186 ❤︎ Bài viết: 47 Tìm chủ đề
Đọc: 1,168 Tìm: 5
Đề bài: Cảm nhận về bài thơ Tràng Giang của Huy Cận

"Lớp lớp mây cao đùn núi bạc

Chim nghiêng cánh nhỏ: Bóng chiều sa.

Lòng quê dợn dợn vời con nước,

Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà."

Câu thơ mở đầu đã vẽ ra trước mặt mọi người một bức tranh thiên nhiên vô cùng đẹp: Vừa hùng vĩ, tráng lệ vừa thơ mộng trữ tình, vừa cổ kính lại vừa hiện đại:

"Lớp lớp mây cao đùn núi bạc"

Câu thơ đã mượn một số cách diễn đạt của thơ Đường nhưng vẫn giữ được nét riêng biệt của thơ mới và thể hiện khá rõ cái độc đáo của hồn thơ Huy Cận. Từ "lớp lớp" gợi hình ảnh những đám mây chồng chất nối tiếp bay ngang trời ngưng kết lại như những dãy núi cao trùng điệp. Hình ảnh ẩn dụ núi bạc gợi tả vẻ đẹp trong sáng kì vĩ tráng lệ của thiên nhiên khi mây ngời lên sắc bạc lấp lánh trong ánh hoàng hôn cuối ngày. Chữ "đùn" trong câu thơ được Huy Cận tiếp thu trong bài thơ "Thu hứng" của Đỗ Phủ: "Lưng trời sóng gợn lòng sâu thẳm/ Mặt đất mây đùn cửa ải xa". Chữ "đùn" tạo ấn tượng sự hùng vĩ của thiên nhiên. Nó như vận động theo hướng phát triển mãi ra. Mặc dù Huy Cận có sử dụng những hình ảnh của thơ cổ nhưng câu thơ vẫn có vẻ đẹp riêng rất độc đáo.

Câu thơ thứ hai miêu tả cánh chim giữa khoảng không mênh mông của bầu trời: "Chim nghiêng cánh nhỏ bóng chiều xa"

Trong thơ cổ, hình ảnh cánh chim bay về tổ là một hình ảnh ước lệ là tín hiệu của hoàng hôn. Nhưng trong thơ Huy Cận, cánh chim nhỏ còn là hình ảnh của cái tôi cô đơn của cảm hứng lãng mạn. Cấu trúc câu thơ đưa tới sự cảm nhận: Hoàng hôn buông xuống sau cái nghiêng cánh của chim. Như vậy cánh chim không chỉ là tín hiệu của hoàng hôn mà còn có sức làm xao xuyến cả hoàng hôn. Nghệ thuật đối trong hai câu thơ đầu đã được sử dụng để làm nổi bật sự tương phản giữa cánh chim và bầu trời. Bầu trời càng rộng lớn khoáng đạt bao nhiêu thì cánh chim càng đơn côi bé nhỏ bấy nhiêu. Sự xuất hiện của cánh chim trong buổi chiều tà càng làm cho khung cảnh trờ nên buồn hơn. Qua đó chúng làm nền cho sự xuất hiện của tâm trạng nhân vật trữ tình:

"Lòng quê dợn dợn vời con nước

Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà"

"Lòng quê" là nỗi nhớ quê, là tình yêu quê hương tha thiết. Từ láy "dợn dợn" gợi tả trạng thái những ngọn sóng dập dềnh lên xuống khi nổi, khi chìm. Từ đó diễn tả nỗi dợn ngợp trong lòng người giữa sóng nước Tràng giang. Cái "dợn dợn" mang đến cho người ta cảm giác gai người. Cái dợn sóng, dợn lòng cứ tăng lên mãi. Lòng quê có sẵn trong tâm hồn giờ đây có cơ hội để phơi bày. Hai câu thơ cuối này đã phảng phất tứ thơ của Thôi Hiệu trong bài "Hoàng Hạc lâu" :

"Nhật mộ hương quan hà xứ thi

Yên ba giang thượng sử nhân sầu"

(Quê hương khuất bóng hoàng hôn

Trên sông khói sóng cho buồn lòng ai)

Chính việc mượn tứ thơ của Thôi Hiệu cho câu kết của Tràng giang, Huy Cận đã đem đến một phong vị Đường thi cổ điển cho bài thơ. Nếu Thôi Hiệu ngắm cảnh sông Tràng giang lúc hoàng hôn, nhìn khói sóng trên sông mà nhớ nhà, nhớ quê. Còn Huy Cận thì đứng ngay trên dòng sông của quê hương mình, không cần nhìn thấy khói sóng mà vẫn trào dâng nỗi nhớ nhà, nhớ quê. Như vậy, nỗi buồn của Thôi Hiệu là do ngoại cảnh tác động (thấy khói sóng thì nhớ quê), còn nỗi buồn của Huy Cận là sẵn có (không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà). Vì thế mà nó sâu sắc mãnh liệt hơn. Nỗi buồn ấy chính là biểu hiện của tình yêu nước thầm kín mà sâu sắc của Huy Cận. Đó cũng chính là nỗi buồn của cả một thế hệ thanh niên trí thức trong năm tháng mất nước ngột ngạt bế tắc.

Với thể thơ bảy chữ, cách ngắt nhịp 4/3 cổ điển, nghệ thuật đối, cấu trúc thơ cân đối nhịp nhàng, sử dụng từ ngữ sáng tạo, các hình ảnh ước lệ trong thơ cổ.. Khổ thơ đã bộc lộ rõ nhất cái tâm trạng nhớ nhà, nhớ quê của Huy Cận ngay cả khi đang ở trên quê hương mình. Khổ thơ cũng thể hiện được cái nghĩa chung của cả bài thơ đó là tình yêu quê hương đất nước kín đáo mà sâu nặng.
 
28 ❤︎ Bài viết: 13 Tìm chủ đề

Cảm nhận về bài thơ Tràng Giang của Huy Cận


Có những bài thơ không cần đến những câu chữ quá dữ dội vẫn có thể khiến lòng người lắng xuống bởi một nỗi buồn mênh mang, sâu xa. "Tràng giang" của Huy Cận là một thi phẩm như thế. Bằng những hình ảnh quen thuộc của sông nước, mây trời, cánh chim, bến bờ, nhà thơ đã dựng lên trước mắt người đọc một không gian thiên nhiên rộng lớn nhưng vắng lặng đến nao lòng. Đằng sau bức tranh ấy là một tâm hồn cô đơn, bơ vơ trước cuộc đời và một nỗi nhớ quê hương, đất nước âm thầm mà da diết. Bài thơ vì thế không chỉ là bức tranh thiên nhiên mà còn là bức tranh tâm trạng, thể hiện rõ nét phong cách thơ Huy Cận trước Cách mạng tháng Tám.

Ngay từ nhan đề "Tràng giang", Huy Cận đã mở ra trước mắt người đọc một không gian sông nước rộng dài, cổ kính và vô tận. Hai tiếng "tràng giang" mang âm hưởng Hán Việt, vừa trang trọng vừa gợi cảm giác về một dòng sông dài rộng đã tồn tại từ muôn đời. Đặc biệt, câu đề từ "Bâng khuâng trời rộng nhớ sông dài" đã hé mở cảm xúc chủ đạo của toàn bài: Đứng trước không gian bao la của đất trời, con người càng cảm nhận rõ sự nhỏ bé, cô đơn của chính mình. Cảnh rộng bao nhiêu thì lòng người dường như càng buồn bấy nhiêu.

Khổ thơ đầu tiên đưa người đọc đến với một dòng sông đang chuyển động nhưng lại thấm đẫm nỗi buồn:

Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp,

Con thuyền xuôi mái nước song song.

Thuyền về nước lại, sầu trăm ngả;

Củi một cành khô lạc mấy dòng.


Những con sóng không dữ dội mà chỉ "gợn", thế nhưng nỗi buồn lại "điệp điệp", từng lớp từng lớp lan ra theo mặt nước. Cách sử dụng từ láy khiến nỗi buồn dường như không có điểm kết thúc. Hình ảnh "con thuyền" và "dòng nước" vốn thường gắn bó với nhau nhưng ở đây lại hiện lên trong trạng thái chia lìa: "Thuyền về nước lại". Một con thuyền trôi đi, một dòng nước ở lại, tạo nên cảm giác xa cách, chia phôi.

Đặc biệt, hình ảnh "củi một cành khô" là một sáng tạo giàu sức gợi. Cành củi nhỏ bé, khô héo và vô định giữa dòng nước rộng lớn trở thành biểu tượng cho thân phận con người nhỏ nhoi, lạc lõng giữa cuộc đời. Chỉ một hình ảnh đơn sơ nhưng Huy Cận đã gợi ra cả một cảm giác bơ vơ, không biết mình sẽ trôi về đâu. Thiên nhiên từ đó không còn đơn thuần là ngoại cảnh mà đã trở thành tấm gương phản chiếu tâm trạng của nhà thơ.

Nếu khổ thơ đầu nổi bật với dòng sông và những chuyển động chia lìa thì khổ thơ thứ hai lại mở rộng không gian theo chiều cao và chiều rộng:

Lơ thơ cồn nhỏ gió đìu hiu,

Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều.

Nắng xuống, trời lên sâu chót vót;

Sông dài, trời rộng, bến cô liêu.


Các hình ảnh "cồn nhỏ", "gió đìu hiu", "làng xa", "chợ chiều" đều gợi nên một không gian thưa vắng. Đáng chú ý, âm thanh của con người gần như không xuất hiện trực tiếp mà chỉ vọng lại từ một nơi rất xa: "Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều". Chính sự mơ hồ ấy càng khiến cảnh vật trở nên tĩnh lặng.

Câu thơ "Nắng xuống, trời lên sâu chót vót" mở ra một không gian vừa rộng vừa sâu. Không chỉ có chiều dài của dòng sông, chiều rộng của bầu trời mà còn có cả chiều sâu hun hút của vũ trụ. Đến câu cuối, "Sông dài, trời rộng, bến cô liêu", con người gần như hoàn toàn bị hòa tan vào thiên nhiên. Một bến sông vốn là nơi gặp gỡ, nơi con người tìm đến nhau, nay lại trở thành "bến cô liêu". Cảnh vật vì thế mang vẻ đẹp cổ điển nhưng đồng thời thấm đẫm nỗi cô đơn hiện đại.

Đến khổ thơ thứ ba, cảm giác cô độc càng được đẩy lên cao:

Bèo dạt về đâu, hàng nối hàng;

Mênh mông không một chuyến đò ngang.

Không cầu gợi chút niềm thân mật,

Lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng.


Hình ảnh "bèo dạt" tiếp tục gợi sự nổi trôi, vô định. Những cánh bèo không có phương hướng, cứ lênh đênh theo dòng nước. Đặc biệt, điệp từ "không" trong "không một chuyến đò ngang", "không cầu" đã nhấn mạnh sự thiếu vắng những phương tiện kết nối con người với con người.

Đáng lẽ một dòng sông phải có những chuyến đò, những cây cầu, những dấu hiệu của sự sống. Nhưng trong thế giới của "Tràng giang", tất cả đều vắng bóng. Chỉ còn "bờ xanh tiếp bãi vàng" nối tiếp nhau trong một không gian vô tận. Đằng sau bức tranh thiên nhiên ấy là khát vọng được giao hòa với cuộc đời của một cái tôi đang cảm thấy cô độc. Càng không có sự kết nối, con người càng khao khát được kết nối.

Nếu ba khổ thơ đầu chủ yếu tạo nên một bức tranh thiên nhiên rộng lớn, buồn vắng thì khổ thơ cuối lại đem đến một vẻ đẹp vừa hùng vĩ vừa cổ kính:

Lớp lớp mây cao đùn núi bạc,

Chim nghiêng cánh nhỏ: Bóng chiều sa.

Lòng quê dợn dợn vời con nước,

Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà.


Hình ảnh "lớp lớp mây cao đùn núi bạc" gợi một bầu trời hùng vĩ. Những đám mây như được dồn lên thành từng lớp, tạo thành những "núi bạc" khổng lồ. Cách tạo hình này mang đậm màu sắc cổ điển và gợi nhớ đến thi pháp thơ Đường, nhưng qua cảm quan của Huy Cận, cảnh vật vẫn mang một nét riêng của Thơ mới.

Giữa không gian cao rộng ấy, hình ảnh "chim nghiêng cánh nhỏ" lại trở nên vô cùng bé nhỏ. Cánh chim nghiêng xuống như mang theo cả sức nặng của buổi chiều. Một lần nữa, hình ảnh nhỏ bé của sự sống được đặt giữa vũ trụ bao la để làm nổi bật cảm giác cô đơn của con người.

Hai câu thơ cuối chính là nơi cảm xúc được dồn tụ:

Lòng quê dợn dợn vời con nước,

Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà.


Nỗi buồn giờ đây không còn dừng lại ở cảnh vật mà đã trở thành nỗi nhớ quê hương. "Lòng quê" theo dòng nước mà "dợn dợn", từng đợt từng đợt lan rộng trong tâm hồn. Đặc biệt, Huy Cận viết "Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà". Nếu trong thơ cổ, người ta thường nhìn khói hoàng hôn để nhớ quê thì ở đây, nhà thơ không cần đến bất cứ ngoại cảnh nào. Chỉ cần đứng trước dòng sông và bầu trời rộng lớn, nỗi nhớ quê hương đã tự nhiên trỗi dậy.

Đây cũng chính là điểm sâu sắc nhất của "Tràng giang". Nỗi cô đơn trong bài thơ không phải một cảm xúc hoàn toàn ích kỷ hay chỉ là nỗi buồn cá nhân. Từ nỗi cô đơn của một con người trước vũ trụ, Huy Cận hướng lòng mình về quê hương, đất nước. Chính vì thế, bài thơ dù phủ đầy sắc buồn vẫn có một tình yêu quê hương âm thầm và sâu sắc.

Về nghệ thuật, "Tràng giang" thành công nhờ sự kết hợp hài hòa giữa yếu tố cổ điển và hiện đại. Nhà thơ sử dụng thể thơ bảy chữ, nhiều hình ảnh quen thuộc của thơ ca truyền thống như sông nước, mây trời, cánh chim, hoàng hôn; đồng thời vận dụng nhiều từ láy giàu sức gợi như "điệp điệp", "song song", "đìu hiu", "chót vót", "dợn dợn". Không gian nghệ thuật liên tục được mở rộng theo nhiều chiều khiến nỗi cô đơn của con người càng trở nên sâu sắc.

Có thể nói, "Tràng giang" là một trong những bài thơ tiêu biểu nhất cho hồn thơ Huy Cận trước Cách mạng tháng Tám. Qua một bức tranh sông nước tưởng như chỉ có thiên nhiên, nhà thơ đã gửi gắm nỗi buồn nhân thế, cảm giác cô đơn, lạc lõng của con người trước vũ trụ và đặc biệt là tình yêu quê hương đất nước kín đáo mà tha thiết. Càng đọc, người ta càng nhận ra rằng đằng sau "sông dài, trời rộng" không chỉ có một con người cô đơn mà còn có một trái tim luôn hướng về quê nhà. Chính sự hòa quyện giữa cảnh và tình, giữa vẻ đẹp cổ điển và cái tôi hiện đại đã giúp "Tràng giang" vượt qua giới hạn của một thời đại để trở thành một thi phẩm có sức sống lâu bền trong lòng nhiều thế hệ độc giả.
 
Last edited by a moderator:

Những người đang xem chủ đề này

Xu hướng nội dung

Back