136 ❤︎ Bài viết: 163 Tìm chủ đề
2497 4
87846094_492297101444380_5917824781897433088_n.jpg

Từ Hán Việt, chữ Hán viết là 盲動, giản thể viết 盲动, bính âm là /mángdòng/, trong đó:

- Manh là mù, lòa, mắt không nhìn thấy thì gọi là manh, như "thong manh" hay "thanh manh", thiếu hiểu biết, kém ở một phương diện nào đó cũng gọi là manh;

- Động là làm việc, hành xử nói chung.

"Manh động" là không biết mà làm, làm một cách mù quáng, làm bừa làm đại thì gọi là manh động.

* * *

Nguồn: Ngày Ngày Viết Chữ

Photo by Ibrahim Rifath on Unsplash
 
136 ❤︎ Bài viết: 163 Tìm chủ đề
27747416_147483855925708_2075246252603770334_o.jpg

★Thiết tha★

Từ gốc Hán (tôi thật sự không thể tin nổi một từ có vẻ thuần Việt như này mà cũng có gốc Hán ahuhu), viết là [ 切 磋], trong đó:

- Thiết là cắt;

- Tha là mài.

Từ này xuất phát từ bài thơ "Kỳ ức 1" trong Kinh Thi, viết rằng:

".. Như thiết như tha

Như trác như ma.

Sắt hề! Hạn hề!

Hách hề! Hoán hề!

Hữu phỉ quân tử,

Chung bất khả huyên hề!"

Về nguồn gốc, "thiết tha" trong bài này vốn dùng để ca ngợi Vệ Vũ công (vị vua thứ 11 của nước Vệ – chư hầu nhà Chu trong lịch sử Trung Quốc) là người biết trau dồi tài đức nên được nhân dân yêu mến nhớ nhung đến mức trong lòng đau như cắt như mài.

Nhưng khi gia nhập tiếng Việt, từ này lại có nét nghĩa khác với ở Trung Quốc. "Thiết tha" trong tiếng Việt chỉ sự gắn bó hết lòng, luôn luôn nghĩ đến, quan tâm đến ai đó hay việc gì đó, ngoài ra còn mang nghĩa mong mỏi, mong được đáp ứng, cho nên mới có cách nói "tôi tha thiết mong anh", hoặc là "tôi chả thiết tha gì nữa". Nói chung hầu như chẳng còn cắt hay mài gì hết.

Đôi khi "thiết tha" bị đảo thành "tha thiết" và có một biến âm là "da diết".

* * *

Nguồn: Ngày Ngày Viết Chữ

Original photo by Jelleke Vanooteghem on Unsplash
 
136 ❤︎ Bài viết: 163 Tìm chủ đề
28238424_150289328978494_1003287969289560293_o.jpg

★Tào khang★

Từ gốc Hán, viết là [ 糟糠], trong đó:

- Tào (đúng ra phải dùng là "tao") nghĩa là bã rượu, cám gạo;

- Khang là vỏ trấu.

"Tào khang" là những thứ gần như bỏ đi của hạt gạo, vốn chỉ những thứ không giá trị, chỉ người nghèo khó mới dùng. Sau này chuyển nghĩa, chỉ người vợ gắn bó với mình từ thuở cơ hàn.

Cách dùng này xuất phát từ một điển cố. Cụ thể, thời Quang Vũ Đế nhà Đông Hán, chị của Quang Vũ Đế là công chúa Hồ Dương không may góa chồng, sau đó đem lòng mến mộ Tống Hoằng, một viên quan trong triều. Quang Vũ Đế có ý muốn tác hợp chị gái cho Tống Hoằng, nhưng Tống Hoằng đã có vợ. Một hôm nhà vua gợi ý, hỏi Tống Hoằng rằng: Người ta bảo, giàu đổi bạn, sang đổi vợ, ngươi thấy sao? Tống Hoằng thưa: "Thần nghe nói, bạn bè lúc nghèo hèn không thể quên được, người vợ lúc cùng khổ cũng không thể bỏ được." (bần tiện chi giao bất khả vong, tao khang chi thê bất hạ đường 贫贱之交不可忘, 糟糠之妻不下堂). Quang Vũ Đế nghe thế cũng thôi không nhắc lại chuyện này nữa. Từ đó hai câu này được người đời sau truyền tụng.

Vì sao "tao khang" lại biến thành "tào khang" trong khi chữ 糟 chỉ có một âm Hán Việt là "tao"? Tụi mình cho là việc này bắt nguồn từ nghệ thuật cải lương. Trong vở "Lưu Bình Dương Lễ", Dương Lễ muốn nhờ vợ là Châu Long chăm lo cho bằng hữu là Lưu Bình ăn học, đã hát rằng: Châu Long nàng ơi "tào khang chi thê là đạo trọng", nhưng cái nghĩa kim bằng thì "bần tiện chi giao mạc khả vong". Vở này rất nổi tiếng trong giới mộ điệu cải lương và câu hát của Dương Lễ cũng đi vào lòng người qua nhiều thế hệ. Do đó, từ "tào khang", "người vợ tào khang" đã được chấp nhận rộng rãi.

* * *

Nguồn: Ngày Ngày Viết Chữ

Original photo by Hisu Lee on Unsplash
 
136 ❤︎ Bài viết: 163 Tìm chủ đề
28827874_152625542078206_8523577336176612204_o.jpg

★Phù phiếm★

Từ gốc Hán, viết là [ 浮泛], trong đó

- Phù là nổi trên mặt nước và đứng yên một chỗ;

- Phiếm là nổi trên mặt nước và trôi đi trôi lại.

Phù phiếm vốn dùng để chỉ sự vật, tính cách hay thay đổi, sau này dùng để chỉ sự viển vông, không thiết thực, không thực tế.

* * *

Nguồn: Ngày Ngày Viết Chữ

Original photot by Alex Perez on Unsplash
 
136 ❤︎ Bài viết: 163 Tìm chủ đề
28617187_152856198721807_334474721402401268_o.jpg

★Tổ chức★

Từ gốc Hán, viết là [ 组织], trong đó:

- Tổ là xếp các sợi dây nằm dọc;

- Chức là dùng các sợi dây ngang đan vào các sợi dây dọc. "Chức" cũng có nghĩa là "dệt" (dệt tơ, dệt vải). Người con gái dệt vải gọi là "Chức Nữ" (trong Ngưu Lang Chức Nữ).

Tổ chức (vốn là động từ, nhưng cũng thường dùng như danh từ) nghĩa là cùng nhau làm một việc, sắp xếp kết hợp với nhau.

* * *

Nguồn: Ngày Ngày Viết Chữ

Original photo by Igor Ovsyanykov on Unsplash
 
136 ❤︎ Bài viết: 163 Tìm chủ đề
26758181_141770936497000_8884660938758464301_o.jpg

Sự đặc biệt của từ "đặc biệt" :

"Đặc biệt" là từ gốc Hán, viết là 特别, trong đó:

- "Đặc" là con bò (trâu) đực. Các bạn học tiếng Hán sẽ biết chữ "đặc" là bộ ngưu (牛). Trong nghi lễ thời vua Thuấn (một vị vua "điển hình tiêu biểu" của Trung Hoa cổ đại) có một lễ tế chỉ giết một con bò. Nhấn mạnh là CHỈ giết một con bò. Lễ này gọi là lễ Đặc.

- "Biệt" là riêng biệt, tách ra.

"Đặc biệt" lúc đầu dùng chỉ những hiện tượng, sự vật đơn nhất, độc đáo nhất, chỉ có một. Về sau từ này được mở rộng ý nghĩa, dùng để nhấn mạnh một hiện tượng, sự vật nào đó.

(Theo lí giải của nhà nghiên cứu Hán Nôm Cao Tự Thanh).

* * *

Nguồn: Ngày Ngày Viết Chữ
 
136 ❤︎ Bài viết: 163 Tìm chủ đề
23845584_130555794285181_1046158687907636357_o.jpg

"Lấy le cua gái" là lấy cái gì làm cái gì?

- Mình hay nói "lấy le", "làm chuyện đó để lấy le", vậy lấy le là lấy cái gì?

"Le" là từ gốc Pháp, xuất phát từ chữ "L'air" nghĩa là dáng vẻ. "Lấy le" hay "làm le" nghĩa là "tỏ vẻ, làm ra vẻ".

- Vậy "cua" gái là thế nào? Tán gái thì liên quan gì đến con cua?

Chữ "cua" này là động từ, không liên quan gì đến "con cua" (danh từ). Đây cũng là từ gốc Pháp, xuất phát từ chữ "courir après" nghĩa là "chạy theo phía sau", "cua gái" nghĩa là "chạy theo sau một cô gái, tán tỉnh một cô gái".

Tiếng Việt ngoài 65-70% là từ gốc Hán còn có cơ số từ gốc Pháp vẫn được sử dụng rộng khắp. Chúng phổ biến đến mức nhiều khi mình nói chứ mình cũng chả biết mình vừa "dùng tiếng Pháp" nữa. Ví dụ:

- Tiền bo (hay tiền boa, tiền tip) là từ chữ "pourboire";

- Búp bê là từ chữ "poupée";

- Cơ (cây gậy để chơi billiard) là từ chữ "queue";

- Ách (tên con bài tây) là từ chữ "as";

- Sốc (chấn động mạnh) là từ chữ "choc";

- Ga (nhà ga) là từ chữ "gare";

- Gôm (cục tẩy) là từ chữ "gomme";

- Xô (cái xô đựng nước) là từ chữ "seau";

- Cúp (cúp điện, cúp nước) là từ chữ "coupure";

Và còn nhiều từ nữa lắm luôn ấy kể ra mệt xỉu.

* * *

Nguồn: Ngày Ngày Viết Chữ

Photo by David Lezcano on Unsplash
 
136 ❤︎ Bài viết: 163 Tìm chủ đề
24273842_132049640802463_1088346168670515861_o.jpg

- Tại sao hai người yêu nhau thì gọi là bồ bịch?

- Bồ bịch là một từ ghép, chỉ hai nông cụ. Bồ là dụng cụ đựng lúa, có đáy; bịch cũng là dụng cụ đựng lúa nhưng là tấm ví khoanh tròn, không đáy mà lấy nền nhà làm đáy. Ca dao có câu: "Bởi anh chăm việc canh nông; Cho nên mới có bồ trong bịch ngoài."

- Tiếng Việt trước đây có từ "bầu" (trong bầu bạn), biến âm của từ "bầu" là từ "bồ", tương tự như đậu xanh - đỗ xanh, thi đậu - thi đỗ.. Cho nên thay vì nói "bầu bạn", cũng có thể nói thành "bồ bạn". Vì từ bồ (bạn) đồng âm với từ bồ (cái bồ) nên người ta mượn từ "bồ bịch" để chỉ những người thân thiết, yêu nhau. Đây là hiện tượng mượn âm trong tiếng Việt. Rồi từ đó có thêm các từ chỉ việc có người yêu như "cặp bồ", "có bồ". (Đương nhiên, "bồ" và "bầu" là hai âm tương đương nghĩa, nhưng từ "có bồ" đến "có bầu" lại là câu chuyện khác).

* * *

Nguồn: Ngày Ngày Viết Chữ

Original photo by Hunters Race on Unsplash
 
136 ❤︎ Bài viết: 163 Tìm chủ đề
24831097_132817984058962_7750680280480655566_o.jpg

- Tại sao nói "tuyệt cú mèo", cái gì đó tuyệt vời thì liên quan gì đến con cú mèo?

- "Tuyệt cú mèo" nghĩa là "tuyệt vời, rất tuyệt, đạt đến mức coi như lý tưởng, không còn chê chỗ nào được nữa" (theo Từ điển từ ngữ Nam Bộ của Huỳnh Công Tín, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2009).

- Nguồn gốc của quán ngữ này là danh ngữ "tuyệt cú" [絕句] của tiếng Hán. Theo đó, "tuyệt cú" (còn gọi là tiệt cú, đoản cú), vốn là tên một thể thơ mà mỗi bài có bốn câu.

- Từ này dùng trong dân gian, thay vì tên một thể thơ thì thường hiểu sai thành "câu [thơ] hay", rồi hiểu rộng ra là "hay", là "tuyệt". Và khi nó đã được mặc nhiên hiểu như thế này rồi thì người ta lại đánh đồng chữ "cú" nghĩa là "câu" với "cú" trong tên một loài chim là "cú mèo". Thế là ta có ba tiếng "tuyệt cú mèo". Đây là một hiện tượng thường gặp trong tiếng Việt, người ta thường mượn một từ đồng âm để thêm thắt từ ngữ, kiểu "lí do (gio/tro) lí trấu", "văn nghệ văn gừng".

* * *

Theo An Chi, Năng lượng mới 502

Original photo by Welcome Home on Unsplash
 
136 ❤︎ Bài viết: 163 Tìm chủ đề
24785014_133005260706901_6621101705077878261_o.jpg

- Do đâu mà những chuyện khó giải quyết, khó trả lời lại gọi là "hóc búa"?

- "Hóc búa" vốn là lối nói của những người đốn gỗ. Ngày xưa chưa có cưa máy cá nhân thuận tiện như bây giờ. Cũng chẳng phải hễ ai đi rừng thì đều "kéo cưa lừa xẻ". Dụng cụ gọn nhẹ và cơ động nhất lúc bấy giờ chỉ là cái búa, ( "rìu" là nghĩa xưa của "búa"). Và hóc búa là một sự cố trong quá trình lao động của những người đốn gỗ - nhiều lúc phải bất lực nhìn chiếc búa của mình bị kẹt cứng trong thân cây đang đẵn dở mà không rút nó ra được hoặc phải khó khăn lắm mới rút được nó ra. Đó chính là hiện tượng "hóc búa".

- Vậy hóc búa là kẹt búa trong thân cây hoặc súc gỗ mà không rút ra được. Đây là nghĩa gốc trước khi có nghĩa là rắc rối, nan giải thông dụng hiện nay.

* * *

Nguồn: Ngày Ngày Viết Chữ

Photo by Tyler Lastovich on Unsplash
 
136 ❤︎ Bài viết: 163 Tìm chủ đề
25488485_135901430417284_1952408821336617122_o.jpg

"Sa thải" là một từ gốc Hán, (viết là 沙汰). Từ này vốn có nghĩa là "đãi cát" (sa nghĩa là cát), nghĩa bóng là "bỏ cái xấu, giữ cái tốt". Do cái nghĩa bóng này mà "sa thải" thường dùng trong các trường hợp đuổi việc (Từ điển Đào Duy Anh, 2005, trang 662).

* * *

Nguồn: Ngày Ngày Viết Chữ

Original photo by Evan Kirby on Unsplash
 
136 ❤︎ Bài viết: 163 Tìm chủ đề
25791093_136587887015305_7374449935105584183_o.jpg

- Đôi khi, mọi người hay dùng từ "bùng binh" để chỉ nơi giao lộ, vòng xoay hay còn gọi là vòng xuyến. Nguồn gốc của từ "bùng binh" này là gì?

- "Bùng binh" vốn không phải là giao lộ. Đây là phương ngữ Nam bộ, vốn dùng để chỉ một địa hình sông nước. Cụ thể, "bùng binh" là chỗ phình rộng giữa sông rạch, đôi khi có cù lao ở giữa, ghe thuyền có thể quay đầu ( "bùng" nghĩa là "nở ra", "nới ra").

- Đầu thế kỷ 20, từ "bùng binh" mới được dùng để chỉ nơi giao lộ trong thành phố. Hiện nay, Tp. HCM vẫn còn một con đường mang tên Rạch Bùng Binh ở quận 3. Mới nghe qua thấy bùng binh và con rạch chẳng có gì liên quan, nhưng vào thời xa xưa ấy, chúng rất liên quan.

(Theo "Từ điển địa danh thành phố Sài Gòn – Hồ Chí Minh", Lê Trung Hoa, 2003)

* * *

Nguồn: Ngày Ngày Viết Chữ

Original photo by Raphael Schaller on Unsplash
 
136 ❤︎ Bài viết: 163 Tìm chủ đề
26170085_137445766929517_4593591011103881157_o.jpg

- "Lưu manh" là gì? Có phải người xấu không?

- Thật ra, nguồn gốc hai chữ "lưu manh" không phải dùng để chỉ người xấu.

- Lưu [流] có nghĩa gốc là trôi, chảy, rồi nghĩa phái sinh là rày đây mai đó.

- Manh [氓] có hai nghĩa, một là "người dân", xưa dùng để chỉ trăm họ; hai là "dân quê". Âm xưa của "manh" đọc là "mống" (ví dụ: Chết không còn một mống).

- Hai chữ "lưu manh" ghép lại vốn dùng để chỉ người dân không nghề nghiệp, rày đây mai đó, không có công việc làm ăn, rồi dần dần chuyển sang nghĩa là đứa du côn, bất lương. Nói chung, ngày xưa chỉ là "người lưu manh", trung hòa không tốt không xấu, giờ nghe từ "thằng lưu manh" là thấy không tốt rồi.

(Theo An Chi, Năng lượng mới số 58, 2011).

* * *

Nguồn: Ngày Ngày Viết Chữ

Original photo by Curtis Macnewton on Unsplash
 
136 ❤︎ Bài viết: 163 Tìm chủ đề
26173438_138954333445327_3820838214939056285_o.jpg

- Từ "ma giáo", đúng ra là "Ma giáo", xuất hiện nhiều trong các tiểu thuyết võ hiệp Kim Dung (mà phần đông chúng ta biết khi được chuyển thể thành phim như Ỷ Thiên Đồ Long Kí, Tiếu Ngạo Giang Hồ.).

- Trong truyện của Kim Dung, đệ tử Ma giáo thường làm những chuyện (có vẻ) bất chính, thiên lí bất dung. Do đó, từ "Ma giáo" dần dần dùng để gọi những kẻ xảo trá, gian manh, (ví dụ: Thằng đó ma giáo lắm).

- Ma giáo, thật ra là Ma-ni giáo, một tôn giáo xuất phát từ Ba Tư trên cơ sở dung nạp các yếu tố của đạo Phật, đạo Thiên Chúa và đạo Parsisme (một tôn giáo của người Parsi ở Ấn Độ).

- Tiếng Anh của từ này là manicheism/manichaeism, tiếng Pháp là manichéisme, tiếng Trung là 摩 尼 教 /móníjìao/.. Tất cả những từ này đều có nghĩa là "đạo của ông Mani". Ông Mani, (216-276), là một nhân vật sinh ra tại vùng Lưỡng Hà (tức là khu vực Iraq, Kuwait, đông Syria, đông nam Thổ Nhĩ Kỳ, và tây nam Iran hiện nay).

- Hiển nhiên, Ma giáo (vốn là Ma-ni giáo rút gọn mà thành) không liên quan gì đến ma quỷ cả. Còn từ "Ma-ni giáo" là phiên âm Hán Việt của 摩尼教 đã xuất hiện trong tiếng Việt vào khoảng những năm 30 của thế kỉ trước. Tuy nhiên, giờ thì không còn mấy ai nhớ từ này nữa. Theo tìm hiểu của tụi mình thì Ma-ni giáo cũng đã biến mất trên thế giới, nhưng ở thời của nó (tầm thế kỉ thứ 3), nó có rất nhiều tín đồ.

Ảnh là một địa phương thuộc thành phố Yazd (Iran), tức thuộc Lưỡng Hà xưa. Không liên quan nhưng thành phố Yazd này nổi tiếng với đền thờ Bái Hỏa giáo (hay Hỏa giáo), tức là tôn giáo của nàng Tiểu Chiêu, cô hầu gái giả bộ xấu xí của Trương Vô Kỵ trong Ỷ Thiên Đồ Long Kí.

* * *

Nguồn: Ngày Ngày Viết Chữ

Original photo by Sander van Dijk on Unplash
 
136 ❤︎ Bài viết: 163 Tìm chủ đề
26232417_139949713345789_5870708484675556702_o.jpg

- "Cổ xúy" là gì?

- "Cổ" nghĩa là cái trống [鼓] . Xúy (còn có âm khác là xuy) nghĩa là thổi [吹] . "Cổ xúy" vốn có nghĩa là "đánh trống thổi sáo", sau này dùng theo nghĩa là hô hào, vận động, cổ vũ cho một việc gì đó.

- Hiện nay, "cổ xúy" thường dùng khi phê phán việc hô hào, vận động chuyện gì đó xấu, ví dụ: Cổ xúy lối sống hưởng thụ.

- Thỉnh thoảng, mình bắt gặp từ "cổ súy". Đây là cách viết sai chính tả của từ "cổ xúy".

* * *

Nguồn: Ngày Ngày Viết Chữ

Original photo by Keagan Henman on Unsplash
 
136 ❤︎ Bài viết: 163 Tìm chủ đề
27023497_143003543040406_4990621846452987343_o.jpg

Ngày trước dân mình hay nói tới từ "lãnh tụ", ví dụ, "Bác Hồ là lãnh tụ vĩ đại của dân tộc Việt Nam". Từ "lãnh tụ" này gốc gác là gì?

"Lãnh tụ" là từ gốc Hán, viết là 領袖, về mặt từ nguyên thì rất đơn giản, nó xuất phát từ cái áo mà chúng ta thường mặc:

- "Lãnh" là cái cổ áo;

- "Tụ" là ống tay áo.

Đây là hai bộ phận đầu tiên mà khi mặc áo người ta đụng chạm đến, sau này dùng để chỉ người đứng đầu, người quan trọng nhất của một tổ chức hay phong trào. Bạn cũng có thể thấy là mặc áo thì dù thân áo có nhăn nhưng cổ áo phải thẳng, ống tay áo phải vào nếp đàng hoàng, thế mới chỉn chu, ra dáng. Đại khái thì lãnh tụ đường hoàng, có đường lối tư tưởng rõ ràng đâu ra đấy cách mạng mới thành công.

Ngày nay thì chúng ta ít dùng từ "lãnh tụ", có lẽ vì hiếm nhân vật xứng tầm. Thay vào đó chúng ta dùng từ có vẻ bình dân hơn chút đỉnh, là từ "lãnh đạo".

* * *

Nguồn: Ngày Ngày Viết Chữ

Original photo by Michael Frattaroli on Unsplash
 
136 ❤︎ Bài viết: 163 Tìm chủ đề
27164767_144819919525435_6698498876756871475_o.jpg

Tiền "nhuận bút" là tiền trả cho tác giả viết sách viết báo. Từ này có gốc Hán, viết là 润笔, trong đó:

- Nhuận là làm ướt, làm thấm;

- Bút là cây bút lông.

Nhuận bút là làm ướt phần lông bút. Ngày xưa người ta viết bằng bút lông, nếu lâu ngày ngòi bút không được thấm ướt lông sẽ khô, giòn và gãy rụng. Lúc đó nhiều người không biết chữ, có việc cậy nhờ cần đến chữ nghĩa thì người đi xin chữ sẽ trả thù lao cho người viết. Tiền thù lao người ta không nói thẳng là tiền công vì như thế có vẻ khiếm nhã, thiếu tôn trọng, do đó người ta nhã nhặn bảo có chút ít gọi là nhuận bút.

Về sau các nhà xuất bản, tòa soạn trả tiền sách tiền bài báo cho tác giả cũng dùng từ này, dù rằng cả thế kỉ nay người viết đã không dùng bút lông nữa, thậm chí là không dùng bút nữa mà dùng bàn phím. Tuy nhiên, không thể nói tiền "nhuận bàn phím", vì như thế nghĩa là làm ướt bàn phím, sẽ hỏng đó :)) Nhưng mà, tiền trả cho ảnh đăng sách đăng báo người ta vẫn dùng tiền "nhuận ảnh", nghĩa là làm ướt máy ảnh chăng? Đùa thôi chứ dùng "nhuận ảnh" quen rồi thì cứ dùng. Ngôn ngữ là thứ hễ cứ quen là đúng.

* * *

Nguồn: Ngày Ngày Viết Chữ

Original photo by Niketh Vellanki on Unsplash
 
136 ❤︎ Bài viết: 163 Tìm chủ đề
27624759_145650362775724_5546560637328901065_o.jpg

Từ gốc Hán, viết là [ 孤独], trong đó:

- Cô là lúc nhỏ không có cha mẹ, mồ côi;

- Độc là về già không con cái.

Người cô độc là người trải qua sinh lão bệnh tử một mình. Sau này, cô độc thường dùng để chỉ trạng thái tâm lí của con người.

* * *

Nguồn: Ngày Ngày Viết Chữ

Original photo by Rod Long on Unsplash
 

Những người đang xem chủ đề này

Xu hướng nội dung

Back