Bạn thích nhân vật nào trong Tĩnh Hải Loạn Lạc?

  • Hạo Thiên

  • Trương Siêu

  • Tử Trọng

  • Bá Hầu

  • Lê Hầu

  • Lê Cung

  • Lý Sử

  • Trần Lượng

  • Ông lão bí ẩn

  • Hạo Vũ

  • Quách Tuấn

  • Nguyễn Lương, Nguyễn Sơn


Results are only viewable after voting.
488 ❤︎ Bài viết: 0 Tìm chủ đề
Chương 60: Soái Vương thành lập liên minh cùng Bá Hầu, Quảng Hầu

soai-vuong-ba-hau-quang-hau-jpg.11896


Tới giờ Tuất, vua khanh các nước tề tựu ở chính điện để chuẩn bị dự yến tiệc. Ai nấy dự tiệc nét mặt cũng tươi cười, trò chuyện rôm rả. Các quan người thì vẫn muốn đàm đạo về những chính sách mới, người thì bàn luận về thơ ca, hội họa. Việc giao lưu giữa vua tôi nhiều nước như vậy quả là chưa từng có tiền lệ.

Ngô Vương nhìn cảnh tượng huyên náo xung quanh, trong lòng rất mãn nguyện.

Mộc Kỳ hỏi:

- Hôm nay nhìn chúa công rất vui!

Ngô Vương cười, đáp:

- À, ta chỉ nghĩ, không ngờ Tĩnh Hải quân có ngày này, vua tôi các nước hội tụ, tay bắt mặt mừng, báo hiệu một giang sơn hòa bình, thịnh vượng!

Mộc Kỳ nói:

- Chúa công quả là có tấm lòng nghĩ cho thiên hạ đại cuộc, thần rất khâm phục! Chúa công là người có công lớn giúp Tĩnh Hải quân bước tiếp trang mới sau một thời kỳ đen tối, vì thế mà bách tính được nhờ!

Hoài Liêm nói:

- Thần xưa nay tin vào luật nhân quả, công của Người đối với con dân Tĩnh Hải lớn như vậy, ắt sẽ được ông Trời ban thưởng xứng đáng!

Ngô Vương cười lớn, nói:

- Các khanh nói vậy thì ta cũng mừng!

Sảnh chính điện rộng ngàn trượng, xung quanh điêu khắc, trạm trổ rất kỳ công và đẹp mắt. Cột trụ bằng gỗ tùng thân to vài người ôm, giữa sảnh đường đặt một tấm thảm lớn trải dài đến tận cửa.

Vệ Vương khen:

- Quả không hổ danh là nước Cừ hùng mạnh, xây dựng một nơi uy nghi, tráng lệ thế này thật khiến người ta phải thán phục!

Vua tôi các nước lần lượt bước vào theo thứ bậc, ổn định chỗ ngồi, cả thảy gần trăm người. Các vua được sắp xếp ngồi bàn lớn phía trên còn quan viên thì ngồi bàn nhỏ thành hàng phía dưới.

Cừ Vương mở lời trước toàn thể:

- Hôm nay nước Cừ rất vinh dự được tiếp đón chư vị hào kiệt bốn phương, nếu có điều gì thất lễ, xin lượng thứ!

Ngô Vương nói:

- Ngược lại là đằng khác, ta nghĩ chỉ có nước Cừ mới có thể tổ chức yến tiệc hoành tráng như thế này, chư vị thấy có đúng không?

Khắp sảnh đều hưởng ứng:

- Phải, phải lắm!

Cừ Vương nói tiếp:

- Ngày hôm nay tất cả chúng ta đều rất đoàn kết, đồng chí đồng lòng mà trao đổi, bàn bạc với nhau. Cuối cùng đúc kết được những chính sách mới rất hiệu quả, được lòng toàn dân thiên hạ, từ đó giúp cho khắp Tĩnh Hải quân bước sang thời kỳ thịnh vượng. Được tổ chức đại lễ như vậy là tâm huyết của lão phu, được ngồi đây uống rượu cùng các vị đã là điều mừng lắm rồi! Người có công lớn nhất giúp chúng ta được hội ngộ nơi Trì Lăng đó là Ngô Vương, nếu không có ngài ấy thì chúng ta vẫn phải triều cống cho Nam Chiếu Vương rồi!

Lỗ Vương nói:

- Phải lắm, Ngô Vương không những giúp Tĩnh Hải thoát được xiềng xích của Nam Chiếu Vương mà còn thay mặt chúng ta thương lượng được với vua Đường, công ấy quả rất lớn!

Các vua đều đồng tình, cho là phải.

Ngô Vương nâng chén rượu, nói:

- Ngô Khởi tài hèn sức mọn, may mắn gặp thời, được chư vị chiếu cố như vậy trong lòng mãn nguyện lắm! Chúng ta cùng nâng chén, chúc cho Tĩnh Hải quân từ nay trở về sau được ấm no, thịnh vượng!

Cả sảnh điện gần trăm người đều nâng chén, đồng thanh:

- Cạn!

Mở đầu tiệc, nhạc công tấu lên khúc nhạc hào hùng, hàng chục vũ nữ nước Cừ mình hạc xương mai, xiêm y lộng lẫy múa rất đẹp mắt. Vua tôi các nước bắt đầu dùng tiệc, chúc rượu rồi trò chuyện riêng với nhau.

Ngô Vương ngồi cạnh Trịnh Vương, nâng rượu mời ông, nói:

- Cảm ơn ngài hôm nay đã nói tốt cho ta, Ngô Khởi mến mộ ngài đã lâu, xin kính ngài một chén!

Trịnh Vương cười, đáp:

- Lão phu chỉ nói theo sự thật, ngài đừng quá câu nệ làm gì! Mời!

Ngô Vương nói tiếp:

- Ta thấy ngài và Cừ Vương có hiềm khích từ lâu, nước Cừ và nước Trịnh đều là nước lớn, nếu đấu đá như vậy sẽ không tốt cho liên minh các nước chúng ta. Nhân dịp vui này, tại hạ mạn phép đề xuất hai vị làm hòa, cùng đoàn kết tương trợ lẫn nhau, là trụ cột vững chắc để những nước nhỏ hơn được nhờ cậy. Không biết ý hai vị thế nào?

Cừ Vương gật đầu:

- Phải, phải! Ta và ông đã đấu đá nhiều năm, cũng phải dần thích nghi với thời cuộc!

Trịnh Vương đáp:

- Nếu Cừ Vương đã có lời như vậy thì lão phu cũng đồng tình với Ngô Vương, ta và ngài nên kết thù thành bạn, phía dưới chúng ta còn có nước Soái mưu mô xảo quyệt, tuyệt đối không được khinh suất!

Ngô Vương hỏi Tấn Vương:

- Nhắc đến nước Soái, ta đã nghe nói về chiến sự miền nam, Tấn Vương quả là vị anh hùng bất khuất, dù mất nước vào tay Soái nhưng vẫn quyết chí đánh đuổi giặc xâm lăng, tại hạ nể phục vô cùng!

Tấn Vương đáp:

- Ấy là nhờ có nước Vệ hết lòng tương trợ, cử binh sang giúp thì nước Tấn mới có được ngày hôm nay!

Vệ Vương nói:

- Nay ta giúp Tấn Vương, sau này Tấn Vương cũng sẽ giúp lại, hai nước láng giềng phải tương trợ lẫn nhau, đó là điều nên làm!

Ngô Vương nâng chén mời rượu Vệ Vương, nói:

- Nghe danh tiên vương Hạo Vũ đã lâu, trong lòng rất mến mộ, nay được gặp Vệ Vương tướng mạo ngút trời, có chí khí của bậc quân tử, quả đúng là hổ phụ sinh hổ tử!

Vệ Vương đáp:

- Ngô Vương quá lời rồi! Hai nước chúng ta tuy cách xa một bắc một nam nhưng nếu cần tương trợ Ngô Vương cứ nói một tiếng, ta nhất định sẽ giúp!

Vua các nước trò chuyện rôm rả với nhau như những bằng hữu lâu ngày không gặp, đây là tín hiệu đáng mừng cho cục diện Tĩnh Hải quân.

Trong thời gian các nước hội chư hầu ở Trì Lăng, Bá Hầu và Quảng Hầu nhận được lời mời giao hảo của nước Soái liền đồng ý, hẹn nhau gặp mặt ở đất Phong Sương, thuộc Hoan Châu.

Soái Vương cho người chuẩn bị lễ vật rất hậu, toàn đồ vật quý hiếm cùng ngàn lượng vàng tặng cho hai nước. Bá Hầu, Quảng Hầu biết Soái là nước lớn, lại nằm ở vị trí trọng yếu có thể kiềm chế được hai nước Tấn và Vệ nên bàn tính với nhau liên thủ cùng nước Soái.

Cùng thời điểm diễn ra hội Trì Lăng, ba vị vua của Soái, Hoan Châu, Phúc Lộc Châu ngồi mật bàn với nhau.

Soái Vương hỏi:

- Hai vị đây cũng không được Ngô Vương mời hội chư hầu sao?

Bá Hầu đáp:

- Là bọn ta không tham dự, thiết nghĩ nước ta ở xa, không muốn chịu sự ràng buộc ở phương bắc!

Quảng Hầu nói:

- Vậy Soái Vương không được mời sao?

Soái Vương đập bàn một tiếng, nói:

- Chúng thấy Soái lớn mạnh nên bày kế chia rẽ, hướng cho nước Soái làm cái gai trong mắt các nước khác, quả là hèn hạ!

Bá Hầu hỏi:

- Nếu là như vậy thì ngài tính thế nào?

Soái Vương đáp:

- Ấy cũng chính là lý do ta tới gặp hai vị! Đó là mối hiểm nguy khôn lường, cũng liên can đến hai vị nên ta nảy ra ý định liên thủ cùng Hoan Châu và Phúc Lộc Châu!

Quảng Hầu hỏi:

- Hiểm nguy mà ngài nói là điều gì?

Soái Vương đáp:

- Nay Ái Châu và Diễn Châu là đồng minh, lại đi dự hội chư hầu cùng các nước lớn, nước Soái ta bị kẹp ở giữa, tình thế rất nguy hại. Nếu nước Soái của ta có mệnh hệ gì, sớm muộn chúng cũng sẽ thôn tính nước của hai vị!

Quảng Hầu vuốt râu, gật gù:

- Soái Vương nói rất phải, lão phu cũng chưa tính đến điều ấy!

Bá Hầu nói:

- Đâu phải mối lo của mỗi ngài, Nghĩa Hầu vốn có thù diệt tộc với ta, sớm muộn cũng có ngày hắn hưng binh đánh Phúc Lộc!

Soái Vương nói:

- Chính vì vậy, ta muốn cùng hai vị kết thành đồng minh, trên dưới phong tỏa, chia cắt Diễn Châu và Ái Châu khỏi các nước phía bắc. Nếu chúng có đánh xuống dưới phía nam, ta lập tức hưng binh đánh vào Diễn Châu, khiến chúng không thể nào yên được! Ngoài ra, ba nước chúng ta có thể giao thương với nhau, trao đổi tài nguyên trù phú, qua đó phát triển ngân khố, quân sự, chẳng phải tốt lắm ru!

Bá Hầu đồng tình:

- Như vậy là vẹn toàn, nếu được Soái Vương bảo trợ ở phía trên, ta và Quảng Hầu đủ sức chống Ái Châu!

Bá Hầu, Quảng Hầu thì thầm bàn bạc riêng với nhau một hồi. Bá Hầu nói:

- Soái là nước lớn, hai bọn ta đồng lòng muốn ngài đứng ra làm chủ, dẫn dắt ba nước chống lại các thế lực kia!

Soái Vương cười, nói:

- Được, được lắm! Một cây làm chẳng nên non, ba cây chụm lại nên hòn núi cao! Ba nước chúng ta đoàn kết một lòng mới chống lại được lũ bọn chúng!

Sau khi ba nước họp bàn cùng nhau đối sách chống lại liên minh nước Ngô, Bá Hầu và Quảng Hầu cũng làm lễ xưng vương. Hoan Châu đổi tên thành nước Yên, xưng hiệu Yên Vương. Phúc Lộc Châu đổi thành nước Đinh, xưng hiệu Đinh Vương.

Mùa đông năm 880, cục diện Tĩnh Hải quân chia làm hai phe lớn đối địch nhau, một phe dẫn đầu bởi Kinh lược sứ Ngô Khởi, một phe dẫn đầu bởi Soái Vương Lữ Hành.

Sau khi lập liên minh, các nước án binh bất động, tuy bề ngoài thì sóng yên biển lặng nhưng các nước đều lo sửa sang triều chính, phát triển binh lực để chuẩn bị sẵn sàng cho những biến lớn có thể ập tới bất cứ lúc nào.

Binh đao tạm thời buông xuống, người dân khắp nơi thuộc Tĩnh Hải quân ăn mừng, mở hội. Họ sống trong loạn lạc đã quá lâu, nay được chút bình yên âu cũng là điều đáng trân quý.

Việc thông thương giúp người dân có đời sống tốt hơn nhiều lần. Hàng hóa đa dạng giữa các nước giúp các thương nhân buôn bán tấp nập, phát triển tiền tài, nhờ vậy ngân khố có thêm nhiều tiền thuế từ việc buôn bán, qua đó sưu thuế của dân giảm đi rất nhiều.

Nổi bật trong số các nước đó là ba nước Ngô, Soái, Vệ. Ba nước này có đường lối tuy khác nhau nhưng điểm chung là phát triển thần tốc nhờ những đối sách hữu hiệu đến từ Quách Tuấn, Nguyên Hà và Tử Trọng.

Nước Ngô trên đà tái thiết nhưng dần bắt kịp và vượt lên những nước nhỏ khác như nước Đoái, nước Tùy. Nước Ngô chủ trương đẩy mạnh quan hệ với hai nước lớn Cừ và Trịnh. Nhờ hai nghề làm trang sức và buôn dầu có tiếng nên nước Ngô bán cho hai nước Cừ và Trịnh rất nhiều, giúp ngân khố nước Ngô trở nên giàu có hơn bao giờ hết. Ngô Vương dùng ngân khố dồi dào mua binh khí của nước Trịnh, rèn luyện binh mã, xây dựng tường hào, còn lại phát triển an sinh cho bách tính nước Ngô.

Nước Soái nhờ lãnh thổ rộng lớn, dân số đông đúc nên trải khắp các nghề. Nước Soái dồn phần lớn ngân khố chiêu binh mãi mã, gia tăng cả lượng và chất. Nước Soái đẩy mạnh nghề rèn, binh khí và khiên giáp tốt nhất vùng Trung và Nam Bộ.

Nước Vệ với sự phò tá của Tử Trọng và Lã Vinh giúp giao thương trong nước vô cùng sầm uất. Tại kinh đô, chợ búa mọc lên như nấm, xe cộ, người ngựa đông kín đường. Nước Vệ vốn đã giàu có nhờ nghề muối và sắt, nay còn được giao thương với các nước phương bắc khiến ngân khố gia tăng tới hàng chục ngàn lượng vàng. Binh lực nước Vệ hiện tại không hề thua kém nước Soái, quân số lên tới hơn mười vạn. Một quốc gia như vậy, nhìn vào triều đình thì thấy sự uy nghiêm, nhìn vào chợ búa thì thấy sự giàu sang, nhìn vào biên cương thì thấy sự vững chãi.

Quách Tuấn luôn nói với Ngô Vương rằng nước Vệ chính là kẻ địch lớn nhất sau này, ông nhận xét về nước Vệ rằng: "Nước Vệ trên dưới một lòng, hiền tài tề tựu, ngân khố dư thừa, binh mã hùng mạnh, chẳng mấy mà vượt cả nước Cừ lẫn nước Trịnh. Nước Ngô tuy rằng đi đúng đường lối, phát triển cách mấy cũng khó lòng sánh kịp nước Vệ".
 
488 ❤︎ Bài viết: 0 Tìm chủ đề
Chương 61: Hạo Thiên làm lễ xưng vương, Hàn Toại xuất hiện

hao-thien-xung-vuong-jpg.12278


Sau khi trở về từ Trì Lăng, Vệ Vương cho người chuẩn bị làm lễ xưng vương chính thức.

Ngày lễ xưng vương, Vệ Vương không tổ chức trong hoàng cung mà muốn tổ chức ở kinh thành để có không gian rộng rãi cho người dân nước Vệ tới xem.

Dương Minh can:

- Chúa công không nên tổ chức ngoài kinh thành, chẳng may có phản tặc đến thì nguy to.

Vệ Vương cười, nói:

- Ta không dám nhận là một vị vua tốt, nhưng chắc chắn không phải một vị vua tồi. Bách tính nước Vệ không thể có nhiều người ghét ta mà làm phản được!

Dương Minh vẫn thuyết phục:

- Nhưng dù sao cẩn trọng thì vẫn hơn, tính mạng chúa công là trên hết.

Vệ Vương quả quyết:

- Ta muốn dịp này nói đôi lời với bách tính nước Vệ, nhất định phải kiếm một nơi rộng lớn!

Dương Minh nói:

- Nếu chúa công đã quyết như vậy thì thần không dám can nữa, có điều chúa công nên huy động nhiều binh sĩ đến canh phòng nghiêm ngặt cho buổi lễ.

Vệ Vương đáp:

- Không, chỉ đem theo khoảng ngàn người thôi, ta không muốn kinh động tới dân.

Dương Minh vâng lời rồi đi kiếm địa điểm rộng rãi tổ chức buổi lễ. Cuối cùng Dương Minh chọn tổ chức ở Đại Nguyên đài, thuộc kinh thành nước Vệ.

Ngày lễ diễn ra, các tướng trấn thủ như Nguyễn Lương, Nguyễn Sơn, Hoàng Trí đều trở về kinh kỳ để chúc mừng cho Vệ Vương. Bách tính nước Vệ nhiều người đến Đại Nguyên đài từ khi tờ mờ sáng để lấy được chỗ đẹp, thấy rõ buổi lễ hơn.

Khung cảnh kinh thành nước Vệ khắp nơi phố xá trở nên vắng vẻ, chỉ riêng những ngả đường dẫn tới Đại Nguyên đài thì đông nghịt, dân chen lấn hóng xem buổi lễ, già trẻ lớn bé tới cả ngàn người. Hôm nay là ngày phát tài của các quán trọ, những bậc thương nhân giàu có trong thành đều kiếm chỗ ngồi đẹp trên lầu để chứng kiến toàn cảnh buổi lễ.

Đến giờ hành lễ, Vệ Vương bước tới dưới đàn, ba hồi trống dài nổi lên, toàn dân im lặng như tờ, khác hẳn với khung cảnh huyên náo ban nãy. Vệ Vương quỳ xuống trước đỉnh bốc nghi ngút khói, dâng hương lên cúng bái thiên địa và thần linh, tất cả xung quanh cũng quỳ theo, chăm chú nhìn về phía lễ đài.

Vệ Vương quỳ rạp xuống đất, tay cầm ba nén hương lớn, khấn rằng:

"Kính lạy thiên địa, kính lạy thần linh, kính lạy liệt tổ liệt tông!

Hạo Thiên từ ngày gặp họa diệt tộc, lưu lạc đất Ái Châu, may được Lê Hầu hết lòng tương trợ, cứu giúp qua cảnh khốn cùng. Con có diễm phúc được nhạc phụ nâng đỡ, tin tưởng giao phó cho đại sự tiếp quản Ái Châu, trong lòng cảm tạ ngàn lần cũng không thấu. Vì vậy nên con chưa bao giờ dám trễ nải việc nước, luôn đặt bách tính và giang sơn nước Vệ lên đầu để khỏi phụ lòng mong đợi của nhạc phụ.

Nước Vệ đã trải qua năm tháng gian truân, từ giặc cỏ Trần Tiềm đến Diễn Châu rồi nước Soái nhưng nước Vệ vẫn luôn kiên cường, bất khuất chống giặc trong giặc ngoài. Nay nước Vệ thái bình, dân chúng no đủ, Hạo Thiên cảm thấy mừng không tả xiết.

Xin trời đất chứng giám cho tấm lòng son sắt, Hạo Thiên hôm nay xưng vương, thề sẽ dốc hết tâm can giúp cho nước Vệ ngày càng cường thịnh, nhân dân được yên bình. Nếu làm trái lời này, nguyện cho Thiên Lôi đánh chết"

Vệ Vương vái ba lạy rồi cắm hương vào lư. Vệ Vương bước tới trước đài, mắt hướng nhìn xung quanh toàn thể dân chúng nước Vệ, nói:

- Hỡi muôn dân trăm họ, hỡi ba quân tướng sĩ! Nước ta trải qua nhiều chiến sự, cuối cùng cũng được hưởng ba năm thái bình. Nay Nam Chiếu Vương suy tàn, Tĩnh Hải đã không còn chủ, nước Vệ đất rộng ngàn dặm, tiền tài dư dả, binh hùng tướng mạnh, xét thấy thiên thời, địa lợi, nhân hòa đã đủ, Hạo Thiên làm lễ xưng vương để xứng với vị thế của nước Vệ.

Từ nay trở đi, nước Vệ kẻ cày ruộng có đất cày, người buôn bán có kế sinh nhai, kẻ sĩ có chỗ dùng tài, binh lính có phép tắc, quan lại có thưởng phạt phân minh. Ta cùng bách tính lấy yên dân làm gốc, lấy chính danh làm đầu, lấy sức mạnh làm uy, quyết không để nước nào khác coi thường.

Tất cả người dân cũng quanh nghe xong hô vang một vùng trời:

- Vạn tuế, vạn tuế, vạn vạn tuế!

Buổi lễ xong xuôi, Vệ Vương cho truyền khanh tướng vào điện bàn quốc gia đại sự sau cuộc hội chư hầu ở Trì Lăng, bàn đối sách sau này.

Vệ Vương nói:

- Sau khi hội chư hầu ở Trì Lăng, cục diện Tĩnh Hải quân đã thay đổi. Các nước từ nay trở thành ngang hàng, kết thành đồng minh. Đây là việc tốt thế nhưng mầm mống nước Soái vẫn còn, thù diệt tộc phương nam chưa báo, ta vẫn chưa thấy yên lòng. Nhân dịp các vị Trấn thủ tề tựu vào cung, ta muốn cùng các khanh bàn sách lược của nước Vệ sau này.

Vệ Vương quay sang hỏi Tử Trọng:

- Thừa tướng là người am hiểu đại cục, chẳng hay có cao kiến gì?

Tử Trọng đáp:

- Nước Vệ đang trải qua tháng ngày yên ổn, phát triển tiềm lực lớn mạnh nhưng vẫn còn nhiều điều phải lo nghĩ. Liên minh ba nước Soái, Yên, Đinh đã thành lập, đều ở vị trí trong yếu và gần nước Vệ. Nước Vệ từ nay cần tập trung đẩy mạnh rèn luyện binh mã, chiêu mộ tân binh để chuẩn bị cho những diễn biến khó lường sau này. Mối lo ngại lớn nhất sau này chính là nước Ngô, họ ở xa chúng ta cả ngàn dặm, được che chở bởi hai nước lớn Cừ và Trịnh, tiềm lực khôn lường. Ngô Vương và Quách Tuấn đều là những kẻ làm nên đại sự, nếu chúng ta không nhanh chân hơn nước Ngô, e rằng mai này khó mà cự lại được.

Vệ Vương hỏi:

- Thừa tướng nói rất có lý, có điều tăng ngân khố binh mã liệu người dân có oán trách không?

Tử Trọng nói:

- Chúa công có tấm lòng lo cho dân quả rất đáng quý! Chúa công chớ lo, chúng ta có Lã Vinh tài năng xuất chúng, các nước khó có người như vậy. Xét về tiền bạc, Lã Vinh sẽ giúp nước Vệ vừa có tiền phát triển binh lực mà lại không cần thu quá nhiều sưu thuế. Bách tính nước Vệ vốn rất tin tưởng chúa công, dẫu có tăng một chút họ cũng sẽ ủng hộ thôi!

Vệ Vương hỏi Lã Vinh:

- Ngân khố chúng ta hiện có bao nhiêu?

Lã Vinh đáp:

- Cả thảy hơn một vạn lượng vàng!

Vệ Vương nói:

- Nay ta muốn ngươi dùng hai ngàn lượng vàng, cấp cho Nguyễn Lương, Nguyễn Sơn mua nhiều lương thảo, chiêu mộ và huấn luyện binh sĩ quy mô lớn. Một ngàn lượng vàng cho Trần Thái, huy động nhân công tập trung rèn binh khí, khiên giáp thật tốt rồi chuyển giao cho các doanh trại. Ngoài ra ta muốn gia cố thành trì ở phía nam, gia tăng phòng bị đối với hai nước Yên và nước Đinh, liệu hết bao nhiêu vàng ngươi tự suy xét.

Tử Trọng nói với Lã Vinh:

- Sau hội chư hầu, nước Vệ sẽ giao thương nhiều với các nước phương bắc. Ta rất tin tưởng ngươi thế nhưng ngươi không phải ba đầu sáu tay, nên chọn một người đáng tin cậy mà phó thác việc giao thương với các nước.

Lã Vinh đáp:

- Tuân mệnh!

Vệ Vương nói với các tướng lĩnh, Trấn thủ:

- Các khanh đẩy mạnh tuyển binh các vùng, giữ yên thành trì, luôn trong tâm thế sẵn sàng nếu có chiến tranh ập tới.

Trương Siêu, Nguyễn Lương, Nguyễn Sơn đồng thanh:

- Tuân mệnh!

Vệ Vương thấy mọi việc đã ổn thỏa, nói:

- Các nhiệm vụ đã được giao phó, các ngươi có thể lui, tối nay nhớ tới dự yến tiệc!

Toàn bộ khanh tướng đều lui trở ra. Tử Trọng nói:

- Dương Minh ở lại, có việc cần bàn!

Vệ Vương ngạc nhiên, hỏi:

- Thừa tướng còn việc gì cần bàn sao?

Tử Trọng đáp:

- Một việc rất hệ trọng, đó là nước Vệ thiếu một vị Nguyên soái có đủ tài trí thống lĩnh ba quân!

Vệ Vương hỏi:

- Ta thấy võ tướng nước Vệ đều là người tài cả, cớ sao lại thiếu?

Tử Trọng giải thích:

- Họ đều là những võ tướng giỏi xông pha trận mạc, tả hữu xung đột chém địch như cỏ rác, thế nhưng đều không đủ cái tài để thống lãnh ba quân. Trương Siêu thì hữu dũng vô mưu, lại nóng nảy, Nguyễn Lương, Nguyễn Sơn thì thiếu phẩm chất lãnh đạo.

Vệ Vương hỏi:

- Xưa nay ta vẫn thân chinh đi đánh trận đâu có sao?

Tử Trọng đáp:

- Chúa công giờ đã là vua của một nước, không thể lúc nào cũng mang quân đi đánh trận được, hơn nữa nếu mai này chiến sự ở nhiều mặt trận, chúa công sẽ không quản hết được.

Vệ Vương hỏi:

- Thừa tướng nói rất phải, nhưng người tài như vậy kiếm ở đâu ra?

Tử Trọng nói:

- Lương duyên ắt sẽ tương ngộ, chúa công đức dày, ắt sẽ được thuận ý, người chúa công cần sẽ xuất hiện đúng lúc!

Vệ Vương dặn dò Dương Minh:

- Ta giao việc cai quản Chiêu Hiền quán cho ngươi, ta sẽ dặn Lã Vinh cấp vàng để mở rộng trạm xá. Ngoài ra ngươi phải trực tiếp tham gia chiêu mộ, tránh để lỡ hiền tài!

Dương Minh đáp:

- Tuân mệnh!

Lúc bấy giờ ở Lục Giang, thuộc vùng ngoại ô nước Vệ, có một kẻ tên Hàn Toại học rộng hiểu sâu, tinh thông binh pháp nhưng chưa gặp thời. Hàn Toại cha mẹ mất sớm, hiện đang sống cùng gia đình huynh trưởng. Hàn Toại không kiếm việc làm để mưu sinh vì cho rằng những công việc đó không xứng với tài năng của y. Hàn Toại ngày ngày đi câu cá, uống rượu, không làm nên trò trống gì, y trở thành gánh nặng cho gia đình huynh trưởng có ba đứa con nheo nhóc.

Một hôm Hàn Toại đang câu cá ở sông, câu cả buổi chẳng được con nào, miệng cứ lẩm bẩm không vui. Bà lão bán bánh gần đó, thấy Hàn Toại ngồi câu cá từ sáng đến giờ không thấy ăn uống gì, bèn lấy một chiếc bánh bao đi tới chỗ Hàn Toại, đưa cho y rồi nói:

- Ta thấy ngươi ngồi đó câu cá cả buổi mà không ăn uống gì, này, cầm lấy mà ăn!

Hàn Toại bụng đói cồn cào nhưng vẫn nói:

- Cảm ơn bà lão, có điều ta không đói!

Bà lão cứ dúi chiếc bánh vào tay Hàn Toại, nói:

- Hoàn cảnh nhà ngươi vùng này ai chẳng biết, nhìn vào cái giỏ chẳng thấy con cá nào, chắc là hôm nay nhịn đói. Ngươi cứ cầm lấy mà ăn đi, đừng ngại!

Hàn Toại nghe bà lão nói vậy cũng có chút chạnh lòng, quả đúng là y thiếu cái ăn, ở nhà đại tẩu cứ rầy la y là vô dụng, không giúp ích gì được cho sư huynh. Vì thế nên Hàn Toại về nhà chẳng thiết ăn mấy, đi câu cá bán lấy chút tiền mua đồ ăn bỏ bụng.

Hàn Toại đành nhận nhưng chưa ăn ngay mặc dù rất đói.

Bà lão hỏi:

- Ta thấy ngươi là nam nhi sức dài vai rộng, cớ sao lại không đi làm đi ăn kiếm tiền giúp cho huynh trưởng?

Hàn Toại đáp:

- Ta đọc binh pháp từ năm lên bảy, sử địa tinh thông, vốn dĩ không hợp với những nghề chân tay kiếm mấy đồng bạc lẻ!

Bà lão cười, nói:

- Nếu ngươi có tài như vậy cớ sao không đến Chiêu Hiền quán ở kinh thành mà tìm kiếm?

Hàn Toại cười trừ, nói:

- Ta cũng đã tới đó rồi, có điều bọn chúng là lũ thất phu, chê ta tướng mạo xấu xí, lùn tịt nên từ chối. Nếu đám người chiêu hiền mà còn mắt mờ như vậy, chứng tỏ Vệ Vương cũng là kẻ chẳng tốt đẹp gì, một đất nước mà khinh rẻ người tài thì sao mà lớn mạnh được!

Bà lão cau mày, giận:

- Ngươi đừng ăn nói hàm hồ, Vệ Vương là người nhân nghĩa độ lượng, hết lòng thương dân. Thứ bất tài như ngươi mà dám nói đến ngài ấy như vậy sao, bản thân chưa làm được gì thì chớ nên nhận xét người khác!

Bà lão nói xong quay mặt bỏ đi, không nói chuyện với Hàn Toại nữa. Hàn Toại lắc đầu rồi quay ra câu cá tiếp.

Trời chập tối, Hàn Toại về đến nhà thì thấy cổng đã khóa, y liền đập cửa, gọi vào:

- Mở cửa, mở cửa!

Đại tẩu của Hàn Toại tên Thu Hiền, là người đanh đá, miệng lưỡi chua ngoa. Đang ngủ trên giường, nghe thấy tiếng gõ cửa trở người dậy ra mở.

Hàn Toại trông thấy Thu Hiền, nói:

- Phiền đại tẩu nhiều!

Thu Hiền bĩu môi, nói:

- Không dám, lần sau ta thức canh mở cửa cho ngươi!

Hàn Toại có một ngày không vui, về lại nghe giọng mỉa mai của chị dâu, phản bác lại:

- Tẩu nói như vậy là có ý gì, chỉ đơn giản là mở cửa cho đệ thôi mà?

Thu Hiền nghe thế xong không giữ lẽ nữa, chửi thẳng:

- Mở cửa? Vậy ai nấu cho ngươi ăn, ai cho ngươi chỗ ở, ngươi có làm được cái tích sự gì giúp cho cái nhà này chưa?

Hàn Toại tức lên, nói:

- Tẩu đừng có quá đáng, đàn bà chua ngoa như tẩu chẳng ai chịu nổi đâu!

Thu Hiền tức điên, cúi xuống lấy cái dép ném về phía Hàn Toại, quát:

- Ngươi có biết nuôi ba đứa trẻ khôn lớn vất vả thế nào cho ta và Hàn Nghĩa không? Đã thế còn phải cưu mang cái thứ như ngươi, ta bảo Hàn Nghĩa đuổi ngươi đi mà lão không chịu, giờ để bị ngươi chửi thế này nhục quá, nhục quá mà!

Hàn Nghĩa ở trong nhà nghe tiếng ồn ào, ra xem thì thấy hai người đang cãi vã, can:

- Hai người có gì mà đêm hôm cãi nhau inh ỏi, không để hàng xóm ngủ sao?

Thu Hiền mặt hằm hằm quay sang nói:

- Tướng công xem, tên Hàn Toại này hơn ba mươi tuổi đầu, vô công rồi nghề chẳng được tích sự gì. Đã thế còn rượu chè lêu lổng, về giờ đêm hôm khuya khoắt, thiếp đã phải ra mở cửa cho hắn còn phải nghe hắn chửi vào mặt, tướng công xem có ra thể thống gì không?

Hàn Nghĩa can:

- Thôi thôi có gì đóng cửa bảo nhau, Hàn Toại nó có nỗi khổ tâm của nó, nàng chớ nên hắt hủi!

Thu Hiền quát cả Hàn Nghĩa:

- Hai huynh đệ các người chỉ biết bênh nhau, có nghĩ gì cho ta chứ? Ta chẳng muốn thấy cái tên ăn hại này trong nhà nữa, ông muốn làm sao thì làm!

Hàn Toại nghe xong tức điên người, cầm cái chum ném mạnh vào tường vỡ tan tành, y quát:

- Thu Hiền ngươi quá đáng lắm, ta nhịn ngươi lâu lắm rồi!

Thu Hiền chống nạnh, vểnh mặt lên, trợn mắt nói:

- Ngươi không nhịn được thì làm gì ta?

Hàn Toại nén tức giận, nói với Hàn Nghĩa:

- Từ hôm nay đệ không ở đây nữa, huynh và các cháu bảo trọng!

Hàn Nghĩa can:

- Đệ đừng đi, tẩu ấy chỉ nhất thời nóng giận thôi mà!

Thu Hiền chen vào:

- Đừng có bênh hắn nữa, để hắn đi đi!

Hàn Toại chẳng nói câu nào nữa, quay đầu bỏ đi.

Hàn Toại bước ra khỏi cổng, sau lưng là tiếng sập cửa rầm một tiếng, tiếng chì chiết của Thu Hiền vẫn cứ văng vẳng bên tai. Y, một bậc trí giả bụng đầy chữ nghĩa, trên thông thiên văn, dưới tỏ địa lý, âu cũng chỉ là một kẻ không nơi nương tựa, khố rách áo ôm, bị một người đàn bà quê mùa khinh miệt, chửi rủa. Trong thiên hạ, người ta trọng cái danh, quý cái lợi, còn cái "học rộng hiểu cao" của y lại chẳng đổi nổi một bát cơm để vừa ý người đàn bà thực dụng ấy.

Bước chân y lạc lõng trên con đường mòn, giữa không gian bao la và tăm tối, Hàn Toại thấy mình như một mảnh vụn bị gạt ra khỏi dòng đời. Y nhìn những mái nhà vẫn sáng đèn, trong có tiếng cười nói, lòng thắt lại thấy chua xót. Thế gian này rộng lớn là thế, vậy mà không có lấy một tấc đất cho kẻ mang hoài bão lớn lao.

Một luồng uất ức dâng lên trong lồng ngực. Y hận cái số phận trớ trêu đã ban cho y đôi mắt tinh tường để nhìn thấu sự đời, nhưng lại tước đi cái thời để xoay chuyển càn khôn.

Hàn Toại ngẩng mặt lên trời, than rằng:

- Trời cao có mắt sao để kẻ tiểu nhân đắc ý, bậc trượng phu lại phải chịu nhục nhã giữa chốn bụi trần này?
 
488 ❤︎ Bài viết: 0 Tìm chủ đề
Chương 62: Tận cùng nhục nhã, Hàn Toại luồn háng gã bán thịt

hantoai-jpg.12332


Hàn Toại lê bước chân nặng trĩu trên con đường mòn đầy cỏ dại, bụng y đói cồn cào, hơi thở toát ra làn khói trắng vì lạnh. Hàn Toại ngẩng mặt nhìn phía xa, dưới ánh trăng mờ ảo, có một ngôi miếu hoang xiêu vẹo bên sườn đồi. Mái ngói đã sụp một nửa, rêu phong phủ đầy, trông điêu tàn như số phận Hàn Toại lúc này.

Hàn Toại bèn tới ngôi miếu trú tạm qua đêm, y mở cánh cửa gỗ mục nát kêu 'két' một tiếng chói tai, bên trong tối om, mùi ẩm mốc xộc lên mũi. Giữa miếu là bệ thờ trống trơn, tượng thần đã vỡ nát từ lâu, chỉ còn lại mạng nhện giăng kín.

Hàn Toại gom vội mấy nắm rơm vương vãi ở góc tường, vun lại thành đống nhỏ để nằm. Đặt tay lên trán, y nghĩ lại lời bà lão nói lúc chiều, lòng trách bản thân vô dụng, không có trí tiến thủ. Hàn Toại biết rằng Vệ Vương là một ông vua tốt, đến một bà lão nơi ngoại thành còn ca tụng nhân đức. Vì hoàn cảnh của bản thân mà Hàn Toại đã trách lầm Vệ Vương, y quyết định sẽ rời Lục Giang, nơi khiến y chịu cảnh tủi nhục nhiều năm trời. Hàn Toại nghĩ bụng sáng hôm sau sẽ lên đường sớm tới kinh thành tìm kiếm cơ hội tiến thân.

Hàn Toại dần chìm vào giấc ngủ trong cơn đói lả. Trong mơ, Hàn Toại thấy mình đứng giữa đại sảnh nguy nga, tay cầm ấn soái vàng rực rỡ, văn võ bá quan xung quanh tung hô, khen ngợi không ngớt: "Tướng quân anh minh", "tướng quân tái thế". Lồng ngực y căng tràn kiêu hãnh, bao nhiêu kinh luân, binh pháp ấp ủ bấy lâu nay cũng được hữu dụng. Đây chính là điều mà Hàn Toại luôn ao ước, được người khác công nhận. Hàn Toại chán ghét những kẻ cậy tiền cậy thế, chẳng có tài mà được đức cao vọng trọng, người đời thán phục. Trong khi y, một người tự sánh mình với Bạch Khởi, Liêm Pha lại sống những ngày tháng vô dụng và đáng quên. Hàn Toại trách số phận không công bằng với y đã đành, y còn tiếc nuối cho cái tài năng bị uổng phí. Y không chấp nhận nổi việc bỏ bao nhiêu năm tâm huyết ngày đêm đèn sách lại hóa thành công cốc.

Hàn Toại đang bước lên đài cao nhận phong thưởng, đột nhiên có một tiếng sấm rung chuyển trời đất, những tiếng tung hô méo mó dần, biến thành tiếng cười khanh khách sắc lẹm, chói tai như tiếng kiếm mài vào đá. Khung cảnh nguy nga biến mất, thay vào đó là cái sân gạch cũ nát của ngôi nhà cũ. Ấn vàng trên tay y biến thành một chiếc bát bị mẻ, bên trong chỉ toàn tro trấu và đất cát.

Trước mặt Hàn Toại, người chị dâu hiện ra nhưng không phải trong hình hài bình thường. Mụ ta to lớn như hộ pháp, đôi mắt xếch ngược khinh miệt, cái miệng tô son đỏ chót nhếch lên tận mang tai. Mụ ta cầm một chiếc chổi lớn, cán chổi dài ngoằng chọc thẳng vào ngực Hàn Toại, đẩy y cứ lùi mãi giữa không trung.

Trong tư thế lùi bất định, hàng tá khuôn mặt chị dâu hiện lên xung quanh bốn phương tám hướng: "Vô dụng", "ăn bám", "súc sinh"... "

Sách vở thánh hiền của ngươi có mài ra ăn được không? Binh pháp của ngươi có đổi được hạt gạo nào không? Cút! Cút ngay cho khuất mắt ta!".

Hàn Toại muốn gào lên, vùng vẫy mà không sao thoát được, tay chân y cứng đờ như bị trói chặt. Hàn Toại nhìn xuống dưới, trên người chỉ còn manh áo vải thô rách rưới, những cuốn binh thư tâm đắc của y cứ thế rơi lả tả xuống đất, bị mụ chị dâu dùng chân giẫm nát, biến thành bùn đất đen ngòm.

"Không, ta là kẻ có tài! Ta sẽ làm nên nghiệp lớn!" - Hàn Toại cố hét lên nhưng cổ họng khô khốc, không phát ra một âm thanh nào.

Mụ chị dâu cười lớn, hất tay văng cái bát trên tay Hàn Toại, rơi xuống vỡ toang. Cánh cổng gỗ nặng nề trước mặt y dần khép lại, y lao tới cố dùng tay giữ lấy khe cửa nhưng cánh cửa lạnh lẽo vẫn đóng sầm lại một cách vô tình, bàn tay y nhão nhoét, máu đỏ chảy đầy ra cửa.

Bóng tối nuốt chửng lấy Hàn Toại, cái lạnh lẽo, cô độc bủa vây, y thấy mình rơi xuống một vực thẳm không đáy, xung quanh chỉ còn tiếng mỉa mai của người đời và ánh mắt sắc lẹm của người chị dâu ám ảnh mãi không tan.

Hàn Toại giật bắn mình tỉnh giấc, dù trời lạnh nhưng mồ hôi vã ra như tắm ướt đẫm cả lưng áo. Y thở hổn hển, tim đập thình thịch, ngoài kia trời đã dần sáng. Hàn Toại xòe hai bàn tay lên nhìn thì vẫn nguyên vẹn, y thở phào nhẹ nhõm:

- Thì ra đó chỉ là một giấc mơ! Nhưng sao nó thật quá..

Hàn Toại bước ra cửa miếu, nhìn về phía chân trời đang ửng hồng. Ánh mặt trời đầu tiên chiếu rọi lên khuôn mặt hốc hác của y, trong đôi mắt sâu hoắm ấy, sự sợ hãi và tuyệt vọng của đêm qua đã tan biến, thay vào đó là ánh mắt kiên định, tràn đầy hy vọng.

Hàn Toại lẩm bẩm, giọng khàn đặc nhưng chắc nịch như đinh đóng cột:

- Thu Hiền, ngươi hãy đợi đó, bát cơm đêm qua ngươi hất đi, ngày sau ta sẽ trả lại bằng vàng ròng. Cái cửa hôm nay ngươi đóng lại, ngày sau ta bắt ngươi phải quỳ xuống mà đón rước!

Hàn Toại quyết định lên đường thẳng tới kinh thành, y quay lưng lại với ngôi miếu cũ hoang tàn, cũng chính là quay lưng với quá khứ nhẫn nhục. Hàn Toại sải bước xuống đồi, dáng đi không còn vẻ thất thểu cùng đường mà mang theo khí thế của một con mãnh thú vừa thức tỉnh, đang lao vào thế gian để giành giật lấy thời vận của chính mình.

Đi bộ hơn nửa ngày đường, Hàn Toại đã gần tới kinh thành, y nhìn thấy một quán trà nhỏ dựng bên vệ đường. Mùi xôi nếp và thịt nướng thơm phức xộc thẳng vào mũi, Hàn Toại bất giác nhỏ dãi nơi khóe miệng, y vội lấy tay lên dụi đi. Hai ngày trời y chỉ ăn có một chiếc bánh bao của bà lão đưa, lại đi bộ mấy chục dặm đường, bụng đói cồn cào thành tiếng lớn.

Không một xu dính túi, Hàn Toại đứng khựng lại trước cổng quán, y bước tới định hỏi xin một bát nước nóng, nhưng cái nhìn của chủ quán khiến y không cất nên lời.

Người chủ quán nói:

- Này tiểu tử, bộ dạng ngươi lếch thếch thế, mùi hôi rình lên. Có tiền thì vào, không có tiền thì đi chỗ khác cho ta buôn bán!

Hàn Toại chẳng phản bác lại được, bèn lững thững quay ra. Đúng lúc ấy, có một tên nhà giàu địa phương cùng đám gia nhân ngồi ăn uống linh đình gần đó. Thấy Hàn Toại ngẩn ngơ, gã cười khà khà, trên tay cầm một chiếc đùi gà, vẫy Hàn Toại lại gần.

Hàn Toại bước về phía bàn ăn của đám người đó. Gã công tử trông dáng vẻ Hàn Toại bẩn thỉu, lôi thôi mặt ra vẻ khinh thường lắm. Hắn cầm chiếc đùi gà đang gặm giở giơ lên, chân gác lên ghế, vểnh mặt nói với Hàn Toại:

- Này kẻ sĩ, nhìn ngươi đói lắm rồi phải không?

Tên công tử cầm chiếc đùi gà giơ sáng trái rồi sang phải. Hàn Toại đói đến lả người, nhìn chiếc đùi gà nướng nuốt nước bọt ừng ực, mắt y nhìn chằm chằm theo.

Đám gia nhân cười phá lên, nói:

- Công tử nhìn xem, trông hắn như con chó nhìn theo chiếc đùi gà kìa!

Tên công tử cầm chiếc đùi gà gặm dở ném về phía Hàn Toại, chiếc đùi rơi xuống mặt đất bẩn thỉu toàn đất cát rồi lăn đến vũng nước đọng ngay dưới chân Hàn Toại.

Hắn nói:

- Đây, coi như ta làm phước! Nhặt lên mà ăn, có khi lại đủ sức đi tiếp đấy!

Hàn Toại cảm thấy nhục nhã vô cùng, y nhìn chiếc đùi gà rồi nhìn lại bàn tay gầy guộc của mình. Trong khoảnh khắc ấy, ranh giới giữa một vị anh hùng và một kẻ chết đói bên đường mong manh như sợi tóc.

Hàn Toại từ từ cúi xuống, đám người kia cười càng to hơn, chờ đợi tên ăn mày nhặt đồ thừa ăn ngấu nghiến để tiêu khiển.

Hàn Toại không nhặt khúc xương, y bốc một nắm đất bên cạnh, thản nhiên đưa lên miệng nuốt chửng. Hàn Toại nhìn thẳng vào tên công tử nhà giàu kia, ánh mắt sắc lẹm và lạnh lùng đến mức tiếng cười của gã nghẹn lại trong cổ họng.

Hàn Toại nói:

- Ta thà ăn đất còn hơn ăn đồ thừa của lũ súc sinh các ngươi!

Hàn Toại quay lưng bỏ đi, bỏ lại sự ngỡ ngàng của đám người hợm hĩnh.

Vẫn chiếc bụng đói, Hàn Toại cố gắng đi nốt đoạn đường còn lại tới kinh thành.

Tới nơi, cảnh vật huyên náo nơi kinh kỳ khiến Hàn Toại cảm thấy tràn đầy hy vọng. Thế nhưng, cái xui rủi vẫn cứ đeo bám lấy Hàn Toại, không chịu buông tha cho y. Hàn Toại đi lang thang trong phố xá hơn một dặm đường, đi qua con hẻm vắng vẻ, đột nhiên có con chó dữ màu đen lao ra cắn y đau điếng.

Hàn Toại kêu lên một tiếng, y dùng hết sức binh sinh đánh mạnh vào con chó khiến nó văng ra đất. Nhưng con chó không hề hấn gì, nhe hàm răng sắc nhọn đuổi theo Hàn Toại. Hàn Toại cắm đầu chạy thục mạng, được hơn năm mươi trượng thì y va phải sạp bán thịt lợn của tên Trịnh Đồ, đổ hết thịt xuống đất.

Con chó thấy ầm ĩ thì bỏ đi, không đuổi theo Hàn Toại nữa. Trịnh Đồ là gã bán thịt nóng nẩy, thân hình gã lực lưỡng, to như cái cột đình. Nhìn thấy đống thịt của mình rơi hết xuống đất, Trịnh Đồ tức điên, gân nổi đầy trán. Hắn nhìn Hàn Toại như thể muốn ăn tươi nuốt sống vậy.

Hàn Toại biết mình đã gây ra chuyện tày đình, khẩn thiết van xin:

- Xin ngài tha mạng, xin ngài tha mạng!

Trịnh Đồ nghiến răng, quát:

- Ngươi có biết ngươi vừa làm đổ bao nhiêu vốn liếng của ta xuống đất không? Ngươi phải đền cho ta!

Hàn Toại đáp:

- Đền thế nào, xin ngài nói rõ!

Trịnh Đồ nói:

- Ngươi đền cho ta mười lạng bạc thì ta sẽ tha cho ngươi!

Hàn Toại phân bua:

- Thịt rơi xuống đất có thể rửa sạch đi là được, ngài bắt ta đền mười lạng bạc chẳng phải vô lý hay sao?

Trịnh Đồ tay giơ nắm đấm, đáp:

- Thịt dính đất rồi khách ai dám mua nữa, tóm lại ngươi có trả tiền không?

Hàn Toại chẳng xu dính lấy túi, đào đâu ra mười lạng bạc mà trả, y nói:

- Ta không có bạc để trả, cho ta khất nợ được không?

Trịnh Đồ biết rằng một kẻ lôi thôi như ăn mày có đòi tiền cách mấy thì cũng không được gì, hắn lao vào đánh Hàn Toại túi bụi.

Hàn Toại thân hình gầy gò, bụng thì rỗng tuếch làm sao địch lại được Trịnh Đồ. Y lãnh trọn những cú đấm như trời giáng của Trịnh Đồ, mặt chảy be bét máu. Dân chúng xung quanh đó kéo nhau ra xem đông lắm, nhưng chẳng ai dám can vì biết tính của Trịnh Đồ rất nóng nảy.

Hàn Toại đã kiệt quệ cả về thể xác lẫn tinh thần, trận đòn của Trịnh Đồ hoàn toàn có thể tước đi mạng sống của y. Hàn Toại trong giây lát muốn buông xuôi tất cả, sẵn sàng chấp nhận cái chết dưới tay Trịnh Đồ. Thế nhưng Hàn Toại nghĩ đến lúc buổi sáng ở Lục Giang, dồn bao kỳ vọng, tâm huyết để đi tới kinh thành lập nghiệp, nay lại bỏ mạng lãng nhách như vậy ru? Hàn Toại đau đớn, đến cái chết cũng tầm thường như cuộc sống của y, y muốn chết trên lưng ngựa, chết trên sa trường.

Nghĩ đến đây, Hàn Toại dùng chút sức lực cuối cùng, đẩy Trịnh Đồ ra khỏi, y lập tức quỳ xuống, dập đầu van xin:

- Xin đại nhân tha mạng, xin đại nhân tha mạng

Mặc Hàn Toại van xin, Trịnh Đồ đạp thẳng vào mặt Hàn Toại ngã ngửa ra đất. Toan lao đến đánh tiếp thì Hàn Toại cố gắng gượng dậy, nằm dài xuống đất ôm lấy chân Trịnh Đồ, thều thào:

- Xin đại nhân tha mạng, tiểu nhân nguyện làm trâu ngựa cho ngài!

Dân trong thành trông thấy Hàn Toại tội nghiệp, nói đỡ vào:

- Ngươi mà đánh nữa thì hắn chết mất, trông hắn yếu lắm rồi!

Trịnh Đồ cũng sợ gây ra án mạng sẽ chuốc phiền phức vào thân, nhưng hắn cũng không muốn dễ dàng bỏ qua cho Hàn Toại. Hắn vốn là kẻ sĩ diện, thấy đông người đến xem nên hắn muốn ra oai, tỏ cái uy của mình, hắn nói:

- Coi như hôm nay ta gặp xui, nhưng trước hết ngươi phải làm cho ta một việc!

Hàn Toại mừng rỡ, hỏi:

- Bất cứ việc gì ngài cứ nói!

Trịnh Đồ nói:

- Ngươi bò qua háng ta thì ta tha cho ngươi một mạng!

Khoảnh khắc ấy, Hàn Toại như chết lặng, liệu có nên bỏ hết tự tôn, danh dự để đổi lấy mạng sống hay không. Hàn Toại hiểu rất rõ, không phải đầu gối mình chạm đất, mà lòng kiêu hãnh đang bị xé toạc.

Mùi máu tanh từ sạp thịt phả xuống, tiếng cười hô hố của gã đồ tể như búa nện vào tai. Cả đám người đứng xem với những ánh mắt khinh miệt, kẻ thì thương hại, kẻ thì khoái chí. Nó như hàng trăm lưỡi dao cùn cắt chậm vào lòng tự tôn của Hàn Toại.

Nhưng vì ý chí sống mãnh liệt, Hàn Toại bình tâm lại, đồng ý làm.

Trịnh Đồ hai tay chống nạnh, hai chân dạng rộng ra, cười khoái chí. Hàn Toại từ từ bò qua háng Trịnh Đồ, trong đầu y không còn nước mắt, không còn tiếng gào thét, chỉ còn một ý nghĩ sắc bén như gươm rằng:

"Hôm nay ta chịu nhục để ngày mai không phải quỳ trước bất cứ ai!".

Đất bẩn dính đầy áo, bụi bám vào tóc, nhưng trong sâu thẳm, Hàn Toại đang cảm thấy một thứ được giữ lại trong mình, đó là sinh mệnh, cùng với đó là thời gian. Thời gian để chờ, thời gian để mạnh lên, thời gian để kẻ cười cợt mình hôm nay hiểu rằng có những cái cúi đầu không phải vì hèn, mà vì chưa đến lúc ngẩng cao.

Sau khi bò qua háng Trịnh Đồ, hắn nhấc bổng Hàn Toại lên, nói:

- Cút đi cho khuất mắt ta!

Nói rồi hắn xô mạnh Hàn Toại bắn ra xa hơn mười trượng. Hàn Toại thân thể tàn tạ, không đi nổi nữa, y ngẩng đầu lên nhìn trước mặt, thấy tấm biển đề ba chữ: "Chiêu Hiền Quán".
 

Những người đang xem chủ đề này

Xu hướng nội dung

Back