gì. Máy tính lại reng.


Hiệp sĩ, lưu manh, Giáo hoàng và hình sao năm cánh.

Lịch sử của Chén Thánh qua bộ bài Tây.



- Chẳng có gì là lạ.

Langdon nói với Sophie.

- Một số từ khóa của chúng ta trùng tên với những quân bài lẻ.

Ông với lấy con chuột để kích vào một đường siêu kết nối liên văn bản.


- Tôi không chắc liệu ông cô có đề cập tới nó khi cô chơi bài Tarot với cụ không, Sophie, nhưng trò chơi này là một thứ sách giáo lý vấn đáp bằng thẻ chữ to kể câu chuyện về "Cô dâu thất lạc" và bị chinh phục bởi Giáo hội ác độc.


Sophie nhìn ông, vẻ không tin:

- Tôi không biết.

- Đó là vấn đề. Bằng cách dạy thông qua một trò chơi ẩn dụ, những tín đồ của Chén Thánh nguỵ trang thông điệp của mình khỏi con mắt cú vọ của Giáo hội.


Langdon thường tự hỏi bằng cách nào mà nhiều người chơi bài hiện đại lại suy ra được rằng những bộ bốn hoa của họ - bích, cơ, tép, rô - là những biểu tượng có liên quan đến Chén Thánh, bắt nguồn trực tiếp từ bộ bốn trong bài Tarot - gươm, ly, vương trượng và hình sao năm cánh.

Bích là Gươm - lưỡi dao. Nam.

Cơ là Ly - Chén Thánh. Nữ.

Tép là Vương Trượng - Dòng Hoàng tộc. Cậy quyền uy.

Rô là hình sao năm cánh - Nữ thần Tính nữ thiêng liêng.

Bốn phút sau, khi Langdon bắt đầu cảm thấy sợ rằng họ sẽ không tìm thấy cái mà họ đến để tìm, thì máy tính lại đưa ra kết quả khác Trọng lực của thiên tài:



Tiểu sử của một hiệp sĩ hiện đại.



- Trọng lực của thiên tài?

Langdon nói vọng sang với Gettum.

- Tiểu sử của một hiệp sĩ hiện đại?

Gettum thò đầu vào:


- Hiện đại đến mức nào? Xin đừng nói với tôi đó là Ngài Rudy Giuliani của ông. Cá nhân tôi thấy ông ta hơi có chút kỳ quặc.


Langdon cũng có những thắc mắc riêng về việc Ngài Mick Jagger mới được phong tước hiệp sĩ, nhưng bây giờ dường như không phải lúc để tranh cãi về chính sách về danh hiệu hiệp sĩ của nước Anh thời hiện đại.

- Hãy nhìn xem.

Langdon gọi các từ khóa siêu văn bản.


Hiệp sĩ tôn kính, ngài Isaac Newton.. London năm 1727, và mộ Ngài Westminster Abbey.. Alexander Pope, bạn và đồng nghiệp..


- Tôi đoán hiện đại là một khái niệm tương đối thôi.


Sophie nói với Gettum.

- Đây là một cuốn sách cổ. Nói về Ngài Isaac Newton.

Gettum lắc đầu ở khung cửa:

- Không phù hợp. Newton đã được mai táng ở Tu viện Westminster- trụ sở của Đạo Tin Lành nước Anh. Không có cách nào để một Giáo hoàng Thiên Chúa giáo hiện diện được. Dùng kem và đường chứ?

Sophie gật đầu.

Gettum đợi:


- Còn ông, Robert?


Tim của Langdon dập thình thình. Ông rời mắt khỏi màn hình và đứng lên.

- Ngài Isaac Newton chính là chàng hiệp sĩ của chúng ta.

Sophie vẫn ngồi:

- Ông đang nói về cái gì?

- Newton đã được chôn cất ở London.


Langdon nói.

- Công sức lao động của ông tạo ra những ngành khoa học mới chuốc lấy cơn thịnh nộ của Giáo hội. Và ông đã từng là một Đại Sư của Tu viện Sion. Chúng ta có thể muốn điều gì hơn thế nữa?

- Điều gì nữa ư?


Sophie chỉ vào bài thơ.

- Còn đoạn được Giáo hoàng mai táng thì sao? Cô nghe đấy chứ, Gettum? Newton không hề được mai táng bởi một Giáo hoàng Thiên Chúa giáo.

Langdon với lấy con chuột:

- Có ai nói là một Giáo hoàng Thiên Chúa giáo đâu?

Ông kích vào chữ "Pope" qua đường siêu kết nối, và thông tin đầy đủ hiện ra.

Đám tang của Ngài Isaac Newton với sự tham gia của các vị vua và quý tộc dưới sự chủ trì bởi Alxandrer Pope và đồng nghiệp, người đã cất lời ca tụng xúc động trước khi rắc đất lên mộ.

Langdon nhìn sang Sophie:

- Lượt truy cập thứ hai đã cho chúng ta chữ Pope chính xác.

Ông dừng lại. A. Pope.


Ở London yên nghỉ một hiệp sĩ được A. Pope mai táng.

Sophie đứng lặng sững sờ.

Jacques Saunière, bậc thày về chữ nghĩa nước đôi đã lại chứng tỏ một lần nữa rằng ông là một người thông minh dễ sợ.
 
Chỉnh sửa cuối:
23,402 ❤︎ Bài viết: 3779 Tìm chủ đề
CHƯƠNG 96

Silas choàng tỉnh giấc.

Hắn không rõ cái gì đã đánh thức hắn hoặc hắn đã ngủ bao lâu rồi. Phải chăng mình đang mơ. Ngồi dậy trên chiếc chiếu rơm, hắn lắng nghe tiếng thở nhẹ nhàng của sảnh chính ngôi nhà Opus Dei, sự im lặng chỉ bị quấy động bởi tiếng lầm rầm khe khẽ của ai đó đang cầu nguyện trong một phòng bên dưới. Đó là những âm thanh thân thuộc và có thể an ủi hắn.

Tuy nhiên, hắn cảm thấy một sự cảnh giác đột ngột và bất ngờ.

Đứng dậy, chỉ mặc nguyên đồ lót, Silas bước tới cửa sổ. Ban nãy mình có bị bám theo không nhỉ? Cái sân phía dưới vắng teo, hệt như hắn đã thấy nó khi vào đây. Hắn lắng nghe. Tịch lặng. Vậy tạt sao mình lại lo lắng? Đã từ lâu, Silas đã học cách tin vào trực giác của mình. Trực giác đã giữ mạng sống cho hắn khi còn là một đứa trẻ trên đường phố Marseilles trước khi bị bỏ tù.. Trước khi hắn được sinh ra một lần nữa nhờ bàn tay của Giám mục Arigarosa. Ngó ra cửa sổ, giờ hắn nhìn thấy lờ mờ dáng nét của một chiếc xe hơi qua hàng rào. Trên nóc xe là một cái còi cảnh sát. Một tấm ván gỗ kêu cót két ở hành lang. Chốt cửa chuyển động.

Silas phản ứng theo bản năng, di chuyển qua căn phòng và dừng lại ngay sau cánh cửa khi nó bị xô mạnh và mở ra. Viên sĩ quan cảnh sát đầu tiên xông vào, lia khẩu súng từ trái sang phải vào chỗ có vẻ như một căn phòng trống không. Trước khi anh ta nhận ra Silas đang đứng đâu, Silas đã dùng vai xô cánh cửa rập mạnh vào viên cảnh sát thứ hai đang lao vào. Khi viên sĩ quan thứ nhất quay lại để bắn, Silas nhào người túm lấy chân anh ta. Súng nổ, viên đạn vèo qua trên đầu Silas, đúng lúc hắn vớ được ống chân viên sĩ quan, kéo mạnh và quật anh ta đập đầu xuống sàn nhà. Sĩ quan cảnh sát thứ hai loạng choạng đứng dậy trong khung cửa và Silas huých đầu gối vào háng anh ta, rồi bước qua cái thân hình đang quằn quại đó để lao ra sảnh lớn.

Gần như trần truồng, Silas lao cái thân hình trắng trợt xuống cầu thang. Hắn biết mình đã bị phản, nhưng bởi ai? Khi hắn tới phòng chờ, nhiều sĩ quan cảnh sát khác đã ập vào qua cửa trước. Silas quay sang hướng khác và lao sâu hơn vào đại sảnh. Lối vào dành cho phụ nữ. Mọi ngôi nhà của Opus Dei đều có một cửa như thế này. Ngoằn ngoèo theo những hành lang hẹp, Silas chạy xuyên một nhà bếp, vượt qua những người làm công hoảng hốt né tránh tên bạch tạng trần như nhộng trong khi hắn va phải bát đĩa và những đồ bạc, lao vào một hành lang tối gần phòng đun nước. Giờ thì hắn đã nhìn thấy cái cửa hắn tìm, một ngọn đèn chỉ lối ra lờ mờ sáng ở cuối đường.

Chạy hết tốc độ qua cửa ra ngoài trời mưa, Silas nhảy khỏi thềm nghỉ thấp, không nhìn thấy người cảnh sát từ đằng kia chạy tới, khi nhận ra thì đã quá muộn. Hai người va vào nhau, bả vai trần to rộng của Silas xô vào xương ức của người kia với sức mạnh nghiền nát. Hắn xô viên cảnh sát ngã ngửa trên vỉa hè, đè mạnh cả người lên anh ta. Khẩu súng của viên sĩ quan lách cách văng ra xa. Silas có thể nghe thấy nhiều người vừa chạy xuôi hành lang vừa kêu to. Lăn mình, hắn chộp lấy khẩu súng bị rơi, đúng lúc đám cảnh sát xuất hiện. Một tiếng súng vang lên tử phía cầu thang, và Silas cảm thấy đau rát phía dưới xương sườn. Tức điên lên, hắn nổ súng vào cả ba cảnh sát, máu của họ bắn tung toé.

Một bóng đen lờ mờ phía sau, không biết tử đâu tới. Đôi bàn tay giận dữ túm lấy đôi vai trần của hắn như thể được truyền sức mạnh của chính quỷ Satan. Người đó hét vào tai hắn.

- SILAS, KHÔNG!

Silas quay lại và bóp cò. Mắt của họ gặp nhau. Silas kêu lên kinh hãi khi Giám mục Arigarosa ngã xuống.
 
Chỉnh sửa cuối:

Những người đang xem chủ đề này

Xu hướng nội dung

Back