Official

The Very Important Personal
96 ❤︎ Bài viết: 121 Tìm chủ đề
Đọc: 38,183 Tìm: 3
Tết trung thu của Việt Nam diễn ra vào ngày 15 của tháng 8 trong âm Lịch, đây là thời gian mặt trăng tròn nhất và sáng nhất, đây cũng là thời gian người Châu Á thu hoạch xong mùa vụ và bắt đầu tổ chức những lễ hội mà tiêu biểu trong đó là lễ hội trăng rằm. Món ăn được người Á Đông lưu tâm nhất trong mùa lễ hội này đó là bánh trung thu, với rất nhiều hương vị khác nhau và thường được thưởng thức với trà, thường là trà đặc.

Đối với người phương Đông, trung thu là một trong hai lễ hội quan trọng nhất sau tết âm lịch. Trong những ngày này các gia đình thường quây quần bên nhau, cùng ăn bánh trung thu, bưởi, uống trà và ngắm trăng. Có khi họ dùng bữa ngoài trời và trẻ con nông thôn thường hay đặt vỏ quả bưởi trên đầu như là một biểu hiện để xua đi những điều không may không tốt lành trong nửa năm vừa qua và cầm lồng đèn "đi dạo" khắp phố phường. Ngoài ra, đây cũng là ngày mà nhiều hoạt động văn hóa, lễ hội diễn ra: Những buổi "hương khói" thần mặt trăng, đốt đèn lồng, múa rồng, múa lân.

Có rất nhiều truyền thuyết về ngày tết trung thu, dưới đây sẽ là hai truyền thuyết có lẽ là hay nhất, tình cảm nhất và một truyền thuyết trên khía cạnh lịch sử.

YwzQyka.jpg


Truyền thuyết đầu tiên

Ở Trung Hoa, tết trung thu đã có từ thời Đường Huyền Tông (Đường Minh Hoàng), đầu thế kỷ thứ 8. Theo truyền thuyết, sau khi dẹp xong An Lộc Sơn, Đường Minh Hoàng nhớ thương Dương quý phi không nguôi. Đêm rằm tháng tám, gió mát, trăng tròn thật đẹp, một vị tiên xuất hiện tình nguyện đưa vua đi gặp quý phi. Vị tiên hóa phép tạo một chiếc cầu vồng, một đầu giáp cung trăng, một đầu chấm mặt đất, nhà vua trèo lên cầu vồng đi lên cung Quảng, nhìn thấy quý phi xưa trong đoàn vũ. Trở về trần thế, vua luyến tiếc cảnh cung trăng đầy thơ mộng, đặt ra tết trung thu. Trong ngày tết này, lúc đầu chỉ uống rượu thưởng trăng nên còn gọi là tết ngắm trăng. Truyền thuyết thứ haiLiên quan đến Hậu Nghệ và Hằng Nga, một trong 4 đôi tình nhân nam nữ đã trở thành truyền thuyết nổi tiếng nhất của Trung Hoa. Hằng Nga và Hậu Nghệ đều là những vị thần bất tử sống trên thiên đình. Một ngày kia, người con trai thứ 10 của Ngọc Hoàng đã phân thân thành mười mặt trời từ đó gây nên thảm kịch cho loài người. Trước tình hình đó, Hậu Nghệ, với tài bắn tên của mình đã bắn rơi 9 mặt trời nhưng vì tình cảm, đã tha chết cho bản thể thứ 10 của con trai của Ngọc Hoàng. Dĩ nhiên, Ngọc Hoàng không chấp nhận và rất phật ý. Ông ta đã trừng phạt Hậu Nghệ và Hằng Nga bằng cách bắt họ phải sống cuộc đời con người ở trần thế.

Sau khi xuống trần thế, hối tiếc cuộc sống bất tử đã qua, Hậu Nghệ đã bỏ nhà ra đi tìm thứ thuốc có thể trường sinh bất lão. Cuối cùng, chàng tìm thấy Tây Vương Mẫu, bà đã cho Hậu Nghệ linh dược, nhưng dặn rằng: Mỗi người chỉ nên uống nửa viên để có được sự sống trường tồn. Hậu Nghệ đem viên thuốc về nhà và để nó trong một chiếc lọ. Chàng đã cảnh báo Hằng Nga không được mở chiếc lọ ra để xem trong đó có gì và đi săn bắn trong vài tháng. Cũng giống như Pandora trong Thần Thoại Hi Lạp. Sự tò mò đã làm Hằng Nga mở chiếc lọ và tìm thấy viên thuốc, dĩ nhiên nàng đã uống hết viên linh dược mà không biết rằng mỗi người chỉ nên uống nửa viên. Hậu quả thật tai hại, Hằng Nga đã bay về mặt trăng mà không thể cứu vãn được. Kể từ đó cả hai người đã phải sống trong tình cảnh chia lìa, ngăn cách.

Truyền thuyết còn kể lại rằng nàng đã kêu gọi những con thỏ ở mặt trăng tạo ra viên thuốc giống như vậy để nàng còn quay về với người chồng ngày đêm mong nhớ, nhưng tất cả đều vô dụng. Cuối cùng, trong sự hối hận và cắn rứt của cả hai người, Hậu Nghệ đã xây một lâu đài trong mặt trời và đặt tên là "Dương", trong khi đó thì Hằng Nga cũng xây một lâu đài tương tự đặt tên là "Âm". Cứ mỗi năm một lần, vào ngày rằm tháng 8, hai người được đoàn viên trong niềm hân hoan hạnh phúc. Chính vì thế mà mặt trăng luôn thật tròn và thật sáng vào ngày này như đê nói đến niềm vui, sự hân hoan khi được gặp mặt của hai con người này.

Truyền thuyết thứ 3 về khía cạnh lịch sử

Ở khía cạnh lịch sử thì tết trung thu được cho là thời điểm kỷ niệm của quân Minh chống lại quân Nguyên vào đầu thế kỷ XIV. Vào thời đó, quân Minh đang nổi dậy chống lại triều đình nhà Nguyên chính vì vậy, việc tụ tập tại những nơi công cộng bị cấm. Thế nên nghĩa quân không thể liên lạc được. Một vị tướng của quân Minh thời đó nhận thấy rằng người Mông Cổ không ăn Bánh Trung Thu, chính vì thế ông ta đã mở một tiệm bán bánh và trong mỗi cái bánh là một miếng giấy nhỏ viết rằng: "Giết tất cả bọn Mông Cổ vào ngày 15 tháng 8". Đêm trung thu năm đó, quân Minh đã tiêu diệt được quân Nguyên và giành chính quyền. Và sau đó là việc thành lập triều đại Nhà Minh (1368 – 1644), dưới sự thống lĩnh của hoàng đế Chu Nguyên Chương. Kể từ đó, bánh trung thu không chỉ có giá trị ở khía cạnh văn hóa mà nó còn chứa đựng trong nó lòng tự hào dân tộc của người Trung Quốc. Chính vì những lý do đó, tết trung thu trở nên một phần không thể thiếu của nền văn hóa Trung Quốc đến nỗi ngày nay rất nhiều người Trung Quốc đặt tên cho con gái họ là Nguyệt với ước mong con gái họ sẽ xinh đẹp, trong sáng và đầy đặn như mặt trăng vậy.

Ý nghĩa ngày Tết Trung thu

Trải qua hàng ngàn năm, con người luôn cho rằng có mối liên hện giữa cuộc đời và vầng trăng. Trăng tròn và trăng khuyết, niềm vui nỗi buồn, sự đoàn tụ, sum họp hay chia tay. Cũng từ đó trăng tròn là biểu tượng của sum họp và Tết trung thu cũng được gọi là Tết đoàn viên.

Trong ngày vui này, theo phong tục người Việt, tất cả các thành viên trong gia đình đều mong muốn quây quần bên nhau cùng làm cỗ cúng gia tiên.

Khi đêm xuống, mặt đất ngập tràn ánh trăng vàng, xóm làng cùng nhau tụ họp uống nước chè xanh, ăn bánh, ngắm trăng và bày hoa quả, bánh kẹo cho trẻ em vui chơi, rước đèn, múa Lân, trông trăng, phá cỗ..

Ngoài ý nghĩa vui chơi cho trẻ em và người lớn, Tết Trung thu còn là dịp để người ta ngắm trăng tiên đoán mùa màng và vận mệnh quốc gia. Nếu trăng thu màu vàng thì năm đó sẽ trúng mùa tằm tơ, nếu trăng thu màu xanh hay lục thì năm đó sẽ có thiên tai, và nếu trăng thu màu cam trong sáng thì đất nước sẽ thịnh trị.
 
Last edited by a moderator:
1,685 ❤︎ Bài viết: 2226 Tìm chủ đề

Lịch sử ngày Tết Trung thuViệt Nam


Tết Trung thu là một trong những ngày lễ truyền thống quen thuộc nhất của người Việt, diễn ra vào ngày Rằm tháng Tám âm lịch hằng năm. Ngày nay, nhắc đến Trung thu người ta thường nghĩ ngay đến đèn ông sao, múa lân, bánh nướng, bánh dẻo, chú Cuội, chị Hằng và tiếng trẻ con rộn ràng đi phá cỗ. Tuy nhiên, nếu nhìn lại lịch sử, Tết Trung thu ở Việt Nam không chỉ đơn thuần là "Tết thiếu nhi" mà từng mang nhiều ý nghĩa khác nhau, từ lễ hội nông nghiệp, tín ngưỡng về mặt trăng, lễ hội cung đình cho đến dịp sum họp gia đình.

20260907-113239-22bf969434.png


Tết Trung thu bắt nguồn từ đâu?​


Nguồn gốc chính xác của Tết Trung thu rất khó xác định bằng một câu chuyện duy nhất. Đây là lễ tiết xuất hiện trong không gian văn hóa Đông Á từ rất sớm, gắn với chu kỳ mùa vụ và việc quan sát mặt trăng của cư dân nông nghiệp.

Một số tài liệu hiện nay cho rằng tục đón Rằm tháng Tám chịu ảnh hưởng mạnh từ văn hóa Trung Hoa, nơi tục thờ trăng, ngắm trăng và lễ hội giữa mùa thu đã có lịch sử lâu đời. Khi truyền sang Việt Nam, những phong tục ấy hòa nhập với tín ngưỡng và đời sống nông nghiệp bản địa, dần hình thành một kiểu Trung thu mang màu sắc riêng của người Việt.

Vì vậy, nói Tết Trung thu Việt Nam "hoàn toàn bắt nguồn từ Trung Quốc" là hơi đơn giản hóa vấn đề. Chính xác hơn, đây là kết quả của một quá trình giao lưu văn hóa lâu dài, đồng thời được người Việt biến đổi và bổ sung thêm nhiều phong tục, biểu tượng và câu chuyện riêng.

Trung thu ban đầu gắn với đời sống nông nghiệp​


Đối với xã hội nông nghiệp xưa, thời điểm giữa mùa thu rất đặc biệt. Công việc đồng áng đã bớt bận rộn, thời tiết mát mẻ và trăng Rằm tháng Tám thường sáng, tròn. Người dân có điều kiện nghỉ ngơi, mở hội, cảm tạ trời đất và cầu mong mùa màng thuận lợi.

Các tài liệu của Hoàng thành Thăng Long cũng giới thiệu Trung thu Việt Nam như một lễ tiết có nguồn gốc liên quan đến nghi lễ nông nghiệp. Người xưa còn quan sát trăng Rằm tháng Tám để dự đoán thời tiết và mùa vụ.

Bởi vậy, Trung thu thời xa xưa không phải chỉ là một tối "ăn bánh rồi rước đèn". Nó còn gắn với mong ước mưa thuận gió hòa, cây cối sinh sôi, đời sống yên ổn và mùa màng bội thu.

Tết Trung thu thời nhà Lý​


Một trong những dấu mốc lịch sử rõ ràng nhất về Tết Trung thu ở Việt Nam xuất hiện vào thời nhà Lý.

Văn bia Sùng Thiện Diên Linh dựng năm 1121 cho biết dưới thời vua Lý Nhân Tông, hội Trung thu đã được triều đình tổ chức rất long trọng. Các hoạt động không chỉ diễn ra trong cung đình mà còn có những cuộc vui dành cho dân chúng. Tư liệu của Hoàng thành Thăng Long ghi nhận các hoạt động như dâng lễ, mở yến tiệc, đua thuyền, biểu diễn rối nước và nhiều hình thức vui hội khác; triều đình còn mở hội để người dân vui chơi trong nhiều ngày.

Điều này cho thấy ít nhất từ đầu thế kỷ XII, Trung thu đã trở thành một lễ hội quan trọng ở kinh thành Thăng Long chứ không còn chỉ là một phong tục nhỏ trong từng gia đình.

Trung thu thời Lê – Trịnh​


Đến các thời đại sau, đặc biệt trong giai đoạn Lê – Trịnh, Trung thu tiếp tục được tổ chức trong cả cung đình lẫn dân gian. Nhiều tài liệu mô tả các cuộc vui Trung thu trong phủ chúa rất công phu và xa hoa.

Trong dân gian, Trung thu lại mang không khí gần gũi hơn. Ban ngày các gia đình chuẩn bị lễ cúng gia tiên; tối đến bày bánh trái để thưởng trăng. Trẻ nhỏ có những món đồ chơi làm bằng giấy, tre, đất hoặc bột như đèn lồng, đèn kéo quân, đầu lân, các con vật và hình nhân.

Những món đồ chơi ấy ngày nay nghe có vẻ đơn giản, nhưng với trẻ con ngày xưa thì có lẽ cũng hấp dẫn chẳng khác gì được tặng điện thoại mới bây giờ.

Múa lân, múa rồng và rước đèn có từ đâu?​


Trong những mô tả về Trung thu Việt Nam đầu thế kỷ XX, múa rồng, múa lân, rước đèn và các cuộc vui dưới trăng đã trở thành những hoạt động nổi bật.

Bài viết dựa trên nghiên cứu của học giả Nguyễn Văn Huyên mô tả những đoàn rước rồng, lân đi qua phố trong tiếng trống chiêng, những chiếc đèn lồng hình cá, hoa quả, động vật và cả đèn kéo quân. Các gia đình bày những mâm cỗ cầu kỳ, trẻ em vui chơi quanh mâm cỗ trong khi người lớn gặp gỡ, trò chuyện và thưởng trăng.

Đáng chú ý là Trung thu khi ấy không chỉ dành cho trẻ con. Thanh niên có thể hát đối, gặp gỡ và tìm bạn đời; người lớn thưởng trăng, uống trà hoặc làm thơ; sĩ tử lại gửi gắm mong ước thi cử đỗ đạt. Có thể nói một đêm Trung thu xưa "phục vụ" đủ mọi lứa tuổi.

Chú Cuội và chị Hằng trong Trung thu Việt Nam​


Trong văn hóa Trung Hoa có những truyền thuyết nổi tiếng như Hằng Nga, Hậu Nghệ, Thỏ Ngọc hay Đường Minh Hoàng lên cung trăng. Khi đi vào văn hóa Việt Nam, hình ảnh cung trăng được kết hợp với câu chuyện chú Cuội ngồi dưới gốc cây đa.

Qua nhiều thế hệ, "chị Hằng – chú Cuội" dần trở thành bộ đôi gần như không thể thiếu trong Trung thu Việt Nam. Những câu chuyện này thuộc về truyền thuyết dân gian, không phải bằng chứng lịch sử về nguồn gốc ngày lễ.

Điều thú vị là trẻ em Việt Nam có thể chẳng biết Trung thu bắt đầu từ triều đại nào, nhưng hỏi "ai ngồi gốc cây đa trên mặt trăng?" thì rất nhiều em sẽ trả lời ngay: Chú Cuội.

Vì sao Trung thu trở thành Tết thiếu nhi?​


Dù trẻ em đã tham gia các hoạt động Trung thu từ rất lâu, vai trò "Tết thiếu nhi" của Trung thu ở Việt Nam đặc biệt được nhấn mạnh trong thời hiện đại.

Sau khi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gửi thư tới thiếu nhi nhân dịp Trung thu đầu tiên của nước Việt Nam độc lập. Trong các bức thư và bài viết tháng 9/1945, ông gọi Trung thu là ngày vui của các em và dành nhiều lời nhắn nhủ cho trẻ em.

Từ giai đoạn này, ý nghĩa Trung thu dành cho thiếu nhi ngày càng nổi bật. Báo Nhân Dân nhận định sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, Trung thu trở thành ngày hội trẻ em được tổ chức rộng rãi, đồng thời vẫn giữ những ý nghĩa truyền thống về gia đình và cộng đồng.

Tết Trung thu Việt Nam ngày nay​


Ngày nay, Tết Trung thu vẫn diễn ra vào Rằm tháng Tám âm lịch nhưng hình thức tổ chức đã thay đổi khá nhiều. Ngoài Trung thu trong gia đình và khu dân cư, các trường học, cơ quan, trung tâm văn hóa, khu vui chơi và phố đi bộ cũng thường tổ chức chương trình cho trẻ em.

Bánh Trung thu ngày càng đa dạng, từ bánh nướng và bánh dẻo truyền thống cho đến đủ loại nhân hiện đại. Đèn lồng điện tử, đồ chơi nhựa và các chương trình biểu diễn lớn xuất hiện nhiều hơn, trong khi những món đồ chơi thủ công như đèn ông sao, đèn kéo quân, mặt nạ giấy bồi hay tò he được các bảo tàng và nghệ nhân cố gắng gìn giữ.

Dẫu vậy, những hình ảnh quen thuộc nhất vẫn tồn tại: Trẻ em rước đèn, tiếng trống múa lân, mâm ngũ quả, bánh Trung thu và một vầng trăng tròn trên đầu.

Ý nghĩa của Tết Trung thu trong văn hóa Việt Nam​


Qua hàng trăm năm lịch sử, Tết Trung thu ở Việt Nam đã nhiều lần thay đổi về hình thức và ý nghĩa. Từ một lễ tiết liên quan đến mùa màng và mặt trăng, Trung thu trở thành lễ hội cung đình thời phong kiến, ngày hội cộng đồng, dịp thưởng trăng, sum họp gia đình và cuối cùng đặc biệt gắn bó với trẻ em.

Có lẽ chính khả năng thích nghi ấy khiến Trung thu tồn tại lâu bền. Mỗi thời đại có thể đón Trung thu theo một cách khác nhau, nhưng những giá trị cốt lõi như đoàn tụ, niềm vui trẻ thơ, tình cảm gia đình và sự gắn kết cộng đồng vẫn được giữ lại.

Vì thế, lịch sử Tết Trung thu ở Việt Nam không chỉ là câu chuyện về nguồn gốc của một ngày lễ, mà còn là câu chuyện về cách người Việt tiếp nhận, biến đổi và gìn giữ một nét văn hóa qua nhiều thế hệ.
 

Những người đang xem chủ đề này

Xu hướng nội dung

Back