1,691 ❤︎ Bài viết: 2236 Tìm chủ đề
Đọc: 5,881 Tìm: 416
thread-13101-1788855288-2567945dec.webp


Ðối tượng chung của văn học là cuộc đời nhưng trong đó con người luôn giữ vị trí trung tâm. Những sự kiện kinh tế, chính trị, xã hội, những bức tranh thiên nhiên, những lời bình luận.. Đều góp phần tạo nên sự phong phú, đa dạng cho tác phẩm nhưng cái quyết định chất lượng tác phẩm văn học chính là việc xây dựng nhân vật. Ðọc một tác phẩm, cái đọng lại sâu sắc nhất trong tâm hồn người đọc thường là số phận, tình cảm, cảm xúc, suy tư của những con người được nhà văn thể hiện. Vì vậy, Tô Hoài đã có lí khi cho rằng "Nhânvật là nơi duy nhất tập trung hết thảy, giải quyết hết thảy trong một sáng tác"

I. Nhân vật trong văn học và chức năng của nó trong tác phẩm

1. Khái niệm chung


Nhân vật văn học là con người được nhà văn miêu tả trong tác phẩm bằng phương tiện văn học. Những con người này có thể được miêu tả kỹ hay sơ lược, sinh động hay không rõ nét, xuất hiện một hay nhiều lần, thường xuyên hay từng lúc, giữ vai trò quan trọng nhiều, ít hoặc không ảnh hưởng nhiều lắm đối với tác phẩm.

Nhân vật văn học có thể là con người có tên (như Tấm Cám, Thúy Vân, Thúy Kiều, Từ Hải, Kim Trọng), có thể là những người không có tên (như thằng bán tơ, viên quan, mụ quản gia) hay có thể là một đại từ nhân xưng nào đó (như một số nhân vật xưng tôi trong các truyện ngắn, tiểu thuyết hiện đại, như mình- ta trong ca dao). Khái niệm con người này cũng cần được hiểu một cách rộng rãi trên 2 phương diện: Số lượng: Hầu hết các tác phẩm từ văn học dân gian đến văn học hiện đại đều tập trung miêu tả số phận của con người. Về chất lượng: Dù nhà văn miêu tả thần linh, ma quỉ, đồ vật.. Nhưng lại gán cho nó những phẩm chất của con người.

Trong nhiều trường hợp, khái niệm nhân vật được sử dụng một cách ẩn dụ nhằm chỉ một hiện tượng nổi bật nào đó trong tác phẩm. Chẳng hạn, người ta thường nói đến nhân dân như là một nhân vật trung tâm trong Chiến tranh và hòabình của L. Tônxtôi, ca cao là nhân vật chính trong Ðất dữ của G. Amađô, chiếc quan tài là nhân vật trong tác phẩm Chiếc quan tài của Nguyễn Công Hoan.. Tô Hoài nhận xét về Chiếc quan tài: "Trong truyện ngắn Chiếc quan tài của Nguyễn Công Hoan, nhân vật không phải là người mà là một chiếc quan tài. Nhưng chiếc quan tài ấy chẳng phải là vô tri mà là một sự thê thảm, một bản án tố cáo chế độ thảm khốc thời Pháp thuộc. Như vậy, chiếc quan tài cũng là một thứ nhân vật". Tuy vậy, nhìn chung, nhân vật vẫn là hình tượng của con người trong tác phẩm văn học.

Nhân vật văn học là một hiện tượng nghệ thuật có tính ước lệ, có những dấu hiệu để nhận biết: Tên gọi, những dấu hiệu về tiểu sử, nghề nghiệp, những đặc điểm riêng.. Những dấu hiệu đó thường được giới thiệu ngay từ đầu và thông thường, sự phát triển về sau của nhân vật gắn bó mật thiết với những giới thiệu ban đầu đó. Việc giới thiệu Thúy Vân, Thúy Kiều khác nhau dường như cũng báo trước về số phận của mỗi người sau này:

"Vân xem trang trọng khác vời

Khuôn trăng đầy đặn nét ngài nở nang

Hoa cười ngọc thốt đoan trang

Mây thua nước toc, tuyết nhường màu da.

Kiều càng sắc sảo mặn mà

So bề tài sắc lại là phần hơn

Làn thu thủy, nét xuân sơn

Hoa ghen thua thắm, liễu hờn kém xanh"


Hay việc giới thiệu Hoạn Thư:

"Ở ăn thì nết cũng hay,

Nói điều ràng buộc thì tay cũng già"


Gắn liền với những suy nghĩ, nói năng, hành động trong quá trình phát triển về sau của nhân vật.

Nhân vật văn học không giống với các nhân vật thuộc các loại hình nghệ thuật khác. Ới đây, nhân vật văn học được thể hiện bằng chất liệu riêng là ngôn từ. Vì vậy, nhân vật văn học đòi hỏi người đọc phải vận dụng trí tưởng tượng, liên tưởng để dựng lại một con người hoàn chỉnh trong tất cả các mối quan hệ của nó.

2. Chức năng của nhân vật văn học.

Nhân vật văn học có chức năng khái quát những tính cách, hiện thực cuộc sống và thể hiện quan niệm của nhà văn về cuộc đời. Khi xây dựng nhân vật, nhà văn có mục đích gán liền nó với những vấn đề mà nhà văn muốn đề cập đến trong tác phẩm. Vì vậy, tìm hiểu nhân vật trong tác phẩm, bên cạnh việc xác định những nét tính cách của nó, cần nhận ra những vấn đề của hiện thực và quan niệm của nhà văn mà nhân vật muốn thể hiện. Chẳng hạn, khi nhắc đến một nhân vật, nhất là các nhân vật chính, người ta thường nghĩ đến các vấn đề gắn liền với nhân vật đó. Gắn liền với Kiều là thân phận của người phụ nữ có tài sắc trong xã hội cũ. Gắn liền với Kim Trọng là vấn đề tình yêu và ước mơ vươn tới hạnh phúc. Gắn liền với Từ Hải là vấn đề đấu tranh để thực hiện khát vọng tự do, công lí.. Trong Chí Phèo của Nam Cao, nhân vật Chí Phèo thể hiện quá trình lưu manh hóa của một bộ phận nông dân trong xã hội thực dân nửa phong kiên. Ðằng sau nhiều nhân vật trong truyện cổ tích là vấn đề đấu tranh giữa thiện và ác, tốt và xấu, giàu và nghèo, những ước mơ tốt đẹp của con người..

Do nhân vật có chức năng khái quát những tính cách, hiện thực cuộc sống và thể hiện quan niệm của nhà văn về cuộc đời cho nên trong quá trình mô tả nhân vật, nhà văn có quyền lựa chọn những chi tiết, yếu tố mà họ cho là cần thiết bộc lộ được quan niệm của mình về con người và cuộc sống. Chính vì vậy, không nên đồng nhất nhân vật văn học với con người trong cuộc đời. Khi phân tích, nghiên cứu nhân vật, việc đối chiếu, so sánh có thể cần thiết để hiểu rõ thêm về nhân vật, nhất là những nhân vật có nguyên mẫu ngoài cuộc đời (anh hùng Núp trong Ðất nước đứng lên; Chị Sứ trong Hòn Ðất) nhưng cũng cần luôn luôn nhớ rằng nhân vật văn học là một sáng tạo nghệ thuật độc đáo gắn liền với ý đồ tư tưởng của nhà văn trong việc nêu lên những vấn đề của hiện thực cuộc sống. Betông Brecht cho rằng: "Các nhân vật của tác phẩm nghệthuật không phải giản đơn là những bản dập của những con người sống mà là những hình tượng được khắc họa phù hợp với ý đồ tư tưởng của tác giả".

Ii. Phân loại nhân vật

Nhân vật văn học là một hiện tượng hết sức đa dạng. Những nhân vật được xây dựng thành công từ xưa đến nay bao giờ cũng là những sáng tạo độc đáo, không lặp lại. Tuy nhiên, xét về mặt nội dung tư tưởng, kết cấu, chất lượng miêu tả, có thể thấy những hiện tượng lặp đi lặp lại tạo thành các loại nhân vật khác nhau. Ðể nắm bắt được thế giới nhân vật đa dạng, phong phú, có thể tiến hành phân loại chúng ở nhiều góc độ khác nhau.

1. Xét từ góc độ nội dung tư tưởng hay phẩm chất nhân vật.

Có thể nói đến các loại nhân vật chính diện (nhân vật tích cực), nhân vật phản diện (nhân vật tiêu cực).

Nhân vật chính diện là nhân vật đại diện cho lực lượng chính nghĩa trong xã hội, cho cái thiện, cái tiến bộ. Khi nhân vật chính diện được xây dựng với những phẩm chất hoàn hảo, có tính chất tiêu biểu cho tinh hoa của một giai cấp, một dân tộc, một thời đại, mang những mầm mống lí tưởng trong cuộc sống.. Có thể được coi là nhân vật lí tưởng. Ới đây, cũng cần phân biệt nhân vật lí tưởng với nhân vật lí tưởng hóa. Loại nhân vật sau là loại nhân vật được tô hồng, hoàn toàn theo chủ quan của nhà văn. Ới đây, nhà văn đã vi phạm tính chân thực của sự thể hiện.

Nhân vật phản diện là nhân vật đại diện cho lực lượng phi nghĩa, cho cái ác, cái lạc hậu, phản động, cần bị lên án.

Trong quá trình phát triển của văn học, trong mỗi giai đoạn lịch sử khác nhau, việc xây dựng các loại nhân vật trên cũng khác nhau. Nếu như trong thần thoại chưa có sự phân biệt rạch ròi giữa nhân vật chính diện và nhân vật phản diện thì trong truyện cổ tích, các truyện thơ Nôm, các nhân vật thường được xây dựng thành 2 tuyến rõ rệt có tính chất đối kháng quyết liệt. Ở đây, hễ là nhân vật chính diện thường tập trung những đức tính tốt đẹp còn nhân vật phản diện thì hoàn toàn ngược lại.

Trong văn học hiện đại, nhiều khi khó phân biệt đâu là nhân vật chính diện, đâu là nhân vật phản diện. Việc miêu tả này phù hợp với quan niệm cho rằng hiện thực nói chung và con người nói riêng không phải chỉ mang một phẩm chất thẩm mĩ mà bao hàm nhiều phẩm chất thẩm mĩ khác nhau, cái nhìn của chủ thể đối với sự vật nhiều chiều, phức hợp chứ không đơn điệu.. Những nhân vật như Chí Phèo, Thị Nỡ, Tám Bính, Năm Sài Gòn.. Là những nhân vật có bản chất tốt nhưng đó không phải là phẩm chất duy nhất của nhân vật. Bakhtin cho rằng: Cần phải thống nhất trong bản thân mình vừa các đặc điểm chínhdiện lẫn phản diện, vừa cái tầm thường lẫn cái cao cả, vừa cái buồn cười lẫn cái nghiêm túc. Chính vì vậy, ở đây, sự phân biệt chính diện, phản diện chỉ có ý nghĩa tương đối. Khi đặt nhân vật vào loại nào để nghiên cứu, cần phải xét khuynh hướng chủ đạo của nó đồng thời phải chú ý đến các khuynh hướng, phẩm chất thẩm mĩ khác nữa. Trong giai đoạn trước, những nhân vật như Kiều, Hoạn Thư, Thúc Sinh cũng được Nguyễn Du miêu tả ở nhiều góc độ, với nhiều phẩm chất khác nhau chứ không phải chỉ có một phẩm chất chính diện hoặc phản diện.

2. Xét từ góc độ kết cấu. (Tầm quan trọng và vai trò của nhân vật trong tác phẩm ).

Xem xét chức năng và vị trí của nhân vật trong tác phẩm, có thể chia thành các loại nhân vật: Nhân vật chính, nhân vật trung tâm, nhân vật phụ.

Nhân vật chính là nhân vật giữ vai trò quan trọng trong việc tổ chức và triển khai tác phẩm. Ới đây, nhà văn thường tập trung miêu tả, khắc họa tỉ mỉ từ ngoại hình, nội tâm, quá trình phát triển tính cách của nhân vật. Qua nhân vật chính, nhà văn thường nêu lên những vấn đề và những mâu thuẫn cơ bản trong tác phẩm và từ đó giải quyết vấn đề, bộc lộ cảm hứng tư tưởng và tình điệu thẩm mĩ.

Nhân vật chính có thể có nhiều hoặc ít tùy theo dung lượng hiện thực và những vấn đề đặt ra trong tác phẩm. Với những tác phẩm lớn có nhiều nhân vật chính thì nhân vật chính quan trọng nhất xuyên suốt toàn bộ tác phẩm được gọi là nhân vật trung tâm. Trong không ít trường hợp, nhà văn dùng tên nhân vật trung tâm để đặt tên cho tác phẩm. Ví dụ: Ðông Kísốt của Cervantes, Anna Karênina của L. Tônxtôi, A. Q chính truyện của Lỗ Tấn, Truyện Kiều của Nguyễn Du..

Trừ một hoặc một số nhân vật chính, những nhân vật còn lại đều là những nhânvật phụ ở các cấp độ khác nhau. Ðó là những nhân vật giữ vị trí thứ yếu so với nhân vật chính trong quá trình diễn biến của cốt truyện, của việc thể hiện chủ đề tư tưởng của tác phẩm.

Nhân vật phụ phải góp phần hỗ trợ, bổ sung cho nhân vật chính nhưng không được làm mờ nhạt nhân vật chính. Có nhiều nhân vật phụ vẫn được các nhà văn miêu tả đậm nét, có cuộc đời và tính cách riêng, cùng với những nhân vật khác tạo nên một bức tranh đời sống sinh động và hoàn chỉnh.

3. Xét từ góc độ thể loại.

Có thể phân thành các nhân vật: Nhân vật trữ tình,
nhân vật tự sự và nhân vật kịch. (sẽ nói rõ trong phần các loại thể)

4. Xét từ góc độ chất lượng miêu tả.

Có thể phân thành các loại: Nhân vật,
tính cách, điển hình.

Nhân vật là những con người nói chung được miêu tả trong tác phẩm. Ới đây, nhà văn có thể chỉ mới nêu lên một vài chi tiết về ngôn ngữ, cử chỉ, hành động.. Cũng có thể miêu tả kĩ và đậm nét.

Tính cách là nhân vật được khắc họa với một chiều sâu bên trong. Nó như một điểm qui tụ mà từ đó có thể giải thích được mọi biểu hiện muôn màu, muôn vẻ sinh động bên ngoài của nhân vật.

Ðiển hình là tính cách đã đạt đến độ thực sự sâu sắc, là sự thống nhất giữa cái chung và cái riêng, cái khái quát và cái cá thể.. Nói một cách nghiêm ngặt, thuật ngữ này chỉ được áp dụng từ chủ nghĩa hiện thực phê phán trở về sau.

Ngoài những loại nhân vật được trình bày, có thể nêu lên một số khái niệm khác về nhân vật qua các trào lưu văn học khác nhau. Chẳng hạn, khái niệm nhân vật bé nhỏ trong văn học hiện thực phê phán, khái niệm nhân vật-con vật người trong chủ nghĩa tự nhiên, nhân vật-phi nhân vật trong các trào lưu văn học hiện đại chủ nghĩa ở phương Tây..

Iii. Một số biện pháp xây dựng nhân vật

Ðể xây dựng thành công một nhân vật văn học, nhà văn phải có khả năng đồng cảm, phát hiện những đặc điểm bền vững ở nhân vật. Ðiều này đòi hỏi nhà văn phải hiểu đời và hiểu người. Nhưng có một điều không kém phần quan trọng là nhà văn phải miêu tả, khắc họa nhân vật ấy sao cho có sức thuyết phục mạnh mẽ đối với người đọc. Ðây là vấn đề liên quan trực tiếp đến những biện pháp xây dựng nhân vật trong tác phẩm văn học.

Có nhiều biện pháp khác nhau trong việc xây dựng nhân vật. Ới đây chỉ xét một số biện pháp chung, chủ yếu nhất: Miêu tả nhân vật qua ngoại hình, nội tâm, ngôn ngữ và hành động.

1. Miêu tả nhân vật qua ngoại hình.

Ngoại hình là dáng vẻ bên ngoài của nhân vật bao gồm y phục, cử chỉ, tác phong, diện mạo.. Ðây là yếu tố quan trọng góp phần cá tính hóa nhân vật.

Nếu như văn học cổ thường xây dựng ngoại hình nhân vật với những chi tiết ước lệ, tượng trưng thì văn học hiện đại thường đòi hỏi những chi tiết chân thực và cụ thể sinh động. M. Gorki khuyên các nhà văn phải xây dựng nhân vật của mình đúng như những con người sống và phải tìm thấy, nêu lên, nhấn mạnh những nét riêng độc đáo, tiêu biểu trong dáng điệu, nét mặt, nụ cười, khóe mắt.. Của nhân vật.

Ngoại hình nhân vật cần góp phần biểu hiện nội tâm. Ðây cũng chính là sự thống nhất giữa cái bên ngoài và cái bên trong của nhân vật. Vì vậy, khi tính cách, đời sống bên trong của nhân vật thay đổi, nhiều nét bên ngoài của nhân vật cũng thay đổi theo.

Khi xây dựng ngoại hình nhân vật, nhà văn cần thể hiện những nét riêng biệt, cụ thể của nhân vật nhưng qua đó, người đọc có thể nắm bắt được những đặc điểm chung của những người cùng nghề nghiệp, tầng lớp, thời đại.. Những nhân vật thành công trong văn học từ xưa đến nay cho thấy nhà văn bao giờ cũng chọn lựa công phu những nét tiêu biểu nhất để khắc họa nhân vật.

2. Miêu tả nhân vật qua biểu hiện nội tâm.

Khái niệm nội tâm nhằm chỉ toàn bộ những biểu hiện thuộc cuộc sống bên trong của nhân vật. Ðó là những tâm trạng, những suy nghĩ, những phản ứng tâm lí.. Của nhân vật trước những cảnh ngộ, những tình huống mà nó gặp phải trong cuộc đời.

Trong quá trình phát triển của lịch sử văn học, việc thể hiện nhân vật qua nội tâm ngày càng có vai trò quan trọng. Trong văn học Việt Nam, so với các giai đoạn trước, Truyện Kiều của Nguyễn Du đã đạt được những thành tựu rực rỡ. Tác phẩm chứng tỏ Nguyễn Du có khả năng nắm bắt một cách tài tình những ý nghĩ, tình cảm sâu kín của nhân vật và diễn tả nó một cách sinh động.

Sự biểu hiện hợp lí và sâu sắc nội tâm góp phần rất lớn tạo nên sức sống của nhân vật. Nói như L. Tônxtôi: "Mục đích chính của nghệ thuật.. Là nói lênsự thật về tâm hồn con người, nói lên những điều bí ẩn không thể diễn tả bằng ngôn ngữ thông thường được". Ðể làm được điều đó, nhà văn phải hiểu sâu sắc cuộc sống và con người, nắm bắt được những biểu hiện và diễn biến dù nhỏ nhặt nhất đời sống bên trong của nhân vật.

3. Miêu tả nhân vật qua ngôn ngữ nhân vật.

Khái niệm ngôn ngữ nhân vật nhằm chỉ những lời nói của nhân vật trong tác phẩm. Lời nói đó phản ánh kinh nghiệm sống cá nhân, trình độ văn hóa, tư tưởng, tâm lí, thị hiếu.. Ðằng sau mỗi câu câu nói của mỗi con người đều có lịch sử riêng của nó. Sêđrin cho rằng: "Từ cửa miệng một người nói ra khônghề có lấy một câu nào mà lại không thể truy nguyên đến cái hoàn cảnh đã khiến cho nó xuất hiện.. Trong cuộc sống, không thể có những hành động, những câu nói mà đàng sau lại không có một lịch sử riêng". Quả là trong cuộc sống không thể có những người nói hoàn toàn giống nhau, vì vậy nhà văn cần phát hiện những nét riêng của ngôn ngữ nhân vật để thể hiện trong tác phẩm.

Trong các tác phẩm tự sự nói chung, lời nói của nhân vật thường chiếm tỉ lệ ít hơn so với ngôn ngữ người kể chuyện nhưng lại có khả năng thể hiện sinh động và khêu gợi cho người đọc hình dung về bản chất, tính cách của nhân vật. Trong đoạn báo ân, báo oán của Truyện Kiều, mặc dù đang hồn lạc phách xiêu, Hoạn Thư vẫn biết lựa điều kêu ca:

Rằng: Tôi chút dạ đàn bà

Ghen tương thì cũng người ta thường tình

Nghĩ cho khi các viết kinh

Ðến khi khỏi cửa dứt tình chẳng theo


Lòng riêng, riêng những kính yêu

Chồng chung, ai dê, ai chiều cho ai

Trót đà gây việc chông gai

Cũng nhờ lượng bể tha bài nào chăng?


Những lời nói trên hoàn toàn phù hợp với con người khôn ngoan, thông minh, lanh lợi, của Hoạn Thư.

Trong các trào lưu văn học hiện thực, việc cá thể hóa nhân vật qua ngôn ngữ nhân vật được nhà văn đặc biệt quan tâm và được thực hiện bằng nhiều cách khác nhau. Chẳng hạn, nhà văn có thể để cho nhân vật lặp đi lặp lại nhiều lần một số từ hoặc một số câu mà nhân vật thích (Biết rồi, khổ lắm, nói mãi của cụ cố Hồng trong Số đỏ của Vũ Trọng Phụng), có thể để nhân vật sử dụng một số từ địa phương, từ nước ngoài, cách phát âm sai.. Nhưng dù sử dụng cách nào, ngôn ngữ của nhân vật cũng phải có sự chọn lọc nhằm đạt đến sự thống nhất giữa cá thể hóa và khái quát hóa, đồng thời cũng phải phù hợp với hoàn cảnh và tính cách của nhân vật.

4. Miêu tả nhân vật qua hành động

Hành động nhân vật là khái niệm nhằm chỉ các việc làm của nhân vật. Ðây là phương diện đặc biệt quan trọng để thể hiện tính cách nhân vật vì việc làm của mỗi người là căn cứ quan trọng có ý nghĩa quyết định nói lên tư cách, lí tưởng, phẩm chất cũng như những đặc điểm thuộc về thế giới tinh thần của người đó. Hơn nữa, trong các tác phẩm tự sự, tính cách nhân vật không phải ngay từ đầu đã được hình thành trọn vẹn. Chính hành động có tác dụng bộc lộ quá trình phát triển của tính cách và thúc đẩy sự diễn biến của hệ thống cốt truyện.. Thông qua các mối quan hệ, sự đối xử giữa các nhân vật trong những tình huống khác nhau, người đọc có thể xác định được những đặc điểm, bản chất của nhân vật.

Thông thường, khi miêu tả hành động nhân vật, nhà văn thường kết hợp với những biểu hiện nội tâm tương ứng vì đằng sau mỗi hành động, bao giờ cũng có một tâm trạng hoặc một động cơ nào đó. Dùng nội tâm để lí giải hành động, sử dụng hành động để làm sáng tỏ nội tâm là một hiện tượng phổ biến trong việc miêu tả nhân vật.

Trên đây là những biện pháp chung nhất trong việc xây dựng nhân vật. Ngoài những biện pháp trên, nhà văn còn có thể khắc họa nhân vật thông qua việc đánh giá của các nhân vật khác trong tác phẩm, thông qua việc mô tả đồ dùng, nhà cửa, môi trường xã hội, thiên nhiên.. Mà nhân vật sinh sống. Ở những tác phẩm tự sự, ngôn ngữ người kể chuyện là một yếu tố rất quan trọng trong việc bộc lộ, miêu tả và đánh giá nhân vật.

Việc phân biệt các biện pháp xây dựng nhân vật như trên chỉ có tính chất tương đối. Trong thực tế, các biện pháp này nhiều khi không tách rời mà gắn bó chặt chẽ với nhau. Vì vậy, nhiều khi rất khó chỉ ra các biện pháp xây dựng nhân vật dưới một hình thức thuần túy và độc lập. Một điều cũng cần lưu ý là, nắm bắt các biện pháp trên đây cũng chỉ là nhằm mục đích hiểu một cách đầy đủ và chính xác về nhân vật trong tác phẩm văn học.
 
Chỉnh sửa cuối:
1,691 ❤︎ Bài viết: 2236 Tìm chủ đề

Tổng hợp những nhận định hay về nhân vật trong tác phẩm truyện


Trong tác phẩm truyện, nhân vật thường là nơi nhà văn tập trung thể hiện cách nhìn về con người, cuộc sống và những vấn đề của thời đại. Một nhân vật thành công không chỉ tồn tại trong cốt truyện mà còn có thể bước ra khỏi trang sách, sống lâu dài trong trí nhớ của người đọc. Vì vậy, những nhận định về nhân vật văn học rất hữu ích khi mở bài, kết bài hoặc nâng cao phần lí luận trong bài nghị luận văn học.

Những nhận định nổi tiếng về nhân vật văn học​


"Nhân vật là nơi duy nhất tập trung hết thảy, giải quyết hết thảy trong một sáng tác." – Tô Hoài

Đây là một trong những nhận định tiêu biểu nhất khi bàn về vai trò của nhân vật. Tô Hoài xem nhân vật là điểm hội tụ của cốt truyện, tư tưởng, chủ đề và những vấn đề mà nhà văn muốn đặt ra trong tác phẩm.

"Văn học là nhân học." – M. Gorki

Một câu rất ngắn nhưng có phạm vi vận dụng rộng. Văn học trước hết hướng tới con người, tìm hiểu đời sống, tâm hồn, số phận và những vấn đề thuộc về con người. Vì vậy, khi phân tích nhân vật, có thể dùng nhận định này để dẫn vào giá trị nhân văn của tác phẩm.

"Con người là điều thú vị nhất đối với con người." – Goethe

Nhận định nhấn mạnh sức hấp dẫn đặc biệt của con người đối với nghệ thuật. Văn chương có thể viết về thiên nhiên, lịch sử hay xã hội, nhưng cuối cùng vẫn thường trở về với việc khám phá con người.

"Quan trọng nhất của truyện ngắn là tạo ra một tình huống nào đấy, từ tình huống ấy bật nổi một bản chất tính cách nhân vật hoặc bộc lộ một tâm trạng." – Nguyễn Đăng Mạnh

Nhận định này đặc biệt thích hợp với những đề bài yêu cầu phân tích nhân vật gắn với tình huống truyện. Nhân vật thường chỉ thực sự bộc lộ bản chất khi bị đặt vào một hoàn cảnh có vấn đề, một sự lựa chọn hoặc một bước ngoặt của số phận.

Nhận định về vai trò của nhân vật trong tác phẩm truyện​


Nhân vật là linh hồn của tác phẩm truyện, là nơi câu chuyện có được hơi thở, cảm xúc và sức sống.

Nếu cốt truyện tạo nên hình hài của một tác phẩm thì nhân vật chính là phần làm nên sức sống cho hình hài ấy.

Nhân vật là chiếc cầu nối giữa thế giới nghệ thuật của nhà văn và thế giới cảm xúc của người đọc.

Qua nhân vật, những vấn đề tưởng như trừu tượng của cuộc sống được cụ thể hóa thành số phận, hành động, lựa chọn và cảm xúc của con người.

Một tác phẩm có thể được nhớ bởi câu chuyện hấp dẫn, nhưng thường sống lâu trong lòng người đọc nhờ những nhân vật khó quên.

Nhân vật không chỉ tham gia vào câu chuyện mà còn là nơi nhà văn gửi gắm cách nhìn, cách nghĩ và thái độ của mình trước cuộc đời.

Muốn hiểu chiều sâu của một tác phẩm truyện, nhiều khi phải bắt đầu từ việc hiểu con người đang sống trong thế giới của tác phẩm ấy.

Nhân vật là điểm gặp gỡ giữa hiện thực đời sống và sức sáng tạo của nhà văn.

Nhận định về nhân vật và hiện thực cuộc sống​


Nhân vật văn học bắt nguồn từ cuộc đời nhưng không phải là bản sao nguyên xi của con người ngoài đời.

Từ những con người bình thường của cuộc sống, qua sự lựa chọn và sáng tạo của nhà văn, nhân vật trở thành một hình tượng nghệ thuật mang ý nghĩa khái quát.

Một nhân vật có thể mang số phận của một cá nhân nhưng phía sau số phận ấy nhiều khi là câu chuyện của cả một tầng lớp, một cộng đồng hoặc một thời đại.

Nhân vật càng mang nét riêng của một con người cụ thể lại càng có khả năng gợi ra những vấn đề chung của con người.

Số phận nhân vật là một cách để nhà văn kể câu chuyện về số phận con người trong một hoàn cảnh lịch sử và xã hội nhất định.

Nhà văn không bê nguyên con người từ cuộc sống vào trang sách; họ lựa chọn, nhào nặn và tổ chức những nét tiêu biểu để tạo thành một con người nghệ thuật.

Đằng sau cuộc đời của một nhân vật thường thấp thoáng bóng dáng của một môi trường sống, một xã hội và một thời đại.

Nhận định về tính cách nhân vật​


Tính cách nhân vật không nằm trong lời giới thiệu của tác giả mà được chứng minh bằng cách nhân vật suy nghĩ, lựa chọn và hành động.

Một hành động trong hoàn cảnh bình thường có thể chưa nói được nhiều, nhưng một lựa chọn ở thời điểm thử thách có thể cho thấy toàn bộ bản chất của nhân vật.

Muốn hiểu một con người trong văn chương, đừng chỉ nhìn vào điều họ nói; hãy nhìn cả điều họ làm, điều họ nghĩ và điều họ lựa chọn khi đứng trước nghịch cảnh.

Tính cách nhân vật được tạo nên từ một hệ thống chi tiết, trong đó đôi khi chỉ một ánh mắt, một câu nói hoặc một cử chỉ nhỏ cũng đủ hé mở cả thế giới nội tâm.

Nhân vật hay không phải là nhân vật hoàn hảo, mà là nhân vật có cá tính, có chiều sâu và có logic tâm lí riêng.

Một nhân vật sống động luôn có những nét riêng khiến người đọc có cảm giác rằng con người ấy chỉ có thể là chính họ chứ không thể nhầm với bất kì ai khác.

Nhận định về nội tâm nhân vật​


Thế giới bên ngoài tạo nên hoàn cảnh của nhân vật, còn thế giới bên trong mới làm nên chiều sâu của nhân vật.

Những giằng co nội tâm thường là nơi con người hiện lên chân thực nhất, bởi ở đó nhân vật phải đối diện với chính mình.

Khám phá tâm lí nhân vật là hành trình đi từ hành động bên ngoài đến những rung động, ám ảnh, khao khát và mâu thuẫn sâu kín bên trong con người.

Có những biến cố diễn ra rất nhanh trong câu chuyện nhưng lại tạo nên một cuộc chuyển biến rất dài trong tâm hồn nhân vật.

Một nhân vật có chiều sâu không chỉ biết hành động mà còn biết day dứt, lựa chọn, nghi ngờ, hi vọng và tự đối thoại với chính mình.

Nhận định về nhân vật và tình huống truyện​


Tình huống truyện giống như một phép thử mà qua đó bản chất và tính cách nhân vật được bộc lộ rõ nét.

Đặt nhân vật vào nghịch cảnh là một trong những cách hữu hiệu nhất để nhà văn buộc nhân vật phải bộc lộ con người thật của mình.

Chính trong những thời khắc phải lựa chọn, nhân vật thường hiện lên rõ ràng nhất về phẩm chất, tính cách và quan niệm sống.

Tình huống càng éo le, những vùng sâu kín trong tâm hồn nhân vật càng có cơ hội được đánh thức.

Một tình huống truyện thành công không chỉ làm câu chuyện trở nên hấp dẫn mà còn tạo không gian để tính cách và số phận nhân vật tự lên tiếng.

Nhận định về số phận nhân vật​


Số phận nhân vật là nơi nhà văn đặt những câu hỏi lớn về con người và cuộc đời.

Có những nhân vật khiến người đọc day dứt không phải bởi họ làm nên những việc phi thường, mà bởi cuộc đời rất đỗi bình thường của họ chứa đựng những bi kịch lớn lao.

Qua một số phận riêng, văn chương có thể khiến người đọc nhận ra nỗi đau, ước mơ và khát vọng chung của rất nhiều con người.

Bi kịch của nhân vật không chỉ nằm ở những gì họ mất đi mà còn nằm ở khoảng cách giữa điều họ khao khát và điều cuộc đời cho phép họ đạt được.

Một nhân vật đáng nhớ thường mang trong mình vừa dấu vết của hoàn cảnh vừa sức mạnh phản ứng lại hoàn cảnh ấy.

Nhận định về nghệ thuật xây dựng nhân vật​


Xây dựng nhân vật là nghệ thuật biến những con chữ bất động thành một con người có dáng vẻ, tiếng nói, tâm trạng và số phận.

Tài năng của nhà văn thể hiện ở khả năng khiến người đọc tin vào sự tồn tại của một con người vốn chỉ được tạo nên bằng ngôn từ.

Ngoại hình giúp người đọc nhìn thấy nhân vật; ngôn ngữ giúp nghe thấy nhân vật; hành động và nội tâm giúp hiểu được nhân vật.

Chi tiết nghệ thuật có thể rất nhỏ nhưng khi đặt đúng chỗ lại trở thành chiếc chìa khóa mở vào thế giới tính cách của nhân vật.

Một nhân vật thành công không nhất thiết phải được miêu tả thật nhiều; điều quan trọng là nhà văn chọn được những chi tiết có sức gợi lớn nhất.

Ngôn ngữ nhân vật không chỉ để giao tiếp mà còn là một dấu hiệu nhận diện tính cách, hoàn cảnh sống, trình độ và đời sống tinh thần của con người ấy.

Miêu tả nhân vật giỏi là để người đọc tự nhận ra tính cách qua lời nói và hành động thay vì nhà văn phải liên tục nói thay nhân vật rằng họ là người như thế nào.

Nhận định về nhân vật và tư tưởng của nhà văn​


Nhân vật là nơi những suy tư của nhà văn về con người được chuyển hóa thành hình tượng nghệ thuật.

Nhà văn có thể không trực tiếp phát biểu quan điểm, nhưng cách họ để nhân vật sống, đau khổ, lựa chọn và đi đến kết cục đã phần nào bộc lộ cách nhìn của họ về cuộc đời.

Mỗi nhân vật lớn đều chứa đựng một cách lí giải riêng của nhà văn về con người.

Thông qua thái độ đối với nhân vật, người đọc có thể nhận ra tình thương, sự trân trọng, niềm tin hoặc những day dứt của nhà văn trước cuộc sống.

Giá trị tư tưởng của tác phẩm không nằm ngoài số phận nhân vật mà thường được thấm vào từng biến cố, hành động và lựa chọn của họ.

Nhận định về nhân vật và giá trị nhân đạo​


Khi văn chương cúi xuống một số phận nhỏ bé, nó có thể làm hiện lên những vấn đề lớn lao của con người.

Viết về nỗi đau của nhân vật không chỉ để kể về đau khổ mà còn để đánh thức khả năng biết đau trước nỗi đau của người khác.

Giá trị nhân đạo của một tác phẩm trước hết được thể hiện ở cách nhà văn nhìn thấy con người ngay cả khi họ đang bị hoàn cảnh làm cho méo mó, tổn thương hoặc cùng đường.

Một ngòi bút nhân đạo không chỉ nhìn thấy cái khổ của nhân vật mà còn phát hiện những phần đẹp đẽ vẫn âm thầm tồn tại trong họ.

Văn chương chân chính không vội phán xét nhân vật mà cố gắng đi sâu tìm hiểu những nguyên nhân đã làm nên số phận và lựa chọn của con người.

Thương một nhân vật trong văn chương nhiều khi cũng là học cách thấu hiểu những con người khác biệt với mình trong cuộc sống.

Nhận định về sức sống của nhân vật​


Trang sách có thể khép lại nhưng một nhân vật thành công vẫn tiếp tục sống trong trí nhớ và những cuộc đối thoại của người đọc.

Sức sống của nhân vật được đo không chỉ bằng thời gian họ xuất hiện trong tác phẩm mà còn bằng thời gian họ ở lại trong lòng người đọc.

Có những nhân vật đã vượt khỏi giới hạn của một câu chuyện để trở thành hình ảnh quen thuộc khi người ta nói về một kiểu người, một tính cách hoặc một số phận.

Nhân vật lớn của văn học vừa thuộc về thời đại đã sinh ra họ, vừa có khả năng trò chuyện với con người của nhiều thời đại khác.

Một nhân vật thực sự có sức sống là nhân vật khiến mỗi thế hệ độc giả lại có thể tìm thấy trong đó những cách hiểu mới.

Những câu có thể dùng để mở bài phân tích nhân vật​


Văn chương suy cho cùng vẫn là hành trình đi tìm con người. Bởi vậy, giữa vô vàn yếu tố tạo nên một tác phẩm truyện, nhân vật luôn giữ một vị trí đặc biệt.

Mỗi nhà văn bước vào thế giới nghệ thuật bằng một con đường riêng, nhưng nơi họ thường gặp nhau chính là khát vọng khám phá con người.

Một truyện ngắn hay có thể bắt đầu từ một tình huống, một biến cố hay một khoảnh khắc đời thường, nhưng điều còn lại lâu nhất trong lòng người đọc thường là một con người.

Nhân vật văn học được sinh ra từ ngôn từ nhưng lại có khả năng khiến người đọc vui, buồn, yêu, ghét và day dứt như trước một con người thực sự.

Đọc một tác phẩm truyện cũng là bước vào một thế giới của những số phận, nơi mỗi nhân vật mang theo một câu chuyện và một cách trả lời riêng trước cuộc đời.

Những câu có thể dùng để kết bài phân tích nhân vật​


Khép lại tác phẩm, câu chuyện có thể đã kết thúc nhưng dư âm về nhân vật vẫn còn ở lại, bởi những gì nhân vật trải qua cũng là những câu hỏi văn chương gửi tới mỗi con người.

Sức hấp dẫn của nhân vật không chỉ nằm ở những gì họ đã làm trong câu chuyện mà còn ở những suy nghĩ mà họ tiếp tục khơi gợi sau khi trang sách cuối cùng khép lại.

Qua việc xây dựng nhân vật, nhà văn không chỉ tạo nên một con người nghệ thuật mà còn gửi đến người đọc một cách nhìn về cuộc sống và con người.

Một nhân vật thành công là khi bước ra khỏi giới hạn của trang sách để trở thành một phần trong kí ức và suy ngẫm của người đọc.

Chính chiều sâu của nhân vật đã góp phần làm nên chiều sâu của tác phẩm và cho thấy sức mạnh đặc biệt của văn chương trong việc khám phá con người.

Cách vận dụng nhận định khi phân tích nhân vật​


Không nên đưa nhận định vào bài chỉ để bài viết trông "học thuật" hơn rồi bỏ đó. Sau khi dẫn nhận định, cần liên hệ trực tiếp với nhân vật đang phân tích. Chẳng hạn, với câu của Tô Hoài rằng "Nhân vật là nơi duy nhất tập trung hết thảy, giải quyết hết thảy trong một sáng tác", có thể tiếp tục bằng cách khẳng định nhân vật đang được phân tích chính là nơi tác giả tập trung thể hiện chủ đề, tư tưởng và cái nhìn về con người.

Khi phân tích một nhân vật cụ thể, có thể triển khai từ hoàn cảnh, ngoại hình, lời nói, hành động, diễn biến tâm lí đến số phận; sau đó nâng lên thành phẩm chất, tính cách, giá trị điển hình và tư tưởng mà tác giả gửi gắm. Nhân vật trong truyện vốn là phương tiện quan trọng để nhà văn phản ánh hiện thực, thể hiện quan niệm về con người và tổ chức thế giới nghệ thuật của tác phẩm.

Điều quan trọng nhất là nhận định phải phục vụ cho việc phân tích chứ không thay thế việc phân tích. Một câu lí luận hay có thể làm bài văn sáng hơn, nhưng dẫn chứng chính xác và khả năng chỉ ra vì sao nhân vật lại có tính cách, số phận và ý nghĩa như vậy mới là phần quyết định sức thuyết phục của bài viết.
 

Những người đang xem chủ đề này

Xu hướng nội dung

Back