Phan Kim Tiên

Hiệp sĩ mộng mơ
34,907 ❤︎ Bài viết: 2241 Tìm chủ đề
upload_2021-12-16_18-24-46.png

Đông Chu Liệt Quốc

Tác giả: Phùng Mộng Long

NXB Lao động, Trung tâm văn hóa ngôn ngữ Đông Tây

Thể loại: Sử sách Trung Hoa

Dịch giả: Nguyễn Đỗ Mục

Lời tựa

Tiểu thuyết trường thiên của Trung Hoa xuất hiện ở đầu đời nhà Minh, với bộ "Tam Quốc diễn nghĩa", rồi đến bộ "Thuỷ Hử truyên", rồi đến bộ "Tây Du Ký". Đến năm Gia Tĩnh thì xuất hiện bộ "Liệt quốc chí truyện" của Dư Thiệu Ngư gồm 8 quyển, 226 tiết, bắt đầu từ khi vua Trụ (nhà Thương) lấy Đát Kỷ, đến khi nhà Tần thống nhất Trung Hoa.

Sau đó vào cuối đời Minh, Phùng Mộng Long cải bộ "Liệt quốc chí truyện", đổi tên là "Tân liệt quốc chí", dài 108 hồi, bắt đầu từ đời Tuyên vương nhà Chu, cho đến đời Tần Thủy Hoàng.

Vào khoảng đời Kiến Long nhà Thanh xuất hiện bộ "Đông Chu liệt quốc chí". Bản này dựa vào bản "Tân liệt quốc chí" mà sửa đổi lại chút ít và thêm vào rất nhiều những lời phê bình, chú thích của Sái Nguyên Phong.

Năm 1995, Nhà xuất bản Tác gia ở Bắc Kinh (Trung Hoa) phát hành bộ "Đông Chu liệt quốc chí" dựa vào bản của Phùng Mộng Long. Những chỗ nào Sái Nguyên Phong sửa chữa "Tân liệt quốc chí" một cách sai lầm thì nhà xuất bản Tác giả khôi phục lại bản cũ, còn những chỗ nào mà cả Phùng Mộng Long và Sái Nguyên Phong đều sai lầm thì nhà xuất bản Tác giả đính chính lại một cách thận trọng.

° ° °

"Đông chu liệt quốc chí" bao gồm một thời kỳ lịch sử dài hơn 400 năm (thế kỷ VI, V, IV, III trước công nguyên). Thời kỳ ấy bắt đầu từ khi Bình vương nhà Chu dời đô sang phía Đông và kết thúc với cuộc thống nhất của Tần Thủy Hoàng. Sử cũng gọi thời kỳ ấy là đời Đông Chu (chia làm hai giai đoạn là Xuân thu và Chiến quốc). Trong lịch sử Trung Hoa, đó là thời kỳ quá độ từ chế độ phong kiến phân quyền đến chế độ phong kiến tập quyền (có một thuyết cho rằng đời Xuân thu còn ở trong chế độ nô lệ). Phùng Mông Long căn cứ chủ yếu vào các sách "Tả truyện" và "Quốc ngữ" của Tả Khâu Minh và sách "Sử ký" của Tư Mã Thiên và có tham khảo các sách "Công dương truyện", "Chiến quốc sách" và hơn mười bộ sử khác nữa, để biên soạn Đông Chu Liệt Quốc chí "Sư?

° ° °

Tư tưởng toát ra trong suốt bộ tiểu thuyết này là tư tưởng" dân bản "của nhà nho: Dân là gốc của nước, là sức mạnh của nước ; không phải vũ lực quyết định sự thành công hay sự thất bại mà chính là lòng dân. Trong truyện, những bậc anh hùng cứu nước (Huyền Cao, Tín Lăng quân, Lạn Tương Như, v. V) những nhà trí thức chính trực (Đổng Hồ, Lỗ Trọng Liên, v. V) ; những người chấp chính có nhiệt tình với dân với nước (Quản Trọng, Tử Văn, Tôn Thúc Ngao, v. V) đều được tác giả nhiệt liệt ca ngợi và đề cao.

Mặt khác, tác giả miêu tả không dè dặt, không nể nang, cái bản chất xấu xa, bỉ ổi của giai cấp thống trị. Những mâu thuẫn sâu sắc giữa các tập đoàn thống trị, sự tranh giành quyền lợi giữa các cá nhân, gây nên vô số những cuộc chính biến và những cuộc tàn sát trong hơn bốn thế kỷ. Cũng không sao nói hết được sự dâm loạn vô sỉ ở chốn cung đình: Quan hệ nam nữ bậy bạ giữa anh em ruột, giữa bố chồng và nàng dâu, con chồng và thứ mẫu, v. V.. (Tề Khương công và nàng Văn Khương, Vệ Tuyên công và nàng Tuyên Khương, Tấn Hiền công và nàng Tề Khương, v. V) đều được tác giả kể lại và có thái độ phê phán. Sự ngu xuẩn của bọn thống trị thì được biểu hiện trong những nhân vật điển hình là Tống Tương công (dựng cờ nhân nghĩa, không chịu đánh giặc trong lúc giặc đang qua sông), Vệ công (cho hạc làm quan), Yên Khoái (bắt chước Nghiêu, Thuấn nhường ngôi) v. V.. Tuẫn táng là một tập tục vô nhân đạo do sự ngu xuẩn của bọn đế vương sinh ra: Tề Hiều công chôn sống hơn hai trăm nội thị và cung nhân, để cho cha mình (chết rồi) có người hầu hạ Ở dưới đất ; 177 người dân, trong đó có những người ưu tú (Tam Lương) cũng chịu một số phận như vậy ở đất Ung, táng địa của Tần Mục công ; Ngô vương Hạp Lư đánh bẫy hơn một vạn nam nữ để tuẫn táng cho con gái chết yểu của mình là Thắng Ngọc.

Bên cạnh những tư tưởng tiến bộ, thì do sự hạn chế của thời đại, Phùng Mộng Long cũng không tránh khỏi những quan điểm tiêu cực, lạc hậu.

Ở" Đông chu liệt quốc ", tư tưởng chính thống và định mệnh rất phổ biến. Vua nhà Chu làm thiên tử là do mệnh trời, cho nên những nước chư hầu nào xưng vương đều bị coi là" tiếm ". Đó là tư tưởng chính thống, xây dựng trên quan điểm định mệnh.

" Đông Chu liệt quốc "cũng đề cao" trung hiếu tiết nghĩa "phong kiến. Chữ" trung "ở đây là sự trung thành tuyệt đối của kẻ làm tôi, làm dân đối với cá nhân thiên tử là người được coi như chịu mệnh trời để cai trị thiên hạ. Trong" Đông Chu liệt quốc "không thiếu gì chuyện vua bắt kẻ làm tôi phải chết, kẻ bề tôi phải vui lòng chết theo để được tiếng là" trung ". Chữ" hiếu "cũng cùng bản chất với chữ trung vì thiên tử được coi như là cha mẹ dân. Công tử Thọ và Cấp Tử nước Vệ vui lòng chết để khỏi trái đạo" hiếu "đối với một người cha tàn ác, bất công. Chữ" trinh "chữ" tiết "cũng được quan niệm một cách hẹp hòi, biểu hiện một quan hệ phụ quyền rất chặt chẽ. Người con gái nước Sở giặt vải ở bờ sông Lại Thủy đã nhảy xuống sông chết chỉ vì đã" trót "nói chuyện và cầm nắm cơm đưa tận tay cho Ngũ Tử Tư là một người trai nước Sở đương lánh nạn. Chữ" nghĩa "thì thường thường được xây dựng trên cơ sở ân oán cá nhân." Sĩ vị tri kỷ giả tử "kẻ sĩ phải lấy cái chết đạ đền ơn người biết mình, nếu không thì không đáng gọi là kẻ trượng phụ Dự Nhượng huỷ hoại cả thân thể mình để đi báo thù cho Tri Bá ; Yêu Ly không những để cho người ta chặt tay mình đi, lại còn bằng lòng để cho người ta giắt cả vợ con mình để đền đáp ơn người tri kỷ. Những truyện như thế rất nhiều trong Đông Chu liệt quốc. Do đó, nếu chữ" nghĩa "có thể đem lại đoàn kết để phục vụ chính nghĩa, thì nó lại hay bị giai cấp thống trị quí tộc lợi dụng mà mưu đồ lợi riêng.

Nhiều nhà phê bình trước đây đã chỉ trích sự mê tín, ma quỷ bói toán, nhân quả, báo ứng, trong sách" Tả truyện "." Đông Chu liệt quốc "không những thừa kế sự mê tín ấy mà còn tăng cường nó lên. Ngay trong hồi thứ nhất đã có đến bốn năm chuyện huyền hoặc: Đứa trẻ mặc áo đỏ dạy bài hát chẳng lành, những cung phi có thai bốn mươi năm, người con gái hiện hình ở trai cung, oan hồn của Đậu Bá và Tả Nho đòi mạng, v. V.. Về sau lại còn vô số những chuyện điềm tốt, điềm xấu, qui? Thần, đồng cốt, yêu quái, v. V.. Những chuyện hoang đường như thế thường thấy chép trong nhiều truyện cổ nói chung.

Tất nhiên ngày nay ta không tin những chuyện ấy là có thực mà hiểu rằng hoặc là do sự hạn chế của thời đại, tác giả" Đông Chu liệt quốc "không thể có cái nhìn khoa học như chúng ta ngày nay đối với mọi vấn đề xã hội ; hoặc là ở dưới chế độ cũ mà vua chúa có uy quyền tuyệt đối, người cầm bút không thể nói ra sự thật nên phải mượn câu chuyện U vương nhà Chu mất nước ở mấy hồi đầu tiểu thuyết" Đông Chu liệt quốc ", theo chúng tôi, đã được tô đậm màu sắc hoang đường, cũng không ngoàng Chu liệtý quốc", theo yếu ấy.

Về nghệ thuật tính của "Đông Chu liệt quốc" thì trước hết phải nói đến vấn đề kết cấu. Từ khi Bình vương nhà Chu dời kinh đô sang Đông đến Tần Thuỷ Hoàng thống nhất đất nước là một thời kỳ hắc ám, hỗn loạn, vô cùng phức tạp, có vô số những cuộc chính biến, tàn sát ; vô số những cuộc chiến tranh hoặc nhỏ, hoặc lớn, hoặc giữa vài ba nước, hoặc giữa hàng chục nước ; vô số những chuyện thi thố tài năng ; vô số những nhân vật xấu, tốt ; vô số những đời sống tư nhân có liên quan với những sự kiện chính trị lớn nhỏ. Tất cả những cái đó, phải được tổ chức lại, tổng hợp lại như thế nào ; trọng tâm, trọng điểm phải đặt ở những chỗ nào, những lúc nào ; các hồi, các đoạn phải được phân phối như thế nào, để cho cái mớ sự kiện và nhân vật ấy trở thành một chuyện hoàn chỉnh? "Xuân thu", "Tả truyện", "Công dương", "Cốc lương" thì tự thuật các sự kiện ấy theo thứ tự năm tháng (biên niên) "Quốc ngữ", "Chiến quốc sách" thì ghi chép theo từng nước. Tư Mã Thiên thì đã biên tả theo từng mục, loại. Phùng Mộng Long đã giải quyết vấn đề kết cấu của "Đông Chu liệt quốc" một cách sáng sủa và tự nhiên, đứng trên quan điểm chính thống mà tự thuật những sự biến chính trị và quân sự trên còn đường thay đổi "thiên mệnh" từ nhà Chu đến nhà Tần, bắt đầu từ khi nước Trịnh lấn át thiên tử và trải qua sự nghiệp bá chủ của nước Tề, nước Tấn, nước Sở, nước Ngô, nước Việt, rồi đến chính sách "hợp tung" và "liên hoành" của Tô Tần, Trương Nghi và kết thúc bằng sự thống nhất của nước Tần. Với những điều kiện phiền phức như đã nói trên đây, người ta không có thể đòi hỏi thêm nữa, mà người ta chỉ có thể khen ngợi tác giả đã khái quát được những sự kiện vô cùng rối ren ấy đạ hiến độc giả một bức hoa. Bao la về một thời kỳ lịch sử cổ đại rộng lớn của Trung Hoa.

Một số nhân vật trong "Đông Chu liệt quốc" được ngòi bút tác giả miêu tả rất sinh động, rất "nổi". Đọc "Đông Chu liệt quốc", không mấy ai quên được những nhân vật như Tín Lăng quân, Ngũ Tử Tư, Phạm Lãi, Lạn Tương Như, Kinh Kha, Chuyên Chư, Nhiếp Chính v. V.. Chính là trên cơ sở những mâu thuẫn gay gắt của những sự kiện chính trị lớn, tác giả đã khéo thông qua ngôn ngữ và hành động mà xây dựng nên hình tượng nghệ thuật những nhân vật điển hình đó.

Người Đông Chu thì thế, đến việc Đông Chu thì tác giả lại khéo có ngòi bút tự sự thật gọn gàng, sáng sủa và đồng thời lại còn rất khẩn trương, cảm động nữa. Có những sự kiện rất phức tạp, quanh co, mà tác giả chỉ cần nửa hồi để thuật lại một cách rất mạch lạc, trôi chảy, như đoạn viết về bốn họ tranh quyền nhau ở nước Tấn. Lại có những sự việc kéo dài trong đó quan hệ giữa các nhân vật biến hóa không ngừng, cục diện phát triển như đợt sóng, lên lên xuống xuống, tầng tầng lớp lớp, như chuyện Sái Túc nước Tống lập vua, chuyện Trung Nhĩ nước Tấn lánh nạn, chuyện Ngũ Tử Tư nước Sở báo thù v. V.. Những đoạn ấy kéo dài nhiều hồi và ngòi bút tự thuật của tác giả đã khéo dẫn dắt người đọc một cách tài tình hết hồi nọ sang hồi kia, những người đi đường xa mỗi bước lại thấy hoa thơm cỏ lạ, mỗi lúc một thấy phong cảnh đổi mới đột ngột, bất kỳ.

Lời văn "Đông Chu liệt quốc" tuy không uyên thâm, điển nhã như Văn Tả truyện, văn Sử ký, nhưng có ưu điểm là cụ thể, rõ ràng, dễ hiểu. Nhiều đoạn rất hàm súc, nhiều đoạn lại rất tình tứ, nên thơ. Như đoạn viết về hai anh em công tử Thọ nước Vệ:

".. Công tử Thọ liền bước sang thuyền Cấp Tử, rót một chén rượu để mời, nhưng chưa kịp nói gì thì nước mắt đã ứa ra, rỏ xuống chén rượu. Cấp Tử vội vàng đỡ lấy mà uống. Công tử Thọ nói:" Chén rượu này đã bẩn mất rồi! "Cấp Tử nói:" Ấy, chính anh uống cái tình của em ở trong ấy! "Công tử Thọ gạt nước mắt nói:" Chén rượu hôm nay là chén rượu vĩnh biệt của anh em tạ Nếu anh nghĩ đến tình em thì xin gắng uống cho thật nhiều.. ".

Và đoạn tả Lộng Ngọc thổi sáo đêm trăng:

".. Lộng Ngọc ở trên lầu cuốn rèm lên ngắm cảnh, thấy trời tạnh mây trong, trăng sáng như gương, gọi thị nữ đốt một nén hương, rồi đi lấy cái ống sinh làm bằng ngọc bích, đến bên cửa sổ mà thổi. Tiếng sinh véo von vọng lên vòm trời, gió hây hây thổi, bỗng nghe như có người họa lại, khi gần khi xạ Lộng Ngọc không khỏi băn khuăn, bèn ngừng lại, không thổi nữa, có để nghe xem sao. Tiếng họa cũng im đi, nhưng dư âm còn lẽo đẽo không dứt. Lộng Ngọc bâng khuâng trước gió, như một người vừa đánh mất vật gì. Chốc đã nửa đêm, trăng xế hương tàn, nàng đem ống sinh để trên đầu giường, gắng gượng đi nằm.

° ° °

Ở cuối đời Minh, sau bộ "Đông Chu liệt quốc chí" còn xuất hiện hơn hai mươi bộ tiểu thuyết lịch sử, như "Nam Bắc sử diễn nghĩa", "Tổng truyện", "Tây Hán diễn nghĩa", "Lưỡng Tấn diễn nghĩa", v. V.. Về giá trị văn học và phạm vi ảnh hưởng thì "Đông Chu liệt quốc chí" đứng đầu các bộ tiểu thuyết ấy, theo sự nhận định của các nhà phê bình xưa và nay.

Trân trọng giới thiệu bộ tiểu thuyết "Đông Chu liệt quốc" với các bạn đọc.

Cao Xuân Huy
 
Chỉnh sửa cuối:
34,907 ❤︎ Bài viết: 2241 Tìm chủ đề
Hồi 1: Nghe trẻ hát, tôi trung bị giết, Trải lòng ngay, Ðỗ-Bá thác oan

Từ lúc vua Trụ mất nước Võ-vương lập lên nhà Châu, dân chúng sống trong cảnh thái-bình thịnh trị. Các triều vua kế tiếp như Thành-vương, Khương-vương, đều nhờ lấy đức trị dân, lại được các bậc trung thần như: Châu-công, Thiệu-công, Tất-công, Sử-Dật, hết lòng phò tá, lên cơ-nghiệp vững-bền.

Qua đến đời vua thứ tám là Di-vương, cơ-nghiệp nhà Châu bắt đầu suy-yếu.

Ðến đời vua thứ chín là Lệ-vương lại càng nhu-nhược hơn. Trong nước nổi loạn, nịnh-thần thí vua, toan tiếm ngôi may nhờ có Châu-công và Thiệu-công, đồng tâm hiệp lực, lập Thái-tử Tịnh lên kế vị.

Thái-tử Tịnh lên ngôi xưng hiệu là Tuyên-vương, trong thì lo sửa sang triều-chính chiêu-đãi hiền-thần, ngoài thì lo vỗ an bá-tánh, vì thế các bậc hiền-tài lúc bấy giờ như Phương-Chúc, Thiệu-Hổ, Doãn-kiết-phủ, Châu-Bá, Trọng-sơn-phù, đều dốc lòng bảo giá. Tuyên-vương đem lại thái bình cho nhà Châu được mười chín năm thì giặc Khương-nhung dấy-loạn, vua phải ngự-giá thân-chinh.

Thế giặc quá mạnh, Tuyên-vương thua luôn may trận, quân-sĩ hao hụt rất nhiều, bèn trở về Thái-nguyên kiểm-điểm dân số để mộ thêm binh lính.

Khi đi ngang qua một khu phố nhỏ gần Kiểu-kinh có một bầy trẻ xúm nhau vỗ tay hát:

Thỏ lên, ác lặn non mờ,

Túi cơ cung yểm bơ phò nước non.

Vua nghe câu hát lấy làm tức giận, truyền quân vây bắt.

Bọn trẻ cả sợ chạy tán loạn, chỉ bắt được có hai đứa.

Vua quát hỏi:

- Ai bày cho chúng bay hát như thế?

Hai đứa trẻ run lẩy bẩy, cúi đầu tâu:

- Cách đây ba hôm, có một đứa nhỏ mặc áo đỏ, đến tại chợ nầy dạy chúng con hát. Nhưng chẳng biết vì sao, cùng một lúc, cả trẻ con trong khu phố đều biết các câu hát ấy.

Vua lại hỏi:

- Hiện bây giờ thằng bé mặc áo đỏ ấy ở đâu?

Hai đứa bé đáp:

- Chẳng biết nó đi đâu, từ ấy đến nay chúng con không còn gặp nó nữa.

Vua Tuyên-vương cau mày, suy nghĩ rồi truyền đuổi hai đứa bé ấy đi. Lại khiến quan Tư-thị loan-báo khắp khu-phố cấm không cho con nít hát như thế nữa. Nếu đứa trẻ nào còn hát cha mẹ nó phải chịu tội. Kế đó vua ngự-giá về cung.

Sáng hôm sau, lâm triều bá quan vào chầu đủ mặt, vua bèn thuật lại câu hát ấy, và hỏi có ai đoán được hư thiệt không?

Quan Lễ-Bộ Triệu-hổ quỳ tâu:

- Tâu Bệ-hạ, cây yểm là thứ cây dâu núi, dùng làm cung, còn cơ là loại cỏ dùng đan giỏ đựng tên. Cứ theo câu hát ấy mà bàn thì chắc trong nước sẽ bị nạn binh-đao!

Tuyên-vương đưa mắt nhìn các quan cận-thần hỏi ý-kiến.

Quan Thái-tế Trọng-sơn-phủ quỳ tâu:

- Theo ý Ngu-thần thì cung tên biểu hiệu cho binh-đao, nay Bệ-hạ đang muốn kiếm dân, bắt lính đánh dẹp rợ Khương, điềm ấy e ảnh hưởng không lành đến dự-tính của Bệ-hạ.

Tuyên-vương gật đầu hỏi lại:

- Thế thì thằng con nít mặc áo đỏ là ai?

Thái-sư Bá-dương-phụ tâu:

- Chúng con nít mặc áo đỏ thuộc hỏa, còn sao Huỳnh-hoặc cũng thuộc hỏa. Ấy là ông trời muốn răn vua, nên khiến sao Huỳnh-hoặc biến ra đứa trẻ đó.

Tuyên-vương nghe nói cho là phải, bèn phán:

- Vậy bây giờ trẫm tha tội cho Khương-nhung, rút quân ở Thái-nguyên về, truyền đốt tất cả số cung tên lưu trữ trong kho, như thế có tránh được điềm họa kia chăng?

Dương-phụ lại quỳ tâu:

- Hạ-thần xem thiên văn thấy điềm dữ ứng tại cung vua, chớ không can chi đến bờ cõi. Hơn nữa, luận theo câu hát "thỏ lên, ác lặn" có nghĩa là âm thạnh, dương suy, hạ thần e rằng việc nước sẽ do tay đàn bà quấy rối.

Tuyên-vương nói:

- Trong cung có Khương-hậu là kẻ hiền-đức, cai quản tam-cung, lục-viện. Mỗi một cung phi đều do tay Khương-hậu chọn lựa, làm sao có thể xảy ra tai họa ấy được?

Dương-phụ tâu:

- Tâu Bệ-hạ, ý trong câu hát không phải là việc bây giờ, xin Bệ-hạ cứ thi nhân, bố đức, may ra việc dữ trở nên lành, còn cung tên trong kho chẳng nên đốt làm chi.

Tuyên-vương nghe xong, lòng rất nghi-hoặc, bèn bãi chầu lui vào hậu cung, đem các việc thuật lại cho Khương-hậu nghe.

Khương-hậu tâu:

- Tâu Bệ-hạ, điềm dữ vừa ứng, trong cung lại có việc lạ lùng, thần-thiếp định tâu cùng Bệ-hạ.

Tuyên vương ngơ-ngác hỏi:

- Chẳng hay trong cung lại có việc gì chẳng lành sao?

Vừa rồi trong cung có một phi-tần của Tiên-vương để lại, tuổi ngoài năm mươi, có thai đã bốn mươi năm trời, đêm qua lại sanh ra một gái.

Tuyên-vương giật mình hỏi:

- Ðứa con gái ấy bây giờ ở đâu?

Khương-hậu nói:

- Thần-thiếp cho là quái-thai, nên đã sai người đem vứt xuống sông Thanh-thủy, cách đây vài mươi dậm.

Vua cho là chuyện lạ, bèn đòi người cung-phi già đó đến hỏi tự sự.

Người cung-phi già được lệnh, đến quỳ móp xuống đất, tâu rằng:

- Tiện tỳ được nghe nói vào đời Hạ-kiệt, tại Bao-thành có thần-nhân hóa ra hai con rồng sa xuống giữa sân triều, nhả nước dãi ra rồi kêu vua Kiệt nói: "Ta là hai vị Ðế-vương của Bao-thành đây". Vua Kiệt cả sợ, muốn giết hai con rồng ấy, song quan Thái-sư bói quẻ và tâu rằng: Thần nhân hạ giáng, ắt có điềm lành, xin Bệ-hạ hãy lấy nước dãi mà để dành. Vì nước dãi là tinh-khí của rồng, để dành trong cung ắt đặng hưởng phúc. Vua Kiệt nghe theo truyền đem mâm vàng hứng lấy nước dãi, đựng vào một chiếc hộp son, cất kỹ trong kho. Vừa cất xong thì trời nổi mưa, hai con rồng bay đi mất. Từ ấy đến nay đã hơn sáu trăm bốn mươi bốn năm, qua nhà Hạ, đến nhà Ân, rồi đến nhà Châu ta thêm nữa mà vẫn chưa ai dám mở hộp ấy. Ðến đời Tiên-vương, chiếc hộp ấy có hào quang rực rỡ, quan giữ kho trông thấy tâu lại với Tiên-vương. Tiên-vương truyền đem sổ bộ tra cứu, mới hay trong hộp đó đựng nước dãi rồng, bèn truyền mở ra xem. Rủi thay Tiên-vương sơ ý làm rơi chiếc hộp xuống đất, nước dãi đổ lai láng rồi hóa thành một con giãi nhỏ chạy tung tăng khắp sân triều. Nội-thị theo đuổi bắt con giãi kia chạy vào cung rồi biến mất. Lúc đó tiện-tỳ mới lên mười hai tuổi. Vì đạp nhằm đầu con giãi ấy mà thọ thai. Tiên-vương lấy làm lạ, đem tiện tỳ giam vào lãnh cung. Ðến nay hơn bốn mươi năm trời mới sanh ra một gái! Nội-thị không dám giấu, vào tâu với Hoàng-hậu. Hoàng-hậu cho là quái-thai nên đã đem vất xuống sông, xin Bệ-hạ rộng lòng tha cho tiện-tỳ khỏi tội.

Tuyên-vương nghe xong, lo lắng thở đài, phán:

- Ấy là việc đời trước, có can chi đến ngươi mà phải sợ sệt.

Nói xong, vội sai nội thị đến bờ sông Thanh-thủy xem đứa bé ấy thể nào.

Một lát sau, nội thị trở về tâu:

- Tâu Bệ-hạ, đứa bé ấy đã trôi đi đâu mất tích.

Nhà vua an lòng, trở vào hậu cung an nghĩ.

Sáng hôm sau vua cho vời quan Thái-sư Dương-phụ đến kể việc nước miếng rồng cho Dương-phụ và bảo:

- Nay đứa bé ấy đã chết rồi, khanh hãy chiếm một quẻ xem oan nghiệt đã dứt chưa?

Dương-phụ vâng mạng, gieo quẻ rồi dâng lời đoán cho Tuyên-Vương xem.

Lời đoán rằng:

- Cười cười khóc khóc, dê mắc lưới, ngựa sa lầy. Sợ thay! Sợ thay! Nước non tang-tóc.

Vua không hiểu ý, hỏi lại Dương-phủ tâu rằng:

- Dê chỉ về Mùi, ngựa ứng về Ngọ. Cười cười, khóc khóc nói về chuyện vui buồn. Quẻ nầy ứng qua năm Ngọ, năm Mùi sẽ có chuyện vui buồn đó. Theo dự đoán của hạ thần, tuy yêu-quái ra khỏi cung nhưng chưa trừ đặng.

Tuyên-vương nghe tâu, mặt buồn dàu-dàu, hạ chiếu truyền rao khắp dân chúng, ai tìm ra đứa con nít ấy, bất kỳ sống thác đều được thưởng ba trăm tấm lụa, ngược lại ai giấu diếm mà nuôi, sẽ bị xử-tử toàn gia.

Vua truyền giao việc nầy cho quan Thượng-đại-phu Ðỗ-bá xem xét.

Lại ra lệnh cho quan Ðại-phu Tả-nho nghiêm cấm khắp nơi, từ thành-thị đến thôn quê không ai được làm cung bằng gỗ yểm và giỏ tên bằng cỏ cơ. Ai trái lệnh được quyền bắt chém.

Nhân-dân nghe lệnh, nhất nhất tuân theo. Duy có các miền xa vắng, lệnh của nhà vua chưa được ban bố, nên cách hai ngày sau có một người đàn bà xách mấy cái túi tên bằng cỏ cơ, và một người đàn ông vác mấy cây cung bằng gỗ yểm đến chợ bán.

Quân tuần trông thấy áp lại bắt, nhưng người đàn ông lanh chân chạy thoát.

Chúng dẫn người đàn bà vào nạp cho quan Ðại-phu Tả-nho.

Tả-nho nghĩ thầm:

- Hai vật nầy đúng theo lời hát của lũ trẻ rồi. Vả lại, quan Thái-sư bảo là có nữ họa, thế thì người đàn-bà nầy là mối họa lớn của quốc-gia, ta phải vào triều phục chỉ.

Nghĩ như vậy, Tả-nho giấu việc người đàn ông bỏ trốn, chỉ dắt người đàn bà vào triều tâu nạp.

Nhà vua truyền đem tội nhơn xử-tử, và đem tất cả các túi tên ra chợ đốt đi để răn dân chúng.

Trong lúc đó, ngươi đàn ông kia hoảng vía chạy trối chết, không hiểu cớ gì quan quân lại đón bắt vợ chồng mình. Mãi đến ngày hôm sau, anh ta mới biết lệnh cấm, và nghe đồn người đàn bà bán giỏ tên bị xử tử, lòng nóng như đốt, anh ta than thầm:

- Ôi! Vợ ta đã bị giết rồi, giờ đây ta biết nương tựa vào đâu! Đau đớn thay.

Than rồi, anh ta khóc rống lên, nhưng sợ khóc lớn quan quân hay được, bèn tìm nơi vắng vẻ để khóc cho thỏa lòng.

Anh ta đi lần đến mé sông Thanh-thủy, đôi mắt đỏ ngoe, dòng châu lả chả, bỗng thoáng thấy đàng xa có bầy chim kêu rả-rít, xúm nhau ngậm một chiếc chiếu cuốn tròn, nổi trên sông, mà đem vào bờ.

Lấy làm lạ, anh ta chạy đến giở chiếc chiếu ra xem, thì thấy trong đó gói một đứa bé gái vừa mới lâm bồn (1).

Anh ta nghĩ thầm:

- Con ai đem bỏ như vầy. Ðã không chết mà lại có bầy chim cứu nạn, ắt là một quí-nữ. Ta đem về nuôi để ngày sau nhờ cậy.

Nghĩ như vậy bèn cỡi áo gói đứa bé ôm vào mình, rồi thẳng đường sang Bao-thành lánh nạn.

Từ khi giết người đàn-bà bán giỏ cung bằng cỏ cơ, Tuyên-vương cho rằng điềm họa trong nước đã diệt được, nên không còn lo ngại gì nữa. Tuy nhiên, cứ cách vài năm nhà vua lập đàn tế-lễ nơi Thái-miếu (2), ăn chay nằm đất để cầu phúc.

Năm ấy vào năm thứ bốn mươi ba, vua ngủ nơi trai-cung (3), trống canh hai vừa đổ, xảy có một người con gái, dung nhan đẹp đẽ từ phía Tây xăm xăm đi lại.

Vua cả giận nghĩ rằng:

- Ðàn bà con gái sao dám đến chỗ chay cấm, bèn quát lên một tiếng hô nội thị đến bắt.

Vua gào rát cổ, mà vẫn không thấy một tên nội-thị nào.

Người đàn bà kia cứ ung-dung đi vào Thái-miếu, góp nhặt các bài-vị bó thành một bó, rồi bước ra cười ba tiếng, khóc ba tiếng, đoạn chậm rãi tiến về hướng Ðông (4).

Vua bèn rượt theo, bỗng giật mình thức dậy mới biết là chiêm-bao, trong lòng kinh hãi, đòi Thái sư Bá-dương-phụ đến hỏi.

Bá-dương-phụ tâu rằng:

- Lời đồng-dao (5) cách đây ba năm Bệ-hạ đã quên rồi sao?

Hạ-thần tiên đoán nhà Châu sẽ bị nữ-họa. Nay yêu-khí chưa dứt, mà người đàn bà ấy lại khóc ba tiếng, cười ba tiếng, thì đúng theo quẻ hạ thần đã tiên đoán vậy.

Tuyên-vương lo lắng hỏi:

- Ngày trước trẫm đã giết người đàn bà bán giỏ cung bằng cỏ cơ rồi, như thế chưa trừ đặng câu đồng-dao ấy hay sao?

Bá-dương-phụ tâu.

- Tâu Bệ-hạ, đạo trời mầu nhiệm lắm, đâu phải dễ gì giết một người đàn bà hèn mọn kia mà có thể làm biến-đổi được thiên-cơ (6).

Vua nghe nói lòng buồn rã rượi, ngồi đứng không an, giây lâu sực nhớ đến việc ba năm trước có sai Ðỗ-bá truy tầm đứa bé thả trôi sông, sao đến nay chưa nghe kết quả, bèn đòi Ðỗ-bá vào hỏi.

Ðỗ-bá quỳ tâu:

- Tâu Bệ-hạ, hạ-thần hết sức tìm kiếm, nhưng chẳng thấy. Khắp trong dân gian cũng không ai tìm được xác, chứng tỏ quái-thai kia đã bị chìm mất tích rồi. Vả lại Bệ-hạ đã xử-tử người đàn bà bán cung, thì lời đồng-dao đâu còn linh-ứng? Nếu cứ tra xét thì e động đến dân-tình.

Tuyên-vương cả giận mắng:

- Ðã không làm được việc, lại không phục-chỉ, rõ là một đứa khi quân.

Bèn sai võ-sĩ dẫn Ðỗ-bá ra pháp-trường xử trãm.

Giữa lúc đó, quan Hạ-đại-phu Tả-nho, vốn là bạn thân của Ðỗ-bá, thấy vội quỳ móp trước sân triều can gián:

- Tâu Bệ-hạ, đời vua Nghiêu bị lụt chín năm, đời vua Thang nắng hạn đến bảy năm, mà chẳng hề sanh biến loạn. Nay chỉ vì giết không được một đứa con nít mà Bệ-hạ xử-tử một đại thần e các lân-bang chê cười, xin Bệ-hạ xét lại.

Tuyên-vương mặt giận phừng phừng, nói:

- Nếu vì tình bạn mà can gián, thì ngươi qua đã trọng bạn khinh vua.

Tả-nho tâu:

- Vua phải bạn trái thì nên theo vua. Bạn phải vua trái thì nên theo bạn. Tội Ðỗ-bá không đáng gì, mà Bệ-hạ đem giết, thiên hạ sẽ cho Bệ-hạ là bất minh. Hạ thần biết mà không can gián, thiên-hạ sẽ cho Hạ-thần là bất trung. Nếu Bệ-hạ giết Ðỗ-bá, hạ thần xin cùng chết.

Tuyên-vương nói:

- Trẫm chém Ðỗ-bá như chém cỏ rác, ngươi chớ nhiều lời làm chi.

Nói xong, nạt võ-sĩ đem Ðỗ-bá ra chém.

Còn Tả-nho về đến nhà cũng tự-vận mà thác.

Người sau, cảm lòng trung nghĩa, lập miếu nơi Ðồ-lăng mà thời gọi là miếu Tả-tướng-quân.

Con trai Ðỗ-bá là Thấp-thúc trốn qua nước Tấn, lành đến chức Sĩ-sư, sau con cháu đổi ra họ Phạm.

Khi Tuyên-vương nghe tin Tả-nho tự vận, lòng hối-ngộ, ăn ngủ không yên, mà sanh bệnh, bỏ cả việc triều chính.

Khương-hậu thấy vậy cũng không dám phàn nàn.

Một hôm, vào tiết mùa thu, Tuyên-vương muốn đi săn bắn để giải muộn bèn truyền Doãn-kiết-phủ và Thiệu-hổ sắm sửa xe giá lên đường. Hai bên tiền hô, hậu ủng thẳng đến Ðông-giao.

Ðến nơi, vua truyền hạ trại, và dặn dò quân-sĩ không được đạp phá mùa màng, làm chấn động lê dân. Ðoạn truyền lịnh hễ ai bắt được nhiều thú rừng sẽ được trọng thưởng.

Quân-sĩ đua nhau bủa vây khắp chốn. Lòng vua rất đẹp.

Chẳng bao lâu, mặt trời đã gác non Ðoài, vua truyền bãi cuộc săn bắn.

Quân sĩ tuân lệnh bao nhiêu phi-cầm tầu thú đều buộc trói sẳn sàng hộ giá về cung.

Ði chưa dược ba bốn dặm đường, nhà vua mặt mày bỗng xây xẩm, rồi trước mắt thoáng thấy một cổ xe nhỏ từ đàng xa tiến đến.

Trên xe có hai người, tay cầm cung tên, hô lớn:

- Bệ-hạ vẫn được mạnh giỏi chứ.

Tuyên-vương nhìn kỹ thấy hai người đó là Ðỗ-bá và Tả-nho, thất kinh gọi kẻ tả-hữu hỏi thì chẳng ai thấy gì hết.

Chiếc xe nhỏ kia cứ lởn vởn mãi trước mắt, vua cả giận hét:

- Phản thần! Dám đến đây phạm giá sao?

Nói xong, rút bửu kiếm ra chém.

Bỗng nghe có tiếng Ðỗ-bá và Tả-nho mắng lại.

- Hôn quân, đã không biết sửa mình còn chém người vô tội!

Hôm nay khí số hôn quân đã mãn, hãy lo mà đền mạng cho sớm.

Dứt lời, trương cung nhằm ngay ngực nhà vua bắn tới.

Tuyên-vương hét lên một tràng thất thanh rồi té xỉu xuống.

Các quan hộ giá xúm lại đỡ dậy, lo thuốc men cứu chữa.

Nhà vua ôm ngực rên la cho đến lúc về tới cung.

Ai nay đều sợ sệt, nhìn nhau không biết nguyên-do nào xảy ra như vậy.

(1) Lâm bồn: Mới sanh.

(2) Thái-miếu: Nơi thờ-phượng các Tiên-vương.

(3) Trai-cung: Nhà chay.

(4) Ấy là điềm ứng cho nhà Châu phải dời qua hướng Ðông.

(5) Ðồng-dao: Câu hát của con nít.

(6) Thiên cơ: Máy trời, sự mầu nhiệm của tạo hóa.
 
34,907 ❤︎ Bài viết: 2241 Tìm chủ đề
Hồi 2: Bao-quýnh chuộc tội, dâng gái đẹp, U-vương đốt lửa diễu chư-hầu

Từ khi săn bắn ở Ðông-giao về, Tuyên-vương lâm bệnh nặng, đêm nào chợp mắt cũng thấy Ðỗ-bá và Tả-nho đến đòi mạng Biết mình không thể sống được lâu, bèn cho đòi Doãn-kiết-phủ và Thiệu-hổ đến để thác cô. Hai người nầy vào quỳ dưới long-sàng hỏi thăm căn bịnh.. Vua khiến nội-thị đỡ dậy và nói: - Trẫm nhờ sức của hai khanh mới ở ngôi đặng bốn mươi sáu năm, chẳng ngờ hôm nay lâm bịnh nặng, không thể sống được nữa, Thái-tử là Cung-niếc tuổi tuy đã lớn mà tánh-tình ngu-muội, xin chư khanh hãy hết lòng phò tá kẻo hư cơ-nghiệp. Hai người cúi đầu lãnh mạng, bái tạ lui ra. Vừa đến cửa cung xảy gặp quan Thái-sử Bá-dương-phụ bước vào. Thiệu-hổ hỏi: - Có phải ngài đến để thăm Bệ-hạ không? Bịnh tình Bệ-hạ rất nguy kịch, khó mà sống đặng. Doãn-kiết-phù nói: - Trước kia là tiếng hát rao, nay lại đến hồi quỷ hiện, vận nước thật khó an toàn. Bá-dương-phụ nói: - Ðêm qua tôi có xem thiên-văn, thấy yêu-tinh phục nơi sao Tử-vi. Quốc gia còn gặp nhiều tai biến nữa. Thiệu-hổ nói: - Tuy trời định hơn người, song người cũng có thể thắng mạng trời. Các ông cứ nói theo thiên-đạo mà bỏ nhân-lực sao! Cả triều thần không đủ sức chống lại mọi tai biến ư? Ba người nhìn nhau, mỗi người riêng một ý nghĩ, rồi ai về nhà nấy.

Ðêm hôm ấy Tuyên-vương băng-hà. Khương Thái-hậu bèn ra ý chỉ triệu các vị lão-thần Doãn-kiết-phủ và Thiệu-hổ xuất lãnh bá quan, phò Thái-tử Cung-niếc vào làm lễ cử ai, rồi tức vị trước linh-cữu, xưng hiệu là U-vương, lập con gái Thân-bá lên làm Hoàng-hậu, lập con trai là Nghi-cựu lên làm Thái-tử, phong Thân-Bá làm Thân-hầu.

Sau khi Tuyên-vương chết, bà Khương-hậu buồn rầu vô cùng, chẳng bao lâu cũng tạ thế. Còn U-vương lại là một ông vua bạo ngược, háo sắc. Mặc dù trong tang chế, ngày nào cũng ăn uống rượu chè, đắm say vật-dục đến nỗi bỏ bê cả việc triều-chánh. Thân-hầu ngày ngày can gián không được, buồn giận lui về nước Thân tá túc. Bấy giờ khí số nhà Châu cũng đã sắp tàn, nên khiến các vị lão thần như Doãn-kiết-phủ, Thiệu-hổ, đều lần lượt quy-thiên. U Vương lại dùng Quách-công, Tế-công, và con của Doãn-kiết-phủ là Doãn-cầu lên làm bực Tam-công. Ba người nầy đều là những kẻ dua nịnh tham quyền, cố-vị còn Trịnh-hữu-bá là người trung-trực vua lại không tin dùng.

Một hôm, thiết-triều tại Kỳ-sơn, có quan thủ-thần vào tâu: - Tâu Bệ-hạ, chẳng biết cớ gì sông Kinh, sông Hà, sông Lạc cùng động đất một lúc. Không một chút lo lắng, U-vương mỉm cười nói: - Núi lở đất động là việc thường, nhà ngươi tâu với trẫm làm gì? Nói xong, liền di-giá về cung Quan Thái-sử Bá-dương-phụ cầm tay quan Ðại-phu Triệu-thúc-Ðái than rằng: - Thuở trước sông Ỷ, sông Lạc cạn, nhà Hạ mất ; sông Hà cạn, nhà Thương hư ; nay cùng một lúc ba sông đều động một lượt ấy là trời muốn lấp nguồn, nhà Châu khó tránh khỏi tai biến. Triệu-thúc-đái hỏi: - Theo dự đoán của ngài thì bao giờ mới xảy ra tai biến ấy? Bá-dương-phụ đánh tay xem lại, rồi đáp: - Nếu vua biết răn mình, chuộng hiền lánh dữ thì trong khoảng mười năm, bằng ngược lại họa sẽ tới gấp không chừng. Thúc-đái nghe nói thở dài, cầm tay Dương-phụ, nói: - Nay Thánh-thượng chẳng kể việc quốc-chính, xa những tôi trung gần gũi nịnh thần, chẳng lẽ chúng ta khoanh tay ngồi ngó trong lúc nước nhà bại vong. Vậy chúng ta phải can gián, dù được hay không cũng tròn bổn phận. Bá-dương-phụ cũng thở dài rồi lắc đầu nói: - Dù chúng ta có làm gì cũng vô ích. Trong lúc hai người nói chuyện có kẻ rình mò nghe được, thuật lại với Quách-công. Quách-công sợ nếu để Thúc-đái can gián ắt lòi chuyện gian-nịnh của mình, bèn thẳng vào hậu cung tìm lời sàm tâu rằng: - Bá-dương-phụ và Triệu-thúc-đái chê bai triều-đình, làm cho dân chúng hoang-mang. U Vương nói: - Chúng là những đứa ngu dốt biết chi mà bàn luận. Thói thường, những kẻ ngu dốt thường học đòi hay xét-nét đến công việc của thiên-hạ, khanh để ý làm gì cho bận tâm. Quách-công nghe nói thì cúi đầu lui ra, mặt mày hớn hở.

Cách vài ngày sau, quan trấn thủ núi Kỳ-sơn lại dâng biểu về tâu rằng: - Ba sông đều cạn, núi Kỳ-sơn lại lở, đè chết dân chúng rất nhiều. U Vương không thèm để ý đến, sai bọn nội giám đi tìm gái đẹp sung bổ vào cung. Triệu-thúc-đái nóng lòng, dâng biểu can rằng: - Sơn băng, thủy kiệt là biểu-hiệu của thiên tai. Vả lại Kỳ-sơn là nơi dựng nghiệp đế vương nay lại bị lở đi thì không phải việc nhỏ. Lẽ ra phải chọn hiền tài, để chung lo cứu nước thì Bệ-hạ lại chọn mỹ-nữ để vui riêng, hạ thần lấy làm hổ thẹn. Nhà vua chưa kịp nói, thì Quách-công đã quỳ tâu: - Tâu Bệ-hạ, đất Phong, đất Kiều là chỗ đóng đô còn Kỳ-sơn cũng như chiếc giày rách lâu đời đã bỏ đi, thì việc núi long đất lở có can hệ gì. Ấy là Thúc-đái có ý khi-quân, mượn cớ để phỉ-báng triều đình, xin Bệ-hạ rộng xét. U-vương nói: - Lời Quách-công nói rất phải, Thúc-đái đã có ý khi-quân, trẫm không thể nào dung thứ. Nói rồi vua bèn cách chức Triệu-thúc-đái đuổi về quê. Thúc-đái ngửa mặt lên trời than: - Nguy bang bất nhập, loạn bang bất cứ. Tuy-nhiên, ta không khỏi đau lòng nhìn nhà Tây-châu mất nước. Than rồi bèn dắt cả gia-quyến trở về nước Tấn. Lúc ấy có quan Ðại-phu Bao-hướng vừa ở Bao-trung về, nghe tin Thúc-đái bị đuổi, bèn vội vã vào triều can gián rằng: - Tâu Bệ-hạ, nước nhà đang xảy ra nhiều điềm tai biến, Bệ-Hạ lại đuổi cả các tôi hiền, thì lấy ai phò xã tắc. Vua cả giận, truyền bắt Bao-hướng hạ ngục. Từ ấy không còn ai dám ngăn cản nữa.

Ðây nhắc qua việc người bán cung lúc trước, sau khi vớt được đứa bé, bèn trốn về Bao-thành ẩn-náu. Nhưng vì nghèo khó nuôi đứa bé không nổi, mới đem cho một nhà giàu, hiếm con, là Tư-đại đặt tên đứa bé là Bao-tự. Nàng Bao-tự tuổi vừa mười bốn mà cao lớn như một thiếu-nữ mười sáu, mười bảy sắc đẹp tuyệt trần, mắt phượng, mày ngài, đáng bậc khuynh-thành, khuynh-quốc. Nhưng vì ở chốn thôn quê, dẫu sắc-nước hương-trời cũng không ai biết tới.

Một hôm, Hồng-đức là con của Bao-hướng, nhơn thâu thuế làng đi qua đấy, thấy Bao-tự đang gánh nước. Hồng-đức đứng sững sờ, chắc lưỡi khen thầm: - Làng quê mùa như vầy, sao lại có người đẹp đến thế! Bỗng chàng lại sanh ra một ý nghĩ: - Cha ta bị tù nơi Kiểu-kinh đã ba năm, mà vua chưa tha. Nay, nếu được nàng nầy đem dâng cho vua, ắt vua tha tội. Bèn hỏi thăm tên họ rồi trở về nhà thưa với mẹ: - Phụ thân con vì tánh ngay thẳng mà trái ý vua, chứ không làm gì nên tội. Nay vua đang tuyển gái đẹp, mà con gái nhà Tư-đại lại đẹp vô ngần, nếu chúng ta mua được đem dâng cho vua, chuộc tội cho phụ thân, ấy là kế của Táng-nghi-sanh cứu Văn-vương ngày xưa đó. Mẹ Hồng-đức nói: - Nếu kế ấy mà thành-tựu, đem lại sự sum-họp gia-đình, thì mẹ đâu có tiếc gì vàng bạc. Ðược lời Hồng-đức cả mừng, đem ba trăm tấm lụa đến nhà Tư-đại hỏi mua nàng Bao-tự. Việc mua bán không khó khăn lắm, vì Bao-tự là con nuôi, nhà Tư-đại đâu có mến tiếc làm chi. Hồng-đức đem về, hương xông xạ ướp thay đổi xiêm-y, dạy cho biết những phép tắc cần thiết, rồi dẫn đến Kiểu-kinh tìm cách lo lót với Quách-công nhờ bảo tấu. Quách-công thấy vàng bạc, lòng mừng rỡ vào triều tâu với U Vương rằng: - Bao-hướng ngỗ-nghịch oai trời, tội đáng muôn thác. Nay có con va là Hồng-đức, chẳng nài khó khăn tìm kiếm khắp nơi mới được một mỹ nhân tên Bao-tự, đem đến dâng cho Bệ-hạ để chuộc tội cha, xin Bệ-hạ nghĩ tấm lòng hiếu thảo mà lượng xét. U Vương nghe tâu cả mừng truyền dẫn Bao-Tự vào bệ-kiến. Bao-Tự bước vào quỳ lạy trước ngai. U-vương xem thay mặt rồng ngây ngất, nhìn mãi không thôi! Qua một lúc, vua mới sực tỉnh, nghĩ thầm: - Ðã biết bao nhiêu cung nữ tuyển lựa, nhưng chưa hề có người nào chim sa cá lặn như vầy. Bèn hạ chỉ tha Bao-hướng và cho phục-chức. Lại truyền dẫn Bao Tự vào một biệt cung, không cho Thân-hậu hay. Ðêm ấy U-vương say tình cá nước. Và, từ đó chẳng lúc nào rời Bao-tự. Khi xem trăng, khi sánh nguyệt, khi đối ẩm, lúc ca xang, say sưa mãi nơi cung Quỳnh-đài, chẳng thiết gì đến việc triều chính. Có khi đến mười ngày cũng không thấy vua lâm triều. Trăm quan đều thở than, lo lắng. Có người đem chuyện vua mê-say Bao-tự nói với Thân-hậu hay. Thân-hậu tức giận, một hôm dẫn bọn cung-nga đến cung Quỳnh-đài xem hư thiệt. Vừa đến nơi, Thân-hậu thoáng thấy U-vương đang cùng với Bao-tự kề vai trửng-giỡn. Thân-hậu bước vào Bao-tự vẫn ngồi im, liếc mặt đưa tình nhìn vua chứ không đứng dậy chào đón. Thân Hậu tức không dằn được, chỉ vào mặt mắng: - Loài tiện tỳ mi ở đâu dám đến đây làm nhơ nhớp chốn cung vi? Vừa nói, vừa muốn xốc tới. U-vương sợ Thân-hậu làm hỗn vội đứng dậy, cản lại, và nói: - Ðây là mỹ-nhơn của trẫm mới dùng, chưa định ngôi thứ nên chưa kịp đến ra mắt hậu, xin hậu chớ chấp nhứt làm chi. Thân-hậu mắng nhiếc một hồi rồi hậm-hực lui ra. Bao-tự hỏi U-vương: - Tâu Bệ-hạ chẳng hay người ấy là ai mà hung-dữ lắm vậy? U Vương nói: - Ấy là Hoàng-hậu đó. Ngày mai khanh phải đến làm lễ ra mắt. Bao-tự làm thinh, rồi ngày mai cũng chẳng đi chào Hoàng-hậu.

Từ khi biết rõ sự tình, Thân-hậu lòng buồn rười rượi ngày tối than thở mãi trong cung. Thái-tử Nghi-cựu thấy thế quỳ tâu: - Tâu mẫu-hậu, mẫu-hậu đã làm chúa tể nơi tam cung lục viện, oai quyền như thế, chẳng hay còn điều chi bất bình mà buồn bã. Thân-hậu đỡ con dậy, hai hàng nước mắt ràng rụa, nói: - Con ơi! Phụ-vương con đắm say con Bao-tự, không kể gì đến mẹ nữa. Thân mẹ dù có bị bạc bẽo cũng chẳng sao, duy có giang san sự-nghiệp sau nầy ắt phải tan tành vì tay con khốn nạn đó. Thái-tử nghe nói vừa buồn, vừa giận, cầm tay Thân-hậu nói: - Xin mẹ chớ có sầu bi. Ngày mai là ngày Sóc (mồng một), phụ-vương con thế nào cũng lâm triều, chừng ấy mẹ sai bọn cung-nữ qua nơi Huỳnh-đài bẻ phá bông hoa, dụ Bao-tự ra khỏi cung, con sẽ đánh cho một trận trả thù cho mẹ. Dẫu phụ-vương con có trách mắng, con xin cam chịu. Thân-hậu lắc đầu nói: - Con chớ nên nóng nảy như thế, để thủng-thỉnh mà liệu, kẻo lâm vào độc-kế của con dâm-phụ đó. Thái-tử Nghi-cựu hậm-hực ra về. Sáng hôm sau, quả nhiên U-vương lâm-triều. Nghi-cựu bèn sai một số cung-nhân qua nơi Quỳnh-đài, chẳng nói chi hết cứ việc vác cây đập phá bông hoa. Bọn thế nữ trong đài trông thấy thất kinh chạy ra cản lại và la lớn rằng: - Hoa nầy vốn của Chúa-thượng trồng, để cho Bao-nương ngoạn cảnh chớ nên phá phách mà tội chẳng nhỏ. Bọn cung-nhân vẫn không ngừng tay, ứng tiếng đáp: - Bọn ta vâng lịnh Ðông-cung Thái-tử đến bẻ hoa nầy về dâng cho Chánh-hậu, ai dám cản trở sao! Hai đàng cãi vả om-sòm, làm cho Bao-tự đang mơ-màng giấc điệp, bỗng giật mình thức dậy, bước ra xem thấy bông hoa tơi tả Bao-tự cả giận, toan bước tới đánh bọn cung-nữ, chẳng dè Thái-tử núp gần đấy, nhảy tới trợn mắt hét: - Nghiệt-phụ mi là người chi, danh dự gì mà dám xưng là nương-nương, chẳng kiêng ai hết, nay ta làm cho mi thấy cái nương-nương của mi. Nói dứt lời, Thái-tử nắm đầu Bao-tự tát cho mấy cái. Bao Tự đau quá ré lên. Bọn cung-nữ sợ hãi, đồng quỳ móp xuống đất thưa: - Xin Thái-tử hãy khoan-dung, kẻo phiền lòng Chúa-thượng Thái-tử Nghi-cựu chưa hả giận, nhưng sợ đánh sảy tay bèn buông Bao-tự ra, rồi chỉ vào mặt nói: - Nếu mi còn ngạo-nghể ta sẽ không bao giờ để cho mi sống yên. Nói xong quay gót trở về Ðông cung. Bao-tự biết Thái-tử đánh trả thù cho mẹ, nên phải dằn lòng nhẫn nhục trở vào, nằm vật trên giường than khóc. Bọn cung-nga thế nữ đồng xúm lại khuyên giải: - Bề nào cũng còn có Chúa-thượng, nương-nương khóc lóc làm chi. Bao-tự nằm khóc sụt sịt mãi cho đến lúc U-vương bãi triều bước về Quỳnh-đài, nàng mới khóc rống lên. U-vương vội vã bước vào hỏi: - Tại sao ái-khanh dung mạo như thế nầy? Chẳng hay có điều gì xảy đến, hãy nói cho trẫm rõ. Bao-tự cứ khóc mãi không nói. Ðợi cho U-vương năn nỉ đôi ba phen, nàng mới nghẹn ngào thốt ra lời: - Hôm nay Thái-tử dẫn một tốp cung-nhân đến hái phá trông hoa dưới đài. Mặc dầu hành động ngang tàng ấy, thiếp cũng chẳng làm nói Thái-tử lại xông vào đánh thiếp. Nếu chẳng có cung-nga can giáng ắt mạng thiếp chẳng còn. Nói xong lại khóc rống lên nữa. U-vương đã rõ ngọn-ngành, vừa vỗ về Bao-tự, vừa nói: - Ái khanh ơi! Chỉ vì ái-khanh không chịu ra mắt Chánh-hậu, nên Chánh-hậu giận, sai Thái-tử làm như vậy chứ không phải tại Thái-tử đâu, ái-khanh chớ hiểu lầm mà trách nó. Bao-tự làm ra mặt giận nói: - Thái-tử vì mẹ mà báo thù, Thánh-thượng cũng vì Chánh-hậu mà che chở tội lỗi. Dầu thiếp có chết đi cũng chẳng tiếc. Song, từ khi hầu-hạ Thánh-thượng đến nay, thiếp đã có mang hai tháng. Vậy xin Thánh-thượng cho thiếp ra khỏi cung để bảo tồn giọt máu của Thánh-thượng. U-Vương mặt mày buồn bã, đỡ Bao-tự dậy, nói: - Thôi, ái-khanh chớ buồn bã mà đau lòng Trẫm. Trẫm sẽ xét xử công-minh.

Rồi, nội trong ngày hôm ấy, vua truyền chỉ rằng: Thái-tử Nghi-Cựu bạo động vô-lễ, chẳng biết điều thảo thuận, nên phải đưa qua nước Thân cho Thân-hầu dạy dỗ, còn những quan Thái-phó, Thiếu-phó nơi Ðông-cung, dạy dỗ chẳng nghiêm, nên thảy đều bị cách chức.

Thái-tử Nghi-cựu được lệnh vội vã vào cung kêu nài, nhưng U-vương đã biết trước, dặn quan giữ cửa không cho vào. Thái-tử chẳng biết làm sao, đành lên đường qua nước Thân cư-trú. Còn Thân-hậu, luôn mấy hôm không thấy con vào thăm trong lòng lo lắng, sai bọn cung-nữ dò hỏi, mới hay Thái-tử đã bị đầy sang nước Thân rồi một mình bơ vơ, ngày ngày nhớ con gào thét thảm-thiết.

Lần hồi ngày tháng thoi đưa, Bao-tự lâm-bồn sanh đặng một trai. U-vương yêu-mến vô-ngần, đặt tên là Bá-phục. Và, cũng từ ngày ấy, U-vương có ý phế con đích lập con thứ, song chưa có cơ hội thuận-tiện Quách-thạch-phù (tức Quách-công) dò biết ý vua bèn thương-nghị với Doãn-cầu, rồi thông-tư với Bao-tự rằng: - Thái-tử hiện bị đày ra khỏi nước, vậy phải lập tự cho Bá-phúc. Bên trong cậy có nương-nương, bên ngoài chúng tôi giúp sức, lo chi việc ấy không thành. Bao-tự bắt được tin, lòng mừng khắp khởi, vội phúc đáp ngay: - Ta cậy nhờ hai khanh hết lòng bảo bọc, nếu Bá-phục đặng nối ngôi thì việc giàu sang trong thiên-hạ, ta quyết không bao giờ phụ.

Từ đó, Bao-tự thường lén sai người tâm-phúc, theo dỏi hành-vi của Thân-hậu, dầu việc nhỏ mọn đến đâu cũng không qua mặt nổi. Còn Thân-hậu sống trong buồn thảm, giận vua nhớ con, cả ngày không ráo nước mắt. Có một cung-nhân già cả, thấy thế động lòng, kiếm lời bàn bạc: - Tâu Hoàng-hậu, nay tình mẹ con cách trở, cả hai đều mang nặng nhớ nhung, xin Hoàng-hậu lén biên thư gởi sang nước Thân bảo Ðiện-hạ làm biểu gởi về thỉnh tội may ra Chúa-thượng động tình mà cho phép hồi-hương, như thế mẹ con được sum-họp. Thân-hậu sụt sùi nói: - Lời ngươi nói rất phải, ngặt không có ai đem thư, biết liệu làm sao? Người cung-nhân nói: - Mẹ tôi là Ôn-áo, biết nghề làm thuốc. Vậy Hoàng-hậu giả đau, đòi mẹ tôi vào coi mạch, rồi khiến mẹ tôi đem thư về mà sai anh tôi đi thì khỏi lo chi hết. Thân-hậu nghe theo lời, viết một bức thư. Trong thư đại ý như sau: Thiên-tử vô đạo, mê đắm con nghiệt-phụ, làm cho mẫu-tử phân-ly. Nay con nghiệt-phụ lại sanh đặng một đứa con, Chúa-thượng yêu mến lắm. Vậy con phải gởi biểu để thỉnh tội để Chúa-thượng thương tình, tha con về trào. Chừng ấy mẹ con gặp nhau sẽ tính toán kế khác.

Viết thư xong, Thân-hậu giả bịnh sai người đòi Ôn-áo vào cung xem mạch. Tuy việc rất kín đáo, song không thoát khỏi tầm mắt của bọn tay chân Bao-tự, chúng hay được, chạy về báo. Bao-tự nghĩ thầm: - Ðấy chắc là va thông tin tức với Thái-tử. Vậy chờ lúc Ôn-áo ra khỏi cung, bắt lại mà xét sẽ biết ngay gian. Thật vậy, khi Ôn-áo xem mạch cho Chánh-hậu xong, bái tạ ra về có ôm theo hai tấm lụa. Vừa bước chân ra khỏi cung, bị nội-giám đón lại hỏi: - Lụa nầy ở đâu mà có vậy? Ôn-áo đáp: - Tôi vào coi mạch cho Chánh-hậu, được Chánh-hậu tặng thưởng. Nội-giám đưa mắt nhìn nhau như hỏi ý, rồi một người bước đến giật tấm lựa mở banh ra khám xét. Thấy trong tấrn lụa không có gì nội giám lại xúm nhau lục soát khắp mình. Bỗng bắt gặp trong lai áo, có một phong thư, vội đem về Quỳnh-đài dâng cho Bao-tự. Bao-tự xem thơ cả giận, truyền bắt Ôn-ao xiềng lại, và xé nát hai tấm lụa quăng xuống đất. Kịp lúc U-vương bước vào, thấy thế hỏi duyên cớ. Bao-tự khóc và tâu rằng: - Tiện thiếp hân-hạnh được vào chốn thâm cung, lại được Bệ-hạ rũ lòng thương, ơn ấy dẫu đến chết cũng chưa đáp đền nổi. Nay vì thiếp sanh được một mụn con trai, làm cho Chánh-hậu đem lòng ghen ghét, viết thư cho Thái-tử, lập mưu ám hại. Tấm thân thiếp thật khó mà toàn mạng. Nói dứt lời lấy phong thư dâng cho U-vương xem. U-vương sửng sốt, nhận biết nét chữ của Thân-hậu liền hỏi: - Người nào đã nhận đem bức thư này. Bao-tự nói: Người đó là Ôn-áo, hiện Nội-giám còn đang giữ lại. Vua đòi dẫn Ôn-áo vào, rồi chăng hỏi qua một tiếng, rút gươm chém đứt làm hai đoạn. Sau Nhiêm-ông có thơ than rằng:

Lá thư chưa lọt cửa song ngoài Máu đã tuôn rồi! Thật đắng cay. Ám đạm thâm cung, tàn khí uất, Bâng khuâng nữa giấc mộng chương-đài.

Ðêm đến, Bao-tự lại thỏ thẻ với U-vương rằng. - Tánh mạng của mẹ con thần thiếp hiện nằm trong tay Thái-tử, chưa biết sống chết lúc nào. U-vương nói: - Bề nào cũng còn có trẫm đây, Thái-tử mà làm chi đặng sao. Bao-tự vừa khóc vừa nói: Hiện nay được nhờ Chúa thượng che chở, dầu ai có ghét cũng chẳng làm chi, song đến chừng Chúa-thượng qua đời, Thái-tử lên nối ngôi, chừng ấy quyền-bính về tay Chánh-hậu. Chánh-hậu muốn giết mẹ con thiếp lúc nào chẳng được. Dứt lời, Bao-tự lại khóc rống lên. U-vương cầm tay thổn-thức: - Trẫm muốn phế Chánh-hậu và Thái-tử đi, để lập khanh làm Chánh-hậu, và Bá-phục làm Ðông-cung, song e quần-thần chẳng phục. Bao-tự nói: - Tôi nghe vua thì thuận, mà vua nghe tôi là nghịch, xin Bệ-hạ hãy đem ý đó mà hiểu-dụ quần thần, xem nghị-luận thế nào. U-vương mỉm cười, nói: - Ái khanh nói rất phải, để mai trẫm sẽ tính. Ðêm ấy Bao-tự sai người tâm-phúc ra nói với Quách-thạch-phủ và Doãn-cầu hay, đặng dự bị trước mà ứng đáp.

Ngày thứ, U-vương lâm trào, các quan triều bái xong, vua truyền chỉ triệu hết công-khanh thượng-điện, mà phán rằng: - Nay Chánh-hậu sanh lòng tật-đố, không kiêng-nễ phép vua, ngày đêm thốt những lời oán-cừu trẫm. Tội ấy khó dung, chư khanh nghi thế nào Quách-thạch-phủ quỳ tâu: - Hoàng-hậu là một vị quốc mẫu, dẫu có tội chi cũng không nên tra hỏi. Nếu xét không đáng vị Chánh-cung thì xin Bệ-hạ chọn người có đức-hạnh thay thế mà thôi. Doãn-cầu cũng quỳ xuống tâu theo: - Tâu Bệ-hạ, kẻ hạ-thần trộm nghe đức-hạnh của Vương-phi Bao-tự, thật đáng làm chúa trong cung lắrn. U Vương lại hỏi: - Nay Thái-tử đang ở nước Thân, như bỏ ngôi của Thân-hậu thì địa-vị của Thái-tử sẽ thế nào? Quách-thạch-phù tâu: - Nếu đã bỏ mẹ thì dùng con làm gì nữa. Xin Bệ-hạ hãy phế Nghi-cựu mà tôn Bá-phục lên Ðông-cung. U Vương mừng lắm, lập tức hạ chiếu bắt Thân-hậu giam vào lãnh-cung, cắt ngôi Nghi-cựu, lập Bao-tự lên làm Chánh-hậu, Bá-phục làm Ðông-cung Thái-tử. Lại ra lệnh nếu ai ngăn-cản sẽ bị khép vào tội phản-nghịch. Quần-thần nhiều người lấy làm bất bình, nhưng không dám nói, vì thấy ý vua đã quyết, can gián không ích gì mà hại đến thân. Bá-dương-phụ tức tốc xin từ quan, về làng dưỡng lão, còn các vị trung thần khác, lần lượt bỏ chức cũng nhiều. Bao-tự tuy được phong làm Hoàng-hậu nhưng chưa lấy thế làm vui. Cả ngày ít nói, không cười, không ai hiểu nổi được lòng nàng cả. Có lẽ nàng đang ước-vọng những cái gì xa xôi nữa chăng? U Vương thấy Bao-tự không cười, lòng bâng khuâng lo lắng, bèn triệu tất cả nhạc-công trong triều tập-họp đến để đờn ca hát xướng cho nàng vui, song vẫn không thấy nàng cười lên một tiếng nào. U Vương nghĩ thầm: - Ta phế lập Chánh cung và Ðông-cung mục đích để làm vui lòng nàng, thế mà không được nàng trao cho một nụ cười thật là đau đớn. Nghĩ như vậy bèn thỏ thẻ hỏi Bao-tự: - Ðờn ca như thế không làm cho ái-khanh vui sao? Bao-tự đáp: - Tâu Bệ-hạ, thần thiếp nhớ lại tiếng xé lụa trước đây còn vui tai hơn là tiếng âm nhạc. U-vương cả mừng nói: - Ái-khanh ưa nghe tiếng xé lụa, sao ái-khanh không nói cho sớm.

Nói rồi truyền quan giữ kho mỗi ngày đem vào cung một trărn tấm lụa, lại khiến các cung-nữ khỏe mạnh thay phiên nhau xé để làm vui Bao-tự. Nhưng quái thay! Xé đến bao nhiêu lụa vẫn chưa thấy Bao-tự cười một tiếng nào. U-vương lo lắng, hỏi: - Ðã ưa tiếng xé lụa, và lụa cũng đã xé rặt nhiều, sao trẫm chưa thay ái-khanh vui. Bao-tự mặt lầm-lì không đáp. U-vương se thắt cõi lòng nói: - Thế nào trẫm cũng tìm cách làm cho ái-khanh cười lên một tiếng. Bèn ra lệnh khắp triều thần, ai có kế gì làm cho Bao-tự cười lên một tiếng sẽ được thưởng ngàn vàng. Quách-thạch-phủ quỳ tâu: - Tâu Bệ-hạ, ngày trước Tiên-vương có lập mười cái phong-hỏa-đài tại núi Ly-sơn, lại tạo mấy chục cỗ trống rất lớn, để mỗi khi có giặc Tây-nhung đến xâm lấn thì nổi lửa gióng trống lên. Các chư-hầu nghe thấy đem binh đến cứu. Từ ấy đến nay, trong nước thái-bình, nên phong-hỏa-đài không dùng đến. Nếu Bệ-hạ muốn làm cho Chánh-hậu vui cười, xin Bệ-hạ hãy cùng Chánh-hậu đến Ly-sơn du-ngoạn, rồi nữa đêm đốt phong-hỏa-đài lên, đánh trống cho thật dữ, binh viện các chư hầu ắt đem binh đến cứu. Chừng ấy, không thấy giặc giã gì cả, các chư-hầu phải lục-tục kéo quân trở về, như thế làm sao Chánh-hậu khỏi tức cười. U vương đắc-ý vỗ tay cười lớn, nói: - Kế ấy rất hay! Bèn dắt Bao-tự lên Ly-sơn bày tiệc ăn uống rồi truyền quân nổi lửa đốt phong-hỏa-đài.

Lúc ấy Trịnh-bá-hữu đang làm chức Tư-đồ tại trào, nghe việc ấy thất kinh, vội vã chạy đến Ly-sơn, quỳ móp xuống đất tâu rằng: - Tâu Bệ-hạ, phong-hỏa-đài Tiên-vương lập lên là để thông tin tức với chư hầu khi trong nước có biến, nay vô cớ mà Bệ-hạ đốt lửa, gạt chư hầu để làm trò vui, về sau thoảng có điều binh đao bất trắc, đốt phong-hỏa-đài lên thì ai còn tin mà đến cứu viện, xin Bệ-hạ chớ nên làm việc đó. U Vương nổi giận mắng: - Nay thiên-hạ đang vui hưởng thái bình thì cần gì quân cứu viện. Trẫm và Vương-hậu ra đây du ngoạn, không có gì tiêu-khiển nên mượn kế làm vui. Nếu sau nầy có giặc lại can hệ gì đến ngươi sao mà ngươi lo lắng. Trịnh-bá-hữu nghe nói thở dài, lủi thủi bước ra. U-vương truyền quân đốt lửa, và gióng trống lên. Ánh lửa rực trời, tiếng trống vang như sấm. Các chư hầu ngỡ là Kiểu-kinh có giặc, vội vàng kiểm-binh, điểm tướng suốt đêm kéo đến Ly-sơn. Ðến nơi thì nghe trên lầu đờn ca, hát xướng, lại thấy U-vương cùng Bao-Tự đang uống rượu vui vầy. Thấy quân-sĩ các chư-hầu rầm rộ kéo đến U-vương mỉm cười ra đứng trước hiên lầu, nói lớn rằng: - Trẫm may mắn không có giặc giã chi, chẳng dám phiền đến các chư-hầu. Các chư-hầu đều ngơ ngác nhìn nhau rồi bẽn lẽn cuốn cờ, dẹp trống, ai về nước nầy. Bao-tự đứng trên lầu trông xuống thấy quân lính khắp nơi ồ-ạt kéo đến, rồi lại lặng lẽ ra về thích chí vổ tay cười dài. U-vương ôm Bao-tự vào lòng nói: - Ái khanh ơi! Một tiếng cười của ái-khanh chẳng những làm vui lòng ta, mà còn tô thắm vạn màu tươi trong vũ-trụ, ấy cũng nhờ công của Quách-thạch-phủ đó. Nói xong, truyền quan giữ kho lấy ngàn vàng đem thưởng cho Quách-thạch-phủ. Người sau có bài thơ vịnh việc đốt lửa ấy như sau:

Buồn lòng tiêu khiển một trò chơi, Ðốt lửa đêm thanh đỏ rực trời. Cờ trống chư hầu bôn bả tới Giúp vui chỉ một nụ cười tươi.

Ðây nói về Thân-hầu, khi nghe U-vương phế Thân-hậu, lập Bao-Tự, lòng buồn bã, lập sớ gợi đến can rằng: - Xưa vua Kiệt mê Mụi-Hỷ mà nhà Hạ hư, vua Trụ mê Ðắc-kỷ mà nhà Thương mất. Nay Bệ-hạ đắm say Bao-tự, phế bỏ dòng chánh lập ra dòng thứ là trái nghĩa phu thê, hại tình phụ tử. Xin Bệ-hạ lấy cái gương nhà Hạ, nhà Thương mà tránh cho nhà Châu khỏi điều tai biến.

U Vương xem sớ cả giận, vỗ án hét: - Quân phản-tặc, sao dám loạn-ngôn như thế! Quách-thạch-phủ quỳ tâu: - Tâu Bệ-hạ, Thân-hầu trước đây thấy Bê-hạ đuổi Thái-tử đem lòng oán-hận, nay lại nghe Chánh-hậu bị truất ngôi, ý muốn mưu phản, nên mới dám dâng biểu hài tội Bệ-hạ như vậy. U Vương hỏi: - Như thế thì nay trẫm phải đối-xử làm sao? Quách-thạch-phủ tâu: - Thân-hầu vốn chẳng có công cán chi, nhờ Thân hậu mà được phong đến tước hầu. Nay Thân-hậu và Thái-tử đã bị truất-phế, thì cũng nên truất Thân-hầu xuống tước Bá như cũ, rồi dám binh đến vấn-tội để trừ hậu-hoạn. U Vương y tấu, hạ chỉ cách chức Thân-hầu lại khiến Quách-thạch-phủ kiểm-điểm binh mã, kéo đến nước Thân vấn tội.
 
34,907 ❤︎ Bài viết: 2241 Tìm chủ đề
Hồi 3: Kiểu-kinh, quân Khuyển-nhung tác-loạn, Ðông-lạc, Châu-bình-vương dời đô

Từ ngày Thân Hầu dâng biểu can vua, lòng nơm-nớp lo âu chẳng biết ý vua như thế nào, vội sai quân đi thám thính. Quân về báo: - U Vương sai Thạch-phủ làm đại-tướng, dẫn binh sang nước Thân vấn tội. Thân-hầu thất-kinh, hội các tướng tá thương-nghị. Thân-hầu nói: - Nước ta đã nhỏ mà binh lại ít làm sao cự cho lại binh vua Quan Ðại-phu Lữ-chương quỳ tâu: - Tâu Chúa-công, tuy nước ta là một chư hầu nhỏ, song Thiên-tử vô đạo, ngoài thì bỏ trung dùng nịnh, trong thì phế chánh, lập thứ, làm lắm điều bạo ngược. Nay nước Tây-nhung binh ròng, tướng mạnh, lại giáp ranh với nước Thân, xin Chúa-công gởi thư cầu cứu, mượn binh kéo về Kiểu-kinh đặng cứu Chánh-hậu, bắt vua phải nhường ngôi cho Thái-tử, ấy là noi theo gương Y-doãn, Châu-công đó. Thân-hầu khen phải, bèn khiến người đem một xe vàng lụa mang qua nước Tây-nhung mượn quân, lại hứa rằng, nếu phá được Kiểu-kinh thì bao nhiêu vàng bạc trong kho tự ý muốn lấy bao nhiêu cũng được.

Nhung-chúa được thư, nghĩ thầm: - Thiên-tử bất chánh, Thân-hầu là vị quốc-cựu lại viết thư đến cầu cứu, ta đem quân dựng lại ngôi Thái-tử, đó là thuận lẽ trời, rất hợp với ý ta. Nghĩ rồi sai Mãng-tốc và Bột-đình, làm tả hữu tiên-phuông, điểm binh mười vạn, kéo đến Kiểu-kinh. Còn Nhung-chúa thống lãnh đạo trung quân đi sau làm hậu-vệ. Ðến nơi, Nhung-chúa đốc quân vây thành kín mít. Quân vào báo. U-vương thất-kinh nói: - Cơ bắt mật, họa tiên phát. Ta chưa kịp cất quân đi đánh mà giặc đã đến vây thành, biết làm sao bây giờ? Quách-thạch-phủ quỳ tâu: - Xin Bệ-hạ sai người đền phong-hỏa-đài đốt lửa lên, tất nhiên các chư hầu đem quân đến cứu. Chừng ấy trong đánh ra ngoài đánh vô ắt quân giặc không còn đường trốn thoát. U-Vương nghe lời, sai người đến Ly-sơn đốt lửa cháy ngất trời mà chẳng thấy binh của chư hầu nào đến cả. Chỉ thấy binh của Thân-hầu kéo đến hiệp với binh của Nhung-chúa vây thành càng chặt hơn. U-vương thấy chư-hầu không đến, binh giặc công-phá rất gấp, bèn bảo Quách-thạch-phủ: - Thế giặc mạnh yếu chưa rõ. Khanh ra đánh thử, rồi trẫm sẽ chọn binh mạnh mẽ mà tiếp ứng. Quách-thạch-phủ tuy sợ sệt nhưng phải tuân hành, dẫn binh xe hai trăm cỗ khai thành tiến ra. Trông thấy Quách-thạch-phủ, Thân-hầu chỉ vào mặt, nói với Nhung-chúa: - Ấy là đứa khi quân hại nước, đừng để nó chạy thoát. Nhung-chúa quay lại hỏi các tướng tá: - Ai dám ra bắt thằng giặc đó chăng? Bột-đình vung đao, vỗ ngựa đến thưa: - Tôi xin lấy đầu tên phản-tặc đó. Dứt lời, bay ngựa đến đánh với Quách-thạch-phủ. Ðánh chưa đặng mười hiệp Bột-đình chém Quách-thạch-phủ một đao rơi đầu. Nhung-chúa thừa thế, cùng với Mãng-tốc, đốc quân đến chém giết quân của U-vương vô số, rồi kéo vào thành, đốt phá nhà cửa lửa cháy mịt mù. Thân-hầu cũng không biết làm sao ngăn cản được hành động ấy.

Trong thành cả loạn, U-vương tính thế không xong, bèn chở Bao-tự và Bá-phục lên xe nhỏ, rồi mở cửa sau thoát ra khỏi thành. Quan Tư-đồ Trịnh-bá-hữu chạy theo kêu lớn rằng: - Xin Bệ-hạ chớ sợ, có hạ-thần theo bảo giá đây. Nói xong, đẩy xe U-vương, thẳng đến Ly-sơn. Ði dọc đường gặp Doãn-cầu, hơ-hải chạy đến tâu: - Tâu Bệ-hạ, Khuyển-nhung đốt hết cung thất, chở hết vàng bạc trong kho. Còn Quách-công đã tử trận rồi. U Vương run rẩy hối Trịnh-bá-hữu đẩy xe đi cho mau.

Khi đến Ly-sơn, Trịnh-bá-hữu lại đốt phong-hỏa-đài lên, khói bay ngất trời xanh, mà cũng không thấy chư hầu đến cứu. Chẳng bao lâu, quân Khuyển-nhung tràn tới, vây dưới chân núi đông nghẹt. U Vương và Bao-tự đều thất kinh, nhìn xuống chân núi rnà khóc ròng. Trịnh-bá-hữu tâu: - Việc đã gấp rồi, hạ thần xin liều mình bảo-giá, đưa Bệ-hạ ra khỏi vòng vây, qua bên nước tôi rồi liệu bề khôi phục. U Vương nói: - Bởi trẫm chăng nghe lời thúc-phụ nên mới đến nỗi này. Nay trẫm chỉ còn nhờ ở tay thúc-phự mà thôi. Trịnh-bá-hữu bèn khiến người nổi lửa đốt Ly-cung đi, đặng gạt Khuyển-nhung, rồi phò U-vương xông xuống núi. Trịnh-bá-hữu cầm xà mâu đi trước mở đường, Doãn-cầu phò mẹ con Bao-tự theo sau U-vương. Ði chưa đặng bao xa, gặp viên cận tướng của Khuyển-nhung là Cổ-lý-xích xốc đến đón đường. Trịnh-bá-hữu cả giận, hươi xà mâu rước đánh. Hai đàng đánh chưa đặng mười hiệp Cổ-lý-xích cự không lại bị Trịnh-bá-hữu đâm nhào xuống ngựa. Ðàng sau, binh sĩ lại ó lên, Trịnh-bá Hữu quay nhìn lại, thấy Bột-đình đem binh truy-cản. Quân Khuyển-nhung quá mạnh, Trịnh-bá-hữu chỉ có một mình không làm sao cự cho nổi, đánh đỡ một hồi, bị tên bỏ mạng! Còn xe của U-vương bị Mãng-tốc bắt lại đem nạp cho Nhung-Chúa Nhung-chúa rút đao chém U-vương và Bá-phúc. Còn Bao-tự, vì thấy xinh đẹp, nên Nhung-chúa không chém bắt về nơi trướng mà giao hoan, thù lạc. Doãn Cầu quá sợ hãi núp trong xe, bị quân Khuyển-nhung trông thấy, kéo cổ ra mà chém.

Giữa lúc đó, Thân-hầu thấy lửa dậy trong cung liền đem binh vào chữa, và thả Thân-hậu ra. Ðoạn đi tìm U-vương, song không thấy đâu cả. Bỗng thấy Nhung-chúa đem binh vào thành cười hả hê nói: - Tôi đã giết hôn quân rồi. Thân-hầu kinh ngạc, nói: - Tôi muốn đem binh vấn tội để răn vua không ngờ lại xẩy ra cơ hội nầy. Chúng ta không làm sao tránh khỏi mang tiếng về sau. Nói rồi sai người khâm liệm, làm lễ an táng U-vương. Chôn cất xong, Thân-hầu trở về Kinh sư, bài tiệc đãi đằng Nhung-chúa để tạ ơn, và lấy vàng lụa trong kho sắp lên mười xe, để làm quà tiễn hành đưa Nhung-chúa về nước. Nhưng không ngờ Nhung-chúa lấy việc giết U-vương làm công-trạng, không chịu đem binh về, cứ lần-quần nơi Kinh-thành ăn uống, chơi bời, phá-phách nhân dân. Ai nầy đều oán-trách. Thân-hầu không biết làm thế nào, túng phải làm thư sai người đem đến ba xứ chư hầu: Tấn-hầu Cơ-cừu nước Bắc-lộ, Vệ-hầu Cơ-hòa nước Ðông-lộ, và Tần-hầu Dinh-khai nước Tây-lộ. Lại sai người qua bên nước Trịnh, đem việc Trịnh-bá-hữu bị tử-trận tin cho Thái-tử Quật-đột (con của Trịnh-bá-hữu) đem quân qua báo thù. Thái-tử Quật-đột tuổi mới mười ba, mà mình cao tám thước, sức mạnh phi-thường, lại thông-minh tài trí ít người sánh kịp. Ngày kia, nghe được tin cha tử trận đau xót không cùng, liền mặc tang phúc, đem ba trăm cỗ xe trận sang Kiểu-kinh báo thù. Nhung-chúa hay tin kiểm điểm binh mã, đề phòng dự chiến. Vừa đến nơi Thái-tử Quật-đột muốn ra quân, nhưng Công-tử Thành can rằng: - Binh ta đường xa mới đến, còn mệt mỏi, nếu đánh e khó thắng. Xin cứ an-dinh hạ trại, chờ binh các nước chư-hầu kéo đến, hiệp sức công phá thì mới thành công đặng. Quật-đột nói: - Binh quý thần tốc. Nếu đợi lâu chễnh-mảng lòng quân. Vả lại, nhơn lúc binh Khuyển-nhung đang bê trể, không đánh để trả thù cha còn đợi chừng nào. Nói xong, thúc quân ra trận, đến trước cửa thành kêu Nhung-Chúa mắng rằng: - Hỡi tên giặc Mọi! Hãy đem đầu mà nạp cho ta để đền lại tội phản-phúc! Trên thành không ai ra ứng đáp. Quật-đột tức giận, truyền quân công phá. Trong lúc quân sĩ đang phá thành rất hăng, thì bỗng nghe một hồi thanh la nổi lên vang dậy nơi phía rừng rậm, rồi một đạo quân kéo ra (đó là đạo binh của Nhung-chúa sai phục sẵn ở đó). Quật-đột vội vàng xua binh đón đánh. Trong lúc hai bên đang xáp trận, trong thành lại có tiếng thanh la nổi lên, cửa thành mở rộng, trong thành xông ra một đạo binh nữa. Quật-đột bị hai đạo binh của Bột-đình và Mãng-tốc đánh ép lại một lượt, làm cho binh sĩ rối loạn bỏ chạy. Quật-đột cũng hoảng vía, giục ngựa chạy dài. Chạy đến ba mươi dặm mới dám an-dinh hạ trại. Quật-đột bị thất trận trở về than-thở với Công-tử Thành rằng: - Bởi ta không nghe lời nên mới mang thảm-bại, nay liệu làm sao? Công tử Thành đáp: - Từ đây đến Bộc-dương không xa, Vệ-hầu là người từng trải, vậy xin chúa-công hãy đến đó cầu cứu người, rồi hiệp binh tấn công một lượt mới thắng nổi. Quật-đột nghe theo khiến đẩy xe sang Bộc-dương thành.

Ði được vài ngày, bỗng thấy một đạo binh mã cờ xí rộn ràng, cầm đầu là một vị chư-hầu mặc áo gấm, buộc đai vàng, tóc xanh râu bạc, giống như một vị tiên thần giáng thế. (Người đó là Vệ-công, tên Cơ-hòa, tuổi đã chín mươi). Quật-đột mừng rỡ, dừng binh lại, kêu lớn: - Tôi là Thái-tử nước Trịnh, tên Quật-đột, bị Khuyển-nhung xâm phạm Kinh-sư, giết cha tôi, tôi đem binh vấn tội, chẳng ngờ lại bị thua, phải đến đây cầu cứu ngài. Vệ-công xuống ngựa thủ lễ và nói: - Thái-tử hãy an lòng. Tôi nguyện đem binh giúp đỡ. Vả lại tôi có nghe binh Tấn và Tần cũng sắp đến đây thì có lo chi không trừ được lũ giặc đó! Quật-đột cúi đầu cảm tại rồi hiệp binh cùng với Vệ-công kéo đến Kiểu-kinh. Ðến nơi binh hai nước chư-hầu Trịnh, Vệ hạ trại cách Kinh-thành hai mươi dặm, lại sai quân đi thám thính tin tức nước Tần và nước Tấn. Quân thám thính về báo: - Phía Tây có tiếng chiêng trống vang trại, lại có một ngọn cờ thêu chữ "Tần" rất lớn. Vệ Công nói: - Nước Tần tuy là một nước Phụ-dung (nước phụ chư-hầu, phái cống hiến và nghe theo lệnh nước chư-hầu) ít binh mã, song binh tướng rất tinh nhuệ, đã làm cho rợ Khuyển-nhung lắm phen khiếp sợ. Nói vừa dứt lời thì lại có tin báo: - Quân nước Tấn cũng đã kéo đến đóng nơi phía Bắc. Vệ Công mừng rỡ, nói: - Quân hai nước Tần, Tấn đã kéo đến thì còn lo gì đại sự chẳng thành. Bèn sai người sang mời Tần-công và Tấn-công đến hội kiến. Trong giây phút, hai vị chư hầu ấy đều đến trại Vệ-công đàm-đạo. Thấy Quật-đột mặc tang phục Tần-công và Tấn-công hỏi: - Chẳng hay người ấy là ai vậy? Vệ Công đáp: - Ðó là Thái-tử Quật-đột, con của Trịnh Bá đó. Ðoạn kể lại chuyện U-vương và Trịnh-bá-hữu bị chết. Hai vị chư hầu Tần, Tấn ngậm ngùi thương tiếc. Vệ-công nói: - Nay lão phu đã già yếu, đến đây cũng chỉ vì nhiệm-vụ thần-tử. Vậy trăm việc xin ủy thác cho hai ngài định liệu, chẳng hay hai ngài đã có kế hoạch nào chưa? Tần-công đáp: - Quân Khuyển-nhung chẳng qua tham tiền mê sắc mà tác loạn kinh-thành. Nay binh ta mới đến chắc chúng chưa kịp đề phòng. Vậy đêm nay chia quân làm ba mặt, Ðông, Nam, Bắc, mà đánh vào một lượt, còn phía Tây để cho Trịnh Thái-tử đem quân mai phục. Làm như thế ắt trọn thắng. Vệ-công khen là diệu kế. Mỗi người trở về lo việc điểm quân.

Lúc bấy giờ, Thân-hầu ở trong thành hay được có binh bốn nước đến, trong lòng mừng rỡ, lén bàn với Chu công-huyến rằng: - Bốn nước đã hiệp binh, thế nào cũng chia làm bốn đạo công phá. Vậy ta chờ họ phá thành sẽ mở cửa ra ứng tiếp. Ðoạn bàn với Nhung-chúa sai Bột-đình chở vàng bạc lụa là vệ nước để bớt vây cánh. Lại khiến Mãng-tốc kéo binh Khuyển-nhung ra ngoài thành cự địch. Nhung-chúa đâu rõ kế của Thân-hầu, ngỡ thiệt nên làm theo. Mãng-tốc kéo binh ra khỏi thành đóng trại nơi cửa phía Ðông đợi rạng ngày sẽ giao chiến, không dè qua đến canh ba, binh Vệ đến cướp trại, túng thế phái bỏ chạy. Binh ba nước ồ lên phá thành một lượt Thân-hầu vội vã mở tung bốn cửa thành cho quân ngoài tràn vào. Nhung-chúa đang ngủ say, hay được tin kinh hãi vội lên ngựa chạy ra cửa phía Tây gặp đạo binh phục của Quật-đột chận lại. Hai đàng rước đánh. Ðương khi nguy cấp xảy có đạo binh thua của Mảng-tốc kéo đến giải vây, nên Nhung-chúa mới chạy thoát được. Quật-đột không đuổi theo, kéo quân vào thành hội với các nước.

Lúc bấy giờ Bao-tự đang ngủ, giật mình thức dậy thấy Nhung-chúa bỏ chạy, lại nghe bốn mặt thành quân sĩ ó vang, muốn theo Nhung-chúa song không kịp, túng thế phải rút gươm tự vẫn. Ôi thôi! Hồng nhan một kiếp, cánh hoa sắc nước hương trời mới dựa hơi đông-phong đã phải dập vùi dưới làn mưa bão, không kẻ xót thương.

Người sau có bài thơ trách Bao-tự như sau:

Một kiếp hồng-nhan một nụ cười! Phong-đài khói tỏa chửa mờ phai. Nụ cười còn mãi rung trong gió, Nhung-khuyển, U-vương ai hỡi ai!

Ngày ấy Thân-hầu đặt tiệc khoản-đãi. Trong lúc đang ăn-uống Vệ-công buồn bã buông đũa nói: - Nước biến, vua mất, chúng ta còn vui sướng gì mà ngồi ăn uống? Các chư-hầu nghe nói đều đứng dậy vòng tay thưa rằng: - Chẳng hay hiền hầu có điều chi dạy bảo chăng? Vệ Công nói: - Nước không thể để một ngày không có vua. Nay Thái-tử còn ở bên nước Thân vậy phải rước về mà tôn lên Thiên-tử. Tần tương-công nói: - Hiền-hầu nói rất phải, chúng ta nỡ nào ăn uống vui vầy mà quên nhiệm vụ trọng đại đó sao! Quật-đột nói: - Tôi chưa có công cán chi, xin nguyện qua nước Thân rước Thái-tử cho. Vệ-công cả mừng, rót rượu khuyên mời rồi lập tức viết biểu chương và sửa sang xe giá đi đón Thái-tử. Các chư-hầu đều xin đem quân theo hộ tống. Quật-đột nói: - Việc nầy không phải là việc đi đánh giặc, chẳng cần phải nhiều quân. Chỉ một đạo quân của tôi đây cũng đủ rồi. Hôm sau, Quật-đột lên đường sang nước Thân.

Lúc bấy giờ Thái-tử Nghi-cựu đang ở nước Thân, ngày ngày buồn bực, không biết Thân-hầu ra đi đã lâu lành dữ thế nào, xảy có quân vào báo rằng: - Trịnh Thái-tử đem biểu-chương đến rước Thái-tử về Kiểu-kinh. Thái-tử Nghi-cựu nghe nói, lật đật ra rước vào, giở biểu ra xem mới hay U-vương đã thác về tay Khuyển-nhung, liền khóc òa. Quật-đột tâu: - Xin Thái-tử lấy giang sơn, xã tắc làm trọng, trở về tức vị cho an lòng dân. Thái-tử nói: - Nay ta đã mang danh bất-hiếu với thiên hạ, lẽ ra không nên trở về trị nước, nhưng chẳng lẽ không nể lời các trấn chư hầu. Nói rồi bèn sửa soạn lên xe trở về Kinh. Về đến nơi, thấy các trấn chư hầu đã dẫn binh ra cách thành ba mươi dặm đón tiếp. Thái-tử vào thành, thấy cung điện hoang-tàn sập đổ, lòng bùi-ngùi ứa lệ, rồi phụng-mệnh Thân-hầu làm lễ cáo miếu mà lên ngôi, xưng hiệu Châu-Bình-vương. Các chư-hầu và bá-quan triều bái tung hô. Bình-vương cầm tay Thân-hầu phán rằng: - Trẫm là người đã bị phế, mà còn đặng hưởng nghiệp tổ tông như vầy cũng là nhờ ở Quốc-cựu. Nói xong, bèn phong chức Thân-hầu làm Thân-công. Thân-hầu tâu: - Tâu Bệ-hạ, Kiểu-kinh không mất là nhờ có quân các chư-hầu kéo về giải tỏa. Hạ thần đã không ngăn cản nổi Khuyển-nhung để làm hại Tiên-vương thì thật là đắc tội. Nói rồi từ chối không nhận. Bình-vương lại gia phong cho các trấn chư-hầu và phong hàm-ân cho Trịnh-bá-hữu rồi yết bản phủ-dụ nhân-dân. Ngày thứ, vua Bình-vương lưu Vệ-công làm Tư-đồ, Quật-đột làm Khanh-sĩ tại triều, Chu-công-huyền làm Thái-tử cùng coi việc nước. Riêng Thân-hầu và Tần-tương-công vì đất nước giáp ranh với Khuyển-nhung nên phải cáo từ ra về. Thân-hầu thấy Quật-đột tướng mạo khôi ngô, thông minh xuất-chúng, bèn đem con gái mình là Khương-thị gả cho Quật-đột.

Nhắc qua Nhung-chúa, từ ngày kéo quân vào Kiểu-kinh đã thuộc đường thuộc nào, tuy bị các chư-hầu đánh bại song quân sĩ còn đông, lại nghĩ đến công lao khó nhọc mà không được hưởng gì, thì giận lắm, xua quân vào đánh phá chiếm một nữa đất Kỳ-phong làm chỗ trú quân để xâm lấn Kiểu-kinh. Bình-vương thấy đất Kiểu-kinh trong mấy tháng giặc giả tàn-phá, cung thất bị hư, phong-cảnh tiêu-điều, có ý muốn dời đô sang Lạc-ấp, bèn triệu các quan hỏi ý-kiến. Các quan cùng tâu: - Lạc-ấp là nơi trung-tâm của thiên-hạ, nên trước đây Tiên-vương đã ra công sửa sang rất vững chắc, gọi là Ðông-đô. Năm nào ở đó cũng có hội chư-hầu. Nay nếu Bệ-hạ muốn dời đô sang đó thì tiện lắm. Vệ Công nghe các quan tâu, thở dài, rồi cúi đầu tâu: - Tâu Bệ-hạ, hạ-thần đã hơn chín mươi tuổi, được Bệ-hạ tưởng tình cho dự vào quốc-sự, nay nếu các quan luận như vậy mà hạ thần không nói e mang tội bất trung. Vả chăng Kiểu-kinh là nơi lập nghiệp đế, bốn bề núi sông hiểm-trở, còn Ðông-đô tuy là giữa úm nước, nhưng trống trải, không làm sao tránh nổi mũi giặc. Bình-vương nói: - Trẫm cũng biết Kiểu-kinh là nơi Tiền-vương lập nghiệp, lẽ ra phải gìn giữ không nên bỏ phế, song hiện nay Khuyển-nhung cướp lấn nơi Kỳ-phong, thế rất hung-hăng. Trong cung, các kho tàng bị cháy, nếu sửa sang e tốn công của muôn dân. Cực chẳng đã trẫm mới dời đô qua đó mà thôi. Vệ-công tâu: - Khuyển-nhung là lũ sài-lang chẳng nên cho nó vào nước. Bởi Thân-hầu tính liều, mượn binh của nó chẳng khác nào mở cửa rước kẻ cướp vào, cho nên cung-thất phải tan, Tiên-vương bị hại. Nay Bệ-hạ nên coi đó là một mối thù, quyết lòng rửa hận, bắt Khuyển-nhung mổ mật đem tế nơi Thái-miếu để làm gương. Nếu Bệ-hạ tránh kẻ thù thì kẻ thù sẽ tìm Bệ-hạ mà tới. Thuở trước Ngu Thuấn làm vua ở nhà tranh thềm đất, vua Ðại-võ ở cung thấp hẹp mà không tưởng là xấu, xin Bệ-hạ xét lại. Chu-công-huyến quỳ tâu: - Tâu Bệ-hạ, lời luận của quan Tư-đồ không đúng với quyền biến. Trước kia Tiên-vương bỏ việc quốc-chính, làm rối đạo cang-thường mà sanh giặc. Việc ấy đã lỡ rồi không phải nói làm chi. Nay Bệ-hạ muộn bỏ hết những cái gì xấu xa lúc trước, làm cho mọi người ai cũng thấy rằng Bệ-hạ là tượng trưng cho một sự kiến-quốc mới mẻ, thế thì việc dời đô rất có ảnh-hưởng tốt trong lòng bá tánh. Vệ Công lắc đầu, tâu: - Tâu Bệ. Hạ, thắng giặc phải căn cứ ở lòng người, mà còn hãy dựa trên sức mạnh, nghĩa là phải giữ được những chỗ hiểm yếu. Nay Thân-hầu đem Khuyển-nhung vào nước đặng thì cũng có thể dẹp nó đặng. Xin Bệ-hạ sai sứ hỏi người xem có kế nào hay chăng? Lúc đang thương nghị, bỗng có tin Thân-hầu sai người đem văn biểu đến. Bình-vương mở ra xem, thấy trong văn biểu viết như sau: Giặc Khuyển-nhung đem quân xâm lấn nước Thân, xin Bệ-hạ nghĩ tình đem binh cứu ứng, kẻo nước Thân khó bề giữ nổi.

Xem biểu xong, Bình-vương nói: - Thân-hầu lo phận mình chưa xong, làm sao lo việc trẫm. Thôi, ý trẫm đã quyết các khanh khá tuân lời Ðoạn truyền quan Thái-sư chọn ngày dời đô. Vệ Công tâu: - Nay vì tránh giặc mà Bệ-hạ dời đô, e lòng dân không tránh khỏi ly-tán. Vậy xin Bệ-hạ cho phép hạ-thần đăng bảng cho nhân dân hay đã. Vua nhậm lời. Vệ-công bèn đăng bảng truyền-dụ dân chúng ai-muốn theo qua Ðông-đô thì sắm sửa mà đi. Kế đó quan Chúc-sử làm văn biểu cáo với nhà Thái-miếu, rồi quan Lễ-bộ phò thần chủ bảy miếu lên xe đi trước. Tần-tương-công nghe tin vua thiên-đô liền thân hành đem quân hộ giá. Dân gian già trẻ dìu đắt nhau theo vua chẳng biết bao nhiêu.
 
34,907 ❤︎ Bài viết: 2241 Tìm chủ đề
Hồi 4: Tần-văn mộng thấy con trời, Trịnh-chúa nhìn thương mẹ dưới hầm

Khi Bình-vương đến Lạc-dương thấy phong cảnh tốt tươi, dân cư trù mật không kém gì Kiểu-kinh, trong lòng mừng rỡ. Kinh-đô định xong, cả chư hầu đều dâng biểu chúc mừng, duy chỉ có nước Sở chẳng thấy đến. Bình-vương nổi giận muốn khởi binh vấn tội. Quần thần can rằng: - Nước Sở chẳng tuân vương-hóa đã lâu, xưa Tuyên-vương phải lắm phen chinh phục. Từ đó cứ hàng năm đem cống hiến một xe thanh-mao để dùng đặt rượu mà tế tự. Lệ ấy cũng chỉ cho có chừng đó thôi. Nay Bệ-hạ mới dời đô, lòng người chưa định, nếu đem binh chinh phạt e khó thắng. Xin Bệ-hạ chờ cho binh hùng tướng mạnh sẽ tính đến việc đó cũng chẳng muộn chi. Bình-vương nghe nói cũng đổi giận làm vui, không tính việc chinh Nam nữa. Kế đó Tần-vương-công cáo từ về nước. Bình-vương nói: - Nay đất Kỳ-phong bị giặc Khuyển-nhung chiếm giữ, quấy rối dân lành. Nếu nhà ngươi đánh đuổi được thì ta cho đất ấy để đền đáp lại công hộ giá thiên đô.

Tần tương công bái mạng lui về, sắm sửa binh mã lo kế đánh đẹp Khuyển-nhung. Chẳng bao lâu, giặc Khuyển-nhung bị giết sạch, tướng Khuyên Nhung là Bột-đình và Mãng-tốc đều tử-trận, còn Nhung-chúa trốn ra giãi đất hoang nơi phía Tây mà tạm trú. Ðất Kỳ-phong sát nhập vào nước Tần, rộng rãi hơn ngàn dặm. Từ ấy nước Tần trở nên đại-quốc. Thu nhận đất Kỳ-phong chẳng bao lâu thì Tần tương-công mất, con là Tần văn-công lên kế vị.

Một hôm, Văn-công nằm mộng, thấy một con trăn lớn, từ trên trời sa xuống, trong giây phút lại hóa ra một đứa bé kêu Văn công nói: - Ta là con trời sai xuống báo cho nhà ngươi được biết: Nhà ngươi sẽ làm Bạch-đế giữ nghiệp nơi phía Tây. Nói rồi biến mất. Văn-công đem việc ấy hỏi Thái-sử Ðôn. Quan Thái-sử tâu: - Sắc bạch là sắc của phía Tây. Ấy là điềm trời cho Chúa-công làm chủ khắp phương Tây đó. Vậy phải tạ ơn trời đất.

Văn-công bèn lập miễu nơi Phu-ấp mà thờ, lại giết con trâu trắng để tế. Kế đó, có người ở xứ Trần-thương săn được một con thú, hình thù giống heo, nhưng lông cứng mà nhọn, đánh không chết. Họ không biết con gì, bèn đem dâng cho Văn-công. Nhưng, khi đi đến nữa đường thì gặp hai đứa trẻ chỉ con vật ấy nói: Con thú nầy tên con Vị, thường ở dưới đất, hay ăn óc người chết. Hễ đánh nhắm óc nó thì nó chết. Con vật liền đáp rằng: - Hai đứa con nít nầy là Trĩ-tinh hiện lên. Hễ bắt đặng con trống thì làm Vương, bặt đặng con mái thì làm Bá. Hai đứa trẻ nghe con vật nói, liền biến mất. Con thú cũng biến theo. Người đi săn kinh hãi, lật đật báo cho Văn-công hay. Văn-Công liền lập miễu nơi núi Trần-thương để thờ Trĩ-tinh.

Thuở ấy tại núi Chung-nam có cây Tử lớn, Văn-công muốn đốn về xây cất cung-điện, nhưng cưa không đứt, búa chặt không vô. Ai nấy lấy làm lạ. Một đêm kia, có người nằm ngủ dưới gốc cây nghe một bầy quỷ đến chúc mừng cây ấy. Lại có tiếng hỏi: - Nếu Tần-vương khiến người bỏ tóc xõa, và lấy chỉ đỏ quấn xung quanh thân cây thì liệu làm sao?

Sáng hôm sau người ấy đem câu chuyện báo lại cùng Văn công. Văn-công khiến người làm y như vậy. Quả thật, thân cây bị cưa ngã. Nhưng cây vừa ngã xuống thì một con trâu xanh ở trong thân xông xa, chạy thẳng xuống sông Ung-thủy. Từ đó, dân chúng thỉnh thoảng lại thấy trâu xanh hiện lên. Văn-công sai kỵ-sĩ đón đánh nhưng trâu xanh quá mạnh, không làm sao đánh nổi. Kỵ-sĩ bèn bỏ tóc xõa mà đánh, trâu xanh mới chịu chạy xuống nước. Văn-công bèn chế ra cờ ngũ-sắc để nơi quan-trung, lại lập miễu mà tế vị thần trâu ấy.

Lúc bấy giờ, vua Huệ-công nước Lỗ nghe nước Tần tế-lễ trời, bèn sai Thái-tế Nhượng đến xin vua Bình-vương cho phép mình được tế giao và tế lễ. Bình-vương không cho. Huệ-công nói: - Tổ ta là Châu-công, có công lớn với nhà vua, vả lại lễ nhạc do tổ ta bày chế, nay con cháu dùng thì có hại chi. Hơn nữa, Thiên-tử đã không cấm nước Tần sao lại cấm nước Lỗ Bèn không kể đến mạng vua, cứ tế giao, tế lễ như nhà vua vậy.

Vua Bình-vương biết việc ấy nhưng không dám nói. Từ đấy nhà Châu ngày một suy yếu. Các nước chư-hầu chuyên quyền, xâm bờ lấn bờ cõi nhau, gây rối rắm trong khắp thiên-hạ.

Nói về Trịnh Thế-tử là Quật-đột, từ khi cha chết, lên kế-vị, tự xưng hiệu là Trịnh võ-công. Nhân khi nhà Châu suy-yếu, chiếm cả đất Quốc và đất Khoái, làm thành một nước lớn. Trịnh-võ-công và Vệ võ-công đều kiêm chức khanh-sỉ tại triều nhà Châu. Qua năm Bình vương thứ mười ba, Vệ võ-công thất-lộc, còn một mình Trịnh võ-công bình-chánh, lúc thì về nước Trịnh, lúc lại ở nơi triều Châu. Vợ Trịnh võ-công là Khương-thị sanh đang hai trai, con lớn đặt tên Ngộ-sanh, con thứ đặt tên là Ðoạn. Ngộ sanh vì lúc nhỏ bị đẻ ngược nên Khương-thị không ưa, còn Ðoạn thì hình dung tuấn-tú mặt mũi khôi-ngô, lại có sức khỏe lạ thường, nên được Khương-thị yêu-mến lắm. Một hôm, Khương-thị ngỏ ý với chồng: - Nếu Ðoạn mà được nối ngôi Chúa-công sau nầy thì hơn Ngộ-sanh gấp bội. Trịnh võ-công nói ; - Lớn nhỏ đều có thứ bậc, chẳng nên xáo trộn luân thường. Vả chăng Ngộ-sanh có lầm lỗi gì mà lại bỏ chánh lập thứ? Bèn phong Ngộ-sanh làm Thế-tử, còn Ðoạn thì phong một chỗ nhỏ ở Cung-thành nên gọi là Cung thúc-đoạn. Việc ấy làm cho Khương-thị không vui.

Sau đó, Võ-công qua đời Ngộ-sanh lên tức vị, xưng hiệu là Trịnh trang-công, rồi cũng thế chức cha mà làm Khanh-sĩ nơi triều nhà Châu. Khương-thị phu-nhân thấy Cung-thúc-đoạn chẳng có quyền chi, lòng buồn bã, nói với Trịnh trang-công: - Con nối nghiệp cha, làm chủ nước Trịnh, đất rộng mấy trăm dặm ngoài mà lại để cho em một chỗ đất nhỏ mọn vậy mà đành lòng sao? Trang công thưa: - Ý mẫu-hậu dạy thế nào, xin cho con biết. Khương-thị phu-nhân nói: - Nếu quả con thương tình ruột thịt thì việc gì mà không lấy đất Chế-ấp phong cho em. Trang-công thưa: - Chế-ấp là nơi hiểm-địa, Tiên-vương đã có lời di-chúc, không nên đem phong cho ai, trừ chỗ ấy ra mẫu-hậu muốn chỗ nào con cũng xin vâng lời. Khương-thị phu nhân nói: - Nếu vậy thì phong cho Ðoạn đất Kinh-thành. Trang-công làm thinh, không nói: - Nếu không bằng lòng thì tốt hơn con nên đuổi em con ra khỏi nước để kiếm cách dung-thân. Trang-công bùi-ngùi, nhìn mẹ nói: - Thưa mẫu-hậu, con đâu dám làm thế. Ngày hôm sau Trịnh trang-công cho đòi Cung-thúc vào triều phong đất Kinh-thành. Quan Ðại-phu Tề-Túc can rằng: - Tâu Chúa-công, Kinh-thành đất rộng dân đông chẳng kém gì Vinh-dương, nếu phong cho Cung-thúc-đoạn ắt sanh hậu hoạn! Trịnh trang-công nói: - Lịnh của mẹ ta, lẽ nào ta dám cãi. Bèn phong cho Cung-thúc nước Kinh-thành. Cung-thức bái lĩnh rồi lui ra, vào cung từ biệt Khương-thị. Khương-thị đuổi hết kẻ tả hữu ra, rồi nói nhỏ với Cung-thúc: - Anh con không nghĩ tình cốt nhục bạc đãi con đã lâu. Hôm nay sở-dĩ con được phong đất Kinh-thành là nhờ có mẹ nài nỉ lắm mới được. Nay con đến Kinh-thành phải thao luyện binh mã dự bị cho sẵn, lúc nào có cơ-hội, mẹ sẽ tin con hay, kéo binh về mà lấy Trịnh. Mẹ làm nội-ứng thì cái ngôi của Ngộ-sanh sẽ về tay con không khó!

Cung-thúc lãnh mạng, từ tạ qua Kinh-thành. Từ ấy người ta gọi Ðoạn là Thái-thúc Kinh-thành Thái-thúc lại đòi hai quan Tể, trần ở hai vùng Tây bỉ và Bắc bi đến dụ rằng: - Ðất của hai ngươi chưởng-quản, nay đã thuộc về đất phong của ta rồi, vậy từ nay thuế-vụ phải đem đến đây mà nạp, còn việc binh tình phải nghe lệnh ta điều khiển. Hai quan Tế thầy Thái-thúc là con cưng của Quốc-mẫu, nên không dám cãi lịnh. Thái-thức lại thường giả cách đi săn để luyện tập binh-sĩ, gồm thâu cả binh của Tây bỉ và Bắc bỉ, rồi lại cướp luôn cả đất Yên và đất Lâm-giêng. Quan Tể hai xứ nầy thấy rõ hành động bội phản, lén về triều tâu cùng Trịnh-trang-công hay. Trịnh-trang-công nghe tâu, mỉm cười, làm thinh không nói gì cả. Bỗng có người bước ra, nói lớn: - Tâu Chúa-công, tội của Ðoạn đáng chém đầu, sao Chúa-công nỡ ngồi yên? Trịnh-trang-công xem lại, người vừa nói đó là Công-tử Lữ, liệu là Tử-phong, làm chức Thượng-khanh, bèn hỏi rằng: - Khanh có ý kiến gì hay chăng? Công-tử Lữ tâu: - Thái-thúc-đoạn ỷ trong có quốc-mẫu yêu vì, ngoài cậy có đất Kinh-thành là nơi hiểm-yếu, luyện tập binh mã, mưu chiếm đoạt nước Trịnh. Xin Chúa-công cho tôi đem quân đến đó bắt Ðoạn đem về trị tội. Trịnh-trang-công suy nghĩ một lúc, rồi nói: - Thái-thúc tuy vô-đạo, song tội lỗi chưa rõ rệt. Nếu giết nó không khỏi đau lòng mẹ ta. Hơn nữa, trong tình ruột thịt, ta sẽ bị người ngoài dị nghị là bất nghĩa, bất hiếu. Công-tử Lữ cúi đầu tâu: - Tâu Chúa-công, nếu trọng tình ruột thịt mà không quyết đoán được quốc-sự e không tránh khỏi tai họa. Trịnh-trang-công nói: - Nếu Thái-thúc cố-ý bội phản, thì thế nào mỗi ngày sẽ mỗi lộng hành thêm. Chừng ấy tội lỗi đã rõ ràng nếu trừng trị cách nào mẹ ta cũng không nói gì đặng. Công-tử Lữ bùi ngùi, tâu: - Kiến thức của Chúa-công rất xa, tôi không thế nào sánh kịp. Song chỉ e thế lực của Thái-thúc mỗi ngày một to khó mà trừ được. Trịnh-trang-công hỏi: - Thế thì bây giờ phải làm thế nào để mẹ ta khỏi oán trách ta là vô đạo Công-tử Lữ tâu ; - Ðã lâu Chúa-công không vào triều nhà Châu ấy bởi Chúa-công lo việc Thái-thúc. Nay phải giả cách vào chầu vua Châu để cho Thái-Thúc tưởng Kinh-đô bỏ vắng, tất đem binh đến đây chiếm đoạt. Tôi xin đem quân phục sẳn ở đất Kinh-thành, đợi Thái-Thúc cử quân đi, lén vào chiếm giữ. Còn Chúa-công cũng đem một đạo quân theo đường tắt mà đánh ập lại, thì Thái-thúc dù có cánh bay lên trời cũng không trốn thoát. Trịnh-trang-công nói: - Kế ấy rất hay, song chớ nên tiết lậu ra ngoài. Công-tử Lữ bái tạ lui ra.

Ngày thứ Trịnh-trang-công thăng điện, nói dối rằng mình bận sang chầu vua Châu, giao việc triều chính cho Tề-Túc. Khương-thị hay đặng tin ấy cả mừng, viết mật thư sai người tâm-phúc đem đến Kinh-thành trao cho Thái-thúc. Trong thư ước hẹn nội trong sơ tuần tháng năm phải hưng binh về lấy nước Trịnh. Lúc đó vào hạ tuần tháng tư, Công-tử Lữ đã sai người phục nơi yếu lộ, nên bắt được người đem thư ấy. Công-tử Lữ bèn giết quách, rồi mang thư đem về dâng cho Trịnh-trang-công. Trịnh-trang-công rất đau lòng, nhưng không thể vì tình máu mủ mà dung kẻ phản nghịch, bèn phong bức thư ấy lại như cũ, rồi sai người tâm phúc của mình đem đến Kinh-thành giao cho Thái-thúc. Ðược thư, Thái-thúc phúc đáp hẹn ngày mồng năm tháng năm động binh và dặn Khương-thị đến ngày đó phải dựng một cây bạch kỳ trong thành để biết chỗ tiếp-ứng. Trịnh-trang-công xem thư phúc-đáp, nghĩ thầm: - Thế nầy thì mẹ đừng trách con là vô đạo. Ðoạn vào từ biệt Khương-thị, dối rằng mình đi qua Châu, rồi kéo binh ra khỏi thành đến đóng nơi Lâm-giêng. Công-tử Lữ cũng lén đem hai trăm cỗ xe chiến qua phục gần Kinh-thành.

Thúc-đoạn, từ khi tiếp được thư đó liền sai con là Công-tôn-hoạt qua nước Vệ mượn binh, rồi lấy cớ trở về Kinh-đô để coi việc quốc chính, mà kéo quân ra đi. Công-tử Lữ sai người thám thính, hay tin Thúc-đoạn đi rồi bèn kéo quân vào thành, nồi lửa lên làm hiệu, chiêu tập bá tánh kể rõ tội mưu-phản của Thúc-đoạn. Do đó cả thành bá tánh đều oán ghét Thúc-đoạn vô cùng. Còn Thúc-đoạn kéo quân ra đi chưa đầy nữa buổi, thấy Kinh-thành lửa bốc nghịt trời, biết là có biến, vội đem quân trở về cứu viện. Về đến nơi, thầy Kinh-thành bị chiếm, lòng đầy căm tức, xua quân vây thành công phá. Chẳng ngờ, Trịnh-trang-công lại kéo quân đến đánh, làm cho Thúc-đoạn không biết đường nào mà chạy, túng thế phải kéo binh đến đất Cung là chỗ được phong trước kia để cố-thủ. Trịnh-trang-công dẫn binh đến phá thành. Cung thành chỉ là một ấp nhỏ, làm sao cự lại binh triều, chẳng bao lâu thành bị phá. Thúc-đoạn thấy thế đã cùng, ngữa mặt lên trời than rằng: - Mẹ ta đã gạt ta, ta còn mặt mũi nào thấy anh ta nữa. Nói rồi rút gươm tự vận. Trịnh-trang-công vào thành ôm thây Thúc-đoạn khóc rống lên một hồi, nói: - Bởi em làm lếu nên tình huynh đệ phải chia lìa. Nói rồi lục trong mình Thúc-đoạn thấy phong thư của Khương-thị gởi hãy còn, bèn lấy gói chung với bức thư trả lời của Thúc-đoạn, rồi sai người đem về kinh-đô giao cho Tề-túc trình lại cho Khương-thị. Trịnh-trang-công lại còn ra lệnh đưa Khương-thị sang đất Dĩnh mà tá túc, và thề rằng: - Nếu không phải chốn cửu tuyền chẳng bao giờ còn thấy mặt nhau nữa.

Phong thư về đến kinh-đô, Khương-thị mở ra xem, lòng thẹn thùng khôn xiết, liệu mình chẳng còn mặt mũi nào thấy mặt Trịnh-trang-công nữa, bèn lìa khỏi cung môn, ra nơi đất Dĩnh. Trịnh-trang-công trở về cung, không thấy mẹ, lòng buồn bã nghĩ thầm: - Ta đã ép lòng mà để em chết, nay còn nỡ nào lìa mẹ sao đành! Nhưng đã trót lời thề, biết liệu sao!

Quan trấn Dĩnh-ấp là Dĩnh-khảo-thúc là một người chí-hiếu, nghe tin Trịnh-trang-công đem mẹ đi an trí, lòng bất mãn, nói với người rằng: - Dù mẹ có tội lỗi đến đâu, con cũng không nên bất hiếu. Chúa-công làm như thế thật là trái đạo! Bèn nghĩ ra một kế, bắt mấy con chim cú đem vào dâng cho Trịnh-trang-công. Trịnh-trang-công hỏi là chim gì? Khảo-thúc tâu: - Tâu Chúa-công, đây là giống chim cú. Giống chim nầy ban ngày dẫu một vật lớn như trái núi vẫn không trông thấy, còn ban đêm dầu vật nhỏ bằng sợi tóc cũng thấy rõ. Thật là một giống vật chỉ thấy được sự nhỏ mà không thấy được sự lớn. Hơn nữa, lúc còn nhỏ chim mẹ kiếm mồi cho ăn, lúc lớn lên nó không biết gì đến chim mẹ nữa, tlật là giống chim bất hiếu, nên bắt nó mà ăn thịt. Trịnh-trang-công nghe nói, ngồi lặng thinh. Chợt lúc đó có người đem thịt dê lại dâng cho vua nhắm rượu. Trịnh-trang-công cắt một miếng ban cho Khảo-thúc. Khảo-thúc liền chọn những nơi ngon cắt gói lại một gói, cất vào túi áo. Trịnh-trang-công lấy làm lạ hỏi: - Khanh để dành chi vậy? Khảo-thúc tâu: - Tâu Chúa-công, mẹ tôi đã già mà trong nhà lại nghèo khó, ít bao giờ được ăn miếng ngon vật lạ. Nay được Chúa công ban thưởng, nếu không dành cho mẹ tôi thì tôi không làm sao yên lòng được. Trịnh-trang-công nói: - Ngươi thật là một người con chí hiếu. Tiếc rằng trẫm không thể bằng ngươi được. Khảo-thúc giả bộ ngơ ngác, hỏi: - Quốc-mẫu vẫn được mạnh giỏi cớ sao Chúa-công lại tỏ ý buồn bã? Trịnh-trang-công đem câu chuyện Thúc-đoạn bội phản, và đày Khương-thị ra đất Dĩnh, nay hối hận, nhưng mắc phải lời thề không làm sao trông thấy mặt mẹ. Khảo-thúc nghe xong, buồn bả tâu: - Thúc-đoạn đã mất, tình cốt nhục chia lìa, nay chỉ còn Quốc-mẫu mà Chúa-công lại bộ bể phụng dưỡng e lỗi đạo làm con Nếu Bệ-hạ đã lỡ lời thề, tôi xin dâng kế, có thể trông thấy mặt mẹ mà khỏi phạm lời thề đó. Trịnh-trang-công mừng rỡ hỏi: - Người có kế gì hãy giúp trẫm. Khảo-thúc tâu: - Chúa-công truyền đào đất đến tận thạch, rồi làm một cái nhà dưới hầm mà rước Quồc-mẫu đến đó. Chúa-công coi như đó là chốn suối vàng. Hai mẹ con sẽ cởi mở được nỗi lòng nhớ nhung trắc tị mà không trái lời thề. Trịnh-trang-công y tâu, bèn sai Khảo-thúc đem năm trăm tráng dân khoẻ mạnh đến Khúc-vĩ; đào một cái hầm, dưới núi Ngưu-tì, sâu hơn sáu mươi trượng, làm một ngôi nhà gác trên mặt suối và đặt thang dài. Khảo-thúc bái mạng, trước tiên trở về đất Dĩnh yết kiến Khương-thị, nói rõ lòng hối hận của Trịnh-trang-công, muốn rước Quốc-mẫu về phụng-dưỡng, sau đó, mới đến Ngưu-tì lo việc đào suối.

Chẳng bao lâu công việc hoàn thành. Khảo-thúc liền đưa Khương-thị đến Ngưu-tì và viết biểu dâng cho Trịnh-trang-công hay. Trịnh-trang-công đến nơi thấy mẹ, vội sụp lạy, nói: - Ngộ-sanh nầy bất hiếu, xin mẫu-hậu dung tha. Khương-thị buồn vui lẫn lộn, ứa nước mắt, nói: - Ðó là lỗi của mẹ con đâu có tội gì. Nói xong, đỡ Trịnh-trang-công dậy. Hai mẹ con ôm nhau khóc sướt mướt. Trịnh-trang-công cõng mẹ lên thang rồi đưa về cung. Người nước Trịnh trông thấy, ai nay chấp tay lên trán, khen vua là người chí hiếu. Ấy cũng nhờ có Dĩnh Khảo-thúc mà mẹ con Trịnh trang-công mới đoàn tụ được. Trịnh-trang-công cảm ơn Khảo-thúc, phong cho Khảo-thúc làm đến chức Ðại-phu, hợp với Công-tôn-yết mà chưởng-quản việc binh quyền.

Về sau Phan tiên-sinh có thơ khen Khảo-thúc như vầy:

Lời thề đã lở giữa muôn dân, Lỗi đạo đành cam với mẫu thân Ví chẳng mưu cao người Khảo-thúc Trang-công đâu dễ vẹn nhân luân.
 
34,907 ❤︎ Bài viết: 2241 Tìm chủ đề
Hồi 5: Châu, Trịnh hai nước gởi con tin, Lỗ, Tống một lòng đi chinh phạt

Nhắc lại con trai Thúc-đoạn là Công-tôn-hoạt đi viện binh nước Vệ về đến nữa đường, hay được tin cha mình bị giết, bèn trở lại nước Vệ khóc với Huệ-hoàn-công, tỏ bày việc Trịnh-trang-công giết em, đày mẹ. Vệ-hoàn-công nghe nói cả giận, trách Trịnh-trang-công là vô-đạo bèn hưng binh đánh nước Trịnh. Trịnh-trang-công hay được tin bèn hội quần thần mà thương nghị. Công-tử Lữ tâu: - Nhổ cỏ không tận rễ, thường bị nảy chồi. Công-tôn Hoạt đã trốn thoát lại còn đem binh nước Vệ về đánh ấy là vì Vệ-Hầu không rõ hành vi của Thúc-đoạn, nên mới giúp Công-tôn Hoạt đó. Xin Chúa-công viết thư gởi cho Vệ-hầu kể rõ cớ sự, ắt Vệ-hầu phải kéo binh về. Trịnh trang-công khen phải, vội viết thư sai sứ đem qua nước Vệ.

Tiếp được thư, Vệ-hoàn-công mở ra xem. Thư rằng: Ngộ-sanh kính dâng Vệ-hiền hầu nhã giám. Nhà tôi bất hạnh, anh em sát hại lẫn nhau, thật lấy làm xấu hổ với lân quốc. Nhưng xét kỷ, em tôi là đoạn đã lợi dụng lòng hiếu hữu của tôi mà sanh điều phản phúc. Tôi vì sự nghiệp tiền-nhân, buộc lòng phải chịu cảnh cốt nhục tương tàn. Mẹ tôi vì quá thương Ðoạn, nên phải tránh ra Dĩnh-ấp, nay tôi đã cho người rước về phụng-dưỡng, lẽ ra Công-tôn Hoạt phải biết tội cha, đem mình sửa lỗi, lại chạy sang quý quốc viện binh mà phản-loạn. Hiền-hầu không tỏ nên giúp kẻ tôi loàn. Xét mình chẳng có tội chi, xin Hiền-hầu chớ nghe lời Công-tôn Hoạt khiến hai nước bất hòa, sanh việc binh đao, thì thật tôi lấy làm may-mắn!

Vệ-hoàn-công xem thư xong, giật mình nói: - Thúc-đoạn bất nghĩa, gây nên tai họa. Nay ta lại nghe lời giúp Công-tôn Hoạt hóa ra ta giúp kẻ nghịch sao! Nói rồi lập tức sai người đi rút quân về.

Nhưng lúc đó Công-tôn Hoạt đã đánh chiếm được đất Lâm-giêng. Trịnh trang-công nổi giận khiên Cao-Cừ-Di đem ba vạn binh rồng đến đánh. Công-tôn Hoạt cô thế lại phải chạy trở lại nước Vệ. Công-tử Lữ thừa thắng đuổi theo đến tận biên-giới nước Vệ. Vệ-hoàn-công thấy thế đem lòng lo lắng, bèn họp quần thần lại thương nghị. Công-tử Chu-hu bàn rằng: - Nước tràn thì lấy đất ngăn, giặc đến thì lầy quân chống, xưa nay đã vậy, lựa phải bàn bạc làm chi? Quan Ðại-phu Thạch-thác tâu: - Tâu Chúa-công. Sỡ-dĩ quân Trịnh đến đây là vì ta giúp cho Công-tôn Hoạt đánh Trịnh. Nay Chúa-công không có ý giúp Công-tôn Hoạt nữa thì chỉ cần biên thư phúc đáp mà xin lỗi, quân Trịnh ắt rút về.

Vệ hoàn-công khen phải, khiến Thạch-thác viết thư gởi cho Trịnh trang-công. Thư rằng: Hoàn-công nước Vệ, xin phúc đáp Trịnh Hiền-hầu nhã giám. Tôi quá nghe lời Công-tôn Hoạt, ngỡ Hiền-hầu vô đạo, giết em, giam mẹ nên mới cất quân giúp Hoạt. Nay được rõ tội ác của Thúc-đoạn lòng hối-hận vô cùng, tôi đã rút quân về nước. Nếu Hiền-hầu rộng xét, tôi xin bắt Công-tôn-Hoạt đưa về Trịnh để hai nước được giao hảo như xưa.

Thư xong, sai người đem đến dâng cho Trịnh trang-công.. Trịnh trang-công đọc thơ mừng rỡ, nói: - Vệ-hầu đã biết lỗi ta chớ nên sanh-sự nữa. Bèn sai người ra biên-ải, bảo Công-tử Lữ rút binh về. Khương-thị nghe tin, sợ Trịnh trang-công giết Công-tôn-Hoạt, bèn đến năn-nỉ với Trịnh trang-công tha-tội cho Hoạt. Trang-công nễ lời mẹ, và thấy Hoạt bị cô thế, không làm gì nổi nữa, nên viết thư cho phép Công-tôn-Hoạt ở ngay bên nước Vệ để coi việc phụng thờ Ðoạn. Từ ấy Công-tôn-Hoạt ở bên nước Vệ cho đến trọn đời.

Nói về Châu-bình-vương đã lâu không thấy Trịnh trang-công về triều, nhân lúc Quách-Công là Kỵ-phù đến chầu, lại nói năng lưu-loát lấy làm vừa ý phán rằng: - Bấy lâu cha con Trịnh-bá bỉnh-chánh, nay chẳng biết ý gì không thấy về triều. Vậy trẫm có ý muốn trao chức Khanh-sĩ cho khanh để lo việc nước, ý khanh thế nào? Quách-Công quỳ tâu: - Trịnh trang-công không đến, ắt trong nước có việc. Nếu Bệ-hạ dạy hạ-thần quyền thế, Trịnh trang-công không những oán Bệ-hạ mà còn oán hạ-thần nữa. Hạ thần chẳng dám vưng mạng. Châu bình-vương ép uổng, nhưng Quách-công nhứt thiết chối từ và xin về nước.

Trịnh trang-công tuy không qua triều Châu, song vẫn có người ở kinh-sư dò la tin tức. Mỗi việc gì xảy ra, Trịnh trang-công đều hay biết. Bởi vậy, khi nghe được tin, Trịnh-trang-công lập tức sửa sang xe giá đến Lạc-dương ra mắt Bình-vương, và tâu rằng: - Hạ thần đội ơn Bệ-hạ, cha truyền con nối, giữ chức Khanh-sĩ lo việc quốc-chánh, nay hạ thần xét mình bắt tài, muốn từ chức lui về Trịnh, giữ phận chư-hầu. Bình-vương nói: - Ðã lâu khanh không vào triều, lòng trẫm trông mong. Nay được gặp khanh chẳng khác cá gặp nước, sao khanh lại nói thế? Trịnh trang-công tâu: - Vì trong nước không may gặp biến, nên bỏ việc đã lâu. Hạ-thần lại được nghe Bệ-hạ có ý phú việc quốc chánh cho Quách-công. Hạ-thần trộm nghĩ tài đức hạ-thần không sánh Quách-công, nếu giữ lấy chức vị, e mang tội với Bệ-hạ. Bình-vương nghe Trịnh trang-công, lòng hổ thẹn, vội nói: - Trẫm nghe nước Trịnh sanh biến, nên nhờ Quách-công bỉnh-chánh vài hôm để chờ khanh đến. Nhưng Quách-công từ chối mãi, vả trẫm cũng đã cho về nước. Khanh chờ nghi ngờ. Trịnh trang-công tâu: - Tâu Bệ-hạ, việc nước là của nhà vua không phải việc riêng của kẻ hạ-thần thì quyền xử-dụng cũng do nhà vua định đoạt. Nay Quách-công có đủ tài năng giúp nước, xin Bệ-hạ cứ dùng. Hạ thần sẽ từ chức để khỏi mang tiếng tham quyền cố vị. Bình-vương thấy Trịnh trang-công nghi kỵ, lòng buồn bã nói: - Trẫm trao việc nước cho cha con khanh chắp-chưởng đã bốn mươi năm, lẽ ra tình vua tôi không đến nỗi vì chuyện nhỏ mọn đó mà tổn thương. Khanh cứ nghi nan, trẫm biết làm sao giải nỗi lòng của trẫm. Trịnh trang-công lòng chưa hả giận, tâu: - Tâu Bệ-hạ, nhậm chức hay từ chức đó là bổn phận của hạ-thần. Hạ-thần tự xét mình trước nhiệm vụ chứ đâu dám khinh mạng. Bình-vương nói: - Muốn cho khanh được thấy lòng quý mến của trẫm, trẫm sẽ cho Thái-tử Hổ sang ở bên nước Trịnh làm con tin. Trịnh trang-công nghe nói, vập đầu tâu: - Tâu Bệ hạ, xin Bệ-hạ đừng dạy như thế mà hạ thần phải mang tiếng hiếp vua. Bình-vương nói: - Không phải thế! Vì khanh có tài chính-trị, trẫm muốn cho Thái-tử sang đó du học để hấp-thụ những phong-hóa tốt lành của nước Trịnh. Nếu khanh từ chối thì quả lòng khanh đã hờn trẫm đó. Trịnh trang-công nhất định chối từ, quần thần thấy thế quỳ tâu: - Tâu Bệ-hạ, nếu Bệ-hạ không để con tin thì chẳng lấy gì để giải mối nghi ngờ của Trịnh Bá, còn Trinh-bá nhận con tin thì trái đạo vua tôi. Chi bằng hai bên cùng giao con với nhau thì tránh được nghi ngờ, mà tiếng tăm cũng trọn vẹn. Bình-vương khen phải. Trịnh trang-công mới sai Thế-tử Hốt đến ở làm con tin nhà Châu, còn Thái-tử Hổ nhà Châu thì lại sang nước Trịnh.

Ðược ít lâu Bình-vương băng hà. Trịnh trang-công và Châu-công Hắc-kiên cùng coi việc nước, bèn cho Thế-tử Hốt về Trịnh, và rước Thái-tử Hổ về Châu kế vị.

Thái-tử Hổ nghe vua cha mất, trong lòng phiền nảo, tự nghĩ mình không được ở nhà hầu hạ thuốc men trong lúc lâm chung nên về đền triều phát bịnh nặng rồi tạ thế.

Con Thái-tử Hổ là Lâm lên nối ngôi tức là Châu hoàn-vương.

Các nước chư-hầu hay tin đều tựu đến chịu tang và làm lễ chúc mừng tân vương. Quách-công Kỵ-Phủ đến trước, lo việc lễ bộ, đâu đó rất đàng hoàng khiến cho mọi người phải khâm phục.

Hoàn-vương lên ngôi, nghĩ đến việc cha mình làm con tin buồn bã mà chết, lại thấy Trịnh trang-công gánh vác việc nước, trong lòng nghi hoặc, mới kêu Châu-công Hắc-kiên đến hỏi rằng: - Trịnh trang-công bắt nhà Châu gởi con tin thật có ý khinh vua, lòng trẫm áy náy không yên, nếu để va bỉnh-chánh lâu ngày ắt sanh họa. Nay trẫm có ý giao quyền lại cho Quách-Công Kỵ-Phủ là người rất lễ độ ý khanh thế nào. Châu-công Hắc-kiên tâu: - Trịnh trang-công là người hà-khắc, ít ra ơn, chẳng phải tôi trung, lẻ ra không nên dụng. Ngặt vì nhà Châu từ lúc dời đô qua Lạc-ấp công lao nước Tần và nước Trịnh rất lớn, nay tước bỏ quyền của Trịnh, tôi e Trịnh-bá đem lòng giận ắt sanh điều rối nước, xin Bệ-hạ nên xét kỹ đã. Hoàn-vương nói: - Ý trẫm đã tuyệt không thể ngồi ngó Trịnh-bá chuyên chế được. Hôm sau, Hoàn-vương lâm triều, kêu Trịnh trang-công nói: - Khanh là cựu thần của Tiên-vương, trẫm không dám ép buộc theo quần-liêu mà làm nhọc lòng khanh. Vậy khanh chớ cho trẫm bất nghĩa. Trịnh trang-công vừa cười, vừa tâu: - Nghĩa là Bệ-Hạ bảo tôi trả chức mà về nước? Ðoạn bước ra ngoài, nét mặt hằm hằm nói với mọi người: - Vua trẻ con nầy bội-bạc lắm, không thể giúp đặng! Nói xong, lên xe trở về nước Trịnh. Thế-tử Hốt đem các quan ra tận biên thùy tiếp đón.

Trịnh trang-công kể công việc vua Hoàn-vương bạc đãi. Các quan ai nay đều bất bình. Quan Ðại-phu Cao-cừ-di nói: - Chúa ta giúp nhà Châu đến nay đã hai đời, công trạng rất lớn. Vả lại Thái-Tử Hổ ở nước ta chưa có gì thất lễ, nay lại bỏ Chúa-công dùng Quách-công kỵ-phủ, thật là bất nghĩa. Xin Chúa-công ra binh đánh nhà Châu, phế Hoàn-vương mà lập vua khác, như thế các chư-hầu mới kính nễ nước Trịnh. Dĩnh Khảo-thúc nói: - Không nên thế! Ðạo vua tôi như tình mẹ con. Chúa-công đã không thù mẹ sao lại thù Chúa được! Chúa. Công nên kiên-nhẫn ít lâu đợi cho Hoàn-vương hối hận mà trọng dụng, nếu nóng nẩy e làm mất khí tiết mấy đời của nhà Trịnh. Tế-Túc tâu: - Theo tôi tưởng cả hai người đều có lý. Vậy tôi có một ý dung-hòa hơn, là cần dò xét thái-độ Hoàn-vương trước đã. Nay đem một đạo binh sang đất nhà Châu lấy cớ mất mùa, mượn lúa ở Lạc-ấp và ôn-ấp, nếu nhà Châu trách phạt, ta sẽ sanh sự, bằng không Chúa công sẽ vào chầu để can gián Hoàn-vương. Trịnh-trang-công cho là phải, bèn sai Tề-túc cắt quân kéo đến ôn-ấp. Quan giữ ôn-ấp là Ôn Ðại-phu, thấy thế la hoảng: - Sao ngài lại làm ngang như thế. Chưa có lệnh Hoàn-vương tôi không thể nào cho mượn lúa được. Tề-Túc nói: - Hiện nay ở đây lúa mạch đang chín, còn nước ta thiếu lúa ăn, nếu không cho mượn ta cứ tự tiện gặt lấy. Nói xong khiến quân đem liềm hái xuống ruộng mà gặt. Ôn Ðại-phu thấy quân Trịnh mạnh quá không dám ngăn cản, vội chạy về Lạc-dương cấp báo. Hoàn-vương nổi giận định hưng binh đánh Trịnh, nhưng Châu-công Hắc-kiên can rằng: - Tề-Túc gặt lúa trộm ấy chỉ là việc nhỏ ngoài biên đình. Bệ-hạ không nên vì việc nhỏ mà bỏ việc lớn, xin cứ lấy đại-lượng đối xử Trịnh trang-công sẽ ăn-năn mà hối cải. Hoàn-công nhận lời, truyền canh giữ bờ cõi nghiêm nhặt còn việc gặt lúa thì bỏ qua không nói đến. Tề-Túc đóng quân trên đất Châu ba tháng, không thấy gì, bèn trở về phục chỉ. Trịnh trang-công thấy thế có ý ăn-năn, hối hận, bèn tính việc qui triều Châu bệ kiến Hoàn-vương.

Trịnh trang-công sắp lên đường thì bỗng có Tề hi-công sai sứ qua mời sang Thạch-môn phó hội. Trịnh trang-công đã có ý muốn giao-ước với Tề-hầu, nay sẵn dịp bèn lên đường phó hội.

Khi gặp Tề hi-Công, Trịnh-trang-công cùng kết làm anh em sanh-tử, uống máu ăn thề, hẹn giúp đỡ lẫn nhau trong cơn hoạn nạn. Tề hi-công, sau khi hỏi thăm, biết Thế-tử Hốt chưa định gia thất bèn tỏ ý rằng: - Tôi có một đứa con gái, tuổi vừa cập kê, tài mạo gồm đũ, như hiền-hầu bằng lòng tôi sẽ gã cho Thế-tử Hốt. Trịnh trang-công nghe nói rất đẹp dạ. Hai bên giả biệt ra về.

Về đến Kinh-đô, Trịnh trang-công thuật chuyện ấy lại với Thế-tử Hốt. Thế-tử Hốt thưa: - Việc phối- ngẫu cốt phải cân xứng, nay nước ta nhỏ, nước Tề lớn kết hôn với nhau đâu phải cách. Ý con tưởng không nên với cao làm gì. Trịnh trang-công nói: - Ðó là ý kiến của Tề hi-công ước muốn chớ đâu phải ý củ cha. Vả lại, kết nghỉa với Tề, ngày sau có thể tượng-trợ được, sao con lại từ chối? Thế-tử Hốt thưa: - Thân trai bổn phận phải tự lập, lẽ đâu trông mong vào sự bảo trợ của kẻ khác. Trịnh trang-công nghe nói, khen con có chí khí và không ép nữa.

Sau đó, sứ Tề qua Trịnh biết được chuyện Thế-tử Hốt từ chối việc hôn nhơn, trở về thuật lại với Tề hi-công. Tề-hi-công khen thầm: - Nếu vậy thì Trịnh Thế-tử quả lâ một kẻ can-cường, lại đầy lòng khiêm nhượng. Nhưng thôi! Con gái ta nhỏ, việc đó chưa muộn gì.

Một hôm, Trịnh trang-công đang thương nghị với quần thần về việc đi chầu Châu-vương, xảy có tin báo rằng Công-tử nước Vệ là Chu-hu đã giết vua Vệ hoàn-công mà soán vị. Trịnh trang-công thất kinh, vỗ tay xuống bàn than: - Thôi rồi! Chẳng bao lâu nữa nước Trịnh ta xảy ra binh-biến. Các quan không hiểu, ngơ ngác hỏi: - Do đâu mà Chúa-công lại tiên-liệu như thế? Trịnh trang-công nói: - Chu-hu là một đứa hung hăng. Nay soán ngôi nước Vệ tất thị oai với các nước lân-bang. Nước ta trước kia có hiềm khích, chắc là bị va dấy binh đánh trước. Vậy phải đề-phòng mới được.

Chu-hu nầy nguyên là con thứ ba của Vệ trang-công. Vệ-trang-công trước kia lấy bà Trang-khương nước Tết rất đẹp mà không con, sau lại lấy nàng Lệ-Vĩ nước Trần làm thứ, Lệ-Vĩ cũng không con, nên Vệ trang-công lại, lấy em gái của Lệ-Vĩ là Ðài-Vĩ. Nàng này sanh đặng hai trai là Hoàn và Tân. Bà Trang-khương rất tốt tính, không hề biết ghen tương, đem Hoàn về nuôi làm con, rồi lại dâng cho Vệ trang-công một cung nữ. Người cung-nữ nầy sanh được một trai, tức là Chu-hu.

Chu-hu tánh hung-bạo, nhưng Vệ trang-công lại rất yêu quý. Do đó, Chu-hu mỗi ngày một lộng hành, bất chấp lời giáo huấn. Thạch-thác thấy thế đã nhiều lần khuyên Vệ trang-công: - Chúa công cần phải trấn áp công tử, kẻo sau nầy khó tránh tai vạ! Còn Thạch-thác lại cũng có một đứa con trai là Thạch-hậu thường giao du với Chu-hu, rủ nhau săn bắn, luyện tập võ-nghệ. Làm lắm điều nhiễu hại dân chúng. Thạch-thác cả giận đánh đập nhiều lần, nên Thạch-hậu bỏ nhà vào thành ở luôn với Chu-hu. Thạch-thác cũng đành bó tay trước đứa con ngỗ-nghịch đó.

Sau Vệ trang-công mất, Hoàn lên ngôi kế vị tức là Vệ hoàn-Công. Vệ hoàn-công vốn nhu nhược, không làm được việc lớn. Thạch-thác thấy thế cáo-quan không tham dự triều chính nữa. Lúc bấy giờ Chu-hu không còn kiêng nễ ai nữa, mưu tính với Thạch-hậu, toan việc cướp ngôi. Rồi gặp lúc vua Bình-vương nhà Châu mất, Vệ hoàn-công sắp sửa đi điếu tang, Chu-hu được dịp bàn với Thạch-hậu. Thạch-hậu nói: - Ðó là dịp tốt. Ngày mai Công-tử bày tiệc tiễn hành đưa Chúa-công. Tôi sẽ cho quân sĩ phục ở phòng tiệc. Lúc đang ăn uống Chu Công-tử rút gươm ra mà hạ sát Chúa-công đi thì lo gì không đoạt được ngôi báu. Chu-hu cả mừng, làm y kế. Sáng hôm sau Chu-hu bày tiệc ở Cung-quán rồi mời Vệ hoàn-công đến dự. Chu-hu nâng ly rượu nói: - Nay huynh-hầu đi xa, em xin có ly rượu tiễn hành. Vệ hoàn-công nói: - Hiền đệ quá nhọc lòng! Chẳng qua ta đi vắng một tháng rồi lại trở về. Chỉ mong hiền-đệ trông coi việc quốc-chính cho cẩn- thận là tốt rồi! Nói xong, Vệ hoàn-công rót một chén rượn trao cho Chu-hu để giã biệt. Hai người nâng ly vui vẻ. Ðược một lúc Chu-hu giả say làm rơi ly rượu xuống đất, rồi cúi xuồng lượm ly đi rửa. Vệ hoàn-công không ngờ nên bị Chu-hu lén ra phía sau lưng rút gươm đâm một nhát bỏ mạng. Lúc đó, Thạch-hậu dẫn năm trăm quân giáp vây chặt Cung-quán, nên không ai đám trái lệnh. Giết vệ hoàn-công xong, Chu-hu lên tức vị, và phong cho Thạch-hậu làm Thượng đại-phu. Còn em ruột của Vệ hoàn-công là Tân bỏ trốn qua nước Hình lánh nạn.

Vừa lên ngôi được ba ngày, Chu-hu nghe dân-chúng bàn tán về việc mình giựt anh, soán ngôi, lòng bực tức, kêu Thạch Hậu vào hỏi ý-kiến: - Nay ta mới tức vị, oai-quyền trong thiên hạ chưa được bao nhiêu, muốn cho các nước nể vì, tất phải hưng binh chinh phạt. Vậy theo ý người nên đánh nước nào trước? Thạch-hậu tâu: - Các lân-quốc đều chẳng có thù hiềm chi, duy chi có nước Trịnh trước kia có thù hiềm với ta việc Công-tôn-hoạt. Tiên-công đã nhượng bộ cầu hòa trong lúc quân Trịnh kéo tới bờ cõi, thật là điều quốc nhục. Nay Chúa-công muốn dựng binh, xin hãy đánh Trịnh trước. Chu-hu nói: - Nước Trịnh vừa lập minh-thệ với nước Tề tại Thạch-môn, nếu nay đánh Trịnh ắt Tề đem binh giúp, nước ta cự sao nổi? Thạch-hậu tâu. - Nếu muốn đánh Trịnh, Chứa-công phải sai sứ sang nước Tống, nước Lỗ để cầu họ ra binh giúp sức. Rồi mượn thêm binh nước Trần, nước Sái hiệp lại mà đánh thì lo gì chẳng thắng. Chu-hu nói: - Trần và Sái là hai nước nhỏ, xưa nay vẫn tùng-phục nhà Châu, nay nhà Châu nghịch với Trịnh, thì ta có thể mượn binh hai nước ấy đánh Trịnh được. Duy chỉ có Lỗ và Tống là hai nước lớn rất khó nài họ giúp mình. Thạch-hậu tâu: - Chúa-công chưa rõ, nước Tống xưa Tống mục-công nối ngôi anh là Tuyên-công. Sau Tống mục-Công gần thác, muốn báo ơn anh, nên bỏ con ruột là Bằng, truyền ngôi cho con người anh là Dư-di. Bằng oán cha và rất ghét Dư-Di nên bỏ sang nước Trịnh cư ngụ. Nước Trịnh đã chứa Bằng lại có ý giúp Bằng đánh Tống, cướp ngôi của Dư-di. Nay nhân việc nầy mà rủ Dư-di hiệp binh đánh Trịnh, ắt Dư-di không từ chối. Còn nước Lỗ thì Công-tử Vận chưởng-quản cả binh-quyền, xem Lỗ-Hầu chẳng ra chi. Nếu đem nhiều tiền của hối-lộ cho Công-tử Vận ắt nước Lỗ hưng-binh ngay. Chu-hu nghe nói lòng phấn khởi, lập tức sai sứ sang Lỗ, Trần Sái. Còn nước Tống vì phải có một sứ-giả ăn nói bặt-thiệp mới xong nên chưa chọn được người. Thạch-hậu tâu: - Nay có Ninh-dực, người đất Trung-mâu, vốn là một kẻ miệng lưỡi. Xin Chúa-công sai người ấy đi ắt thành-sự. Chu-hu y lời, liền sai Ninh-dực sang mượn binh nước Tống Ninh-dực bái mạng, lập tức lên ngựa ra đi. Ðến nơi vào yết kiến. Tống tương-công hỏi: - Tại sao lại cử binh đánh Trịnh? Ninh-dực tâu: . - Trịnh trang-công vô đạo, giết em, đày mẹ, khiến cho Công-tôn-hoạt trốn sang nước tôi tỵ-nạn. Trịnh trang-công lại mượn cớ ấy xâm lấn bờ cõi, Tiên-vương tôi vì nhu-nhược mà cầu hòa. Nay Chúa-công tôi quyết hưng binh rửa nhục. Vì nghĩ đến chỗ chúng ta đều có thù chung với nước Trịnh nên Chúa-công tôi khiến tôi sang đây mà cầu viện. Tống tương-công nói: - Ta cùng nước Trịnh xưa nay chẳng có thù hiềm chi, sao ngươi lại nghĩ như thế? Ninh-dực ôn-tồn nói: - Có lẽ Chúa-công đã không nhớ ngôi vua nầy ai truyền lại cho Chúa-công chăng? Tồng tương-công mỉm cười nói: - Của Vương-thúc ta là Tống mục-công truyền lại. Ninh-dực nói: - Từ xưa nay, hễ cha thác thì truyền ngôi lại cho con là lẽ thường. Tống mục-công tuy có lòng tốt, truyền ngôi lại cho Chúa-công, song công-tử Bằng hiện nương ngụ nơi đất Trịnh, lăm le mượn binh nước Trịnh về phục nghiệp. Như thế Chúa-công làm sao yên được. Nay đánh Trịnh là một cơ-hội tốt để cho Chúa-Công trừ mối hại cho nước Tống sau nầy. Tống tương-công lâu nay đã có ý nghi kỵ Công-tử Bằng, nay Ninh-dực nói đúng ý, liền nhận lời giúp Vệ đánh Trịnh. Lúc ấy có quan Ðại tư-mã, vốn giòng dõi vua Thang, tên Không-phu-gia thấy Tống tương-công nhận lời giúp Vệ, bèn can rằng: - Xin Chúa-công chớ nghe lời ngụy-biện của sứ nước Vệ. Nếu bắt tội Trịnh trang-công giết em, bỏ tù mẹ thì Chu-hu giết anh đoạt ngôi lại không phải tội sao? Quên tội mình, kết tội kẻ khác, ấy không phải là lời chân chính. Tuy-nhiên, Tống tương-công vì đã hứa lỡ với Ninh-Dực, nên chẳng nghe lời can gián, nội ngày ấy hưng binh.

Còn nước Lỗ, Công-tử Vận đã ăn hối lộ của nước Vệ rồi, nên cũng rầm-rộ kéo binh sang. Trần và Sái cũng đều tề-tựu đũ mặt.

Năm nước họp lại cử nước Tống làm Minh-chủ, Thạch-hậu làm Tiên-phuông, Chu-hu đi hậu đạo, chở theo rất nhiều lương thực, lũ lượt kéo qua cửa Ðông-thành của nước Trịnh.

Trịnh trang-công hay tin, liền họp các quan đại thần lại bàn bạc. Trong triều người chủ chiến, kẻ chủ hòa, ý-kiến rộn ràng chưa quyết. Trịnh trang-công mỉm cười nói: - Các quan chưa bàn được gì hay. Nhưng cứ theo thiển-kiến của ta thì Chu-hu vừa mới nổi loạn đoạt ngôi anh, dân tình trong nước không phục, nay va mượn oán cũ, cử binh sang đánh nước ta, chỉ cốt để cho dân nước Vệ sợ đó thôi. Công-tử Vận thì vì ham tiền hối-lộ mà cử binh sang đánh chứ không phải ý muốn của Lỗ ân-Công. Trần và Sái thì không có oán cừu gì với nước Trịnh, thế thì bốn nước đó không đáng sợ. Duy chỉ có Tống, ghét Công-tử Bằng trốn tránh trên đất Trịrih, nên thực lòng quyết đánh. Nay ta đưa Công-tử Bằng ra trú nơi đất Trường-các, binh Tống hay tin ắt kéo quân ra đó. Trong lúc ấy, ta khiến Công-tử Lữ dẫn quân ra cửa Ðông đánh với Chu-hu, rồi giả thua mà chạy. Chu-hu vốn làm oai, đã đánh thắng tất nhiên kéo quân về chứ không dám ở lâu trên đất Trịnh, sợ trong nước có loạn. Bởi vì hiện nay nước Vệ còn có Thạch-thác là một tôi trung của Vệ hoàn-công, làm sao chịu khoanh tay ngồi ngó Chu-hu phản-phúc được! Tình trạng Chu-Hu hiện nay lo phận mình chưa đũ, có đâu lại làm hại ta được sao? Các quan cận-thần nghe nói đều cho là phải. Trịnh trang-công liền khiến quan Ðại-phu Hà thúc-dĩnh đem một đạo quân đưa Công-tử Bằng qua Trường-các, rồi lại sai người đến nói với Tống tương-công rằng: - Công-tử Bằng trốn sang nước tôi, tôi không nỡ giết, nên bắt đày ra Trường-các, vậy xin Chúa-công định-đoạt. Tống tương-công hay được tin lập tức kéo đại binh ra vây nơi Trường-các. Ba nước Trần, Sái và Lỗ thấy binh Tống đi rồi, có ý chán nản muốn rút binh về, nên lúc nghe Công-tử Lữ đem quân đánh Vệ ở cửa Ðông cũng không buồn tiếp ứng.
 
34,907 ❤︎ Bài viết: 2241 Tìm chủ đề
HỒI THỨ 6 Vệ Thạch Thác vì nghĩa giết con Trịnh Trang công giả mệnh đánh Tống

Thạch Hậu mới đánh được Trịnh có một trận, đã hạ lệnh rút quân về, các tướng không hiểu ý, đều vào tâu với Chu Hu: - Quân ta khí thế đang hăng hái, nên thừa thế tiến đánh, cớ sao lại vội rút quân trở về? Chu Hu cũng có ý nghi ngờ, mới gọi Thạch Hậu vào hỏi. Thạch Hậu xin đuổi hết người xung quanh, rồi nói nhỏ với Chu Hu rằng: - Quân Trịnh vốn là quân mạnh tợn, nay ta được một trận cũng đủ làm oai rồi. Chúa công mới lên nối ngôi, công việc trong nước chưa được yên ổn, nếu ở ngoài mãi thì sợ có nội biến. Chu Hu nói: - Nhà ngươi không nói thì ta chưa nghĩ đến. Được một lúc, Trần, Sái và Lỗ cùng đến chúc mừng về việc thắng trận và đều xin rút quân về nước. Thạch Hậu cậy công có ý tự đắc, cùng với Chu Hu thu quân trở về. Chu Hu nói: - Người trong nước còn có ý không phục thì biết làm thế nào? Thạch Hậu nói: - Phụ thân tôi là Thạch Thác, khi trước làm quan Thượng khanh, người trong nước ai cũng tin phục, nếu Chúa công đòi vào triều, để cùng coi quốc chính thì ngôi cao của Chúa công mới yên ổn được. Chu Hu liền sai người đem một đôi ngọc bích trắng, 500 hộc gạo trắng đến làm quà cho Thạch Thác, rồi mời Thạch Thác vào triều để bàn việc. Thạch Thác nói dối là ốm nặng, cố từ không chịu vào. Chu Hu lại hỏi Thạch Hậu rằng: - Phụ thân nhà ngươi đã không chịu vào triều, ta muốn đến tận nơi mà hỏi, phỏng có nên không? Thạch Hậu nói: - Chúa công đến thì vị tất phụ thân tôi đã chịu tiếp kiến, để tôi phụng mệnh Chúa công về hỏi xem ra làm sao? Nói xong, liền về nhà nói với Thạch Thác, kể những tình ý kính mến của Chu Hu. Thạch Thác nói: - Chúa công đòi ta, có ý muốn hỏi việc gì? Thạch Hậu nói: - Nay Chúa công mới lên ngôi, dân tình chưa được mến phục vậy muốn nhờ phụ thân chỉ bảo cho một kế. Thạch Thác nói: - Chư hầu lên ngôi, có bẩm mệnh vua nhà Chu mới là chính đáng. Nếu Chúa công vào triều vua nhà Chu, được vua nhà Chu phong cho thì người trong nước ai còn dám nói gì nữa. Thạch Hậu nói: - Câu nói ấy rất phải! Nhưng tự nhiên vào triều thi tất vua nhà Chu sinh lòng nghi, làm thế nào có một người nói trước với vua nhà Chu mới được. Thạch Thác nói: - Nay có Trần Hoàn công là người trung thành với vua nhà Chu, các lễ triều sinh, không bỏ thiếu bao giờ, vua nhà Chu có lòng yêu mến. Nước ta cùng với nước Trần vốn giao hiếu với nhau, mới rồi lại mượn quân sang đánh nước Trịnh thì tình nghĩa càng thân mật lắm. Nếu Chúa công sang qua nước Trần, nhờ Trần Hoàn công nói trước với vua nhà Chu, rồi sẽ vào triều thì khó gì mà chẳng nên việc. Thạch Hậu đem lời nói của Thạch Thác thuật lại cho Chu Hu nghe. Chu Hu mừng lắm, mới sắp sửa các đồ lễ vật cùng với quan Đại phu nước Trần là Tử Hàm bạn thân với nhau. Thạch Thác mới trích máu đầu ngón tay viếc một bức thư, sai người tâm phúc đưa cho Tử Hàm nhờ Tử Hàm đệ trình Trần Hoàn công. Bức thư như sau này: "Thạch Thác cúi đầu trăm lạy có mấy lời kính dâng Trần Hiền hầu: Nước Vệ tôi nhỏ mọn, không ngờ trời lại tra tai, sinh ra cái vạ giết vua, đó dẫu là cái tội Chu Hu, nhưng thật tại thằng con hư của tôi là Thạch Hậu, nó tham lợi mà đem lòng xui giục. Nếu mà hai kẻ loạn tặc kia không giết được thì thiên hạ tất lắm đứa bắt chước cái gương xấu ấy mà làm càn; tôi đây tuổi già mình yếu, không thể trừng trị nổi, thật đắc tội với Tiên công lắm. Bây giờ hai kẻ loạn tặc ấy dắt nhau sang quí quốc, là bởi cái mưu của tôi bày ra. Xin Chúa công bắt mà trị tội, để làm gương cho những kẻ thần tử mai sai, thật là một việc may cho cả thiên hạ, chẳng những may riêng cho nước tôi mà thôi". Trần Hoàn công xem xong, hỏi Tử Hàm rằng: - Nhà ngươi nghĩ thế nào? Tử Hàm nói: - Đứa loạn tặc của nước Vệ, tức là đứa loạn tặc của nước Trần, bây giờ chúng nó dắt nhau sang nước ta là chúng nó tự đem thân đến chỗ chết, Chúa công chớ nên dung túng cho chúng nó. Trần Hoàn công khen phải, mới lập kế sẵn để bắt Chu Hu. Chu Hu cùng Thạch Hậu đến nước Trần, vẫn không biết cái mưu của Thạch Thác, hai người cứ ngang nhiên mà đi. Trần Hoàn công cho công tử Đà ra nghênh tiếp, mời vào nghỉ ở nơi công quán, rồi thay Trần Hoàn công hẹn với Chu Hu đến ngày hôm sau thì tiếp kiến ở nhà Thái Miếu. Chu Hu thấy Trần Hoàn công tiếp đãi tử tế có ý mừng lắm. Sáng hôm sau, Thạch Hậu đến cửa nhà Thái Miếu, trông thấy có cái biển trắng đề một câu rằng: "Kẻ nào làm tôi bất trung, làm con bất hiếu thì không được vào nhà miếu". Thạch Hậu sợ lắm, hỏi Tử Hàm rằng: - Để cái biển này là có ý gì? Tử Hàm nói: - Đó là lời di huấn của Tiên công tôi ngày xưa, vậy nên Chúa công tôi không dám quên. Thạch Hậu mới không có ý nghi ngại. Được một lúc, Chu Hu đến. Thạch Hậu đưa Chu Hu vào miếu. Chu Hu đang khúm núm sắp sửa thi lễ, bỗng thấy Tử Hàm đứng ở bên cạnh Trần Hoàn công quát to lên rằng: - Ta phụng mệnh vua nhà Chu chỉ bắt hai đứa loạn tặc là Chu Hu và Thạch Hậu, còn đồ đảng thì tha tất cả. Nói chưa dứt lời thì có quân giáp sĩ phục ở hai bên đổ ra bắt Chu Hu. Thạch Hậu đang luống cuống chưa kịp rút gươm, cũng bị quân giáp sĩ trói lại. Tử Hàm đem bức thư của Thạch Thác tuyên đọc một lượt, mọi người chung quanh mới biết rõ là Chu Hu và Thạch Hậu bị bắt đều bởi mưu của Thạch Thác mượn tay nước Trần, ai cũng cho là phải lắm. Trần Hoàn công toan đem Chu Hu và Thạch Hậu ra chém. Các quan đều can rằng: - Thạch Hậu là con Thạch Thác, chưa biết ý Thạch Thác thế nào, chi bằng ta báo tin cho nước Vệ sang mà nghị tội thì sau không trách vào đâu được nữa. Trần Hoàn công nói: - Các quan nói phải đó! Nói xong, truyền đem Chu Hu và Thạch Hậu mỗi người giam cấm một nơi; Chu Hu thì giam ở Bộc Ấp, còn Thạch Hậu thì giam ở Trần Đô để khiến cho âm tín không được giao thông với nhau, rồi sai người đem thư sang báo tin cho Thạch Thác nước Vệ biết. Thạch Thác từ khi cáo quan về, không đi đến đâu cả, thấy Trần Hoàn công cho người đem thư đến, tức khắc vào triều họp cả các quan lại, rồi mở bức thư Trần Hoàn công ra xem, mới biết Chu Hu và Thạch Hậu đã bị bắt tại nước Trần rồi, chỉ đợi nước Vệ cho người sang để cộng đồng nghị tội. Các quan đều đồng thanh mà nói rằng: - Việc này là việc lớn của nước nhà, xin Lão quan ngài chủ trương cho mới được. Thạch Thác nói: - Hai đứa loạn tặc ấy không thể tha được, tất phải đem mà chính pháp, nào ai là người dám đương cái việc ấy. Quan Hữu tể tên là Xú đứng dậy nói. - Những kẻ loạn tặc, ai cũng có phép được giết, tôi dẫu hèn mạt, nghĩ cũng tức thay, vậy thì tôi xin đương việc giết Chu Hu. Các quan đều nói: - Việc ấy giao cho Hữu tể Xú được đấy! Nhưng thủ ác là Chu Hu đã chính pháp rồi, còn Thạch Hậu là kẻ tòng nghịch, cũng nên cho nhẹ tội một chút. Thạch Thác nổi giận nói: - Những tội ác của Chu Hu, đều bởi thằng Thạch Hậu nó xúi giục nên cả, nay các quan lại định cho nhẹ tội, chẳng hóa ra nghe ta có bụng tư với con hay sao! Âu là để lão thân hành đi mà tự tay chém thằng loạn tặc ấy, nếu không thì còn mặt mũi nào mà trông thấy nhà miếu của tiền nhân nữa. Gia thần là Nhu Dương Kiên nói: - Lão quan chớ nóng nẩy, tôi xin đi thay. Thạch Thác liền sai Hữu tể Xú sang Bộc Ấp để chém Chu Hu, còn Nhu Dương Kiên thì sang Trần Đô để chém Thạch Hậu, rồi sắp sửa xe giá đi đón công tử Tấn ở nước Hình về. Hữu tể Xú cùng với Nhu Dương Kiên sang đến nước Trần, vào yết kiến Trần Hoàn công tạ ơn đã trừ hộ đảng loạn, rồi Hữu tể Xú đến Bộc Ấp đem Chu Hu ra chém. Chu Hu trông thấy Hữu tể Xú, kêu to lên rằng: - Mày làm bề tôi ta, sao mày dám xâm phạm đến ta! Hữu tể Xú nói: - Nước Vệ ta ngày trước có người làm bề tôi mà dám giết vua, vậy nên ta lại bắt chước. Chu Hu nín lặng, cúi đầu chịu chết. Nhu Dương Kiên đến Trần Đô đem Thạch Hậu ra chém. Thạch Hậu nói: - Chết thì ta cũng đành phận, nhưng hãy giải ta về cho ta được trông thấy mặt phụ thân ta đã, rồi sẽ đem chém. Nhu Dương Kiên nói: - Ta phụng mệnh phụ thân nhà ngươi đến đây để chém nhà ngươi, nếu nhà ngươi muốn gặp mặt phụ thân thì ta sẽ đem đầu nhà ngươi về để phụ thân nhà ngươi được trông thấy. Nói xong, liền tuốt gươm ra chém Thạch Hậu. Công tử Tấn ở nước Hình về nước Vệ, đem việc giết Chu Hu vào cáo miếu Vệ Vũ công, lại phát tang để trở Vệ Hoàn công, rồi lên nối ngôi, tức là Vệ Tuyên công. Tôn Thạch Thác làm quốc lão, cho được nối đời coi giữ quốc chính. Từ bấy giờ nước Trần và nước Vệ hai nước thân mật với nhau. Trịnh Trang công thấy các nước đã rút quân về, toan sai người đi dò la tin tức công tử Phùng ở đất Trường Cát xem ra làm sao. Bỗng thấy công tử Phùng từ Trường Cát trốn về, vào yết kiến Trịnh Trang công. Trịnh Trang công hỏi: Công tử Phùng kể chuyện đất Trường Cát đã bị quân nước Tống chiếm cứ mất rồi, vậy nên phải trốn chạy về đây, xin Chúa công che chở cho. Nói xong nức nở khóc hoài. Trịnh Trang công úy dụ một vài câu, rồi lại cấp lương cho ra ở nhà công quán. Một hôm Trịnh Trang công nghe tin Chu Hu bị giết, Vệ Tuyên công lên nối ngôi, liền họp các quan lại thương nghị rằng: - Việc Chu Hu đánh nước ta, không can dự đến Vệ Tuyên công, chỉ có nước Tống là khí trước đứng đầu việc sang đánh Trịnh, bây giờ ta muốn báo thù thì các quan tính thế nào? Sái Túc nói: - Ngày trước năm trước họp quân đánh Trịnh, bây giờ ta đánh Tống thì bốn nước kia tất nhiên sợ hãi, phải đem quân giúp Tống, chi bằng ta sai người đi giảng hòa với Trần, lại lấy lợi kết với nước Lỗ. Nếu Trần và Lỗ đã thân mật với ta thì nước Tống thế cô, không làm gì nổi. Trịnh Trang công nghe lời, liền sai người sang giảng hòa với nước Trần. Trần Hoàn công không cho. Công tử Đà can rằng: - Thân mật với lân quốc là một việc có ích cho nước, bây giờ Trịnh đến giảng hòa, sao ta lại không nhận. Trần Hoàn công nói: - Trịnh Trang công là người trí trá, không có thể tin được, này hãy xem như Tống và Vệ đều là nước lớn cả, sao không đến giảng hòa mà lại giảng hòa với nước ta trước, tất là có kế gì đây. Huống chi ngày trước ta theo Tống đánh Trịnh, bây giờ lại giảng hòa với Trịnh thì nước Tống tất giận. Được lòng Trịnh lại mất lòng Tống, có được ích gì! Nói xong liền chối từ, không tiếp sứ nước Trịnh. Trịnh Trang công giận lắm, nói: - Trần chỉ cậy thế có nước Tống và nước Vệ. Nay nước Vệ vừa mới dẹp yên đảng loạn, giữ mình chưa xong, còn giúp ai được, để ta giảng hòa với nước Lỗ, rồi hợp quân Tề và Lỗ trước báo thù nước Tống, sau đánh nước Trần, đó thật là một cái thế rất dễ như người chẻ cây tre vậy. Sái Túc nói: - Không phải thế! Số là nước ta mạnh mà nước Trần yếu, nay ta xin giảng hòa, Trần tất có bụng nghi, vậy nên không theo, âu là ta cho quân cướp phá bờ cõi, rồi lại sai người nào khéo nói đem trả những đồ bắt được, để tỏ ra mình không nói dối, bấy giờ Trần tất phải giảng hòa. Khi ta đã giảng hòa với Trần thì ta sẽ bàn đến việc đánh Tống. Trịnh Trang công khen phải, rồi sai 5000 quân sang cướp phá bờ cõi nước Trần, bắt lấy các xe lương thực cả thẩy hơn 100 chiếc. Trần Hoàn công nghe tin, có ý sợ hãi, mới họp các quan lại thương nghị. Bỗng thấy quân báo có sứ nước Trịnh là Dĩnh Khảo Thúc đem trả các đồ bắt được khi trước và đưa một bức thư của Trịnh Trang công. Trần Hoàn công hỏi công tử Đà rằng: - Nay Trịnh lại cho sứ đến là ý làm sao? Công tử Đà nói: - Đó là cái bụng tốt của người ta, mình không nên cố ý từ chối mãi. Trần Hoàn công cho Dĩnh Khảo Thúc vào yết kiến. Dĩnh Khảo Thúc dâng bức thư của Trịnh Trang công. Trần Hoàn công mở ra xem. Trong thư đại lược nói rằng: "Ngộ sinh này có mấy lời kính dâng Trần Hiền hầu xét cho: Tôi cùng với Hiền hầu cùng làm bề tôi nhà Chu, đáng lẽ hai nước nên thân mật với nhau để giữ lấy cái bổn phận làm chư hầu. Mới rồi tôi cho người sang giảng hòa mà Hiền hầu không cho, bởi thế những quan quân ở ngoài bờ cõi nước tôi không biết, ngỡ là hai nước có hiềm khích gì, mới dám tự tiện xâm phạm vào bờ cõi của quí quốc. Tôi nghe tin ấy thật lấy làm áy náy, ngủ không được yên, nay đem các đồ bắt được, nộp lại đủ số và cho Dĩnh Khảo Thúc sang tạ tội. Từ rày trở đi tôi cùng với Hiền hầu kết nghĩa anh em, xin Hiền hầu bằng lòng cho". Trần Hoàn công xem xong, biết nước Trịnh có bụng muốn giảng hòa thật, mới tiếp đãi Dĩnh Khảo Thúc một cách rất tử tế và cho công tử Đà sang đáp lại. Từ bấy giờ nước Trần và nước Trịnh cùng giảng hòa với nhau. Trịnh Trang công xem xong hỏi Sái Túc rằng: - Bây giờ Trần đã giảng hòa rồi, ta muốn đánh Tống thì thế nào? Sái Túc nói: - Tống là một nước lớn, vua nhà Chu cũng có ý trọng đãi, không nên đánh vội. Ngày trước Chúa công đã định vào triều vua nhà Chu, vì có nước Tề mời sang hội ở đất Thạch Môn, lại gặp Chu Hu đem quân đến đánh, thành ra nấn ná mãi cho đến bây giờ. Âu là ngày nay Chúa công vào triều nhà Chu, giả cách nói là phụng mệnh Thiên tử, hợp quân Tề, Lỗ để sang đánh Tống. Dùng quân có hợp lẽ phải thì tất được toàn thắng. Trịnh Trang công mừng lắm, nói: - Nhà ngươi mưu sự thật là vạn toàn! Nói xong, liền giao cho Thế tử Hốt coi giữ quốc chính, rồi cùng với Sái Túc vào triều vua Hoàn Vương nhà Chu. Chu công Hắc Kiên khuyên vua Hoàn Vương nhà Chu nên tiếp đãi nước Trịnh tử tế để làm gương cho các nước chư hầu. Vua Hoàn Vương vốn ghét Trịnh Trang công lại nhớ đến việc nước Trịnh sang ăn cướp lúa ngày trước, có ý tức giận, bảo Trịnh Trang công rằng: - Năm nay mùa màng nước Trịnh thế nào? Trịnh Trang công tâu rằng: - Nhờ hồng phúc Thiên tử, vậy nên không có những cái hại thủy, hạn. Vua Hoàn Vương nói: - May mà nước Trịnh được mùa thì lúa má của nhà Chu, Trẫm mới có thể giữ mà ăn được. Trịnh Trang công thấy vua Hoàn Vương nhà Chu có ý mỉa mai mình như vậy, mới nín lặng không nói gì được nữa, cáo từ lui ra. Vua Hoàn Vương lại sai người đem 10 xe lúa đưa cho Trịnh Trang công và bảo rằng: - Thiên tử ban cho nước Trịnh để phòng bị những năm mất mùa. Trịnh Trang công thấy vậy, hối hận vô cùng, bảo Sái Túc rằng: - Nhà ngươi khuyên ta vào triều vua nhà Chu, nay vua nhà Chu khinh bỉ như vậy, lại nói những câu oán hận, và giễu ta mà cho 10 xe lúa, ta muốn chối từ không nhận thì nên nói thế nào? Sái Túc nói: - Các nước chư hầu sở dĩ kính trọng nước Trịnh ta là vì nước Trịnh ta mấy đời nay kiêm chức khanh sĩ nhà Chu; vua nhà Chu cho gì, bất cứ nhiều ít, cũng gọi là ơn vua, nếu Chúa công chối từ mà không nhận thì rõ ràng là hiềm khích với vua nhà Chu. Trịnh đã mất lòng vua nhà Chu thì sao khiến cho các nước chư hầu kính trọng được. Trịnh Trang công đang cùng với Sái Túc thương nghị, bỗng có Chu công Hắc Kiên vào yết kiến Trịnh Trang công, tặng riêng cho Trịnh Trang công hai xe vóc lụa. Trịnh Trang công hỏi Sái Túc rằng: - Chu công Hắc Kiên đến yết kiến ta là có ý gì? Sái Túc nói: - Vua nhà Chu có hai con trai, con trưởng là Đà, con thứ là Khắc. Vua nhà Chu yêu con thứ, vẫn ủy thác cho Chu công Hắc Kiên, sau này tất muốn cướp ngôi con trưởng, vậy nên Chu công Hắc Kiên định kết thân với nước ta, để lấy nước ta làm ngoại viện. Chúa công nhận những đồ vóc lụa ấy rồi cũng dùng được việc. Trịnh Trang công nói: - Dùng được việc gì? Sái Túc nói: - Chúa công vào triều vua nhà Chu, các nước chư hầu ai cũng biết cả, nay Chúa công đem những vóc lụa ấy phủ lên 10 xe lúa của Thiên tử cho. Khi trở ra về, nói phao lên rằng vua Chu có ban cung tên cho Chúa công để đem quân sang đánh Tống, vì nước Tống lâu nay bỏ thiếu không vào triều cống Thiên tử. Mượn cái hiệu lệnh ấy mà lấy quân các nước chư hầu, nước nào không theo thì cho là trái mệnh. Ta làm như vậy, các nước chư hầu chắc phải tin theo, nước Tống dẫu lớn, địch lại thế nào nổi. Trịnh Trang công vỗ vào vai Sái Túc mà bảo rằng: - Nhà ngươi thật là một kẻ trí sĩ, việc gì ta cũng xin theo ý nhà ngươi mà làm. Trịnh Trang công ra khỏi địa phận nhà Chu, giả cách nói phụng mệnh Thiên tử sai sang đánh Tống, ai nghe cũng tưởng là chuyện thực. Tin đồn đến nước Tống, Tống Thương công sợ hãi, sai người sang mật cáo với Vệ Tuyên công. Vệ Tuyên công mới điều đình với Tề Hi công để cùng với Tống và Trịnh giảng hòa, hẹn đình ngày tháng hội nhau ở đất Ngõa Ốc, uống máu ăn thề, cùng bỏ hết những điều thù oán cũ. Tề Hi công đúng hẹn đến hội, thấy Trịnh Trang công không đến, Tề Hi công nói: - Trịnh Trang công không đến thì hòa nghị hỏng mất! Nói xong, đã toan lên xe về nước. Tống Thương công cố ý giữ lại. Tề Hi công nể mà ở lại, nhưng vẫn có ý không nhất quyết; chỉ có nước Tống và nước Vệ là có tình thân mật, cùng giao ước với nhau mà thôi. Bấy giờ vua Hoàn Vương nhà Chu, muốn bãi quyền của Trịnh Trang công, toan cho Quắc công Kỵ Phủ vào thay. Chu công Hắc Kiên cố ý can, vua Hoàn Vương nhà Chu mới dùng Quắc công Kỵ Phủ làm Hữu khanh sĩ, giao giữ quốc chính; còn Trịnh Trang công cho làm Tả khanh sĩ, chẳng qua chỉ có hư danh mà thôi. Trịnh Trang công nghe tin, vừa cười vừa nói: - Liệu chừng vua nhà Chu có cách được chức của ta chăng! Sau nghe nói Tống Thương công kết thân với Tề, mới gọi Sái Túc vào thương nghị. Sái Túc nói: - Tề cùng với Tống nguyên không phải là thâm giao, chỉ vì có Vệ Tuyên công ở giữa điều đình hai nước, vậy nên dẫu ăn thề với nhau, nhưng không thực bụng. Nay Chúa công đem mệnh Thiên tử truyền bá cho Tề, Lỗ; rồi nhờ Lỗ điều đình với Tề để hợp sức mà đánh Tống; lại cho hịch đi lấy quân cả nước Sái, nước Vệ, nước Thành và nước Hứa, nước nào không theo thì đem quân đến đánh. Trịnh Trang công nghe lời, sai sứ đến nước Lỗ, hẹn với Lỗ rằng: Hễ lấy được đất nước Tống thì cho nước Lỗ tất cả. Công tử Huy nước Lỗ là người tham lam, vội vàng vâng lời ngay, nói với Lỗ Ẩn công, rồi cùng với nước Tề và nước Trịnh hội nhau ở đất Trung Khâu. Tề Hi công sai em là Di Trọng Niên làm tướng, Lỗ Ẩn công sai công tử Huy làm tướng, để cùng nhau đem quân đi giúp Trịnh. Trịnh Trang công thân hành đem bọn công tử Lã, Cao Cừ Di, Dĩnh Khảo Thúc và Công Tôn Át đi đánh. Chế ra hai lá cờ trên đề 4 chữ: "Phụng thiên thảo tội", cùng với Di Trọng Niên và công tử Huy thẳng đường kéo sang nước Tống. Công tử Huy đến địa phận Lão Đào (đất nước Tống) quan trấn thủ ở đấy đem quân ra đánh, bị công tử Huy đánh cho một trận, phải bỏ đồ binh khí mà chạy. Quân nước Tống bị bắt hơn 250 người. Công tử Huy đem tin thắng trận báo cho Trịnh Trang công biết và mời Trịnh Trang công đến đóng quân ở đất Lão Đào. Trịnh Trang công mừng lắm, truyền mở tiệc để khao thưởng quân sĩ. Nghỉ ngơi trong hai ngày, rồi lại chia quân đi đánh các nơi; sai Dĩnh Khảo Thúc cùng với công tử Huy đem quân đi đánh Cáo Thành, cho công tử Lã làm tiếp ứng; lại sai Công Tôn Át cùng với Di Trọng Niên đem quân đi đánh Phòng Thành, cho Cao Cừ Di làm tiếp ứng, còn đại binh thì đóng tại Lão Đào. Tống Thương công nghe tin quân Tề, Lỗ và Trịnh đã vào trong nước, sợ xám mặt lại, đòi Khổng Phủ Gia đến để thương nghị. Khổng Phủ Gia nói: - Tôi sã sai người tới kinh đô nhà Chu để dò la tin tức thì Thiên tử không có sai Trịnh đánh Tống bao giờ, chẳng qua là Trịnh Trang công lập kế nói dối mà Tề và Lỗ mắc lừa đó thôi. Nhưng ba nước đã hợp sức nhau thì ta khó lòng mà địch nổi được, ngày nay chỉ còn kế này có thể khiến cho nước Trịnh không dám đánh mà tự khắc phải lui quân. Tống Thương công nói: - Trịnh đã được lợi, khi nào chịu lui quân. Khổng Phủ Gia nói: - Trịnh Trang công giả cách phụng mệnh Thiên tử để sai khiến các nước chư hầu, nay chỉ có Tề và Lỗ là vào đảng với nước Trịnh mà thôi. Trịnh Trang công đã đem quân sang đây thì trong nước tất không có phòng bị, Chúa công nên sai người đem vàng bạc sang khấn lễ nước Vệ, để nước Vệ hợp quân với nước Sái mà lẻn vào đánh nước Trịnh; Trịnh Trang công nghe tin nước mình có người đến đánh, tất nhiên phải rút quân về. Trịnh đã rút quân về thì Tề, Lỗ còn ở lại làm sao được. Tống Thương công nói: - Nhà ngươi nói phải đó, nhưng nhà ngươi không thân hành sang bảo nước Vệ thì nước Vệ vị tất đã chịu cất quân. Khổng Phủ Gia nói: - Tôi đem một đạo quân để dẫn đường cho Vệ sang đánh Trịnh. Tống Thương công cho Khổng Phủ Gia làm tướng đem quân và các đồ vàng ngọc vóc lụa sang nước Vệ, để mượn quân nước Vệ cùng lẻn vào đánh nước Trịnh. Vệ Tuyên công nhận các đồ lễ vật, rồi sai Hữu tể Xú đem quân cùng với Khổng Phủ Gia đi đường tắt lẻn sang đánh Trịnh. Thế tử Hốt cùng Sái Túc đang bàn nhau để đem quân ra chống giữ thì quân Tống và quân Vệ đã xâm phạm bờ cõi, cướp phá một trận, cướp được lương thực, bắt tù binh nhiều lắm, Hữu tể Xú toan tiến quân vào phá thành. Khổng Phủ Gia nói: - Mình nhân lúc người ta không có phòng bị mà lẻn sang đánh thì đã đánh được rồi, nên phải thôi ngay. Nếu ta kéo quân đến dưới chân thành, lỡ khi Trịnh Trang công rút quân về, trong đánh ra ngoài đánh vào thì quân ta khó lòng địch nổi; chi bằng ta mượn đường đi qua nước Đái mà rút quân về. Ta chắc rằng khi quân ta bỏ nước Trịnh mà về thì quân Trịnh Trang công cũng đã bỏ nước Tống mà đi rồi. Hữu tể Xú nghe lời, sai người sang mượn đường nước Đái. Người nước Đái nghi là Tống, Vệ lập mẹo để định đánh nước mình, mới đóng cửa lại, không cho đi qua. Khổng Phủ Gia giận lắm, cùng Hữu tể Xú chia quân làm hai ngã để đánh nước Đái; lại sai người sang mượn thêm quân nước Sái cùng sang đánh giúp. Bấy giờ bọn Dĩnh Khảo Thúc đã phá được Cáo Thành, bọn Công Tôn Át cũng phá được Phòng Thành, đều sai người đem tin thắng trận về báo với Trịnh Trang công. Trịnh Trang công vừa tiếp được tin thắng trận ấy thì lại thấy có tờ cáo cấp của Thế tử Hốt đưa đến.

Quay về bài gốc

0SHARES
 
34,907 ❤︎ Bài viết: 2241 Tìm chủ đề
HỒI THỨ 7 Dĩnh Khảo Thúc chết vì hiếu thắng Công tử Huy nịnh không phải đường

Trịnh Trang công tiếp được bức thư cáo cấp của Thế tử Hốt, tức thì truyền quân rút về. Bọn Di Trọng Niên, công tử Huy kéo nhau vào yết kiến Trịnh Trang công rồi hỏi Trịnh Trang công rằng: - Tiểu tướng này đang muốn thừa thế mà đánh tràn đi, chẳng hay vì cớ gì mà Chúa công lại muốn rút quân về? Trịnh Trang công là người gian hùng trí trá, mới giấu kín không cho biết việc Tống, Vệ lẻn vào đánh Trịnh, chỉ đáp lại rằng: - Ta phụng mệnh Thiên tử đến đây để đánh Tống, nhờ có binh uy của quí quốc lấy được hai thành, cũng đủ trị tội nước Tống rồi. Vả lại nước Tống là con cháu đời nhà Thương, Thiên tử ta vẫn có lòng kính trọng, ta cũng không nên tàn nhẫn quá. Thôi thì đã lấy được Cáo Thành, Phòng Thành, xin để kính tặng nước Tề và nước Lỗ, ta không dám tham lợi một chút nào. Di Trọng Niên nói: - Quí quốc phụng mệnh Thiên tử mà mượn quân của nước tôi thì bổn phận nước tôi phải phục dịch như vậy, có đâu lại dám lấy công. Nói xong, nhất định chối từ không nhận Trịnh Trang công nói: - Công tử nước Tề đã không nhận thì hai thành ấy xin kính tặng nước Lỗ, để đền cái công khó nhọc vào chiếm được đất Lão Đào trước. Công tử Huy chẳng chối từ một chút nào cả, tạ ơn Trịnh Trang công, rồi phái người ra trấn thủ Cáo Thành và Phòng Thành. Trịnh Trang công mở tiệc để khao thưởng quân sĩ rồi cùng với Di Trọng Niên và công tử Huy uống máu ăn thề với nhau: Từ nay trở đi, có xảy ra sự gì, ba nước phải đem quân mà giúp đỡ lẫn nhau, nếu ai bội ước thì đã có quỉ thần trách phạt. Di Trọng Niên về nước, đem chuyện lấy được Cáo Thành và Phòng Thành kể lại cho Tề Hi công biết. Tề Hi công nói: - Nước ta đã cùng với nước Trịnh ăn thề ở đất Thạch Môn để cùng kết thân với nhau, thế thì nay dẫu lấy được Cáo Thành và Phòng Thành, nên để cho nước Trịnh là phải. Di Trọng Niên nói: - Trịnh Trang công nhất định không nhận, lại cho cả nước Lỗ. Tề Hi công khen Trịnh Trang công là người rất công bằng. Trịnh Trang công về đến nửa đường, lại tiếp được một bức thư của nước Vệ đã dời quân sang đánh nước Đái rồi. Trịnh Trang công vừa cười vừa nói: - Ta vẫn biết hai nước ấy không làm gì nổi, nhưng Khổng Phủ Gia là người không biết binh pháp, đang đánh Trịnh mà lại sinh sự với Đái, âu là ta lập kế chiếm lấy nước Đái mới được. Nói xong, liền truyền cho bốn tướng chia làm bốn đội thẳng đường lẻn vào nước Đái. Nước Tống và nước Vệ hợp quân đánh Đái, lại mượn quân nước Sái đến đánh hộ. Bỗng có quân báo: - Nước Trịnh sai công tử Lã đem quân cứu Đái, hiện đã đóng quân ở ngoài 50 dặm. Hữu tể Xú nói: - Công tử Lã có biết chiến lược đâu, ngày trước đánh nhau với Thạch Hậu đã phải thua chạy, ta còn sợ cái gì! Được một lúc, lại có quân báo: Người nước Đái đã mở cửa thành đón quân nước Trịnh vào rồi. Khổng Phủ Gia nói: - Quân ta đã sắp lấy được nước Đái, ai ngờ, nước Trịnh lại đem quân đến giúp, làm cho ta uổng phí thì giờ. Hữu tể Xú nói: - Nước Đái đã có quân giúp, tất nhiên hợp sức để đánh ta, âu là ta trèo lên trên lũy ngắm vào trong thành xem sự thể ra sao mà phòng bị trước mới được. Nói xong, hai người rủ nhau trèo lên trên lũy để ngắm vào trong thành nước Đái. Bỗng nghe tiếng súng nổ ỳ ầm, trên mặt thành cắm rặt cờ hiệu nước Trịnh, công tử Lã mặc áo giáp, đứng trên mặt thành lên tiếng bảo Khổng Phủ Gia rằng: - Cám ơn các vị tướng quân, nay quân ta đã chiếm được nước Đái rồi! Nguyên là Trịnh Trang công lập kế, giả cách sai công tử Lã đem quân cứu Đái, kỳ thực Trịnh Trang công đem quân tiến vào trong thành nước Đái, đuổi vua nước Đái đi, rồi chiếm cứ lấy. Vua nước Đái đem gia quyến chạy sang nước Tần. Khổng Phủ Gia thấy Trịnh Trang công chiếm cứ nước Đái, nổi cơn tức giận, trật mũ ném xuống đất, nói: - Tức thật! Thế nào ta cũng đánh được nước Trịnh mới nghe. Hữu tể Xú nói: - Trịnh Trang công vốn là người gian giảo, binh pháp giỏi lắm, tất thế nào cũng có quân tiếp ứng; nếu mà trong ngoài cùng đánh thì quân ta nguy lắm. Khổng Phủ Gia nói: - Sao quan Hữu tể lại nói những câu nhát gan làm vậy. Nói chưa dứt lời thì trong thành có người đưa tờ chiến thư đến, Khổng Phủ Gia phê ngay một câu, hẹn đến hôm sau thì ra đánh, rồi sai người đi ước với quân nước Vệ và nước Sái. Vệ, Sái vừa đem quân đến thì bỗng nghe tiếng súng nổ, lửa sáng rực trời, có quân nước Trịnh lại khiêu chiến. Khổng Phủ Gia giận lắm, tay cầm cái thiên phương kích để ra đối địch thì lại thấy lửa tắt, không có gì cả. Vừa toan trở vào, bỗng thấy phía tả lửa cháy, đến nơi thì lại tắt ngay. Được một lúc, ở phía hữu lại thấy súng nổ và lửa cháy. Khổng Phủ Gia nói: - Đó là quân giặc lập mưu để đánh lừa ta. Nói xong, liền ra lệnh cho quân sĩ, cấm không được náo động. Bỗng nghe báo quân nước Sái bị quân nước Trịnh phá vỡ, Khổng Phủ Gia vội vàng đem quân đi cứu; đi đến nửa đường, gặp một toán quân kéo đến, hai bên đánh lẫn nhau một hồi lâu, rồi mới biết là quân nước Vệ. Khi Khổng Phủ Gia rút quân về thì đại dinh đã bị Cao Cừ Di chiếm cứ mất rồi; phía hữu có Công Tôn Át ra đánh nhau ở Hữu tể Xú; phía tả có Dĩnh Khảo Thúc ra đánh nhau với Khổng Phủ Gia. Khổng Phủ Gia thua chạy. Chạy được một quãng, lại bị Cao Cừ Di đuổi theo. Khổng Phủ Gia chỉ còn có vài mươi người đầy tớ đem nhau chạy thoát được; còn Hữu tể Xú thì chết trong đám loạn quân. Trịnh Trang công chiếm được nước Đái, lại đánh tan được quân nước Tống, nước Vệ và nước Sái, mới thu quân về nước, mở tiệc ăn mừng. Các quan đều dâng chén rượu để mừng sự thắng trận. Trịnh Trang công có ý lên mặt, cầm chén rượu rót xuống đất mà nói rằng: - Ta nhờ cái thiêng liêng của trời đất tổ tông và cái công lao của các quan giúp đỡ, đánh đâu được đấy, tướng cũng chẳng kém gì các bậc phương bá ngày xưa. Các quan đều chúc câu: "Thiên tuế!" Chỉ có Dĩnh Khảo Thúc nín lặng, không nói gì cả. Trịnh Trang công trừng mắt mà nhìn Dĩnh Khảo Thúc. Dĩnh Khảo Thúc nói: - Chúa công nói thế là không phải! Các bậc phương bá ngày xưa làm chủ các nước chư hầu, được chuyên quyền đánh dẹp, đi đến đâu ai cũng phụng mệnh. Nay Chúa công giả mệnh thiên tử đi đánh nước Tống, mà nước Vệ và nước Sái dám giúp Tống để đánh Trịnh; nước Thành và nước Hứa là các nước nhỏ mà dám công nhiên không đem quân đến hội. Vậy thì các bậc phương bá ngày xưa, có đâu lại như thế! Trịnh Trang công vừa cười vừa nói: - Nhà ngươi nói phải đó! Nay ta đã đánh tan được quân Vệ và quân Sái cũng đủ trừng trị hai nước ấy rồi, bây giờ muốn hỏi tội nước Thành và nước Hứa thì nên đánh nước nào trước? Dĩnh Khảo Thúc nói: - Nước Thành tiếp giáp với nước Tề, nước Hứa tiếp giáp với nước Trịnh. Nay Chúa công muốn đánh Thành và Hứa thì nên kể rõ tội trạng, rồi sai một viên tướng đi giúp Tề để đánh Thành, lại mượn quân Tề cùng sang đánh Hứa. Khi đã đánh được Thành, Hứa rồi thì sai sứ sang nhà Chu báo tin thắng trận, để che cái tiếng giả mệnh vua nhà Chu. Trịnh Trang công khen phải, rồi sai người sang nói về Tề Hi công. Tề Hi công sai Di Trọng Niên với công tử Lã đem quân đánh Thành. Người nước Thành sợ hãi, nói với Tề xin giảng hòa. Tề Hi công sai người sang báo tin cho Trịnh Trang công biết, và hỏi đến hôm nào thì mượn quân đi đánh Hứa. Trịnh Trang công ước với Tề Hi công sang hội ở đất Thời Lai nước Trịnh, rồi mượn Tề Hi công lại sang cầu viện với Lỗ Ẩn công. Công tử Lã đi đánh nước Thành, về đến nửa đường bị bệnh mà chết. Trịnh Trang công thương tiếc vô cùng, vừa khóc vừa nói: - Công tử Lã chết đi, thật là ta thiệt mất một cánh tay phải! Nói xong, liền ban thưởng cho nhà công tử Lã và cho em là công tử Nguyên làm quan Đại phu. Còn chức Thượng khanh thì Trịnh Trang công đã toan cho Cao Cừ Di. Thế tử Hốt can rằng: - Cao Cừ Di có tính tham ác, không phải là người chính trực, phụ thân chớ nên tin dùng. Trịnh Trang công gật đầu, rồi cho Sái Túc làm Thượng khanh để thay công tử Lã, còn Cao Cừ Di thì cho làm Á khanh. Lại nói chuyện Tề, Lỗ đều đến đất Thời Lai hội với Trịnh Trang công, rồi hẹn ngày cùng kéo quân sang đánh Hứa. Trịnh Trang công hợp các tướng lại để luyện tập quân mã, chế ra lá cờ vuông một trượng hai thước, chung quanh đeo 24 cái nhạc đồng, trên đề bốn chữ: "Phụng thiên thảo hội", cán cờ dài ba trượng ba thước, cắm ở trên một cái xe lớn. Trịnh Trang công truyền lệnh có ai tay cầm lá cờ ấy mà đi lại như thường được thì cho làm tiên phong, và thưởng cho một cái xe Lộ xa. Trịnh Trang công nói chưa dứt lời, bỗng thấy ở trong hàng quân có một viên đại tướng chạy ra, đầu đội mũ bạc, mình mặc áo bào, mặt đen râu xồm, mày thô mắt lớn, nom ra thì là quan Đại phu Hà Thúc Doanh. Hà Thúc Doanh nói: - Tôi có thể cầm được. Nói xong, hai tay rút lá cờ lên, cầm thật vững vàng, rồi bước lên ba bước, lui lại ba bước, lại cắm vào trong cái xe, mà không thở một chút nào. Quân sĩ đều vỗ tay reo rầm lên. Hà Thúc Doanh vừa toan tạ ơn để lĩnh lấy xe thưởng, lại thấy có một viên đại tướng chạy ra, đầu đội mũ mao, mình mặc áo giáp, vừa đi vừa nói: - Cầm cờ mà bước đi, cũng chưa lấy gì làm lạ, tôi có thể cầm mà múa được. Quân sĩ nghe nói đều xúm lại xem thì là quan Đại phu Dĩnh Khảo Thúc. Dĩnh Khảo Thúc tay trái vén áo, tay phải rút lá cờ, rồi uốn mình nhảy cao lên một bước, múa chung quanh mấy vòng như người múa một cái giáo dài vậy. Lá cờ ấy lúc thì cuốn lại, lúc thì mở ra, người xem ai cũng lấy làm sợ hãi. Trịnh Trang công mừng lắm, nói: - Dĩnh Khảo Thúc thật là một viên hổ thần, đáng thưởng cái xe Lộ xa, và cho lĩnh ấn tiên phong. Trịnh Trang công nói chưa dứt lời thì lại thấy ở trong hàng quân có viên tướng trẻ tuổi, mặt trắng môi son, đầu đội mũ đỏ, mình mặc áo xanh, trỏ vào mặt Dĩnh Khảo Thúc mà quát to lên rằng: - Nhà ngươi múa được cờ, dễ thường ta không múa được hay sao! Hãy để xe đấy, không được lấy vội. Nói xong, rảo bước chạy đến để toan cướp lấy cái xe. Dĩnh Khảo Thúc trông thấy người ấy khí thế hùng dũng làm vậy, mới một tay cầm lá cờ, một tay nắm cái xe, vừa kéo vừa chạy. Viên tướng trẻ tuổi ấy giận lắm, liền cầm cái phương thiên kích đuổi theo. Trịnh Trang công sai Công Tôn Hoạch ra can ngăn. Viên tướng trẻ tuổi ấy trông thấy Dĩnh Khảo Thúc đi đã xa rồi, mới hầm hầm trở lại, vừa đi vừa nói: - Nó lại có ý khinh người! Thế nào ta cũng phải giết nó mới được. Viên tướng trẻ tuổi ấy là ai? Tức là Công Tôn Át, tên tự là Tử Đô, là một người đẹp trai nhất đời bấy giờ, Trịnh Trang công vốn có lòng yêu dấu lắm. Ông Mạnh Tử có câu: "Ai không biết Tử Đô là đẹp thì người ấy không có mắt!", chính là chỉ Công Tôn Át đó. Công Tôn Át xưa nay vốn là người hay ỷ thế cậy quyền, và lại có sức khỏe, thường vẫn không bằng lòng với Dĩnh Khảo Thúc, đến bây giờ lại càng tức khí nhau lắm. Trịnh Trang công bảo Công Tôn Át rằng: - Thôi hai con hổ không được đánh nhau nữa, để ta phân xử cho. Nói xong, lại truyền lấy mấy cái xe khác cho Công Tôn Át, và cho cả Hà Thúc Doanh nữa. Hai người lạy tạ lui ra. Đến tháng bảy năm ấy, Trịnh Trang công giao quốc chính cho Sái Túc và Thế tử Hốt, rồi đem quân tiến sang nước Hứa. Tề Hi công và Lỗ Ẩn công đã đem quân đến đóng ở ngoài đô thành nước Hứa, cách 20 dặm, để đợi Trịnh Trang công đến. Trịnh Trang công truyền mở tiệc để thết đãi. Trong khi ăn tiệc, Tề Hi công mở một tờ hịch ở trong tay áo ra. Tờ hịch ấy kể tội nước Hứa không vào triều cống vua nhà Chu. Lỗ Ẩn công và Trịnh Trang công xem xong, đều chắp tay mà nói rằng: - Như thế thì ta dùng quân mới hợp với lẽ phải. Nói xong, cùng hẹn nhau đến ngày hôm sau thì khai chiến, và sai người đem tờ hịch ấy bắn vào trong thành nước Hứa trước. Hứa là một nước nhỏ, thành cao, hào không sâu, bị quân ba nước vây kín chung quanh, trong thành xiết bao kinh sợ; chỉ vì Hứa Trang công là người nhân đức, vậy nên lòng dân ai cũng yêu mến gặp cơn nguy cấp đều hết sức chống giữ. Tề Hi công và Lỗ Ẩn công dẫu đem quân đến đánh, nhưng không phải chủ mưu, vậy nên cũng không gia sức, chỉ có quân nước Trịnh là cố sống liều chết để đánh lấy được mà thôi. Dĩnh Khảo Thúc nhân việc tranh nhau xe thưởng với Công Tôn Át ngày trước, lại càng cố ý hăng hái lắm. Đến ngày thứ ba, Dĩnh Khảo Thúc tay cầm lá cờ, đi trước hành quân, nhảy lên thành nước Hứa. Công Tôn Át trông thấy Dĩnh Khảo Thúc nhảy lên thành nước Hứa để lập công thì đem lòng ghen ghét, mới nấp ở trong đám loạn quân bắn một phát tên, Dĩnh Khảo Thúc ở trên mặt thành ngã gục xuống mà chết. Hà Thúc Doanh vẫn tưởng là Dĩnh Khảo Thúc bị quân giặc bắn phải, nổi cơn tức giận, lại cầm lá cờ nhảy lên mặt thành, reo ầm lên rằng: - Chúa công nước Trịnh ta đã lên mặt thành rồi. Quân sĩ nước Trịnh nghe nói, ngỡ là Trịnh Trang công đã lên mặt thành thật, đều đua nhau hết sức kéo ồ cả lên, phá vỡ cửa thành, cho quân Tề và quân Lỗ tiến vào. Hứa Trang công bỏ thành trốn sang nước Vệ. Tề Hi công đem thổ địa nước Hứa nhường cho Lỗ Ẩn công. Lỗ Ẩn công chối từ không nhận. Tề Hi công nói: - Mưu này tự nước Trịnh bày ra, nếu nước Lỗ không chịu nhận thì nên để cho nước Trịnh. Trịnh Trang công vẫn có bụng muốn lấy nước Hứa, nhưng thấy Tề Hi công và Lỗ Ẩn công đang nhường lẫn cho nhau, cũng giả cách chối từ không nhận. Bỗng thấy quân báo có quan Đại phu nước Hứa là Bách Lý đem một đứa bé con vào xin yết kiến. Tề Hi công, Lỗ Ẩn công và Trịnh Trang công đồng thanh mà truyền cho vào. Bách Lý xụp lạy ở dưới đất, kêu khóc xin thương lại cho dòng dõi nước Hứa. Tề Hi công hỏi rằng: - Đứa bé con nào thế? Bách Lý nói: - Vua nước Hứa tôi không có con trai, đây là em ruột tên gọi Tân Thần. Tề Hi công và Lỗ Ẩn công nghe nói, đều có lòng thương xót. Trịnh Trang công thấy tình cảnh như vậy, mới nghĩ ngay ra một kế mà nói rằng: - Ta phụng mệnh Thiên tử theo các quí quốc đi đánh kẻ có tội, nếu thấy thổ địa mà tham thì không hợp với việc nghĩa, nay Hứa Trang công dẫu có tội phải trốn đi, nhưng dòng dõi nước Hứa không nên khiến cho tuyệt tự, bây giờ có người em ở đó thì chúng ta nên đem nước Hứa mà trả lại cho hắn. Bách Lý nói: - Chúng tôi chỉ mong các quí quốc thương hại mà bảo toàn cho đứa trẻ con mồ côi này là đủ, còn thổ địa nước Hứa đã về tay quí quốc, có đâu dám mong lấy lại làm gì! Trịnh Trang công nói: - Ta trả lại nước Hứa là thực bụng như vậy. Tân Thần hãy còn trẻ tuổi, chưa đương nổi việc nước, âu là để ta phải cho người đến giúp. Nói xong, liền chia nước Hứa ra làm hai phần; nửa về phía đông thì để cho Tân Thần ở mà sai Bách Lý phù tá; còn nửa về phía Tây thì để cho quan Đại phu nước Trịnh là Công Tôn Hoạch ở đấy, tiếng gọi là giúp nước Hứa, nhưng kỳ thực là để coi giữ. Tề Hi công và Lỗ Ẩn công không biết là kế của Trịnh Trang công, đều khen Trịnh Trang công là xử trí rất phải. Bách Lý cùng với Tân Thần lạy tạ lui ra. Tề Hi công, Lỗ Ẩn công và Trịnh Trang công cũng đều đem quân về nước. Sau Hứa Trang công chết ở bên nước Vệ; Tân Thần bị nước Trịnh kiềm chế, đến khi Trịnh Trang công mất rồi, công tử Hốt và công tử Đột đánh nhau trong mấy năm, bấy giờ nước Trịnh rối loạn, Công Tôn Hoạch ốm chết, Tân Thần mới cùng Bách Lý lập mưu lấy lại nước Hứa. Lại nói đến chuyện Trịnh Trang công về nước, hậu thưởng cho Hà Thúc Doanh; lại thương nhớ Dĩnh Khảo Thúc vô cùng, tiếc rằng không biết người bắn Dĩnh Khảo Thúc hôm ấy là ai, mới hạ lịnh cho các quân sĩ, mỗi một tốt (100 người) phải nộp một con lợn, mỗi một hàng (25 người) phải nộp một con chó và một con gà, để sửa lễ cúng mà mời mấy người đồng cốt làm bài văn nguyền rủa người nào bắn chết Dĩnh Khảo Thúc. Công Tôn Át thấy vậy, chỉ bấm bụng cười thầm. Quân sĩ làm lễ nguyền rủa trong 3 ngày. Trịnh Trang công đem các quan đến xem, bỗng thấy một người đầu bù tóc rối, chạy đến trước mặt Trịnh Trang công quì xuống mà khóc rằng: - Tôi là Dĩnh Khảo Thúc lên được thành nước Hứa trước, có công với nước, bị đứa gian thần là Công Tôn Át thù về việc tranh xe ngày trước mà bắn chết tôi. Nay tôi đã xin với Ngọc Hoàng Thượng Đế bắt nó phải đền mạng, xin Chúa công thấu tình cho tôi ở dưới suối vàng được đội ơn nhiều lắm. Nói xong thò tay cấu cổ, máu phun ra như mưa, rồi lăn xuống chết ngay lập tức. Trịnh Trang công nhìn xem ai? Chẳng hóa ra là Công Tôn Át, vội vàng sai người cứu chữa thì đã bất tỉnh nhân sự rồi. Bấy giờ Trịnh Trang công mới biết người bắn Dĩnh Khảo Thúc; lại sai sứ đem các đồ lễ vật sang tạ ơn nước Tề và nước Lỗ. Sứ giả sang đến nước Lỗ, lại đem các đồ lễ vật về, và một bức thư vẫn nguyên phong chưa mở. Trịnh Trang công liền hỏi xem duyên cớ làm sao. Sứ giả nói: - Tôi mới vào bờ cõi nước Lỗ, nghe nói Lỗ Ẩn công bị công tử Huy giết rồi, bây giờ đã lập vua mới, tôi sợ bức thư này không hợp, vậy nên không dám đưa. Trịnh Trang công nói: - Lỗ Ẩn công là một người hiền lành, sao lại bị giết? Sứ giả nói: - Việc ấy tôi biết cả đầu đuôi. Ngày xưa Lỗ Huệ công yêu một người thiếp là Trọng Tử, lập làm kế thất. Trọng Tử sinh con tên Quĩ, Lỗ Huệ công muốn cho nối ngôi; còn Lỗ Ẩn công lại là con một người thiếp khác. Khi Lỗ Huệ công mất, Lỗ Ẩn công đã lớn tuổi, các quan mới tôn lên nối ngôi, nhưng Lỗ Ẩn công vẫn theo như ý muốn của cha, thường nói chuyện với các quan rằng: - Nước này là của công tử Quĩ, vì hắn còn bé, nên ta quyền tạm đó mà thôi. Công tử Huy nói với Lỗ Ẩn công xin làm chức Thái tể. Lỗ Ẩn công nói: - Đợi khi công tử Quĩ lên ngôi thì nhà ngươi hãy xin. Công tử Huy không hiểu ý, lại ngỡ là Lỗ Ẩn công có lòng ghét công tử Quỹ, mới mật tâu với Lỗ Ẩn công rằng: - Tôi thiết nghĩ lưỡi gươm sắc đã vào tay mình thì không nên đưa cho ai cả, nay Chúa công đã nối ngôi làm vua, người trong nước cũng đều tin phục, vậy thì khi Chúa công trăm tuổi, nên truyền ngôi lại cho con cháu, sao Chúa công cứ nói là quyền tạm, để khiến người ta sinh chán. Bây giờ công tử Quĩ đã lớn tuổi, tôi e rằng sau này bất lợi cho Chúa công, âu là tôi xin lập kế giết công tử Quĩ đi để Chúa công trừ cái lo xa ấy. Chúa công tính thế nào? Lỗ Ẩn công lấy tay gạt đi mà nói rằng: - Nhà ngươi không phải là điên cuồng, sao lại nói những câu càn rỡ như vậy, hiện nay ta đã sai người sửa sang cung thất ở đất Đồ Cứu, để sắp về dưỡng lão, chẳng bao lâu ta sẽ truyền ngôi cho công tử Quĩ. Công tử Huy nín lặng, cáo từ lui ra, có ý hối hận là nói lỡ lời, chỉ sợ Lỗ Ẩn công đem mấy câu ấy kể lại cho công tử Quĩ nghe thì khi công tử Quĩ lên nối ngôi tất trị tội mình. Ngay đêm hôm ấy lại đến yết kiến công tử Quĩ mà bảo công tử Quĩ rằng: - Chúa công thấy công tử đã lớn tuổi, sợ có ý muốn tranh ngôi, ngày hôm nay đòi tôi vào cung, mật sai tôi giết công tử đó. Công tử Quĩ sợ hãi, mới bàn mưu với công tử Huy. Công tử Huy nói: - Hắn đã bất nhân thì ta còn giữ nghĩa làm gì, nay công tử muốn tránh khỏi tai vạ thì rất phải giết hắn đi mới được. Công tử Quĩ nói: - Hắn làm chủ trong nước đã 11 năm nay, dân tình ai cũng tin phục, nếu việc không làm xong thì tất phải tai vạ. Công tử Huy nói: - Tôi đã vì công tử nghĩ mẹo rồi, nay mai Chúa công sắp sửa ra tế thần Chung Vu ở phía ngoài thành, mà khi ra tế, thường hay ở nhà Vĩ Đại Phu. Âu là ta phục sẵn quân dũng sĩ ở đấy rồi nhân lúc ngủ đổ ra mà giết, chẳng qua chỉ sức một người cũng có thể làm xong. Công tử Quĩ nói: - Kế này dẫu khéo, nhưng làm thế nào mà tránh khỏi được tiếng xấu. Công tử Huy nói: - Ta bảo quân dũng sĩ trốn cả đi, rồi đổ tội cho Vĩ Đại Phu chứ có hề gì! Công tử Quĩ sụp lạy công tử Huy mà nói rằng: - Nếu khi xong việc thì xin để ngài làm thái tể. Công tử Huy cứ theo kế ấy mà làm, quả nhiên giết được Lỗ Ẩn công. Công tử Quĩ lên nối ngôi, công tử Huy làm thái tể, đổ tội cho Vĩ Đại Phu rồi đem quân đến đánh. Người nước Lỗ ai cũng biết cả, nhưng sợ quyền thế công tử Huy, không ai dám nói. Trịnh Trang công hỏi các quan rằng: - Nay ta nên đánh với nước Lỗ hay nên hòa với nước Lỗ. Sái Túc nói: - Nước Lỗ và nước Trịnh ta xưa nay vẫn hòa hiếu với nhau. Tôi chắc rằng nước Lỗ nay mai tất cũng cho sứ sang nói lại. Nói chưa dứt lời thì nghe báo có sứ nước Lỗ đến, Trịnh Trang công sai người hỏi ý thì sứ nước Lỗ nói là công tử Quĩ mới lên nối ngôi, sai người đến giảng hòa để giữ lấy tình giao hiếu. Trịnh Trang công tiếp đãi tử tế rồi hẹn nhau cùng hội ở đất Việt Địa để uống máu ăn thề. Từ bấy giờ nước Lỗ và nước Trịnh, hai nước giao hiếu với nhau. Công tử Phùng ở nước Trịnh, một hôm bỗng có sứ nước Tống đến đón công tử Phùng về nối ngôi. Trịnh Trang công nói: - Chưa biết hư thực thế nào, hay là nước Tống đánh lừa công tử Phùng về để mà giết đi chăng. Sái Túc nói: - Đợi xem tờ quốc thư của nước Tống thì biết rõ.

Quay về bài gốc

0SHARES
 
34,907 ❤︎ Bài viết: 2241 Tìm chủ đề
HỒI THỨ 8 Hoa Đốc bày mưu để giết vua Trịnh Hốt cố từ không lấy vợ

Tống Thương công từ khi lên ngôi, chỉ vì có công tử Phùng ở nước Trịnh, vậy nên đem lòng thù oán, cử binh sanh đánh nước Trịnh đã ba lần rồi. Quan Thái tể nước Tống là Hoa Đốc vốn chơi thân với công tử Phùng, thấy Tống Thương công hay đánh nước Trịnh, ngoài miệng dẫu không can ngăn, nhưng trong bụng vẫn có ý không bằng lòng. Khổng Phủ Gia là quan Tư mã bấy giờ, Hoa Đốc mới nghĩ cách để mưu hại, chỉ vì hắn là một người của Tống Thương công tin dùng, binh quyền ở trong tay, vậy nên không dám động đến. Từ khi Khổng Phủ Gia sang đánh nước Đái, thua trận trốn về, người trong nước ai cũng oán Tống Thương công không biết thương dân, gây việc tranh chiến, khiến cho dân trong nước vợ góa con côi, cửa nhà tan nát. Hoa Đốc lại sai người tâm phúc nói phao ở các nơi hương thôn rằng: - Mấy lần dùng quân, đều tại Khổng Phủ Gia sinh ra cả. Người trong nước tưởng thực, đều qui oán Khổng Phủ Gia. Hoa Đốc lại nghe nói vợ kế của Khổng Phủ Gia là Ngụy Thị có nhan sắc đẹp lắm, vẫn tiếc rằng không được trông thấy mặt bao giờ. Một hôm gặp tiết Thanh Minh, Ngụy Thị đi tảo mộ, Hoa Đốc trông thấy, ngẩn người ra mà nói rằng: - Ở đời có người đẹp đến như thế! Người ta đồn cũng không sai thật! Từ bấy giờ Hoa Đốc cứ ngày đêm mơ tưởng Ngụy Thị, nghĩ thầm trong lòng rằng ước gì lấy được nàng về thì cũng đủ thỏa một đời! Nhưng mà nếu không giết được người chồng thì làm thế nào mà lấy được người vợ, mới quyết chí định giết Khổng Phủ Gia. Gặp đến kỳ điểm binh, Khổng Phủ Gia luyện tập quân mã rất là nghiêm chỉnh. Hoa Đốc lại sai người tâm phúc, nói phao ở trong đám quân sĩ rằng: - Khổng Phủ Gia sắp sửa đem quân đi đánh Trịnh, hôm trước đã thương nghị với Hoa Đốc rồi, vậy nên hôm nay cần phải luyện tập quân mã. Quân sĩ nghe đồn, ai nấy đều sợ hãi cả, mới rủ nhau kéo đến cửa Hoa Đốc để kêu van, nhờ tâu với Tống Thương công mà định bãi việc tranh chiến cho. Hoa Đốc cố ý sai đóng cửa chặt lại, rồi cho người đứng ở trong khe cửa mà nói ra để phủ dụ quân sĩ. Quân sĩ càng cố ý xin vào yết kiến, người đâu kéo đến đông như kiến cỏ, cũng có kẻ lại mang cả đồ khí giới nữa. Chờ mãi cho đến chiều tối, không được vào yết kiến Hoa Đốc, quân sĩ đều nhao nhao cả lên. Hoa Đốc biết là quân sĩ đã có ý muốn náo động, mới mặc áo giáp, đeo gươm trường mà ra, đứng ở giữa cửa, rồi truyền cho quân sĩ phải im lặng, không được huyên náo để diễn thuyết cho mà nghe. Trước hết hãy đem những lời từ bi nhân đức để lấy lòng quân sĩ, rồi sau mới nói đến việc Khổng Phủ Gia làm tướng chỉ gây sự tranh chiến làm khổ dân, mà Chúa công ta cứ tin dùng quá, ta can ngăn thế nào cũng không nghe. Trong ba ngày nữa, lại sắp sửa cử đại binh sang đánh Trịnh, chẳng hay dân nước Tống ta có tội tình gì mà phải chịu những sự lầm than như vậy! Quân sĩ nghe lời Hoa Đốc nói khích, đều nghiến răng nghiến lợi, đem lòng tức giận, Hoa Đốc lại giả cách khuyên giải, nói: - Các ngươi chớ có vội vàng, nếu Khổng Phủ Gia biết mà tâu với Chúa công thì tính mệnh các ngươi khó lòng giữ được. Quân sĩ lại nhao nhao lên nói: - Cha con họ hàng nhà chúng tôi, mấy năm nay chỉ vì việc tranh chiến mà chết đến quá nửa; bây giờ lại sắp cử binh đi đánh Trịnh. Nước Trịnh kia binh hùng tướng dũng, địch thế nào nổi. Thôi thì đàng nào cũng chết, chi bằng ta giết thằng giặc ấy để trừ hại cho dân, dẫu chết cũng được thỏa lòng. Hoa Đốc nói: - Ta muốn ném con chuột, nên phải tránh cái đồ quí báu của ta, Khổng Phủ Gia dẫu tàn ác, nhưng cũng là bề tôi yêu của Chúa công ta, việc đó quyết không nên làm. Quân sĩ nói: - Nếu được ngài làm chủ việc này cho thì cả đứa vô đạo hôn quân, chúng tôi cũng chẳng sợ gì. Quân sĩ vừa nói vừa xúm lại nắm lấy áo Hoa Đốc mà đồng thanh reo lên rằng: - Chúng tôi xin theo ngài mà giết những đứa hại dân ấy. Bấy giờ Hoa Đốc bị quân sĩ dìu lên xe, rồi kéo thẳng đến nhà Khổng Phủ Gia. Quân sĩ vây kín nhà Khổng Phủ Gia lại. Hoa Đốc nói: - Các ngươi yên lặng, không nên lên tiếng vội, để ta gọi cửa đã. Bấy giờ trời đã tối. Khổng Phủ Gia đang ngồi uống rượu ở nhà trong, nghe thấy ở ngoài cửa có tiếng gõ cửa mạnh lắm, sai người truyền hỏi, mới biết là có Hoa Đốc đến thương thuyết về việc cơ mật. Khổng Phủ Gia vội vàng đội mũ mặc áo chạy ra để nghênh tiếp, vừa mới mở cửa thì quân sĩ kéo ồ nhau vào. Khổng Phủ Gia sợ hãi, quay mình trở lại. Hoa Đốc bước ngay lên thềm, rồi quát to lên rằng: - Thằng giặc hại dân đấy, sao không xử ngay đi. Khổng Phủ Gia chưa kịp nói câu gì, đầu đã rơi xuống đất. Hoa Đốc tức khắc sai người tâm phúc vào nhà trong bắt lấy Ngụy Thị để lên xe đem về. Ngụy Thị ngồi trong xe không biết nghĩ làm thế nào, liền cởi dây lưng ra thắt cổ, khi về đến cửa Hoa Đốc thì đã tắt hơi chết rồi. Hoa Đốc phàn nàn tiếc mãi, rồi sai đem ra ngoài cõi để an táng; nghiêm cấm người nhà không được tiết lộ việc ấy cho ai biết. Quân sĩ thừa thế cướp phá nhà Khổng Phủ Gia chẳng còn một tí gì. Khổng Phủ Gia chỉ có một con trai tên là Mộc Kim Phủ, tuổi hãy còn bé, người nhà ẵm chạy sang nước Lỗ, sau đến cháu sáu đời ông ấy tức là đức thánh Khổng Tử. Tống Thương công nghe nói Khổng Phủ Gia bị giết, giật mình kinh sợ, lại nghe nói Hoa Đốc cũng dự vào việc ấy, có ý giận lắm, tức khắc sai người đòi đến để trị tội. Hoa Đốc cáo ốm không chịu đến. Tống Thương công định thân hành đến thăm nhà Khổng Phủ Gia. Hoa Đốc nghe tin, mới họp quân sĩ lại bảo rằng: - Chúa công ta xưa nay vẫn tin dùng Khổng Phủ Gia, các ngươi đều biết cả, bây giờ các ngươi giết Khổng Phủ Gia, chắc là có tội. Tiên công (Lỗ Mục công) ta ngày xưa bỏ con mình (công tử Phùng) mà lập Chúa công, Chúa công đã không biết ơn, thấy công tử Phùng ở nước Trịnh, lại cứ nghe lời Khổng Phủ Gia để đem quân đi đánh. Nay Khổng Phủ Gia bị giết, chẳng qua cũng là đạo trời, chi bằng ta giết luôn đứa hôn quân ấy đi mà đón con Tiên công là công tử Phùng về nối ngôi, chẳng cũng hay lắm sao! Quân sĩ đều nói: - Ngài dạy thế chính hợp với ý chúng tôi. Nói xong, liền kéo nhau đến phục sẵn ở cửa nhà Khổng Phủ Gia, để đợi khi Tống Thương công đến thì khởi sự. Khi Tống Thương công đến, quân sĩ hai bên đổ ra, các thị vệ bỏ chạy tán loạn cả. Tống Thương công chết ở trong đám loạn quân, Hoa Đốc nghe báo, mặc đồ tang phục đến khóc Tống Thương công, rồi nổi hiệu trống họp các quan lại, bắt mấy người ở trong đám quân sĩ đem chém, để che mắt thiên hạ. Hoa Đốc lại bảo các quan rằng: - Nay dân tình vẫn còn mến cái ân nghĩa của Tiên công ta thuở xưa, muốn đón công tử Phùng về nối ngôi, các quan nghĩ thế nào? Các quan bấy giờ đều vâng vâng dạ dạ. Hoa Đốc sai sứ sang nước Trịnh để báo tang Tống Thương công và đón công tử Phùng về nối ngôi; một mặt đem đồ châu ngọc ở trong kho nước Tống đi khấn lễ với các nước. Trịnh Trang công tiếp sứ nước Tống, nhận tờ quốc thư, rồi sai người đưa công tử Phùng về nối ngôi. Công tử Phùng sụp lạy ở dưới đất, vừa khóc vừa nói; - Tôi sống được đến ngày nay, cũng là nhờ ơn Chúa công, bây giờ về nước, may mà được nối ngôi thì xin một lòng thần phục nước Trịnh, không bao giờ dám sai. Trịnh Trang công nghe nói, cũng ứa nước mắt. Công tử Phùng về đến nước Tống, Hoa Đốc tôn lên làm vua, tức là Tống Trang công, còn Hoa Đốc vẫn làm thái tể. Các nước chư hầu đều nhận đồ khấn lễ của nước Tống, đến hội nhau ở đất Tắc (đất nước Tống) để chứng kiến việc công tử Phùng lên nối ngôi. Tề Hi công sang hội ở đất Tắc, về đến nửa đường tiếp được thư cáo cấp nói vua đất Bắc Nhung sai Đại Lương, Tiểu Lương làm nguyên soái đem một vạn quân sang đánh nước Tề, hiện đã phá vỡ đất Chúc A và đất Lịch Hạ, các quan trấn thủ không tài nào đương nổi, vậy phải sai người cáo cấp để đón Tề Hi công về ngay. Tề Hi công nói: - Giặc Bắc Nhung xưa nay vẫn thường vào quấy nhiễu, chẳng qua như con chuột con chó đến cắn trộm mà thôi, nay lại dám cử đại binh vào ăn cướp, nếu để cho hắn được lợi thì từ nay trở đi khó lòng mà ngồi yên được! Nói xong, một mặt sai người sang mượn quân Lỗ, Vệ, Trịnh đến đánh hộ, và một mặt đem quân về Lịch Hạ để đánh Bắc Nhung. Trịnh Trang công nghe nói nước Tề có giặc Bắc Nhung đến đánh, mới gọi Thế tử Hốt bảo rằng: - Tề cùng nước ta vốn kết thân với nhau, nay đến mượn quân thì ta phải sang giúp. Nói xong, liền sai Thế tử Hốt làm đại tướng, Cao Cừ Di làm phó tướng, Chúc Đam làm tiên phong, cùng đem quân kéo sang nước Tề. Bấy giờ quân Lỗ và quân Vệ chưa đến, Tề Hi công thấy Thế tử Hốt đã đem quân tới, lấy làm cám ơn lắm, mới truyền mở tiệc để thết đãi và cùng với Thế tử Hốt bàn việc đánh giặc Bắc Nhung. Thế tử Hốt nói: - Ta cho một đạo quân ra dụ giặc, giả cách thua chạy, rồi phục một toán quân để đón đánh, tất nhiên quân giặc sợ mà phải vỡ. Khi quân giặc đã vỡ rồi, ta đuổi tràn đi, chắc được toàn thắng. Tề Hi công nói: - Kế ấy rất phải! Thế tử Hốt đem quân ra mai phục ở phía Bắc, Tề Hi công sai công tử Nguyên đem quân ra mai phục ở phía đông, rồi lại sai Công Tôn Đái Trọng đem một đạo quân ra đối địch với quân giặc, mà hẹn cho phải giả cách thua chạy. Công Tôn Đái Trọng phụng mệnh đem quân ra trận. Tướng Bắc Nhung là Tiểu Lương cầm đao xông lại nghênh chiến. Hai bên đánh nhau được độ 20 hợp, Công Tôn Đái Trọng giả bộ thua chạy. Tiểu Lương giục ngựa đuổi theo. Đại Lương thấy vậy cũng đem đại binh theo sau. Khi đi đến gần Đông môn, bỗng nghe tiếng súng nổ, chuông trống rầm trời, phục binh ở trong bụi lau kéo ra như kiến. Tiểu Lương biết trúng kế, vội vàng quay ngựa chạy lại, chẳng ngờ gặp phải đại binh của Đại Lương kéo sau, hai bên xô đẩy lẫn nhau, thành ra vỡ quân, bỏ chạy tán loạn. Công Tôn Đái Trọng cùng với công tử Nguyên hợp sức đuổi theo. Đại Lương và Tiểu Lương vừa đánh vừa chạy. Chạy đến núi Thước Sơn, Đại Lương và Tiểu Lương ngoảnh đầu trông lại, thấy quân đuổi theo đã hơi xa xa, mới toan ngồi lại để nghỉ ngơi ở dưới chân núi. Bỗng thấy một toán quân ở phía sau núi đổ ra, tức là quân Cao Cừ Di, phó tướng nước Trịnh. Đại Lương và Tiểu Lương lại đem nhau lên ngựa bỏ chạy. Cao Cừ Di giục quân đuổi theo. Đuổi được vài dặm, phía trước lại có quân Thế tử Hốt kéo đến, còn phía sau thì quân công tử Nguyên cũng kéo đến, rồi cùng nhau đánh cho quân Bắc Nhung thất điên bát đảo. Tiểu Lương bị Chúc Đam bắn một phát tên, ngã ngựa mà chết. Còn Đại Lương một mình một ngựa phá vòng vây mà chạy, lại gặp phải quân Thế tử Hốt, bị Thế tử Hốt chém chết. Thế tử Hốt đem đầu Đại Lương và Tiểu Lương về nộp Tề Hi công. Tề Hi công mừng lắm, nói: - Nếu không nhờ có cái sức anh hùng của Thế tử thì sao cho lui được giặc Bắc Nhung, ngày nay nước tôi yên ổn, thật là đội ơn Thế tử nhiều lắm. Thế tử Hốt nói: - Gọi là giúp đỡ một chút, sao Chúa công lại dạy quá lời như vậy! Tề Hi công sai sứ đi nói với nước Lỗ và nước Vệ không mượn quân nữa, rồi truyền mở tiệc để thết đãi Thế tử Hốt. Trong khi ăn tiệc, lại nói đến việc xin gả con gái cho Thế tử Hốt. Thế tử Hốt hai ba lần chối từ, nhất định không nhận. Sau khi tiệc đã tan rồi, Tề Hi công sai Di Trọng Niên bảo riêng với Cao Tử Di rằng: - Chúa công tôi yêu mến Thế tử là người anh hùng, vậy muốn cầu thân với Thế tử, ngày trước đã sai sứ sang nói, hôm nay Chúa công tôi lại nói với Thế tử mà Thế tử nhất định không nghe, không biết là ý tứ làm sao? Nếu ngài mà nói giúp được việc ấy thì xin biếu hai viên ngọc bích và một trăm nén vàng. Cao Cừ Di nhận lời, rồi vào yết kiến Thế tử Hốt, nói với Thế tử Hốt rằng: - Tề Hi công đã có lòng yêu mến Thế tử như vậy, nếu Thế tử bằng lòng mà kết thân với Tề thì sau này được một nước lớn giúp mình, chẳng cũng hay lắm sao! Thế tử Hốt nói: - Ngày trước đang lúc vô sự, Tề Hi công muốn gả con cho ta, ta còn không muốn lấy; ngày nay ta phụng mệnh sang cứu Tề, may mà thành công được, lại lấy con gái nước Tề, nếu vậy thì người ngoài tất bảo ta là cậy công mà ép người ta phải gả, sao cho tránh khỏi tiếng xấu ấy. Cao Cừ Di hai ba lần nói tán vào mà Thế tử Hốt cũng nhất định không nghe. Ngày hôm sau, Tề Hi công lại sai Di Trọng Niên đến nói việc kết hôn. Thế tử Hốt lại từ chối, nói: - Chưa bẩm mệnh cha, không dám nhận lời vội. Nói xong, tức khắc cáo từ về nước. Tề Hi công giận lắm, nói: - Con gái ta như thế, lo gì mà không có chồng! Thế tử về đến nước Trịnh, đem chuyện từ hôn nói với Trịnh Trang công, Trịnh Trang công nói: - Con đã làm nên được công nghiệp thì lo gì không có vợ đẹp. Sái Túc bảo riêng với Cao Cừ Di rằng: - Chúa công ta ngày nay nội sủng nhiều lắm; công tử Đột, công tử Nghị và công tử Vỉ đều có ý muốn tranh ngôi. Nếu Thế tử Hốt kết hôn với Tề thì thêm được nước lớn làm vây cánh. Tôi thiết tưởng Tề không nghị hôn, mình còn nên đến mà cầu, sao nhà ngươi không biết khuyên Thế tử về việc ấy? Cao Cừ Di nói: - Tôi cũng đã có nói, nhưng Thế tử không nghe thì biết làm thế nào! Cao Cừ Di vốn chơi thân vói công tử Vỉ, nghe lời nói của Sái Túc, hai người lại càng thân mật nhau lắm. Công tử Hốt nói riêng với Trịnh Trang công rằng: - Cao Cừ Di cùng với công tử Vỉ tư thông với nhau rất là thân mật, Chúa công nên phải phòng bị mới được. Trịnh Trang công đem lời Thế tử Hốt trách mắng Cao Cừ Di. Cao Cừ Di chối không, rồi lại đem chuyện kể lại công tử Vỉ. Công tử Vỉ nói: - Cha ta trước đã toan dùng nhà ngươi làm chính khanh, cũng vì Thế tử Hốt ngăn trở, bây giờ lại còn muốn cấm hai ta không được đi lại với nhau. Cha ta hãy còn mà ta đã thế rồi, nữa là một mai cha ta trăn tuổi đi, chúng ta cũng khó lòng mà ở với hắn được. Cao Cừ Di nói: - Thế tử là người nhu nhược không quyết đoán, chắc cũng không làm hại gì đến ai, xin công tử chớ lấy làm lo. Từ bấy giờ công tử Vỉ cùng với Cao Cừ Di có ý hiềm khích với Thế tử Hốt. Đến sau Cao Cừ Di giết Thế tử Hốt mà lập công tử Vỉ cũng vì cớ ấy. Lại nói đến chuyện Sái Túc bàn mưu với Thế tử Hốt khiến kết thân với Trần và Vệ để làm ngoại viện. Thế tử Hốt lấy làm phải. Sái Túc liền nói với Trịnh Trang công sai sứ sang Trần để cầu hôn, cưới nàng Vỉ Thị nước Trần về làm vợ Thế tử Hốt. Lỗ Hoàn công cũng sai sứ sang nước Tề để cầu hôn.

Quay về bài gốc

0SHARES
 
34,907 ❤︎ Bài viết: 2241 Tìm chủ đề
HỒI THỨ 9 Tề Hầu đưa con gái sang Lỗ Chúc Đam bắn vua Chu trúng vai

Tề Hi công có hai người con gái, nhan sắc đẹp lắm, người con trưởng gả cho nước Vệ, tức là Vệ Tuyên Khương; còn người con thứ là Văn Khương thì mắt phượng mày ngài, mặt hoa da ngọc, thật là một bậc quốc sắc, vả lại tài cao học rộng, xuất khẩu thành văn, bởi thế mới đặt tên là Văn Khương. Thế tử nước Tề, tên gọi Chư Nhi Nguyên là phường tửu sắc, cùng với Văn Khương dẫu tình anh em, nhưng mỗi người một mẹ, chỉ suýt soát hơn Văn Khương độ một vài tuổi. Từ lúc bé đến lúc lớn ở chung một nhà, chơi đùa với nhau, nhiều khi kề vai dắt tay, nam nữ không có phân biệt gì cả. Tề Hi công lại chiều con quá, không giữ gìn khuôn phép, để đến nỗi mai sau sinh ra nhiều chuyện chẳng hay. Từ khi Thế tử Hốt nước Trịnh dẹp tan được quân Bắc Nhung, Tề Hi công đã nhiều lần ở trước mặt Văn Khương khen Thế tử Hốt là bậc anh hùng ít có, nay lại bàn đến việc gả Văn Khương cho; Văn Khương nghe nói có ý mừng thầm. Sau Thế tử Hốt cố từ không nhận, Văn Khương trong lòng uất ức, thành ra bệnh mê hoảng như người điên dại, không ăn không ngủ được. Thế tử Chư Nhi lại tạ sự thăm bệnh, thường thường ra vào lân la ở bên giường nằm. Cuối mắt đầu mày, đem lòng dan díu, chỉ vì có các cung nhân ở tả hữu, nên không đến nỗi loạn dâm. Một hôm Tề Hi công vào thăm Văn Khương, trông thấy Thế tử Chư Nhi ở trong buồng, liền trách mắng rằng: - Ngươi dẫu là trong anh em, nhưng cũng nên giữ lễ mà tị hiềm mới phải! Từ nay trở đi, việc gì đã có cung nhân sai khiến, ngươi không được vào đây nữa. Thế tử Chư Nhi vâng dạ lui ra. Văn Khương ở chốn thâm khuê, một mình buồn bã, lại thêm nhớ Thế tử Chư Nhi, bệnh thế càng ngày càng nặng, trong lòng uất ức mà không nói ra miệng được. Chính thật là: Đứa câm ngậm quả bồ hòn, Nỗi niềm cay đắng ai còn biết cho! Lại nói đến chuyện Lỗ Hoàn công năm lên nối ngôi, dầu đã lớn tuổi, nhưng vẫn chưa có phu nhân. Quan Đại phu là Tang Tôn Đạt nói: - Chúa công nên lấy Tôn miếu làm trọng, phải tìm một người làm chủ trong cung. Công tử Huy nói: - Tôi nghe đồn Tề Hi công có người ái nữ tên là Văn Khương đã toan gả cho Thế tử Hốt nước Trịnh mà lại không xong, sao Chúa Công không cho người đi hỏi lấy. Lỗ Hoàn công nghe lời, rồi sai công tử Huy sang cầu hôn với nước Tề. Tề Hi công thấy Văn Khương bệnh thế chưa yên, còn hẹn lại không cho cưới vội. Cung nhân đem tin mừng ấy nói với Văn Khương. Văn Khương vốn là bệnh uất ức, nghe được tin ấy trong lòng khoan khoái, bệnh thế mỗi ngày một bớt dần. Đến lúc Tề, Lỗ vì việc Hoa Đốc nước Tống sang hội ở đất Tắc, Lỗ Hoàn công đem việc cầu hôn nói với Tề Hi công. Tề Hi công hẹn đến năm sau. Sau Lỗ Hoàn công lại thân hành đến đất Doanh (đất nước Tề) để hội với Tề Hi công. Tề Hi công cảm cái ơn Lỗ Hoàn công ân cần như vậy, mới thuận gã Văn Khương cho, hẹn đến mùa thu thì thân hành đưa Văn Khương sang Lỗ để thành hôn. Thế tử Chư Nhi nghe thấy Văn Khương sắp đi lấy chồng nước khác, mới sai cung nhân giả cách đưa cho Văn Khương một cành hoa và kèm thêm một cái bao thơ để nói ghẹo. Văn Khương biết ý lại họa lại một bài. Thế tử Chư Nhi xem thơ, biết là Văn Khương có lòng quyến luyến, càng mê mẩn tâm thần. Chẳng được bao lâu, Lỗ Hoàn công sai công tử Huy sang đón. Tề Hi công vì cớ yêu con, định thân hành đi đưa Văn Khương. Thế tử Chư Nhi nói với Tề Hi công rằng: - Nay phụ thân gả tiện muội cho Lỗ hầu, thật là một việc rất hay, khiến cho hai nước thêm tình thân mật, nhưng Lỗ Hầu không thân hành sang đón mà sai công tử Huy, con thiết tưởng phụ thân làm chủ trong nước, đi xa không tiện, âu là phụ thân để cho con đi thay cũng được. Tề Hi công nói: - Khi trước ta đã hứa lời để thân hành đưa Văn Khương sang Lỗ, có đâu ta lại thất tín. Nói chưa dứt lời thì có người báo rằng: - Lỗ Hoàn công đã thân hành đến đất Hoan Ấp (đất nước Lỗ) để đón. Tề Hi công nói: - Nước Lỗ thật là một nước biết giữ lễ nghĩa, sợ ta đi xa khó nhọc, vậy phải đón ở ngang đường, như thế thì làm thế nào ta cũng phải thân hành đi mới được. Thế tử Chư Nhi đành nín lặng lui ra. Đến hôm khởi hành, Thế tử Chư Nhi đi tiễn, lại ghé đến bên xe Văn Khương mà dặn nhỏ một câu rằng: - Em chớ có quên những câu thơ hôm trước! Văn Khương nói: - Xin anh cứ yên tâm, ngày xuân em hãy còn dài, thế nào cũng có ngày được xum họp. Tề Hi công giao quốc chính cho Thế tử Chư Nhi, rồi thân hành đưa Văn Khương đến đất Hoan Ấp. Lỗ Hoàn công bày tiệc để thết đãi. Tiệc xong, Tề Hi công cáo từ trở về. Lỗ Hoàn công đưa Văn Khương về nước. Từ bấy giờ nước Tề và nước Lỗ, hai nước cùng thân mật với nhau. Lại nói chuyện vua Hoàn Vương nhà Chu nghe được tin Trịnh Trang công giả mệnh đánh Tống, trong lòng tức giận, liền giao hết triều chính cho Quắc công Kỵ Phủ, không dùng Trịnh Trang công nữa. Trịnh Trang công nghe tin ấy, cũng đem lòng thù oán vua Hoàn Vương nhà Chu, bỏ luôn năm năm, không vào triều kiến. Vua Hoàn Vương nói: - Ngộ Sinh nước Trịnh rất là vô lễ! Nếu Trẫm không kể tội mà đem quân đến đánh thì người khác tất lại bắt chước làm càn. Quắc công Kỵ Phủ can rằng: - Nước Trịnh đã mấy đời nay làm khanh sĩ, công lao nhiều lắm, bây giờ lại không được cầm quyền chính, vậy nên tức mà không vào triều. Kẻ hạ thần thiết tưởng nhà vua nên hạ chiếu đòi vào, chứ không nên đi đánh. Vua Hoàn Vương nổi giận, nói: - Ngộ Sinh nó khinh Trẫm đã nhiều lần rồi! Trẫm cùng với Ngộ Sinh quyết không đội trời chung được. Nói xong, liền lấy quân nước Sái, nước Vệ và nước Trần cùng sang đánh nước Trịnh. Bấy giờ công tử Đà nước Trần giết Thế tử Vấn mà cướp ngôi, người trong nước không phục, bỏ đi nhiều lắm; vì cớ ấy nên khi vua nhà Chu lấy quân đi đánh Trịnh, công tử Đà không dám trái mệnh, phải cắt quân theo ngay, sai Bá Viên Chư làm tướng thẳng đường tiến sang nước Trịnh. Nước Sái và nước Vệ cũng cất quân đi theo vua nhà Chu. Trịnh Trang công nghe tin vua nhà Chu sắp kéo quân đến đánh, mới họp các quan lại để thương nghị. Sáu Túc nói: - Vì ta lâu không vào triều, nên Thiên tử đem quân đến đánh, cũng là lẽ phải, chi bằng ta sai người tạ tội thì tránh khỏi những sự tai vạ về sau. Trịnh Trang công nổi giận, nói: - Thiên tử đã truất quyền chính của ta, lại còn đem quân đến đánh. Bao nhiêu những công lao nước ta mấy đời vào giúp Thiên tử đều bỏ đi hết cả, khác nào như ngọn nước chảy xuôi; nếu ta không chống cự lại để đè nén đi thì khó lòng mà giữ yên được cơ nghiệp. Cao Cừ Di nói: - Nước Trần xưa nay vốn giao hiếu với ta, việc cất quân giúp vua nhà Chu, chẳng qua là sự bất đắc dĩ; chỉ có Sái, Vệ vốn thù oán với ta thì tất cố đánh mà thôi. Thiên tử đã nổi giận mà đem quân đánh đến thì ta cũng khó địch nổi được, âu là đóng cửa thành mà giữ thế thủ, đợi khi quân sĩ đã có ý trễ biếng rồi, bấy giờ hoặc chiến hoặc hòa, ta sẽ tùy liệu. Công tử Nguyên nói: - Cứ lấy lẽ mà nói thì chư hầu đánh nhau với Thiên tử là không phải đạo, vậy ta nên làm chóng đi, không nên để chậm, tôi dẫu hèn mạt cũng xin hiến một kế. Trịnh Trang công hỏi: - Kế gì? Công tử Nguyên nói: - Công tử Đà nước Trần mới giết vua mà cướp ngôi, người trong nước không ai chịu phục, nếu ta cho một đạo binh đánh nước Trần trước thì tất nhiên quân nước Trần phải vỡ chạy; rồi sau sẽ đánh đến Sái, Vệ. Sái, Vệ nghe Trần đã thua, tất cũng núng thế mà phải vỡ quân. Khi bấy giờ ta hợp sức nhau lại mà chống với Thiên tử thì chắc được toàn thắng. Trịnh Trang công nói: - Nhà ngươi thật là cao kiến lắm! Nói chưa dứt lời thì nghe báo Thiên tử đã kéo đến đất Nhu Cát, chia làm ba dinh, đóng liền với nhau. Trịnh Trang công nói: - Ta chỉ cốt phá được một dinh là xong tất cả! Nói xong, liền sai Man Bá đem một cánh quân đi về phía hữu, Sái Túc đem một cánh quân đi về phía tả, còn mình thì đem bọn Cao Cừ Di, Nguyên Phồn, Hà Thúc Doanh và Chúc Đam thẳng đường tiến lên, trong quân có vác một lá cờ "Phụng thiên thảo tội". Sái Túc nói: - Lá cờ "Phụng thiên thảo tội" là để đem quân đi đánh các nước chư hầu như Tống và Hứa thì phải, nếu đem đi đánh Thiên tử thì không hợp lẽ một chút nào. Trịnh Trang công nói: - Thế mà ta không nghĩ ra. Nói xong, liền sai đổi lá cờ khác và bảo Hà Thúc Doanh đem lá cờ "Phụng thiên thảo tội" cất vào trong kho, từ nay trở đi không dùng đến nữa. Vua Hoàn Vương nhà Chu nghe nói Trịnh Trang công đã kéo quân đến đất Nhu Cát, nổi cơn tức giận, toan thân hành đem quân ra đánh. Quắc công Kỵ Phủ can mãi mới thôi. Sáng hôm sau, Man Bá xông vào đánh quân nước Trần, quân nước Trần không đánh, bỏ chạy tức thì, lại xô đẩy quân nhà Chu, thành ra tan đám. Sái Túc xông vào đánh quân nước Sái và nước Vệ. Quân nước Sái và nước Vệ địch không nổi, cũng bỏ chạy cả. Vua Hoàn Vương truyền rút quân về, vừa đánh vừa chạy. Chúc Đam trông theo ngọn tàn che, biết là vua nhà Chu, liền giương cung nhằm theo bắn một phát tên trúng ngay vào vai, may mà áo giáp mặc ngoài hơi dầy một chút, nên chỉ bị thương nhẹ mà thôi. Chúc Đam thúc quân đuổi theo. Quắc công Kỵ Phủ đứng lại để chống với Chúc Đam, hai bên đánh nhau đang dữ dội thì Trịnh Trang công nổi hiệu thu quân. Vua Hoàn Vương rút quân ra đóng ở ngoài 20 dặm. Chu công Hắc Kiến đem chuyện người nước Trần không dụng lực để đến nỗi thua quân kể lại cho vua Hoàn Vương nghe. Vua Hoàn Vương có ý thẹn mà nói rằng: - Đó là cái lỗi của Trẫm dùng người không được minh. Chúc Đam rút quân về, vào nói với Trịnh Trang công rằng: - Tôi đã bắn trúng vai vua nhà Chu, vua nhà Chu sợ mất vía đi, chỉ việc tiến lên để bắt sống mà thôi, sao chúa công nổi hiệu thu quân làm gì vội. Trịnh Trang công nói: - Ta chỉ vì Thiên tử không minh, đã chẳng biết ơn lại còn đem lòng oán giận, bất đắc dĩ lắm ta mới phải đối địch, nhờ sức các ngươi mà giữ yên được cơ nghiệp, cũng đã đủ rồi, còn muốn cầu gì nữa. Cứ như lời nhà ngươi nói mà bắt Thiên tử đem về thì định xử làm sao? Vả lại ta bắn Thiên tử cũng là không nên, vạn nhất quá tay mà Thiên tử chết đi thì ta mắc phải cái tiếng giết vua. Sái Túc nói: - Chúa công nói phải lắm! Nay vua nhà Chu tất sợ hãi binh uy nước ta rồi, âu là ta sai sứ vào vấn an, khiến cho Thiên tử biết rằng bắn trúng vai ấy không phải là tự ý Chúa công. Trịnh Trang công nói: - Thế thì việc này lại phải đến nhà ngươi đi mới được. Nói xong liền sai Sái Túc đem các đồ lễ vật đến yết kiến vua nhà Chu để tạ tội. Sái Túc dập đầu xuống đất, lạy vua nhà Chu mà kêu van rằng: - Chúa công tôi là Ngộ Sinh (tên Trịnh Trang công) vì việc giữ nước mà phải đem quân ra phòng bị, chẳng ngờ quân sĩ vô ý phạm phải thánh thể, thật lấy làm sợ hãi lắm. Vậy có sai tôi là Sái Túc đến đây để tạ tội, xin Thiên tử thương tình mà đại xá cho. Vua Hoàn Vương nhà Chu nín lặng, không nói gì cả, bẽn lẽn có ý thẹn. Quắc công Kỵ Phủ đứng cạnh đỡ lời vua nhà Chu mà đáp lại rằng: - Ngộ Sinh đã biết hối thì cũng nên khoan thứ cho, sứ giả nước Trịnh lạy tạ Thiên tử đi. Sái Túc sụp lạy rồi cáo từ lui ra, lại đi thăm hỏi khắp cả các hàng quân sĩ. Vua Hoàn Vương từ khi thua trận, rút quân về nhà Chu, đem lòng căm tức, toan truyền hịch đi khắp các nơi để kể tội Trịnh Trang công. Quắc công Kỵ Phủ can rằng: - Chỉ tại nhà vua nóng nẩy quá, đến nỗi thua trận, nếu mà truyền hịch đi các nơi thì lại làm cho thiên hạ biết cái xấu ấy; các nước chư hầu ngày nay, trừ Trần, Sái, Vệ ra không kể, còn thì đều là đảng nước Trịnh cả. Ta lấy quân mà họ không theo thì lại làm cho nước Trịnh thêm cười ta mà thôi. Vả lại Trịnh đã biết sai Sái Túc sang tạ tội thì cũng nên khoan thứ cho nước Trịnh. Từ bấy giờ vua Hoàn Vương không nói gì đến việc nước Trịnh nữa. Lại nói đến chuyện vua nước Sái từ khi đem quân theo Thiên tử đi đánh Trịnh, nghe tin công tử Đà cướp ngôi nước Trần, dân tình không phục, mới đem quân lẻn sang để đánh nước Trần.

Quay về bài gốc

0SHARES
 
34,907 ❤︎ Bài viết: 2241 Tìm chủ đề
HỒI THỨ 10 Sở Hùng Thông tiếm hiệu vua Chu Trịnh Sái Túc mắc mưu nước Tống

Khi vua Hoàn Vương nhà Chu lấy quân Trần, Sái sang đánh nước Trịnh. Nước Trần sai Bá Viên Chư làm tướng, nước Sái sai Sái Quí làm tướng. Sái Quí mới hỏi riêng Bá Viên Chư về việc nước Trần. Bá Viên Chư nói: - Nước tôi nay công tử Đà cướp ngôi, nhưng lòng người không ai phục cả, mà tính công tử Đà lại hay đi săn bắn, chẳng thiết gì đến chính sự, tôi chắc rằng sau này trong nước tất sinh biến loạn. Sái Quí nói: - Sao không kể tội mà đem giết đi? Bá Viên Chư nói: - Không phải là không muốn thế, nhưng sức không làm nổi. Sau đến khi vua nhà Chu thua trận, các nước đều rút quân về. Sái Quí đem lời nói của Bá Viên Chư nói với Sái hầu. Sái hầu nói: - Công tử Đà là đứa loạn tặc, sao lại để cho hắn được hưởng phú quí. Sái Quí nói: - Công tử Đà hay đi săn bắn, ta có thể rình mà giết được. Sái hầu khen phải, rồi sai Sái Quí đem quân đi phục sẵn ở địa giới nước Trần để đợi khi công tử Đà ra thì lẻn đến mà đánh. Sái Quí sai quân đi dọ thám thì biết là công tử Đà đi săn đã ba hôm nay. Sái Quí mừng lắm, nói: -Kế đã được rồi! Nói xong, liền sai quân sĩ thay đổi hình dạng làm một lũ người đi săn; lại gặp công tử Đà bấy giờ vừa bắn chết con hươu. Sái Quí trông thấy, xông lại cướp lấy. Công tử Đà giận lắm, cũng xông lại để bắt Sái Quí. Sái Quí giả bộ bỏ chạy. Công tử Đà đuổi theo, bỗng nghe tiếng chiêng trống nổi rầm lên, có mấy bọn đi săn xúm lại bắt công tử Đà. Sái Quí quát to lên rằng: - Ta đây chính là em ruột Sái hầu, tên gọi Sái Quí, vì nước các ngươi có công tử Đà giết vua, vậy nên ta phụng mệnh anh ta đến đây để giết Đà mà thôi, còn thì tha tội cả. Quân sĩ nghe nói, đều sụp xuống đất lạy. Sái Quí úy dụ hồi lâu mà bảo rằng: - Ta muốn lập công tử Dược lên nối ngôi, các ngươi nghĩ thế nào? Quân sĩ đồng thanh mà đáp rằng: - Nếu như vậy thì hợp ý chúng tôi lắm, chúng tôi xin vâng mệnh. Sái Quí tức khắc sai truyền chém đầu công tử Đà treo lên trên xe, rồi thẳng đường kéo vào nước Trần. Các quân sĩ đi với công tử Đà khi trước, lại quay về dẫn đường và tuyên bá cho mọi người đều biết công việc Sái Quý sang trừ quân nghịch tặc đề lập vua khác, bởi vậy dân tình đều mừng rỡ đón rước, không ai náo động cả. Sái Quí lập công tử Dược lên nối ngôi, tức là Trần Lệ Công. Bấy giờ có vua nước Sở là Hùng Thông vốn người cường bạo, có ý tiếm hiệu xưng vương, nhưng thấy các nước chư hầu vẫn vào triều cống Thiên tử nhà Chu, nên còn ngần ngại chưa dám cả quyết. Đến lúc thấy vua Hoàn Vương nhà Chu bị quân Trịnh đánh thua, Hùng Thông mới không sợ hãi gì cả, liền họp các quan lại thương nghị. Quan Lịnh doãn là Đấu Bá Tỷ nói: - Nước ta muốn tiếm hiệu xưng vương, tất phải dùng binh lực để ra oai với các nước chư hầu mới được. Sở Hùng Thông nói: - Bây giờ làm thế nào? Đấu Bá Tỷ nói: - Các nước ở phương Hán Đông này chỉ có Tùy là nước lớn hơn cả. Nay Chúa công đem binh lực dọa nước Tùy, rồi lại sai sứ giảng hòa, nếu Tùy đã chịu phục thì các nước chư hầu đều phải theo cả. Sở Hùng Thông lấy làm phải, mới đem quân sang đóng ở đất Hà (đất nước Tề) rồi sai quan Đại phu là Cừ Chương sang giảng hòa với Tùy. Nước Tùy có một người hiền thần tên là Quí Lương và một người nịnh thần tên là Thiếu Sư. Tùy hầu lại có tính ưa nịnh, vậy nên tin dùng Thiếu Sư lắm. Đến lúc sứ nước Sở sang giảng hòa. Tùy hầu gọi Quí Lương và Thiếu Sư vào hỏi. Quí Lương nói: - Sở mạnh Tùy yếu, bây giờ Sở lại sai sứ sang giảng hòa thì cái bụng nham hiểm ấy chưa biết thế nào mà lường cho được, vậy thì ta bề ngoài dẫu vâng lời, nhưng bề trong phải phòng bị, mới có thể giữ cho yên việc được. Thiếu Sư nói: - Tôi xin phụng mệnh Chúa công sang nước Sở để dò xét tình hình quân nước Sở một thể. Tùy hầu liền sai Thiếu Sư đến đất Hà để kết ước với nước Sở. Đấu Bá Tỷ nghe tin Thiếu Sư sắp đến, nói với Sở Hùng Thông rằng: - Tôi nghe nói Thiếu Sư là một người nông nổi, chỉ khéo nịnh mà được Tùy hầu yêu, bây giờ phụng mệnh đến đây để dò xét tình hình, ta nên giấu những quân khỏe mạnh đi mà cho hắn xem những quân già yếu, tất nhiên hắn có bụng kiêu ngạo, sinh lòng trễ biếng, ta mới có thể đắc chí được. Quan Đại phu là Hùng Xuất Tỷ nói: - Nước Tây còn có Quí Lương thì chưa làm gì được! Đấu Bá Tỷ nói: - Ta cứ lập kế sẵn, sau này tất cũng có lợi cho ta. Sở Hùng Thông theo kế của Đấu Bá Tỷ. Thiếu Sư vào đến dinh nước Sở, trông thấy các đồ binh khí tiều tụy hư nát, còn quân sĩ thì hoặc già hoặc yếu, không thể dùng vào việc chiến trận được, mới có ý kiêu ngạo, ngoảnh lại bảo Hùng Thông rằng: - Hai nước chúng ta, nước nào cứ giữ bờ cõi nước ấy, chẳng hay quí quốc cần gì mà phải giảng hòa? Sở Hùng Thông vờ đáp lại rằng: - Nước tôi mấy năm nay mất mùa luôn, dân sự đói kém, chỉ sợ các nước nhỏ hợp nhau lại mà đến quấy nhiễu, vậy nên muốn cùng với quí quốc kết làm anh em để phòng khi có hoạn nạn thì quí quốc giúp đỡ cho. Thiếu Sư nói: - Các nước nhỏ ở phương Hán Đông này đều phải vâng mệnh nước tôi cả, xin Chúa công chớ ngại. Sở Hùng Thông liền cùng với Thiếu Sư kết ước. Khi Thiếu Sư cáo từ lui ra thì Hùng Thông cũng hạ lệnh thu quân về nước. Thiếu Sư về đến nước Tùy, vào yết kiến Tùy hầu, thuật chuyện những tình hình quân nước Sở già yếu, may mà được cùng với nước ta kết ước thì tức khắc thu quân về ngay, xem thế cũng đủ biết là nước Sở sợ ta nhiều lắm. Xin Chúa công cho tôi một đạo quân lẻn sang mà đuổi đánh, dẫu không bắt được tất cả thì cũng bắt được già nửa, khiến cho nước Sở từ nay không dám ngấp nghé đến nước Tùy nữa. Tùy hầu lấy làm phải, toan cắt quân đuổi theo quân Sở. Quí Lương nghe chuyện làm vậy, liền vào can Tùy hầu rằng: - Chúa công chớ nên cất quân, nước Sở lâu nay vẫn là một nước cường thịnh, mà Hùng Thông lại là một tay gian hùng, tự nhiên vô cớ sang giảng hòa với nước ta, tất là có bụng nham hiểm, đem phô bày những quân già yếu để đánh lừa ta, nếu Chúa công cất quân đuổi theo quân Sở thì tất trúng kế. Tùy hầu xem bói, thấy không được tốt, cũng không đuổi theo quân nước Sở nữa. Sở Hùng Thông nghe tin Quí Lương can Tùy hầu không nên đuổi theo, lại gọi Đấu Bá Tỷ vào hỏi kế. Đấu Bá Tỷ hiến kế rằng: - Xin Chúa công hội các nước chư hầu ở đất Thẩm Lộc (đất nước Sở) nếu Tùy hầu sang hội thì là đã biết phục tòng, nhược bằng không sang hội, khi bấy giờ ta sẽ bẻ về điều bội ước mà đem quân đến đánh. Sở Hùng Thông mới sai sứ bảo các nước ở phương Hán Đông đều phải đến hội tại đất Thẩm Lộc. Các nước chư hầu đều đến cả, chỉ có nước Tùy và nước Hoàng không đến. Sở Hùng Thông sai Cừ Chương sang trách nước Hoàng. Nước Hoàng sai sứ sang xin lỗi. Sở Hùng Thông lại sai Khuất Hà sang trách nước Tùy. Tùy hầu không chịu xin lỗi. Hùng Thông mới cất quân sang đánh Tùy. Tùy hầu họp các quan lại để bàn kế chống nhau với Sở. Quí Lương nói: - Nước Sở mới hội các nước chư hầu, nay đem quân sang đánh ta, khí thế đang hăng hái lắm, chưa có thể địch nổi, chi bằng ta sai người sang xin lỗi để giảng hòa với Sở. Nếu Sở nghe ta thì thôi, nhược bằng không nghe, khi ấy ta sẽ đem quân ra đánh, thì trái tại nước Sở, quân ta đem lòng tức giận, may ra mới có thể chống lại được. Thiếu Sư đứng bên cạnh, có ý vùng vằng mà bảo Quí Lương rằng: - Sao nhà ngươi nhát quá như vậy! Quân Sở ở xa đến đây, chẳng qua là dấn thân vào chỗ chết, nếu ta không đánh ngay thì quân Sở lại trốn mất như lần trước, chẳng cũng hoài lắm sao! Tùy hầu nghe lời, mới cất quân ra đánh Sở. Quân Sở lừa cho quân Tùy vào trong thế trận rồi phục binh ở bốn mặt đổ ra đánh, toàn là những quân tinh nhuệ cả. Thiếu Sư cùng với tướng nước Sở là Đấu Đan đánh nhau, đánh chưa được 10 hợp đã bị Đấu Đan chém chết. Còn Quí Lương thì cố sức phá vỡ vòng vây để cho Tùy hầu chạy. Tùy hầu bảo Quí Lương rằng: - Bởi ta không nghe lời nhà ngươi can bảo, đến nỗi thua trận! Lại quay sang hỏi quân sĩ rằng: - Thiếu Sư ở đâu? Quân sĩ có người trông thấy Thiếu Sư bị Đấu Đan giết, liền tâu với Tùy hầu. Tùy hầu thương tình, có ý phàn nàn mãi. Quí Lương nói: - Đó là một người làm hại việc nước, Chúa công còn tiếc nỗi gì! Kế sách bây giờ không gì bằng xin hòa là hơn cả. Tùy hầu nói: - Thôi, bây giờ việc nước, ta xin theo ý nhà ngươi. Quí Lương mới sang xin giảng hòa với quân nước Sở. Sở Hùng Thông giận lắm, nói: - Nước ngươi bội ước, không sang hội, lại dám đem quân chống cự với ta, bây giờ bị thua, rồi mới xin hòa thì không phải thực bụng. Quí Lương vẫn nghiễm nhiên không sợ hãi gì cả thong dong mà đáp lại rằng: - Lúc trước bởi đứa gian thần nước tôi là Thiếu Sư cậy thế chuyên quyền, cố ép Chúa công tôi phải đem quân đánh, chứ không phải tự ý Chúa công tôi. Nay Thiếu Sư chết rồi, Chúa công tôi biết là trái, vậy phải sai tôi đến đây xin lỗi, nếu người có lòng khoan dung thì Chúa công tôi xin khuyên bảo các nước chư hầu ở phương Hán Đông này cùng thuận theo nước Sở, không bao giờ dám trái mệnh. Đấu Bá Tỷ nói: - Lòng trời chưa muốn làm mất nước Tùy, vậy nên mới trừ bỏ đứa nịnh thần ấy, như thế thì nước Tùy cũng không nên đánh; chi bằng ta cho giảng hòa, để nước Tùy khuyên bảo các nước chư hầu ở phương Hán Đông này cùng ca tụng công đức nước Sở. Khi bấy giờ ta sẽ xin với Thiên tử nhà Chu phong vị hiệu cho, cũng là một việc lợi cho nước Sở. Sở Hùng Thông khen phải, mới sai Cừ Chương bảo riêng với Quí Lương rằng: - Nếu quí quốc xin với Thiên tử nhà Chu phong vị hiệu cho Chúa công tôi, khiến cho Chúa công tôi làm chủ các nước chư hầu ở phương Hán Đông này thì Chúa công tôi lấy làm đội ơn lắm. Quí Lương về nói với Tùy hầu. Tùy hầu bất đắc dĩ cũng phải làm biểu tâu vua Hoàn Vương nhà Chu, thay lời các nước chư hầu ở phương Hán Đông ca tụng công đức nước Sở, xin vua nhà Chu phong vị hiệu cho. Vua Hoàn Vương nhà Chu không nghe. Sở Hùng Thông giận lắm, nói: - Tiên nhân ta ngày xưa là Dục Hùng có công lao lớn với nhà Chu nhiều lắm, mà vua nhà Chu chỉ phong cho ở một nơi biên viễn này, may mà bây giờ mở mang bờ cõi ra được, các nước man di đều thần phục ta cả, mà vua nhà Chu còn không phong vương cho ta, thế là không biết "thưởng". Người nước Trịnh bắn trúng vào vai, mà vua nhà Chu không dám đem quân đến đánh, thế là không biết "phạt". Không biết "thưởng" và không biết "phạt" thì sao gọi là Thiên tử được! Vả lại tiền nhân ta ngày xưa cũng có một lần xưng vương, bây giờ ta lại theo lối cũ, cần gì phải xin vua nhà Chu. Nói xong, liền tự lập là Sở Vũ Vương. Các nước chư hầu ở phương Hán Đông đều sai sứ đến chúc mừng. Vua Hoàn Vương nhà Chu dẫu ở gần nước Sở, nhưng cũng chẳng làm gì nổi. Từ bấy giờ nhà Chu càng ngày càng suy, mà nước Sở thì càng ngày càng cường bạo. Sở Hùng Thông chết, truyền ngôi cho con là Hùng Si, đóng đô ở đất Dĩnh. Trịnh Trang công từ khi đánh được vua Hoàn Vương nhà Chu về, thưởng công cho công tử Nguyên, phong ở đất Lịch Ấp; lại thưởng công cho tất cả quan đại phu trong nước, chỉ trừ có Chúc Đam là không được thưởng một tí gì. Chúc Đam có ý không bằng lòng, vào kêu với Trịnh Trang công. Trịnh Trang công nói: - Nhà ngươi bắn Thiên tử mà ta lại thưởng công thì người ta còn coi ta ra cái gì! Chúc Đam giận lắm, uất lên mà không nói thế nào được, liền phát ra cái nhọt ở sau lưng mà chết. Trịnh Trang công hậu táng cho Chúc Đam mà không thưởng công, chỉ tư cấp cho gia đình Chúc Đam. Được mấy năm Trịnh Trang công ốm nặng, gọi Sái Túc đến bên cạnh giường mà hỏi rằng: - Ta sinh được 11 con, trừ Thế tử Hốt không kể, còn công tử Đột, công tử Vỉ và công tử Nghi đều có quí cách cả. Công tử Đột là một người có tài trí hơn ba gã kia, nay ta muốn truyền ngôi cho công tử Đột, nhà ngươi nghĩ thế nào? Sái Túc nói: - Thế tử Hốt là con trưởng, vả lại có nhiều công lao, người trong nước ai cũng tin phục, bây giờ bỏ con trưởng mà lập con thứ, tôi không dám phụng mệnh. Trịnh Trang công nói: - Công tử Đột tất không chịu yên phận, nếu lập Thế tử Hốt thì phải cho công tử Đột đi sang nước khác mới được. Sái Túc nói: - Biết tính con thì không gì bằng cha, xin Chúa công tự liệu lấy. Trịnh Trang công than rằng: - Nước Trịnh từ nay trở đi, lại sinh ra nhiều việc! Nói xong, liền cho công tử Đột sang ở nước Tống. Trịnh Trang công mất. Thế tử Hốt lên nối ngôi, tức là Trịnh Chiêu công. Trịnh Chiêu công cho các quan đại phu đi sứ các nước, lại sai Sái Túc sang sứ nước Tống để dò xét tình hình công tử Đột một thể. Nguyên mẹ công tử Đột là con gái Ung Thị nước Tống, khi công tử Đột sang ở nước Tống, bàn với Ung Thị để lập kế về cướp ngôi nước Trịnh, Ung Thị vào nói với Tống Trang công. Tống Trang công cũng có lòng muốn giúp, gặp bấy giờ Sái Túc sang sứ nước Tống. Tống Trang công mừng lắm, nói: - Chỉ dùng một mình Sái Túc, cũng đủ khiến cho công tử Đột được về nối ngôi nước Trịnh. Nói xong, liền sai Nam Cung Trường Vạn phục sẵn quân giáo sĩ ở trong triều, rồi mời Sái Túc vào. Khi Sái Túc vào, quân giáp sĩ đổ ra trói lại. Sái Túc kêu rầm lên rằng: - Tôi có tội tình gì đâu mà sao lại bắt tôi thế này? Tống Trang công nói: - Hãy đến chốn quân phủ rồi ta sẽ nói. Giáp sĩ giải Sái Túc về chốn quân phủ, chung quanh canh giữ rất cẩn mật. Sái Túc trong lòng nghi sợ, không thể nào ngồi yên được. Chiều hôm ấy quan Thái tể nước Tống là Hoa Đốc thân hành đến chốn quân phủ mời Sái Túc uống rượu. Sái Túc nói: - Tôi phụng mệnh Chúa công sang sứ quí quốc, chưa có tội lỗi gì cả, chẳng hay vì đâu mà quí quốc lại đem lòng giận dữ làm vậy, hoặc vì Chúa công tôi có điều gì thất lễ chăng? Hoa Đốc nói: - Không phải thế! Số là ngày nay ai không biết công tử Đột là con Ưng Thị, công tử Đột ở nước tôi, Chúa công tôi vẫn có lòng thương lắm. Vả lại Thế tử Hốt là người nhu nhược, không làm vua được, nếu ngài có thể bỏ đi mà lập công tử Đột, tôi xin cùng ngài kết hiếu, ngài nghĩ thế nào? Sái Túc nói: - Chúa công tôi phụng mệnh tiên quân mà lên nối ngôi, nếu tôi bỏ đi thì e rằng các nước chư hầu tất bẻ tội tôi mà đem quân đến đánh. Hoa Đốc nói: - Việc thí nghịch này, nước nào không có, chẳng qua chỉ mạnh sức là được, ai là kẻ dám bẻ tội. Hoa Đốc lại ghé vào tai Sái Túc mà nói nhỏ rằng: - Chúa công tôi đây cũng là theo lối ấy mà lên nối ngôi đó. Ngài cứ nghe lời mà làm đi, Chúa công tôi có thể binh vực cho ngài được vô sự. Sái Túc cau lông mày lại, không nói gì cả. Hoa Đốc lại nói: - Nếu ngài không theo lời thì Chúa công tôi sai Nam Cung Trường Vạn đem quân đưa công tử Đột về nước Trịnh, mà ngày nào cất quân, tất khai đao để chém ngài, tôi chỉ được trông thấy ngài một lần này mà thôi. Sái Túc sợ lắm, bất đắc dĩ phải vâng lời. Hoa Đốc lại bắt phải thề. Sái Túc thề rằng: - Nếu tôi không chịu lập công tử Đột thì quỉ thần tru diệt! Hoa Đốc tức khắc về báo với Tống Trang công. Ngày hôm sau, Tống Trang công sai người gọi công tử Đột vào một cái phòng kín mà bảo rằng: - Ta cùng Ung Thị thường bàn nhau muốn cho công tử được về nối ngôi. Nay nước Trịnh đã lập Thế tử Hốt rồi, có đưa mật thư cho ta, bảo ta giết công tử đi thì xin biếu ba thành để tạ ơn, nhưng lòng ta không nỡ, vậy nên ta nói riêng cho công tử biết. Công tử Đột sụp lạy, nói: - Tôi đã sang tới đây thì sống chết cũng nhờ ở trong tay Chúa công, nếu nhờ cái uy linh của Chúa công mà khiến cho tôi được về nước thì Chúa công dạy thế nào tôi cũng xin vâng mệnh, cứ gì có ba thành mà thôi. Tống Trang công nói: - Ta đã sai Sái Túc ở chốn quân phủ, chính là vì việc của công tử đó. Việc ấy không có Sái Túc thì không xong được, để ta bắt Sái Túc phải ăn thề. Nói xong, liền gọi Sái Túc vào để yết kiến công tử Đột, lại gọi cả Ưng Thị vào, nói rõ việc bỏ Hốt lập Đột, rồi bắt ba người ăn thề với nhau, Tống Trang công lại bắt công tử Đột làm tờ thệ ước rằng: - Khi đã xong việc chẳng những phải hiến ba thành, lại còn phải dâng một trăm đôi bạch bích, một vạn nén hoàng kim, mỗi năm nộp ba vạn chung thóc để tạ ơn nước Tống. Lại bắt Sái Túc ký tên vào trong tờ thệ ước để làm chứng. Bấy giờ công tử Đột nóng việc về nước quá, điều gì cũng xin vâng cả. Tống Trang công lại bắt công tử Đột sau khi về nước phải đem quyền chính giao cả cho Sái Túc. Công tử Đột cũng xin vâng. Tống Trang công nghe nói Sái Túc có con gái, lại bắt Sái Túc phải gả cho con trai Ung Thị là Ung Củ và đem Ung Củ về nước Trịnh, sau khi xong việc cho làm quan đại phu. Sái Túc bất đắc dĩ cũng phải theo lời. Công tử Đột và Ung Củ giả dạng làm người buôn bán đi theo Sái Túc về nước Trịnh, ẩn trong nhà Sái Túc. Sái Túc cáo ốm, không vào triều Trịnh Chiêu công. Các quan đại phu đều đến nhà Sái Túc để hỏi thăm, Sái Túc phục sẵn quân giáp sĩ ở chung quanh nhà, rồi mời các quan đại phu vào nhà trong. Các quan đại phu bước vào, trông thấy Sái Túc mặt mũi tươi tỉnh, mũ áo nghiêm trang, đều giật mình mà hỏi rằng: - Tướng công không bệnh gì cả, sao lại không vào triều? Sái Túc nói: - Thân tôi không có bệnh, nhưng nước nhà có bệnh đó thôi. Tiên công ta yêu công tử Đột, có ký thác cho nước Tống, nay nước Tống sai Nam Cung Trường Vạn làm tướng, đem quân sang đánh Trịnh để giúp công tử Đột, bây giờ biết lấy gì chống cự lại cho nổi. Các quan đại phu đều nhớn nhác nhìn nhau, không ai biết nói thế nào. Sái Túc nói: - Ngày nay muốn tránh khỏi quân nước Tống thì tất phải lập công tử Đột lên mới yên việc được. Công tử Đột hiện ở đây rồi, các quan có thuận không? Xin nói quyết ngay một lời mới được. Cao Cừ Di nhân lúc trước Thế tử Hốt (tức là Trịnh Chiêu công) ngăn trở Trịnh Trang công không cho chức thượng khanh, mới đem lòng oán Thế tử Hốt, liền đứng dậy hoa thanh gươm lên mà nói rằng: - Tướng công nói câu ấy thật là may cho nước nhà lắm, chúng tôi xin vào yết kiến vua mới. Các quan nghe lời Cao Cừ Di, ngỡ là đã có ước mưu với Sái Túc, lại trông thấy có quân phục, đều sợ hãi vâng dạ xin theo. Sái Túc liền gọi công tử Đột ra, mời ngồi lên trên, rồi cùng với Cao Cừ Di sụp xuống lạy trước. Các quan không biết làm thế nào, bất đắc dĩ cũng phải sụp lạy cả. Sái Túc đã làm sẵn một tờ biểu chương, liên danh ký kết, sai người vào dâng Trịnh Chiêu công, nói nước Tống đã đem quân đưa công tử Đột về nước; vậy nên chúng tôi không thể phụng thờ Chúa công được nữa. Lại viết riêng một tờ mật thư nói: "Chúa công lên nối ngôi, thực không phải là tự ý của Tiên công thuở xưa, nay nước Tống giam tôi lại, bắt phải ăn thề, mà cho quân đưa công tử Đột về, tôi e rằng dẫu chết cũng uổng, không ích gì đến Chúa công, nên bất đắc dĩ tôi phải nhận lời. Các quan trong triều cũng đều sợ uy nước Tống mà phải thuận cả. Xin Chúa công hãy tòng quyền mà tạm tránh đi, để sau này tôi sẽ liệu thế khôi phục lại". Cuối cùng lại viết một câu thề rằng: "Nếu sai lời ấy thì mặt trời lặn, tôi cũng xin chết theo!". Trịnh Chiêu công tiếp được biểu chương và tờ mật thư ấy, tự biết rằng thế cô không có ai giúp, mới trốn sang ở nước Vệ. Công tử Đột lên nối ngôi, tức là Trịnh Lệ công. Chính sự trong nước, bất cứ điều lớn điều nhỏ, đều bởi tay Sái Túc quyết định cả. Sái Túc gả con gái cho Ung Củ, rồi nói với Trịnh Lệ công phong cho chức đại phu. Khi Trịnh Lệ công còn ở bên nước Tống, cùng với Ung Thị đi lại rất thân mật, bởi vậy Trịnh Lệ công cũng tin dùng Ung Củ gần bằng Sái Túc. Từ khi Trịnh Lệ công lên nối ngôi, người trong nước đều yên phục cả, chỉ có công tử Vỉ và công tử Nghi là có ý bất bình, lại sợ Trịnh Lệ công hại đến mình chăng, bấy giờ công tử Vỉ trốn sang nước Sái, công tử Nghi trốn sang nước Trần. Tống Trang công nghe tin công tử Đột đã lên nối ngôi, liền sai sứ đem thư sang mừng.

Quay về bài gốc

0SHARES
 
34,907 ❤︎ Bài viết: 2241 Tìm chủ đề
HỒI THỨ 11 Tống Trang tham lễ gây việc binh Sái Túc lập mưu giết con rể

Tống Trang công sai sứ đem thư sang mừng Trịnh Lệ công, lại đòi phải hiến ba thành, cùng các thứ bạch bích hoàng kim và những số thóc đã định lệ mỗi năm phải nộp là bao nhiêu. Trịnh Lệ công gọi Sái Túc vào thương nghị. Trịnh Lệ công nói: - Lúc trước ta nóng việc về nước quá, vậy nên hắn muốn đòi gì, ta cũng thuận cả. Nay ta mới lên nối ngôi, đã cho người đến đòi lễ, nếu ta y theo lời hẹn thì kho tàng hết sạch, chẳng còn tí gì. Vả lại mới lên nối ngôi, đã chịu mất 3 thành, chẳng cũng mang tiếng với các lân quốc lắm sao! Sái Túc nói: - Chúa công nên chối rằng mới lên nối ngôi, lòng dân chưa định, không dám hiến đất vội, sợ có sinh biến, vậy thì xin đem thuế má trong 3 thành ấy mà nộp cho nước Tống. Bạch bích hoàng kim thì ba phần nay hãy đưa một phần. Còn số thóc phải nộp thì xin để bắt đầu từ sang năm. Trịnh Lệ công theo lời, viết thư đáp lại, đem biếu 30 đôi bạch bích, 3000 nén hoàng kim, còn thuế má trong 3 thành hẹn đến năm sau sẽ giao nạp. Sứ giả về nói với Tống Trang công. Tống Trang công giận lắm nói: - Công tử Đột như người chết rồi mà ta làm cho được sống lại, như người bần tiện mà ta làm cho được phú quí. Mấy thứ lễ vật nhỏ mọn ấy, chẳng qua là của Thế tử Hốt, dự gì đến công tử Đột mà công tử Đột lại có ý tiếc. Nói xong, tức khắc lại sai sứ sang nước Trịnh đòi cho kỳ được đủ số ấy, và bắt phải hiến ngay 3 thành, chứ không chịu thu thuế má. Trịnh Lệ công lại thương nghị với Sái Túc, rồi nộp thêm hai vạn chung thóc nữa. Sứ giả về đến Tống thì Tống Trang công lại cho sang, bảo rằng nếu không nộp đủ số thì bắt Sái Túc phải thân hành sang nước Tống để thương thuyết lại. Sái Túc bảo Trịnh Lệ công rằng: - Nước Tống ngày xưa chịu ơn Tiên công ta, chưa đền được chút nào, bây giờ lại cậy công mà tham cầu không chán và nói những câu vô lễ, Chúa công không nên nghe, để tôi xin sang nói với nước Tề và nước Lỗ đứng lên mà điều đình hộ. Trịnh Lệ công nói: - Chẳng hay Tề, Lỗ có chịu nghe lời cho chăng? Sái Túc nói: - Ngày trước Tiên công ta đánh Tống, việc gì cũng có hợp nhau với Tề, Lỗ cả. Huống chi Lỗ hầu ngày nay được nối ngôi là nhờ ơn Tiên công ta đó. Giả sử Tề không chịu giúp ta, như còn nước Lỗ thì thế nào cũng phải giúp. Trịnh Lệ công nói: - Bây giờ điều đình ra làm sao? Sái Túc nói: - Ngày trước Hoa Đốc nước Tống giết vua mà lập công tử Phùng, có đem các đồ lễ vật sang hiến Tiên công ta và Tề, Lỗ đã giúp cho được nên việc. Bấy giờ nước Tống biến nước Lỗ cái Cáo đỉnh, và nước ta cái Thương di, ngày nay ta nói với Tề, Lỗ đem cái Thương di sang giả nước Tống, Trang công nghĩ đến tình xưa nghĩa cũ, tất xấu hổ mà tự phải thôi. Trịnh Lệ công mừng lắm, nói: - Ta nghe lời nhà ngươi nói, khác nào như đang giấc chiêm bao mà sực tỉnh dậy! Nói xong, liền sai sứ đem các đồ lễ vật sang nước Tề và nước Lỗ. Sứ giả vào nói với Lỗ Hoàn công. Lỗ Hoàn công vừa cười vừa nói: - Ngày trước nước Tống lễ nước ta chỉ có một cái Cáo đỉnh, bây giờ Tống lấy của Trịnh như thế cũng đã nhiều lắm rồi, lại còn chưa mãn nguyện hay sao! Việc ấy để ta thân hành sang nói hộ với Tống cho. Sứ giả lạy tạ lui ra, lại sang nói với Tề Hi công. Tề Hi công lúc trước cảm cái ơn Thế tử Hốt sang đánh giặc Bắc Nhung hộ, đã toan gả Văn Khương cho, dẫu rằng Thế tử Hốt chối từ không chịu lấy, nhưng Tề Hi công vẫn có lòng quí trọng. Ngày nước Trịnh bỏ Thế tử Hốt mà lập công tử Đột, Tề Hi công có ý không bằng lòng, mới bảo sứ giả nước Trịnh: - Thế tử Hốt có tội gì mà nước ngươi dám bỏ đi, ta đây đang sắp sửa đem quân sang đánh, còn nói cái gì. Nói xong, không nhận các đồ lễ vật. Sứ giả về nói với Trịnh Lệ công. Trịnh Lệ công sợ lắm, bảo Sái Túc rằng: - Tề hầu đã nói thế thì tất có ngày đem quân sang đánh, ta biết tính thế nào? Sái Túc nói: - Tôi luyện tập quân mã để phòng bị sẵn, giặc đến thì đánh, chứ có sợ gì! Lỗ Hoàn công sai người sang ước với Tống Trang công đến hội ở đất Phù Chung. Lỗ Hoàn công thay lời Trịnh Lệ công cảm ơn Tống Trang công, rồi xin Tống Trang công hãy khoan dung cho Trịnh. Tống Trang công nói: - Trịnh Đột nhờ ơn tôi nhiều lắm, khác nào như một cái trứng gà mà tôi ấp cho nó nở. Những lễ vật tạ ơn là tự bụng hắn xin thế, bây giờ được về nối ngôi, lại đem lòng phụ bạc, vậy thì tài nào mà tôi không phải nghĩ đến! Lỗ Hoàn công nói: - Quí quốc đã làm ơn cho Trịnh, khi nào Trịnh lại dám quên, nay mới lên ngôi, kho tàng khánh kiệt, chưa có thể theo như lời ước được, nhưng chẳng chóng thì chậm, quyết không dám sai, việc ấy tôi xin đoan nhận hộ. Tống Trang công nói: - Các đồ kim ngọc thì còn đổ cho tại kho tàng khánh kiệt, chứ dâng nộp ba thành thì chỉ nói một câu là xong, sao cũng không quyết? Lỗ Hoàn công nói: - Trịnh Đột e rằng hiến đất như vậy thì sợ các nước người ta chê cười, vậy phải xin nộp thuế má để thay vào, nghe đâu đã nộp được hai vạn chung thóc rồi mà. Tống Trang công nói: - Hai vạn chung thóc ấy, nguyên là ở trong số lệ năm phải nộp, có dự gì đến ba thành. Huống chi các thứ Trịnh hứa với tôi, chưa đưa được một nửa, bây giờ đã thế, nữa là ngày sau việc nguội đi rồi thì tôi còn mong nỗi gì, xin Hiền hầu vì tôi mà nghĩ cho điều ấy. Lỗ Hoàn công thấy Tống Trang công cứ cố giữ một mực như vậy, mới có ý không bằng lòng, ngậm ngùi mà trở về. Lỗ Hoàn công về nước, liền sai người sang báo tin cho Trịnh Lệ công biết là Tống Trang công nhất định không nghe. Trịnh Lệ công lại sai Ung Củ đem cái Thương di sang nói với Lỗ Hoàn công, để nhờ Lỗ Hoàn công đưa trả nước Tống thay vào ba thành, lại đưa thêm 30 đội bạch bích và 2000 nén hoàng kim. Lỗ Hoàn công bất đắc dĩ lại phải thân hành sang nước Tống cũng với Tống Trang công hội ở đất Cốc Khâu. Lỗ Hoàn công nói: - Hiền hầu bảo trong nước Trịnh hẹn đưa các đồ lễ vật chưa được một nửa; tôi đã trách nước Trịnh rồi thì nước Trịnh nay đã xin đem nộp thêm. Tống Trang công chẳng cám ơn gì cả, chỉ hỏi còn ba thành thì đến hôm nào Trịnh dâng nộp. Lỗ Hoàn công nói: - Trịnh Đột thiết nghĩ đất cát là của tiền nhân để lại, vậy không dám vì chút ơn riêng ấy mà cắt bỏ bờ cõi của tiền nhân, nay xin dâng một vật này để thay vào ba thành. Nói xong, liền sai người đem một cái bao phục bằng gấm vàng quí dâng ở trước mặt Tống Trang công. Tống Trang công nghe nói đến câu ơn riêng, đã cau lông mày lại, có ý không bằng lòng; đến lúc mở bao phục ra xem, thấy cái Thương di, tức là một vật của Tống lễ Trịnh khi trước, liền sầm nét mặt xuống, giả cách không biết mà hỏi rằng: - Dùng cái này để làm gì? Lỗ Hoàn công nói: - Khi trước Trịnh Trang công cũng có chút công với quí quốc, quí quốc đưa cho một vật trân bảo này, bây giờ Trịnh Đột cũng không dám tham, xin trả lại quí quốc, để quí quốc nghĩ đến tình xưa mà tha cho việc nộp đất, thì Tiên công nước Trịnh được đội ơn lắm, chẳng những một mình Trịnh Đột mà thôi. Tống Trang công thấy nói động đến việc cũ, tía tai đỏ mặt lên mà đáp lại rằng: - Việc đã lâu ngày, tôi cũng quên mất, để tôi sẽ hỏi lại. Tống Trang công và Lỗ Hoàn công đang nghị luận với nhau, bỗng nghe báo có Yên Bá xin vào yết kiến. Tống Trang công cho vào. Yên Bá nói với Tống Trang công rằng: - Nước Yên tôi tiếp giáp nước Tề, thường bị nước Tề xâm nhiễu, xin nhờ cái uy linh của Chúa công điều đình với nước Tề cho, khiến cho nước tôi giữ yên được bờ cõi. Tống Trang công nhận lời. Lỗ Hoàn công bảo Tống Trang công rằng: - Nước Tề vẫn thù nhau với nước Kỷ, thường có ý muốn cướp nước Kỷ, nếu Chúa công nói hộ cho nước Yên thì tôi đây cũng nói hộ cho nước Kỷ, khiến cho hai bên giảng hòa với nhau, tránh khỏi những sự binh đao tranh chiến. Lỗ, Tống và Yên cũng ăn thề với nhau. Lỗ Hoàn công về nước, tịnh không thấy nước Tống trả lời làm sao cả. Trịnh Lệ công thấy nước Tống vẫn cho sứ sang đòi lễ, lại sai người đến nói với Lỗ Hoàn công. Lỗ Hoàn công bất đắc dĩ lại sai người mời Tống Trang công sang hội ở đất Hư Quí để quyết định về việc nước Trịnh. Tống Trang công không đến hội, sai sứ nói với Lỗ Hoàn công rằng: - Tôi cùng nước Trịnh đã có định ước riêng với nhau, Hiền hầu không nên nói đến. Lỗ Hoàn công giận lắm, mắng rằng: - Dẫu đứa thường dân tham mà không tin, cũng chẳng ra gì, nữa là làm ông vua một nước! Nói xong liền quay xe sang nước Trịnh cùng với Trịnh Lệ công hội ở đất Vũ Phủ, ước nhau cùng đem quân đánh Tống. Tống Trang công nghe nói Lỗ Hoàn công nổi giận, chắc rằng không giữ được hòa hiếu, lại nghe nói Tề Hi công không chịu giúp Trịnh Lệ công liền sai công tử Du sang nước Tề, kể chuyện công tử Đột (Trịnh Lệ công) phụ ơn, xin nước Tề giúp sức cho để đánh công tử Đột và phục lại ngôi cho công tử Hốt (Trịnh Chiêu công). Lại cầu hòa hộ cho Yên Bá nữa. Sứ giả đi chưa về, đã nghe báo quân Lỗ và quân Trịnh kéo đến đánh. Tống Trang công sợ hãi, cho đòi các quan đại phu vào để bàn kế chống nhau với giặc. Công tử Ngự Thuyết can rằng: - Phàm sự tranh chiến, ai phải thì được, ai trái thì thua, nay ta tham lễ của nước Trịnh, lại làm cho mất lòng nước Lỗ, vậy thì kẻ kia có thể trách ta được, chi bằng ta cho người xin lỗi để cầu hòa là hơn cả. Nam Cung Trường Vạn nói: - Quân giặc đến dưới thành mà không dám bắn một mũi tên, nhu nhược như vậy thì còn giữ nước làm sao nổi. Hoa Đốc nói: - Nam Cung Trường Vạn nói phải đó. Tống Trang công không nghe lời công tử Ngự Thuyết, mới sai Nam Cung Trường Vạn làm tướng để đem quân ra đánh. Nam Cung Trường Vạn lại tiến Mạch Hoạch làm tiên phong. Khi ra trận, Nam Cung Trường Vạn trông thấy bóng tàn bay phấp phới, liền vỗ vào vai Mạch Hoạch mà bảo rằng: - Ngày nay nhà ngươi không lập công, còn đợi đến bao giờ nữa! Mạch Hoạch vâng lời, liền cầm một cái côn sắt xông ra để đánh. Lỗ Hoàn công và Trịnh Lệ công trông thấy, quay xe lùi lại mấy bước rồi cho công tử Nịch (Lỗ) và Nguyên Phồn (Trịnh) ra đối địch. Công tử Nịch và Nguyên Phồn ra trận, quát to lên rằng: - Lai tướng tên họ là gì, nên phải nói rõ. Mạch Hoạch nói: - Ta đây là tiên phong nước Tống, tên gọi Mạch Hoạch. Nguyên Phồn vừa cười vừa nói: - Hỡi đứa tiểu tốt hèn mạt kia! Ta giết mày làm chi cho bẩn cả lưỡi gươm. Mày gọi chủ tướng mày ra đây đối địch cùng ta! Mạch Hoạch giận lắm, cầm côn xông ra nghênh chiến, bị Lương Tử bắn một mũi tên vào cánh tay phải, không cầm được côn nữa, quân Trịnh đổ ra trói lại, giải về đại dinh. Nam Cung Trường Vạn nghe tin Mạch Hoạch bị bắt, nghiến răng nghiến lợi mà nói rằng: - Ta không cứu được Mạch Hoạch thì còn mặt mũi nào mà trở vào cửa thành nước Tống nữa. Nói xong, liền sai con trưởng là Nam Cung Ngưu đem quân ra đánh mà hẹn phải giả cách thua để dụ giặc tới cửa Tây môn. Nam Cung Ngưu vâng mệnh ra trận, lên tiếng quát mắng, kể tội Trịnh Đột quên ơn phụ nghĩa, bây giờ lại tự dẫn thân đến chỗ chết, biết điều thì xuống ngựa mà nộp mình đi. Trịnh tướng nghe nói, liền xông lại đánh. Đánh chưa được ba hợp, Nam Cung Ngưu giả cách thua chạy. Trịnh tướng giục ngựa đuổi theo. Đuổi gần đến cửa Tây môn, bỗng nghe có mấy tiếng súng nổ, Nam Cung Trường Vạn ở mặt sau đổ ra đánh, Nam Cung Ngưu cũng đem quân trở lại, hai bên cùng đánh ép vào, Trịnh tướng bị Nam Cung Trường Vạn bắt sống được. Nam Cung Trường Vạn đem Trịnh tướng vào nộp Tống Trang công, xin Tống Trang công sai sứ sang dinh quân Trịnh mà đổi lấy Mạch Hoạch về. Trịnh Lệ công cũng thuận, hai bên đều đóng cũi đem ra trận tiền để đổi lẫn cho nhau; Trịnh tướng giao trả quân Trịnh; còn Mạch Hoạch thì lại trở về quân Tống. Lại nói chuyện công tử Du nước Tống sang mượn quân nước Tề. Tề Hi công nói: - Trịnh Đột đuổi anh mà cướp ngôi, ta vẫn lấy làm ghét lắm, nhưng nay ta còn bận đem quân đi đánh nước Kỷ. Nếu quí quốc giúp ta đánh Kỷ thì khi bấy giờ ta sẽ giúp quí quốc đánh Trịnh. Công tử Du về báo với Tống Trang công. Lại nói chuyện Lỗ Hoàn công và Trịnh Lệ công đang cùng nhau bàn việc đánh Tống. Bỗng có người nước Kỷ đến cáo cấp, nói bị quân nước Tề đánh gấp lắm, xin nước Lỗ nghĩ đến tình thân thuộc mà cứu giúp cho. Lỗ Hoàn công sợ lắm, bảo Trịnh Lệ công rằng: - Nước Kỷ cáo cấp, tôi tất phải sang cứu, giờ cũng chưa có thể phá ngay được thành nước Tống, âu là tôi hãy rút quân về chắc rằng nước Tống từ nay cũng không dám đòi lễ của nước Trịnh nữa. Trịnh Lệ công nói: - Hiền hầu đã định đem quân cứu nước Kỷ, tôi đây cũng xin đi theo giúp Hiền hầu. Lỗ Hoàn công mừng lắm, mới cùng với Trịnh Lệ công thẳng đường tiến sang nước Kỷ. Tống Trang công thấy quân Lỗ và quân Trịnh đã kéo sang nước Kỷ mới không lo sợ gì nữa. Hoa Đốc nói với Tống Trang công rằng: - Nước Tề đã hẹn với ta để giúp quân đánh Trịnh, thì bây giờ ta cũng nên giúp Tề mà đánh Kỷ. Tống Trang công liền sai Nam Cung Trường Vạn đem quân đi giúp nước Tề, lại sai Mạch Hoạch làm tiên phong. Tề Hi công sai người sang mượn quân nước Vệ và nước Yên, gặp bấy giờ Vệ Tuyên công mất, Thế tử Sác lên nối ngôi, tức là Huệ công. Vệ Huệ công không dám từ chối, cũng đem quân đi giúp Tề để đánh Kỷ. Yên Bá xưa nay vẫn sợ uy nước Tề, thấy nước Tề sang mượn quân, cũng muốn nhân dịp để cầu thân với Tề, vậy mới đem quân sang giúp. Kỷ Hầu thấy ba nước (Tề, Vệ và Yên) đem quân đến, không dám ra đánh, chỉ đóng cửa thành lại cố giữ thế thủ, để đợi quân cứu viện. Bỗng nghe báo Lỗ Hoàn công và Trịnh Lệ công đã đem quân đến cứu viện. Kỷ hầu trèo lên mặt thành trông thấy, trong bụng mừng rỡ, liền sắp sửa để ra nghênh tiếp. Lỗ Hoàn công kéo quân đến, gặp Tề Hi công ở giữa trận. Lỗ Hoàn công nói: - Nước Kỷ là một nước thân thuộc với nước tôi, nghe nói có điều thất lễ với quí quốc, vậy nên tôi phải đến đây để xin lỗi hộ. Tề Hi công nói: - Tiên tổ tôi là Ai công ngày xưa vì nước Kỷ gièm pha mà bị vua nhà Chu mổ, đến nay đã tám đời rồi, vẫn chưa báo được cái thù ấy. Quí quốc nghĩ tình thân mà phải giúp, tôi đây nghĩ thù cũ mà phải báo, công việc ngày nay, chỉ có đánh nhau mà thôi, không nói lôi thôi gì cả. Lỗ Hoàn công giận lắm, liền sai công tử Nịch ra đánh. Tề Hi công sai công tử Bành Sinh ra đối địch. Gặp bấy giờ Trịnh Lệ công kéo đại binh đến, quân Tề thua chạy. Tề Hi công vừa chạy vừa ngoảnh lại, trỏ vào thành nước Kỷ mà thề rằng: - Nước Kỷ với ta sau này quyết không cùng sống! Lỗ Hoàn công và Trịnh Lệ công đã thắng trận rồi, thu quân trở về, Kỷ hầu mời vào trong thành để bày tiệc khoản đãi. Em Kỷ hầu là Doanh Quí nói với Lỗ Hoàn công và Trịnh Lệ công rằng: - Ngày nay quân Tề thua trận, càng đem lòng oán giận nước tôi, xin hai quí quốc nghĩ cách mà bảo toàn cho. Lỗ Hoàn công nói: - Để rồi ta sẽ liệu. Ngày hôm sau, Kỷ hầu tiễn Lỗ Hoàn công và Trịnh Lệ công ra ngoài thành 30 dặm, rồi gạt nước mắt mà trở về. Lỗ Hoàn công về nước rồi, Trịnh Lệ công lại sai người sang giao hiếu, từ bấy giờ chia ra hai đảng; một đảng Lỗ với Trịnh; còn một đảng Tống với Tề. Tề Hi công vì thua trận ở nước Kỷ, trong lòng uất ức thành ra đau nặng, đòi Thế tử Chư Nhi đến bên cạnh giường mà dặn rằng: - Nước Kỷ là kẻ thù với ta, nếu con phá được nước Kỷ thì mới gọi là hiếu tử, nay con lên nối ngôi, nên nghĩ việc ấy trước nhất, nếu không bắt được kẻ thù ấy thì chớ nên bước vào miếu thờ ta. Thế tử Chư Nhi sụp lạy, xin vâng lời dạy. Tề Hi công lại gọi con Di Trọng Niên là Vô Tri vào, sai lạy Thế tử Chư Nhi, rồi dặn Thế tử Chư Nhi rằng: - Em cùng mẹ với ta chỉ sinh được có một mình nó, con phải cư xử cho tử tế, cũng như lúc ta hãy còn sống thì mới phải đạo. Nói xong, liền nhắm mắt lại. Các quan phụng Thế tử Chư Nhi lên nối ngôi, tức là Tề Tương công. Tống Trang công oán giận nước Trịnh vô cùng, lại lấy các đồ vàng ngọc của nước Trịnh đưa cho khi trước sai người đem lễ nước Tề, nước Sái, nước Vệ và nước Trần để mượn quân đi đánh báo thù nước Trịnh. Trịnh Lệ công toan đem quân ra đối địch, quan Thượng khanh là Sái Túc can rằng: - Nước Tống là một nước lớn, nay hăng hái tức khí, đem hết quân trong nước sang đánh nước ta thì tôi thiết tưởng không nên đánh lại, vì đánh mà thua thì khó lòng giữ được cơ nghiệp, may mà được ra nữa thì lại có thêm một sự thù oán về sau, nước ta cũng chưa biết đến bao giờ yên được, chi bằng ta cứ mặc kệ không ra đánh là hơn. Trịnh Lệ công nghe nói, còn ngần ngừ chưa quyết. Sái Túc liền hạ lịnh: Ai xin ra đánh thì sẽ bắt tội. Tống Trang công thấy quân Trịnh không ra đánh, liền đem quân vào đốt cửa thành, phá lấy những cột nhà Thái miếu nước Trịnh đem về làm cửa thành nước Tống để cho nước Trịnh phải nhục. Trịnh Lệ công nghĩ càng uất ức, không được vui lòng, mới than thân rằng: - Ta bị Sái Túc nó áp chế thế này thì làm vua còn vui thú gì nữa! Từ bấy giờ mới có ý muốn giết Sái Túc. Vua Hoàn Vương nhà Chu đau nặng, gọi Chu công Hắc Kiên đến bên cạnh giường mà bảo rằng: - Cứ theo lễ thì nên lập con trưởng, nhưng Trẫm vốn yêu công tử Khắc, nay Trẫm ủy thác lại cho nhà ngươi, ngày sau anh nó nối ngôi, rồi thứ đến nó, nhờ nhà ngươi giúp cho. Nói xong, thì băng hà, Chu công Hắc Kiên phụng Thế tử Đà lên nối ngôi, tức là vua Trang Vương. Trịnh Lệ công nghe tin vua nhà Chu băng hà, toan sai người vào viếng tang, Sái Túc cố ý can, nói vua nhà Chu có thù với Tiên công nước Trịnh, ngày trước Chúc Đam nước ta đã bắn trúng vào vai nhà vua Chu, nay cho người đến viếng tang, không khéo thì bị nhục. Trịnh Lệ công dẫu phải nghe lời, nhưng trong lòng càng thêm tức giận. Một hôm ra chơi ngoài vườn, chỉ có một mình quan Đại phu là Ung Củ đi theo, Trịnh Lệ công trông thấy đàn chim vừa bay vừa hót, liền ngẫm nghĩ mà thở dài. Ung Củ nói: - Nay đang tiết xuân hòa ấm, các giống chim bay đều có ý vui mừng. Chúa công đã được tôn quý, làm một vị chư hầu, sao lại buồn rầu như vậy? Trịnh Lệ công nói: - Các giống chim bay đều được tự do, không bị áp chế, ta đây lại không bằng các giống chim, vậy nên không được vui. Ung Củ nói: - Chúa công nghĩ điều đó tất là vì người cầm quyền chính trong nước. Trịnh Lệ công nín lặng không nói gì cả, Ung Củ lại nói: - Tôi thiết tưởng rằng vua cũng như cha, bề tôi cũng như con. Con không lo việc được cho cha, tức là bất hiếu; bề tôi không giúp nạn được cho vua tức là bất trung. Nếu Chúa công cho Củ này là người không đến nỗi hèn mạt quá, mà giao cho việc gì thì Củ này xin hết sức. Trịnh Lệ công đuổi hết người chung quanh đi, rồi bảo Ung Củ rằng: - Nhà ngươi có phải là con rể Sái Túc đó chăng? Ung Củ nói: - Con rể thì có, chứ yêu thì không! Sái Túc gả con cho tôi chẳng qua là vì vua nước Tống cưỡng bách, thật không phải tự bụng Sái Túc. Sái Túc mỗi khi nói đến Thế tử Hốt, vẫn có ý quyến luyến, chỉ vì sợ uy nước Tống vậy chưa dám đổi lòng. Trịnh Lệ công nói: - Nhà ngươi giết được Sái Túc thì ta cho nhà ngươi thay vào chức ấy, nhưng biết dùng kế gì bây giờ? Ung Củ nói: - Xứ Đông Giao nước ta, nay bị quân Tống tàn phá, nhân dân xiêu dạt cả, sáng mai Chúa công sai Sái Túc đem thóc lụa ra đấy để cấp phát cho dân, rồi tôi sẽ bày một tiệc rượu ở Đông Giao, cho hắn uống thuốc độc mà chết. Trịnh Lệ công nói: - Ta giao cho nhà ngươi việc ấy thì nhà ngươi phải cẩn thận mới được. Ung Củ về đến nhà, trông thấy vợ là Sái Thị, bỗng nhiên chột dạ, thành ra có ý hoảng hốt, Sái Thị nghi tình, mới hỏi: - Trong triều hôm nay có việc gì lạ không? Ung Củ nói: - Không. Sái Thị nói: - Thiếp trông nét mặt phu quân thì trong triều ngày nay tất phải có việc lạ. Vợ chồng đã lấy nhau, bất cứ việc lớn việc nhỏ, cũng nên cho thiếp được dự biết. Ung Củ nói: - Chúa công ta muốn sai thân phụ mình đi ra sứ Đông Giao để úy dụ nhân dân, đến hôm ấy ta định bày một tiệc rượu ở đấy cho thân phụ mình, chứ có việc gì đâu! Sái Thị nói: - Phu quân muốn chúc thọ cho thân phụ tôi thì cứ gì phải ra Đông Giao mới được? Ung Củ nói: - Đó là ta phụng mệnh Chúa công, mình hỏi làm gì! Sái Thị càng có lòng nghi ngờ, mới lập kế cho Ung Củ uống rượu thật say, nhân lúc ngủ mê, giả cách hỏi rằng: - Chúa công sai mày giết Sái Túc, mày quên rồi à? Ung Củ đang mơ mơ màng màng, cũng ú ớ đáp lại rằng: - Việc đó khi nào tôi dám quên! Sáng hôm sau, Sái Thị bảo Ung Củ rằng: - Phu quân muốn giết thân phụ tôi, tôi biết hết rồi! Ung Củ nói: - Chết nỗi! Có thế bao giờ! Sái Thị nói: - Đêm qua, phu quân say rượu đã nói ra tất cả, lại còn giấu làm gì! Ung Củ nói: - Dù có việc ấy nữa thì ý mình nghĩ thế nào? Sái Thị nói: - Đã lấy chồng thì theo chồng, chứ còn hỏi gì nữa! Ung Củ mới nói hết cả đầu đuôi cho Sái Thị nghe. Sái Thị nói: - Tôi sợ rằng thân phụ tôi lại lưỡng lự chưa chắc đã đi, để gần đến hôm ấy tôi sẽ về trước mà xui giục thân phụ tôi mới được. Ung Củ nói: - Nếu mà xong việc, ta thay vào chức ấy thì mình cũng được vinh hiển. Gần đến hôm ấy Sái Thị về nhà Sái Túc, hỏi mẹ rằng: - Cha với chồng đàng nào thân? Người mẹ nói: - Hai đàng cũng thân cả. Sái Thị lại hỏi: - Hai đàng thì đàng nào thân hơn? Người mẹ nói: - Cha thân hơn chồng. Sái Thị nói: - Tại sao thế? Người mẹ nói: - Con gái, lúc chưa lấy chồng, chỉ có biết cha, chứ đã biết ai là chồng; lúc lấy chồng rồi có thể đổi lấy chồng khác được, chứ không có thể đổi được cha khác. Vậy thì chồng định tự người, cha định tự trời, chồng ví với cha thế nào được! Người mẹ trả lời vô tình mà thành ra cảm động đến Sái Thị, Sái Thị ứa nước mắt xuống mà nói rằng: - Ngày nay con vị cha, con không nghĩ đến chồng được nữa! Nói xong, liền đem chuyện Ung Củ nói riêng với người mẹ. Người mẹ sợ hãi, tức thì nói với Sái Túc. Sái Túc nói: - Các ngươi chớ nói hở ra, để khi ấy ta sẽ liệu xử. Đến hôm ấy, Sái Túc sai người tâm phúc là Cường Thư đem hơn 10 kẻ thủ hạ đi hầu, người nào trong mình cũng giắt dao găm cả; lại sai Công tử Át đem hơn 100 giáp sĩ ra mai phục sẵn ở ngoài xứ Đông Giao, để làm quân tiếp ứng. Sái Túc đi đến Đông Giao, Ung Củ ra đón, bày một tiệc rượu rất trọng thể. Sái Túc nói: - Ta đi đây là việc nước, bổn phận phải như vậy, sao nhà ngươi lại bày vẽ ra làm gì! Ung Củ nói: - Nhân tiết xuân hòa ấm, gọi là có chén rượu nhạt để mua vui. Nói xong, rót một chén rượu thật đầy, quì ở trước mặt Sái Túc, giả cách tươi cười mà chúc thọ. Sái Túc giơ tay trái nắm lấy cánh tay Ung Củ, còn tay phải đỡ lấy chén rượu, quát to lên rằng: - Thằng thất phu này mày dám láo với ta! Nói xong, liền thét người ra bắt lấy. Cường Thư cùng mấy người thủ hạ đổ vào trói Ung Củ, rồi đem ra chém, quăng xác xuống sông Chu Trì. Những quân giáp sĩ của Trịnh Lệ công sai đến phục sẵn để tiếp ứng cho Ung Củ, đều bị quân Công tử Át đuổi đánh, bỏ chạy tán loạn cả. Trịnh Lệ công nghe tin, giật mình kinh sợ, nói: - Thế này thì chắc hẳn Sái Túc không để cho ta được yên! Nói xong, liền trốn sang nước Sái. Sau có người thuật lại cho Trịnh Lệ công nghe là tại Ung Củ nói chuyện với Sái Thị, để đến nỗi Sái Túc biết mà phòng bị trước, Trịnh Lệ công mới thở dài mà nói rằng: - Việc lớn của nước nhà mà đem bàn với đàn bà thì trách nào chẳng chết! Sái Túc nghe tin Trịnh Lệ công đã đi trốn, liền sai người sang nước Vệ, đón Trịnh Chiêu công về nối ngôi.

Quay về bài gốc

0SHARES
 
34,907 ❤︎ Bài viết: 2241 Tìm chủ đề
HỒI THỨ 12 Vệ Tuyên công cưới tranh vợ con Cao Cừ Di mưu lập vua khác

Vệ Tuyên công là người dâm dục, khi chưa lên nối ngôi, tư thông với người vợ lẽ của cha là nàng Di Khương, sinh được một đứa con trai, tên gọi Cấp Tử. Đến khi lên nối ngôi, cho Cấp Tử làm Thế Tử, ủy thác cho Công tử Chức. Bấy giờ Cấp Tử đã 16 tuổi, Vệ Tuyên công sai sứ sang hỏi con gái trưởng Tề Hi công để làm vợ Cấp Tử. Sứ giả về nói chuyện con gái nước Tề nhan sắc đẹp lắm, Vệ Tuyên công đem lòng tham muốn, liền sai Cấp Tử sang sứ nước Tống, rồi làm một cái tân đài ở trên sông Kỳ, để cưới tranh lấy con gái nước Tề về đấy, tức là nàng Tuyên Khương. Khi Cấp Tử ở nước Tống về đến tân đài Vệ Tuyên công cho vào yết kiến Tuyên Khương, bắt phải gọi là thứ mẫu. Cấp Tử cũng không có ý oán giận chút nào cả. Vệ Tuyên công từ khi lấy được Tuyên Khương, đêm ngày vui thú ở chốn tân đài, lại chẳng thiết gì đến Di Khương nữa. Được ba năm trời, Tuyên Khương sinh luôn hai cậu con trai, Công tử Thọ và Công tử Sóc. Vệ Tuyên công say mê Tuyên Khương quá độ, tấm lòng yêu Cấp Tử ngày xưa, lại đổi ra thương yêu Công tử Thọ và Công tử Sóc, định về sau này giang sơn nước Vệ chỉ truyền lại cho Thọ và Sóc mà thôi, hình như có ý ghét bỏ Cấp Tử. Nhưng Công tử Thọ là người tính nết tốt lắm, vẫn đem lòng yêu thương Cấp Tử như anh em cùng mẹ sinh ra, thường khi ở trước mặt Vệ Tuyên công lại có ý binh vực cho Cấp Tử. Vệ Tuyên công ủy thác cho Công tử Tiết để ngày sau phù tá Công tử Thọ lên nối ngôi. Công tử Sóc cùng với Công tử Thọ dẫu là con cùng mẹ với nhau, nhưng tính khí lại khác hẳn nhau. Công tử Sóc cậy thế mẹ thường âm mưu để định mai sau cướp ngôi nước Vệ, chẳng những đem lòng ghét bỏ Cấp Tử, dẫu đến anh cùng mẹ là Công tử Thọ cũng coi như một cái bướu thừa, nhưng định trừ Cấp Tử trước, rồi sau sẽ đến Công tử Thọ. Công tử Sóc đã nhiều lần nói khích với mẹ là Tuyên Khương rằng: - Ngày nay thân phụ con hãy còn, dẫu trọng đãi mẹ con ta thật nhưng Cấp Tử là anh, chúng con là em, tất ngày sau hắn được lên nối ngôi; huống chi Di Khương bây giờ cũng đem lòng thù oán. Nếu mà Cấp Tử nối ngôi làm vua, Di Khương lên làm quốc mẫu, thì mẹ con ta thật không có chỗ nào mà nương thân. Tuyên Khương ngày trước vốn cưới cho Cấp Tử, ngày nay lại lấy Vệ Tuyên công thì đối với Cấp Tử cũng có ý ngại mặt, mới cùng Công tử Sóc hợp mưu để ngày đêm nói với Vệ Tuyên công mà gièm pha Cấp Tử. Một hôm gặp ngày sinh nhật của Cấp Tử, Công tử Thọ bày một tiệc rượu mừng. Công tử Sóc cũng ngồi dự tiệc. Trong khi ăn tiệc thì Cấp Tử cùng với Công tử Thọ chuyện trò thân mật lắm, Công tử Sóc có ý không bằng lòng, cáo bệnh lui ra, đi thẳng đến trước mặt Tuyên Khương, nước mắt ràn rụa mà mách rằng: - Con cũng nghĩ bụng tốt mà cùng với anh con dâng chén rượu mừng Cấp Tử. Khi Cấp Tử rượu đã ngà ngà say, nửa bỡn nửa thật, gọi con là con. Con không bằng lòng, có nói hắn mấy câu thì hắn lại bảo con rằng: "Mẹ mày tức là vợ ta, mày nên gọi ta là cha mới phải". Con vừa toan cãi lại thì hắn xừng xộ chực đánh con, may mà có anh con khuyên giải, con mới chạy thoát đến đây. Xin thân mẫu nói với thân phụ phân xử cho. Tuyên Khương tưởng là thực, chờ khi Vệ Tuyên công vào cung liền khóc nức nở mà thuật lại cho Vệ Tuyên công nghe, lại đơm đặt thêm mấy câu rằng: - Hắn cố tình làm ô nhục thiếp. Hắn nói: "Mẹ ta là Di Khương, nguyên là thứ mẫu của thân phụ ngày xưa mà thân phụ còn nhận làm vợ, huống chi thân mẫu mày nguyên là vợ cũ của ta, nay thân phụ ta chỉ mượn tạm đó mà thôi, tất có một phen phải trả lại ta và thêm cả giang sơn nước Vệ nữa". Vệ Tuyên công gọi Công tử Thọ vào hỏi. Công tử Thọ nói: - Thật quả không có chuyện ấy bao giờ! Vệ Tuyên công nửa tin nửa ngờ, chỉ sai nội thị truyền bảo Di Khương, trách mắng về sự không biết dạy con. Di Khương tức giận, không biết nói thế nào cho được, liền thắt cổ chết. Cấp Tử thương mẹ lắm, nhưng sợ trái ý thân phụ, chỉ gạt nước mắt mà khóc thầm. Công tử Sóc lại cùng Tuyên Khương gièm pha với Vệ Tuyên công rằng: - Cấp Tử nhân mẹ chết oan, lại càng đem lòng oán giận, nhất định mai sau giết mẹ con tôi để báo thù cho mẹ. Vệ Tuyên công vốn không tin có việc ấy, nhưng Tuyên Khương và Công tử Sóc ngày đêm xúi giục, khiến cho Vệ Tuyên công tất phải giết Cấp Tử mới nghe. Vệ Tuyên công cũng quá nghe Tuyên Khương, liền nghĩ kế giết Cấp Tử, nhưng không lấy cớ gì mà giết được, tất phải mượn tay người khác giết ở dọc đường thì mới che được tai mắt thiên hạ. Gặp bấy giờ Tề Hi công cho người sang mượn quân nước Vệ, Vệ Tuyên công bàn nhau với Công tử Sóc, sai Cấp Tử cầm cờ tiết trắng sang sứ nước Tề, rồi cho mấy đứa hung đồ phục sẵn ở ngang đường chờ khi thuyền Cấp Tử đi đến đó, đổ ra mà giết, hễ lấy được cờ tiết trắng đem về thì sẽ có trọng thưởng. Công tử Sóc phân xử đâu đấy rồi, vào nói chuyện với mẹ là Tuyên Khương. Tuyên Khương nghe nói, mừng rỡ vô cùng. Công tử Thọ thấy Vệ Tuyên công đuổi hết những người chung quanh, chỉ đòi một mình Công tử Sóc vào thương nghị, có lòng nghi hoặc, mới vào cung để dò ý Tuyên Khương. Tuyên Khương vô tình nói thật hết cả, lại dặn Công tử Thọ rằng: - Đó là chủ ý của thân phụ con, muốn vì mẹ con ta mà giữ gìn cho khỏi sự lo về sau, con chớ tiết lộ ra cho người khác biết. Công tử Thọ biết là chủ ý Vệ Tuyên công đã định dẫu can cũng không ích gì, mới đến nói riêng với Cấp Tử và bảo Cấp Tử nên trốn sang nước khác, rồi sau sẽ liệu cách. Cấp Tử nói: - Làm con có biết theo mệnh cha mới gọi là hiếu, nếu trái mệnh cha thì tức là đứa nghịch tử. Vậy thiên hạ lại có nước nào là nước không cha mà bảo ta đi trốn cho được bây giờ! Nói xong, liền sắp sửa đồ hành trang, cứ việc xuống thuyền đi. Công tử Thọ vừa khóc vừa can, mà Cấp Tử nhất định không nghe. Công tử Thọ nghĩ thầm trong bụng rằng: - Anh ta thật là một người có nhân! Nếu chuyến đi này bị giết, mà ngày sau thân phụ lại cho ta nối ngôi thì ta chẳng cũng mang tiếng lắm sao! Làm con phải nghĩ đến cha, làm em cũng phải nghĩ đến anh, âu là ta liều mình đi trước để chịu chết thay cho anh thì tất anh ta được thoát nạn. Thân phụ ta nghe tin ta chết tất cảm động mà biết nghĩ lại. Thế thì bên từ bên hiếu, trọn vẹn cả hai, mai sau này cũng được thơm danh nức tiếng. Nghĩ xong, liền xuống một chiếc thuyền đi theo, mời Cấp Tử sang để uống rượu tiễn biệt. Cấp Tử nói là đi việc quân mệnh, không dám thong thả. Công tử Thọ liền bước sang thuyền Cấp Tử, rót một chén rượu để mời. Công tử Thọ chưa kịp mời mà hai hàng nước mắt đã rỏ vào trong chén rượu. Cấp Tử vội vàng đỡ lấy chén rượu mà uống. Công tử Thọ nói: - Chén rượu này có nước mắt sa vào đã bẩn mất rồi! Cấp Tử nói: - Anh đây chỉ muốn uống giọt nước mắt ấy để tỏ cái chân tình của em! Công tử Thọ gạt nước mắt nói: - Chén rượu này em cùng với anh từ đây ly biệt. Nếu anh xét tình cho em thì nên uống với em mấy chén rượu nữa. Cấp Tử nói: - Khi nào anh lại dám từ chối! Hai người nhìn nhau nước mắt ròng ròng, cùng nhau chén thù chén tạc. Công tử Thọ cố ý đổ rượu cho Cấp Tử uống thật say. Cấp Tử say rượu quá, nằm phục xuống mà ngủ. Công tử Thọ bảo những người đi theo rằng: - Việc quân mệnh không thể trễ chậm được, âu là ta phải đi thay. Nói xong, liền lấy cờ tiết trắng của Cấp Tử, cắm sang mũi thuyền mình, lại đưa cho người nhà Cấp Tử một phong thư mà dặn rằng: - Chờ khi nào Thế tử tỉnh dậy thì các ngươi sẽ đệ trình. Công tử Thọ chèo thuyền đi trước. Thuyền gần đến bến, các bọn hung đồ phục ở vệ sông trông thấy cờ tiết trắng, đều cho là Cấp Tử đã đến, kéo ồ nhau ra. Công tử Thọ đứng dậy mà mắng rằng: - Ta là con trưởng Vệ hầu phụng mệnh sang sứ nước Tề, lũ chúng bay là người nào mà dám đến đây ngăn trở. Bọn hung đồ đồng thanh mà nói rằng: - Chúng ta phụng mật chỉ của Vệ hầu sai đến đây để lấy đầu nhà ngươi. Nói xong, liền chém lấy đầu Công tử Thọ đựng vào cái hộp gỗ, mang ngay xuống thuyền và lấy cả cờ tiết trắng mang đi. Các người nhà Công tử Thọ bỏ chạy tán loạn cả. Cấp Tử tỉnh dậy, không trông thấy Công tử Thọ đâu cả, chỉ thấy người nhà đệ trình một phong thư. Cấp Tử mở thư ra xem, trong thư chỉ có tám chữ rằng: "Em đã đi thay, anh nên tránh nạn". Cấp Tử ứa nước mắt mà nói rằng: - Thôi thôi, ta phải đi ngay, kẻo quân giặc giết lầm em ta đó! Cấp Tử giục người nhà chèo thuyền đi mau. Đêm hôm ấy bóng trăng vằng vặc, thuyền chạy như bay, Cấp Tử mơ tưởng Công tử Thọ, không lúc nào nhắm mắt ngủ yên. Đi được một lúc, trông thấy thuyền Công tử Thọ, Cấp Tử mừng lắm, nói: - May sao! Em ta hãy còn! Thế mới thật là lòng trời. Người nhà đáp lại rằng: - Đó là chiếc thuyền trở lại, không phải thuyền đi. Cấp Tử có ý nghi, mới giục người nhà chèo mau lên xem. Khi hai thuyền gần nhau, trông rõ thấy một bọn hung đồ, nhưng chẳng thấy Công tử Thọ đâu cả. Cấp Tử càng nghi, mới giả cách hỏi rằng: - Các ngươi phụng mệnh Chúa công đã làm được việc chưa? Bọn hung đồ thấy nói đến việc bí mật của mình, lại tưởng là Công tử Sóc sai đến để tiếp ứng, liền bưng cái hộp gỗ dâng lên mà nói rằng: - Bẩm đây, chúng tôi làm đã được việc rồi ạ! Cấp Tử mở cái hộp gỗ ra xem, trông thấy đầu Công tử Thọ, liền ngửa mặt lên trời mà khóc òa rằng: - Oan khổ thay! Trời ơi là trời! Bọn hung đồ ngạc nhiên mà hỏi rằng: - Cha giết con, sao ngài lại bảo là oan? Cấp Tử nói: - Ta đây mới thật là Cấp Tử, vì ta có tội, thân phụ sai giết ta; còn Công tử Thọ đó là em ta, có tội gì mà chúng bay giết. Chúng bay nên mau mau chém lấy đầu ta, đem về nộp thân phụ ta, để chuộc lấy cái tội giết lầm ấy. Trong bọn hung đồ có đứa biết mặt hai công tử, nhân có bóng trăng mới nhận kỹ ra mà nói rằng: - Chúng ta lầm thật rồi! Bọn hung đồ lại chém đầu Cấp Tử, bỏ cả vào trong hộp gỗ. Các người nhà Cấp Tử cũng bỏ chạy tán loạn cả. Bọn hung đồ về đến Vệ thành, đem cờ tiết trắng vào trình Công tử Sóc, kể chuyện đầu đuôi hai chàng bị giết, chỉ sợ Công tử Sóc trách mắng về việc giết lầm. Chẳng ngờ việc ấy lại vui lòng Công tử Sóc lắm, Công tử Sóc liền đem vàng lụa thưởng cho bọn hung đồ, rồi vào cung nói với Tuyên Khương rằng: - Công tử Thọ cầm cờ tiết trắng đi trước, đến nỗi bị hại, may sao khi Cấp Tử đi đến nơi, lại tự nói tên mình ra, vậy nên chúng nó giết được, để đền mạng cho Công tử Thọ. Tuyên Khương dẫu thương Công tử Thọ, nhưng lại lấy việc giết được Cấp Tử làm may, nửa thương nửa mừng, mới cùng với Công tử Sóc bàn nhau hãy thong thả không nói cho Vệ Tuyên công biết vội. Nguyên là Cấp Tử khi trước đã ủy thác cho Công tử Tiết, Công tử Thọ khi trước đã ủy thác cho Công tử Chức. Bấy giờ Công tử Tiết và Công tử Chức nghe tin hai người bị giết, mới cùng nhau thương nghị, để vào nói với Vệ Tuyên công. Sáng hôm sau, Vệ Tuyên công ra triều, Công tử Tiết và Công tử Chức sụp lạy ở dưới đất mà khóc. Vệ Tuyên công giật mình kinh sợ, hỏi có việc gì. Công tử Tiết và Công tử Chức đem việc Cấp Tử và Công tử Thọ bị giết kể lại một lượt. Lại xin làm lễ an táng cho Cấp Tử và Công tử Thọ. Vệ Tuyên công dẫu ghét Cấp Tử, nhưng vẫn yêu Công tử Thọ, nay nghe nói hai người đều bị giết, liền xám mét mặt lại, điếng cả người đi, không nói được nữa. Được một hồi lâu, ứa nước mắt xuống đầm đìa như mưa, thở dài mà than rằng: - Thôi, Tề nữ (tức là Tuyên Khương) nó làm hại ta rồi! Nói xong, tức khắc đòi Công tử Sóc vào hỏi. Công tử Sóc chối từ không biết. Vệ Tuyên công giận lắm, truyền cho Công tử Sóc phải nã bắt những đứa hung đồ giết người ấy. Từ bấy giờ Vệ Tuyên công thương nhớ Công tử Thọ, thành ra đau nặng, động nhắm mắt đi thì lại trông thấy Di Khương, Cấp Tử và Công tử Thọ đến khóc ở trước mặt, cầu cúng mãi không khỏi, được nửa tháng thì chết. Công tử Sóc lên nối ngôi, tức là Vệ Huệ công. Vệ Huệ công cách chức Công tử Tiết và Công tử Chức. Hai vị công tử đem lòng oán giận, chỉ muốn vì Cấp Tử và Công tử Thọ báo thù. Thứ huynh của Vệ Huệ công là Công tử Ngoan cũng có ý không phục, mới bỏ trốn sang nước Tề. Vệ Huệ công lên nối ngôi, nhân việc giúp Tề đánh Kỷ, bị quân Trịnh đánh cho một trận, vẫn có ý oán Trịnh Lệ công. Bỗng nghe có sứ nước Trịnh đến, hỏi ra mới biết là Trịnh Lệ công bị đuổi, các quan nước Trịnh cho sang đón vua cũ là Trịnh Chiêu công về nối ngôi. Vệ Huệ công mừng lắm, liền cho quân đưa Trịnh Chiêu công về nước. Sái Túc xụp lạy Trịnh Chiêu công, xin lỗi về việc ngày trước không bảo hộ nổi, để đến nỗi Trịnh Chiêu công phải trốn sang nước Vệ. Trịnh Chiêu công dẫu không bắt tội Sái Túc, nhưng có ý nhạt nhẽo, không được kính trọng như ngày trước. Sái Túc xem chừng cũng không bằng lòng, thường hay cáo ốm không vào triều. Trịnh Chiêu công ngày trước vẫn ghét Cao Cừ Di, đến lúc Trịnh Chiêu công về nước, Cao Cừ Di sợ Trịnh Chiêu công hại mình, mới âm mưu định giết Trịnh Chiêu công mà lập Công tử Vỉ. Trịnh Lệ công trốn sang nước Sái, mượn người nước Sái nói với Đàn Bá xin đến ở đất Lịch. Đàn Bá không cho. Trịnh Lệ công mới thông mưu với người nước Sái giết Đàn Bá đi, chiếm cứ lấy đất Lịch, rồi đào hào đắp lũy, luyện tập quân mã để định cướp ngôi nước Trịnh, thành ra một nước cừu địch đối với Trịnh Chiêu công. Sái Túc nghe báo sợ lắm, liền vào nói với Trịnh Chiêu công. Trịnh Chiêu công sai quan đại phu là Phó Hà đem quân ra đóng ở đất Đại Lăng để chắn đường, khiến cho Trịnh Lệ công không sang đánh được. Trịnh Lệ công biết rằng Trịnh Chiêu công đã có phòng bị, không làm gì được, mới sai sứ nói với Lỗ Hoàn công, lại nhờ Lỗ Hoàn công sang xin lỗi với Tống Trang công hộ, hẹn rằng khi nào về nước, sẽ xin nộp đủ các thứ đồ lễ vật đã nói ngày trước. Lỗ Hoàn công sai sứ sang nói với Tống Trang công. Tống Trang công lại động lòng tham muốn, liền kết liên với Sái và Vệ để định giúp cho Trịnh Lệ công. Bấy giờ Vệ Huệ công có công khó nhọc đưa Trịnh Chiêu công về nước, mà Trịnh Chiêu công không biết tạ ơn, cũng đem lòng oán giận Trịnh Chiêu công, mới đem quân sang hội với Tống Trang công hợp mưu giúp Trịnh Lệ công lại về nước Trịnh. Công tử Tiết bảo Công tử Chức rằng: - Nay Vệ Sóc định đem quân sang hội với Tống, chính là lúc chúng ta có thể báo thù cho Cấp Tử và Công tử Thọ được. Công tử Chức nói: - Bây giờ ta hãy bàn định xem lập ai mới được. Hai người đang mật nghị với nhau thì nghe nói có quan Đại phu là Ninh Quị xin vào yết kiến. Công tử Tiết và Công tử Chức mời vào. Ninh Quị nói: - Nhị vị Công tử quên mất cái oan của Cấp Tử và Công tử Thọ hay sao, cơ hội ngày nay không nên bỏ mất. Công tử Chức nói: - Chúng tôi đang bàn nhau chưa biết lập ai. Ninh Quị nói: - Tôi xem trong bọn công tử, chỉ có Kiềm Mâu là có thể lập được. Vả Kiềm Mâu lại là con rể Thiên tử nhà Chu thì có thể trấn áp người trong nước được. Ba người liền kết ước ăn thề với nhau, giả làm một tờ điệp báo nói Vệ Huệ công đánh Trịnh bị thua, đã chết trận rồi, nay lập Công tử Kiềm Mâu lên nối ngôi. Khi đã lập xong Kiềm Mâu rồi, mới kể tội Vệ Sóc (tức là Vệ Huệ công) làm hại hai anh để đến nỗi Vệ Tuyên công uất giận mà chết; lại phát tang để trở Cấp Tử và Công tử Thọ và sai người sang báo tin cho vua nhà Chu biết là Kiềm Mâu đã lập. Ninh Quị đem quân ra đóng ở ngoài cõi để chắn đường khiến cho Vệ Huệ công không về được. Công tử Tiết muốn giết Tuyên Khương, Công tử Chức can rằng: - Tề Khương dẫu có tội, nhưng là em gái Tề hầu, nếu ta giết đi thì mếch lòng nước Tề, chi bằng ta lưu lại để giữ lấy tình giao hiếu hai nước. Nói xong, liền cho Tuyên Khương ra ở biệt cung, và cấp lương tháng cho. Lại nói chuyện Tống, Lỗ, Sái và Vệ, bốn nước đem quân đánh Trịnh. Sái Túc đem quân đến đất Đại Lăng cùng với Phó Hà hợp sức nhau để chống giữ, bốn nước không thể đánh được, đều phải thu quân trở về. Vệ Huệ công về đến nửa đường, nghe tin Công tử Tiết và Công tử Chức nổi loạn, đã lập Kiềm Mâu lên làm vua, liền trốn sang nước Tề. Tề Tương công nói: - Vệ Sóc tức là cháu gọi ta bằng cậu, thế nào ta cũng phải cất quân đi giúp hắn. Vệ Sóc mới ước với Tề Tương công xin khi nào về nước, bao nhiêu những bảo ngọc trong kho biếu nước Tề cả. Tề Tương công mừng lắm, bỗng nghe nói có sứ nước Lỗ đến. Nguyên là Tề Tương công cầu hôn với nhà Chu, vua nhà Chu sai Lỗ Hoàn công làm chủ hôn để gả Vương Cơ cho nước Tề, Lỗ Hoàn công định thân hành đến nói chuyện với Tề Tương công về việc ấy. Tề Tương công sực nhớ đến em gái là Văn Khương, đã lâu nay không được gặp mặt, mới sai sứ sang Lỗ đón Lỗ Hoàn công và đón cả Văn Khương một thể. Các quan đại phu nước Tề hỏi Tề Tương công rằng: - Đến bao giờ thì Chúa công đi đánh Kiềm Mâu nước Vệ. Tề Tương công nói: - Kiềm Mâu cũng là con rể vua nhà Chu, nay ta đang cầu hôn với nhà Chu, thì việc ấy hãy để thong thả, nhưng chỉ sợ người nước Vệ giết mất Tuyên Khương. Bèn sai Vô Tri đưa Công tử Ngoan về nước Vệ, lại dặn riêng Vô Tri lập kế khiến cho Công tử Ngoan tư thông với Tuyên Khương, để cho Công tử Ngoan phải binh vực cho Vệ Sóc (Vệ Huệ công). Vô Tri đưa Công tử Ngoan về Vệ, rồi đem lời dặn của Tề Tương công nói với Tuyên Khương. Tuyên Khương bằng lòng, nhưng Công tử Ngoan nghĩ tình cha con, nhất định không chịu. Vô Tri bàn mưu với Công tử Chức. Công tử Chức cũng muốn lấy lòng nước Tề, mới lập kế bày một tiệc rượu mời Công tử Ngoan uống, lại sai một bọn nữ nhạc ra chuốc rượu, đổ cho thật say, rồi vực vào phòng Tuyên Khương. Công tử Ngoan đến lúc tỉnh rượu, cũng có ý hối, nhưng hối lại cũng không kịp nữa. Từ bấy giờ Tuyên Khương cùng với Công tử Ngoan kết làm vợ chồng, sau sinh được năm người con. Sái Túc nước Trịnh ở đất Đại Lăng đem quân về nước, đang tìm cách để chống giữ với Trịnh Lệ công ở đất Lịch, sực nghĩ rằng nước Tề cùng với Trịnh Lệ công vẫn thù nhau về việc đánh Kỷ, bởi vậy nước Tề ngày nay không dự vào cái mưu giúp Trịnh Lệ công; lại nghe nói Lỗ Hoàn công làm chủ hôn cho nước Tề, Sái Túc mới nói với Trịnh Chiêu công xin đem lễ vật sang giao hiếu với nước Tề và Lỗ, nếu hai nước ấy giúp mình thì có thể chống cự với Tống được. Sái Túc chỉ biết phòng bị Trịnh Lệ công, không ngờ cái âm mưu của Cao Cừ Di rất là hiểm độc, chỉ e có Sái Túc là người tài trí, nên chưa dám làm. Nay thấy Sái Túc đi vắng, mới không sợ hãi chi cả, liền mật sai người đón Công tử Vỉ về nhà, rồi nhân lúc Trịnh Chiêu công đi tế, phục sẵn quân tử sĩ ở dọc đường, đổ ra mà giết, lập Công tử Vỉ lên nối ngôi. Công tử Vỉ sai người triệu Sái Túc về để cùng với Cao Cừ Di cùng giữ quốc chính.

Quay về bài gốc

0SHARES
 
34,907 ❤︎ Bài viết: 2241 Tìm chủ đề
HỒI THỨ 13 Vợ chồng Lỗ Hoàn công sang Tề Vua tôi Trịnh Tử Vỉ bị giết

Lại nói chuyện Tề Tương công thấy Sái Túc sang sứ, vui mừng tiếp đón, vừa toan cho người sang đáp lễ, bỗng nghe nói Cao Cừ Di đã giết Trịnh Chiêu công mà lập Công tử Vỉ, liền nổi cơn tức giận, định cất quân sang đánh; lại nghe Lỗ Hoàn công cùng vợ là Văn Khương sắp sang đến nơi, mới bỏ chuyện nước Trịnh không nói vội, thân hành đến sông Lạc Thủy để đón. Văn Khương ở nước Lỗ, khi mới thấy sứ Tề sang đón, trong lòng cũng mơ tưởng đến anh là Tề Tương công, mới mượn tiếng về thăm nhà, cùng với Lỗ Hoàn công cùng sang nước Tề. Lỗ Hoàn công vốn là người hay chiều vợ, bất đắc dĩ cũng phải cho đi. Quan đại phu là Thân Nhu can rằng: - Cứ theo lễ thì con gái đã đi lấy chồng, nếu cha mẹ hãy còn, mỗi năm được về thăm một lần. Bây giờ phu nhân, cha mẹ đều mất cả, không có lẽ em lại về thăm anh. Vả nước Lỗ ta vốn là một nước biết giữ lễ, tôi thiết tưởng không nên làm việc trái lễ ấy. Lỗ Hoàn công đã nhận lời với Văn Khương rồi; mới không nghe Thân Nhu, hai vợ chồng cùng nhau sang Tề. Đi đến sông Lạc Thủy, đã thấy Tề Tương công đón ở đấy rồi, nhìn nhau mừng rỡ, rồi cùng nhau trở về Lâm Tri (kinh thành nước Tề). Lỗ Hoàn công vâng mệnh vua nhà Chu nói về hôn sự. Tề Tương công lấy làm cảm tạ lắm, liền bày tiệc để thết đãi vợ chồng Lỗ Hoàn công. Tiệc xong, mời Văn Khương vào trong cung, giả bộ đi thăm các cung tần ngày trước; ai ngờ Tề Tương công đã sửa soạn sẵn một cái phòng kín, cùng với Văn Khương uống rượu tự tình. Sáng hôm sau, mặt trời đã cao ba trượng, mà hãy còn mê mẩn giấc điệp, chưa trở dậy được. Lỗ Hoàn công ở ngoài, một mình buồn bã, có ý nghi hoặc, sai người đến cửa cung để hỏi dò, mới biết là Tề Tương công chưa lấy chính phi, chỉ có thứ phi là Liên Thị, tức là em họ quan Đại phu Liên Xưng, nhưng bị Tề Tương công ghét bỏ, vẫn ở riêng một chỗ. Văn Khương vào cung, hai anh em tự tình với nhau, chứ chẳng có phi tần nào cả. Lỗ Hoàn công nghe nói tức giận, lại vừa gặp Văn Khương ở trong cung ra, Lỗ Hoàn công liền bảo Văn Khương rằng: - Tối hôm qua ở trong cung, phu nhân uống rượu với ai? Văn Khương nói: - Uống rượu với Liên Thị. Lỗ Hoàn công lại hỏi: - Uống rượu đến bao giờ thì tan? Văn Khương nói: - Lâu nay mới gặp nhau nên chuyện trò lôi thôi mãi cho đến khi bóng trăng lên ngang tường, bấy giờ vào độ nửa đêm. Lỗ Hoàn công lại hỏi: - Chẳng hay ông anh có đến dự tiệc hay không? Văn Khương nói: - Anh tôi có dự tiệc bao giờ! Lỗ Hoàn công vừa cười vừa nói: - Chẳng có lẽ tình anh em với nhau, lại không đến dự tiệc hay sao? Văn Khương nói: - Khi uống rượu đến nửa chừng thì anh tôi có đến mời một chén, rồi lại đi ngay. Lỗ Hoàn công nói: - Khi tiệc tan rồi, làm sao phu nhân không ra ngay? Văn Khương nói: - Vì đêm khuya quá, nên ra không tiện. Lỗ Hoàn công nói: - Vậy thì phu nhân ngủ ở đâu? Văn Khương nói: - Quân hầu lẩn thẩn quá? Sao lại hỏi đến điều ấy? Trong cung bao nhiêu phòng, không thiếu gì chỗ ngủ. Thiếp ngủ tại Tây cung, tức là cái phòng của thiếp vẫn nằm ngày thuở bé. Lỗ Hoàn công nói: - Sao ngày hôm nay phu nhân ngủ trưa như vậy? Văn Khương nói: - Đêm qua uống rượu say, mệt quá, sáng hôm nay thành ra ngủ trưa. Lỗ Hoàn công nói: - Đêm qua phu nhân ngủ chung với ai? Văn Khương nói: - Chỉ có mấy người cung nhân đó mà thôi. Lỗ Hoàn công nói: - Ông anh của phu nhân đêm qua ngủ ở đâu? Văn Khương thẹn đỏ mặt lên mà rằng: - Anh ngủ ở đâu thì em gái hỏi làm gì mà biết, quân hầu nói buồn cười tệ! Lỗ Hoàn công nói: - Ta chỉ e rằng ông anh lại cần phải biết chỗ em gái ngủ. Văn Khương nói: - Sao quân hầu lại nói thế? Lỗ Hoàn công nói: - Trai gái phải có phân biệt mới được, đêm qua phu nhân ở trong cung, ngủ chung với anh, ta đây đã biết hết cả rồi, phu nhân đừng có giấu giếm gì nữa! Văn Khương ngoài miệng vẫn còn ấp úng chối cãi, rên rỉ khóc hoài, nhưng trong lòng cũng hổ thẹn không biết thế nào mà kể! Lỗ Hoàn công giận lắm, nhưng đang ở nước Tề, nói ra không tiện, mới sai người vào cáo từ với Tề Tương công xin về nước Lỗ. Tề Tương công biết mình làm điều không phải, khi Văn Khương ở trong cung ra về, Tề Tương công vẫn có ý áy náy, liền sai một người lực sĩ tâm phúc là Thạch Chi Phân Như đi dò thám xem vợ chồng Lỗ Hoàn công có nói năng gì nữa không. Thạch Chi Phân Như trở về, đem những việc Lỗ Hoàn công và Văn Khương cãi nhau nói lại cho Tề Tương công nghe. Tề Tương công giật mình kinh sợ, nói: - Ta chắc Lỗ hầu lâu ngày cũng biết, nhưng chẳng ngờ lại biết chóng làm vậy! Bỗng thấy Lỗ Hoàn công cho người đến cáo từ xin về. Tề Tương công biết là vì việc ấy đã lộ ra, chắc là lưu lại cũng chẳng ở, mới hẹn ra chơi núi Ngưu Sơn để cùng nhau uống rượu tiễn biệt. Tề Tương công phần thì quyến luyến Văn Khương, phần thì sợ Lỗ Hoàn công quá giận đem lòng thù oán, mới mật sai Công tử Bành Sinh để khi uống rượu xong, đưa Lỗ Hoàn công về nhà sứ quán thì giết ngay ở trong xe. Công tử Bành Sinh lúc trước đi đánh nước Kỷ, bị quân Lỗ bắn một mũi tên gần chết, vẫn có ý căm tức, thấy Tề Tương công giao cho việc ấy, liền vui lòng nhận ngay. Đến hôm ấy Tề Tương công mở một tiệc đại yến ở núi Ngưu Sơn để tiễn biệt Lỗ Hoàn công. Tề Tương công giả cách mà làm ra ý ân cần tiếp đãi. Lỗ Hoàn công cứ ngồi cắm đầu xuống, không nói gì cả. Tề Tương công sai các quan đại phu lần lượt vào mời rượu Lỗ Hoàn công. Lại sai cung nga và nội thị bưng chén rượu quí mời. Lỗ Hoàn công trong lòng uất ức, cũng mượn chén rượu để giải phiền, chẳng ngờ thành ra say quá, khi tiệc tan rồi, người cứ mềm lả ra, không đi vững được nữa. Tề Tương công sai Công tử Bành Sinh vực Lỗ Hoàn công lên xe đưa về sứ quán. Công tử Bành Sinh cùng ngồi xe với Lỗ Hoàn công; khi ra ngoài quốc môn ước độ hai dặm, Công tử Bành Sinh thấy Lỗ Hoàn công ngủ say, mới giương thẳng cánh tay bóp vào hai cạnh sườn. Công tử Bành Sinh sức khỏe lắm, tay cứng như sắt. Lỗ Hoàn công gãy xương sườn, kêu lên một tiếng máu chảy lênh láng ra mà chết. Công tử Bành Sinh liền hô hoán lên rằng: - Lỗ hầu say rượu ngộ cảm! Nói xong, truyền xe thẳng vào thành, để báo tin cho Tề Tương công biết. Tề Tương công nghe tin Lỗ Hoàn công chết, giả cách thương xót lăn khóc, sai người khâm liệm nhập quan, rồi báo tin cho nước Lỗ biết để đưa đám về nước. Các quân sĩ theo hầu Lỗ Hoàn công bấy giờ về đến nước Lỗ thuật lại những chuyện Lỗ Hoàn công bị giết ở trong xe. Quan đại phu là Thân Nhu nói: - Trong nước không nên một ngày nào không có vua. Nói xong, liền lập Thế tử Đồng làm chủ việc tang, chờ khi cất đám Lỗ Hoàn công về nước rồi thì nối ngôi. Công tử Khánh Phủ tức giận, vùng vằng mà nói rằng: - Tề hầu loạn luân vô lễ, dám hại đến Quân phụ ta, xin cho tôi đem một đạo quân sang đánh Tề để trừng trị cái tội ác ấy. Thân Nhu nghe nói, cũng lấy làm phải, mới hỏi riêng kẻ mưu sĩ là Thi Bá rằng: - Có nên đánh nước Tề không? Thi Bá nói: - Đó là một việc ám muội, không nên để các nước biết. Vả lại ta yếu Tề mạnh, chưa chắc đã đánh nổi, chẳng bõ lại bêu xấu, chi bằng chịu ẩn nhẫn, xin với vua Tề xét cho cái việc nghi tình ở trong xe ấy, khiến Tề giết Công tử Bành Sinh đi, để khỏi mang tiếng với các nước. Như vậy thì Tề phải nghe lời. Thân Nhu bảo Khánh Phủ, rồi sai Thi Bá làm tờ quốc thư đưa sang cho Tề, Thế tử Đồng đang lúc tang sự không đứng tên, cho quan Đại phu là Thân Nhu ký thay. Tề Tương công mở thư ra xem. Thư rằng: "Tôi ngoại thần là Thân Nhu có lời kính dâng để Tề hầu xét cho. Chúa công tôi khi trước vâng mệnh Thiên tử sang quí quốc để hội nghị hôn sự. Nay thành ra không trở về được, đường sá xa xôi ai cũng huyên truyền về biến cố ở trong xe, nước tôi thật lấy làm xấu hổ với các nước lắm, xin Hiền hầu trị tội Công tử Bành Sinh cho thì mới khỏi mang tiếng". Tề Tương công xem xong, liền sai người gọi Công tử Bành Sinh vào. Công tử Bành Sinh cậy mình là người có công, ngang nhiên mà dẫn vào. Bấy giờ đang có mặt sứ nước Lỗ ở đấy, Tề Tương công mắng Công tử Bành Sinh rằng: - Ta thấy Lỗ hầu vui chén quá say, mới sai nhà ngươi vực lên xe đưa về, sao nhà ngươi không giữ gìn cẩn thận, để khiến cho Lỗ hầu đến nỗi chết tươi làm vậy. Tội nhà ngươi để đâu cho hết. Nói xong, truyền đem Công tử Bành Sinh ra chém. Công tử Bành Sinh kêu rầm lên rằng: - Đứa vô đạo hôn quân kia! Mày bày mưu lập kế để gian dâm với em gái mà giết người ta, bây giờ lại đổ tội cho ta. Ta chết đi, thế nào cũng làm tai làm quái để báo thù cho mày biết. Tề Tương công cứ giả vờ như người không nghe tiếng. Các người xung quanh đều bưng miệng cười thầm. Tề Tương công một mặt sai người vào nói với vua nhà Chu xin cưới Vương Cơ; một mặt sai người đưa đám Lỗ Hoàn công về nước. Văn Khương ở lại nước Tề, không về nước Lỗ. Quan Đại phu nước Lỗ là Thân Nhu cùng Thế tử Đồng đưa linh cữu Lỗ Hoàn công về nước Lỗ để an táng. Khi an táng xong, Thế tử Đồng lên nối ngôi, tức là Lỗ Trang công. Lỗ Trang công họp các quan để bàn về việc làm chủ hôn cho nước Tề. Thi Bá nói: - Nước ta có ba điều xấu hổ, Chúa công có biết không? Lỗ Trang công nói: - Ba điều xấu hổ là những điều gì? Thi Bá nói: - Tiên công ta dẫu đã thành phục rồi, nhưng tai tiếng vẫn còn, đó là một điều xấu hổ; Quốc mẫu ở nước Tề không về, để khiến cho người ta nghị luận, đó là hai điều xấu hổ; Tề là nước cừu địch với ta, huống chi Chúa công bây giờ đang lúc có tang mà lại phải làm chủ hôn cho Tề, chối từ đi thì sợ trái mệnh Thiên tử, không chối từ thì để cho thiên hạ chê cười, đó là ba điều xấu hổ. Lỗ Trang công nghe nói, có ý buồn rầu mà đáp rằng: - Ba điều xấu hổ ấy làm thế nào mà tránh khỏi được? Thi Bá nói: - Mình muốn cho người ta không ghét thì trước hết phải bỏ điều ác, mình muốn cho người ta không nghi thì trước hết phải giữ điều tin. Tiên công ta ngày xưa chưa được thụ phong, nay nhân việc chủ hôn này xin Thiên tử phong cho để khiến người dưới suối vàng cũng được hưởng cái vinh dự ấy, thế thì điều xấu hổ thứ nhất có thể tránh khỏi được; Quốc mẫu ta ở nước Tề, nên sai người sang đón về, để cho trọn cái đạo hiếu của Chúa công, thế thì điều xấu hổ thứ hai có thể tránh khỏi được. Còn một việc chủ hôn thì rất là khó xử, nhưng cũng có một kế. Lỗ Trang công nói: - Kế gì? Thi Bá nói: - Chúa công nên làm một nhà quán xá ở ngoài cõi, để Vương Cơ ở đấy, rồi sai quan Thượng đại phu đón mà đưa sang nước Tề. Trên không trái mệnh Thiên tử, dưới không mất lòng lân quốc, mà mình lại giữ cho trọn được cái lễ cư tang. Như thế thì điều xấu hổ thứ ba cũng có thể tránh khỏi được. Lỗ Trang công nói: - Thân Nhu bảo ta là nhà ngươi có nhiều trí khôn, nay quả nhiên như vậy! Nói xong, liền theo kế mà thi hành, sai quan Đại phu là Chuyên Tôn Sinh sang nhà Chu đón Vương Cơ và xin vua nhà Chu gia phong cho Lỗ Hoàn công. Vua Trang Vương nhà Chu thuận cho, đang chọn người để sang phong. Chu công Hắc Kiên xin đi. Vua Trang Vương nhà Chu không cho, lại sai quan Đại phu là Vinh Phúc. Nguyên Chu công Hắc Kiên phụng mệnh Tiên vương nhà Chu ngày xưa để phù tá Vương tử Khắc (em vua Trang Vương), vua Trang Vương nghi Chu công Hắc Kiên muốn giao thông với ngoại quốc để làm vây cánh cho Vương tử Khắc chăng, bởi vậy mới không dám sai đi. Chu công Hắc Kiên biết là vua Trang Vương nghi mình, đêm hôm ấy đến thương nghị với Vương tử Khắc, muốn nhân lúc cưới Vương Cơ mà họp đảng nổi loạn giết vua Trang Vương để lập Vương tử Khắc. Quan Đại phu là Tân Bá biết cái mưu ấy, liền vào nói với vua Trang Vương. Vua Trang Vương giết Chu công Hắc Kiên mà đuổi Vương tử Khắc. Vương tử Khắc trốn sang nước Yên. Chuyên Tôn Sinh nước Lỗ đưa Vương Cơ sang Tề, và phụng mệnh Lỗ Trang công đón Văn Khương về Lỗ. Tề Tương công vẫn có ý quyến luyến Văn Khương không thể dứt tình được, nhưng sợ công luận, vậy phải cho về. Khi Văn Khương cùng với Tề Tương công từ giã, hai người đều nhìn nhau gạt nước mắt mà khóc, Văn Khương phần thì say mê Tề Tương công, phần thì thẹn không muốn trở về nước Lỗ, vừa đi vừa có ý buồn rầu. Khi đến đất Chước (Đất nước Tề ở gần nước Lỗ) trông thấy phong cảnh vui đẹp, Văn Khương thở dài mà than rằng: - Đất này chẳng phải Tề, chẳng phải Lỗ, chính là nhà ta đó! Nói xong, liền sai người về nói với Lỗ Trang công rằng: - Gái góa này, tính ưa những chỗ thanh tĩnh, không muốn về nơi cung điện; nếu muốn cho ta về thì trừ phi lúc đã chết rồi. Lỗ Trang công biết rằng Văn Khương không mặt mũi nào mà về nước, mới sai người làm nhà quán xá ở đất Chúc Khâu (đất nước Lỗ) đón Văn Khương về đấy. Từ bấy giờ Văn Khương cứ ngao du ở trong hai đất: Đất Chước và đất Chúc Khâu. Tề Tương công từ khi giết Lỗ Hoàn công, khắp trong nước chỗ nào cũng huyên truyền về việc Tề Tương công vô đạo, làm những sự dâm ác. Tề Tương công nghĩ thầm trong lòng, có ý xấu hổ, vội vàng sai người đón Vương Cơ đến Tề để thành hôn, mà những lời nghị luận của người trong nước vẫn chưa yên tĩnh. Tề Tương công muốn làm một vài việc nghĩa cử để trấn áp lòng dân, mới nghĩ thầm rằng ngày nay chỉ có hai vấn đề rất lớn là: Người nước Trịnh giết vua và người nước Vệ đuổi vua, nhưng Kiềm Mâu nước Vệ, cũng là con rể vua nhà Chu, nay ta mới lấy Vương Cơ thì Kiềm Mâu chưa nên đánh vội; chi bằng ta hãy đánh Trịnh trước, khiến cho các nước chư hầu đều sợ mà phải phục theo. Tề Tương công lại e về nỗi đem quân đánh Trịnh, chưa chắc đã được, mới sai người viết thư cho Công tử Vỉ nước Trịnh, hẹn đến hội ở đất Thủ Chỉ (đất nước Vệ, giáp với Tề và Trịnh). Công tử Vỉ mừng lắm, nói: - Tề hầu lại chịu giao hiếu với ta, vậy thì nước ta vững như núi Thái Sơn. Công tử Vỉ bảo Cao Cừ Di và Sái Túc cùng đi. Sái Túc cáo ốm. Nguyên Phồn hỏi riêng Sái Túc rằng: - Nay Chúa công ta muốn giao hiếu với Tề hầu, ngài nên giúp là phải, sao lại chối từ không đi? Sái Túc nói: - Tề hầu là người hung tợn, tàn nhẫn, vẫn cậy thế nước lớn, có ý muốn làm bá chư hầu. Huống chi Tiên quân ta là Chiêu công có công với nước Tề, chắc Tề vẫn còn nhớ đến. Phàm một nước lớn mà tự nhiên xin kết giao với nước nhỏ, tất có gian mưu gì đây, khó lòng lường được. Chuyến đi này ta chỉ e rằng không khéo thì vua tôi cùng bị giết. Nguyên Phồn nói: - Nếu lời ngài nói đúng thì nước Trịnh ta định về tay ai? Sái Túc nói: - Tất về tay Công tử Nghi! Công tử Nghi có cái tướng mạo làm vua, Tiên quân ta là Trang công đã có nói như vậy. Nguyên Phồn nói: - Người ta vẫn đồn rằng ngài là người cao kiến, tôi xin thử nghiệm xem việc này có đúng không? Đến ngày hôm ấy, Tề Tương công sai Thành Phủ và Quản Chí Phủ đem hơn một trăm tử sĩ phục cả xung quanh. Thạch Chi Phân Như cũng đứng hầu ở bên cạnh. Công tử Vỉ cùng với Cao Cừ Di vào yết kiến Tề Tương công. Tề Tương công cầm lấy tay Công tử Vỉ mà hỏi rằng: - Trịnh Chiêu công ngày xưa vì cớ gì mà tạ thế. Công tử Vỉ giật mình kinh sợ, không biết nói ra làm sao. Cao Cừ Di thay lời mà đáp rằng: - Tiên quân tôi vì ốm mà tạ thế, sao Hiền hầu lại hỏi đến? Tề Tương công nói: - Nghe đâu vì đi tế mà bị giặc giết, có phải là ốm bao giờ! Cao Cừ Di không thể giấu được, mới ấp úng mà đáp rằng: - Tiên quân tôi nguyên vẫn có hàn tật, lại nhân gặp giặc mà thêm kinh sợ, thành ra tạ thế. Tề Tương công nói: - Vua đi tất phải có phòng bị, giặc bởi đâu mà đến được? Cao Cừ Di nói: - Nước tôi có nhiều đảng tranh nhau, vậy nên thừa cơ thiết phát, tài nào mà phòng bị cho xiết! Tề Tương công nói: - Thế thì có bắt được quân giặc ấy không? Cao Cừ Di nói: - Hiện vẫn còn đang tầm nã, chưa thấy tông tích đâu cả. Tề Tương công nổi giận, nói: - Giặc ở trước mắt mà làm sao không bắt! Nhà ngươi chịu tước lộc của nước, vì điều oán riêng mà dám giết vua, bây giờ đến trước mặt ta đây, hãy còn toan nói chữa, ta đây quyết vì Tiên quân nhà ngươi mà báo thù. Nói xong, liền gọi người bắt lấy. Thạch Chi Phân Như tức khắc trói ngay Cao Cừ Di lại. Công tử Vỉ sụp lạy mà kêu rằng: - Việc ấy đều là tại Cao Cừ Di cả, không can dự gì đến tôi, xin Hiền hầu rộng thương cho. Tề Tương công nói: - Đã biết Cao Cừ Di làm việc ấy, sao không trị tội? Thôi, để cho nhà ngươi xuống âm phủ mà cãi. Nói xong, liền lấy tay vẫy một cái, Thành Phủ và Quản Chí Phủ đem hơn một trăm tử sĩ tiến vào, lôi Công tử Vỉ ra chém. Các quan theo hầu Công tử Vỉ, sợ thanh thế nước Tề, cũng không ai dám chống lại, bỏ chạy tán loạn. Tề Tương công bảo Cao Cừ Di rằng: - Vua mày đã chết rồi, mày còn mong sống hay sao! Cao Cừ Di nói: - Tôi đã biết tội rồi, xin Hiền hầu tha cho. Tề Tương công nói: - Tha cho mày một lưỡi gươm! Nói xong, truyền đem phân thây ở ngoài Nam môn, buộc đầu và chân tay vào năm cái xe trâu, lấy roi đánh trâu để cho mỗi con chạy đi một ngã, đó là một cái hình pháp rất nặng, Tề Tương công muốn cho các nước chư hầu biết cái việc nghĩa cử của mình làm, vậy nên mới dùng cái hình pháp ấy để khiến cho công việc thành ra to tát. Cao Cừ Di đã chết rồi, Tề Tương công sai đem bêu đầu ở chốn Nam môn, rồi treo một cái bảng đề rằng: "Những kẻ bề tôi phản nghịch, nên trông đó làm gương". Lại sai sứ sang bảo với nước Trịnh rằng: - Nước nhà ngươi có Cao Cừ Di âm mưu giết vua để lập kẻ khác, ta đây vì Tiên quân nước Trịnh báo thù, đã bắt mà giết đi rồi, bây giờ nên lập ngay vua mới để giữ lấy tình hòa hiếu cũ của hai nước. Nguyên Phồn nghe thấy tin ấy, thở dài mà than rằng: - Sái Túc thật là người cao kiến, ta không thể nào kịp được! Bấy giờ các quan nước Trịnh bàn nhau lập vua mới, Thúc Thiêm nói: - Vua cũ (Trịnh Lệ công) hiện đang ở đất Lịch, sao không đón về? Sái Túc nói: - Vua cũ đã trốn đi rồi thì không nên lập lại nữa, chi bằng ta lập Công tử Nghi. Nguyên Phồn cũng lấy làm phải, mới cùng nhau lập Công tử Nghi lên nối ngôi. Sái Túc làm thượng đại phu, Thúc Thiêm làm trung đại phu, Nguyên Phồn làm hạ đại phu. Công tử Nghi đã lên nối ngôi, mới giao cả quyền chính cho Sái Túc, sai sứ đi kết thân với Tề, Trần v. V, lại cho người sang cống nước Sở. Trịnh Lệ công không tìm cớ gì mà về nước được; từ bấy giờ nước Trịnh được yên ổn.

Quay về bài gốc

0SHARES
 
34,907 ❤︎ Bài viết: 2241 Tìm chủ đề
HỒI THỨ 14 Vệ Sóc trái mệnh Chu Thiên tử Bành Sinh báo thù Tề Tương công

Bấy giờ Vương Cơ nhà Chu cùng với Tề Tương công thành hôn. Vương Cơ là người tính nết ôn hòa, lại hay giữ lễ phép, mà Tề Tương công là người dâm đãng, bởi vậy thành ra không tương đắc với nhau. Vương Cơ ở trong cung nước Tề mấy tháng, nghe hết những chuyện Tề Tương công cùng với em gái tư thông, thường vẫn thở dài mà than rằng: - Người mà đã dám làm những điều trái với luân thường đạo lý như thế thì chẳng khác gì giống cầm thú. Ta đây cũng không may mà lấy phải đứa tiểu nhân này, chẳng qua là bởi cái số phận ta đó! Từ bấy giờ Vương Cơ uất ức trong lòng, nghĩ lắm thành ốm chưa đầy một năm thì chết. Tề Tương công từ khi Vương Cơ chết rồi, lại càng không sợ hãi gì nữa, trong bụng chỉ mơ tưởng Văn Khương, thường giả cách đi săn bắn, ra ở đất Chước, rồi mật sai người sang đất Chúc Khâu đón Văn Khương đến, đêm ngày chơi đùa với nhau. Nhưng lại sợ Lỗ Trang công tức giận, muốn lấy binh uy để dọa nạt, mới đem quân sang đánh nước Kỷ chiếm lấy ba ấp. Đóng quân ở Huề Thành, sai người bảo Kỷ hầu phải đưa thư đầu hàng thì khỏi đến nỗi mất nước. Kỷ hầu than rằng: - Tề là một nước cừu địch với ta, khi nào ta chịu thân sang lạy kẻ cừu địch để cầu cho toàn tính mệnh! Nói xong liền bảo vợ là Bá Cơ (con gái Huệ công) viết thư sang cầu cứu với nước Lỗ. Tề Tương công hạ lệnh rằng: - Nước nào dám cứu nước Kỷ thì ta quyết đem quân đến đánh trước. Lỗ Trang công sai sứ sang Trịnh để kết ước với Trịnh cùng cứu nước Kỷ. Vua Trịnh là Công tử Nghi nhân Trịnh Lệ công ở đất Lịch vẫn muốn đem quân về đánh lẻn nước Trịnh, vậy nên cũng không dám đi cứu Kỷ, mới sai sứ sang từ chối. Lỗ Trang công thế cô, biết là không địch nổi nước Tề, đóng quân ở đất Hoạt ba ngày rồi trở về. Kỷ hầu thấy nước Lỗ lui quân về, tự liệu sức mình không thể giữ nổi liền đem thành trì, vợ con giao cả lại cho em là Doanh Quí, rồi đang nửa đêm mở cửa bỏ đi mất. Doanh Quí bảo các quan đại phu rằng: - Một đàng thì liều chết mà đánh nước giặc; một đàng thì đầu hàng để giữ lấy dòng dõi. Hai đàng ấy đàng nào trọng hơn? Các quan đại phu đều nói: - Nên giữ lấy dòng dõi. Doanh Quí nói: - Thôi thì ta cũng chịu nhẫn nhục mà giữ lấy dòng dõi cho rồi! Nói xong, liền viết thư xin đầu hàng nước Tề, để giữ lấy tôn miếu nước Kỷ. Tề Tương công thuận cho. Doanh Quí đem những sổ sách dân đinh điền thổ nước Kỷ nộp cả cho Tề. Tề Tương công cho Doanh Quí được thu thuế trong 30 hộ để giữ lấy tôn miếu nước Kỷ. Vợ Kỷ hầu là Bá Cơ sợ hãi mà chết. Tề Tương công sai làm lễ an táng để lấy lòng với nước Lỗ. Bấy giờ Sở Vũ Vương là Hùng Thông đem quân đi đánh Tùy, chưa đi đến nơi thì chết. Quan Lịnh doãn là Đấu Kỳ, quan Mạc ngao (chủ việc binh) là Khuất Trọng giấu kín việc ấy, không chịu phát tang, rồi đem quân theo đường tắt kéo thẳng đến chân thành nước Tùy, Tùy hầu sợ xin hòa. Khuất Trọng bắt Tùy hầu ăn thề, rồi thu quân về, lập con Hùng Thông là Hùng Si lên nối ngôi, tức là Sở Văn vương. Tề Tương công đánh được nước Kỷ rồi, thu quân trở về, Văn Khương đón đường mời vào Chúc Khâu, mở tiệc khao thưởng quân sĩ; lại cùng với Tề Tương công cùng về đất Chước để ngày đêm vui thú với nhau. Tề Tương công bảo Văn Khương viết thư triệu Lỗ Trang công đến hội ở đất Chước. Lỗ Trang công không dám trái mẫu lệnh mới thân hành đến đất Chước để yết kiến Văn Khương. Văn Khương sai Lỗ Trang công lấy lễ cậu cháu mà yết kiến Tề Tương công, và tạ cái ơn làm lễ an táng cho Bá Cơ nước Kỷ. Lỗ Trang công bất đắc dĩ cũng phải vâng mệnh. Tề Tương công mừng lắm, truyền mở tiệc để thết đãi Lỗ Trang công. Bấy giờ Tề Tương công mới sinh được một đứa con gái bé, Văn Khương bắt Lỗ Trang công phải đính ước để lấy làm vợ. Lỗ Trang công nói: - Nó hãy còn bé mà lấy tôi thì sao cho xứng đôi! Văn Khương nổi giận, nói: - Mày muốn xa họ nhà mẹ hay sao? Tề Tương công cũng có ý hiềm về lớn bé khác nhau quá. Văn Khương nói: - Đợi 20 năm nữa mà lấy nhau thì đã lấy gì làm chậm! Tề Tương công sợ mếch lòng Văn Khương. Lỗ Trang công cũng không dám trái lời mẹ, hai bên mới nhận lời giao ước với nhau. Tề Tương công và Lỗ Trang công cùng nhau đem quân đi săn bắn ở đất Chước. Lỗ Trang công bắn giỏi lắm, mười phát trúng cả mười. Tề Tương công trông thấy khen tài. Dân ở đấy đều thì thào bảo thầm nhau, trỏ Lỗ Trang công mà nói rằng: - Đấy là con hờ của Chúa công ta đó! Lỗ Trang công giận lắm, sai bắt những người nói ấy mà giết đi. Tề Tương công tự đất Chước trở về nước Tề. Vệ Sóc ra đón, mừng về sự đánh được nước Kỷ, và lại xin Tề Tương công giúp cho việc đánh Vệ Kiềm Mâu. Tề Tương công nói: - Bây giờ Vương Cơ tạ thế rồi, việc ấy không ngại gì nữa, nhưng nếu không liên hợp với các nước chư hầu thì không thành ra việc công, nhà ngươi hãy đợi một chút. Vệ Sóc cảm tạ, Tề Tương công sai sứ đưa tờ hịch đi ước với Tống, Lỗ, Trần, Sái cùng đem quân đánh Vệ Kiềm Mâu để đưa Vệ Huệ công (Vệ Sóc) về nước. Tờ hịch như sau này: "Kẻ nghịch thần nước Vệ là lũ Tiết, Chức chuyên quyền bỏ vua nước Vệ là Sóc mà lập Kiềm Mâu, Vệ Sóc phải trốn sang nước tôi, nay đã bảy năm, tôi còn bận nhiều việc, nên chưa kịp sang đánh, bây giờ công việc đã được thư nhàn, xin đem quân theo các quí quốc để giúp cho Vệ Sóc mà giết bỏ kẻ loạn tặc nước Vệ không đáng lập mà lập ấy". Vệ Kiềm Mâu nghe tin các nước đem quân đến đánh mới cùng với Công tử Tiết, Công tử Chức thương nghị, sai quan Đại phu là Ninh Quị vào cáo cấp với vua nhà Chu. Vua Trang vương nhà Chu hỏi các quan rằng: - Ai là người có thể vì Trẫm sang cứu nước Vệ được? Quắc công Kỵ Phủ và Quắc công Bá đều nói rằng: - Nhà Chu ta từ khi đánh nước Trịnh bị thua, các nước chư hầu không chịu tuân theo hiệu lệnh. Bây giờ Tề hầu không nghĩ đến cái tình thân Vương Cơ, mà họp quân bốn nước để giúp Vệ Sóc về nước. Đã có sức mạnh, lại hợp lẽ phải, thế thì khó lòng địch nổi. Bỗng thấy ở tả ban có một người bước ra mà nói rằng: - Hai ngài nói thế đều là sai lầm! Tề hầu chỉ có sức mạnh sao gọi là lẽ phải được. Bấy giờ mọi người đều nhìn xem ai, thì là quan Hạ sĩ tên gọi Tử Đột. Quắc công Kỵ Phủ nói: - Vua chư hầu mất ngôi mà các nước chư hầu giúp cho, sao lại bảo là không hợp lẽ phải. Tử Đột nói: - Vệ Kiềm Mâu lập lên, đã có phụng mệnh Thiên tử, đã phụng mệnh mà lập Kiềm Mâu thì tất phải, mà lấy việc giúp Vệ Sóc làm lẽ phải thì Đột này thật không hiểu ra làm sao! Quắc công Bá nói: - Chiến tranh là việc quan hệ, phải liệu sức mà làm. Nhà Chu ta suy yếu kể đã lâu ngày, khi trước Tiên vương ta thân hành đi đánh Trịnh, còn bị Chúc Đam nước Trịnh bắn một mũi tên, đến nay đã hai đời rồi mà chưa dám hỏi tội nước Trịnh. Huống chi bốn nước chư hầu ngày nay thế còn gấp mười nước Trịnh, mà ta đem một toán quân sang cứu thì khác nào như trứng chọi với đá, phỏng có ích gì hay không? Tử Đột nói: - Việc trong thiên hạ, lý được sức là thường, sức được lý là biến, nếu làm trái lý mà không ai nói đến thì đảo điên hắc bạch, thiên hạ còn ai biết đến Thiên tử là thế nào, mà các ngài cũng còn mặt mũi nào tự nhận làm quan khanh sĩ nhà Chu nữa. Quắc công Bá nín lặng không biết nói thế nào. Quắc công Kỵ Phủ nói: - Bây giờ muốn đem quân đi cứu Vệ thì nhà ngươi có thể đương nổi việc ấy không? Tử Đột nói: - Việc chinh chiến thì ở quan Tư mã. Đột này tài hèn sức mọn không đương nổi việc ấy. Nhưng nếu không ai chịu đi thì Đột này cũng không dám tiếc thân, xin đi thay quan Tư mã. Quắc công Kỵ Phủ lại nói: - Nhà ngươi đi cứu nước Vệ, có chắc được không? Tử Đột nói: - Cứ lấy lý mà nói thì Đột này đáng được, nhưng lấy lực mà nói thì được hay thua, Đột này cũng chưa dám chắc. Quan Đại phu là Phú Thần nói: - Tử Đột nói rất khí khái, nên sai đi cứu, để cho thiên hạ biết là nhà Chu ta cũng có người giỏi. Vua nhà Chu nghe lời, mới bảo Ninh Quị về báo tin cho nước Vệ biết trước rằng vua nhà Chu cho quân đến sau. Quắc công Kỵ Phủ và Quắc công Bá sợ Tử Đột lập được công trạng, chỉ cấp cho 200 nhung xa để đi đánh mà thôi, Tử Đột cũng không chối từ, phụng mệnh đi ngay. Bấy giờ quân các nước đang vây thành nước Vệ gấp lắm, Công tử Tiết và Công tử Chức đêm ngày chỉ mong có đại binh của Thiên tử đến cứu. Ai ngờ quân Tử Đột ít quá, không địch nổi với quân các nước, đều bỏ chạy tán loạn. Tử Đột thở dài mà than rằng: - Ta phụng mệnh Thiên tử ra đánh mà bị chết trận cũng được là con ma trung nghĩa chứ sao! Nói xong, liền xông vào giết được vài mươi người rồi tự đâm cổ mà chết. Quân nước Tề trèo lên được thành nước Vệ trước, rồi bốn nước đem quân theo sau, phá vỡ cửa thành nước Vệ, đưa Vệ Sóc vào. Công tử Tiết và Công tử Chức và Ninh Quị đem quân phù Vệ Kiềm Mâu chạy trốn, lại gặp quân nước Lỗ đuổi đánh, Công tử Tiết, Công tử Chức và Vệ Kiềm Mâu đều bị Lỗ Trang công bắt được cả. Ninh Quị không thể cứu nổi, bỏ trốn sang nước Tần. Tề Tương công sai đem Công tử Tiết và Công tử Chức ra chém, còn Vệ Kiềm Mâu là con rể vua nhà Chu, cùng với nước Tề có tình liên khâm, vậy nên tha cho không giết nhưng đuổi về nhà Chu, Vệ Sóc lại lên làm vua nước Vệ, rồi đem các đồ bảo ngọc trong kho tạ ơn Tề Tương công. Tề Tương công nói: - Lỗ hầu bắt được Công tử Tiết, Công tử Chức và Vệ Kiềm Mâu, cũng có công khó nhọc lắm, nên đem một nửa chia biếu Lỗ Hầu. Tề Tương công lại bảo Vệ Sóc đem lễ vật tạ ơn Tống, Trần và Sái. Tề Tương công từ khi đuổi Vệ Kiềm Mâu, chỉ sợ vua nhà Chu đem quân đến đánh, mới sai quan Đại phu là Liên Xưng làm chánh tướng, Quản Chí Phủ làm phó tướng, đem quân ra đóng đồn ở đất Quì Khâu để trấn thủ về phía đông nam. Lúc hai tướng sắp đi, xin với Tề Tương công rằng: - Dẫu đi đóng đồn khó nhọc, chúng tôi cũng không dám từ chối, nhưng chẳng hay bao giờ thì Chúa công cho người thay? Bấy giờ Tề Tương công đang ngồi ăn dưa, liền bảo rằng: - Bây giờ đang mùa dưa chín, đến mùa dưa chín sang năm, ta sẽ cho người ra thay. Hai tướng đem quân ra đóng đồn ở đất Quì Khâu, thấm thoát đã được đầy năm, có một hôm quân sĩ dâng dưa mới, hai tướng sực nhớ đến lời ước của Tề Tương công, mới bảo nhau rằng: - Bây giờ đã đến mùa dưa chín, làm sao chưa thấy Chúa công cho người ra thay? Nói xong, liền sai người nhà tâm phúc về trong nước để dò la tin tức, nghe Tề Tương công đang cùng Văn Khương vui chơi ở đất Cốc Thành đã hơn một tháng nay chưa về. Liên Xưng giận lắm, nói: - Vương Cơ mất rồi, đáng lẽ em gái ta được lên làm phu nhân, nay đứa vô đạo hôn quân ấy không nghĩ gì đến luân lý, ngày đêm hoang dâm, mà bắt chúng ta phải giãi tuyết dầm sương ở chỗ bờ cõi này, thế nào ta cũng phải giết mới được. Nói xong, ngoảnh lại bảo Quản Chí Phủ rằng: - Nhà ngươi nên giúp ta một tay. Quản Chí Phủ nói: - Đến mùa dưa chín thì cho người ra thay, Chúa công trước hẹn với ta như vậy, hoặc là bây giờ quên đi chăng; chi bằng ta viết thư xin cho người thay. Nếu xin mà không cho thì chắc hẳn quân sĩ đều đem lòng oán giận, bấy giờ mới có cơ dùng được. Liên Xưng khen phải, tức thì sai người đem dưa mới về dâng Tề Tương công và xin cho người ra thay. Tề Tương công giận lắm, nói: - Bao giờ cho thay, tự khắc ta bảo, cớ sao được xin, đã thế thì lại đến mùa dưa chín sang năm. Liên Xưng giận lắm, bảo Quản Chí Phủ rằng: - Bây giờ muốn làm đại sự thì nên dùng kế gì? Quản Chí Phủ nói: - Phàm muốn làm đại sự, trước hết phải nghĩ lập một người nào đã thì mới thành việc được. Công Tôn Vô Tri là con Công tử Di Trọng Niên, Tiên quân ta là Hi công vì tình cùng mẹ sinh ra, vậy nên yêu Di Trọng Niên và yêu cả Vô Tri nữa, từ thuở nhỏ vẫn nuôi ở trong cung, coi như là Thế tử. Khi trước Vô Tri ở trong cung, cùng với Chúa công bây giờ cãi nhau, Vô Tri lấy chân đá Chúa công ngã xuống đất, Chúa công đã có ý không bằng lòng. Một hôm Vô Tri lại cùng với quan Đại phu là Ung Lẫm tranh nhau đi trước, Chúa công giận người vô lễ, mới ghét bỏ Vô Tri, tiếp đãi không được tử tế như trước. Vô Tri đem lòng oán giận, vẫn muốn làm loạn, nhưng không có ai giúp. Chi bằng chúng ta mật thông với Vô Tri, khiến làm nội ứng thì việc tất phải xong. Liên Xưng nói: - Nên nhân dịp nào mà làm? Quản Chí Phủ nói: - Chúa công là người khéo dụng binh, lại hay đi săn bắn, bây giờ làm thế nào cho mãnh hổ rời hang ra ngoài thì mới trị nổi. Vậy phải biết trước hôm nào Chúa công đi đâu để nhân cái cơ hội ấy mới được. Liên Xưng nói: - Em gái ta ở trong cung bị Chúa công ghét bỏ, cũng đem lòng oán giận, âu là ta dặn Vô Tri thông mưu với em gái ta, dò la xem hôm nào Chúa công đi đâu thì lập tức phi báo cho ta biết để mà khởi sự. Nói xong, liền sai người tâm phúc đưa thư cho Công Tôn Vô Tri. Thư rằng: "Tiên quân ta ngày xưa quí trọng Công Tôn như vậy, mà hôn quân ngày nay dám tước bỏ đi thì ai nghe đến chuyện mà chẳng có ý bất bình. Huống chi hôn quân ngày đêm dâm dục, chẳng thiết gì đến chính trị. Chúng tôi ra đóng đồn ở đất Quì Khâu, hẹn đến mùa dưa chín mà cũng không cho người ra thay, vậy nên quân sĩ đem lòng oán giận đều muốn nổi loạn. Nếu có dịp nào thì chúng tôi xin hết sức mà giúp Công Tôn. Em gái tôi ở trong cung vì cớ bị ghét bỏ cũng đem lòng oán giận, thật là trời giúp cho Công Tôn một người nội ứng đó. Xin Công Tôn chớ bỏ cái cơ hội ấy." Công Tôn Vô Tri xem thư mừng lắm, tức khắc trả lời như sau này: "Lòng trời đã chán đứa dâm dục mà xui khiến cho tướng quân nghĩ đến điều ấy. Tôi xin kính dâng những lời tâm phúc, dù chóng dù chầy sẽ có tin báo." Vô Tri sai người thông tin cho Liên Thị (em gái Liên Xưng) biết và đem bức thư của Liên Xưng đưa cho xem, lại hẹn rằng khi nào thành việc rồi, sẽ cho Liên Thị làm phu nhân, Liên Thị nhận lời. Một hôm, Tề Tương công sai Đồ Nhân Phí sắp sửa xa giá để định đi săn bắn ở đất Cô Phân, Liên Thị sai người báo tin cho Vô Tri biết. Vô Tri tức khắc báo tin cho Liên Xưng và Quản Chí Phủ. Liên Xưng nói: - Hôn quân đi săn bắn thì trong nước không có phòng bị, ta kéo quân vào thẳng kinh thành mà lập Vô Tri, nghĩ có nên không? Quản Chí Phủ nói: - Hôn quân ngoại giao khéo lắm, nếu mượn quân nước khác về đánh thì lấy gì mà chống lại, chi bằng ta hãy đem quân ra phục ở đất Cô Phân, hãy giết hôn quân trước, rồi sau sẽ lập Vô Tri lên nối ngôi, mới có thể vạn toàn được. Nói xong, liền đem quân ra phục ở đất Cô Phân. Bấy giờ quân sĩ phải đi đóng đồn lâu, đều có ý nhớ nhà, ai cũng thuận theo cả. Tề Tương công ra đất Cô Phân, có bọn Thạch Chi Phân Như và Mạnh Dương đi theo hầu. Đêm hôm ấy ngủ ở đất Cô Phân, sáng hôm sau lên núi Bối Khâu săn bắn. Tề Tương công sai phóng hỏa đốt rừng, rồi bổ vây bốn mặt để bắt các giống hồ thỏ. Tề Tương công đang đỗ xe ở trên một cái gò cao, bỗng thấy một con lợn thật to, giống trâu mà không có sừng, giống hổ mà không có vằn, ở trong đống lửa nhảy ra, chạy đến trước xe Tề Tương công. Tề Tương công ngoảnh lại trông thấy Mạch Dương đứng ở bên cạnh, liền bảo Mạnh Dương rằng: - Nhà ngươi bắn con lợn ấy cho ta đi. Mạnh Dương trừng mắt nhìn, giật mình nói rằng: - Không phải con lợn! Công tử Bành Sinh đó! Tề Tương công giận lắm, nói: - Công tử Bành Sinh sao dám đến đây! Nói xong, liền giật lấy cái cung của Mạnh Dương, bắn luôn ba phát mà không trúng. Con lợn ấy giơ hai chân trước mà đứng thẳng lên như người, vừa đi vừa khóc, nghe rất sầu thảm. Tề Tương công ghê sợ rùng mình ở trên xe ngã lăn xuống, khuỵu một chân trái, rơi một chiếc giầy thêu, bị con lợn ấy tha đi rồi biến mất, Đồ Nhân Phí cùng các người theo hầu vực Tề Tương công dậy, đưa về đất Cô Phân. Tề Tương công tinh thần hoảng hốt, nóng lòng nóng ruột, lại vừa đau chân trái, đêm hôm ấy cứ trằn trọc không ngủ được, mới bảo Mạnh Dương rằng: - Nhà ngươi đỡ cho ta đi lại mấy bước. Bấy giờ Tề Tương công mới biết là mất giầy, gọi Đồ Nhân Phí lại hỏi. Đồ Nhân Phí nói: - Chiếc giầy ấy bị con lợn tha đi mất rồi! Tề Tương công nổi giận mà mắng rằng: - Mày theo hầu ta mà giầy ta còn hay mất, mày lại không biết sao? Nếu con lợn ấy tha đi thì sao bấy giờ mày không nói ngay. Nói xong, cầm roi quất vào lưng Đồ Nhân Phí, máu chảy đầm đìa mới thôi. Đồ Nhân Phí bị đánh, sùi sụt nước mắt mà trở ra, lại vừa gặp Liên Xưng. Liên Xưng bắt Đồ Nhân Phí trói lại mà hỏi rằng: - Đứa vô đạo hôn quân bây giờ ở đâu? Đồ Nhân Phí nói: - Đang ở trong phòng ngủ. Liên Xưng lại hỏi: - Đã đi nằm chưa? Đồ Nhân Phí nói: - Chưa đi nằm. Liên Xưng giơ dao toan chém. Đồ Nhân Phí nói: - Đừng giết tôi, để tôi vào trước dò thám hộ cho tướng quân. Liên Xưng không tin. Đồ Nhân Phí nói: - Tôi vừa mới bị nó đánh, cũng muốn giết nó lắm. Nói xong, liền vạch áo chìa lưng cho Liên Xưng coi. Liên Xưng thấy chảy máu đầm đìa mới tin lời nói, liền cởi trói cho vào làm nội ứng, rồi bảo Quản Chí Phủ đem quân vây kín cả xung quanh. Đồ Nhân Phí vừa vào đến trong cửa thì gặp Thạch Chi Phân Như. Đồ Nhân Phí đem chuyện Liên Xưng khởi loạn bảo Thạch Chi Phân Như, rồi cùng nhau vào nói với Tề Tương công. Tề Tương công luống cuống không biết làm ra thế nào. Đồ Nhân Phí nói: - Bây giờ việc đã nguy cấp lắm, nên cho một người giả làm Chúa công nằm ở trên giường, còn Chúa công thì nấp vào sau cửa, may ra có thể thoát được. Mạnh Dương nói: - Tôi chịu ơn Chúa công nhiều lắm, xin liều chết để thay mạng cho Chúa công. Nói xong, liền trèo lên trên giường, nằm ngoảnh mặt vào phía trong. Tề Tương công cởi áo cẩm bào trùm lên mình Mạnh Dương, rồi lẻn nấp vào sau cửa, hỏi Đồ Nhân Phí rằng: - Còn nhà ngươi thì làm gì bây giờ? Đồ Nhân Phí nói: - Tôi cùng với Thạch Chi Phân Như xin cố sức để chống nhau với giặc. Tề Tương công nói: - Nhà ngươi lưng đau thế mà không ngại à? Đồ Nhân Phí nói: - Chết còn chẳng tiếc, nữa là ngại lưng đau! Tề Tương công than rằng: - Nhà ngươi thật là một trung thần! Đồ Nhân Phí bảo Thạch Chi Phân Như đứng chặn ở cửa trong, rồi cắp một con dao găm giả cách ra đón để chực giết Liên Xưng. Lại gặp Liên Xưng vừa phá cửa Đại môn vào. Đồ Nhân Phí không kịp trông kỹ, vội vàng đâm liều, chẳng ngờ Liên Xưng mình mặc áo giáp, dao đâm không thủng, lại bị Liên Xưng chém cho một nhát chết ngay. Thạch Chi Phân Như nhảy ra đánh nhau với Liên Xưng, vừa đánh vừa lùi, vấp phải cái thềm đá ngã lăn xuống đất, cũng bị Liên Xưng chém chết. Khi Liên Xưng vào đến phòng ngủ của Tề Tương công, các thị vệ bỏ chạy tất cả, Liên Xưng trông thấy trong màn hoa có người nằm đắp cái áo cẩm bào, mới giơ gươm chém một nhát đầu rơi ra khỏi ngoài gối. Liên Xưng giơ đuốc lên soi, thấy người trẻ tuổi không có râu, Liên Xưng nói: - Ô hay! Không phải hôn quân. Nói xong, liền sai người tìm khắp trong phòng, chẳng thấy tông tích đâu cả, Liên Xưng cầm đuốc đi soi, bỗng thấy ở dưới khuông cửa có một chiếc giầy thêu, biết là sau cửa có người đứng ẩn, mới phá cửa ra xem (Nguyên Tề Tương công đau chân, ngồi núp ở đó, chân vẫn đi một chiếc giầy thêu, còn chiếc giầy ở ngoài cửa là chiếc giầy mà con lợn tha đi khi trước, không biết cớ sao lại xuất hiện ở đấy), trông thấy Tề Tương công ngồi núp ở đấy, mới lôi ra ngoài, đẩy ngã xuống đất mà quát mắng rằng: - Đứa vô đạo hôn quân kia! Mày gây việc chinh chiến, làm hại dân trong mấy năm nay, ấy là bất nhân; trái lời cha dặn mà khinh bỏ Công Tôn, ấy là bất hiếu; gian dâm với em gái, không sợ hãi gì, ấy là vô lễ; bắt người ta đi đóng đồn, hẹn đến mùa dưa chín cho thay mà lại không cho, ấy là vô tín. Nhân, hiếu, lễ, tín, bốn điều ấy đều không có cả thì sao gọi là người được. Ngày nay ta quyết vì Lỗ Hoàn công mà báo thù. Nói xong, liền chém Tề Tương công ra làm mấy đoạn. Liên Xưng và Quản Chí Phủ đem quân kéo thẳng vào kinh thành nước Tề. Công Tôn Vô Tri mở cửa thành ra tiếp ứng. Liên Xưng và Quản Chí Phủ vào thành, lập Vô Tri lên nối ngôi, cho Liên Thị làm phu nhân. Còn Liên Xưng làm chính khanh, Quản Chí Phủ làm á khanh, các quan trong triều đều có ý không phục. Ung Lẫm sụp lạy Vô Tri, tạ về cái tội tranh nhau ngày trước. Vô Tri xá cho, lại cho làm quan Đại phu. Họ Cao và họ Quốc là thế thần nước Tề bấy giờ, cáo ốm không vào triều. Vô Tri cũng không dám truất ngôi. Quản Chí Phủ lại khuyên Vô Tri treo bảng cầu người hiền, rồi nói với Vô Tri xin tiến người cháu họ là Quản Di Ngô. Vô Tri sai người đi triệu.

Quay về bài gốc

0SHARES
 
34,907 ❤︎ Bài viết: 2241 Tìm chủ đề
HỒI THỨ 15 Giết Vô Tri, Ung Lẫm thủ mưu Hội Kiền Thời, Lỗ Trang đại chiến

Quản Di Ngô, tên tự là Trọng, diện mạo khôi ngô, học thức rộng rãi, vốn là một người có tài chính trị giỏi, thường cùng với Bão Thúc Nha buôn chung nhau, đến lúc chia lãi, Quản Di Ngô lấy phần nhiều hơn, Bão Thúc Nha cũng thuận, người ngoài đều lấy làm bất bình. Bão Thúc Nha nói: - Quản Di Ngô không phải là tham cái món tiền nhỏ mọn ấy đâu, chỉ vì nhà nghèo, chi tiêu không đủ, nên ta bằng lòng mà xin nhường cho hắn đó. Quản Di Ngô lại thường đi lính, mỗi khi ra trận, cứ lùi lại sau, đến lúc thu quân về thì lại đi trước, ai cũng cười là người nhát. Bão Thúc Nha nói: - Quản Di Ngô có phải là người nhát đâu, vì có mẹ già, nên phải giữ gìn thân mình để mà phụng dưỡng bà mẹ. Quản Di Ngô lại nhiều khi cùng Bão Thúc Nha nói chuyện, thường thường trái ý nhau. Bão Thúc Nha nói: - Người ta làm gì cũng có vận, giả sử Quản Di Ngô gặp thời thì chắc hẳn trăm việc làm không hỏng một việc. Quản Di Ngô nghe lời Bão Thúc Nha nói, thở dài mà than rằng: - Sinh ta ra là cha với mẹ, còn người biết ta thì chỉ có Bão Thúc Nha. Từ bấy giờ hai người chơi thân với nhau. Bấy giờ đang đời Tề Tương công, con trưởng là Công tử Củ (mẹ là người nước Lỗ) con thứ là Công tử Tiểu Bạch (mẹ là người nước Cử) đều đã lớn tuổi cả. Quản Di Ngô bảo Bão Thúc Nha rằng: - Ngày sau lên nối ngôi, không phải Củ thì tất là Tiểu Bạch, bây giờ chúng ta mỗi người giúp một bên, về sau bên nào lên nối ngôi, hai ta lại sẽ tiến cử lẫn cho nhau. Bão Thúc Nha lấy làm phải. Quản Di Ngô mới cùng với Thiệu Hốt giúp cho Công tử Củ, còn Bão Thúc Nha thì giúp cho Công tử Tiểu Bạch. Tề Tương công đến đất Chước để hội nhau với Văn Khương. Bão Thúc Nha bảo Công tử Tiểu Bạch rằng: - Ngày nay người trong nước ai cũng chê Chúa công là người hoang dâm, bây giờ biết mà thôi đi, còn có thể che đậy được, nếu cứ thế mãi thì chẳng ra thế nào, sao Công tử không can ngăn. Công tử Tiểu Bạch vào can Tề Tương công rằng: - Việc Lỗ hầu chết mới rồi, người ta nghị luận nhiều lắm, thân phụ cũng nên tị hiềm mới phải. Tề Tương công nổi giận, mắng rằng: - Thằng ranh này nói nhảm gì thế! Nói xong, liền lấy chân đá Công tử Tiểu Bạch. Công tử Tiểu Bạch vội vàng chạy ra. Bão Thúc Nha nói: - Người hoang dâm như thế thì tất có tai vạ, tôi xin cùng với Công tử trốn sang nước khác để mà liệu tính về sau. Công tử Tiểu Bạch hỏi: - Bây giờ nên sang nước nào? Bão Thúc Nha nói: - Nước lớn thường hay đổi ý, chi bằng ta sang nước Cử. Nước Cử nhỏ mà gần nước ta; nhỏ thì không dám khinh ta, gần thì ta trở về càng tiện. Công tử Tiểu Bạch khen phải, rồi trốn sang nước Cử. Tề Tương công hay tin Công tử Tiểu Bạch trốn đi, cũng không cho người đuổi theo. Đến lúc Công Tôn Vô Tri cướp ngôi, cho người đến triệu Quản Di Ngô. Quản Di Ngô nói: - Chúng nó gươm sắp kề cổ, lại còn toan dây đến ai nữa! Nói xong, liền cùng với Thiệu Hốt đem Công tử Củ chạy sang nước Lỗ. Lỗ Trang công cho ở đất Sinh Đậu. Khi Công Tôn Vô Tri ra triều, Liên Xưng và Quản Chí Phủ đứng đầu các quan, nhiều người có lòng không phục. Ung Lẫm biết ý, liền hỏi thử rằng: - Có người ở Lỗ sang nói chuyện Công tử sắp đem quân Lỗ về đánh Tề, các quan có ai biết chuyện không? Các quan đại phu đều trả lời rằng: - Không! Ung Lẫm không nói gì nữa. Khi đã tan triều, các quan đại phu đều rủ nhau đến nhà Ung Lẫm, hỏi về việc Công tử Củ. Ung Lẫm nói: - Các quan nghĩ việc ấy ra làm sao? Đông Quách Nha nói: - Tiên quân ta ngày xưa dẫu vô đạo, nhưng Công tử có tội gì? Chúng tôi đang ngày đêm mong mỏi về việc đó. Đông Quách Nha nói xong, các quan đại phu có người ứa nước mắt mà khóc. Ung Lẫm nói: - Lẫm này chịu nhẫn nhục ở đây, có phải là không nghĩ đâu, vẫn định để lo toan về việc ấy, nếu các quan có lòng giúp, giết đứa nghịch tặc đi mà lập Công tử, chẳng cũng là một việc nghĩa cử hay sao! Đông Quách Nha hỏi kế, Ung Lẫm nói: - Cao Hề là một người thế trần trong nước, ai cũng tin phục, bây giờ bảo Cao Hề bày một tiệc rượu, mời Liên Xưng và Quản Chí Phủ đến, tất nhiên chúng vui lòng đi ngay, khi bấy giờ ta giả cách đem tin Công tử Củ vào nói với Vô Tri, chờ cho hắn ra mà đâm chết đi, rồi đốt lửa lên làm hiệu, đóng cửa thành lại, giết Liên Xưng và Quản Chí Phủ, thật dễ như trở bàn tay! Đông Quách Nha nói: - Cao Hề có lòng vì nước, việc ấy ta có thể nói được. Nói xong, liền đem cái mưu Ung Lẫm bảo với Cao Hề. Cao Hề nhận lời, lại sai Đông Quách Nha đi mời Liên Xưng và Quản Chí Phủ đến. Trong khi ăn tiệc, Cao Hề bưng chén rượu mà nói rằng: - Tiên quân ta ngày xưa làm nhiều điều thất đức, lão phu này chỉ lo mất nước, may mà hai tướng quân lại đem quân về để lập tân quân. Mới rồi lão phu có bệnh, không vào dự triều được, nay bệnh đã hơi bớt, gọi là có chén rượu nhạt để mời hai tướng quân và nhờ hai tướng quân trông nom cho con cháu của lão phu thì lão phu lấy làm đội ơn lắm. Liên Xưng và Quản Chí Phủ đều khiêm nhượng không dám đương lễ. Cao Hề sai người đóng chặt cửa lại mà nói rằng: - Hôm nay hai tướng quân đã đến chơi đây với lão phu, thì phải uống rượu cho thật say mới thôi! Ung Lẫm giắt dao găm trong mình, vào cung nói với Vô Tri rằng: - Công tử Củ sắp đem quân Lỗ về đánh, xin Chúa công phải liệu kế để chống giữ. Vô Tri nói: - Quốc cữu (Liên Xưng) bây giờ ở đâu? Ung Lẫm nói: - Quốc cữu cùng với Quản Chí Phủ đi uống rượu chưa về. Bây giờ các quan đã họp cả ở trong triều, chờ Chúa công ra để thương nghị. Vô Tri tin lời, vội vàng ra triều. Các quan đại phu xúm cả lại trước mặt. Ung Lẫm đứng đàng sau đâm thẳng một nhát, máu chảy lênh láng, tức thì chết ngay. Vô Tri đã chết rồi. Ung Lẫm sai người đốt lửa lên làm hiệu. Cao Hề đang cùng với Liên Xưng và Quản Chí Phủ uống rượu, nghe nói trong thành có lửa cháy, Cao Hề đứng ngay dậy đi vào nhà trong. Liên Xưng và Quản Chí Phủ đang ngơ ngác hỏi, bỗng có quân tráng sĩ đổ ra bắt lấy, chém làm mấy đoạn. Ung Lẫm cùng các quan đại phu kéo nhau đến nhà Cao Hề để cộng đồng thương nghị, sai người sang Lỗ đón Công tử Củ về nối ngôi. Lỗ Trang công mừng lắm, toan cất quân đưa Công tử Củ về nước. Thi Bá can rằng: - Tề không có vua, tức là lợi cho nước Lỗ ta, xin Chúa công hãy thong thả để xem ra làm sao. Lỗ Trang công nghe nói, còn ngần ngừ chưa quyết. Văn Khương từ khi Tề Tương công bị giết, về ở nước Lỗ, ngày đêm khuyên Lỗ Trang công đem quân đánh Vô Tri để báo thù cho anh. Đến lúc nghe tin Vô Tri bị giết, nước Tề cho người sang đón Công tử Củ về làm vua, lấy làm mừng lắm, mới vào giục Lỗ Trang công cất quân giúp Công tử Củ. Lỗ Trang công vì có mẫu mệnh, mới không nghe lời Thi Bá, cất quân đưa Công tử Củ sang Tề. Quản Di Ngô bảo Lỗ Trang công rằng: - Công tử Tiểu Bạch nay ở nước Cử. Nước Cử lại gần nước Tề lắm, nếu Công tử Tiểu Bạch đem quân về trước thì kẻ kia có lẽ mạnh thế hơn, tôi xin lĩnh một toán quân đón đường mà đánh. Lỗ Trang công cho đi. Công tử Tiểu Bạch ở nước Cử, nghe tin Tề Tương công chết, cùng với Bão Thúc Nha thương nghị, mượn quân nước Cử để về nước. Quản Di Ngô đem quân đi đến Tức Mặc, nghe nói quân nước Cử đã đi qua rồi, mới vội vàng đuổi theo; lại đi hơn 30 dặm nữa, vừa gặp quân nước Cử. Quản Di Ngô trông thấy Tiểu Bạch ngồi ở trên xe, liền đến trước mặt cúi đầu chào mà hỏi rằng: - Công tử định đi đâu bây giờ? Tiểu Bạch nói: - Ta về để chịu tang phụ thân ta đó. Quản Di Ngô nói: - Công tử Củ là con trưởng, nên về làm chủ tang, còn Công tử thì về làm gì vội cho thêm khó nhọc. Bão Thúc Nha nói: - Quản Di Ngô lui ra đi, người nào giúp chủ người ấy, không cần gì phải nói. Quản Di Ngô thấy quân nước Cử đều cau mày trợn mắt, có ý muốn sinh sự, cũng sợ đảng họ nhiều người quá, không thể địch nổi, mới giả cách vâng lời mà lui ra. Ra khỏi một quãng, cầm tên giương cung nhắm thẳng vào Tiểu Bạch bắn ngay một phát. Tiểu Bạch kêu một tiếng, hộc máu ra miệng, ngã lăn ở trong xe. Bão Thúc Nha vội vàng chạy lại cứu Tiểu Bạch. Quản Di Ngô bỏ chạy, vừa đi vừa nói rằng: - May cho Công tử Củ, có lẽ nên việc được! Quản Di Ngô về báo tin với Lỗ Trang công. Lỗ Trang công rót chén rượu chúc mừng Công tử Củ, rồi đem quân tiến sang nước Tề, không lo ngại gì nữa. Nguyên Quản Di Ngô bắn trúng vào cái vòng đai của Công tử Tiểu Bạch, Tiểu Bạch biết Quản Di Ngô là người bắn giỏi, sợ hắn lại bắn luôn phát nữa, mới nghĩ ngay một kế, cắn đầu lưỡi cho chảy máu ra, rồi giả cách ngã phục xuống. Bão Thúc Nha bảo Tiểu Bạch thay quần áo khác, ngồi trong một cái xe kín, thẳng đường đi gấp vào Lâm Tri (kinh thành nước Tề). Khi gần đến Lâm Tri, Bão Thúc Nha vào trong thành trước, nói với các quan đại phu khen Công tử Tiểu Bạch là người hiền, nên lập lên làm vua. Các quan đại phu nói: - Công tử Củ sắp về thì biết xử ra thế nào? Bão Thúc Nha nói: - Nước tề ta ba vua bị giết luôn, bây giờ không có người hiền thì sao yên được loạn. Huống chi đón Công tử Củ mà Tiểu Bạch về trước, đó cũng là lòng trời. Nước Lỗ đưa Công tử Củ về, tất là có ý cầu lợi, cũng như ngày trước nước Tống lập Công tử Đột, vì đòi nhiều lễ vật, đến nỗi gây việc chinh chiến trong mấy năm luôn. Cứ như tình hình nước Tề ngày nay, phỏng có chịu được những sự tham cầu của nước Lỗ hay không? Các quan đại phu nói: - Thế thì bây giờ nói với Lỗ hầu làm sao cho được. Bão Thúc Nha nói: - Ta đã có vua rồi thì kẻ kia tự khắc phải lui quân về. Quan Đại phu là Thấp Bằng và Đông Quách Nha đều nói rằng: - Bão Thúc Nha nói phải đó! Nói xong, liền đón Công tử Tiểu Bạch vào thành lên nối ngôi, tức là Tề Hoàn công. Bão Thúc Nha nói: - Quân nước Lỗ dẫu chưa đến, nhưng ta nên sai người ngăn trước đi. Nói xong, liền sai Trọng Tôn Thu đi đón Lỗ Trang công, báo tin nước Tề đã có vua rồi. Lỗ Trang công biết là Tiểu Bạch chưa chết, giận lắm, nói: - Đứa trẻ con ấy sao lại để cho nối ngôi, mà không lập con trưởng, ta quyết không chịu đem quân trở về. Trọng Tôn Thu về báo với Tề Hoàn công. Tề Hoàn công nói: - Quân Lỗ không chịu lui thì biết làm thế nào? Bão Thúc Nha nói: - Nếu vậy thì ta đem quân ra đánh. Tề Hoàn công đem quân ra để định chống nhau với Lỗ. Đông Quách Nha nói: - Nước Lỗ biết ta có phòng bị, tất không chịu tiến binh, âu là ta phục quân ở đất Kiền Thời để mà đón đánh thì chắc có thể phá vỡ được. Bão Thúc Nha khen phải, rồi sai người đem quân ra mai phục ở đất Kiền Thời. Lỗ Trang công cùng với Công tử Củ đi đến đất Kiền Thời. Quản Di Ngô nói: - Tiểu Bạch mới lên ngôi, lòng người chưa định, ta nên đánh ngay thì tất có nội biến. Lỗ Trang công nói: - Cứ như lời Quản Di Ngô nói thì Tiểu Bạch chết đã lâu rồi! Nói xong, truyền đóng quân lại ở đất Kiền Thời. Bỗng nghe báo có Ung Lẫm đến khiêu chiến. Lỗ Trang công đem quân ra trận, trỏ mặt Ung Lẫm mà mắng rằng: - Mày thủ xướng giết Vô Tri để lập Công tử Củ, bây giờ lại ăn lời như không, thế thì sao gọi là tín nghĩa được. Nói xong giương cung toan bắn Ung Lẫm, Ung Lẫm giả bộ xấu hổ, cắm đầu bỏ chạy. Lỗ Trang công sai Tào Mạt đuổi theo. Ung Lẫm quay lại đánh nhau với Tào Mạt được mấy hợp, rồi bỏ chạy. Tào Mạt không biết là giả, cố sức cầm kích đuổi theo kỳ cùng, bị đại binh của Bão Thúc Nha vây kín lại. Tào Mạt cố sức đánh mãi, bị hai ba mũi tên, rồi mới chạy thoát được. Quân Lỗ kéo ra tiếp ứng cho Tào Mạt, lại bị quân Tề đánh cho một trận, bỏ chạy tán loạn. Bão Thúc Nha hạ lệnh sai quân sĩ reo ầm lên rằng: - Ai bắt được Lỗ hầu thì có trọng thưởng! Tần Tử vội vàng cầm lá cờ thêu của Lỗ Trang công ném ngay xuống đất. Lương Tử lại nhặt lấy, rồi cắm lên xe của mình. Tần Tử hỏi Lương Tử rằng: - Cắm cờ để làm gì thế? Lương Tử nói: - Để ta đánh lừa quân nước Tề. Lỗ Trang công thấy sự nguy cấp quá, mới đổi mặc áo thường, đi cái xe khác, chạy trốn thoát được. Ninh Việt (tướng Tề) trông thấy lá cờ thêu, ngỡ là Lỗ Trang công, liền đem quân đến vây kín mấy vòng. Lương Tử bỏ mũ trụ xuống ngẩng mặt cho quân Tề xem mà bảo rằng: - Ta đây là tướng nước Lỗ, còn vua ta thì đi khỏi đã xa rồi! Ninh Việt bắt Lương Tử đem về nộp Tề Hoàn công. Tề Hoàn công sai đem ra chém, rồi thu binh trở về. Sáng hôm sau, Tề Hoàn công ra triều, các quan đều vào chúc mừng. Bão Thúc Nha nói: - Công tử Củ bây giờ đang dùng Quản Di Ngô và Thiệu Hốt, lại được nước Lỗ giúp cho, đó là cái tật tâm phúc chưa trừ đi được, chớ nên mừng vội. Tề Hoàn công nói: - Bây giờ biết làm thế nào? Bão Thúc Nha nói: - Mới rồi nước Lỗ bị thua ở đất Kiền Thời, vua tôi đều sợ mất vía, nay tôi xin đem quân đến đóng ở giáp giới nước Lỗ, đòi đánh Công tử Củ, tất là nước Lỗ sợ mà phải theo. Tề Hoàn công nghe lời. Bão Thúc Nha đem quân đến đóng ở đất Vấn Dương, sai Công Tôn Thấp Bằng đưa thư cho Lỗ Trang công rằng: "Tôi ngoại thần là Bão Thúc Nha có lời kính dâng Lỗ Hiền hầu điện hạ: Một nhà không nên có hai chủ, một nước không nên có hai vua, nay Chúa công tôi đã lên nối ngôi mà Công tử Củ còn muốn tranh cướp, thế là trái với lẽ phải. Chúa công tôi nghĩ tình anh em không nỡ đánh giết, phải nhờ tay quí quốc; còn Quản Di Ngô và Thiệu Hốt là kẻ thù của Chúa công tôi, xin cho nước tôi lĩnh về để mà hành tội". Thấp Bằng sắp sửa mang thư đi, Bão Thúc Nha lại dặn một câu rằng: - Quản Di Ngô là một người kỳ tài, ta đã nói với Chúa công định để dùng hắn, nhà ngươi phải giữ gìn hắn được toàn tính mệnh. Thấp Bằng nói: - Giả sử nước Lỗ muốn giết thì làm thế nào? Bão Thúc Nha nói: - Nhà ngươi cứ nói đến việc bắn đai khi trước thì tất nước Lỗ phải nghe. Thấp Bằng vâng mệnh đem thư sang Lỗ. Lỗ Trang công tiếp được thư, gọi Thi Bá vào thương nghị.

Quay về bài gốc

0SHARES
 
34,907 ❤︎ Bài viết: 2241 Tìm chủ đề
HỒI THỨ 16 Bão Thúc Nha tiến cử Quản Trọng Lỗ Tào Uế đánh được Tề Hầu

Lỗ Trang công tiếp được thư của Bão Thúc Nha, liền gọi Thi Bá vào thương nghị rằng: - Ngày trước ta không nghe lời nhà ngươi, đến nỗi bị thua, bây giờ nhà ngươi thử nghĩ xem: Giết Củ và tha Củ, đàng nào lợi hơn? Thi Bá nói: - Tiểu Bạch mới lên ngôi, đã biết dùng người tài, đánh được quân ta ở đất Kiền Thời, thế thì Công tử Củ bì thế nào nổi. Huống chi quân Tây nay đóng ở giáp giới ta, chi bằng ta giết Củ mà cùng với Tề giảng hòa. Bấy giờ Công tử Củ cùng với Quản Di Ngô và Thiệu Hốt đều ở đất Sinh Đậu. Lỗ Trang công sai Công tử Yển đem quân đến đánh lẻn, giết Công tử Củ, bắt Thiệu Hốt và Quản Di Ngô. Lúc sắp để lên tù xa, Thiệu Hốt ngửa mặt lên trời mà khóc rằng: - Làm con vì hiếu mà chết, làm tôi vì trung mà chết, đó là cái bổn phận nên phải như vậy! Hốt này xin theo Công tử Củ xuống âm phủ, còn hơn chịu nhục để cho người ta gông cùm. Nói xong, liền đập đầu vào cột mà chết. Quản Di Ngô nói: - Có người chết, cũng phải có người sống mới được! Âu là ta hãy sống mà sang nước Tề để khiếu oan cho Công tử Củ. Nói xong, liền bước vào tù xa. Thi Bá nói riêng với Lỗ Trang công rằng: - Tôi xem Quản Di Ngô hình như có nội viện tất không đến nỗi chết. Người ấy là một bậc kỳ tài nếu không chết thì nước Tề tất dùng. Nước Tề dùng người ấy tất làm bá được các chư hầu, bấy giờ nước Lỗ hẳn phải phục theo nước Tề mà thôi. Chi bằng Chúa công xin với Tề tha cho Quản Di Ngô để mà dùng hắn thì không sợ gì nước Tề nữa. Lỗ Trang công nói: - Quản Di Ngô là kẻ thù của vua nước Tề mà ta lại tha thì dầu ta giết Công tử Củ, Tề cũng chưa hết giận. Thi Bá nói: - Nếu Chúa công cho là không nên dùng thì chi bằng giết chết đi, rồi đem xác trả nước Tề. Lỗ Trang công khen phải. Thấp Bằng nghe nói nước Lỗ sắp giết Quản Di Ngô, vội vàng vào nói với Lỗ Trang công rằng: - Quản Di Ngô trước bắn vào vòng đai Chúa công tôi, Chúa công tôi lấy làm thâm thù, vẫn ước gì được thân thủ để mà đâm chết thì mới hả lòng. Nếu bây giờ đem xác sang trả thì cũng như là không trả. Lỗ Trang công tin lời, mới giao Quản Di Ngô cho Thấp Bằng. Thấp Bằng cáo từ, rồi trở về nước Tề. Quản Di Ngô ngồi trong tù xa, đã biết trước là mưu của Bão Thúc Nha, nhưng còn e Thi Bá là người trí sĩ, ngộ có hối lại mà cho quân đuổi theo thì khôn toàn được tính mệnh, mới nghĩ thầm một kế, đặt ra mấy bài ca "Hoàng Hộc" để dạy cho quân Tề hát. Quân tề nghe hát vui tai quên nhọc, đi đường mau lắm, vượt qua khỏi được địa giới nước Lỗ. Lỗ Trang công sai Công tử Yển đuổi theo thì Quản Di Ngô đã sang đến đất Đường Phụ, Bão Thúc Nha trông thấy mừng lắm, sai người mở tù xa ra để cho Quản Di Ngô xuống. Quản Di Ngô nói: - Chưa phụng quân mệnh, không nên mở vội. Bão Thúc Nha nói: - Không ngại gì! Ta sắp đem nhà người tiến với Chúa công. Quản Di Ngô nói: - Tôi cùng với Thiệu Hốt cùng theo Công tử Củ, đã không giúp cho nên việc được, lại không biết giữ tiết làm tôi, còn mặt mũi nào mà thờ kẻ cừu địch, nếu vậy thì Thiệu Hốt chắc cũng cười tôi ở dưới suối vàng. Bão Thúc Nha nói: - Muốn làm nên công việc lớn lao thì không nên câu nệ những điều nhỏ nhặt. Nhà ngươi có tài trị được thiên hạ, nhưng tiếc rằng chưa gặp thời. Chúa công ta là người quảng đại cao minh, nếu được nhà ngươi giúp cho để mà sửa sang cơ nghiệp nước Tề thì chắc hẳn làm được bá chủ các nước. Bấy giờ công trạng rực rỡ, tiếng tăm lừng lẫy, chẳng hơn là giữ một điều nhỏ nhặt, phỏng có ích gì! Quản Di Ngô nín lặng, không nói gì nữa. Bão Thúc Nha liền cởi trói cho Quản Di Ngô, để ở đất Đường Phụ, rồi trở về Lâm Tri (kinh thành nước Tề), vào yết kiến Tề Hoàn công, dâng lời kính viếng. Tề Hoàn công nói: - Sao nhà người lại viếng? Bão Thúc Nha nói: - Công tử Củ là anh ruột Chúa công. Nay Chúa công bất đắc dĩ phải vì việc nước mà bỏ tình thân, bởi vậy tôi xin có lời kính viếng, nhưng viếng xong, tôi lại xin mừng. Tề Hoàn công nói: - Sao nhà ngươi lại mừng? Bão Thúc Nha nói: - Quản Di Ngô là một người kỳ tài, hơn Thiệu Hốt nhiều lắm, tôi đã bảo toàn mà đem về được, thế là Chúa công dùng được một người hiền sĩ, vậy nên tôi xin có lời mừng. Tề Hoàn công nói: - Quản Di Ngô bắn trúng vào vòng đai của ta, mũi tên hãy còn đó, ta vẫn lấy làm căm lắm, những muốn bắt được thì xả thịt ra mà ăn, còn dùng làm gì! Bão Thúc Nha nói: - Làm tôi thì ai cũng có lòng vị chủ. Lúc Quản Di Ngô bắn trúng vòng đai là trong bụng bấy giờ chỉ biết có Công tử Củ mà không biết Chúa công. Nay Chúa công dùng Quản Di Ngô thì Quản Di Ngô lại vì Chúa công mà bắn thiên hạ, chẳng những là bắn trúng vòng đai một người mà thôi. Tề Hoàn công nói: - Ta nghe lời nhà ngươi mà tha tội cho hắn. Bão Thúc Nha mới đón Quản Di Ngô về ở nhà mình để đêm ngày bàn luận. Tề Hoàn công nghị thưởng những người có công lập mình khi trước. Họ Cao và họ Quốc là thế thần nước Tề bấy giờ đều được gia phong cả, lại toan giao quyền chính cho Bão Thúc Nha dùng làm thượng khanh. Bão Thúc Nha nói: - Chúa công gia ân cho tôi, khiến tôi đủ ấm no, tôi được đội ơn nhiều lắm, còn đến việc chính trị thì thật tôi không đương nổi. Tề Hoàn công nói: - Ta đã biết nhà ngươi thì nhà ngươi chớ nên từ chối. Bão Thúc Nha nói: - Chúa công biết tôi là người kính cẩn giữ đủ bổn phận mà thôi, chứ không phải cái tài chính trị. Cái tài chính trị trên có công với Thiên tử, dưới làm ơn với chư hầu, khiến cho nước được an toàn, vua được vinh hiển, sử xanh bia đá nức tiếng thơm danh, đó là những bậc kỳ tài, tôi đương thế nào nổi. Tề Hoàn công nghe nói, tươi cười nét mặt, ghé lại gần mà hỏi rằng: - Cứ như lời nhà ngươi nói thì đời bây giờ có ai không? Bão Thúc Nha nói: - Chúa công không cần người ấy thì thôi, nếu cần người ấy thì Quản Di Ngô, chứ còn ai! Tề Hoàn công nói: - Nhà ngươi cho gọi lại đây để ta thử xét xem học thức ra làm sao. Bão Thúc Nha nói: - Tôi thiết tưởng hèn thì không trị được kẻ giàu, sơ thì không trị được kẻ thân, Chúa công muốn dùng Quản Di Ngô, tất phải giao lấy quyền làm Tể tướng, đãi lấy lễ như phụ huynh mới được, nếu quan Tể tướng mà cho người gọi thì sao cho trọng sự thể. Quản Di Ngô là bậc phi thường, Chúa công nên chọn ngày tốt mà thân hành đi đón. Thiên hạ nghe tiếng Chúa công là người quí kẻ hiền sĩ mà không nghĩ đến thù riêng thì ai lại không muốn tìm đến giúp cho nước Tề. Tề Hoàn công nghe lời, sai quan Thái Bốc chọn ngày tốt rồi thân hành đi đón Quản Di Ngô. Bão Thúc Nha bảo Quản Di Ngô tắm gội mũ áo, ra ở nhà công quán trước. Đến hôm Tề Hoàn công đến đón, cùng ngồi một xe, đi vào trong triều, người xem đông lắm, ai cũng lấy làm lạ lùng. Quản Di Ngô vào đến trong triều, sụp lạy xin lỗi. Tề Hoàn công giơ tay đỡ dậy, mời ngồi. Quản Di Ngô nói: - Tôi là một người tội đáng chết, mà Chúa công dung thứ cho, thật đã may mắn, có đâu lại dám ngồi như vậy. Tề Hoàn công nói: - Ta muốn hỏi nhà ngươi một điều, nhà ngươi có ngồi cho thì mới dám thưa chuyện. Quản Di Ngô sụp lạy hai lạy, rồi tới ghế ngồi. Tề Hoàn công nói: - Nước Tề ta vốn là một nước lớn, Tiên quân ta là Hi Công đối địch được với các nước chư hầu cũng gọi là cường thịnh; đến đời Tương công, chính lệnh bất thường, đến nỗi gây ra tai biến. Ta đây mới lên nối ngôi, lòng dân chưa định, thế nước chưa yên, nay muốn chỉnh đốn lại, để cho nên được giường mối thì phải làm điều gì trước? Quản Di Ngô nói: - Lễ nghĩa liêm sỉ là bốn điều cốt yếu ở trong nước, nếu bốn điều ấy không giữ được thì tất phải mất nước. Nay Chúa công muốn chỉnh đốn lại giường mối thì nên giữ lấy bốn điều ấy để mà trị dân. Tề Hoàn công nói: - Làm thế nào mà trị dân được? Quản Di Ngô nói: - Muốn trị dân thì trước hết phải yêu dân. Tề Hoàn công nói: - Yêu dân thì phải làm thế nào? Quản Di Ngô nói: - Yêu dân thì phải dạy dân lấy đạo thân ái, nghĩ cách giúp đỡ, giảm bớt thuế má, khiến cho dân được đông người nhiều của, đó là cái đạo yêu dân. Tề Hoàn công nói: - Làm thế nào thì dân được yên? Quản Di Ngô nói: - Sĩ nông công thương gọi là bốn dân, nên nghĩ cách mở mang, khiến cho bốn dân đều giữ được nghề nghiệp, như thế thì dân yên. Tề Hoàn công nói: - Dân đã yên rồi, nhưng giáp binh không đủ thì làm thế nào? Quản Di Ngô nói: - Muốn đủ giáp binh thì hình pháp nên đặt lệ cho chuộc: Tội nặng thì cho chuộc một cái tê giáp, tội nhẹ thì cho chuộc một cái qui thuẫn, tội nhỏ thì cho nộp kim khí, tội nghi thì tha hẳn, còn kẻ nào tụng lý tương đối thì bắt nộp một bó tên rồi cho hòa. Thu được những kim khí ấy thì đem đúc các đồ giáp binh. Tề Hoàn công nói: - Giáp binh đã có rồi, nhưng của dùng không đủ thì làm thế nào? Quản Di Ngô nói: - Khai mỏ để đúc tiền, nấu nước bể để làm muối, cho lợi chung cả thiên hạ. Lại thu bao nhiêu những hàng hóa của thiên hạ buôn để một chỗ, đợi dịp cao mà bán ra để lấy lãi; làm 300 nhà nữ lư (tức thanh lâu bây giờ) cho các khách buôn bán đi lại tụ họp ở đó, để mà đánh thuế, như thế thì của dùng phải đủ. Tề Hoàn công nói: - Của dùng đã đủ, nhưng quân lính còn ít, thế lực không mạnh thì làm thế nào? Quản Di Ngô nói: - Quân không cần nhiều, cốt cần phải tinh luyện; mạnh không vì sức, cốt vì ở bụng nghĩ. Nay Chúa công sửa sang giáp binh, các nước chư hầu cũng đều sửa sang giáp binh thì mình hơn gì người ta được. Nếu Chúa công muốn cho quân mạnh thì phải mặt ngoài giấu tiếng mà mặt trong chỉnh đốn sự thực, tôi xin làm phép nội chính mà kỳ thực là dùng phép quân lịnh đó. Tề Hoàn công nói: - Binh thế đã mạnh, có nên đi đánh các nước chư hầu hay không? Quản Di Ngô nói: - Chưa nên đi đánh vội! Chúa công muốn đánh các nước chư hầu thì trước hết phải tôn Thiên tử nhà Chu mà cầu thân với nước láng giềng mình. Tề Hoàn công nói: - Năm người kiệt sĩ là ai? Quản Di Ngô nói: - Có tài giao thiệp, biết giữ lễ phép thì tôi không bằng Thấp Bằng, xin cho Thấp Bằng làm Đại tư hanh; có tài khai khẩn, biết cách trồng trọt thì tôi không bằng Ninh Việt, xin cho Ninh Việt làm Đại tư điền; có tài luyện tập quân sĩ, khiến cho người ta quên chết thì tôi không bằng Thành Phủ, xin cho Thành Phủ làm Đại tư mã; có tài xử đoán hình ngục, khiến cho người khỏi oan thì tôi không bằng Tân Tu Vô, xin cho Tân Tu Vô làm Đại tư lý; có tính cương trực, thấy điều gì trái tất phải nói ngay, không sợ những kẻ quyền quí, thì tôi không bằng Đông Quách Nha, xin cho Đông Quách Nha làm Đại gián quan. Chúa công muốn được cường thịnh thì tất phải dùng năm người ấy, có năm người ấy thì tôi dẫu hèn mạt, cũng xin cố sức mà vâng mệnh Chúa công. Tề Hoàn công mới phong chức cho Quản Di Ngô làm Tể tướng, và theo lời Quản Di Ngô phong chức cho năm người ấy. Hôm khác, Tề Hoàn công lại hỏi Quản Di Ngô rằng: - Ta có tính hay săn bắn, lại hay nữ sắc thì có hại gì đến nghiệp bá hay không? Quản Di Ngô nói: - Không hại gì. Tề Hoàn công nói: - Thế thì những điều gì là có hại đến nghiệp bá? Quảng Di Ngô nói: - Không biết người hiền là hại bá, biết người hiền mà không dùng thì hại bá; dùng mà không chuyên thì hại bá; chuyên mà lại cho kẻ tiểu nhân lẫn vào thì hại bá. Tề Hoàn công khen phải, từ bấy giờ cứ chuyên dùng Quản Di Ngô, tôn lên gọi là Trọng phụ (1), coi hơn họ Cao và họ Quốc bấy giờ, phàm chính sự trong nước, việc gì cũng theo ý Quản Di Ngô tất cả. Lại cấm người trong nước không ai được nói động đến tên Quản Di Ngô. Lỗ Trang công nghe tin nước Tề cho Quản Di Ngô làm Tể tướng, giận lắm, nói: - Ta tiếc rằng không nghe lời Thi Bá, lại bị đứa trẻ con lừa dối! Nói xong, liền luyện tập quân mã, toan sang đánh Tề để báo thù trận thua ở Kiền Thời. Tề Hoàn công nghe tin, bảo Quản Di Ngô rằng: - Ta muốn đánh nước Lỗ trước, phỏng có nên không? Quản Di Ngô nói: - Quân chính chưa định xong, chưa có thể dùng được. Tề Hoàn công không nghe, cho Bão Thúc Nha làm tướng, đem quân thẳng kéo đến đất Trường Thược (đất nước Lỗ). Lỗ Trang công hỏi Thi Bá rằng: - Nước Tề khinh ta lắm, biết dùng kế gì mà chống cự lại. Thi Bá nói: - Tôi xin cử một người, có thể chống lại với Tề được. Lỗ Trang công nói: - Nhà ngươi định cử ai? Thi Bá nói: - Tôi có biết một người tên gọi là Tào Uế, xưa nay vẫn ẩn ở làng Đông Bình, chưa ra làm quan. Người ấy có tài làm tướng. Lỗ Trang công sai Thi Bá đến triệu Tào Uế. Tào Uế vừa cười vừa nói: - Người ăn thịt không có mưu kế gì mà lại đến hỏi mưu kế người ăn rau hay sao? Thi Bá nói: - Người ăn rau có mưu kế thì rồi cũng được ăn thịt chớ sao! Nói xong, cùng nhau vào yết kiến Lỗ Trang công. Lỗ Trang công hỏi Tào Uế rằng: - Bây giờ dùng kế gì mà đánh Tề? Tào Uế nói: - Việc quân phải tùy cơ ứng biến, không thể nói trước được, xin Chúa công cứ cho tôi đi theo. Lỗ Trang công mừng lắm, cùng với Tào Uế ngồi chung một xe thẳng tới Trường Thược. Bão Thúc Nha mới thắng trận ở đất Kiền Thời vậy nên có lòng khinh nước Lỗ, hạ lệnh cho quân sĩ đánh trống tiến vào, ai xông vào trước thì sẽ có trọng thưởng. Lỗ Trang công cũng truyền đánh trống để ra đối địch. Tào Uế can rằng: - Quân Tề đang hăng hái, ta hãy nên yên lặng để đợi một chút. Nói xong, liền truyền cho quân sĩ phải yên lặng, kẻ nào huyên hoa thì bắt tội chém. Quân Tề thấy quân Lỗ không ra đánh, phải rút lui quân. Được một lúc quân Tề lại đánh trống tiến lên, cũng không thấy quân Lỗ ra đánh, lại rút quân lui. Bão Thúc Nha nói: - Quân Lỗ sợ không dám đánh, ta thúc quân lên một dịp nữa thì quân Lỗ tất phải chạy. Bão Thúc Nha lại truyền đánh trống tiến quân. Tào Uế bảo Lỗ Trang công rằng: - Bây giờ chính là lúc ta đánh được Tề đó, nên đánh trống mà tiến quân đi. Quân Tề thấy hai lần trước quân Lỗ đều không dám ra đánh, có ý khinh thường, ai ngờ lần này quân Lỗ ầm ầm kéo ra, tên bắn như mưa, thế nhanh như chớp, quân Tề sợ hãi bỏ chạy thất điên bát đảo, không thể nào cản lại được nữa. Lỗ Trang công toan thúc quân đuổi theo. Tào Uế nói: - Không nên, để tôi xét xem đã. Nói xong, liền xuống xe nom sang thế trận nước Tề, lại trèo lên xe nhìn kỹ hồi lâu, rồi nói rằng: - Nên đuổi. Lỗ Trang công liền tiến quân đuổi theo. Đuổi đến quá 30 dặm, mới rút quân về, bắt được các đồ lương thực khí giới rất nhiều.

Quay về bài gốc

0SHARES
 
34,907 ❤︎ Bài viết: 2241 Tìm chủ đề
HỒI THỨ 17 Nước Tống ăn lễ giết Trường Vạn Vua Sở tham sắc bắt Tức hầu

Lỗ Trang công đánh được quân Tề rồi, hỏi Tào Uế rằng: - Sao đến lần thứ ba thì nhà ngươi mới bảo ta đánh trống ra đối địch là nghĩa thế nào? Tào Uế nói: - Phàm việc chinh chiến lấy khí thế làm đầu, khí mạnh thì được, khí kém thì thua. Đánh trống nghĩa là để cổ động cái khí thế của quân sĩ; lần thứ nhất đánh trống khí thế đang hăng, lần thứ hai thì khí thế đã suy, đến lần thứ ba thì khí thế quân giặc đã hết mà ta mới đánh trống lần thứ nhất, khí thế đang mạnh, tài nào mà chẳng phải thắng. Lỗ Trang công nói: - Quân Tề đã thua chạy rồi, lúc đầu nhà ngươi bảo ta đừng đuổi, sao một lúc lại bảo ta nên đuổi là cớ làm sao? Tào Uế nói: - Quân Tề thường hay dối trá, tôi sợ có phục binh, dẫu thua chạy cũng chưa nên tin vội; sau thấy vết xe đi lẫn lộn, biết là quân Tề đã rối loạn; lại trông thấy ngọn cờ không được chỉnh tề, biết là quân tề thua chạy thật, bấy giờ mới nên đuổi. Lỗ Trang công nói: - Nhà ngươi thật là người giỏi binh pháp! Nói xong, liền cho Tào Uế làm quan Đại phu, lại hậu thưởng cho Thi Bá về cái công tiến Tào Uế. Quân tề thua chạy về, Tề Hoàn công giận lắm, nói: - Mới đem quân ra lần này là một mà đã bị thua thì sao cho các nước chư hầu người ta phục mình. Bão Thúc Nha nói: - Tề và Lỗ đều là nước lớn cả, không kém gì nhau, nhưng đánh ở địa giới nước nào thì nước ấy được, ngày trước đánh ở Kiền Thời thì ta được Lỗ, ngày nay đánh ở Trường Thược thì Lỗ được ta, đó là lẽ thường. Bây giờ xin Chúa công sai sứ sang mượn quân nước Tống, nếu Tống hợp sức với ta thì có thể đánh Lỗ được. Tề Hoàn công mới sai sứ sang mượn quân nước Tống. Tống Mẫn công sai Nam Cung Trường Vạn làm chánh tướng, Mạnh Hoạch làm phó tướng, cùng với quân Tề kéo đến đóng ở đất Lang Thành (đất nước Lỗ). Lỗ Trang công nói: - Bão Thúc Nha vì lòng tức giận mà đem quân đến, lại có quân Tống sang giúp. Nam Cung Trường Vạn nước tống là người sức khỏe vô địch, nước ta biết lấy gì mà chống lại cho nổi. Quan Đại Phu là Công tử Yển nói: - Tôi xin ra trận địa để dò xem tình hình quân giặc ra làm sao. Khi Công tử Yển về, nói với Lỗ Trang công rằng: - Bão Thúc Nha vẫn có ý sợ hãi, nên quân dụng không được nghiêm chỉnh. Còn Nam Cung Trường Vạn thì chỉ cậy sức khỏe, hàng ngũ không có thứ tự. Tôi xin đem một toán quân lẻn ra mà đánh quân Tống, nếu quân Tống đã phá vỡ rồi thì quân Tề phải rút về mà thôi. Lỗ Trang công nói: - Nhà ngươi địch nổi thế nào với Nam Cung Trường Vạn được. Công tử Yển nói. - Hãy thử cho tôi đi. Lỗ Trang công cho đi và bảo rằng: - Rồi ta sẽ đem quân tiếp ứng. Công tử Yển lấy hơn 100 cái da hổ, trùm lên mình ngựa, nhân đêm hôm ấy bóng trăng mập mờ, cuốn cờ im trống, kéo thẳng đến gần dinh quân Tống. Quân Tống vẫn điềm nhiên không biết gì cả. Công tử Yển truyền cho quân sĩ đốt đuốc lên, rồi đánh trống xông vào. Quân Tống trông thấy trong đám hỏa quang nhấp nhoáng có một đội mãnh hổ gầm thét, đều hoảng hốt sợ hãi, bỏ chạy tán loạn. Nam Cung Trường Vạn dẫu có sức khỏe, nhưng thấy quân sĩ tan vỡ cả, bất đắc dĩ cũng phải bỏ chạy. Lỗ Trang công thừa thế đuổi theo. Đuổi đến đất Thặng Khâu, Nam Cung Trường Vạn bảo Mạnh Hoạch rằng: - Ngày nay tất phải liều chết mà đánh thì mới chạy thoát được. Mạnh Hoạch vâng lời, quay lại đánh nhau với Công tử Yến. Nam Cung Trường vạn cầm cái phương kích xông vào đại binh của Lỗ Trang công gặp người nào đâm chết người ấy. Quân Lỗ sợ Nam Cung Trường Vạn là người dũng lực, không ai dám đến gần. Lỗ Trang công bảo quan Nhung hữu là Chuyên Tôn Sinh rằng: - Nhà ngươi vốn có tiếng là người sức khỏe, có dám ra đối địch với Nam Cung Trường Vạn không? Chuyên Tôn Sinh cũng cầm cái phương kích ra đánh nhau với Nam Cung Trường Vạn. Lỗ Trang công trèo lên trên xe đứng nom, thấy Chuyên Tôn Sinh không địch nổi Nam Cung Trường Vạn mới truyền cho quân hầu lấy cái tên Kim bộc cô đến. Quân hầu đem cái tên dâng lên. Lỗ Trang công giương cung nhắm thẳng vào Nam Cung Trường Vạn mà bắn một phát, trúng ngay vào vai bên hữu, sâu ngập tận xương. Nam Cung Trường Vạn giơ tay nhổ mũi tên. Chuyên Tôn Sinh mới nhân dịp đâm ngay một nhát vào đùi bên tả. Nam Cung Trường Vạn ngã nhào xuống đất, bị Chuyên Tôn Sinh hai tay ôm chặt lấy, rồi quân sĩ xúm lại mà bắt giải về nộp Lỗ Trang công, Nam Cung Trường Vạn bị trọng thương ở vai và ở đùi như thế mà vẫn đứng ngay được, không có đau đớn chút nào cả. Lỗ Trang công yêu là người có sức khỏe tiếp đãi rất tử tế. Bão Thúc Nha thấy quân Tống thua chạy, mới rút quân trở về nước Tề. Tề Hoàn công sai Thấp Bằng vào cầu hôn với vua nhà Chu. Đến năm sau, vua nhà Chu sai Lỗ Trang công làm chủ hôn đem Vương Cơ gả cho Tề Hoàn công. Nhân có việc chủ hôn ấy, Tề Lỗ lại giao hiếu với nhau, bỏ hết những sự thù oán, ước làm hai nước anh em. Bấy giờ Tống bị cái hại nước lụt, Lỗ Trang công nói: - Ta đã giao hiếu với Tề thì còn ghét gì nước Tống. Nói xong, liền cho người sang hỏi thăm. Nước Tống cảm cái tình tử tế ấy cũng sai người đến tạ, và xin tha cho Nam Cung Trường Vạn. Lỗ Trang công tha cho Nam Cung Trường Vạn về nước Tống. Tống Mẫn công thấy Nam Cung Trường Vạn về, nói đùa rằng: - Ngày trước ta kính trọng nhà ngươi, bây giờ nhà ngươi là tù nhân nước Lỗ, ta không kính trọng nữa. Nam Cung Trường Vạn thẹn đỏ mặt lên, cáo từ lui ra. Quan Đại phu là Cừu Mục nói riêng với Tống Mẫn công rằng: - Vua tôi giao tiếp nhau, cần phải giữ lễ phép, không nên đùa bỡn. Đã đùa bỡn thì có lòng không kính trọng mà sinh ra mối phản nghịch, Chúa công nên nghĩ đến điều ấy. Tống Mẫn công nói: - Ta cùng với Nam Cung Trường Vạn đã thân nhau lắm, không cần chi điều ấy. Bấy giờ vua Trang Vương nhà Chu mất, Thái tử là Hồ Tề lên nối ngôi, tức là vua Hi Vương. Vua Hi Vương nhà Chu sai sứ báo tin cho nước Tống biết. Tống Mẫn công đang cùng với các cung nhân chơi ở Mông Trạch, sai Nam Cung Trường Vạn ném cái kích làm trò vui (nguyên Nam Cung Trường Vạn có một nghề rất khéo là cầm cái kích tung lên trên trời, cao đến mấy trượng, rồi lại giơ tay bắt lấy, trăm cái chẳng sai một. Cung nhân nghe nói, ai cũng muốn xem, vậy nên Tống Mẫn công cho Nam Cung Trường Vạn theo hầu và bảo làm trò ném kích ấy). Nam Cung Trường Vạn phụng mệnh làm trò ném kích, các cung nhân đều vỗ tay ngợi khen. Tống Mẫn công không bằng lòng, có ý ghen tài, liền sai nội thị lấy bàn cờ để đánh với Nam Cung Trường Vạn, ai thua thì bắt phạt phải uống một bát rượu thật lớn. Tống Mẫn công vốn là người cao cờ, Nam Cung Trường Vạn thua luôn năm ván, phải phạt năm bát rượu, Nam Cung Trường Vạn đã ngà ngà say, trong lòng không phục, lại xin đánh ván nữa. Tống Mẫn công nói: - Tù nhân thì tất phải thua, lại còn dám xin đánh nữa à! Nam Cung Trường Vạn xấu hổ, nín lặng không nói. Bỗng nghe có sứ giả nhà Chu đến báo tin vua Trang Vương mất và vua Hi Vương mới lên nối ngôi. Tống Mẫn công nói: - Nhà Chu có vua mới, ta nên sai người vào triều. Nam Cung Trường Vạn nói: - Tôi nghe nói kinh đô nhà Chu đẹp lắm mà mắt chưa được xem, xin Chúa công cho tôi đi sứ. Tống Mẫn công vừa cười vừa nói: - Khi nào nước Tống không còn ai nữa thì mới sai đến tù nhân đi sứ. Các cung nhân đều cười ầm cả lên. Nam Cung Trường Vạn mặt đỏ bừng lên, thẹn quá hóa giận, lại vừa say rượu, chẳng nghĩ gì đến lễ vua tôi, liền quát lên mà mắng rằng: - Đứa vô đạo hôn quân kia! Mày phải biết tù nhân có thể giết người được! Tống Mẫn công nổi giận nói: - A! Thằng tù nhân này mày lại dám vô lễ! Nói xong, liền giật lấy cây kích của Nam Cung Trường Vạn, toan đâm một nhát. Nam Cung Trường Vạn vác ngay cái bàn cờ đánh Tống Mẫn công ngã xuống, rồi đấm luôn mấy cái. Tống Mẫn công chết, cung nhân sợ bỏ chạy cả. Nam Cung Trường Vạn vẫn còn hầm hầm tức giận, cầm kích đi trở ra. Ra đến cửa cung, gặp quan Đại Phu là Cừu Mục. Cừu Mục hỏi: - Chúa công có ở trong ấy không? Nam Cung Trường Vạn nói: - Hôn quân vô lễ, ta đã giết chết rồi! Cừu Mục vừa cười vừa nói: - Tướng quân say rượu đấy à? Nam Cung Trường Vạn nói: - Say rượu bao giờ, ta nói thật đấy! Nói xong, liền giơ tay cho Cừu Mục xem, máu me đầm đìa cả ra. Cừu Mục sầm nét mặt lại mà mắng rằng: - Đồ phản nghịch giết vua! Trời nào có dung mày! Nói xong, liền giơ cái hốt đánh Nam Cung Trường Vạn. Nam Cung Trường Vạn bỏ cái kích xuống đất, giơ tay trái hắt mạnh một cái, băng cái hốt đi, rồi lấy tay phải đấm vào đầu Cừu Mục. Cừu Mục vỡ tan đầu ra, gãy răng bắn vào cánh cửa, ngập sâu ba tấc. Cừu Mục đã chết rồi, Nam Cung Trường Vạn lại nhặt lấy cái kích, thủng thỉnh bước lên trên xe, coi tựa hồ như không có ai cả. Quan Thái tể là Hoa Đốc nghe tin, vội vàng cầm gươm đem quân đến đánh. Đi đến gần Đông cung, gặp Nam Cung Trường Vạn. Nam Cung Trường Vạn chẳng nói một câu nào, cầm kích đâm ngay một nhát, Hoa Đốc ngã lăn xuống đất. Nam Cung Trường Vạn lại đâm theo một nhát nữa, giết chết Hoa Đốc, rồi lập em họ Tống Mẫn công là Công tử Du lên nối ngôi, còn các công tử khác thì nhất luật đuổi hết. Công tử Ngự Thuyết chạy sang đất Bạc. Nam Cung Trường Vạn nói: - Ngự Thuyết là người học giỏi mà lại có tài, nay trốn sang đất Bạc, về sau tất nhiên sinh biến, chỉ giết được Ngự Thuyết là xong việc, còn các công tử khác thì chẳng làm gì nổi. Nói xong, liền sai con là Nam Cung Ngưu cùng với Mạnh Hoạch đem quân vây đất Bạc. Công tử Ngự Thuyết cùng với người đất Bạc mở cửa thành ra để đối địch. Nam Cung Ngưu thua chạy bị giết, còn quân Tống đều xin theo Công tử Ngự Thuyết tất cả. Mạnh Hoạch không dám trở về Tống nữa, chạy thẳng sang nước Vệ. Đái Thúc Bì bàn mưu với Công tử Ngự Thuyết, nói dối là bọn Nam Cung Ngưu đã đánh được đất Bạc, bắt Công tử Ngự Thuyết rồi, bây giờ thu quân về triều. Nam Cung Trường Vạn tưởng là sự thực, không có ý phòng bị. Các công tử đem quân kéo thẳng vào trong thành, mới hạ lệnh rằng: - Quân ta về đây, chỉ cốt bắt đứa phản nghịch là Nam Cung Trường Vạn mà thôi, cấm không ai được náo động cả. Nam Cung Trường Vạn hoảng hốt không biết làm ra thế nào, mới toan chạy vào trong triều để đem Công tử Du đi trốn. Bỗng có Nội thị chạy ra nói Công tử Du đã bị giết rồi. Nam Cung Trường Vạn thở dài một tiếng, nghĩ thầm trong lòng rằng: - Các nước chư hầu ngày nay chỉ có Trần là không giao hiếu với Tống, âu là trốn sang nước Trần. Lại sực nhớ đến ở nhà còn bà mẹ già hơn 80 tuổi, mới quay ngay về nhà ôm mẹ lên xe, tay trái cầm kích, tay phải đẩy xe cho mẹ, phá cửa thành mà chạy, chạy nhanh như bay, không một người nào dám ngăn trở cả. Từ Tống sang Trần, đường đi cách nhau hơn 260 dặm, mà Nam Cung Trường Vạn vừa đẩy xe mà đi, chỉ trong một ngày đến nơi, thật là một người sức khỏe lạ lùng, xưa nay ít có! Các công tử đã giết được Công tử Du rồi, mới lập Công tử Ngự Thuyết lên nối ngôi, tức là Tống Hoàn công. Đái Thúc Bì làm Đại phu. Tống Hoàn công sai sứ sang nói với Vệ nhờ bắt hộ Mạnh Hoạch, lại sai sứ sang nói với Trần nhờ bắt hộ Nam Cung Trường Vạn. Công tử Mục Di bấy giờ mới lên 5 tuổi, đứng bên cạnh Tống Hoàn công bật cười mà nói rằng: - Chẳng bắt được Nam Cung Trường Vạn đâu! Tống Hoàn công nói: - Thằng bé con này sao mày lại biết được? Công tử Mục Di nói: - Người có sức khỏe, ai không kính trọng, Tống bỏ đi, Trần tất dùng. Nếu ta đi tay không thì người ta thiết gì mình mà giúp. Tống Hoàn công mới nghĩ ra, liền sai sứ đem nhiều các đồ châu bảo đi để lễ nước Trần. Sứ nước Tống đến nói với Vệ Huệ công. Vệ Huệ công hỏi các quan rằng: - Bây giờ ta có nên giao trả Mạnh Hoạch hay không? Các quan đều nói: - Người ta gặp lúc nguy cấp, về đầu với ta, sao ta lại bỏ đi. Quan Đại phu là Công Tôn Nhĩ can rằng: - Kẻ hung ác nước Tống cũng như kẻ hung ác nước Vệ, nếu tha một kẻ hung ác, có ích gì đến nước Vệ. Vả lại Vệ, Tống hai nước xưa nay vẫn giao hiếu với nhau, bây giờ không giao trả Mạnh Hoạch thì Tống tất giận. Thế là vì một người mà bỏ mất cái tình thân hai nước, sao gọi là kế hay được. Vệ Huệ công khen phải, mới trói Mạnh Hoạch giao trả nước Tống. Khi Tống sứ đến nước Trần, đem các đồ châu bảo dâng Trần Tuyên công. Trần Tuyên công tham lễ, thuận trả Nam Cung Trường Vạn, nhưng lại sợ Nam Cung Trường Vạn có sức khỏe, khó lòng mà bắt được, mới lập kế sai Công tử Kết bảo Nam Cung Trường Vạn rằng: - Chúa công tôi được tướng quân đến đây, khác nào như được 10 thành, dẫu người nước Tống cố xin đến đâu thì Chúa công tôi cũng không nghe. Chúa công tôi sợ tướng quân có bụng nghi, vậy mới sai tôi ngỏ lời tâm phúc để tướng quân được biết. Nếu tướng quân cho nước Trần tôi là nhỏ bé mà muốn sang nước lớn khác thì cũng xin tướng quân hãy ở lại thư thả trong vài tháng, Chúa công tôi sẽ vì tướng quân mà sắp sửa đồ hành trang. Nam Cung Trường Vạn vừa khóc vừa nói: - Chúa công có lòng bao dung tôi, tôi lại còn mong đi đâu nữa! Công tử Kết bày tiệc mời Nam Cung Trường Vạn uống rượu vui, rồi xin kết làm anh em. Ngày hôm sau, Nam Cung Trường Vạn thân hành đến tận nhà Công tử Kết để tạ ơn. Công tử Kết lại bày tiệc để thết đãi. Nam Cung Trường Vạn say rượu quá, nằm gục xuống chiếu. Công tử Kết sai lực sĩ lấy da con tê cuốn chặt lại, dùng gân trâu mà trói, và giam cả mẹ Nam Cung Trường Vạn, rồi tức khắc sai quân giải sang nộp nước Tống. Đi đến nửa đường, Nam Cung Trường Vạn tỉnh rượu, vùng vẫy cựa cạy, nhưng da tê dầy bền mà trói chặt lắm, không thể nào thoát được. Khi gần đến thành nước Tống, da tê rách hở, tay chân lộ cả ra ngoài, quân sĩ lấy dùi đánh vào, xương ống gẫy hết. Tống Hoàn công sai đem xả Nam Cung Trường Vạn và Mạnh Hoạch ra từng mảng thịt một, rồi để làm mắm, chia khắp cho các quan mỗi người một ít mà bảo rằng: - Kẻ nào làm tôi mà không trọn đạo thờ vua thì nom vào thứ mắm này! Mẹ Nam Cung Trường Vạn già hơn 80 tuổi, cũng bị giết chết. Tề Hoàn công từ khi bị thua ở đất Trường Thược, có ý hối hận, mới giao hết quyền chính cho Quản Di Ngô, ngày nào cũng chỉ cùng với lũ cung nhân uống rượu, có ai đem việc nước đến nói thì Tề Hoàn công bảo rằng: - Sao nhà ngươi không nói với Trọng Phụ (trỏ Quản Di Ngô). Bấy giờ có tên Thụ Điêu là đầy tớ yêu của Tề Hoàn công, vẫn muốn thân cận ở chốn nội đình, nhưng ra vào không tiện, mới tự thiến mình đi để cầu tiến vào cung. Tề Hoàn công thấy vậy thương tình, càng tin dùng lắm, cho hầu gần ở bên cạnh luôn. Lại có tên Dịch Nha, người rất khôn ngoan, có tài bắn và khéo dong xe, lại giỏi nhất là nghề nấu bếp. Một hôm Vệ Cơ (vợ Tề Hoàn công) bị đau. Dịch Nha nấu món ăn dâng lên, Vệ Cơ ăn mà khỏi bệnh mới đem lòng yêu Dịch Nha. Dịch Nha lại đem nghề nấu ăn để mà ơ mị Thụ Điêu. Thụ Điêu tiến Dịch Nha cho Tề Hoàn công. Tề Hoàn công gọi vào hỏi rằng: - Có phải nhà ngươi giỏi nghề nấu ăn không? Dịch Nha nói: - Phải! Tề Hoàn công nói đùa rằng: - Các giống điểu thú trùng ngư, ta ăn đã gần đủ mọi mùi, chỉ có thịt người là ta chưa biết vị nó ra thế nào. Dịch Nha lui ra: - Đến bữa trưa, đem vào dâng một mâm thịt chín, mềm như dê con mà mùi thơm lắm. Tề Hoàn công ăn xong, hỏi Dịch Nha rằng: - Thịt gì mà ngon thế? Dịch Nha nói: - Thịt người đó! Tề Hoàn công giật mình kinh ngạc, hỏi: - Nhà ngươi lấy ở đâu thế? Dịch Nha nói: - Đứa con đầu lòng tôi đã lên 3 tuổi. Tôi thiết tưởng đã trung với vua thì còn nghĩ gì đến con. Vậy nên tôi giết đứa con tôi để hiến Chúa công xơi. Tề Hoàn công nói: - Thôi, nhà ngươi lui đi! Tề Hoàn công cho Dịch Nha là yêu mình, cũng có ý tin dùng. Vệ Cơ lại tán tụng thêm vào, tự bấy giờ Thụ Điêu và Dịch Nha đều đắc dụng lắm, đem lòng ghét Quản Di Ngô, mới cùng nhau nói với Tề Hoàn công rằng: - Chúng tôi trộm nghĩ: Vua thì truyền lệnh, bề tôi thì vâng lệnh, nay Chúa công đối với quan Tể tướng, một điều gọi là Trọng Phụ, hai điều gọi là Trọng Phụ, như thế thì người nước Tề tực hồ như không biết có Chúa công. Tề Hoàn công vừa cười vừa nói: - Ta đối với Trọng Phụ, khác nào như thân thể đối với tay chân. Có tay chân mới thành thân thể được, có Trọng Phụ thì ta mới giữ vững được ngôi vua. Các ngươi tiểu nhân, biết cái gì mà nói. Thụ Điêu và Dịch Nha từ đó không dám nói nữa. Quản Di Ngô cầm quyền chính trong 3 năm, nước Tề rất thịnh vượng. Bấy giờ nước Sở hùng cường lắm, các nước chư hầu ở phương Hán Đông đều phải xưng thần nạp cống cho nước Sở cả, chỉ có nước Sái cậy thế là thân thuộc với nước Tề, không chịu phục nước Sở. Sái hầu cùng với Tức hầu cùng lấy con gái nước Trần làm phu nhân. Sái hầu lấy trước, Tức hầu lấy sau. Tức phu nhân là nàng Tức Vỉ nhan sắc đẹp lắm, nhân khi sang thăm nước Trần đi qua nước Sái, Sái hầu mời vào trong cung để thết đãi. Trong khi ăn tiệc nói chuyện hơi có ý chớt nhã. Tức Vỉ giận lắm bỏ đi, khi ở nước Trần trở về nước Tức, không vào nước Sái nữa. Tức hầu nghe nói Sái hầu hỗn láo với vợ mình như vậy mới nghĩ cách để báo thù, liền sai sứ vào cống nước Sở, và mật cáo với Sở Văn Vương rằng: - Sái hầu cậy thế có Tề, không chịu phục Sở. Bây giờ quí quốc giả cách đem quân sang đánh nước tôi, nước tôi sang cầu cứu nước Sái, Sái hầu là người nông nổi, tất nhiên vội vàng sang cứu, bấy giờ nước tôi cùng quí quốc hợp binh mà đánh thì có thể bắt được Sái hầu. Sở Văn Vương mừng lắm, mới đem quân giả cách sang đánh nước Tức, Tức hầu cho sang cầu cứu nước Sái. Sái hầu vội vàng đem quân đến cứu, bị phục binh nước Sở đổ ra đuổi đánh. Sái hầu chạy vào thành nước Tức. Tức hầu đóng cửa không cho vào. Sái hầu biết là mắc lừa Tức hầu, thâm thù không biết chừng nào! Sở Văn Vương về nước, toan giết Sái hầu. Dục Quyền can rằng: - Đại Vương đang muốn mở mang thế lực ở khắp Trung Quốc nếu giết một Sái hầu thì các nước đều cho Sở là tàn ác, chi bằng giảng hòa mà tha cho Sái hầu về. Dục Quyền cố can ba bốn lần mà Sở Văn Vương nhất định không nghe. Dục Quyền hầm hầm nổi giận, tay trái nắm lấy áo Sở Văn Vương, còn tay phải rút gươm giơ lên mà nói rằng: - Tôi xin cùng với Đại vương cùng chết, còn hơn để cho Đại Vương làm mất lòng chư hầu. Sở Văn Vương sợ lắm, nói luôn ngay mấy câu rằng: - Ta nghe lời nhà ngươi! Ta nghe lời.. Nói xong, truyền tha cho Sái hầu. Dục Quyền nói: - Đại vương nghe lời tôi nói thì thật là phúc cho nước Sở, nhưng tôi dám hiếp vua, tội đáng chết lắm, xin cúi đầu chịu tội. Sở Văn Vương nói: - Lòng trung thành của nhà ngươi thấu đến tận trời, khi nào ta lại bắt tội. Dục Quyền nói: - Đại vương dẫu tha tôi, nhưng tôi không thể tha tôi được. Nói xong, liền lấy gươm cắt đứt ngay một chân, rồi kêu to lên rằng: - Kẻ nào làm tôi mà vô lễ với vua thì trông đây này! Sở Văn Vương truyền đem cái chân của Dục Quyền cất vào trong kho, để ghi cái lỗi mình không chịu nghe lời can, rồi sai thầy thuốc chữa cho Dục Quyền. Dục Quyền dẫu khỏi đau, nhưng không đi lại được. Sở Văn Vương cho làm chức đại hôn để giữ cửa thành. Sở Văn Vương mở tiệc tiễn Sái hầu về nước. Trong khi ăn tiệc, lại có cả nữ nhạc ra hát múa. Bấy giờ có một người con gái ngồi gảy đàn, nhan sắc đẹp lắm, Sở Văn vương trỏ vào đứa con hát ấy mà bảo Sái hầu rằng: - Con bé này vừa có tài, lại vừa có sắc! Nói xong truyền cho đứa con hát ấy đứng dậy mời Sái hầu một chén rượu. Sái hầu uống xong, lại rót một chén rượu, hai tay cầm dâng lên để chúc thọ cho Sở Văn vương. Sở Văn vương vừa cười vừa nói: - Hiền hầu xưa nay có được trông thấy người con gái nào đẹp lắm không? Sái hầu sực nhớ đến cái thù của Tức hầu khi trước xui Sở đánh Sài, mới đáp lại rằng: - Con gái đẹp ở trong thiên hạ, tôi tưởng không ai bằng Tức Vỉ, thật là một người tiên nữ ở trên trời! Sở Văn vương nói: - Người đẹp như thế nào? Sái hầu nói: - Mắt như sóng thu, má tựa hoa đào, người tầm thước vừa phải mà dáng dấp xinh đẹp lắm! Thật mắt tôi chưa trông thấy người nào nữa là hai. Sở Văn vương nói: - Nếu vậy thì ta có được trông thấy Tức Vỉ mới thỏa tấm lòng! Sái hầu nói: - Lấy uy linh của Đại vương thì dẫu Tề Khương Tống Tử cũng chẳng khó gì, huống chi là một người đàn bà ở trong vòng thế lực của mình. Sở Văn vương nghe nói bằng lòng, hôm ấy uống rượu rất vui. Sái hầu cáo từ về nước. Sở Văn vương muốn lấy Tức Vỉ, mới mượn tiếng đi tuần du, đem quân sang nước Tức, Tức hầu ra đón, rất là cung kính, rồi mở tiệc để thết đãi. Tức hầu bưng chén rượu chúc mừng Sở Văn vương. Sở Văn vương tay đỡ lấy chén rượu, cười tủm tỉm mà nói rằng: - Ngày trước ta cũng có một chút công với quí phu nhân, nay ta đến đây, quí phu nhân lại không đáng ra mời ta một chén rượu hay sao? Tức hầu sợ uy nước Sở, không dám trái ý, mới vâng vâng dạ dạ, rồi truyền vào trong cung gọi Tức Vỉ ra. Được một lúc nghe tiếng ngọc đeo kêu sang sảng. Tức Vỉ trang điểm rất lịch sự, lững thững bước ra, sụp lạy Sở Văn vương. Sở Văn vương đứng dậy. Tức Vỉ lấy cái chén bằng ngọc rót đầy rượu, rồi cầm dâng Sở Văn vương, tay trắng cùng với sắc ngọc lẫn màu với nhau. Sở Văn vương trông thấy, ngồi ngẩn người ra, toan giơ tay đỡ lấy chén rượu. Tức Vỉ khoan thai bưng chén rượu đưa cho cung nhân để đệ lên Sở Văn vương. Sở Văn vương uống một hơi hết ngay. Tức Vỉ cáo từ lui vào trong cung. Ngày hôm sau, Sở Văn vương lại bày tiệc ở nhà quán xá, cho giáp sĩ phục cả xung quanh, rồi mời Tức hầu ra dự tiệc. Tiệc đến nửa chùng, Sở Văn vương mượn giọng say rượu bảo Tức hầu rằng: - Ta có công với quí phu nhân nhiều lắm, nay quân ta tới đây, quí phu nhân lại không đáng vì ta mà khao thưởng hay sao? Tức hầu nói: - Nước tôi bé nhỏ lắm, khó lòng mà khao thưởng cho đủ, Đại vương dạy như vậy, xin hãy để cho chúng tôi bàn nhau. Sở Văn vương nổi giận, lấy tay đập xuống bàn mà quát mắng rằng: - Đứa thất phu này mày dám bội ân, lại giở giọng nói khéo để lừa ta. Quân sĩ đâu! Sao không bắt lấy nó! Tức hầu chưa kịp phân giải thì quân giáp sĩ đổ ra trói lại. Sở Văn vương đem quân vào thẳng trong cung, để tìm bắt Tức Vỉ. Tức Vỉ nghe tin Tức hầu bị bắt, thở dài mà than rằng: - Dắt hổ về nhà thì còn nói gì nữa! Nói xong, chạy vào sau vườn, toan đâm đầu xuống giếng mà chết. Tướng nước Sở là Đấu Đan chạy vội đến nơi nắm lấy vạt áo mà nói rằng: - Phu nhân không muốn cho Tức hầu được toàn tính mệnh hay sao? Tội gì mà hai vợ chồng cùng chịu chết! Tức Vỉ nín lặng. Đấu Đan đưa vào nộp Sở Văn Vương. Sở Văn Vương kiếm lời ngọt mà khuyên dỗ, bảo rằng chịu theo thì không giết Tức hầu, rồi tức khắc phong làm phu nhân. Vì Tức Vỉ má tựa hoa đào, cũng gọi là "Đào hoa phu nhân". Sở Văn Vương an trí Tức hầu ở Nhữ Thủy. Tức hầu tức giận mà chết.

Quay về bài gốc

0SHARES
 
34,907 ❤︎ Bài viết: 2241 Tìm chủ đề
HỒI THỨ 18 Tào Mạt giơ gươm dọa Tề hầu Hoàn công thắp đèn phong Ninh Thích

Tề Hoàn công hỏi Quản Di Ngô rằng: - Ta vâng lời dạy của Trọng Phụ, chỉnh đốn lại quốc chính, nay đã được binh nhiều lương đủ, ta muốn làm bá chủ các nước chư hầu thì nên thế nào? Quản Di Ngô nói: - Các nước chư hầu ngày nay mạnh hơn nước Tề ta nhiều lắm; phía nam có nước Sở, phía tây có nước Tần nước Tấn, nhưng nước nào cũng chỉ cậy sức khỏe, mà không biết tôn vua nhà Chu, vậy nên không làm bá chủ được. Nhà Chu dẫu suy yếu, nhưng là Thiên tử chung của thiên hạ, từ khi quân Trịnh bắn vua Hoàn Vương, quân Vệ chống Trang Vương, khiến cho thần tử các nước không biết trọng quân phụ; Hùng Thông tiếm hiệu, Tống, Trịnh giết vua, coi như việc thường, không ai dám hỏi tội. Nay nước Tống dẫu giết được kẻ nghịch tặc là Nam Cung Trường Vạn rồi, nhưng ngôi vua nước Tống các nước vẫn chưa công nhận. Chúa công nên sai sứ vào thỉnh mệnh Thiên tử, rồi đại hội các nước chư hầu để công nhận vua Tống; còn trong các nước chư hầu, nước nào suy yếu thì ta giúp, nước nào ngang ngược thì ta đánh, như thế thì ai không phải phục theo nước Tề, chẳng cần phải dùng đến binh lực mới làm nên bá chủ được. Tề Hoàn công nghe nói bằng lòng, sai sứ vào triều vua Ly Vương nhà Chu và xin phép đại hội các nước chư hầu. Vua Ly Vương nói: - Bá Cữu (trỏ Tề Hoàn công) còn nghĩ đến nhà Chu, Trẫm lấy làm may lắm. Các nước chư hầu ngày nay, Trẫm cho phép Bá Cữu được quyền sai khiến, Trẫm có tiếc gì! Sứ giả về báo tin với Tề Hoàn công. Tề Hoàn công phụng mệnh Thiên tử bá cáo cho các nước chư hầu đến hội ở đất Bắc Hạnh (đất nước Tề). Tề Hoàn công hỏi Quản Di Ngô rằng: - Lần này hội chư hầu, nên dùng bao nhiêu quân sĩ? Quản Di Ngô nói: - Chúa công phụng mệnh Thiên tử để hội chư hầu, cần gì phải dùng đến quân sĩ. Tề Hoàn công theo lời, sai người đắp một cái đàn cao ba trượng, chính giữa bày cái hương án để vọng bái Thiên tử, còn chung quanh bài trí các đồ lễ vật, trông rất nghiêm chỉnh. Gần đến hôm ấy, Tống Hoàn công (Ngự Thuyết) đến trước, vào tạ ơn Tề Hoàn công. Hôm sau vua nước Trần, nước Châu đến; Sái hầu oán nước Sở bắt mình khi trước, cũng đến dự hội. Bốn nước (Tống, Trần, Châu, Sái) thấy Tề không dùng đến quân sĩ gì cả, đều bảo nhau rằng: - Tề hầu đem lòng thành thực đãi người, đến thế là cùng! Nói xong, bốn nước đều lui quân ra ngoài 20 dặm. Tề Hoàn công bảo Quản Di Ngô rằng: - Nay chư hầu hội chưa được đông, ta muốn hoãn đến hôm khác có nên không? Quản Di Ngô nói: - Nay đã có bốn nước đến, kể cũng là đông rồi, nếu ta đổi hẹn tức là thất tín, sao gọi bá chủ được. Sáng sớm hôm ấy, năm nước chư hầu hội cả ở dưới đàn, Tề Hoàn công chắp tay nói với các nước chư hầu rằng: - Tôi phụng mệnh Thiên tử nhà Chu cùng với các quí quốc hội nhau để chỉnh đốn lại chính trị, công việc ngày nay phải tôn một người làm chủ thì hiệu lệnh mới có thể thi hành được. Các nước chư hầu đều thì thào bàn nhau; muốn tôn nước Tề thì e rằng phẩm tước nước Tề kém nước Tống; muốn tôn nước Tống thì lại e rằng vua Tống mới lập, còn phải nhờ Tề, thành ra dùng dằng mãi chưa bàn định xong. Trần hầu đứng dậy mà nói rằng: - Nay Thiên tử nhà Chu đã giao quyền cho Tề hầu, ai còn dám thay vào được, xin tôn Tề hầu làm bá chủ. Các nước chư hầu đều nói: - Chỉ có Tề hầu mới đương nổi cái trách nhiệm ấy, Trần hầu nói phải đó! Tề Hoàn công hai ba lần chối từ, rồi mới bước lên trên đàn. Tề hầu làm chủ, thứ đến nước Tống, nước Trần, nước Sái và nước Châu. Vị thứ đã định rồi, rung chuông đánh trống, trước vào bái mạng Thiên tử, sau cùng nhau giảng tình hòa hiếu kết làm anh em. Trọng Tôn Thu hai tay cầm tờ ước thư, quì xuống mà đọc rằng: "Ngày.. tháng.. năm.. Tề hầu là Tiểu Bạch cùng với Tống, Trần, Sái, Châu phụng mệnh Thiên tử hội ở đất Bắc Hạnh, cùng lòng với nhau tôn phù nhà Chu và cứu giúp những kẻ hèn yếu, hễ ai trái ước thì các nước cùng nhau mang quân đến đánh." Đọc xong, các nước chư hầu đều chắp tay vâng mệnh. Các nước chư hầu hội yến vừa xong thì Quản Di Ngô bước lên mà nói rằng: - Lỗ, Vệ, Trịnh, Tào cố ý trái mệnh Thiên tử không đến dự hội, nên phải đem quân đi đánh. Tề Hoàn công nói với các nước chư hầu rằng: - Nước tôi quân sĩ không đủ, xin các quí quốc giúp cho. Trần, Sái, Châu đồng thanh mà đáp rằng: - Chúng tôi xin vâng mệnh! Tống Hoàn công nín lặng, không nói gì cả. Chiều hôm ấy, Tống Hoàn công về nhà quán xá, bảo quan Đại phu là Đái Thúc Bì rằng: - Tề hầu có ý tự đắc, dám nghiễm nhiên lên làm chủ hội, lại tự tiện lấy quân các nước, sau này nước ta cũng còn khổ về nỗi phải phục dịch nước Tề! Đái Thúc Bì nói: - Chư hầu ngày nay, nửa theo nửa không, thế lực nước Tề hãy còn chưa mạnh, nếu lại đánh được Lỗ, Trịnh thì Tề tất làm bá chủ. Tề đã làm bá chủ thì không may cho nước Tống lắm; hiện bây giờ bốn nước đến dự hội, chỉ có Tống ta là lớn hơn cả, Tống không chịu giúp quân cho Tề thì ba nước kia tất cũng phải thôi. Huống chi ngày nay ta đến dự hội là chỉ cốt phụng mệnh Thiên tử cho các nước phải công nhận mình mà thôi, hội đã xong rồi, còn mong gì nữa, chi bằng ta rút quân về trước. Tống Hoàn công nghe lời, đến canh năm đêm hôm ấy rút quân về Tống. Tề Hoàn công nghe tin Tống Hoàn công bội ước trốn về tức thì nổi giận, toan sai Trọng Tôn Thu đuổi theo. Quản Di Ngô nói: - Mình đuổi theo thì không phải lẽ, nên tâu với Thiên tử để đem quân đến đánh, nhưng nay lại còn có việc cần hơn việc ấy nhiều. Tề Hoàn công nói: - Việc gì mà cần như vậy? Quản Di Ngô nói: - Tống xa mà Lỗ gần, nếu không đánh cho Lỗ phải phục thì sao Tống chịu phục mình. Tề Hoàn công nói: - Đánh Lỗ nên đi đường nào? Quản Di Ngô nói: - Phía đông bắc có nước Toại, thuộc về nước Lỗ, nước ấy nhỏ lắm, cả thảy có bốn họ. Ta đem quân sang đánh, chỉ trong một buổi sáng thì lấy được ngay, đã lấy được nước Toại rồi, thì nước Lỗ tất cũng phải khiếp sợ. Bấy giờ ta sai sứ sang trách về việc không dự hội, lại sai người thông tin với Lỗ phu nhân (Văn Khương). Lỗ phu nhân muốn cho con thân với ngoại gia thì tất cố ý xui giục. Lỗ hầu trong sợ lời mẹ, ngoài sợ uy ta, mà phải xin hòa, bấy giờ ta sẽ đem quân sang đánh Tống. Tề Hoàn công khen phải, đem quân đánh nước Toại. Lỗ Trang công nghe tin, giật mình kinh sợ, họp các quan lại để thương nghị. Công tử Khánh Phủ nói: - Quân Tề hai lần đến nước ta, lần nào cũng thua, bây giờ để tôi xin đem quân ra đánh. Công tử Khánh Phủ vừa dứt lời, bỗng có một người đứng dậy can rằng: - Không nên! Không nên! Lỗ Trang công nhìn xem ai, thì là Thi Bá. Lỗ Trang công hỏi: - Vậy thì nhà ngươi nghĩ dùng kế gì bây giờ? Thi Bá nói: - Quản Di Ngô là một bậc kỳ tài trong thiên hạ, bây giờ cầm quyền chính nước Tề thì quân sĩ tất có kỷ luật, đó là một điều không nên đánh; mới rồi nước Tề phụng mệnh Thiên tử hội chư hầu ở đất Bắc Hạnh, nay ta cự lại thì lẽ trái tự ta, đó là hai điều không nên đánh; xưa nay ta đối với Tề, có nhiều công lao như là giết Công tử Củ, làm chủ hôn cho Vương Cơ, bây giờ sinh sự thì bỏ cái ân nghĩa ngày trước mà kết cái thù oán mai sau, đó là ba điều không nên đánh. Kế sách ngày nay, không gì bằng giảng hòa với Tề. Tào Uế nói: - Ý tôi cũng nghĩ như vậy. Các quan còn đang nghị luận, bỗng có thư của Tề Hoàn công đưa đến. Lỗ Trang công mừng lắm, mở ra xem. Thư rằng: "Tôi cùng với Hiền hầu cùng thờ Thiên tử nhà Chu, khác nào như tình anh em, vả lại hai nước vốn là thân thuộc với nhau. Mới rồi việc hội ở Bắc Hạnh, Hiền hầu không dự, chẳng biết vì cớ gì, xin Hiền hầu cho biết, nếu Hiền hầu có lòng khác, cũng tùy ý Hiền hầu." Tề Hoàn công lại có một bức thư đưa cho Văn Khương. Văn Khương gọi Lỗ Trang công vào bảo rằng: Tề, Lỗ hai nước vốn là thân thuộc với nhau, giả sử Tề ghét ta, ta cũng nên cầu hòa, huống chi là Tề lại có ý muốn cầu hòa với ta. - Lỗ Trang công vâng lời, liền sai Thi Bá viết thư đáp lại, trong thư đại lược nói rằng: "Mới rồi Hiền hầu hội chư hầu ở Bắc Hạnh, tôi vì mắc bệnh nên không được dự, nay Hiền hầu có lời trách đến, tôi đây biết tội đã nhiều. Nhưng tôi ăn thề ngay ở dưới thành thì tôi lấy làm nhục lắm, nếu Hiền hầu rút quân ra khỏi địa giới, bấy giờ tôi sẽ xin vâng mệnh." Tề Hoàn công tiếp được thư, lấy làm bằng lòng, truyền rút quân về đất Kha (đất nước Tề). Lỗ Trang công sắp sửa đến đất Kha để hội với Tề Hoàn công, mới hỏi các quan xem ai dám đi theo. Tào Mạt xin đi. Lỗ Trang công nói: - Nhà ngươi ba lần bị nước Tề đánh thua, lại không sợ người nước Tề cười hay sao? Tào Mạt nói: - Chỉ tại tôi xấu hổ vì ba lần bị thua, nên tôi xin đi để lần này tôi rửa những điều xấu hổ ấy. Lỗ Trang công nói: - Làm thế nào mà rửa được? Tào Mạt nói: - Tôi xin giữ được cho không mất thể diện. Lỗ Trang công nói: - Ta phải sang hội với Tề để xin ăn thề thì cũng xấu hổ như là người bị thua, nếu nhà ngươi có thể rửa hổ được thì ta cho đi. Nói xong, cùng với Tào Mạt đến đất Kha. Tề Hoàn công đã sai người đắp đất lập đàn, bày các đồ lễ vật sẵn để đợi Lỗ Trang công đến ăn thề. Đến hôm ấy, Tề Hoàn công truyền lệnh chỉ cho Lỗ Trang công và một người nữa đi theo hầu được lên đàn mà thôi, còn bao nhiêu quân sĩ phải đứng tất cả ở dưới đất. Tào Mạt trong mặc áo giáp, tay cầm thanh kiếm đi theo sát sau lưng Lỗ Trang công. Lỗ Trang công vừa trèo vừa run. Tào Mạt không sợ một chút nào cả, cứ thủng thỉnh mà bước lên. Đông Quách Nha bảo Tào Mạt rằng: - Ngày nay hai nước hòa hiếu mà hội với nhau, sao lại dùng đồ binh khí, xin tướng quân bỏ kiếm đi. Tào Mạt trừng mắt nhìn trả Đông Quách Nha, hai kẽ mắt đứt cả ra. Đông Quách Nha thấy vậy, lùi lại mấy bước. Tào Mạt lại theo Lỗ Trang công bước lên. Tề Hoàn công cùng với Lỗ Trang công đến trước hương án làm lễ xong, Thấp Bằng bưng bát máu dâng lên để xin ăn thề. Tào Mạt tay phải rút thanh kiếm, tay trái nắm lấy áo Tề Hoàn công, hầm hầm nổi giận. Quản Di Ngô vội vàng đứng chắn để che cho Tề Hoàn công mà hỏi Tào Mạt rằng: - Quan Đại phu làm gì thế? Tào Mạt nói: - Nước Lỗ tôi suy yếu, mấy lần chịu khổ về việc chiến tranh, nay quí quốc hội chư hầu là chủ ý để cứu giúp những kẻ suy yếu, mà sao quí quốc không nghĩ lại cho nước tôi? Quản Di Ngô nói: - Vậy thì quan Đại phu muốn cái gì? Tào Mạt nói: - Quí quốc cậy sức mạnh, chiếm lấy đất Vấn Dương của nước tôi, nay xin quí quốc trả lại cho thì Chúa công tôi mới chịu ăn thề. Quản Di Ngô ngoảnh lại bảo Tề Hoàn công rằng: - Xin Chúa công cứ thuận cho. Tề Hoàn công nói: - Quan Đại phu buông ra, ta đã thuận cho rồi! Tào Mạt mới bỏ thanh kiếm xuống, bưng lấy bát máu thay cho Thấp Bằng mà dâng lên. Lỗ Trang công cùng với Tề Hoàn công ăn thề. Khi hai vua ăn thề xong, Tào Mạt nói: - Quản Di Ngô nay cầm quyền chính nước Tề, tôi xin cùng Quản Di Ngô ăn thề. Tề Hoàn công nói: - Cứ gì phải Trọng Phụ (trỏ Quản Di Ngô), để ta xin cùng nhà ngươi ăn thề. Nói xong, liền lấy tay trỏ lên trời mà thề rằng: - Nếu ta không trả lại đất Vấn Dương của nước Lỗ thì mặt trời lặn, ta xin chết theo. Tào Mạt cúi đầu lạy tạ. Khi ăn thề xong, các quan nước Tề đều có ý không bằng lòng, xin với Tề Hoàn công lập kế hiếp Lỗ Trang công để báo thù Tào Mạt. Tề Hoàn công nói: - Ta đã nhận lời với Tào Mạt rồi! Dẫu kẻ thất phu đã ước với ai câu gì, cũng không nên sai lời, huống chi ta đây làm ông vua trong một nước! Các quan mới thôi, không ai dám nói nữa. Sáng hôm sau, Tề Hoàn công lại bày tiệc ở nhà công quán để tiễn biệt Lỗ Trang công, rồi đem đất Vấn Dương trả lại cho nước Lỗ. Các nước chư hầu nghe tin việc ăn thề ở đất Kha, Tào Mạt xử hiếp như vậy mà Tề Hoàn công không bội ước, đều phục Tề Hoàn công là người tín nghĩa, bấy giờ nước Vệ cùng nước Tào cũng sai sứ đến tạ tội và xin ăn thề. Tề Hoàn công sai sứ vào tâu vua Ly Vương nhà Chu để hội các nước chư hầu đem quân đánh Tống. Quản Di Ngô có một người thiếp yêu tên là Tĩnh Nương, vốn người thông minh mà học rộng lắm. Quản Di Ngô đi đâu, cũng đem Tĩnh Nương đi hầu. Bấy giờ đem quân qua núi Dao Sơn, gặp một người chăn trâu, mình mặc áo cộc, đầu đội nón rách, chân đi đất, đang gõ vào cái sừng trâu mà hát. Quản Di Ngô ngồi trên xe, biết là không phải người thường, sai quân sĩ đem cơm rượu đưa cho. Người chăn trâu ấy ăn uống xong, nói với quân sĩ rằng: - Tôi muốn được yết kiến quan Tể tướng. Quân sĩ nói: - Xe quan Tể tướng đã đi khỏi rồi! Người chăn trâu ấy nói: - Tôi có một câu này nhờ người đọc lại cho quan Tể tướng nghe là câu: "Nước trong leo lẻo". Quân sĩ theo kịp xe Quản Di Ngô, kể lại những câu nói của người chăn trâu. Quản Di Ngô không hiểu ra ý làm sao cả, liền hỏi Tĩnh Nương. Tĩnh Nương nói: - Thiếp nghe nói cổ giả có bài thơ "Nước trong" rằng: "Nước trong leo lẻo, cá lượn giữa dòng; người đến triệu ta, ta cũng bằng lòng!" Ý chừng người chăn trâu ấy muốn ra làm quan đó. Quản Di Ngô tức khắc dừng xe lại, sai sứ đến triệu. Người chăn trâu ấy đem trâu gởi vào một chỗ, rồi theo sứ đến yết kiến Quản Di Ngô, chắp tay vái chào mà không chịu lạy. Quản Di Ngô hỏi họ tên là gì? Người ấy nói: - Tôi người nước Vệ, họ Ninh tên Thích, nghe tin ngài hay quí trọng kẻ hiền sĩ, vậy mới cố công len lỏi đến đây, nhưng không tìm được cách gì để mà tiến thân, nên phải đi chăn trâu cho qua ngày tháng. Quản Di Ngô hỏi đến học thức thì Ninh Thích ứng đối được đâu ra đấy. Quản Di Ngô bảo Ninh Thích rằng: - Kẻ hào kiệt lúc chưa gặp thời, không có người tiến dẫn thì sao cho tỏ tài được. Đại binh của Chúa công ta đi sau, chẳng bao lâu cũng đến đây, ta viết cho nhà ngươi một bức thư, để nhà ngươi cầm mà đưa cho Chúa công ta, tất Chúa công ta trọng dụng. Nói xong, Quản Di Ngô liền viết một bức thư giao cho Ninh Thích. Ninh Thích lại về chăn trâu ở núi Dao Sơn. Được ba ngày nữa, đại binh Tề Hoàn công kéo đến. Ninh Thích cứ áo cộc, nón rách, chân đi đất, đứng ở bên đường, chẳng sợ hãi gì cả. Xe Tề Hoàn công đi gần đến nơi, Ninh Thích gõ vào sừng trâu mà hát rằng: "Kìa sông Thương Lương, đá trắng lởm chởm, có con cá chép, dài một thước hơn. Nghiêu Thuấn thái bình, đã không được gặp; áo cộc che thân, độ đến ngang lưng. Ta cho trâu ăn, từ tối đến đêm; đêm tối mờ mờ, bao giờ thấy sáng!" Tề Hoàn công nghe lấy làm lạ, mới sai quân sĩ đòi đến trước xe mà hỏi họ tên. Ninh Thích nói: - Tôi họ Ninh tên Thích. Tề Hoàn công nói: - Nhà ngươi là đứa chăn trâu, sao dám gièm chê việc chính trị. Ninh Thích nói: - Tôi có dám gièm chê gì đến chính trị đâu. Tề Hoàn công nói: - Ngày nay trên thì Thiên tử nhà Chu trị vì, dưới thì các nước chư hầu theo lệnh, nhân dân vui vẻ, cây cỏ tốt tươi, dẫu đời Nghiêu Thuấn thái bình chẳng qua cũng chỉ như thế. Thế mà nhà ngươi dám bảo rằng "Nghiêu Thuấn thái bình, đã không được gặp" lại bảo rằng "Đêm tối mờ mờ, bao giờ thấy sáng!" không phải gièm chê chính trị là gì! Ninh Thích nói: - Tôi nghe nói đời Nghiêu Thuấn mưa gió thuận hòa, dân gian không phải lo sợ gì, chỉ việc cày ruộng mà ăn, đào giếng mà uống; đời bây giờ giường mối đổ nát, giáo hóa suy đồi, thế mà bảo rằng: "Nghiêu Thuấn thái bình" thì thật tôi không được hiểu ra làm sao! Vả đời Nghiêu Thuấn trừ bốn kẻ hung ác mà thiên hạ được yên, từ bấy giờ không phải nói mà dân tin, không phải giận mà dân sợ; nay Chúa công mới hội chư hầu, đã thấy nước Tống bội ước, nước Lỗ hiếp thề, chinh chiến quanh năm, hao người tốn của, mà bảo rằng "nhân dân vui vẻ, cây cỏ tốt tươi" thì thật tôi càng không hiểu lắm. Tôi lại nghe nói vua Nghiêu bỏ con là Đan Chu mà nhường thiên hạ cho vua Thuấn, vua Thuấn không chịu nhận, bỏ trốn ra Nam Hà, trăm họ rủ nhau mà theo vua Thuấn, bấy giờ vua Thuấn bất đắc dĩ mới lên nối ngôi; nay Chúa công giết anh ruột đi để mà cướp nước, lại mượn uy Thiên tử để sai khiến các nước chư hầu, vậy thì tôi không biết có phải là lối vái nhường nhau như vua Nghiêu, vua Thuấn ngày xưa hay không? Tề Hoàn công nổi giận mà mắng rằng: - Đứa thất phu này dám nói càn! Nói xong, truyền đem Ninh Thích ra chém. Quân sĩ trói Ninh Thích đem đi, Ninh Thích cứ nghiễm nhiên, không sợ hãi gì cả, ngửa mặt lên trời mà than rằng: - Ngày xưa vua Kiệt giết Long Bàng, vua Trụ giết Tỉ Can, nay tôi cùng với hai ông ấy kể là ba người! Thấp Bằng nói với Tề Hoàn công rằng: - Người ấy không theo quyền thế, không sợ uy nghiêm, chẳng phải là kẻ chăn trâu tầm thường đâu, Chúa công chớ nên giết. Tề Hoàn công sực nghĩ lại, nguôi ngay cơn giận đi, sai cởi trói cho Ninh Thích mà bảo rằng: - Ta thử nhà ngươi đó thôi, nhà ngươi thật là một người giai sĩ! Ninh Thích mới thò vào trong bọc, rút thư của Quản Di Ngô dâng lên. Tề Hoàn công mở thư ra xem, trong thư đại lược như sau này: "Tôi phụng mệnh đem quân qua núi Dao Sơn, có tiếp được một người nước Vệ tên gọi Ninh Thích. Người này không phải là kẻ chăn trâu tầm thường, chính là một bậc đại tài ở đời bây giờ. Chúa công nên nghĩ cách mà dùng lấy. Chớ để cho hắn đi sang nước khác mất thì hối không kịp nữa!". Tề Hoàn công nói: - Nhà ngươi đã có bức thư của Trọng Phụ, sao không đưa ngay cho ta xem? Ninh Thích nói: - Tôi nghe nói vua hiền chọn người mà dùng, tôi hiền chọn chủ nhà thờ. Nếu Chúa công ghét người thẳng, ưa người nịnh, mà nhân cơn giận giết tôi thì tôi chẳng thà chết đi, quyết không chịu đưa bức thư của quan Tể tướng làm gì nữa. Tề Hoàn công bằng lòng lắm, truyền cho ngồi một cái xe theo sau. Tối hôm ấy, đóng quân nghỉ lại. Tề Hoàn công sai thắp đèn lên để tìm mũ áo. Thụ Điêu nói: - Chúa công tìm mũ áo, ý chừng muốn phong cho Ninh Thích chăng! Tề Hoàn công nói: - Phải! Thụ Điêu nói: - Từ nước ta sang nước Vệ, cũng chẳng xa bao nhiêu, sao Chúa công chẳng sai người sang hỏi dò xem, nếu thật là hiền, bấy giờ sẽ phong tước cho, đi đâu mà vội. Tề Hoàn công nói: - Người này là một bậc đại tài, không câu nệ những điều nhỏ nhặt, hoặc giả khi ở nước Vệ, cũng có một vài điều lỗi nhỏ, bây giờ hỏi dò mà biết những điều lỗi ấy, chẳng lẽ lại phong tước cho, mà bỏ đi không dùng thì đáng tiếc lắm. Nói xong, ngay đêm hôm ấy phong cho Ninh Thích làm quan Đại phu, khiến cùng với Quản Di Ngô cùng coi quốc chính. Ninh Thích đội mũ mặc áo, rồi lạy tạ lui ra. Đại binh Tề Hoàn công kéo đến địa giới nước Tống, cùng với các nước chư hầu bàn đến việc tiến đánh. Ninh Thích nói với Tề Hoàn công rằng: - Chúa công phụng mệnh Thiên tử để mà hiệu lịnh các nước chư hầu, khiến cho người ta sợ uy, không bằng khiến cho người ta mến đức, cứ như ý tôi thiển nghĩ thì không nên đánh vội. Tôi dẫu hèn mạt, dám xin đem ba tấc lưỡi mà bảo được vua nước Tống phải giảng hòa. Tề Hoàn công nghe lời, truyền đóng quân lại, rồi sai Ninh Thích vào trước để nói với Tống Hoàn công. Ninh Thích ngồi một cái xe nhỏ, cùng với mấy tên người nhà thẳng tới Thư Dương (kinh thành nước Tống) xin vào yết kiến Tống Hoàn công. Tống Hoàn công hỏi Đái Thúc Bì rằng: - Ninh Thích là người thế nào? Đái Thúc Bì nói: - Tôi nghe nói người ấy là một kẻ chăn trâu mà Tề hầu mới dùng cho làm quan, tất là người ấy có tài ứng đối. Bây giờ định cho đến để du thuyết gì đây! Tống Hoàn công nói: - Vậy thì nên xử ra thế nào? Đái Thúc Bì nói: - Chúa công gọi vào, chớ nên trọng đãi, hãy thử xem ý tứ, nếu hắn nói không hợp lẽ, bấy giờ tôi xin nhắc cái giải áo làm hiệu, sai vũ sĩ bắt mà giam lại thì Tề hầu không giở kế gì được nữa. Tống Hoàn công gật đầu khen phải, truyền cho vũ sĩ phục cả xung quanh, rồi gọi Ninh Thích vào. Ninh Thích mũ cao áo rộng, ngang nhiên mà vào, trông thấy Tống Hoàn công, chắp tay vái một cái. Tống Hoàn công cứ ngồi nghiễm nhiên không đáp lại. Ninh Thích thở dài mà than rằng: - Nguy thay cho nước Tống! Tống Hoàn công ngạc nhiên mà hỏi rằng: - Ta đây làm vua một nước, phẩm tước hơn cả các nước chư hầu, có việc gì mà nguy! Ninh Thích nói: - Hiền hầu tự nghĩ xem, ví với Chu Công ngày xưa thì ai hiền hơn? Tống Hoàn công nói: - Chu công là bậc thánh nhân, có đâu ta lại dám ví. Ninh Thích nói: - Chu Công ngày xưa đang lúc thiên hạ thái bình mà còn phải hết lòng để cầu lấy người hiền sĩ; trong khi bữa ăn, có người hiền sĩ vào thì vội nhả miếng cơm để mà ra đón; trong khi gội đầu, có người hiền sĩ đến thì vội vẩy nắm tóc để mà ra mời. Nay Hiền hầu là dòng dõi một nước đã mất rồi (Tống là con cháu nhà Ân, bị nhà Chu chiếm mất, rồi phong cho ở nước Tống), lại gặp phải thời buổi tranh cạnh, dẫu bắt chước như Chu Công hết lòng cầu kẻ hiền sĩ, còn sợ kẻ hiền sĩ không chịu đến, huống chi lại còn kiêu ngạo tự đắc, thì những lời nói trung trực bao giờ có đến trước mặt Hiền hầu được, còn gì mà không nguy! Tống Hoàn công ngẩn người ra, vội vàng dịch lại gần mà hỏi Ninh Thích rằng: - Ta mới lên nối ngôi, chưa được nghe những lời dạy của các bậc quân tử, xin tiên sinh tha lỗi cho. Đái Thúc Bì đứng bên cạnh, thấy Tống Hoàn công có ý cảm động về lời nói của Ninh Thích, mới ra hiệu nhắc cái giải áo luôn mãi. Tống Hoàn công không ngoảnh lại nữa. Lại bảo Ninh Thích rằng: - Nay tiên sinh đến đây, xin tiên sinh chỉ giáo cho ta hay. Ninh Thích nói: - Nay Thiên tử suy yếu, chư hầu tiếm quyền, vua tôi giết nhau, ngày nào cũng có. Tề hầu không nỡ để cho thiên hạ rối loạn, phải phụng mệnh Thiên tử làm chủ các nước chư hầu, thế mà Hiền hầu bội ước, dám chống nhau với Thiên tử, tôi thiết tưởng chẳng đợi giao binh mà sự được thua đã rành rành ra đó! Tống Hoàn công nói: - Cứ như ý kiến của tiên sinh thì bảo ta nên thế nào? Ninh Thích nói: - Tôi thiết tưởng Hiền hầu nên giảng hòa với nước Tề thì cơ nghiệp nước Tống thật vững như núi Thái Sơn. Tống Hoàn công nói: - Trước ta đã trót dại, bội ước với nước Tề, nay nước Tề đang đem quân đến để định đánh ta, biết nước Tề có cho ta giảng hòa hay không? Ninh Thích nói: - Tề hầu là người khoan nhân đại độ, không hay chấp trách những điều lầm lỗi của người, như nước Lỗ khi trước không đến dự hội, sau xin ăn thề ở đất Kha, thì Tề hầu cũng đem ngay đất Vấn Dương để trả lại cho. Huống chi Hiền hầu khi trước đã đến dự hội, có lẽ nào Tề hầu lại không cho giảng hòa. Tống Hoàn công nói: - Bây giờ nên dùng những lễ vật gì? Ninh Thích nói: - Tề Hầu bây giờ cốt lấy lễ nghĩa giao tiếp với các nước chư hầu, có cần gì mà phải dùng nhiều lễ vật. Tống Hoàn công bằng lòng, mới sai người đến xin hòa với nước Tề. Đái Thúc Bì thấy vậy, xấu hổ lui ra. Sứ nước Tống vào yết kiến Tề Hoàn công nói về việc xin giảng hòa và dâng 10 đôi bạch ngọc, 1000 nén hoàng kim. Tề Hoàn công nói: - Việc cho giảng hòa ấy quyền tại Thiên tử, có đâu ta dám tự chuyện, tất phải sai người tâu với Thiên tử mới được. Nói xong, Tề Hoàn công bảo Tống Hoàn công sai sứ vào tâu với Thiên tử nhà Chu, rồi các nước đều rút quân về nước.

Quay về bài gốc

0SHARES
 
34,907 ❤︎ Bài viết: 2241 Tìm chủ đề
HỒI THỨ 19 Bắt Phó Hà, Lệ công (Trịnh) về nước Giết Tử Đồi, Huệ Vương (Chu) phục ngôi

Tề Hoàn công thu quân về nước Tề, Quản Di Ngô nói với Tề Hoàn công rằng: - Từ khi nhà Chu thiên sang đông đô đến giờ, các nước chư hầu không nước nào mạnh bằng nước Trịnh. Trịnh Trang công khi trước cậy sức mạnh mà đánh nước Tống, và chống cự cả với Thiên tử, ngày nay lại đi theo nước Sở. Nước Sở là một nước lớn, đất rộng người nhiều, dám tiếm hiệu xưng vương sánh với nhà Chu, không sợ hãi gì cả. Nay Chúa công muốn tôn Thiên tử là bá chư hầu, tất phải tìm cách để trị nước Sở, mà muốn trị nước Sở thì trước hết phải kết thân với nước Trịnh. Tề Hoàn công nói: - Ta vẫn biết Trịnh là một nơi cốt yếu, muốn thu lấy đã lâu, chỉ vì chưa nghĩ được kế gì. Ninh Thích nói: - Công tử Đột (Trịnh Lệ công) ở nước Trịnh là vua mới được hai năm, Sái Túc đuổi đi mà lập Công tử Hốt; Cao Cừ Di giết Công tử Hốt mà lập Công tử Vỉ. Tiên quân ta ngày xưa giết Công tử Vỉ đi thì Sái Túc lại lập Công tử Nghi. Sái Túc là bề tôi mà dám đuổi vua, Công tử Nghi là em mà dám cướp ngôi của anh, tội đáng giết cả. Nay Công tử Đột ở đất Lịch, ngày đêm vẫn tìm mưu lập kế để định đánh lẻn nước Trịnh, vả lại Sái Túc đã chết rồi, nước Trịnh không còn ai là người tài giỏi, Chúa công chỉ sai một người đem quân đến đất Lịch, đưa Công tử Đột về làm vua nước Trịnh. Thế thì Công tử Đột tất phải cảm ơn Chúa công mà thần phục nước Tề ta. Tề Hoàn công khen phải, liền sai Tân Tu Vô đem quân đến đất Lịch để giúp Công tử Đột. Trịnh Lệ công (tức là Công tử Đột) nghe tin Sái Túc chết, mật sai người tâm phúc về nước Trịnh để dò la tin tức, bỗng tiếp được tin Tề Hoàn công sai người đem quân đưa mình về nước, trong lòng mừng lắm, vội vàng mở cửa thành ra nghênh tiếp, rồi bày tiệc cùng với Tân Tu Vô uống rượu. Trong khi đang ăn tiệc thì có tin báo rằng: - Sái Túc chết rồi, quyền chính nước Trịnh về tay Thúc Thiêm. Tân Tu Vô nói: - Thúc Thiêm là người thế nào? Trịnh Lệ công nói: - Người ấy có tài chính trị, chứ không có tài tranh chiến. Lại có tin báo rằng: - Kinh thành nước Trịnh bây giờ có một chuyện rất lạ: Phía trong cửa Nam môn có một con rắn dài tám thước, đầu xanh đuôi vàng; phía ngoài cửa lại có một con rắn dài hơn một trượng, đầu đỏ đuôi xanh. Hai con rắn ấy đánh nhau trong ba ngày ba đêm mà không phân được thua, người xem đông như chợ, không ai dám đến gần. Sau đến ngày thứ 17 thì con rắn trong bị con rắn ngoài cắn chết; con rắn ngoài chạy thẳng vào thành, đến nhà Thái miếu thì biến mất. Tân Tu Vô nghe nói, đứng dậy chúc mừng Trịnh Lệ công rằng: - Như thế thì ngôi vua của Hiền hầu chắc hẳn khôi phục được. Trịnh Lệ công nói: - Sao ngài lại biết? Tân Tu Vô nói: - Con rắn ở ngoài cửa tức là Hiền hầu. Hiền hầu là anh, vậy nên dài hơn một trượng; con rắn ở trong cửa tức là Công tử Nghi, Công tử Nghi là em, vậy nên dài có tám thước. Đến ngày thứ 17 mà con rắn trong chết, con rắn ngoài thành, nghĩa là từ khi Hiền hầu đi trốn, đến nay vừa được 17 năm, nay Chúa công tôi vì đại nghĩa mà sai tôi đem quân đưa Hiền hầu về phục quốc, lại có cái điềm hai con rắn đánh nhau ấy, đó chẳng phải ý trời là gì? Trịnh Lệ công nói: - Được như lời tướng quân nói thì trọn đời tôi không dám quên ơn. Tân Tu Vô mới cùng với Trịnh Lệ công lập kế đêm hôm ấy lẻn về đánh đất Đại Lăng. Quan trấn thủ ở đất Đại Lăng là Phó Hà đem quân ra ngoài thành để nghênh chiến. Tân Tu Vô lẻn đánh phía sau, chiếm được thành Đại Lăng, cắm cờ nước Tề. Phó Hà biết là sức không địch nổi, phải xin đầu hàng. Trịnh Lệ công vẫn tức Phó Hà về nỗi chống nhau với mình trong 17 năm trời, mới nghiến răng nghiến lợi truyền đem Phó Hà ra chém. Phó Hà kêu rầm lên rằng: - Chúa công không muốn về nước Trịnh hay sao? Sao lại giết tôi! Trịnh Lệ công nghe nói, liền gọi lại hỏi. Phó Hà nói: - Nếu Chúa công tha tôi, tôi xin chém lấy đầu Công tử Nghi. Trịnh Lệ công nói: - Nhà ngươi có kế gì mà giết được Công tử Nghi, chẳng qua chỉ nói khéo để đánh lừa ta, chực thoát thân về nước Trịnh mà thôi. Phó Hà nói: - Quyền chính nước Trịnh ngày nay ở trong tay Thúc Thiêm cả; tôi cùng với Thúc Thiêm chơi thân với nhau. Nếu Chúa công tha tôi, tôi lẻn về nước Trịnh, bàn mưu với Thúc Thiêm thì tất đem được đầu Công tử Nghi mà nộp Chúa công. Trịnh Lệ công quát to lên mà mắng rằng: - Thằng lão tặc này mày định đánh lừa ta! Bây giờ ta tha cho mày về Trịnh để mày bàn nhau với Thúc Thiêm mà đem quân ra chống cự với ta chứ gì! Tân Tu Vô nói: - Vợ con Phó Hà nay ở cả đất Đại Lăng này, âu là ta giam lại để làm tin. Phó Hà sụp lạy kêu van mà nói rằng: - Nếu tôi nói sai lời thì xin Chúa công cứ giết vợ con tôi đi! Nói xong, trỏ lên mặt trời mà thề, Trịnh Lệ công mới nghe lời. Phó Hà lẻn về nước Trịnh, đang đêm vào yết kiến Thúc Thiêm. Thúc Thiêm trông thấy Phó Hà, giật mình kinh sợ mà hỏi rằng: - Nhà ngươi đang trấn thủ ở đất Đại Lăng, sao bây giờ lại về đây? Phó Hà nói: - Tề hầu sai Đại tướng là Tân Tu Vô đem quân đưa Công tử Đột về nước, nay đã chiếm cứ được đất Đại Lăng rồi. Tôi trốn chạy mấy đêm nay mới về tới đây, mà quân Tề cũng sắp sửa kéo đến, sự thế đã nguy cấp lắm, nhà ngươi làm thế nào chém được đầu Công tử Nghi, rồi mở cửa thành ra mà đón quân Tề thì mới có thể giữ được phú quí, và khiến cho nhân dân khỏi phải lầm than khổ sở; chuyển họa làm phúc, chỉ có lúc này, nhược bằng trễ chậm thì không tài nào mới hối kịp. Thúc Thiêm nghe lời, nín lặng một hồi lâu mới nói rằng: - Ngày trước ta vẫn theo lời bàn lại lập vua cũ (trỏ Công tử Đột) chỉ vì Sái Túc làm ngăn trở; nay Sái Túc đã mất rồi, ấy là lòng trời giúp cho vua cũ ta đó, ta cũng không nên trái ý trời, nhưng biết dùng kế gì bây giờ? Phó Hà nói: - Ta nên thông tin cho quân Tề mau mau kéo đến, rồi nhà ngươi giả cách mở cửa thành ra để đối địch, tất nhiên Công tử Nghi phải lên mặt thành đứng trông, bấy giờ tôi sẽ liệu kế giết đi, để cho nhà ngươi đón vua cũ vào thành, như thế thì có thể nên việc được. Thúc Thiêm nghe lời, mật sai người báo tin cho Trịnh Lệ công (Công tử Đột). Phó Hà vào yết kiến Công tử Nghi, nói về việc quân Tề giúp Trịnh Lệ công, hiện đã chiếm cứ được đất Đại Lăng rồi. Công tử Nghi giật mình kinh sợ nói: - Bây giờ ta nên đem lễ vật sang cầu cứu nước Sở. Đợi khi quân Sở đến, trong đánh ra ngoài đánh vào thì chắc hẳn quân Tề phải rút lui. Thúc Thiêm cố ý ngăn trở việc ấy, quá hai ngày nữa mà chưa sai sứ sang Sở. Bỗng nghe báo quân Tề đã kéo đến dưới chân thành. Thúc Thiêm nói với Công tử Nghi rằng: - Tôi xin đem quân ra đối địch. Chúa công cùng với Phó Hà lên mặt thành để phòng giữ. Công tử Nghi tưởng thực, mới cùng với Phó Hà trèo lên mặt thành. Trịnh Lệ công đem quân đến trước, Thúc Thiêm giả cách ra giao chiến mấy hiệp; đến lúc Tân Tu Vô đem quân Tề tiến đến, Thúc Thiêm vội vàng bỏ chạy. Phó Hà ở trên mặt thành kêu rầm lên rằng: - Quân ta thua mất rồi! Công tử Nghi vốn là người không có can đảm, nghe nói quân thua, toan bỏ chạy xuống. Phó Hà ở đàng sau đâm thẳng một nhát, Công tử Nghi chết ngay ở trên mặt thành. Thúc Thiêm gọi mở cửa thành, rồi đưa Trịnh Lệ công và Tân Tu Vô vào. Phó Hà đi trước vào nơi Thanh Cung, gặp hai con của Công tử Nghi, đều giết chết cả, rồi tôn Trịnh Lệ công lên ngôi. Người nước Trịnh vốn mến Trịnh Lệ công, bởi vậy trong nước vẫn giữ được an tĩnh. Trịnh Lệ công hậu tạ Tân Tu Vô, rồi ước đến mùa đông tháng mười thì thân hành sang hội với Tề, Tân Tu Vô cáo từ về nước. Trịnh Lệ công bảo Phó Hà rằng: - Nhà ngươi giữ đất Đại Lăng trong 17 năm trời nay, cố sức cùng ta chống cự, thật là hết lòng trung với vua cũ; nay lại tham sống sợ chết, vì ta mà giết bỏ vua cũ, như thế thì bụng nhà ngươi nham hiểm, không biết đâu mà lường, ta nên vì Công tử Nghi báo thù. Nói xong, truyền vũ sĩ đem Phó Hà ra chém ở giữa chợ, còn vợ con thì tha cho về. Nguyên Phồn lúc trước tán thành về việc lập Công tử Nghi, sợ Trịnh Lệ công bắt tội, cũng cáo ốm xin từ chức. Trịnh Lệ công sai người đến trách mắng. Nguyên Phồn tự thắt cổ mà chết. Trịnh Lệ công lại trị tội những người đuổi mình khi trước, giết Công tử Át. Còn Cường Thư trốn vào nhà Thúc Thiêm, Thúc Thiêm xin cho, mới được khỏi chết, nhưng phải chặt chân. Định Thúc trốn chạy sang nước Vệ, ba năm sau, Trịnh Lệ công lại cho người sang triệu về. Sái Túc đã chết rồi, không nói đến nữa. Thúc Thiêm vẫn làm chức chính khanh, Đỗ Thúc và Sư Thúc đều được làm quan đại phu, người nước Trịnh gọi là "Tam lương" nghĩa là ba người hiền. Sở Văn Vương (Hùng Si) từ khi lấy được Tức Vỉ, lập làm phu nhân, yêu quí lạ thường. Trong ba năm trời, sinh luôn được hai con. Con trưởng là Hùng Hi, con thứ là Hùng Vận. Tức Vỉ dẫu ở trong nước Sở 3 năm, mà tịnh không nói chuyện với Sở Văn Vương một câu nào cả. Sở Văn Vương lấy làm lạ, một hôm cố hỏi Tức Vỉ là cớ gì mà không chịu nói. Tức Vỉ chỉ ứa nước mắt xuống mà không đáp lại. Sở Văn Vương lại cố ý hỏi mãi. Tức Vỉ nói: - Một thân thiếp này phải thờ hai chồng, đã không biết giữ tiết mà chết, lại còn mặt mũi nào chuyện với ai nữa. Nói xong, hai hàng nước mắt chảy xuống ròng ròng. Sở Văn Vương nói: - Điều đó là tại Sái hầu, ta xin vì phu nhân mà báo cái thù ấy. Phu nhân chớ lo. Nói xong, liền cất quân sang đánh nước Sái. Sái hầu sụp lạy xin lỗi và đem hết cả đồ bảo ngọc ở trong kho ra xin biếu nước Sở. Nước Sở mới lui quân về. Gặp bấy giờ Trịnh Lệ công sai sứ đem tin phục quốc sang báo nước Sở. Sở Văn Vương nói: - Công tử Đột phục quốc đã hai năm nay, mới sai người sang báo với ta, thế là có ý khinh ta lắm. Sở Văn Vương cất quân sang đánh nước Trịnh. Trịnh Lệ công tạ tội xin giảng hòa. Sở Văn Vương thuận cho. Trịnh Lệ công sợ uy nước Sở, không dám kết thân với Tề. Tề Hoàn công sai người sang trách. Trịnh Lệ công sai Thúc Thiêm sang Tề, nói với Tề Hoàn công rằng: - Nước tôi bị quân Sở quấy nhiễu, rất là khốn khổ, ngày đêm phòng giữ, chưa lúc nào được yên nghỉ, bởi vậy chưa kịp sang tiến cống quí quốc, nếu quí quốc có thể trị được quân Sở thì bấy giờ Chúa công tôi xin thân hành sang ngày đêm bái yết ở dưới sân. Tề Hoàn công thấy lời nói có ý hỗn láo, truyền đem Thúc Thiêm giam lại ở chốn quân phủ. Thúc Thiêm thừa cơ lẻn trốn về nước Trịnh, từ bấy giờ nước Trịnh lại bỏ Tề mà theo Sở. Vua Ly Vương nhà Chu mất, con là Ngân lên nối ngôi, tức là Chu Huệ Vương. Sở Văn Vương là người dâm bạo, hay gây việc chiến tranh, năm trước cùng với vua nước Ba đi đánh nước Thân, mà Sở Văn Vương quấy nhiễu nước Ba nhiều lắm, vua nước Ba tức giận, đem quân lẻn đánh, cướp lấy đất Na của nước Sở. Quan trấn thủ ở đất Na là Diêm Ngao trốn về nước Sở, Sở Văn Vương bắt đem chém, bởi vậy tộc đảng nhà Diêm Ngao oán Sở Văn Vương, xin làm nội ứng để cho người nước Ba sang đánh Sở. Người nước Ba đem quân sang đánh Sở. Sở Văn Vương đem quân ra đối địch, chẳng ngờ tộc đảng nhà Diêm Ngao cả thẩy mấy trăm người giả cách làm quân nước Sở, đi lẫn vào trong trận để sục tìm Sở Văn Vương. Quân nước Sở rối loạn. Quân nước Ba thừa thế tiến vào, đánh tan được quân nước Sở. Sở Văn Vương bị mấy mũi tên vào mặt, vội vàng bỏ chạy. Vua nước Ba cũng không dám đuổi theo, thu quân trở về, tộc đảng nhà Diêm Ngao theo sang ở bên nước Ba. Sở Văn Vương về đến kinh thành, đang đêm gõ cửa gọi, Dục Quyền ở trong cửa hỏi rằng: - Đại Vương thắng trận, phải không? Sở Văn Vương nói: - Ta thua rồi! Dục Quyền nói: - Từ đời Tiên vương đến nay, quân Sở ra đánh, không thua nước nào bao giờ! Nay nước Ba là một nước nhỏ, Đại vương thân hành đi đánh mà đến nỗi bị thua, thế thì không sợ người ta chê cười hay sao! Bây giờ nước Hoàng cũng không phục nước Sở, nếu Đại vương sang đánh được nước Hoàng thì mới chữa khỏi điều xấu hổ ấy. Nói xong, liền giữ cửa không cho vào. Sở Văn vương nổi giận, bảo quân sĩ rằng: - Lần này đi mà không được nữa thì ta quyết không về! Nói xong, liền đem quân sang đánh nước Hoàng. Sở Văn vương đánh trống thúc quân vào, đánh được quân nước Hoàng ở đất Thác Lăng (đất nước Hoàng). Đêm hôm ấy đóng quân lại để nghỉ, Sở Văn vương nằm mộng thấy Tức hầu hầm hầm nổi giận chạy đến trước mặt mà bảo rằng: - Ta có tội lỗi gì mà mày giết ta, lại xâm chiếm đất ta, gian dâm vợ ta; nay ta đã tâu với Ngọc Hoàng Thượng Đế rồi! Nói xong, giơ tay cấu vào má Sở Văn vương. Sở Văn vương kêu to lên một tiếng rồi tỉnh dậy, thấy thương tích vỡ lỡ, máu chảy đầm đìa, vội vàng hạ lệnh thu quân trở về. Về đến Thu Địa (đất nước Sở), nửa đêm thì chết. Dục Quyền đón linh cữu về làm ma. Con trưởng Sở Văn vương là Hùng Hi lên nối ngôi. Dục Quyền nói: - Ta hai lần xâm phạm đến vua ta, dẫu vua ta không giết, nhưng có đâu ta lại tham sống làm gì, âu là ta xin theo vua ta xuống dưới âm phủ. Lại bảo với người nhà rằng: - Ta chết rồi thì các ngươi cứ chôn ta ở cửa thành, khiến cho con cháu sau biết ta là người giữ cửa. Nói xong, liền tự đâm cổ mà chết. Hùng Hi thương lắm, mới cho con cháu được nối đời làm chức đại hôn (quan giữ cửa thành). Trịnh Lệ công nghe tin Sở Văn vương chết, mừng lắm, nói: - Ta không còn lo gì nữa! Thúc Thiêm nói: - Tôi thiết tưởng nước nào phải nhờ cậy người ta thì nguy lắm, phải thần phục người ta thì nhục lắm. Nay nước Trịnh ta ở vào khoảng giữa nước Tề nước Sở, không nhục thì cũng nguy, khó lòng mà giữ cho lâu bền được. Tiên quân ta ngày xưa như Hoàn công, Vũ công và Trang công, ba đời làm chức khanh sĩ nhà Chu, bởi vậy các nước chư hầu đều phải phục theo; bây giờ Chúa công cũng nên vào triều cống nhà Chu, để nhờ ơn Thiên tử gia phong cho thì không còn lo nước nào dám quấy nhiễu nữa. Trịnh Lệ công khen phải, rồi sai quan Đại phu là Sư Thúc vào triều nhà Chu. Sư Thúc trở về báo tin nhà Chu loạn to. Trịnh Lệ công hỏi tình hình loạn thế nào. Sư Thúc nói: - Vua Trang Vương nhà Chu ngày xưa yêu nàng Diêu Cơ, nàng Diêu Cơ sinh con là Vương tử Đồi, vua Trang Vương yêu lắm, sai quan Đại phu là Vỉ Quốc làm chức sư phó để dạy Vương tử Đồi. Vương tử Đồi tính thích chơi trâu, vẫn nuôi mấy trăm con trâu, ngày nào cũng thân hành cho trâu ăn uống, lại cho trâu mặc các đồ vóc lụa, đặt tên là Văn thú. Thỉnh thoảng có đi chơi đâu, cũng tất cho một đàn trâu đi theo, đi đến đâu thì giẫm nát bừa ra, không sợ hãi gì cả. Lại cùng với năm quan đại phu là: Vỉ Quốc, Biên Bá, Tử Cầm, Chúc Quị và Thiêm Phủ giao kết với nhau rất thân mật. Đang đời vua Ly Vương nhà Chu, không ai dám ngăn cấm; đến đời vua Huệ Vương, Vương tử Đồi cậy mình là hàng chú, lại càng kiêu ngạo lắm. Vua Huệ Vương thấy vậy cũng có ý ghét, mới nghĩ cách để đè nén bọn Vương tử Đồi, chiếm lấy những ruộng của bọn ấy. Bấy giờ lại có một tên thiện phu (người nấu bếp cho vua) là Thạch Tốc dâng đồ ngự thiện không được tinh sạch, vua Huệ Vương mới cách chức không dùng nữa. Thạch Tốc cũng đem lòng thù oán vua Huệ Vương, mới cùng với bọn Vương tử Đồi nổi loạn, tôn Vương tử Đồi làm vua, đem quân đánh vua Huệ Vương; may nhờ có Quắc công Kỵ Phủ và Thiệu Bá Liên cố sức chống giữ, bọn Vương tử Đồi bị thua, chạy trốn sang đất Tô. Nguyên Tô Tử khi trước phản Chu theo giặc, bị vua Hoàn Vương nhà Chu truất bỏ mất thái địa, cũng có ý căm tức, mới phù Vương tử Đồi chạy sang nước Vệ. Vệ Huệ công (Công tử Sóc) lấy việc vua nhà Chu lập Kiềm Mâu làm oán giận, mới đem quân giúp Vương tử Đồi mà đánh Chu Huệ vương. Quắc công Kỵ Phủ chống cự không nổi, cùng với Thiệu Bá Liên phù Chu Huệ vương chạy sang đất Yên. Bây giờ Vương tử Đồi lên chiếm ngôi vua, người nhà Chu có ý không phục, nếu Chúa công ngày nay đem quân giúp vua Huệ Vương về khôi phục được ngôi vua thì thật cái công to lắm. Trịnh Lệ công khen phải, lại bảo Sư Thúc rằng: - Vương tử Đồi nhu nhược không làm gì được, chỉ nhờ có quân nước Vệ giúp cho mà thôi; âu là ta sai người lấy lẽ phải mà bảo, may ra hắn biết nghĩ lại, khỏi sinh việc can qua chẳng cũng hay lắm ru! Nói xong, một mặt sai người đất Yên đón vua Huệ Vương nhà Chu về đất Lịch; còn một mặt sai người đưa thư cho Vương tử Đồi. Thư rằng: "Đột này nghe nói bề tôi chống nhau với vua, gọi là bất trung, em chống nhau với anh, là bất thuận, người mà bất trung bất thuận thì trời nào chứng. Vương tử nghe lời nói của đứa gian thần đánh đuổi Thiên tử, nếu nay biết thú tội mà đón Thiên tử về thì còn có thể giữ được phú quí. Vương tử nên mau mau mà nghĩ lại". Vương tử Đồi tiếp được thư, dùng dằng chưa quyết. Vỉ Quốc bảo Vương tử Đồi rằng: - Sự thể ngày nay khác nào như người cưỡi hổ, không thể xuống được, có lẽ nào đang làm Thiên tử mà lại xuống làm bề tôi. Đó là Trịnh hầu nói lừa ta mà thôi, quyết không nên nghe. Vương tử Đồi mới sai đuổi sứ nước Trịnh ra. Năm sau, Trịnh Lệ công cùng với Quắc công cất quân giúp Chu Huệ Vương vào đánh Vương tử Đồi. Vỉ Quốc thấy vậy, vội vàng vào cung để nói với Vương tử Đồi. Vương tử Đồi còn đang bận cho trâu ăn, chưa ra tiếp vội. Vỉ Quốc nói: - Việc nguy cấp lắm rồi! Nói xong, liền giả mệnh Vương tử Đồi sai các tướng đem quân ra đối địch. Người nhà Chu vốn không phục Vương tử Đồi, nghe tin vua Huệ Vương đến, đều mừng rỡ reo hò, tranh nhau mở cửa thành ra đón. Vỉ Quốc đang viết tờ quốc thư để định sai người sang cầu cứu nước Vệ. Thư viết chưa xong, bỗng nghe tiếng chuông trống rầm rĩ, có người báo rằng: - Chu Huệ Vương đã vào thành ngự triều rồi! Vỉ Quốc tự đâm cổ mà chết, Chúc Quị, Tử Cầm chết ở trong đám loạn quốc. Biên Bá, Thiêm Phủ bị người nhà Chu bắt đem nộp vua Huệ Vương. Vương tử Đồi chạy ra cửa Tây môn, sai Thạch Tốc đưa đàn trâu đi trước. Trâu béo nặng thịt quá, lặc lè không đi được. Thạch Tốc cũng bị người nhà Chu bắt, cùng với Biên Bá, Thiêm Phủ đều chết chém cả. Vua Huệ Vương nhà Chu lại lên nối ngôi, đem đất Hổ Lao thưởng cho nước Trịnh, và đem đất Tửu Toàn thưởng cho nước Quắc. Trịnh Lệ công và Quắc công cáo từ về nước. Trịnh Lệ công về nửa đường bị bệnh, khi về đến nước thì mất. Thế tử Tiệp lên nối ngôi, tức là Trịnh Văn công. Trần Tuyên công nghi Công tử Ngự Khấu làm phản, mới đem giết đi. Công tử Hoàn, tên tự là Kính Trọng, chơi thân với Ngự Khấu, sợ tội trốn sang nước Tề. Tề Hoàn công cho làm quan Công chính. Một hôm, Tề Hoàn công đến chơi nhà Kính Trọng uống rượu rất vui; gặp trời đã tối, Tề Hoàn công sai thắp đèn lên để uống rượu thêm cho trọn cuộc vui. Kính Trọng từ chối là chưa sửa soạn trước, không dám thắp đèn để mời rượu về đêm. Tề Hoàn công khen là người biết giữ lễ, rồi đứng dậy trở về. Lại nói chuyện Văn Khương từ khi Tề Tương công bị giết, ngày đêm lo phiền thành ra bệnh ho. Nội thị đưa người thầy thuốc nước Cử vào xem mạch, Văn Khương giữ thầy thuốc nước Cử ở trong cung uống rượu, rồi cùng nhau tư thông. Thầy thuốc nước Cử đã về nước rồi, Văn Khương lại giả cách ốm, hai lần sang nước Cử để lấy thuốc, đều trọ ở nhà thầy thuốc nước Cử. Thầy thuốc nước Cử lại tiến người khác để thay vào, mà Văn Khương càng già càng dâm, vẫn tiếc rằng không được bằng Tề Tương công thuở trước. Sau Văn Khương ốm nặng, đến lúc gần chết, bảo Lỗ Trang công rằng: - Con gái Tề Trang công năm nay đã 18 tuổi rồi, mày nên cưới ngay đi, để làm chủ trong cung, chờ đợi khi hết tang thì chậm quá, khiến cho ta ở dưới suối vàng không được yên lòng. Văn Khương lại nói: - Nước Tề nay đang làm bá chủ, mày nên cùng với Tề giao hiếu, chớ để cho hai nước thất hòa. Văn Khương nói xong thì chết. Lỗ Trang công toan theo lời Văn Khương, bàn việc xin cưới ngay. Quan Đại phu là Tào Uế nói: - Nay Chúa công hiện đang đại tang, chưa nên bàn việc hôn nhân vội, xin đợi cho hết ba năm rồi sẽ nói đến. Lỗ Trang công nói: - Mẹ ta trong khi lâm chung, có dặn lại như vậy, bây giờ cưới ngay thì khí vội, mà chờ cho hết tang ba năm thì lại chậm quá, nên để hết một năm là vừa. Tề Hoàn công thấy Lỗ Trang công còn đang có tang, cũng xin hoãn việc cưới. Đến năm hết tang, Lỗ Trang công đã 37 tuổi, mới cưới con gái nước Tề về lập làm phu nhân, tức là Ai Khương. Từ bấy giờ Lỗ cùng với Tề lại càng thân thiết nhau lắm. Tề Hoàn công đem quân đi đánh nước Từ và nước Nhung. Nước Từ và nước Nhung cũng đều phải thần phục nước Tề cả. Trịnh Văn công thấy thế lực nước Tề mỗi ngày một lớn, sợ nước Tề xâm lấn, mới sai sứ sang xin hòa.

Quay về bài gốc

0SHARES
 
Chia sẻ bài viết

Những người đang xem chủ đề này

Xu hướng nội dung

Back