Dịch Dương Thiên Tỉ

Quả táo chán cậu rồi
334 ❤︎ Bài viết: 131 Tìm chủ đề
Đọc: 1,224 Tìm: 2
Đề tài viết về mùa thu đã trở thành nguồn cảm hứng bất tận của thi ca. Trong thơ ca ta bắt gặp rất nhiều bài thơ viết về mùa thu, song mỗi bài thơ lại có cách cảm nhận rất riêng. Với Nguyễn Khuyến thu về là "ao thu lạnh lẽo, nước trong veo". Với Xuân Diệu là "dáng liễu buồn – là áo mơ phai". Còn với Hữu Thỉnh, thu về được gợi tả bằng những chuyển mình đầy tinh tế: "Từ cuối hạ sang đầu thu". Đồng thời, nói lên sự xúc động của dòng người trong khoảng khắc giao mùa.

Mùa thu đi vào trong thơ ca rất nhiều, rất đỗi quen thuộc, nhưng có lẽ thu trong thơ của Hữu Thỉnh để lại trong lòng bạn đọc những ấn tượng khó phai mờ. Trước sự cảm nhận ban đầu của nhà thơ về cảnh sang thu của đất trời, thiên nhiên được cảm nhận từ những gì vô hình nhưng lại trở nên tuyệt đẹp:

"Bỗng nhận ra hương ổi

Phả
vào trong gió se

Sương chùng chình
qua ngõ

Hình như thu đã về"

Khổ thơ đầu bài thơ Sang thu là những cảm nhận tinh tế của nhà thơ khi chợt nhận ra dấu hiệu thu về, một khoảng khắc giao mùa tuyệt đẹp nhưng còn mong manh, mơ hồ. Thu đến với đất trời, với lòng người đột ngột, bất ngờ, như chẳng hẹn trước "Bỗng". Tín hiệu thu về không phải bắt đầu từ hình ảnh những cây ngô đồng, từ mùi hoa sữa, hay lá vàng rụng xào xạc. Mà ở đây thu về được khoác trên mình một chiếc áo tuyệt đẹp bởi hương ổi chín thơm, gió se se, sương chùng chình. Điều đặc biệt trong thơ Hữu Thỉnh là hình ảnh hương ổi, gợi cho ta cái nét thu quen thuộc, dân dã, mà dịu ngọt, đằm thắm ở vùng đồng bằng Bắc Bộ, đó chính là làng quê Việt Nam. Nhưng hương ổi lại phả vào trong ngọn gió se, như lan tỏa, chia mùi thơm trong không gian, để ngọn gió se ấy trở nên thơm tho lạ thường, rồi tác giả không thế thoát khỏi sự ngạc nhiên, bỡ ngỡ, phải thốt lên "Bỗng". Hương thơm ổi thật đậm đà, khuyến rũ, "phả" vào trong không gian thêm nồng đượm, đánh thức khứu giác của tất cả mọi người, kể cả những kẻ vô tình cũng giật mình bối rối về hương thơm của trái cây. Tác giả sử dụng từ "phả" đã lột tả được vẻ đẹp của bức tranh giao mùa. Có thể nói, hương vị của mùa thu đọng trong hương ổi chín đang ướp ngọt cả không gian. Tín hiệu thu về từ ngọn gió se, xuất hiện hình ảnh sương đầu thu lung linh huyền ảo trong các đường thôn, ngõ xóm "sương chùng chình". Thu về, không phải từ cái hình ảnh sương dày đặc như nhà thơ Tây Dũng đã từng viết: "Sài khao sương lấp toàn quân mỏi" mà là hình ảnh "sương chùng chình" gợi những làn sương mỏng mềm mại, sương thu như cố ý chậm lại, quấn quýt bên đường thôn, ngõ xóm, nửa muốn đi, nửa muốn dừng chân. Nhà thơ đã nhân hóa hình ảnh sương làm cho thu chứa đầy tâm trạng. Nó như đang luyến tiếc trước lúc giao mùa từ cuối hạ sang đầu thu hay chờ đợi ai, lưu luyến điều gì? Bức tranh "Sang thu" của Hữu Thỉnh được vẽ lên bằng ngôn từ đầy tinh tế. Cái tinh tế ấy được thể hiện qua nhiều giác quan. Thu đã về nhưng tại sao tác giả còn ngỡ ngàng, bâng khuâng "hình như". Có lẽ, bước chân thu đến quá nhẹ nhàng, phải có những cảm nhận tinh tế nhất mới có thế nhận ra sự chuyển biến của mùa thu.

Nói tóm lại, bằng tất cả các giác quan: Khứu giác, xúc giác, thi giác, nhà thơ đã cảm nhận được những nét đặc trưng của thu về. Khổ thơ trên sử dụng nghệ thuật miêu tả kết hợp động từ "Phả", nhân hóa: "Sương chùng chình", Tình thái từ "hình như" gợi thái độ ngạc nhiên, ngỡ ngàng như phỏng đoán, xao động trước tín hiệu sang thu. Cái đặc biệt hơn là tâm trạng nhà thơ bối rối, giật mình như mơ hồ, như có 1 điều gì chưa thật rõ ràng trong cảm nhận. Qua đó, nhà thơ gợi tả 1 bức tranh tín hiệu từ hạ - thu qua những hình ảnh quen thuộc, bình dị, đã gợi ra cả 1 k gian huyền ảo của thời điểm giao mùa nhẹ nhàng nhưng đầy tinh tế, khuyến rũ. Từng cảnh sang thu thấp thoáng hồn người.

Nếu như ở khổ thơ 1 là hình ảnh tín hiệu thu về trong cái bâng khuâng, ngỡ ngàng, từ những gì

Nhỏ hẹp, vô hình "hương ổi – gió se – sương chùng chình" thì đến đây những tín hiệu ban đầu ấy lại được mở ra trong một không gian dài rộng, cao vời với những nét hữu hình, nhiều tầng bậc, đó là hình ảnh dòng sông quê hương, cánh chim chiều.

Viết về hình ảnh dòng sông quê hương, ta bắt gặp trong thơ ca rất nhiều như sông quê trong thơ Tế Hanh "Nước gương trong soi tóc những hàng tre.." thì trong thơ Hữu Thỉnh dòng sông lại hiện hữu lên 1 vẻ đẹp rất đặc biệt đó là dòng sông "dềnh dang". Hình ảnh đó được khắc họa qua khổ thơ sau:

"Sông được lúc dềnh dàng

Chim
bắt đầu vội vã

đám mây mùa hạ

Vắt
nửa mình sang thu"

Thu đem đến cho tạo vật sự đổi mới "sông dềnh dàng" là dòng sông nước chảy trôi chầm chậm, gợi liên tưởng tới hình ảnh dòng sông dường như thanh thản, gợi vẻ êm dịu của thiên nhiên, đó là một bức tranh mùa thu, dòng sông xanh, lững lờ trôi, mang theo cái dáng vẻ hiền hóa, bình lặng, bởi sông đã qua cái mùa bão lũ. Khác hẳn với dòng sông mùa hạ, bởi dòng sông ấy phải chứa đựng đầy nước của những cơn mưa mùa hạ bất chợt hay kéo dài, dòng sông đục ngầu, chảy xiết, mang theo bao nhiêu phù xa đỏ nặng và dòng sông ấy trở nên dữ tợn. Đặc điểm khí hậu Việt Nam với 4 mùa rõ rệt "xuân – hạ - thu – đông" và mùa thu đã đến với ngọn gió heo may, mang theo cái se se lạnh để rồi những cánh chim chiều ấy vội vã, bắt đầu chuẩn bị cho chuyến đi bay tránh rét, từ phương Bắc về phương Nam. Nhưng cái tài của nhà thơ lại sử dụng hình ảnh đối lập của sự vật, tự nhiên, cánh chim chiều bay đi tránh rét để khẳng định hạ sắp qua, thu đã tới đó chính là sự đối lập của thiên nhiên vừa có nét hối hả, vội vã, vừa có nét dịu dàng, êm đềm. Nhưng có lẽ, tinh tế nhất, thú vị nhất phải kể đến sự cảm nhận "có đám mây mùa hạ" còn sót lại trên bầu trời. Nhà thơ đã dùng động từ "vắt" khiến ta liên tưởng đến trong thời điểm giao mùa đám mây treo lơ lửng trước bầu trời cao rộng, thật mềm mại, duyên dáng, có chút tinh nghịch. "Vắt nửa mình sang thu" như một tấm lụa mỏng, kéo dài trong không trung. Nhưng hình ảnh ấy lại gợi lên trong lòng bạn đọc liên tưởng thú vị, bởi với cụm từ "vắt nửa mình sang thu". Vậy hình ảnh đó có lẽ khiến người đọc liên tưởng tới hình ảnh đám mây như tấm lụa đang nhẹ dàng vắt ngang giữa gianh giới thu và hạ. Tấm lụa ấy vắt lên cái gianh giới mỏnh manh cứ bé dần, bé dần lại để rồi một lúc nào đó sự sống đó sẽ nhuộm đầy sắc thu. Đây chính là cách liên tưởng thú vị, đầy chất thơ của Hữu Thỉnh. Chỉ với 4 câu thơ thôi nhưng tất cả đã làm nổi bật bức tranh mùa thu đầy sức sống.

Bằng nghệ thuật nhân hóa kết hợp động từ "vắt", hình ảnh đối lập. Qua đó, nhà thơ đã làm nổi bật bức tranh giao mùa hạ - thu qua cảm nhận tinh tế từ những giác quan và cảm xúc của nhà thơ, dường như giữa mùa hạ và thu khắc họa trong thơ của Hữu Thỉnh mang 1 vẻ đẹp tinh tế, dịu dàng. Bức tranh "Sang thu" của Hữu Thỉnh trở nên có hồn, sống động. Phải là người có tình yêu thiên nhiên tha thiết, trí tưởng tượng bay bổng thì mới có thể gợi lên trong lòng bạn đọc bức tranh mùa thu trong sáng, đầy sống động

Thiên nhiên sang thu tiếp tục được nhà thơ gợi tả qua những hình ảnh rất đỗi quen thuộc "nắng – mưa – sấm – hình ảnh hàng cây". Đó chính là những nét đặc trưng của mùa hạ nhưng sang thu những hình ảnh ấy được giảm dần về mức độ gay gắt, dữ dội. Từ đó tác giả bộc lộ suy ngẫm, cảm nhận về cuộc đời và con người:

"Vẫn còn bao nhiêu nắng

Đã vơi dần cơn mưa

Sấm cũngbớt bất ngờ

Trên hàng cây đứng tuổi"

Khổ thơ trên, tác giả sử dụng cụm từ "vẫn còn" ý thơ như một lời khẳng định nắng mùa hạ vẫn

Còn nồng nhưng cái nắng ấy cũng bắt đầu dịu nhẹ đi, nó không còn chói chang, gay gắt, nó cũng không thể đốt cháy da, cháy thịt của con người, những cơn mưa rào bất chợt mùa hạ cũng vơi đi. Cái hay, cái sáng tạo mà bạn đọc cảm nhận được nó thể hiện cụ thể ở ý thơ "sấm cũng bớt bất ngờ". Thu đến không còn những tiếng sấm bất ngờ, vang động hay những tiếng sét đến rùng mình như xé rách khoảng trời. Hai câu thơ chỉ với từ "bao nhiêu", "vơi" tính từ chỉ ước lượng, chưa có số lượng cụ thể, cách nói mơ hồ đã khẳng định hạ sắp hết, thu đã về rồi.

Nếu như ở hai câu đầu khổ cuối, diễn tả bức tranh mùa thu với những tín hiệu rõ rệt về thời tiết, thiên nhiên "mưa, nắng, sấm" thì đến 2 câu cuối lại nâng lên thành những trải nghiệm, triết lí sâu sắc về cuộc đời mỗi con người trong xã hội. Từ "hàng cây đứng tuổi" của thiên nhiên rất gần gũi với con người nhưng với Hữu Thỉnh hình ảnh hàng cây lại trở nên đa nghĩa. Đa nghĩa ở chỗ nó mang 2 tầng nghĩa cụ thể. Nghĩa tả thực chỉ quy luật tuần hoàn của thiên nhiên. "Hàng cây đứng tuổi" phải chăng là hàng cây lâu năm, cây cổ thụ, hàng cây ấy đã chứng kiên bao nhiêu cảnh nắng, mưa của thời tiết, thậm trí hàng cây ấy còn phải trải qua bao nhiêu giông tố của thiên nhiên, nhưng nó vẫn hiên ngang, sừng sững giữa đất trời, rễ ăn sâu vào lòng đất, cành lá xum xuê với một sức sống mạnh mẽ. Nhưng câu thơ không dừng lại ở đó, nó còn mang tầng nghĩa hàm ẩn "hàng cây đứng tuổi" chỉ dân tộc, những con người từng trải, họ trải qua muôn vàn khó khăn, gian khổ của những năm tháng đấu tranh không ngừng nghỉ, chống giặc ngoại xâm với 4000 năm lịch sử, từ trong gian lao ấy, dân tộc ấy, con người ấy vẫn vươn lên sống mạnh mẽ, kiên cường, bất khuất. Họ quả thực phải được so sánh với cây tùng, cây bách, sừng sững, hiên ngang trong thiên nhiên mà không chút nghiêng ngả, dù giông tố có mạnh đến đâu thì cũng không khuất phục được. Hai câu thơ cuối như 1 lời triết lí sâu sắc: Khi con người ta đã từng trải, thì con người ấy sẽ vững vàng hơn trước bất kì tác động của ngoại cảnh, cuộc đời.

Bài thơ sang thu được viết theo thể thơ tự do, bố cục chặt chẽ, mạch thơ phù hợp vs cảm xúc bâng khuâng, xao xuyến của nhà thơ khi mùa thu về với cảm nhận tinh tế vs nhiều giác quan qua những hình ảnh thơ liên tưởng độc đáo, sáng tạo kết hợp với biện pháp tu từ, nhân hóa, ẩn dụ, đặc biệt là nghệ thuật điệp ngữ, hình ảnh đối lập, những từ láy. Qua đó, tác giả đã tạo nên 1 bức tranh giao mùa hạ - thu đầy chuyển động, nhẹ nhàng mà tinh tế.. Có lẽ, phải là người yêu thiên nhiên tha thiết, mãnh liệt thì ms có thể viết lên những vần thơ sâu lắng trong tim bạn đọc đến vậy.

Khép lại bài thơ, mở ra trong lòng bạn đọc những ấn tượng khó phai mờ về bức tranh mùa thu qua cảm nhận của nhà thơ ban đầu là những tín hiệu từ những gì vô hình, rồi thu về được miêu tả rõ rệt hơn qua hình ảnh thiên nhiên tuyệt đẹp. Từ đó..

Đây là bài mấy năm trước mình viết
 
Last edited by a moderator:
977 ❤︎ Bài viết: 30 Tìm chủ đề
[ BÀI NÀY DO MÌNH TỰ VIẾT, KHÔNG PHẢI SƯU TẦM]

Puskin từng viết: "Linh hồn là ấn tượng của một tác phẩm. Cây có sống được là nhờ ánh sáng, chim muông sống được là nhờ tiếng ca, một tác phẩm sống được là nhờ tiếng lòng của người cầm bút". Và nhà thơ Hữu Thỉnh đã không ngần ngại thổ lộ hết những tâm tư của lòng mình bằng những tiếng thơ khắc khoải. Với "Sang thu" ông đã thể hiện tất cả những cảm xúc, tâm sự và hoài niệm của chính mình. Chỉ với hai khổ thơ đầu ông đã cho người đọc cảm nhận được rõ nét nhất bức tranh giao mùa đầy rung Khoảnh khắc chớm thu, mọi tín hiệu khe khẽ, nhẹ nhàng như một bản ballad ngân vang giữa bốn bề không gian. Nhịp điệu vận động của ngoại cảnh tuy mơ hồ, nhạt nhòa nhưng vẫn hữu hình trong tâm cảnh của Hữu Thỉnh, để rồi thi nhân phải giật mình thảng thốt:

"Bỗng nhận ra hương ổi

Phả vào trong gió se

Sương chùng chình qua ngõ

Hình như thu đã về"

Hữu Thỉnh thể hiện sự tài tình khi sử dụng ngôn ngữ một cách điêu luyện. Chữ "bỗng" bật ra trong sự bất ngờ đầy thú vị. Thu đã về với đất trời, với lòng người mà không hề báo trước. Với hai câu thơ với hàng loạt những hình ảnh mang tính biểu trưng, Hữu Thỉnh đã đưa đến cho chúng ta những cảm nhận sâu sắc mùi vị của thiên nhiên. Đó là mùi thơm của hương ổi, cái lạnh nhè nhẹ chạm vào da thịt của gió se. Thu đến trong thơ Hữu Thỉnh một cách rất riêng, không phải lá ngô đồng, không phải hương cốm mới, không phải hoa cau rụng, mùa thu bất chợt xuất hiện với hương ổi chín thơm lựng trong gió hanh se. Với Hữu Thỉnh, mùa thu đến với ông qua mùi thơm của hương ổi, thứ hương thơm dân dã, bình dị của đồng quê. Nó không rõ ràng như hương ngô đồng, hay nồng nàn như mùi cốm mới mà nó là thứ hương thoảng qua. Hương vị ấy đơn sơ, mộc mạc, gợi những gì làng quê nhất. Gió se là làn gió nhè nhẹ lướt quá, mang theo một hơi lạnh. Huy động khứu giác để cảm nhận mùi thơm của hương ổi, xúc giác để cảm nhận cái lạnh của gió se, mùa thu như lan tỏa khắp không gian nơi vườn thôn, ngõ xóm. Cùng với hương thơm của ổi chín là hơi lạnh của gió se tràn về xua tan đi cái nóng oi bức của mùa hè, mang lại cảm giác dễ chịu. "Phả" vốn là một động tác mạnh gợi một cái gì đó đột ngột, nó diễn tả cái tốc độ của gió, vừa diễn tả sự bất chợt trong cảm nhận. Thi sĩ đã sử dụng rất đắt từ ngữ gợi tả, chỉ một từ ấy cũng đủ gợi liên tưởng đến một mùi hương như đang đặc sánh lại, ngào ngạt, đậm đặc, nồng nàn du ngoạn trong miền gió, được làn gió chở đến gõ cửa những ngôi nhà tranh, mang đi khắp ngõ ngách của làng quê. Câu thơ không chỉ đơn thuần là tả mà còn khiến người đọc liên tưởng đến màu vàng ươm, vị ngọt, giòn, chua chua nơi đầu lưỡi của trái ổi quê nhà. Phải chăng hương ổi đã lan tỏa, chiếm lĩnh gió se. Phải là người rất để ý quan sát thiên nhiên, đất trời thì Hữu Thỉnh mới viết đợi những câu thơ vừa "tinh" vừa có hồn đến thế. Dường như trong cách nhìn của tác giả, mọi vật không đơn thuần là cảnh vật mà như một con người có cảm xúc, tâm hồn. Mùa thu trong thơ Hữu Thỉnh không chỉ là hương ổi, là gió se mà còn là hình ảnh những màn sương sớm:

"Sương chùng chình qua ngõ"

Sương được miêu tả như một thực thể hữu hình có sự vận động – một sự vận động chậm rãi. Không chỉ cảm nhận mùa thu bằng khứu giác, xúc giác mà giờ đây nhà thơ còn huy động cả thị giác để toàn tâm, toàn ý cảm nhận mùa thu về. Từ láy chùng chình gợi dáng vẻ chậm chạp, tư lự. Làng sương ấy được nhân hóa như thiếu nữ đôi mươi. Làng sương ấy hiện lên như sắc màu cổ tích khiến cho cảnh vật làng quê trở nên tuyệt đẹp. Tất cả tạo nên một bức tranh thu nơi thôn quê yên ả, thanh bình. Nhà thơ đã đón nhận thu về bằng cả tấm lòng và tâm hồn mình. Những tín hiệu gây ấn tượng mới lạ bởi sự mong manh, mơ hồ, không rõ nét. Phải vậy chăng mà nhà thơ, khi đã cảm nhận những nét riêng của mùa thu, vẫn còn dè dặt để thốt lên rằng:

Hình như thu đã về

Hai chữ "hình như" gợi ra một cảm giác đầy mơ hồ, mong manh giống như một sự tự vấn lòng mình. Thế nhưng thực ra là một lời thông báo – một thông báo rất nhẹ nhàng, ý vị. Mùa thu giờ đây như xâm chiếm cả không gian, thời gian. Bằng cái nhìn tinh tế, nhạy cảm của một nhà thơ, chỉ với một khổ thơ với hai mươi tiếng đã để lại cho người đọc biết bao rung động về khoảnh khắc giao mùa của đất trời thật ngỡ ngàng, gợi cảm nhưng cũng thật ấm áp.

Phải đến đoạn thơ thứ hai bức tranh mùa thu mới rõ nét hơn, hữu hình hơn

"Sông được lúc dềnh dàng

Chim bắt đầu vội vã

Có đám mây mùa hạ

Vắt nửa mình sang thu".

Dòng sông lúc sang thu không còn chảy xiết, cuộn từng xoáy như ngày hạ chí mà bỗng trở nên "dềnh dàng", thông thả, lững lờ trôi. Nó gợi ra trong ta bóng dáng những con người sống chậm, sống nhẹ nhàng giữa lòng thị thành tấp nập ngược xuôi, như "người khách bộ hành phiêu lãng khoan thai và thư thái ngắm nhìn vẻ đẹp của thế gian. Dường như dòng sông còn vương vấn mùa hạ chưa muốn dứt nên cố tình chảy chậm lại để lưu giữ những gì còn sót lại của mùa hạ đã qua. Trái ngược với sự chậm rãi của dòng sông là sự gấp gáp, vội vã của cánh chim. Thu sang cũng là lúc những đàn chim chuẩn bị về phương Nam tránh rét để chống chọi với thời tiết khắc nghiệt của mùa đông, Hữu Thỉnh đã chắt chiu, kí thác tinh hoa của một tâm hồn thi sĩ, tinh túy của một tác phẩm thi ca vào đôi dòng thơ:" Có đám mây mùa hạ

Vắt nửa mình sang thu. "

Câu thơ ngân lên với một sự liên tưởng độc đáo. Hai câu thơ trên còn chất chứa cả những suy tư, trăn trở của chính tác giả, những bâng khuâng, tiếc nuối như muốn níu kéo chút chói chang, nồng nàn của mùa hạ. Khi viết bài thơ này, tác giả tâm sự rằng ông đã từng liên tưởng đến những đám mây trọn vẹn một màu thu. Tác giả đã dùng phép nhân hóa đám mây tạo cho nó một dáng vẻ, một hành động giống như một con người, có chút gì đó lười biếng, có chút gì đó vấn vương lắm cái mùa hạ nên mới chỉ" vắt nửa mình sang thu ". Còn nửa kia thì đang nhớ thương mùa hạ. Đồng thời câu thơ còn lần nữa nhấn mạnh vào chủ đề của bài thơ là" Sang thu "tức là chưa bước hẳn vào mùa thu thực thụ, Hữu Thỉnh đã chắt chiu, kí thác tinh hoa của một tâm hồn thi sĩ, tinh túy của một tác phẩm thi ca vào đôi dòng thơ:

Động của đất trời.

Sự chuyển biến nhẹ nhàng được tác giả cảm nhận bởi tất cả các giác quan, bởi những điều khó nhận biết nhưng đối với Hữu Thỉnh ông đã có những cảm nhận rất tinh tế, sâu sắc. Tác giả đã vận dụng thành công một số biện pháp tu từ như nhân hóa, ẩn dụ.. Chỉ với vài hình ảnh thơ mộc mạc, gần gũi song hành cùng ngôn ngữ sáng tạo, chọn lọc, thi sĩ đã bắt trọn được cái hồn của cảnh vật qua ngòi bút nghệ thuật thanh, nhẹ và tài hoa.

Chỉ bốn câu thơ nhưng lại để trong lòng người đọc biết bao rung động. Bốn câu thơ còn chứa đựng trong đó là bức tranh thiên nhiên thôn quê khi thu về. Điều này đã khiến đoạn thơ càng trở nên gần gũi, thân thuộc. Khổ thơ đã góp phần quan trọng tạo nên bài thơ" Sang thu", một áng thơ thu duyên dáng và tài tình trong thi đề mùa thu quen thuộc của văn học Việt Nam. Bằng nét vẽ gợi tả, Hữu Thỉnh đã giúp người đọc cảm nhận được sự chuyển mình của mùa thu. Đồng thời qua đây người đọc cũng thấy được khả năng quan sát tinh tế, ngòi bút miêu tả độc đáo của tác giả. Chính điều đó đã góp phần làm nên thành công và tạo chỗ đứng trong lòng độc giả.
 
977 ❤︎ Bài viết: 30 Tìm chủ đề
PHÂN TÍCH SANG THU

Puskin từng viết: "Linh hồn là ấn tượng của một tác phẩm. Cây có sống được là nhờ ánh sáng, chim muông sống được là nhờ tiếng ca, một tác phẩm sống được là nhờ tiếng lòng của người cầm bút". Và nhà thơ Hữu Thỉnh đã không ngần ngại thổ lộ hết những tâm tư của lòng mình bằng những tiếng thơ khắc khoải. Với "Sang thu" ông đã thể hiện tất cả những cảm xúc, tâm sự và hoài niệm khi đứng giữa khúc ca giao mùa đầy rung động của đất trời.

Hữu Thỉnh gia nhập quân ngũ và trở thành nhà thơ quân đội, là một trong những gương mặt tiêu biểu trưởng thành trong thời kì kháng chiến chống Mĩ cứu nước. Bài thơ được viết cuối năm 1977. Bài thơ thể hiện những cảm nhận tinh tế của nhà thơ trước chuyển biến của thiên nhiên từ hạ sang thu.

Khoảnh khắc chớm thu, mọi tín hiệu khe khẽ, nhẹ nhàng như một bản ballad ngân vang giữa bốn bề không gian. Nhịp điệu vận động của ngoại cảnh tuy mơ hồ, nhạt nhòa nhưng vẫn hữu hình trong tâm cảnh của Hữu Thỉnh, để rồi thi nhân phải giật mình thảng thốt:

"Bỗng nhận ra hương ổi

Phả vào trong gió se

Sương chùng chình qua ngõ

Hình như thu đã về"

"Bỗng" là một trạng thái chưa được chuẩn bị trước, như là vô tình, sửng sốt để cảm nhận, giữa những âm thanh, hương vị và màu sắc đặc trưng của đất trời lúc sang thu. Nhà thơ nhận ra tín hiệu của sự chuyển mùa từ ngọn gió nhè nhẹ, lành lạnh se khô mang theo hương ổi. Kỳ lạ thay, tín hiệu đầu tiên để tác giả nhận ra mùa thu lại chính là hương ổi- một thứ hương thơm mộc mạc mà lại giản dị, thân quen của trời thu phương Bắc. Thu đến trong thơ Hữu Thỉnh một cách rất riêng, không phải lá ngô đồng, không phải hương cốm mới, không phải hoa cau rụng, mùa thu bất chợt xuất hiện với hương ổi chín thơm lựng trong gió hanh se. Trong biết bao hương vị thân thuộc của làng quê vậy mà Hữu Thỉnh lại giật mình thoảng thốt nhận ra mùi hương ngây ngất ngọt ngào của trái ổi đầu mùa. Cùng với hương thơm của ổi chín là hơi lạnh của gió se tràn về xua tan đi cái nóng oi bức của mùa hè, mang lại cảm giác dễ chịu. Từ "phả" vừa gợi ra cái bất chợt, vừa gợi ra cái hương thơm của ổi, lại vừa gợi ra sự vận động nhẹ nhàng của gió. Thi sĩ đã sử dụng rất đắt từ ngữ gợi tả, chỉ một từ ấy cũng đủ gợi liên tưởng đến một mùi hương như đang đặc sánh lại, ngào ngạt, đậm đặc, nồng nàn du ngoạn trong miền gió, được làn gió chở đến gõ cửa những ngôi nhà tranh, mang đi khắp ngõ ngách của làng quê. Câu thơ không chỉ đơn thuần là tả mà còn khiến người đọc liên tưởng đến màu vàng ươm, vị ngọt, giòn, chua chua nơi đầu lưỡi của trái ổi quê nhà. Phải chăng hương ổi đã lan tỏa, chiếm lĩnh gió se. Phải là người rất để ý quan sát thiên nhiên, đất trời thì Hữu Thỉnh mới viết đợi những câu thơ vừa "tinh" vừa có hồn đến thế. Dường như trong cách nhìn của tác giả, mọi vật không đơn thuần là cảnh vật mà như một con người có cảm xúc, tâm hồn.

"Sương chùng chình qua ngõ

Hình như thu đã về"

Từ láy chùng chình gợi cảm giác về sự lưu luyến, ngập ngừng, gợi cảnh thu sống động trong tĩnh lặng, thong thả, yên bình. Từ láy ấy phải chăng chính là tâm trạng của Hữu Thỉnh, mang chút tiếc nuối, mang chút quyến luyến lại pha thêm vài giọt bịn rịn của thi nhân khi bồi hồi nhận ra mùa hạ đã đi qua từ lúc nào.. Làng sương được nhân hóa như thiếu nữ đôi mươi. Làng sương ấy hiện lên như sắc màu cổ tích khiến cho cảnh vật làng quê trở nên tuyệt đẹp. Trong sự ngỡ ngàng, cả khứu giác, xúc giác và thị giác đều đang mách bảo rằng thu đã về mà con người vẫn chưa còn chưa dám tin, chưa dám chắc. Thành phần tình thái "hình như" tựa sự phỏng đoán nửa tin nửa ngờ, nửa khẳng định, nửa kia lại hoài nghi, là cái ngỡ ngàng ngạc nhiên, bâng khuân xao xuyến của thi sĩ trước khung cảnh dao động của đất trời sang thu. Sang khổ thơ thứ hai, mọi vật dường như đã chân thật và hữu hình hơn rất nhiều:

"Sông được lúc dềnh dàng

Chim bắt đầu vội vã

Có đám mây mùa hạ

Vắt nửa mình sang thu".

Dòng sông lúc sang thu không còn cuồn cuộn gấp gáp như ngày hạ mà bỗng trở nên thong thả dềnh dàng, lờ lững trôi như đang còn ngẫm ngợi suy tư. Dường như dòng sông còn vương vấn mùa hạ chưa muốn dứt nên cố tình chảy chậm lại để lưu giữ những gì còn sót lại của mùa hạ đã qua. Trái ngược với sự chậm rãi của dòng sông là sự gấp gáp, vội vã của cánh chim. Thu sang cũng là lúc những đàn chim chuẩn bị về phương Nam tránh rét để chống chọi với thời tiết khắc nghiệt của mùa đông hay cũng có thể nó chỉ đang vội vã quay về tổ trước lúc những ánh mặt trời cuối cùng vỡ tan vào trong màn đêm. Hữu Thỉnh đã chắt chiu, kí thác tinh hoa của một tâm hồn thi sĩ, tinh túy của một tác phẩm thi ca vào đôi dòng thơ: "Có đám mây mùa hạ

Vắt nửa mình sang thu."

Câu thơ ngân lên với một sự liên tưởng độc đáo, chất chứa cả những suy tư, trăn trở của chính tác giả, những bâng khuâng, tiếc nuối như muốn níu kéo chút chói chang, nồng nàn của mùa hạ. Tác giả đã dùng phép nhân hóa đám mây tạo cho nó một dáng vẻ, một hành động giống như một con người, có chút gì đó lười biếng, có chút gì đó vấn vương lắm cái mùa hạ nên mới chỉ "vắt nửa mình sang thu". Còn nửa kia thì đang nhớ thương mùa hạ. Đồng thời câu thơ còn lần nữa nhấn mạnh vào chủ đề của bài thơ là "Sang thu" tức là chưa bước hẳn vào mùa thu thực thụ. Hữu Thỉnh đã chắt chiu, kí thác tinh hoa của một tâm hồn thi sĩ, tinh túy của một tác phẩm thi ca vào đôi dòng thơ:

"Vẫn còn bao nhiêu nắng

Đã vơi dần cơn mưa

Sấm cũng bớt bất ngờ

Trên hàng cây đứng tuổi".

Cuối cùng, tới những câu thơ cuối, thu đã hiện ra rõ ràng hơn bao giờ hết, cùng với cách tác giả lắng động lại để suy tư, để hoài niệm về cuộc đời. Vẫn là nắng đấy, nhưng đã mờ phai. Vẫn là mưa, là sấm nhưng đã chẳng còn bất ngờ ồn ã như lúc trước. Nhà thơ đã tinh tế kết hợp những hình ảnh ấy với các từ chỉ mức độ "vẫn còn", "bao nhiêu", "vơi dần" để gợi tả tần suất thưa thớt, lắng lại, chừng mực và ổn định hơn. Bài thơ khép lại với hình ảnh sấm và hàng cây vừa có tính tả thực vừa mang ý nghĩa ẩn dụ, gợi ra những suy tư thâm trầm. Tất cả những gì đặc sắc nhất của mùa hạ dường như đều mờ phai, nhạt dần và nhẹ nhàng hơn. Song, bằng việc vận dụng phép ẩn dụ đầy nghệ thuật, đằng sau đôi dòng thơ cuối bài là một tầng nghĩa với bao trầm ngâm, chiêm nghiệm. Tiếng sấm là những vang động, biến thiên bất thường, những vệt sáng của gian truân, của khó khăn luôn hiện hữu trong cuộc đời mỗi con người. Còn "hàng cây đứng tuổi" ngụ ý chỉ những người đã bước vào cái ngưỡng trưởng thành, trải nghiệm và dấn thân nhiều hơn, họ kinh qua những cảm xúc từ mất mát tang thương đến vỡ òa hạnh phúc. Bởi vậy, những người từng trải trở nên dày dặn kinh nghiệm, điềm tĩnh và vững vàng hơn. Chuyển biến của thời cuộc, phong ba bão táp của ngoại cảnh đã chẳng còn tác động quá lớn đến họ. Họ biết dung hòa cảm tính và lí tính, bình tâm và suy nghĩ thấu đáo hơn, không còn nóng nảy, bồng bột như xưa.

Sự chuyển biến nhẹ nhàng được tác giả cảm nhận bởi tất cả các giác quan, bởi những điều khó nhận biết nhưng đối với Hữu Thỉnh ông đã có những cảm nhận rất tinh tế, sâu sắc. Tác giả đã vận dụng thành công một số biện pháp tu từ như nhân hóa, ẩn dụ.. Chỉ với vài hình ảnh thơ mộc mạc, gần gũi song hành cùng ngôn ngữ sáng tạo, chọn lọc, thi sĩ đã bắt trọn được cái hồn của cảnh vật qua ngòi bút nghệ thuật thanh, nhẹ và tài hoa.

Hạ đi, thu đến mang theo những cảm xúc bất chợt để rồi gieo lại trong lòng ai những bồi hồi về một nàng thu nồng nàn êm ái. Hữu Thỉnh đã khắc họa nên bức tranh giao mùa ấy bằng ngòi bút sắc nét mang đầy hơi thở trữ tình cùng những triết lý sâu xa. Với những dòng thở bốn chữ vỏn vẹn, bài thơ mộc mạc một tình yêu thiên nhiên đằm thắm, về khát khao yêu đời mà tác giải mong muốn gửi gắm cho bạn đọc cũng như gửi lại cho tuổi trẻ của chính mình đã đi qua tự thuở nào. Tác phẩm như viên pha lê đầy góc cạnh, trải qua bao thăng trầm để trọn vẹn lung linh. "Sang thu" chính là như thế! Sinh ra trên đời để lặng lẽ yêu thương và du dương suốt dặm đường.
 
Từ khóa: Sửa

Những người đang xem chủ đề này

Xu hướng nội dung

Back