Một cuộc náo động khủng khiếp tức thì xảy ra. Người ta xô đẩy nhau như điên. Ai cũng muốn thấy mặt Rouletabille. Ông chánh án nổi giận dọa lùa tất cả ra ngoài, nhưng đâu còn có ai nghe ông.
Trong lúc ấy Rouletabille nhảy qua hàng rào lan can ngăn anh với đám quần chúng ngồi, vung rộng hai khuỷu tay rẽ lấy một lối đi đến chỗ ông chủ nhiệm của anh. Anh để phong thư "của anh" trên tay ông đút vào túi mình, đoạn chen luôn vào khu dành cho việc thẩm án. Anh xô người này, đẩy người nọ rồi lại bị người ta xô đẩy lại ngất ngư; nhưng mặt mày hớn hở, tươi cười, quả cầu tròn xoay đỏ ửng còn bừng sáng ánh thông minh của cặp mắt to tròn. Anh vẫn mang bộ com-lê mặc sáng hôm ở đây đi nhưng lôi thôi trông phát gớm – áo choàng vắt tay mũ kết du lịch trên đầu.
Đến lan can nhân chứng, anh chững chạc chào các vị phán quan đoạn lên tiếng:
- Tôi xin lỗi, thưa ông chánh án, chuyến tàu xuyên đại dương bị trễ! Tôi ở Mỹ về. Tôi là Joseph Rouletabille.
Người ta phá ra cười. Ai cũng mừng thấy mặt anh. Hình như mọi người cùng có cảm tưởng một sức nặng ghê gớm đang đè trên lương tâm vừa được cất bỏ. Người ta thở ra. Người ta tin tưởng anh mang đến sự thật, anh sắp cho họ biết sự thật. Nhưng ông Chánh án nổi trận lôi đình:
- A! Anh là Joseph Rouletabille hả. Thế thì, hỡi anh bạn trẻ, tôi sẽ dạy cho anh biết cách coi thường luật pháp. Trong khi chờ đợi tòa sẽ xét tội anh, tôi sẽ giữ anh dưới quyền sử dụng của Công lý chiếu theo thẩm quyền chuyên quyết của tôi.
- Dạ, thưa ông Chánh án, tôi chỉ cần có thế, được ở dưới quyền sử dụng của Công lý; tôi tới đây chính là để đặt mình dưới quyền sử dụng của Công lý. Nếu lúc tôi vào có gây ra chút huyên náo, thì tôi xin tòa tha lỗi. Ông Chánh án nên tin rằng không có ai tôn trọng Công lý bằng tôi, nhưng tôi đã vào theo khả năng tôi.
Bỗng anh bật cười. Và mọi người cười theo.
- Đem hắn ra ngoài! – Ông Chánh án ra lệnh. Nhưng luật sư Henri Robert đã can thiệp. Ông bắt đầu bằng lời xin lỗi cho chàng trai trẻ. Ông đề cao anh là người đầy thiện chí giúp ích cho tòa. Ông thuyết cho vị Chánh án hiểu rằng người ta khó có thể bỏ qua lời khai của một nhân chứng đã ngủ luôn ở Glandier trong suốt cả tuần lễ xảy ra bao điều bí ẩn, nhất là một nhân chứng tự xưng sẽ chứng minh bị cáo vô tội và đem đến cho tòa danh tánh kẻ sát nhân.
- Anh cho chúng tôi biết tên kẻ sát nhân chứ? – Ông Chánh án đã nao núng nhưng còn hoài nghi, hỏi lại.
- Dạ phải, thưa ông Chánh án, tôi đến đây chỉ có mỗi việc ấy! – Rouletabille trả lời. Chút xíu nữa người ta vỗ tay, song những tiếng Suỵt! Suỵt! Oai nghiêm của mấy ông Thừa phát lại đã tái lập bầu không khí im lặng. Luật sư Henri Robert cất tiếng:
- Joseph Rouletabille không được đòi đến làm chứng theo thủ tục thông thường, nhưng tôi hy vọng ông Chánh án sẽ hành xử quyền chuyên quyết để chấp cung đương sự.
- Thôi được! – ông Chánh án đáp – Tôi sẽ hỏi anh. Nhưng khoan, để xem nào..
Vị đại diện Công Tố đứng lên:
- Có lẽ tốt hơn hết, chàng tuổi trẻ này nên khai ngay tức khắc kẻ mà anh tố cáo là tên sát nhân.
Ông Chánh án chấp thuận với giọng dè dặt mỉa mai:
- Nếu Công Tố viên cho rằng lời khai của ông Joseph Rouletabille có chút quan trọng, thì tôi không thấy gì trở ngại để nhân chứng khai ngay lập tức danh tánh "tên sát nhân của nhân chứng!"
Phòng xử nghe được cả tiếng ruồi bay. Rouletabille im lặng. Anh xót xa nhìn ông Robert Darzac, lần thứ nhất kể từ lúc tòa bắt đầu cuộc tranh biện, ông vụt để lộ trên mặt nét bàng hoàng kinh sợ.
- Xong rồi – ông Chánh án nhắc lại – chúng tôi nghe ông đây. Tòa đang đợi ông cho biết tên kẻ sát nhân.
Rouleiabille bình tĩnh lục trong túi áo gi-lê, rút ra một "quả quít", xem giờ, đoạn nói:
- Thưa ông Chánh án, tôi chỉ có thể khai ra với tòa tên họ kẻ sát nhân vào lúc sáu giờ mười! Chúng ta còn đúng bốn tiếng nữa!
Phòng xử sôi lên những tiếng xì xào kinh ngạc và bất bình. Vài ông luật sư lớn tiếng: "Anh này giỡn mặt chúng ta!" Ông Chánh án có vẻ thích thú. Hai luật sư Henri Robert và André Hesse thì rầu rĩ. Ông Chánh án ung dung phán:
- Cái chuyện đùa dai này kéo dài đã khá lâu, ông Rouletabille. Ông có thể lui vào phòng dành cho các nhân chứng. Tôi giữ ông dưới quyền xét định của tòa. Roulelabille phản kháng:
- Tôi xin đoan chắc, thưa ông Chánh án, – anh kêu lớn cái giọng lanh lảnh vang như kèn đồng – tôi xin đoan chắc khi tôi đã khai ra tên họ kẻ sát nhân thì ông chánh án sẽ hiểu cho tôi ngay, rằng tôi chỉ nói được điều ấy lúc sáu giờ rưỡi! Nhưng trong khi chờ đợi, tôi vẫn có thể đưa ra vài lời giải đáp về vụ anh bảo vệ bị đâm chết. Ông Frédéric Larsan, người đã thấy tận mắt tôi "làm việc" ở Glandier, có thể trình với tòa tôi đã nghiên cứu vụ này cẩn thận đến thế nào. Tôi thường có ý kiến đối nghịch với ông ấy và cho rằng, làm cho ông Robert Darzac bị tống giam, ông ấy đã đẩy một người vô tội vào tù oan. Chính ông ấy cũng không hề nghi ngờ thiện chí của tôi và tầm quan trọng của những gì tôi khám phá, hắn thường phù hợp với những gì ông ấy phát hiện ra! Frédéric Larsan lên tiếng:
- Thưa ông Chánh án tôi nghĩ nghe lời khai của ông Rouletabille có lẽ cũng hay, nhất là ông ấy không đồng ý với tôi thì lại càng hay nữa.
Tiếng xầm xì nổi lên tán thưởng câu nói của nhà thám tử. Ông ta chấp nhận cuộc so gươm với phong cách thật đẹp. Trận thi tài hứa hẹn nhiều kỳ thú giữa hai tinh hoa trác tuyệt cùng lao vào một bài toán bi thảm và đã đi tới hai giải đáp khác nhau. Nhân ông Chánh án lặng thinh, Frédéric Larsan nói tiếp:
- Như vậy là chúng ta nhất trí về nhát dao do tên hung thủ đã giết hụt cô Stangerson đâm thấu tim anh bảo vệ, nhưng bởi lẽ chúng ta hết đồng ý về vấn đề tên sát nhân chạy trốn "trong cái mẩu sân con", nếu ông Rouletabille cắt nghĩa được cuộc chạy trốn này thực hiện bằng cách nào thì thật ly kỳ!
- Đúng đấy – bạn tôi trả lời vui vẻ – thật là một sự ly kỳ!
Cả phòng xử lại phá ra cười như họp chợ. Ông Chánh án lập tức tuyên bố nếu công chúng còn tái diễn một màn cười nữa thì ông sẽ không ngần ngại mà thực hiện lời đe dọa tống cổ hết ra ngoài.
- Quá thật – ông Chánh án kết thúc bài gắt gỏng – trong một vụ án như vụ này, tôi không thấy cái gì là đáng cười.
- Tôi cũng vậy! – Rouletabille đáp lại, không cười.
Trước mặt tôi, có mấy người rút vội khăn tay nhét vào miệng để khỏi bật cười.
- Thế nào – ông Chánh án hỏi tiếp – ông nghe rõ chưa, ông bạn trẻ, nghe rõ ông Frédéric Larsan nói gì rồi chứ. Theo ông thì tên sát nhân ở trong cái "mẩu sân con" trốn đi bằng cách nào?
Rouletabille nhìn bà Mathieu. Bà Mathieu nhìn anh, mỉm cười buồn bã.
- Bởi lẽ bà Mathieu – anh nói – đã thú nhận có cảm tình với anh bảo vệ.
- Con đĩ chó! – Lão Mathieu la lớn.
- Đem già Mathieu ra ngoài. – Ông Chánh án hạ lệnh.
Người ta dẫn lão Mathieu đi. Rouletabille nói tiếp:
- Bởi lẽ bà ấy đã thú nhận việc này, tôi có thể nói thẳng, bà ấy thường có những cuộc trò chuyện ban đêm với anh bảo vệ ở tầng lầu nhất Vọng Lâu, trong gian nhà ngày xưa dùng làm phòng diễn thuyết. Những buổi trò chuyện ấy mấy lúc sau này tăng lên nhiều khi già Mathieu bị đau phong thấp phải liệt giường. Một mũi moóc-phin, chích đúng lúc, ru ông Mathieu vào giấc ngủ êm say, khỏe khoắn, đồng thời giúp bà vợ yên tâm trong vài giờ cần vắng mặt. Ban đêm, bà Mathieu đến lâu đài, trùm kín người một tấm mạng đen to, không ai nhận được mặt, chờn vờn lướt đi như một bóng ma tăm tối đôi khi khuấy động giấc ngủ của bố Jacques. Để báo cho người bạn trai biết mình đã đến, bà Mathieu bắt chước tiếng meo ghê rợn của con mèo thường theo sát mẹ Agenoux, một bà phù thủy già ở Rừng – Nữ – Thánh – Genevìeve. Tức thì anh bảo vệ từ Vọng lâu xuống mở khung cửa nhỏ đường ngầm cho tình nhân. Khi Vọng Lâu khởi công sửa chữa những chỗ hư nát, các cuộc hẹn hò vẫn tiếp tục không kém, ngay tại Vọng Lâu, ở căn phòng mới tạm thời dành cho người tôi tớ bất hạnh này, nơi đầu cánh hữu lâu đài, chỉ ngăn cách với các phòng của vợ chồng anh quản gia và chị bếp bằng một tấm vách quá mỏng. Bà Mathieu vừa rời anh bảo vệ thì thảm kịch "mẩu sân nhỏ" xảy ra. Cặp tình nhân, đã dốc hết chuyện tâm tình, cùng nhau ra khỏi Vọng lâu. Nhưng chi tiết này, thưa ông Chánh án, mãi sáng hôm sau, khi xem xét các dấu chân trên sân trước lâu đài, tôi mới biết. Bernier, anh gác cổng được tôi cắt cầm súng đứng quan sát đằng sau Vọng Lâu, như tôi sẽ để anh giải thích với tòa không thể thấy việc gì xảy ra ở sân trước. Một lúc sau, nghe tiếng súng nổ anh mới chạy đến và cũng bắn theo. Bấy giờ, anh bảo vệ và bà Mathieu đang ở sân trước trong đêm thinh lặng. Hai người chúc nhau ngon giấc. Bà Mathieu thì đi ra phía cổng lớn vẫn để mở, còn anh chàng trở vào căn buồng nhỏ đội bao lớn ở đầu cánh phải lâu đài. Anh đi sắp tới cửa phòng mình thì nghe tiếng súng nổ. Anh ngoái cổ rồi lo lắng quay trở lại. Tới sân góc cánh hữu lâu đài thì bị một bóng người nhảy xổ tới đâm. Anh lăn ra chết. Xác anh được khiêng đi bởi tay các ông tưởng bắn ngã kẻ giết người, ai dè chỉ mang đi được kẻ bị người giết. Trong lúc ấy, bà Mathieu làm gì? Hoảng sợ vì tiếng súng nổ và đám người ào vào sân, bà cố thu hình cho thật nhỏ trong đêm tối ở sân trước. Sân thì rộng, bà lại ở ngay gần cổng, bà Mathieu có thể lướt qua mà không bị ai nhìn thấy. Nhưng bà không "qua", bà ở lại và trông thấy người ta mang xác chết đi. Lòng quặn thắt vì nỗi kinh hoàng dễ hiểu, bà mò vào tận gian tiền đình, dòm vào chỗ cầu thang được ngọn đèn trong tay bố Jacques soi sáng, cái cầu thang nơi người ta đặt xác bạn trai của bà. Bà "trông thấy" và chạy trốn. Bà có làm bố Jacques chú ý không? Chỉ biết bố Jacques từng tìm cách theo dõi con ma đen đã nhiều đêm quấy nhiễu bố không cho ngủ. Cũng đêm ấy, trước khi án mạng xảy ra, bố lại bị những tiếng gào của "Con Vật Của Chúa" đánh thức và qua cửa sổ phòng mình, bố trông thấy con ma đen. Bố vội vã mặc quần áo, điều đó giải thích tại sao khi chúng tôi đem thi thể anh bảo vệ vào gian tiền đình thì gặp bố đến nơi, áo quần tề chỉnh. Vậy thì, đêm ấy, ở sân trước, chắc bố định nhìn sát mặt con ma đen một lần cho xong chuyện. Bố đã nhận ra hắn là ai! Bố Jacques là bạn cũ bà Mathieu. Hẳn bà thú nhận với bố những buổi hẹn hò đen tối của mình, và khẩn khoản xin bố cứu cho thoát vòng nguy khốn. Trông bà Mathieu lúc ấy, lúc vừa nhìn thấy bạn mình nằm chết, chắc bà thiểu não lắm. Bố Jacques thương tình, đưa chân bà Mathieu về, qua rừng sồi, ra ngoài khu hoa viên, sang luôn bôn kia bờ hồ đến tận đường đi Epinay. Đến đây, bà chỉ còn vài bước là tới nhà.
Bố Jacques trở về lâu đài và nhận ra tầm quan trọng luật pháp đối với người tình của anh bảo vệ, phải làm sao không để ai biết bà có mặt ở lâu đài đêm ấy. Bố hết sức giấu chúng tôi cái giai đoạn thê thảm này của một đêm đã có nhiều màn thê thảm! Tôi khỏi cần đề nghị bà Mathieu và bố Jacques xác nhận câu chuyện tôi nói là đúng. Tôi biết mọi sự đã diễn ra như vậy! Tôi chỉ kêu gọi đến ký ức của ông Larsan, người đã hiểu tại sao tôi biết tất cả, vì ông đã trông thấy tôi, sáng hôm sau, cắm cúi mang trên đường hai loại dấu chân của hai người đi song song, dấu chân bố Jacques và dấu chân của bà đây. Rouletabille hướng về bà Mathieu còn ở trước lan can nhân chứng, nghiêng mình làm một dấu chào trang trọng.
- Những dấu chân của bà đây – Rouletabille giải thích giống những "dấu chân thanh lịch" của tên sát nhân một cách kỳ quái. Bà Mathieu giựt mình đánh thót. Bà nhìn chòng chọc anh phóng viên trẻ, cặp mắt bàng hoàng hung dữ. Anh chàng này dám nói gì? Muốn nói gì? - "Bà đây cũng có bàn chân thanh lịch, dài, và với đàn bà thì hơi to một chút. Chính là bàn chân tên sát nhân, khác chút xíu ở mũi giầy cao cổ."
Trong đám công chúng có vài chỗ xao động. Rouletabille giơ tay chặn họ lại. Có thể nói người chỉ huy đội Cảnh sát giữ trật tự phiên tòa bây giờ thật sự là anh.
- Tôi xin nói ngay, anh tiếp, rằng chuyện này không có chi đáng kể, và nhà thám tử xây dựng hệ thống
suy luận trên những dấu chỉ bề ngoài như thế mà không bao quanh hắn một tư "tưởng đại quát" sẽ phăng phăng đi vào con đường sai lầm. Như Robert Darzac, ông ấy cũng có đôi bàn chân của tên sát nhân, thế nhưng ông ấy không phải tên sát nhân! "
Lại chuyển động trong đám đông. Ông Chánh án hỏi bà Mathieu:
- Có phải mọi việc đêm ấy xảy ra với bà đúng như vậy không?
- Dạ đúng, thưa ông Chánh án, cứ y như ông Rouletabille ở ngay sau lưng chúng tôi vậy.
- Thế thì bà đã trông thấy tên sát nhân chạy trốn đến tận đầu cánh hữu lâu đài, phải vậy không?
- Dạ đúng, như tôi đã thấy người ta khiêng xác anh bảo vệ đi một phút sau đó.
- Còn tên sát nhân ra sao? Bà ở lại một mình ngoài sân trước, tất nhiên bà phải thấy hắn chứ? Hắn không biết có bà ở đó và hắn chỉ mải lo trốn.
- Tôi chẳng thấy gì, thưa ông Chánh án – bà Mathieu rên rỉ – lúc ấy tự nhiên trời tối quá là tối!
- Vậy, chỉ có ông Rouletabille giải thích cho chúng ta hiểu tên sát nhân đã tẩu thoát cách nào.
- Đúng thế! - Chàng tuổi trẻ đáp ngay với giọng tin tưởng vững như thành đồng, đến độ ông Chánh án cũng không hà tiện một nụ cười. Rồi Rouletabille sang sảng:
- Tên sát nhân đã đi vào mẩu sân con ấy, sẽ không có cách chi ra thoát một cách bình thường mà không bị chúng tôi thấy. Dù trời tối không nhìn rõ thì cũng phải đụng người hắn! Mẩu sân nhỏ tí xíu, hình vuông, xung quanh toàn hố sâu và hàng rào cao. Hoặc tên sát nhân đạp lên chúng tôi, hoặc chúng tôi đạp lên cái mảnh sân vuông này cụ thể cũng bị đóng kín bởi những hố, những rào và bởi chính chúng tôi, chẳng khác chi" Căn Phòng Vàng ".
- Thế thì ông hãy cho chúng tôi biết, vì hắn đã vào cái mảnh sân vuông ấy, tại sao các ông không tìm thấy hắn? Cả nửa giờ qua chúng tôi chỉ đợi ông có chừng đó!
Roulelabille lại lôi quả quít trong túi áo gi-lê ra, thản nhiên nhìn giờ rồi nói:
- Thưa ông Chánh án, ông có hỏi tôi câu này trong ba giờ nữa cũng thế thôi, tôi chỉ có thể trả lời vào đúng sáu giờ rưỡi!
Lần này, tiếng xì xào không còn chống đối, không còn bất bình. Người ta bắt đầu tin Rouletabille." Người ta đặt tin tưởng vào anh "và người ta lấy làm thú vị tuyệt trần thấy anh cả gan định một giờ hẹn với ông Chánh án như hẹn một người bạn. Còn ông Chánh án, sau khi lòng tự hỏi lòng có nên nổi giận hay không, ông quyết định cũng đùa giỡn với thẳng nhỏ này cho vui. Thiện cảm từ Rouletabille tỏa ra xung quanh anh. Sau hết, anh đã diễn xuất vai trò của bà Mathieu trong vụ này quá rõ, và giải nghĩa nhất cử nhất động của bà ta trong" đêm hôm ấy "rành rẽ quá khiến ông De Rodoux thấy buộc lòng phải coi trường hợp anh thật sự là nghiêm túc.
- Thôi được, ông Rouletabille, tùy ông! Nhưng đi đâu thì đi, ông đừng để tôi thấy mặt trước sáu giờ rưỡi.
Rouletabille chào ông Chánh án, cái đầu to lúc la lúc lắc, anh đi về phía cửa ra vào dành cho nhân chứng. Anh đảo mắt tìm tôi. Anh không thấy tôi. Tôi bèn nhẹ lách đám đông người đang xiết chặt vòng vây quanh mình và ra khỏi phòng xử cùng lúc với Rouletabille. Anh đón tôi hết sức nồng nàn. Anh sung sướng cười nói huyên thuyên. Anh hớn hở lắc tay tôi thật mạnh. Tôi nói:
- Anh bạn thân mến ơi, tôi sẽ không hỏi anh đã làm cái gì ở bên Mỹ, vì chắc chắn anh sẽ trả lời tôi như trả lời ông Chánh án, rằng đến sáu giờ rưỡi anh mới có thể cho biết điều đó, phải vậy không?
- Không, anh bạn Sainclair thân mến! Tôi cho anh biết ngay lập tức tôi đã làm gì ở Mỹ, bởi vì anh, anh là một người bạn: Tôi đi tìm tên của cái nửa thứ hai con người kẻ sát nhân!
- Thật hả, thật hả, tên cái nửa thứ hai?
- Đúng thế, khi chúng ta rời Glandier lần chót, tôi đã biết được hai nửa của kẻ sát nhân và tên của một trong hai cái nửa ấy. Tôi sang Mỹ để tìm nốt tên của cái nửa kia. Tới đây chúng tôi bước vào phòng các nhân chứng. Họ xúm quanh Rouletabille hỏi han tíu tít. Anh phóng viên vồn vã với hết thẩy mọi người, trừ Arthur Rance, anh lạnh nhạt ra mặt – Thấy Frédéric Larsan vào phòng, Rouletabille đi tới và biểu diễn một cái bắt tay thép, chỉ mình anh làm được, hắn có thể khiến đối phương gãy đốt như chơi. Bày tỏ cảm tình đậm đà như vậy, chắc hẳn Rouletabille đã cho ông ta đo ván. Larsan mỉm cười tràn đầy tự tin và cũng hỏi anh làm gì ở Mỹ. Tức thì Rouletabille rất ân cần, nắm cánh tay ông ta kể luôn cả chục giai thoại về cuộc viễn hành của mình. Một lát sau, họ kéo nhau đi bàn bạc những chuyện quan trọng hơn, tôi biết ý nên đã kín đáo lỉnh đi chỗ khác. Vả chăng, tôi cũng ham trở vào phòng xử, nơi cuộc thẩm vấn các nhân chứng vẫn tiếp tục. Tôi đến ngồi chỗ cũ và nhận thấy ngay công chúng chỉ để ý hơi hơi đến những gì đang diễn ra. Họ nén lòng thờ sáu giờ rưỡi. Đồng hồ điểm vang tiếng chuông sáu giờ rưỡi và Joseph Rouletabille trở vào phòng xử. Mô tả nỗi xúc động bừng bừng của đám đông khi họ đưa mắt dõi theo anh đi tới lan can nhân chứng là việc không thể làm được. Người ta không thở nữa. Ông Robert Darzac rời chiếc ghế dài đứng dậy. Mặt ông tái nhợt" như một xác chết ". Ông Chánh án nghiêm khắc:
- Tôi không cho ông tuyên thệ như luật định. Ông không được tòa đòi, theo thủ tục bình thường. Nhưng tôi hy vọng khỏi cần cắt nghĩa với ông tất cả tầm quan trọng của những lời ông sắp khai ra ở đây.
Rồi thêm một câu hàm ý đe dọa:
- Tất cả tầm quan trọng của những lời khai ấy, cho ông, nếu không là cho kẻ khác. Rouletabille không mảy may xúc động, nhìn thẳng ông quan tòa. Anh nói:
- Thưa vâng!
- Nào – ông Chánh án tiếp – ban nãy chúng ta đang nói đến cái mẩu sân con đã làm nơi ẩn núp cho tên sát nhân. Bây giờ là sáu giờ băm lăm, ông Rouletabille, mà chúng tôi chưa biết gì hết!
- Thưa ông Chánh án! – Bạn tôi lớn tiếng giữa một khung cảnh im lặng trang nghiêm mà đời tôi chưa hề" nhìn thấy "bao giờ – tôi đã nói rằng cái mẩu sân con ấy được quây kín và tên sát nhân không thể ra thoát mà không bị những người đang rượt đuổi hắn trông thấy. Khi chúng tôi ở đó, trong cái mảnh sân con vuông, tên sát nhân cũng ở đó với chúng tôi!
- Thế mà các ông không trông thấy hắn? Đúng như Công Tố Viên nói rồi còn gì.
- Ấy, tất cả chúng tôi đều thấy chứ! Thưa ông Chánh án – Rouletabille nói lớn.
- Và các ông bắt giữ hắn?
- Chỉ có mình tôi biết hắn là tên sát nhân. Mà tôi thì cần để tên sát nhân không bị bắt ngay tức khắc! Vả chăng, lúc ấy tôi không có bằng chứng nào khác ngoài" lý trí của tôi ", vậy chỉ có lý trí của tôi hắn chứng minh tên sát nhân ở đó và chúng tôi trông thấy hắn! Tôi đã dành một thời gian để hôm nay mang đến trước tòa đại hình một chứng cứ không thể chối cãi và, tôi cam đoan, tất cả mọi người đều hài lòng.
- Thì ông nói đi! Nói đi! Cho tôi biết tên kẻ sát nhân là gì đi! – Ông Chánh án giục.
- Ông Chánh án sẽ thấy tên hắn trong đám tên những người ở trong cái mẩu sân con ấy. – Rouletabille trả lời thủng thẳng, không chút vội vàng. Công chúng trong phòng xử bắt đầu sốt ruột." Nói tên đi! Nói tên đi! "Nhiều tiếng xì xào. Rouletabille bằng giọng nói" đáng ăn mấy cái bạt tai ", vẫn chậm rãi:
- Tôi kéo dài lời khai này một chút, lời khai của tôi, thưa ông Chánh án, bởi tôi có lý do để làm thế!
- Nói đi, nói tên hắn ra cho rồi! Đám đông gắt gỏng,
- Im lặng! – Ông Thừa phát lại quát to. Ông Chánh án hỏi tiếp:
- Ông cần khai ngay cái tên hắn đi! Những người ở trong sân lúc đó là: Anh bảo vệ chết rồi. Phải anh ta, tên sát nhân đấy không?
- Thưa không.
- Bố Jacques?
- Thưa không.
- Anh gác cổng Bernier?
- Thưa không.
- Ông Sainclair?
- Thưa không.
- Thế thì ông Arthur Rance rồi. Chỉ còn lại ông Arthur Rance và chính ông thôi! Ông, ông không phải tên sát nhân chứ?
- Thưa không!
- Vậy ông tố cáo ông Arthur Rance?
- Thưa không!
- Tôi hết hiểu nổi! Ông muốn đi tới đâu? Hết người rồi, làm gì còn ai trong mẩu sân con ấy nữa.
- Còn, thưa ông Chánh án! Không có ai trong mảnh sân con, dưới nhà cũng không, nhưng có người ở trên lầu. Một người cúi mình qua cửa sổ dòm xuống mảnh sân con.
- Frédéric Larsan! – Ông Chánh án thét lên.
- Frédéric Larsan! – Rouletabille nhắc lại một câu vang rền. Đoạn, quay về phía công chúng đang lao xao phản đối, anh tung ra những tiếng mà đến tôi cũng không ngờ anh có thể nói:
- Frédéric Larsan, tên sát nhân! Tiếng la hoảng ồn lên ngập phòng xử, lẫn lộn những sửng sốt, thất kinh, phẫn nộ, ngờ vực, và ở một số người lòng ngưỡng mộ bốc cao đối với con người bé nhỏ kia dám táo bạo tung ra một lời tố cáo nguy hiểm như vậy. Ông Chánh án cũng chẳng buồn dẹp yên họ. Khi tiếng ồn ào tự hắn êm đi sau những tiếng suỵt nghiêm khắc của những người muốn biết nhiều hơn nữa, người ta nghe rõ Robert Darzac buông mình rơi xuống thốt kêu lên:
- Không có lẽ! Anh này điên rồi!
Ông Chánh án nói với Rouletabille:
- Ông dám tố cáo Frédéric Larsan ư? Ông thấy hậu quả lời tố cáo ấy đó. Đến ông Robert Darzac cũng phải cho ông là điên! Nếu ông không điên, ông phải có bằng chứng.
- Bằng chứng, thưa ông Chánh án! Ông Chánh án muốn bằng chứng! A! Tôi xin đưa ra một bằng chứng- Tiếng Rouletabille oang oang – Xin tòa cho đòi Frédéric Larsan! Ông Chánh án:" Thừa phát lại, gọi Frédéric Larsan ". Viên Thừa phát lại chạy ngay đến khung của nhỏ, mở ra, biến mất, khung cửa để ngỏ. Mọi con mắt đổ dồn vào hắn. Thừa phát lại trở vào. Ông đi tới khu thẩm án báo cáo:
- Thưa ông chánh án, Frédéric Larsan không có đây. Ông ấy đi khỏi lúc bốn giờ, không ai thấy trở lại.
Rouletabille cao giọng đắc thắng:
- Bằng chứng của tôi, thì đó!
- Ông hãy giải thích rõ hơn. Bằng chứng nào?
- Bằng chứng không thể chối cãi của tôi. – Anh phóng viên đáp – ông Chánh án không thấy đó là cuộc bỏ trốn của Larsan đấy ư? Tôi cam đoan với tòa ông ấy không bao giờ trở lại! Nhất định không bao giờ quý vị gặp lại Frédéric Larsan. Tiếng xầm xì nổi lên ở cuối phòng.
Ông Chánh án: Nếu ông không cố ý xem thường luật pháp, tại sao ông không nhân lúc Larsan còn ở bên ông, trước hàng lan can đây, để tố cáo ông ấy thẳng vào mặt? Ít nhất ông ấy có thể trả lời ông.
- Còn có câu trả lời nào đầy đủ bằng câu này, thưa ông Chánh án? Ông ấy không trả lời tôi. Ông ấy sẽ không bao giờ trả lời tôi đâu! Tôi tố cáo Larsan là tên sát nhân và ông ấy chạy trốn! Ông Chánh án còn chưa thấy đó là một câu trả lời sao, vụ bỏ trốn này!
- Chúng tôi không muốn tin, chúng tôi không tin như ông nói, rằng Larsan" đã chạy trốn ". Sao ông ấy phải chạy trốn? Ông ấy có biết ông sắp tố cáo ông ấy đâu?
- Có, ông ấy biết, bởi chính tôi đã cho ông ấy biết lúc nãy.
- Ông dám làm thế à? Ông tin Larsan là tên sát nhân mà ông cho ông ấy phương tiện để chạy trốn?
- Đúng, thưa ông Chánh án, tôi đã làm thế – Rouletabille kiêu hãnh trả lời – Tôi không phải người của" pháp luật ". Tôi không phải người của" Cảnh Sát ". Tôi chỉ là một phóng viên tầm thường, và nghề của tôi không phải là làm cho ai bị bắt! Tôi phục vụ sự thật theo ý tôi, đó là việc của riêng tôi. Còn quý vị, quý vị cứ bảo vệ xã hội theo khả năng của quý vị, đó là việc của riêng quý vị. Nhưng đem một cái đầu đến nộp cho ông đao phủ thì không phải việc của tôi! Nếu ông Chánh án là người công minh – mà nhất định ông là người công minh rồi – ông sẽ thấy tôi có lý! Ban nãy, tôi đã chẳng thưa cùng ông, rằng ông sẽ hiểu tại sao tôi không thể tiết lộ danh tánh kẻ sát nhân trước sáu giờ rưỡi đấy ư? Tôi đã tính kỹ, thời gian ấy cần để cho Frédéric Larsan biết mà đáp chuyến xe lửa 4 giờ 15 phút đi Paris, tới đây, ông ấy sẽ biết cách tìm lấy an toàn. Một giờ để đến Paris, một giờ mười lăm phút nữa để ông ấy xóa hết mọi dấu vết trên đường bôn tẩu. Thế là đủ tới sáu giờ rưỡi. Quý vị sẽ không tìm ra Frédéric Larsan nữa đâu. Rouletabille ngó đăm đăm ông Robert Darzac: Ông ấy khôn quá mà. Đó là một người luôn luôn thoát khỏi tay quý vị, mà quý vị uổng công săn đuổi đã lâu. Tuy ông ấy không tài giỏi bằng tôi – Rouletabille cười rất thật thà và cười một mình, vì lúc này chẳng ai còn thiết cười nữa – nhưng ông ta lại tài giỏi hơn tất cả Cảnh Sát trên trái đất. Con người ấy từ bốn năm lọt vào ngành Cảnh Sát, danh tiếng lẫy lừng dưới cái tên Frédéric Larsan, lại cũng đã lẫy lừng danh tiếng dưới một cái tên khác mà quý vị biết rõ, Frédéric Larsan, thưa ông Chánh án, chính là Ballmeyer!
- Ballmeyer! – Ông Chánh án bàng hoàng.
- Ballmeyer! – Robert Darzac cũng nhỏm người trên ghế bị cáo – Ballmeyer! Thế thì đúng rồi!
- A! A! Ông Darzac, giờ thì ông hết chê tôi là người điên chứ!
- Ballmeyer! Ballmeyer! Ballmeyer! Khắp phòng, người ta chỉ còn nghe có một cái tên ấy. Ông Chánh án truyền đình phiên xử. Thời gian tòa đình, quang cảnh phòng xử lại vô cùng náo nhiệt! Công chúng có lắm đề tài thảo luận. Ballmeyer! Người ta phục chú bé phóng viên quả là tay" cự phách "! Ballmeyer! Quái, sao người ta đồn y chết từ mấy tuần nay rồi! Té ra Ballmeyer đã thoát chết, cũng như cả đời y, y đã thoát khỏi tay Hiến binh. Tôi có cần nhắc lại ở đây nhưng thành tích lớn của Ballmeyer không nhỉ. Suốt hai mươi năm trời, chúng đã gây sôi nổi trong nhưng bài xã luận tư pháp và làm tiêu đề cho mục tin tức linh linh. Và nếu có vài độc giả của tôi đã lỡ quên mất vụ" Căn Phòng Vàng "thì cái tên Ballmeyer chắc chắn chưa bị xóa nhòa trong ký ức họ. Ballmeyer là tiêu biểu điển hình cho khoa bịp bợm đại thế giới. Không có ai thượng lưu quý phái bằng y. Không có nhà ảo thuật nào ngón tay khéo léo hơn y. Không có tên" đạo tặc "nào, như người ta thường nói ngày nay, to gan hơn vì đáng khiếp hơn y. Được nhận vào tầng lớp xã hội thượng lưu nhất, ghi tên trong những hội quán khó gia nhập nhất, y đã đánh cắp danh dự các gia đình về tiền bạc của văn nhân trí thức một cách ngang tàng chưa từng thấy. Trong vài vụ khó khăn, y không ngần ngại chơi dao găm 'hoặc lóng xương cừu". Ngoài ra, y chẳng bao giờ ngần ngại trước tội ác, không một vụ làm ăn nào ở trên sức y. Có một lần sa lưới pháp luật, y đã tẩu thoát ngay buổi sáng hôm mở phiên tòa xử y, bằng cách ném bột tiêu vào mắt mấy người cảnh vệ áp giải y đi tòa. Sau này, người ta mới biết ngay hôm y trốn thoát, trong lúc các thám tử tài ba nhất của Sở Công An bám sát vết chân y thì, rất bình tĩnh, không một chút cải trang, y ngang nhiên dự buổi trình diễn ra mắt của Đoàn kịch nghệ Pháp. Tiếp đó, y rời nước Pháp qua Mỹ làm ăn và cảnh sát bang Ohio, một buổi đẹp trời kia, đã thộp được tên cướp khét tiếng này nhưng hôm sau y lại trốn thoát. Ballmeyer, nói về Ballmeyer thì phải có một quyển sách dầy, và con người ấy đã trở thành Frédéric Larsan! Và chính chú bé Rouletabille, đã phát giác việc đó! Rồi cũng chính chú bé, biết rõ quá khứ của Ballmeyer, một lần nữa lại cho phép y trêu ngươi xã hội bằng cách cấp phương tiện cho y tẩu thoát. Về điểm chót này, tôi chỉ có thể nghiêng mình cảm phục Rouletabille, vì tôi vốn biết ý định của anh ta là tận tình giúp đỡ đến cùng ông Roberl Darzac và cô Stangerson bằng cách tống khứ tên tướng cướp đi xa mà không để cho hắn nói. Khi phiên tòa tái nhóm, công chúng chưa kịp điều hòa hơi thở sau cú vén màn bí mật ly kỳ này thì tôi đã lại nghe những người hắnng nảy nhất hét toáng lên:
- "Cho rằng tên sát nhân đúng là Frédéric Larsan đi nữa, vẫn chưa có gì giải nghĩa được làm thế nào hắn thoát ra khỏi" Căn Phòng Vàng! "Rouletabille được gọi lập tức lên lan can nhân chứng, và cuộc hỏi cung anh, vì đây thực sự là buổi hỏi cung đúng hơn, một cuộc khai chứng, lại tiếp tục. Ông Chánh án:
- Vừa rồi, ông cho chúng tôi biết không có cách gì trốn khỏi cái mẩu sân con. Tôi chấp nhận với ông, tôi muốn chấp nhận rằng, vì Frédéric Larsan đứng khom lưng qua cửa sổ, phía trên các ông, tức là y còn ở trong mẩu sân ấy. Nhưng muốn đứng ở cửa sổ phòng y, y phải rời mẩu sân bên dưới, vậy thì y đã trốn thoát! Trốn cách nào?
Rouletabille:
- Tôi có nói y không thể trốn thoát" một cách bình thường "nghĩa là y trốn thoát một cách dị thường! Bởi cái mẩu sân con, tôi cũng đã nói, chỉ" gần như "đóng kín, trong khi" Căn Phòng Vàng "thì kín như nhà mồ. Y có thể trèo lên tường, một việc không làm được trong" Căn Phòng Vàng ", quăng mình trên sân thượng y leo vào hành lang bằng khung cửa sổ ở ngay phòng bên trên sân thượng. Larsan chỉ cần nhảy một bước là vào được phòng y, mở cửa sổ và nói trỏ xuống dưới với chúng tôi. Công việc ấy là trò chơi con nít đối với một tay đu bay có sức mạnh như Ballmeyer. Và, thưa ông Chánh án, đây là bằng chứng về điểm tôi vừa trình bày.
Rouletabille móc trong túi áo vét lấy ra một gói nhỏ. Anh mở gói, cầm một con chốt giơ lên:
- Thưa ông Chánh án, đây là con chốt đóng vừa vặn vào một cái lỗ mà người ta tìm thấy còn cắm trong" con quạ "bên phải, đội mảng sân thượng trên bao lơn. Larsan, con người tiên liệu tất cả và nghĩ đến mọi phương tiện tẩu thoát xung quanh phòng mình – việc tất nhiên phải làm khi chơi cái trò của y – đã đóng sẵn cái chốt này vào" con quạ ". Một chân trên cái mốc ở góc lâu đài, chân kia đạp lên con chốt, một tay chống mép cửa phòng anh bảo vệ, tay kia bám vành sân thượng, và Frédéric Larsan biến mất trong thinh không, nhất là y nhanh như vượn và tối hôm ấy y không hề bị say thuốc mê như y làm bộ gạt chúng tôi. Chúng tôi đã ăn tối với y, thưa ông Chánh án, và đến lúc tráng miệng, y giả vờ lăn ra ngủ, bởi lẽ y cũng phải đóng vai trò mê man để ngày mai không ai ngạc nhiên thấy tôi, Joseph Rouletabille, bị trúng thuốc mê trong bữa ăn tối với Larsan. Một khi hai chúng tôi cùng chung số phận thì các mũi dùi nghi ngờ không phạm được đến y và sẽ chia đi hướng khác. Vì tôi, thưa ông Chánh án, tôi đã bị đánh thuốc mê thật sự ngon trớn, bởi chính tay Larsan, rồi sự thể ra sao! Nếu tôi không bị rơi vào tình trạng bi đát ấy thì đời nào Larsan lẻn được vào phòng cô Stangerson tối hôm đó, và tai họa đã không xảy ra! Người ta nghe một tiếng rên đau đớn. Ông Robert Darzac không dằn nổi bi thương.
- Chắc ông Chánh án cũng hiểu – Rouletabille nói tiếp – bởi nằm ngay phòng bên cạnh, tôi đặc biệt ngăn trở hoạt động của y đêm đó, vì y biết hay ít nhất y có thể e ngại đêm đó, tôi thức canh chừng! Dĩ nhiên, y không thể ngờ một giây nào là tôi dám nghi cả y! Nhưng tôi có thể phát hiện y lúc y từ phòng mình đi ra để đến phòng cô Stangerson lắm chứ! Vậy nên, đêm đó, y đợi cho tôi mê mệt bên phòng tôi và ông bạn Sainclair của tôi thì mải lo giải mê cứu tỉnh tôi, rồi y mới lẻn vào phòng cô Stangerson. Mười phút sau, cô Stangerson thét lên một tiếng kêu thương từ đáy sâu địa ngục.
- Ông làm thế nào mà đi tới chỗ nghi ngờ Frédéric Larsan? Ông Chánh án hỏi.
-" Cái đầu tốt của lý trí tôi "hắn chỉ đường, thưa ông Chánh án, vì thế mà tôi không rời mắt canh chừng y. Nhưng y quả là tay ghê gớm và tôi đã không tính trước đến cái ngón thuốc mê. Đúng, đúng, cái đầu tốt của lý trí tôi hướng dẫn tìm ra! Nhưng tôi cần có bằng chứng cụ thể như ai kia thường nói:" Trông rõ hắn trước mắt sau khi đã thấy hắn trong lý trí! "
- Ông hiểu sao về cái ông gọi là" đầu tốt của lý trí ông "?
- Ô! Thưa ông Chánh án, lý trí có hai đầu: Đầu tốt và đầu xấu. Chỉ có một đầu mình dựa vào được để suy luận một cách vững vàng, đó là cái đầu tốt. Mình nhận ra hắn khi không có gì bắt hắn lung lay được, dù mình làm gì, dù mình nói gì! Hôm sau ngày xảy ra vụ" Hành Lang Không Hiểu Nổi ", lúc tôi như kẻ thấp hèn nhất trong số người thật thấp hèn giữa đám nhân loại khốn khổ không biết đường nào mà sử dụng lý trí của mình, bởi vì không biết bắt đầu từ chỗ nào, trong lúc tôi còng lưng trên mặt đất nhìn những dấu vết gian trá do giác quan thu nhận được, bỗng dưng tôi đứng phắt đậy, và dựa trên cái đầu tốt của lý trí mình, tôi phóng tới hành lang." Tới hành lang, tôi hiểu rằng tên sát nhân mà chúng tôi rượt bắt lần này đã không thể thoát ra khỏi hành lang một cách "bình thường cũng như dị thường". Thế là với cái đầu tốt của lý trí tôi, tôi vẽ một vòng tròn, đem toàn bộ vấn đề nhốt trong đó, rồi xung quanh vòng tròn, tôi viết nhẩm trong đầu những chữ rực sáng thế này: "Bởi vì tên sát nhân không thể nào ở ngoài cái vòng tròn, thì bắt buộc hắn phải ở trong. Vậy tôi thấy những ai trong vòng tròn ấy? Cái đầu tốt của lý trí tôi điểm danh từng người – ngoài tên sát nhân bắt buộc phải có mặt, còn bố Jacques, Ông Stangerson, Frédéric Larsan và tôi! Cộng cả lại với tên sát nhân, phải là năm người. Thế nhưng, khi tôi tìm trong vòng tròn, hay tùy ông muốn gọi" cụ thể "là trong hành lang cũng được, tôi chỉ đếm được có bốn. Và điều đã được chứng minh là người thứ năm không thể chạy trốn, không thể ra ngoài vòng tròn! Vậy tôi có trong vòng tròn, một nhân vật thành hai, nghĩa là ngoài con người của nhân vật còn cộng thêm con người tên sát nhân! Tại sao trước đó, tôi không hiểu như vậy? Đơn giản chỉ tại cái hiện tượng nhân vật kép không chạy qua mắt tôi. Trong bốn nhân vật bị nhốt trong vòng tròn, tên sát nhân đã có thể tự lồng mình với ai để thành hai, mà tôi không biết? Chắc chắn không phải với những người đã có lúc hiện ra trong óc tôi là rằng phải tách rời tên sát nhân. Như thế, tôi đã nhìn thấy cùng một lúc, trong hành lang, ông Stangerson và tên sát nhân, bố Jacques và tên sát nhân, tôi và tên sát nhân. Tên sát nhân không thể là ông Stangerson, không thể bố Jacques, không thể là tôi. Vả chăng, nếu chính tôi là tên sát nhân thì tôi phải biết chứ, đúng không, thưa ông Chánh án? Tôi có nhìn thấy, cùng một lúc, Frédéric Larsan và tên sát nhân không? Không! Đã có" hai giây đồng hồ "tên sát nhân thoát ra ngoài tầm mắt tôi vì, như tôi có ghi lại trong các giấy tờ riêng, hắn đã chạy tới ngã ba hai hành lang" hai giây đồng hồ "trước ông Stangerson, bố Jacques và tôi. Thế là đủ cho Larsan quẹo vào hành lang ngoặc, giựt hàm râu giả bằng một cái trở bàn tay, quay trở lại và húc vào chúng tôi, làm như y rượt đuổi tên sát nhân, đâm đầu tới! Ballmeyer đã từng làm nhiều vụ kiểu này mà quý vị thừa biết, việc bôi mặt hóa trang đối với y là trò trẻ, lúc thì y xuất hiện trước cô Stangerson với bộ râu đỏ, lúc thì trước nhân viên Bưu Điện Văn Phòng 40, với hàm râu nâu vàng cho giống ông Robert Darzac, người mà y quyết tâm đưa lên máy chém! Đúng, cái đầu tốt của lý trí tôi đem ráp hai nhân vật này lại với nhau, hay đúng hơn, hai nửa nhân vật mà tôi không nhìn thấy cùng một lúc: Frédéric Larsan và kẻ lạ mặt tôi đang theo đuổi, để hợp thành trọn vẹn một con người bí mật và gớm ghê tôi đã quyết lùng kiếm" tên sát nhân ". Điều phát giác bất ngờ này làm tôi hoang mang. Tôi cố tự trấn tĩnh bằng cách chăm chú một chút vào những vết tích do giác quan thu nhận được, nhưng dấu chỉ bề ngoài cho tới bây giờ vẫn dẫn tôi đi ngu ngơ mãi đâu, và tự nhiên phải đưa vào vòng tròn do cái đầu tốt của lý trí tôi đã vẽ! Trước hết, những dấu chỉ bề ngoài chính nào, trong đêm ấy, đã dẫn tôi lạc xa một Frédéric Larsan sát nhân:
1. Tôi đã trông thấy kẻ lạ mặt ở trong phòng cô Stangerson, rồi khi chạy sang phòng Frédéric Larsan, tôi đã gặp ở đây, một Frédéric Larsan mặt phì phì vì ngái ngủ.
2. Cái thang.
3. Tôi đã cắt Frédéric Larsan đúng ở đầu hành lang ngoặt, dặn y tôi sẽ nhảy vào phòng cô Stangerson để bắt tên sát nhân. Thế rồi, khi tôi quay lại phòng cô Stangerson thì vẫn thấy kẻ lạ mặt ở đó. Cái dấu chỉ bề ngoài thứ nhất không làm tôi lúng túng. Có thể rằng lúc tôi xuống cầu thang, sau khi thấy kẻ lạ mặt trong phòng cô Stangerson, thì y đã làm xong công việc cần làm ở đó. Thế là trong lúc trở về lâu đài thì y trở về phòng Frédéric Larsan, cởi bỏ quần áo trong hai, ba động tác, và khi tôi gõ cửa phòng, y đã trình bày được một bộ mặt Frédéric Larsan ngái ngủ rất là nghiêm chỉnh. Dấu chỉ thứ hai, cái thang cũng không làm tôi lúng túng. Rõ ràng nếu tên sát nhân là Larsan, y cần gì phải có thang mới vào được lâu đài, vì Larsan ngủ ở bên cạnh phòng tôi. Nhưng cái thang làm cho người ta tưởng tên sát nhân" ở bên ngoài "vào, việc này cần thiết cho hệ thống của Larsan, vì đêm ấy ông Darzac không ở lâu đài.
Cuối cùng, với cái thang, đằng nào cũng có lợi, hắn có thể giúp Larsan tẩu thoát dễ dàng nữa. Nhưng cái dấu chỉ thứ ba thì quả thật hắn làm tôi mất phương hướng, không còn biết đâu mà lần. Khi đã cắt Larsan đứng ở đầu hành lang ngoặt, tôi không hiểu vì cớ gì mà y dám lợi dụng lúc tôi đi sang cánh trái lâu đài tìm ông Stangerson và bố Jacques để quay vào phòng cô Stangerson! Làm như vậy hết sức là nguy hiểm! Rất dễ bị bắt. Mà y biết vậy! Và quả nhiên, y đã suýt bị bắt thật, vì không đủ thì giờ trở lại chỗ được chỉ định đứng rình, như y hy vọng chắc thế. Dám trở vào phòng cô Stangerson, nhất định y phải có một duyên cớ cực thúc bách hiện ra bất thần sau khi tôi quay đi, vì nếu không thế thì y đâu có cho tôi mượn súng! Về phía tôi, khi tôi cử bố Jacques đến đứng ở đầu hành lang thẳng, cố nhiên tôi yên trí Larsan vẫn đứng nguyên chỗ tôi chỉ định cho y ở đầu hành lang ngoặt, còn bố Jacques, bởi tôi không cho bố thêm chi tiết nào khác, nên lúc đi qua giao điểm hai hành lang, bố không để ý nhìn coi Larsan có đúng ở chỗ y không. Lúc ấy, bố Jacques chỉ lo chấp hành chỉ thị của tôi sao cho nhanh chóng. Vậy cái lý do bất ngờ đã buộc Larsan vào phòng cô Stangerson lần thứ hai là gì? Lý do gì mà cấp thiết dữ vậy? Tôi nghĩ, đó chỉ có thể là một dấu vết do giác quan thu nhận được hắn chỉ cho người ta thấy con đường y đã đi qua và hắn sẽ tố cáo y! Y đã bỏ quên một cái gì thật quan trọng ở trong phòng! Cái gì? Y có tìm lại được cái đó không? Tôi nhớ đến ngọn nến đặt dưới sàn nhà và kẻ lạ mặt lom khom cúi xuống, tôi bèn nhờ chị Berniet, người có phận sự dọn dẹp căn phòng tìm giùm và chị đã tìm thấy cái kính kẹp mũi, cái kính này đây thưa ông Chánh án! Và Rouletabille mở gói lấy ra chiếc kính kẹp mũi mà chúng ta biết rồi.
- Khi tôi trông thấy cái kính này, tôi đâm hoảng, tôi chưa bao giờ thấy Larsan dùng kính kẹp mũi. Nếu y không dùng, túc là y không cần đến. Y càng không cần đến vào một lúc mà khả năng tự do cử động tay chân đối với y vô cùng quý giá, cái kính kẹp mũi này mang
ý nghĩa gì? Hắn không ở trong vòng tròn của tôi, trừ phi hắn là kính của người viễn thị, tôi bất giác kêu lên kinh ngạc! Quả thực, tôi chưa bao giờ trông thấy Larsan viết, chưa bao giờ thấy y đọc. Vậy y" có thể "là người viễn thị. Chắc ở Sở Công An người ta biết y bị viễn thị." Nếu đúng y bị viễn thị, hẳn người ta nhận ra cái kính kẹp mũi của y, kính kẹp mũi của Larsan viễn thị lượm được trong phòng cô Stangerson, sau vụ, "Hành Lang Không Hiểu Nổi", sẽ khủng khiếp thế nào, với Larsan! Đó là lý do bắt y trở vào phòng cô Stangerson. Và quả đúng Larsan – Ballmeyer viễn thị thật, và cái kính kẹp mũi này, mà ở Sở Công An "có lẽ" người ta sẽ nhận ra ngay, đúng là kính của y.
- Phương pháp của tôi thế nào, ông Chánh án thấy đó – Roulelabille tiếp – tôi không hề trông đợi các dấu vết bề ngoài cho tôi biết sự thật, tôi chỉ đòi chúng đừng đi ngược với sự thật do cái đầu tốt của lý trí tôi hắn chỉ cho tôi! Để nắm chắc toàn bộ sự thật về Larsan vì Larsan sát nhân là một trường hợp hết sức đặc biệt đáng bắt người ta phải thủ thế bằng một đảm bảo vững như trường thành, tôi đã lầm mà nuôi ý định nhìn mặt y. Tôi bị trừng phạt đích đáng! Tôi tin là cái đầu tốt của lý trí tôi hắn báo thù về nỗi từ khi xảy ra vụ "Hành Lang Không Hiểu Nổi", tôi đã không dựa vào hắn, dựa một cách vững chắc, dứt khoát và hoàn toàn tin cậy, hiên ngang không thèm đi tìm bằng chứng nào khác về tội ác của Larsan, ngoài bằng chứng do lý trí tôi hắn đưa ra! Thế rồi, cô Stangerson lãnh những nhát dao chí tử. Rouletabille ngừng nói, khịt mũi, anh xúc động mạnh.
- Nhưng Larsan, y vào phòng ấy làm chi? – ông Chánh án hỏi – Tại sao y cố ý giết cô Stangerson tới hai lần?
- Tại vì y mê cô ấy quá, thưa ông Chánh án.
- À, ra thế, lý do đấy!
- Vâng, thưa ông Chánh án, một lý do không sao cưỡng nổi. Y yêu cô điên cuồng, và chính vì yêu điên cuồng cộng thêm vài việc khác mà y có thể phạm đủ mọi tội ác dã man.
- Cô Stangerson có biết không?
- Dạ có, nhưng dĩ nhiên cô không biết kẻ đeo đuổi cô là Frédéric Larsan, nếu biết thì Frédéric Larsan đã không đến ở hẳn trong lâu đài và trong đêm xảy ra vụ "Hành Lang Không Hiểu Nổi," y đã không cùng chúng tôi đến gần cô Stangerson "sau vụ ấy". Tôi còn để ý thấy y lẩn vào chỗ tối và lúc nào mặt cũng cúi xuống, chắc đưa mắt tìm cái kính kẹp mũi bị mất. Cô Stagerson bi Larsan đeo đuổi và tấn công khi y núp dưới một cái tên khác, đội một cái lốt khác mà chúng ta không biết, nhưng cô thì có thể cô đã biết.
- Còn ông, Robert Darzac – ông Chánh án quay về bị cáo – việc này hẳn ông đã được nghe cô Stangerson tâm sự. Tại sao cô Stangerson không tiết lộ với ai? Giá cô chịu nói, có phải nhà chức trách đã dò ra dấu vết kẻ sát nhân và nếu ông vô tội, đã tránh cho ông nỗi đau nhục bị lôi ra xét xử trước tòa!
- Cô Stangerson không hề nói gì với tôi. Ông Darzac đáp rất chững chạc.
- Những lời khai của anh bạn trẻ đây, theo ông, có đáng tin không?
Ông Chánh án chưa chịu thôi, vẫn trơ như đá, vững như đồng, ông Darzac nhắc lại câu vừa nói:
- Cô Stangerson không hề nói gì với tôi.
Ông Chánh án quay lại Rouletabille:
- Ông giải thích thế nào về việc trong đêm anh bảo vệ bị giết, tên sát nhân đã mang trả những giấy tờ tài liệu ăn trộm của ông Stangerson? Ông giải thích thế nào về việc tên sát nhân vào lọt phòng của cô Stangerson, cửa khóa kỹ?
- Ô, câu hỏi sau, tôi thiết tưởng trả lời quá dễ. Một người cỡ Larsan – Ballmeyer nhất định phải có sẵn hoặc đặt làm những chìa khóa cần thiết cho y. Còn về các tài liệu mất trộm, tôi chắc ban đầu Larsan không nghĩ tới đâu. Y rình mò, do thám cô Stangerson khắp nơi, quyết ngăn cản việc hôn nhân giữa cô với ông Robert Darzac. Một hôm, y theo hai người vào mấy gian hàng lớn ở Louve, chiếm giữ được cái xách tay của cô Stangerson không rõ bị thất lạc hay mất cắp. Trong xách tay có chiếc chìa khóa đầu đồng. Y không biết cái chìa khóa ấy quan trọng thế nào, cho đến khi cô Stangerson đăng báo tìm, với lời hứa hậu tạ thì y hiểu. Y viết thư lưu bưu điện gởi cô Stangerson, như cô yêu cầu trên báo. Chắc hẳn y đòi một cuộc gặp gỡ, đồng thời cho biết người giữ xách tay với chìa khóa cũng chính là người bấy lâu bền chí yêu cô. Y không nhận được thư phúc đáp, y bèn đến Văn Phòng 40 để được biết đích xác rằng lá thư không còn đó. Y tới đây, bắt chước tối đa dáng dấp và lối trang phục của ông Robert Darzac, bởi vì đã quyết liều tất cả để chiếm kỳ được cô Stangerson, y chuẩn bị tất cả để, dù việc gì xẩy đến thì ông darzac, người được cô Stangerson yêu. Ông Darzac, người y thù ghét và muốn cho mau chết, phải bị coi là hung thủ. Tôi nói dù việc gì xảy đến, nhưng tôi cho rằng Larsan chưa nghĩ tới cơ sự phải hạ độc thủ giết người mình yêu. Trong trường hợp nào thì những sắp đặt của y cũng là dùng để gieo tai tiếng cho cô Stangerson dưới lốt cải trang thành ông Darzac. Vả chăng, Larsan và Darzac tầm vóc xấp xỉ ngang nhau, bàn chân thì hầu như cùng khuôn đúc. Với y nào có gì khó, nếu cần, y chỉ việc lấy mẫu chân ông Darzac, đem đi đóng một đôi giày để mang vào khi hành động. Việc này đối với Larsan – Ballmeyer chỉ là trò trẻ. Thế là không thư phúc đáp, không lời hẹn gặp, mà chiếc chìa khóa quí báu còn trong túi. Ôi, cần chi, cô Stangerson không muốn đến với ta thì ta đến với cô chứ sao! Kế hoạch của y được dựng từ lâu rồi. Y đã dò xét kỹ địa thế Giandier và khu biệt thất. Một buổi trưa, cha con ông Stangerson vừa ra khỏi để đi dạo và bố Jacques cũng đi nốt, y trèo qua cửa sổ gian tiền đình vào biệt thất. Lúc ấy, y có một mình, tha hồ giở thủ đoạn. Y nhìn đồ đạc. Có một cái tủ lạ quá, trông giống két sắt mà lỗ khóa nhỏ tý ty. Ô kìa! Cái này hay đây, sẵn chiếc chìa khóa nhỏ đầu đồng mang trong mình, y nghĩ ngay, liên hệ suy tưởng mà. Y cắm thử cái chìa vào ổ, cửa tủ mở liền. Toàn giấy tờ! Những giấy tờ này phải quý lắm mới được cất kín trong cái tủ kiểu đặc biệt thế này, mới được người ta tha thiết tới cái chìa khóa mở tủ đến như vậy. Ờ! Cái này có lợi, để làm một vụ bắc chẹt được lắm, biết đâu chả giúp mình nhiều trong kế hoạch chinh phục tình yêu. Nghĩ đoạn, y vơ hết giấy tờ đống vào bao thật nhanh và đem giấu trong phòng rửa mặt gian tiền đình. Giữa buổi ăn trộm ở biệt thất và đêm anh bảo vệ bị giết, Larsan đã có thì giờ coi kỹ những giấy tờ ấy là cái chi. Y sẽ dùng làm gì? Nhưng toàn là thứ nguy hại. Đêm ấy, y đem đến lâu đài hoàn về cố chủ. Có thể y nuôi hy vọng, với việc được trả các giấy tờ tiêu biểu cho hai mươi năm trời khó nhọc, y sẽ được cô Stangerson bày tỏ lòng biết ơn chăng? Cái gì mà chẳng có thể manh nha trong một đầu óc như thế! Rốt cuộc, dù vì lý do nào thì cũng là y đã trả lại các giấy tờ tài liệu khoa học, và đúng là y đã trút bỏ được hắn! Rouletabille ho khẽ, và tôi hiểu tiếng ho của anh nghĩa là gì. Rõ ràng anh đang bối rối khi giải thích đến đoạn này, bởi anh có nhã ý không muốn vạch trần cái lý do hắn tạo nên thái độ hung bạo của ông Larsan với cô Stangerson. Lập luận của anh về điểm này còn nhiều thiếu xót chưa thỏa mãn hết thẩy mọi người và chắc chắn thế nào ông Chánh án cũng nêu nhận xét đó ra, nếu Rouletabille, láu cá như một con khỉ, không vội hô to: "Nào bây giờ, chúng ta tới chỗ vén màn bí mật" Căn Phòng Vàng! "Trong phòng lập tức ồn lên tiếng xô ghế, tiếng sột soạt chen lách, những tiếng suỵt gắt gỏng. Tính tò mò của công chúng bốc cao.
" Ông Rouletabille – ông Chánh án nói – "tôi thấy theo thuyết của ông thì bí mật" Căn Phòng Vàng "sáng tỏ rồi. Và chính Frédéric Larsan giải thích rõ bằng cách tráo đổi nhân vật, đặt ông Robert Darzac vào chỗ y. Hiển nhiên, cửa" Căn Phòng Vàng "đã mở lúc ông Stangerson ở lại một mình, và ông giáo sư đã để cho kẻ gian trong phòng con gái mình chạy ra mà không chặn hắn lại, có lẽ là theo lời cầu khẩn của con gái, để tránh tai tiếng nổ ra!"
- Không đúng, thưa ông Chánh án – chàng tuổi trẻ dằn mạnh tiếng phản đối – ông quên rằng cô Stangerson bị thương nặng, không thể cầu xin với cha điều gì không thể lết ra đóng cửa phòng, gài chốt hoặc xoay ổ khóa. Ông cũng quên giáo sư Stangerson đã thề trên đầu con gái đang hấp hối rằng cửa phòng đã không mở.
- Nhưng chỉ còn cách ấy để giải thích mọi sự! "Căn Phòng Vàng" đóng kín như cái két sắt. Mượn chính lời của ông mà nói thì tên sát nhân không thể trốn thoát "một cách bình thường hoặc dị thường". Khi người ta vào phòng, người ta không thấy hắn! Thế là hắn trốn thoát chứ còn gì?
- Hoàn toàn vô ích, thưa ông Chánh án.
- Vô ích sao?
- Hắn không cần trốn, vì hắn không có ở đó! Tiếng lao xao lại nổi lên khắp phòng.
- Sao? Hắn không có ở đó?
- Cố nhiên không! Tại vì hắn không thể có ở đó nên hắn không có ở đó! Thưa ông Chánh án, ta cần luôn luôn dựa vào cái đầu tốt của lý trí mình!
- Nhưng còn bao nhiêu dấu vết để lại trên đường hắn đi qua! Ông Chánh án chưa chịu.
- Cái đó, thưa ông Chánh án, là cái đầu xấu của lý trí. Cái đầu tốt đó chỉ cho ta thấy điều này: Từ lúc cô Stangerson giam mình trong phòng kín tới lúc người ta phá cửa vào, tên sát nhân không thể trốn thoát "Căn Phòng Vàng" và người ta không thể thấy hắn bởi vì từ lúc cửa đóng đến lúc cửa bị phá tên sát nhân không ở trong phòng!
- Thế những dấu chân?
- Ôi thưa ông chánh án đó là những dấu do giác quan thu nhận, người ta phạm bao nhiêu lỗi lầm tư pháp bởi vì hắn xúi chúng ta nói những gì hắn muốn. Không nên dùng hắn để lý luận, tôi xin nhắc lại phải lý luận trước đã. Rồi sau mới xem những dấu vết do giác quan thu nhận có ở trong cái vòng tròn của lý trí mình không. Tôi có một vòng tròn nhỏ xíu không ai bác bỏ nổi: Tên sát nhân không có trong "Căn Phòng Vàng". Tại sao người ta tưởng hắn ở trong đó? Tại những dấu vết hắn đi qua để lại! Nhưng có thể hắn đã ở từ trước. Ấy quên, hắn "phải" đi qua từ trước; lý trí tôi nói với tôi rằng hắn đã đi qua đó trước! Chúng ta thử xét các dấu vết và những gì chúng ta biết về vụ này, xem những dấu vết có đi ngược với đường đi qua ấy trước, trước khi cô Stangerson tự giam mình trong phòng trước mặt cha cô và bố Jacques không? Sau bài báo trên tờ Martin và câu chuyện với ông Dự thẩm trên toa xe lửa từ Paris đến Epinay-Sur-Orge, bằng chứng đối với tôi đã rõ, "Căn Phòng Vàng" được đóng chặt, vậy tên sát nhân nhất định phải biến trước khi cô Stangerson vào phòng, lúc nửa đêm. Thế là những dấu bề ngoài "chống lại lý trí tôi" kinh khủng. Cô Stangerson không bị mưu sát một mình, và những dấu vết kia chứng nhận không có vấn đề tự tử. Vậy thì tên sát nhân đã đến trước! Nhưng sao cô Stangerson lại chỉ bị mưu hại sau? Tất nhiên, tôi phải tái lập sự việc, chia làm hai giai đoạn, hai giai đoạn cách biệt nhau vài giờ. Giai đoạn thứ nhất: Thật sự có kẻ định giết cô Stangerson, nhưng cô giấu kỹ không nói với ai. Giai đoạn thứ hai: Cô bị một cơn ác mộng hành và những người ở bên phòng thí nghiệm tưởng có kẻ đang giết cô! Lúc đó, tôi chưa đặt chân vào "Căn Phòng Vàng", các vết thương cô mang trên người thế nào? Nhưng dấu ngón tay bóp cổ và một cú nặng ghê gớm ở thái dương. Tôi không có suy nghĩ về những dấu bóp cổ. Có thể cô đã bị "trước" và che giấu hắn dưới cái cổ áo phồng hoặc chiếc khăn quàng lông, bất cứ cái gì! Vì, khi tôi đã dựng lên, đã bắt buộc phải dựng lên và chia vụ này làm hai giai đoạn, tôi bị dồn đến chỗ cần chấp nhận rằng cô Stangerson đã giấu nhẹm mọi biến cố ở giai đoạn một. Chắc chắn cô có những lý do khá quan trọng để giấu, vì cô không hé răng với cha cô, và trước Dự thẩm, cô đã khai rất tự nhiên việc cô bị tên sát nhân, mà việc hắn đi qua cô không chối được, đã xâm hại tính mạng cô thế nào. Cô kể lại như thể việc ấy đã xảy ra ban đêm. Trong giai đoạn hai. Cô bắt buộc phải làm thế, nếu không cha cô sẽ hỏi: "Con giấu chúng ta chuyện gì đây? Con bị kẻ mưu giết mà vẫn im lặng là nghĩa làm sao? Vậy, cô giấu được các dấu tay hung thủ để lại trên cổ. Nhưng còn vết thương ghê gớm ở thái dương thì sao? Chỗ này, thú thật tôi không hiểu! Nhất là khi tôi hay tin người ta tìm thấy trong phòng một khúc xương cừu, khí giới phạm tội. Cô không thể giấu việc mình bị hành hung tàn bạo, thế nhưng vết thương độc địa này hiển nhiên cô đã lãnh trong giai đoạn một, bởi vì cần có tên sát nhân ở đó! Trước tôi cứ tưởng vết thương không đến nỗi nặng như người ta đồn. Điểm này tôi đã lầm và tôi đã đoán cô Stangerson giấu vết thương ở thái dương dưới mái tóc vấn kiểu băng-đô! Còn dấu tay tên sát nhân để lại trên tường, dấu một bàn tay bị thương đổ máu do phát súng của cô Stangerson, cố nhiên hắn đã được in vào đó" trước "và chắc chắn tên sát nhân đã bị thương trong giai đoạn một, nghĩa là trong khi hắn ở đó. Tất cả mọi dấu vết trên đường hắn đi qua, dĩ nhiên tên sát nhân đã để lại ở giai đoạn một: Khúc xương cừu, những bước chân đen, chiếc mũ nồi, cái khăn tay, vết máu trên tường, trên cửa và dưới đất. Hiển nhiên, nếu các dấu vết này còn lại đó, là vì cô Stangerson tuy muốn không ai biết gì hết, và làm mọi cách để không ai biết gì hết, và làm mọi cách để không ai biết gì hết, nhưng không đủ thì giờ để xóa bỏ chúng đi. Điều đó dẫn tôi đến chỗ xác lập giai đoạn một. Vào một thời điểm rất gần với giai đoạn hai.
Nếu sau giai đoạn một, nghĩa là khi tên sát nhân tẩu thoát rồi, sau khi cô vội vã sang phòng thí nghiệm, nơi cha cô đã gặp lại cô đang làm việc, nếu cô có thể trở vào phòng một lát thì ít nhất cô cũng tiêu hủy được ngay tức khắc chiếc xương cừu, mũ nồi, khăn tay lăn lóc dưới đất. Nhưng cô không dám vì cha cô kèm sát không lúc nào rời. Vậy thì, sau giai đoạn một, cô chỉ vào phòng lúc nửa đêm, có người đã vào lúc mười giờ: Bố Jacques, kẻ lo công việc mỗi tối đóng cửa sổ và thắp đèn ngủ. Trong lúc tâm thần tán loạn, thể xác đau đớn ngồi trước bàn viết phòng thí nghiệm giả bộ làm việc, chắc cô Stangerson đã quên bố Jacques sắp vào phòng mình. Khi nhớ ra, cô năn nỉ bố Jacques khỏi cần lo cho cô việc ấy! Đừng vào phòng. Việc này hiển hiện bằng giấy trắng mực đen trong bài báo Martin. Nhưng bố Jacques cứ vào và chẳng thấy gì hết, vì" Căn Phòng Vàng "tối quá. Chắc cô Stangerson đã trải qua hai phút kinh hoàng. Tuy nhiên, tôi nghĩ cô không ngờ tên sát nhân để lại phòng cô nhiều dấu vết đến thế.
– Đúng là cô chỉ đủ thì giờ che giấu vết tay hung thủ quanh cổ rồi ra khỏi phòng! Nếu cô biết trên sàn nhà còn có khúc xương, mũ nồi và khăn tay tất cô đã hốt cả đi lúc trở vào phòng hồi nửa đêm. Cô không thấy những thứ ấy, cô thay y phục qua ánh sáng yếu ớt của ngọn đèn ngủ, cô đi nằm, thân thể rã rời vì xúc động, vì hãi hùng, nỗi hãi hùng hắn bắt cô trở vào phòng càng khuya càng tốt.
Cứ như thế, tôi buộc lòng đi tới giai đoạn hai, tấn thảm kịch, với cô Stangerson một mình trong phòng, bởi người ta đã không thấy tên sát nhân ở trong phòng. Cũng như thế, dĩ nhiên tôi phải đưa vào vòng tròn lý luận của tôi những dấu vết bên ngoài. Nhưng còn những dấu vết bên ngoài nữa cần giải thích. Những tiếng súng nổ trong giai đoạn hai. Những tiếng kêu" Cứu tôi với! Tên giết người! "Trong tình huống ấy, cái đầu tốt của lý trí tôi chỉ vẽ cho tôi cái gì đây? Về những tiếng kêu cứu, khi đã không có tên sát nhân trong phòng thì bắt buộc phải có ác mộng trong phòng! Người ta nghe tiếng bàn ghế đổ rầm rầm. Tôi tưởng tượng đoạn này, tôi buộc lòng phải tưởng tượng ra – cô Stangerson ngủ say, bị ám ảnh bởi cảnh bị bóp cổ lúc chiều, cô mê hoảng, cơn ác mộng tô đậm nét những hình ảnh đó, cô thấy lại tên sát nhân nhảy xổ tới, cô thét lớn:" Tên giết người! Cứu tôi với! "
Và cô quờ quạng tìm khẩu súng trước khi đi ngủ cô để trên mặt bàn đêm. Nhưng tay cô đụng mạnh chiếc bàn đêm, mạnh đến nỗi chiếc bàn đổ ầm, khẩu súng lăn dưới đất phát nổ, một viên đạn bay lên ghim vào trần nhà. Viên đạn nằm trong trần nhà, ngay lúc đầu tôi đã quyết là súng cướp cò. Nó mang nhiều điểm chứng tỏ đây có thể là đạn nổ vì súng cướp cò, nó ăn khớp lạ lùng với giả thuyết ác mộng của tôi đến mức nó thành một trong những lý do khiến tôi bắt đầu hết hoài nghi, nhất định tội ác đã diễn ra" trước ", và cô Stangerson tính tình cứng rắn hiếm thấy đã giấu đi.
Ác mộng, súng nổ, cô Stangerson trong trạng thái tinh thần hoảng loạn, choàng tỉnh giấc. Cô cố gắng đứng lên, nhưng gục ngã, quằn quại, đạp bàn ghế đổ lỏng chỏng, cạn hết sinh lực, thở hồng hộc," Tên sát nhân! Cứu tôi với "! Rồi lăn ra bất tỉnh. Thế nhưng, người ta lại nói có hai phát súng nổ, ban đêm, trong giai đoạn hai. Với tôi cũng vậy, theo thuyết của tôi – nó đã không còn là giả thuyết – phải có hai, nhưng" một "trong mỗi giai đoạn, chứ không phải hai phát cùng nổ trong giai đoạn hai. Một phát gây thương tích cho tên sát nhân" trước ", và một phát nổ trong cơn ác mộng" sau ". Nhưng thử hỏi có thật trong đêm có hai phát súng nổ không? Khẩu súng đã nhả đạn giữa mớ bàn ghế đổ rầm rầm. Trong một cuộc thẩm cung, ông Stangerson có khai một phát trước nổ đục, phát sau nổ vang! Nếu cái tiếng đục ấy là do chiếc bàn đêm bằng cẩm thạch đổ ập xuống sàn nhà thì có được không? Được lắm chứ. Lời giải này cần phải là lời giải đúng. Tôi tin chắc hắn đúng, khi hay tin hai người gác cổng, Bernier và vợ lúc ấy ở rất gần biệt thất, chỉ nghe có một tiếng súng nổ. Họ đã khai như vậy trước Dự thẩm. Như thế, tôi hầu như đã dựng lại hai giai đoạn của tấn thảm kịch, khi tôi bước vào" Căn Phòng Vàng "lần đầu.
Thế nhưng tình trạng trầm trọng của vết thương nơi thái dương không đi vào vòng tròn lý luận của tôi. Vậy thì vết thương này, nạn nhân không bị đánh bởi tay tên sát nhân với khúc xương cừu trong giai đoạn một, vì hắn nặng quá, cô Stangerson không thể che giấu và cô đã không che giấu hắn dưới mái tóc vấn theo kiểu băng-đô. Do đó, vết thương này" nhất định "cô Stangerson đã bị đánh trong giai đoạn hai, lúc cô hôn mê trong ác mộng chăng? Đó là nghi vấn tôi đã mang đến hỏi" Căn Phòng Vàng "và" Căn Phòng Vàng "đã trả lời tôi! Vẫn từ trong cái gói nhỏ của anh Rouletabille lôi ra một mẩu giấy trắng, và từ trong mẩu giấy này anh cầm giữa hai ngón tay cái và trỏ một vật vô hình đưa cho ông Chánh án.
- Thưa ông Chánh án, đây là một sợi tóc vàng dính máu, sợi tóc của cô Stangerson. Tôi tìm thấy nó bết vào một góc cẩm thạch của chiếc bàn đêm bị lật đổ. Chính cái góc phiến cẩm thạch cũng có lem máu. Ô! Một hình vuông nhỏ bé tý chẳng nghĩa lý gì! Nhưng vô cùng quan trọng! Vì cái hình vuông máu ấy cho tôi hiểu rằng lúc hốt hoảng từ trên giường vùng dậy, cô Stangerson đã buông rơi cả thân thể ngã xuống hết sức mạnh, cái góc bàn cẩm thạch đập vào thái dương bị thương và giữ luôn ở đó sợi tóc vàng này, sợi tóc có lẽ ở trán cô Stangerson, mặc dầu cô không chải tóc kiểu băng – đô. Các bác sĩ đã tuyên bố cô Stangerson bị đánh bằng một vật làm bầm tím và, bởi sẵn khúc xương cừu đó, ông Dự thẩm bèn đổ tội ngay cho khúc xương cừu, nhưng cái góc bàn đêm bằng cẩm thạch cũng là một vật làm bầm tím mà cả các bác sĩ lẫn ông dự thẩm đều không nghĩ tới và chính tôi có lẽ cũng không phát hiện ra!
Một lần nữa, phòng xử suýt nổ tung vì tiếng vỗ tay, nhưng Rouletabille đã vội vã tiếp nối ngay lời khai chứng, nên im lặng được vãn hồi ngay tức khắc.
- Thế là tôi chỉ còn tìm hiểu, ngoài danh tính tên sát nhân mà mấy ngày sau tôi mới biết, giai đoạn 1 tấn thảm kịch xảy ra vào lúc nào. Buổi hỏi cung cô Stangerson, mặc dầu được thực hiện để làm người ông Dự thẩm cùng buổi hỏi cung ông Stangerson đã vạch ra cho tôi thấy cô Stangerson đã khai đúng thời dụng biểu của cô ngày hôm đó. Chúng tôi đã xác lập là tên sát nhân lẻn vào biệt thất khoảng giữa năm và sáu giờ. Cứ cho là sáu giờ mười lăm thì ông giáo sư và con gái làm việc lại. Vậy phải tìm ở khoảng từ năm giờ đến sáu giờ mười lăm. Tôi nói sao nhỉ? À, năm giờ! Nhưng năm giờ thì ông giáo sư còn ở bên con gái, thảm kịch chỉ có thể xảy ra ở một chỗ xa ông giáo sư! Thế thì tôi phải tìm trong khoảng thời gian ngắn ấy, cái lúc ông giáo sư và con gái cách xa nhau là lúc nào! Thưa rằng, cái lúc ấy, tôi tìm thấy trong buổi hỏi cung ở phòng cô Stangerson, trước mặt ông Stangerson. Điểm được nêu lên là cha con ông giáo sư trở về phòng thí nghiệm khoảng sáu giờ. Ông Stangerson có nói:" Lúc đó, tôi gặp anh bảo vệ và đứng lại với anh một lúc. Vậy là có trò chuyện với anh bảo vệ. Anh này thưa với ông Stangerson chuyện đốn cây hoặc đi săn vụng trộm gì đó. Cô Stangerson không còn ở đấy. Cô đã về tới phòng thí nghiệm, vì ông Stangerson khai thêm: Tôi rời anh bảo vệ và về với con gái tôi lúc ấy đã lại bắt tay vào việc rồi! "
Thế thì thảm kịch xảy ra đúng vào mấy phút ngắn ngủi đó. Cần phải như vậy, tôi thấy rõ cô Stangerson trở về biệt thất, vào phòng, bỏ mũ và trước mặt tên cướp đang theo đuổi mình. Tên cướp ở đó, trong biệt thất, một lúc lâu rồi. Chắc hắn đã sắp đặt sao cho mọi sự xảy ra ban đêm. Hắn tháo bỏ đôi giầy của bố Jacques vướng chân, như tôi đã trình bày với ông Dự thẩm, hắn vơ vội mớ giấy tờ như tôi nói ban nãy rồi chui vào nằm trong gầm giường vừa đúng lúc bố Jacques trở về lau rửa gian tiền đình và phòng thí nghiệm. Thời gian trôi đối với hắn thật dài. Khi bố Jacques đi rồi, hắn đứng lên rồi lại loanh quanh trong phòng thí nghiệm, vào gian tiền đình, nhìn ra vườn và trông thấy – lúc này đêm đang xuống, trời còn rất sáng – trông thấy cô Stangerson đang đi về biệt thất một mình! Không đời nào hắn dám tấn công cô vào giờ ấy nếu hắn không chắc chắn cô Stangerson có một mình. Và để cho cô xuất hiện một mình, câu chuyện giữa anh bảo vệ với ông Stangerson phải diễn ra ở một góc ngoặt con đường mòn, cái góc có một lùm cây che khuất hai người trước mắt tên khốn nạn. Thế là kế hoạch của hắn hình thành. Hắn sắp được yên ổn, một mình với cô Stangerson trong biệt thất chẳng hơn là gặp cô đêm khuya với một bố Jacques ngủ trên gác nóc. Và hắn phải đóng cửa sổ gian tiền đình. Điểm này cũng giải thích tại sao cả ông Stangerson lẫn anh bảo vệ, vừa phần ở cũng khá xa biệt thất, đã không nghe tiếng súng nổ. Đoạn hắn trở vào" Căn Phòng Vàng ", Cô Stangerson về tới. Những gì xảy đến tiếp đó chắc nhanh như ánh chớp! Cô Stangerson kêu cứu hay đúng hơn, đã định kêu lớn nỗi kinh hoàng. Hắn nắm cổ cô. Có thể hắn sắp bóp cổ cô, thắt họng cô. Nhưng bàn tay cô Stangerson quờ quạng vớ được khẩu súng cô cất trong ngăn kéo bàn đêm, khẩu súng cô giấu ở đó từ khi cô sợ hãi những lời hăm dọa của hắn. Tên sát nhân vung trên đầu cô gái đáng thương cái khí giới khủng khiếp trong tay Larsan – Ballmeyer một khúc xương cừu. Nhưng cô nổ súng, đạn bay ra trúng bàn tay cầm khi giới, buông rơi khúc xương cừu lăn dưới đất, đẫm máu từ vết thương ở tay tên sát nhân ứa ra. Hắn loạng choạng, đến chống tay vào tường, in lên đó mấy ngón tay đỏ máu, sợ lãnh thêm phát nữa bèn chạy cho nhanh.
" Cô nhìn hắn băng qua phòng thí nghiệm; cô nghe ngóng. Hắn làm gì trong gian tiền đình? Sao lâu chưa thấy hắn nhảy qua cửa sổ, cuối cùng, hắn nhảy! Cô chạy ra của sổ, đóng lại. Và bây giờ, không biết cha cô có thấy gì không? Có nghe gì không? Bây giờ, nguy hiểm qua rồi, mọi ý nghĩ trong đầu, cô dành trọn vẹn cho cha. Được phú bẩm một nghị lực phi thường, cô sẽ giấu cha tất cả, nếu còn kịp. Và khi ông Stangerson về tới, ông sẽ thấy "Căn Phòng Vàng" đóng kín, và con gái ông trong phòng thí nghiệm, đang cặm cụi trên bàn viết, chăm chú, đã vào việc rồi! Đến đây, Rouletabille quay về Robert Darzac:
- Ông biết sự thật – anh lớn tiếng – ông hãy nói đi, mọi việc có phải đã diễn ra như vậy không?
- Tôi không biết gì hết. Ông Darzac lạnh lùng.
- Tôi chịu ông là bậc anh hùng! – Rouletabille khoanh tay trước ngực. Nhưng hỡi ôi. Nếu cô Stangerson biết ông bị tố cáo là kẻ sát nhân, cô sẽ giải lời hứa cho ông, cô sẽ cầu xin ông hãy nói hết những bí ẩn cô đã trao gởi nơi ông, gì nữa nhỉ, cô ấy sẽ đích thân tới tòa bênh vực ông! Ông Darzac không làm một cử động, không thốt ra một lời. Ông nhìn Rouletabille, buồn bã.
- Thôi được – bạn tôi tiếp – vì cô Stangerson không có đây, thì tôi, tôi phải có đây! Nhưng tin tôi đi, ông Darzac, phương cách tốt nhất, phương cách độc nhất để cứu cô Stangerson và phục hồi lý trí cho cô vẫn là làm sao cho ông được tha bổng.
Tiếng vỗ tay như sấm nổ chào đón câu nói sau cùng. Ông Chánh án cũng chẳng nỡ tìm cách ngăn chặn làn sóng ngưỡng mộ say sưa của đám đông. Robert Darzac đã thoát nạn rồi. Cứ nhìn mặt các vị bồi thẩm khắc biết! Thái độ bề ngoài của họ biểu lộ hùng hồn niềm xác tín trong lòng. Ông Chánh án chợt kêu lớn:
- Nhưng mà, còn cái bí ẩn hắn trói buộc cô Stangerson bị mưu sát mà lại giấu cha một tội ác như vậy, là cái gì chứ?
- Cái đó, thưa ông Chánh án – Rouletabille trả lời – tôi không biết! Việc đó chẳng can gì đến tôi!
Ông Chánh Án thêm một cố gắng phía Robert Darzac:
- Ông, ông vẫn còn từ chối không cho chúng tôi biết thời dụng biểu của ông trong khi người ta xâm hại tính mạng cô Stangerson hay sao?
- Tôi không thể nói gì với ông Chánh án.
Ông Chánh án đưa mắt về phía Rouletabille, cầu viện một lời giải đáp. Anh nói:
- Thưa ông Chánh án, người ta có quyền nghĩ rằng những buổi ông Robert Darzac vắng mặt bị ràng buộc chặt chẽ với nỗi niềm uẩn khúc của cô Stangerson. Cho nên ông Darzac tự buộc mình có bổn phận phải nín lặng! Quý vị thử tưởng tượng, Darsan trong ba vụ mưu toan giết người, đã huy động tất cả để chĩa mọi nghi ngờ vào ông Darzac, cũng đã bắt ông Darzac, cả ba lần ấy phải đến chỗ hẹn ở một nơi nguy hại cho ông trước mắt mọi người. Ông Darzac thà bị kết án tử hình hơn là thú nhận bất cứ điều gì, giải thích bất cứ việc gì có đụng chạm đến bí ẩn của cô Stangerson. Larsan đủ láu cá để gài thêm cái "bẫy ấy"!
Ông Chánh án đã nao núng, nhưng tò mò hỏi tới nữa:
- Nhưng cái bí ẩn ấy là cái gì mới được chứ?
- À, thưa ông Chánh án, tôi không thể nói gì cùng ông! Rouletabille vừa trả lời vừa phác một cử chỉ thoái thác chào ông Chánh án. – Có điều, bây giờ thì ông Chánh án đã biết đủ để tha bổng cho ông Robert Darzac! Trừ phi Larsan trở về! Nhưng tôi không tin y sẽ trở về! – Anh cười rộ lên sung sướng. Mọi người cùng cười với anh.
- "Ông cho hỏi câu nữa", Ông Chánh án chưa chịu thua, "vẫn theo thuyết của ông, chúng tôi hiểu rằng Larsan chĩa mọi nghi ngờ vào ông Robert Darzac, nhưng y cũng làm thế với bố Jacques thì có lợi gì?
-" Lợi cho nhà thám tử! "Nhà thám tử tự chứng tỏ tài năng bằng cách đánh đổ những bằng chứng do chính y ngụy tạo để vu cho kẻ khác. Cái đó mới là ghê gớm! Hắn là một mánh lới y quen dùng để đánh lạc hướng nghi ngờ có thể chĩa vào y! Y chứng minh người này vô tội để tố cáo người kia có tội. Ông Chánh án nghĩ coi: Một vụ như vụ này, nhất định Larsan phải" nghiền ngẫm "rất lâu từ trước. Y đã nghiên cứu tất cả, biết hết mọi người mọi việc. Nếu ông Chánh án tò mò muốn biết y dò la thế nào để có điều kiện hành động thì tôi xin thưa: Đã có một thời, y tình nguyện làm môi giới liên lạc giữa" Phòng thí nghiệm sở Công An "với ông Stangerson khi ông giáo sư được yêu cầu cho một số" thực nghiệm ". Nhờ đó mà trước ngày phạm tội ác, y đã lọt được vào biệt thất hai lần, y cải trang khéo đến nỗi từ ngày ấy, bố Jacques không nhận ra y nữa. Nhưng y thì đã vớ được cơ hội để trộm của bố Jacques một đôi giầy cũ bẹp và một mũ nồi hết xài mà người tớ già của ông Stangerson dùng khăn tay cột lại chắc định mang cho người bạn làm lò than trên đường Epinay. Khi vụ mưu sát được phát giác, bố Jacques ngầm biết đó là đồ của mình nhưng không dám ra mặt nhận ngay! Những vật ấy tai hại quá, và đó là lý do khiến bố lúng túng, vào ngày ấy, khi chúng tôi để cập vấn đề này với bố. Tất cả những trò này thật đơn giản như một cộng một thành hai, và tôi, đã dồn Larsan đến chỗ phải thú nhận. Mà y cũng thú nhận với tôi một cách sảng khoái, vì tuy là kẻ cướp – tôi dám hy vọng điều này không ai còn nghi ngờ – y cũng là một nghệ sĩ nữa! Đó là đường lối làm việc của con người ấy, đường lối riêng của y. Ngày trước, y cũng hành động như vậy trong vụ" Ngân Hàng Cho Vay Thế Giới "và vụ" Những Nén Vàng Ở Sở Đúc Tiền". Những vụ này cần được tái thẩm, thưa ông Chánh án, vì có vài người vô tội còn ở trong tù oan, sau khi Ballmeyer – Larsan phục vụ trong ngành Công An Cảnh Sát.