1,646 ❤︎ Bài viết: 1934 Tìm chủ đề
2633 125
Chi tiết nghệ thuật trong tác phẩm văn chương tự sự

Phần i: Đặt vấn đề

1. Lý do chọn đề tài


Tác phẩm văn học nào cũng thuộc một thể loại nhất định. Có nhiều cách phân chia các thể loại văn học, nhưng tiêu chí quan trọng nhất chính là dựa trên phương thức tái hiện đời sống và thể thức cấu tạo tác phẩm. Theo tiêu chí này, tác phẩm văn học có ba loại chính: Tự sự, trữ tình và kịch. Như vậy, tác phẩm tự sự chính một trong ba phương thức sáng tác quan trọng nhất của văn học.

Trong tác phẩm tự sự, chi tiết nghệ thuật chính là yếu tố không thể thiếu. Chi tiết chính là đơn vị nhỏ nhất để từ đó xây dựng lên những yếu tố lớn hơn như sự kiện, tình huống, cốt truyện, kết cấu, hình tượng, chủ đề, tư tưởng. Nếu coi tác phẩm như một ngôi nhà thì chi tiết chính là những viên gạch nhỏ để xây lên. Cốt truyện là một hệ thống các sự kiện phản ánh những diễn biến của cuộc sống và nhất là các xung đột xã hội một cách nghệ thuật, qua đó, các tính cách hình thành và phát triển trong những mối quan hệ qua lại nhằm làm sáng tỏ chủ đề và tư tưởng tác phẩm. Sự kiện là đơn vị cơ bản để tạo thành cốt truyện. Đó là những việc có tác động và ảnh hưởng đáng kể đến số phận và tính cách của nhân vật. Còn những yếu tố cụ thể hình thành sự kiện được gọi là các chi tiết (tình tiết). Chính vì thế, việc tìm hiểu yếu tố chi tiết trong tác phẩm văn chương tự sự có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Nắm được chi tiết nghĩa là ta nắm được chiếc chìa khóa để mở ra các lớp nội dung của tác phẩm văn học.

2. Mục đích của đề tài

Đề tài nghiên cứu về chi tiết trong tác phẩm văn chương tự sự ra đời nhằm mục đích tìm hiểu về khái niệm, đặc điểm, vai trò của chi tiết trong các thể loại quan trọng của phương thức tự sự như tiểu thuyết, truyện ngắn. Thông qua đó, người viết mong muốn sẽ mang đến những tri thức đóng vai trò như một công cụ để khám phá tác phẩm tự sự.

Phần ii: Giải quyết vấn đề

1. Tác phẩm văn chương tự sự


Tự sự là dùng lời kể tái hiện lại những sự việc, biến cố nhằm dựng lại hiện thực cuộc sống như đang diễn ra một cách khách quan, qua đó người viết bày tỏ một cách hiểu và một thái độ nhất định, một cách trực tiếp hoặc gián tiếp. Tác phẩm tự sự bao gồm: Thần thoại, sử thi, truyền thuyết, cổ tích, truyện cười, ngụ ngôn, truyện thơ, tiểu thuyết, truyện vừa, truyện ngắn, kí sự, bút kí, phóng sự.. Trong đó, như trên đã trình bày, chi tiết chính là đơn vị nhỏ nhất để từ đó xây dựng lên những yếu tố lớn hơn như sự kiện, cốt truyện, hình tượng.. Sau đây, ta sẽ cùng tìm hiểu đặc điểm của tác phẩm tự sự dưới góc nhìn của chi tiết nghệ thuật.

Đặc điểm thứ nhất của tác phẩm tự sự là dùng lời kể, lời miêu tả để thông báo thời gian, địa điểm, gọi ra đặc điểm của nhân vật, sự kiện, phân tích tâm trạng, tình huống nhằm làm hiện lên bức tranh đời sống. Đọc tác phẩm tự sự ta luôn cảm thấy một ai đó là người kể chuyện đang chứng kiến, kể ra các hiện tượng, biến cố, dẫn dẵn câu chuyện theo một điểm nhìn và giọng điệu nhất định. Người kể chuyện ấy luôn luôn phải dùng đến các chi tiết để bắt đầu, phát triển và kết thúc câu chuyện của mình.

Đặc điểm thứ hai của tác phẩm tự sự là có cốt truyện, nghĩa là có các sự kiện hoặc biến cố xảy ra liên tiếp, cái này nối tiếp hoặc nảy sinh cái kia, xô đẩy nhau tới đỉnh điểm buộc phải giải quyết, giải quyết xong thì truyện dừng lại. Qua đó, cốt truyện trình bày cho ta cái mạch quy luật của đời sống. Nhưng để có được hình thù, diện mạo đầy đủ thì cốt truyện phải là một tập hợp chi tiết nghệ thuật được sắp xếp theo hệ thống nhất định. Chi tiết chính là xương thịt của cốt truyện. Thiếu chi tiết, cốt truyện trở thành một lớp vỏ trừu tượng, trống rỗng. Như vậy, lại một lần nữa ta thấy vai trò không thể thiếu của chi tiết trong tác phẩm tự sự.

Đặc điểm thứ ba, nhân vật trong tác phẩm tự sự thường được khắc họa một cách khá đầy đủ, cụ thể, chi tiết và toàn diện từ ngoại hình tới ngôn ngữ, hành động, tính cách, số phận và biểu hiện thường nhật. Đương nhiên, trong nhiều trường hợp nhân vật chính chỉ hiện lên ở một hay vài phương diện nào đó do dụng ý của nhà văn. Như vậy, chi tiết không chỉ xây dựng cốt truyện mà còn tạo dựng lên nhân vật, hình tượng. Có nhiều khi, ấn tượng về nhân vật đọng lại trong tâm trí người đọc thông qua một vài chi tiết không thể lẫn: Tiếng chửi của Chí Phèo, tiếng cười Tào Tháo của bá Kiến, câu nói "Biết rồi, khổ lắm, nói mãi" lặp lại 1872 lần của cụ cố Hồng, đôi bàn tay mỗi ngón bị cụt một đốt của Tnu..

Chính nhờ các đặc điểm trên mà chi tiết trong tác phẩm tự sự có nhiều khả năng phản ánh đời sống, không bị gò bó về không gian, thời gian, có thể tái hiện trong những bức tranh đời sống toàn cảnh rộng lớn.

2. Chi tiết trong các tác phẩm văn chương tự sự

A. Chi tiết trong tiểu thuyết


Tiểu thuyết có khả năng rộng lớn trong vấn đề phản ánh cuộc sống, đi sâu vào những diễn biến phức tạp trong tâm hồn con người. Tiểu thuyết là thể loại cho phép nhà văn bộc lộ một cách tự do, thoải mái tài năng của mình. Về đặc điểm kết cấu, cốt truyện, tiểu thuyết chiếm lĩnh đời sống trong toàn bộ sự đầy đặn và toàn vẹn của nó, vì thế cốt truyện tiểu thuyết thường có nhiều sự kiện, nhiều cảnh ngộ, nhiều thử thách khác nhau. Nhà tiểu thuyết thường chú ý miêu tả các chi tiết phong phú trong đời sống con người, trong đó có nhiều chi tiết như thể không cần thiết. Về đặc điểm thể hiện tính cách nhân vật, tiểu thuyết xây dựng một cá nhân hoặc một nhóm người hay một thế giới trong cả quá trình. Mỗi nhân vật của tiểu thuyết là một thế giới. Phương thức tự sự của tiểu thuyết có thể dựng lên một bức tranh xã hội có quy mô rộng lớn.

"Số đỏ" (1936) là cuốn tiểu thuyết hiện thực trào phúng xuất sắc của Vũ Trọng Phụng, là "cuốn sách ghê gớm có thể làm vinh dự cho mọi nền văn học" (Nguyễn Khải). Trong tác phẩm này, khối căm hờn của nhà văn với xã hội thực dân phong kiến không bật ra thành tiếng chửi rủa tuyệt vọng mà biến thành những trận cười sảng khoái. Với ngòi bút trào phúng bậc thầy, tác giả "Số đỏ" đã phơi trần bản chất bịp bợm, rởm đời của xã hội tư sản thuộc địa, thực dân thành thị đương thời: Bản chất thì nhố nhăng, "khốn nạn", "chó đểu" nhưng bề ngoài có vẻ sang trọng, "Âu hóa", "văn minh", "tiến bộ". Nếu "Số đỏ" là một vở đại hài kịch thì mỗi chương là một màn kịch vô cùng sống động. Đoạn trích "Hạnh phúc của một tang gia" nằm ở chương XV đã thể hiện rõ tài năng trào phúng bậc thầy và sức phê phán mãnh liệt của ngòi bút Vũ Trọng Phụng. Đoạn trích miêu tả đám tang của cụ cố tổ. Qua đó bộc lộ thái độ mỉa mai châm biếm của Vũ Trọng Phụng đối với thói đạo đức giả, hợm hĩnh, rởm đời của cả xã hội thượng lưu thời bấy giờ chứ không phải chỉ đơn thuần là gia đình cụ cố Hồng.

Thành công của tác phẩm nói chung và đoạn trích nói riêng nằm trong việc xây dựng những chi tiết hết sức đặc sắc, sinh động, phong phú để khắc họa từng chân dung trào phúng. Ở đây, mỗi nhân vật được xây dựng bởi không chỉ một mà rất nhiều chi tiết có gái trị. Nhắc đến cụ cố Hồng, người đọc không thể quên hình ảnh một người tuy mới 50 tuổi nhưng lâu nay chỉ mơ được thiên hạ coi là già. Cụ nhắm nghiền mắt, nghĩ đến lúc mặc áo xô gai, chống gậy lụ khụ, diễn trò vừa mếu máo vừa ho khạc để cho thiên hạ trầm trồ khen ngợi sự già nua của mình, đồng thời khen ngợi đám ma to. Dù chẳng biết lo việc gì nhưng câu cửa miệng của cụ là "Biết rồi, khổ lắm, nói mãi", câu nói ấy đã lặp lại đến 1872 lần như để tố cáo kẻ vừa ngu dốt, vừa háo danh. Bà Văn Minh và cô Tuyết thì vui sướng vì đám ma là dịp để trình diễn những bộ quần áo xô gai theo kiểu tân thời. Đặc biệt, Tuyết mặc bộ đồ "Ngây thơ" – một sản phẩm của lối trang phục Âu hóa nhố nhăng, hở hang, đồi bại - để chứng tỏ mình không hư hỏng như lời đồn của thiên hạ. Chi tiết đó vạch trần bộ mặt của những kẻ a du, đua đòi theo thời thượng đến mức vô tình phô bày tất cả sự hư hỏng, đồi bại của mình cho thiên hạ xem. Ông Phán mọc sừng thì vui vì được chia thêm số tiền vài nghìn đồng nhờ cái sừng vô hình trên đầu ông – thứ đã có giúp ông có "công lớn" trong việc giết chết của cụ tổ. Đó là kẻ vì tiền mà bán rẻ danh dự, lương tâm. Cậu tú Tân thì sướng vui đến điên người vì được đem mấy cái máy ảnh đi chụp cảnh đám ma. Đây là cơ hội hiếm có để cậu ta giải trí và khoe tài. Đó đúng là một kẻ ấu trĩ thực sự, góp công đắc lực trong việc biến đám ma thành đám hội.

Nhưng trong niềm hạnh phúc của tang gia vẫn có người buồn. Nhưng chẳng có nỗi buồn nào dành cho người chết. Cô Tuyết với khuôn mặt có vẻ buồn lãng mạn rất đúng mốt của nhà có đám vì không thấy bạn giai Xuân Tóc Đỏ đâu. Đặc biệt, ông Văn Minh mang vẻ "đăm đăm chiêu chiêu" rất "hợp thời trang" của nhà có đám vì đang khó xử với Xuân: Hắn quyến rũ một cô em gái ông và tố cáo tội ngoại tình của một cô em gái khác, nhưng lại gây ra cái chết của ông cụ già đáng chết, hai cái tội thì nhỏ và nhưng một cái ơn lại to. Chính nỗi phân vân không biết làm gì với Xuân của ông Văn Minh đã cho ta thấy đó là kẻ tha hóa, bất lương.

Như vậy, không chỉ tang gia hạnh phúc mà cả xã hội tư sản thực dân ấy sung sướng trước cái chết của ông cụ già. Đám ma là dịp để chúng kiếm lợi hoặc khoe mẽ. Từ người nhà đến người ngoài, từ trẻ đến già, đều lộ rõ mặt thật đểu giả, vô luân. Vũ Trọng Phụng có thể vạch trần bộ mặt xấu xa của cả một xã hội rộng lớn như vậy chính là nhờ một hệ thống các chi tiết vô cùng phong phú, độc đáo, đa dạng, để xây dựng lên từng chân dung trào phúng riêng biệt, không ai giống ai, không ai lẫn vào ai. Từ những nhân vật chính (cụ cố Hồng, ông Văn Minh, Xuân Tóc Đỏ) đến những nhân vật phụ chỉ xuất hiện thoáng qua (hai viên cảnh sát Min Đơ, Min Toa) đều được định hình trong tâm trí người đọc thông qua chi tiết.

B. Chi tiết trong truyện ngắn

Truyện ngắn là tác phẩm tự sự có quy mô, dung lượng nhỏ, vì thế, mỗi truyện ngắn có thể ví như "một lát cắt của hiện thực cuộc sống". Truyện ngắn là thể loại gần gũi với đời sống hàng ngày, súc tích, dễ đọc, lại thường gắn liền với hoạt động báo chí, do đó có tác dụng, ảnh hưởng kịp thời trong đời sống. Nhiều nhà văn lớn trên thế giới và nước ta đã đạt tới đỉnh cao của sự nghiệp sáng tạo nghệ thuật chủ yếu bằng những truyện ngắn xuất sắc của mình.

Về đặc điểm kết cấu, cốt truyện, truyện ngắn thường hướng tới việc khắc họa một hiện tượng, phát hiện một nét bản chất trong quan hệ nhân sinh hay đời sống tâm hồn của con người. Nếu ví tiểu thuyết như một dòng sông thì truyện ngắn là một khúc sông, nhưng qua khúc sông ấy phải cho người đọc thấy cả dòng sông. Cho nên sự kiện phải được dồn nén, chọn lọc. Bút pháp trần thuật của truyện ngắn thường là chấm phá. "Yếu tố quan trọng bậc nhất của truyện ngắn là những chi tiết cô đúc, có dung lượng lớn và lối hành văn mang nhiều ẩn ý, tạo cho tác phẩm những chiều sâu chưa nói hết" (Từ điển thuật ngữ văn họcLê Bá Hãn ). Vì thế, cốt truyện của truyện ngắn thường diễn ra trong một thời gian, không gian hạn chế, thường ít có nhân vật, ít sự kiện phức tạp. Trong truyện ngắn thường có một hoặc một số sự kiện quan trọng (đoàn tàu đi qua, cảnh cho chữ, Mị cắt dây trói cứu A Phủ, người đàn ông hàng chái đánh vợ ngay trên bức tranh thiên nhiên tuyệt bích). Chức năng của nó là nhận ra một điều gì đó sâu sắc về cuộc đời và tình người, một quy luật của cuộc sống. Đến lượt mình, các sự kiện đó lại được hình thành từ nhiều chi tiết nghệ thuật. Không có chi tiết nghệ thuật thì các sự kiện trong tác phẩm tự sự cũng trở thành vô hồn.

Trong truyện ngắn Vợ chồng A Phủ của Tô Hoài, sự kiện Mị bị bắt về nhà thống lí Pá Tra để làm con dâu gạt nợ đã được hình thành từ nhiều chi tiết, đặc biệt là việc Mị nghĩ mình chỉ là con trâu con ngựa. Con trâu con ngựa phải đeo cái ách trên cổ. Có lẽ cái ách của Mị chính là thân phận con dâu gạt nợ. Hóa ra con dâu gạt nợ không còn là con người mà chỉ là con vật trong nhà Pá Tra. Lúc này, Mị chỉ biết đến làm việc mà hoàn toàn không có đời sống tinh thần, không niềm vui, không hi vọng, không chờ đợi, chỉ có một cảm xúc duy nhất là nỗi buồn. Những người dân phố huyện lam lũ trong truyện Hai đứa trẻ của Thạch Lam ít nhất vẫn còn biết mong đợi một điều gì đó tươi sáng hơn cho cuộc đời mình, mong đợi một chuyến tàu đi qua mỗi đêm. Chí Phèo trong bi kịch còn mơ đến một mái ấm gia đình và con đường quay về với cuộc sống của người lương thiện. Còn Mị thì hoàn toàn không có một chút tia sáng nào dù là yếu ớt nhất về niềm tin và sự sống. Chính vì thế, mỗi ngày Mị càng không nói lùi lũi như con rùa nuôi trong xó cửa. Nếu cách so sánh với con trâu, con ngựa cho thấy cuộc sống lao động vất vả, thì cách so sánh với con rùa cho thấy sự câm lặng, cô độc, biệt lập của mình. Dường như cô không còn sống trong mắt mọi người mà chỉ tồn tại như một thứ đồ bị bỏ quên, không ai buồn để tâm, ngó ngàng tới. Đó là một sự cam chịu nhưng là thái độ cam chịu đã đến mức tê liệt về tinh thần, nên người ta không còn nhận ra dấu vết của sự cam chịu mà chỉ còn thấy dường như đây là cách sống sẵn có của ngươi con gái này. Vì thế, ở Mị dường như không còn nhận thấy thái độ nhẫn nhục chịu đựng cái khổ, coi cái khổ như một gánh nặng, một bi kịch của cuộc đời mà cô đã quá quen với cái khổ thấy nó cũng như cuộc sống bình thường. Đến đây, ta thấy khâm phục sức chịu đựng của Mị nhưng cũng kinh hãi thay cho sự đày đọa của cường quyền và thần quyền trong gia đình Pá Tra lên con người.

Bởi truyện ngắn có nhiều chi tiết cô đúc nên người đọc phải phát huy khả năng liên tưởng, tưởng tượng để cảm nhận và thấu hiểu hết những ý nghĩa hàm ẩn. Trong truyện ngắn Hai đứa trẻ, tác giả đã xây dựng các chi tiết về bóng tối một cách đậm đặc khác thường: Bóng tối ngập đầy dần trong đôi mắt Liên, cụ Thi đi lần vào bóng tối.. Tiếng trống cầm canh chìm vào bóng tối.. Tất cả như nói lên rằng dường như bóng tối đã trở thành một thứ vật thể hữu hình, tràn ngập khắp nơi, lấp đầy phố huyện. Miêu tả bóng tối bằng các cụm từ như tràn đầy, ngập tràn để người đọc thấy rõ hơn sự trống rỗng trong không gian phố huyện. Nếu ngọn đèn là biểu tượng cho kiếp người nhỏ bé, lay lắt thì bóng tối là biểu tượng cho hiện thực cuộc sống tù túng nơi phố huyện. Bóng tối cô đặc đến độ, ánh sáng ngọn đèn thành leo lét, le lói. Đoàn tàu mang theo ánh sáng lộng lẫy không lao qua lòng phố huyện mà lao qua, xé rách lòng đêm tối để rồi ngay sau màn đêm lại từ từ khép lại.

Về đặc điểm thể hiện tính cách nhân vật, nhân vật của truyện ngắn là một mảnh nhỏ của thế giới. Nhân vật của truyện ngắn thường là hiện thân cho một quan hệ xã hội, một ý thức xã hội hoặc một trạng thái tồn tại của con người, chỉ thể hiện một hoặc một vài tính các trong một khía cạnh, một thời điểm mà ở đấy nhân vật bộc lộ một cách rõ rệt và sắc nét nhất nói cách khác truyện ngắn chỉ xây dựng nhân vật qua"một cảnh ngộ, một tình huống chọn lọc" (Hà Minh Đức – Cơ sở lí luận văn học, tập II) . Hành động trong truyện ngắn thường diễn ra mau lẹ. Trong truyện ngắn Chí Phèo, hành động cuối cùng của con quỷ dữ làng Vũ Đại diễn ra thật bất ngờ. Hành động đó nằm ngoài dự liệu của bá Kiến, khiến hắn phải trả giá một cách thích đáng. Dù có lọc lõi đến đâu trong nghệ thuật cai trị và dùng người, hắn cũng không thể lường trước được hành động của Chí Phèo. Hắn nghĩ đã hoàn toàn điều khiển được Chí Phèo như một tên tai sai mù quáng, như một quân cờ trong tay, như một công cụ giết người vô tri, vô giác mà không ngờ rằng bản chất lương thiện của Chí chưa bao giờ bị hủy hoại hoàn toàn. Nhân hình không còn nhưng nhân tính thì vẫn còn. Nhân hình lộ ra bên ngoài có thể bị mảnh chai, lưỡi dao vằm nát nhưng nhân tính thì ẩn rất sâu bên trong, không một lưỡi dao, mảnh chai nào có thể chạm đến. Chí có thể bán linh hồn cho quỷ dữ nhưng không bao giờ biến thành quỷ dữ. Hắn chỉ khoác cái lốt quỷ dữ ở bên ngoài mà thôi. Có lẽ chỉ đến khi lĩnh trọn mũi dao của Chí Phèo, bá Kiến mới hiểu rằng hắn đã đánh giá quá thấp người nông dân. Chí Phèo chấp nhận chết để được sống lương thiện dù chỉ trong một khoảnh khắc rất ngắn ngủi của một cuộc đối thoại mà thực ra ở đó chỉ có một người nói: Ai cho tao lương thiện? Làm thế nào để mất đi những vết sẹo trên mặt này. Tao không thể làm người lương thiện được nữa rồi. Chỉ còn một cách này..

3. Một số đề thực hành

3.1 "Giá trị nghệ thuật của một tác phẩm truyện, trước hết được tạo nên bởi những chi tiết mới lạ có sức hấp dẫn người đọc" (Lep Tônxtôi – Dẫn theo truyện ngắn chọn lọc). Anh chị hãy phân tích một truyện ngắn trong chương trình Ngữ văn 11 hoặc 12 Nâng cao để làm sáng tỏ vấn đề trên.

A. Giải thích

- Tác phẩm truyện là các tác phẩm thuộc thể loại tự sự, trong văn học dân gian có thần thoại, sử thi, truyền thuyết, cổ tích, truyện cười, ngụ ngôn.. Văn học trung đại và hiện đại có truyện thơ, tiểu thuyết, truyện vừa, truyện ngắn, kí sự, bút kí, phóng sự..

- Giá trị nghệ thuật của tác phẩm truyện là toàn bộ các phương thức, cách thức, thủ pháp để chuyển tải nội dung như dùng từ, đặt câu, viết đoạn, lựa chọn chi tiết, xây dựng nhân vật, kết cấu, giọng điệu, cách kể chuyện..

- Các chi tiết, còn gọi là các tình tiết là yếu tố cụ thể hình thành sự kiện trong mỗi tác phẩm truyện. Chi tiết mới lạ có sức hấp dẫn người đọc là những chi tiết độc đáo, bất ngờ, khắc họa nhân vật một cách sâu sắc, tạo nên ấn tượng và sự say mê thích thú đối với người đọc.

=> Tóm lại, ý kiến của L. Tôn-xtoi khẳng định trong tác phẩm truyện, những chi tiết mới lạ như vậy giữ vai trò quan trọng hàng đầu.

B. Chứng minh:

- Ý kiến trên là đúng đắn và phù hợp với đặc trưng của thể loại truyện và quy luật sáng tạo.

- Tự sự là dùng lời kể tái hiện lại những sự việc, biến cố, con người nhằm khắc họa hiện thực cuộc sống như đang diễn ra một cách khách quan, qua đó người viết bày tỏ một cách hiểu và một thái độ nhất định. Để làm được điều đó, tác phẩm tự sự lại phải có cốt truyện. Bởi thông qua cốt truyện nhà văn trình bày cho người đọc cái mạch quy luật của đời sống. Trong khi đó, cốt truyện lại được xây dựng từ các sự kiện hoặc biến cố xảy ra liên tiếp, cái này nối tiếp hoặc nảy sinh cái kia, xô đẩy nhau tới đỉnh điểm buộc phải giải quyết, giải quyết xong thì truyện kết thúc. Đến lượt mình, mỗi sự kiện lại được tạo bởi các chi tiết nghệ thuật. Chi tiết càng có giá trị thì sự kiện càng đặc sắc. Như vậy, có thể nói, nghệ thuật viết truyện chính là nghệ thuật sáng tạo, tổ chức, sắp xếp các chi tiết, để hình thành nên các sự kiện và cốt truyện. Chính vì thế, sức hấp dẫn, sức sống của truyện xét cho cùng phải nằm ở những chi tiết mới lạ, có sức hấp dẫn người đọc. Thậm chí, ngay cả khi cốt truyện bị lược bỏ, đơn giản hóa thì truyện vẫn có sức sống nếu chứa đựng được các chi tiết đặc sắc (Hai đứa trẻ - Thạch Lam)

- Tác phẩm tự sự còn có khả năng thể hiện nhân vật một cách đầy đủ, toàn diện trong một phần hoặc toàn bộ cuộc đời với hành động, tính cách, số phận và biểu hiện thường nhật. Muốn làm được điều đó, nhà văn bắt buộc phải biết xây dựng được nhiều chi tiết nghệ thuật. Chi tiết càng mới lạ, độc đáo, ý nghĩa thì nhân vật càng được khắc họa một cách sinh động, ấn tượng.

- Tóm lại, một nhân vật không thể được coi là giá trị nếu không được khắc họa bằng những chi tiết đặc sắc, một tác phẩm truyện không thể coi là đích thực nếu không được xây dựng từ những chi tiết điển hình. Nói cách khác: "Giá trị nghệ thuật của một tác phẩm truyện, trước hết được tạo nên bởi những chi tiết mới lạ có sức hấp dẫn người đọc".

- Lấy tác phẩm cụ thể để chứng minh.

3.2 Bàn về truyện ngắn, Từ điển Thuật ngữ Văn học (Nhà xuất bản Văn học, 1992) có viết: "Yếu tố quan trọng bậc nhất của truyện ngắn là những chi tiết cô đúc, có dung lượng lớn và lối hành văn đầy ẩn ý, tạo cho tác phẩm những chiều sâu chưa nói hết". Anh/chị hãy giải thích và chứng minh ý kiến trên. (Qua tác phẩm đã học trong giai đoạn 1930 – 1945)

A. Giải thích:

- Truyện ngắn là tác phẩm tự sự cỡ nhỏ, có quy mô và dung lượng phản ánh hiện thực không lớn, vì thế, mỗi truyện ngắn có thể ví như "một lát cắt của hiện thức cuộc sống". Cốt truyện của truyện ngắn thường diễn ra trong một thời gian, không gian hạn chế, chức năng của nó nói chung là nhận ra một điều gì đó sâu sắc về cuộc đời và tình người. Kết cấu của truyện ngắn không chia thành nhiều tầng, nhiều tuyến.

- Mỗi truyện ngắn đều được xây dựng bằng một hệ thống các chi tiết nghệ thuật. Chi tiết nghệ thuật là một bộ phận nhỏ nhất có ý nghĩa của mỗi tác phẩm mà nhờ đó thế giới nghệ thuật được hiện ra một cách cụ thể, sinh động. Do truyện ngắn là "một lát cắt của hiện thức cuộc sống" nên chi tiết thường phải "cô đúc, có dung lượng lớn", nghĩa là chi tiết phải có tính chất cô đọng, hàm súc, đa nghĩa, nói ít nhưng lại chứa đựng được những ý nghĩa lớn. Qua chi tiết, người đọc có thể nhận ra được thế giới nghệ thuật riêng của từng tác phẩm (thời đại, thể loại).

- Lối hành văn đầy ẩn ý: Là tiếng nói, giọng điệu, ngôn ngữ, cách kể chuyện, rộng hơn là hình thức nghệ thuật vừa hàm súc, đa nghĩa, ẩn chứa nhiều điều sâu sắc, tinh tế vừa độc đáo, riêng biệt, in đậm dấu ấn sáng tạo và phong cách nghệ thuật của nhà văn.

- Chi tiết cô đúc, có dung lượng lớn và lối hành văn đầy ẩn ý chính là những yếu tố có vai trò quan trọng bậc nhất, không thể thiếu trong truyện ngắn. Truyện ngắn có thể không có cốt truyện, nhưng không thể không có các chi tiết đặc sắc trong hình thức nghệ thuật độc đáo. Nhờ những điều này mà tác phẩm có những chiều sâu không cùng (chưa nói hết) để cuốn hút độc giả và đòi hỏi họ phải nghiền ngẫm, tìm tòi khám phá, đồng sáng tạo với nhà văn để thấy những cái hay, cái đẹp còn ẩn giấu.

B. Chứng minh: Phân tích từng chi tiết đặc sắc trong mỗi tác phẩm ở hai phương diện nội dung ý nghĩa và đặc sắc nghệ thuật.

Phần iii: Kết luận

Như vậy, chi tiết nghệ thuật trong tác phẩm văn chương tự sự chính là một yếu tố không thể thiếu. Một nhà văn tài năng phải biết xây dựng được các nhân vật đặc sắc, một nhân vật đặc sắc phải được "nuôi sống" bằng những chi tiết giá trị. Không có chi tiết giá trị thì không thể có nhân vật, sự kiện, cốt truyện đích thực trong tác phẩm tự sự. Sức sáng tạo của nhà văn xét cho cùng dồn lại ở trong việc xây dựng các chi tiết nghệ thuật. Vì thế, sự phong phú, đang dạng của chi tiết nghệ thuật trong tác phẩm tự sự dường như là không có giới hạn. Chi tiết nghệ thuật chính là kết quả của óc quan sát tinh tế, khả năng tưởng tượng phong phú, khả năng nắm bắt "cái thần" của nhân vật. Đôi khi, hàng trăm trang văn miêu tả nhân vật cũng không bằng một chi tiết đắt giá. Chi tiết không chỉ nói được chiều sâu bên trong số phận, tính cách của nhân vật mà còn gợi nhiều liên tưởng sáng tạo trong người đọc. Vì thế, xét cho cùng, nắm được chi tiết chính là nắm được tác phẩm tự sự.

Tuy nhiên, chuyên đề này vẫn chưa giải quyết được những vấn đề quan trọng liên quan tới chi tiết nghệ thuật trong tác phẩm tự sự. Đó là chưa đi sâu vào các thủ pháp nghệ thuật xây dựng chi tiết, chưa chỉ được phong cách nghệ thuật của mỗi nhà văn thể hiện qua hệ thống chi tiết của tác phẩm, chưa có sự phân loại các chi tiết nghệ thuật. Chúng tôi hi vọng sẽ nhận được sự đóng góp, trao đổi ý kiến của đồng nghiệp để chuyên đề được hoàn thiện hơn.
 
Chỉnh sửa cuối:
1,646 ❤︎ Bài viết: 1934 Tìm chủ đề
Chi tiết nghệ thuật

Một số kiến thức về lí luận

– "Chi tiết nghệ thuật là một bộ phận nhỏ nhất có ý nghĩa của mỗi tác phẩm mà nhờ bộ phận này thế giới nghệ thuật của tác phẩm mới hiện ra một cách cụ thể sinh động"

– "Chi tiết nghệ thuật là các tiểu tiết của tác phẩm mang sức chứa lớn về cảm xúc và tư tưởng"

– "Mỗi tác phẩm có một hệ thống chi tiết nghệ thuật. Có thể đó là một hệ thống dày đặc như trong tác phẩm truyện hoặc chỉ chấm phá vài nét như trong tác phẩm thơ. Nhờ hệ thống chi tiết này mà thế giới nghệ thuật của tác phẩm từ con người đến cảnh vật hiện ra một cách cụ thể, sinh động, đồng thời cũng góp phần soi tỏ ý nghĩa của tác phẩm"

– "Chi tiết có ý nghĩa rất sâu sắc trong việc cắt nghĩa hình tượng nghệ thuật. Qua chi tiết, người đọc có thể nhận ra tư tưởng mà nhà văn muốn nhắn gửi"

– "Sáng tạo chi tiết độc đáo đòi hỏi nhà văn phải lựa chọn nghiêm ngặt, sao cho cô đọng, hàm súc, ấn tượng, ám ảnh".

– "Ở truyện ngắn, mỗi chi tiết đều có vị trí quan trọng như mỗi chữ trong bài thơ tứ tuyệt. Trong đó có những chi tiết đóng vai trò đặc biệt như những nhãn tự trong thơ vậy"

– "Yếu tố quan trọng bậc nhất của truyện ngắn là những chi tiết cô đúc, có dung lượng lớn và lối hành văn đầy ẩn ý, tạo cho tác phẩm những chiều sâu chưa nói hết".

– "Chi tiết có thể rất nhỏ nhưng làm nên nhà văn lớn".

Một số dạng chi tiết cần chú ý

Chi tiết hành động

– Chi tiết chen ngang đoàn xe tang của Xuân Tóc Đỏ.

– Chi tiết dúi đồng giấy bạc gấp tư vào tay Xuân của ông Phán Mọc Sừng.

Chi tiết lời nói

– Tiếng chửi của Chí Phèo.

– Tiếng kêu khóc của Vũ Như Tô.

Chi tiết cái chết

– Chí Phèo, Bá Kiến, Lão Hạc.

– Vũ Như Tô, Huấn Cao.

– Lor-ca, Tiểu Thanh.

Chi tiết hình ảnh

– Hình ảnh giọt nước nước mắt A Phủ.

– Hình ảnh giọt nước mắt của người đàn bà hàng chài.

– Giọt nước mắt của bà cụ Tứ.

– Bát cháo hành của thị Nở.

– Đôi bàn tay của Tnú.

Cách làm bài về chi tiết

– Xác định vị trí của chi tiết trong tác phẩm.

– Tái hiện chi tiết.

– Ý nghĩa chi tiết.

– Vai trò của chi tiết trong tác phẩm.

– Nhận xét về tài năng chọn lọc và xây dựng chi tiết nghệ thuật của nhà văn.

* Ví dụ minh họa về chi tiết "tiếng chửi của Chí Phèo"

Vị trí chi tiết

– Mở đầu thiên truyện, tạo tiền đề cho hàng loạt những chi tiết sau đó.

– Khơi mào cho một cốt truyện, chi tiết như là một "thắt nút" cho xung đột tác phẩm đẩy đến cao trào sau đó.

- > Cách khai truyện rất có ý đồ nghệ thuật -> lôi cuốn, hấp dẫn bạn đọc ngay chi tiết đầu tiên.

Miêu tả Chí Phèo chửi

– Hắn vừa đi vừa chửi: Chân đi lảo đảo, mồm làu bàu chửi -> Chửi trong cơn say và không biết đây là lần thứ bao nhiêu.

– Lúc đầu chửi trời, sau đến chửi đời, rồi chửi cả làng Vũ Đại nhưng không ai chửi lại với hắn.

– Hắn chửi đứa chết mẹ nào đẻ ra thân hắn.

Ý nghĩa

– Cứ rượu vào là hắn chửi: Chửi với Chí đã trở thành một phản xạ tự nhiên, chửi để vơi đi những ẩn ức chất chứa trong lòng.

– Chửi để có người chửi lại: Khát khao, thèm muốn người ta chửi mình. Có như thế Chí còn là một con người và còn được người khác coi mình là người.

– Không ai chửi lại Chí Phèo: Hắn đã bị tẩy chay, không được kết nạp vào xã hội loài người.

- > Chửi với Chí là một "kênh" giao tiếp cuối cùng nhưng cũng không ai đáp lại -> Trong tận cùng tâm can, trong thẳm sâu của tiềm thức, vô thức Chí cô đơn vô cùng.

– Chửi đứa chết mẹ nào đã đẻ ra thân hắn: Chửi cái xã hội đã đẻ ra những kẻ biến dạng cả nhân hình và nhân tính và đang quằn quại đau đớn vì bị cự tuyệt quyền làm người.

- > Chửi rất nhiều và vừa chửi vừa hi vọng có người nào đó chửi lại mình nhưng không. Chí uất ức và bế tắc.

- > Trong tiếng chửi có nỗi đau, có hi vọng, có thấp thỏm lo âu, nhưng rồi hoàn toàn tuyệt vọng.

- > Tiếng chửi là toàn bộ bi kịch Chí Phèo.

Vai trò của chi tiết trong tác phẩm

– Giới thiệu chi tiết mà khái quát đầy ẩn ý về nhân vật và tạo đà cho câu chuyện phát triển.

– Là một mắt xích rất quan trọng trong chuỗi sự kiện, tình tiết của tác phẩm.

– Là một hành động thường xuyên, lặp lại của nhân vật thể hiện tình trạng bế tắc của số phận một con người.

– Chí chửi vào khoảng không im lặng, vào thành lũy kiên cố của những thành kiến bất di bất dịch -> Chí chơi vơi giữa cuộc đời: Đối diện trực tiếp với nỗi cô đơn và bi kịch.

Nhận xét tài năng miêu tả của Nam Cao

– Là chi tiết rất nhỏ, thoáng qua, tưởng chừng vụn vặt song lại góp phần thể hiện tính cách nhân vật và chủ đề tác phẩm.

– Miêu tả rất có tình tự: Có mở đầu, có diễn biến và có kết thúc. Bản thân chi tiết "tiếng chửi" của Chí Phèo đã là một câu chuyện nhỏ lồng vào một câu chuyện lớn. Cách lồng ghép của Nam Cao rất có ẩn ý và nghệ thuật.

– Chi tiết "tiếng chửi" của Chí đã bao quát cả cuộc đời Chí: Một đứa con hoang vô thừa nhận, bị đời giày vò, tận cùng đau đớn, rơi sâu vào bi kịch không lối thoát.

– Kết hợp điêu luyện giữa trần thuật và miêu tả, giữa những câu ngắn và câu dài, câu hỏi, câu cảm thán và câu kể. Đặc biệt là sự lồng ghép đan xen và hài hòa giữa câu trần thuật trực tiếp và nửa trực tiếp.

- > Một phát hiện độc đáo và sắc sảo của Nam Cao: Bi kịch bị cự tuyệt quyền làm người ngay cả từ nhu cầu giao tiếp thông thường.

Xây dựng thành những luận đề

Luận đề 1: Chi tiết giọt nước mắt và nỗi lòng của nhà văn khi miêu tả tiếng khóc qua các tác phẩm truyện.

Lí luận về chi tiết nghệ thuật

– Chi tiết nghệ thuật mang sức chứa lớn về cảm xúc và tư tưởng. Nhờ các chi tiết nghệ thuật mà các hình tượng hiện lên cụ thể, gợi cảm và sống động.

– Chi tiết nghệ thuật thường được miêu tả chân thực và chính xác, nó có tính tạo hình và góp phần thể hiện tính cách, tâm trạng nhân vật.

– Chi tiết nghệ thuật còn chuyển tải thông điệp mà nhà văn muốn nhắn gửi. Chi tiết nghệ thuật vì vậy mà có khả năng "nói" nhiều hơn bản thân nó.

– Chi tiết nghệ thuật đóng vai trò là vật liệu xây dựng nhân vật, xây dựng cốt truyện, cũng có nhiều chi tiết thể hiện cả quan điểm nghệ thuật của nhà văn.

Chi tiết về giọt nước mắt

– Hầu hết những tác phẩm có giá trị nhân đạo đều xuất hiện chi tiết giọt nước mắt. Trong số đó phải kể đếnChí Phèo, Đời thừa (Nam Cao), Vợ nhặt (Kim Lân), Vợ chồng A Phủ (Tô Hoài), Chiếc thuyền ngoài xa (Nguyễn Minh Châu).

– Nước mắt, trước hết là nỗi niềm của nhân vật và sau đó là những thông điệp của chính nhà văn.

– Chi tiết liên quan đến nước mắt thường gắn liền với xúc động, nỗi đau hay tận cùng tuyệt vọng nên thường có sức ám ảnh lớn.

Những giọt nước mắt của nhân vật và nỗi lòng của nhà văn khi miêu tả tiếng khóc

Chí Phèo

* "Hắn thấy mắt mình hình như ươn ướt"

– Cảm động vì lần đầu tiên được người khác cho, lần đầu tiên được chăm sóc bởi bàn tay của một người đàn bà, lần đầu tiên được đối xử như một con người.

– Nam Cao nhận ra chất người trong bộ dạng quỷ. Nhà văn luôn tìm cách phát hiện ra phần người của con người dù trong bất cứ hoàn cảnh nào.

* "Hắn ôm mặt khóc rưng rức"

– Quằn quại đau đớn, đỉnh điểm của bi kịch, hoàn toàn tuyệt vọng vì bị cự tuyệt quyền làm người.

– Nam Cao chứng minh cho chúng ta thấy con người luôn có khát vọng làm người. Dù bị tha hóa nhưng Chí Phèo luôn nuôi hi vọng được loài người chấp nhận. Nhà văn để cho nhân vật khóc trước khi chết chứng tỏ rằng nhà văn luôn luôn tin ở con người. Những giọt nước mắt và cái chết dữ dội của Chí Phèo ngay trên ngưỡng cửa quay về với xã hội loài người là một phát hiện độc đáo và có tính triết lí rất cao.

=> Giọt nước mắt trong tác phẩm không chỉ là tâm trạng của nhân vật mà còn là tấm lòng nhân đạo của nhà văn, thậm chí còn là quan niệm triết học của Nam Cao về con người.

Đời thừa

* "Và nhiều khi, không còn chịu nổi cái không khí bực tức ở trong nhà, hắn đang ngồi bỗng đứng phắt lên, mặt chan chứa nước, mặt hầm hầm, vùng vằng đi ra phố, vừa đi vừa nuốt nghẹn"

– Tâm trạng bức bối, khổ đau vì bất lực trước hoàn cảnh. Đó là những giọt nước mắt nóng hổi lăn dài trên má thể hiện nỗi đau đớn đến nghẹn ngào uất ức không sao giải tỏa của nhân vật Hộ.

– Nhà văn thấu hiểu nỗi khổ của nhân vật. Nam Cao miêu tả cảnh Hộ khóc thật cảm động, hay nói đúng hơn là nhà văn đang khóc cho nhân vật của mình. Đó chính là biểu hiện của lòng thương mà chúng ta hay goi là nhân đạo.

* "Nước mắt hắn bật ra như nước của một quả chanh mà người ta bóp mạnh", "Chao ôi! Hắn khóc! Hắn khóc nức nở, khóc như không thể ra tiếng khóc"

– Đó là những giọt nước mắt ân hận, xót xa vì anh chợt nhận ra chính mình đã giẫm đạp lên nguyên tắc tình thương do mình đề xướng. Đó là những giọt nước mắt đau đớn đến thấm thía nghẹn ngào.

– Miêu tả Hộ khóc nhà văn đã thanh lọc tâm hồn cho nhân vật, nâng cao nhân cách cho anh, giữ anh lại trước vực thẳm sa ngã. Qua đó Nam Cao cho người đọc thấy rằng nhân vật của mình luôn luôn là một con người đúng nghĩa cho dù rơi vào bất kì hoàn cảnh nghiệt ngã đớn đau nào.

Vợ nhặt

* "Bà cụ nghẹn lời không nói được nữa, nước mắt cứ chảy xuống ròng ròng"

– Tâm trạng tủi hổ của một người mẹ nghèo không cưới vợ nổi cho đứa con trai để nó tự nhặt vợ đem về. Là đàn bà, cũng từng đi lấy chồng và đi làm dâu nhà người nên bà cụ Tứ rất cảm thông cho người vợ nhặt. Nước mắt bà chảy là biểu hiện của lòng thương và sự bao dung.

– Miêu tả bà cụ khóc, Kim Lân như cũng khóc theo những giọt nước mắt kia rơi. Nhà văn đau nỗi đau cùng cộng đồng nhân loại trong nạn đói.

* "Trống thúc thuế đấy. Đằng thì nó bắt giồng đay, đằng thì nó bắt đóng thuế. Giời đất này không chắc đã sống qua được đâu các con ạ.. – Bà lão ngoảnh vội ra ngoài. Bà lão không dám để con dâu nhìn thấy bà khóc"

– Tâm trạng lo sợ gia đình bị diệt vong vì nạn đói nhưng cũng đủ tỉnh táo quay mặt để không khí gia đình sau đêm tân hôn con trai bớt phần bi đát.

– Cách miêu tả tiếng khóc không thành lời thật nhân văn. Qua chi tiết mà giá trị hiện thực, sức tố cáo và giá trị nhân đạo của tác phẩm được thể hiện sâu sắc.

Vợ chồng A Phủ

* "Lúc ấy đã khuya. Trong nhà đã ngủ yên, thì Mị trở dậy thổi lửa. Ngọn lửa bập bùng sáng lên, Mị lé mắt trông sang, thấy hai mắt của A Phủ cũng vừa mở, một dòng nước mắt lấp lánh bò xuống hai hõm má xám đen lại"

* "Nhìn thấy tình cảnh như thế, Mị chợt nhớ lại đêm năm trước A Sử trói Mị, Mị cũng phải trói đứng thế kia. Nhiều lần Mị khóc, nước mắt chảy xuống miệng, xuống cổ"

– Đây là chi tiết hiếm hoi liên quan trực tiếp đến tâm trạng của nhân vật. A Phủ là kiểu nhân vật hành động. Nhà văn chủ yếu khắc họa nhân vật qua các hoạt động và lời nói. A Phủ là con người mãnh mẽ chưa biết khóc bao giờ. Trong hoàn cảnh này, nước mắt A Phủ chảy xuống tức là anh đã không còn hi vọng gì, có lẽ đến nước này anh đã nghĩ tới chuyện xấu nhất có thể xảy ra. Đó là giọt nước mắt khi nghĩ đến cái chết.

– Giọt nước mắt của Mị đã chảy trong quá khứ giờ vẫn còn nóng hổi khi gặp giọt nước mắt của A Phủ. Tâm trạng của Mị qua chi tiết vì thế mà đan xen nhiều cung bậc và phức tạp hơn. Đó không chỉ là nỗi đau của riêng mình mà còn là sự cảm thông với nỗi đau của những người có cảnh ngộ giống mình. Giọt nước mắt và những dòng độc thoại nội tâm kia cho thấy Mị không còn là con rùa nữa, Mị đã hồi sinh sức sống. Chính nó đã giải thoát cho Mị và cho A Phủ.

=> Hai chi tiết trên được miêu tả trong sự tương đồng về tình tiết. Nó là một mắt xích quan trọng để câu chuyện phát triển liền mạch đến một cái kết có hậu. Cái kết như cổ tích ấy chứa chan tình thương và tấm lòng nhân đạo của nhà văn.

Chiếc thuyền ngoài xa

* "Người đàn bà dường như lúc này mới cảm thấy đau đớn – vừa đau đớn vừa vô cùng xấu hổ, nhục nhã.

– Phác, con ơi!

Miệng mếu máo gọi, người đàn bà ngồi xệp xuống trước mặt thằng bé, ôm chầm lấy nó rồi lại buông ra, chắp tay vái lấy vái để, rồi lại ôm chầm lấy"

– Khi bị đánh người đàn bà hàng chài không hề kêu khóc, bỏ chạy hay đánh trả. Chỉ khi phát hiện có con trai và người đàn ông lạ mặt chứng kiến cảnh mình bị đánh người đàn bà bỗng dưng khóc nức nở, nghẹn ngào. Nước mắt kìm nén lâu nay bây giờ trào ra, nó là cả nỗi đau đớn về thể xác lẫn tâm hồn. Thể xác bầm dập thâm tím vì nạn bạo hành của chồng, tâm hồn tổn thương, cảm thấy xấu hổ và nhục nhã vì bị người khác phát hiện mình bị đọa đày. Nó còn là nỗi đau đớn và nỗi lo sợ cho thằng Phác, sợ tổn thương tâm hồn con trẻ và sợ con trẻ làm điều dại dột với bố.

- > Chỉ một chi tiết nhỏ nhưng nói lên bao nhiêu điều thầm kín của một người vợ, một người mẹ.

– Với nhân vật người đàn bà hàng chài và với chi tiết đắt giá nêu trên nhà văn Nguyễn Minh Châu thật sự đã đào sâu vào hiện thực cuộc sống đời thường với bao khuất tất. Đó là dấu hiệu đổi mới bút pháp, đổi mới cách nhìn cuộc sống của một nhà văn tiên phong.

- > Nhìn thấy bản chất thật đằng sau hiện tượng, phát hiện ra tấm lòng của người đàn bà hàng chài là một biểu hiện của cái nhìn nhân đạo sâu sắc của Nguyễn Minh Châu.

Đánh giá chung

– Mỗi tác phẩm khác nhau và những nhà văn khác nhau có cách nhìn nhận và miêu tả nước mắt không giống nhau nhưng điểm gặp gỡ chung là miêu tả nước mắt để khắc họa tâm trạng nhân vật. Nước mắt nhìn chung là nỗi đau không thốt được nên lời, nước mắt rơi thay bao nhiêu lời muốn nói cho cả nhân vật và nhà văn. Nước mắt trong hầu hết các tác phẩm thường là bi kịch tinh thần, là những thương tổn bên trong tâm hồn, là trạng thái cùng quẫn, bế tắc.

– Miêu tả nước mắt của các nhân vật, nhà văn đã thể hiện tấm lòng cảm thông, yêu thương, tin tưởng vào bản chất tốt đẹp của con người. Qua những giọt nước mắt các tác giả đã phần nào phơi bày hiện thực xã hội và gửi gắm tư tưởng nhân đạo

Luận đề 2: Chi tiết cái chết và nỗi niềm tác giả khi đề cập đến cái chết trong một số tác phẩm thơ và truyện.

Lí luận về chi tiết nghệ thuật

– Chi tiết nghệ thuật mang sức chứa lớn về cảm xúc và tư tưởng. Có thể đó là một hệ thống dày đặc như trong tác phẩm truyện hay chỉ chấm phá vài nét như trong tác phẩm thơ. Nhờ chi tiết mà thế giới nghệ thuật của tác phẩm từ con người đến cảnh vật hiện ra một cách cụ thể và sinh động, đồng thời góp phần soi tỏ ý nghĩa tác phẩm.

– Chi tiết nghệ thuật thường được miêu tả chân thực và chính xác, nó có tính tạo hình và góp phần thể hiện tính cách, tâm trạng nhân vật.

– Chi tiết nghệ thuật còn chuyển tải thông điệp mà nhà văn muốn nhắn gửi. Chi tiết nghệ thuật vì vậy mà có khả năng "nói" nhiều hơn bản thân nó.

– Chi tiết nghệ thuật đóng vai trò là vật liệu xây dựng nhân vật, xây dựng cốt truyện, cũng có nhiều chi tiết thể hiện cả quan điểm nghệ thuật của nhà văn.

Chi tiết về cái chết

– Thường xuất hiện trong tác phẩm lấy nguồn cảm hứng từ hiện thực: Cuộc sống, xã hội, thời đại lịch sử. Đó thường là những sự kiện, bối cảnh rất chân thực.

– Cái chết đánh dấu sự kết thúc cuộc đời của một con người. Trong tác phẩm văn học, con người có thể chết vì nhiều lí do khác nhau, nhưng đó không phải là những cái chết sinh học mà là những cái chết mang ý nghĩa phản ánh xã hội, thời đại sâu sắc.

– Chi tiết cái chết gắn liền với mất mát, đau thương, tận cùng bi kịch, chấm dứt số phận một kiếp người bởi nhiều nguyên do khách quan, chủ quan khác nhau nên tạo sức ám ảnh lớn trong lòng người đọc.

– Thông qua chi tiết cái chết, người nghệ sĩ không chỉ phản ánh số phận nhân vật mà còn gửi gắm thông điệp nhân sinh cùng tư tưởng nhân đạo nhân văn cao cả của mình.

Những cái chết trong tác phẩm và nỗi niềm của nhà văn

Độc Tiểu Thanh kí

– Cái chết của nàng Tiểu Thanh, một thiếu nữ tài sắc vẹn toàn nhưng số phận bất hạnh: Sống kiếp vợ lẽ trong thói đời cay nghiệt, ra đi khi xuân xanh chớm nở trong nỗi cô đơn, quạnh quẽ.

– Qua đó, người đọc nhận ra nỗi lòng Nguyễn Du:

+ Tấm lòng thương cảm, xót xa, nuối tiếc trước cái chết oan nghiệt của người con gái tài hoa.

+ Sự đồng vọng, mối đồng cảm, tương giao giữa hai người tri âm, tri kỉ xuyên thế hệ, không gian địa lí và thời gian lịch sử: Thiếu nữ tài sắc – người nghệ sĩ tài hoa. Cả hai đều rơi vào bi lịch, đeo vào mình một số phận bất hạnh do chính xã hội đương thời đưa đến.

+ Không dừng lại ở tiếng nói tri âm giữa những tâm hồn đồng điệu, Nguyễn Du bày tỏ mối nghi ngại, ngờ vực đồng thời gửi gắm thông điệp, bày tỏ nguyện vọng kiếm tìm những tấm lòng tri kỉ ở mai sau:

Bất tri tam bách dư niên hậu

Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như

=> Cái chết không chỉ là một cột mốc đánh dấu chấm dứt bi kịch của người con gái tài sắc mà còn là tấm lòng nhân đạo của nhà văn; cái chết phản ánh hiện thực xã hội xấu xa, đồi bại bóp nghẹt quyền sống con người. Hơn thế, cái chết góp phần thể hiện tư tưởng nhân văn cao cả của nhà thơ, giúp tác giả kí thác điều thầm kín đến những những bạn đọc sáng tạo, những độc giả tri âm sau này. Qua cái chết, Nguyễn Du muốn tìm tri âm xuyên thế kỉ như ông đã từng tri âm với nàng Tiểu Thanh.

2. Đàn ghi ta của Lor-ca

– Cái chết "kinh hoàng", đầy ám ảnh của người nghệ sĩ, chiến sĩ Lor-ca trên mặt trận tư tưởng, cách tân nghệ thuật; đấu tranh vì tự do, dân chủ chống chế độ độc tài Tây Ban Nha.

– Cái chết của Lor-ca được tái hiện qua một "rừng biểu tượng" từ những kí hiệu mang tính chất dự báo cho số phận mong manh như "tiếng đàn bọt nước" đến những kí hiệu tương giao cảm giác của thơ tượng trưng như "tiếng ghi ta ròng ròng máu chảy" diễn tả một cái chết dữ dội, tức tưởi, nghẹn ngào.

– Từ đó, Thanh Thảo nhắn nhủ:

+ Nỗi xót xa, đau đớn sâu sắc trước cái chết bi thảm của Lor-ca, nghệ sĩ thiên tài Tây Ban Nha.

+ Khẳng định tài năng, sự bất tử của hình tượng lor-ca trong lòng công chúng yêu nghệ thuật và yêu tự do, dân chủ. Đồng thời tác giả khẳng định giá trị bền vững, sức sống mạnh mẽ của tiếng đàn Lor-ca.

+ Tác giả tỏ rõ sự bất bình đối với bối cảnh lịch sử, chính trị, xã hội thời đại bấy giờ: Chế độ độc tài Tây Ban Nha bạo tàn, độc ác. Từ đó tạo cho tác phẩm sức tố cáo gay gắt các thế lực hắc ám đã hủy diệt nghệ thuật và những tư tưởng tiến bộ vì nhân loại.

- > Cái chết của Lor-ca hiện lên dưới ngòi bút, tấm lòng tri âm, tri kỉ của một tâm hồn đồng điệu, mến phục, ngưỡng mộ tài năng Lor-ca -> Chính điều đó khẳng định sức sống mãnh liệt của hình tượng Lor-ca cùng với cây đàn, một cuộc đời, một số phận tuy đau thương nhưng vĩ đại. Cái chết ám ảnh, day dứt mãi trong lòng người đọc.

Tây Tiến

– Nếu cái chết của nàng Tiểu Thanh và người nghệ sĩ Lor-ca được tái hiện qua sự đồng vọng, tri âm xuyên thế hệ, xuyên biên giới, vượt thời gian, lấy chất liệu từ lịch sử xã hội và văn học xứ lạ phương xa thì cái chết của người lính Tây Tiến phản ánh chân thực một thời "khổ nhục nhưng vĩ đại" của dân tộc Việt Nam – cuộc kháng chiến chống Pháp.

– Cái chết của người lính Tây Tiến được tái hiện qua những hồi ức dữ dội, những kỉ niệm không thể nào quên của một người trong cuộc có nhiều sự từng trải như Quang Dũng.

Anh bạn dãi dầu không bước nữa

Gục lên súng mũ bỏ quên đời!

- > Địa bàn hành quân hiểm trở, thời tiết khí hậu khắc nghiệt và sự thiếu thốn lương thực, thuốc men, lại bị sốt rét rừng hoành hành, người lính Tây Tiến kiệt sức và chết. Đó là hiện thực khó khăn, gian khổ.

- > Cái chết không gây cảm giác bi thương, sầu lụy vì cái chết đã được bình thường hóa như một trạm dừng chân. Hơn thế, tác giả còn nâng lên thành một cái chết đẹp: Chết trong hàng ngũ, bên đồng chí đồng đội, gắn với quân trang quân dụng. Người lính đã vắt kiệt sức lực của mình trước khi gục lên súng mũ bỏ quên đời.

Rải rác biên cương mồ viễn xứ

Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh

Áo bào thay chiếu anh về đất

- > Cái chết thật nhẹ nhàng thanh thản. Xem như một sự trở về lòng đất mẹ sau khi trả xong nợ nước.

- > Qua lăng kính lãng mạn, cảm hứng hào hùng, bút pháp tài hoa của một người trong cuộc, cái chết đem chôn vội bên đường trong manh chiếu trở thành "áo bào" đưa anh về đất thật uy nghiêm tráng lệ. Tô đậm vẻ đẹp bi tráng của người lính: Một cái chết bi hùng.

– Cái chết đã đưa anh về đất nhưng cái hồn vía bay lên thành một tượng đài bất tử, đó là lòng yêu nước nồng nàn, là ý chí quyết tử cho tổ quốc quyết sinh, là trách nhiệm công dân đối với tổ quốc, là khí thế hào hùng của một thời đã qua.

Lão Hạc

– Cái chết đầy đau đớn vật vã, dữ dội và rùng rợn do quá bế tắc, cùng quẫn, không còn lối thoát: "Lão Hạc vật vã ở trên giường, đầu tóc rũ rượi, quần áo xộc xệch, hai mắt long song sọc. Lão tru tréo, bọt mép sùi ra, khắp người chốc chốc lại bị giật mạnh mộtcái, nẩy lên. Hai người đàn ông lực lưỡng phải ngồi đè lên người lão. Lão chết thật dữ dội".

– Cái chết tô đậm bức tranh hiện thực xã hội Việt Nam, ở nông thôn, trước Cách mạng tháng Tám: Cuộc sống của người nông dân cứ ngày càng ngột ngạt đến nghẹt thở và phải chết trong đau đớn tận cùng.

– Nam Cao khẳng định tâm hồn trong sáng, tấm lòng trong sạch, nhân cách cao đẹp của Lão Hạc. Lão chết vì muốn bảo vệ thiên lương của mình, vì tương lai của con trai và vì hàng xóm láng giềng.

Chí Phèo

– Cái chết đau đớn, dữ dội và đầy ám ảnh: "Giẫy đành đạch ở giữa bao nhiêu là máu tươi. Mắt hắn trợn ngược. Mồm hắn ngáp ngáp, muốn nói, nhưng không ra tiếng. Ở cổ hắn, thỉnh thoảng máu vẫn còn ứa ra".

– Chính bọn cường hào ác bá ở nông thôn mà tiêu biểu là cha con Bá Kiến đã tước quyền tự do làm người của anh nông dân Chí Phèo: Dùng thủ đoạn xảo quyệt đẩy Chí đi tù. Nhà tù thực dân tiếp tay địa chủ làm thay đổi cả nhân hình lẫn nhân tính của Chí Phèo, đẩy anh vào con đường tha hóa, lưu manh hóa để không còn cơ hội hoàn lương mà phải chết đau đớn vì bị cự tuyệt quyền làm người. Cái chết tuy có phần manh động, liều lĩnh, tự phát nhưng không phải là cái chết của một kẻ lưu manh mà là cái chết của một con người tội lỗi trên ngưỡng cửa quay về với cuộc đời lương thiện. Giá trị hiện thực sâu sắc và giá trị nhân đạo cao cả của tác phẩm toát lên từ đó.

– Cái chết cho thấy quan niệm mang tính triết lí của Nam Cao về con người: Nhận ra chất người trong bộ dạng quỷ. Đó là niềm tin bất diệt vào bản tính tốt đẹp của con người.

– Cái chết của Chí Phèo và Bá Kiến đặt dấu chấm hết cho hai con người trong một mâu thuẫn có tên giai cấp. Đó là câu chuyện mang tính tất yếu của quy luật "tức nước vỡ bờ", của triết lí nhân quả.

Đánh giá chung

– Mỗi tác phẩm khác nhau và những nhà văn khác nhau có cách nhìn nhận và miêu tả cái chết không giống nhau nhưng điểm gặp gỡ chung là miêu tả cái chết như là một kết quả tất yếu của câu chuyện kể. Đó là dấu chấm hết của một cuộc đời cũng là kết quả của một quá trình tâm trạng đau khổ, bế tắc.

– Cái chết nhìn chung là nỗi đau thương mất mát, có chăng khác là ở cách thể hiện, sắc thái biểu cảm và thông điệp mà nhà văn nhắn gửi. Cái chết chấm hết cuộc đời nhân vật nhưng tư tưởng mà cái chết chuyển tải có khi bất tử.

– Miêu tả cái chết của các nhân vật, nhà văn thể hiện mối tri âm hay đồng cảm với cuộc đời nhân vật. Đằng sau cái chết bao giờ cũng là nỗi lòng của người viết.
 
Từ khóa: Sửa

Những người đang xem chủ đề này

Xu hướng nội dung

Back