Chương 60: Soái Vương thành lập liên minh cùng Bá Hầu, Quảng Hầu
Tới giờ Tuất, vua khanh các nước tề tựu ở chính điện để chuẩn bị dự yến tiệc. Ai nấy dự tiệc nét mặt cũng tươi cười, trò chuyện rôm rả. Các quan người thì vẫn muốn đàm đạo về những chính sách mới, người thì bàn luận về thơ ca, hội họa. Việc giao lưu giữa vua tôi nhiều nước như vậy quả là chưa từng có tiền lệ.
Ngô Vương nhìn cảnh tượng huyên náo xung quanh, trong lòng rất mãn nguyện.
Mộc Kỳ hỏi:
- Hôm nay nhìn chúa công rất vui!
Ngô Vương cười, đáp:
- À, ta chỉ nghĩ, không ngờ Tĩnh Hải quân có ngày này, vua tôi các nước hội tụ, tay bắt mặt mừng, báo hiệu một giang sơn hòa bình, thịnh vượng!
Mộc Kỳ nói:
- Chúa công quả là có tấm lòng nghĩ cho thiên hạ đại cuộc, thần rất khâm phục! Chúa công là người có công lớn giúp Tĩnh Hải quân bước tiếp trang mới sau một thời kỳ đen tối, vì thế mà bách tính được nhờ!
Hoài Liêm nói:
- Thần xưa nay tin vào luật nhân quả, công của Người đối với con dân Tĩnh Hải lớn như vậy, ắt sẽ được ông Trời ban thưởng xứng đáng!
Ngô Vương cười lớn, nói:
- Các khanh nói vậy thì ta cũng mừng!
Sảnh chính điện rộng ngàn trượng, xung quanh điêu khắc, trạm trổ rất kỳ công và đẹp mắt. Cột trụ bằng gỗ tùng thân to vài người ôm, giữa sảnh đường đặt một tấm thảm lớn trải dài đến tận cửa.
Vệ Vương khen:
- Quả không hổ danh là nước Cừ hùng mạnh, xây dựng một nơi uy nghi, tráng lệ thế này thật khiến người ta phải thán phục!
Vua tôi các nước lần lượt bước vào theo thứ bậc, ổn định chỗ ngồi, cả thảy gần trăm người. Các vua được sắp xếp ngồi bàn lớn phía trên còn quan viên thì ngồi bàn nhỏ thành hàng phía dưới.
Cừ Vương mở lời trước toàn thể:
- Hôm nay nước Cừ rất vinh dự được tiếp đón chư vị hào kiệt bốn phương, nếu có điều gì thất lễ, xin lượng thứ!
Ngô Vương nói:
- Ngược lại là đằng khác, ta nghĩ chỉ có nước Cừ mới có thể tổ chức yến tiệc hoành tráng như thế này, chư vị thấy có đúng không?
Khắp sảnh đều hưởng ứng:
- Phải, phải lắm!
Cừ Vương nói tiếp:
- Ngày hôm nay tất cả chúng ta đều rất đoàn kết, đồng chí đồng lòng mà trao đổi, bàn bạc với nhau. Cuối cùng đúc kết được những chính sách mới rất hiệu quả, được lòng toàn dân thiên hạ, từ đó giúp cho khắp Tĩnh Hải quân bước sang thời kỳ thịnh vượng. Được tổ chức đại lễ như vậy là tâm huyết của lão phu, được ngồi đây uống rượu cùng các vị đã là điều mừng lắm rồi! Người có công lớn nhất giúp chúng ta được hội ngộ nơi Trì Lăng đó là Ngô Vương, nếu không có ngài ấy thì chúng ta vẫn phải triều cống cho Nam Chiếu Vương rồi!
Lỗ Vương nói:
- Phải lắm, Ngô Vương không những giúp Tĩnh Hải thoát được xiềng xích của Nam Chiếu Vương mà còn thay mặt chúng ta thương lượng được với vua Đường, công ấy quả rất lớn!
Các vua đều đồng tình, cho là phải.
Ngô Vương nâng chén rượu, nói:
- Ngô Khởi tài hèn sức mọn, may mắn gặp thời, được chư vị chiếu cố như vậy trong lòng mãn nguyện lắm! Chúng ta cùng nâng chén, chúc cho Tĩnh Hải quân từ nay trở về sau được ấm no, thịnh vượng!
Cả sảnh điện gần trăm người đều nâng chén, đồng thanh:
- Cạn!
Mở đầu tiệc, nhạc công tấu lên khúc nhạc hào hùng, hàng chục vũ nữ nước Cừ mình hạc xương mai, xiêm y lộng lẫy múa rất đẹp mắt. Vua tôi các nước bắt đầu dùng tiệc, chúc rượu rồi trò chuyện riêng với nhau.
Ngô Vương ngồi cạnh Trịnh Vương, nâng rượu mời ông, nói:
- Cảm ơn ngài hôm nay đã nói tốt cho ta, Ngô Khởi mến mộ ngài đã lâu, xin kính ngài một chén!
Trịnh Vương cười, đáp:
- Lão phu chỉ nói theo sự thật, ngài đừng quá câu nệ làm gì! Mời!
Ngô Vương nói tiếp:
- Ta thấy ngài và Cừ Vương có hiềm khích từ lâu, nước Cừ và nước Trịnh đều là nước lớn, nếu đấu đá như vậy sẽ không tốt cho liên minh các nước chúng ta. Nhân dịp vui này, tại hạ mạn phép đề xuất hai vị làm hòa, cùng đoàn kết tương trợ lẫn nhau, là trụ cột vững chắc để những nước nhỏ hơn được nhờ cậy. Không biết ý hai vị thế nào?
Cừ Vương gật đầu:
- Phải, phải! Ta và ông đã đấu đá nhiều năm, cũng phải dần thích nghi với thời cuộc!
Trịnh Vương đáp:
- Nếu Cừ Vương đã có lời như vậy thì lão phu cũng đồng tình với Ngô Vương, ta và ngài nên kết thù thành bạn, phía dưới chúng ta còn có nước Soái mưu mô xảo quyệt, tuyệt đối không được khinh suất!
Ngô Vương hỏi Tấn Vương:
- Nhắc đến nước Soái, ta đã nghe nói về chiến sự miền nam, Tấn Vương quả là vị anh hùng bất khuất, dù mất nước vào tay Soái nhưng vẫn quyết chí đánh đuổi giặc xâm lăng, tại hạ nể phục vô cùng!
Tấn Vương đáp:
- Ấy là nhờ có nước Vệ hết lòng tương trợ, cử binh sang giúp thì nước Tấn mới có được ngày hôm nay!
Vệ Vương nói:
- Nay ta giúp Tấn Vương, sau này Tấn Vương cũng sẽ giúp lại, hai nước láng giềng phải tương trợ lẫn nhau, đó là điều nên làm!
Ngô Vương nâng chén mời rượu Vệ Vương, nói:
- Nghe danh tiên vương Hạo Vũ đã lâu, trong lòng rất mến mộ, nay được gặp Vệ Vương tướng mạo ngút trời, có chí khí của bậc quân tử, quả đúng là hổ phụ sinh hổ tử!
Vệ Vương đáp:
- Ngô Vương quá lời rồi! Hai nước chúng ta tuy cách xa một bắc một nam nhưng nếu cần tương trợ Ngô Vương cứ nói một tiếng, ta nhất định sẽ giúp!
Vua các nước trò chuyện rôm rả với nhau như những bằng hữu lâu ngày không gặp, đây là tín hiệu đáng mừng cho cục diện Tĩnh Hải quân.
Trong thời gian các nước hội chư hầu ở Trì Lăng, Bá Hầu và Quảng Hầu nhận được lời mời giao hảo của nước Soái liền đồng ý, hẹn nhau gặp mặt ở đất Phong Sương, thuộc Hoan Châu.
Soái Vương cho người chuẩn bị lễ vật rất hậu, toàn đồ vật quý hiếm cùng ngàn lượng vàng tặng cho hai nước. Bá Hầu, Quảng Hầu biết Soái là nước lớn, lại nằm ở vị trí trọng yếu có thể kiềm chế được hai nước Tấn và Vệ nên bàn tính với nhau liên thủ cùng nước Soái.
Cùng thời điểm diễn ra hội Trì Lăng, ba vị vua của Soái, Hoan Châu, Phúc Lộc Châu ngồi mật bàn với nhau.
Soái Vương hỏi:
- Hai vị đây cũng không được Ngô Vương mời hội chư hầu sao?
Bá Hầu đáp:
- Là bọn ta không tham dự, thiết nghĩ nước ta ở xa, không muốn chịu sự ràng buộc ở phương bắc!
Quảng Hầu nói:
- Vậy Soái Vương không được mời sao?
Soái Vương đập bàn một tiếng, nói:
- Chúng thấy Soái lớn mạnh nên bày kế chia rẽ, hướng cho nước Soái làm cái gai trong mắt các nước khác, quả là hèn hạ!
Bá Hầu hỏi:
- Nếu là như vậy thì ngài tính thế nào?
Soái Vương đáp:
- Ấy cũng chính là lý do ta tới gặp hai vị! Đó là mối hiểm nguy khôn lường, cũng liên can đến hai vị nên ta nảy ra ý định liên thủ cùng Hoan Châu và Phúc Lộc Châu!
Quảng Hầu hỏi:
- Hiểm nguy mà ngài nói là điều gì?
Soái Vương đáp:
- Nay Ái Châu và Diễn Châu là đồng minh, lại đi dự hội chư hầu cùng các nước lớn, nước Soái ta bị kẹp ở giữa, tình thế rất nguy hại. Nếu nước Soái của ta có mệnh hệ gì, sớm muộn chúng cũng sẽ thôn tính nước của hai vị!
Quảng Hầu vuốt râu, gật gù:
- Soái Vương nói rất phải, lão phu cũng chưa tính đến điều ấy!
Bá Hầu nói:
- Đâu phải mối lo của mỗi ngài, Nghĩa Hầu vốn có thù diệt tộc với ta, sớm muộn cũng có ngày hắn hưng binh đánh Phúc Lộc!
Soái Vương nói:
- Chính vì vậy, ta muốn cùng hai vị kết thành đồng minh, trên dưới phong tỏa, chia cắt Diễn Châu và Ái Châu khỏi các nước phía bắc. Nếu chúng có đánh xuống dưới phía nam, ta lập tức hưng binh đánh vào Diễn Châu, khiến chúng không thể nào yên được! Ngoài ra, ba nước chúng ta có thể giao thương với nhau, trao đổi tài nguyên trù phú, qua đó phát triển ngân khố, quân sự, chẳng phải tốt lắm ru!
Bá Hầu đồng tình:
- Như vậy là vẹn toàn, nếu được Soái Vương bảo trợ ở phía trên, ta và Quảng Hầu đủ sức chống Ái Châu!
Bá Hầu, Quảng Hầu thì thầm bàn bạc riêng với nhau một hồi. Bá Hầu nói:
- Soái là nước lớn, hai bọn ta đồng lòng muốn ngài đứng ra làm chủ, dẫn dắt ba nước chống lại các thế lực kia!
Soái Vương cười, nói:
- Được, được lắm! Một cây làm chẳng nên non, ba cây chụm lại nên hòn núi cao! Ba nước chúng ta đoàn kết một lòng mới chống lại được lũ bọn chúng!
Sau khi ba nước họp bàn cùng nhau đối sách chống lại liên minh nước Ngô, Bá Hầu và Quảng Hầu cũng làm lễ xưng vương. Hoan Châu đổi tên thành nước Yên, xưng hiệu Yên Vương. Phúc Lộc Châu đổi thành nước Đinh, xưng hiệu Đinh Vương.
Mùa đông năm 880, cục diện Tĩnh Hải quân chia làm hai phe lớn đối địch nhau, một phe dẫn đầu bởi Kinh lược sứ Ngô Khởi, một phe dẫn đầu bởi Soái Vương Lữ Hành.
Sau khi lập liên minh, các nước án binh bất động, tuy bề ngoài thì sóng yên biển lặng nhưng các nước đều lo sửa sang triều chính, phát triển binh lực để chuẩn bị sẵn sàng cho những biến lớn có thể ập tới bất cứ lúc nào.
Binh đao tạm thời buông xuống, người dân khắp nơi thuộc Tĩnh Hải quân ăn mừng, mở hội. Họ sống trong loạn lạc đã quá lâu, nay được chút bình yên âu cũng là điều đáng trân quý.
Việc thông thương giúp người dân có đời sống tốt hơn nhiều lần. Hàng hóa đa dạng giữa các nước giúp các thương nhân buôn bán tấp nập, phát triển tiền tài, nhờ vậy ngân khố có thêm nhiều tiền thuế từ việc buôn bán, qua đó sưu thuế của dân giảm đi rất nhiều.
Nổi bật trong số các nước đó là ba nước Ngô, Soái, Vệ. Ba nước này có đường lối tuy khác nhau nhưng điểm chung là phát triển thần tốc nhờ những đối sách hữu hiệu đến từ Quách Tuấn, Nguyên Hà và Tử Trọng.
Nước Ngô trên đà tái thiết nhưng dần bắt kịp và vượt lên những nước nhỏ khác như nước Đoái, nước Tùy. Nước Ngô chủ trương đẩy mạnh quan hệ với hai nước lớn Cừ và Trịnh. Nhờ hai nghề làm trang sức và buôn dầu có tiếng nên nước Ngô bán cho hai nước Cừ và Trịnh rất nhiều, giúp ngân khố nước Ngô trở nên giàu có hơn bao giờ hết. Ngô Vương dùng ngân khố dồi dào mua binh khí của nước Trịnh, rèn luyện binh mã, xây dựng tường hào, còn lại phát triển an sinh cho bách tính nước Ngô.
Nước Soái nhờ lãnh thổ rộng lớn, dân số đông đúc nên trải khắp các nghề. Nước Soái dồn phần lớn ngân khố chiêu binh mãi mã, gia tăng cả lượng và chất. Nước Soái đẩy mạnh nghề rèn, binh khí và khiên giáp tốt nhất vùng Trung và Nam Bộ.
Nước Vệ với sự phò tá của Tử Trọng và Lã Vinh giúp giao thương trong nước vô cùng sầm uất. Tại kinh đô, chợ búa mọc lên như nấm, xe cộ, người ngựa đông kín đường. Nước Vệ vốn đã giàu có nhờ nghề muối và sắt, nay còn được giao thương với các nước phương bắc khiến ngân khố gia tăng tới hàng chục ngàn lượng vàng. Binh lực nước Vệ hiện tại không hề thua kém nước Soái, quân số lên tới hơn mười vạn. Một quốc gia như vậy, nhìn vào triều đình thì thấy sự uy nghiêm, nhìn vào chợ búa thì thấy sự giàu sang, nhìn vào biên cương thì thấy sự vững chãi.
Quách Tuấn luôn nói với Ngô Vương rằng nước Vệ chính là kẻ địch lớn nhất sau này, ông nhận xét về nước Vệ rằng: "Nước Vệ trên dưới một lòng, hiền tài tề tựu, ngân khố dư thừa, binh mã hùng mạnh, chẳng mấy mà vượt cả nước Cừ lẫn nước Trịnh. Nước Ngô tuy rằng đi đúng đường lối, phát triển cách mấy cũng khó lòng sánh kịp nước Vệ".
Ngô Vương nhìn cảnh tượng huyên náo xung quanh, trong lòng rất mãn nguyện.
Mộc Kỳ hỏi:
- Hôm nay nhìn chúa công rất vui!
Ngô Vương cười, đáp:
- À, ta chỉ nghĩ, không ngờ Tĩnh Hải quân có ngày này, vua tôi các nước hội tụ, tay bắt mặt mừng, báo hiệu một giang sơn hòa bình, thịnh vượng!
Mộc Kỳ nói:
- Chúa công quả là có tấm lòng nghĩ cho thiên hạ đại cuộc, thần rất khâm phục! Chúa công là người có công lớn giúp Tĩnh Hải quân bước tiếp trang mới sau một thời kỳ đen tối, vì thế mà bách tính được nhờ!
Hoài Liêm nói:
- Thần xưa nay tin vào luật nhân quả, công của Người đối với con dân Tĩnh Hải lớn như vậy, ắt sẽ được ông Trời ban thưởng xứng đáng!
Ngô Vương cười lớn, nói:
- Các khanh nói vậy thì ta cũng mừng!
Sảnh chính điện rộng ngàn trượng, xung quanh điêu khắc, trạm trổ rất kỳ công và đẹp mắt. Cột trụ bằng gỗ tùng thân to vài người ôm, giữa sảnh đường đặt một tấm thảm lớn trải dài đến tận cửa.
Vệ Vương khen:
- Quả không hổ danh là nước Cừ hùng mạnh, xây dựng một nơi uy nghi, tráng lệ thế này thật khiến người ta phải thán phục!
Vua tôi các nước lần lượt bước vào theo thứ bậc, ổn định chỗ ngồi, cả thảy gần trăm người. Các vua được sắp xếp ngồi bàn lớn phía trên còn quan viên thì ngồi bàn nhỏ thành hàng phía dưới.
Cừ Vương mở lời trước toàn thể:
- Hôm nay nước Cừ rất vinh dự được tiếp đón chư vị hào kiệt bốn phương, nếu có điều gì thất lễ, xin lượng thứ!
Ngô Vương nói:
- Ngược lại là đằng khác, ta nghĩ chỉ có nước Cừ mới có thể tổ chức yến tiệc hoành tráng như thế này, chư vị thấy có đúng không?
Khắp sảnh đều hưởng ứng:
- Phải, phải lắm!
Cừ Vương nói tiếp:
- Ngày hôm nay tất cả chúng ta đều rất đoàn kết, đồng chí đồng lòng mà trao đổi, bàn bạc với nhau. Cuối cùng đúc kết được những chính sách mới rất hiệu quả, được lòng toàn dân thiên hạ, từ đó giúp cho khắp Tĩnh Hải quân bước sang thời kỳ thịnh vượng. Được tổ chức đại lễ như vậy là tâm huyết của lão phu, được ngồi đây uống rượu cùng các vị đã là điều mừng lắm rồi! Người có công lớn nhất giúp chúng ta được hội ngộ nơi Trì Lăng đó là Ngô Vương, nếu không có ngài ấy thì chúng ta vẫn phải triều cống cho Nam Chiếu Vương rồi!
Lỗ Vương nói:
- Phải lắm, Ngô Vương không những giúp Tĩnh Hải thoát được xiềng xích của Nam Chiếu Vương mà còn thay mặt chúng ta thương lượng được với vua Đường, công ấy quả rất lớn!
Các vua đều đồng tình, cho là phải.
Ngô Vương nâng chén rượu, nói:
- Ngô Khởi tài hèn sức mọn, may mắn gặp thời, được chư vị chiếu cố như vậy trong lòng mãn nguyện lắm! Chúng ta cùng nâng chén, chúc cho Tĩnh Hải quân từ nay trở về sau được ấm no, thịnh vượng!
Cả sảnh điện gần trăm người đều nâng chén, đồng thanh:
- Cạn!
Mở đầu tiệc, nhạc công tấu lên khúc nhạc hào hùng, hàng chục vũ nữ nước Cừ mình hạc xương mai, xiêm y lộng lẫy múa rất đẹp mắt. Vua tôi các nước bắt đầu dùng tiệc, chúc rượu rồi trò chuyện riêng với nhau.
Ngô Vương ngồi cạnh Trịnh Vương, nâng rượu mời ông, nói:
- Cảm ơn ngài hôm nay đã nói tốt cho ta, Ngô Khởi mến mộ ngài đã lâu, xin kính ngài một chén!
Trịnh Vương cười, đáp:
- Lão phu chỉ nói theo sự thật, ngài đừng quá câu nệ làm gì! Mời!
Ngô Vương nói tiếp:
- Ta thấy ngài và Cừ Vương có hiềm khích từ lâu, nước Cừ và nước Trịnh đều là nước lớn, nếu đấu đá như vậy sẽ không tốt cho liên minh các nước chúng ta. Nhân dịp vui này, tại hạ mạn phép đề xuất hai vị làm hòa, cùng đoàn kết tương trợ lẫn nhau, là trụ cột vững chắc để những nước nhỏ hơn được nhờ cậy. Không biết ý hai vị thế nào?
Cừ Vương gật đầu:
- Phải, phải! Ta và ông đã đấu đá nhiều năm, cũng phải dần thích nghi với thời cuộc!
Trịnh Vương đáp:
- Nếu Cừ Vương đã có lời như vậy thì lão phu cũng đồng tình với Ngô Vương, ta và ngài nên kết thù thành bạn, phía dưới chúng ta còn có nước Soái mưu mô xảo quyệt, tuyệt đối không được khinh suất!
Ngô Vương hỏi Tấn Vương:
- Nhắc đến nước Soái, ta đã nghe nói về chiến sự miền nam, Tấn Vương quả là vị anh hùng bất khuất, dù mất nước vào tay Soái nhưng vẫn quyết chí đánh đuổi giặc xâm lăng, tại hạ nể phục vô cùng!
Tấn Vương đáp:
- Ấy là nhờ có nước Vệ hết lòng tương trợ, cử binh sang giúp thì nước Tấn mới có được ngày hôm nay!
Vệ Vương nói:
- Nay ta giúp Tấn Vương, sau này Tấn Vương cũng sẽ giúp lại, hai nước láng giềng phải tương trợ lẫn nhau, đó là điều nên làm!
Ngô Vương nâng chén mời rượu Vệ Vương, nói:
- Nghe danh tiên vương Hạo Vũ đã lâu, trong lòng rất mến mộ, nay được gặp Vệ Vương tướng mạo ngút trời, có chí khí của bậc quân tử, quả đúng là hổ phụ sinh hổ tử!
Vệ Vương đáp:
- Ngô Vương quá lời rồi! Hai nước chúng ta tuy cách xa một bắc một nam nhưng nếu cần tương trợ Ngô Vương cứ nói một tiếng, ta nhất định sẽ giúp!
Vua các nước trò chuyện rôm rả với nhau như những bằng hữu lâu ngày không gặp, đây là tín hiệu đáng mừng cho cục diện Tĩnh Hải quân.
Trong thời gian các nước hội chư hầu ở Trì Lăng, Bá Hầu và Quảng Hầu nhận được lời mời giao hảo của nước Soái liền đồng ý, hẹn nhau gặp mặt ở đất Phong Sương, thuộc Hoan Châu.
Soái Vương cho người chuẩn bị lễ vật rất hậu, toàn đồ vật quý hiếm cùng ngàn lượng vàng tặng cho hai nước. Bá Hầu, Quảng Hầu biết Soái là nước lớn, lại nằm ở vị trí trọng yếu có thể kiềm chế được hai nước Tấn và Vệ nên bàn tính với nhau liên thủ cùng nước Soái.
Cùng thời điểm diễn ra hội Trì Lăng, ba vị vua của Soái, Hoan Châu, Phúc Lộc Châu ngồi mật bàn với nhau.
Soái Vương hỏi:
- Hai vị đây cũng không được Ngô Vương mời hội chư hầu sao?
Bá Hầu đáp:
- Là bọn ta không tham dự, thiết nghĩ nước ta ở xa, không muốn chịu sự ràng buộc ở phương bắc!
Quảng Hầu nói:
- Vậy Soái Vương không được mời sao?
Soái Vương đập bàn một tiếng, nói:
- Chúng thấy Soái lớn mạnh nên bày kế chia rẽ, hướng cho nước Soái làm cái gai trong mắt các nước khác, quả là hèn hạ!
Bá Hầu hỏi:
- Nếu là như vậy thì ngài tính thế nào?
Soái Vương đáp:
- Ấy cũng chính là lý do ta tới gặp hai vị! Đó là mối hiểm nguy khôn lường, cũng liên can đến hai vị nên ta nảy ra ý định liên thủ cùng Hoan Châu và Phúc Lộc Châu!
Quảng Hầu hỏi:
- Hiểm nguy mà ngài nói là điều gì?
Soái Vương đáp:
- Nay Ái Châu và Diễn Châu là đồng minh, lại đi dự hội chư hầu cùng các nước lớn, nước Soái ta bị kẹp ở giữa, tình thế rất nguy hại. Nếu nước Soái của ta có mệnh hệ gì, sớm muộn chúng cũng sẽ thôn tính nước của hai vị!
Quảng Hầu vuốt râu, gật gù:
- Soái Vương nói rất phải, lão phu cũng chưa tính đến điều ấy!
Bá Hầu nói:
- Đâu phải mối lo của mỗi ngài, Nghĩa Hầu vốn có thù diệt tộc với ta, sớm muộn cũng có ngày hắn hưng binh đánh Phúc Lộc!
Soái Vương nói:
- Chính vì vậy, ta muốn cùng hai vị kết thành đồng minh, trên dưới phong tỏa, chia cắt Diễn Châu và Ái Châu khỏi các nước phía bắc. Nếu chúng có đánh xuống dưới phía nam, ta lập tức hưng binh đánh vào Diễn Châu, khiến chúng không thể nào yên được! Ngoài ra, ba nước chúng ta có thể giao thương với nhau, trao đổi tài nguyên trù phú, qua đó phát triển ngân khố, quân sự, chẳng phải tốt lắm ru!
Bá Hầu đồng tình:
- Như vậy là vẹn toàn, nếu được Soái Vương bảo trợ ở phía trên, ta và Quảng Hầu đủ sức chống Ái Châu!
Bá Hầu, Quảng Hầu thì thầm bàn bạc riêng với nhau một hồi. Bá Hầu nói:
- Soái là nước lớn, hai bọn ta đồng lòng muốn ngài đứng ra làm chủ, dẫn dắt ba nước chống lại các thế lực kia!
Soái Vương cười, nói:
- Được, được lắm! Một cây làm chẳng nên non, ba cây chụm lại nên hòn núi cao! Ba nước chúng ta đoàn kết một lòng mới chống lại được lũ bọn chúng!
Sau khi ba nước họp bàn cùng nhau đối sách chống lại liên minh nước Ngô, Bá Hầu và Quảng Hầu cũng làm lễ xưng vương. Hoan Châu đổi tên thành nước Yên, xưng hiệu Yên Vương. Phúc Lộc Châu đổi thành nước Đinh, xưng hiệu Đinh Vương.
Mùa đông năm 880, cục diện Tĩnh Hải quân chia làm hai phe lớn đối địch nhau, một phe dẫn đầu bởi Kinh lược sứ Ngô Khởi, một phe dẫn đầu bởi Soái Vương Lữ Hành.
Sau khi lập liên minh, các nước án binh bất động, tuy bề ngoài thì sóng yên biển lặng nhưng các nước đều lo sửa sang triều chính, phát triển binh lực để chuẩn bị sẵn sàng cho những biến lớn có thể ập tới bất cứ lúc nào.
Binh đao tạm thời buông xuống, người dân khắp nơi thuộc Tĩnh Hải quân ăn mừng, mở hội. Họ sống trong loạn lạc đã quá lâu, nay được chút bình yên âu cũng là điều đáng trân quý.
Việc thông thương giúp người dân có đời sống tốt hơn nhiều lần. Hàng hóa đa dạng giữa các nước giúp các thương nhân buôn bán tấp nập, phát triển tiền tài, nhờ vậy ngân khố có thêm nhiều tiền thuế từ việc buôn bán, qua đó sưu thuế của dân giảm đi rất nhiều.
Nổi bật trong số các nước đó là ba nước Ngô, Soái, Vệ. Ba nước này có đường lối tuy khác nhau nhưng điểm chung là phát triển thần tốc nhờ những đối sách hữu hiệu đến từ Quách Tuấn, Nguyên Hà và Tử Trọng.
Nước Ngô trên đà tái thiết nhưng dần bắt kịp và vượt lên những nước nhỏ khác như nước Đoái, nước Tùy. Nước Ngô chủ trương đẩy mạnh quan hệ với hai nước lớn Cừ và Trịnh. Nhờ hai nghề làm trang sức và buôn dầu có tiếng nên nước Ngô bán cho hai nước Cừ và Trịnh rất nhiều, giúp ngân khố nước Ngô trở nên giàu có hơn bao giờ hết. Ngô Vương dùng ngân khố dồi dào mua binh khí của nước Trịnh, rèn luyện binh mã, xây dựng tường hào, còn lại phát triển an sinh cho bách tính nước Ngô.
Nước Soái nhờ lãnh thổ rộng lớn, dân số đông đúc nên trải khắp các nghề. Nước Soái dồn phần lớn ngân khố chiêu binh mãi mã, gia tăng cả lượng và chất. Nước Soái đẩy mạnh nghề rèn, binh khí và khiên giáp tốt nhất vùng Trung và Nam Bộ.
Nước Vệ với sự phò tá của Tử Trọng và Lã Vinh giúp giao thương trong nước vô cùng sầm uất. Tại kinh đô, chợ búa mọc lên như nấm, xe cộ, người ngựa đông kín đường. Nước Vệ vốn đã giàu có nhờ nghề muối và sắt, nay còn được giao thương với các nước phương bắc khiến ngân khố gia tăng tới hàng chục ngàn lượng vàng. Binh lực nước Vệ hiện tại không hề thua kém nước Soái, quân số lên tới hơn mười vạn. Một quốc gia như vậy, nhìn vào triều đình thì thấy sự uy nghiêm, nhìn vào chợ búa thì thấy sự giàu sang, nhìn vào biên cương thì thấy sự vững chãi.
Quách Tuấn luôn nói với Ngô Vương rằng nước Vệ chính là kẻ địch lớn nhất sau này, ông nhận xét về nước Vệ rằng: "Nước Vệ trên dưới một lòng, hiền tài tề tựu, ngân khố dư thừa, binh mã hùng mạnh, chẳng mấy mà vượt cả nước Cừ lẫn nước Trịnh. Nước Ngô tuy rằng đi đúng đường lối, phát triển cách mấy cũng khó lòng sánh kịp nước Vệ".

