Admin

Nothing to lose.. your love to win..
23,536 ❤︎ Bài viết: 3753 Tìm chủ đề
3111 74
Truyền thuyết về bà nói rằng bà đã yêu vị hôn phu thứ nhất này, viên tuần phủ của vùng Vĩnh Tường. 100 năm là câu nói ước định cho đời người; 27 tháng là tất cả những gì họ có với nhau. Nhưng Hoàng Xuân Hãn biện minh rằng ông phủ này không thể nào là chồng của bà được. Nợ ba sinh là "món nợ tình phải trả trong ba kiếp (ba hoá thân liên tiếp)." Bài thơ này lấy dạng lời than khóc đám tang.

Khấp Vĩnh Tường quan​


Trăm năm ông Phủ Vĩnh Tường ôi!(1)

Cái nợ ba sinh đã trả rồi(2)

Chôn chặt văn chương ba tấc đất(3)

Tung hê hồ thỉ bốn phương trời.(4)

Cán cân tạo hoá rơi đâu mất?(5)

Miệng túi tàn khôn khép lại rồi.(6)

Hăm bảy tháng trời đà mấy chốc.(7)

Trăm năm ông Phủ Vĩnh Tường ôi!


Bản khắc năm 1914

Trăm năm quan phủ Vĩnh Tường ôi,

Cái nợ phù sinh có thế thôi.

Chôn chặt văn chương ba thước đất,

Ném tung hồ thỉ bốn phương trời.

Nắm xương dưới đất chau mày khóc,

Hòn máu trên tay mỉm miệng cười.

Đã thế thời thôi cho mát mẻ,

Trăm năm quan phủ Vĩnh Tường ôi


Khảo dị:

Bản khắc 1922

Khấp quan phủ​


Trăm năm ‡ ông phủ Vĩnh Tường ôi,

Cái nợ ‡ ba sinh ‡ đã trả rồi.

Chôn chặt văn chương ba thước đất,

Tung hê hồ thỉ bốn phương trời.


Cán cân tạo hoá rơi đâu mất,

Miệng túi càn khôn thắt lại rồi.

Hăm bảy tháng trời là mấy chốc,

Trăm năm quan phủ Vĩnh Tường ‡ ôi.


Bản Quốc văn tùng ký

Khóc ông phủ Vĩnh Tường​


Trăm năm ‡ ông phủ Vĩnh Tường ôi,

Cái nợ ‡ ba sinh ‡ đã trả rồi.

Chôn chặt văn chương ba thước đất,

Tung hê hồ thỉ bốn phương trời.


Hạt sương dưới ‡ chiếu cau mày khóc,

Giọt máu trên tay mỉm miệng cười.

Năm bảy tháng trời là mấy chốc,

Trăm năm ‡ ông phủ Vĩnh Tường ‡ ôi.


Bản Xuân Hương thi sao

Khấp phu quân Vĩnh Tường phủ quan​


Trăm năm quan phủ Vĩnh Tường ôi,

Thân thể coi xem đã khác rồi.

Chôn chặt văn chương ba thước đất,

Ném tung hồ thỉ bốn phương trời.

Nắm xương dưới đất chau mày khóc,

Miệng túi càn khôn thắt lại thôi.

Một tháng mấy ngày nên nỗi thế,

Trăm năm quan phủ Vĩnh Tường ‡ ôi.


Bản Tạp thảo tập

Hồ Xuân Hương khấp Vĩnh Tường phủ tri phủ​


Trăm năm quan phủ Vĩnh Tường ôi,

Thân thể coi xem đã khác rồi.

Chôn chặt văn chương ba thước đất,

Ném tung hồ thỉ bốn phương trời.


Nắm xương dưới đất chau mày khóc,

Miệng túi càn khôn thắt lại thôi.

Một tháng mấy ngày nên nỗi thế,

Trăm năm quan phủ Vĩnh Tường ‡ ôi.


Bản Quế Sơn thi tập

Vô đề 10​


Trăm năm quan phủ Vĩnh Tường ôi,

Ngoài ba mươi tuổi cũng một đời.

Chôn chặt văn chương ba thước đất,

Phá tan hồ thỉ bốn phương trời.

Nắm xương dưới đất chau mày khóc,

Hòn máu trên tay mỉm miệng cười.

Vì chữ tình chung nên phải viếng,

Trăm năm quan phủ Vĩnh Tường ‡ ôi.


Bản Xuân Hương thi vịnh

Khấp phu vi Vĩnh Tường tri phủ​


Ngàn năm ‡ ông phủ Vĩnh Tường ôi,

Trống giục chiêng đưa biết mấy hồi.

Chôn chặt văn chương ba thước đất,

Ném tung hồ thỉ bốn phương trời.


Cán cân tạo hoá rơi đâu mất,

Miệng túi càn khôn thắt lại rồi.

Liệu nẻo mà đi cho mát mẻ,

Ngàn năm ‡ ông phủ Vĩnh Tường ‡ ôi.


Bản Đăng khoa lục sưu giảng

Điếu quan phủ Vĩnh Tường​


Trăm năm quan phủ Vĩnh Tường ôi,

Võng giá nghênh ngang xếp cả rồi.

Chôn chặt văn chương ba thước đất,

Ném tung hồ thỉ bốn phương trời.

Vướng chân trong ngục ôm lòng khóc,

Chảy máu trên tay mỉm miệng cười.

Phúc quả công danh phó trả trời,

Trăm năm quan phủ Vĩnh Tường ‡ ôi.


Nguồn:

Kiều Thu Hoạch, Thơ nôm Hồ Xuân Hương, NXB Văn học, 2008

Chú thích:

(1) Vĩnh Tường: Phủ Vĩnh Tường, thuộc tỉnh Vĩnh Yên xưa, nay thuộc tỉnh Vĩnh Phú. Nhiều giai thoại đều thống nhất về việc Hồ Xuân Hương có lấy lẽ ông phủ Vĩnh Tường.

(2) Nợ ba sinh: Nhân duyên vợ chồng trải qua ba kiếp; sống là một sự trả nợ lẫn nhau (theo Phật giáo). Nợ ba sinh đã trả tức là chỉ người chồng đã chết.

(3)-(4) Ông phủ Vĩnh Tường là một người có học vấn (văn chương) nay mất đi, Hồ Xuân Hương mất một người chồng và cũng mất luôn cả một người bạn văn chương. Hồ thỉ: cung và tên, tượng trưng cho chí nam nhi hoặc chí làm trai vốn ở bốn phương trời, không chỉ thu hẹp trong phạm vi gia đình vợ con.

(5)-(6) Ông trời là người cầm cân nảy mực đã ở chẳng công bằng, cán cân của ông đã đánh rơi. Càn khôn tức trời đất ví như một cái túi lớn đã khép hẳn lại. Ông Phủ đã đi sang một thế giới khác.

(7) Hồ Xuân Hương sống với chồng trong một thời gian quá ngắn: 27 tháng.
 
Chỉnh sửa cuối:
1,595 ❤︎ Bài viết: 1558 Tìm chủ đề

Ông phủ Vĩnh Tường là ai?​


"Ông phủ Vĩnh Tường" là một nhân vật lịch sử và văn học nổi tiếng, được biết đến nhiều nhất qua bài thơ "Khóc ông phủ Vĩnh Tường" của "Bà chúa thơ Nôm" Hồ Xuân Hương.

Tuy nhiên, danh tính thực sự của ông vẫn là một đề tài gây tranh luận giữa các nhà nghiên cứu văn học. Có hai giả thuyết chính:

1. Trần Phúc Hiển (Giả thuyết phổ biến nhất)​


Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng "ông phủ Vĩnh Tường" chính là Trần Phúc Hiển, một quan viên triều Nguyễn và là người chồng chính thức thứ hai của Hồ Xuân Hương.

Chức vụ: Ông từng làm Tri phủ Tam Đới (nay thuộc Vĩnh Tường, Vĩnh Phúc), sau đó thăng làm Tham hiệp trấn Yên Quảng (Quảng Ninh ngày nay).

Mối liên hệ: Trong thời gian ông làm Tri phủ Tam Đới, Hồ Xuân Hương đã về đây chung sống với tư cách vợ lẽ. Khoảng thời gian này được coi là giai đoạn hạnh phúc và rực rỡ nhất trong đời tư và sự nghiệp văn chương của bà.

Sự kiện: Năm 1819, Trần Phúc Hiển bị khép tội tham nhũng và bị xử tử. Bài thơ khóc chồng của Hồ Xuân Hương được cho là viết trong bối cảnh đau thương này.

2. Phạm Viết Ngạn​


Một giả thuyết khác (ít phổ biến hơn nhưng có tư liệu ghi chép) cho rằng ông phủ Vĩnh Tường là Phạm Viết Ngạn, tự là Thành Phủ.

Theo giả thuyết này, Phạm Viết Ngạn mới là người giữ chức Tri phủ Vĩnh Tường và là người mà Hồ Xuân Hương gửi gắm tình cảm sau khi ông phủ trước qua đời. Một số tài liệu còn cho rằng ông chính là nhân vật Chiêu Hổ thường xuất hiện trong các bài thơ xướng họa với nữ sĩ.

3. Những tranh cãi về lịch sử​


Các nhà sử học chỉ ra một điểm mâu thuẫn thú vị: Danh xưng "Phủ Vĩnh Tường" thực tế chỉ mới có từ năm 1822 (năm Minh Mạng thứ 3), khi phủ Tam Đới được đổi tên. Trong khi đó, Trần Phúc Hiển đã mất từ năm 1819.

Có thể bài thơ đã được người đời sau đặt tên lại theo địa danh mới, hoặc Hồ Xuân Hương đã viết bài thơ này vào những năm cuối đời khi cái tên Vĩnh Tường đã trở nên quen thuộc.

Dù là ai, hình ảnh "ông phủ Vĩnh Tường" trong văn học đã trở thành biểu tượng cho một người tri kỷ, một người chồng có học vấn, biết trân trọng tài năng của Hồ Xuân Hương giữa xã hội phong kiến khắc nghiệt.
 
Từ khóa: Sửa

Những người đang xem chủ đề này

Xu hướng nội dung

Back