125,676 ❤︎ Bài viết: 11535 Tìm chủ đề
Tiểu luận môn học

Đường lối cách mạng Đảng Cộng sản Việt Nam

Đề tài

Vai trò của Nguyễn Ái Quốc đối với sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU

1. Lí do chọn đề tài

2. Mục đích và nhiệm vụ của tiểu luận.

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của tiểu luận.

4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu.

5. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của tiểu luận.

6. Kết cấu của tiểu luận.

CHƯƠNG 1: BỐI CẢNH LỊCH SỬ VIỆT NAM DƯỚI CHÍNH SÁCH THỐNG TRỊ, KHAI THÁC THUỘC ĐỊA CỦA THỰC DÂN PHÁP VÀ CÁC PHONG TRÀO YÊU NƯỚC VIỆT NAM TỪ CUỐI THẾ KỶ XIX ĐẾN ĐẦU THẾ KỶ XX

1.1 Bối cảnh lịch sử

1.2. Các phong trào yêu nước Việt Nam cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX

CHƯƠNG 2: SỰ LỰA CHỌN CON ĐƯỜNG CÁCH MẠNG VÔ SẢN, CHUẨN BỊ VỀ CHÍNH TRỊ, TƯ TƯỞNG VÀ TỔ CHỨC CHO VIỆC THÀNH LẬP ĐẢNG CỘNG SẢN Ở VIỆT NAM CỦA NGUYỄN ÁI QUỐC

2.1. Lựa chọn con đường cách mạng vô sản của Nguyễn Ái Quốc (1911-1920)

2.2. Chuẩn bị về tư tưởng, chính trị và tổ chức cho việc thành lập Đảng Cộng sản ở Việt Nam (1921 - 1929)

2.3. Phát triển phong trào yêu nước Việt Nam theo khuynh hướng vô sản

CHƯƠNG 3: CHỦ ĐỘNG TRIỆU TẬP, CHỦ TRÌ HỘI NGHỊ THÀNH LẬP ĐẢNG VÀ SOẠN THẢO CƯƠNG LĨNH CHÍNH TRỊ ĐẦU TIÊN

3.1. Hội nghị thành lập Đảng và nội dung Cương lĩnh chính trị đầu tiên

3.2. Giá trị thực tiễn của sự kiện Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời và Cương lĩnh chính trị đầu tiên

KẾT LUẬN

Nếu các bạn có đóng góp hoặc bình luận về bài tiểu luận, hãy vào link này để thảo luận nhé [Thảo Luận - Góp Ý] Các Tác Phẩm Của Mạnh Thăng

P. S: Vui lòng không reup bài tiểu luận dưới mọi hình thức
 
125,676 ❤︎ Bài viết: 11535 Tìm chủ đề
PHẦN MỞ ĐẦU

Lý do chọn đề tài

Ngày 19/5 hàng năm đã trở thành một ngày đặc biệt thiêng liêng, trọng đại đối với dân tộc Việt Nam và bạn bè quốc tế. Bởi vì, đó là kỷ niệm ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh - Người giành cả cuộc đời cho độc lập, tự do của Tổ quốc và ấm no, hạnh phúc cho Nhân dân. Đảng ta, dân tộc ta mãi ghi sâu công ơn trời biển của Người. Tên Người - Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh gắn liền với Đảng Cộng sản Việt Nam.

Sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam là sản phẩm của sự kết hợp chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh với phong trào công nhân và phong trào yêu nước của Nhân dân Việt Nam. Ngay từ khi ra đời, Đảng đã có Cương lĩnh chính trị xác định đúng đắn con đường cách mạng là giải phóng dân tộc theo phương hướng cách mạng vô sản, chính là cơ sở để Đảng Cộng sản Việt Nam vừa ra đời đã nắm được ngọn cờ lãnh đạo phong trào cách mạng Việt Nam, mở ra con đường và phương hướng phát triển mới cho đất nước Việt Nam suốt 90 năm qua.

90 năm qua, Đảng ta đã từng bước thực hiện thắng lợi sứ mệnh lịch sử của mình. 15 năm sau khi thành lập, Đảng đã lãnh đạo cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, đánh đuổi đế quốc, thực dân, lật đổ chế độ phong kiến, lập ra nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam Á; mở ra một kỷ nguyên mới trong lịch sử dân tộc Việt Nam - kỷ nguyên độc lập, tự do và chủ nghĩa xã hội.

Sau khi giành được độc lập dân tộc, Đảng lãnh đạo nhân dân đương đầu với cuộc chiến tranh xâm lược trở lại của thực dân Pháp. Với đường lối kháng chiến toàn dân, toàn diện, trường kỳ, tự lực cánh sinh, Đảng đã đưa cuộc kháng chiến dần đi đến thắng lợi, làm nên trận Điện Biên Phủ "lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu", tạo điều kiện cho cuộc đấu tranh ngoại giao giành thắng lợi. Thắng lợi của chiến thắng Điện Biên Phủ và Hiệp định Giơ-ne-vơ về Đông Dương 1954 báo hiệu cuộc kháng chiến chống Pháp kết thúc thắng lợi.

Sau khi Pháp thất bại, đế quốc Mỹ tiến hành xâm lược miền Nam với âm mưu chia cắt lâu dài nước Việt Nam, biến miền Nam thành một quốc gia độc lập thân Mỹ. Thời kỳ 1954-1975, Đảng vừa lãnh đạo xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, vừa lãnh đạo cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân hai miền đã giành được thắng lợi to lớn, tạo ra nhiều chuyển biến quan trọng.

Sau khi hai miền Nam – Bắc thống nhất, Đảng lãnh đạo nhân dân thống nhất đất nước về mặt nhà nước và đề ra chủ trương đối nội và đối ngoại của đất nước. Trên cơ sở chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng từng bước bổ sung, chỉnh sửa đường lối đổi mới đất nước. Dưới đường lối đúng đắn đó, Đảng Cộng sản Việt Nam đưa đất nước đạt được nhiều thắng lợi to lớn. Về đối nội, từ chỗ khủng hoảng đưa đất nước thoát khỏi khủng hoảng (1996), vươn lên nước phát triển khá và tăng trưởng liên tục, lạm phát, phi mã được đẩy lùi. Từ chỗ thiếu ăn, thiếu mặc, Việt Nam đã tự túc được lương thực. Từ chỗ là nước nhập khẩu lương thực, Việt Nam đã trở thành nước xuất khẩu lương thực lớn trên thế giới. Từ chỗ có hai thành phần kinh tế, nền kinh tế đã chuyển sang nền kinh tế nhiều thành phần. Đời sống nhân dân được đảm bảo và ngày càng củng cố. Khối đại đoàn kết dân tộc được tăng cường và phát huy cao độ. Quốc phòng được bảo vệ vững chắc và chuyển dần tư duy phòng thủ theo tuyến sang phòng thủ theo khu vực. Về đối ngoại, Việt Nam đã từng bước tái thiết lập quan hệ ngoại giao với nhiều nước trong khu vực và trên thế giới. Với phương châm ngoại giao độc lập, tự chủ, đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ quốc tế, Đảng đã lãnh đạo đất nước thực hiện hiệu quả ngoại giao đa phương và ngoại giao song phương, ngoại giao Nhà nước, ngoại giao Đảng và ngoại giao nhân dân, ngoại giao trên nhiều lĩnh vực kinh tế, văn hóa.. đưa uy tín Việt Nam tăng cao trên trường quốc tế. Từ chỗ là quốc gia đàm phán hòa bình, Việt Nam trở thành quốc gia giữ gìn hòa bình và an ninh thế giới.


Bên cạnh những thành tựu và kết quả đạt được, chúng ta cũng bộc lộ nhiều hạn chế, yếu kém. Mặc dù Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị đã ra nhiều nghị quyết, chỉ thị về tăng cường xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, song công tác xây dựng Đảng chưa có nhiều chuyển biến cơ bản trong tình hình mới. Chưa có những giải pháp hiệu quả để ngăn chăn, đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong một bộ phận cán bộ, đảng viên; tình trạng tham nhũng, lãng phí, quan liệu, tiêu cực xã hội còn diễn ra nghiêm trọng. Công tác tư tưởng- lý luận, công tác tổ chức- cán bộ, công tác kiểm tra, giám sát, công tác dân vận còn nhiều bất cập. Phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân chậm đổi mới. Năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của nhiều tổ chức đảng còn thấp, quản lý đảng viên chưa chặt chẽ; chế độ trách nhiệm không rõ ràng, nhất là của người đứng đầu.

Những hạn chế trên làm cho Đảng chưa thật sự trong sạch, vững mạnh, chưa ngang tầm nhiệm vụ, làm ảnh hưởng đến lòng tin của cán bộ, đảng viên, nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa.

Hiện nay, các thế lực thù địch đang tập trung chống phá Đảng Cộng sản Việt Nam với nhiều âm mưu, thủ đoạn tinh vi, thâm độc nhằm hạ thấp uy tín, vai trò của Đảng trước nhân dân, tiến tới xóa bỏ sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản đối với cách mạng Việt Nam. Chúng thực hiện chống phá nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam, đánh vào thế giới quan, cơ sở khoa học đường lối chính trị của Đảng; phủ nhận những thành tựu to lớn mà chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh đã đem lại cho dân tộc Việt Nam. Chúng rêu rao rằng chủ nghĩa Mác - Lênin đã lỗi thời, lạc hậu, chủ nghĩa xã hội khoa học không còn sức sống, đã diệt vong.

Ðể khắc phục những hạn chế của mình, đồng thời làm thất bại mọi âm mưu chống phá của các thế lực thù địch, thực hiện thắng lợi công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, hơn lúc nào hết Ðảng cần và phải nâng cao năng lực lãnh đạo của mình. Cần khẳng định rằng, Ðảng Cộng sản Việt Nam duy nhất cầm quyền, lãnh đạo hệ thống chính trị là nguyên tắc không thể thay đổi. Hơn nữa, 90 năm qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, đất nước ta đã đạt được rất nhiều những thành công to lớn. Đúng như Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tổng Phú Trọng đã khẳng định "Chưa bao giờ chúng ta có được cơ đồ, vị thế, tiềm lực và uy tín quốc tế như ngày nay".

Chứng kiến sự phát triển của đất nước, chúng ta lại càng thấy được vai trò to lớn của Đảng, tầm quan trọng của sự kiện Đảng ra đời và công lao to lớn của của Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh trong vai trò thành lập và lãnh đạo Đảng qua từng thời kỳ. Đặc biệt, những bài học về vận dụng lý luận vào thực tiễn; bài học về tính chủ động, bản lĩnh độc lập, tự chủ; bài học về sự trung thành với những nguyên lý của chủ nghĩa Mác - Lê nin.. của Người đến ngày nay vẫn còn giữ nguyên giá trị.

Từ khi ra đời đến nay, Đảng Cộng sản đóng góp một phần rất quan trọng cũng như có ý nghĩa to lớn trong lịch sử giải phóng dân tộc. Những thành công có được ngày hôm nay là kết quả khởi phát từ quan điểm, đường lối chiến lược đúng đắn của Đảng ta về công cuộc đổi mới đất nước. Đồng thời, trong giai đoạn hiện nay, đường lối chiến lược của Đảng ta lại được phát triển, hoàn thiện kịp thời để giải quyết những nhiệm vụ mới, theo đúng như tư tưởng của Nguyễn Ái Quốc, luôn luôn đề cao tinh thần học tập "độc lập, tự chủ, sáng tạo". Nhận thấy được điều này, nhóm 4 đã chọn nghiên cứu, tìm hiểu đề tài "Vai trò của Nguyễn Ái Quốc đối với sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam" để kết thúc môn học Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam này.

Nhiệm vụ của đề tài

Sau khi đã nghiên cứu đề tài, nhóm 4 đã đặt ra 5 nhiệm vụ để giải quyết như sau:

Một là, làm rõ tình hình thế giới, đặc điểm kinh tế, xã hội Việt Nam dưới chính sách thống trị, khai thác thuộc địa của thực dân Pháp và kết quả của các phong trào yêu nước Việt Nam cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX.

Hai là, làm rõ quá trình lựa chọn con đường cách mạng vô sản và sự chuẩn bị của Nguyễn Ái Quốc về chính trị-tư tưởng và tổ chức cho việc thành lập Đảng Cộng sản ở Việt Nam;

Ba là, làm rõ sự phát triển của phong trào công nhân Việt Nam từ khi tiếp thu lý luận về cách mạng giải phóng dân tộc của Nguyễn Ái Quốc qua thực tiễn hoạt động của Hội Việt Nam cách mạng Thanh niên và sự ra đời của các tổ chức cộng sản ở Việt Nam vào cuối năm 1929;

Bốn là, làm rõ sự chủ động của Nguyễn Ái Quốc trong việc triệu tập, chủ trì Hội nghị thành lập Đảng và soạn thảo Cương lĩnh chính trị đầu tiên;

Năm là, làm rõ giá trị sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam và Cương lĩnh chính trị đầu tiên đối với sự phát triển của cách mạng Việt Nam từ năm 1930 đến nay.
 
125,676 ❤︎ Bài viết: 11535 Tìm chủ đề
PHẦN NỘI DUNG

Chương 1

BỐI CẢNH LỊCH SỬ VIỆT NAM DƯỚI CHÍNH SÁCH THỐNG TRỊ, KHAI THÁC THUỘC ĐỊA CỦA THỰC DÂN PHÁP VÀ CÁC PHONG TRÀO YÊU NƯỚC VIỆT NAM TỪ CUỐI THẾ KỶ XIX ĐẾN ĐẦU THẾ KỶ XX

1.1. Bối cảnh lịch sử

1.1. 1. Bối cảnh lịch sử thế giới và những tác động đến Việt Nam


Từ cuối thế kỷ XIX, chủ nghĩa tư bản chuyển từ giai đoạn tự do cạnh tranh sang chủ nghĩa đế quốc. Nền kinh tế hàng hóa phát triển mạnh, đặt ra yêu cầu bức thiết về thị trường của các nước phương Tây. Những yêu cầu này là nguyên nhân sâu xa dẫn đến những cuộc chiến tranh xâm lược các quốc gia phong kiến phương Đông nhằm biến các quốc gia này thành thị trường tiêu thụ sản phẩm hàng hóa, mua bán nguyên vật liệu, khai thác sức lao động và xuất khẩu tư bản. Đến năm 1914, các nước đế quốc Anh, Nga, Pháp, Đức, Mỹ, Nhật chiếm một khu vực thuộc địa rộng 65 triệu km2 với số dân 523, 4 triệu người, Riêng diện tích các thuộc địa của Pháp là 10, 6 triệu km2 với số dân 55, 5 triệu người.

Chủ nghĩa đế quốc xuất khẩu tư bản, đầu tư khai thác thuộc địa đem lại lợi nhuận tối đa cho tư bản chính quốc, trước hết là tư bản lũng đoạn; làm cho quan hệ xã hội của các nước thuộc địa biến đổi một cách căn bản. Các nước thuộc địa bị lôi cuốn vào con đường tư bản thực dân. Chủ nghĩa đế quốc đồng thời thực hiện chính sách: Bên trong tăng cường bóc lột nhân dân lao động, bên ngoài gia tăng các hoạt động xâm lược và áp bức nhân dân các dân tộc thuộc địa. Sự thống trị của chủ nghĩa đế quốc làm đời sống nhân dân lao động trên thế giới trở nên cùng cực đời sống nhân dân ở các nước thuộc địa vô cùng cực khổ, trong đó có nhân dân Việt Nam dưới xiềng xích của chế độ thực dân Pháp.

Ở nước ta, sau khi Triều đình nhà Nguyễn bạc nhược ký "hòa ước" đầu hàng, những năm cuối thế kỷ XIX, thực dân Pháp bắt tay vào khai thác thuộc địa lần thứ nhất. Xã hội Việt Nam bắt đầu có những biến chuyển và phân hóa sâu sắc. Sự xâm nhập của chủ nghĩa tư bản Pháp đã làm nảy sinh trong xã hội Việt Nam hai giai cấp mới: Giai cấp vô sản và giai cấp tư sản.

Chủ nghĩa ñế quốc vừa tranh giành xâu xé, vừa cấu kết với nhau để nô dịch các dân tộc nhỏ bé. Cùng với những mâu thuẫn cơ bản trong xã hội tư bản - mâu thuẫn giữa giai cấp vô sản và tư sản, chủ nghĩa đế quốc làm phát sinh mâu thuẫn mới - mâu thuẫn giữa các dân tộc thuộc địa với chủ nghĩa đế quốc thực dân. Với sự áp bức và thôn tính dân tộc của chủ nghĩa đế quốc càng tăng thì mâu thuẫn giữa dân tộc thuộc địa thực dân càng gay gắt, sự phản ứng dân tộc của nhân dân các thuộc địa càng quyết liệt. Phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc diễn ra mạnh mẽ ở các nước thuộc địa, và chính bản thân chủ nghĩa đế quốc xâm lược, thống trị các thuộc địa lại tạo cho các dân tộc bị chinh phục những phương tiện và phương pháp để tự giải phóng. Sự thức tỉnh về ý thức dân tộc và phong trào đấu tranh dân tộc để tự giải phóng khỏi ách thực dân, lập lại các quốc gia dân tộc độc lập trên thế giới chịu tác động sâu sắc của chính sách xâm lược, thống trị của chủ nghĩa đế quốc thực dân.

Đầu thế kỷ XX, trên phạm vi quốc tế, sự thức tỉnh của các dân tộc châu á cùng với phong trào dân chủ tư sản ở Đông Âu bắt đầu từ Cách mạng 1905 ở Nga đã tạo thành một cao trào thức tỉnh của các dân tộc phương Đông.

Năm 1917, Cách mạng Tháng Mười Nga thành công. Đối với nước Nga, đó là cuộc cách mạng vô sản, nhưng đối với các dân tộc thuộc địa trong đế quốc Nga thì đó còn là một cuộc cách mạng giải phóng dân tộc, bởi vì trước cách mạng "nước Nga là nhà tù của các dân tộc". Cuộc cách mạng vô sản ở nước Nga thành công, các dân tộc thuộc địa của đế quốc Nga được giải phóng và được hưởng quyền dân tộc tự quyết, kể cả quyền phân lập, hình thành nên các quốc gia độc lập và quyền liên hợp, dẫn đến sự ra đời của Liên bang Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Xôviết (1922). Cách mạng Tháng Mười đã nêu tấm gương sáng về sự giải phóng dân tộc bị áp bức đã"mở ra trước mắt họ thời đại cách mạng chống đế quốc, thời đại giải phóng dân tộc. Nó làm cho phong trào cách mạng vô sản ở các nước tư bản chủ nghĩa phương Tây và phong trào giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa phương Đông có quan hệ mật thiết với nhau trong cuộc đấu tranh chống kẻ thù chung là chủ nghĩa đế quốc.

Tháng 3-1919, Quốc tế Cộng sản được thành lập. Tại Đại hội II của Quốc tế Cộng sản (1920), Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa của V. I. Lênin được công bố. Luận cương nổi tiếng này đã chỉ ra phương hướng đấu tranh giải phóng các dân tộc bị áp bức. Với thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười Nga và sự ra đời của Quốc tế Cộng sản, nhiều đảng cộng sản trên thế giới đã được thành lập.
 
125,676 ❤︎ Bài viết: 11535 Tìm chủ đề
Chương 1

BỐI CẢNH LỊCH SỬ VIỆT NAM DƯỚI CHÍNH SÁCH THỐNG TRỊ, KHAI THÁC THUỘC ĐỊA CỦA THỰC DÂN PHÁP VÀ CÁC PHONG TRÀO YÊU NƯỚC VIỆT NAM TỪ CUỐI THẾ KỶ XIX ĐẾN ĐẦU THẾ KỶ XX

1.1. Bối cảnh lịch sử

1.1. 2. Bối cảnh lịch sử Việt Nam và nhiệm vụ của Việt Nam


Trong trào lưu xâm lược thuộc địa của chủ nghĩa tư bản phương Tây, năm 1858, thực dân Pháp nổ súng xâm lược Việt Nam. Sau khi đánh chiếm được nước ta, thực dân Pháp thiết lập bộ máy thống trị thực dân và tiến hành những cuộc khai thác nhằm cướp đoạt tài nguyên, bóc lột nhân công rẻ mạt và mở rộng thị trường tiêu thụ hàng hóa.

Từ năm 1897, thực dân Pháp tiến hành chính sách khai thác thuộc địa lần thứ nhất và sau Chiến tranh thế giới thứ nhất (1914-1918), chúng tiến hành chính sách khai thác thuộc địa lần thứ hai ở Đông Dương với số vốn đầu tư trên quy mô lớn, tốc độ nhanh. Chính sách "khai thác thuốc địa" thực chất là tăng cường bóc lột, vơ vét thuộc địa. Vì vậy, đời sống nhân dân lao động đã khó khăn, càng thêm khốn đốn. Hậu quả là Việt Nam từ một nước phong kiến độc lập trở thành nước thuộc địa nửa phong kiến.

Do sự du nhập của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, tình hình kinh tế Việt Nam có sự biến đổi: Quan hệ kinh tế nông thôn bị phá vỡ, hình thành nên những đô thị mới, những trung tâm kinh tế và tụ điểm cư dân mới. Nhưng thực dân Pháp không du nhập một cách hoàn chỉnh phương thức tư bản chủ nghĩa vào nước ta, mà vẫn duy trì quan hệ kinh tế phong kiến. Chúng kết hợp hai phương thức bóc lột tư bản và phong kiến để thu lợi nhuận siêu ngạch. Chính vì thế, nước Việt Nam không thể phát triển lên chủ nghĩa tư bản một cách bình thường được, nền kinh tế Việt Nam bị kìm hãm trong vòng lạc hậu và phụ thuộc nặng nề vào kinh tế Pháp.

+ Về chính trị: Thực dân Pháp tước bỏ quyền lực đối nội và đối ngoại của chính quyền phong kiến nhà Nguyễn, đó là một chính sách chuyên chế điển hình, chúng đàn áp đẫm máu các phong trào và hành động yêu nước của người Việt Nam, mọi quyền tự do bị cấm. Chia Việt Nam ra thành ba xứ: Bắc Kỳ, Trung Kỳ, Nam Kỳ, và thực hiện quản lý mỗi kỳ một chế độ riêng, nhập ba kỳ đó với nước Lào và nước Campuchia để lập ra liên bang Đông Dương thuộc Pháp, xóa tên nước ta trên bản đồ thế giới. Thực dân Pháp gây chia rẽ và thù hận giữa Bắc, Trung, Nam, giữa các tôn giáo, các dân tộc, các địa phương, thậm chí là giữa các dòng họ; giữa dân tộc Việt Nam với các dân tộc trên bán đảo Đông Dương.

+ Về kinh tế: Thực dân Pháp cấu kết với giai cấp địa chủ để thực hiện chính sách bóc lột tàn bạo, tiến hành cướp đoạt ruộng đất để lập đồn điền, đầu tư khai thác tài nguyên, xây dựng một số cở sở công nghiệp, xây dựng hệ thống đường giao thông, bến cảng để phục vụ chính sách khai thác thuộc địa. Đồng thời ra sức vơ vét tài nguyên, cùng nhiều hình thức thuế khóa nặng nề, vô lý Điều đó dẫn đến nền kinh tế nước ta bị lệ thuộc vào tư bản Pháp, bị kiềm hãm trong vòng lạc hậu.

+ Về văn hóa: Thực dân Pháp thực hiện chính sách dung túng, duy trì các hủ tục lạc hậu, gây tâm lý tự ti, vong bản, khuyến khích các hoạt động mê tín dị đoan, đồi phong bại tục. Mọi hoạt động yêu nước của nhân dân ta đều bị cấm đoán. Chúng tìm mọi cách bưng bít và ngăn chặn ảnh hưởng của nền văn hóa tiến bộ trên thế giới vào Việt Nam và thi hành chính sách ngu dân để dễ bề thống trị.
 
125,676 ❤︎ Bài viết: 11535 Tìm chủ đề
Chương 1

BỐI CẢNH LỊCH SỬ VIỆT NAM DƯỚI CHÍNH SÁCH THỐNG TRỊ, KHAI THÁC THUỘC ĐỊA CỦA THỰC DÂN PHÁP VÀ CÁC PHONG TRÀO YÊU NƯỚC VIỆT NAM TỪ CUỐI THẾ KỶ XIX ĐẾN ĐẦU THẾ KỶ XX

1.1. Bối cảnh lịch sử

1.1. 2. Bối cảnh lịch sử Việt Nam và nhiệm vụ của Việt Nam (tiếp)


-Tình hình giai cấp và mâu thuẫn cơ bản trong xã hội Việt Nam: Dưới tác động của chính sách cai trị và chính sách kinh tế, văn hóa, giáo dục thực dân, xã hội Việt Nam ra quá trình phân hóa sâu sắc.

+ Giai cấp địa chủ (giai cấp cũ) : Chủ nghĩa tư bản thực dân được đưa vào Việt Nam và trở thành yếu tố bao trùm, song vẫn không xóa bỏ mà vẫn bảo tồn và duy trì giai cấp địa chủ để làm cơ sở cho chế độ thuộc địa. Tuy nhiên, do chính sách kinh tế và chính trị phản động của thực dân Pháp, giai cấp địa chủ càng bị phân hóa thành ba bộ phận khá rõ rệt: Tiểu, trung và đại địa chủ. Có một số địa chủ bị phá sản. Vốn sinh ra và lớn lên trong một quốc gia dân tộc có truyền thống yêu nước chống ngoại xâm, lại bị chính sách thống trị tàn bạo về chính trị, chèn ép về kinh tế, nên một bộ phận không nhỏ tiểu và trung địa chủ không chịu nỗi nhục mất nước, có mâu thuẫn với đế quốc về quyền lợi dân tộc nên đã tham gia đấu tranh chống thực dân và bọn phản động tay sai dưới các hình thức và mức độ khác nhau.

+ Giai cấp nông dân: Là giai cấp cũ chiếm hơn 90%, giai cấp này phải chịu 2 tầng áp bức của thực dân và phong kiến. Họ bị đế quốc, phong kiến địa chủ và tư sản áp bức, bóc lột rất nặng nề. Ruộng đất của nông dân đã bị bọn tư bản thực dân chiếm đoạt. Chính sách độc quyền kinh tế, mua rẻ bán đắt, tô cao, thuế nặng, chế độ cho vay nặng lãi.. của đế quốc và phong kiến đã đẩy nông dân vào con đường bần cùng hóa không lối thoát. Một số ít bán sức lao động, làm thuê trong các nhà máy, hầm mỏ, đồn điền hoặc bị bắt đi làm phu tại các thuộc địa khác của đế quốc Pháp. Còn số đông vẫn phải gắn vào đồng ruộng và gánh chịu sự bóc lột vô cùng nặng nề ngay trên mảnh đất mà trước đây là sở hữu của chính họ.

Vì bị mất nước và mất ruộng đất nên nông dân có mâu thuẫn với đế quốc và phong kiến, đặc biệt sâu sắc nhất với đế quốc và bọn tay sai phản động. Họ vừa có yêu cầu độc lập dân tộc, lại vừa có yêu cầu ruộng đất, song yêu cầu về độc lập dân tộc là bức thiết nhất. Giai cấp nông dân có truyền thống đấu tranh kiên cường bất khuất là lực lượng to lớn nhất, một động lực cách mạng mạnh mẽ. Giai cấp nông dân khi được tổ chức lại và có sự lãnh đạo của một đội tiên phong cách mạng, sẽ phát huy vai trò cực kỳ quan trọng của mình trong sự nghiệp đấu tranh vì độc lập tự do của dân tộc Việt Nam.

+ Giai cấp tư sản: Là giai cấp mới, hình thành trong quá trình khai thác thuộc địa của thực dân Pháp. Trước Chiến tranh thế giới thứ nhất, tư sản Việt Nam mới chỉ là một tầng lớp nhỏ bé. Sau chiến tranh, tư sản Việt Nam đã hình thành giai cấp rõ rệt. Ra đời trong điều kiện bị tư bản Pháp chèn ép, cạnh tranh rất gay gắt, nên số lượng tư sản Việt Nam không nhiều, thế lực kinh tế nhỏ bé, thế lực chính trị yếu đuối.
 
125,676 ❤︎ Bài viết: 11535 Tìm chủ đề
Chương 1

BỐI CẢNH LỊCH SỬ VIỆT NAM DƯỚI CHÍNH SÁCH THỐNG TRỊ, KHAI THÁC THUỘC ĐỊA CỦA THỰC DÂN PHÁP VÀ CÁC PHONG TRÀO YÊU NƯỚC VIỆT NAM TỪ CUỐI THẾ KỶ XIX ĐẾN ĐẦU THẾ KỶ XX


1.1. Bối cảnh lịch sử

1.1. 2. Bối cảnh lịch sử Việt Nam và nhiệm vụ của Việt Nam (tiếp)

Trong quá trình phát triển, giai cấp tư sản Việt Nam phân thành hai bộ phận:

Tư sản mại bản là những tư sản lớn, hợp tác kinh doanh với đế quốc, bao thầu những công trình xây dựng của chúng ở nước ta. Nhiều tư sản mại bản có đồn điền lớn hoặc có nhiều ruộng đất cho phát canh, thu tô. Vì có quyền lợi kinh tế và chính trị gắn liền với đế quốc thực dân, nên tư sản mại bản là tầng lớp đối lập với dân tộc.

Tư sản dân tộc là bộ phận đông nhất trong giai cấp tư sản, bao gồm những tư sản loại vừa và nhỏ, thường hoạt động trong các ngành thương nghiệp, công nghiệp và cảtiểu thủ công nghiệp. Họ muốn phát triển chủ nghĩa tư bản của dân tộc Việt Nam, nhưng do chính sách độc quyền và chèn ép của tư bản Pháp nên không thể phát triển được. Xét về mặt quan hệ với đế quốc Pháp, tư sản dân tộc phải chịu số phận mất nước, có mâu thuẫn về quyền lợi với bọn đế quốc thực dân và phong kiến, nên họ có tinh thần chống đế quốc và phong kiến. Giai cấp tư sản dân tộc là một lực lượng cách mạng không thể thiếu trong phong trào cách mạng giải phóng dân tộc.

+ Giai cấp công dân: Là giai cấp mới, ra đời trong cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất, ra đời trước giai cấp tư sản Việt Nam. Là sản phẩm trực tiếp của chính sách khai thác thuộc địa của Pháp và nằm trong những mạch máu kinh tế quan trọng do chúng nắm giữ. Lớp công nhân đầu tiên xuất hiện vào cuối thế kỷ XIX, khi thực dân Pháp xây dựng một số cơ sở công nghiệp và thành phố phục vụ cho việc xâm lược và bình định của chúng ở nước ta. Trong cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất của đế quốc Pháp, giai cấp công nhân đã hình thành. Đến cuộc khai thác thuộc địa lần thứ hai, giai cấp công nhân đã phát triển nhanh chóng về số lượng, từ 10 vạn (năm 1914) tăng lên hơn 22 vạn (năm 1929), trong đó có hơn 53.000 công nhân mỏ (60% là công nhân mỏ than), và 81.200 công nhân đồn điền.

Giai cấp công nhân Việt Nam tuy còn non trẻ, số lượng chỉ chiếm khoảng 1% số dân, trình độ học vấn, kỹ thuật thấp, nhưng sống khá tập trung tại các thành phố, các trung tâm công nghiệp và các đồn điền.

Giai cấp công nhân Việt Nam có những đặc điểm chung của giai cấp công nhân quốc tế, đồng thời còn có những điểm riêng của mình như: Phải chịu ba tầng lớp áp bức bóc lột (đế quốc, phong kiến và tư sản bản xứ) ; phần lớn vừa mới từ nông dân bị bần cùng hóa mà ra, nên có mối quan hệ gần gũi nhiều mặt với nông dân. Giai cấp công nhân Việt Nam ra đời trước giai cấp tư sản dân tộc, nên nội bộ thuần nhất, không bị phân tán về lực lượng và sức mạnh. Sinh ra và lớn lên ở một đất nước có nhiều truyền thống văn hóa tốt đẹp, nhất là truyền thống yêu nước chống ngoại xâm, sớm tiếp thu được tinh hoa văn hóa tiên tiến trong trào lưu tư tưởng của thời đại cách mạng vô sản để bồi dưỡng bản chất cách mạng của mình.

Giai cấp công nhân Việt Nam là một lực lượng xã hội tiên tiến, đại diện cho phương thức sản xuất mới, tiến bộ, có ý thức tổ chức kỷ luật cao, có tinh thần cách mạng triệt để, lại mang bản chất quốc tế. Họ là một động lực cách mạng mạnh mẽ và khi liên minh được với giai cấp nông dân và tiểu tư sản sẽ trở thành cơ sở vững chắc cho khối đại đoàn kết dân tộc trong cuộc đấu tranh vì độc lập tự do. Khi được tổ chức lại và hình thành được một đảng tiên phong cách mạng được vũ trang bằng một học thuyết cách mạng triệt để là chủ nghĩa Mác - Lênin thì giai cấp công nhân trở thành người lãnh đạo cuộc đấu tranh vì độc lập tự do của dân tộc.

+ Tầng lớp tiểu tư sản: Bao gồm nhiều bộ phận khác nhau, học sinh, sinh viên, viên chức, tiểu thương, tiểu chủ, thợ thủ công, viên chức, trí thức, những người làm nghề tự do. Là tầng lớp mới, tiếp thu những trào lưu tư tưởng tiến bộ trên thế giới, nhạy bén với cái mới. Giữa những bộ phận đó có sự khác nhau về kinh tế và cách sinh hoạt, nhưng nhìn chung, địa vị kinh tế của họ rất bấp bênh, luôn luôn bị đe dọa phá sản, thất nghiệp. Họ có tinh thần yêu nước nồng nàn, lại bị đế quốc và phong kiến áp bức, bóc lột và khinh rẻ nên rất hăng hái cách mạng. Đặc biệt là tầng lớp trí thức là tầng lớp rất nhạy cảm với thời cuộc, dễ tiếp xúc với những tư tưởng tiến bộ và canh tân đất nước, tha thiết bảo vệ những giá trị tinh thần truyền thống của dân tộc. Khi phong trào quần chúng công nông đã thức tỉnh, họ bước vào trận chiến đấu giải phóng dân tộc ngày một đông đảo và đóng một vai trò quan trọng trong phong trào đấu tranh của quần chúng, nhất là ở đô thị. Giai cấp tiểu tư sản là một lực lượng cách mạng quan trọng trong cuộc đấu tranh vì độc lập tự do của dân tộc.

Các giai cấp, tầng lớp trong xã hội Việt Nam lúc này đều mang thân phận người dân mất nước và ở những mức độ khác nhau, đều bị thực dân áp bức, bóc lột. Vì vậy, trong xã hội Việt Nam, ngoài mâu thuẫn cơ bản giữa nhân dân, chủ yếu là nông dân với giai cấp địa chủ và phong kiến, đã nảy sinh mâu thuẫn vừa cơ bản vừa chủ yếu và ngày càng gay gắt trong đời sống dân tộc, đó là mâu thuẫn giữa toàn thể nhân dân Việt Nam với thực dân Pháp xâm lược. Tính chất của xã hội Việt Nam là xã hội thuộc địa nửa phong kiến đang đặt ra hai yêu cầu: Một là, phải đánh đuổi thực dân Pháp xâm lược, giành độc lập cho dân tộc, tự do cho nhân dân; Hai là, xóa bỏ chế độ phong kiến, giành quyền dân chủ cho nhân dân, chủ yếu là ruộng đất cho nông dân. Trong đó, chống đế quốc, giải phóng dân tộc là nhiệm vụ hàng đầu.
 
125,676 ❤︎ Bài viết: 11535 Tìm chủ đề
Chương 1

BỐI CẢNH LỊCH SỬ VIỆT NAM DƯỚI CHÍNH SÁCH THỐNG TRỊ, KHAI THÁC THUỘC ĐỊA CỦA THỰC DÂN PHÁP VÀ CÁC PHONG TRÀO YÊU NƯỚC VIỆT NAM TỪ CUỐI THẾ KỶ XIX ĐẾN ĐẦU THẾ KỶ XX


1.2. Các phong trào yêu nước Việt Nam cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX

1.2. 1. Phong trào yêu nước vào cuối thế kỷ XIX


Cuối thế kỷ XIX, mặc dù triều đình phong kiến nhà Nguyễn ký các Hiệp ước ácmăng (Harmand) năm 1883 và Patơnốt (Patenôtre) năm 1884, đầu hàng thực dân Pháp, song phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc theo khuynh hướng phong kiến và tư sản diễn ra mạnh mẽ. Những phong trào tiêu biểu diễn ra trong thời kỳ này:

+ Phong trào Cần Vương (1885 – 1896) : Đêm 4 rạng 5/7/1885, Tôn Thất Thuyết hạ lệnh cho quân triều đình tấn công Pháp ở tòa Khâm sứ và đồn Mang Cá. Sáng ngày 6/7/1885 quân Pháp phản công kinh thành Huế. Tôn Thất Thuyết đưa Hàm Nghi cùng triều đình rút khỏi kinh thành lên Sơn Phòng, Tân Sở (Quảng Trị). Ngày 13/7/1885 Tôn Thất Thuyết đã lấy danh nghĩa Hàm Nghi xuống chiếu Cần vương, kêu gọi nhân dân giúp vua cứu nước. Chiếu Cần vương đã thổi bùng ngọn lửa đấu tranh của nhân dân ta. Phong trào Cần vương bùng nổ và kéo dài suốt 12 năm cuối thế kỉ XIX.

Phong trào Cần vương bùng nổ và phát triển qua 2 giai đoạn:

Từ 1885 – 1888

Lãnh đạo là Hàm Nghi, Tôn Thất Thuyết, các văn thân, sĩ phu yêu nước. Lực lượng đông đảo nhân dân, có cả dân tộc thiểu số. Địa bàn hoạt động rộng lớn từ Bắc vào Nam, sôi nổi nhất là Trung Kì (từ Huế trở ra) và Bắc Kì. Các cuộc khởi nghĩa vũ trang bùng nổ tiêu biểu có khởi nghĩa Ba Đình, Hương Khê, Bãi Sậy. Cuối năm 1888 Hàm Nghi bị thực dân pháp bắt và bị lưu đày sang Angiêri.

Từ năm 1888 - 1896

Các sĩ phu, văn thân yêu nước tiếp tục lãnh đạo. Địa bàn bị thu hẹp, quy tụ thành trung tâm lớn. Trọng tâm chuyển lên vùng núi và trung du. Mặc dù sau đó Hàm Nghi bị bắt, nhưng phong trào Cần Vương vẫn phát triển, nhất là ở Bắc Kỳ và Bắc Trung Kỳ, tiêu biểu là các cuộc khởi nghĩa: Ba Đình của Phạm Bành và Đinh Công Tráng (1881-1887), Bãi Sậy của Nguyễn Thiện Thuật (1883-1892) và Hương Khê của Phan Đình Phùng (1885-1895). Năm 1896 phong trào thất bại.

Phong trào Cần Vương Là phong trào yêu nước chống thực dân Pháp theo khuynh hướng, ý thức hệ phong kiến, thể hiện tính dân tộc sâu sắc.

+ Cuộc khởi nghĩa Yên Thế (Bắc Giang) Khởi nghĩa Yên Thế là một cuộc đối đầu vũ trang giữa những người nông dân ly tán tại vùng Yên Thế Thượng và sau đó là Thái Nguyên, đứng đầu là Hoàng Hoa Thám, với quân Pháp, khi Pháp vừa kết thúc chiến tranh với Trung Quốc và bắt đầu kiểm soát toàn bộ vùng Bắc kỳ những năm cuối thế kỷ 19 trong lịch sử Việt Nam.

Giai đoạn 1884 – 1892 tại vùng Yên Thế (Bắc Giang) có hàng chục toán quân hoạt động riêng lẻ chống chính sách cướp bóc bình định của thực dân Pháp, thủ lĩnh uy tín nhất là Đề Nắm, nghĩa quân đã xây dựng 7 hệ thống phòng thủ ở Bắc Yên Thế.

Tháng 3/1892 Pháp tấn công, Đề Nắm bị sát hại.

Giai đoạn 1893 – 1897: Do Đề Thám lãnh đạo, giảng hòa với Pháp 2 lần nhưng bên trong vẫn ngấm ngầm chuẩn bị lực lượng làm chủ 4 tổng Bắc Giang.

Giai đoạn 1898 – 1908: Trong 10 năm hòa hoãn, căn cứ Yên Thế trở thành nơi hội tụ của những nghĩa sĩ yêu nước.

Trong quá trình tồn tại, phong trào đã kết hợp được yêu cầu độc lập với nguyện vọng của nhân dân.

Khởi nghĩa là phong trào đấu tranh lớn nhất của nông dân trong những năm cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX. Nói lên ý chí, sức mạnh bền bỉ, dẻo dai của nông dân.
 
125,676 ❤︎ Bài viết: 11535 Tìm chủ đề
Chương 1

BỐI CẢNH LỊCH SỬ VIỆT NAM DƯỚI CHÍNH SÁCH THỐNG TRỊ, KHAI THÁC THUỘC ĐỊA CỦA THỰC DÂN PHÁP VÀ CÁC PHONG TRÀO YÊU NƯỚC VIỆT NAM TỪ CUỐI THẾ KỶ XIX ĐẾN ĐẦU THẾ KỶ XX

1.2. Các phong trào yêu nước Việt Nam cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX


1.2. 2. Phong trào yêu nước đầu thế kỷ XX

- Bên cạnh các cuộc khởi nghĩa nêu trên, đầu thế kỉ XX, phong trào yêu nước dưới sự lãnh đạo của tầng lớp sĩ phu tiến bộ chịu ảnh hưởng của tư tưởng dân chủ tư sản diễn ra sôi nổi. Về mặt phương pháp, tầng lớp sĩ phu lãnh đạo phong trào giải phóng dân tộc đầu thế kỉ XX có sự phân hóa thành hai xu hướng. Một bộ phận chủ trương đánh đổi thực dân Pháp giành độc lập dân tộc, khôi phục chủ quyền quốc gia bằng biện pháp bạo động; một bộ phận khác lại coi cải cách là giải pháp để tiến tới khôi phục độc lập.

+ Đại diện của xu hướng bạo động là Phan Bội Châu (1867-1941) -quê Nghệ An với chủ trương dùng biện pháp bạo động để đánh đuổi thực dân Pháp khôi phục nền độc lập cho dân tộc.

Sự nghiệp cách mạng của Phan Bội Châu trải qua nhiều bước thăng trầm, đi từ lập trường quân chủ lập hiến đến lập trường dân chủ tư sản, nhưng đều bị thất bại. Vào nửa đầu của thế kỉ XX, Phan Bội Châu chịu ảnh hưởng của Cách mạng Tháng Mười Nga. Nguyễn Ái Quốc đánh giá "Phan Bội Châu là tiêu biểu cho chủ nghĩa quốc gia". Việc cụ dựa vào Nhật để đánh Pháp chẳng khác nào đuổi hổ cửa trước rước beo cửa sau ".

+ Đại diện cho khuynh hướng cải cách là Phan Châu Trinh, với chủ trương vận động cải cách văn hóa, xã hội; động viên lòng yêu nước cho nhân dân; đả kích bọn vua quan phong kiến thối nát, đề xướng tư tưởng dân chủ tư sản; thực hiện khai dân trí, chấn dân trí, hậu dân sinh, mở mang dân quyền; phản đối đấu tranh vũ trang cầu viện nước ngoài.

Hoạt động cách mạng của Phan Châu Trinh đã góp phần làm thức tỉnh lòng yêu nước của nhân dân Việt Nam. Tuy nhiên, về phương pháp," Cụ Phan Châu Trinh chỉ yêu cầu người Pháp thực hiện cải lương.. điều đó là sai lầm, chẳng khác gì đến xin giặc rủ lòng thương ".

+ Ngoài ra, trong thời kỳ này ở Việt nam còn nhiều phong trào đấu tranh khác như: Phong trào Đông Kinh nghĩa thục (1907) ; Phong trào" tẩy chay Khách trú"(1919) ; Phong trào chống độc quyền xuất nhập ở cảng Sài Gòn (1923) ; đấu tranh trong các hội đồng quản hạt, hội đồng thành phố.. đòi cải cách tự do dân chủ..

Tóm lại, trước yêu cầu lịch sử của xã hội Việt Nam, các phong trào đấu tranh chống Pháp diễn ra sôi nổi. Mục tiêu của các cuộc đấu tranh ở thời kỳ này đều hướng tới giành độc lập cho dân tộc, nhưng trên các lập trường giai cấp khác nhau nhằm khôi phục chế độ phong kiến, hoặc thiết lập chế độ quân chủ lập hiến, hoặc cao hơn là thiết lập chế độ cộng hòa tư sản. Các phong trào đấu tranh diễn ra với các phương thức và biện pháp khác nhau: Bạo động hoặc cải cách; với quan điểm tập hợp lực lượng bên ngoài khác nhau; dựa vào Pháp để thực hiện cái cách, hoặc dựa vào ngoại viện để đánh Pháp.. nhưng cuối cùng các cuộc đấu tranh đều thất bại.

Một số tổ chức chính trị theo lập trường quốc gia tư sản ra đời và đã thể hiện vai trò của mình trong cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc và dân chủ. Nhưng các phong trào và tổ chức trên, do những hạn chế về giai cấp, về đường lối chính trị, hệ thống tổ chức thiếu chặt chẽ; chưa tập hợp được rộng rãi lực lượng xã hội cơ bản (công nhân và nông dân), nên cuối cùng đã không thành công. Sự thất bại của các phòng trào yêu nước theo lập trường quốc gia tư sản ở Việt Nam đầu thế kỷ XX đã phản ánh địa vị kinh tế và chính trị yếu kém của giai cấp này trong tiến trình cách mạng dân tộc, phản ánh sự bất lực của họ trước những nhiệm vụ do lịch sử dân tộc Việt Nam đặt ra.

Mặc dù bị thất bại, nhưng sự phát triển mạnh mẽ của phong trào yêu nước cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX có ý nghĩa rất quan trọng. Nó là sự tiếp nối truyền thống yêu nước, kiên cường bất khuất vì độc lập tự do của dân tộc Việt Nam và chính sự phát triển của phong trào yêu nước đã tạo cơ sở xã hội thuận lợi cho việc tiếp nhận chủ nghĩa Mác - Lênin, quan điểm cách mạng Hồ Chí Minh. Phong trào yêu nước trở thành một trong ba nhân tố dẫn đến sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Sự thất bại của các phong trào yêu nước chống thực dân Pháp cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX đã chứng tỏ con đường cứu nước theo hệ tư tưởng phong kiến và hệ tư tưởng tư sản đã bế tắc. Cách mạng Việt Nam lâm vào tình trạng khủng hoảng sâu sắc về đường lối, về giai cấp lãnh đạo. Nhiệm vụ lịch sử đặt ra là phải tìm một con đường cách mạng mới, với một giai cấp có đủ tư cách đại biểu cho quyền lợi của dân tộc, của nhân dân có đủ uy tín và năng lực để lãnh đạo cuộc cách mạng dân tộc dân chủ đi đến thành công.
 
125,676 ❤︎ Bài viết: 11535 Tìm chủ đề
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1

Nước Việt Nam đã có những biến chuyển sâu sắc về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội. Việt Nam từ một xã hội phong kiến thuần tuý đã biến thành một xã hội thuộc địa. Mặc dù thực dân còn duy trì một phần tính chất phong kiến, song khi đã thành thuộc địa thì tất cả các mặt chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và giai cấp ở Việt Nam đều bị đặt trong quỹ đạo chuyển động của xã hội đó.

Trong lòng chế độ thuộc địa của thực dân Pháp ở Việt Nam đã hình thành những mâu thuẫn đan xen nhau, song mâu thuẫn cơ bản và chủ yếu là mâu thuẫn giữa dân tộc Việt Nam với thực dân Pháp và tay sai phản động. Sự thống trị, áp bức và bóc lột càng tăng thì mâu thuẫn đó càng sâu sắc, sự phản kháng và đấu tranh vì sự tồn vong của dân tộc càng phát triển mạnh mẽ, gay gắt về tính chất, đa dạng về nội dung và hình thức. Trái lại, sự xung đột, đấu tranh về quyền lợi riêng của mỗi giai cấp trong nội bộ dân tộc được giảm thiểu và không quyết liệt như cuộc đấu tranh dân tộc.

Các phong trào yêu nước của nhân dân ta chống thực dân Pháp diễn ra liên tục và sôi nổi nhưng đều không mang lại kết quả. Phong trào Cần Vương - phong trào yêu nước theo ý thức hệ phong kiến, do giai cấp phong kiến lãnh đạo đã chấm dứt ở cuối thế kỷ XIX với cuộc khởi nghĩa của Phan Đình Phùng (năm 1896). Sang đầu thế kỷ XX, khuynh hướng này không còn là khuynh hướng tiêu biểu nữa. Phong trào nông dân, tiêu biểu là cuộc khởi nghĩa Yên Thế của Hoàng Hoa Thám kéo dài mấy chục năm cũng thất bại vào năm 1913. Phong trào yêu nước theo khuynh hướng dân chủ tư sản do các cụ Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh lãnh đạo cũng rơi vào bế tắc. Cuộc khởi nghĩa Yên Bái do Nguyễn Thái Học lãnh đạo cũng bị thất bại. Các phong trào yêu nước từ cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX là sự tiếp nối truyền thống yêu nước, bất khuất của dân tộc ta được hun đúc qua hàng ngàn năm lịch sử. Nhưng do thiếu đường lối đúng đắn, thiếu tổ chức và lực lượng cần thiết nên các phong trào đó đã lần lượt thất bại. Cách mạng Việt Nam chìm trong cuộc khủng hoảng sâu sắc về đường lối cứu nước.
 
125,676 ❤︎ Bài viết: 11535 Tìm chủ đề
Chương 2

SỰ LỰA CHỌN CON ĐƯỜNG CÁCH MẠNG VÔ SẢN,

CHUẨN BỊ VỀ CHÍNH TRỊ, TƯ TƯỞNG VÀ TỔ CHỨC CHO VIỆC

THÀNH LẬP ĐẢNG CỘNG SẢN Ở VIỆT NAM CỦA NGUYỄN ÁI QUỐC

2.1. Lựa chọn con đường cách mạng vô sản của Nguyễn Ái Quốc (1911-1920)

2.1. 1. Những yếu tố tác động đến quyết định đi tìm đường cứu nước của Nguyễn Ái Quốc

2.1. 1.1. Phong trào yêu nước chống Pháp diễn ra sôi nổi nhưng đều thất bại

Từ những tháng đầu năm 1858 trở về trước, Việt Nam là một nước phong kiến độc lập có chủ quyền; đến ngày 1/9/1858, Pháp xâm lược Việt Nam, sau hiệp định Patơnốt (1884), Việt Nam trở thành nước thuộc địa của thực dân Pháp, lúc này Việt Nam mất chủ quyền. Thực dân Pháp câu kết với chế độ phong kiến cùng áp bức, bóc lột các tầng lớp nhân dân lao động, xã hội Việt Nam lúc này xuất hiện nhiều mâu thuẫn, xã hội đen tối, ngột ngạt; một câu hỏi lớn đặt ra cho các thế hệ người Việt Nam là bằng con đường nào để giành lại nền độc lập cho dân tộc? Sự xâm nhập của chủ nghĩa tư bản Pháp đã làm nảy sinh trong xã hội Việt Nam hai giai cấp mới: Giai cấp tư sản và giai cấp vô sản. Trong xã hội Việt Nam lúc này có hai mâu thuẫn cơ bản là mâu thuẫn giữa cả dân tộc Việt Nam với thực dân Pháp và giữa giai cấp nông dân với địa chủ, phong kiến. Dưới ách cai trị của thực dân phong kiến, nhân dân ta không cam chịu làm nô lệ, đã liên tục đấu tranh giành độc lập dân tộc, theo các khuynh hướng của nông dân, trí thức, tư sản. Cuộc vận động cải cách của Khang Hữu Vi, Lương Khải Siêu ở Trung Quốc cũng có ảnh hưởng lớn đến Việt Nam. Các phong trào yêu nước chống Pháp của nhân dân ta diễn ra đa dạng, sôi nổi: Phong trào có khuynh hướng dân chủ tư sản Đông Du, Đông kinh Nghĩa Thục, Duy Tân, Việt Nam Quang Phục Hội; phong trào chống sưu thuế của nông dân ở Trung kỳ; phong trào đánh Pháp như: Vụ đầu độc binh lính Pháp ở Hà Nội, cuộc khởi nghĩa của nghĩa quân Yên Thế..

Các phong trào yêu nước chống Pháp trên đều thất bại. Nguyên nhân sâu xa là do thiếu đường lối chính trị đúng đắn, khoa học, thiếu sự lãnh đạo của một giai cấp tiên tiến. Giai cấp phong kiến, có vai trò tiến bộ nhất định trong lịch sử đã trở thành giai cấp phản động, bán nước, tay sai cho đế quốc. Giai cấp tư sản mới ra đời, còn non yếu với lực lượng kinh tế phụ thuộc và khuynh hướng chính trị cải lương, không có khả năng lãnh đạo cuộc đấu tranh chống đế quốc và phong kiến để giành độc lập tự do. Giai cấp nông dân và tiểu tư sản khao khát độc lập, tự do, hăng hái chống đế quốc và phong kiến, nhưng không thể vạch ra con đường giải phóng đúng đắn và không thể đóng vai trò lãnh đạo cách mạng. Cách mạng Việt Nam đứng trước cuộc khủng hoảng trầm trọng về đường lối cứu nước.

Nguyễn Tất Thành rất khâm phục tinh thần yêu nước của các sĩ phu, văn thân, chí sĩ xả thân vì nước, nhưng Người không tán thành đường lối cứu nước của các bậc tiền bối. Tư tưởng yêu nước của Nguyễn Tất Thành tuy lúc đó chưa gặp chủ nghĩa xã hội, nhưng đã thể hiện tầm vóc vượt trước quan điểm cứu nước đương thời. Người cho rằng, chủ trương của cụ Phan Chu Trinh yêu cầu người Pháp thực hiện cải lương chẳng khác gì "đến xin giặc rủ lòng thương"; chủ trương của cụ Phan Bội Châu nhờ Nhật giúp đỡ để đuổi Pháp chẳng khác nào "đưa hổ cửa trước, rước beo cửa sau", chủ trương của cụ Hoàng Hoa Thám tuy thực tế hơn, nhưng không có hướng thoát rõ ràng, "còn mang nặng cốt cách phong kiến".

Thất bại của các cụ Hoàng Hoa Thám, Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh.. nói lên một sự thật lịch sử là: Không thể cứu nước trên lập trường phong kiến hay lập trường của giai cấp tư sản, tiểu tư sản. Các đường lối và phương pháp này đều không đáp ứng được yêu cầu giải phóng dân tộc trong điều kiện chủ nghĩa đế quốc đã trở thành hệ thống thế giới. Chủ nghĩa yêu nước truyền thống Việt Nam đang đòi hỏi được đổi mới, đó là một nhu cầu cấp thiết của dân tộc lúc bấy giờ.
 
125,676 ❤︎ Bài viết: 11535 Tìm chủ đề
Chương 2

SỰ LỰA CHỌN CON ĐƯỜNG CÁCH MẠNG VÔ SẢN,

CHUẨN BỊ VỀ CHÍNH TRỊ, TƯ TƯỞNG VÀ TỔ CHỨC CHO VIỆC

THÀNH LẬP ĐẢNG CỘNG SẢN Ở VIỆT NAM CỦA NGUYỄN ÁI QUỐC

2.1. Lựa chọn con đường cách mạng vô sản của Nguyễn Ái Quốc (1911-1920)

2.1. 1.2. Những chuyển biến của tình hình chính trị thế giới


Vào nửa cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, chủ nghĩa tư bản đã từ giai đoạn tự do cạnh tranh chuyển sang giai đoạn chủ nghĩa đế quốc và đã xác lập được sự thống trị trên phạm vi thế giới. Phần lớn các nước châu Á, châu Phi, châu Mỹ Latinh đã trở thành thuộc địa và phụ thuộc của chúng. Chủ nghĩa đế quốc vừa tranh giành xâu xé, vừa hùa với nhau để nô dịch các dân tộc nhỏ bé. Cùng với những mâu thuẫn cơ bản trong xã hội tư bản - mâu thuẫn giữa giai cấp vô sản và tư sản, chủ nghĩa đế quốc làm phát sinh mâu thuẫn mới - mâu thuẫn giữa các dân tộc thuộc địa với chủ nghĩa đế quốc thực dân. Đời sống nhân dân ở các nước thuộc địa và phụ thuộc vô cùng cực khổ, trong đó có nhân dân Việt Nam dưới xiềng xích của chế độ thực dân Pháp. Phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa và phụ thuộc bắt đầu phát triển và có xu hướng lan rộng.

Tuy nhỏ bé, lạc hậu, nhưng các nước này không cam chịu làm nô lệ cho thực dân, đế quốc mà quyết tâm đứng lên đấu tranh giành lại nền độc lập dân tộc, từ đó phong trào giải phóng dân tộc phát triển. Sự kiện này tác động mạnh mẽ đến tư tưởng, nhận thức của người thanh niên Việt Nam yêu nước Nguyễn Tất Thành, trong việc so sánh đối chiếu với dân tộc Việt Nam, dân tộc ta quyết không làm nô lệ cho thực dân Pháp, mà phải đấu tranh giành lại nền độc lập cho dân tộc, mang lại tự do, ấm no, hạnh phúc cho nhân dân.

Phong trào giải phóng dân tộc ở nhiều nước thuộc khu vực châu Á nổ ra như: Indonesia, Trung Quốc nổ ra nhưng đều thất bại, mà nguyên nhân là thiếu tổ chức, thiếu đoàn kết, đoàn kết rời rạc, nên Hồ Chí Minh không sang Trung Quốc hay Nhật tìm đường cứu nước, mà sang Pháp để tìm đường cứu nước.

2.1. 1.3. Phẩm chất và trí tuệ của Nguyễn Tất Thành



Nguyễn Tất Thành sinh ra tại làng Kim Liên, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An, nơi quê hương giàu truyền thống yêu nước, thương dân, hiếu học. Cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc là một vị quan giáo dục có tinh thần yêu nước, thương dân; là Người cha thân ra Nguyễn Tất Thành, đã dạy dỗ Nguyễn Tất Thành chu đáo về các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam như: Yêu nước, thương dân, đoàn kết, cộng đồng, dân chủ, trung, hiếu, v. V. Cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc cũng định hướng cho Nguyễn Tất Thành muốn thắng giặc Pháp thì phải hiểu văn hóa Pháp, muốn hiểu văn hóa Pháp thì phải học ngôn ngữ của Pháp. Trong gia đình, anh ruột Nguyễn Sinh Khiêm và chị ruột Nguyễn Thị Thanh đã tích cực tham gia chống giặc Pháp xâm lược bị bắt giam, bị đánh đập dã man. Nguyễn Tất Thành sinh ra và lớn lên phải chứng kiến cảnh lầm than của nhân dân ta khi nước mất, nhà tan. Xuất phát từ thương dân rồi trăn trở vì dân và quyết tâm ra đi tìm đường cứu dân, cứu nước. Chủ nghĩa yêu nước nhân văn Việt Nam là cội nguồn động lực thôi thúc Nguyễn Tất Thành ra đi tìm đường cứu nước.

Có thể nói, Nguyễn Tất Thành là một thanh niên Việt Nam yêu nước, thương dân có lý tưởng, có khát vọng, có hoài bão, có quyết tâm; hy sinh trọn vẹn đời mình cho dân tộc Việt Nam, Người nói: "Lòng thương yêu nhân dân và nhân loại của tôi không bao giờ thay đổi" [1] . Trong bối cảnh xã hội lúc bấy giờ, một mình Nguyễn Tất Thành ra đi tìm đường cứu nước và đã thành công, tạo ra bước ngoặt chuyển hướng cho cách mạng Việt Nam, thay đổi hướng phát triển cho cả dân tộc. Việc lựa chọn, đi theo con đường cách mạng vô sản đã chấm dứt sự khủng hoảng về đường lối cứu nước và đem lại nhiều thành tựu vĩ đại cho cách mạng Việt Nam. Cuộc đời - sự nghiệp, tài năng - trí tuệ, đạo đức - phong cách Hồ Chí Minh luôn là nguồn cảm hứng cho các văn nghệ sĩ, là tấm gương soi, lời dạy cho các nhà lãnh đạo, quản lý hôm nay, trăn trở, suy tư, xác định trách nhiệm, rèn đức, luyện tài vì sự phát triển toàn diện con người Việt Nam. Nhân dân ta luôn tự hào về Hồ Chí Minh, bởi vì Bác Hồ là ánh sáng, là niềm tin cho muôn dân, là tấm gương soi chung cho các thế hệ người Việt Nam, đặc biệt là thế hệ thanh thiếu niên hiện nay.
 
125,676 ❤︎ Bài viết: 11535 Tìm chủ đề
Chương 2

SỰ LỰA CHỌN CON ĐƯỜNG CÁCH MẠNG VÔ SẢN,

CHUẨN BỊ VỀ CHÍNH TRỊ, TƯ TƯỞNG VÀ TỔ CHỨC CHO VIỆC

THÀNH LẬP ĐẢNG CỘNG SẢN Ở VIỆT NAM CỦA NGUYỄN ÁI QUỐC

2.1. Lựa chọn con đường cách mạng vô sản của Nguyễn Ái Quốc (1911-1920)


2.1. 2. Quá trình lựa chọn con đường cách mạng vô sản


Các phong trào yêu nước, chống thực dân, đế quốc ở nước ta diễn ra mạnh mẽ nhưng tất cả đều thất bại do không có một đường lối đấu tranh phù hợp. Trước thực tế đó, vượt qua tầm nhìn hạn chế của các nhà yêu nước đương thời, Nguyễn Ái Quốc quyết định sang phương Tây, sang nước Pháp, quê hương của tư tưởng "Tự do - Bình đẳng - Bác ái" và cũng là dinh lũy kẻ thù đang trực tiếp thống trị dân tộc để xem xét, khảo nghiệm, quyết tâm tìm ra con đường cứu nước đúng đắn, giành lại độc lập cho dân tộc, tự do cho đồng bào, hạnh phúc cho nhân dân. Quyết định sang nước Pháp, sang phương Tây của Nguyễn Ái Quốc thể hiện tư duy độc lập và cách nhìn mới về hướng đi và con đường cứu nước cho dân tộc Việt Nam.

Trước khi đến với chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Cách mạng Tháng Mười Nga, Nguyễn Ái Quốc đã tìm hiểu "chủ nghĩa Uyn Xơn" và thấy rõ đây là "một trò bịp lớn". Người chứng kiến thực trạng xã hội TBCN; nghiên cứu diện mạo, bản chất bóc lột tàn bạo của CNTB, đế quốc, thực dân; thấy rõ tính chất dân chủ giả hiệu, "không đến nơi" của các cuộc cách mạng tư sản Anh, Pháp, Mỹ. Đây là tiền đề quan trọng để Nguyễn Ái Quốc tiếp thu, nắm bắt được "ánh sáng lý luận" từ bản Sơ thảo lần thứ nhất những Luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa của V. I. Lênin.

Tiếp xúc với bản Luận cương của Lênin (đăng trên báo Nhân đạo, cơ quan ngôn luận của Đảng Xã hội Pháp, số ra ngày 16 và 17-7-1920), bằng sự mẫn cảm về chính trị, tư duy nhạy bén và kinh nghiệm thực tiễn phong phú của 10 năm lăn lộn trong phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân và nhân dân lao động các nước thuộc địa và tư bản, Nguyễn Ái Quốc đã tìm thấy con đường cứu nước đúng đắn cho dân tộc Việt Nam. "Tình hình chính trị thế giới hiện nay đã đặt vấn đề chuyên chính vô sản thành vấn đề trước mắt.. Tất cả các phong trào giải phóng dân tộc trong các thuộc địa và trong các dân tộc bị áp bức mà kinh nghiệm đau đớn đã làm cho họ tin chắc rằng đối với họ không có con đường cứu vãn nào khác ngoài sự chiến thắng của Chính quyền Xô viết đối với chủ nghĩa đế quốc thế giới" [1] .

Với 12 luận điểm quan trọng, bản Luận cương của Lênin đã tác động mạnh mẽ đến Nguyễn Ái Quốc và Người đã tiếp thu, bổ sung và phát triển sáng tạo các luận điểm này trong việc lựa chọn con đường cứu nước đúng đắn, xây dựng cơ sở lý luận tiến lên CNXH ở Việt Nam. Sau này Người nhớ lại: "Luận cương của Lênin làm cho tôi rất cảm động, phấn khởi, sáng tỏ, tin tưởng biết bao! Tôi vui mừng đến phát khóc lên. Ngồi một mình trong buồng mà tôi nói to lên như đang nói trước quần chúng đông đảo:" Hỡi đồng bào bị đọa đày đau khổ! Đây là cái cần thiết cho chúng ta, đây là con đường giải phóng chúng ta"[2] .
 
125,676 ❤︎ Bài viết: 11535 Tìm chủ đề
Chương 2

SỰ LỰA CHỌN CON ĐƯỜNG CÁCH MẠNG VÔ SẢN,

CHUẨN BỊ VỀ CHÍNH TRỊ, TƯ TƯỞNG VÀ TỔ CHỨC CHO VIỆC

THÀNH LẬP ĐẢNG CỘNG SẢN Ở VIỆT NAM CỦA NGUYỄN ÁI QUỐC

2.1. Lựa chọn con đường cách mạng vô sản của Nguyễn Ái Quốc (1911-1920)


2.1. 2. Quá trình lựa chọn con đường cách mạng vô sản


Nguyễn Ái Quốc là một trong số ít các nhà yêu nước ở các nước thuộc địa tiếp thu được "ánh sáng kỳ diệu" từ bản Luận cương của Lênin, nhận thức và nắm bắt được xu hướng phát triển của thời đại từ sau Cách mạng Tháng Mười Nga. Sự kiện Người gia nhập Quốc tế Cộng sản, tham gia sáng lập Đảng Cộng sản Pháp (12-1920) có ý nghĩa quan trọng: Trở thành người cộng sản đầu tiên của giai cấp công nhân và nhân dân lao động Việt Nam, chính thức đưa cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc ở nước ta vào quỹ đạo cách mạng vô sản thế giới, gắn liền độc lập dân tộc với CNXH. Đây là "sự khẳng định một hướng đi mới, nguyên tắc chiến lược mới, mục tiêu và giải pháp hoàn toàn mới, khác về căn bản so với các lãnh tụ của các phong trào yêu nước trước đó ở Việt Nam; đưa cách mạng giải phóng dân tộc vào quỹ đạo của cách mạng vô sản, tức là sự nghiệp cách mạng ấy phải do Đảng của giai cấp công nhân lãnh đạo, lấy hệ tư tưởng của chủ nghĩa Mác - Lênin làm nền tảng" [1] .

Sự lựa chọn con đường cách mạng vô sản của Nguyễn Ái Quốc đã đáp ứng hai câu hỏi lớn đặt ra cho dân tộc Việt Nam: Làm thế nào để giải phóng dân tộc khỏi ách cai trị của đế quốc, thực dân, giành lại nền độc lập, tự do cho nhân dân; và lựa chọn con đường, phương thức nào để bảo vệ, xây dựng và phát triển đất nước phù hợp với xu thế đi lên của thời đại mới. Nói cách khác, với việc lựa chọn con đường cứu nước đúng đắn, chủ trương "làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản", Nguyễn Ái Quốc đã giải quyết cuộc khủng hoảng về đường lối cứu nước, giải phóng dân tộc kéo dài 2/3 thế kỷ.

Từ nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn vận động của phong trào cách mạng Việt Nam, Hồ Chí Minh kết luận: "Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc, không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản" [2] . Đường lối độc lập dân tộc gắn liền với CNXH được nêu lên trong Cương lĩnh đầu tiên, phản ánh sự lựa chọn khách quan của lịch sử, cách mạng Việt Nam và xu thế phát triển của thời đại, đáp ứng nguyện vọng và nhu cầu bức thiết của đại đa số các tầng lớp nhân dân Việt Nam. "Đối với nước ta, không còn con đường nào khác để có độc lập dân tộc thực sự và tự do, hạnh phúc cho nhân dân. Cần nhấn mạnh rằng đây là sự lựa chọn của chính lịch sử, sự lựa chọn đã dứt khoát từ năm 1930 với sự ra đời của Đảng ta trong lúc các phong trào cứu nước từ lập trường Cần Vương đến lập trường tư sản, tiểu tư sản, qua khảo nghiệm lịch sử đều lần lượt thất bại" [3] .

Độc lập dân tộc gắn liền với CNXH là sự lựa chọn đúng đắn, khoa học, hợp quy luật phát triển của dân tộc và thời đại, là lý tưởng, mục tiêu, là ngọn cờ hành động của cách mạng Việt Nam. Cách mạng Việt Nam trở thành một bộ phận của cách mạng thế giới, vận động và phát triển theo quỹ đạo cách mạng vô sản, hòa nhập vào trào lưu phát triển của thời đại mới từ sau Cách mạng Tháng Mười Nga.
 
125,676 ❤︎ Bài viết: 11535 Tìm chủ đề
Chương 2

SỰ LỰA CHỌN CON ĐƯỜNG CÁCH MẠNG VÔ SẢN,

CHUẨN BỊ VỀ CHÍNH TRỊ, TƯ TƯỞNG VÀ TỔ CHỨC CHO VIỆC

THÀNH LẬP ĐẢNG CỘNG SẢN Ở VIỆT NAM CỦA NGUYỄN ÁI QUỐC


2.2. Chuẩn bị về tư tưởng, chính trị và tổ chức cho việc thành lập Đảng Cộng sản ở Việt Nam (1921 - 1929)


Sau khi đã tìm được con đường cứu nước đúng đắn cho dân tộc, từ năm 1921 Người tiếp tục học tập để bổ sung hoàn thiện tư tưởng cứu nước, đồng thời tích cực truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin về Việt Nam nhằm chuẩn bị tiền đề về tư tưởng, chính trị và tổ chức cho sự ra đời chính đảng tiên phong ở Việt Nam.

2.2. 1. Chuẩn bị về tư tưởng, chính trị

Với tư cách là trưởng tiểu ban Đông Dương của Đảng Cộng sản Pháp, Người đã viết nhiều bài đăng trên báo (Báo Người cùng khổ, Nhân Đạo, Đời sống công nhân, Tập san thư tín quốc tế, Tạp chí Cộng sản ). Người đã góp phần quan trọng vào việc tố cáo tội ác của chủ nghĩa thực dân Pháp ở các thuộc địa, đồng thời tiến hành tuyên truyền tư tưởng Mác Lênin, xây dựng mối quan hệ gắn bó giữa những người cộng sản và nhân dân lao động Pháp với các nước thuộc địa và phụ thuộc. Đây là thời gian Người thu thập tư liệu cho tác phẩm "Bản án chế độ thực dân Pháp".

Đặc biệt, từ ngày 17-6 đến 18-7-1924, Người đã tham dự Đại hội lần thứ V của Quốc tế cộng sản. Tại Đại hội này, Người đã trình bày bản báo cáo rất quan trọng về vấn đề dân tộc và thuộc địa. Bằng nhiều số liệu và tư liệu cụ thể, bản báo cáo đã làm sáng rõ và phát triển một số luận điểm của Lênin về bản chất của chủ nghĩa thực dân, về nhiệm vụ của các Đảng Cộng sản trên thế giới trong cuộc đấu tranh chống áp bức bóc lột và giải phóng đấu tranh ở các thuộc địa.

Đây là sự chuẩn bị về tư tưởng, lý luận cho quá trình thành lập Đảng: "Không có lý luận cách mệnh thì không có cách mệnh vận động.. chỉ có theo lý luận cách mệnh tiên phong, đảng cách mệnh mới làm nổi trách nhiệm cách mệnh tiên phong" [1] . "Đảng muốn vững phải có chủ nghĩa làm cốt, trong đảng ai cũng phải hiểu, ai cũng phải theo chủ nghĩa ấy. Đảng mà không có chủ nghĩa cũng như người không có trí khôn, tàu không có bàn chỉ nam . Bây giờ học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều, nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mệnh nhất là chủ nghĩa Lênin" [2] .

Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã hình thành một hệ thống luận điểm chính trị (sau này phát triển thành những nội dung cơ bản trong cương lĩnh chính trị của Đảng).

1. Chỉ rõ bản chất của chủ nghĩa thực dân, xác định chủ nghĩa thực dân là kẻ thù chung của các dân tộc thuộc địa, của giai cấp công nhân và nhân dân lao động trên thế giới.

2. Xác định cách mạng giải phóng dân tộc là một bộ phận của cách mạng vô sản thế giới. Cách mạng giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa và cách mạng chính quốc có quan hệ chặt chẽ với nhau, hỗ trợ cho nhau, nhưng không phụ thuộc vào nhau. Cách mạng giải phóng dân tộc có thể thành công trước cách mạng chính quốc, góp phần thúc đẩy cách mạng chính quốc.

3. Trong nước nông nghiệp lạc hậu, nông dân là lực lượng đông đảo nhất, bị đế quốc phong kiến áp bức bóc lột nặng nề, vì vậy cần phải thu phục và lôi cuốn được nông dân, cần phải xây dựng khối công nông làm động lực cách mạng, đồng thời tập hợp được sự tham gia đông đảo các giai tầng khác.

4. Cách mạng muốn giành được thắng lợi, trước hết phải có Đảng cách mạng nắm vai trò lãnh đạo. Đảng muốn vững phải được trang bị chủ nghĩa Mác - Lênin.

5. Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng nhân dân, chứ không phải của một vài người. "công nông là gốc của cách mệnh; còn học trò nhà buôn nhỏ, điền chủ nhỏ.. là bầu bạn cách mệnh của công nông" [3] . Cách mạng "là việc chung của cả dân chúng chứ không phải là việc của một hai người" [4] . Vì vậy, cần phải tập hợp, giác ngộ và từng bước tổ chức quần chúng đấu tranh từ thấp đến cao.

Những quan điểm đó được Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên truyền bá về trong nước dưới nhiều hình thức, làm cho phong trào công nhân và các phong trào yêu nước Việt Nam chuyển biến mạnh mẽ.
 
125,676 ❤︎ Bài viết: 11535 Tìm chủ đề
Chương 2

SỰ LỰA CHỌN CON ĐƯỜNG CÁCH MẠNG VÔ SẢN,

CHUẨN BỊ VỀ CHÍNH TRỊ, TƯ TƯỞNG VÀ TỔ CHỨC CHO VIỆC

THÀNH LẬP ĐẢNG CỘNG SẢN Ở VIỆT NAM CỦA NGUYỄN ÁI QUỐC


2.2. Chuẩn bị về tư tưởng, chính trị và tổ chức cho việc thành lập Đảng Cộng sản ở Việt Nam (1921 - 1929)


2.2. 2. Sự chuẩn bị về tổ chức

Ngay từ giữa năm 1923, trước khi rời nước Pháp sang Liên Xô, trong một bức thư gửi cho các bạn cùng hoạt động, Người đã nói rõ ý định của mình: "Đối với tôi, câu trả lời đã rõ ràng: Trở về nước, đi vào quần chúng, thức tỉnh họ, tổ chức họ, đoàn kết họ, huấn luyện họ, đưa họ ra đấu tranh giành tự do độc lập".

Vì vậy, sau một năm rưỡi hoạt động ở Liên Xô, tháng 11-1924, Người về Quảng Châu (Trung Quốc) - nơi có rất đông người Việt Nam yêu nước hoạt động - để xúc tiến các công việc tổ chức thành lập chính đảng mác xít. Người lấy tên là Lý Thụy, công tác trong phái đoàn cố vấn của Chính phủ Liên Xô bên cạnh Chính phủ Tôn Dật Tiên, do Bô-rô-đin làm trưởng đoàn. Tháng 2-1925 Người lựa chọn một số thanh niên tích cực trong Tâm tâm xã, lập ra nhóm Cộng sản đoàn.

Tháng 6-1925, thành lập Hội Việt Nam cách mạng Thanh niên tại Quảng Châu (Trung Quốc). Sau khi thành lập, từ năm 1925-1927 đã mở trên 10 lớp đào tạo, bồi dưỡng lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin cho những người trong tổ chức Hội Việt Nam cách mạng Thanh niên. Hội còn xuất bản tờ báo Thanh niên in bằng chữ quốc ngữ, số đầu tiên ra ngày 21-6-1925. Ngoài ra ban lãnh đạo Hội còn cử người đi học trường Đại học Cộng sản phương Đông (Liên Xô) như Trần Phú, Lê Hồng Phong, Phùng Chí Kiên, Hà Huy Tập.. và trường Quân chính Hoàng Phố (Trung Quốc) như Nguyễn Sơn, Lê Thiết Hùng, Trương Văn Lĩnh.. Tháng 7-1925 Nguyễn Ái Quốc cùng với một số nhà cách mạng Trung Quốc, Triều Tiên, Inđônêxia.. tham gia sáng lập Hội Liên hiệp các dân tộc bị áp bức ở Á Đông.

Những bài giảng của Nguyễn Ái Quốc trong các lớp huấn luyện, đào tạo cán bộ ở Quảng Châu được tập hợp thành cuốn Đường cách mệnh và những hoạt động của Hội Việt Nam Cách mạng thanh niên đã có ảnh hưởng và thúc đẩy mạnh mẽ sự phát triển của phong trào công nhân, phong trào yêu nước, đưa lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin và tôn chỉ, mục đích đấu tranh của Hội vào phong trào công nhân và phong trào yêu nước Việt Nam.

Từ năm 1928, bằng phong trào "vô sản hóa" của Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên đã giác ngộ sâu sắc tinh thần yêu nước và cách mạng của giai cấp công nhân Việt Nam, bước đầu kết hợp chủ nghĩa Mác - Lênin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước Việt Nam. Nhờ vậy, phong trào công nhân và phong trào yêu nước của các tầng lớp nhân dân ngày càng phát triển. Trước sự phát triển của phong trào cách mạng Việt Nam chuyển mạnh sang xu hướng cách mạng vô sản, đến năm 1929 các hội viên của Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên nhận thấy sự cần thiết phải thành lập một Đảng Cộng sản thay thế Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên để lãnh đạo và đưa cách mạng đi đến thắng lợi.
 
125,676 ❤︎ Bài viết: 11535 Tìm chủ đề
Chương 2

SỰ LỰA CHỌN CON ĐƯỜNG CÁCH MẠNG VÔ SẢN,

CHUẨN BỊ VỀ CHÍNH TRỊ, TƯ TƯỞNG VÀ TỔ CHỨC CHO VIỆC

THÀNH LẬP ĐẢNG CỘNG SẢN Ở VIỆT NAM CỦA NGUYỄN ÁI QUỐC


2.3. Phát triển phong trào yêu nước Việt Nam theo khuynh hướng vô sản

2.3. 1. Sự phát triển của phong trào công nhân


Từ đầu thế kỷ XX, cùng với sự phát triển của phong trào dân tộc trên lập trường tư sản, phong trào công nhân chống lại sự áp bức bóc lột của tư sản, thực dân cũng diễn ra rất sớm. Trước Chiến tranh thế giới thứ nhất, các cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân Việt Nam chống giới chủ diễn ra với hình thức sơ khai, như bỏ trốn tập thể, phá giao kèo, đưa đơn phản kháng, về sau tiến đến hình thức đấu tranh cao hơn như bãi công. Trong những năm 1919 – 1925, phong trào công nhân diễn ra dưới các hình thức đình công, bãi công, tiêu biểu như các cuộc bãi công của công nhân Ba Son (Sài Gòn) do Tôn Đức Thắng tổ chức (1925) và cuộc bãi công của công nhân nhà máy sợi Nam Định (ngày 30/4/1925), đòi chủ tư bản phải tăng lương, phải bỏ đánh đập, giãn đuổi thợ..

Nhìn chung, phong trào công nhân những năm 1919-1925 đã có những bước phát triển mới so với trước Chiến tranh thế giới lần thứ nhất. Hình thức bãi công đã trở nên phổ biến, các cuộc đấu tranh của công nhân diễn ra trên quy mô lớn hơn và thời gian dài hơn.

Trong những năm 1926 – 1929, phong trào công nhân đƣợc sự lãnh đạo của các tổ chức như Hội Việt Nam cách mạng thanh niên, Công hội đỏ và các tổ chức cộng sản ra đời từ năm 1929. Các cuộc đấu tranh của công nhân Việt Nam mang tính chất chính trị rõ rệt. Mỗi cuộc đấu tranh đã có sự liên kết giữa các nhà máy, các ngành và các địa phương. Phong trào công nhân có sức lôi cuốn phong trào dân tộc theo con đường cách mạng vô sản.

Cũng vào thời gian này, phong trào yêu nƣớc phát triển mạnh mẽ, đặc biệt là phong trào nông dân diễn ra ở nhiều nơi trong cả nước. Năm 1927, nông dân làng Ninh Thạnh Lợi (Rạch Giá) đấu tranh chống bọn thực dân và địa chủ chiếm đất; nông dân các tỉnh Hà Nam, Nam Định, Ninh Bình, Thái Bình, Nghệ An, Hà Tĩnh đấu tranh chống bọn địa chủ cướp đất, đòi chia ruộng công.. Phong trào nông dân và công nhân đã hỗ trợ lẫn nhau trong cuộc đấu tranh chống thực dân, phong kiến.

"Điều đặc biệt và quan trọng nhứt trong phong trào cách mạng ở Đông Dương là sự tranh đấu của quần chúng công nông có tính chất độc lập rất rõ rệt, chớ không phải là chịu ảnh hưởng quốc gia chủ nghĩa như lúc trước nữa".

Trước sự phát triển của phong trào công nhân và phong trào yêu nước, cuối tháng 3/1929, ở Hà Nội, một số hội viên tiên tiến của tổ chức Thanh niên ở Bắc kỳ đã lập ra chi bộ cộng sản đầu tiên ở Việt Nam, do đồng chí Trần Văn Cung là Bí thư chi bộ.
 
125,676 ❤︎ Bài viết: 11535 Tìm chủ đề
Chương 2

SỰ LỰA CHỌN CON ĐƯỜNG CÁCH MẠNG VÔ SẢN,

CHUẨN BỊ VỀ CHÍNH TRỊ, TƯ TƯỞNG VÀ TỔ CHỨC CHO VIỆC

THÀNH LẬP ĐẢNG CỘNG SẢN Ở VIỆT NAM CỦA NGUYỄN ÁI QUỐC


2.3. Phát triển phong trào yêu nước Việt Nam theo khuynh hướng vô sản

2.3. 2. Sự ra đời của các tổ chức Cộng sản

Trước sự phát triển của phong trào công nhân và phong trào yêu nước, cuối

Tháng 3/1929, ở Hà Nội, một số hội viên tiên tiến của tổ chức Thanh niên ở Bắc kỳ đã lập ra chi bộ cộng sản đầu tiên ở Việt Nam, do đồng chí Trần Văn Cung là

Bí thư chi bộ.

Tại Đại hội lần thứ nhất của Hội Việt Nam cách mạng thanh niên (5/1929) đã

Xảy ra bất đồng giữa các đoàn đại biểu về vấn đề thành lập đảng cộng sản, mà thực

Chất là sự khác nhau giữa những đại biểu muốn thành lập ngay một đảng cộng sản

Và giải thể Hội Việt Nam cách mạng thanh niên, với những đại biểu cũng muốn

Thành lập Đảng cộng sản nhưng "không muốn tổ chức đảng ở giữa Đại hội Thanh

Niên và cũng không muốn phá Thanh niên trước khi lập được đảng" [1] . Trong hoàn

Cảnh đó, các tổ chức cộng sản ở Việt Nam ra đời.

Đông Dương cộng sản đảng: Ngày 17/6/1929, tại Hà Nội, đại biểu các tổ

Chức cộng sản ở miền Bắc họp Đại hội, quyết định thành lập Đông Dương cộng sản

Đảng
. Tuyên ngôn của Đảng nêu rõ: Đảng cộng sản Đông Dương tổ chức đại đa số

Và thực hành công nông liên hiệp mục đích là đánh đổ đế quốc chủ nghĩa; đánh đổ

Tƣ bản chủ nghĩa; diệt trừ chế độ phong kiến; giải phóng công nông; thực hiện xã

Hội bình đẳng, tự do, bác ái, tức là xã hội cộng sản.

An Nam cộng sản đảng: Trước sự ra đời của Đông Dương cộng sản đảng và để

Đáp ứng yêu cầu của phong trào cách mạng, mùa thu 1929, các đồng chí trong Hội

Việt Nam cách mạng thanh niên hoạt động ở Trung Quốc và Nam kỳ đã thành lập An

Nam cộng sản đảng
. Về điều kiện kết nạp đảng viên, Điều lệ của Đảng viết: "Ai tin

Theo chương trình của Quốc tế cộng sản, hăng hái phấn đấu trong một bộ phận đảng,

Phục tùng mệnh lệnh đảng và góp nguyệt phí, có thể cho vào đảng được" [2] .

Đông Dương Cộng sản Liên đoàn: Việc ra đời của Đông Dương cộng sản

Đảng và An Nam cộng sản đảng đã làm cho nội bộ Đảng Tân Việt phân hóa mạnh

Mẽ, những đảng viên tiên tiến của Tân Việt đã thành lập Đông Dương Cộng sản

Liên đoàn
. Tuyên đạt của Đông Dương Cộng sản Liên đoàn (9/1929) nêu rõ:

"Đông Dương Cộng sản Liên đoàn lấy chủ nghĩa cộng sản làm nền móng, lấy công, nông, binh liên hiệp làm đối tượng vận động cách mệnh để thực hành cách mệnh

Cộng sản trong xứ Đông Dương, làm cho xứ sở của chúng ta hoàn toàn độc lập, xóa

Bỏ nạn người bóc lột áp bức người, xây dựng chế độ Công Nông chuyên chính tiến

Lên cộng sản chủ nghĩa trong toàn xứ Đông Dương" [3] .

Mặc dù đều giƣơng cao ngọn cờ chống đế quốc, phong kiến, xây dựng chủ

Nghĩa cộng sản ở Việt Nam nhưng 3 tổ chức cộng sản trên đây hoạt động phân tán,

Chia rẽ đã ảnh hưởng xấu đến phong trào cách mạng ở Việt Nam lúc này. Vì vậy,

Việc khắc phục sự chia rẽ, phân tán giữa các tổ chức cộng sản là yêu cầu khẩn thiết

Của cách mạng nước ta, là nhiệm vụ cấp bách trước mắt của tất cả những người cộng

Sản Việt Nam.
TIỂU KẾT CHƯƠNG 2

Việc xây dựng được một hệ thống tổ chức và phong trào cách mạng trên cả nước; khơi dậy tinh thần sục sôi, hoài bão cách mạng trong những thanh niên yêu nước; và đưa phong trào "vô sản hóa" vào sâu các cuộc đấu tranh, truyền bá lý luận Mác - Lênin và đường lối cách mạng đúng đắn trong phong trào công nhân và phong trào yêu nước đã phản ánh tư duy sáng tạo và thành công của Nguyễn Ái Quốc trong công tác chuẩn bị về mặt chính trị, tổ chức cho sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam, cũng là điều kiện chín muồi, hợp quy luật cho sự ra đời tổ chức cộng sản đầu tiên ở Việt Nam.
 
125,676 ❤︎ Bài viết: 11535 Tìm chủ đề
Chương 3

CHỦ ĐỘNG TRIỆU TẬP, CHỦ TRÌ HỘI NGHỊ THÀNH LẬP ĐẢNG VÀ SOẠN THẢO CƯƠNG LĨNH CHÍNH TRỊ ĐẦU TIÊN

3.1. Hội nghị thành lập Đảng và nội dung Cương lĩnh chính trị đầu tiên


Trong bối cảnh vào năm 1929, nước ta có 3 tổ chức cộng sản hoạt động gồm: Đông Dương Cộng sản đảng, An nam Cộng sản đảng và Đông Dương Cộng sản liên đoàn.

Ngày 17-6-1929, đại biểu các tổ chức cơ sở cộng sản ở Bắc Kỳ họp Đại hội tại nhà số 312 phố Khâm Thiên, Hà Nội quyết định thành lập Đông Dương Cộng sản đảng, thông qua Tuyên ngôn, Điều lệ, ra báo Búa liềm làm cơ quan ngôn luận, cử Ban Chấp hành Trung ương và phát truyền đơn kêu gọi quần chúng đấu tranh. Đông Dương Cộng sản đảng xây dựng nhiều cơ sở ở Bắc Kỳ, Trung Kỳ và Nam Kỳ.

Sau Đại hội của Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên, các đại biểu về nước đã thấy Đông Dương Cộng sản đảng ra đời và hoạt động. Tháng 8-1929, các cán bộ lãnh đạo tiên tiến trong Kỳ bộ Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên ở Nam Kỳ thành lập An Nam Cộng sản đảng, ra tờ báo Đỏ làm cơ quan ngôn luận; xúc tiến chuẩn bị và họp Đại hội (11-1929), thông qua đường lối chính trị và bầu Ban Chấp hành Trung ương của Đảng. Đảng có một chi bộ hoạt động ở Trung Quốc và một số chi bộ ở Nam Kỳ.

Trong nội bộ Tân Việt Cách mạng đảng cũng có sự chuyển hóa. Một số đảng viên tiên tiến tích cực vận động thành lập các chi bộ cộng sản và tiến hành công tác chuẩn bị thành lập Đảng Cộng sản. Tháng 9-1929, những đảng viên tiên tiến ra Tuyên đạt, nêu rõ việc chính thức lập ra Đông Dương Cộng sản liên đoàn. Đông Dương Cộng sản liên đoàn xây dựng nhiều cơ sở ở Trung Kỳ và Nam Kỳ.

Cả ba tổ chức cộng sản đều tích cực hoạt động, tuyên truyền, tổ chức và lãnh đạo quần chúng đấu tranh, làm cho phong trào cách mạng phát triển mạnh hơn. Tuy nhiên, "từ khi Hội An Nam Thanh niên Cách mạng tan rã, hai nhóm cộng sản sử dụng nhiều - nếu không nói là tất cả - nghị lực và thời gian trong các cuộc đấu tranh nội bộ và bè phái". Sự hoạt động riêng rẽ giữa các tổ chức cộng sản làm cho lực lượng và sức mạnh của cách mạng bị phân tán. "Cả hai đều cố gắng thống nhất nhau lại, nhưng càng cố gắng bao nhiêu thì càng hiểu lầm nhau bấy nhiêu và hố sâu ngăn cách ngày càng rộng bấy nhiêu". "Nhiều thì giờ và sức lực đã bị lãng phí vì sự rối ren chia rẽ đó, đảng vien của mỗi bên đều bị thiệt hại, chỉ trích lẫn nhau là không Bônsơvích". Điều đó không đúng với nguyên tắc tổ chức Đảng Cộng sản và không phù hợp với lợi ích của phong trào cách mạng. Đó là một nguy cơ trước mắt của cách mạng Việt Nam.

Cần thống nhất các tổ chức cộng sản thành một đảng là yêu cầu khách quan của lịch sử. Nhưng tự bản thân các tổ chức cộng sản lại không thống nhất được với nhau do ảnh hưởng của tư tưởng bản vị, cục bộ, vốn là con đẻ của nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu và phân tán.
 
125,676 ❤︎ Bài viết: 11535 Tìm chủ đề
Chương 3

CHỦ ĐỘNG TRIỆU TẬP, CHỦ TRÌ HỘI NGHỊ THÀNH LẬP ĐẢNG VÀ SOẠN THẢO CƯƠNG LĨNH CHÍNH TRỊ ĐẦU TIÊN

3.1. Hội nghị thành lập Đảng và nội dung Cương lĩnh chính trị đầu tiên


3.1. 1. Hội nghị thành lập Đảng


Đến cuối năm 1929, những người cách mạng Việt Nam trong các tổ chức cộng sản đã nhận thức được sự cần thiết và cấp bách phải thành lập một đảng cộng sản thống nhất, chấm dứt sự chia rẽ trong phong trào cộng sản ở Việt Nam.

Ngày 27/10/1929, Quốc tế cộng sản gửi cho những cộng sản Đông Dương tài liệu Về việc thành lập một Đảng cộng sản ở Đông Dương, yêu cầu những người cộng sản Đông Dương phải khắc phục ngay sự chia rẽ giữa các nhóm cộng sản và thành lập một đảng của giai cấp vô sản. Quốc tế cộng sản chỉ rõ phương thức để tiến tới thành lập đảng là phải bắt đầu từ việc xây dựng các chi bộ trong các nhà máy, xí nghiệp; chỉ rõ mối quan hệ giữa Đảng cộng sản Đông Dương với phong trào cộng sản quốc tế. Nhận được tin về sự chia rẽ của những người cộng sản ở Đông Dương, Nguyễn Ái Quốc rời Xiêm đến Trung Quốc. Người chủ trì Hội nghị hợp nhất Đảng, họp từ ngày 6/1 đến ngày 7/2/1930 tại Hương Cảng, Trung Quốc.

Thành phần Hội nghị hợp nhất gồm: 2 đại biểu của Đông Dương cộng sản đảng, 2 đại biểu của An Nam cộng sản đảng, 1 đại biểu của Quốc tế cộng sản. Hội nghị thảo luận đề nghị của Nguyễn Ái Quốc gồm năm điểm lớn, với nội dung:

"1. Bỏ mọi thành kiến xung đột cũ, thành thật hợp tác để thống nhất các

Nhóm cộng sản ở Đông Dương.

2. Định tên Đảng là Đảng cộng sản Việt Nam.

3. Thảo Chính cương và Điều lệ sơ lược của Đảng.

4. Định kế hoạch thực hiện việc thống nhất trong nước;

5. Cử một Ban Trung ương lâm thời gồm 9 người, trong đó có 2 đại biểu chi

Bộ cộng sản Trung Quốc ở Đông Dương".

Hội nghị nhất trí với Năm điểm lớn theo đề nghị của Nguyễn Ái Quốc và quyết định hợp nhất các tổ chức cộng sản, lấy tên đảng là Đảng cộng sản Việt Nam.

Hội nghị thảo luận và thông qua các văn kiện: Chính cương vắn tắt của Đảng, Sách lược vắn tắt của Đảng, Chương trình tóm tắt của Đảng và Điều lệ vắn tắt của Đảng.

Hội nghị quyết định phương châm, kế hoạch thống nhất các tổ chức cộng sản trong nước, quyết định ra báo, tạp chí của Đảng cộng sản Việt Nam.

Ngày 24/2/1930, theo yêu cầu của Đông Dương cộng sản liên đoàn, Ban chấp hành Trung ương lâm thời họp và ra Nghị quyết chấp nhận Đông Dương cộng sản liên đoàn gia nhập Đảng cộng sản Việt Nam. Như vậy, đến ngày 24/2/1930, Đảng cộng sản Việt Nam đã hoàn tất việc hợp nhất 3 tổ chức cộng sản ở Việt Nam.
 
125,676 ❤︎ Bài viết: 11535 Tìm chủ đề
Chương 3

CHỦ ĐỘNG TRIỆU TẬP, CHỦ TRÌ HỘI NGHỊ THÀNH LẬP ĐẢNG VÀ SOẠN THẢO CƯƠNG LĨNH CHÍNH TRỊ ĐẦU TIÊN

3.1. Hội nghị thành lập Đảng và nội dung Cương lĩnh chính trị đầu tiên


3.1. 2. Cương lĩnh chính trị đầu tiên


Các văn kiện được thông qua tại hội nghị thành lập Đảng cộng sản Việt Nam như: Chính cương vắn tắt của Đảng, Sách lược vắn tắt của Đảng, Chương trình tóm tắt của Đảng và Điều lệ vắn tắt của Đảng hợp thành Cương lĩnh chính trị đầu

Tiên của Đảng cộng sản Việt Nam. Cương lĩnh xác định các vấn đề cơ bản của cách

Mạng Việt Nam:

Thứ nhất, Đảng xác định phương hướng chiến lược cách mạng Việt Nam là "tư sản dân quyền và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản". Trong xã hội nước ta lúc bấy giờ tồn tại 2 mẫu thuẫn chính là mâu thuẫn dân tộc Việt Nam với thực dân Pháp và mâu thuẫn nông dân với địa chủ phong kiến. Song mâu thuẫn giữa nông dân và địa chủ phong kiến không quá gay gắt như mâu thuẫn giữa dân tộc Việt Nam và thực dân Pháp và có thể điều hòa được vì đều là người dân Việt Nam và đều chịu áp bức nặng nề của thực dân Pháp. Nhiệm vụ cốt yếu của cách mạng tư sản dân quyền là đánh đổ đế quốc Pháp, giành độc lập dân tộc và đánh đổ giai cấp địa chủ phong kiến, đem lại ruộng đất cho nông dân. Hai nhiệm vụ ấy có quan hệ khăng khít với nhau. Vì thế Đảng quyết định thực hiện đường lối tư sản dân quyền nhằm mục đích kêu gọi toàn dân đánh đuổi kẻ thù chính là thực dân pháp để giành lại độc lập, thống nhất đất nước. Sau đó Đảng tiến hành thổ địa cách mạng để giành lại đất đai từ tay thực dân Pháp và giai cấp phong kiến chia cho dân nghèo để đem lại lợi ích cho nông dân. Từ đó Đảng đã có thể giải quyết được mâu thuẫn giữa người dân Việt Nam và thực dân Pháp cũng như điều hòa được mâu thuẫn giữa nông dân và địa chủ phong kiến.

Thứ hai, Đảng đã đưa ra được nhiệm vụ rõ ràng cho cuộc cách mạng:

Về kinh tế, Nước ta đang đối mặt với nhiều ảnh hưởng nặng nề từ cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới lúc bấy giờ làm cho kinh tế suy thoái. Nông nghiệp, công nghiệp bị suy sụp, xuất nhập khẩu bị đình đốn, hàng hóa khan hiếm (do nền kinh tế Việt Nam phụ thuộc hoàn toàn vào Pháp). Khủng hoảng kinh tế đã tác động tới tất cả các tầng lớp, giai cấp trong xã hội Việt Nam, làm cho đời sống của các tầng lớp nhân dân vô cùng cực khổ (nhà máy bị đóng cửa, công nhân không có việc làm hoặc có việc làm thì lương rất thấp ; sản xuất nông nghiệp sa sút do xuất khẩu lúa gạo bị đình trệ, nông dân bị bần cùng hóa.. ; đời sống của tư sản, tiểu tư sản bấp bênh). Thực dân Pháp còn tăng cường chính sách thuế khóa, làm cho đời sống của nhân dân càng thêm cùng cực. Do đó, Đảng đã ra chính sách thủ tiêu hết các thứ quốc trái; tịch thu toàn bộ sản nghiệp lớn (như công nghiệp, vận tải, ngân hàng v. V) của tư bản đế quốc chủ nghĩa Pháp để giao cho Chính phủ công nông binh quản lý; tịch thu toàn bộ ruộng đất của bọn đế quốc chủ nghĩa làm của công chia cho dân cày nghèo; bỏ sưu thuế cho dân cày nghèo; mở mang công nghiệp và nông nghiệp; thi hành luật ngày làm 8 giờ. Từ đó giải quyết được vấn đề ruộng đất bỏ hoang mà không sử dụng, sản xuất hàng hóa tiêu dùng, tạo việc làm cho người dân và nắm được quyền quản lí các hoạt động kinh tế từ tay thực dân Pháp.

Về chính trị, Đảng nêu ra chủ trương đánh đổ đế quốc chủ nghĩa Pháp và bọn phong kiến; làm cho nước Việt Nam được hoàn toàn độc lập; lập chính phủ công nông binh; tổ chức quân đội công nông. Đảng thành lập nhiều Chi bộ Cộng sản, Thành ủy, tỉnh ủy ở nhiều nơi trên đất nước như Chi bộ Cộng sản đầu tiên ở Bình Đinh (3/1930), ở Hòn Gai, Cẩm Phả - Cửa Ông, Uông Bí - Vàng Danh, thành ủy Hà Nội, tỉnh ủy Quảng Nam, tỉnh ủy lâm thời Hà Tĩnh.. để nhằm trực tiếp lãnh đạo công tác xây dựng Đảng và tổ chức quần chúng trung kiên ở từng địa phương. Bên cạnh đó, một số Tỉnh ủy như Nam Định kết hợp với công nhân và nông dân để chống đánh đập, đòi tăng lương, giảm giờ làm, bỏ những quy định vô lý, đuổi những đốc công và giám thị độc ác, không được khủng bố những công nhân bãi công.. cuộc đấu tranh nổ ra từ xưởng dệt sang xưởng sợi bao gồm trên 4.000 công nhân, làm tê liệt toàn bộ hệ thống sản xuất dây chuyền của nhà máy. Sau 21 ngày đấu tranh, cuộc bãi công giành được những thắng lợi bước đầu: Giới chủ buộc phải tăng lương 10% và giảm mỗi ngày nửa giờ làm việc cho công nhân và hứa thực hiện các yêu cầu khác. Cuộc đấu tranh thắng lợi, đánh dấu sự trưởng thành vượt bậc và toàn diện của đội ngũ công nhân nhà máy. Sự kết hợp chặt chẽ giữa phong trào bãi công của công nhân ở nhà máy và phong trào biểu tình của nông dân ở nông thôn đã hình thành khối liên minh đấu tranh của hai giai cấp nông dân và công nhân, làm cho đế quốc Pháp vô cùng lúng túng và bị động.

Về văn hóa – xã hội, thực dân Pháp thi hành triệt để chính sách văn hóa nô dịch, gây tâm lý tự ti, khuyến khích các hoạt động mê tín dị đoan. Mọi hoạt động yêu nước của nhân dân ta đều bị cấm đoán. Chúng tìm mọi cách bưng bít và ngăn chặn ảnh hưởng của nền văn hóa tiến bộ trên thế giới vào Việt Nam và thi hành chính sách ngu dân để dễ bề cai trị. Dựa vào tình hình đất nước, Đảng ra quyết định cho dân chúng được tự do tổ chức, nam nữ bình quyền, v. V; phổ thông giáo dục theo hướng công nông hóa. Theo chính sách của Đảng, các tổ chức quần chúng đã xây dựng với nhiều hình thức phong phú như Công hội đỏ, Thanh niên Cộng sản Đoàn, Hội Phụ nữ, Hội đá bóng, Hội học chữ quốc ngữ.. ở Quảng Ninh; việc tổ chức nhân dân trong tỉnh diễn thuyết, rải truyền đơn, treo cờ Đảng, dán khẩu hiệu.. tuyên truyền, giáo dục sâu rộng đường lối cách mạng của Đảng trong quần chúng ở Bến Tre; bài trừ các hủ tục lạc hậu, cấm hút thuốc phiện, uống rượu, đánh bạc.. giáo dục, trừng trị bọn lưu manh trộm cắp, mở những lớp dạy chữ quốc ngữ, tổ chức nhân dân giúp đỡ lẫn nhau.. trong phong trào Xô- Viết Nghệ Tĩnh. Từ đó, Đảng dần dần ăn sâu bám rễ vào quần chúng nhân dân ở nhiều địa phương tạo nên điều kiện để những phong trào phát triển mạnh mẽ.
 

Những người đang xem chủ đề này

Xu hướng nội dung

Back