52 ❤︎ Bài viết: 23 Tìm chủ đề
Đọc: 1,573 Tìm: 11
Một năm gồm bốn mùa: Xuân, hạ, thu, đông. Trong đó, mùa thu là mùa thường được các thi sĩ chắp bút, và đã trở thành nguồn cảm hứng bất tận của thơ ca Việt Nam. Nhắc đến mùa thu, người ta dễ liên tưởng đến gói cốm làng Vòng, thảm lá vàng rơi, hay hương hoa sữa thoang thoảng.. Tất cả những sự vật quen thuộc và bình dị ấy bỗng trở nên thật thơ mộng, cuốn hút một cách kì lạ, như biểu tượng rất riêng của mùa thu. Với Đây mùa thu tới của Xuân Diệu, thu chính là "Nhưng luồng run rẩy rung rinh lá/Đôi nhánh khô gầy xươnh mỏng manh..". Còn với Nguyễn Đình Thi, thu lại là "Sáng chớm lạnh trong lòng Hà Nội/Những phố dài xao xác hơi may..". Nhà thơ Hữu Thỉnh vốn gắn bó sâu sắc với nông thôn và cuộc sống của người dân quê, có lẽ bởi vậy nên mùa thu dưới ngòi bút của ông mang màu sắc rất riêng. Ông quan sát thiên nhiên bằng nhiều giác quan, và bằng tất cả sự tinh tế vốn có. Vì thế, có ý kiến cho rằng: "Từ cuối hạ sang đầu thu, đất trời có sự chuyển biến nhẹ nhàng mà rõ rệt. Sự chuyển biến này đã được Hữu Thỉnh gợi lên bằng cảm nhận tinh tế, qua những hình ảnh giàu sức gợi cảm trong bài thơ Sang thu"

Sang thu chính là tác phẩm tiêu biểu viết về mùa thu của tác giả. Bài thơ sáng tác năm 1977, sau hai năm đất nước thống nhất, hòa bình lập lại. Lúc này, bom đạn đã lùi xa để nhường chỗ cho cuộc sống thanh bình, độc lập, tự do. Hữu Thỉnh sáng tác bài thơ này khi đã 35 độ tuổi "Sang thu" của cuộc đời. Vì vậy, có thể nói bài thơ vừa thể hiện sự rung cảm tinh tế của nhà thơ trước sự biến chuyển của đất trời từ cuối hạ sang đầu thu, vừa là những chiêm nghiệm suy ngẫm trước cuộc đời sang thu. Trong khổ thơ đầu, tác giả cảm nhận những tín hiệu chuyển mùa bằng tất cả sự tinh tế, nhạy cảm của mình:

"Bỗng nhận ra hương ổi

Phả vào trong gió se

Hương chùng chình qua ngõ

Hình như thu đã về."​

Tín hiệu của mùa thu bắt đầu được phát hiện qua những sự vật, hình ảnh quá đỗi quen thuộc, gần gũi, bình dị. Ấy là hương ổi ngọt ngào dân dã, ấm áp, nồng nàn của chốn vườn quê đang "phả vào trong gió se". Cơn gió heo may chở theo chút hơi lạnh đã hòa quyện cùng hương ôi dân dã, lan tỏa khắp không gian trong mát. "Phả" là một động từ đặc sắc. Nhà thơ từ hòa, hay từ tỏa bởi chúng không thể biểu đạt được hết ý nghĩ mà nhà thơ muốn truyền đạt. Không phải ngọn gió heo may se lạnh kia đem theo hương ổi, mà chính hương ổi ngọt ngào kia đã "phả" vào gió, hòa quyện với gió, làm cho làn gió như cũng thấm đẫm hương thơm ngọt mát. Không chỉ hương ổi phả vào gió mát, Hữu Thỉnh còn phát hiện làn sương "chùng chình qua ngõ". Từ láy "chùng chình" như đang tả thực sự chuyển động chầm chậm, nhẹ nhàng vương vít của làn sương sớm, lại vừa gợi ra nhiều liên tưởng độc đáo, thú vị. Làn sương chùng chình qua ngõ như bước chân thong thả nhẹ nhàng của cô thiếu nữ mùa hạ như cố ý chậm lại, dùng dằng, như còn vấn vương, bịn rịn, như nuối tiếc chưa muốn rời đi. Sự biến chuyển của trời đất lúc sang được nhà thơ cảm nhận qua những tín hiệu đặc trưng của đất trời miền Bắc. Ấy chính là thời khắc giao mùa, là thời khắc chuyển mình của thiên nhiên, đất trời.

Đọc "Sang thu", trước mắt người đọc như hiện lên bức tranh thu vừa quen, mà lại vừa lạ. Quen vì bức tranh thu được vẽ nên bằng những nét vẽ quá đỗi bình dị, quá đỗi gần gũi. Nhưng cũng thật lạ, bởi tất cả sự vật ấy được cảm nhận một cách thật tinh tế. Sang thu, tức là mới chớm thu, tất cả như vừa bắt đầu, như còn mơ hồ giữa cái không và cái có. Bởi vậy, để cảm nhận được sự chuyển mình nhẹ nhàng của bà chúa thiên nhiên phải có tâm hồn nhạy cảm, yêu thiên nhiên, gắn bó sâu sắc với thiên nhiên và làng quê. Và nhà thơ Hữu Thỉnh đã làm được điều ấy.

Những biến chuyển của thiên nhiên đất trời mang đến cho tâm hồn thi nhân tâm trạng bất ngờ, bâng khuâng đến ngỡ ngàng. Mùa thu đến với nhà thơ thật bất ngờ, như tình cờ nhận ra, tình cờ phát hiện. Ông ngạc nhiên, ngỡ ngàng, thảng thốt khi sớm mai thức dậy "bỗng nhận ra" hạ đã qua, thu đến thật rồi. Ông ngạc nhiên, thảng thốt bởi còn chưa kịp chuẩn bị tâm lí để giã từ mùa hạ đầy nắng vàng, đón nhận mùa thu với những bâng khuâng xao xuyến.

Trong khổ thơ đầu, thiên nhiên mới chớm vào thu. Thế nhưng sang khổ thơ thứ hai, những tín hiệu đã trở nên rõ nét hớn bao giờ hết:

"Sông được lúc dềnh dàng

Chim bắt đầu vội vã

Có đám mây mùa hạ

Vắt nửa mình sang thu."​

Đến đây, người đọc như bắt gặp một không gian hoàn toàn mới, rộng mở hơn, thoáng đãng hơn. Sự ngỡ ngàng trước kia đã tan biến, nhường chỗ cho những rung cảm mạnh mẽ của thi nhân trước không gian vời vợi. Dòng sông đã qua mùa thác lũ, nay trở về với vẻ êm ả lững lờ vốn có, mặt sông không chút gợn sóng, "dềnh dàng" trôi chầm chậm. Nó như đang tự cho phép mình nghỉ ngơi sau một kì thác lũ vất vả. Đàn chim như cũng "vội vã" khẩn trương trở về phương Nam tránh rét, hay đang gấp gáp làm tổ chuẩn bị cho mùa đông rét mướt không xa? Sông dềnh dàng và chim vội vã. Hai sự vận động trái chiều, là quy luật không đồng đều ở thời điểm giao thoa của thiên nhiên, nhưng lại vô cùng hợp lí, chân thực. Tất cả đang cùng góp mình tạo nên một bức tranh không gian mùa thu êm ái, yên bình, mà cũng thật sống động. Và nhắc đến tài năng của Hữu Thỉnh, ta không thể không nhắc đến hai câu thơ thật sáng tạo:

"Có đám mây mùa hạ

Vắt nửa mình sang thu."

CW6KWYy.jpg

Tác giả thể hiện rõ ràng cái tài của mình, ấy là lấy không gian để tả thời gian. Đám mây mùa thu bồng bềnh như chiếc khăn voan trắng xốp, mỏng nhẹ cô thiếu nữ nào buông lơi giữa bầu trời. Đám mây trải dài như chiếc cầu nỗi giữa hai bến bờ mùa thu và mùa hạ, nhịp cầu ấy nối liền hai bến thời gian bằng sự dịu dàng mềm mại, đẹp đẽ của mình. Đám mây trắng như đang gợi sự chuyển động nhẹ nhàng của thời gian. Dòng thời gian chuyển động dịu dàng và khẽ khàng như chính lòng người còn đang dùng dằng, bịn rịn. Lòng người hãy còn nuối tiếc ánh nắng chói chang của mùa hạ, nửa lại như muốn rộng mở để đón nhận mùa thu tươi mát.

Thời khắc chuyển mùa không chỉ được nhà thơ diễn tả bằng cảm nhận trực tiếp mà bằng cả những chiêm nghiệm suy ngẫm, bộc lộ những suy tư thâm trầm:

"Vẫn còn bao nhiêu nắng

Đã vơi dần cơn mưa

Sấm cũng bớt bất ngờ

Trên hàng cây đứng tuổi."​

Nắng, mưa, sấm vốn là những đặc trưng của thời tiết mùa hạ. Bởi vậy mà trong thời khắc chuyển mùa, chúng không còn quá dữ dội, mà hóa thành dịu êm, nhạt dần. Nắng "vẫn còn bao nhiêu" nhưng không còn chói chang gay gắt như nắng của mùa hạ. Mưa cũng "vơi dần", không còn xối xả thoắt đến thoắt đi, ồ ạt như mưa rào mùa hạ. Ngay cả sấm cũng không còn dữ dội, "bất ngờ" trên những hàng cây đứng tuổi.

Đặt biệt, ở hai câu thơ cuối, tác giả đã gửi gắm những suy nghĩ, chiêm nghiệm về cuộc đời và con người, gợi trong lòng người đọc nhiều suy nghĩ sâu sắc:

"Sấm cũng bớt bất ngờ

Trên hàng cây đứng tuổi."​

Có nhiều ý kiến cho rằng hai câu thơ trên ẩn chứa nhiều tầng nghĩa. Thật vậy! Sấm chính là một hiện tượng thường bắt gặp khi trời có mưa. "Hàng cây đứng tuổi" đã trồng lâu năm, trải qua nhiều phong ba bão táp để đứng vững đến ngày hôm nay. Sang thu, sấm đã không còn dữ dội, đủ để khiến những hàng cây già cỗi bị bất ngờ lay động. Nhưng không chỉ dừng lại ở đó, hai câu thơ trên còn chứa đựng những triết lí nhân sinh sâu sắc, đúng đắn. Lúc này, sấm không còn là hiện tượng thiên nhiên mà nên hiểu ấy là những tác động bất thường của ngoại cảnh: Những thử thách, khó khăn con người có thể gặp phải trên hành trình dài rộng của cuộc đời. "Hàng cây đứng tuổi" như những con người từng nếm trải mùi vị ngọt ngào, cay đắng của cuộc đời. Chỉ với hai câu thơ năm ngũ ngôn ngắn ngủi, nhà thơ Hữu Thỉnh đã đúc kết nên nên một triết lí thật sâu sắc: Những người từng trải thường vững vàng, mạnh mẽ, điềm tĩnh hơn trước những tác động ngoại cảnh, sóng gió cuộc đời. Triết lí ấy càng có ý nghĩa hơn khi nhà thơ không đơn thuần đứng ngoài cuộc để đưa ra lời khuyên một cách sáo rỗng. Ông viết nên hai câu thơ bằng tất cả chiêm nghiệm suy ngẫm của cả một đời từng trải. Mùa thu của thiên nhiên đất trời chính là sự khép lại những ngày hè đầy nắng oi ả, khép lại những trận mưa xối xả bất ngờ và cả những tiếng sấm dữ dội. Còn mùa thu của đời người, chính là sự khép lại những ngày tháng sôi nổi bồng bột tuổi trẻ, dần được thay thế bằng sự thâm trầm, vững vàng, điềm đạm hơn trước những sóng gió. Câu thơ như còn gợi lên một suy nghĩ sâu sắc: Một năm gồm bốn mùa, tuyến tính, như một vòng tuần hoàn, trôi qua rất nhanh nhưng không thể níu lại. Cuộc đời con người cũng vậy. Tuổi trẻ, bồng bột, ta bận rộn với những lo toan suy nghĩ, xoay vần với vòng xoay cơm áo gạo tiền, với cuộc sống bộn bề những vất vả. Tuổi trẻ là hữu hạn. Thoắt cái đã bước đến độ tuổi sang thu, để rồi nhìn lại quá khứ, ta lại nuối tiếc vì chưa thực hiện được hết những mong muốn, tâm nguyện cháy bỏng thời trẻ. Vì thế ta không ngạc nhiên khi những vận động có lúc "chùng chình", "dềnh dàng", lúc lại vội vã. Và không chỉ thiên nhiên, con người sang thu, đất nước cũng đang bước qua thời khắc sang thu thiêng liêng. Đất nước đã chấm dứt chiến tranh, hòa bình được lập lại, bước qua giai đoạn xây dựng chủ nghĩa xã hội, kiến thiết đất nước. Cả dân tộc như đang cựa mình với những chuyển biến rõ rệt, xây dựng đất nước, sánh vai với các cường quốc năm châu.

Bằng những cảm nhận tinh tế, hình ảnh giàu sức biểu cảm, nhà thơ đã dùng ngòi bút gợi cảm của mình để vẽ nên bức tranh đất trời, thiên nhiên trong thời khắc giao mùa từ hạ sang thu hài hòa cả về màu sắc lẫn đường nét. Qua đó, gợi những chiêm nghiệm suy ngẫm sâu sắc về cuộc đời. Ấy không chỉ là mùa thu của thiên nhiên, con người mà còn là mùa thu lớn, mùa thu của niềm vui toàn dân, của đất nước.
 
Last edited by a moderator:
266 ❤︎ Bài viết: 23 Tìm chủ đề
Trong bốn mùa của thiên nhiên, thì ai cũng công nhận rằng mùa xuân là mùa đẹp nhất với vẻ tươi mới và sức sống tràn trề đã trở thành nguồn cảm hứng lớn cho thi ca, nhạc họa. Tuy vậy, nhưng mùa thu cũng có những vẻ đẹp riêng của mình để tạo nên nguồn cảm hứng cho những nghệ sĩ tài hoa. Trước đây, có thể kể đến Nguyễn Khuyến với ba bài thơ về mùa thu vô cùng nổi tiếng, nức danh nhất là "Thu điếu", "Thu ẩm" và "Thu vịnh", sau này Xuân Diệu có "Đây mùa thu tới". Nhưng có lẽ để nói về thời điểm giao mùa, vẻ đẹp thuần khiết và bình dị của mùa thu được khắc họa một cách rõ nét và thành công thì có lẽ "Sang thu" của nhà thơ Hữu Thỉnh là nổi bật hơn cả.

Nhà thơ Hữu Thỉnh tên đầy đủ là Nguyễn Hữu Thỉnh, sinh năm một ngàn chín trăm bốn mươi hai, quê ở huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc. Năm một ngàn chín trăm sáu mươi ba, Hữu Thỉnh nhập ngũ và bắt đầu sáng tác thơ ca. Hữu Thỉnh là nhà thơ nổi tiếng trưởng thành trong quân đội. Vì thế thơ ông mang đậm hồn quê Việt Nam, dân dã mộc mạc và giàu tinh tế, bài thơ "Sang thu" được viết vào mùa thu năm một ngàn chín trăm bảy mươi bảy, in lần đầu trên báo văn nghệ và rút trong tập "Từ chiến hào đến thành phố". Dưới ngòi bút và cảm nhận của nhà thơ đã giúp cho độc giả cảm nhận được vẻ đẹp e ấp của thiên nhiên lúc giao mùa hạ - thu. "Sang thu" được chia làm ba khổ thơ, thuộc thể thơ năm tiếng và mang trong mình bao cảm nhận của Hữu Thỉnh về cảnh đất trời trong thời khắc giao mùa từ hạ sang thu.

Bỗng nhận ra hương ổi

Phả vào trong gió se

Sương chùng chình qua ngõ

Hình như thu đã về

Sông được lúc dềnh dàng

Chim bắt đầu vội vã

Có đám mây mùa hạ

Vắt nửa mình sang thu

Vẫn còn bao nhiêu nắng

Đã vơi dần cơn mưa

Sấm cũng bớt bất ngờ

Trên hàng cây đứng tuổi.

Vốn sinh ra và lớn lên ở Vĩnh Phúc, Hữu Thỉnh không còn lạ lẫm gì với mùa thu đất Bắc. Thế nhưng, khi cảm nhận tín hiệu thu mến yêu, ông cũng không khỏi ngỡ ngàng. Đối với ông, thu đến với những cảm giác mơn man khó tả. Bài thơ mở đầu bằng những cảm nhận, những rung động mập mờ, bâng khuâng của tnhà thơ trước vẻ đẹp chuyển đổi của thời khắc thiên nhiên lúc chuyển giao mùa.

"Bỗng nhận ra hương ổi

Phả vào trong gió se

Sương chùng chình qua ngõ

Hình như thu đã về."

CW6KWYy.jpg

Từ "bỗng" ở câu thơ mở đầu thể hiện sự đột ngột, bất chợt khi mùa thu đến, một trạng thái chưa hề được chuẩn bị, như là vô tình, như là sửng sốt, như là cơ duyên hay là một phút ngỡ ngàng để từ đây nhà thơ có thể quan sát kỹ sự xuất hiện của mùa thu trong trời đất bằng tất cả giác quan và cũng chính từ góc nhìn này, hình ảnh của cả sự vật sang thu được nhà thơ đưa vào một mùi hương vô cùng quen thuộc – "hương ổi". Ở làng quê Việt Nam đồng bằng Bắc Bộ hầu như nhà nào cũng trồng ổi. Không ít thì nhiều bởi vậy mùi hương ổi rất thân quen, không thể lẫn vào đâu được. Khi mùa hạ sắp qua, mùa thu chuẩn bị về thì đó cũng là mùa ổi chín. Mùi ổi thơm phức, ngòn ngọt rất quyến rũ. Theo làn gió thổi, hương ổi bay khắp nơi. Từ ngữ tiếp theo được nhà thơ đưa vào là động từ "phả", một động từ chỉ sự đột ngột mạnh mẽ nhưng ở đây Hữu Thỉnh lại dùng rất nhẹ nhàng "Phả vào trong gió se" rất nhẹ bởi động thái phả ấy lại vào không gian trong gió se - vô hình chứ không phải hữu hình. Câu thơ ngắn gọn thôi nhưng có đủ hương, gió những nét đặc trưng nhất của mùa thu vùng đồi trung du của miền Bắc.

Và khi mùa thu đến, chẳng thể nào thiếu được sự góp mặt của màn sương những buổi sớm mai. Nhà thơ đã thành công khi sử dụng phép nhân hóa trong câu "sương chùng chình qua ngõ" để tạo nên một hình ảnh về những giọt sương vô cùng thong thả và chầm chậm. Có lẽ từ những điều trên đã làm cho con người chợt giật mình thảng thốt: "Hình như thu đã về". Từ những hình ảnh quá đỗi thân thuộc đó dường như báo hiệu mùa thu về, được nhà thơ cảm nhận tinh tế bằng các giác quan của mình như thị giác và khứu giác. Tuy nhiên chỉ mới có ba dấu hiệu thì chưa đủ, nhà thơ tiếp tục đưa tầm mắt của mình ra xa và cao hơn, và ông đã phát hiện thêm những dấu hiệu mới nữa:

"Sông được lúc dềnh dàng

Chim bắt đầu vội vã

Có đám mây mùa hạ

Vắt nửa mình sang thu"

Sự cảm nhận của tác giả đã trở nên mở rộng hơn, trong bức tranh "sang thu", dường như nhà thơ Hữu Thỉnh đã vẽ lên một dòng sông thong thả, dịu dàng và êm ả, không còn sự dữ dội như mùa hạ nữa và cánh chim sao cũng vội vã, phải chăng nó đã cảm nhận được cái lạnh đang về để bay đến phương Nam tìm nơi tránh rét. Lại một lần nữa nhà thơ Hữu Thỉnh sử dụng phép nhân hóa để diễn tả một cách sinh động sự chuyển biến của dòng sông và những cánh chim. Tuy đối lập nhau nhưng lại thống nhất trong khoảnh khắc thu về.

Và đâu đó có đám mây bé nhỏ dường như trải dài hơn, trôi lững lờ trong bầu trời xanh ngắt, cao rộng. Dường như nó vẫn còn vương vấn ánh nắng ấm áp của mùa hạ. Chắc có lẽ vì thế nên mây chỉ "vắt nửa mình sang thu" tỏ rõ một sự luyến tiếc gì đó chẳng thể nói rõ. Từ những vẻ đẹp đó, dường như đã gợi lên trong lòng người đọc một chút suy ngẫm, một chút gì đó của sự tiếc nuối.

"Vẫn còn bao nhiêu nắng

Đã vơi dần cơn mưa

Sấm cũng bớt bất ngờ

Trên hàng cây đứng tuổi"

Có thể nói rằng cái dáng hạ vẫn còn đó mà cái hồn hạ đã bay đi đâu rồi. Từng tia nắng chói chang của hạ vẫn còn đây, nhưng những cơn mưa mùa hạ đã không còn nhiều. Những khoảng khắc của hạ còn sót lại là sự khắc nghiệt của nắng, tính "đỏng đảnh" của mưa hay sự vội vàng của sấm, nhưng tất thảy dường như nhạt dần theo từng phút giao mùa. Có lẽ bằng những chiêm nghiệm sâu sắc về nhân sinh mà Hữu Thỉnh đã gửi đến chúng ta những thông điệp thật ý nghĩa qua hỉnh ảnh của "nắng, mưa, sấm" là biểu tượng cho những sóng gió, thăng trầm của cuộc đời mà con người đã trải qua, khi đã đi qua bao nhiêu nắng mưa, bao nhiêu giông tố, con người dường như cũng trở nên điềm đạm, bình tĩnh hơn trước những thử thách của cuộc sống. Và khi con người trưởng thành là khi "hàng cây đứng tuổi" đã không còn những bồng bột, sôi nổi và sự liều lĩnh của tuổi trẻ mà sẽ lắng mình xuống để suy ngẫm, cũng sẽ không để những sóng gió cuộc đời quật ngã trên mỗi bước đi. Như thế, bài thơ vừa là một bức tranh thiên nhiên đẹp vừa là một phác họa đầy sinh động về con người.

Trong bài thơ "Sang thu", Hữu Thỉnh đã đưa độc giả đi qua bao cảm xúc, vẻ đẹp tuyệt vời của mùa thu, qua những hình ảnh đầy chân thật và sáng tạo. Không những thế, nhà thơ đã liên tiếp sử dụng phép nhân hóa và ẩn dụ để tạo nên một bức tranh giao mùa lặng lẽ và nhẹ nhàng nhưng không thiếu phần đặc sắc. Câu thơ của Hữu Thỉnh như có chút gì thâm trầm, kín đáo rất hợp với cách nghĩ, cách nói của người dân quê và từ những điều đó đã làm cho những hình ảnh thơ cứ vương vấn mãi trong hồn ta. Có một cái gì thật êm, dịu dàng toát lên từ đoạn thơ ấy. Khổ thơ tuy ngắn mà đã để lại cho ta biết bao rung động. Ta như cảm thấy một hồn quê, một tình quê đi về trong câu chữ làm lòng ta ấm áp. Hình ảnh quê hương như càng thêm gần gũi, yêu mến.

Tóm lại, bài thơ "Sang thu" của nhà thơ Hữu Thỉnh đã thành công tạo nên một bức tranh giao mùa thật đẹp qua những cảm nhận tinh tế, những hình ảnh giàu sức biểu cảm. Không những thế, có lẽ "Sang thu" còn có nghĩa triết lí, là suy ngẫm của nhà thơ về một đời người. Phải chăng nhà thơ muốn gửi đến ta một ý nghĩa sâu xa về những con người khi "sang thu" thì không còn sôi nổi như khi còn trẻ, nhưng họ đã từng trải, đã bước qua những thời khắc khó khăn nhất của cuộc đời, vì thế họ sẽ không còn ngại sóng gió nữa. Và qua bài thơ này, tôi cũng đã cảm nhận được một chút gì đó của cuộc sống, của vẻ đẹp khi thu đến. Có lẽ con người ta cần phải sống chậm thêm một chút nữa, để nhận ra, để cảm thấy được những vẻ đẹp xung quanh ta.
 
Last edited by a moderator:
1,684 ❤︎ Bài viết: 2217 Tìm chủ đề

Phân tích bài thơ "Sang thu" của Hữu Thỉnh


Trong nền thơ ca Việt Nam hiện đại, mùa thu luôn là nguồn cảm hứng quen thuộc, gợi lên những rung động tinh tế trước vẻ đẹp của thiên nhiên và cuộc sống. Nếu mùa thu trong thơ Xuân Diệu mang vẻ đẹp nồng nàn, rạo rực, mùa thu của Nguyễn Khuyến lại đậm chất cổ điển, thanh sơ thì mùa thu trong "Sang thu" của Hữu Thỉnh lại hiện lên rất nhẹ nhàng, gần gũi và đầy tinh tế. Không có những hình ảnh quá lớn lao, nhà thơ chỉ bắt đầu từ hương ổi, làn gió se, màn sương trước ngõ để cảm nhận khoảnh khắc giao mùa từ hạ sang thu. Qua đó, bài thơ không chỉ tái hiện vẻ đẹp của đất trời mà còn gửi gắm những suy ngẫm sâu sắc về con người khi đã đi qua những biến động của cuộc đời.

Ngay từ khổ thơ đầu, Hữu Thỉnh đã cảm nhận mùa thu bằng những tín hiệu vô cùng gần gũi:

"Bỗng nhận ra hương ổi

Phả vào trong gió se

Sương chùng chình qua ngõ

Hình như thu đã về"


Từ "bỗng" diễn tả một cảm giác bất ngờ, như thể nhà thơ vừa chợt bắt gặp một điều quen thuộc mà trước đó chưa nhận ra. Tín hiệu đầu tiên của mùa thu không phải là lá vàng hay trời xanh mà là "hương ổi" – một mùi hương dân dã, thân thuộc của làng quê Việt Nam. Động từ "phả" khiến hương ổi không còn là một mùi hương thoang thoảng mà trở nên đậm đà, lan vào không gian cùng "gió se". Chỉ bằng khứu giác và xúc giác, nhà thơ đã cảm nhận được sự thay đổi rất khẽ của đất trời.

Nếu "hương ổi" và "gió se" là những tín hiệu hữu hình của mùa thu thì hình ảnh "sương chùng chình qua ngõ" lại khiến bức tranh giao mùa trở nên có hồn. Từ láy "chùng chình" gợi dáng đi chậm rãi, dùng dằng của màn sương. Sương như có tâm hồn, có bước chân, cố ý đi thật chậm qua ngõ để báo hiệu mùa thu. Câu thơ cuối "Hình như thu đã về" lại mang sắc thái vừa ngỡ ngàng vừa ngập ngừng. "Hình như" không phải sự thiếu chắc chắn mà là cách diễn tả một cảm nhận rất tinh tế: Mùa thu đến không ồn ào, nó len vào cảnh vật bằng những thay đổi rất nhỏ.

Nếu khổ thơ đầu là khoảnh khắc nhà thơ nhận ra mùa thu thì sang khổ thơ thứ hai, bức tranh giao mùa được mở rộng hơn:

"Sông được lúc dềnh dàng

Chim bắt đầu vội vã

Có đám mây mùa hạ

Vắt nửa mình sang thu"


Thiên nhiên lúc này có sự đối lập thú vị. Dòng sông "dềnh dàng" trở nên chậm rãi, thư thả, trong khi đàn chim lại "vội vã" chuẩn bị cho hành trình của mình. Hai từ "dềnh dàng" và "vội vã" được đặt cạnh nhau tạo nên nhịp điệu đặc biệt của khoảnh khắc giao mùa: Có cái chậm lại, có cái chuyển động nhanh hơn.

Đặc biệt, hình ảnh:

"Có đám mây mùa hạ

Vắt nửa mình sang thu"


Là một trong những hình ảnh đẹp nhất của bài thơ. Đám mây vốn vô hình, nhưng dưới con mắt giàu liên tưởng của nhà thơ lại trở nên mềm mại, hữu hình như một dải lụa vắt ngang bầu trời. "Vắt nửa mình" vừa gợi hình vừa gợi cảm, diễn tả ranh giới mong manh giữa mùa hạ và mùa thu. Một nửa đám mây còn thuộc về mùa hạ, một nửa đã nghiêng sang mùa thu. Đó cũng chính là trạng thái chuyển tiếp của đất trời: Không hoàn toàn là hạ, nhưng cũng chưa hẳn là thu.

Khổ thơ cuối đưa người đọc từ những biến chuyển của thiên nhiên đến những suy ngẫm sâu sắc hơn:

"Vẫn còn bao nhiêu nắng

Đã vơi dần cơn mưa

Sấm cũng bớt bất ngờ

Trên hàng cây đứng tuổi."


Các hiện tượng của mùa hạ như "nắng", "mưa", "sấm" vẫn còn nhưng cường độ đã thay đổi. "Vẫn còn" nhưng "đã vơi dần" cho thấy mùa hạ chưa biến mất hoàn toàn mà đang nhường chỗ cho mùa thu. Thiên nhiên tiếp tục vận động theo quy luật của mình.

Đặc biệt, hình ảnh "hàng cây đứng tuổi" mang ý nghĩa biểu tượng. "Cây đứng tuổi" có thể hiểu theo nghĩa tả thực là những hàng cây đã trưởng thành, trải qua nhiều mùa nắng mưa. Nhưng ở tầng nghĩa sâu hơn, đó còn có thể là hình ảnh con người từng trải. Khi con người đã đi qua nhiều biến động, những "tiếng sấm" bất ngờ của cuộc đời cũng không còn khiến họ hoảng hốt như trước. Chính sự từng trải giúp con người trở nên bình tĩnh, vững vàng hơn trước những thay đổi.

"Sang thu" vì thế không đơn thuần là bài thơ miêu tả cảnh vật. Đó còn là bài thơ về sự trưởng thành của tâm hồn. Từ khoảnh khắc đất trời chuyển mùa, Hữu Thỉnh gợi ra quy luật của đời người: Khi đã trải qua nhiều nắng mưa, con người sẽ học được cách đón nhận những biến động bằng một tâm thế bình thản hơn.

Về nghệ thuật, bài thơ thành công nhờ thể thơ năm chữ giàu nhạc tính, ngôn ngữ giản dị mà giàu sức gợi, hệ thống từ láy tinh tế như "chùng chình", "dềnh dàng", "vội vã", cùng những hình ảnh giàu tính liên tưởng. Đặc biệt, cách sử dụng các giác quan để cảm nhận thiên nhiên đã giúp khoảnh khắc giao mùa trở nên sống động và gần gũi.

"Sang thu" của Hữu Thỉnh là một bài thơ nhẹ nhàng nhưng có sức ngân vang sâu xa. Từ hương ổi, làn gió se, màn sương, dòng sông, cánh chim và đám mây, nhà thơ đã ghi lại khoảnh khắc đất trời chuyển mình đầy tinh tế. Nhưng vượt lên trên bức tranh thiên nhiên, bài thơ còn là lời nhắc nhở con người biết trân trọng những thay đổi của cuộc sống và biết trưởng thành sau những trải nghiệm. Thu sang không chỉ là mùa của đất trời, mà còn là một mùa của tâm hồn.

Phân tích bài thơ "Sang thu" của Hữu Thỉnh – Khi đất trời khẽ bước qua một mùa​


Có những mùa đi qua cuộc đời bằng những cơn mưa lớn, bằng tiếng sấm vang trời hay những đổi thay dữ dội. Nhưng cũng có những mùa đến rất khẽ, đến mức nếu lòng người không đủ tinh tế, ta có thể chẳng kịp nhận ra. Mùa thu trong "Sang thu" của Hữu Thỉnh là một mùa như thế. Không có tiếng gọi náo nức, không có sắc vàng phủ kín không gian, nhà thơ chỉ nghe thấy một chút hương ổi, cảm thấy một làn gió se, nhìn thấy màn sương chậm rãi đi qua ngõ. Từ những điều rất nhỏ bé ấy, cả đất trời dường như đang nhẹ nhàng chuyển mình.

"Bỗng nhận ra hương ổi

Phả vào trong gió se"


Hai câu thơ mở đầu giống như một tiếng khẽ gọi của mùa thu. "Bỗng nhận ra" khiến người đọc có cảm giác nhà thơ vừa đi ngang qua một khoảnh khắc rất bình thường của cuộc sống nhưng bất chợt tâm hồn rung lên. Hương ổi không xa lạ. Đó là mùi hương của những khu vườn quê, của tuổi thơ, của những buổi chiều bình yên. Nhưng khi "phả vào trong gió se", mùi hương ấy bỗng trở thành dấu hiệu báo thu.

Mùa thu không xuất hiện bằng hình hài rõ rệt. Nó chỉ len vào cuộc sống bằng một mùi hương. Rồi bằng một làn gió. Rồi bằng màn sương:

"Sương chùng chình qua ngõ

Hình như thu đã về"


Từ "chùng chình" thật đẹp. Sương không bay, không trôi, mà "chùng chình" – như dùng dằng, lưu luyến, như muốn níu giữ một chút gì của mùa hạ. Câu thơ "Hình như thu đã về" vì thế mang theo cả sự ngỡ ngàng. Nhà thơ không nói "thu đã về" mà chỉ nói "hình như". Bởi những chuyển động đầu tiên của mùa thu quá đỗi mong manh. Nó chỉ có thể được nhận ra bởi một tâm hồn biết lắng nghe.

Đến khổ thơ thứ hai, mùa thu không còn chỉ nằm trong cảm giác của riêng nhà thơ mà đã lan rộng ra cả không gian:

"Sông được lúc dềnh dàng

Chim bắt đầu vội vã"


Dòng sông dường như đã mệt mỏi sau những ngày mùa hạ nên trở nên "dềnh dàng", chậm rãi. Trong khi đó, đàn chim lại "vội vã", chuẩn bị cho những đổi thay phía trước. Một bên chậm lại, một bên nhanh hơn. Thiên nhiên giống như con người trước ngưỡng cửa của một sự chuyển tiếp: Có cái muốn níu giữ, có cái đang háo hức bước đi.

Và rồi Hữu Thỉnh vẽ lên bầu trời một hình ảnh khiến người đọc khó có thể quên:

"Có đám mây mùa hạ

Vắt nửa mình sang thu"


Đám mây ấy dường như đang đứng giữa hai mùa. Một nửa còn thuộc về mùa hạ, một nửa đã nghiêng sang mùa thu. Chỉ một chữ "vắt" mà khoảng cách giữa hai mùa trở nên hữu hình. Nó khiến người đọc có thể hình dung một dải mây mềm mại đang nằm ngang bầu trời, như một cây cầu nối giữa cái cũ và cái mới.

Có lẽ trong cuộc sống cũng có những khoảnh khắc như thế. Chúng ta không bước từ một ngày cũ sang một ngày mới bằng một đường ranh rõ ràng. Có những điều đã qua nhưng vẫn còn ở lại. Có những điều mới mẻ đã đến nhưng chưa hoàn toàn thuộc về ta. Con người cũng có những "đám mây mùa hạ" vắt ngang tâm hồn như vậy.

Khổ thơ cuối mang đến một sắc thái trầm lắng hơn:

"Vẫn còn bao nhiêu nắng

Đã vơi dần cơn mưa

Sấm cũng bớt bất ngờ

Trên hàng cây đứng tuổi."


Mùa hạ chưa biến mất. Nắng vẫn còn, mưa vẫn còn, sấm vẫn còn. Nhưng tất cả đều đã dịu xuống. Đó chính là vẻ đẹp của sự chuyển tiếp: Không có gì biến mất ngay lập tức; mọi thứ chỉ dần thay đổi.

Và có lẽ câu thơ cuối mới là nơi chiều sâu của bài thơ thực sự mở ra:

"Sấm cũng bớt bất ngờ

Trên hàng cây đứng tuổi."


Những hàng cây đã "đứng tuổi" – đã trải qua nhiều mùa nắng, nhiều trận mưa, nhiều lần đất trời đổi thay. Vì thế, tiếng sấm không còn khiến chúng giật mình. Hình ảnh ấy khiến ta liên tưởng đến con người. Khi còn trẻ, mỗi biến cố trong cuộc đời đều có thể khiến ta hoang mang. Nhưng càng sống, càng trải nghiệm, con người càng hiểu rằng không có cơn mưa nào kéo dài mãi, cũng chẳng có tiếng sấm nào đủ sức làm rung chuyển một tâm hồn đã vững vàng.

Có lẽ "sang thu" cũng là "sang" một giai đoạn khác của đời người. Đó là lúc con người bắt đầu biết sống chậm hơn, biết lắng nghe nhiều hơn và biết bình thản trước những điều từng khiến mình sợ hãi.

Bằng thể thơ năm chữ nhẹ nhàng, những hình ảnh thân thuộc và cách sử dụng từ ngữ giàu sức gợi, Hữu Thỉnh đã biến một khoảnh khắc giao mùa bình dị thành một khoảnh khắc của tâm hồn. "Sang thu" không chỉ khiến người đọc yêu hơn vẻ đẹp của thiên nhiên mà còn khiến ta tự hỏi: Liệu mình đã đủ trưởng thành để bình thản trước những tiếng sấm của cuộc đời?

Có những mùa thu đi qua bầu trời. Cũng có những mùa thu đi qua lòng người. Và đôi khi, điều đáng quý nhất không phải là nhận ra mùa thu đang đến, mà là nhận ra chính mình đã khác đi sau những mùa mưa nắng đã trải qua.

Phân tích "Sang thu" của Hữu Thỉnh – Từ bước chuyển của đất trời đến bước trưởng thành của con người​


Nếu coi cuộc đời là một dòng chảy không ngừng, thì mỗi mùa đi qua đều giống như một dấu mốc. Có những chuyển biến rất rõ ràng, nhưng cũng có những thay đổi âm thầm đến mức chỉ một người thật sự nhạy cảm mới nhận ra. "Sang thu" của Hữu Thỉnh được viết từ một khoảnh khắc như thế: Khoảnh khắc đất trời không còn hoàn toàn thuộc về mùa hạ nhưng mùa thu cũng chưa thật sự hiện diện trọn vẹn. Đằng sau bức tranh giao mùa ấy là một triết lý nhẹ nhàng về sự trưởng thành: Càng trải nghiệm, con người càng hiểu rằng mọi biến động đều có quy luật và càng biết bình tĩnh trước những "tiếng sấm" của cuộc đời.

Khổ thơ đầu tiên mở ra bằng một sự phát hiện rất bất ngờ:

"Bỗng nhận ra hương ổi

Phả vào trong gió se"


Điều đáng chú ý là nhà thơ không nhìn thấy mùa thu trước tiên mà "nhận ra" mùa thu bằng hương. Cách cảm nhận ấy cho thấy một tâm hồn đặc biệt nhạy bén với những biến đổi nhỏ bé của thiên nhiên. "Hương ổi" vốn bình dị, thậm chí rất đời thường, nhưng trong khoảnh khắc giao mùa lại trở thành tín hiệu thiêng liêng của thời gian.

Động từ "phả" khiến hương thơm có một sức chuyển động mạnh. Hương ổi không chỉ thoảng qua mà như được gió đưa thẳng vào không gian và vào cả giác quan của con người. Cùng với "gió se", nó tạo ra cảm giác vừa mát lành vừa dịu nhẹ, báo hiệu rằng cái nóng gay gắt của mùa hạ đang dần lùi lại.

Rồi:

"Sương chùng chình qua ngõ

Hình như thu đã về"


Thiên nhiên được nhân hóa. Màn sương "chùng chình" như một con người đang bước đi chậm rãi. Nhưng tại sao lại "chùng chình"? Có phải bởi mùa hạ chưa muốn rời đi? Hay bởi mùa thu đang cố tình đến thật nhẹ để con người kịp cảm nhận?

Câu hỏi ấy không cần câu trả lời. Bởi chính sự mơ hồ của "hình như" mới làm nên vẻ đẹp của khoảnh khắc. Thu đến nhưng không tuyên bố. Thu chỉ khẽ chạm vào cảnh vật, khẽ lay động giác quan, rồi để con người tự mình nhận ra.

Sang khổ thơ thứ hai, không gian được mở rộng từ khu vườn, con ngõ ra sông nước, bầu trời:

"Sông được lúc dềnh dàng

Chim bắt đầu vội vã"


Hai hình ảnh đối lập "dềnh dàng" và "vội vã" tạo nên nhịp chuyển động đa chiều của thiên nhiên. Dòng sông chậm lại, trong khi đàn chim lại nhanh hơn. Điều đó cho thấy giao mùa không phải là một sự thay đổi đồng nhất. Mỗi sự vật có một cách riêng để phản ứng trước sự biến đổi của thời gian.

Và rồi xuất hiện hình ảnh giàu tính tạo hình nhất bài thơ:

"Có đám mây mùa hạ

Vắt nửa mình sang thu"


Một đám mây mà có "nửa mình" thuộc mùa hạ, "nửa mình" thuộc mùa thu. Hữu Thỉnh đã biến một hiện tượng tự nhiên thành một đường ranh nghệ thuật. Chữ "vắt" khiến đám mây như một dải lụa nằm ngang giữa bầu trời, nối hai mùa với nhau.

Nhưng hình ảnh ấy cũng có thể được đọc như một ẩn dụ về đời người.

Con người hiếm khi thay đổi trong một khoảnh khắc. Giữa quá khứ và hiện tại luôn tồn tại một khoảng giao nhau. Ta bước sang một chặng đường mới nhưng vẫn mang theo những ký ức cũ. Ta trưởng thành nhưng không thể xóa bỏ hoàn toàn con người của ngày hôm qua. Giống như đám mây "vắt nửa mình sang thu", con người cũng thường tồn tại giữa những điều đã qua và những điều đang tới.

Nếu hai khổ thơ đầu chủ yếu cảm nhận sự thay đổi của đất trời thì khổ thơ cuối đã đưa bài thơ đến chiều sâu triết lý:

"Vẫn còn bao nhiêu nắng

Đã vơi dần cơn mưa

Sấm cũng bớt bất ngờ

Trên hàng cây đứng tuổi."


Điều đặc biệt nằm ở cách nhà thơ sử dụng các từ "vẫn còn", "đã vơi dần", "bớt bất ngờ". Không có sự thay đổi nào diễn ra tuyệt đối. Mùa hạ vẫn còn đó, nhưng đã yếu đi. Mưa vẫn xuất hiện, nhưng không còn dữ dội. Sấm vẫn vang, nhưng không còn bất ngờ.

Đó cũng chính là quy luật của cuộc sống. Những khó khăn không phải lúc nào cũng biến mất; điều thay đổi trước tiên chính là cách con người đối diện với chúng.

"Hàng cây đứng tuổi" vì thế không chỉ là một hình ảnh thiên nhiên. Nó gợi đến những con người đã đi qua nhiều trải nghiệm. Một cây cổ thụ từng trải qua biết bao mùa mưa nắng sẽ không dễ dàng bị lay động bởi một tiếng sấm. Cũng như một con người đã từng trải qua mất mát, thất bại, chia ly và những biến động của cuộc đời sẽ dần hình thành một bản lĩnh bình tĩnh hơn.

Nếu ở tuổi trẻ, một lời nói có thể khiến ta đau, một thất bại có thể khiến ta tuyệt vọng, một biến cố có thể khiến ta tưởng như cả thế giới sụp đổ, thì theo thời gian, ta học được cách nhìn mọi thứ bình thản hơn. Không phải vì cuộc đời bớt khắc nghiệt, mà bởi chính ta đã trở nên mạnh mẽ hơn.

Đây chính là điểm khiến "Sang thu" vượt khỏi giới hạn của một bài thơ tả cảnh. Hữu Thỉnh mượn bước chuyển của thiên nhiên để nói về bước chuyển của tâm hồn. "Sang thu" vừa là sự chuyển mùa của đất trời, vừa là sự chuyển mình của con người từ non nớt đến từng trải, từ nhạy cảm trước biến động đến bình tĩnh trước những đổi thay.

Về nghệ thuật, bài thơ gây ấn tượng bởi thể thơ năm chữ cô đọng, ngôn ngữ giản dị nhưng giàu sức gợi, những từ láy giàu giá trị tạo hình như "chùng chình", "dềnh dàng", "vội vã", cùng nghệ thuật nhân hóa và những liên tưởng độc đáo. Đặc biệt, hình ảnh "đám mây mùa hạ / vắt nửa mình sang thu" và "hàng cây đứng tuổi" đã tạo nên hai điểm nhấn vừa đẹp về hình ảnh vừa sâu sắc về ý nghĩa.

"Sang thu" là một bài thơ không ồn ào. Nó giống như chính mùa thu mà Hữu Thỉnh cảm nhận: Đến rất nhẹ, rất chậm và rất sâu. Đọc bài thơ, ta không chỉ thấy đất trời đang thay đổi mà còn nhận ra một quy luật của đời người: Thời gian không ngừng trôi, mùa này nối tiếp mùa kia, biến cố này nối tiếp biến cố khác. Điều quan trọng là sau mỗi mùa đi qua, con người có trở nên trưởng thành hơn hay không.

Bởi vậy, câu thơ cuối không chỉ khép lại bài thơ mà còn mở ra một suy ngẫm:

"Sấm cũng bớt bất ngờ

Trên hàng cây đứng tuổi."


Khi đã đủ trưởng thành, ta không còn mong cuộc đời không có sấm. Ta chỉ mong mình đủ vững vàng để khi sấm vang lên, lòng vẫn bình yên.
 

Những người đang xem chủ đề này

Xu hướng nội dung

Back