Bạn được kikiamieu mời tham gia diễn đàn viết bài kiếm tiền VNO, bấm vào đây để đăng ký.

Admin

Nothing to lose.. your love to win..
23,463 ❤︎ Bài viết: 3750 Tìm chủ đề
3816 30

Tre xanh​


Xanh tự bao giờ?

Chuyện ngày xưa đã có bờ tre xanh

Thân gầy guộc, lá mong manh

Mà sao nên lũy nên thành tre ơi!


Ở đâu tre cũng xanh tươi

Cho dù đá sỏi đất vôi bạc màu

Có gì đâu, có gì đâu

Mỡ màu dẫu ít dồn lâu hoá nhiều


Rễ siêng không quản đất nghèo

Tre bao nhiêu rễ bấy nhiêu cần cù

Vươn mình trong gió tre đu

Cây kham khổ vẫn hát ru lá cành


Yêu nhiều nắng nỏ trời xanh

Tre xanh không đứng khuất mình bóng râm

Bão bùng thân bọc lấy thân

Tay ôm tay níu tre gần nhau hơn.


Thương nhau tre chẳng ở riêng

Lũy thành từ đó mà nên hỡi người

Chẳng may thân gãy cành rơi

Vẫn nguyên cái gốc truyền đời cho măng


Nòi tre đâu chịu mọc cong

Chưa lên đã nhọn như chông lạ thường

Lưng trần phơi nắng phơi sương

Có manh áo cộc tre nhường cho con


Măng non là búp măng non

Đã mang dáng thẳng thân tròn của tre

Năm qua đi, tháng qua đi

Tre già măng mọc có gì lạ đâu


Mai sau.. mai sau.. mai sau..

Đất xanh.. tre mãi xanh màu.. tre xanh.



Nguyễn Duy

8L6VWuA.png


Đọc Tre Việt Nam của Nguyễn Duy, người đọc có cảm giác như đang đứng trước một biểu tượng quen thuộc mà thiêng liêng của dân tộc, vừa gần gũi đời thường, vừa bền bỉ và cao quý. Bài thơ không gây xúc động bằng những bi kịch hay nỗi buồn lớn, mà thấm dần bằng sự ấm áp, tin cậy và tự hào. Hình ảnh tre hiện lên giản dị, gầy guộc mà kiên cường, chịu nhiều nắng mưa nhưng chưa bao giờ cúi đầu khuất phục, khiến người đọc liên tưởng đến con người Việt Nam qua bao thế hệ. Càng đọc, càng thấy tre không chỉ là một loài cây, mà là dáng đứng của quê hương, là tinh thần đoàn kết, là sức sống bền bỉ truyền từ đời này sang đời khác. Bài thơ để lại trong lòng người đọc một niềm tin lặng lẽ nhưng vững vàng vào cội nguồn, vào sự tiếp nối không ngừng của dân tộc.

Giới thiệu:

Ngay từ sau năm 1975, bài thơ "Tre Việt Nam" đã trở thành sáng tác nổi tiếng và là một tác phẩm được lựa chọn nghiên cứu trong môn Lý luận văn học, khoa Ngữ văn các trường đại học. Đến nay, nhiều thập kỷ đi qua bài thơ đọc lên vẫn nguyên giá trị xưa và lay động lòng người Việt. Cây tre, bờ tre xanh đã trở thành một trong những biểu tượng cực kỳ đẹp đẽ về sức sống và phẩm cách con người Việt Nam chúng ta. Không kiêu hãnh cô độc như tùng bách, không thướt tha diễm kiều như liễu rủ, không thấp nhỏ , khiêm nhường như cỏ, loài tre mộc mạc, bình dị mà có sức sống mãnh liệt.

Nguyễn Duy với "Tre Việt Nam" đã gắn kết được trong trường liên tưởng tiếp cận và đồng dạng của người đọc hai hình ảnh xuyên thấm: Người Việt – Tre xanh. Hình tượng ẩn dụ lớn của toàn thi phẩm chính là ý nghĩa toát ra từ cặp hình ảnh xuyên thấm này. Một thứ văn hoá tre, tinh thần tre, khí phách tre... luôn luôn bền vững sống, trường tồn bất diệt thách thức thời gian, cỗi cằn, dông bão và chiến tranh huỷ diệt. Trong thi ca Việt, hiếm có bài thơ nào khắc hoạ được tính cách Việt Nam một cách sum tụ, mang tầm khái quát như bài thơ này. Hiệu quả thẩm mỹ cao, làm mê lòng nhiều người, được đem đến từ nguồn thi liệu ấn tượng bao gồm các hình ảnh đặc tả, gợi cảm, cách sử dụng ngôn ngữ, dân dã, lời ăn tiếng nói của người lao động, và đặc biệt thành công trong việc thể hiện những vần thơ lục bát theo chuẩn mực của thể thơ này.
 
Chỉnh sửa cuối:
1,579 ❤︎ Bài viết: 1462 Tìm chủ đề

Cảm nhận bài thơ Tre Việt Nam​


Đọc Tre Việt Nam của Nguyễn Duy, người đọc không chỉ bắt gặp hình ảnh một loài cây quen thuộc của làng quê, mà còn cảm nhận được cả một chiều sâu văn hóa, lịch sử và tâm hồn dân tộc lặng lẽ hiện ra qua từng câu thơ. Bài thơ gợi một cảm giác rất êm, rất bền, giống như khi đứng dưới lũy tre làng, nghe gió thổi, nghe thời gian chảy chậm lại. Tre trong thơ Nguyễn Duy không ồn ào, không phô trương, mà hiện lên bằng sự giản dị, mộc mạc, khiến người đọc tự nhiên thấy lòng mình lắng xuống và nảy sinh một niềm thương mến khó gọi thành tên.

55044292604_2b90c79650_o.png


Càng đọc, người ta càng nhận ra tre không chỉ là cây cối, mà là bóng dáng của con người Việt Nam qua bao thế hệ. Thân tre gầy guộc nhưng không yếu ớt, lá tre mong manh mà không hề mong manh trong ý chí, gợi nhớ đến những con người lam lũ, chịu nhiều nắng mưa nhưng luôn bền bỉ, nhẫn nại và kiên cường. Có một cảm giác tin cậy rất sâu khi đọc bài thơ, như thể dù cuộc đời có nhiều đổi thay, dù con người có trải qua bao gian khó, thì những giá trị cốt lõi ấy vẫn âm thầm tồn tại, không dễ gì mất đi.

Bài thơ còn gợi lên trong người đọc niềm xúc động về sự gắn bó, đùm bọc giữa con người với con người. Hình ảnh tre đứng cạnh tre, bão bùng thì "thân bọc lấy thân", khiến ta nghĩ đến tình làng nghĩa xóm, đến tinh thần đoàn kết đã giúp dân tộc đi qua chiến tranh, nghèo đói và thiên tai. Đọc đến những câu thơ ấy, người ta không khỏi thấy ấm lòng, bởi giữa một thế giới nhiều chia rẽ, hình ảnh tre quây quần nhắc nhở rằng sức mạnh lớn nhất không nằm ở cá nhân, mà ở sự gắn kết bền chặt.

Một dư vị rất đẹp của bài thơ là cảm giác tiếp nối, truyền đời. Tre già ngã xuống, măng non lại mọc lên, vòng tuần hoàn ấy khiến người đọc liên tưởng đến các thế hệ người Việt nối tiếp nhau gìn giữ đất nước, văn hóa và phẩm giá. Có gì đó vừa bình thản, vừa thiêng liêng trong cách Nguyễn Duy nói về sự kế thừa, không bi lụy, không bi tráng, mà rất tự nhiên, như lẽ sống vốn dĩ phải thế. Chính sự bình thản ấy lại khiến cảm xúc trở nên sâu hơn, lắng hơn.

Khép lại bài thơ, người đọc mang theo một niềm tin nhẹ nhàng nhưng bền vững. Tre vẫn xanh, đất vẫn xanh, và con người, nếu còn giữ được những phẩm chất như tre, thì vẫn có thể đứng vững trước mọi đổi thay của thời gian. Tre Việt Nam vì thế không chỉ là một bài thơ ca ngợi cây tre, mà còn là một lời nhắc dịu dàng về cội nguồn, về bản sắc, và về sức sống âm thầm nhưng mạnh mẽ của dân tộc Việt Nam.
 
1,579 ❤︎ Bài viết: 1462 Tìm chủ đề

Phân tích bài thơ Tre Việt Nam​


Ngay từ những dòng mở đầu, Nguyễn Duy đã đưa người đọc trở về với chiều sâu lịch sử và văn hóa của tre:

Tre xanh

Xanh tự bao giờ?

Chuyện ngày xưa đã có bờ tre xanh


Câu hỏi tu từ "xanh tự bao giờ?" không nhằm tìm câu trả lời cụ thể, mà gợi ra cảm giác tre đã tồn tại từ rất lâu, gắn bó bền chặt với làng quê và lịch sử dân tộc. Tre hiện diện như một chứng nhân của thời gian, của "chuyện ngày xưa".

Hình ảnh tre được khắc họa với vẻ ngoài mảnh mai nhưng sức mạnh nội tại lớn lao:

Thân gầy guộc, lá mong manh

Mà sao nên lũy nên thành tre ơi!


Sự đối lập giữa dáng vẻ yếu mềm và khả năng "nên lũy nên thành" làm nổi bật sức mạnh tinh thần của tre, cũng chính là phẩm chất của con người Việt Nam: Nhỏ bé nhưng không yếu đuối.

Sang những khổ thơ tiếp theo, tre hiện lên với sức sống bền bỉ trong mọi hoàn cảnh:

Ở đâu tre cũng xanh tươi

Cho dù đá sỏi đất vôi bạc màu


Tre không kén chọn đất đai, dù môi trường khắc nghiệt vẫn sinh trưởng, xanh tốt. Điều đó thể hiện tinh thần thích nghi, chịu đựng và vươn lên trong gian khó. Triết lý sống được gửi gắm qua câu thơ:

Có gì đâu, có gì đâu

Mỡ màu dẫu ít dồn lâu hóa nhiều


Đó là triết lý tích lũy, kiên nhẫn, bền bỉ, rất gần với lối sống cần cù của người lao động Việt Nam.

Phẩm chất cần cù được nhấn mạnh qua hình ảnh rễ tre:

Rễ siêng không quản đất nghèo

Tre bao nhiêu rễ bấy nhiêu cần cù


Rễ tre cắm sâu vào lòng đất, âm thầm nhưng vững chắc, tượng trưng cho nền tảng lao động và đạo lý bền chặt của con người Việt. Tre không chỉ chịu đựng mà còn biết nâng đỡ, yêu thương:

Vươn mình trong gió tre đu

Cây kham khổ vẫn hát ru lá cành


Dù kham khổ, tre vẫn "hát ru", gợi vẻ đẹp lạc quan, dịu dàng ngay trong gian khó.

Tinh thần đoàn kết được khắc họa rõ nét ở những câu thơ giàu tính biểu tượng:

Bão bùng thân bọc lấy thân

Tay ôm tay níu tre gần nhau hơn.


Tre không đứng riêng lẻ, mà quây quần thành lũy, thành làng. Trong hoạn nạn, tre che chở cho nhau, giống như con người Việt Nam gắn bó, đùm bọc để cùng vượt qua thử thách.

Sự tiếp nối truyền đời của dân tộc được thể hiện đầy xúc động qua hình ảnh tre già và măng non:

Chẳng may thân gãy cành rơi

Vẫn nguyên cái gốc truyền đời cho măng


Tre có thể ngã xuống, nhưng gốc còn đó, sự sống vẫn tiếp tục. Đó là biểu tượng của sự hy sinh và kế thừa, của các thế hệ đi trước dành trọn mình cho thế hệ sau.

Phẩm chất ngay thẳng, bất khuất của tre được khẳng định:

Nòi tre đâu chịu mọc cong

Chưa lên đã nhọn như chông lạ thường


Tre sinh ra đã thẳng, đã cứng cỏi, mang trong mình bản lĩnh không chịu khuất phục. Dù nghèo khó:

Lưng trần phơi nắng phơi sương

Có manh áo cộc tre nhường cho con


Tre vẫn sẵn sàng hy sinh, nhường phần mình cho thế hệ sau, gợi liên tưởng đến đức hy sinh của cha mẹ, của những con người đi trước.

Bài thơ khép lại bằng một khẳng định mang tính dự báo và niềm tin:

Mai sau.. Mai sau.. Mai sau..

Đất xanh.. Tre mãi xanh màu.. Tre xanh.


Điệp từ "mai sau" nhấn mạnh tính vĩnh cửu của tre, cũng là của tinh thần Việt Nam. Tre sẽ còn xanh, đất nước sẽ còn xanh, chừng nào những giá trị tốt đẹp ấy còn được gìn giữ và truyền tiếp.

55044291199_f4878634f3_o.jpg


Tre Việt Nam không chỉ là bài thơ tả cây tre, mà là một bản tuyên ngôn nhẹ nhàng về cốt cách dân tộc. Qua hình ảnh tre, Nguyễn Duy đã khắc họa thành công chân dung tinh thần của con người Việt Nam: Giản dị, bền bỉ, đoàn kết, ngay thẳng và giàu sức sống qua mọi thời đại.
 
Từ khóa: Sửa

Những người đang xem chủ đề này

Xu hướng nội dung

Back