2 ❤︎ Bài viết: 17 Tìm chủ đề
6241 780
VẤN ĐỀ 1: THỰC HIỆN CÔNG VIỆC KHÔNG CÓ ỦY QUYỀN

Câu 1.1. Thế nào là thực hiện công việc không có ủy quyền?

Căn cứ Điều 574 BLDS 2015 về "Thực hiện công việc không có ủy quyền" quy định: "Thực hiện công việc không có uỷ quyền là việc một người không có nghĩa vụ thực hiện công việc nhưng đã tự nguyện thực hiện công việc đó vì lợi ích của người có công việc được thực hiện khi người này không biết hoặc biết mà không phản đối".

Câu 1.2. Vì sao thực hiện công việc không có ủy quyền là căn cứ phát sinh nghĩa vụ?

Căn cứ phát sinh nghĩa vụ từ thực hiện công việc không có ủy quyền được quy định tại Khoản 3, Điều 275 BLDS 2015 và các quy định về thực hiện công việc không có ủy quyền quy định tại Điều 574 đến Điều 578 BLDS 2015.

Nói việc thực hiện công việc không được ủy quyền là căn cứ phát sinh nghĩa vụ dân sự vì về bản chất, khi một người không có nghĩa vụ phải thực hiện công việc của người khác mà họ tự nguyện thực hiện vì lợi ích của người có công việc được thực hiện khi người này không biết hoặc biết mà không phản đối thì quan hệ nghĩa vụ phát sinh giữa người có công việc và người thực hiện công việc. Việc quy định chế định này tạo nên sự ràng buộc pháp lý giữa người thực hiện công việc và người có công việc được thực hiện và nâng cao tinh thần trách nhiệm, đảm bảo quyền lợi của người thực hiện công việc cũng như đối với người có công việc được thực hiện. Cả hai bên đều có quyền và nghĩa vụ tương xứng với nhau.

Khái niệm phát sinh nghĩa vụ? -> là những sự kiện xảy ra trong thực tế, được pháp luật dân sự dự liệu: K3, Đ 275. Đ 574 có giá trị pháp lý và làm phát sinh


Ví dụ: Bà X và bà Y là hàng xóm của nhau. Do phải đi trông cháu nội, bà X vắng nhà 2 tuần và nhờ bà Y để ý nhà cửa hộ mình. Nhà bà X có một vườn cây ăn quả và một đàn gà. Trong thời gian bà X đi vắng, bà Y đã thu hoạch, bán số hoa quả chín và chăm sóc đàn gà thay bà X.

Từ đó, theo Điều 575 BLDS 2015 và Điều 576 BLDS 2015 phát sinh nghĩa vụ của bà X là thực hiện công việc phù hợp với khả năng, điều kiện của mình. Phải thực hiện công việc như công việc của chính mình; phải báo cho bà X về quá trình, kết quả thực hiện công việc nếu có yêu cầu và bà X phải trả một khoản thù lao khi bà Y thực hiện công việc chu đáo, có lợi cho bà X.


Câu 1.3. Cho biết điểm mới của BLDS 2015 so với BLDS 2005 về chế định "thực hiện công việc không có ủy quyền"

Về chủ thể:

- BLDS 2005 quy định: Chủ thể người có công việc được thực hiện chỉ có cá nhân

- BLDS 2015 quy định: Chủ thể người có công việc được thực hiện bao gồm cả cá nhân và pháp nhân (Mở rộng phạm vi chủ thể).

Mục đích thực hiện:

- BLDS 2005 quy định "hoàn toàn vì lợi ích của người có công việc được thực hiện" (Hoàn toàn vì lợi ích của người có công việc được thực hiện, không có mục đích khác).

Việc BLDS 2015 bỏ đi hai chữ "hoàn toàn" là vì việc thực hiện công việc không ngoại trừ khả năng người tiến hành công việc cũng có lợi từ việc thực hiện. Đồng thời, đây cũng là cơ sở để Tòa án linh hoạt hơn trong việc xét xử.

- BLDS 2015 quy định: "Thực hiện công việc đó vì lợi ích của người có công việc được thực hiện" (Vì lợi ích của người có công việc được thực hiện nhưng cũng có thể vì mục đích khác tuy nhiên không được làm trái với lợi ích của người có công việc được thực hiện và các chủ thể khác).


Câu 1.4. Các điều kiện để áp dụng chế định "thực hiện công việc không có ủy quyền" theo BLDS 2015? Phân tích từng điều kiện.

Căn cứ Điều 574 BLDS 2015 cần phải thỏa mãn 4 điều kiện mới được áp dụng quy định pháp luật về thực hiện công việc không có ủy quyền:

+
Người thực hiện là người không có nghĩa vụ thực hiện công việc đó: Người thực hiện công việc không có ủy quyền là người hoàn toàn không có nghĩa vụ phải thực hiện công việc đó nhưng đã thực hiện công việc đó. Nghĩa vụ ở đây là nghĩa vụ pháp lý do luật định hoặc do các bên thỏa thuận.

+
Người thực hiện công việc hoàn toàn tự nguyện khi thực hiện công việc: Việc thực hiện công việc đó không phải là nghĩa vụ bắt buộc của người thực hiện công việc, tức là họ muốn thì thực hiện, không muốn có thể không thực hiện, họ có thực hiện hay không thì cũng không phải chịu bất cứ chế tài nào. Pháp luật cũng không có bất cứ quy định nào buộc một người phải thực hiện một công việc cho người khác nếu như không có bất cứ thỏa thuận nào.

+
Thực hiện công việc vì lợi ích của người có công việc được thực hiện: Tại thời điểm bắt đầu thực hiện công việc, người thực hiện công việc phải thể hiện ý chí thực hiện công việc nhằm mang lại lợi ích, hoặc ngăn chặn thiệt hại cho người có công việc. Để xác định việc thực hiện công việc có hoàn toàn vì lợi ích của người có công việc hay không thì phải xem xét hoạt động thực hiện công việc đó có mang tính chất chuyên nghiệp hay không. Nếu hoạt động thực hiện công việc cho người khác là một hoạt động thường xuyên tại một địa điểm nhất định với mong muốn nhận tiền thù lao thì không được coi là thực hiện công việc hoàn toàn vì lợi ích của người có công việc. Nếu việc thực hiện công việc không được thực hiện thường xuyên, tức là việc thực hiện công việc xảy ra tức thì, thì có thể xác định việc thực hiện công việc hoàn toàn vì lợi ích của bên có công việc.

+
Người có công việc được thực hiện không biết hoặc biết mà không phản đối: Tại thời điểm công việc được thực hiện, người có công việc không biết người khác thực hiện công việc cho mình, hoặc có thể họ biết nhưng không phản đối việc thực hiện công việc đó. Bản chất của việc thực hiện công việc không có ủy quyền là sự giúp đỡ người khác vượt qua những khó khăn, tránh những thiệt hại không đáng có. Do đó, nếu người có công việc có mặt hoặc biết việc người khác thực hiện công việc cho mình thì họ sẽ không phản đối nếu việc thực hiện công việc đó có lợi cho mình và bản thân mình không thể thực hiện được công việc đó tại thời điểm phải thực hiện công việc.

- Biết mà không phản đối = đồng ý?

- Biết mà không phản đối được, biết mà chưa kịp phản đối

- Không có đầy đủ năng lực hành vi dân sự (Đ3)

- Thấy người gặp tai nạn, chở đi cấp cứu không phải là thực hiện cv k có ủy quyền vì vi phạm KHÔNG CÓ NGHĨA VỤ, ở đây có nghĩa vụ do luật định.

- MC X nhận tiền TỪ THIỆN đi giúp người dân -> ủy quyền or hợp đồng tặng cho


Câu 1.5. Trong tình huống trên, sau khi xây dựng xong công trình, nhà thầu C có thể yêu cầu chủ đầu tư A thực hiện những nghĩa vụ trên cơ sở các quy định của chế định "thực hiện công việc không có ủy quyền" trong BLDS 2015 không? Vì sao? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời.

Tình huống: Chủ đầu tư A lập Ban quản lý dự án B để tiến hành xây dựng một công trình công cộng. Khi triển khai, B đã ký hợp đồng với nhà thầu C mà không nêu rõ trong hợp đồng B đại diện A và cũng không có ủy quyền của A. Trong khi đó, theo quy định B không được tự ký hợp đồng với C vì đây là công việc của chủ đầu tư A (thực tế Ban quản lý dự án B không có nhiều tài sản để thanh toán cho C).

Sau khi thực hiện xong công trình thì nhà thầu C có thể yêu cầu chủ đầu tư A thực hiện những nghĩa vụ trên cơ sở các quy định của chế định "thực hiện công việc không có ủy quyền" trong BLDS 2015, cụ thể là nghĩa vụ thanh toán theo Điều 576.

Theo Điều 574 BLDS 2015 quy định: "Thực hiện công việc không có uỷ quyền là việc một người không có nghĩa vụ thực hiện công việc nhưng đã tự nguyện thực hiện công việc đó vì lợi ích của người có công việc được thực hiện khi người này không biết hoặc biết mà không phản đối". Như vậy, C có thuộc trường hợp "thực hiện công việc không có ủy quyền" hay không ta phải chứng minh. Cụ thể:

+ Chủ đầu tư A thành lập Ban quản lý B để tiến hành xây dựng công trình công cộng nhưng chưa từng ủy quyền cho B ký kết hợp đồng với C và cũng không nêu rõ trong hợp đồng B đại diện cho A. Do đó, A chưa từng yêu cầu C phải thi công công trình này nên hợp đồng xây dựng được ký kết giữa B và C sẽ không ràng buộc nghĩa vụ của C đối với A theo Khoản 1, Điều 142 BLDS 2015 mà chỉ làm phát sinh nghĩa vụ giữa B và C.

Theo xét xử, điều kiện "không có nghĩa vụ thực hiện công việc" dường như chỉ được xem xét trong quan hệ giữa người thực hiện công việc và người có công việc được thực hiện ; nếu công việc này được thực hiện theo yêu cầu của người thứ ba hay theo thỏa thuận với người thứ ba thì vẫn có thể vận dụng chế định "thực hiện công việc không có ủy quyền" - (Quyết định số 23/2003/HĐTP-DS ngày 29-7-2003 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao). Như vậy điều kiện "người không có nghĩa vụ thực hiện công việc" đã thỏa mãn. (QĐ số 23/2003 gây tranh cãi, theo suy nghĩ thì vi phạm tự nguyện vì C chỉ đang hoàn thành cv đã giao kết với B)

=> có cách nào bảo vệ quyền lợi của C không?

Chủ đầu tư A => ban quản lý B => ký hợp đồng => nhà thầu C

Không, rủi ro trong quan hệ pháp luật dân sự. B không nêu rõ là đại diện và không có ủy quyền của A (chế định "đại diện" : B không có quyền đại diện, B vượt quá phạm vi đại diện => đọc Đ143)

+ Mặt khác, với vai trò là một chủ đầu tư, A hoàn toàn có thể biết được về việc thi công xây dựng công trình của C. Việc C xây dựng xong công trình là minh chứng cho việc A "biết nhưng không phản đối" (Điều 574 BLDS 2015) vì nếu có bất kì sự can thiệp và phản đối nào từ A thì C sẽ phải chấm dứt công việc không có ủy quyền theo quy định tại Khoản 1, Điều 578 BLDS 2015.

+ Xét đến công việc mà C đang thực hiện thì đây là công việc thực hiện vì lợi ích của người có công việc, kể cả việc làm của C có đem lại lợi ích cho mình thì khi công việc hoàn thành lợi ích lớn nhất vẫn thuộc về A. Khi lợi ích phần lớn thuộc về người có công việc, thì dù người thực hiện có được hưởng lợi một phần, điều kiện "vì lợi ích của người có công việc" (Điều 574) vẫn được công nhận. Như vậy, nếu C hoàn thành xong công việc của mình theo đúng nghĩa vụ ghi nhận tại Điều 575 BLDS 2015 thì C hoàn toàn có quyền yêu cầu A thực hiện nghĩa vụ thanh toán theo quy định tại Điều 576 BLDS 2015. Các chi phí mà C đã bỏ ra để thực hiện công trình chắc chắn sẽ được hoàn trả nếu như C đã làm trong hết khả năng của mình, mặc cho có đúng như mong muốn của A hay không. Thậm chí, nếu như C thỏa mãn điều kiện "chu đáo" và "có lợi" cho A (khoản 2 Điều 576 BLDS 2015) thì A còn phải thanh toán tiền thù lao cho C

- Như vậy, khi nhà thầu C đã hoàn thành công việc thì có thể yêu cầu Chủ đầu tư A thực hiện những nghĩa vụ trên cơ sở các quy định của chế định "thực hiện công việc không có ủy quyền".
 
2 ❤︎ Bài viết: 17 Tìm chủ đề


VẤN ĐỀ 2: THỰC HIỆN NGHĨA VỤ (THANH TOÁN MỘT KHOẢN TIỀN)

- Tình huống: Ngày 15/11/1973, ông Quới cho bà Cô thuê nhà và nhận tiền thế chân của bà Cô 50.000đ. Nay, ông Quới yêu cầu bà Cô ra khỏi nhà. Bà Cô đồng ý trả nhà và yêu cầu ông Quới hoàn trả tiền thế chân.

(Lưu ý: Giá gạo trung bình vào năm 1973 là 137đ/kg và giá gạo trung bình hiện nay theo Sở Tài chính Tp. HCM là 15.000đ/kg).


- Tóm tắt Quyết định số 15/2018/DS-GĐT ngày 15/3/2018 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội V/v "Tranh chấp nghĩa vụ trả tiền trong hợp đồng chuyển nhượng nhà và quyền sử dụng đất" :

Cụ Bảng (nguyên đơn) và bà Hương (bị đơn) có thực hiện một giao dịch dân sự là cụ Bảng chuyển nhượng nhà và đất cho vợ chồng (vc) bà Hương, vc bà phải trả cho cụ 5 triệu đồng, tuy nhiên, bà Hương mới chỉ trả cho cụ Bảng 4 triệu đồng, còn nợ 1 triệu đồng tương đương 1/5 giá trị thửa đất chưa thanh toán. Sau nhiều lần yêu cầu nhưng không trả, cụ Bảng khởi kiện yêu cầu bà Hương trả số tiền còn thiếu, hoặc nếu không bà phải trả lại 1/5 diện tích đất chưa thanh toán. Tại phiên tòa giám đốc thẩm, tòa tuyên hủy bản án phúc thẩm và sơ thẩm, yêu cầu xét xử lại.

=> nghị quyết 02/2004/ND-HĐTP


Câu 2.1. Thông tư trên cho phép tính lại giá trị khoản tiền phải thanh toán như thế nào? Qua trung gian là tài sản gì?

Sự việc giữa ông Quới và bà Cô thực hiện ngày 15/11/1973 (trước ngày 1/7/1996) nên theo Thông tư 01/TTLT ngày 19/6/1997 của Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ tư pháp, Bộ tài chính hướng dẫn việc xét xử và thi hành án về tài sản và các quy định liên quan khác thì tính lại giá trị khoản tiền phải thanh toán như sau:

"Nếu việc gây thiệt hại hoặc phát sinh nghĩa vụ dân sự xảy ra trước ngày 1-7-1996 và trong thời gian từ thời điểm gây thiệt hại hoặc phát sinh nghĩa vụ đến thời điểm xét xử sơ thẩm mà giá gạo tăng từ 20% trở lên, thì Tòa án quy đổi các khoản tiền đó ra gạo theo giá gạo loại trung bình ở địa phương (từ đây trở đi gọi tắt là" giá gạo ") tại thời điểm gây thiệt hại hoặc phát sinh nghĩa vụ, rồi tính số lượng gạo đó thành tiền theo giá gạo tại thời điểm xét xử sơ thẩm để buộc bên có nghĩa vụ về tài sản phải thanh toán và chịu án phí theo số tiền đó".

Như vậy thông qua Thông tư trên việc tính lại giá trị khoản tiền mà ông Quới phải thanh toán cho bà Cô phải thông qua trung gian là tài sản: Gạo.



Câu 2.2. Đối với tình huống thứ nhất, thực tế ông Quới sẽ phải trả cho bà Cô khoản tiền cụ thể là bao nhiêu? Nêu rõ cơ sở pháp lý khi trả lời.


Đối với tình huống này, thực tế ông Quới sẽ phải trả cho bà Cô khoản tiền là 5.475.000đ

- Cơ sở pháp lý: Ông Quới cho bà Cô thuê nhà và đã nhận tiền thế chân của bà Cô là 50.000đ vào ngày 15/11/1973, giá gạo trung bình vào năm 1973 là 137đ/kg. Đến nay, bà Cô yêu cầu ông Quới hoàn trả tiền thế chân, giá gạo trung bình hiện nay theo Sở tài chính TP. CM đã là 15.000đ/kg. Ta thấy từ thời điểm phát sinh nghĩa vụ đến thời điểm hiện tại giá gạo đã tăng từ 20% trở lên. Do đó áp dụng Điểm a, Mục 1, Phần I, Thông tư 01/TTLT ngày 19/6/1997 của Tòa nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ tư pháp, Bộ tài chính hướng dẫn việc xét xử và thi hành án về tài sản thì tính lại giá trị khoản tiền phải thanh toán như sau:

"1. Đối với nghĩa vụ là các khoản tiền bồi thường, tiền hoàn trả, tiền công, tiền lương, tiền chia tài sản, tiền đền bù công sức, tiền cấp dưỡng, tiền vay không có lãi, tiền truy thu thuế, tiền truy thu do thu lợi bất chính thì giải quyết như sau:

Nếu việc gây thiệt hại hoặc phát sinh nghĩa vụ dân sự xảy ra trước ngày 1-7-1996 và trong thời gian từ thời điểm gây thiệt hại hoặc phát sinh nghĩa vụ đến thời điểm xét xử sơ thẩm mà giá gạo tăng từ 20% trở lên, thì Tòa án quy đổi các khoản tiền đó ra gạo theo giá gạo loại trung bình ở địa phương (từ đây trở đi gọi tắt là" giá gạo ") tại thời điểm gây thiệt hại hoặc phát sinh nghĩa vụ, rồi tính số lượng gạo đó thành tiền theo giá gạo tại thời điểm xét xử sơ thẩm để buộc bên có nghĩa vụ về tài sản phải thanh toán và chịu án phí theo số tiền đó."


Theo cách tính trên thì thực tế ông Quới sẽ phải trả cho bà cô số tiền:

+ Giá gạo trung bình năm 1973 là 137đ/kg nên số lượng gạo quy đổi từ 50.000đ là: 50.000đ: 137đ/kg = 365kg

+ Giá gạo tại thời điểm buộc bên có nghĩa vụ hoàn trả phải thanh toán là 15.000đ, vậy số tiền ông Quới phải hoàn trả cho bà Cô là: 365kg * 15.000đ/kg = 5.475.000đ


Câu 2.3. Thông tư trên có điều chỉnh việc thanh toán tiền trong hợp đồng chuyển nhượng bất động sản như trong Quyết định số 15/2018/DS-GĐT không? Vì sao?

Theo mục 1, phần I, thông tư 01/TTLT ngày 29/6/1997 "1. Đối với nghĩa vụ là các khoản tiền bồi thường, tiền hoàn trả, tiền công, tiền lương, tiền chia tài sản, tiền đền bù công sức, tiền cấp dưỡng, tiền vay không có lãi, tiền truy thu thuế, tiền truy thu do thu lợi bất chính thì giải quyết như sau:.", trong thông tư có điều khoản quy định về nghĩa vụ tài sản đối với các khoản vay có lãi (kể cả loại có kỳ hạn và loại không có kỳ hạn) ở ngoài tổ chức ngân hàng, tín dụng.

Theo quyết định trên, bà Hương còn nợ cụ Bảng khoản tiền 1.000.000 đồng còn thiếu trong hợp đồng chuyển nhượng bất động sản, ta có thể xem nó là một khoản nợ. Bên có nghĩa vụ là bà Hương phải thanh toán khoản nợ 1.000.000 đồng từ năm 1991 cho cụ Bảng. Ta nhận thấy ở đây bên có nghĩa vụ trì trệ việc thực hiện nghĩa vụ thanh toán tiền của mình (từ năm 1991 đến năm 2018) và cũng vì vậy mà có sự thay đổi về giá cả. Do đó, thông tư 01/TTLT hoàn toàn phù hợp để điều chỉnh việc thanh toán tiền trong hợp đồng chuyển nhượng bất động sản như trong Quyết định số 15/2018/DS - GĐT.

Câu 2.4. Đối với tình huống trong Quyết định số 15/2018/DS-GĐT, nếu giá trị nhà đất được xác định là 1.697.760.000đ như Tòa án cấp sơ thẩm đã làm thì theo Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội, khoản tiền bà Hương phải thanh toán cho cụ Bảng cụ thể là bao nhiêu? Vì sao?

Trong bản án, Tòa án nhân dân tối cao tại Hà Nội nhận định:
"Bà Hương phải thanh toán cho cụ Bảng số tiền còn nợ tương ứng với 1/5 giá trị nhà, đất theo quy định tại thời điểm xét xử sơ thẩm mới đúng với hướng dẫn tại điểm b2 tiểu mục 2.1, mục 2 phần II nghị quyết số 02/2004/NQ-HĐTP ngày 10/8/2004 của Hội đồng thẩm phán tòa án nhân dân tối cao..".

Áp dụng điểm b2, tiều mục 2.1, mục 2, phần II Nghị quyết số 02/2004/NQ- HĐTP ngày 10/08/2004 hội đồng thẩm phán tòa án nhân dân tối cao về giải quyết tranh chấp đất quy định cụ thể như sau:

"Nếu bên nhận chuyển nhượng đã trả đủ tiền chuyển nhượng đất; bên chuyển nhượng đã giao toàn bộ diện tích đất, thì Tòa án công nhận hợp đồng chuyển nhượng đất đó. Trong trường hợp bên nhận chuyển nhượng mới trả một phần tiền chuyển nhượng đất, bên chuyển nhượng mới giao một phần diện tích đất, thì có thể công nhận phần hợp đồng đó căn cứ vào diện tích đất đã nhận. Nếu công nhận phần hợp đồng trong trường hợp bên chuyển nhượng giao diện tích đất có giá trị lớn hơn số tiền mà họ đã nhận, thì Tòa án buộc bên nhận chuyển nhượng thanh toán cho bên chuyển nhượng phần chênh lệch giữa số tiền mà bên nhận chuyển nhượng đã trả so với diện tích đất thực tế mà họ đã nhận tại thời điểm giao kết hợp đồng theo giá trị quyền sử dụng đất tính theo giá thị trường tại thời điểm xét xử sơ thẩm. Đồng thời buộc các bên phải làm thủ tục chuyển quyền sử dụng đất đối với diện tích đất mà bên nhận chuyển nhượng đã nhận. Trong trường hợp bên nhận chuyển nhượng đã giao số tiền lớn hơn giá trị diện tích đất đã nhận mà Tòa án chỉ công nhận phần hợp đồng tương ứng với diện tích đất mà họ đã nhận thì bên chuyển nhượng phải thanh toán khoản tiền đã nhận vượt quá giá trị diện tích đất đã giao tính theo giá trị quyền sử dụng đất theo giá thị trường tại thời điểm xét xử sơ thẩm"

Vậy bà Hương phải thanh toán số tiền theo định giá thị trường tại thời điểm xét xử sơ thẩm là 1.696.760.000đ tương đương 1/5 giá trị nhà, đất.

Câu 2.5 Hướng như trên của Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội có tiền lệ chưa? Nêu một tiền lệ (nếu có) ?

Với hướng như trên, Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội đã có tiền lệ. Đó là: Quyết định Giám đốc thẩm số: 09/HĐTP-DS ngày 24/02/2005 về "Vụ án tranh chấp nhà đất và đòi nợ".

Cụ thể:

Tóm tắt bản án: - Nguyên đơn: Bà Phạm Thị Lai.

- Bị đơn: Ông Phạm Thanh Xuân.


Diễn biến vụ việc:

+ Năm 1994, bà Lai cho ông Xuân vay 11.500.000đ (giấy ghi nợ không ghi rõ ngày tháng năm nhưng hai bên đều thống nhất thời gian cho vay là năm 1994).

+ Ngày 12/02/1996, bà Lai cho ông Xuân vay tiếp 128.954.000đ.

+ Ngày 08/8/1996, hai bên thống nhất số tiền nợ (lẫn lãi) là 188.600.000đ, đồng thời thỏa thuận chuyển nhượng căn nhà số 19 Chu Văn An cho bà Lai với giá 188.600.000đ. Do vợ chồng ông Xuân không thanh toán nợ và không giao nhà mà vẫn quản lý ngôi nhà nên bà Lai vẫn tính lãi của số tiền 188.600.000đ.

+ Ngày 05/8/1997, vợ chồng ông Xuân và vợ chồng bà Lai tiếp tục chốt nợ gốc và lãi từ 188.600.000đ lên 250.000.000đ; hai bên lập hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất với giá 250.000.000đ.

+ Sau khi lập hợp đồng, bà Lai vẫn tính lãi số tiền 250.000.000đ trong thời gian 02 tháng thành 6.000.000đ để cộng dồn vào số tiền 44.000.000đ bà Lai đã cho ông Xuân vay vào ngày 6/11/1997 thành 50.000.000đ.


Nhận định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao:

+ Vụ tranh chấp phải giải quyết cả hai quan hệ vay nợ và quan hệ mua bán nhà đất.

+ Xác minh, thu thập các chứng cứ chứng minh rằng liệu thủ tục làm giấy tờ mua bán nhà, chuyển nhượng quyền sử dụng đất có theo quy trình pháp luật quy định hay không.

+ Trường hợp xác định được việc mua bán, chuyển nhượng nhà đất là hợp pháp và bên mua chưa trả đủ tiền thanh toán thì phần còn thiếu sẽ được tính thông qua giá trị của tài sản chuyển nhượng tại thị trường địa phương tại thời điểm xét xử. Đây chính là nội dung của tiền lệ cho hướng giải quyết của Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội trong Quyết định số 15/2018/DS-GĐT
 
2 ❤︎ Bài viết: 17 Tìm chủ đề
VẤN ĐỀ 3: CHUYỂN GIAO NGHĨA VỤ THEO THỎA THUẬN



- Tóm tắt: Bản án số 148/2007/DSST ngày 26/9/2007 về Tranh chấp hợp đồng vay tài sản của Tòa án nhân dân thị xã Châu Đốc, tỉnh An Giang:

Ngày 27/4/2004, Bà Phương có xác lập quan hệ vay tiền với bà Tú với. Bà Phượng cho biết chỉ làm trung gian để bà Ngọc, bà Loan cùng chồng là ông Thạnh vay tiền bà Tú và có kí hợp đồng cho vay lại bao gồm: Bà Ngọc vay 465.000.000đ và bà Loan, ông Thạnh vay 150.000.000đ. Các bên thống nhất số tiền vay là 615.000.000đ, lãi suất là 1, 8%/tháng, thời hạn vay là 12 tháng, phía bà Tú đã nhận được tiền lãi đầy đủ theo thỏa thụân. Đến tháng 4/2005 thì bà Tú giảm lãi suất xuống 1, 3%/tháng. Bà Tú tiếp tục nhận tiền lãi đến tháng 5/2005 thì bên vay không trả lãi như thỏa thụân.

Xét hợp đồng vay tiền giữa bà Phượng với bà Tú, bà Phượng đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán nợ vay, không trả vốn, lãi cho bà Tú lẽ ra bà Phương phải có trách nhiệm thực hiện. Tuy nhiên, phía bà Tú đã chấp nhận cho bà Phượng chuyển giao nghĩa vụ trả nợ cho bà Ngọc, bà Loan và ông Thạnh thể hiện qua việc bà Tú lập hợp đồng cho bà Ngọc vay số tiền 465.000.000đ và hợp đồng cho bà Loan, ông Thanh vay số tiền 150.000.000đ vào ngay 12/5/2005. Tòa xét rằng, kể từ thời điểm bà Tú xác lập hợp đồng vay với bà Ngọc, bà Loan và ông Thanh thì nghĩa vụ trả nợ vay của bà Phượng với bà Tú đã chấm dứt, làm phát sinh nghĩa vụ của bà Ngọc, bà Loan và ông Thạnh đối với bà Tú theo hợp đồng vay tiền đã ký. Việc bà Tú yêu cầu bà Phượng có trách nhiệm liên đới cùng bà Ngọc thanh toán nợ cho bà là không có căn cứ chấp nhận.




Câu 3.1. Thông tin nào của bản án cho thấy bà Phượng có nghĩa vụ thanh toán cho bà Tú?

Thông tin trong bản án cho thấy bà Phượng có nghĩa vụ thanh toán cho bà Tú là: "Theo các biên nhận tiền do phía bà Tú cung cấp thì chính bà Phượng là người trực tiếp nhận tiền của bà Tú vào năm 2003 với tổng số tiền 555.000.000đ và theo biên nhận ngày 27/04/2004 thì thể hiện bà Phượng nhận tiền của bà Lê Thị Nhan số tiền 615.000.000đ. Phía bà Phượng không cung cấp được chứng cứ xác định bà Ngọc thỏa thuận vay tiền với bà Tú. Ngoài ra cũng theo lời khai của bà Phượng thì vào tháng 4 năm 2004, do phía bà Loa, ông Thạnh và bà Ngọc không có tiền trả cho bà Tú để trả vốn vay ngân hàng nên bà đã cùng với bà Tú vay nóng bên ngoài để có tiền trả cho ngân hàng. Xác định bà Phượng là người xác lập quan hệ vay tiền với bà Tú".

Câu 3.2 . Đoạn nào của bản án cho thấy nghĩa vụ trả nợ của bà Phượng đã được chuyển sang cho bà Ngọc, bà Loan và ông Thạnh?

Đoạn của bản án cho thấy nghĩa vụ trả nợ của bà Phượng đã được chuyển sang cho bà Ngọc, bà Loan và ông Thạnh là: "Phía bà Tú đã chấp nhận cho bà Phượng chuyển giao nghĩa vụ trả nợ cho bà Ngọc, bà Loan và ông Thạnh thể hiện qua việc bà Tú đã lập hợp đồng cho bà Ngọc vay số tiền 465.000.000đ và hợp đồng cho bà Loan, ông Thạnh vay số tiền 150.000.000đ vào ngày 12/5/2005. Như vậy, kể từ thời điểm bà Tú xác lập hợp đồng vay với bà Ngọc, bà Loan và ông Thạnh thì nghĩa vụ trả nợ vay của bà Phượng với bà Tú đã chấm dứt, làm phát sinh nghĩa vụ của bà Ngọc, bà Loan và ông Thạnh đối với bà Tú theo hợp đồng vay tiền đã ký".




Câu 3.3. Suy nghĩ của anh/chị về đánh giá trên của Tòa án?

Đánh giá của Tòa án: Chấp nhận việc chuyển nghĩa vụ của Bà Phương (người có nghĩa vụ ban đầu) với bà Tú (người có quyền) sang cho Bà Ngọc (người thế nghĩa vụ) và không chấp nhận yêu cầu của bà Tú khi yêu cầu bà Phương trách nhiệm liên đới cùng bà Ngọc thanh toán nợ cho bà Tú tức là theo Tòa án thì bà Phương không có liên quan hay chịu trách nhiệm gì tới việc thực hiện nghĩa vụ trả nợ của bà Ngọc sau khi việc chuyển giao nghĩa vụ được xác lập.

Để việc chuyển giao nghĩa vụ có giá trị pháp lý thì:

(1) Tuy BLDS không quy định rõ nhưng việc chuyển giao nghĩa vụ cần có sự thống nhất ý chí của người có nghĩa vụ ban đầu và người thế nghĩa vụ đồng thời có sự đồng ý của người có quyền đối với việc chuyển giao nghĩa vụ.

Theo tình tiết vụ việc: Bà Phương có ký hợp đồng vay tiền với bà Tú và kí hợp đồng cho vay lại với bà Ngọc vì thực chất bà Phương là bên trung gian giới thiệu bà Ngọc vay tiền sau đó Bà Tú chấp nhận cho bà Phương chuyển giao nghĩa vụ trả nợ từ bà Phương sang cho bà Ngọc bằng việc lập hợp đồng cho bà Ngọc vay số tiền 16 465.000.000đ. Như vậy có căn cứ chỉ ra bà Tú đồng ý với việc chuyển giao nghĩa vụ từ bà Phương sang cho bà Ngọc, đồng thời cũng có sự thống nhất ý chí giữa bà Phương (người có nghĩa vụ ban đầu) với bà Ngọc (người thế nghĩa vụ).

(2) Đây là nghĩa vụ không thuộc vào trường hợp loại trừ nghĩa vụ không được chuyển giao.

Vậy việc chuyển giao nghĩa vụ đúng theo pháp luật căn cứ theo Điều 370 BLDS.

Do đó, nó sẽ mang lại hệ quả pháp lý như sau:

- Thứ nhất, nghĩa vụ trả nợ vay của bà Phượng và bà Tú chấm dứt, làm phát sinh nghĩa vụ của bà Ngọc theo hợp đồng vay tiền đã ký.

- Thứ hai, việc chuyển giao nghĩa vụ theo thỏa thuận sẽ giải phóng người có nghĩa vụ ban đầu, tức là bà Phương không có trách nhiệm liên đới cùng bà Ngọc trả vốn vay 465.000.000đ, tiền lãi và tiền thỏa thuận vay nóng bên ngoài để trả nợ ngân hàng.

Như vậy, đánh giá của Tòa án về vụ việc trên là đúng theo căn cứ luật định, hợp lý, đảm bảo được quyền và lợi ích hợp pháp của bà Tú.




Câu 3.4. Nhìn từ góc độ văn bản, người có nghĩa vụ ban đầu có còn trách nhiệm đối với người có quyền không khi người thế nghĩa vụ không thực hiện nghĩa vụ được chuyển giao? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời.


- Dưới góc độ văn bản, Bộ luật Dân sự (BLDS) 2015 có quy định về việc chuyển giao nghĩa vụ dân sự theo thỏa thuận tại Điều 370, Điều 371 BLDS 2015 nhưng những quy định này không cho biết rằng liệu người đã chuyển giao nghĩa vụ cho một người khác có còn trách nhiệm đối với người có quyền trong trường hợp người được chuyển giao nghĩa vụ không thực hiện được nghĩa vụ đó hay không. Tuy nhiên việc chuyển giao nghĩa vụ này phải được bên có quyền đồng ý, thì bên có quyền đã đồng ý cho bên có nghĩa vụ chuyển nghĩa vụ đó cho người thế nghĩa vụ rồi. Hơn nữa, Khoản 2 Điều này cũng nói rõ: Khi được chuyển giao nghĩa vụ thì người thế nghĩa vụ trở thành bên có nghĩa vụ. Như vậy, bên có nghĩa vụ đã chấm dứt nghĩa vụ, mà nghĩa vụ hiện tại là do bên thế nghĩa vụ thực hiện. Khi nghĩa vụ được chuyển giao, người có nghĩa vụ ban đầu không còn nghĩa vụ đối với người có quyền nữa mà nghĩa vụ đó được chuyển giao hoàn toàn cho người thế nghĩa vụ, nếu nghĩa vụ chỉ được chuyển giao một phần thì người có nghĩa vụ ban đầu vẫn còn nghĩa vụ đối với người có quyền.

- Thực tiễn xét xử tại Bản án 148/2007/DSST của TAND Thị xã Châu Đốc, tỉnh An Giang liên quan đến khoản vay của bà Phượng với bà Tú: Tòa án đã theo hướng cho rằng nghĩa vụ trả nợ của bà Phượng đối với bà Tú đã chấm dứt khi bà Tú chấp nhận cho bà Phượng chuyển giao nghĩa vụ trả nợ đó cho bà Ngọc, bà Loan, ông Thạnh thông qua hợp đồng vay mới mà bà Tú đã lập với những người này. Như vậy có nghĩa là Tòa án đã theo hướng bà Phượng không còn nghĩa vụ trả nợ đối với bà Tú nữa trong trường hợp bà Ngọc, bà Loan, ông Thạnh không trả được nợ thì bà Phượng không có trách nhiệm trả nợ cho bà Tú.


Câu 3.5. Nhìn từ góc độ quan điểm các tác giả, người có nghĩa vụ ban đầu có còn trách nhiệm đối với người có quyền không khi người thế nghĩa vụ không thực hiện nghĩa vụ được chuyển giao? Nêu rõ quan điểm của các tác giả mà anh/chị biết.

- Nhìn từ góc độ quan điểm của tác giả, người có nghĩa vụ ban đầu không còn trách nhiệm đối với bên có quyền khi hai bên không có thỏa thuận gì thêm về việc thực hiện nghĩa vụ của người có trách nhiệm ban đầu.

- Quan điểm của tác giả: Bà Tú và bà Phượng xác lập quan hệ vay tiền, có thỏa thuận lãi suất. Bà Tú nhận tiền lãi đến tháng 5/2005 thì bên vay không trả tiền lãi như đã thỏa thuận. Tuy nhiên, phía bà Tú đã chấp nhận cho bà Phượng chuyển giao nghĩa vụ trả nợ cho bà Ngọc, bà Loan và ông Thạnh thể hiện qua việc bà Tú đã lập hợp đồng cho bà Ngọc vay số tiền 465.000.000đ và hợp đồng cho bà Loan ông Thạnh vay số tiền 150.000.000đ. Tòa xét rằng, kể từ thời điểm bà Tú xác lập hợp đồng vay với bà Ngọc, bà Loan và ông Thạnh thì nghĩa vụ trả nợ vay của bà Phượng với bà Tú chấm dứt, làm phát sinh nghĩa vụ của bên thế nghĩa vụ theo hợp đồng vay tiền đã ký. Vì vậy, việc bà Tú yêu cầu bà Phượng có trách nhiệm thanh toán nợ cho mình là không có căn cứ pháp luật.


- Theo quan điểm của tác giả Chế Mỹ Phương Đài trong giáo trình Pháp luật về hợp đồng và bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng có nêu rõ: "Người có nghĩa vụ dân sự không chịu trách nhiệm về việc thực hiện nghĩa vụ của người thay thế nghĩa vụ, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác" , trong phân tích quan điểm của tác giả nêu rõ thêm: " Người có nghĩa vụ chấm dứt toàn bộ nghĩa vụ và mối quan hệ nghĩa vụ với bên có quyền, sau khi việc chuyển giao có hiệu lực, người có quyền chỉ được phép yêu cầu người thế nghĩa vụ thực hiện nghĩa vụ nên người đã chuyển giao nghĩa vụ không phải thực hiện trách nhiệm về việc thực hiện nghĩa vụ của bên thế nghĩa vụ".

- Theo tác giả Đỗ Văn Đại: "Chuyển giao nghĩa vụ là một chế định độc lập với chế định đã thực hiện nghĩa vụ thông qua người thứ ba, cần xác định rõ chuyển giao nghĩa vụ giải phóng người có nghĩa vụ ban đầu, trừ khi các bên có nghĩa vụ khác".




Câu 3.6. Nhìn từ góc độ quan điểm của các tác giả, người có nghĩa vụ ban đầu có còn trách nhiệm đối với người có quyền không khi người thế nghĩa vụ không thực hiện nghĩa vụ được chuyển giao? Nêu rõ quan điểm của các tác giả mà anh/chị biết.

Đoạn của bản án cho thấy Tòa án theo hướng người có nghĩa vụ ban đầu không còn trách nhiệm đối với người có quyền:

"Như vậy kể từ thời điểm bà Tú xác lập hợp đồng vay với bà Ngọc, bà Loan và ông Thạnh thì nghĩa vụ trả nợ vay của bà Phượng với bà Tú đã chấm dứt, làm phát sinh nghĩa vụ của bà Ngọc, bà Loan và ông Thạnh đối với bà Tú theo hợp đồng vay tiền đã ký. Việc bà Tú yêu cầu bà Phượng có trách nhiệm thanh toán nợ cho bà là không có căn cứ chấp nhận".

"Việc bà Tú giữ giấy chứng minh Hải quan của bà Phượng theo thỏa thuận. Phía bà Phượng không có nghĩa vụ trả nợ cho bà Tú, buộc bà Tú hoàn trả lại bà Phượng giấy chứng minh Hải quan".




Câu 3.7. Kinh nghiệm của pháp luật nước ngoài đối với quan hệ giữa người có nghĩa vụ ban đầu và người có quyền.


Điều kiện cần thiết để chuyển giao nghĩa vụ theo thỏa thuận có giá trị pháp lý, cũng như để bảo đảm quyền lợi của bên có quyền đó chính là là sự đồng ý của bên có quyền. Không chỉ pháp luật nước ta mà pháp luật nước ngoài cũng xây dựng chế định tương tự để quy định về vấn đề này.

Ví dụ:

- Điều 9.2. 3 Bộ nguyên tắc Unidroit về hợp đồng thương mại quốc tế (PICC) quy định: "Việc chuyển giao nghĩa vụ theo thỏa thuận giữa người có nghĩa vụ ban đầu và người có nghĩa vụ mới phải có sự đồng ý của người có quyền".

- Khoản 1, Điều 12: 101 Bộ nguyên tắc luật hợp đồng châu Âu (PECL) : "Với sự đồng ý của người có quyền và người có nghĩa vụ, người thứ ba có thể cam kết thay thế người có nghĩa vụ".

Thực tế cho thấy, quy định trong các hệ thống luật tương đối khác nhau. Ở châu Âu, một số nước quy định người có nghĩa vụ ban đầu được giải phóng hoàn toàn nhưng một số nước lại quy định ngược lại theo hướng người thứ ba là người có nghĩa vụ bổ sung.

Dựa theo mục 2 về Chuyển giao nghĩa vụ của BỘ NGUYÊN TẮC UNIDROIT VỀ HỢP ĐỒNG THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ 2004:

- Điều 9.2. 5 (Giải phóng nghĩa vụ cho người có nghĩa vụ ban đầu) :

(1) Người có quyền có thể giải phóng nghĩa vụ cho người có nghĩa vụ ban đầu.

(2) Người có quyền cũng có thể quyết định là người có nghĩa vụ ban đầu vẫn là người có nghĩa vụ trong trường hợp người có nghĩa vụ mới không thực hiện đúng nghĩa vụ của mình.

(3) Trong mọi trường hợp khác, người có nghĩa vụ ban đầu và người có nghĩa vụ mới phải liên đới chịu trách nhiệm.

- Điều 9.2. 8 (Các quyền liên quan đến nghĩa vụ được chuyển giao) :

Nếu người có nghĩa vụ ban đầu được giải phóng nghĩa vụ theo quy định tại khoản 1 Điều 9.2. 5 thì bất kỳ người nào khác không phải là người có nghĩa vụ mới đã bảo đảm việc thực hiện nghĩa vụ cũng được giải phóng nghĩa vụ, trừ khi người đó chấp nhận duy trì bảo đảm đó vì lợi ích của người có quyền.

Việc giải phóng nghĩa vụ của người có nghĩa vụ ban đầu cũng làm chấm dứt mọi biện pháp bảo đảm mà người có nghĩa vụ ban đầu đã cung cấp cho người có quyền, trừ khi biện pháp bảo đảm đó liên quan đến một tài sản được chuyển giao trong một giao dịch được thực hiện giữa người có nghĩa vụ ban đầu và người có nghĩa vụ mới.


Câu 3.8. Suy nghĩ của anh/ chị về hướng giải quyết trên của Tòa án.

Theo em, hướng giải quyết trên của Tòa án là hợp lý.

Việc Tòa xác định đã có hành vi pháp lý là chuyển giao nghĩa vụ theo thỏa thuận là có căn cứ. Nghĩa vụ trả nợ của bà Phượng (bên có nghĩa vụ) đã được chuyển sang cho bà Ngọc, bà Loan và ông Thạnh (bên thế nghĩa vụ) và có sự chấp thuận của bà Tú (bên có quyền). Cụ thể là "Phía bà Tú đã chấp nhận cho bà Phượng chuyển giao nghĩa vụ trả nợ cho bà Ngọc, bà Loan và ông Thạnh thể hiện qua việc bà Tú đã lập hợp đồng cho bà Ngọc vay số tiền 465.000.000đ và hợp đồng cho bà Loan, ông Thạnh vay số tiền 150.000.000đ vào ngày 12/5/2005". Như vậy, theo Khoản 2, Điều 370 BLDS 2015: "Khi được chuyển giao nghĩa vụ thì người thế nghĩa vụ trở thành bên có nghĩa vụ" . Nếu cho rằng người có nghĩa vụ ban đầu vẫn có trách nhiệm đối với người có quyền thì chúng ta sẽ không thấy sự khác nhau giữa chuyển giao nghĩa vụ theo quy định tại Điều 370, Điều 371 và Điều 283 BLDS 2015 về thực hiện nghĩa vụ dân sự thông qua người thứ ba quy định: "Khi được bên có quyền đồng ý, bên có nghĩa vụ có thể ủy quyền cho người thứ ba thay mình thực hiện nghĩa vụ nhưng vẫn phải chịu trách nhiệm với bên có quyền, nếu người thứ ba không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ".

Thêm nữa, Tòa án đã đưa ra "câu trả lời" cho câu hỏi khi có chuyển giao nghĩa vụ theo thỏa thuận, bà Phượng có được giải phóng hay không. Tòa án cho rằng "Như vậy, kể từ thời điểm bà Tú xác lập hợp đồng vay với bà Ngọc, và Loan và ông Thạnh thì nghĩa vụ trả nợ vay của bà Phượng đối với bà Tú đã chấm dứt, làm phát sinh nghĩa vụ của bà Ngọc, bà Loan và ông Thạnh đối với bà Tú theo hợp đồng vay tiền đã ký. Việc bà Tú yêu cầu bà Phượng có trách nhiệm thanh toán nợ cho bà là không có căn cứ chấp nhận" và "Việc bà Tú giữ giấy chứng minh Hải quan của bà Phượng theo thỏa thuận. Phía bà Phượng không có nghĩa vụ trả nợ cho bà Tú, buộc bà Tú hoàn trả lại bà Phượng giấy chứng minh Hải quan". "Câu trả lời" cho thấy bà Phượng không còn bị ràng buộc bởi các nghĩa vụ đã được chuyển giao, tức là bà Phượng không phải chịu trách nhiệm về thực hiện nghĩa vụ trả nợ của bà Ngọc, bà Loan và ông Thạnh. Điều này không chỉ có ý nghĩa bảo vệ quyền lợi cho bà Phượng, mà còn thể hiện cách giải quyết hợp lý của Tòa án khi phân định "chuyển giao nghĩa vụ là một chế định độc lập với chế định thực hiện nghĩa vụ thông qua người thứ ba" trong tình thế pháp luật nước nhà chưa quy định rõ ràng về vấn đề này.

Vậy để chuyển giao nghĩa vụ là một chế định độc lập với chế định thực hiện nghĩa vụ thông qua người thứ ba cần xác định rõ chuyển giao nghĩa vụ giải phóng người có nghĩa vụ ban đầu, trừ khi có thỏa thuận khác. Ở đây, người có nghĩa vụ ban đầu là bà Phượng không còn nghĩa vụ khi chuyển giao nghĩa vụ có giá trị pháp lý.


Câu 3.9: Trong trường hợp nghĩa vụ của bà Phượng đối với bà Tú có biện pháp bảo lãnh của người thứ ba thì, khi nghĩa vụ được chuyển giao, biện pháp bảo lãnh có chấm dứt không? Nêu rõ cơ sở pháp lý khi trả lời.

Cơ sở pháp lý: Điều 335; Điểm a, Khoản 1, Điều 343; Điều 371 Bộ Luật Dân Sự 2015.

Trường hợp nghĩa vụ của bà Phượng đối với bà Tú có biện pháp bảo lãnh của người thứ ba thì khi nghĩa vụ được chuyển giao, biện pháp bảo lãnh sẽ chấm dứt. Bởi lẽ, "bảo lãnh là việc người thứ ba (sau đây gọi là bên bảo lãnh) cam kết với bên có quyền (sau đây gọi là bên nhận bảo lãnh) sẽ thực hiện nghĩa vụ thay cho bên có nghĩa vụ (sau đây gọi là bên được bảo lãnh)" theo khoản 1 Điều 335 Bộ Luật Dân Sự 2015. Khi chuyển giao nghĩa vụ, người phải chịu trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ thay đổi, thì nghĩa vụ của bên nhận bảo lãnh (người có nghĩa vụ ban đầu) chấm dứt. Bên cạnh đó, xét điểm a khoản 1 Điều 343, bảo lãnh chấm dứt khi "nghĩa vụ được bảo lãnh chấm dứt", mà bảo lãnh chính là một trong những biện pháp bảo đảm nên "nghĩa vụ dân sự có biện pháp bảo đảm được chuyển giao thì biện pháp bảo đảm đó chấm dứt" theo Điều 371 BLDS 2015.

Như vậy, nếu bà Phượng chuyển giao nghĩa vụ trả nợ có bảo lãnh của người thứ ba của mình qua bà Ngọc, bà Loan và ông Thạnh thì biện pháp bảo lãnh đó sẽ đương nhiên chấm dứt ngoại trừ trường hợp có thỏa thuận của bà Tú yêu cầu giữ lại biện pháp bảo lãnh đó.
 
2 ❤︎ Bài viết: 17 Tìm chủ đề
VẤN ĐỀ 01: CHẤP NHẬN ĐỀ NGHỊ GIAO KẾT HỢP ĐỒNG

- Tình huống:

Chủ thể: A (pháp nhân), B (cá nhân), C (cá nhân) và D.

Tranh chấp: Về sự tồn tại của Hợp đồng

Lý do tranh chấp: C không thừa nhận đã nhận được chấp nhận đề nghị giao kết của D.

Hướng giải quyết của TA :(1) bên đề nghị chưa nhận được chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng theo quy định của Điều 400 BLDS 2015; (2) chấp nhận chưa được thực hiện trong thời hạn hợp lý theo quy định của Điều 394 BLDS 2015 và (3) chấp nhận trên của D là đề nghị giao kết mới.




Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết của Tòa án đối với 3 vấn đề trên


Vấn đề 1: Tòa án cho rằng bên đề nghị chưa nhận được chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng theo quy định tại Điều 400 BLDS 2015.

- Cơ sở pháp lý: Theo quy định tại Khoản 1, Điều 400, BLDS 2015: "Hợp đồng được giao kết vào thời điểm bên đề nghị nhận được chấp nhận giao kết".

- Vì vậy đồng thuận với quyết định của tòa án, do D không chứng minh được đã gửi chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng cho C, đồng thời C không thừa nhận đã nhận được chấp nhận đề nghị giao kết của D. Hơn nữa trong hợp đồng giữa A, B, C cũng không nhắc đến thỏa thuận im lặng là sự trả lời chấp nhận giao kết hợp đồng. Vì vậy nên việc xác định bên đề nghị ở đây là C chưa nhận được chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng từ phía D là hoàn toàn hợp lý.


Vấn đề 2: Tòa án cho rằng chấp nhận chưa được thực hiện trong thời hạn hợp lý theo quy định của Điều 394 BLDS 2015.

- Cơ sở pháp lý: Khoản 1, Điều 394 BLDS 2015.

- Theo Khoản 1, Điều 394 BLDS 2015, khoảng thời gian hợp lý do các bên thỏa thuận hoặc cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quyết định. Quy định này nhằm dự phòng trong trường hợp bên đề nghị (A, B và C) không ấn định thời hạn trả lời chấp nhận. Vì trong thời hạn đợi bên được đề nghị (D) trả lời, bên đề nghị không được giao kết hợp đồng với bên thứ ba. Nếu bên đề nghị không ấn định thời hạn trả lời, mà pháp luật không quy định gì thêm thì thời hạn trả lời sẽ tồn tại mãi mãi, như vậy sẽ ảnh hưởng đến việc giao kết hợp đồng của bên đề nghị với bên thứ ba. Không có quy định nào ghi nhận "thời hạn hợp lý" là như thế nào? Vì không phải hợp đồng nào cũng như nhau, tùy thuộc vào từng hợp đồng cụ thể mà thời hạn có sự khác biệt. Ví dụ: Thời hạn của đề nghị mua bán sản phẩm là trái cây đương nhiên sẽ ngắn so với đề nghị mua bán thiết bị điện từ, vì trái cây là mặt hàng dễ hư hỏng nếu để lâu. Do đó, trong ví dụ này có thể hiểu thời hạn hợp lý là thời hạn mà các bên thỏa thuận hoặc do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quyết định.

Như vậy, trong tình huống trên tòa án có thẩm quyền đã quyết định: "Chấp nhận chưa được thực hiện trong thời gian hợp lý theo quy định của điều 394 BLDS 2015".


Vấn đề 3: Tòa án cho rằng chấp nhận trên của D là đề nghị giao kết mới.

Cơ sở pháp lý: Theo quy định của Khoảng 1 Điều 394 BLDS 2015

- Khi bên đề nghị có ấn định thời hạn trả lời thì việc trả lời chấp nhận chỉ có hiệu lực khi được thực hiện trong thời hạn đó; nếu bên đề nghị giao kết hợp đồng nhận được trả lời khi đã hết thời hạn trả lời thì chấp nhận này được coi là đề nghị mới của bên chậm trả lời thì nếu bên đề nghị giao kết hợp đồng nhận được trả lời khi đã hết thời hạn trả lời thì chấp nhận này được coi là đề nghị mới của bên chậm trả lời. Tuy nhiên vì hợp đồng giao kết này không có quy định cụ thể về thời hạn D trả lời chấp nhận giao kết hợp đồng, nên không thể nào xem rằng chấp nhận của D là một đề nghị giao kết mới.

Vậy hướng giải quyết của Tòa án đối với 3 vấn đề trên dựa theo các Điều 394, 400 BLDS 2015 là hợp lý.
 
2 ❤︎ Bài viết: 17 Tìm chủ đề
VẤN ĐỀ 02: SỰ ƯNG THUẬN TRONG QUÁ TRÌNH GIAO KẾT HỢP ĐỒNG


- Tóm tắt Án lệ số 04/2016/AL ngày 06/4/2016 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao:

+ Chủ thể: Nguyên đơn là bà Kiều Thị Tý, ông Chu Văn Tiến với bị đơn là ông Lê Văn Ngự. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Lê Thị Quý, bà Trần Thị Phấn, anh Lê Văn Tám, chị Lê Thị Tường, anh Lê Đức Lợi, chị Lê Thị Đường, anh Lê Mạnh Hải, chị Lê Thị Nhâm.

+ Tranh chấp về vấn đề: Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất tại thành phố Hà Nội.

+ Lý do tranh chấp: Hai bên đã thỏa thuận, gia đình ông bán cho vợ chồng bà Tý phần nhà, đất có vị trí giáp đường. Hai bên thống nhất trừ 21m2 mặt đường do Nhà nước đã cắm mốc chỉ giới mở đường, nên chỉ bán nhà cấp 4 trên phần diện tích đất là 140m2. Bị đơn không chấp nhận yêu cầu của bà Tý.

+ Tòa án giải quyết? Lý do?

Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao nhận định có cơ sở xác định các đương sự tranh chấp về quyền sở hữu tài sản và tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng nhà, đất, nhưng Tòa án cấp sơ thẩm và phúc thẩm chỉ xác định quan hệ pháp luật cần giải quyết là vụ án tranh chấp quyền sở hữu nhà, đất là chưa đầy đủ. Tuy nhiên, trong thực tế Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm đã xem xét giải quyết về hai quan hệ tranh chấp này. Do vậy, Kháng nghị số 63/QĐ-KNGĐT-V5 ngày 14-5-2009 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao cho rằng, Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm xác định sai quan hệ pháp luật có tranh chấp và cần phải hủy cả hai bản án nêu trên để xét xử lại theo thủ tục sơ thẩm là chưa chính xác và không cần thiết.

Do vậy, Tòa án các cấp xác định, diện tích 23, 4m2 giáp đường Xuân La - Xuân Đỉnh nằm trong diện tích đất mà ông Ngự đã thỏa thuận chuyển nhượng cho vợ chồng bà Tý, đồng thời xác định vợ chồng bà Tý đã thanh toán đủ 110 cây vàng theo hợp đồng và đã nhận nhà đất, từ đó, buộc gia đình ông Ngự phải trả lại toàn bộ diện tích nhà, đất 23, 4m2 tại số 39 đường Xuân La, phường Xuân La, quận Tây Hồ, thành phố Hà Nội cho vợ chồng bà Kiều Thị Tý và ông Chu Văn Tiến là có căn cứ.


- Tóm tắt tình huống:

+ Chủ thể gồm: Bà Chu, ông Bùi và ông Văn.

+ Tranh chấp cái gì: Chuyển nhượng quyền sử dụng đất.

+ Lý do tranh chấp: Các con bà Chu và ông Bùi yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch chuyển nhượng vô hiệu vì chưa có sự




2.1. Điểm mới của BLDS 2015 so với BLDS 2005 về vai trò của im lặng trong giao kết hợp đồng?

Theo khoản 2, Điều 404 của BLDS 2005: Hợp đồng dân sự cũng được xem như giao kết khi hết thời hạn trả lời mà bên nhận được đề nghị vẫn im lặng, nếu có thỏa thuận im lặng là sự trả lời chấp nhận giao kết.

Theo khoản 2, Điều 393 của BLDS 2015: Sự im lặng của bên được đề nghị không được coi là chấp nhận giao kết hợp đồng, trừ trường hợp có thỏa thuận hoặc theo thói quen đã được xác lập giữa các bên.

- Điểm thay đổi thứ I:

Trong BLDS 2005 vai trò của sự im lặng trong giao kết hợp đồng chỉ được ghi nhận tại Điều 404 về thời điểm giao kết hợp đồng, đến BLDS 2015 điều này đã được ghi nhận ngay từ khi chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng tại Điều 393. Như vậy, BLDS 2015 đã khắc phục nhược điểm của BLDS 2005, nâng cao vai trò của sự im lặng trong giao kết hợp đồng.

- Điểm thay đổi thứ II:

Theo Điều 393 BLDS 2015 có quy định rõ ràng không công nhận im lặng là chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng, khi mà BLDS 2005 không nhắc đến dẫn đến sự mập mờ không rõ ràng trong khi áp dụng điều luật.

- Điểm thay đổi thứ III:

Khi im lặng được coi là đồng ý thì BLDS 2005 chưa xác định được thời điểm giao kết hợp đồng, khắc phục nhược điểm này Khoản 2 Điều 400 BLDS 2015 đã thêm quy định về thời điểm giao kết hợp đồng: "Trường hợp các bên có thỏa thuận im lặng là sự trả lời chấp nhận giao kết hợp đồng trong một thời hạn thì thời điểm giao kết hợp đồng là thời điểm cuối cùng của thời hạn đó". Tuy nhiên, quy định này mới chỉ xác định được thời điểm giao kết im lặng khi giao kết hợp đồng trong trường hợp các bên có thỏa thuận mà chưa có quy định đối với trường hợp theo thói quen.

Thực tế, trong thời gian qua, nhiều tranh chấp phát sinh từ việc im lặng trong khi nhận được đề nghị giao kết hợp đồng, BLDS 2015 quy định cụ thể vấn đề này nhằm hạn chế những trường hợp phát sinh tranh chấp không đáng có từ việc im lặng này. Hơn nữa, việc điều chỉnh này giúp mở rộng phạm vi, đối tượng điều chỉnh, phù hợp với thói quen, tập quán giao kết hợp đồng, mua bán hàng.


2.2. Việc Tòa án áp dụng Án lệ số 04/2016/AL để công nhận hợp đồng chuyển nhượng trong tình huống trên có thuyết phục không? Vì sao?

Việc Tòa án áp dụng Án lệ số 04/2016/AL để công nhận hợp đồng chuyển nhượng trong tình huống của bà Chu và ông Bùi với ông Văn là thuyết phục.

Mặc dù Án lệ số 04/2016/AL liên quan đến tài sản chung của vợ chồng, còn tình huống trên liên quan đến việc định đoạt tài sản là tài sản sở hữu chung của các thành viên gia đình, nhưng Tòa án vẫn áp dụng vì:

Thứ nhất, tài sản của cả hai vụ việc đều thuộc sở hữu chung hợp nhất được quy định tại Điều 210 BLDS 2015.

Thứ hai, cả hai vụ việc đều có tình tiết là: Các chủ sở hữu chung còn lại đều biết việc chuyển nhượng nhà đất nhưng không ai có ý kiến gì. Nhưng sau này vì một lý do nào đó, các sở hữu chung này lại yêu cầu tuyên bố giao dịch vô hiệu.

Ở đây Tòa án theo hướng giải quyết: Trường hợp nhà đất là tài sản chung mà có người đứng tên ký hợp đồng chuyển nhượng nhà đất đó cho người khác, những người còn lại không ký tên trong hợp đồng nhưng có đủ căn cứ xác định bên chuyển nhượng đã nhận đủ số tiền theo thỏa thuận, người không ký tên trong hợp đồng biết và cùng sử dụng tiền chuyển nhượng nhà đất; bên nhận chuyển nhượng nhà đất đã 5 nhận và quản lý, sử dụng nhà đất đó công khai; người không ký tên trong hợp đồng biết mà không có ý kiến phản đối gì thì phải xác định là người đó đồng ý với việc chuyển nhượng nhà đất.
 
2 ❤︎ Bài viết: 17 Tìm chủ đề
VẤN ĐỀ 03: ĐỐI TƯỢNG CỦA HỢP ĐỒNG KHÔNG THỂ THỰC HIỆN ĐƯỢC.


- Tình huống:

Chủ thể gồm: Ông A và Ngân hàng.

Tranh chấp về việc thế chấp quyền sử dụng đất.

Lý do tranh chấp: Trên mảnh đất thế chấp có căn nhà thuộc sở hữu của người khác (không thuộc tài sản thế chấp).

Hướng giải quyết của Tòa án: Tòa án cấp sơ thẩm tuyên bố hợp đồng thế chấp vô hiệu do đối tượng không thể thực hiện được.

3.1. Những thay đổi và suy nghĩ của anh/chị về những thay đổi giữa BLDS 2015 và BLDS 2005 về chủ đề đang được nghiên cứu.

*Những thay đổi giữa BLDS 2015 và BLDS 2005 về chủ thể đối tượng của hợp đồng không thể thực hiện được.


  • Điều 408 BLDS 2015

- Trường hợp ngay từ khi giao kết, hợp đồng có đối tượng không thể thực hiện được thì hợp đồng này bị vô hiệu

- Quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này cũng được áp dụng đối với trường hợp hợp đồng có một hoặc nhiều phần đối tượng không thể thực hiện được nhưng phần còn lại của hợp đồng vẫn có hiệu lực.


  • Điều 411 BLDS 2005

- Trong trường hợp ngay từ khi ký kết, hợp đồng có đối tượng không thể thực hiện được vì lý do khách quan thì hợp đồng này bị vô hiệu.

- Quy định tại khoản 2 Điều này cũng được áp dụng đối với trường hợp hợp đồng có một hoặc nhiều phần đối tượng không thể thực hiện được, nhưng phần còn lại của hợp đồng vẫn có giá trị pháp lý.


Thứ nhất: Khoản 1, Điều 408 BLDS 2015 đã bỏ cụm từ "vì lí do khách quan" trong khoản 1 Điều 411 BLDS 2005. Khoản 1 Điều 411 BLDS 2005 quy định trường hợp hợp đồng vô hiệu do không thể thực hiện được nhưng chỉ khoanh vùng ở trường hợp "vì lí do khách quan". Trong khi đó, thực tiễn vận dụng điều luật này cả cho trường hợp không thể thực hiện vì lí do "chủ quan" như trường hợp các bên không thỏa thuận về các mặt tiếp giáp của mảnh đất được chuyển nhượng (đối với hợp đồng chuyển nhượng đất) hay đời máy cụ thể (đối với hợp đồng mua bán máy móc, thiết bị) nên hợp đồng không thể thực hiện được. Thực ra, việc khoanh vùng như hiện nay không thuyết phục vì nếu áp dụng đúng luật thì không thể thực hiện được vì lí do chủ quan không làm cho hợp đồng vô hiệu, nhưng nếu hợp đồng không vô hiệu thì hợp đồng cũng không thể thực hiện được và trong trường hợp này vẫn không có câu trả lời thuyết phục. Do đó, BLDS 2015 bỏ đi cụm từ "vì lí do khách quan" là hoàn toàn thuyết phục.

Thứ hai Khoản 1, Điều 408 BLDS 2015 thay từ ký kết kết trong Khoản 1 Điều 411 BLDS 2005 bằng giao kết. Việc BLDS 2005 sử dụng thuật ngữ ký kết khiến cho phạm vi áp dụng của điều luật này bị thu hẹp bởi lẽ ký kết chỉ phù hợp với hợp đồng được xác lập bằng hình thức văn bản. Để có tính bao quát hơn, BLDS 2015 đã dùng từ giao kết, và việc thay đổi này là hoàn toàn chính xác, khắc phục được khuyết điểm của BLDS 2005.

Thứ ba: Khoản 3, Điều 408 BLDS 2015 đã thay cụm từ "giá trị pháp lý" trong Khoản 3 Điều 411 BLDS 2005 bằng "hiệu lực". Hợp đồng vô hiệu thì chắc chắn là hợp đồng không có hiệu lực pháp lý. Nhưng ngược lại: Hợp đồng không có hiệu lực pháp lý chưa chắc đã phải là hợp đồng vô hiệu mà có thể là hợp đồng chưa được ký kết, đã ký kết nhưng bị đình chỉ hiệu lực, hoặc đã hết hiệu lực. Như vậy, dùng cụm từ "hiệu lực" sẽ tạo sự khái quát, bao quát hơn so với việc dùm cụm từ "giá trị pháp lý" vì "giá trị pháp lý" chỉ mang ý nghĩa luật định, còn "hiệu lực" còn có ý nghĩa trong việc thực thi.

3.2. Thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố vô hiệu hợp đồng do đối tượng không thể thực hiện được được xác định như thế nào? Vì sao?

Theo quy định tại Điều 408 BLDS 2015: "Trường hợp ngay từ khi giao kết, hợp đồng có đối tượng không thể thực hiện được thì hợp đồng này bị vô hiệu". Nguyên nhân dẫn đến hợp đồng vô hiệu do có đối tượng không thể thực hiện sẽ quyết định đến thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng vô hiệu. Hợp đồng dân sự là một bộ phận của giao dịch dân sự, quy định về thời hiệu yêu cầu tòa án tuyên bố vô hiệu hợp đồng được quy định tại phần giao dịch dân sự.

- Trường hợp không áp dụng thời hạn yêu cầu tòa án tuyên bố hợp đồng vô hiệu:

+ Các bên xác lập giao dịch dân sự một cách giả tạo nhằm che giấu một giao dịch dân sự khác, hoặc trốn tránh nghĩa vụ mà đối tượng giao kết hợp đồng không có thực hoặc không thể thực hiện;

+ Việc dẫn đến đối tượng hợp đồng không thể thực hiện là tự nhiên, các yếu tố nằm ngoài sự kiểm soát của các bên tham gia hợp đồng..

- Trường hợp thời hiệu yêu cầu tòa án tuyên bố hợp đồng vô hiệu là 02 năm:

+ Hợp đồng do người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự xác lập và không có khả năng thực hiện hợp đồng đã giao kết;

+ Giao dịch dân sự được xác lập có sự nhầm lẫn làm cho một bên hoặc các bên không đạt được mục đích của việc xác lập giao dịch hoặc không thể thực hiện hợp đồng;

+ Giao dịch dân sự vô hiệu từng phần khi một phần nội dung của giao dịch dân sự vô hiệu nhưng không ảnh hưởng đến hiệu lực của phần giao kết còn lại của giao dịch.

- Trường hợp áp dụng thời hạn tuyên bố hợp đồng vô hiệu do có đối tượng không thể thực hiện được, thì thời hạn được tính từ thời điểm:

+ Người đại diện của người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự biết hoặc phải biết người được đại diện tự mình xác lập, thực hiện giao dịch;

+ Người bị nhầm lẫn, bị lừa dối biết hoặc phải biết giao dịch được xác lập do bị nhầm lẫn, do bị lừa dối.

3.3: Tòa án tuyên bố hợp đồng thế chấp trên vô hiệu do đối tượng không thể thực hiện được có thuyết phục không? Vì sao?

Tòa án tuyên bố hợp đồng thế chấp trên vô hiệu do đối tượng không thể thực hiện được là có thuyết phục.

Vì căn cứ vào khoản 2 Điều 408 BLDS 2015:

Trường hợp giao kết hợp đồng mà một bên biết hoặc phải biết về việc hợp đồng có đối tượng không thể thực hiện được nhưng không thông báo cho bên kia biết nên bên kia đã giao kết hợp đồng thì phải bồi thường thiệt hại cho bên kia, trừ trường hợp bên kia biết hoặc phải biết về việc giao kết hợp đồng có đối tượng không thể thục hiện được.

Ở tình huống trên, ông A có phải biết trên đất thuộc quyền sử dụng đất của mình có căn nhà thuộc sở hữu của người khác nhưng ông vẫn thế chấp quyền sử dụng đất của mình cho Ngân hàng mà căn nhà trên đất không thuộc tài sản thế chấp nhưng vẫn không thông báo cho Ngân hàng nên Tòa án tuyên bố hợp đòng vô hiệu là thuyết phục.
 
2 ❤︎ Bài viết: 17 Tìm chủ đề
VẤN ĐỀ 04: XÁC LẬP HỢP ĐỒNG CÓ GIẢ TẠO VÀ NHẰM TẨU TÁN TÀI SẢN.


- Tóm tắt bản án:

Chủ thể: - Nguyên đơn: Bà Trần Thị Diệp Thúy (1980)

- Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Thanh Trang (1983).

Tranh chấp về vấn đề: Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất.

Lý do tranh chấp: Nguyên đơn và bị đơn có thiết lập hợp đồng quyền sử dụng đất (23-11-2013), nội dung giấy thỏa thuận chuyển nhượng quyền sử dụng đất có giá chuyển nhượng là 200.000.000 đồng. Đây là giao dịch giả tạo để che giấu cho việc nguyên đơn cho bị đơn vay số tiền là 100.000.000 đồng. Nguyên đơn đã yêu cầu bị đơn trả lại số tiền là 100.000.000 đồng, bị đơn đã hứa là sẽ thanh toán hết số tiền cho nguyên đơn trong vòng 6 tháng nhưng đến hạn trả nợ bị đơn chỉ trả nguyên đơn số tiền 5.000.000 đồng. Vì vậy, nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn phải có nghĩa vụ hoàn trả cho nguyên đơn số tiền là 95.000.000 đồng (nguyên đơn không yêu cầu tính lãi suất).

Quyết định của tòa án: Tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất xác lập giữa nguyên đơn Bà Thúy và bị đơn Bà Trang là vô hiệu. Bà Trang phải trả lại cho bà Thúy số tiền đã nhận là 95.000.000 đồng.

- Tóm tắt Quyết định số 259/2014/DS-GĐT ngày 16/6/2014 của Tòa án dân sự, Tòa án nhân dân tối cao:

Chủ thể: Bà Đặng Thị Kim Anh

Bà Võ Thị Thu

Vc ông Vượng, bà Nga

Tranh chấp về vấn đề: Giả tạo trong giao kết hợp đồng.

Lý do tranh chấp: Vợ chồng bà Anh, ông Học còn nợ bà Thu 3, 1 tỷ đồng đồng thời cam kết chuyển nhượng nhà đất để trả nợ nhưng vợ chồng bà Anh không thực hiện cam kết. Thỏa thuận chuyển nhượng giữa vợ chồng bà Anh với vợ chồng ông Vượng không phù hợp với thực tế vì giá trị thực tế nhà đất là gần 5, 6 tỷ đồng và thực tết các bên cũng chưa hoàn tất thủ tục chuyển nhượng.

Quyết định của Tòa án: Tòa án cấp sơ thẩm xác định giao dịch chuyển nhượng nhà đất giữa vợ chồng bà Anh và vợ chồng ông Vượng là giả tạo nhắm trốn tránh việc thực hiện nghĩa vụ với bà Thu, buộc vợ chồng bà Anh trả nợ cả gốc lẫn lãi cho bà Thu, đồng thời tuyên giao dịch giữa vợ chồng bà Anh với vợ chồng ông Vương là vô hiệu và phong tỏa nhà đất của vợ chồng bà Anh để thực hiện nghĩa vụ đối với bà Thu.

Đối với vụ việc thứ nhất:

4.1. 1. Thế nào là giả tạo trong xác lập giao dịch?

Theo Điều 124 BLDS 2015:

"1. Khi các bên xác lập giao dịch dân sự một cách giả tạo nhằm che giấu một giao dịch dân sự khác thì giao dịch dân sự giả tạo vô hiệu, còn giao dịch dân sự bị che giấu vẫn có hiệu lực, trừ trường hợp giao dịch đó cũng vô hiệu theo quy định của Bộ luật này hoặc luật khác có liên quan.

2. Trường hợp xác lập giao dịch dân sự giả tạo nhằm trốn tránh nghĩa vụ với người thứ ba thì giao dịch dân sự đó vô hiệu."

"Giao dịch giả tạo là giao dịch mà trong đó việc thể hiện ý chí ra bên ngoài khác với ý chí nội tâm và kết quả thực hiện của các bên tham gia giao dịch." Theo nhóm, giả tạo trong xác lập giao dịch được hiểu là khi xác lập giao dịch thì ý chí được biểu đạt ra ngoài khác với ý chí đích thực nhằm để che giấu một hợp đồng khác.

Theo Hoàng Thế Liêm (Cb), Bình luận khoa học Bộ luật dân sự năm 2005, Nxb. Chính trị quốc gia; Hà Nội, năm 2013, tr. 321.


4.1. 2. Đoạn nào của Quyết định cho thấy các bên có giả tạo trong giao kết hợp đồng? Các bên xác lập giao dịch có giả tạo với mục đích gì?

Trong phần xét thấy của Bản án số 06/2017/DS-ST: "Nguyên đơn và bị đơn thống nhất ngày 23/11/2013 giữa nguyên đơn và bị đơn có thiết lập hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Nội dung giấy thỏa thuận chuyển nhượng quyền sử dụng đất số AP 154638, số vào sổ H53166 do UBND thị xã (nay là thành phố) Thủ Dầu Một cấp ngày 30/07/2009, tọa lạc tại phường Chánh Nghĩa, thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương, giả chuyển nhượng 200.000.000 đồng. Hai bên đều thừa nhận đây là giao dịch giả tạo để che giấu cho việc nguyên đơn cho bị đơn vay số tiền 100.000.000 đồng."

4.1. 3. Hướng giải quyết của Tòa án đối với hợp đồng giả tạo và hợp đồng bị che giấu.

Trích trong phần xét thấy: "Đối chiếu với quy định trên trường hợp giữa nguyên đơn với bà Trang thì hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được xác lập ngày 23/11/2013 giữa nguyên đơn và bà Trang là vô hiệu do giả tạo và giao dịch vay tài sản số tiền 100.000.000 đồng có hiệu lực" và cả hai bên đều có lỗi ngang nhau trong việc làm cho hợp đồng vô hiệu. Do vậy, Theo Điều 131 BLDS 2015, các bên hoàn trả cho nhau những gì đã nhận và không phải bồi thường.

4.1. 4. Suy nghĩ của anh/chị về hướng xử lý của Tòa án về hợp đồng giả tạo và hợp đồng bị che giấu.

Theo nhóm căn cứ theo Điều 124 và Điều 131 BLDS 2015 thì hướng giải quyết của Tòa là hợp lý.

Vì:

- Đối với hợp đồng giả tạo, Tòa án đã xác minh được hợp đồng chuyển nhượng nguyên đơn và bà Trang là giả tạo để che giấu việc nguyên đơn cho Bà Trang vay số tiền 100.000.000 đồng, chính hai bên cũng đều thừa nhận điều này. Mà Điều 124 BLDS 2015 quy định giao dịch dân sự giả tạo nhằm che giấu một giao dịch nào khác thì giao dịch giả tạo sẽ vô hiệu. Như vậy, Tòa án đã tuyên bố giao dịch chuyển nhượng đất này vô hiệu là hợp lý.

- Giao dịch cho vay tiền giữa nguyên đơn và bị đơn là hợp lệ và tại bản tự khai và quá trình tố tụng tại Tòa án bà Trang xác nhận mình đã vay tiền của nguyên đơn, tức bà Thủy, số tiền 100.000.000 đồng. Để đảm bảo quyền lợi cho các bên, Tòa tuyên hợp đồng giả tạo vô hiệu và hợp đồng bị che giấu có hiệu lực. Và các bên hoàn trả cho nhau những gì đã nhận và không phải bồi thường.

- Khi tòa án tuyên bố giao dịch giả tạo vô hiệu, Tòa án đã đưa ra phán quyết lỗi của các bên ngang nhau, vì vậy họ sẽ trả cho nhau những gì đã nhận và không phải 10 bồi thường. Vậy tòa án kết luận là hợp lý phù hợp với quy định của Điều 131 BLDS 2015.

* Đối với vụ việc thứ 2:


4.2. 1. Vì sao Tòa án xác định giao dịch giữa vợ chồng bà Anh với vợ chồng ông Vượng là giả tạo nhằm trốn tránh thực hiện nghĩa vụ với bà Thu?

Tòa án xác định giao dịch giữa vợ chồng bà Anh với vợ chồng ông Vượng là giả tạo nhằm trốn tránh thực hiện nghĩa vụ với bà Thu (nghĩa vụ trả nợ) vì:

"Quá trình giải quyết vụ án thì vợ chồng bà Anh thừa nhận còn nợ của bà Thu 3, 1 tỷ đồng, đồng thời vợ chồng bà Anh cam kết chuyển nhượng nhà đất (đang có tranh chấp) để trả nợ cho bà Thu, nhưng vợ chồng bà Anh không thực hiện cam kết với bà Thu mà làm thủ tục chuyển nhượng nhà đất trên cho anh là vợ chồng ông Vượng. Thỏa thuận chuyển nhượng giữa vợ chồng bà Anh với vợ chồng ông Vượng không phù hợp với thực tế vì giá thực tế nhà đất là gần 5, 6 tỷ đồng, nhưng hai bên thỏa thuận chuyển nhượng chỉ với giá 680 triệu đồng và thực tế các bên cũng chưa hoàn tất thủ tục chuyển nhượng".

4.2. 2. Suy nghĩ của anh/chị về hướng xác định trên của Tòa án (giả tạo để trốn tránh nghĩa vụ).

Tòa án xác định giao dịch giữa vợ chồng ông Anh với vợ chồng ông Vượng là giả tạo nhằm trốn tránh thực hiện nghĩa vụ với bà Thu là hợp lý. Vì:

Có thể hiểu giao dịch giả tạo phải có 2 loại giao dịch, đó là giao dịch giả tạo và giao dịch thật sự. Nhưng giả tạo còn có thể chỉ có một giao dịch đó là giao dịch giả tạo nhằm che giấu mục đích nào đó của các chủ thể xác lập giao dịch. (1) Bộ luật dân sự 2015, cũng công nhận giả tạo do một giao dịch che giấu nhằm trốn tránh nghĩa vụ. (2)

(1) Đỗ Văn Đại, Luật hợp đồng Việt Nam-Bản án và Bình luận án, Nxb: Hồng Đức - Hội Luật gia Việt Nam (tái bản lần thứ bảy), bản án số 86-88 và 89-92

(2) khoản 2 Điều 124 Bộ luật Dân sự 2015 trang 191

Ở Quyết định số 259/2014/DS-GĐT là thuộc trường hợp giả tạo để trốn tránh nghĩa vụ theo đúng khoản 2 điều 124 BLDS 2015. Thỏa thuận chuyển nhượng đất giữa vợ chồng bà Anh với vợ chồng ông Vượng không phù hợp với thực tế vì giá đất thực tế là 5, 6 tỷ đồng nhưng hai bên chỉ thỏa thuận chuyển nhượng với giá 680 triệu đồng và trên thực tế cũng chưa hoàn tất thủ tục chuyển nhượng. Vợ chồng bà Anh có nghĩa vụ phải trả nợ cho bà Thu thông qua thỏa thuận cấn đất nhưng sau đó, vợ chồng bà Anh không thực hiện cam kết mà lại thỏa thuận chuyển nhượng đất cho vợ chồng ông Vượng. Trên thực tế, giao dịch giữa vợ chồng bà Anh và ông Vượng là giả tạo nhằm trốn tránh việc thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho bà Thu.


4.2. 3. Cho biết hệ quả của việc Tòa án xác định hợp đồng trên là giao dịch nhằm trốn tránh nghĩa vụ.

Hệ quả của việc Tòa án xác định hợp đồng trên là giao dịch nhằm trốn tránh nghĩa vụ: "Buộc vợ chồng bà Anh trả nợ cả gốc lẫn lãi cho bà Thu, đồng thời tuyên giao dịch của vợ chồng bà Anh và vợ chồng ông Vượng là vô hiệu và phong tỏa nhà đất của vợ chồng bà Anh để đảm bảo nghĩa vụ của vợ chồng bà Anh đối với bà Thu."
 
2 ❤︎ Bài viết: 17 Tìm chủ đề
VẤN ĐỀ 1: HỢP ĐỒNG VI PHẠM QUY ĐỊNH VỀ HÌNH THỨC


- Tóm tắt Quyết định số 171/2020/DS-GĐT ngày 24/7/2020 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Tp. Hồ Chí Minh:

Nguyên đơn: Ông Phan Quý và bà Lê Thị Bích Thủy.

Bị đơn: Ông Lê Văn Dư, ông Lê Sĩ Thắng, ông Khâu Văn Sĩ.

Tranh chấp về: Hợp đồng chuyển nhượng sử dụng đất.

Lý do tranh chấp: Hợp đồng chuyển nhượng sử dụng đất của ông Quý và bà Thủy cho ông Sĩ, ông Dư, ông Thắng là bằng giấy viết tay và chưa được công chứng nhưng ông Sĩ, ông Thắng tự ý chuyển nhượng đất cho ông Dư; ông Dư xây dựng nhà trái phép bị xử phạt hành chính.

Hướng giải quyết của Tòa án:

+ Tòa án cấp sơ thẩm: Chỉ công nhận một phần diện tích là không phù hợp với thực tế chuyển nhượng và sử dụng đất giữa các bên tranh chấp.

+ Tòa án cấp phúc thẩm: Cho rằng đây là tranh chấp quyền sử dụng đất vì việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất nêu trên không phát sinh hiệu lực pháp luật nên buộc ông Dư phải trả lại toàn bộ diện tích đất, là có sai lầm nghiêm trọng trong việc đánh giá chứng cứ và áp dụng pháp luật, ảnh hưởng quyền lợi của các bên đương sự. Đồng thời, tách việc giải quyết hậu quả pháp lý của các hợp đồng chuyển nhượng đất giữa ông Dư với ông Thắng, ông Sĩ để giải quyết bằng vụ án khác, là không có căn cứ, ảnh hưởng đến quyền lợi của ông Dư, ông Sĩ và ông Thắng.

- Tóm tắt Quyết định số 93/2018/DS-GĐT ngày 29/11/2018 về "V/v Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất" của Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng:

Nguyên đơn: Võ Sĩ Mến, Phùng Thị Nhiễm; Bị đơn: Đoàn Cưu, Trần Thị Lắm tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Nội dung là Ông Cưu, bà Lắm chuyển nhượng chuyển nhượng cho ông Mến, bà Nhiễm đất thổ cư 90.000.000 đồng. Sau đó lấy thêm một khu nữa với giá 30.000.000 đồng. Ông Mến, bà Nhiễm giao tiền 110.000.000 đồng. Trong hợp đồng không có công chứng, chứng thực nên nên vi phạm về hình thức. Tuy nhiên do quá 2 năm, bị đơn không yêu cầu tuyên bố hợp đồng vô hiệu, do đó hợp đồng vẫn có hiệu lực. Tại tòa giám đốc thẩm, Tòa án Nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng quyết định: Chấp nhận Quyết định kháng nghị giám đốc thẩm số 68/2018/KN-DS, hủy toàn bộ bản án dân sự phúc thẩm số 24/2018/DS-PT, giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ngãi xét xử lại thủ tục phúc thẩm.

1.1. Đoạn nào trong Quyết định số 171 cho thấy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được xác lập trước ngày BLDS năm 2015 có hiệu lực và chưa được công chứng, chứng thực?

Đoạn trong Quyết định số 171 cho thấy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được xác lập trước ngày BLDS năm 2015 có hiệu lực và chưa được công chứng, chứng thực là: "Ngày 03/02/2002, ký chuyển nhượng cho ông Khâu Văn Sĩ 500m2 đất với giá 500.000.000 đồng; ngày 18/4/2009, ký chuyển nhượng cho ông Lê Sĩ Thắng 87m2 đất với giá 435.000.000 đồng; ngày 18/4/2009, ký chuyển nhượng cho ông Lê Văn Dư 87m2 đất với giá 435.000.000 đồng.

Sau khi chuyển nhượng, ông Quý và bà Thủy thông báo cho ông Sĩ, ông Dư, ông Thắng là giao dịch chuyển nhượng bằng giấy viết tay nên bên nhận chuyển nhượng chỉ được phép xây dựng công trình sau khi ký hợp đồng công chứng, đăng bộ và chuyển mục đích sử dụng đất".

1.2. Đoạn nào trong Quyết định số 171 cho thấy Tòa án đã áp dụng Điều 129 BLDS 2015 cho hợp đồng chuyển nhượng dù hợp đồng được xác lập trước ngày BLDS năm 2015 có hiệu lực?

Đoạn trong Quyết định số 171 cho thấy Tòa án đã áp dụng Điều 129 BLDS 2015 cho hợp đồng chuyển nhượng dù hợp đồng được xác lập trước ngày BLDS năm 2015 có hiệu lực là: "Tại Bản án dân sự phúc thẩm số 621/2020/DS-PT ngày 01/7/2020, Tòa án Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh quyết định:

Sửa bản án sơ thẩm.

- Không công nhận việc chuyển quvền sử dụng đất giữa ông Phan Quý, bà Lê Thị Bích Thủy với các ông Khâu Văn Sĩ, Lê Văn Dư, Lê Sĩ Thắng; giữa ông Lê Văn Dư với các ông Khâu Văn Sĩ, Lê Sĩ Thắng là có hiệu lực và không công nhận quyền sử dụng của ông Lê Văn Dư, bà Trần Thị Hiệp đối với 674m² đất, thửa 504, tờ bản đồ số 40, Phường 15, quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh..

- Công nhận 674m² đất nêu trên thuộc quyền sử dụng của ông Phan Quý, Bà Lê Thị Bích Thủy; buộc các ông/bà, trẻ: Lê Văn Dư, Trần Thị Mỹ Hiệp, Khâu Văn Sĩ, Hồ Thị Đồng, Lê Sĩ Thắng, Tạ Thị Thọ, Lê Trần Minh Hằng, Lê Trần Ngọc Huyền, Lê Quốc Thái, Lê Quốc Thịnh và Lê Thu Thảo phải trả lại cho ông Quý, bà Thủy phần đất này."


1.3. Việc Tòa án áp dụng Điều 129 BLDS 2015 trong trường hợp như trên có thuyết phục không? Vì sao?

Tòa án áp dụng Điều 129 BLDS 2015 cho hợp đồng nhượng quyền bất động sản như trên là thuyết phục. Vì:

Hợp đồng chuyển nhượng quyền sở hữu đất chưa được công chứng, chứng thực: Bên nhượng quyền đã giao tài sản, bên nhận quyền sở hữu đã nhận tài sản, đã xây dựng công trình kiên cố từ trước khi có văn bản này nên Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng quy định tại Khoản 2, Điều 129 BLDS 2015.

Theo đó, các hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được ký kết vào năm 2002 và năm 2009 đều vi phạm pháp luật, cụ thể: Người sử dụng đất chưa có quyền sử dụng đất hợp pháp do hợp đồng chưa được công chứng, chứng thực.


1.4. Đoạn nào trong Quyết định số 93 cho thấy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 10/8/2009 chưa được công chứng, chứng thực?

Đoạn trong Quyết định số 93 cho thấy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 10/8/2009 chưa được công chứng, chứng thực: "Về hình thức của hợp đồng: Đối với các giao dịch dân sự được xác lập trước ngày 01-01-2017, thời hiệu được áp dụng theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015 (điểm d khoản 1 Điều 688 BLDS 2015). Giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 10-8-2009 giữa vợ chồng ông Cưu, bà Lắm với vợ chồng ông Mến, bà Nhiễm không được công chứng, chứng thực là vi phạm về hình thức".

1.5. Theo BLDS 2015, hệ quả pháp lý của việc hết thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng vô hiệu về hình thức.

Theo khoản 3 Điều 132 BLDS 2015 thì khi hết tời hiệu quy định tại khoản 1 Điều này mà không có yêu cầu tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu thì giao dịch dân sự có hiệu lực. Cho nên hệ quả pháp lí của việc hết thời hạn yêu cầu của Toàn án tuyên bố hợp đồng vô hiệu về hình thức là hợp đồng sẽ có hiệu lực.

1.6. Đoạn nào trong Quyết định số 93 cho thấy Tòa án đã áp dụng quy định về thời hiệu tại Điều 132 BLDS 2015 để công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 10/8/2009 dù chưa được công chứng, chứng thực.

Đoạn mà Tòa áp dụng quy định về thời hiệu tại Điều 132 BLDS 2015 để công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất là: "[5] Về hình thức của hợp đồng.. Tuy nhiên từ khi xác lập hợp đồng đến ngày nguyên đơn khởi kiện 18/4/2017, đã quá thời hạn hai năm, bị đơn không yêu cầu tuyên bố hợp đồng vô hiệu theo quy định tại khoản 1 Điều 132 Bộ luật dân sự 2015. Do đó, hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất trên có hiệu lực theo khoản 2 Điều 132 Bộ luật dân sự 2015."


1.7. Trong Quyết định số 93, việc Tòa công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 10/08/2009 dù chưa được công chứng, chứng thực thuyết phục không? Vì sao?

Quyết định của Tòa khi công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất dù chưa được công chứng, chứng thực là thuyết phục. Vì:

- Căn cứ khoản 1 Điều 132 Bộ luật dân sự 2015 thì thời hiệu để Tòa tuyên giao dịch dân sự vô hiệu là 2 năm, nhưng trong vụ việc thì ông Cưa, bà Lắm trong suốt 2 năm đó không yêu cầu Tòa tuyên giao dịch vô hiệu. Mà mãi đến khi ông Mến, bà Nhiễm khởi kiện ông Cưa, bà Lắm vì 2 ông bà không thực hiện nghĩa vụ sang tên quyền sử dụng đất cho họ thì ông Cưa, bà Lắm mới phản tố yêu cầu Tòa hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giũa 2 bên. Hơn nữa, giao dịch dân sự vô hiệu và hủy hợp đồng là hoàn toàn khác nhau và hợp đồng không được công chứng, chứng thực không phải là căn cứ để Tòa tuyên hủy hợp đồng theo Điều 423 BLDS 2015.

- Nên tiếp tục căn cứ vào khoản 2 Điều 132 thì Tòa tuyên giao dịch dân sự chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 10/08/2009 có hiệu lực.  
 
2 ❤︎ Bài viết: 17 Tìm chủ đề
VẤN ĐỀ 2: ĐƠN PHƯƠNG CHẤM DỨT, HỦY BỎ DO KHÔNG THỰC HIỆN ĐÚNG HỢP ĐỒNG.


* Tóm tắt bản án số 06/2017/KDTM-PT ngày 26/5/2017 của Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long.

- Chủ thể gồm: Ông Tơ, ông Liêm và bà Dệt.

- Tranh chấp vấn đề: Giao kết hợp đồng mua bán xe ô tô ngày 26/5/2012 nhưng hợp đồng đã bị vô hiệu.

- Lý do tranh chấp:

Thứ nhất, do trong hợp đồng ghi bên mua "Trang trí nội thất Thanh Thảo" nhưng bà Dệt không phải là đại diện bên này.

Thứ hai, do bên mua là bà Dệt nhưng khi ký kết hợp đồng lại là ông Trương Văn Liêm.

- Hướng giải quyết của TA? Lý do?

Tòa án tuyên chiếc ô tô vẫn thuộc quyền sở hữu của Công ty Đông Phong, và kiến nghị Công an tỉnh Vĩnh Long thu hồi lại giấy đăng ký xe ô tô cho bà Dệt đứng tên.

Ngoài ra Tòa buộc ông Trương Văn Liêm, bà Nguyễn Thị Dệt phải trả cho Công ty TNHH MTV Đông Phong Cần Thơ do ông Nguyễn Thành Tơ thừa quyền và nghĩa vụ số tiền là 4.880.000 đồng. Buộc Công ty TNHH MTV Đông Phong Cần Thơ dô ông Nguyễn Thành Tơ kế thừa nghĩa vụ trả cho ông Trương Văn Liêm, bà Nguyễn Thị Dệt số tiền là 67.361.600 đồng.


2.1. Theo Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long, hợp đồng vô hiệu hay bị huỷ bỏ?

- Theo Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long, hợp đồng vô hiệu.

- Đoạn trong quyết định cho thấy điều đó là:

Tuyên xử:

• Đình chỉ việc xét xử đối với một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc yêu cầu các bị đơn tiếp tục thực hiện hợp đồng mua bán chiếc xe ô tô biển kiểm soát 64C-008.76, thanh toán số tiền mua xe còn lại là 181.000.000đ (một trăm tám mươi mốt triệu đồng), tiền lãi chậm trả theo lãi suất 1%/tháng đối với số tiền 181.000.000đ từ tháng 6/2012 cho đến khi Tòa án xét xử sơ thẩm và số tiền trước bạ dự kiến sang tên lại 5.220.000đ (năm triệu hai trăm hai mươi ngàn đồng).

• Vô hiệu hợp đồng mua bán xe ô tô ngày 26/5/2012 giao kết giữa công ty TNHH MTV Đông Phong Cần Thơ với ông Trương Văn Liêm.

2.2. Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết trên của Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh
Long (về huỷ bỏ hay vô hiệu hợp đồng).

- Hướng giải quyết về vô hiệu hợp đồng của Tòa án Nhân dân tỉnh Vĩnh Long trong trường hợp này là hợp lý.

- Căn cứ Điều 122, Điều 117 và khoản 1 Điều 142 BLDS 2015, thì hợp đồng vô hiệu vì những lý do sau:

• Về chủ thể: Trong hợp đồng ghi bên mua là "Trang trí nội thất Thanh Thảo" nhưng người đại diện Nguyễn Thị Dệt là không đúng vì bà Dệt không đại diện cho Trang trí nội thất Thanh Thảo mà thực chất là Công ty TNHH-SX-TM Thanh Thảo do Trương Hoàng Thành là Giám đốc đại diện.

• Hợp đồng ghi đại diện bên mua là bà Nguyễn Thị Dệt nhưng đứng ra giao dịch ký kết lại là ông Trương Văn Liêm là không đúng quy định của pháp luật.

- Căn cứ vào khoản 1, khoản 2 Điều 131 BLDS 2015 thì lỗi dẫn đến vô hiệu hợp đồng của các bên là ngang nhau nên các bên không phát sinh quyền và nghĩa vụ, hoàn trả cho nhau những gì đã mất là có cơ sở.


2.3. Nếu hợp đồng bị vô hiệu thì có áp dụng phạt vi phạm hợp đồng không? Vì sao?

Nếu hợp đồng bị vô hiệu thì không áp dụng phạt vi phạm hợp đồng. Vì giữa các bên đã thỏa thuận trong hợp đồng về phạt vi phạm nên phạt vi phạm chỉ có giá trị khi hợp đồng có hiệu lực. Khi hợp đồng có hiệu lực thì các điều khoản mà các bên đã thỏa thuận mới có giá trị pháp lý ràng buộc giữa các bên. Ngược lại, nếu hợp đồng vô hiệu thì thỏa thuận phạt vi phạm cũng không có hiệu lực pháp luật. (Căn cứ theo Điều 418 BLDS 2015)

2.4. Hướng giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long đối với câu hỏi trên như thế nào và suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết này của Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long.

Hướng giải quyết trên cảu tòa là hợp lý vì hợp đồng bị tuyên vô hiệu thì đương nhiên không ràng buộc trách nhiệm các bên đã giao kết trong hợp đồng theo khoản 1 Điều 131 BLDS 2015 "Giao dịch dân sự vô hiệu không làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền và nghĩa vụ của các bên kể từ thời điểm giao dịch được xác lập". Vì vậy vấn đề phạt vi phạm của các bên không được xét đến.

2.6
. Ông Minh có được quyền hủy bỏ hợp đồng chuyển nhượng nêu trên không? Vì sao? Nếu có, nêu rõ văn bản cho phép hủy bỏ.

● Theo quy định của pháp luật, ông Minh có quyền huỷ bỏ hợp đồng chuyển nhượng nêu trên. Vì:

● Trong hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất của ông Minh cho ông Cường (hợp đồng được giao kết hợp pháp) không có ghi rõ thời hạn thanh toán, nhưng do ông Minh đã giao đất cho ông Cường mà ông Cường không thực hiện việc thanh toán tiền cho ông Minh và còn để cho ông Minh nhắc nhở nhiều lần tức là ông Cường đã vi phạm hợp đồng nghiêm trọng.

➔ Như vậy, căn cứ vào Điểm b, Khoản 1, Điều 423 thì ông Minh có quyền yêu cầu hủy bỏ hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho ông Cường.
 
2 ❤︎ Bài viết: 17 Tìm chủ đề
VẤN ĐỀ 3: ĐỨNG TÊN GIÙM MUA BẤT ĐỘNG SẢN.


- Tóm tắt quyết định số 17/2015/DS-GĐT ngày 19/05/2015 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao:

Chủ thể: Nguyên đơn là bà Nguyễn Thị Tuệ. Bị đơn là ông Nguyễn Văn Bình và bà Nguyễn Thị Vân, người có quyền và nghĩa vụ liên quan là Lê Thị Lũng, Nguyễn thị Cẩm Vân, Nguyễn Hồng Hạnh, Nguyễn Hồng Phương, ông Nguyễn Xuân Hải.

Tranh chấp về vấn đề: Đứng tên và mua giùm bất động sản.

Bà Tuệ định cư ở nước ngoài, mua nhà ở Việt nam và nhờ ông Bình, bà Vân mua và đứng tên hộ, có giấy cam đoan xác định và có chữ kí của ông Bình, bà Vân. Bà Tuệ yêu cầu ông Bình trả nhà đất nhưng ông Bình không trả. Bà Tuệ khởi kiện yêu cầu ông Bình và bà Vân trả lại căn nhà. Tòa án sơ thẩm buộc ông Bình trả nhà nhưng không tính phí quản lý. Tòa phúc thẩm cho rằng bà Tuệ chỉ có quyền đòi lại số tiền đã đưa ông Bình. Tòa án tối cao quyết định hủy hai bản án sơ thẩm và phúc thẩm về vụ án "Kiện đòi tài sản" và yêu cầu xét xử sơ thẩm lại.


3.1. Việc Tòa án nhân dân tối cao xác định nhà có tranh chấp do bà Tuệ bỏ tiền ra mua và nhờ ông Bình, bà Vân đứng tên hộ có thuyết phục không? Vì sao?

Việc Tòa án nhân dân tối cao xác định nhà có tranh chấp do bà Tuệ bỏ tiền ra mua và nhờ ông Bình, bà Vân đứng tên hộ là hoàn toàn hợp lý vì:

- Căn cứ vào "giấy cam đoan xác định tài sản nhà ở" lập ngày 7/6/2001 có nội dung xác nhận căn nhà số 16-B20 do bà Tuệ bỏ tiền ra mua và nhờ ông Bình, bà Vân đứng tên hộ, đều có chữ kí của ông bình và bà Vân.

- Căn cứ vào "giấy khai nhận tài sản" ngày 9/8/2001 của bà Tuệ có nội dung năm 1993 bà Tuệ mua căn nhà số 16-B20 phường Nghĩa Tân, quận Cầu Giấy, thành Phố Hà Nội, và đã được UBND thành phố Hà Nội cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và sỡ hữu nhà ở ngày 25/05/2001 do bà Tuệ là người đị nh cư nước ngoài nên không đứng tên mua nhà tại Việt Nam, nên đã nhờ ông Bình và bà Vân đứng tên mua hộ. Giấy có chữ kí xác nhận của bà Tuệ, ông Bình, bà Vân cùng kí tên.

- Căn cứ vào tại biên bản ngày 5/10/2010 vaf14/10/2010 ông Bình cũng thừa nhận nhà số 16-B20 là bà Tuệ cho tiền mua và bà Vân là người đứng tên giùm. Anh Nguyễn Xuân Hải con ông bình cũng khẳng định nhà số 16-B20 do bà Tuệ mua.




3.2. Ở thời điểm mua nhà trên, bà Tuệ có được đứng tên không? Vì sao?


Bà Tuệ không được đứng tên vào thời điểm mua nhà trên vì tại thời điểm bà Tuệ nhờ ông Bình mua nhà vào năm 1992 thì căn cứ điều 126 Luật nhà ở 2005 và điều 121 luật đất đai 2003. Bản án cũng cho thấy bà Tuệ vốn định cư ở Nhật Bản từ 1977 và chỉ về Việt Nam không quá thời hạn 6 tháng trở lên nên không được đứng tên mua nhà ở thời điểm đó

3.3. Ở thời điểm hiện nay, bà Tuệ có được đứng tên mua nhà ở tại Việt Nam không?

Ở thời điểm hiện nay, bà tuệ được đứng tên mua nhà tại Việt Nam vì: Theo quy định tại điều 1 Luật số 34/2019/QH12 ngày 18/06/2009 của Quốc hội về sửa đổi, bổ sung điều 126 Luật nhà ở và 121 Luật đất đai. Và theo "giấy chứng nhận" ngày 12/06/2009 của Tổng lãnh sự quán nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tại Nhật Bản thì bà Tuệ vẫn có quốc tịch ở Việt Nam, đồng thời bà còn được cấp "Giấy miễn thị thực"

• Điều 126 của Luật nhà ở được bổ sung như sau:

"Điều 126. Quyền sở hữu nhà ở tại Việt Nam của người Việt Nam định cư ở nước ngoài

1. Người Việt Nam định cư ở nước ngoài thuộc các đối tượng sau đây được cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam cho phép cư trú tại Việt Nam từ ba tháng trở lên thì có quyền sở hữu nhà ở để bản thân và các thành viên trong gia đình sinh sống tại Việt Nam:

A) Người có quốc tịch Việt Nam;

B) Người gốc Việt Nam thuộc diện người về đầu tư trực tiếp tại Việt Nam theo pháp luật về đầu tư; người có công đóng góp cho đất nước; nhà khoa học, nhà văn hóa, người có kỹ năng đặc biệt mà cơ quan, tổ chức của Việt Nam có nhu cầu và đang làm việc tại Việt Nam; người có vợ hoặc chồng là công dân Việt Nam sinh sống ở trong nước.

2. Người gốc Việt Nam không thuộc các đối tượng quy định tại điểm b khoản 1 Điều này được cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam cấp Giấy miễn thị thực và được phép cư trú tại Việt Nam từ ba tháng trở lên thì có quyền sở hữu một nhà ở riêng lẻ hoặc một căn hộ chung cư tại Việt Nam để bản thân và các thành viên trong gia đình sinh sống tại Việt Nam".


3.4. Ngày nay, theo Tòa án nhân dân tối cao, bà Tuệ có được công nhận quyền sở hữu nhà trên không? Hướng giải quyết này của Tòa án nhân dân tối cao đã có tiền lệ chưa?

→ Ngày nay, theo TAND dân tối cao, bà Tuệ được công nhận quyền sở hữu nhà trên.

Vì trong bản án có ghi nhận: "Theo" giấy chứng nhận "ngày 12/6/2009 của Tổng lãnh sự quán nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tại Nhật Bản.. thì bà Tuệ có đủ điều kiện được sở hữu nhà ở tại Việt Nam".

Hướng giải quyết trên của Tòa án đã có tiền lệ. Đó là Quyết định số 60/2012/QĐ-GĐT ngày 06/11/2012 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao

Tóm tắt quyết định: Bà Lá là Việt kiều quốc tịch Pháp nhờ cháu của mình là chị Nhung đứng tên giùm mua 1 căn nhà. Chị Nhưng đang đứng tên sở hữu căn nhà và đề nghị căn nhà thuộc sở hữu của chị. Tòa án xác định căn nhà do vợ chồng bà Lá mua, buộc chị Nhung giao trả nhà đất cho bà Lá và yêu cầu xem xét giá trị căn nhà có phần sở hữu của chị Nhung. Tòa án yêu cầu làm rõ vợ chồng bà Lá bán nhà được bao nhiêu tiền sau đó trừ đi số tiền là giá trị vàng bà Lá đã đưa cho chị Nhung năm 1991, quy vàng ra tiền theo giá vàng ở thời điểm bà Lá bán nhà năm 2008, khoảng tiền chênh lệch màu chị Nhung và vợ chồng bà Lá được hưởng ngang nhau.


Câu 3.5. Theo Tòa án nhân dân tối cao, phần giá trị chênh lệch giữa số tiền bà Tuệ bỏ ra và giá trị hiện tại của nhà đất có tranh chấp được xử lý như thế nào?

→ Theo Tòa án nhân dân tối cao thì phần giá trị chênh lệch giữa số tiền bà Tuệ bỏ ra và giá trị hiện tại của nhà đất có tranh chấp được chia đôi cho bà Tuệ và ông Bình, cụ thể trong bản án có ghi nhận là "xem xét công sức quản lý, giữ gìn nhà cho gia đình ông Bình trên cơ sở xác định giá nhà đất theo giá thị trường ở thời điểm xét xử sơ thẩm, trừ đi số tiền mua nhà đất do bà Tuệ bỏ ra, phần giá trị còn lại chia đôi cho bà Tuệ và ông Bình".

3.6. Hướng giải quyết trên của Tòa án nhân dân tối cao đã có Án lệ chưa? Nếu có, nêu Án lệ đó.

Án lệ 02/2016/AL người Việt Nam định cư ở nước ngoài nhờ người ở Việt Nam đứng tên mua bất động sản.

Nguồn án lệ: Người nước ngoài chủ yếu là người việt kiều nhờ người Việt Nam đứng tên giùm mua bất động sản ở Việt Nam và sau đó có tranh chấp người nhờ đứng tên và người đúng tên cụ thể là cá nhân người Việt kiều Hà Lan bà Nguyễn Thị Thảnh gửi vàng nhờ cá nhân người Việt Nam ông Nguyễn Văn Tám nhận và đứng tên giùm quyền sử dụng đất. Người nhờ đứng tên đòi người đứng tên số tiền mà người đứng tên đã chuyển nhượng quyền sử dụng đất với người khác đây là vấn đề pháp lý trong quyết định giám đốc thẩm số 27/2010/DS-GDT ngày 8/7/2010 của Hội đồng thẩm phám tòa án nhân dân tối cao và đã cho hướng giải quyết phát triển thành án lệ số 02/2016/AL.

Nội dung vụ án: "Tuy bà Thảnh là người bỏ 21, 99 chỉ vàng để chuyển nhượng đất (tương đương khoảng 27.047.700 đồng). Nhưng giấy tờ chuyển nhượng đứng tên ông Tám và sau khi nhận chuyển nhượng ông Tám quản lý đất, sau đó chuyển nhượng cho người khác. Như vậy, lẽ ra phải xác định ông Tám có công sức trong việc bảo quản, giữ gìn, tôn tạo làm tăng giá trị đất nên phải xác định số tiền trên (sau khi trừ tiền gốc tương đương 21, 99 chỉ vàng của bà Thảnh) là lợi nhuận chung của bà Thảnh và ông Tám. Đồng thời xác định công sức của ông Tám để chia cho ông Tám một phần tương ứng với công sức của ông mới đúng và đảm bảo quyền lợi của các đương sự (Trường hợp không xác định được chính xác công sức của ông Tám thì phải xác định bà Thảnh, ông Tám có công sức ngang nhau để chia)".

Khái quát nội dung án lệ: Trường hợp người Việt Nam định cư ở ngước ngoài đã bỏ tiền để nhượng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và nhờ người ở trong nước đứng tên trên giấy tờ đồng thời trong coi mảnh đất. Khi giải quyết tranh chấp thì Tòa án:

Phải xem xét và tính công sức bảo quản, giữ gìn, tôn trọng làm tăng giá trị quyền sử dụng đất cho người đứng tên hộ.

Nếu không xác định được chính xác công sức thì cần xác định hai người có công sức ngang nhau để chia phần giá trị chênh lệch tăng thêm so với giá trị mảnh đắt ban đầu.


3.7. Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết trên của Tòa án nhân dân tối cao.

Pháp luật Việt Nam chưa có văn bản quy định cụ thể về việc đứng tên mua dùm bất động sản. Trong vụ việc của bà Tuệ và ông Bình, theo nhóm hướng giải quyết của Tòa án nhân dân là chưa thực sự hợp lý. Tòa án phải xác nhận lại xém xét đến công sức quản lý, gữi gìn, nhà cửa của ông Bình nhưng thực tế là bà bà Tuệ đã mua cho ông Bình 2 căn nhà ở Yên Bái và Phú Thọ coi như là trả công cho việc ông Bình coi trông nhà cửa. Và ông Bình đã tự ý tăng thêm 4 chỉ vàng vào giá tiền mua nhà, tự ý nới 2 phòng nhỏ phía trên để cho thuê mà không cho bà Tuệ biết. Gia đình ông Bình cũng đang sống trong ngôi nhà tranh chấp. Như vậy cũng có thể coi là ông Bình đã được hưởng lợi từ công sức quản lý giữ gìn nhà của cho bà Tuệ. Việc chia đôi phần giá trị còn lại sau khi trừ đi số tiền mua nhà đất cho ông Bình và bà Tuệ là chưa thật sự thỏa đáng.
 
2 ❤︎ Bài viết: 17 Tìm chủ đề
VẤN ĐỀ 1: ĐỐI TƯỢNG DÙNG ĐỂ BẢO ĐẢM VÀ TÍNH CHẤT PHỤ CỦA BIỆN PHÁP BẢO ĐẢM

* Tóm tắt Bản án số 208/2010/DS-PT ngày 09/03/2010 của Tòa án nhân dân TP. HCM.

- Chủ thể:

+Nguyên đơn là ông Phạm Bá Minh

+ Bị đơn bà Bùi Thị Khen và ông Bùi Khắc Thảo

- Tranh chấp về vụ kiện tranh chấp hợp đồng dịch vụ vay tiền.

- Lí do tranh chấp: Vào ngày 14/09/2007 bà Khen và ông Thảo có thế chấp cho ông Minh một giấy sử dụng sạp D2-9 tại chợ Tân Hương để vay 60.000.000 đồng, thời hạn vay là 6 tháng lãi xuất thỏa thuận là 3%/ tháng. Khi hết hạn hợp đồng, do bà Khen và ông Thảo không có khả năng thanh toán nên kéo dài số nợ trên cho đến nay. Ông Minh yêu cầu bà Khen và ông Thảo trả tiền lãi và tiền nợ là 70.000.000 đồng.

- Quyết định của Tòa án: Bác bỏ yêu cầu kháng cáo của ông Minh, buộc bà Khen và ông Thảo thanh toán 38.914.800 đồng cho ông Minh. Ông Minh có trách nhiệm trả lại cho bị đơn giấy chứng nhận sạp D29.


* Tóm tắt Quyết định số 02/2014/QĐ-UBTP ngày 28/2/2014 của Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang.

- Chủ thể:

+ Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn Ôn, bà Lê Thị Xanh.

+ Bị đơn: Ông Nguyễn Văn Rành, bà Hồ Thị Hết.

- Tranh chấp về vấn đề: Tranh chấp hợp đồng cầm cố quyền sử dụng đất.

- Lý do tranh chấp: Vào năm 1995, ông Ôn và bà Xanh có cầm cố cho ông Rành 3000m2 đất với giá 30 chỉ vàng 24k. Vợ chồng ông Rành đã giao đủ vàng, hai bên thỏa thuận 3 năm sẽ chuộc lại, nếu không chuộc lại thì ông sẽ canh tác vĩnh viễn. Hiện tại, phần đất tranh chấp vợ chồng ông Rành đang canh tác và còn 2, 5 tháng sẽ thu hoạch.

- Quyết định của Tòa án:

+ Quyết định dân sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành: Hủy hợp đồng cầm cố quyền sử dụng đất đối với phần đất 3.072, 7m2, buộc ông Rành phải giao trả lại phần đất 3.072, 7m2 cho ông Ôn, bà Xanh và yêu cầu ông Ôn, bà Xanh liên đới trả cho ông Rành hết 30 chỉ vàng 24k (loại vàng nhẫn).

+ Tại Quyết định Giám đốc thẩm đã chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tiền Giang và cho rằng: Giao dịch giữa ông Ôn, bà Xanh và ông Rành là giao dịch tương tự như là giao dịch cầm cố tài sản phải áp dụng nguyên tắc tương tự là các quy định về cầm cố tài sản để giải quyết, cũng như hủy bản án dân sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành về việc "Tranh chấp hợp đồng cầm cố quyền sử dụng đất".


* Tóm tắt quyết định số 27/2021/DS-GĐT ngày 02/6/2021 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Tp. Hồ Chí Minh.

- Chủ thể:

+Nguyên đơn: Ngân hàng Liên doanh V.

+ Bị đơn: Công ty PT.

- Tranh chấp về: Hợp đồng thế chấp.

- Lý do tranh chấp: Ngân hàng V và Công ty PT đã ký kết các hợp đồng tín dụng, Để đảm bảo cho nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng, các bên bảo lãnh đã ký kết các hợp đồng thế chấp, trong đó có Hợp đồng thế chấp bất động sản được ký kết với ông Trần T, bà Trần Thị H là bên bảo lãnh. Hợp đồng này đã được tất toán tương ứng với khoản vay tuy nhiên ngân hàng muốn xử lý tài sản thế chấp cho khoản vay khác.

- Hướng giải quyết của Tòa án:

+Hủy Bản án kinh doanh thương mại phúc thẩm: Tuyên hợp đồng thế chấp có hiệu lực pháp luật. Ngân hàng V có quyền yêu cầu xử lý tài sản thế chấp

+ Giữ nguyên Bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm: Tuyên hợp đồng thế chấp chấm dứt hiệu lực. Ngân hàng phải trả lại cho ông T, bà H bản chính Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất.




1.1. Những điểm mới của BLDS 2015 so với BLDS 2005 liên quan đến tài sản có thể dùng để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ.

- Tài sản bảo đảm:

+ Theo Khoản 1, Điều 295:
"Tài sản bảo đảm phải thuộc quyền sở hữu của bên bảo đảm", quy định này thể hiện hai điểm mới:

  • Thứ nhất là không yêu cầu điều kiện tài sản phải "được phép giao dịch" như quy định tại khoản 1 Điều 320 BLDS năm 2005.
  • Thứ hai, tài sản bảo đảm có thể là tài sản thuộc sở hữu của bên có nghĩa vụ được bảo đảm (bên bảo đảm đồng thời là bên có nghĩa vụ được bảo đảm) hoặc của người thứ ba (bên bảo đảm và bên có nghĩa vụ được bảo đảm là 02 chủ thể khác nhau).

+ Tại Khoản 2, Điều 295: "Tài sản bảo đảm có thể được mô tả chung, nhưng phải xác định được" . Pháp luật quy định, tài sản bảo đảm có thể được mô tả chung, nhưng yêu cầu về tài sản bảo đảm phải xác định được nhằm hạn chế việc dùng tài sản hình thành trong tương lai mà chưa được xác định để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự vì các bên đứng trước nguy cơ hiệu lực của hợp đồng bị tác động bởi việc mô tả tài sản bảo đảm chung chung và không xác định được.

1.2. Đoạn nào của bản án số 208 cho thấy bên vay dùng giấy chứng nhận bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trả tiền vay?

Đoạn trích dẫn của bản án số 208 cho thấy bên vay dùng giấy chứng nhận bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trả tiền vay:
"Ông Phạm Bá Minh trình bày: Ông là chủ doanh nghiệp cầm đồ Bá Minh. Vào ngày 14-09-2007 bà Bùi Thị Khen và ông Bùi Khắc Thảo có thể chấp cho ông một giấy sử dụng sạp D2- 9 tại chợ Tân Hương để vay là 6 tháng, lãi suất thỏa thuận là 3 % tháng. [..] Bị đơn bà Bùi thị Khen và ông Nguyễn Khắc Thảo xác nhận: Có thế chấp một tờ giấy sạp D2-9 tại chợ tân Hưng để vay 60.000.000 đồng Phạm Bá Minh là chủ dịch vụ cầm đồ Bá Minh. Lãi suất 3 % tháng".

1.3. Giấy chứng nhận sạp có là tài sản không? Vì sao?

Giấy chứng nhận sạp không phải là tài sản.

- Cơ sở pháp lý:

+ Khoản 1, Điều 105 BLDS 2015:
"Tài sản là vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản "

+ Khoản 9, Điều 3 Nghị định số 163 / 2006 / NĐ CP.

• Tiền do Ngân hàng Nhà nước phát hành, Giấy chứng nhận sạp không phải do Ngân hàng Nhà nước phát hành nên đây không phải là tiền.

• Giấy tờ có giá theo khoản 8 Điều 6 Luật Ngân hàng thì Giấy chứng nhận sạp không phải là giấy tờ có giá Quyền tài sản theo Điều 115 BLDS 2015 thì Giấy chứng nhận sạp không phải là quyền tài sản.


• Vật (phụ thuộc vào ý chí của các bên hướng đến để xét khi nào là vật, khi nào không phải là vật). Giấy chứng nhận sạp chỉ ghi nhận quyền được sử dụng sạp để bà Khen buôn bán tại chợ Tân Hưng, không thuộc quyền sở hữu của bà Khen, bà chỉ được sử dụng chứ không có đặc quyền nào khác đối với cái sạp, cái sạp đó không phải là tài sản của bà nên giấy chứng nhận sử dụng sạp không nằm trong danh mục các loại giấy tờ có giá trị tại khoản 9 Điều 3 Nghị định 163/2006/NĐ – CP và cũng không là vật, tiền và quyền tài sản, do vậy giấy chứng nhận sạp không là tài sản.



1.4. Việc dùng giấy chứng nhận sạp để bảo đảm nghĩa vụ dân sự có được chấp nhận không? Đoạn nào của bản án cho câu trả lời?

Việc dùng giấy chứng nhận sạp để đảm bảo nghĩa vụ dân sự không được chấp nhận. Đoạn của bản án cho thấy câu trả lời: "Xét sạp thịt heo do bà Khen đứng tên và cấm cố, nhưng giấy chứng nhận sạp D2-9 tại chợ Tân Hưng là giấy đăng ký sử dụng sạp, không phải quyền sở hữu, nên giấy chứng nhận trên không đủ cơ sở pháp lý để bà Khen thi hành án trả tiền cho ông Minh".

1.5. Suy nghĩ của anh/ chị về hướng giải quyết và cơ sở pháp lý của Tòa với việc dung giấy chứng nhận sạp để bảo đảm nghĩa vụ.

Tòa án xét thấy, sạp thịt heo do bà Khen đứng tên và cầm cố, nhưng giấy chứng nhận sạp D2-9 tại chợ tân Hưng chỉ là giấy đăng kí sử dụng sạp chứ không phải quyền sở hữu nên giấy chứng nhận trên không dủ cơ sở pháp lý mà để bà Khen thi hành án trả tiền cho ông Minh.

Cơ sở pháp lý: Khoản 1 Điều 295 BLDS 2015.

Vậy, hướng giải quyết của Tòa án là hợp lý. Theo đó tài sản cầm cố nếu không thuộc quyền sở hữu của bà Khen thì bà Khen chỉ có quyền sử dụng chứ không có quyền định đoạt trong giao dịch cầm cố sạp để trả nợ.


1.6. Đoạn nào của Quyết định số 02 cho thấy các bên đã dùng quyền sử dụng đất để cầm cố?

Trong Quyết định số 02 đoạn cho thấy các bên đã dùng quyền sử dụng đất để cầm cố là: "Ngày 30/8/1995 vợ chồng ông Võ Văn Ôn và bà Lê Thị Sang cùng ông Nguyễn Văn Rành thỏa thuận việc thục đất. Hai bên có lập" Giấy thục đất làm ruộng "với nội dung giống như việc cầm cố tài sản".

1.7. Văn bản hiện hành có cho phép dùng quyền sử dụng đất để cầm cố không? Nêu cơ sở văn bản khi trả lời?

Văn bản hiện hành có cho phép quyền sử dụng đất để cầm cố. Với quy định hiện nay của BLDS 2015 và Luật Đất đai 2013 thì hoàn toàn có thể cầm cố quyền sử dụng đất miễn là không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội. Bởi lẽ, BLDS 2015 cho phép cầm cố bất động sản, Luật Đất đai 2013 không cấm cầm cố quyền sử dụng đất. Căn cứ Khoản 1, Điều 167 Luật đất đai 2013 quy định người sử dụng đất được thực hiện các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, thế chấp, góp vốn quyền sử dụng đất theo quy định của Luật này mà không có quy định hạn chế quyền của người sử dụng. Do đó, người sử dụng đất hoàn toàn có quyền cầm cố quyền sử dụng đất theo quy định của BLDS 2015.

1.8. Trong Quyết định trên, Tòa án có chấp nhận cho phép dùng quyền sử dụng đất để cầm cố không? Đoạn nào của Quyết định cho câu trả lời?

Trong quyết định trên, Tòa án đã chấp nhận cho phép dùng quyền sử dụng đất để cầm cố. Đoạn trong quyết định cho thấy điều này: "Xét việc giao dịch thục đất nêu trên là tương tự với giao dịch cầm cố tài sản, do đó phải áp dụng nguyên tắc tương tự để giải quyết. Về nội dung thì giao dịch thục đất nêu trên phù hợp với quy định về cầm cố tài sản của Bộ luật dân sự (tại Điều 326, 327), do đó cần áp dụng các quy định về cầm cố tài sản của Bộ luật dân sự để giải quyết mới đảm bảo quyền lợi hợp pháp của các bên giao dịch."

1.9. Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết trên của Tòa án trong Quyết định số 02.

- Hướng giải quyết trên của Tòa án là hoàn toàn hợp lý và thuyết phục.

- Căn cứ vào Điều 309 BLDS 2015 có quy định: "Cầm cố tài sản là việc một bên (sau đây gọi là bên cầm cố) giao tài sản thuộc quyền sở hữu của mình cho bên kia (sau đây gọi là bên nhận cầm cố) để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ" và Khoản 2, Điều 310 BLDS 2015 quy định:
"Trường hợp bất động sản là đối tượng của cầm cố theo quy định của luật thì việc cầm cố bất động sản có hiệu lực đối kháng với người thứ ba kể từ thời điểm đăng ký" , điều này đã cho thấy khả năng cầm cố bất động sản nếu luật cho phép.

- Như vậy, theo quy định của BLDS 2015 chúng ta hoàn toàn có thể sử dụng quyền sử dụng đất để cầm cố:

■ Thứ nhất: Theo Khoản 1, Điều 107 BLDS 2015 quy định:
"1. Bất động sản bao gồm: A) Đất đai; b) Nhà, công trình xây dựng gắn liền với đất đai; c) Tài sản khác gắn liền với đất đai, nhà, công trình xây dựng; d) Tài sản khác theo quy định của pháp luật"; và theo quy định tại Khoản 1, Điều 105 BLDS 2015; Điều 115 BLDS 2015: "Quyền tài sản là quyền trị giá được bằng tiền, bao gồm quyền tài sản đối với đối tượng quyền sở hữu trí tuệ, quyền sử dụng đất và các quyền tài sản khác" . Mặc dù BLDS 2015 không quy định quyền sử dụng đất là bất động sản nhưng trong Luật Kinh doanh bất động sản đã có nhiều điều khoản quy định cho thấy quyền sử dụng đất là bất động sản.

■ Thứ hai, BLDS 2015 cho phép cầm cố bất động sản, Luật Đất đai 2013 không cấm cầm cố quyền sử dụng đất. Luật Đất đai 2013 quy định người sử dụng đất
"được" thực hiện các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, thế chấp, góp vốn quyền sử dụng đất theo quy định của Luật Đất đai (Khoản 1, Điều 167) mà không có quy định hạn chế quyền của người sử dụng.

■ Thứ ba, theo Khoản 2, Điều 3 BLDS 2015 quy định:
"Cá nhân, pháp nhân xác lập, thực hiện, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của mình trên cơ sở tự do, tự nguyện cam kết, thỏa thuận. Mọi cam kết, thỏa thuận không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội có hiệu lực thực hiện đối với các bên và phải được chủ thể khác tôn trọng". Điều này cho thấy chỉ cần giao dịch cầm cố quyền sử dụng đất được xác lập trên nguyên tắc này thì sẽ được pháp luật chấp nhận.

→ Do đó, hoàn toàn có thể cầm cố quyền sử dụng đất miễn không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội.

1.10. Trong Quyết định số 27, thế chấp được sử dụng để bảo đảm cho nghĩa vụ nào? Vì sao?

Trong quyết định số 27, thế chấp được sử dụng để đảm bảo cho nghĩa trụ trả nợ khoản vay của công ty PT ngân hàng theo Khoản 1, Điều 317 BLDS 2015:
"1. Thế chấp tài sản là việc một bên (sau đây gọi là bên thế chấp) dùng tài sản thuộc sở hữu của mình để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ và không giao tài sản cho bên kia (sau đây gọi là bên nhận thế chấp)".

Trong Hợp đồng thế chấp của ngân hàng với công ty có ghi: ".. Hợp đồng này để bảo đảm thực hiện toàn bộ nghĩa vụ đã, đang và sẽ hình thành trong tương lai theo toàn bộ các Hợp đồng tín dụng đã và sẽ ký giữa Ngân hàng với Bên vay trong giới hạn số tiền tối đa bằng giá trị tài sản thế chấp..".



1.11. Đoạn nào trong Quyết định số 27 cho thấy Tòa án xác định hợp đồng thế chấp đã chấm dứt?

"Hủy Bản án kinh doanh thương mại phúc thẩm số 20/2020/KDTM-PT ngày 26/8/2020 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương và giữ nguyên Bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 11/2019/KDTM-ST ngày 12/9/2019 của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương đối với vụ án" Tranh chấp hợp đồng tín dụng "giữa nguyên đơn Ngân hàng Liên doanh V với bị đơn Công ty PT".

"Tòa án cấp sơ thẩm tuyên Hợp đồng thế chấp số 63/2014/HĐTC ngày 06/6/2014 đã ký giữa ông Trần T, bà Trần Thị H; Ngân hàng V và Công ty PT chấm dứt hiệu lực. Ngân hàng phải trả lại cho ông T, bà H bản chính Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở tại số 40, đường Đ, Phường 13, quận T, Thành phố H số hồ sơ gốc: 3859/2002 do Ủy ban nhân dân Thành phố H cấp ngày 05/02/2002 mang tên ông Trần T, bà Trần Thị H là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật".


-> Từ 2 đoạn này cho thấy tòa án xác định hợp đồng đã chấm dứt theo tòa án sơ thẩm

1.12. Vì sao Tòa án xác định hợp đồng thế chấp nêu trên đã chấm dứt?

Qua Quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn Ngân hàng Việt Nga thừa nhận Công ty PT đã tất toán các khoản vay từ Hợp đồng tín dụng số 60/2014/HĐTD ngày 14/4/2014 lần lượt vào các ngày 15/10/2014; ngày 25/10/2014 và ngày 12/11/2014. Vì vậy, việc thế chấp tài sản của ông T, bà H đã chấm dứt theo quy định tại Khoản 1, Điều 357 Bộ luật dân sự năm 2005 và Khoản 1, Điều 327 Bộ luật dân sự năm 2015. Do đó, việc Ngân hàng yêu cầu được xử lý tài sản thế chấp của ông T, bà H để thu hồi nợ là không có cơ sở. Do hợp đồng thế chấp đã chấm dứt nên Ngân hàng có trách nhiệm hoàn trả bản chính Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở cho ông T, bà H.

Điều 327 BLDS 2015: Chấm dứt thế chấp tài sản

Thế chấp tài sản chấm dứt trong trường hợp sau đây:

1. Nghĩa vụ được bảo đảm bằng thế chấp chấm dứt.

1.13. Việc Tòa án xác định hợp đồng thế chấp nêu trên đã chấm dứt có thuyết phục không? Vì sao?

Việc tòa án xác định hợp đồng thế chấp nêu trên đã chấm dứt là thuyết phục vì:

- Hợp đồng thế chấp bất động sản số 63/2014/HĐTC ngày 05/6/2014 được ký kết với bên bảo lãnh của công ty PT là ông Trần T, bà Trần Thị H để bảo đảm nghĩa vụ trả nợ của công ty PT với ngân hàng với đảm bảo khoảng vay 1.500.000.000 đồng. Tại Khoản 2, Điều 1 của Hợp đồng thế chấp có ghi:
".. Hợp đồng này để bảo đảm thực hiện toàn bộ nghĩa vụ đã, đang và sẽ hình thành trong tương lai theo toàn bộ các Hợp đồng tín dụng đã và sẽ ký giữa Ngân hàng với Bên vay trong giới hạn số tiền tối đa bằng giá trị tài sản thế chấp.." . Nhưng công ty PT và ngân hàng có nâng hạn mức tín dụng lên mà lại không có không hề có ý kiến của người thế chấp là ông Trần T và bà Trần Thị H là không đúng quy định. Mặt khác, việc Ngân hàng ký nâng hạn mức vay từ 1.500.000.000 đồng lên 10.000.000.000 đồng đã vượt quá giá trị tài sản thế chấp là điều bất hợp lý.

- Qua đó xét theo Khoản 2, Điều 1 của Hợp đồng thế chấp giữa công ty PT và ngân hàng thì không hợp lí, do vậy hợp đồng thế chấp bất động sản số 63/2014/HĐTC ngày 05/6/2014 chỉ đảm bảo khoảng vay 1tỷ5.

- Ngân hàng Việt Nga cũng đã thừa nhận công ty PT đã tất toán các khoản vay của Hợp đồng tín dụng số 60/2014/HĐTD ngày 14/4/2014. Vì vậy, việc thế chấp tài sản của ông T, bà H đã chấm dứt theo quy định tại Khoản 1, Điều 357 Bộ luật dân sự năm 2005 và Khoản 1, Điều 327 Bộ luật dân sự năm 2015. Do đó, việc Ngân hàng yêu cầu được xử lý tài sản thế chấp của ông T, bà H để thu hồi nợ là không có cơ sở.
 
2 ❤︎ Bài viết: 17 Tìm chủ đề
VẤN ĐỀ 2: ĐĂNG KÝ GIAO DỊCH BẢO ĐẢM


* Tóm tắt bản án số 90/2019/KDTM-PT ngày 16/8/2019 của Tòa án nhân dân TP. Hà Nội:

- Chủ thể:

+ Nguyên đơn: Ngân hàng N (kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của Cty TNHH MTV Q – gọi tắt là VAMC).

+ Bị đơn: Cty TNHH Xây dựng và Thương mại V.

- Tranh chấp về: Hợp đồng tín dụng.

- Lí do tranh chấp: Không thanh toán nợ gốc, chậm trả lãi phát sinh

- Quyết định của Tòa án: Chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn, buộc Cty V phải trả lại tổng nợ gốc và lãi của 2 hợp đồng tín dụng theo khoản 2 Điều 305 BLDS 2005; Điều 91, Điều 95 Luật Tổ chức tín dụng 2010. Nếu không trả được số nợ nêu trên thì cơ quan thi hành án dân sự phát mại tài sản thế chấp để thực hiện nghĩa vụ trả nợ, phạm vi tài sản.


2.1. Điểm mới của BLDS 2015 so với BLDS 2005 về đăng ký giao dịch bảo đảm.

* Điều 323, BLDS 2005 về Đăng ký giao dịch bảo đảm:

"Điều 323. Đăng ký giao dịch bảo đảm

1. Giao dịch bảo đảm là giao dịch dân sự do các bên thỏa thuận hoặc pháp luật quy định về việc thực hiện biện pháp bảo đảm được quy định tại khoản 1 Điều 318 của Bộ luật này.

2. Việc đăng ký giao dịch bảo đảm được thực hiện theo quy định của pháp luật về đăng ký giao dịch bảo đảm. Việc đăng ký là điều kiện để giao dịch bảo đảm có hiệu lực chỉ trong trường hợp pháp luật có quy định.

3. Trường hợp giao dịch bảo đảm được đăng ký theo quy định của pháp luật thì giao dịch bảo đảm đó có giá trị pháp lý đối với người thứ ba, kể từ thời điểm đăng ký".


* Điều 298, BLDS 2015 về Đăng ký biện pháp bảo đảm:

"Điều 298. Đăng ký biện pháp bảo đảm

1. Biện pháp bảo đảm được đăng ký theo thỏa thuận hoặc theo quy định của luật. Việc đăng ký là điều kiện để giao dịch bảo đảm có hiệu lực chỉ trong trường hợp luật có quy định.

2. Trường hợp được đăng ký thì biện pháp bảo đảm phát sinh hiệu lực đối kháng với người thứ ba kể từ thời điểm đăng ký.

3. Việc đăng ký biện pháp bảo đảm được thực hiện theo quy định của pháp luật về đăng ký biện pháp bảo đảm".


* Khoản 1 Điều 297, BLDS 2015 về Hiệu lực đối kháng với người thứ ba:

"Điều 297. Hiệu lực đối kháng với người thứ ba

1. Biện pháp bảo đảm phát sinh hiệu lực đối kháng với người thứ ba từ khi đăng kí biện pháp bảo đảm hoặc bên nhận bảo đảm nắm giữ hoặc chiếm giữ tài sản bảo đảm".

- Tại khoản 3 Điều 323 BLDS 2005 chỉ quy định: "Trường hợp giao dịch bảo đảm được đăng ký theo quy định của pháp luật thì giao dịch bảo đảm đó có giá trị pháp lý đối với người thứ ba, kể từ thời điểm đăng ký", ở khoản 1 Điều 297 BLDS 2015 đã khắc phục, bổ sung thêm trường hợp phát sinh hiệu lực đối kháng với người thứ ba phát sinh từ thời điểm bên nhận bảo đảm nắm giữ hoặc chiếm giữ tài sản bảo đảm.

- BLDS 2015 xác định đối tượng của hoạt động đăng ký là "Biện pháp bảo đảm" còn BLDS 2005 xác định đối tượng của hoạt động đăng ký là "Giao dịch bảo đảm".

- BLDS 2015 đã tiếp cận gần hơn với thiết chế "quyền" chứ không phải đăng ký hình thức ghi nhận và thể hiện thỏa thuận của các bên trong quan hệ bảo đảm thực hiện nghĩa vụ.

Chính vì vậy, pháp luật về đăng ký giao dịch bảo đảm hiện hành cũng chỉ ghi nhận: "Đăng ký giao dịch bảo đảm là việc cơ quan đăng ký giao dịch bảo đảm ghi vào Sổ đăng ký giao dịch bảo đảm hoặc nhập vào Cơ sở dữ liệu về giao dịch bảo đảm việc bên bảo đảm dùng tài sản để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự đối với bên nhận bảo đảm.", chứ không phải đăng ký toàn bộ nội dung của giao dịch bảo đảm, bao gồm cả các nội dung khác ngoài biện pháp bảo đảm. Việc BLDS 2015 quy định đăng ký đối với biện pháp bảo đảm, chứ không phải đăng ký đối với giao dịch bảo đảm (hình thức thỏa thuận của các bên về biện pháp bảo đảm) như BLDS 2005 là phù hợp và tiệm cận gần hơn với vai trò, địa vị pháp lý của thiết chế đăng ký trong nền kinh tế thị trường, đó chính là thiết chế đăng ký quyền, công bố quyền và công khai quyền.


2.2. Hợp đồng thế chấp số 1013.2009/HĐTC ngày 07/9/2009 có thuộc trường hợp phải đăng ký không? Vì sao?

Hợp đồng thế chấp số 1013.2009/HĐTC ngày 07/9/2009 thuộc trường hợp phải đăng ký vì đây là hợp đồng thế chấp có liên quan đến quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất.

Căn cứ tại điểm a, b, c khoản 1 Điều 4 Thông tư số 07/2019/TT-BTP quy định:

"1. Các trường hợp đăng ký thế chấp quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất gồm:

A) Đăng ký thế chấp quyền sử dụng đất;

B) Đăng ký thế chấp tài sản gắn liền với đất;

C) Đăng ký thế chấp quyền sử dụng đất đồng thời với tài sản gắn liền với đất;"


2.3. Hợp đồng thế chấp số 07/9/2009 đã được đăng ký phù hợp với quy định không? Đoạn nào của Bản án cho câu trả lời?

Hợp đồng thế chấp số 07/9/2009 đã được đăng ký phù hợp với quy định.

Đoạn của bản án cho câu trả lời là:
"Xem xét việc thế chấp này HĐXX thấy: Đối với hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất của bên thứ ba ngày 07/9/2009. Sau khi các bên ký kết hợp đồng thì công chứng viên thực hiện việc công chứng theo trình tự: Lập lời chứng của công chứng viên ghi nhận rõ các bên tham gia ký kết hợp đồng thế chấp gồm: Bên thế chấp, bên nhận thế chấp và bên vay ghi nhận rõ việc bên thế chấp và bên vay ký tên và Hợp đồng trước mặt công chứng viên tại địa chỉ số 60V, phường T, quận H, Hà Nội. Sau đó công chứng viên đóng dấu và trả hồ sơ cho phía Ngân hàng. Công chứng viên, ông Khúc Mạnh C khẳng định khi ký kết hợp đồng, ông Q và bà V đã xuất trình đầy đủ chứng minh thư nhân dân, hộ khẩu và Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất. Bên ngân hàng đã có Giấy đề nghị Công chứng và Biên bản định giá tài sản, hợp đồng thế chấp đều ghi ngày 07/9/2009 được ký và đóng dấu bởi người có thẩm quyền của Ngân hàng. Ngoài ra Biên bản định giá có đầy đủ chữ ký của bên thế chấp là vợ chồng ông Q và bà V; bên khách hàng vay là Công ty V do ông Nguyễn Tử D làm đại diện ký tên và đóng dấu Văn phòng công chức đã thực hiện đúng pháp luật công chứng, nội dung văn bản công chứng không trái với quy định của pháp luật, không vi phạm Điều 122 Bộ luật dân sự năm 2005 nên không thể tự vô hiệu".



2.4. Theo Tòa án, nếu không được đăng ký, hợp đồng thế chấp số 07/9/2009 có vô hiệu không? Vì sao?

Theo Tòa án, nếu không được đăng ký, hợp đồng thế chấp số 07/9/2009 không vô hiệu vì:

Sau khi ký kết hợp đồng thì công chứng viên đã thực hiện việc công chứng theo đúng trình tự, các bên có đủ các giấy tờ liên quan và nội dung của bản công chứng không trái với quy định của pháp luật.


2.5. Hướng của Tòa án như trong câu hỏi trên có thuyết phục không? Vì sao?

Hướng giải quyết trong câu hỏi trên về việc cho rằng khi tài sản thế chấp không được đăng ký sẽ không làm vô hiệu hợp đồng thế chấp là không thuyết phục.

Thứ nhất, về mặt pháp lý: Tại khoản 2 Điều 323 Bộ luật Dân sự 2005 có quy định như sau: "Việc đăng ký là điều kiện để giao dịch bảo đảm có hiệu lực chỉ trong trường hợp pháp luật có quy định".

Như vậy, có thể hiểu rằng, đối với các biện pháp bảo đảm không được pháp luật quy định bắt buộc phải đăng ký, thì khi không đăng ký bảo đảm sẽ không làm hợp đồng thế chấp bị vô hiệu. Tuy nhiên, đối với các biện pháp mà luật quy định phải đăng tại NĐ 163/2006/NĐ-CP về giao dịch bảo đảm thì việc đăng ký sẽ trở thành một trong các điều kiện để hợp đồng thế chấp có hiệu lực.

Thứ hai, xét hợp đồng thế chấp trong trường hợp trên, tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất. Trong đó, có quyền sử dụng đất thuộc một trong các biện pháp bảo đảm bắt buộc đăng ký. Mặc dù tài sản thế chấp trên đã được đăng ký biện pháp bảo đảm, hợp đồng đã phát sinh hiệu lực, nhưng Tòa nhận định rằng việc đăng ký chỉ làm phát sinh quyền ưu tiên xử lý tài sản thế chấp thôi là không đúng với quy định của pháp luật.

Giả sử, nếu như tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất không được đăng ký thì theo quy định của pháp luật hợp đồng thế chấp trên sẽ bị vô hiệu một phần. Khi công ty V không thực hiện thanh toán nợ cho Ngân hàng N, việc xử lý tài sản thế chấp để giải quyết nghĩa vụ thanh toán sẽ gặp khó khăn khi tài sản xử lý là nhà đất lại gắn liền với quyền sử dụng đất. Trong khi đó, Bộ luật Dân sự 2005 thời điểm hiện tại chưa quy định hướng xử lý.

Do đó, cũng có thể hiểu được phần nào việc Tòa cho rằng cơ sở trên không làm hợp đồng thế chấp vô hiệu. Tuy nhiên, đối chiếu với quy định của pháp luật thì việc tòa nhận định như vậy là không thuyết phục.
 
2 ❤︎ Bài viết: 17 Tìm chủ đề
VẤN ĐỀ 3: ĐẶT CỌC

* Tóm tắt Án lệ số 25/2018/AL; Quyết định số 49/2018/KDTM-GĐT ngày 18/10/2018 của Tòa án nhân dân cấp cao tại TP. Hồ Chí Minh

- Chủ thể:

+ Nguyên đơn: Công ty Cổ phần TV-TM-DV Địa ốc Hoàng Quân

+ Bị đơn: Công ty TNHH Thương mại và Xây dựng Sơn Long Thuận

+ Người có qu yền và nghĩa vụ liên quan: Ngân hàng Thương mại cổ phần Đầu tư và phát triển Việt Nam và tổng công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn Nhà nước (SCIC).

- Tranh chấp về: Giao dịch tiền đặt cọc.

- Lí do tranh chấp: Ngày 20/02/2008, Công ty Cổ phần du lịch Ninh Thuận ký kết biên bản bán cổ phiếu thuộc sở hữu của SCIC cho công ty Cổ phần TV-TM-DV Địa ốc Hoàng Quân. Công ty Cổ phần TV-TM-DV Địa ốc Hoàng Quân đã chuyển 1 tỷ đồng tiền đặt cọc mua cổ phiếu và công ty Cổ phần du lịch Ninh Thuận tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Đầu tư và phát triển Việt Nam – chi nhánh tỉnh Ninh Thuận. Ngân hàng đã trích tài khoản này để thu nợ vay của công ty Cổ phần du lịch Ninh Thuận. Thỏa thuận mua bán không thành. Công ty Cổ phần du lịch Ninh Thuận đổi thành Công ty TNHH du lịch Ninh Thuận và sát nhập vào Công ty TNHH Thương mại và Xây dựng Sơn Long Thuận. Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu Công ty TNHH Thương mại và Xây dựng Sơn Long Thuận hoặc Ngân hàng hoàn trả 1 tỷ đồng, không yêu cầu lãi suất.

- Hướng giải quyết của Tòa án:

+ Tòa án sơ thẩm và phúc thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện và buộc Ngân hàng phải trả 1 tỷ đồng.

+ Quyết định của Tòa giám đốc thẩm: Giữ nguyên bản án sơ thẩm và phúc thẩm.


* Tóm tắt bản án số 26/2019/DS-PT ngày 11/6/2019 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh.

- Chủ thể:

+ Nguyên đơn: Ông Vũ Đình P (Người đại diện theo ủy quyền: Bà Nguyễn Thị Kim A)

+ Bị đơn: Ông Trần Xuân I (Người đại diện theo ủy quyền: Bà Nguyễn Thúy L)

- Tranh chấp về vấn đề: Tranh chấp hợp đồng đặt cọc.

- Lý do: Ông P nhờ ông I mua xe ô tô nhập khẩu từ Mỹ về Việt Nam, và ký văn bản thỏa thuận đặt cọc tiền mua xe với số tiền 450.000.000 đồng. Thời hạn giao xe là trước tết dương lịch 2017 nhưng ông I không giao xe đúng hạn. Hai bên lại ký hợp đồng gia hạn bàn giao xe nhưng ông I cũng vẫn không giao xe đúng hạn. Ông P làm đơn khởi kiện yêu cầu ông I phải trả tiền cọc là phạt cọc.

- Hướng giải quyết toàn án: Hợp đồng đặt cọc mua bán xe ô tô nhập khẩu giữa ông P và ông I vô hiệu. Vì vi phạm các quy định của pháp luật về mua bán nhập khẩu xe ô tô. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Vũ Đình P, về việc yêu cầu ông Trần Xuân I phải trả số tiền phạt cọc là 450.000.000đ.


3.1. Thay đổi giữa BLDS 2015 và BLDS 2005 về đặt cọc.

Theo khoản 1 Điều 358 BLDS 2005 thỏa thuận đặt cọc phải được lập thành văn bản. Thỏa thuận đặt cọc có thể được thể hiện bằng một văn bản riêng nhưng cũng có thể được thể hiện bằng một điều khoản trong hợp đồng chính thức. Đối với đặt cọc nhằm giao kết hợp đồng thì việc đặt cọc phải được thể hiện bằng văn bản riêng vì tại thời điểm giao kết thỏa thuận đặt cọc thì hợp đồng chưa được hình thành. Bên cạnh đó, pháp luật cũng không quy định thỏa thuận đặt cọc bắt buộc phải công chứng, chứng thực mà tùy vào sự thỏa thuận của các bên. Như vậy, nếu hai bên chủ thể thỏa thuận đặt cọc vào thời điểm Bộ luật dân sự năm 2005 điều chỉnh thì thỏa thuận phải được lập thành văn bản, đối với thỏa thuận bằng miệng thì sẽ không có giá trị pháp lý. Còn tại thời điểm Bộ luật dân sự năm 2015 điều chỉnh thì thỏa thuận đặt cọc có thể xác lập bằng bất cứ hình thức nào.

3.2. Theo BLDS, khi nào bên đặt cọc mất cọc, bên nhận cọc bị phạt cọc?

CSPL: Khoản 2 Đ328 BLDS 2015.

Bên đặt cọc mất cọc trong trường hợp
"bên đặt cọc từ chối việc giao kết, thực hiện hợp đồng thì tài sản đặt cọc thuộc về bên nhận đặt cọc".

Bên nhận cọc bị phạt cọc trong trường hợp "bên nhận từ chối việc giao kết, thực hiện hợp đồng thì phải trả cho bên đặt cọc tài sản đặt cọc và một khoản tiền tương đương giá trị tài sản đặt cọc".

3.3. Nếu hợp đồng được đặt cọc không được giao kết, thực hiện vì lý do khách quan, bên nhận cọc có nghĩa vụ trả lại tài sản đặt cọc cho bên đặt cọc không? Vì sao?

Theo quy định tại Khoản 2 điều 328 BLDS năm 2015 thì trong trường hợp hợp đồng được giao kết, thực hiện thì tài sản đặt cọc được trả lại cho bên đặt cọc hoặc được trừ để thực hiện nghĩa vụ trả tiền; nếu bên đặt cọc từ chối việc giao kết, thực hiện hợp đồng thì tài sản đặt cọc thuộc về bên nhận đặt cọc; nếu bên nhận đặt cọc từ chối việc giao kết, thực hiện hợp đồng thì phải trả cho bên đặt cọc tài sản đặt cọc và một khoản tiền tương đương giá trị tài sản đặt cọc, trừ trường hợp có thỏa thuận khác. Về nguyên tắc, cá nhân, pháp nhân phải tự chịu trách nhiệm về việc không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ dân sự. Tuy nhiên, nếu bên đặt cọc hoặc bên nhận đặt cọc vi phạm nghĩa vụ do sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan thì bên vi phạm có phải phạt cọc không, thì quy định tại Điều 328 BLDS năm 2015 thì không đề cập đến. Vì vậy, Nghị định số 01/2003 của Hội đồng thẩm phán và Án lệ số 25/2018/AL ra đời là sự bổ sung khiếm khuyết cho pháp luật khi không quy định về trường hợp không phải chịu phạt cọc vì lý do khách quan. Do đó nếu hợp đồng được đặt cọc không được giao kết, thực hiện vì lý do khách quan, bên nhận cọc không bị phạt cọc. Trong trường hợp này bên nhận cọc phải có nghĩa vụ hoàn trả lại tài sản cho bên đặt cọc.

* Đối với Quyết định số 49

3.4. Theo Quyết định được bình luận, bên đặt cọc đã chuyển tài sản đặt cọc cho bên nhận cọc như thế nào?

Trong nhận định của Tòa án: Ngày 20/02/2008, giữa Công ty Cổ phần du lịch Ninh Thuận (gọi tắt là Công ty Ninh Thuận) và công ty Cổ phần TV-TM-DV Địa ốc Hoàng Quân (gọi tắt là công ty Hoàng Quân) ký Biên bản thỏa thuận về việc Công ty Ninh Thuận bán cho Công ty Hoàng Quân cổ phần thuộc sở hữu của Tổng công ty đầu tư và kinh doanh vốn Nhà nước (gọi tắt là SCIC) tại Công ty Ninh Thuận 39.192 cổ phiếu, mệnh giá 100.000 đồng/cổ phiếu, tổng giá trị 3.919.200.000 đồng. Công ty Hoàng Quân đặt cọc trước 1.000.000.000 đồng.

Ngày 22/02/2008, công ty Hoàng Quân đã chuyển số tiền đặt cọc vào tài khoản của Công ty Ninh Thuận mở tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và phát triển Việt Nam – Chi nhánh tỉnh Ninh Thuận theo ủy nhiệm chi ngày 22/02/2008.


3.5. Theo Tòa giám đốc thẩm trong Quyết định được bình luận, tài sản đặt cọc còn thuộc sở hữu của bên đặt cọc không? Vì sao?

Theo Tòa giám đốc thẩm trong Quyết định được bình luận, tài sản đặt cọc còn thuộc sở hữu của bên đặt cọc. Vì số tiền 1.000.000.000 đồng đặt cọc chưa thuộc quyền sở hữu của Công ty Ninh Thuận, theo quy định tại Khoản 1 Điều 328 BLDS 2015 "Đặt cọc là việc một bên giao cho bên kia một khoản tiền.. trong một thời hạn để bảo đảm giao kết hoặc thực hiện hợp đồng."

3.6. Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết trên của Tòa giám đốc thẩm liên quan đến quyền sở hữu tài sản đặt cọc.

Hướng giải quyết của Tòa giám đốc thẩm liên quan đến quyền sở hữu tài sản đặt cọc là hợp lý. Công ty Hoàng Quân chuyển 1 tỷ đồng vào tài khoản công ty Ninh Thuận mở tại Ngân hàng. Ngân hàng đã trích tài khoản để cấu trừ công nợ quá hạn và lãi suất. Số tiền 1 tỷ đồng đặt cọc còn chưa thuộc quyền sở hữu của công ty Ninh Thuận theo quy định tại Khoản 1 Điều 328 BLDS 2015 tức là tài sản vẫn thuộc sở hữu của bên đặt cọc. Việc ngâng hàng trích số tiền đặt cọc để thu nợ vay là không có căn cứ pháp luật. Mặt khác, quá trình mua bán giữa Công ty TNHH Thương mại và Xây dựng Sơn Long Thuận với công ty Ninh Thuận, quá trình mua bán nợ giữa Công ty Ninh Thuận không có văn bản nào bàn giao số tiền cọc 1 tỷ đồng mua bán cổ phần từ công ty Hoàng Quân. Do đó yêu cầu Ngân hàng phải hoàn trả 1 tỷ đồng cho công ty Hoàng Quân là đúng quy định pháp luật.

* Đối với Bản án số 26

3.7. Đoạn nào cho thấy Tòa án đã áp dụng Án lệ số 25/2018/AL?

Trích trong đoạn nhân định của tòa án:

"Mặt khác, thực tế ông I cũng đã từng nhờ em gái mua được ô tô nhập khẩu từ Mỹ về Việt Nam để sử dụng (có thể dưới dạng quà tặng, quà biếu), nên ông mới đồng ý mua hộ ông P; nhưng hoàn toàn phụ thuộc vào chính sách quản lý của Nhà nước ở từng thời điểm và hoàn toàn phụ thuộc vào người thân bên Mỹ và Đại lý nhập khẩu; Vì ông I không có xe ô tô để bán và cũng không có đủ điều kiện nhập khẩu xe để bán cho ông P; ông P biết rõ điều này và không có tài liệu, chứng cứ gì chứng minh rằng ông I có khả năng bán xe ô tô cho ông P, nhưng cố tình từ chối thực hiện. Do đó, việc ông I không thực hiện được thỏa thuận là do yếu tố khách quan".

"Căn cứ theo Án lệ số 25/2018/AL được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua ngày 17 tháng 10 năm 2018 và được công bố theo Quyết định số 269/QĐ-CA ngày 06 tháng 11 năm 2018 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao:" Trường hợp bên nhận đặt cọc không thể thực hiện đúng cam kết là do yếu tố khách quan và bên nhận đặt cọc không phải chịu phạt cọc ".


3.8. Việc Tòa án áp dụng Án lệ số 25/2018/AL vào hoàn cảnh trong vụ việc này có thuyết phục không? Vì sao?

Theo nhóm thì áp dụng án lệ số 25/2018/AL vào hoàn cảnh này là không phù hợp.

Vì: Mua bán xe ô tô nhập khẩu là ngành nghề kinh doanh có điều kiện và chỉ có doanh nghiệp mới được đăng ký kinh doanh ngành nghề này theo nghị định 116/2017/CP có hiệu lực ngày 17/10/2017. Nhưng giao dịch đặt cọc mua xe nhập khẩu giữa ông P và ông I thỏa thuận từ tháng 8/2016 ông I đã thừa nhận nhận tiền cọc, nhưng tháng 11/2017 hai bên ký thỏa thuận gia hạn thời hạn giao xe đến 1/2018 (ông I vì tin tưởng không đọc biên bản mà ký luôn là lỗi của ông I). Về nguyên tắc thì hành vi xảy ra ở thời điểm nào thì áp dụng văn bản ở thời điểm đó. Trong trường hợp này thì giao dịch dân sự kéo dài từ năm 2016 đến năm 2018 và có hình thức phù hợp với LDS2015 nên căn cứ điểm B Khoản 1 Đ688 LDS2015 và nghị định 116/2017/CP. Vậy nên hợp đồng đặt cọc mua bán xe ô tô nhập khẩu là vô hiệu. Hậu quả pháp lý là hai bên hoàn trả cho nhau những gì đã nhận ông P đã nhận lại tiền từ ông I. Nên không cần áp dụng án lệ số 25/2018/AL vì hợp đồng đặt cọc này vô hiệu.


3.9. Việc Tòa án" không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông P, về việc yêu cầu ông I phải trả số tiền phạt cọc là 450.000.000đ"có phù hợp với Án lệ số 25/2018/AL không? Vì sao?

Nếu không tính đến việc án lệ hợp đồng có vô hiệu. Giả sử hợp đồng có hiệu lực và xét theo án lệ 25/2018/AL thì theo nhóm nó là phù hợp. Vì vụ việc tương tự, có tình tiết, sự kiện pháp lý giống nhau phải được giải quyết như nhau. Trường hợp này giống nhau đều là không thực hiện thỏa thuận đúng thời hạn do nguyên nhân khách quan và không phải lỗi do người nhận đặt cọc.
 
2 ❤︎ Bài viết: 17 Tìm chủ đề
VẤN ĐỀ 4: BẢO LÃNH

* Tóm tắt Quyết định số 02/2013/KDTM-GĐT ngày 08/1/2013 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.

- Chủ thể:

+ Nguyên đơn là Quỹ tín dụng nhân dân Trung ương-chi nhánh Đồng Nai.

+ Bị đơn là bà Đỗ Thị Tỉnh-chủ doanh nghiệp tư nhân Đại Lộc Tân.

- Tranh chấp về hợp đồng tín dụng.

- Lý do tranh chấp: 26/9/2006 Quỹ tín dụng nhân dân Trung ương-chi nhánh Đồng Nai ký hợp đồng tín dụng cho doanh nghiệp tư nhân Đại Lộc Tân với số tiền 900 triệu đồng cùng các điều khoản. Tài sản đảm bảo quyền cho vay là quyền sử dụng đất thế chấp cho doanh nghiệp Đại Lộc Tân của hai vợ chồng ông Miễn và bà Cà. Sau đó phát sinh tranh chấp.

- Hướng giải quyết của tòa án: Tuyên chủ Doanh nghiệp tư nhân Đại Lộc phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi đối với nợ gốc, kể từ sau ngày tuyên bản án sơ thẩm cho đến khi thanh toán hết nợ theo mức lãi suất mà hai bên thỏa thuận tại hợp đồng tín dụng.

* Tóm tắt Quyết định số 968/2011/DS-GĐT ngày 27/12/2011 của Tòa dân sự Tòa án nhân dân tối cao.

- Chủ thể:

+ Nguyên đơn: Bà Vũ Thị Hồng Nhung.

+ Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Thắng.

+ Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị Mát, ông Nguyễn Văn Tam

- Lý do tranh chấp: Bà Nhung cho bà Mát mượn tiền với sự bảo lãnh của bà Thắng. Do bà Mát không trả cả tiền gốc lẫn lãi nên bà Nhung khởi kiện yêu cầu bà Mát và bà Thắng phải có trách nhiệm trả tiền cho bà.

-, Quyết định của Tòa án:

+ Tòa sơ thẩm: Chấp nhận đơn khởi kiện của bà Nhung, bà Thắng phải thực hiện nghĩa vụ thay cho bà Mát, ông Tam để trả tiền cho bà Nhung cả gốc và lãi.

+ Tòa phúc thẩm: Giữ nguyên bản án sơ thẩm.

+ Tòa án giám đốc thẩm: Hủy bản án sơ thẩm và phúc thẩm, giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai xét sử sơ thẩm lại theo quy định của pháp luật.


4.1. Những đặc trưng của bảo lãnh.

- Bảo lãnh là việc người thứ ba (bên bảo lãnh) cam kết với bên có quyền (bên nhận bảo lãnh) sẽ thực hiện nghĩa vụ thay cho bên có nghĩa vụ (bên được bảo lãnh), nếu khi đến thời hạn thực hiện nghĩa vụ mà bên được bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ. (Khoản 1 Điều 335 BLDS 2015)

- Phạm vi bảo lãnh: Bên bảo lãnh có thể cam kết bảo lãnh một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ cho bên được bảo lãnh, nếu không có thỏa thuận gì khác thì người bảo lãnh phải bảo lãnh cả tiền lãi trên nợ gốc trong phạm vi bảo lãnh đồng thời phải bảo lãnh cả tiền phạt cũng như tiền bồi thường thiệt hại. (Điều 336 BLDS 2015)

- Chế định bảo lãnh làm phát sinh hai mối quan hệ:

+ Quan hệ giữa bên bảo lãnh và bên được bảo lãnh (Điều 337 BLDS 2015)

+ Quan hệ giữa bên bảo lãnh và bên nhận bảo lãnh (Điều 339 BLDS 2015).


- Nghĩa vụ giữa những người cùng bảo lãnh với bên nhận bảo lãnh là nghĩa vụ liên đới, trừ khi có thỏa thuận khác (Điều 338 BLDS 2015).

4.2. Những thay đổi giữa BLDS 2015 và BLDS 2005 về bảo lãnh.

* BLDS 2015

Thứ nhất, về hình thức bảo lãnh. BLDS 2015 không quy định về hình thức bảo lãnh.

Thứ hai, Phạm vi bảo lãnh: BLDS 2015 có mở rộng thêm nghĩa vụ bảo lãnh gồm cả
"lãi trên số tiền chậm trả" so với quy định chỉ có "tiền lãi trên nợ gốc, tiền phạt, tiền bồi thường thiệt hại, trừ trường hợp có thỏa thuận khác" ở BLDS 2005. Mặt khác, tại Khoản 3 Điều 336 BLDS 2015 cũng quy định thêm việc các bên có thể thỏa thuận sử dụng biện pháp bảo đảm bằng tài sản để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh. Khoản 4 Điều 336 BLDS 2015 cũng quy định trường hợp nghĩa vụ được bảo lãnh là nghĩa vụ phát sinh trong tương lai thì phạm vi bảo lãnh không bao gồm nghĩa vụ phát sinh sau khi người bảo lãnh chết hoặc pháp nhân bảo lãnh chấm dứt tồn tại.

Thứ ba, về quyền yêu cầu của bên bảo lãnh. Điều 340 BLDS 2015 quy định rằng, trừ trường hợp có thỏa thuận khác, bên bảo lãnh có quyền yêu cầu bên được bảo lãnh thực hiện nghĩa vụ đối với mình trong phạm vi nghĩa vụ bảo lãnh đã thực hiện, tại Điều 341 nhà làm luật đã có một tư duy rất mới khi quy định rằng, trừ trường hợp có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định khác, nếu bên nhận bảo lãnh đã miễn việc thực hiện nghĩa vụ cho bên bảo lãnh thì bên được bảo lãnh cũng không còn phải thực hiện nghĩa vụ đối với bên nhận bảo lãnh nữa

Thứ tư, về trách nhiệm dân sự của bên bảo lãnh. Tại Điều 342 BLDS 2015 có quy định:


"1. Trường hợp bên được bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ thì bên bảo lãnh phải thực hiện nghĩa vụ đó.

2. Trường hợp bên bảo lãnh không thực hiện đúng nghĩa vụ bảo lãnh thì bên nhận bảo lãnh có quyền yêu cầu bên bảo lãnh thanh toán giá trị nghĩa vụ vi phạm và bồi thường thiệt hại".


Thứ năm, về việc hủy bỏ việc bảo lãnh không có điều khoản quy định việc này. Việc BLDS 2015 không quy định trường hợp, cũng như điều kiện hủy bỏ việc bảo lãnh là để quy định ràng buộc trách nhiệm, nghĩa vụ của bên bảo lãnh đối với nghĩa vụ bảo lãnh, tuy nhiên việc bảo lãnh có thể được hủy bỏ nếu bên nhận bảo lãnh đồng ý, điề này thể hiện sự tôn trọng thỏa thuận của các bên.

* BLDS 2005

Thứ nhất hình thức bảo lãnh: Điều 362 BLDS 2005 quy định bắt buộc việc bảo lãnh phải được lập thành văn bản, có thể lập thành văn bản riêng hoặc ghi trong hợp đồng chính. Trong trường hợp pháp luật có quy định thì văn bản bảo lãnh phải được công chứng hoặc chứng thực.

Thứ hai, quyền yêu cầu của bên bảo lãnh quy định bên bảo lãnh chỉ được yêu cầu bên được bảo lãnh thực hiện nghĩa vụ đối với mình trong phạm vi bảo lãnh, khi bên bảo lãnh đã hoàn thành nghĩa vụ tại Điều 367 BLDS 2005

Thứ ba, về việc miễn thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh. Điều 368 BLDS 2005 quy định rằng, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác, thì mặc dù bên nhận bảo lãnh đã miễn việc thực hiện nghĩa vụ cho bên bảo lãnh, nhưng bên được bảo lãnh vẫn phải thực hiện nghĩa vụ đó

Cụ thể, BLDS 2005, tại Điều 369 có nói đến việc bên bảo lãnh phải đưa tài sản của thuộc sở hữu của mình để thanh toán cho bên nhận bảo lãnh khi đã đến hạn thực hiện nghĩa vụ thay cho bên được bảo lãnh mà bên bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ.

Thứ tư, về việc hủy bỏ việc bảo lãnh tại Điều 370 có quy định: Việc bảo lãnh có thể được hủy bỏ nếu được bên nhận bảo lãnh đồng ý, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.


*Đối với Quyết định số 02

4.3. Đoạn nào cho thấy Tòa án xác định quan hệ giữa ông Miễn, bà Cà với Quỹ tín dụng là quan hệ bảo lãnh?


Trong trường hợp xác định Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất của người thứ 3 số 01534 ngày 21/9/2006 giữa các bên có hiệu lực thì phải tuân theo đúng quy định tại khoản 1 điều 5 và khoản 1 điều 7 của Hợp đồng thế chấp, Điều 361 của bộ luật dân sự là khi chủ doanh nghiệp tư nhân Đại Lộc Tân không trả nợ hoặc trả không đủ thì ông Miễn và bà Cà phải trả thay, nếu ông Miễn, bà Cà không trả nợ hoặc trả không đủ thì mới xử lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ.

4.4. Suy nghĩ của anh/chị về việc xác định trên của Hội đồng thẩm phán.

Việc xác định hội đồng thẩm phán hợp lí quy định pháp luật ông Miễn bà Cà lấy tài sản để bảo đảm cho khoản vay chủ doanh nghiệp tư nhân Đại Lộc Tân hợp đồng chấp quyền sử dụng đất người thứ ba số 01534 ngày 22-9-2006 Quỹ tín dụng (bên nhận chấp) với ông Miễn bà Cà (bên chấp) bà Tỉnh - chủ doanh nghiệp tư nhân Đại Lộc Tân (bên vay vốn) Hợp đồng chấp chứng thực đăng kí giao dịch bảo đảm Nên doanh nghiệp tư nhân không trả trả không đủ ông Miễn, bà Cà trả thay ông Miễn bà Cà không trả trả không đủ xử lí chấp để thu hồi nợ.

4.5. Theo Tòa án, quyền sử dụng đất của ông Miễn, bà Cà được sử dụng để bảo đảm cho nghĩa vụ nào? Vì sao?

Theo Tòa án, quyền sử dụng đất ông Miễn, bà Cà sử dụng để đảm bảo cho nghĩa vụ trả nợ Chủ doanh nghiệp tư nhân Đại Lộc Tân bà Đỗ Thị Tỉnh - Vì ngày 26/9/2006, Quỹ tín dụng nhân dân Trung ương - Chi nhánh Đồng Nai ký Hợp đồng tín dụng số TC066/02/HĐTD cho Doanh nghiệp tư nhân Đại Lộc Tân vay 900.000.000 đồng Tài sản bảo đảm cho khoản vay quyền sử dụng 20.408 m2 đất vợ chồng ông Miễn bà Cà đem chấp cho Quỹ tín dụng để đảm bảo nghĩa vụ trả nợ cho Chủ Doanh nghiệp tư nhân Đại Lộc Tân Như vợ chồng ông Miễn bà Cà đứng bảo lãnh cho bà Tỉnh Vì ông Miễn bà Cà phải có trách nhiệm nghĩa vụ.

* Đối với Quyết định số 968

4.6. Đoạn nào cho thấy Tòa án địa phương đã theo hướng người bảo lãnh và người được bảo lãnh liên đới thực hiện nghĩa vụ cho người có quyền?

Đoạn cho thấy Tòa án địa phương đã theo hướng người bảo lãnh và người được bảo lãnh liên đới thực hiện nghĩa vụ cho người có quyền là:

"Tại bản án dân sự sơ thẩm số 376/2009/DS-ST ngày 28/09/2009, Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai quyết định:

Chấp nhận đơn khởi kiện của bà Vũ Thị Hồng Nhung, ông Nguyễn Văn Tam trả cho bà Vũ Thị Hồng Nhung số tiền 607.106.000 đồng (trong đó, nợ gốc 500.000.000 đồng, lãi suất 107.106.000)".

"Tại Bản án dân sự phúc thẩm số 24/2010/DS-PT ngày 29/01/2010, TAND tỉnh Đồng Nai quyết định:

Bác kháng cáo của nguyên đơn bà Vũ Thị Hồng Nhung và bị đơn bà Nguyễn Thị Thắng. Giữ nguyên bản án sơ thẩm".


4.7. Hướng liên đới trên có được Tòa giám đốc thẩm chấp nhận không?

Hướng liên đới trên không được Tòa giám đốc thẩm chấp nhận.

Đoạn cho thấy:
"Tòa án các cấp chưa thu thập, xác định rõ khả năng thực hiện nghĩa vụ dân sự của bà Mát, nhưng Tòa án cấp sơ thẩm (Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom) đã buộc bà Thắng cùng liên đới thực hiện nghĩa vụ dân sự cùng bà Mát là chưa chính xác. Tòa án cấp phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm hướng dẫn đương sự lựa chọn có thể khởi kiện bà Mát hoặc bà Thắng là không đúng quy định của pháp luật".

4.8. Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết trên của Tòa giám đốc thẩm liên quan đến vấn đề liên đới nêu trên?

Hướng giải quyết trên của Tòa giám đốc thẩm là hợp lý, vì cần phải xác định rõ khả năng thực hiện nghĩa vụ dân sự của bà Mát. Căn cứ Điều 335 BLDS 2015, có quy định:

"1. Bảo lãnh là việc người thứ ba (sau đây gọi là bên bảo lãnh) cam kết với bên có quyền (sau đây gọi là bên nhận bảo lãnh) sẽ thực hiện nghĩa vụ thay cho bên có nghĩa vụ (sau đây gọi là bên được bảo lãnh), nếu khi đến thời hạn thực hiện nghĩa vụ mà bên được bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ.

2. Các bên có thể thỏa thuận về việc bên bảo lãnh chỉ phải thực hiện nghĩa vụ thay cho bên được bảo lãnh trong trường hợp bên được bảo lãnh không có khả năng thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh".


Như vậy, bà Thắng chỉ có nghĩa vụ trả nợ thay cho bà Mát nếu bà Mát không có khả năng thực hiện nghĩa vụ dân sự hoặc chỉ thực hiện được một phần nghĩa vụ. Tòa án giám đốc thẩm hủy hai bản án dân sự phúc thẩm và sơ thẩm để đảm bảo quyền và lợi ích của bên bảo lãnh (bà Thắng) và bên nhận bảo lãnh (bà Nhung). Quyết định hủy bản án của Tòa án giám đốc thẩm là có căn cứ. Do các bên không có thỏa thuận khác về việc bảo lãnh của bà Thắng.

4.9. Phân biệt thời điểm phát sinh nghĩa vụ bảo lãnh và thời điểm thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh?

Thời điểm phát sinh nghĩa vụ bảo lãnh là khi người thứ ba cam kết với bên có quyền sẽ thực hiện nghĩa vụ thay cho bên có nghĩa vụ nếu khi đến thời hạn thực hiện nghĩa vụ mà bên được bảo lãnh không thực hiện hoặc thựchiện không đúng nghĩa vụ.

Thời điểm thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh là thời điểm bên có quyền yêu cầu bên có nghĩa vụ thực hiện nghĩa vụ, hoặc bên có nghĩa vụ hết thời hạn mà không thực hiện nghĩa vụ của mình với bên có quyền.


4.10. Theo BLDS, khi nào người bảo lãnh phải thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh?

Thời điểm thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh:

Khi đến hạn bên có nghĩa vụ thực hiện nhưng không thực hiện thì người có nghĩa vụ bảo lãnh phải thực hiện thay (khoản 1 Điều 335 BLDS 2015).

Khi đến hạn bên có nghĩa vụ thực hiện nhưng thực hiện chưa đủ (hoàn thành nghĩa vụ) hay thực hiện không đúng nghĩa vụ thì bên có nghĩa vụ bảo lãnh phải thực hiện thay, nhưng phải chứng minh thêm bên có nghĩa vụ thực hiện thực sự không có khả năng thực hiện.


4.11. Theo Quyết định, khi nào người bảo lãnh phải thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh?

Theo Quyết định thì người bảo lãnh phải thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh khi bên được bảo lãnh không có khả năng thực hiện nghĩa vụ dân sự hoặc chỉ có thể thực hiện được một phần, thì phần không thực hiện được bên bảo lãnh mới phải có trách nhiệm thực hiện thay theo quy định tại Điều 361, 363 và 365 BLDS 2005 (Điều 335, 336 và 338 BLDS 2015).

Cụ thể trong Quyết định có nêu: "Như vậy, căn cứ vào các tài liệu nêu trên có cơ sở xác định bà Mát là người vay tiền của bà Nhung còn bà Thắng và ông Ân (Nhơn) chỉ là người bảo lãnh cho bà Mát nên trước hết cần xác định bà Mát phải là người thực hiện nghĩa vụ dân sự của mình đối với bà Nhung; nếu bà Mát không có khả năng thực hiện nghĩa vụ dân sự hoặc chỉ có thể thực hiện được một phần, thì phần không thực hiện được bà Thắng và ông Ân mới phải có trách nhiệm thực hiện thay theo quy định tại Điều 361, 363, và Điều 365 Bộ luật dân sự".


4.12. Có bản án, quyết định nào theo hướng giải quyết trên về thời điểm thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh chưa? Nêu rõ bản án, quyết định mà anh/chị biết.

Quyết định số 968/2011 DS-GDT ngày 27-12-2011 về Tranh chấp hợp đồng bảo lãnh, Tòa án theo hướng cần phải xác định người có nghĩa vụ phải thực hiện nghĩa vụ của mình, Tại nếu người đó không có khả năng thanh toán hoặc chỉ được một phần mới tính đến trách nhiệm của người bảo lãnh. Trên thực tế đã có quyết định theo hướng giải quyết trên.

Trong quyết định số 376/2011/DS-GĐT ngày 20/05/2011 của Tòa án nhân dân tối cao, anh Sơn là chồng chị Phượng, vay tiền và việc vay này được cho là có bảo lãnh của ông Be, Tòa dân sự cũng theo hướng sử dụng thời điểm bên có nghĩa vụ không có khả năng thực hiện nghĩa vụ.

Bản án phúc thẩm số 1067/2013/KDTM - PT của TAND TP. HCM, HĐXX nhận định: Tại phiên tòa chữ ký của ông cũng được xác nhận, do đó ông phải có trách nhiệm với chứng thư bảo lãnh. Mặt khác, tại Điều 2 Chứng thư bảo lãnh có thỏa thuận: "Trong trường hợp bên vay không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ thì ông JTS phải có trách nhiệm trả nợ thay". Do đó, Tòa án phúc thẩm tuyên ông JTS phải có trách nhiệm trả nợ thay trong trường hợp Công ty ANY không trả được nợ.

Trong Quyết định số 01/2010/DS-GĐT ngày 06-01-2010 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao:

Chị Nguyễn Thị Bích Thảo đã vay của ông Lê Văn Sang 60 triệu đồng và đã giao Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà đối với nhà số 50/3 đường Xuân An, phường 3, thành phố Đà Lạt do ông Nguyên Văn Lộc và bà Trần Thị Phục (bố, mẹ chị Thảo) đứng tên cho ông Sang để làm tin. Các bên lập hợp đồng thế chấp căn nhà trên (trị giá 100 triệu đồng) để đảm bảo nghĩa vụ trả nợ cho chị Thảo, hợp đồng có công chứng hợp pháp vào ngày 09/11/1996, các có mặt và không phản đối. Sau đó, chị Thảo không thực hiện không thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho ông Sang. Bên cho vay đã khởi kiện yêu cầu buộc bà Phục, ông Lộc (với tư cách bị đơn) thanh toán khoản nợ. Tuy nhiên, trong vụ án này, chị Thảo là người vay tiền của ông Sang, còn ông Lộc, bà Phục là những người dùng tài sản của mình để bảo đảm cho khoản vay của chị Thảo. Do vậy, ông Sang phải khởi kiện yêu cầu chị Thảo trả nợ, nếu chị Thảo không trả được nợ gốc và lãi thì ông Lộc, bà Phục có trách nhiệm trả thay; nếu ông Lộc, bà Phục không trả được thì bà Tý có quyền yêu cầu cơ quan Nhà nước có thẩm quyền bán đấu giá tài sản bảo lãnh để thu hồi nợ.

4.13. Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết trên của Tòa giám đốc thẩm.

Hướng giải quyết trên của Tòa giám đốc thẩm là phù hợp với quy định của pháp luật. Bởi lẽ, việc lập giấy biên nhận có sự bảo lãnh của ông Ân và bà Thắng đã ngầm hàm chứa nội dung là sẽ thực hiện thay cho bên có nghĩa vụ, như là một căn cứ cho rằng hai ông bà sẽ có trách nhiệm hoàn trả cho bà Nhung thay cho bà Mát trong trường hợp bà Mát không thực hiện được nghĩa vụ thanh toán của mình.

Nghĩa vụ bảo lãnh sinh ra từ cam kết của người thứ ba nhưng đây là nghĩa vụ mà việc thực hiện "có điều kiện". Bởi lẽ, BLDS đã quy định người bảo lãnh sẽ thực hiện thay nếu người được bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đủ và nội dung này cho thấy nghĩa vụ bảo lãnh sinh ra từ cam kết của người bảo lãnh nhưng chưa chắc sẽ phải thực hiện và việc thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh còn phụ thuộc vào nghĩa vụ được bảo lãnh có được thực hiện đầy đủ hay không.

=> Hướng giải quyết trên thỏa đáng cho người bảo lãnh và người được bảo lãnh. Vì khi giải quyết vụ án ta phải xem xét thực kỹ khả năng thực hiện nghĩa vụ của người được bảo lãnh để trách việc trốn tránh thực hiện nghĩa vụ của mình và đẩy trách nhiệm đó cho người bảo lãnh. Việc làm này giúp bảo quyền quyền và lợi ích hợp pháp cho người bảo lãnh.
 

Những người đang xem chủ đề này

Xu hướng nội dung

Back