Bạn được Sunkii mời tham gia diễn đàn viết bài kiếm tiền VNO, bấm vào đây để đăng ký.
33 ❤︎ Bài viết: 19 Tìm chủ đề
3861 12
1. Nguyễn Hoàng (Chúa Tiên) (1558-1613)

2. Nguyễn Phúc Nguyên (Chúa Sãi) (1613-1635)

3. Nguyễn Phúc Lan (Chúa Thượng) (1635-1648)

4. Nguyễn Phúc Tần (Chúa Hiền) (1648-1687)

5. Nguyễn Phúc Thái (Chúa Nghĩa) (1687-1691)

6. Nguyễn Phúc Chu (Quốc Chúa) (1691-1725)

7. Nguyễn Phúc Thụ (Chúa Ninh) (1725-1739)

8. Nguyễn Phúc Khoát (Chúa Vũ) (1739-1765)

9. Nguyễn Phúc Thuần (Chúa Định) (1765-1777)
 
Chỉnh sửa cuối:
33 ❤︎ Bài viết: 19 Tìm chủ đề
..

Khi kể về cuộc đời của các chúa, không thể không nhắc đến người mà nhà Nguyễn tôn là Triệu Tổ Tĩnh Hoàng Đế. Theo Đại Nam Quốc sử cũng như theo Nguyễn Phúc tộc thế phả thì thân sinh của Nguyễn Uông và Nguyễn Hoàng tên là Nguyễn Kim.

Nguyễn Kim là con trai của Trừng Quôc công Nguyễn Văn Lựu, một vị quan trong thời nhà Hậu Lê. Nguyễn Kim sinh năm Mậu Tý (1468), lúc còn thơ ấu đã có những biểu hiện thông minh khác thường, lớn lên tài kiêm văn võ. Đời Lê Chiêu Tông (1516-1524) ông được vua Lê ban tước An Thanh hầu chức Tả vệ điện tiền tướng quân, trấn nhậm tỉnh Thanh Ba.

Năm Đinh Hợi (1527) Mạc Đăng Dung giết Cung Hoàng cùng một số quan lại của vua Lê, tự xưng làm vua, mở ra triều đại nhà Mạc. Được tin Mạc Đăng Dung tiếm vị, Nguyễn Kim đang trấn thủ ở Thanh Ba vội dẫn binh tướng, tùy tùng chạy sang Ailao. Ở đây, ông chiêu mộ nghĩa binh mưu khôi phụ nhà Lê. Khi thực lực đã mạnh, ông dẫn binh về đánh họ Mạc. Vì quân ít nên thất bại, ông lại cùng thuộc hạ chạy trốn sang Ailao một lần nữa. Để danh chính ngôn thuận, năm Quý Tỵ (1533), ông cùng một số cựu thần nhà Lê tôn Lê Ninh, con vua Chiêu Tông lên ngôi lấy hiệu là Lê Trang Tông. Từ đó hào kiệt khắp nơi theo về ngày càng đông. Lê Trang Tông biến tỉnh Thanh Ba thành căng cứ địa, chiêu tập binh mã chờ ngày khôi phục.

Mùa xuân năm Quý Mão (1543), từ Thanh Hoa, vua Lê Trang Tông tiến quân ra Bắc, đồng thời cho người sang Ailao gọi ông về để điều khiển binh tướng, tổng chỉ huy toàn bộ thủy lục quân. Ông được vua Lên phong chức Thái Tể Đô Tướng Tiết Chế tướng sĩ chư dinh thủy bộ. Với chức vụ này, ông tỏ ra là một vị tướng tài, quân của ông tiến đâu thắng đó, thế mạnh như chẻ tre; binh tướng của nhà Mạc phải rút lui dần để cố thủ.

Năm Ất Tỵ (1545), ông tâu vua cho tiến binh ra lấy Đông Đô, nhưng ngày xuất phát lại gặp lụt lớn nên phải đình lại, bộ tham mưu của ông phải quay về Thanh Hóa. Tháng 5 năm này ông bị hàng tướng sĩ của nhà Mạc là Dương Chấp Nhất đánh thuốc độc ám hại chết. Ông mất ngày 20 tháng 5 năm Ất Tý (1545), khi sự khôi phục kinh đô Thăng Long đang ở trong tầm tay. Việc ông mất đột ngột làm cho vua Lê Trang Tông sững sờ, vô cùng thương tiếc. Ông được truy tặng tước Chiêu Huân Tổng Công, tên thụy là Tung Hiếu. Mộ ộng táng tại núi Thiên Tôn, huyện Tống Sơn, tỉnh Thanh Hóa. Người xưa kể rằng; khi đưa linh cửu ông hạ huyệt thì trời bỗng nỗi cơn sấm chớp đùng đùng, rồi mưa to gió lớn kéo dài rất lâu, mọi người sợ hãi chạy trốn tìm nơi ẩn núp. Khi trời quang mây tạnh, trời trở lại như cũ thì không còn thấy dấu vết nơi an táng đâu cả, cây cối vẫn xanh tươi, ai cũng cho là chuyện lạ, đến nay vẫn không biết mộ ông ở đâu.


Lúc sinh thời ông có 3 vợ nhưng chỉ sinh được 3 người con: 2 trai là Nguyễn Uông và Nguyễn Hoàng cùng một gái là Nguyễn Thị Ngọc Bảo về sau gả cho Trịnh Kiểm
 
Chỉnh sửa cuối:
33 ❤︎ Bài viết: 19 Tìm chủ đề
Nguyễn Hoàng (Chúa Tiên) (1558-1613) [1]

Con người chí lớn

Nguyễn Hoàng là con trai út của Nguyễn Kim và bà Nguyễn Thị Mai. Ông là em của Nguyễn Uông và Nguyễn Thị Ngọc Bảo. Theo gia phả thì ông sinh nhằm ngày 10 tháng 6 năm Ất Dậu (1525). Ngay từ ngày còn bé, ông đã được giao cho chú ruột Nguyễn Ư Kỹ nuôi dạy. Theo Đại Nam thực lục thì ông là người có tướng tố "vai lân, lưng hổ, mắt phượng, trán rồng" đúng là người phi thường. Về tính tình thì khẳng khái, buồn vui ít lộ ra mặt, làm việc gì cũng nghiêm cẩn. Lúc thân phụ chạy sang Ailao, ông vẫn ở với chú ăn học. Ông vốn thông minh, mẫn tiệp, học rộng biết nhiều, văn võ tinh thông. Khi thân phụ được vua Lê Trang Tông mời về giao cho giữ binh quyền, ông xin chú theo cha lập công. Ông được binh sĩ tướng tá dưới quyền tin phục và mến mộ nên đã gặt hái được nhiều công trạng trong công cuộc "diệt Mạc phục Lê". Tuy còn thanh niên nhưng ông tỏ ra là một người có chí lớn.

Những ngày ẩn nhẫn

Năm Ất Tỵ (1545), thân phụ ông bị Dương Chấp Nhất ám hại, binh quyền lọt vào tay anh rể là Trịnh Kiểm. Trịnh Kiểm là một người nham hiểm, ngoài mặt thì lúc nào cũng tỏ ra quý mến anh em ông nhưng bên trong thì rất căm ghét, nhất là Nguyễn Uông. Sự thật thì binh quyền lúc đó trong tay Uyển Uông lẫn Trịnh Kiểm. Nguyễn Uông vốn được lòng binh sĩ hơn, lại là con của Nguyễn Kim nên được vua Lê nể, chính vì thế mà Trịnh Kiểm ghen ghét tìm mọi cách để hại Nguyễn Uông, thâu tóm toàn bộ binh quyền vào tay mình.

Để thực hiện mưu đồ đó, Trịnh Kiểm gây bè kết phái, gây mâu thuẫn trong nội bộ quân Nguyễn Uông và sau đó hại Nguyễn Uông chết. Sau khi Nguyễn Uông chết, Trịnh Kiểm bắt đầu củng cố địa vị, đưa tay chân của mình vào nắm giữ những công việc then chốt.

Khi đã biết chắc không một ai làm gì được, Trịnh Kiểm bắt đầu có những biểu hiện chuyên quyền. Nguyễn Hoàng bây giờ là cái gai trước mắt, Trịnh Kiểm tìm mọi cách để hãm hại nhưng chưa có dịp; vợ Trịnh Kiểm là Ngọc Bảo cũng biết nên thường xa gần nói với chồng để che chở con em, đồng thời nhắc nhở em tìm mọi cách để tránh cặp mắt dòm ngó của Trịnh Kiểm. Lúc bấy giờ, ông đang giữ chức Thái bảo, tước Đoan Quốc Công, mà Trịnh Kiểm thì lúc nào cũng để ý đến ông, ông suy nghĩ mãi vẫn không tìm được kế gì để thoát thân.

Một hôm, ông đến thăm chú là Thái phó Nguyễn Ư Kỹ, cho chú biết dã tâm của Trịnh Kiểm. Thái phó mới bảo với ông rằng: "Kiểm đã hại anh cháu, bây giờ đang tìm cách hại cháu để dứt hậu họa, vậy nên cháu hãy mau mau tránh xa. Đất Thuận Hóa vốn là chốn xa xôi hiểm trở, có thể giữ yên được thân mình, cháu nhờ chị cháu nói với Trịnh Kiểm cho khéo để xin vào trấn nhậm đất đó, mới có thể mưu đồ việc lớn về sau". Nghe chú nói thế Nguyễn Hoàng rất mừng nhưng vẫn không để lộ ra mặt.


Nhân ngày đầu năm, vào thăm chị, rồi khi không có Trịnh Kiểm, ông xin chị giúp mình để bảo tồn nòi giống về sau. Ngọc Bảo khóc và hứa sẽ tìm cách để xin cho ông và đó. Được chị hứa giúp, ông trở về bí mật chuẩn bị. Ông nghe nói có Nguyễn Bỉnh Khiêm là người tài giỏi có thể hiểu được việc quá khứ vị lai, tôn xưng là Trạng Trình. Ông bí mật đến xin vẫn kế và đoán giúp vận mệnh của mình. Gặp được Trạng Trình nhưng hai bên chẳng nói gì nhiều. Về sau ông khẩn khoản xin Trạng Trình cho biết tương lai của mình ra sao và cho biết hoàn cảnh mình đang ở trong cảnh ngàn cân treo sợi tóc. Cảm tấm lòng thành và thương cho hoàn cảnh của của ông, Trạng Trình lấy giấy viết cho ông 8 chữ: "Hoành Sơn nhất đái, vạn đại dung thân" (Một giải hoành sơn có thể dung thân suốt đời). Hiểu thâm ý của câu sấm, cũng như thấy ý của câu sấm trùng hợp với với lời dạy của chú nên ông rất mừng. Riêng Trịnh Kiểm vốn đa nghi, song nghe Ngọc Bảo xin cho Nguyễn Hoàng vào trấn nhậm Thuận Hóa thì nghĩ rằng Thuận Hóa là vùng đất mới thuần còn lam sơn chướng khí, lại thêm ở đó còn có quan quân của họ Mạc đang đóng, nghĩ rằng Hoàng chẳng làm gì được, lại muốn mượn tay họ Mạc giết Nguyễn Hoàng để tránh tiếng cho mình, nên đồng ý và tâu lên vua Lê xin cho ông vào trấn thủ Thuận Hóa.
 
Chỉnh sửa cuối:
33 ❤︎ Bài viết: 19 Tìm chủ đề
Nguyễn Hoàng (Chúa Tiên) (1558-1613) [2]

Thoát khỏi lao lung

Đầu năm Mậu Ngọ (1558) Nguyễn Hoàng dẫn con em và những người thân tín lên đường vào Thuận Hóa. Vừa đi vừa sợ nên ông ngày đêm cướp đường đi gấp, sợ Trịnh Kiểm đổi ý cho quan quân theo bắt. Cuộc hành trình vào Nam của ông và tùy tùng thật là gian lao vất vả. Vài ngày sau ông đến Ái Tử, huyện Đăng Xương (Đương Xương còn có tên là Vũ Xương nay là huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị). Vừa đến nơi, theo như người xưa kể lại, thì dân Ái Tử đem đến tặng ông và đoàn tùy tùng 7 ghè nước trong. Chú ông_ tức Thái phó Uy Quốc Công Nguyễn Ư Kỹ bảo với ông rằng: "Trời đã ban cho tất có điềm tước, nay cháu vừa mới đến mà dân đã đem biếu nước tức là điềm được nước đó". Nguyễn Hoàng rất mừng, ông vỗ về quân dân và quyết định lập dinh tại Ái Tử_ Tại đây Nguyễn Hoàng bắt đầu mở một chiến dịch thu phục lòng người, ban bố hiệu lệnh nghiêm minh, ra thông báo chiêu hiền đãi sĩ, bước đầu giảm sưu thuế cho dân, nên toàn dân khắp vùng rất mến mộ, những bậc hiền tài tìm đến giúp rất đông, Ái Tử trở thành một nơi đô hội, dân sống ấm nó hạnh phúc, xưng tụng ông là Chúa Tiên. Sau những tháng ngày lao đao vất vả, sống trong cảnh lo âu hãi hùng, giờ đây Nguyễn Hoàng như con rồng đủ vây cánh đã thoát khỏi lao lung, bay vút lên trời xanh, lộ diện một con người phi thường, có công rất lớn trong việc mở mang bờ cõi ở đàng Trong.

Những ngày xây dựng

Sau một thời gian đóng cơ dinh tại Ái Tử, thấy vùng này chật hẹp, trống trãi nên năm Canh Ngọ (1570) Chúa Tiên mới dời dinh đến làng Trà Bát cũng thuộc huyện Vũ Xương- Dinh mới ở Trà Bát cũng thuộc huyện Vũ với dinh Ái Tử. Cũng vào năm này, Chúa Tiên được vua Lê phong làm Tổng Trấn tướng quân kiêm nhiệm hai xứ Thuận-Quảng. Nhận được sắc phong, Chúa Tiên càng ra sức củng cố lực lượng, lập đồn trại ở những nơi hiểm yếu để phòng giữ, mở mang các trục lộ giao thông, đặt các dịch trạm để tiện việc liên lạc và đi lại. Ông cho tổ chức lại quân đội, tuyển mộ binh sĩ và huấn luyện kỹ càng, nhờ vậy ông có một đội quân hùng hậu. Để tăng thêm của cải vật chất, ông thi hành chính sách khai hoang phục hóa, đưa dân đi lập những ấp mới, cung cấp lương thực thực phẩm cho họ trong những năm đầu, đông thời cho miễn thuế trong một thời gian. Nhờ vậy diện tích canh tác tăng nhanh, lúa gạo dồi dào; ông lại khuyến khích trao đổi vật phẩm giữa các miền, nhờ thế một vài nơi đã trở nên trù phú hơn trước.

Năm Nhâm Thâm (1572), theo "Đại Nam thực lục tiền biên", Lập Bạo một bộ tướng của nhà Mạc đem 60 chiến thuyền có trang bị đầy đủ theo đường biển tiến vào đánh Thuận Hóa, Lập Bạo định dùng thế gọng kìm, diệt xong chúa Tiên sẽ tiến ra Bắc tấn công nhà Lê Tung Hưng. Quân Lập Bạo vào cửa Việt tiến vào sông Vĩnh Định và chiếm toàn bộ vùng Hồ Xá thuộc huyện Vĩnh Linh, tấn công quân Chúa Tiên. Đây là trận đánh đầu tiên sau mười mấy năm trân nhậm Thuận Hóa. Quân hai bên đánh nhau rất ác liệt, quân của chúa tuy ít nhưng chiến đấu rất dũng cảm. Vì thế sau nhiều lần ác chiến vẫn bất phân thắng bại. Hai bên đắp đồn đắp lũy đối diện trù tính chiến đấu lâu dài. Tương truyền rằng một bửa nọ Chúa Tiên đi thị sát mặt trận dàn trên phòng tuyến sông Vĩnh Định, thì nghe có tiếng "Trảo trảo" rất lớn rồi sóng to gió lớn nổi lên ầm ầm. Nguyễn Hoàng mới quỳ xuống mà khấn rằng: "Nếu trời giúp cho tôi làm nên sự nghiệp lớn thì xin hãy sai thần sông theo giúp". Đêm đó, Nguyễn Hoàng nằm mộng thấy một nữ thần mặt đẹp như hoa, mắt sáng như sao vẫy chúa mà bảo rằng: "Ta là thần sông Vĩnh Định đây, cảm tấm lòng thành nhà ngươi nên đến giúp. Ngươi muốn thắng Lập Bạo thì chỉ dùng mỹ nhân kế mà thôi". Nói xong vẫy tay áo biến mất. Chúa định hỏi nhưng vừa bước theo thì vấp ngã và giật mình tỉnh dậy mới biết là chiêm bao. Rạng sáng vua họp các mưu sĩ và cho biết giấc mộng. Một mưu sĩ của chúa đứng dậy vái chúa một vái rồi nói rằng:"Chúa đã được thần nhân báo mộng chắc là thắng được giặc. Vả lại mấy lâu nay tôi cho người dò thám trại giặc thì biết Lập Bạo vốn là đứa háo sắc. Vậy nên ta dùng mỹ nhân kế chắc là thành công. Nhưng chỉ hiềm một nỗi nơi trại quân này lấy đâu ra người đẹp để thực hiện kế ấy? Trong khi mọi người đang bàn bạc thì có thị tỳ họ Ngô đem nước vào dâng cho Chúa. Nhan sắc Ngô thị quả thật đẹp, hoa nhường nguyệt thẹn, ai cũng tấm tắc khen. Chúa rất mừng truyền Ngô thị ở lai rồi dặn dò các việc; dùng nàng làm kế mỹ nhân để dụ Lập Bạo. Về phần Lập Bạo, ỷ mình binh nhiều, nghĩ rằng trước sau gì cũng thắng nên đóng quân lại suốt ngày chè chén hát ca. Đã thế lại có sứ giả của Nguyễn Hoàng xin vào yết kiến với đề nghị giảng hòa để giữ hòa hiếu. Lập Bạo thấy thế càng kêu căng hơn nữa lại không đề phòng gì cả. Vài hôm sau chúa lại sai một phái đoàn đến, mang theo nhiều lễ vật quý hiếm, lại sai Ngô thị trang điểm thật đẹp bưng lễ vật cùng với đoàn sứ giả đến ra mắt Lập Bạo. Lập Bạo thấy lễ vật quá hậu ngỡ rằng Nguyễn Hoàng sợ mình, liếc mắt thấy Ngô thị là một trang tuyệt thế giai nhân nên trong lòng rất sảng khoái. Ngô thị biết ý lại càng liếc mắt đưa tình, Lập Bạo miệng thì ừ hử nhưng mắt không rời Ngô thị. Khi phái đoàn cáo từ ra về, Lập Bạo bị sắc đẹp của Ngô thị chinh phục, như một cái máy đứng dậy đi theo để tiễn. Lúc này Lập Bạo chẳng còn biết gì ngoài Ngô thị nên cứ như người bị bùa mà theo chân Ngô thị rời xa doanh trại của mình. Trên đường về, Chúa đã bí mật cho quân mai phục. Lập Bạo lọt vào ổ mai phục, biết mình trúng kế, nhanh như cắt lao xuống sông Vĩnh Định lặn một hơi tẩu thoát. Lập Bạo vốn là thủy tướng nên bơi lộ và lặn rất giỏi. Thuyền của Chúa theo sát nút, tuy thế nhưng vẫn không thể bắt được Lập Bạo. Nhiều lần Lập Bạo thoát chết nhưng có lẽ số Lập Bạo đã hết nên mỗi lần Lập Bạo ngóc lê để bơi chỗ nào thì y như trên đầu y có con chim bói cá bay đến, nhờ thế quan quân chúa Nguyễn mới theo sát được. Túng thế, Lập Bạo lặn một hơi thật sâu đến cuối sông Vĩnh Định nổi lên, thì thấy y đã chết rồi. Doanh trại của Lập Bạo thấy chủ tướng bị bắt, kẻ chạy thoát thân kẻ thì xin hàng. Trừ xong Lập Bạo, thanh thế của chúa Tiên ngày càng lừng lẫy. Để nhớ ơn nữ thần sông Vĩnh Định đã giúp mình, chúa cho lập một ngôi miếu sát bên sông Vĩnh Định để thờ bà, gọi là miếu Trảo trảo phu nhân, quanh năm hương khói thờ phụng.

Năm 1573 tức là năm Quý Dậu, Lê Trang Tông băng hà, Lê Thế Tông lên ngôi, sai người và Thuận Hóa sắc phong cho chúa chức Thái phó.

Để xây dựng cơ nghiệp dài lâu, chúa cho xây dựng dinh mới tại Trà Bát, thành quách hào lũy kiên cố. Chúa thi thành một chính sách cai trị mềm mỏng, rộng rãi, lấy đức độ để phủ dụ, nên dân cũng cảm hóa mà theo; Chúa chú trọng đến nông nghiệp, khuyến khích việc khai hoang, việc phục hóa; bên cạnh đó về thương mại cũng được phát triển mau lẹ. Chỉ sau hơn mười năm vào trấn nhậm ở Thuận Hóa, mà nhân dân ở đây đã có một đời sống vô cùng sung túc, trên chợ dưới thuyền, đông đúc, tấp nập, sản vật dồi dào dư thừa, các tệ nạn trộm cắp, cướp giật hầu như không có, thật là cảnh thái bình thịnh trị. Xứ Thuận Quảng đã thay đổi bộ mặt, từ một vùng lam chướng đã trở nên một nơi đô hội như lời các nhà truyền giáo tây phương kể lại. Không những việc buôn bán trong nước phát đạt, mà thuyền buôn của các nước Tây phương cũng đi về tấp nập đông đúc.
 
Chỉnh sửa cuối:
33 ❤︎ Bài viết: 19 Tìm chủ đề
Nguyễn Hoàng (Chúa Tiên) (1558-1613) [3]

Trở lại đất Bắc

Ở đàng Ngoài, Trịnh Kiểm mất, con là Trịnh Tùng nối ngôi chúa. Họ Trịnh bây giờ nắm hết quyền uy trong nước. Vua Lê đã bắt đầu mất dần quyền bính. Nhất nhất việc gì cũng do họ Trịnh định đoạt cả rồi mới tâu lên vua rõ. Khi lên thay Trịnh Kiểm, Trịnh Tùng tiến quân ra lấy Thăng Long, đưa vua Lê về rồi thừa thắng đuổi theo tàn quân họ Mạc lên Cao Bằng. Với chiến công này, Trịnh Tùng càng vênh vang tự đắc và càng coi vua không ra gì. Được tin vua Lê trở về khinh đô cũ, Nguyễn Hoàng đem quân ra yết kiến. Chúa được vua Lê phong Tung quân đô đốc phủ, tả đô đốc chương phủ sự, Thái úy Đoan quận công và bắt ở lại kinh đô để lo quốc chính. Trong suốt 8 năm sống trên đất Bắc, Chúa thường đem quân đánh họ Mạc lập được nhiều công trạng.

Năm Kỷ Hợi (1599), vua Lê Thế Tông băng hà, vua Kính Tông lên nối ngôi phong Chúa chức Hữu thừa tướng. Tuy được trọng vọng ở kinh đô, nhưng nghĩ lại âm mưu của họ Trịnh trước đây, Chúa vẫn nơm nớp lo sợ, ngày đêm mong thoát khỏi nanh vuốt của họ Trịnh. Trịnh Tùng tuy gọi ông bằng cậu nhưng lại không muốn "thả hổ về rừng" nên lần nữ tìm cách bắt ông ở lại kinh đô, giam lỏng ở đấy.


Thoát cũi sổ lồng

Năm canh tý (1600) nhân có bọn Phan Ngạn và Bùi Văn Khuê khởi loạn ở đàng Trong, ông tâu xin với vua Lê cùng Trịnh Tùng cho ông đem quân vào phủ dụ. Để Trịnh Tùng khỏi nghi ngờ, ông phải để con là Nguyễn Hải và cháu là Nguyễn Hắc ở lại làm con tin. Nghĩ rằng Hoàng khó mà phản được, lại thêm với bọn phản loạn ở đàng Trong ngoài Nguyễn Hoàng không ai đánh dẹp được nên ông huy toàn bộ binh tướng thuộc hạ dưới quyền nhắm Thuận Hóa tiến phát. Cũng như lần trước cuộc hành quân thật gian nan vất vả vì ông hiểu rằng cách xa đất Bắc được chừng nào thì tính mạng càng an toàn chừng đó, nên bất kể ngày đêm ông cho quân cướp đường tiếp bước, mãi cho đến khi đặt chân đến Ái Tử ông mới thở phào nhẹ nhõm, phủ dụ xong bọn Phan Ngạn, ông chú tâm kiện toàn và cũng cố đất đai mới. Một mặt cho người dò sông dò núi để vẽ họa đồ nơi hiểm yếu, một mặt vẫn tiếp tục chính sách di dân lập ấp, khai hoang phục hóa. Với ý đồ ấp ủ bấy lâu là tách khỏi miền Bắc, nên chúa thường đi đây đi đó để xem phong thổ, tìm đóng đô lâu dài. Tương truyền rằng, một ngày nọ ông và tùy tùng đi vào một địa phận xã Hà Khê, nay là làng An Ninh, huyện Hương Trà, Thừa Thiên thấy một gò cao, trông xa giống như một đầu con rồng đang ngoái đầu nhìn lại, phía trước mặt là một con sông xanh biếc nước trong leo lẻo, phía sau gò là hồ rộng được thông với một con sông nhỏ. Cảnh trí quá đẹp, cho nên chúa và đoàn tì tùng dừng chân nghỉ đồng thời cho gọi dân địa phương đến hỏi han. Chúa được dân làng cho biết, cách đây ít lâu, mỗi khi đi qua gò đồi này, mọi người đều sẽ gặp một bà già đầu tóc bạc phơ, mình mặc áo đỏ vận quần xanh và nói với họ rằng chẳng bao lâu nữa sẽ có một vị chân chúa đi ngang qua đây và sẽ xây ở trên đỉnh gò này một ngôi chùa tụ long khí, bền long mạch. Vừa rồi ai cũng thấy bà già ấy báo mộng mau mau đi đón vị chân chúa. Sáng nay thức dậy thấy hóa thơm sực nức không biết là vì sao. Nghe dân làng kể lại, chúa rất mừng nên cho lệnh xây dựng một ngôi chùa thật đẹp. Để ghi nhớ điềm mộng này chúa đã đặt tên chùa là Thiên Mụ nghĩa là Bà Già Trời. Chùa được xây xong, Chúa tổ chức lễ khánh thành rất trọng thể, nhân dân được vui chơi mấy ngày trời.

Dưới thời chúa trị vì nhân dân Đàng Trong đã sống một cuộc đời rất ấm no và thanh bình. Chỉ có một cuộc đánh nhau ở phía Nam là vào năm Tân Hợi 1611, quân Chiêm Thành từ Đồ Bàn kéo ra xâm phạm Thuận Quảng. Chúa sai tướng đem quân đánh dẹp đẩy quân Chiêm vào tận Diên Ninh, chiếm lấy đất rồi lập thành phủ Phú Yên. Đây cũng là bước đầu chúa Tiên mở rộng bờ cõi Việt Nam vào phía Nam.

Ngày 3 tháng 6 năm Quí Sửu (1613) Chúa lâm bệnh, sai gọi thế tử Nguyên về dặn dò xong việc nhà việc nước thì Chúa băng hà, thọ 89 tuổi.

Lúc đầu mộ Chúa táng tại Thạch Hãn, sau cải táng ở vùng núi La Khê thuộc huyện Hương Trà.

Có thể nói, Chúa Tiên là vị chúa đầu tiên khai sáng ra triều đại nhà Nguyễn sau này.
 
33 ❤︎ Bài viết: 19 Tìm chủ đề
Nguyễn Phúc Nguyên (Chúa Sãi) (1613-1635) [1]

Chữ "Phúc"

Năm Quí Sửu (1613), Chúa Tiên tuổi già sức yếu, biết mình không còn sống bao lâu nữa mới triệu thế tử Nguyên, người con thứ sáu của Ngài, hiện đang trấn thủ tại Quảng Nam về và gọi đến bên giường dạy rằng: "Làm con phải hiếu, làm tôi phải trung, anh em phải thương yêu nhau, con mà giữ được lời dặn đó thì ta nhắm mắt cũng không ân hận gì", lại bảo: "Đất Thuận Quảng này, địa linh nhân kiện, phía Bắc có Hoành Sơn và Linh Giang, địa thế hiểm trở; phía Nam có Hải Vân Sơn và Thạch Bi Sơn bền vững. Phía Đông có biển rộn mênh mông. Núi nhiều sản vật muông thú quý hiếm, biển lắm cá tôm, thật chính là đất để con người dụng võ. Nếu muốn làm nên sự nghiệp lớn, rạng rỡ tổ tông, phải biết dạy dân, biết thương yêu dân, chăm lo và luyện sĩ tốt, có như thế mới chống được họ Trịnh, xây dựng sự nghiệp muôn đời. Nếu thế và lực mình còn yếu thì nên ẩn nhẫn chờ thời cơ thuận lợi, không nên vọng động, nên hớ lấy lời dặn của ta". Thế tử Nguyên khóc dập đầu bái lạy vâng mệnh. Ngày 3 tháng 6 năm đó Chúa băng hà, thế tử Nguyên lên kế vị, lúc đó thế tử đã 51 tuổi, quần thần tôn xưng là Sãi Vương.

Theo sử sách ghi lại, thì trước khi Chúa Sãi ra đời có nhiều điềm lạ báo trước. Tương truyền rằng lúc mẹ ngài có thai, chiêm bao thấy thần nhân đưa cho một tờ giấy trên đó đề chữ "Phúc" ứng với mộng bà được cho chữ "Phúc". Bà ngẫm nghĩ một lúc rồi rằng nếu chỉ đặt tên "Phúc" cho đứa bé thì chỉ một mình nó hưởng, để cho nhiều người trong dòng họ được phúc bà đề nghị lấy chữ này là chữ lót. Và khi thế tử ra đời thì bà đặt tên là Nguyễn Phúc Nguyên. Và họ Nguyễn từ đó về sau đều lấy chữ Phúc làm chữ lót là như thế. Cho nên năm Quí Hợi (1563) là năm khởi đầu của chữ Phúc trong dòng họ Nguyễn tộc.


Sửa sang nội trị, tuyển chọn nhân tài.

Lên ngôi Chúa xong, thấy dinh chúa cũ đóng ở Vũ Xương chật hẹp, địa thế lại trống trải, nên Chúa Sãi truyền lệnh dời vào xã Phước Yên, huyện Quảng Điền lập dinh mới. Dinh mới xây dựng xong thật kiên cố bề thế, thành cao, hào sâu, bên trong bố trí rất hợp lý, nếu có giặc tấn công cũng có thể phòng thủ một thời gian dài. Về mặt nội trị, Chúa Sãi vẫn tiếp tục đường lối của Chúa Tiên để lại, dùng đức để vỗ về dân chúng, chiêu hiền đãi sĩ, tiếng lành đồn xa, những bậc hào kiệt khắp nơi đều tìm về với chúa. Chúa còn ra lệnh cho các quan lại phải tiến cử người hiền và xem đó là một tiêu chuẩn để đánh giá khả năng và sự hiểu biết của các quan. Nhờ chính sách này mà Chúa Sãi đã gặp được một nhân tài kiệt xuất đương thời là Đào Duy Từ.

Theo sử sách ghi lại thì Đào Duy Từ vốn là con nhà xướng ca, mà đã là con nhà xướng ca thì dầu có giỏi đến đâu thì cũng không được đi thi để ra làm quan. Cũng chính vì luật lệ vô lý đó mà Đào Duy Từ ở Đàng Ngoài không được đi thi. Phần thì bực tức, phần thì buồn vì không được diệp để thi thố tài năng, nhân được nghe ở Đàng Trong các Chúa trọng đãi người hiền bất kể là thành phần giai cấp nên Đào Duy Từ lên đường vào Nam.

Khi vào Nam, để tìm kế sinh nhai, Đào Duy Từ đã chăn trâu cho quan khám lý Trần Đức Hòa. Tác phong và hành trạng của Đào Duy Từ đã làm cho Trần Đức Hòa chú ý. Sau nhiều lần thử tài, Trần Đức Hòa biết Đào Duy Từ là một bậc kỳ tài cho nên ông nhận làm con. Đào Duy Từ thường ví mình với Khổng Minh, ông có là tập Ngọa Long Cương để nói lên cái chí của mình. Trần Đức Hòa quyết định tiến cử Đào Duy Từ cho Chúa. Trước đó TRần Đức Hòa đã đến phủ Chúa để ca tụng bài kinh bang tế thế của Đào Duy Từ với Chúa, Chúa rất bằng lòng và hẹn ngày tiếp kiến.

Được Chúa nhận lời, Trần Đức Hòa vui sướng về báo cho Đào Duy Từ biết và sắm sửa mọi thứ để Đào Duy Từ diện kiến Chúa.
 
33 ❤︎ Bài viết: 19 Tìm chủ đề
Nguyễn Phúc Nguyên (Chúa Sãi) (1613-1635) [2]

Chúa Sáng Gặp Tôi Tài

Đúng ngày hẹn với Chúa, quan khám lý Trần Đức Hòa sắm sửa áo xiêm mũ mão cho Đào, Đào Duy Từ từ chối không chịu mặc và đội mũ mão do Đức Hòa sắm cho, ông bảo:

- Thưa cha, con vốn chỉ là một người dân thường chưa có chức tước gì cho nên không dám mạo phạm mang áo đội mão.

Mặc cho quan khám lý nói, Đào Duy Từ mặc đồ thường để đầu trần vào dinh Chúa để diện kiến.

Chúa Sãi cũng đã được báo trước nên ra ngồi sẵn ở nội điện chờ cha con quan khám lý. Chúa cũng tìm cách để thử tài Đào Duy Từ. Hôm đó, Chúa mặc áo trắng, đi hia xanh, tay cầm long trượng, vai mang túi vải, ngồi vào ghế giữa điện để chờ Từ. Khi biết cha con Từ vào, Chúa đứng dậy, tay chống long trượng, vai mang túi vải ra cửa đón. Đào Duy Từ vừa bước vào ngước mặt nhìn lên thấy một người mặt mày phương phi, oai vệ, mắt sáng, mặt tươi đang nhìn mình. Từ mới quay lại hỏi cha:

- Thưa cha, người đang đứng trên bục cửa là ai thế?

Quan khám lý đáp rất khẽ vào tai Từ:

- Đó là Vương thượng, con mau cúi xuống lạy chào đi.

Đào Duy Từ nghe cha nói thế chỉ nhếch mép cười, rồi bỗng nhiên quay gót trở ra. Quan khám lý thấy vậy chạy theo níu áo Từ lại và quở rằng:

- Chúa thượng nghe cha tâu, rất trọng con mới ngự ra để đón, sao con lại có cử chỉ vô lễ thế?

Đào Duy Từ lễ phép đáp:

- Thưa cha, người mà cha nói đúng là Chúa thượng rồi, nhưng cách phục sức của chúa hôm nay không phải là để đón một hiền tài, mà đây là cách phục chức của người sắp đi dạo chơi với cung tần mỹ nữ của Ngài. Nếu con đến lạy chào Ngài, vô tình con đã mang tội phạm thượng, vì chào không đúng lúc, làm mất thì giờ của Ngài, vì thế con không dám lạy chứ con có tội tình gì đâu mà cha quở mắng con?

Nghe Từ biện bạch, quan khám lý lại càng giận và to tiếng gắt mắng. Duy Từ chỉ cười chứ không chịu quay lại chào. Chúa Sãi vốn là người rất thông minh, vả lại Ngài cũng chỉ định thử tài Từ, nên khi thấy hai cha con Duy Từ cãi nhau, Chúa đã hiểu ý nên vội vã trở vào trong thay đổi y phục rồi trở ra, sai quan đem áo mũ ban cho Duy Từ và cho mời Duy Từ vào diện kiến. Vừa gặp nhau, Chúa tôi chuyện vãn thật vương đắc, khác nào cá gặp nước. Từ đó, Chúa Sãi giữ Từ bên cạnh để tham mưu cho Ngài. Đào Duy Từ đem hết sở học của mình để giúp Chúa Sãi thực hiện ý lớn.


Đọ trí với Chúa Trịnh

Dưới sự trị vì của Chúa Sãi, Đàng Trong ngày càng hùng mạnh, các nước lâng bang như Chiêm Thành, Chân Lạp đều thần phục và hàng trăm tuế cống.

Nhờ bản thân Chúa tài giỏi, biết người biết việc, nhờ chính sách chiêu hiền đãi sĩ nên dưới thời Chúa, ngoài Đào Duy Từ, còn tập trung nhiều bậc hiền tài như Phúc Kiều, Nguyễn Đình Hùng, Nguyễn Hữu Dật, Nguyễn Hữu Tiến v. V..

Việc miền Nam hùng mạnh là một nỗi lo cho các Chúa Trịnh ở Đàng Ngoài. Vì thế năm Canh Thân (1620), họ Trịnh lấy cớ nạp cống trễ đem quân quấy phá mặt Bắc. Chúa đích thân đem binh chống lại và từ đó đoạn tuyệt với Đàng Ngoài. Họ Trịnh căm giận vô cùng.

Năm Đinh Mão (1627), Trịnh Tráng lại cử quân tiến đánh phía Bắc nhưng bị thua phải kéo quân về. Đến năm Kỷ Tỵ, họ Trịnh lại muốn xâm lấn Đàng Trong. Để có cớ, họ Trịnh sai sứ vào vờ phụng chỉ vua Lê sắc phong cho Chúa. Âm mưu đó bị Đào Duy Từ phát hiện. Nhưng Đào Duy Từ khuyên Chưa cứ nhận sắc phong rồi tương kế tựu kế. Nghe lời Đào Duy Từ, Chúa chịu nhận sắc phong và hứa sẽ hàng năm tuế cống như trước. Sau khi phái đoàn sứ giả họ Trịnh về, theo lời khuyên của Đào Duy Từ, Chúa cho huấn luyện lại sĩ tốt, cho quân đóng giữ ở nơi quan yếu. Chúa còn ra lệnh cho Đào Duy Từ xây lũy Trường Dục, Nhật Lệ và Trường Sa vô cùng kiên cố, tạo thành thế vững chắc cho Đàng Trong. Sau khi thấy lực lượng của mình đã hùng hậu, theo mưu của Đào Duy Từ, năm Canh Ngọ (1630), Chúa sai làm một chiếc mâm hai đáy, trên để phẩm vật còn đáy dưới bỏ sắc phong của vua Lê. Chúa lại sai Văn Khuông làm trưởng đoàn, dẫn một phái đoàn mang phẩm vật ra Bắc tiến cống. Khi khởi hành Đào Duy Từ gọi riêng Khuông lại và dặn kế thi hành. Khuông nhận lệnh cùng phái đoàn ra đi. Đến Thăng Long, phái đoàn được vua Lê, Chúa Trịnh tiếp đón nồng hậu. Nhờ tài ăn nói, Lại Văn Khuông đã trả lời khôn khéo các câu chất vấn mang tính dò hỏi của vua Lê, Chúa Trịnh và quần thần. Để khoe sự giàu có hùng mạnh của mình, Khuông và phái đoàn được Chúa Trịnh cho đi thăm kinh đô và nơi luyện quân cùng các nơi khác. Khuông và phái đoàn ngày ngày đi thăm kinh đô cũng giả bộ như tấm tắc khen sự hùng cường của Đàng Ngoài, Chúa Trịnh rất vừa ý nên dần dần không để ý gì cả. Lợi dụng lúc Chúa Trịnh không để ý, lại được lời dặn của Đào Duy Từ, một ngày nọ Khuông giả bộ dẫn phái đoàn đi thăm kinh đô, rồi bất thần vộ vã lên thuyền trốn về Nam. Đến chiều tối không thấy Khuông về, quan phụ trách quán dịch sinh nghi mới bẩm lên với Chúa Trịnh. Chúa Trịnh nghi ngờ có điều gì mờ ám nên ra lệnh lấy tất cả các phẩm vật tuế cống để kiểm soát. Khi kiểm mới phát hiện ra chiếc mâm đồng hai đáy. Chúa Trịnh tức giận cho phá chiếc mâm thì thấy bên trong là một tờ sắc phong của vua Lê và một bài thơ như sau:


Mâu nhi vô địch

Mịch phi kiến tích

Ái lạc tâm trường

Lực lai tương địch.

Chúa Trịnh cùng cả triều thần chuyền nhau đọc bài thơ nhưng chẳng ai hiểu bài thơ ý gì cả. Cuối cùng Chúa Trịnh phải mời Phùng Khắc Khoan, biệt hiệu là Trạng Bùng đến để đọc và giải.

Đọc xong 4 câu thơ, Phùng Khắc Khoan mới tâu với chúa:

- Bẩm, bốn câu thơ này chẳng có ý nghĩa gì hết, chẳng qua đây là một lối chơi chữ phân tích của Đào Duy Từ mà thôi.

Chúa hỏi: Thế thì 4 câu này và cái sắc phong kia có liên hệ gì?

Phùng Khắc Khoan đáp:

- Bẩm, thần xin phép được giải thích từng câu để Chúa rõ:

Thế rồi Phùng liền giải thích như sau.


Câu đầu: Mâu nhi vô địch

"Mâu" là chữ Mâu; "địch" là dấu phẩy, dấu móc. Vậy câu này là: Chữ mâu mà không có cái móc tức là chữ "" có nghĩa là tôi, ta.

Câu 2 : Mị phi kiến tích

Chữ "Mịch" trên chữ "bất", dưới chữ "kiến". Như vậy, nếu chữ "mịch" mà bay mất dấu vết của chữ "kiến" thì còn lại chữ "Bất"

Câu 3: Ái lạc tâm trường

Chữ "ái" có chữ "tâm" ở giữa, nếu để lạc mất chữ "tâm" trong lòng đi (tâm trường) thì còn lại chữ "thụ"

Còn câu 4: Lực lai tương địch.

Chữ "lực" cùng đối chọi với chữ "lai" tức là chữ "sắc"

Như vậy cả 4 câu đó có nghĩa là: "Dư bất thụ sắc" tức là ý Chúa Nguyễn bảo không nhận sắc phong nên đem trả lại. Nghe xong, Chúa Trịnh giận tím mặt vì thua trí Đào Duy Từ, ra lệnh đuổi bắt Lại Văn Khuông, nhưng Lại Văn Khuông đã cai chạy xa bay. Trịnh Tráng chuẩn bị binh mã quyết sang bằng miền Nam để rửa nhục. Năm Quí Dậu (1633), Trịnh Tráng rước vua Lê nam tiến nhưng bị quân nam đánh bại phải tháo chạy về bờ sông Linh Giang (sông Gianh). Từ đó hai bên lấy sông Linh Giang là ranh giới, đào hào đắp lũy chứ không tấn công nhau nữa.

Tháng 10 năm Ất Hợi (1635), thấy trong người không khỏe, Chúa gọi cho thế tử Nguyễn Phúc Lan và em là Nguyễn Phúc Khê vào chầu. Ngài dặn dò Phúc Lan và gởi gắm việc nước cho Phúc Khê rồi băng hà, thọ 73 tuổi.

Lúc đầu mộ Ngài táng tại huyện Quảng Điền, sau cải táng về làng Hải Cát, huyện Hương Trà. Lăng Ngài có tên là Trường Diễn
 
33 ❤︎ Bài viết: 19 Tìm chủ đề
Nguyễn Phúc Lan (Chúa Thượng) (1635-1648) [1]

Nguyễn Phúc Lan sinh ngày 5 tháng 7 năm Tân Sửu, là con thứ hai của Chúa Sãi và bà Nguyễn Thị Giai.

Năm 1631, thế tử Nguyễn Phúc Kỳ, con trưởng của Chúa Sãi bị bệnh qua đời nên Phúc Lan được lập làm thế tử.

Năm Ất Hợi (1635), Chúa Sãi băng hà, thể theo di huấn, Ngài được quần thần tôn lên nối vị chúa, gọi là Chúa Thượng, để giúp đỡ ngài buổi đầu, thúc phụ của Chúa là Nguyễn Phúc Khê làm cố vấn.

Được tin Chúa Sãi băng hà, người anh em của Chúa Thượng là Nguyễn Phúc Anh, tức Dương Nghĩa hầu đang trấn giữ ở Quảng Nam, keo quân ra mưu toan phản nghịch. Để thực hiện mưu đồ, Phúc Anh phái người tâm phúc ra Bắc thần phục Chúa Trịnh và yêu cầu chúa Trịnh đem quân vượt Linh Giang đánh vào, còn y sẽ dẫn quân từ Quảng Nam đánh ra, buộc quân của Chúa phải phân tán mỏng hai đầu, rồi sai quân lính ngày đêm đắp lũy Câu Đê kiên cố để cố thủ nếu như mặt Bắc thất bại.

Được mật báo, Chúa Thượng cho triệu thúc phụ là Nguyễn Phúc Khê vào để bàn bạc. Chúa vốn là người hiền lành, khoan hòa nhân ái nên khi thấy em làm loạn, một bên tình riêng một bên việc nước, Chúa chần chờ không quyết. Chúa khóc nói với Nguyễn Phúc Khê rằng:

- Thưa chú, em cháu nổi loạn muốn chiếm ngôi, chẳng lẽ chỉ vì quyền lợi riêng tư của một cá nhân mà gây nên cảnh khhuynh đệ tương tàn, nồi da xáo thịt, làm khổ cho muôn dân. Xin chú thuận cho cháu nhường ngôi lại cho hắn, không biết ý chú thế nào?

Nghe Chúa nói xong, Tường quận công Phúc Khê giận nói:

- Anh em là tình riêng, phép nước là nghĩa lớn. Hắn là đồ xúc vật chẳng nghĩ đến cha mẹ anh em. Nay hắn đã làm loạn, lại cấu kết với kẻ thù, tội hắn đáng chết, xin Chúa cứ yên tâm, thần nguyện bắt hắn về để trị tội.

Thế rồi, Nguyễn Phúc Khê cùng Nguyễn Phúc Yên kéo đại quân chia làm hai cánh thủy bộ tiến vào Đà Nẵng. Lúc đầu cánh thủy theo đường bể tiến vào trước, Phúc Anh dàn quân đối trận, hai bên đánh nhau ác liệt nhưng bất phân thắng bại. Bất thần bộ binh vượt Hải Vân Sơn tiến vào. Dương Sơn đốc thúc binh lính tập kích trại Phúc Anh. Phúc Anh phải bỏ trại kéo quân ra cửa biển Đại Chiêm nhưng lại bị chặn đánh ráo riết. Phúc Anh bị bắt tại trận tiền và bị giải về kinh đô trị tội. Chúa Thượng thấy em như vậy thì địnhh tha, nhưng thúc phụ Ngài là Phúc Khê cương quyết trị tội. Phúc Anh bị giết ngay tại chỗ.

Cùng năm đó, thấy dinh cũ xảy ra quá nhiều việc bất như ý nên Chúa Thượng quyết định cho dời dinh từ Phước Yên- Quảng Điền sang làng Kim Long huyện Hương Trà. Đất Kim Long quả thật là một nơi lý tưởng để xây dựng phủ chúa. Trước mặt là sông Hương thuyền bè dễ dàng đi lại, cảnh trí lại tao nhã. Theo thư từ của các khách thương nước ngoài trao đổi với nhau thì Phủ Chúa ở Kim Long rất tráng lệ, xứng đáng là nơi phồn hoa đô hội.

Chúa Thượng được sử sách ghi chép khá rõ bởi vì trong đời ngoài có nhiều sự việc xảy ra, nhiều lúc lung lay đến cả cơ nghiệp của Chúa ở Đàng Trong.

Một trong những sự việc nổi bật nhất là chuyện Chúa Thượng say mê Tống Thị. Tống Thị nguyên là vợ của Khánh Quận công Nguyễn Phúc Kỳ, anh cả của Chúa, làm quan trấn thủ ở Quảng Nam. Năm 1613, ông mất, lúc bấy giờ Tống Thị còn đang trẻ, tuy đã có 3 con nhưng nhan sắc vẫn còn tuyệt đẹp. Phúc Kỳ mất, Tống Thị đem con ra ở phủ Chúa. Tống Thị vốn là người đa tình lẳng lơ nhưng ăn nói có duyên. Vì được ra vào phủ Chúa thoải mái nên Tống Thị thường gặp Chúa Thượng. Tống Thị tìm đủ mọi cách để Chúa Thượng để ý. Tiếp xúc một vài lần với Tống Thị, Chúa Thượng say mê nàng đến độ mù quáng. Cho nên, kể từ năm Kỷ Mão (1639), Tống Thị lợi dụng Chúa sủng ái mặc sức thao túng, không từ bất cứ thủ đoạn nào miễn sao thủ đoạn đó đem lại lợi lộc của cải là được. Nên chẳng mấy chốc Tống Thị có một gia tài to bậc nhất nhì ở Đế đô. Triều thần nhiều lần can gián Chúa nhưng Tống Thị dùng lời lẽ ngọt ngào quyến rũ mê hoặc nên Chúa làm lơ. Thậm chí thúc phụ Ngài là Nguyễn Phúc Khê can gián vẫn không lottj vào tai Chúa, đã thế Chúa còn dự định xây dựng cung thất nguy nga tráng lệ để chung sống với Tống Thị. Mãi về sau nhờ sự can gián vừa khéo vừa mềm mỏng, vừa cứng rắn quả quyết của Nội tán Viên hiền hầu họ Phạm, Chúa lúc bấy giờ mới dần tỉnh ngộ, xa lánh dần Tống Thị.

Tống Thị biết toàn thể tôn tộc họ Nguyễn và triều thần căm ghét mình nên bí mật sai người tâm phúc ra Bắc xin với Trịnh Tráng đem quân vào đánh, còn mình thì sẽ đem của cải, tài sản cung đốn việc quân. Do âm mưu và những ý đồ xấu xa của Tống Thị đã dẫn đến một cuộc chiến tranh lớn ở Đàng Ngoài và Đàng Trong vào năm Mậu Tý (1648).
 
33 ❤︎ Bài viết: 19 Tìm chủ đề
Nguyễn Phúc Lan (Chúa Thượng) (1635-1648) [2]

Quân Chúa Trịnh dưới quyền chỉ huy của Đô đốc Lê Văn Hiển theo đường biển phải rút về cố thủ tại lũy Trường Dục, cho người phi ngựa báo khẩn cấp về Kim Long. Chúa Thượng vội vàng sai con thứ 2 của mình là Nguyễn Phúc Tần làm đại tướng cùng với Nguyễn Hữu Tiến dẫn 100 thớt voi tức tốc ra Nam Bố Chính. Hai bên đánh nhau một trận rất lớn. Nguyễn Hữu Tiến xua 100 thớt voi ập ra tấn công. Quân Trịnh thấy voi hoảng hốt tháo chạy. Quân Chúa Nguyễn đuổi dài đến tận bên kia bờ Linh Giang mới thôi. Chúa Thượng rất mừng, bao nhiêu lương thực khí giới của quân Trịnh đều bị quân Nguyễn lấy hết, Chúa ban thưởng cho tướng sĩ rồi ngồi thuyền lớn theo đường bể trở về Kim Long. Khi về đến phá Tam Giang thì mất, nhằm ngày 26 tháng 2 năm Mậu Tý (1648). [ một vài sách sử cho rằng Tống Thị vì bị thất sủng nên đã tìm cách đánh thuốc độc giết chết Chúa Thượng]

Có thể nói trận chiến năm Mậu Tý (1648) là một trong số hai chiến công hiển hách của Chúa Thượng.

Một chiến công nữa trong đời Chúa Thượng là chiến công xảy ra trước đó vào năm Giáp Thân (1644).

Theo sử sách kể lại cũng như theo Nguyễn Phúc tộc thế phá thì năm 1644, người Hòa Lan theo sự yêu cầu của Chúa Trịnh mang 3 chiếc tàu chiến bằng đồng rất lớn, trang bị vũ khí tối tân tiến vào cửa Eo (cửa Thuận An), nhưng có lẽ lúc bấy giờ cửa biển cạn nên không vào được mới đổi hướng tiến vào cửa Hàn, nổ súng suy hiếp quân ta. Đây là lần đầu tiên phải đối đầu với tàu chiến ngoại quốc nên Chúa Thượng triệu tập triều thần để bàn định. Cả triều đình chưa biết giải quyết ra sao, vì thực chất lực lượng thủy quân của ta so với giặc như trứng chọi. Để tìm hiểu thêm tình hình địch, Chúa Thượng cho gọi một người Hòa Lan đang buôn bán ở đây để hỏi. Tên này nói đại ý cho rằng, lực lượng hải hải quân Hòa Lan là một trong những lực hùng hậu nhất thế giới, "bách chiến bách thắng". Lời nói đầy hàm ý đe dọa xen lẫn khoe khoang của hắn đã làm tự ái của Chúa Thượng bị tổn thương, không cần bàn bạc nữa, Chúa ra lệnh chuẩn bị tấn công. Chúa sai thế tử Dũng Lê hầu Nguyễn Phúc Tần chỉnh đốn thủy quân nhắm cửa Hàn tiến phát và dặn Dũng Lê hầu bất cứ giá nào cũng phải đánh cho kỳ được; Chúa đích thân tiến ra cửa biển Thuận An trợ chiến. Dũng Lê hầu vội điều động 200 chiến thuyền của ta xuất phát, bản thân Dũng Lê hầu thì cầm trống thúc chiến. Chiến thuyền của ta nhỏ, nhẹ, cơ động nhanh, nên tỏa ra bốn phía vây hãm 3 chiếc chiến hạm của giặc Ôlan. Mặc cho súng đại bác trên tàu bắn xối xả, thuyền ta vẫn bám sát lấy chiến hạm của giặc bốn mặt tấn công như vũ bão. Bọn chỉ huy và lính trên 3 chiến hạm kinh hoảng trước sự chiến đấu anh dũng gan dạ của quân ta nên bắt đầu nao núng. Một chiếc tàu nhỏ nhất trong 3 chiếc liệu thế không xong quay đầu luồn lách qua chiến thuyền của ta chạy thoát ra bể. Chiếc thứ 2 cũng hốt hoảng chạy theo đâm vào đá ngầm chìm nghỉm. Chiếc thứ 3 vẫn ngoan cố chống trả dữ dội. Súng lớn súng nhỏ của chúng bắn như mưa. Nhiều chiến thuyền của ta bị trúng đạn vỡ tan. Dũng Lê hầu đốc thúc binh sĩ luồn lách len lỏi bám sát mạn tàu địch, một số nhảy lên đánh gãy bánh lái, một số nhào tới chém gãy cột buồm và bắt đầu đánh xáp lá cà, quân ta ngày càng đông dồn chúng vào thế tuyệt vọng. Tên thuyền trưởng thấy khó thoát, bèn ra lệnh cho đốt kho thuốc súng trên tàu. Một tiếng nổ dữ dội làm chiến hạm vỡ tan và bốc cháy, thiêu rụi toàn bộ binh đội của chúng ta trên tàu. Có 7 tên nhảy xuống định tẩu thoát nhưng bị thủy quân bắt được. Chiến công hiển hách này đã là nức lòng binh sĩ. Đây là chiến công oanh liệt nhất của thủy quân Chúa Nguyễn.

Chúa Thượng băng hà khi ở ngôi được 13 năm, lăng mộ Chúa được an táng tại xã An Bằng, Hương Trà, Thừa Thiên. Lăng Chúa về sau được gọi là Lăng Trường Diên.
 
33 ❤︎ Bài viết: 19 Tìm chủ đề
Nguyễn Phúc Tần (Chúa Hiền) (1648-1687)

Năm Mậu Tý (1648), sau khi họ Trịnh thắng lợi trở về, ngang phá Tam Giang thì Chú Thượng đột ngột băng hà, thế tử Dũng Lê hầu Nguyễn Phúc Tần lên thay, được triều thần tôn xưng là Hiền Vương hay Chúa Hiền.

Chúa HIền là con thứ hai của Chúa Thượng và một bà phi họ Đoàn. Chúa sinh ngày 19 tháng 6 năm Canh Thân (1620).

Ngay từ nhỏ, Chúa tỏ ra là một người vũ dũng, có tài thao lược, am hiểu binh pháp, thiện nghệ về thủy chiến. Khi còn là thế tử, ông từng cầm thủy quân đánh tan 3 chiến hạm của giặc Ôlan vào năm 1644 và năm 1648 cầm quân đánh lui quân Chúa Trịnh sang bờ Bắc sông Linh Giang.

Trong thời gian ba mươi chín năm ở ngôi, ngoài việc lo xây dựng mở mang đất nước Đàng Trong, còn lại phần lớn Chúa cầm quân chống nhau với Chúa Trịnh ở Đàng Ngoài.

Đại Nam thực lục ghi lại rằng năm Giáp Ngọ (1654), chú của Chúa là Nguyễn Phúc Trung nghe lời xúi giục của Tống Thị, mưu dấy loạn định cướp ngôi. Việc bại lộ, Phúc Trung bị bắt giam còn Tống Thị bị xử tử hình và tịch biên tài sản đem cấp phát hết cho quân dân. Việc là của Chúa ai ai cũng mến phục và ghi nhớ.

Đến năm Ất Mùi (1655), để dẹp tan từ trong trứng nước ý đồ xâm lấn của Chúa Trịnh, Chúa HIền đích thân dẫn đại quân vượt sông Linh Giang tấn công phía Bắc Bố Chính. Sở dĩ Chúa phải tấn công trước vì tháng 7 năm 1655, Phạm Tất Đồng một bộ tướng của Chúa Trịnh đem quân vượt sông Linh Giang cướp bóc phía Nam Bố Chính. Do đó Chúa quyết định tấn công miền Bắc. Việc tiến quân ra Bắc làm chúa lo nghĩ nhiều. Chúa định đích thân đem quân đi nhưng lại sợ triều chính không ai trông coi. Nhiều đêm Chúa ngồi bên án thư suy nghĩ mãi không biết phó thác việc cho ai. Tương truyền một đêm nọ, Chúa tựa án thư rồi thiu thiu ngủ. Trong mơ, Chúa thấy một cụ già râu tóc bạc phơ, dáng vẻ tiên phong từ phía Nam đi lại, mình mặc áo đỏ, tay cầm một tờ giấy vẫy Chúa lại và nói: "Bấy lâu nay ta thấy nhà ngươi đêm nào cũng trằn trọc băn khoăn không biết chọn ai để giao trọng trách, nay ta có bài thơ này, ngươi hãy xem kỹ tất sẽ chọn được người mong ước chứ đừng lo nghĩ nữa mà hao tổn tinh thần". Nói rồi trao cho Chúa một tờ giấy. Chúa nhận lấy mở ra xem thì thấy một bài thơ ngũ ngôn tứ tuyệt như sau:


"Tiên kết nhân tâm thuận



Hậu thi đức hóa chiêu



Chi hiệp kham tồi lạc



Căn bản dã man diêu"

Tạm dịch:

"Trước hết lòng người thuận



Sau khi đức hóa hay



Cành lá tuy rơi rụng



Cội gốc thật khó lay"

Đọc xong chúa hỏi:

- Lão trượng là ai mà lại đem bài thơ này trêu ta?

Cụ già không trả lời mà chỉ nói khẽ: "Tốt, tốt". Nói rồi phất tay áo mà đi. Chúa tức giận cầm gươm đuổi theo thì vấp bực cửa, kêu thét lên một tiếng, sực tĩnh mới biết là nằm mộng. Chúa ghi lại bài thơ trong mộng và suy nghĩ mãi cho đến khi trời sáng hẳn mới hiểu đôi chút về ý nghĩa hai câu đầu.

Hai chữ sau của hai câu đầu ứng vào hai người trong dinh Chúa: Một văn và một võ. Cả hai đều có tài. Đó là Thuận nghĩa hầu Nguyễn Hữu Tiến, trí dũng song toàn, đời nay hiếm có và một người nữa Chiêu vũ hầu Nguyễn Hữu Dật, có cơ mưu, tài sánh Đào Duy Từ. Chúa nghĩ chắc là thần đã báo mộng cho mình biết muốn tấn công miền Bắc, nên Chúa cho mời hai người đến để bàn kế hoạch xuất quân.

Tháng 11 năm 1655, Chúa phong Nguyễn Hữu Tiến là Tiết chế, Nguyễn Hữu Dật là Đốc chiến, dẫn đại quân ồ ạt vượt Linh Giang tấn công vào Bắc Bố Chính. Đây là lần tấn công duy nhất của Chúa Nguyễn vào đất Bắc. Quân của Chúa Nguyễn đánh rất hăng, chỉ trong một thời gian ngắn đã chiếm được 7 huyện phía Nam sông Linh Giang. Chúa Trịnh vội vã củng cố lực lượng, sai Trịnh Trương thống lĩnh quân sĩ vào kinh lược Nghệ An, lập phòng tuyến chống giữ.

Kể từ năm 1655 đến năm 1661, quân hai bên đào hào đắp lũy để thừa cơ tấn công nhau, hai bên đều ở trong thế giằng co. Nhưng vào năm 1661, do sự bất hòa giữa Nguyễn Hữu Dật và Nguyễn Hữu Tiến, cũng như do quyết tâm lấy lại đất của Chúa Trịnh, cuối cùng quân Chúa Nguyễn phải bỏ 7 huyện đã chiếm được rút về bờ Nam sông Linh Giang (sông Gianh) làm ranh giới và không bên nào tấn công bên nào nữa.

Về mặt Nam, năm Quý Tỵ (1653), vua Chiêm là Bà Tấm đem quân xâm phạm phủ Phú Yên, Chúa phái hai tướng là Hùng Lộc và Minh Vũ đem 3000 quân vào đánh dẹp, Bà Tấm thua xin cắt đất thần phục. Chúa cho thành lập hai phủ mới là Thái Khang (Ninh Hòa) và Diên Ninh (Diên Khánh). Như thế địa giới của Chúa Nguyễn dưới thời Chúa Hiền đã đến tận Phan Rang ngày nay.

Dưới thời Chúa, ngoài việc mở rộng bờ cõi về phía Nam bắt hai vua Chân Lạp phải thần phục và hàng năm triều cống, Chúa Hiền còn cho Dương Ngạn Địch một người Trung Hoa gốc triều Thanh đem hơn 3000 người và 550 chiến thuyền đến xin nhập cư. Chúa an ủi phủ dụ và cho vào trấn đóng ở Gia Định, chẳng bao lâu Gia Định trở thành một nơi sầm uất, trù phú, thuyền buôn nước ngoài vào ra buôn bán đông đúc, tấp nập.

Dưới thời ngài trị vì có thể nói dân Đàng Trong được sống một thời gian dài thanh bình no ấm. Ngài vốn vẫn là người mộ đạo Phật. Năm Đinh Mùi (1667) nhân đi chơi ở cửa Tư Dung (Tư Hiền) thấy ở đây cảnh trí đẹp, lại có một hòn núi nổi lên giữa đầm rộng, cây cối tốt tươi, ngài cho dựng ngay một ngôi chùa trên núi lấy tên là Chùa Hoa Vinh, nay gọi là chùa Túy Vân, một ngôi chùa cổ nổi tiếng.

Ngày 13 tháng 3 năm Đinh Mão (1687) Chúa yếu, cho triệu hoàng tử thứ hai là Nguyễn Phúc Thái đến và dặn rằng:

"Ta bình sinh vào ra nguy hiểm để giữ nước, giữ nhà, nối ngôi phải sửa thêm nhân chính cho yên bờ cõi. Các quan văn võ đều do ta cất dùng để mưu mọi việc, đừng để cho bọn tiểu nhân lẻn vào". Dặn xong hoàng tử và triều thần thì ngài băng hà, thọ 68 tuổi.

Có thể nói Chúa Hiền là người trí dũng, trong suốt 39 năm ở ngôi Chúa ngài đã thực hiện nhiều việc lớn như mở rộng thêm bờ cõi về phía Nam. Chấm dứt cuộc chiến tranh giữa hai họ kéo dài suốt 45 năm; thực hiện được nhiều công cuộc khai hoang phục hóa, di dân lập ấp trên qui mô lớn. Nhờ vậy, Đàng Trong ngày càng giàu mạnh hơn trước.

Chúa mất, lăng được táng tại làng Hải Cát, Hương Trà, về sau lăng ngài được gọi là Trường Hưng.
 
33 ❤︎ Bài viết: 19 Tìm chủ đề
Nguyễn Phúc Thái (Chúa Nghĩa) (1687-1691)

Chúa Hiền băng hà, con thứ hai của Chúa với bà Tống Thị Đôi là Nguyễn Phúc Thái (theo Việt Nam Sử lược của Trần Trọng Kim thì Chúa Nghĩa được ghi là Nguyễn Phúc Trăn, nhưng theo Nguyễn Phúc tộc thế phá thì ghi Chúa Nghĩa là Nguyễn Phúc Thái, còn Nguyễn Phúc Trăn không có mà chỉ có Nguyễn Phúc Trân, em kế của Chúa, tước Cương quận công), sinh ngày 28 tháng Chạp năm Kỷ Sửu (1649), chịu di mệnh lên nối ngôi ngôi Chúa.

Lên kế vị xong tân Chúa cho thi hành một chính sách nhân nghĩa; một mặt giảm sưu thuế cho dân, khuyến khích các ngành nghề phát triển, tạo sự dễ dàng để nhân dân sinh sống; một mặt đối với những người có tội, Chúa ra lệnh phải xem xét thật kỹ lưỡng để định tội cho chúng. Nếu xét thấy có thể khoan thứ được thì nên giảm nhẹ hình án, chế độ nhà tù được cải thiện để cho tù nhân bớt khổ; Chúa lại là người tính tình khoan hòa, khiêm cung, luôn luôn tôn trọng người hiền tài nên được toàn dân mến mộ, xưng tụng là Nghĩa Vương tức Chúa Nghĩa.

Trong đời của Chúa việc quan trọng và có ý nghĩa nhất là việc dời đô về Phú Xuân. Tháng 7 năm Đinh Mão (1687), thấy phủ Chúa ở Kim Long không thoáng mát, sau khi hỏi ý kiến quần thần và khảo sát vùng Phú Xuân, Chúa quyết định dời phủ Chúa về làng Phú Xuân. Tại đây Chúa cho xây lại cung điện đền đài thành quách vừa kiên cố vừa nguy nga tráng lệ hơn. Phía Nam phủ, Chúa lấy Bằng Sơn tức là Núi Ngự làm bình phong tạo cho phủ Chúa vừa kín đáo vừa uy nghiêm bề thế, có khí tượng một chốn đế đô. Chúa cho gọi phủ mới là Chính Dinh, còn phủ cũ ở Kim Long thì để thờ Chúa Hiền. Mùa xuân năm tân mùi (1691) ngài băng, thọ 43 tuổi. Mộ táng tại xã Đình Môn núi Kim Ngọc, Hương Trà. Sau đặt tên lăng là Trường Mậu.
 
33 ❤︎ Bài viết: 19 Tìm chủ đề
Nguyễn Phúc Chu (Quốc Chúa) (1691-1725) [1]

Mùa xuân năm Tân Mùi (1691), Chúa Nghĩa đau nặng cho gọi thế tử Nguyễn Phúc Chu vào bảo rằng: "Ta nối tổ nghiệp trước để lại, thường lấy làm lo, bây giờ con nối theo phải giữ thánh đức tổ tông, đó là hiếu". Dặn dò xong Chúa Nghĩa băng. Theo di mệnh thế tử Nguyễn Phúc Chu, con trưởng của Chúa Nghĩa với Chính phi Tống Thị Lĩnh, sinh ngày 18 tháng 5 nhuận năm Ất Mão (1675) lên nối ngôi, lúc bấy giờ mới có 16 tuổi.

Tương truyền rằng khi Chính phi có thai Ngài thì có nhiều điềm lành xuất hiện và đến khi sinh ngày thì ánh sáng rực rỡ cả nhà, ai cũng lấy làm lạ. Cũng chính vì thế mà Chúa rất được cưng chiều. Lớn lên Chúa ham học, thông minh, văn hay, chữ tốt, võ lại rất giỏi cho nên tuy tuổi còn nhỏ mà Chúa đã được phong Tả Bình đinh Phó tướng Tô Trường hầu. Khi lên kế vị ngôi chúa lại được xưng tụng là Minh Vương, sau đó lại tôn xưng là Quốc Chúa.


Tiến Về Phương Nam

Chúa vừa nối ngôi được một năm thì tháng 8 năm Nhâm Thân (1692), vua Chiêm Thành là Bà Tranh đem quân đánh phá phủ Diên Ninh. Quốc Chúa sai tướng Nguyễn Hữu Kính (có sách vẫn ghi là Nguyễn Hữu Cánh) đem quân chống cự. Quân Chúa đánh tan quân giặc, bắt được Bà Tranh, đặt quan lại để cai trị đổi thành trấn Thuận Thành, sau đổi thành phủ Bình Thuận. Từ đó Chiêm Thành trở thành một sắc tộc thiểu số của người Việt.

Đến năm Kỷ Mão (1699), Nặc Ông Thu, vua Chân Lạp bỏ triều cống xua quân sĩ tràn qua biên giới đánh phá cướp bóc dân chúng. Quốc Chúa lại phái tướng Nguyễn Hữu Kính đem quân đánh dẹp mới yên.

Năm Ất Mão (1705), nội bộ Chân Lạp lủng củng. Nặc Ông Thu chết. Nặc Ông Thân lên thế vị nhưng lại bất hòa với Nặc Ông Yên lúc bấy giờ đang đóng tại Sài Côn (Sài Gòn). Nặc Ông thân cầu viện quân Xiêm La, đem binh đánh Sài Côn. Nặc Ông Yên chạy sang ta xin giúp sức. Quốc Chúa sai tướng Nguyễn Hữu Vân đánh tan quân Xiêm, đưa Nặc Ông Yên về Sài Côn. Tuy thế cuộc chiến giữa Ông Thân và Ông Yên không bao giờ dứt đến nỗi Quốc Chúa phải nhiều lần đem quân đánh dẹp, lần sau cùng quân của Chúa vây và hạ thành Nam Vang, đuổi Ông Thân đi, đưa Ông Yên làm vua Chân Lạp dưới sự bảo hộ của Chúa.

Trong đời Quốc Chúa, một sự việc đáng ghi nhớ nữa là vào năm Mậu Tý (1708) Mạc Cửu người Quảng Đông, không chịu sống với nhà Thanh đã kéo thân bằng quyến thuộc xuôi thuyền vào sống ở Hà Tiên, biến vùng này trở thành một nơi khá trù phú. Thấy triều Chúa hùng mạnh nên đã dâng thư lên Quốc Chúa xin dâng đất Hà Tiên. Quốc Chúa hhoan hỉ nhận lời và phong Mạc Cửu làm Tổng binh trấn giữ đất Hà Tiên.


Mộng Tự Chủ

Quốc Chúa thấy Đàng Trong đã hùng mạnh, đất rộng, dân đông, sản vật dồi dào, dân cư trù phú sung túc, mặt Nam cơ bản đã hoàn toàn sáp nhập vào nước ta rồi, mặt Bắc thì không lo sợ việc họ Trịnh nữa. Tuy thế, để đề phòng phương Bắc tấn công, năm Tân Tỵ (1701), Quốc Chúa sai Nguyễn Phúc Diêu, Nguyễn Khoa Chiêm và tống Phúc Tài sửa sang lũy Trường Dục; từ Đâu Mâu đến cửa bể Nhật Lệ, cho quân đóng ở những nới quan yếu và ra lệnh quân sĩ phải thường xuyên thao duyệt phòng khi có biến, nhờ tế quân Trịnh không dám tấn công.

Quốc Chúa muốn tách Đàng Trong thành một nước độc lập nên Ngài sai một sứ đoàn sang nhà Thanh xin thụ phong. Nhưng nhà Thanh một mặt thấy còn nhà Lê, một mặt sợ Đàng Trong sau khi danh chính ngôn thuận sẽ trở nên một nước lớn, khó bề đối xử nên không thuận. Tuy thế, Quốc Chúa với niềm mong muốn trở thành một nước độc lập, luôn luôn cải cách phát triển nội trị, ngoại giao, giáo dục, võ bị theo một qui mô riêng mang tính cách của miền Nam.
 
33 ❤︎ Bài viết: 19 Tìm chủ đề
Nguyễn Phúc Chu (Quốc Chúa) (1691-1725) [2]

Chấn Hưng Phật Giáo

Quốc Chúa không những là vị Chúa có tài trị nước, an dân, mở mang bờ cõi mà Ngài còn là một người rất sùng mộ đạo Phật. Thấy đạo Phật ở miền Nam chưa được thấm sâu vào lòng dân, chùa chiền cũng ít và nhất là thiếu các vị cao tăng để truyền bá giáo lý của Đức Phật nên năm Giáp Tuất (1694), Quốc Chúa sai một phái đoàn sang Quảng Đông _Trung Quốc mời một vị cao tăng lúc bấy giờ là Hòa thượng Thích Đại Sán mà ta thường gọi là Hòa thượng Thạch Liêm sang giảng đạo. Hòa thượng Thích Đại Sán nhận lời mời của Chúa, sang Thuận Hóa hoằng dương chính pháp. Đến nơi, Hòa thượng được Quốc Chúa và các vị cao tăng đón tiếp rất long trọng và mời Hòa thượng về chùa Thiền Lâm. Tại Thuận Hóa, Hòa thượng cho thiết lập giới đàn để truyền bồ tát giới cho Quốc Chúa cùng gia đình quyến thuộc, quan lại và hơn 1000 tăng ni ở Phú Xuân. Sau đó Hòa thượng vào Hội An định trở về Quảng Đông nhưng bị ốm nên đành ở lại. Hòa thượng trở lại Thuận Hóa đến ở chùa Thiên Mụ một thời gian, tháng 6 năm đó mới trở về Quảng Đông. Việc Hòa thượng đến Đàng Trong truyền giáo và cảnh tượng của Đàng Trong lúc bấy giờ Hòa thượng ghi lại rất kỹ trong "Hải ngoại ký sự".

Đọc tập "Hải ngoại ký sự" chúng ta thấy Hòa thượng Thích Đại Sán đã miêu tả rất kỹ việc Quốc Chúa lập giới đàn và qua đó thấy được tinh thần mộ đạo của Quốc Chúa. Theo như Hòa thượng thuật lại thì lúc mở đàn, tự tay Quốc Chúa thắp hương dâng lễ và thỉnh Hòa thượng lên đàn thuyết pháp một cách vô cùng cung kính. Còn việc thiết lập giới đàn thì quá sức chu tất, đường sá được dọn dẹp sạch sẽ. Một đội quân đội mũ đỏ dẹp đường. Đạo quân Chúa đi oai vệ, tả hữu cầm gươm sáng, giáo dài hộ vệ. Riêng Quốc Chúa thì ngồi kiệu lớn 16 người khiêng trang hoàng lộng lẫy. Bản thân Quốc Chúa thì mặc đạo bào màu đen chân mang giày nhung, đầu đội mũ cánh chuồn, xuống kiệu cung kính vào thắp hương lễ Phật xong mới đi quanh đàn để xem xét, nhất nhất đều tỏ ra một tín đồ mộ đạo. Theo Hòa thượng hành động và tính cách của Quốc Chúa đã làm cho Hòa thượng không bao giờ quên được, chưa có một vị Chúa nào như Ngài.

Đến năm Canh Dần (1710) khi lên viếng chùa Thiên Mụ, Quốc Chúa quyết định lấy đồng trong kho cho đúc chuông. Chuông cao 2m5, nặng 3.285 cân ta (khoảng 2.021kg). Đúc xong, đích thân Ngià làm bài Minh khắc vào chuông. Ngày khánh thành Ngài đích thân đánh chuông, tiếng chuông trong trẻo ngân dài và vang xa cả Phú Xuân.

Tiếng chuông Thiên Mụ đã đi vào lòng người và mãi mãi đi vào lòng người một phần lớn là công lao đóng góp của Quốc Chúa. Thấy chùa có nhiều hiện tượng hư hỏng, năm Nhâm Thìn (1712) Quốc Chúa lệnh cho Chưởng cơ Tống Đức Đạt đứng ra trông coi việc trùng tu chùa. Tất cả thợ khéo ở Phú Xuân và cả nước được lệnh tập trung về để trùng tu chùa. Nhờ thế, chùa Thiên Mụ dưới thời Ngài nguy nga hơn trước rất nhiều. Ngày khánh thhafnh chùa là niềm vui của toàn dân Phú Xuân. Quốc Chúa còn mở rộng kho lúa để phát chẩn cho dân nghèo. Công đức của ngài thật là to lớn.




Trừ Hại Cứu Dân

Việc giao thông đường bộ và đường thủy tuy được mở rộng nhưng việc đi lại của dân chúng từ Nam Bố Chính và Phú Xuân thường vẫn bị bế tắc. Về đường bộ thì dân chúng muốn vào Phú Xuân phải đi qua một Trảng Cát rộng vắng vẻ ở địa phận Hồ Xá, Quảng Trị. Đây là một cánh rừng thưa, bọn trộm cướp giết người thường tụ tập để cướp đoạt tài sản của khách thương, vì thế việc đi lại nhiều lúc khó khăn, không ai dám đi qua đây. Địa danh Truông nhà Hồ trở thành một ám ản kinh hoàng đối với mọi người. Để trừ hại cho dân, Quốc Chúa đã sai quan Nội tán Nguyễn Khoa Đăng đem quan quét tan lũ cướp ở Truông này. Từ đó về sau, nhân dân mới an tâm đi lại. Trở ngại thứ hai là thuyền bè phá Tam Giang thường bị sóng thần nổi lên đánh chìm. Để đi lại trên phá Tam Giang được bình an, Chúa sai nghiên cứu nguyên nhân tạo nên sóng dữ rồi tìm cách phá tan chúng, nhờ thế nạn sóng thần cũng biến mất trên phá. Chính hai sự việc này đã làm cho nhân dân biết ơn vô cùng. Mỗi khi đọc hai câu ca dao:

"Thương em anh cũng muốn vô

Sợ Truông nhà Hồ, sợ phá Tam Giang."

Và:

"Phá Tam Giang ngày rày đã cạn

Truông nhà Hồ, Nội tán cấm nghiêm."


Ta mới thấy được lòng thương dân, giúp dân của Quốc Chúa.

Ông Chúa Nghệ Sĩ

Hòa thượng Thích Đại Sán chỉ ở Phú Xuân trong khoảng thời gian ngắn ngủi chưa đầy một năm, nhưng nhuawngx hình ảnh về tinh thần mộ đạo của Quốc Chúa, tính cách và cả đến sở thích của Quốc Chúa đã được Hòa thượng ghi rất rõ trong tập ký sự Hải ngoại của mình. Một trong những điểm Hòa thượng ghi lại đầy vẻ mến mộ là hình ảnh Quốc Chúa, một vị chúa có tâm hồn rất nghệ sĩ. Trong tập ký sự này Hòa thượng đã ghi lại những buổi Ngài được Quốc Chúa thỉnh vào phủ để xem hát tuồng cũng như thưởng thức vũ nhạc. Theo Hòa thượng thì Quốc Chúa là một tay đánh trống chầu lão luyện. Hình như sở thích của Quốc Chúa là xem diễn tuồng, nhiều khi_theo như lời Hòa thượng thì Quốc Chúa đã "đạo diễn" cho các cung nữ trong cung diễn tuồng và mỗi lần diễn xong bao giờ Quốc Chúa cũng lấy tiền giao cho Hòa thượng, yêu cầu Hòa thượng thưởng cho các người hầu hạ. Những buổi diễn tuồng theo hòa thượng là rất thú vị. Có lẽ nhờ say mê tuồng và nhờ có tâm hồn nghệ sĩ mà thể loại tuồng được hình thành và phát triển từ giai đoạn này chăng?

34 năm trị vì, với tài năng sẵn có và lòng yêu dân mến nước, Quốc Chúa đã làm cho dân chúng dưới thời Ngài sống một cuộc sống thanh bình, ấm no. Ngoài việc sửa sang nội trị, tăng cường quân đội, Ngài còn mở mang thêm bờ cõi về phía Nam, làm cho các nước lân ban phải nể sợ thần phục.

clip_image002.gif
Ngày 21 tháng 4 năm Ất Tỵ (1725) ngài băng, thọ 51 tuổi. Lăng Ngài được tại núi Kim Ngọc, huyện Hương Trà, Thừa Thiên, được đặt tên là lăng Trường Thanh.
 
33 ❤︎ Bài viết: 19 Tìm chủ đề
Nguyễn Phúc Thụ (Chúa Ninh) (1725-1739)

Khi Quốc Chúa băng hà, con trưởng của Ngài là thế tử Nguyễn Phúc Thụ(sử sách ghi là Nguyễn Phúc Trú, nhưng trong Nguyễn Phúc tộc thế phá không có người con nào của Quốc Chúa tên là Trú cả) sinh ngày 23 tháng Chạp năm Bính Tý (1697) lên nối ngôi, được triều thần tôn: "Tiết chế Thủy Bộ Chư Đinh Quốc Công", đương thời xưng tụng là Ninh Vương hay còn gọi là Chúa Ninh.

Ninh Vương lên ngôi lúc 30 tuổi nên đã quen với việc triều chính, Chúa là người tài kiêm văn võ, lại là một người mộ đạo Phật, tính tình hòa nhã ơn cung, nhu thuận, tự xưng là Vân Tuyền đạo nhân. Kế thừa công lao của tiên tổ, Chúa vẫn dùng chính sách cũ thi ân bố đức, nghiêm trị các tệ nạn xã hội, xiển dương thuần phong mỹ tục. Nhờ thế, nhân dân sống ấm no hạnh phúc và vô cùng biết ơn Chúa.

Trong đời Chúa, năm Tân Hợi (1731) quân Chân Lạp vào đánh Gia Định, Chúa lệnh cho Thống suất Trương Phúc Vĩnh cùng Trấn đạo sinh Nguyễn Cửu Triêm, chia Quân làm hai mặt tiến đánh, quân Chân Lạp thua chạy. Năm Nhâm Tý (1732) sai tiến quân vây Nam Vang rồi lấy đất Gia Định, Sài Côn mở châu Định Viễn và dựng dinh Long Hồ (tức Vĩnh Long). Từ đó đất Gia Định, Sài Côn thuộc hẳn về Việt Nam. Đây là một vùng đất màu mỡ trù phú, Chúa cho di dân đến canh tác. Đó cũng chính là công lao của Chúa Ninh.

Chúa Ninh lên ngôi được 13 năm thì băng hà. Chúa mất ngày 20 tháng 4 năm Mậu Ngọ (1738), thọ 43 tuổi. Lăng mộ táng tại làng Định Môn, Hương Trà. Tên lăng là Trường Phong.
 
33 ❤︎ Bài viết: 19 Tìm chủ đề
Nguyễn Phúc Khoát (Chúa Vũ) (1739-1765)

Hiển Chính hầu Nguyễn Phúc Khoát, sinh ngày 18 tháng 8 năm Giáp Ngọ (1714), con trưởng của Chúa Ninh và Chính phi Dương Thị Thơ. Năm Mậu Ngọ (1738) Chúa Ninh băng hà, ngài lên thang nối nghiệp Chúa, lấy đạo hiệu là Từ tế đạo nhân. Đương thời gọi là Vũ Vương.

Phú Xuân Hoa Lệ

Lên ngôi xong, tân Chúa cho sửa sang cung cũ và xây dựng cung mới về phía bên trái. Chính công cuộc xây dựng này đã làm cho Phú Xuân trở nên một nơi hoa lệ tú vĩ hơn trước. Cung điện, đền đài được xây dựng thật nguy nga tráng lệ, vượt cao lên trên là 3 lớp vòng thành hình vuông bao bọc. Cung điện thông với bên ngoài bằng 7 ngôi cửa chính, bề thế, vững chãi. Trên mặt thành Chúa cho bố trí các súng thần công. Bên ngoài phủ là phố xá, nhà cửa san sát, đường sá rộng rãi. Dưới sông Hương ghe thuyền từ các nơi qua lại không ngớt. Phú Xuân bây giờ đã trở thành một chốn đô hộ giàu có, đông đúc, náo nhiệt bậc nhất ở Đàng Trong. Khách thương nước ngoài ghé lại buôn bán không ngớt ca ngợi.

Trong "Phủ biên tạp lục" Lê Quý Đon đã mô tả Thuận Hóa như như một nơi giàu có và hoa lệ: "Nhà cửa của các quan đều chạm trổ tinh vi, tường gạch vách đá. Đồ đạc thì toàn dùng đồ quý giá, màng che trướng đoạn, gỗ đàn gỗ trắc, chén sứ bình hoa; y phục toàng gấm vóc, phú quý phong lưu rất mực. Từ binh sĩ cho đến người dân ăn chơi xa xỉ, coi vàng bạc như cát, thóc gạo như bùn. Khắp đô hành đâu đâu cũng thấy cảnh khoe giàu khoe sang. Trên bến dưới thuyền kẻ qua người lại tấp nập, náo nhiệt, sản vật quý thì được mọi người mua sắm, các cửa hiệu của khách thương ngoại quốc trưng bày những hàng lạ mắt, cảnh sinh hoạt từ sáng cho đến tối mới dứt. Cảnh sắc thật huy hoàng rực rỡ"


Cải cách y phục

Tháng 4 năm Giáp Tý (1744), một hiện tương lạ đã diễn ra ở Phú Xuân: Một cây sung tự nhiên nở hoa. Mọi người cho đó là điềm tốt, nên các quan lại dâng biểu xin Chúa chính thức lên ngôi Vương. Lúc đầu Chúa từ chối, về sau Trương Phúc Loan và triều thần nói mãi, lại lấy lý rằng Quốc Chúa trước đó đã cho đúc quốc tỷ nên cuối cùng Chúa phải thuận. Lễ đăng quang của Chúa được tổ chức vô cùng trọng thể. Khắp nơi giăng đèn kết hoa rực rỡ. Ngày lễ đăng quang, súng thần công trên thành bắn rền trời. Chúa và đoàn tùy tùng ngự kiệu hoa có voi dâng hầu đi diễu hành khắp đô thành cho dân chiêm ngưỡng, xong xuống thuyền rồng về điện Trường Lạc. Tức vị Vương xong Ngài ban lễ đại xá và cho dân chúng tổ chức vui chơi suốt cả tháng.

Lên ngôi Vương xong, Ngài cho cải cách lại triều chính cho hợp với Vương vị.

Một trong những cải cách quan trọng nhất có ảnh hưởng về lâu về dài là cuộc cải cách y phục. Theo "Phủ biên tạp lục" của Lê Quí Đôn thì Vũ Vương đã ra lệnh cho từ quan đến dân phải thay đổi cách phục sức cho hợp với Đàng Trong. Việc cải cách y phục được Vũ Vương chú trọng và lệnh cho các quan dựa vào sách Tam Tài đồ hội để làm kiểu. Quan chức lớn thì dùng thái đoạn, mõ đội giát vàng, bạc còn gấp vóc thêu rồng hoa phượng không được dùng đến. Đối với dân, y phục hàng ngày thì dùng áo cổ đứng tay ngắn. Lễ phục dùng áo cổ đứng tay dài, và dùng ba màu trắng, xanh hoặc đen. Với lối phục sức này người Đàng Trong đã khác ít nhiều cách ăn mặc của người Đàng Ngoài, áo thường tương đối gần giống với bộ bà ba bây giờ nhưng hay bê nách áo được khâu kín từ trên xuống. Còn lễ phục thì tương tự với chiếc áo dài hai thân của ta ngày nay. Có người cho rằng chiếc áo dài của người Việt Nam có lịch sử từ đời Vũ Vương chắc có lẽ đúng. Ngày nay, từ đèo Ngang trở vào, ta không còn thấy phụ nữ mặc váy như từ Hà Tĩnh trở ra là do ảnh hưởng của cuộc cải cách y phục từ thời Vũ Vương vậy.


Mầm Mống Suy Tồi

Những năm Vũ Vương cai trị Đàng Trong, ngoài việc cải cách về nội trị, ngoại giao và phong tục tập quán, Vũ Vương còn tìm mọi cách để mở rộng bờ cõi về phía Nam. Nhân lúc Chân Lạp có nội chiến và các vua Chân Lạp thường sang cầu cứu, Vũ Vương đem quân sang giúp. Để nhớ ơn, các vua Chân Lạp thường cắt đất hiến cho Ngài. Nặc Ông Nguyên hiến vùng Tân An, Gò Công; Nặc Ông Thuận hiến Sóc Trăng, Bạc Liêu; Nặc Ông Tôn hiến một dải đất dài từ núi Thất Sơn đến tận Sa Đéc và sau đó các vùng như Kiên Giang, Long Xuyên cũng được hiến cho ta. Như vậy cho đến năm Đinh Sửu 1757, lãnh thổ Đàng Trong đã được mở rộng như hiện nay.

Sống trong cảnh thái bình thịnh trị, đời sống lại quá sung sướng đầy đủ, phủ Chúa ngày đêm không ngớt tiệc tùng ca hát, nên Vũ Vương ngày càng sa vào con đường tửu sắc, bỏ bê triều chính. Cái mầm suy đồi đã dấy lên từ lcs đó. Bên cạnh Vũ Vương lúc đó là Trương Phúc Loan với nhiều tham vọng. Chính họ Trương đã đưa Vũ Vương vào con đường nữ sắc để dễ bề thao túng về sau, một mặt Trương Phúc Loan dưa thân tín vào phủ, một mặt dùng Công nữ Nguyễn Phúc Ngọc Cầu lung lạc tình cảm Vũ Vương. Vũ vương say mê Ngọc Cầu nên để cho Phúc Loan muốn làm gì thì làm. Càng ngày Trương Phúc Loan càng trở nên chuyên quyền nhưng Vũ Vương vẫn không hay biết gì.

Mùa hạ năm Ất Dậu (1765) Vũ Vương băng, thọ 52 tuổi. Lăng mộ Vũ Vương được táng tại làng làng La Khê thuộc huyện Hương Trà. Về sau được gọi là lăng Trường Thái.
 
33 ❤︎ Bài viết: 19 Tìm chủ đề
Nguyễn Phúc Thuần (Chúa Định) (1765-1777)



Biến Loạn

Vũ Vương có cả thảy 18 vị hoàng tử. Lúc còn tại vị Vương đã lập Nguyễn Phúc Hạo làm thế tử. Nhưng không may Phúc Hạo mất sớm, Vũ Vương định lập Nguyễn Phúc Côn làm thế tử nên giao Phúc Côn cho Ý Đức hầu Trương Văn Hạnh và Thị giảng Nguyễn Cao Kỹ lo việc dạy dỗ. Vũ Vương mất, trong triều sinh biến loạn, quyền thần Trương Phúc Loan đổi di chiếu rồi phế Côn, bắt Côn giam vào ngục và lập hoàng tử thứ 16 của Vũ Vương là Nguyễn Phúc Thuần lúc bấy giờ mới 12 tuổi lên kế vị, xưng hiệu là Định Vương.

Nguyễn Phúc Thuần là con trai của Vũ Vương với Nguyễn Phúc Ngọc Cầu vì Vũ Vương và Ngọc Cầu cùng tộc nên Phúc Thuần chỉ được nuôi ở hậu cung. Hoàng tử Nguyễn Phúc Thuần sinh ngày 18 tháng 11 năm Giáp Tuất (1754), lên ngôi xong, mọi việc đều giao cho Quốc phó Trương Phúc Loan định đoạt. Phúc Loan đưa cả gia đình vào nắm giữ binh quyền. Có quyền hành trong tay Phúc Loan mặc sức lộng hành, bày nên cảnh mua quan bán tước chẳng còn coi kỷ cương phép nước ra gì cả. Ra vào phủ Phúc Loan nghi vệ như Chúa, ai có ý chống đối là tìm cách vu oan rồi tiêu diệt. Để làm giàu, Phúc Loan mặc sức vơ vét bóc lột của cải của dân chúng, sưu cao, thuế nặng, nơi nơi đều ta thán. Người ta nói rằng vàng bạc tiền của Phúc Loan đều chất cao như núi, trong khi đó thì kho lẫm của Chúa rỗng không.

Trước sự bóc lột quá tàn bạo của Trương Phúc Loan mà năm Quý Tỵ (1773), ba anh em Tây Sơn là Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ và Nguyễn Lữ nổi lên khởi nghĩa đưa quân chiếm thành Quy Nhơn với khẩu hiệu ban đầu là "Phù Nguyễn diệt Trương". Nguyễn Nhạc dùng kế ly gián để gây chia rẽ nội bộ quân Chúa Nguyễn. Nguyễn Nhạc viết một bức thư mạo chữ của Phúc Loan gởi cho Tham mưu Tá, ngầm sai Tá làm một nội công, Tá lại đem thư trình cho Chưởng Văn. Chưởng Văn tâu lên Chúa. Chúa cho người tra xét, Loan một mặt chối, một mặt cho người bắt Tá đánh chết, một mặt lại tố cáo Chưởng Văn thông đồng với Tây Sơn, rồi hạ lệnh hạ giết Chưởng Văn. Chưởng Văn vượt ngục, Phúc Loan cho người theo bắt, khi về đến phá Tam Giang thì dìm chết.

Riêng Chúa Định thì ngay từ nhỏ đã bị Trương Phúc Loan đầu độc, xung quanh Chúa là một bọn vô lại háo danh, háo sắc, lúc nào cũng tìm cách đẩy Chúa vào cảnh ăn chơi trụy lạc, nên Chúa Định cũng đã rơi vào vòng tửu sắc chẳng màng gì đến triều chính, suốt ngày chỉ biết hưởng lạc, bỏ tiền của để lập ban du xuân, cho tiền để ban làm trò vui. Chúa thì hoang dâm xa xỉ, Quốc phó thì vơ vét của cải để làm giàu cho mình, làm cho dân sống một cuộc đời vô cùng khổ cực. Đó chính là nguyên nhân cho anh em nhà Tây Sơn nổi lên diệt họ Nguyễn.

Lợi dụng thời cơ, Chúa Trịnh lại xua quân vào chiếm Phú Xuân. Chúa Định phải cùng gia tộc chạy vào Gia Định. Thế là sự nghiệp của các Chúa dày công xây dựng ngày nay đã tiêu tan, lịch sử bước sang trang khác.
 
33 ❤︎ Bài viết: 19 Tìm chủ đề
CUỘC ĐỜI CỦA 9 VỊ VUA NHÀ NGUYỄN

1. Gia Long (1802-1820)

2. Minh Mạng (1820-1840)

3. Thiệu Trị (1840-1847)

4. Tự Đức (1847-1883)

5. Dục Đức (1883- 3 ngày)

6. Hiệp Hòa (1883- 4 tháng 10 ngày)

7. Kiến Phúc (1883-1884)

8. Hàm Nghi (1884-1885)

9. Đồng Khánh (1885-1889)

10. Thành Thái (1889-1907)

11. Duy Tân (1907-1916)

12. Khải Định (1916-1925)

13. Bảo Đại (1925-1945)
 
33 ❤︎ Bài viết: 19 Tìm chủ đề
Vua Gia Long (Thế Tổ Cao Hoàng Đế) (1802-1820) [1]

Đàng Trong Biến Loạn

Năm Ất Dậu (1765), Chúa Vũ Nguyễn Phúc Khoát mất, phủ Chúa ở Đàng Trong rơi vào cảnh biến loạn. Quyền thần Trương Phúc Loan chuyên quyền thay Chúa đổi ngôi, đưa Nguyễn Phúc Thuần, mới 12 tuổi lên ngôi Chúa để dễ bề khống chế. Kể từ đó, Đàng Trong bắt đầu đi vào con đường suy thoái: Triều đình Chúa thì ăn tiêu xa xỉ hoang phí, phe nhóm Trương Phúc Loan lộng quyền tác oai tác quái, ra sức thu vét tiền bạc của cải để làm giàu cho riêng mình, nên đã đẩy nhân dân Đàng Trong vào cảnh khốn cùng, sưu cao thuế nặng, khắp nơi đều vang tiếng than oán. Và cuối cùng dẫn đến việc ba anh em nhà Tây Sơn khởi Nghĩa năm Quí Tỵ (1773). Lợi dụng Đàng Trong có nội loạn, Chúa Trịnh lại xua quân qua sông Linh Giang tấn công Phú Xuân. Phú Xuân thất thủ, tối Chúa họ Nguyễn phải chạy vào Gia Định. Thế là sự nghiệp của họ Nguyễn ở Đàng Trong từ khi Chúa Tiên Nguyễn Hoàng khai phá đến nay, trải dài gần 200 năm đến đây xem như chấm dứt và Đàng Trong bước vào một bước ngoặc lịch sử mới.

Những Tháng Ngày Long Đong với bao huyền thoại (1)

Phú Xuân rơi vào tay họ Trịnh, Chúa Nguyễn Phúc Thuần cùng Tân chính Vương Nguyễn Phúc Dương và gia quyến chạy vào Quảng Nam, trong số đó có Nguyễn Ánh lúc bấy giờ mới 13 tuổi.

Nguyễn Ánh là con của hoàng tử Nguyễn Phúc Côn và bà Nguyễn Thị Hoàng. Nguyễn Phúc Ánh sinh ngày 15 tháng Giêng năm Nhâm Ngọ (1762), thuở thiếu thời đã tỏ ra là một con người có chí, thông minh mẫn tiệp, vì thế rất được Chúa yêu thích. Lúc Phú Xuân thất thủ, ông cùng Chúa vào Quảng Nam rồi chạy vào Gia Định, tuy còn nhỏ nhưng ông được Chúa phong cho chức Chưởng sứ. Với chức vụ này, ông đã tỏ ra là một tướng cầm quân có tài, tuy còn nhỏ tuổi. Cuối năm 1777, Đỗ Thành Nhân, một bộ tướng của Chúa Nguyễn đã đánh lui quân Tây Sơn do Nguyễn Lữ chỉ huy, chiếm tại Sài Côn. Tân Chính Vương Nguyễn Phúc Dương trốn chạy vào Gia Định ngày một mạnh. Chân Lạp thấy Đàng Trong biến loạn lại làm phản không chịu nạp cống, Chúa Nguyễn sai ông cần quân sang dẹp, Nặc Ông Vinh phải xin hàng và chịu thuần phục như cũ.

Nhưng năm Định Dậu năm 1777, Nguyễn Huệ kéo binh vào đánh chiếm Gia Định, Chúa tôi họ Nguyễn phải bỏ thành kéo toàn quân chạy về Định Tường, Cần Thơ. Quân Tây Sơn truy lùng gắt gao, Tân Chính Vương Nguyễn Phúc Dương và một số quan lại bị bắt rồi bị giết, Nguyễn Ánh bắt đầu một cuộc đời long đong vất vả. Ông chạy sang đảo Thổ Châu lánh mình. Tương truyền rằng ông định dùng thuyền để thoát nhưng mỗi lần thuyền bắt đầu rời bến thì một bầy cá sấu nổi lên chặn đường đành phải quay lui, và đến ba lần như vậy, ai nấy cũng đều lấy làm lạ, sau đó mới biết rằng những đêm có cá sấu nổi lên cản đường là những đêm mà quân Tây Sơn phục kích ngoài bể để bắt ông. Tùy tùng theo ông cho rằng ông được trời giúp và che chở. Từ đảo Thổ Châu ông lại dẫn binh về hội với các tướng cũ lấy lại Sài Gòn rồi tiến ra lấy lại Bình Thuận. Sau khi đã cũng cố lực lượng, năm Canh Tý (1780) Nguyễn Phúc Ánh lên ngôi Vương ở Gia Định. Năm Nhâm Dần (1782), thấy Nguyễn Vương thế lực càng mạnh, Nguyễn Nhạc và Nguyễn Huệ kéo quân vào đánh, Sài Gòn thất thủ, Nguyễn Vương lại bôn tẩu về Hà Tiên, ở đây ông dùng thuyền nhỏ để vượt biển. Theo Quốc triều chính biên, đem đó trời rất tối. Ngồi trên thuyền ai cũng có cảm tưởng như thuyền có vật gì đội lên lướt sóng, mờ sáng hôm sau mới biết thuyền của Nguyễn Vương được một bầy rắn biển tụ lại nâng lên; mọi người đều kinh hãi nhưng Nguyễn Vương đã trấn an họ và giục đi mau. Ngày hôm đó thuyền ghé Phúc Quốc, bầy rắn cũng đi mất. Từ Phú Quốc, Nguyễn Vương lại quay về Sai Gòn khi bộ tướng của ông là Châu Văn Tiếp đánh lui được quan Tây Sơn. Mùa thu năm 1783 (Quí Mão), Nguyễn Huệ lại tiến binh vào đánh. Nguyễn Vương lại phải kéo toàn quân chạy trốn, khi qua sông Lạt rồi đến sông Đăng thì hết lối. Vì sông Đăng có nhiều nước chảy xiết lại có nhiều cá sấu. Quân Tây Sơn đuổi riết, Nguyễn Vương đánh liều cỡi trâu qua sông, nhiều lần trâu bị nước cuốn chìm nhưng may nhờ cá sấu đỡ lên nên không chết. Nguyễn Vương thoát chết chạy về Mỹ Tho đưa toàn bộ gia quyến ra Phú Quốc.

Trên đường chạy về Phú Quốc, thuyền Nguyễn vương ghé đảo Côn Lôn. (Sự việc Vương chạy ra đảo Côn Lôn là do sách Đại Nam Thực lục chính biên chép, nhưng theo sách Histoire moderne du pays d'Annam của May Bon thì có lẽ đảo "Côn Lôn" mà Đại Nam Thực lục chép là đảo nhỏ Kohrong trong vịnh Xiêm La, một đảo gần đảo Phú Quốc. Vì với thực lực của Tây Sơn bấy giờ không thể nào cho quân vây ba vòng đảo Côn Lôn được, cũng như Nguyễn Ánh với thuyền nhỏ cũng không thể chạy từ Mỹ Tho vòng lên Côn Lôn rồi rở về Phú Quốc được) Nguyễn Huệ đem toàn bộ thủy quân vây Côn Lôn 3 vòng. Trời còn giúp Vương nên giông tố nổi dậy đùng đùng, mây đen phủ đầy trời, sóng to gió lớn, trời tối mịt không trông thấy nhau. Nhân cơ hội trời tối tăm Nguyễn Vương liều mình xông thuyền thoát khỏi chạy đến đảo Cổ Cốt, tại đây lương thực hết, chúa tôi phải kiếm rau khoai ăn qua ngày, may nhờ có người tiến dâng một ghe gạo nên mới khỏi chết đói. Những ngày sống ở Phú Quốc là những ngày sống vô cùng khổ sở nhưng Nguyễn Vương vốn là con người có chí nên ông bất chấp gian khổ, canh cánh trong lòng một mối thù phục quốc. Nguyễn Vương có thể không như Câu Tiễn của nước Việt thời chiến quốc bên Tàu nhưng ở ông hình ảnh của Câu Tiễn trên bước đường phục quốc chắc đã động viên ông rất nhiều, cính vì thế, những tháng ngày long đong vất vả từ nơi này đến nơi khác vẫn không làm cho Nguyễn Vương nản lòng. Ông tìm đủ mọi cách để lấy lại Đàng Trong mà tổ tiên đã khai phá. Chính vì thế khi biết được Giám mục Pháp Bá Đa Lộc (Pigneau de Behaine) _ Bá Đa Lộc thường được gọi dưới tên là Bi Nhu, đến truyền giáo ở Đàng Trong, rất có uy tín và thế lực tại Pháp lúc bấy giờ. Nguyễn Vương không ngàn ngại cho mời giám mục và định dùng Giám mục Bi Nhu làm sứ giả trong việc cầu viện Pháp. Để đạt được mục đích của chính mình, Nguyễn Vương đã để cho con trưởng của mình là Nguyễn Phúc Cảnh mới 4 tuổi theo Giám mục Bá Đa Lộc sang Pháp. Đưa con đi rồi Nguyễn Vương cũng từ già mẹ và vợ sang Xiêm La mong mượn quân Xiêm về phục quốc. Ngày ra đi, Vương lấy một dật vàng, chẻ làm đôi đưa một nử cho bà phi, nói rằng: "Con ta đi rồi, ta cũng đi, phi ở lại phụng dưỡng quốc mẫu, chưa biết sẽ gặp lại nhau ở nơi nào và bao giờ, khi ấy sẽ lấy vật này làm tin" (Việt sử xứ Đàng Trong của Phan Khoang- tr. 648 lời chú ghi dật là 24 lạng nhưng có sách nói dật là 20 lạng, dật vàng này đến Minh Mạng năm đầu vua sai khắc lên đó. Đây là vật bà hậu Đức Thế tổ Cao hoàng giữ làm tin trong lúc bá thiên văn năm Quí Mão và cất ở đền Phụng Thiên (Trực lục tiền biên) ). Xem lời từ biệt bi thiết như thế đủ biết lực lượng của Nguyễn Vương đã kiệt quệ lắm rồi.
 

Những người đang xem chủ đề này

Xu hướng nội dung

Back