Bạn được GiangCỏ 3 lá mời tham gia diễn đàn viết bài kiếm tiền VNO, bấm vào đây để đăng ký.
454 ❤︎ Bài viết: 271 Tìm chủ đề
11227 35
Sherlock Holmes

Tác giả: Sir Arthur Conan Doyle

Mục sách: Văn học nước ngoài, Văn học kinh điển, Trinh thám

Tình trạng: Hoàn (full)


(Quyển 1)

51718458891_9ae1395f02_o.jpg


Giới thiệu​

Sherlock Holmes là một thám tử tư ở Luân Đôn nổi tiếng nhờ trí thông minh, khả năng suy diễn logic và quan sát tinh tường trong khi phá những vụ án mà cảnh sát phải bó tay.

Sherlock Holmes đã xuất hiện trong 4 tiểu thuyết và 56 truyện ngắn của nhà văn Conan Doyle. Hầu như tất cả các tác phẩm đều được viết dưới dạng ghi chép của bác sĩ John H. Watson, người bạn thân thiết và người ghi chép tiểu sử của Holmes, chỉ có 2 tác phẩm được viết dưới dạng ghi chép của Holmes và 2 tác phẩm khác dưới dạng ghi chép của người thứ ba..

Nhiều người cho rằng Sherlock Homes là nhân vật thám tử hư cấu nổi tiếng nhất trong lịch sử văn học và là một trong những nhân vật văn học được biết đến nhiều nhất trên toàn thế giới.

Đến với bộ sách Sherlock Holmes toàn tập, quý độc giả sẽ hiểu vì sao tác phẩm này lại được bạn đọc khắp thế giới yêu thích đến như thế.
 
Last edited by a moderator:
454 ❤︎ Bài viết: 271 Tìm chủ đề
Đôi lời về tác giả Arthur Conan Doyle

Arthur Conan Doyle sinh năm 1859 tại Edinburgh, Scotland. Ông nghiên cứu y khoa tại trường Đại học Edinburgh và định cư tại London, song việc hành nghề không mấy thành đạt tạo cho ông nhiều thời gian rảnh rỗi. Đó cũng chính là thời điểm ông bắt đầu viết những câu chuyện nổi tiếng về Sherlock Holmes. Tác phẩm đầu tiên là "Sự nghiên cứu màu đỏ", ra mắt công chúng tại Triển lãm sách thường niên tại Beeton năm 1887. Sau khi phát hành cuốn "Bốn vết tích" vào năm 1890, Conan Doyle rời bỏ nghề y để toàn tâm toàn ý với công việc sáng tác văn học. Chính hình ảnh của thám tử siêu việt Sherlock Holmes mang lại tiếng tăm lừng lẫy cho nhà văn. Khi Doyle đã nhàm chán Holmes và "cho" Holmes chết bằng "Cú đấm cuối cùng" được xuất bản vào năm 1893, thì công chúng đã buộc ông phải tái sinh Sherlock Holmes một cách tài tình.

Arthur Conan Doyle có một cuộc sống nhiều màu sắc và ưa mạo hiểm. Ông là một sử gia, một người săn cá voi, một vận động viên, một phóng viên báo chí thời chiến và là một người theo thuyết duy linh. Đích thân ông đã bênh vực cho hai trường hợp bất công, vận dụng tác phẩm trinh thám của ông để chứng minh sự vô tội của những người đàn ông bị kết án. Conan Doyle đã được phong tước hầu vì những cống hiến của ông tại một bệnh viện ở Nam Phi trong cuộc chiến tranh của người Phi gốc Hà Lan. Ông mất năm 1930.
 
Last edited by a moderator:
454 ❤︎ Bài viết: 271 Tìm chủ đề
Phần I: Tái bản từ sự hồi tưởng của bác sĩ John H. Watson

Chương 1: Ngài Sherlock Holmes (1)

Năm 1878, tôi lĩnh bằng tốt nghiệp y khoa tại trường Đại học London, tới Netley để tham gia khóa học bắt buộc cho bác sĩ trong quân đội. Đúng lúc kết thúc việc học tập ở đó, tôi được chỉ định về đơn vị bộ binh Northumberland số 5 làm một anh trợ lý bác sĩ. Cuộc chiến Afganistan nổ ra ngay trước khi tôi gia nhập trung đoàn, khi đó còn đóng ở Ấn Độ. Đặt chân tới Bombay, tôi mới biết quân đoàn đã tiến tới vị trí cửa ngõ và đã lún sâu trong vòng vây quân thù. Dù sao, tôi vẫn cùng nhiều anh em có chung hoàn cảnh tiến theo sau và an toàn tiến tới Candahar. Tại đây, tôi gặp lại trung đoàn của mình và ngay lập tức nhận nhiệm vụ mới.

Chiến dịch mang lại vinh quang và sự thăng tiến cho nhiều người, nhưng riêng với tôi, nó chỉ là sự đen đủi và tai họa. Tôi phải chuyển khỏi lữ đoàn và biệt phái đến Berkshires, tham gia vào trận quyết chiến ở Maiwand. Ở đó, tôi lĩnh một phát súng trường làm vỡ cả xương vai và sượt qua động mạch dưới xương đòn. Thiếu chút nữa tôi đã rơi vào tay tên sát nhân người Islam, nếu như không có sự tận tâm và dũng cảm của Murray, anh hộ lý của tôi, người đã ném tôi lên lưng một chú ngựa thồ và đưa tôi tới phòng tuyến quân Anh một cách an toàn.

Kiệt sức vì vết thương cộng với sự suy nhược do những vất vả kéo dài mà tôi đã trải qua, tôi được giải ngũ. Tôi đáp chuyến tàu chở đầy thương binh trở về bệnh viện cũ ở Peshawar. Ở đó tôi đã bình phục, đã có thể bước đi quanh khu bệnh nhân, thậm chí phơi nắng một chút ở thềm nhà, thì lại bị đánh gục bởi một trận thương hàn do dân Ấn Độ lây cho. Tôi đã sống nhiều tháng trong sự tuyệt vọng. Tôi yếu o và hốc hác đến mức một ngày kia bệnh viện quyết định gửi trả tôi về Anh quốc. Vì thế tôi có mặt trên tàu chở lính Orontes, cập cảng Portsmouth với một tình trạng sức khoẻ không thể cứu vãn và chín tháng nghỉ phép để gắng sức phục hồi.

Vốn chẳng có họ hàng thân thích gì ở Anh nên tôi là một người đàn ông tự do với khoản thu nhập mười một siling và sáu xu. Trong hoàn cảnh như vậy tôi lần mò tới London, nơi mà tất cả những kẻ lang thang trong nước đều đổ dồn về. Tôi đã sống một khoảng thời gian thiếu thốn, vô nghĩa, chỉ tiêu pha số tiền ít ỏi mà mình có được tại một khách sạn tư ở Strand. Song tình trạng tài chính của tôi cũng báo động đến mức tôi nhanh chóng nhận ra rằng hoặc phải rời bỏ thủ đô để vui thú điền viên tại quê nhà, hoặc phải thay đổi hoàn toàn phong cách sống của chính mình. Lựa chọn phương án hai, tôi bắt đầu lên kế hoạch rời khách sạn, tìm một nơi ẩn cư đỡ tốn kém hơn.

Vào chính cái ngày quyết định ấy, khi đang đứng ở quán bar Criterion thì ai đó vỗ nhẹ vào vai tôi. Tôi quay lại và nhận ra anh chàng trẻ tuổi Stamford, người phụ mổ của tôi hồi ở Bart. Với một kẻ cô đơn như tôi thì một khuôn mặt thân quen thật sự là một niềm vui giữa thủ đô London rộng lớn. Trước đây Stamford chưa từng là bạn chí cốt với tôi, nhưng giờ tôi nhiệt tình nghênh tiếp, và anh chàng cũng tỏ ra rất phấn khởi khi gặp tôi. Tôi hồ hởi mời Stamford dùng bữa trưa tại Holborn và cả hai chúng tôi cùng lên xe ngựa.

– Watson, cậu đang làm trò quái gì với thân hình của cậu vậy? – Stamford thành thật hỏi khi chúng tôi cùng len lỏi giữa đám đông ngoài phố – Cậu gầy như cái que và đen như hòn than ấy.

Tôi kể sơ qua cho anh ta về cuộc phiêu lưu của tôi và chấm dứt câu chuyện ngay khi tới nhà hàng.

– Kinh khủng quá! – Stamford xót xa sau khi biết những rủi ro của tôi. – Thế bây giờ cậu định làm gì?

– Tìm kiếm chỗ ở, – tôi trả lời. – Mình đang cố gắng dàn xếp để có được một phòng ở tiện nghi với giá hợp lý.

– Lạ nhỉ! Trong ngày hôm nay, cậu là người thứ hai phát ngôn câu này.

– Thế ai là người tiên phong? – Tôi hỏi.

– Một gã đang làm việc tại phòng thí nghiệm của bệnh viện. Anh ta than phiền rằng không thể tìm được ai để chia xẻ chín phòng ở với chi phí vượt quá túi tiền.

– Trời đất! – Tôi kêu lên. – Nếu anh ta thực sự muốn có người sống chung nhà và giảm chi phí, thì tôi chính là người anh ta cần. Tôi muốn có bạn sống cùng hơn là phải sống độc thân.

Anh bạn Stamford hiếu kỳ nhìn tôi qua cốc rượu vang.

– Cậu vẫn chưa từng biết Sherlock Holmes mà. – Anh ta thủng thẳng. – Có lẽ cậu sẽ không muốn làm bạn với gã đó dài lâu đâu.

– Sao vậy? Anh ấy có gì khác thường sao?

– À không, tôi không nói là anh ấy có gì khác thường cả. Anh ấy chỉ hơi kỳ quặc trong ý tưởng thôi, một anh chàng say mê khoa học. Theo những gì tôi biết thì anh ta là một người khá tử tế.

– Một sinh viên y khoa phải không? – Tôi tò mò.

– Không. Tôi cũng chẳng biết anh ta say mê cái gì nữa. Tôi tin anh ấy khá thạo về giải phẫu và là dược sĩ có hạng, nhưng theo như tôi biết thì anh ấy chưa bao giờ tham gia một khóa chính quy nào về y thuật. Tuy việc học hành thì rất lộn xộn và lập dị, nhưng anh ta đã tích luỹ được vô số kiến thức đủ gây sửng sốt cho các giáo sư của anh ta.

– Cậu chưa bao giờ hỏi xem anh ấy đang theo đuổi cái gì à? – Tôi hỏi.

– Không. Anh ta không phải là một người dễ dàng để lộ mình, dẫu rằng anh ấy có đủ xã giao khi ai đó quan tâm đến.

– Tôi muốn gặp anh ta xem. – Tôi háo hức. – Nếu tôi phải trọ cùng với ai đó, tôi thích họ chăm chỉ và có những sở thích lặng lẽ hơn. Tôi vẫn chưa khoẻ hẳn để có thể chịu đựng tiếng ồn hay sự kích động. Tôi đã có đủ cả hai thứ ấy hồi ở Afganistan cho phần đời còn lại rồi. Làm thế nào tôi có thể gặp được anh bạn của cậu nhỉ?

– Chắc chắn là anh ta ở phòng thí nghiệm rồi. – Anh bạn tôi quay lại nói. – Hoặc là anh ấy mất mặt tới hàng tuần lễ, hoặc là anh ấy ở lì trong đó từ sáng đến đêm. Nếu cậu thích, chúng ta sẽ cùng tới đó sau bữa trưa.

– Tất nhiên. – Tôi đáp, rồi cuộc trò chuyện của chúng tôi lái sang hướng khác.

Trên đường từ nhà hàng Holborn tới bệnh viện, Stamford kể thêm cho tôi một số điều về người mà tôi sắp thuê nhà trọ cùng.

– Cậu không được đổ lỗi cho tôi nếu cậu không hợp với anh ta đấy nhé. – Stamford mặc cả. – Tôi không biết nhiều về anh ta vì thỉnh thoảng mới gặp gỡ ở phòng thí nghiệm thôi. Cậu đã đề nghị tôi dàn xếp việc này nhưng đừng bắt tôi chịu trách nhiệm.

– Nếu chúng tôi không hợp nhau thì cũng dễ tách ra thôi. – Tôi khẳng định.

Nhìn chăm chăm vào anh bạn Stamford, tôi hỏi:

– Này Stamford, dường như cậu có lý do nào đó để phủi tay vụ này. Tính khí của gã này kinh khủng lắm à? Đừng có quanh co nữa.

Stamford bật cười:

– Khó mà diễn đạt lắm. Theo tôi Holmes là một người của khoa học – tới mức máu lạnh. Tôi có thể hình dung việc anh ấy cấu cho bạn mình một cái nhưng không có ác ý, cậu hiểu chứ, chỉ để có được một ý tưởng chính xác về hiệu quả. Công bằng mà nói, tôi nghĩ anh ấy sẽ luôn sẵn lòng. Dường như anh ấy đam mê với những kiến thức chính xác và rõ ràng.

– Rất đúng đấy.

– Ừ, nhưng đam mê đó thái quá. Khi anh ấy cầm gậy vụt vào những xác chết trong nhà xác, việc đó thật kỳ cục.

– Đánh người ư!

– Phải. Để tìm hiểu sự hình thành các vết thâm tím trên tử thi. Chính mắt tôi đã trông thấy anh ta làm vậy.

– Cậu đã nói anh ấy không phải là sinh viên y khoa đúng không?

– Không. Có Chúa mới biết anh ta nghiên cứu môn gì. Nhưng cậu phải tạo ra những ấn tượng của chính cậu về anh ta chứ.

Chúng tôi rẽ vào một con đường chật chội và đi qua cửa phụ của bệnh viện. Đây là chốn quen thuộc với tôi, thế nên tôi không cần Stamford dẫn lối nữa. Chúng tôi tiến tới một cầu thang bằng đá, men theo hành lang dài trong khung cảnh ảm đạm của những bức tường sơn trắng cùng cửa ra vào nâu xám. Gần cuối hành lang có một lối đi nhỏ dẫn tới phòng thí nghiệm.


-Còn tiếp-
 
454 ❤︎ Bài viết: 271 Tìm chủ đề
Chương 1: Ngài Sherlock Holmes (2)

Đây là một căn phòng với vô số chai lọ. Những chiếc bàn rộng, thấp trải ra với đầy rẫy ống nghiệm, đèn cồn với ánh sáng xanh lập loè. Chỉ có mỗi một sinh viên trong phòng. Anh ta đang cúi gập người bên bàn, bị hút vào công việc. Khi nghe tiếng bước chân của chúng tôi lại gần, anh ta liếc quanh và dậm chân, kêu lên sung sướng. "Tìm ra rồi! Tôi tìm ra rồi!". Anh ta hét lên với Stamford, chạy vụt về phía chúng tôi với một ống nghiệm trên tay:

– Tôi đã tìm ra một loại thuốc thử kết tủa của hemoglobin, và cái gì đó nữa ".

Có lẽ có phát hiện ra cả một mỏ vàng, anh ta cũng không phấn khích hơn thế được.

Stamford giới thiệu chúng tôi với nhau:

– Đây là bác sĩ Watson, thưa ông Sherlock Holmes.

– Chào anh! – Sherlock Holmes thân mật nắm chặt tay tôi. – Anh mới vừa từ Afganistan về, tôi biết.

– Làm thế quái nào anh biết điều đó nhỉ? – Tôi sửng sốt hỏi lại.

– Đừng bận tâm. – Anh ta nén cười, đáp lại. – Vấn đề lúc này là hemoglobin. Anh đã thấy ý nghĩ về sự khám phá của tôi chưa?

– Rất thú vị, về phương diện hóa học, không còn nghi ngờ gì nữa. – Tôi đáp. – Nhưng về mặt thực tiễn thì..

– Sao cơ, anh bạn, đây là phát hiện về pháp y có tính thực tiễn nhất trong nhiều năm. Anh không thấy nó đã mang lại cho chúng ta một thử nghiệm không thể sai lầm được cho các vết máu sao? Lại đây nào!

Sherlock Holmes hăm hở giật lấy ống tay áo tôi và kéo tôi lại gần cái bàn anh đang làm việc.

– Hãy để chúng tôi lấy vài giọt máu tươi – Holmes nói trong lúc xuyên cây kim dài vào ngón tay mình và nặn ra vài giọt máu tươi vào một cái đĩa thí nghiệm. – Nào, bây giờ tôi cho một lượng nhỏ máu này vào một lít nước. Anh quan sát thấy hỗn hợp sẽ có sự xuất hiện của nước nguyên chất. Tỷ lệ máu không thể lớn hơn được một phần triệu. Không nghi ngờ gì nữa, chúng ta sẽ có thể thu được phản ứng đặc trưng.

Vừa nói, Sherlock Holmes vừa ném một vài tinh thể màu trắng vào bình, rồi thêm mấy giọt dung dịch trong suốt vào. Thoáng một cái, toàn bộ các chất đã chuyển sang màu nâu gụ, và một chất bụi nâu nâu đã kết tủa ở đáy của bình thí nghiệm.

– Ha, ha, ha.. – Holmes vừa cười vừa vỗ tay, hân hoan như một đứa trẻ được cho đồ chơi mới. – Anh bạn nghĩ thế nào?

– Đây dường như là một thử nghiệm rất tinh tế. – Tôi nhận xét.

– Tuyệt! Tuyệt lắm! Cuộc thí nghiệm trước còn rất vụng về và không rõ ràng. Khám nghiệm trên kính hiển vi về huyết cầu cũng thế. Khám nghiệm về huyết cầu sẽ vô giá trị nếu máu đã khô được vài giờ đồng hồ. Bây giờ, thử nghiệm này hoạt động tốt cho dù vết máu là cũ hay mới. Nếu thử nghiệm nay được phát minh, hàng trăm kẻ đang sống nhởn nhơ trên trái đất sẽ phải hứng chịu sự trừng phạt vì tội lỗi của họ.

– Thật ư. – Tôi lẩm bẩm.

– Các vụ phạm tội liên tục xoay quanh một điểm này thôi. Một kẻ bị nghi ngờ phạm tội có lẽ hàng tháng sau khi đã phạm tội. Đồ lót hoặc quần áo được khám xét và người ta phát hiện ra các dấu vết màu nâu. Vậy chúng là vết máu, vết bùn, vết gỉ sắt, vết hoa quả, hay là vết gì nữa? Đây là câu hỏi xóc óc biết bao chuyên gia, và tại sao nhỉ? Bởi vì chẳng có thử nghiệm để nhận biết chúng. Bây giờ thì chúng ta đã có thử nghiệm của Sherlock Holmes, và sẽ không còn khó khăn gì nữa.

Mắt Holmes sáng lấp lánh. Anh đặt tay lên trái tim và cúi chào như thể đang đứng trước đám đông mà anh tưởng tượng ra.

– Chúc mừng anh! – Tôi vui vẻ nói dù hơi ngạc nhiên trước nhiệt huyết của anh.

– Có một trường hợp của Von Bischoff ở Frankfort năm ngoái. Nếu thí nghiệm này hiện hữu, dĩ nhiên là hắn ta đã bị treo cổ. Rồi đến vụ Mason ở Bradford và tên trùm khét tiếng Muller, rồi Lefevre ở Montpellier, Samsom ở New Orleans. Tôi có thể kể tên một loạt những trường hợp mà thí nghiệm sẽ ra phán quyết. Tôi có thể kể tên một loạt những trường hợp mà thí nghiệm sẽ ra phán quyết.

– Anh làm như mình là một từ điển sống về tội phạm vậy. – Stamford cười phá lên. – Anh có thể ra một tờ báo chuyên về đề tài này. Hãy gọi nó là tờ" Tin tức của Cảnh sát".

– Cũng có thể là một tờ báo rất thú vị đấy. – Vừa dán mẩu băng dính rịt lên vết thương trên ngón tay, Sherlock Holmes vừa nhận định.

Rồi anh quay sang tôi với một nụ cười và tiếp tục:

– Tôi phải cẩn thận vì đã tiếp xúc với chất độc khá nhiều.

Vừa nói anh vừa chìa bàn tay ra, và tôi nhận thấy có nhiều vết lốm đốm được phủ cùng một loại băng dính và biến màu vì a xít mạnh.

– Chúng tôi đến đây vì có chút việc. – Stamford nói và ngồi xuống một cái đôn có ba chân, rồi dùng chân đẩy một cái khác về phía tôi. – Anh bạn tôi đây muốn tìm nhà, mà anh thì đang kêu ca rằng chẳng có ai cùng chia phòng với mình, nên tôi cho rằng các anh cần hợp tác.

Sherlock Holmes dường như phấn khích với ý tưởng sống chung phòng với tôi.

– Tôi phải trông coi một căn hộ ở phố Baker, có lẽ cũng hợp với chúng ta đó. Nhưng tôi hy vọng anh không phiền mùi thuốc lá nồng nặc trong phòng đấy chứ?

– Tôi cũng là một kẻ nghiện thuốc lá mà. – Tôi thành thật.

– Thế là ổn. Nói chung là tôi còn một số hóa chất, và đôi khi còn làm thí nghiệm. Điều đó có phiền anh không nhỉ?

– Không có gì.

– Để tôi xem nào.. Tôi còn những nhược điểm gì nữa nhỉ? Đôi lúc tôi rơi vào buồn chán và cả ngày không mở mồm một câu. Anh phải nhớ là khi tôi làm vậy cũng không phải vì giận dỗi gì cả đâu. Hãy cứ mặc xác tôi, và tôi sẽ trở lại bình thường ngay ấy mà. Anh có cần thổ lộ điều gì không? Tốt nhất là hai chúng ta nên biết những điều tồi tệ nhất về người kia trước khi đến ở chung dưới một mái nhà.

Tôi bật cười vì sự kiểm tra chéo. Tôi nói:

– Tôi nuôi một con chó. Tôi phản đối việc cãi cọ vì đầu óc tôi đang mệt mỏi, tôi tự quản tất cả các giờ giấc phiền phức và tôi đặc biệt lười nhác. Tôi cũng có đủ loại tật xấu khi khoẻ mạnh, nhưng đó là những cái chính tại thời điểm này.

– Anh có tính cả việc chơi đàn viôlông vào sự to tiếng không đấy? – Holmes phấp phỏng hỏi.

– Cũng tuỳ vào nhạc công. – Tôi đáp. – Một nhạc công cừ khôi là một khoản đãi của thượng đế.

– Ồ, thế thì được. – Holmes reo lên. – Tôi nghĩ chúng ta có thể coi như đã thỏa thuận xong, nếu anh chấp nhận phòng ở.

– Khi nào thì chúng ta sẽ đi xem nhà nhỉ?

– Anh hãy tới gặp tôi vào chiều mai nhé, rồi chúng ta sẽ cùng đi xem nhà và định đoạt mọi thứ. – Sherlock Holmes bảo.

– Đồng ý, đúng trưa mai nhé! – Tôi khẳng định lại và bắt tay Holmes.

Chúng tôi bỏ Holmes lại với những hóa chất ngổn ngang, cùng nhau trở về khách sạn của tôi. Bỗng nhiên tôi dừng lại và quay sang phía Stamford, hỏi:

– Này, làm thế nào mà anh ta biết tôi vừa từ Afganistan trở về nhỉ?

Anh bạn tôi nở một nụ cười bí ẩn:

– Đấy chỉ là một chút tài mọn của anh ấy thôi. Có hàng đống người muốn biết làm cách nào mà anh ấy khám phá ra mọi việc.

– Ôi, bí mật chứ gì? – Tôi xoa hai tay. – Có vẻ hấp dẫn đây! Rất cám ơn cậu đã giúp chúng tôi gặp nhau. Cậu biết đấy, tri thức do con người tạo nên mà.

– Cậu phải tìm hiểu anh ta đấy. – Stamford bảo khi giơ tay chào tôi. – Cậu sẽ thấy anh ta là một vấn đề nan giải cho mà xem. Tôi cá rằng Holmes sẽ biết nhiều điều về cậu hơn là những gì cậu khám phá được từ anh ấy. Chào nhé!

– Chào cậu! – Tôi đáp lại rồi rảo bước về khách sạn, trong lòng thấy vui vì có thêm mối quan hệ.
 
454 ❤︎ Bài viết: 271 Tìm chủ đề
Chương 2: Lý luận khoa học (1)

Chúng tôi gặp nhau theo kế hoạch đã định, cùng nhau xem xét căn nhà số 221B phố Baker mà Sherlock Holmes đã đề cập tới trong buổi gặp trước. Đó là một ngôi nhà gồm có hai phòng ngủ tiện nghi và một phòng khách thoáng khí, có hai cửa sổ rộng. Các căn hộ quá hợp lý cho sự dàn xếp giữa hai chúng tôi đến mức chúng tôi ngay lập tức chiếm lĩnh phần lãnh địa của mình. Ngay tối hôm đó, tôi chuyển luôn đồ đạc từ khách sạn về. Còn sáng hôm sau thì Holmes trở lại với lỉnh kỉnh hòm và va li. Chỉ nội việc mở thùng, xếp dọn tư trang sao cho thuận lợi nhất cũng lấy trọn của chúng tôi một vài ngày. Xong việc, chúng tôi dần làm quen với hàng xóm quanh đó.

Holmes không hẳn là một người mà bạn thấy khó chung sống cùng. Anh ấy có cái trầm lặng của riêng mình, và sở thích của anh cũng không có gì đặc biệt. Hiếm khi thấy anh ấy còn thức sau mười giờ đêm, lúc nào cũng ăn điểm tâm và rời khỏi nhà trước khi tôi mở mắt chào bình minh. Khi thì anh ấy ém mình cả ngày trong phòng thí nghiệm, lúc ở trong nhà xác. Thỉnh thoảng anh ấy lang thang xuống tận những khu khốn khổ nhất trong thành phố. Chẳng có việc gì khiến anh phải lao tâm khổ tứ, nhưng đôi lần tôi thấy anh ngồi lỳ trên trường kỷ, không nhếch mép nói nửa lời hoặc động chân động tay từ sáng tới đêm. Vào những dịp ấy, tôi cảm nhận sự mơ màng, trống trải trong đôi mắt Holmes khiến tôi đồ chừng anh bạn cùng phòng nghiện ma tuý. Song sự điều độ và sạch sẽ trong sinh hoạt của anh ấy đã gạt phăng cái ý nghĩ mơ hồ của tôi đi.

Vài tuần lễ đã trôi qua. Mối quan tâm cùng sự tò mò về mục đích sống của anh bạn cùng phòng ngày càng sâu đậm trong tôi. Người thờ ơ nhất dường như cũng phải chú ý tới nội tâm và diện mạo của Holmes. Vì gầy gò nên trông Holmes có cao hơn chiều cao thực tế của thân hình. Đôi mắt anh lanh lợi và sắc nét, khác xa với đôi mắt mà tôi đã ám chỉ trên đây. Cái mũi diều hâu mang lại cho anh một vẻ hoạt bát và quả quyết. Một cái cằm vuông vức nhô ra khẳng định vẻ quyết đoán của Holmes. Hai bàn tay lúc nào cũng lốm đốm mực và vết hóa chất của anh thật mềm mại khi thao tác trên những dụng cụ thí nghiệm dễ vỡ.

Bạn đọc có thể coi tôi như một kẻ vô công rồi nghề, khi tôi cứ lải nhải mãi những điều đã kích thích trí tò mò. Để rồi tôi luôn gắng sức phá vỡ sự trầm lặng vốn có của anh bạn cùng phòng. Trước khi đưa ra lời đánh giá, bạn hãy lưu ý tới cuộc sống vô đích của tôi, tới mối quan tâm nhỏ bé của tôi. Sức khoẻ của tôi chẳng cho phép tôi rời ổ, trừ khi thời tiết thật ấm áp. Tôi cũng chẳng có bạn bè tới thăm thú và phá vỡ sự đơn điệu của cuộc sống thường nhật. Thế nên tôi chỉ có thể quanh quẩn bên chân và tha hồ thời gian để tìm hiểu về anh bạn tôi.

Anh ấy không nghiên cứu y khoa. Tự bản thân anh ấy đã làm sáng tỏ nhận định của Stamford. Dường như anh ấy chưa từng theo một khóa học nào để có một tấm bằng khoa học cũng như không có một cánh cửa nào dẫn anh vào thế giới của những người có học thức. Nhưng tâm huyết của anh với từng môn học cụ thể thật đáng nể. Trong sự lập dị giới hạn, kiến thức sâu rộng và óc quan sát kịp thời của anh làm tôi vô cùng sửng sốt. Bảo đảm không có một người nào làm việc quá siêng năng hoặc thu lượm được những thông tin chính xác nhường ấy, trừ phi họ có tầm nhìn vô hạn định. Những người nghiên cứu không hệ thống hiếm khi có được kiến thức chính xác lắm. Chẳng ai lại đi chất vào óc mình những vấn đề cỏn con, trừ khi anh ta có lý do chính đáng để làm điều đó.

Sự ngu ngơ của anh cũng đáng bàn như kiến thức của anh vậy. Anh hầu như chẳng biết chút gì về văn học, triết học và chính trị hiện thời cả. Khi tôi trích dẫn Thomas Carlyle, anh ấy khờ khạo hỏi ông ta là ai, đã làm được những gì. Sự ngạc nhiên của tôi lên đến tột đỉnh, khi tôi tình cờ thấy anh ấy không biết đến cả học thuyết Copernic lẫn kết cấu của hệ mặt trời. Việc một người sống ở thế kỷ mười chín không biết rằng trái đất quay quanh mặt trời là một sự kỳ lạ mà tôi khó mà chấp nhận được.

– Anh có vẻ sốc à? – Holmes cười vào vẻ mặt kinh ngạc của tôi. – Bởi thế tôi biết rằng tôi phải cố quên đi điều ấy.

– Quên đi ư!

– Anh thấy đấy, – Holmes lý giải – Tôi cho rằng bộ óc con người giống như một căn nhà rỗng, trong đó anh có thể chứa những đồ đạc mình lựa chọn. Kẻ ngốc chứa một mớ kiến thức lộn xộn làm hắn khó mà có thể thu xếp yên ổn được. Một công nhân lành nghề rất cẩn thận khi nạp những gì vào óc mình. Anh ta sẽ không tiếp nhận cái gì ngoài các dụng cụ có thể giúp anh thao tác công việc. Những dụng cụ đó rất đa dạng và tất cả được sắp xếp theo trật tự hoàn hảo. Sẽ sai lầm khi nghĩ rằng căn phòng đó có các bức tường đàn hồi và có thể ních đủ mọi thứ. Có những thời điểm khi anh nạp kiến thức mới cũng là lúc anh quên những điều mà mình đã từng biết đi. Bởi thế, điều quan trọng nhất là không để những thực tiễn vô dụng chèn ép những sự thực hữu ích.

– Nhưng hệ mặt trời cơ mà! – Tôi phản đối.

– Nó là quái gì với tôi nào? – Holmes nóng nảy ngắt lời tôi. – Anh nói rằng chúng ta xoay quanh mặt trời. Nếu chúng ta có quay quanh mặt trăng thì tôi hoặc công việc của tôi cũng chẳng mảy may thay đổi.

Tôi đang định chất vấn thêm một vài điều nữa, nhưng thái độ của anh nhắc nhở rằng có lẽ câu hỏi của tôi không được hoan nghênh. Tôi cân nhắc lại cuộc hội thoại ngắn ngủi và cố gắng đưa ra suy luận của mình. Holmes bảo anh ấy không thu nạp những kiến thức không thuộc mục tiêu. Thế thì, đối với anh ấy, tất cả những hiểu biết là hữu ích. Tôi liệt kê trong đầu tất cả những điểm anh ấy đã thể hiện. Cuối cùng tôi rút ra một cây bút chì và bắt đầu viết. Tôi không thể nhịn cười khi đọc lại những dòng mà tôi đã ghi:


Sherlock Holmes – những hạn chế

  1. Kiến thức về văn học. Số không
  2. Kiến thức về triết học. Số không
  3. Kiến thức về thiên văn học. Số không
  4. Kiến thức về chính trị. Lờ mờ
  5. Kiến thức về thực vật học. Không ổn định. Rất siêu về cây cà dược, thuốc phiện và các thực vật có độc tính nói chung. Chả biết gì về cây trồng trong vườn cả.
  6. Kiến thức về địa lý. Thực dụng, nhưng hạn chế. Chỉ liếc qua là phân biệt được các loại đất khác nhau. Sau khi đi thực địa về với những vết bùn bắn trên quần, có thể xác định màu và độ chắc của vùng đất ấy.
  7. Kiến thức về hóa học. Sâu sắc
  8. Kiến thức về giải phẫu. Chính xác, nhưng thiếu hệ thống.
  9. Kiến thức về văn học giật gân. Rộng lớn. Anh ấy dường như biết mọi chi tiết về từng vụ án kinh hoàng trong thế kỷ.
  10. Chơi viôlông rất cừ.
  11. Là một chuyên gia côn thuật, đấm bốc, kiếm thủ.
  12. Có một kiến thức uyên bác về luật pháp nước Anh.

Viết đến đây, tôi thấy lòng đầy thất vọng, vội quăng tọt tờ giấy vào lò. Tôi thầm nhủ: "Nếu mình chỉ tìm thấy mục đích của gã này qua việc đánh giá những tài năng ấy, và khám phá ra một nghề cần tất cả những thứ đó thì mình sẽ dừng lại ngay lập tức".

Tôi thấy mình đã đụng tới tài chơi viôlông của Holmes. Khả năng đó thật đáng kể, nhưng cũng thật kỳ cục như tất cả những kỳ tài của anh ấy. Anh ấy có thể chơi được rất nhiều bản nhạc, thậm chí cả những bản khó nhằn. Tôi biết rõ điều này, vì theo yêu cầu của tôi, Holmes đã thể hiện cho tôi nghe một phần của bản Lieder của Mendelssohn và những bản nhạc yêu thích khác. Khi có một mình, anh ấy cũng rất ít khi tự sáng tác hoặc thử sức với những bản nhạc đã được thừa nhận. Tựa lưng vào ghế bành, Holmes nhắm hờ mắt và cẩu thả kéo một khúc nhạc. Khi thì âm thanh nghe rền rĩ và u sầu, khi lại rất hào hứng và vui vẻ. Những khúc nhạc đó thể hiện rất rõ ý nghĩ trong đầu Holmes, dù cho anh chơi nhạc vô thức hay say mê. Tôi phát bực vì anh ấy thường kết thúc những khúc ca êm dịu như là phần thưởng cho sự kiên nhẫn của tôi một cách nhanh chóng.

Trong tuần lễ đầu tiên, chúng tôi không có khách khứa gì, và tôi bắt đầu có ý nghĩ rằng Holmes cũng chẳng có bạn bè gì giống như cái thân tôi vậy. Nhưng gần đây, tôi phát hiện ra anh ấy có rất nhiều mối quan hệ với đủ mọi tầng lớp trong xã hội. Có một gã mặt chuột kẹp, mắt sẫm, nước da tai tái, tự giới thiệu với tôi là Lestrade, đã qua lại đây ba, bốn lần trong tuần. Một buổi sáng, một cô gái trẻ ăn vận hợp mốt có ghé vào và ngồi lại nửa giờ gì đó. Buổi chiều cùng ngày, một vị khách tóc xám, tiều tuỵ trông như ma cô người Do Thái tới nhà, theo sát gót là một phụ nữ lớn tuổi ăn mặc cẩu thả. Dịp khác, khách tới chơi lại là một quý ông tóc bạc trắng. Có khi khách của Holmes là nhân viên xe lửa mặc đồng phục vải nhung. Khi có bất cứ vị khách nào xuất hiện, Sherlock Holmes thường sử dụng phòng khách, còn tôi thì ẩn mình trong phòng ngủ. Anh ấy luôn mồm xin lỗi vì đã đưa tôi vào hoàn cảnh bất tiện này:

– Tôi buộc phải sử dụng phòng này như là nhiệm sở, còn những vị đó là khách hàng của tôi.

Đổi lại tôi có cơ hội hỏi anh thẳng anh nhiều vấn đề, nhưng một lần nữa sự lịch thiệp của tôi lại không cho phép tôi buộc người khác phải thổ lộ với mình. Khi đó tôi đã hình dung rằng Holmes có một vài lý do xác đáng để không bóng gió việc ấy, nhưng anh đã mau chóng gạt bỏ ý định tiếp cận những chủ đề của riêng anh.

Tôi có rất nhiều lý do để nhớ rõ ràng rằng hôm đó là ngày mùng bốn tháng ba, tôi trở dậy sớm hơn thường lệ và nhận thấy Sherlock Holmes vẫn còn chưa dùng xong bữa sáng. Bà chủ nhà đã quá quen với thói dậy trễ của tôi rồi cho nên bữa sáng của tôi vẫn chưa được dọn lên và cà phê của tôi cũng chưa hề được chuẩn bị. Nhưng với một sự nóng nảy khá vô lý, tôi rung chuông và thông báo tôi đang chờ bữa sáng của mình một cách cộc cằn. Sau đó, tôi cầm lấy tờ báo trên bàn và cố gắng đọc nó trong lúc chờ đợi. Trong khi đó, người bạn đồng hành của tôi vẫn lặng lẽ nhai tóp tép miếng bánh mì nướng của mình. Một bài báo được đánh dấu bằng bút chì ở phần tiêu đề và một cách tự nhiên, ánh mắt tôi hướng vào bài báo đó và chăm chú đọc.

Tựa đề của bài báo đó khá kêu "Cuốn sách cuộc đời" và nội dung bài báo nhằm vào việc chứng minh rằng một người biết quan sát một cách hệ thống và chính xác bất kỳ thứ gì mình gặp sẽ có thể nhận biết được rất nhiều điều từ sự quan sát đó. Bài báo đó khiến tôi cảm thấy ấn tượng bởi sự kết hợp hết sức xuất sắc giữa một trí tuệ thông minh và những lập luận nghe hết sức vô lý. Lý lẽ đưa ra trong bài báo rất chặt chẽ, sâu sắc nhưng đối với tôi những điều được suy ra từ lý lẽ đó hết sức gượng gạo, cường điệu và thái quá. Tác giả bài viết đó khẳng định rằng qua một cách thể hiện nhất thời, qua một sự co giật của cơ bắp hay qua một ánh nhìn của đôi mắt, người ta có thể khám phá được những suy nghĩ thầm kín nhất của người đối diện. Vì thế, theo tác giả bài báo, đối với những người được đào tạo tốt trong việc quan sát và phân tích, bị lừa dối là điều không bao giờ có thể xảy ra. Những kết luận của anh ta cũng có vẻ chặt chẽ, tưởng chừng như không thể sai lầm giống như những tiên đề của Euclid vậy. Nhưng đối với những người không chuyên nghiệp, những kết luận mà anh ta đưa ra quá bất ngờ, quá giật gân đến nỗi chắc chắn họ sẽ coi anh ta chỉ như một gã thầy đồng cốt nói năng vô căn cứ trừ khi chính bản thân họ trực tiếp chứng thực được kết quả của quá trình mà anh ta đã nêu trong bài báo.


-Còn tiếp-
 
454 ❤︎ Bài viết: 271 Tìm chủ đề
Chương 2: Lý luận khoa học (2)

Tác giả của bài báo viết: "Từ một giọt nước, một người có đầu óc logic có thể suy luận ra được giọt nước đó có nguồn gốc từ Đại Tây Dương hay từ thác Niagara dù chưa từng nhìn thấy hay nghe nói về một trong hai nơi đó. Bởi vì cuộc sống là một chuỗi khổng lồ những điều có liên quan tới nhau nên bất cứ khi nào chúng ta nhìn thấy được một mắt xích nhỏ trong chuỗi mắt xích khổng lồ đó, chúng ta đều có thể biết được bản chất của chúng. Cũng giống như các bộ môn nghệ thuật khác, Khoa học Suy luận và Phân tích là một trong những nghệ thuật mà con người chỉ có thể đạt được thông qua một quá trình nghiên cứu, học tập lâu dài và kiên nhẫn. Và cuộc sống thì không đủ dài để một con người trần tục có thể đạt được cấp độ hoàn hảo đỉnh cao của khoa học này. Trước khi chuyển sang những khía cạnh đạo đức và tinh thần của vấn đề này, vấn đề mà chắc chắn sẽ bao hàm trong nó rất nhiều khó khăn to lớn, hãy cho phép người viết bài này được thử giải quyết những vấn đề cơ bản, sơ đẳng hơn. Chẳng hạn như khi vừa mới gặp một người bình thường, anh ta sẽ sử dụng phương pháp quan sát và phân tích để biết được về quá khứ của người đó, về nghề nghiệp chuyên môn hay nghề nghiệp mà người đó đang dựa vào để kiếm sống. Điều này nghe có vẻ đơn giản như một bài tập thể dục bình thường, nhưng nó giúp mài sắc những khả năng quan sát và dạy cho người ta biết cách quan sát và biết mình phải tìm kiếm điều gì để đạt được mục đích. Qua móng tay của anh ta, qua cái cổ áo mà anh ta mặc, qua đôi giày mà anh ta mang, qua đầu gối ống quần anh ta mặc, qua những vết chai trên ngón trỏ và ngón cái, qua cách anh ta thể hiện mình, qua tay áo sơ mi, nghề nghiệp của người đó sẽ dần được tiết lộ. Tất cả những điều đó có thể giúp cho một người có đầu óc quan sát làm sáng tỏ được những điều tưởng chừng không thể hiểu được.

– Bài viết nhảm nhí không thể tả được! – Tôi thốt lên, đập mạnh tờ báo xuống bàn. – Tôi chưa từng đọc thứ gì vớ vẩn như thế này.

– Gì vậy? – Sherlock Holmes hỏi.

– Gì ư? Bài báo này chứ còn gì! – Tôi nói, chỉ cái thìa ăn trên tay vào tờ báo và ngồi xuống chuẩn bị dùng bữa. – Tôi nhận thấy là anh đã đọc bài báo đó rồi bởi vì tôi thấy có vết bút chì anh đánh dấu. Tôi không phủ nhận rằng bài báo đó được viết khá sắc sảo. Nhưng dù vậy, tôi vẫn cảm thấy bực mình. Rõ ràng đó chỉ là sản phẩm lý thuyết của một gã mọt sách, chỉ biết ngồi trong thư viện và rút ra những kết luận ngược đời này. Chẳng thực tế chút nào cả. Tôi rất muốn trông thấy anh ta bước xuống ga tàu điện ngầm để hỏi anh ta xem anh ta có thể đoán ra được nghề nghiệp của tất cả những người anh ta gặp ở đó qua cái thứ khoa học quan sát và phân tích của anh ta hay không. Tôi dám cược một nghìn ăn một rằng anh ta không thể.

– Vậy thì chắc chắn anh sẽ thua cuộc, – Holmes nhận xét với một vẻ bình tĩnh. – Bởi vì tôi chính là tác giả của bài báo đó."

– Anh ư?

– Phải. Tôi có cả khả năng quan sát lẫn khả năng phán đoán. Những giả thuyết mà tôi đưa ra trong bài báo đó, những giả thuyết mà anh cho là ảo tưởng và hão huyền đó, thực ra hết sức thực tế. Thực tế, đáng tin cậy đến mức mà từ trước tới giờ đó chính là cái cần câu cơm của tôi đấy.

– Như thế nào? – tôi buột miệng hỏi.

– Ồ, tôi cũng có nghề nghiệp riêng của mình. Tôi cho rằng tôi là người duy nhất trên thế giới này làm nghề đó. Tôi là một thám tử chuyên đưa ra những lời tư vấn, nếu như anh có thể hiểu được nghề đó là như thế nào. Ở thành phố London này, chúng ta có vô khối thanh tra của chính phủ và cũng chẳng thiếu những thám tử tư. Khi những người đó mắc sai lầm và thất bại, họ tìm tới tôi và tôi cố gắng chỉ ra cho họ những hướng đi đúng đắn. Họ trao cho tôi tất cả những bằng chứng mà họ thu thập được và tôi có thể giúp họ tìm được manh mối từ đó, tất nhiên là phải nhờ tới cả kiến thức của tôi về lịch sử tội phạm. Có thể phân nhóm những hành động xấu xa, phi pháp thông qua sự giống nhau, sự tương đồng giữa chúng. Và nếu như anh đã có trong tay những tình tiết cụ thể của khoảng một nghìn vụ phạm tội thì anh không thể nào không giải quyết được một trong một nghìn vụ đó. Lestrade là một thanh tra cảnh sát nổi tiếng. Gần đây ông ta mới vướng vào một vụ giả mạo giấy tờ khá phức tạp và đó chính là lý do khiến cho ông ta tìm tới đây.

– Còn những người khác thì sao?

– Hầu hết bọn họ đều được một thân chủ nào đó cử đến. Tất cả bọn họ đều là những người đang gặp rắc rối về một vấn đề gì đó và họ muốn vấn đề của mình được làm sáng tỏ. Tôi lắng nghe câu chuyện của họ, họ lắng nghe những lời khuyên của tôi và sau đó, tôi được quyền nhét tiền thù lao vào túi.

– Có nghĩa là dù không cần phải rời khỏi căn phòng này, anh vẫn có thể tháo gỡ được những nút thắt mà những người khác không thể nào giải quyết nổi mặc dù tự họ đã nắm được tất cả những tình tiết của vụ việc? – Tôi hỏi.

– Đúng vậy. Về vấn đề này, tôi có một giác quan thứ sáu. Nhưng đôi lúc, những vụ việc họ nhờ tới tôi cũng phức tạp hơn một chút. Khi đó, tôi buộc phải ra ngoài và tận mắt quan sát hiện trường. Anh cũng thấy là tôi cũng phải áp dụng những hiểu biết đặc biệt của mình trong việc giải quyết những vụ án và chúng giúp cho vấn đề được giải quyết một cách hoàn hảo. Những phương pháp suy luận mà tôi trình bày trong bài báo đó, những phương pháp khiến cho anh dè bỉu và khinh miệt lại là những điều vô giá đối với tôi trong công việc thực tế của mình. Đối với tôi, khả năng quan sát là một bản năng thứ hai. Khi chúng ta gặp nhau lần đầu tiên, anh đã rất ngạc nhiên khi tôi khẳng định rằng anh từ Afghanistan tới đúng không?

– Chắc chắn là ai đó đã nói cho anh biết trước đó.

– Không hề. Tự tôi đoán ra được anh từ Afghanistan tới. Với thói quen được hình thành trong một thời gian dài, một chuỗi những suy nghĩ ngay lập tức thoáng qua trong đầu tôi và tôi đi tới kết luận mà không cần phải thông qua những bước trung gian khác. Tuy nhiên, thực tế là những bước trung gian vẫn tồn tại. Dòng suy nghĩ của tôi diễn ra như sau: Tôi nghĩ rằng "đây là một quý ông có phong thái của một người làm ngành y, nhưng tác phong lại là của một quân nhân trong quân đội. Vậy thì chắc chắn, đây là một bác sĩ quân y. Anh ta vừa mới trở về từ một đất nước ở miền nhiệt đới bởi vì gương mặt của anh ta sạm nắng và đó rõ ràng không phải là màu da tự nhiên của anh ta bởi vì lớp da ở cổ tay anh ta sáng màu hơn những chỗ khác. Anh ta đã sống trong tình trạng khá kham khổ và bị đau ốm. Khuôn mặt hốc hác của anh ta đã cho thấy rõ ràng điều đó. Cánh tay trái của anh ta bị thương vì anh ta cử động nó không được mềm mại và tự nhiên. Vậy thì ở đất nước nào thuộc vùng nhiệt đới, một bác sĩ quân đội người Anh lại phải trải qua một cuộc sống gian khổ đến vậy và lại bị thương? Rõ ràng là chỉ có ở Afghanistan." Và toàn bộ chuỗi những suy luận này chỉ gói gọn trong vòng một giây. Vậy là tôi khẳng định anh từ Afghanistan tới và điều đó đã khiến anh đã hết sức ngạc nhiên.

– Vì anh đã giải thích cặn kẽ nên mọi việc nghe có vẻ khá đơn giản, – tôi nói và mỉm cười. – Anh khiến cho tôi nhớ tới nhân vật thám tử Dupin của Edgar Allan Poe. Tôi chưa bao giờ nghĩ rằng một người như vậy lại có thể xuất hiện bên ngoài những câu chuyện viễn tưởng.

Sherlock Holmes đứng dậy và châm tẩu thuốc.

– Chắc chắn là anh đã nghĩ rằng anh đang tán dương tôi khi so sánh tôi với Dupin, – anh nói. – Nhưng theo ý kiến của riêng tôi thì Dupin chỉ là một gã hết sức tầm thường. Cái trò chen ngang vào dòng suy nghĩ của bạn mình với những lời nhận xét đúng lúc sau khoảng mười lăm phút yên lặng quan sát thực sự hết sức phô trương, hời hợt và nông cạn. Tất nhiên là ông ta cũng có khả năng phân tích nhưng ông ta hoàn toàn không phải là một hiện tượng phi thường như Poe tưởng.

– Anh đã bao giờ đọc các tác phẩm của Gaboriau chưa? – tôi hỏi. – Liệu Lecoq có xứng đáng là một thám tử theo tiêu chuẩn đánh giá của anh không?

Sherlock Holmes khịt mũi một cách mỉa mai, miệt thị. Anh nói với một giọng tức giận:

– Lecoq chỉ là một kẻ vụng về đáng thương mà thôi. Ông ta chỉ có một điểm duy nhất đáng quý, đó chính là năng lượng trong con người ông ta. Cuốn sách đó khiến cho tôi cảm thấy phát ốm. Vấn đề là làm thế nào để nhận dạng được một kẻ giết người vô danh. Tôi có thể làm được việc đó trong vòng hai mươi tư giờ. Nhưng Lecoq cần tới sáu tháng hoặc hơn thế. Cuốn sách đó có thể được sử dụng như là một cuốn sách giáo khoa giành cho các thám tử để khuyên họ tránh lặp lại những sai lầm như thế.

Tôi cảm thấy phẫn nộ vì hai nhân vật mà tôi hết sức ngưỡng mộ đã bị Holmes nhận xét một cách mỉa mai như vậy. Tôi bước đến bên cửa sổ và nhìn xuống con phố đông đúc bên dưới. Tôi tự nhủ:

– Anh chàng này có thể là người rất thông minh nhưng rõ ràng là hết sức tự phụ.

– Những ngày này chẳng thấy vụ phạm tội nào xảy ra cả, – anh càu nhàu nói. – Trong nghề nghiệp của chúng ta, có một bộ não để làm gì kia chứ? Tôi biết chắc chắn rằng trong đầu tôi có một bộ óc thông minh, bộ óc đã tạo nên tiếng tăm của tôi. Không ai trên thế gian này đem tất cả từng đó kiến thức và tất cả tài năng của mình vào việc điều tra những vụ phạm tội giống như tôi đang làm. Và kết quả là gì? Chẳng có vụ phạm tội nào để điều tra cả, hay nhiều lắm thì cũng chỉ có vài tên tội phạm vụng về tới mức đến một viên cảnh sát bình thường cũng có thể phát hiện ra được âm mưu quá lộ liễu của hắn.

Tôi vẫn còn cảm thấy bực mình vì vẻ tự phụ, tự mãn của anh trong đoạn đối thoại vừa rồi. Tôi nghĩ tốt hơn hết là nên thay đổi đề tài.

– Tôi đang tự hỏi không biết người đàn ông kia đang tìm gì nhỉ? – tôi nói và chỉ vào một người trông có vẻ to lớn, vạm vỡ, ăn mặc đơn giản, đang chậm rãi bước đi phía vỉa hè bên kia, chăm chú nhìn từng số nhà một. Anh ta cầm trên tay một chiếc phong bì khổ lớn màu xanh và rõ ràng trong đó có chứa đựng một tài liệu nào đó.

– Anh muốn nói đến viên trung sĩ hải quan đã xuất ngũ kia sao? – Sherlock Holmes nói.

– Đúng là quá tự phụ! – Tôi nghĩ thầm. – Anh ta biết mình không thể kiểm chứng lại những gì anh ta vừa nói mà.

Ý nghĩ đó vừa vụt qua trong đầu tôi thì người đàn ông mà chúng tôi đang quan sát nhìn thấy số nhà ghi trên cửa nhà chúng tôi và vội vã băng qua đường. Chúng tôi nghe thấy tiếng gõ cửa rất mạnh, một giọng nói trầm, sâu và tiếng những bước chân nặng nề bước lên cầu thang.

– Gửi ngài Sherlock Holmes.

Anh ta nói và bước vào trong phòng, trao cho anh bạn tôi chiếc phong bì.

Đây đúng là một cơ hội để tôi có thể dập tắt tính tự cao tự đại, kiêu ngạo của Holmes. Anh ấy chắc chắn đã không hề nghĩ gì về điều tôi đang suy tính khi trả tiền cho người đưa thư.

– Cho tôi hỏi anh làm nghề gì vậy? – tôi nói với một giọng nhẹ nhàng nhất.

– Gác cửa thưa ngài, – anh ta nói cộc lốc. – Đồng phục đang được mang đi sửa.

– Vậy anh là? – tôi hỏi và đưa mắt nhìn anh bạn tôi, hơi cảm thấy hả hê, đắc thắng.

– Trung sĩ thưa ngài. Binh chủng nhẹ Hải quân Hoàng gia, thưa ngài. Không còn câu hỏi gì nữa chứ ạ?

Anh ta dập hai gót giày vào nhau, giơ tay chào và rời khỏi nhà chúng tôi.

 
454 ❤︎ Bài viết: 271 Tìm chủ đề
5. Chương 3: Vụ án ở phố Lauriston Garden (1)

Tôi phải thú thật rằng tôi đã giật mình bởi bằng chứng hết sức xác thực về tính thực tế của lý thuyết của anh bạn tôi. Sự kính trọng của tôi đối với khả năng phân tích của anh tăng lên trông thấy. Tuy nhiên, trong tâm trí tôi vẫn còn một chút nghi ngờ mơ hồ rằng có thể tất cả chuyện này chỉ là những sự kiện đã được dàn dựng sẵn nhằm làm cho tôi choáng váng và bất ngờ mặc dù anh ta muốn lừa tôi vì mục đích quái quỷ gì tôi cũng không thể nào đoán được. Khi tôi nhìn lên Holmes, anh đã đọc xong lá thư và mắt anh bắt đầu trở lại trạng thái lờ đờ, mơ màng, cho thấy tâm trí anh đang hết sức tập trung.

– Làm thế quái nào mà anh có thể suy ra được điều đó? – tôi hỏi.

– Suy ra được điều gì? – Anh xẵng giọng.

– Rằng người vừa đem thư đến là một trung sĩ hải quân về hưu đó?

– Tôi chẳng có thời gian quan tâm tới những chuyện lặt vặt đó, – anh trả lời một cách cộc cằn, lỗ mãng. Nhưng sau đó anh mỉm cười:

– Thứ lỗi cho sự thô lỗ của tôi. Anh vừa mới cắt ngang dòng suy nghĩ của tôi nhưng có lẽ nó cũng đã bị đứt đoạn rồi. Vậy là anh thực sự không thể nhận thấy người đàn ông đó là một trung sĩ hải quan sao?

– Đúng là tôi không nhận ra.

– Thực ra, nhận biết được điều đó dễ dàng hơn khi phải giải thích tại sao tôi nhận ra được điều đó nhiều. Nếu như ai đó yêu cầu anh chứng minh hai cộng hai bằng bốn, có lẽ anh sẽ thấy không hề đơn giản, tuy nhiên, anh vẫn có thể khẳng định chắc chắn rằng điều đó là đúng. Ngay từ lúc anh ta băng qua con phố, tôi đã nhìn thấy hình một chiếc mỏ neo màu xanh được xăm ngay trên mu bàn tay của anh ta. Dấu hiệu đó mang đậm hương vị của biển cả. Tuy nhiên, anh ta lại đi trên một cỗ xe của quân đội và có kiểu râu quai nón chỉ để ở hai bên mai. Vậy là chúng ta có thể khẳng định anh ta là một người làm việc trong hải quân. Chúng ta cũng có thể nhận thấy anh ta có vẻ tự cho mình là quan trọng và một cung cách của người thường chỉ huy, ra lệnh. Anh chắc hẳn cũng đã nhận thấy cái cách anh ta nghiêng đầu và vung cây can của mình. Đó cũng lại là một người đàn ông trung tuổi, cứng cỏi và đáng kính, ồ, cái khuôn mặt đó cùng tất cả những dáng điệu, tác phong của anh ta đều khiến tôi khẳng định chắc chắn hơn rằng anh ta là một trung sĩ.

– Tuyệt vời! – Tôi buột miệng thốt lên.

– Bình thường thôi, – Holmes nói, mặc dù nghe trong giọng điệu của anh, tôi nghĩ rằng anh có vẻ khá hài lòng với vẻ ngạc nhiên và ngưỡng mộ của tôi. – Tôi vừa mới nói rằng chẳng có lấy một vụ phạm tội nào. Nhưng hóa ra là tôi đã lầm. Nhìn này!

Anh ném cho tôi bức thư mà viên sĩ quan vừa đưa tới.

– Ôi, thật là kinh khủng! – tôi kêu lên sau khi đưa mắt đọc lướt qua bức thư.

– Có vẻ như có chút gì đó hơi không bình thường, – anh bình tĩnh nhận xét. – Anh có thể đọc to nó lên cho tôi nghe được không? "

Và bức thư đó như sau:


" Sherlock Holmes thân mến

Đêm qua, vào lúc ba giờ, ở Lauriston Gardens trên đường Brixton đã xảy ra một vụ việc kỳ lạ. Một nhân viên cảnh sát của chúng tôi trong lúc đang đi tuần đã nhìn thấy ánh đèn hắt ra từ một căn nhà vào khoảng hai giờ sáng và bởi vì đó là căn nhà không có người ở cho nên anh ta nghi ngờ có điều gì đó không bình thường đã xảy ra. Anh ta thấy cửa trước mở và trong sảnh chính, không có đồ đạc gì, anh ta đã phát hiện ra xác của một người đàn ông, ăn mặc khá sang trọng. Trong túi nạn nhân có vài tấm danh thiếp đề tên "Enoch J. Drebber, Cleveland, bang Ohio, Mỹ." Căn nhà không bị cướp bóc gì cũng như không có bằng chứng gì giúp chúng ta làm sáng tỏ được cái chết của người đàn ông này đã xảy ra như thế nào. Vài dấu máu được để lại trong căn phòng nhưng thi thể của người đàn ông này không hề có thương tích. Chúng tôi cũng chưa tìm hiểu được ông ta vào trong căn nhà không người ở này bằng cách nào. Và sự thật là đây quả là một vụ rất khó giải quyết. Nếu như anh có thể ghé qua đây trước mười hai giờ trưa thì sẽ gặp được tôi. Tôi sẽ vẫn giữ nguyên trạng mọi thứ cho tới khi nào nhận được câu trả lời của anh. Nếu như anh không thể đến, tôi sẽ kể lại chi tiết hơn cho anh nghe, và chúng tôi sẽ rất biết ơn nếu như anh cho chúng tôi một vài ý kiến, gợi ý của anh.


Trântrọng,

Tobias Gregson "

– Gregson là thanh tra giỏi nhất trong số những nhân viên của sở cảnh sát London Scotland Yard, – bạn tôi nói. – Anh ta và Lestrade là hai đỉnh của hai thái cực. Cả hai người bọn họ đều nhanh nhẹn, đầy năng lực và khoẻ mạnh, nhưng ngầm ganh tị nhau – đáng tiếc là như vậy. Cả hai người bọn họ đều không bỏ lỡ cơ hội nào để được chĩa mũi dùi vào nhau. Hai người bọn họ ghen tị và kình nhau như hai vị chúa sơn lâm trong một khu rừng. Chắc chắn vụ này sẽ có nhiều điều thú vị nếu như cả hai bọn họ đều nhúng tay vào điều tra.

Tôi thực sự ngạc nhiên khi thấy anh cứ đủng đỉnh, thản nhiên nói chuyện. Tôi kêu lên:

– Chúng ta không nên để lỡ một giây nào cả. Tôi sẽ đi gọi xe cho anh nhé?

– Tôi chưa biết mình có cần phải đi hay không. Tôi là một kẻ cực kỳ lười biếng. Nhưng tôi sẽ nhanh nhẹn và hoạt bát đúng lúc cần thiết.

– Sao cơ? Chẳng phải đây là cơ hội mà anh đang mong mỏi sao?

– Anh bạn thân mến của tôi, việc này thì có ý nghĩa gì với tôi cơ chứ? Cứ giả sử như tôi sẽ vén được tấm màn bí mật bao phủ lên toàn bộ sự việc này đi chăng nữa thì chắc chắn Gregson và Lestrade cùng các đồng nghiệp của họ sẽ vơ hết thành quả về mình. Đó là điều chắc chắn sẽ xảy ra đối với một thám tử tư.

– Nhưng ông ta đã khẩn thiết nhờ anh giúp ông ta.

– Đúng thế. Ông ta biết rằng tôi giỏi hơn ông ta và thừa nhận điều đó ở tôi. Nhưng nếu như ông ta đã phải nhờ tới sự giúp đỡ của bên thứ ba chắc chắn ông ta đã rơi vào thế rất bí. Tuy nhiên, chúng ta vẫn nên đến đó xem sao. Một mình tôi sẽ khám phá ra sự thật vụ án này. Sau đó, tôi có thể cười vào mũi họ. Đi nào!

Anh vội vã khoác chiếc áo choàng ngoài vào. Anh lanh lẹ đi lại, sắp xếp mọi việc khiến cho ai cũng có thể nhận thấy rằng vẻ thờ ơ, lãnh đạm lúc trước giờ đã được thay thế một nguồn năng lượng trẻ trung, năng động.

– Đội mũ của anh vào đi! – anh nói.

– Anh muốn tôi cùng đi sao?

– Tất nhiên, nếu như anh không có việc gì quan trọng hơn phải làm.

Và một phút sau cả hai chúng tôi đã ngồi trong một cỗ xe ngựa và lao như điên xuống đường Brixton. Đó là một buổi sáng u ám, nhiều mây và sương mù tạo thành một chiếc khăn voan màu xám mỏng phủ trên mái những ngôi nhà dọc hai bên đường, trông giống như màu lớp bùn nhầy nhụa, bẩn thỉu phủ trên những con phố. Người bạn đồng hành của tôi có vẻ đang ở trong trạng thái hết sức hưng phấn và huyên thuyên nói về loại dây đàn Cremona cũng như sự khác biệt giữa một cây đàn kiểu Stradivarius và cây đàn kiểu Amati. Về phần tôi, tôi ngồi yên lặng bởi vì thời tiết u ám và cái vụ việc ảm đạm mà chúng tôi chuẩn bị tham gia vẫn đang đè nặng lên tâm trí tôi.

– Có vẻ như anh không suy nghĩ nhiều lắm tới vấn đề chúng ta sắp phải giải quyết, – cuối cùng tôi cũng lên tiếng, cắt ngang bài giảng giải dài lê thê về âm nhạc của Holmes.

– Chúng ta vẫn chưa có dữ liệu gì cả, – anh trả lời. – Việc đưa ra một giả thiết trước khi anh có được toàn bộ bằng chứng là một sai lầm hết sức to lớn. Nó sẽ làm sai lệch những phán đoán của anh.

– Chẳng bao lâu nữa anh sẽ có được những dữ liệu mình cần thôi, – tôi nói và giơ tay chỉ về phía trước, – Nếu như tôi không nhầm thì đây chính là đường Brixton và đó là căn nhà mà chúng ta cần tới.

– Đúng vậy. Dừng lại, bác đánh xe, dừng lại!

Chúng tôi vẫn còn cách ngôi nhà đó khoảng một trăm thước hoặc hơn thế một chút nhưng Holmes vẫn khăng khăng đòi xuống xe và chúng tôi phải đi bộ nốt cuộc hành trình của mình.

Căn nhà số 3, Lauriston Gardens trông có vẻ ảm đạm, đáng sợ và như muốn báo trước những điềm gở. Đó là một trong bốn ngôi nhà nằm hơi sâu một chút so với mặt phố. Hai ngôi nhà có người ở, còn hai ngôi nhà bỏ không. Hai ngôi nhà bỏ không hướng ra ngoài với ba dãy cửa sổ trống rỗng, tồi tàn, vô hồn và u ám, đáng sợ. Đây đó, trên những tấm cửa kính bụi bặm, lờ mờ có treo tấm biển" Cho thuê". Một khu vườn nhỏ điểm lác đác những cây con ốm yếu đang rời rạc nhú lên. Khu vườn này ngăn cách ngôi nhà với con phố. Dọc khu vườn có một lối mòn hẹp, màu vàng, lẫn lộn đất sét với sỏi. Cả khu này trông nhếch nhác, ướt át và bẩn thỉu sau cơn mưa rả rích suốt đêm hôm trước. Khu vườn được bao quanh bằng một bức tường gạch cao khoảng ba feet, trên cùng là một lớp rào gỗ. Một viên cảnh sát to cao đang đứng vịn cả người vào bức tường, súng giắt bên hông, cổ đang gắng sức nghển lên, mắt căng ra để theo dõi những gì đang diễn ra bên trong.

Tôi đã tưởng rằng Sherlock Holmes ngay lập tức sẽ phải vội vàng lao vào trong ngôi nhà, chạy tới chạy lui để tìm hiểu bí ẩn của vụ việc. Nhưng có vẻ như anh không hề có ý định làm như vậy. Với một vẻ thờ ơ mà trong hoàn cảnh này tôi cảm thấy như đó là một kiểu điệu bộ màu mè, anh tha thẩn đi lên đi xuống quanh vỉa hè, lơ đãng nhìn xuống mặt đất, nhìn lên bầu trời, quan sát những ngôi nhà đối diện và hàng rào xung quanh. Sau khi đã quan sát một cách kỹ lưỡng, anh chậm rãi bước xuống lối mòn hay nói đúng hơn là bước xuống bãi cỏ mọc bên rìa lối mòn, mắt dán chặt xuống đất. Hai lần, anh dừng hẳn lại và một lần tôi nhìn thấy anh mỉm cười. Tôi nghe thấy anh thốt lên những tiếng kêu tỏ vẻ hài lòng. Có rất nhiều dấu chân còn để lại trên nền đất sét ẩm ướt, nhưng bởi vì cảnh sát đã đi qua đi lại trên lối mòn đó nhiều lần nên tôi cũng không thể hiểu nổi anh bạn đồng hành của tôi sẽ có thể tìm được gì từ những dấu chân đó. Tuy nhiên, bởi vì tôi đã được chứng kiến những điều hết sức đặc biệt về độ nhanh nhạy trong khả năng mẫn cảm của anh nên tôi không hề nghi ngờ rằng anh có thể nhìn ra được rất nhiều điều mà tôi không nhận thấy.

Ngay trước cửa lâu đài, chúng tôi gặp một người đàn ông cao, khuôn mặt trắng bệch và có mái tóc màu nâu vàng cùng một cuốn sổ trong tay. Ông ta lao tới, bắt chặt tay người bạn đồng hành của tôi đầy tình cảm.

– Anh thật tốt vì đã đồng ý tới đây, – ông ta nói. – Tôi vẫn để nguyên trạng mọi thứ, chưa ai làm xáo trộn bất cứ thứ gì.

– Trừ nơi đó phải không? – bạn tôi trả lời và chỉ tay về phía con đường mòn ngoài vườn. – Nếu như một đàn trâu đã đi ngang qua đó thì chắc chắn chẳng có gì có thể lộn xộn hơn. Tuy nhiên, tôi tin chắc là anh đã có được kết luận của riêng mình trước khi anh cho phép người ta tự do đi lại qua lối mòn chứ?

– Trong nhà, tôi đã có quá nhiều thứ phải quan tâm rồi, – viên thanh tra nói có vẻ lảng tránh. – Đồng nghiệp của tôi, ông Lestrade, lo ở đó. Tôi hoàn toàn tin tưởng khi ông ta bảo vệ chỗ đó.

Holmes đưa mắt nhìn tôi và nhướn mày lên với vẻ mỉa mai.

– Khi đã có hai thanh tra như ông và Lestrade ở đây thì chẳng còn gì để cho người thứ ba có thể tìm kiếm nữa, – anh nói.

Gregson xoa hai tay vào nhau với một vẻ khá tự mãn.

– Tôi nghĩ chúng tôi đang làm tất cả những gì chúng tôi có thể, – ông ta trả lời. – Mặc dù vậy, chúng tôi vẫn nghĩ rằng đây là một vụ án hết sức kỳ lạ và tôi biết sở thích của anh là điều tra những vụ như thế này.

– Ông không đến đây bằng xe ngựa đúng không?

– Vâng.

– Lestrade cũng không chứ?

– Vâng.

– Nào, giờ hãy đưa chúng tôi tới xem căn phòng một chút.

Với lời đề nghị có vẻ chẳng mấy ăn nhập với hai câu hỏi trước, anh bước vào căn phòng nơi xảy ra thảm kịch. Gregson theo sau với nét mặt đầy vẻ ngạc nhiên.

Một hành lang trống không, với sàn nhà không có ván lát phủ đầy bụi bặm, dẫn chúng tôi tới bếp và văn phòng làm việc. Hai cánh cửa được trổ ra, một cánh ở bên trái, còn một cánh ở bên phải. Một trong hai cánh cửa này chắc hẳn là đã bị đóng chặt trong nhiều tuần. Cánh cửa kia là của phòng ăn. Chính trong phòng ăn, bi kịch bí ẩn đã xảy ra. Holmes bước vào và tôi bước vào theo anh. Trong tâm trí tôi dường như có một cảm nhận mơ hồ rằng cái chết vẫn còn đang ngự trị trong căn phòng đó.

Đó là một căn phòng rộng, hình vuông. Trông toàn cục có vẻ còn rộng hơn nữa bởi trong phòng không hề có đồ đạc. Một tấm giấy dán tường lòe loẹt, hoa mỹ, được sử dụng nhằm trang hoàng thêm cho căn phòng. Nhưng đôi chỗ, giấy dán tường bị ố bẩn vì nấm mốc và đôi chỗ, từng mảng giấy dán tường bong ra lủng lẳng, để lộ lớp vữa vàng vọt ố vàng ở đằng sau. Ngay đối diện cửa vào là một chiếc lò sưởi trông hết sức phô trương, bao quanh là bệ lò sưởi lát đá giả cẩm thạch trắng. Một góc trên bệ lò sưởi có một đống sáp nến màu đỏ đã cháy hết chảy xuống thành đụn. Cánh cửa sổ cô độc phủ đầy bụi bẩn đến nỗi ánh sáng trông như mờ ảo và chập chờn hơn, đồng thời khiến cho mọi vật trong căn phòng đều bị phủ lên bởi một thứ ánh sáng tối tăm, leo lét. Ánh sáng đó chỉ làm cho lớp bụi phủ dày đặc lên toàn bộ căn phòng như càng dày hơn.


-Còn tiếp-

 
Chỉnh sửa cuối:
454 ❤︎ Bài viết: 271 Tìm chủ đề
6. Chương 3: Vụ án ở phố Lauriston Garden (2)

Thực ra tôi không quan sát thấy ngay lập tức tất cả những điều vừa được mô tả ở trên. Lúc mới bước vào căn phòng, sự chú ý của tôi lập tức hút chặt vào thân hình đang nằm cô độc, tím tái và bất động sóng xoài trên nền nhà với đôi mắt trống rỗng, vô hồn nhìn trừng trừng lên trần nhà đã bạc màu. Đó là cái xác của một người đàn ông khoảng bốn ba, bốn tư tuổi, người tầm thước, vai rộng, mái tóc màu nâu đen cứng, dựng đứng và loăn xoăn cùng một bộ râu quai nón ngắn mọc lởm chởm. Ông ta mặc chiếc áo khoác dài vải dạ đen, một chiếc áo chẽn, chiếc quần âu sáng màu, cổ áo và tay áo sơ mi trắng phau. Chiếc mũ đội đầu được chải chuốt cẩn thận nằm trên sàn nhà, ngay bên cạnh ông ta. Hai bàn tay ông ta nắm chặt, cánh tay khuỳnh ra trong khi hai chân đan vào nhau như thể trước khi chết ông ta phải vật lộn với một cơn đau ghê gớm, dữ dội. Trên gương mặt cứng rắn của ông ta hằn lên một nỗi kinh hoàng, và như tôi nhận thấy, cả một sự căm thù, một sự căm thù sâu sắc tới độ tôi chưa bao giờ nhận thấy ở một con người. Vẻ hiểm ác và cả sự biến dạng, méo mó đến khủng khiếp cùng với vầng trán thấp, cái mũi tẹt và quai hàm nhô ra khiến cho vẻ mặt người đàn ông này giống như một con khỉ, xấu xí một cách kỳ lạ. Cái tư thế nằm co quắp, thiếu tự nhiên càng khiến cho cái xác của ông ta trông kinh khủng hơn. Tôi đã từng nhìn thấy nhiều người chết, dưới nhiều kiểu dáng khác nhau, nhưng chưa bao giờ tôi cảm thấy đáng sợ như cái xác chết trong căn phòng tối tăm, u ám này, căn phòng nhìn ra một trong những con đường huyết mạch của vùng ngoại ô London.

Lestrade, gầy gò và yếu ớt như thường lệ, đang đứng ngay trước cửa và chào đón tôi cùng người bạn đồng hành của tôi.

– Vụ này chắc chắn sẽ tạo nên một cú sốc đấy thưa ngài, – ông ta nhận xét. – Nó khác hẳn những vụ tôi từng biết, và tất nhiên, tôi cũng chẳng còn non nớt nữa khi đưa ra nhận định này.

– Không có manh mối gì sao? – Gregson hỏi.

– Không hề, – Lestrade trả lời.

Sherlock Holmes tiến gần tới cái xác và quỳ xuống quan sát một cách cẩn thận.

– Ông có chắc là không có vết thương nào trên người nạn nhân không? – anh hỏi, tay chỉ vào rất nhiều vết máu bắn xung quanh.

– Chắc chắn là không! – cả hai vị thanh tra cảnh sát cùng đồng thanh.

– Vậy thì, chắc chắn những vết máu này là của một người thứ hai – giả sử như đó là kẻ giết người, nếu như thật sự đây là một vụ giết người. Tôi chợt nhớ lại vụ án về cái chết của Van Jansen ở Utrecht vào khoảng năm 34. Ông có nhớ vụ này không Gregson?

– Không thưa ngài.

– Hãy đọc đi – tôi nghĩ là anh nên đọc nhiều hơn đấy. Trên trái đất này, chẳng có điều gì là mới mẻ cả. Tất cả mọi sự việc xảy ra đều tương đồng với sự việc nào đó đã từng xảy ra trước đó.

Khi anh nói, những ngón tay linh lợi của anh lần từ nơi này qua nơi khác, tới mọi chỗ, sờ nắn, ấn thử, mở khuy, kiểm tra trong khi đôi mắt anh vẫn có vẻ mơ màng cố hữu mà trước đó tôi đã rất chú ý. Nhưng công việc kiểm tra của anh nhanh đến nỗi mà ai không tinh ý chắc chưa kịp nhận ra việc làm của anh thì công việc đã kết thúc rồi. Cuối cùng, anh ngửi môi người chết và liếc qua đế đôi giày bằng da thuộc của nạn nhân.

– Tư thế của nạn nhân vẫn chưa bị suy chuyển đúng không? – Anh hỏi.

– Cũng không di chuyển gì nhiều ngoài việc phục vụ cho mục đích điều tra của chúng tôi.

– Giờ thì các ông có thể đưa anh ta xuống nhà xác được rồi đấy, - anh nói. – Chẳng còn gì để tìm hiểu thêm nữa.

Gregson đã chuẩn bị một cái cáng và bốn người đàn ông mạnh khoẻ chờ sẵn. Ngay khi ông ta cho gọi, những người này lập tức bước vào phòng và cái xác người đàn ông xấu số được nâng lên và đưa đi. Khi bọn họ nâng ông ta lên, một chiếc nhẫn rớt xuống sàn nhà và lăn một vòng trên sàn trước khi Lestrade nhặt nó lên và chằm chằm nhìn vào nó với ánh mắt bí ẩn.

– Vụ việc này có dính dáng tới một người phụ nữ, – ông ta kêu lên. – Đây là chiếc nhẫn cưới của một phụ nữ.

Ông ta đặt chiếc nhẫn trong lòng bàn tay, giơ nó lên trước mặt trong khi nói. Tất cả chúng tôi đều đã đến bên ông ta để quan sát nó. Chắc chắn là chiếc nhẫn vàng trơn đó đã từng là đồ trang điểm trên bàn tay của một cô dâu.

– Điều này khiến cho vụ việc càng phức tạp hơn, - Gregson nói. – Có Chúa chứng giám, trước khi xuất hiện chiếc nhẫn, toàn bộ sự việc này đã đủ phức tạp lắm rồi.

– Ông có chắc là chiếc nhẫn này không khiến cho sự việc đơn giản hơn không? – Holmes quan sát chiếc nhẫn và nói tiếp: – Nhìn chằm chằm vào nó thế cũng chẳng có ích gì đâu. Ông tìm thấy gì trong túi nạn nhân không?

– Chúng tôi vẫn để tất cả mọi thứ ở đây, – Gregson nói và chỉ vào một đống nhỏ đầy những đồ lặt vặt chất ở bậc thang cuối cùng. – Một chiếc đồng hồ bằng vàng, mã số 97163 hiệu Barraud ở London. Một chiếc nhẫn vàng mang biểu tượng của hội tam hoàng. Một đồng xu, đầu bò với đôi mắt gắn bằng hai viên đá rubi đỏ. Hộp đựng thiếp bằng da của Nga với những tấm thiệp đề tên D. J. D. Trên nền lanh. Không có ví nhưng trong túi có bảy bảng ba mươi xu. Một cuốn sách bỏ túi của nhà xuất bản Boccaccios' Decameron có ghi tên Josep Stangerson trên tờ giấy để trống đầu sách. Có hai bức thư, một đề địa chỉ gửi tới E. J. Drebber và một là gửi tới Joseph Stangerson.

– Địa chỉ ở đâu?

– American Exchange, Strand. Cả hai đều được gửi từ Công ty Guion Steamship và đề cập tới chuyến đi của con tàu của họ từ Liverpool. Rõ ràng là người đàn ông bất hạnh này đang định trở về New York.

– Các ông đã điều tra gì về người đàn ông tên là Stangerson chưa?

– Tôi đã điều tra ngay lập tức rồi, – Gregson nói. – Tôi đã gửi một mẩu quảng cáo tới tất cả các tờ báo và một nhân viên của tôi cũng đã tới American Exchange, nhưng tới lúc này anh ta vẫn chưa quay trở lại.

– Ông có cử ai tới Cleveland không?

– Chúng tôi đã gửi điện tới đó vào sáng nay.

– Ông viết bức điện với nội dung như thế nào?

– Chúng tôi chỉ mô tả sơ lược tình hình và nói rằng chúng tôi sẽ rất vui nếu có thông tin nào hữu ích cho cuộc điều tra.

– Ông có đề nghị cung cấp thông tin chi tiết liên quan tới vấn đề nào ông cho là cốt lõi trong cuộc điều tra không?

– Tôi hỏi về Stangerson.

– Thế thôi sao? Ông không đề cập tới tình huống nào ông cho rằng vụ việc này có thể có liên quan sao? Ông sẽ không định gửi thêm bức điện nào nữa chứ?

– Tôi đã nói tất cả những gì mình cần phải nói rồi, – Gregson trả lời với giọng có vẻ bị xúc phạm.

Sherlock Holmes mỉm cười và đang định nhận xét vài lời thì Lestrade, nãy giờ vẫn ở trong phòng khách trong khi chúng tôi nói chuyện, quay trở lại, xoa hai tay vào nhau với một vẻ khoa trương và tự mãn.

– Anh Gregson, – ông ta nói, – tôi vừa mới phát hiện ra một điều cực kỳ quan trọng, một điều có lẽ sẽ bị chúng ta bỏ qua nếu như tôi không kiểm tra kỹ lưỡng các bức tường.

Đôi mắt của người đàn ông nhỏ bé này lấp lánh sáng khi ông ta nói và rõ ràng là ông ta đang phải cố nén niềm hân hoan đang trào lên trong lòng vì đã ghi điểm so với đồng nghiệp.

– Lại đây, - ông ta nói và quay trở vào trong phòng. Không khí trong căn phòng này đã trở nên nhẹ nhõm hơn sau khi cái xác đã được đưa đi. – Giờ hãy đứng ở đó.

Ông ta quẹt một que diêm vào đế giày, rồi đưa que diêm đã thắp sáng lên.

– Nhìn xem! - Ông ta nói một cách chiến thắng.

Lúc trước tôi đã mô tả rằng trên tường có vài chỗ giấy dán đã rách từng mảng. Trong một góc phòng, một tấm giấy lớn bị xé toang để lại một mảng tường trát vữa thô màu vàng nhạt. Trên đó có ghi nguệch ngoạc một chữ duy nhất: RACHE.

– Các ngài nghĩ sao? – Viên thanh tra kêu lên như một ông bầu đang giới thiệu show diễn của mình. – Dấu vết này bị bỏ qua bởi vì nó nằm trong góc tối nhất của căn phòng và không có ai nghĩ tới việc kiểm tra nơi đó cả. Kẻ giết người đã viết chữ này lên đó bằng máu của chính mình. Hãy nhìn dấu máu rỏ giọt trên tường đây này. Điều đó chứng tỏ người này có ý định tự tử. Nhưng tại sao người đó lại chọn cái góc này để viết từ đó? Tôi sẽ nói cho các ngài biết. Hãy nhìn cây nến trên bệ lò sưởi mà xem. Chắc chắn, lúc đó cây nến đang cháy và nếu đúng như vậy thì đây sẽ là góc sáng nhất chứ không phải là góc tối nhất trong căn phòng.

– Giờ anh đã tìm ra chữ đó rồi. Nhưng điều đó thì có nghĩa lý gì cơ chứ? – Gregson hỏi một cách giễu cợt.

– Nghĩa lý gì ư? Điều đó có nghĩa là người viết đang định viết tên của một người phụ nữ tên là Rachel, nhưng đã bị cắt ngang trước khi anh ta, hoặc là cô ta, kịp hoàn thành nốt từ đó. Hãy nhớ lấy lời tôi, khi vụ này được giải quyết, chắc chắn các ngài sẽ nhận thấy rằng có một người phụ nữ lên là Rachel liên quan tới vụ này. Ngài có thể cười nhạo tuỳ ngài, ngài Sherlock Holmes. Có thể ngài thông minh, sắc sảo, nhưng khi nào mọi sự đã rõ rằng ngài sẽ thấy rằng con chó săn già giàu kinh nghiệm bao giờ cũng là con đứng đầu.

– Tôi thành thật xin lỗi ngài! – người bạn đồng hành của tôi nói sau khi đã làm mếch lòng vị thanh tra bé nhỏ kia bằng một tràng cười lớn. – Chắc chắn chúng ta hoàn toàn có thể tin tưởng rằng ngài sẽ là người đầu tiên làm sáng tỏ vụ này, và, như ngài vừa nói, mọi dấu vết ở đây đều cho thấy rằng chữ đó là do một người thứ ba viết vào đêm qua. Tôi vẫn chưa có thời gian để kiểm tra căn phòng này, nhưng nếu ngài cho phép, tôi sẽ làm ngay bây giờ.

Vừa nói, anh vừa lôi ra từ trong túi một chiếc thước dây và một chiếc kính lúp to. Với hai dụng cụ này, anh bước đi nhẹ nhàng quanh căn phòng, đôi lúc dừng lại, thỉnh thoảng quỳ xuống, và một lần anh nằm úp mặt xuống sàn nhà. Anh mê mải tập trung vào công việc của mình đến nỗi anh dường như quên mất sự có mặt của chúng tôi bởi vì trong suốt thời gian đó, anh không ngớt lẩm bẩm một mình, liên tục thốt lên những câu cảm thán, huýt gió, kêu lên nho nhỏ cho thấy sự phấn khích và hy vọng. Khi tôi quan sát anh làm việc, tôi không thể ngăn mình liên tưởng tới một chú chó săn thuần chủng, được huấn luyện bài bản, kỹ càng đang lao tới lao lui quanh hang ổ của con mồi, rên ư ử một cách nóng ruột cho tới khi nó đánh hơi thấy con mồi. Trong khoảng hai mươi phút hay hơn một chút, anh tiếp tục cuộc nghiên cứu của mình, đo đạc một cách chính xác khoảng cách giữa các dấu vết dường như vô hình đối với tôi và thỉnh thoảng áp chiếc thước dây vào những bức tường một cách khó hiểu. Ở một chỗ, anh cẩn thận hớt lên một lớp bụi nhỏ màu xám vương trên sàn và bỏ vào trong một chiếc phong bì. Cuối cùng anh dùng chiếc kính lúp quan sát từ viết trên tường, đi lần lượt từng chữ một chính xác tới từng chi tiết. Xong việc, trông anh có vẻ hết sức hài lòng bởi vì anh đã cất chiếc thước dây và kính lúp vào lại trong túi áo.

– Người ta nói rằng thiên tài là những người có khả năng làm việc vô tận, – anh nhận xét với một nụ cười. – Đó quả là một định nghĩa tồi về thiên tài, nhưng nó lại áp dụng được một cách hoàn hảo trong công việc của một thám tử.

Gregson và Lestrade quan sát màn trình diễn của ông bạn thám tử nghiệp dư với vẻ tò mò tột độ cùng một chút thái độ coi thường. Rõ ràng là họ đã không đánh giá đúng mức tầm quan trọng của một sự thật, một sự thật mà tôi đã bắt đầu nhận ra, rằng ngay cả những hành động nhỏ nhặt nhất của Sherlock Holmes cũng là nhằm vào vào một cái đích chính xác và thiết thực.

– Ngài nghĩ sao về dấu vết đó? - cả hai cùng đồng thanh hỏi.

– Nếu như tôi giúp các ngài thì chắc chắn các ngài sẽ bị cướp trắng công lao trong vụ này đấy, – bạn tôi nói. – Cho tới thời điểm này các ngài đã làm rất tốt rồi. Cho nên, thật đáng tiếc nếu như có ai đó chen ngang vào thời điểm này. – Những lời anh nói chứa đầy sự chế nhạo và châm chọc. Rồi anh tiếp: – Nếu như các ngài cho tôi biết tiến triển của cuộc điều tra của các ngài tôi sẽ rất vui nếu có thể giúp đỡ được các ngài điều gì đó. Trong khi chờ đợi, tôi muốn nói chuyện với viên cảnh sát đã phát hiện ra cái xác. Các ngài có thể cho tôi biết tên và địa chỉ anh ta ở không?

Lestrade đưa mắt nhìn vào cuốn sổ tay. – John Rance, – ông ta trả lời. – Giờ anh ta đã hết ca trực và chắc đã về nhà nghỉ ngơi rồi. Ngài có thể tìm anh ta ở số 46, Audley Court, Kennington Park Gate .

Holmes ghi lại địa chỉ vào cuốn sổ ghi chép của anh.

– Đi thôi bác sĩ, – anh nói. – Chúng tôi sẽ tới thăm anh ta. Tôi sẽ nói cho các ngài một điều có thể giúp các ngài trong vụ này, – anh quay sang hai viên thanh tra nói tiếp. – Chắc chắn ở đây đã xảy ra một vụ giết người và thủ phạm là một người đàn ông. Anh ta cao khoảng hơn sáu feet, đang ở độ tuổi sung sức, có đôi chân hơi nhỏ so với chiều cao, mặc đồ cẩu thả, đi giày mũi vuông và hút thuốc lá hiệu Trichinopoly. Anh ta đã đến đây cùng với nạn nhân trên một cỗ xe bốn bánh và được kéo bởi một con ngựa đóng ba móng cũ và một móng sắt mới ở chân trước. Rất có khả năng kẻ giết người có khuôn mặt hồng hào và bàn tay phải để móng khá dài. Những điều tôi nói có lẽ chưa phải là nhiều nhưng cũng có thể giúp các ngài được phần nào.

Lestrade và Gregson nhìn nhau với một nụ cười hoài nghi.

– Nếu như người đàn ông này bị giết thì ông ta đã bị giết như thế nào? - Gregson hỏi.

– Đầu độc, – Sherlock Holmes nói cộc lốc và rảo chân bước đi. Khi tới cửa, anh quay lại và nói thêm: – Và còn một điều này nữa, Lestrade, từ "Rache" trong tiếng Đức có nghĩa là trả thù, vì vậy đừng tốn công vô ích vào việc tìm kiếm một người phụ nữ có tên là Rachel.

Với cú đập cuối cùng này, anh quay lưng bước đi để lại hai vị thanh tra thù nghịch nhau đứng há hốc mồm vì kinh ngạc.
 
Chỉnh sửa cuối:
454 ❤︎ Bài viết: 271 Tìm chủ đề
7. Chương 4: Lời kể của John Rance (1)

Lúc chúng tôi rời khỏi nhà số 3, Lauriston Gardens, thì đã là một giờ chiều. Sherlock Holmes đưa tôi tới bưu điện gần nhất. Ở đó, anh đã gửi đi một bức điện tín dài. Sau đó, anh vẫy một chiếc xe ngựa và yêu cầu người đánh xe đưa chúng tôi đến địa chỉ mà Lestrade vừa cho.

– Không có gì hữu ích bằng những chứng cứ mới toanh, – anh nói. – Tất nhiên, tôi đã có hướng khá chắc chắn để điều tra ra vụ này rồi nhưng chúng ta vẫn phải biết tất cả những gì cần biết.

– Anh làm tôi sửng sốt đấy, Holmes, - tôi nói. – Hóa ra là anh cũng không mấy chắc chắn về những chi tiết mà anh vừa đưa ra cho các vị thanh tra. Vậy mà tôi cứ nghĩ rằng anh phải chắc chắn mười mươi về những gì anh nói.

– Trong công việc này không có chỗ cho sai lầm, – anh trả lời. – Điều đầu tiên tôi để ý tới ngay khi vừa tới ngôi nhà đó là một chiếc xe ngựa đã tạo ra hai vết lún sâu khi ngựa bị ghìm cương rất chặt. Và thực tế là trước đêm hôm qua trời không hề có mưa trong vòng một tuần liền vì thế cỗ xe để lại một vết lún sâu đến như vậy chỉ có thể là đã tới đó sau trận mưa đêm hôm qua mà thôi. Có những dấu vết mà móng sắt của con ngựa kéo xe đã để lại, và có một vết để lại rõ nét hơn hẳn so với ba vết chân còn lại. Điều đó chứng tỏ móng ngựa mới được thay. Bởi vì cỗ xe đã ở đó sau khi trời mưa nhưng lại không hề có cỗ xe nào tới đó trong suốt buổi sáng – vì Gregson đã khẳng định điều này – nên có thể khẳng định rằng cỗ xe ngựa này đã tới đó vào ban đêm, và vì vậy, có thể khẳng định rằng đó chính là chiếc xe ngựa đã đưa hai người đó đến ngôi nhà.

– Nghe có vẻ rất đơn giản, – tôi nói. – Thế làm sao anh đoán được về chiều cao của người đàn ông còn lại?

– Tại sao ư? Người ta có thể khẳng định rõ mười mươi chiều cao của người đàn ông thông qua độ dài bước sải chân của ông ta. Đó chỉ là một phép tính đơn giản thôi mặc dù cũng chẳng ích gì khi tôi làm phiền anh với những con số. Tôi có được độ dài bước sải chân của người đàn ông này trên nền đất sét ẩm ướt ngoài vườn và cả trên lớp bụi trong phòng, và tôi có cách để kiểm tra việc tính toán của tôi. Khi một người viết chữ lên một bức tường, bản năng tự nhiên sẽ khiến anh ta viết trên tầm mắt mình một chút. Và tôi đã đo được độ cao từ đất tới nơi anh ta viết chữ là 6 feet. Đây chỉ là một trò trẻ con mà thôi.

– Thế còn tuổi của anh ta? – tôi hỏi.

– Ồ, nếu một người đàn ông có thể bước một bước chân dài bốn feet rưỡi mà không gặp một chút khó khăn nào thì chắc chắn anh ta phải là một người trung niên khoẻ mạnh và cường tráng. Đó cũng chính là độ rộng của vũng nước trên lối đi trong vườn mà chắc chắn là anh ta phải đi ngang qua. Người đi đôi giày da thuộc đã đi vòng qua vũng nước đó, nhưng người đàn ông đi đôi giày mũi vuông thì nhảy qua nó. Điều này chẳng có gì là bí ẩn cả. Tôi chỉ làm một việc đơn giản là áp dụng vào cuộc sống đời thường một số ít những quy tắc của khoa học quan sát và suy luận mà tôi đã viết trong bài báo đó. Còn điều gì khiến anh không hiểu nữa không?

– Chuyện về móng tay của ông ta và thuốc lá hiệu Trichinopoly mà anh ta hút, – tôi nói.

– Chữ viết trên tường được viết bằng cách nhúng ngón tay chỏ vào trong máu. Chiếc kính lúp của tôi cho phép tôi quan sát thấy là lớp vữa trên tường hơi bị cào xước. Điều này sẽ không thể xảy ra nếu như móng tay anh ta được cắt bằng. Tôi cũng đã lượm được một chút tàn thuốc trên sàn nhà. Tàn thuốc xám màu và dễ tan như bông tuyết. Tàn thuốc kiểu như thế chỉ có thể là từ điếu xì gà hiệu Trichinopoly. Tôi đã từng nghiên cứu về các loại tàn thuốc lá và thực tế là tôi còn viết cả một bài chuyên khảo về vấn đề này. Tôi cảm thấy tự hào rằng tôi có thể phân biệt được tàn của bất kỳ loại thuốc hay loại xì gà nào tồn tại trên thế giới này khi chỉ mới nhìn thoáng qua. Đó chính là những chi tiết khiến cho một thám tử lão luyện khác hẳn với những thám tử kiểu như Lestrade và Gregson.

– Thế còn về gương mặt hồng hào? - tôi hỏi.

– A, đó là một phán đoán liều lĩnh mặc dù tôi chắc chắn rằng tôi đúng. Anh không nên hỏi tôi điều đó khi vấn đề vẫn còn ở trong tình trạng hiện tại.

Tôi phác một cử chỉ qua trán và nhận xét: – Đầu óc tôi đang quay mòng mòng lên rồi. Càng nghĩ về vụ này, người ta càng cảm thấy nhiều điều bí ẩn. Làm thế nào mà hai người đàn ông có thể vào được trong căn nhà trống đó – nếu đúng là có hai người đàn ông thật? Người đánh xe đưa họ tới đó là ai? Làm thế nào mà thủ phạm giết người bắt ép được nạn nhân uống chất độc? Máu rớt trên sàn và máu viết trên tường từ đâu ra? Mục đích của vụ giết người này là gì, bởi vì tất cả đều khẳng định sự việc này không liên quan tới việc cướp của? Tại sao lại xuất hiện chiếc nhẫn của một người phụ nữ ở đó? Và trên hết là tại sao kẻ giết người lại phải viết từ Rache bằng tiếng Đức trước khi tẩu thoát? Tôi phải thừa nhận rằng tôi không biết làm cách nào để xâu chuỗi những sự kiện này lại với nhau.

Người bạn đồng hành của tôi mỉm cười với vẻ đồng tình và nói:

– Anh đã tóm tắt rất súc tích và rất thành công những khó khăn mà hiện giờ chúng ta cần phải giải quyết. Hiện tại vẫn còn rất nhiều điều mơ hồ mặc dù tôi đã định hình được một cách cơ bản vụ việc này. Còn về phát hiện của ông bạn Lestrade tội nghiệp, thật là sai lầm khi hướng cuộc điều tra của cảnh sát tới chủ nghĩa cộng sản và những tổ chức bí mật. Sự việc này không phải do một người Đức gây ra. Nếu như anh để ý, chữ A được viết phỏng theo kiểu viết chữ in của người Đức. Nhưng một người Đức thực sự bao giờ cũng viết chữ latin theo kiểu chữ latin vì thế chúng ta có thể khẳng định chắc chắn rằng đây không phải là chữ viết của một người Đức mà là của một kẻ mạo danh vụng về. Hắn ta đã làm hơi quá tay trong phần việc của mình. Việc viết chữ như vậy chỉ đơn giản là nhằm mục đích đưa cuộc điều tra của cảnh sát đi chệch hướng. Tôi sẽ không nói thêm gì nữa cho anh về vụ này đâu, bác sĩ ạ. Anh cũng biết là một nhà ảo thuật sẽ chẳng được lợi lộc gì khi đem phơi bày hết những kỹ thuật của mình ra trước thiên hạ. Và nếu như tôi giải thích cho anh quá cặn kẽ phương pháp làm việc của tôi thì chắc chắn anh sẽ đi tới một kết luận rằng cuối cùng thì tôi cũng chỉ là một kẻ hết sức bình thường như bao người khác mà thôi.

– Tôi sẽ không bao giờ nghĩ như vậy, – tôi trả lời. – Anh đã biến công việc điều tra của mình thành một khoa học của sự chính xác, một khoa học chưa từng ai trên thế giới này biết đến.

Người bạn đồng hành của tôi đỏ mặt vì hài lòng với những lời tôi vừa nói cùng cái cách hết sức chân thành mà tôi thốt ra những từ đó. Tôi đã nhận thấy rằng Holmes hết sức nhạy cảm với những lời người khác tán dương tài năng của anh giống như tình cảm của bất cứ một cô gái nào đối với sắc đẹp của mình.

– Tôi sẽ nói với anh một điều nữa, – anh nói. – Người đi đôi giày da thuộc và người đi đôi giày mũi vuông đến ngôi nhà đó trên cùng một chiếc xe ngựa và họ cùng bước trên lối đi trong vườn như hai người bạn thân thiết, rất có thể là tay trong tay. Khi họ bước vào trong nhà, họ còn đi lên đi xuống xăm xoi căn phòng – hay nói đúng hơn là người đi giày da thuộc đứng yên trong khi người đi giày mũi vuông đi lên đi xuống. Tôi biết được tất cả những điều đó thông qua lớp bụi trên sàn nhà và tôi còn có thể nhận thấy rằng càng bước đi, anh ta càng trở nên kích động. Điều này thể hiện rõ qua việc độ dài những bước chân của anh ta ngày càng tăng. Suốt thời gian đó, anh ta không ngừng nói và chắc chắn là cuối cùng anh ta bùng nổ trong một cơn giận dữ. Sau đó, thảm kịch đã xảy ra. Tôi đã nói cho anh tất cả những gì tôi biết bởi vì những điều còn lại chỉ là những ước đoán và giả định. Tuy nhiên, chúng ta cũng đã có một cơ sở khá vững chắc để bắt đầu rồi. Chúng ta cần phải nhanh lên vì tôi rất muốn chúng ta có kịp giờ để tới rạp hát Halle để nghe Norman Neruda biểu diễn tối nay.

-Còn tiếp-
 
Chỉnh sửa cuối:
454 ❤︎ Bài viết: 271 Tìm chủ đề
8. Chương 4: Lời kể của John Rance (2)

Cuộc nói chuyện vừa rồi của chúng tôi diễn ra trong khi cỗ xe của chúng tôi băng qua những con phố bẩn thỉu, dơ dáy và những đường tắt tối tăm. Trên một con phố bẩn thỉu nhất, tối tăm nhất, người đánh xe bất chợt dừng lại. – Bên trong kia là Audley Court, – anh ta nói và chỉ vào một con đường nhỏ xíu, hẹp như một khe hở giữa hai hàng gạch xỉn màu. – Tôi sẽ đợi các ngài ở đây.

Audley Court không phải là một nơi hấp dẫn gì cho lắm. Con đường nhỏ hẹp dẫn chúng tôi tới một cái sân bên trong, hai bên là những lá cờ và hàng dài những ngôi nhà tồi tàn, nhớp nhúa. Chúng tôi băng qua những đám trẻ con bẩn thỉu đang chơi đùa và những hàng dây nghênh ngang chăng đầy quần áo để tới căn hộ số 46. Cánh cửa căn hộ đó được trang trí bằng một tấm biển nhỏ bằng đồng thau khắc tên Rance. Khi hỏi thăm, chúng tôi được biết, viên cảnh sát đang ngủ và chúng tôi được dẫn vào một phòng khách nhỏ ngồi chờ anh ta.

Một lát sau, anh ta xuất hiện, trông có vẻ hơi bực mình vì giấc ngủ ngon bị phá vỡ. – Tôi đã báo cáo hết mọi việc ở sở cảnh sát rồi, – anh ta nói.

Holmes lôi ra một đồng nửa bảng từ trong túi và trầm ngâm mân mê đồng tiền. – Chúng tôi cho rằng, chúng tôi muốn được nghe lời khai từ chính miệng anh cơ, – anh nói.

– Tôi sẽ rất vui nếu như tôi có thể cung cấp cho các ngài thông tin gì đó, – viên cảnh sát trả lời, hai mắt dán chặt vào đồng tiền vàng nhỏ xíu trên tay Holmes.

– Chỉ cần kể cho chúng tôi nghe tất cả những gì anh đã chứng kiến theo cách của riêng anh thôi.

Rance ngồi xuống chiếc ghế sofa bọc bằng vải lông ngựa, lông mày nhíu lại như thể cố gắng nhớ để không bỏ sót bất cứ điều gì khi kể lại câu chuyện.

– Tôi sẽ kể lại từ đầu cho các ngài. Ca trực của tôi bắt đầu từ đêm cho tới sáu giờ sáng. Vào lúc mười một giờ, một cuộc ẩu đả xảy ra ở White Hart nhưng các quán bar ở khu vực tôi tuần tra đều yên ổn. Lúc một giờ, trời bắt đầu đổ mưa và tôi gặp Harry Murcher – khu vực tuần tra của anh ấy là ở Holland Grove – và chúng tôi đã đứng tán gẫu với nhau ở góc phố Henrietta. Sau đó, khoảng hai giờ hay hơn một chút, tôi nghĩ là mình cần phải đi một vòng xem ở đường Brixton có ổn không. Toàn bộ con đường bẩn thỉu, lầy lội và không một bóng người. Tôi không nhìn thấy bất cứ ai trên đường phố mặc dù có một hay hai chiếc xe ngựa có đi ngang qua tôi. Tôi đang rảo bước xuống phố và đang mải mê suy nghĩ rằng nếu lúc này có vài ly rượu gin vào người chắc chắn sẽ rất ấm áp thì bỗng nhiên tôi nhìn thấy một tia sáng phát ra từ ngôi nhà đó. Tôi đã biết rằng hai ngôi nhà ở Lauriston Gardens không có người ở bởi vì người chủ của một trong hai ngôi nhà đó không có họ hàng còn người sống ở ngôi nhà kia cũng đã chết vị bệnh thương hàn. Vì thế, tôi chợt chột dạ khi nhìn thấy ánh đèn phát ra từ cửa sổ và tôi e rằng có điều gì đó không ổn. Khi tôi tới gần cánh cửa chính..

– Anh đã dừng lại và sau đó quay trở lại chỗ cổng vườn, - người bạn đồng hành của tôi ngắt lời. – Tại sao anh lại làm như vậy?

Rance nhảy dựng lên và nhìn chằm chằm vào Sherlock Holmes với sự ngạc nhiên tột độ. Anh ta nói: – Đúng là như vậy thưa ngài, mặc dù tôi không biết làm thế quái nào mà ngài biết được điều đó. Chỉ có Chúa mới biết được. Ngài thấy đấy, khi tôi bước tới cánh cửa, mọi vật hoàn toàn yên tĩnh, lặng như tờ đến nỗi tôi đã nghĩ rằng thật là tệ vì tôi chỉ có một mình. Không phải là tôi không can đảm, nhưng tôi nghĩ rằng có thể đó chính là người nhà người đã chết vì bệnh thương hàn đang quay lại để tìm hiểu kiểm tra đồ đạc trong nhà. Cái ý nghĩ đó khiến cho chút gì thuộc về bản năng trong tôi trỗi dậy và tôi bước lại phía cánh cổng xem có nhìn thấy ánh đèn lồng của Murcher hay không. Nhưng không hề thấy anh ta, cũng như không thấy bóng một ai quanh đó cả.

– Không có ai trên phố sao?

– Không một ai thưa ngài cũng như không có lấy một con chó hoang. Sau đó, tôi định thần lại và quay trở lại căn nhà, đẩy cửa chính. Bên trong, tất cả đều tĩnh lặng vì vậy tôi bước vào trong căn phòng phát ra ánh sáng. Có một cây nến đang chập chờn cháy trên bệ lò sưởi, một cây nến màu đỏ, và dưới ánh sáng của nó, tôi nhìn thấy..

– Phải, tôi biết tất cả những gì anh nhìn thấy. Anh đi lại quanh căn phòng vài lần và anh quỳ xuống bên cái xác và sau đó anh đi kiểm tra khắp nơi, thử mở cửa phòng bếp. Tiếp theo..

John Rance nhảy dựng lên với gương mặt giận dữ và ánh mắt nghi hoặc. Anh ta kêu lên: – Lúc đó ngài ở đâu mà có thể nhìn thấy tất cả những chuyện đó? Tôi có cảm giác như ngài đã biết nhiều hơn rất nhiều so với những gì lẽ ra ngài nên biết rồi đấy.

Holmes cười lớn và ném một tấm danh thiếp lên bàn, đẩy về phía viên cảnh sát. Anh nói: – Anh không có ý định bắt tôi vì tội giết người đấy chứ? Tôi là một trong số những người săn mồi chứ không phải là con mồi. Ngài Gregson hay ngài Lestrade đều có thể chứng minh điều đó. Nào, tiếp tục đi. Sau đó anh làm gì tiếp?

Rance ngồi trở lại chỗ của mình nhưng vẫn còn chưa hết ngạc nhiên. – Tôi quay lại chỗ cổng vườn và thổi còi. Tiếng còi của tôi đã gọi Murcher và hai người khác nữa tới hiện trường.

– Lúc đó đường phố có còn vắng vẻ nữa không?

– Ồ, đường phố hoàn toàn vắng vẻ ngoại trừ một gã đến đứng còn không nổi.

– Ý anh là sao?

Gương mặt viên cảnh sát ngay lập tức giãn ra với nụ cười ngoác tới tận mang tai. – Trong những ca trực của mình, tôi đã gặp rất nhiều gã say rượu nhưng chưa bao giờ tôi gặp một gã say rượu hò hét ác như thằng cha đó. Lúc tôi ra tới ngoài cửa thì thấy hắn ta đang đứng tựa người vào hàng rào và hát đến vỡ phổi bài hát về Ngọn cờ mới ở Colombia hay những thứ đại loại như thế. Anh ta thậm chí còn không đứng vững chứ đừng nói tới chuyện giúp đỡ.

– Trông anh ta thế nào? – Sherlock Holmes hỏi.

John Rance tỏ ra có vẻ tức tối vì sự cắt ngang này của Holmes. – Anh ta là một gã say rượu kỳ quặc. Chắc chắn khi tỉnh dậy anh ta sẽ thấy mình đang nằm ở nhà ga nếu như chúng tôi không giúp đỡ anh ta.

– Mặt mũi anh ta, quần áo anh ta như thế nào? Anh không để ý đến chúng sao? – Holmes mất kiên nhẫn cắt ngang.

– Tôi có để ý thấy chứ vì ngài biết đấy, tôi đã vực anh ta dậy cơ mà. Tôi và Murcher, cùng xốc anh ta dậy. Anh ta là một gã cao, ặơng mặt đỏ au. Phần thân dưới được cuốn quanh..

– Chắc chắn là như thế rồi, – Holmes kêu lên. – Rồi anh ta đi đâu?

– Chúng tôi đã có đủ việc phải làm rồi, đâu còn thì giờ mà quan tâm tới anh ta, – viên cảnh sát nói, giọng có vẻ bực mình. – Tôi có thể khẳng định là từ đó anh ta có thể tìm đường về nhà một cách ổn thỏa.

– Anh ta ăn mặc như thế nào?

– Một chiếc áo choàng màu nâu.

– Anh ta có cầm một chiếc roi da trong tay không?

– Một chiếc roi da ư? Không!

– Chắc hẳn là anh ta đã bỏ lại chiếc roi ngựa, – anh bạn tôi lẩm bẩm. – Sau đó anh không tình cờ trông thấy hay nghe thấy tiếng một cỗ xe ngựa đi qua sao?

– Không.

– Đây là đồng nửa bảng dành cho anh, – bạn tôi nói, đứng lên và với mũ. – Rance, tôi e rằng anh sẽ không bao giờ mọc mũi sủi tăm lên được trong lực lượng cảnh sát đâu. Cái đầu của anh chỉ có thể được sử dụng như một thứ đồ trang sức mà thôi. Lẽ ra đêm hôm qua anh đã có thể lập công để ghi thêm một vạch sao trên ve áo rồi đấy. Người đàn ông mà anh dìu trong tay mình chính là người đàn ông nắm đầu mối của vụ việc này và cũng là người mà chúng tôi đang tìm kiếm. Giờ có tranh cãi về vấn đề này cũng chẳng ích gì. Anh chỉ cần nhớ điều tôi vừa nói với anh mà thôi. Đi thôi, bác sĩ.

Chúng tôi cùng nhau rời khỏi khu nhà đó, để lại đằng sau viên cảnh sát đứng đó hoài nghi nhưng rõ ràng là chẳng mấy thoải mái về những gì vừa được nghe.

– Đúng là một thằng ngốc vụng về, ngớ ngẩn! – Holmes nói một cách cay đắng khi chúng tôi trên đường trở về nhà. – Hãy thử nghĩ mà xem, anh ta đã có được cái may mắn nghìn năm có một như vậy mà không biết nắm bắt lấy nó.

Tôi vẫn còn cảm thấy rất mờ mịt. Rõ ràng là mô tả nhận dạng của người đàn ông đó trùng khớp với những gì anh nói về một người thứ hai trong vụ này. Nhưng tại sao anh ta lại quay trở lại ngôi nhà sau khi đã trốn khỏi đó rồi? Đó không phải là cách mà những tên tội phạm thường làm.

– Chiếc nhẫn, anh bạn ạ, vì chiếc nhẫn mà anh ta phải quay trở lại. Nếu như chúng ta không còn cách nào khác để tóm được anh ta thì chúng ta sẽ phải dùng chiếc nhẫn như miếng mồi nhử. Tôi sẽ tóm được hắn ta bác sĩ ạ. Tôi dám cá một gấp đôi với anh rằng tôi sẽ tóm được hắn ta. Tôi cần phải cảm ơn anh vì tất cả những điều này. Tôi đã không bao giờ tham gia vụ này nếu như không phải là vì anh. Và nếu thế, tôi sẽ bỏ lỡ mất một vụ án hoàn hảo nhất mà tôi từng gặp: Vụ án màu đỏ được không? Tại sao chúng ta lại không thể dùng một thuật ngữ nghệ thuật để đặt tên cho nó nhỉ? Có một sợi dây giết người nhuộm máu đỏ xuyên suốt một cuộn chỉ rối rắm không màu sắc, đó là cuộc đời và nhiệm vụ của chúng ta là phải tháo gỡ cuộn chỉ đó, chia tách thành sợi nhỏ và bóc trần từng milimét trong cái cuộn chỉ đó. Còn bây giờ, chúng ta sẽ đi ăn trưa, sau đó sẽ tới xem buổi biểu diễn của Norman Neruda. Phong cách biểu diễn và màn cúi chào của cô ấy thật tuyệt vời. Đoạn nhạc đó của Sô panh cô ấy chơi mới tuyệt vời làm sao: Tra-la-la-lira-lira-lay.

Ngả người vào sâu trong xe, vị thám tử lừng danh hát líu lo như một con chim chiền chiện trong khi tôi ngồi đó, chìm vào suy ngẫm về những phần còn tiềm ẩn của tâm trí con người.
 
Chỉnh sửa cuối:
454 ❤︎ Bài viết: 271 Tìm chủ đề
9. Chương 5: Mẩu quảng cáo của chúng tôi đưa tới một vị khách

Những công việc đòi hỏi sự tập trung suy nghĩ và gắng sức có vẻ hơi nhiều đối với sức khoẻ vẫn còn yếu ớt của tôi vì vậy, đến buổi chiều, tôi cảm thấy kiệt sức. Sau khi Holmes rời nhà đi xem hát, tôi ngả người trên ghế sofa và cố gắng chợp mắt một hai giờ. Nhưng mọi cố gắng đều vô ích. Tâm trí tôi đã bị kích thích quá mạnh bởi tất cả những điều đã xảy ra cùng những tưởng tượng và phỏng đoán kỳ cục xung quanh sự việc đó. Cứ khi nào nhắm mắt lại, trước mắt tôi đều hiện ra khuôn mặt méo mó như một con khỉ đầu chó của người đàn ông bị giết. Ấn tượng về hình ảnh đó trong tâm trí tôi kinh hoàng và khủng khiếp đến nỗi tôi thật khó có thể cảm thấy điều gì khác ngoài việc cảm ơn người đã góp phần đẩy chủ nhân của cái đầu khủng khiếp đó ra khỏi thế giới này. Nếu như có những nét nào đó trên khuôn mặt một con người có thể hiển hiện trên đó tất cả sự xấu xa, đồi bại của những kẻ hiểm ác và xảo quyệt nhất thì chắc chắn chúng phải thuộc về người có tên Enoch J. Drebber đến từ Cleveland. Tuy nhiên, tôi vẫn ý thức được rằng công lý cần phải được thực thi và trong con mắt của luật pháp thì sự đồi bại và xấu xa của nạn nhân cũng không thể được coi là cái cớ của việc phạm tội.

Càng nghĩ về điều đó, tôi càng nhận thấy giả thuyết là người đàn ông này đã bị đầu độc của người bạn đồng hành của tôi càng kỳ lạ. Tôi nhớ lại việc anh đã ngửi môi nạn nhân như thế nào và tin chắc rằng hẳn là anh phải phát hiện ra điều gì đó thì ý nghĩ đó mới nảy ra trong đầu anh. Nếu không phải là bị đầu độc thì tại sao người đàn ông đó lại chết bởi vì trên người nạn nhân không hề có thương tích cũng như không hề có dấu hiệu bị bóp cổ. Vậy thì máu của ai đã dây đầy trên sàn nhà? Không hề có dấu hiệu của sự vật lộn, nạn nhân cũng không hề có bất cứ thứ vũ khí nào trên người có thể làm cho địch thủ bị thương. Chừng nào mà những vấn đề này chưa được giải đáp thì tôi còn cảm thấy giấc ngủ là một tiện nghi quá xa xỉ đối với Holmes và cả tôi nữa. Phong thái tự tin và lặng lẽ của anh khiến tôi tin rằng anh đã có được một giả thuyết có thể giải thích được tất cả những sự kiện mà mọi người còn đặt câu hỏi mặc dù giả thuyết đó là gì thì tôi không thể nào đoán được.

Hôm đó, anh trở về rất muộn, đến nỗi tôi tin chắc rằng không phải anh đã giành toàn bộ thời gian đó cho buổi hòa nhạc. Bữa tối đã được chuẩn bị sẵn chờ anh.

– Thật tuyệt vời, – anh nói khi ngồi vào bàn. – Anh có nhớ Darwin đã nói gì về âm nhạc không? Ông ấy nói rằng khả năng sáng tạo và thưởng thức âm nhạc trong loài người đã tồn tại từ rất lâu trước cả khi con người biết tới ngôn ngữ. Có lẽ đó là lý do tại sao âm nhạc luôn tác động tới tất cả chúng ta một cách rất tinh tế và huyền diệu. Trong tâm hồn chúng ta luôn tồn tại những ký ức mơ hồ về những thế kỷ mù sương, khi thế giới này còn ở thuở sơ khai.

– Đó là một ý tưởng khá rộng và bao quát, – tôi nhận xét.

– Ý tưởng của một con người chắc chắn cũng sẽ rộng lớn và bao trùm như tự nhiên nếu như chúng được sử dụng để giải thích về tự nhiên, – anh trả lời. – Có vấn đề gì vậy? Anh trông khác quá. Có phải vụ ở đường Brixton đã khiến anh không được thoải mái không?

– Phải thành thực mà nói là đúng vậy, – tôi trả lời. – Tôi đã từng trải và cứng rắn hơn sau những năm tháng ở Afghanistan. Tôi đã từng chứng kiến những đồng đội của mình bị thương, mất từng phần thân thể ở Maiwand mà không hề run sợ.

– Tôi có thể hiểu được điều này. Trong vụ này, còn có một bí ẩn bao trùm toàn bộ sự việc. Chính nó đã kích thích trí tưởng tượng. Nếu không có sự tưởng tượng, sẽ chẳng bao giờ có nỗi sợ hãi. Anh đã đọc tờ báo buổi tối chưa?

– Chưa.

– Tờ báo đưa khá nhiều tin bài về vụ việc này. Nhưng không bài báo nào đề cập đến việc khi người đàn ông được khiêng đi thì một chiếc nhẫn của phụ nữ rơi xuống. Cũng thật may là chúng không đề cập tới chi tiết này.

– Tại sao?

– Hãy đọc mẩu quảng cáo này xem, – anh trả lời. – Tôi đã gửi một mẩu tin cho tất cả các tờ báo vào buổi sáng hôm nay ngay sau khi chúng ta rời khỏi hiện trường.

Anh ném tờ báo qua bàn cho tôi và ngay lập tức, tôi nhìn vào chỗ anh vừa chỉ. Mẩu tin được đăng đầu tiên trong cột – Tìm thấy – ở mục quảng cáo. Mẩu tin đó như sau: – Sáng nay, trên đường Brixton, tôi có nhặt được một chiếc nhẫn vàng trơn trên phố ở góc giữa đường White Hart Tavern và Holland Grove. Liên hệ: Bác sĩ Watson, số 21B, phố Baker từ tám đến chín giờ tối.


– Thứ lỗi vì tôi đã mượn tên anh, – anh nói. – Nếu tôi đề tên tôi, vài kẻ ngu ngốc sẽ nhận ra và muốn can thiệp vào vụ này.

– Không sao, – tôi trả lời. – Nhưng nếu như có ai đó tới theo mẩu quảng cáo này thì tôi cũng chẳng có chiếc nhẫn nào cả.

– Ồ, có, anh có chứ, – anh nói và trao cho tôi một chiếc nhẫn. – Chiếc nhẫn này khá ổn đấy. Nó gần như một bản sao của chiếc nhẫn thật.

– Vậy anh nghĩ là ai sẽ đáp lại mẩu quảng cáo này?

– Ai ư? Người đàn ông mặc chiếc áo choàng màu nâu – anh bạn mặt đỏ với những ngón chân vuông của chúng ta. Nếu như không phải chính hắn ta đến thì chắc chắn hắn ta sẽ phái một đồng bọn đến.

– Hắn ta sẽ không nghĩ rằng việc đó quá nguy hiểm sao?

– Không hề. Nếu những nhìn nhận của tôi về vấn đề này là đúng, và tôi có đầy đủ lý do để tin rằng nhìn nhận của tôi đúng, thì người đàn ông này có thể chấp nhận bất kỳ nguy hiểm nào ngoại trừ việc mất chiếc nhẫn. Theo như tôi nghĩ, hắn ta đã làm rơi chiếc nhẫn khi cúi xuống bên xác Drebber. Ngay lúc đó, hắn ta đã không biết điều đó. Nhưng sau khi rời khỏi ngôi nhà, hắn ta đã phát hiện ra bị mất chiếc nhẫn và vội vàng quay trở lại nhưng cảnh sát đã xuất hiện ở đó bởi việc làm ngu ngốc của hắn là để lại ngọn nến còn cháy trong phòng. Hắn ta đành phải giả vờ là kẻ đang say khướt nhằm dập tắt sự nghi ngờ của cảnh sát về việc hắn đột nhiên xuất hiện ở ngay cánh cổng ngôi nhà vừa xảy ra án mạng. Bây giờ, hãy thử đặt mình vào vị trí của người đàn ông đó. Hãy suy nghĩ thật kỹ toàn bộ vấn đề. Hoàn toàn có khả năng hắn sẽ nghĩ rằng có thể mình đánh rơi chiếc nhẫn ở trên đường, sau khi rời khỏi ngôi nhà, chứ không phải là ở hiện trường. Vậy thì hắn ta sẽ làm gì sau đó? Hắn ta sẽ vội vã tìm trong mục quảng cáo trên các tờ báo buổi tối với hy vọng có thể tìm thấy vật mà hắn cần giữa những vật người ta tìm thấy và rao trên báo. Và tất nhiên, mắt hắn sẽ không thể bỏ qua được mẩu tin này. Hắn ta sẽ quá sung sướng. Tại sao hắn ta lại phải lo lắng về một cái bẫy nhỉ? Sẽ chẳng có lý do gì khiến hắn có thể nghi ngờ rằng việc tìm thấy chiếc nhẫn sẽ có mối liên quan tới vụ giết người. Hắn ta sẽ đến. Hắn ta sẽ đến. Trong vòng một giờ nữa, chúng ta sẽ gặp hắn.

– Và sau đó thì sao? – tôi hỏi.

– Ồ, sau đó anh có thể để mặc tôi đối phó với hắn ta. Anh có vũ khí gì không?

– Tôi vẫn còn khẩu súng từ khi phục vụ trong quân đội và vài băng đạn.

– Anh nên lau chùi lại nó và nạp đạn đi. Hắn ta có thể là một gã hết sức liều lĩnh. Và mặc dù tôi sẽ cố gắng để hắn không nghi ngờ gì nhưng tốt hơn hết là chúng ta vẫn nên chuẩn bị tinh thần cho mọi trường hợp.

Tôi về phòng mình và tuân theo lời khuyên của anh. Khi tôi trở lại với khẩu súng lục, bàn ăn đã được dọn sạch và Holmes đang chú tâm vào công việc ưa thích của mình là dạo một bản nhạc với cây đàn violon của mình. Khi tôi bước vào anh nói:

– Các tình tiết đã dần khít lại. Tôi vừa mới nhận được câu trả lời cho bức điện tôi mới gửi tới Mỹ. Nhận định của tôi về vụ này hoàn toàn đúng.

– Và đó là.. – tôi vội vã hỏi.

– Cây đàn của tôi cần phải thay dây mới rồi, – anh nói. – Hãy cất súng của anh vào túi đi. Khi nào gã đó đến, hãy nói chuyện với hắn ta một cách bình thường. Phần còn lại cứ để tôi. Đừng nhìn vào hắn chằm chằm khiến cho hắn hoảng sợ.

– Giờ đã là tám giờ rồi, – tôi nhìn vào đồng hồ và nói.

– Phải. Có lẽ hắn ta sẽ tới đây trong vài phút nữa thôi. Mở hé cửa ra. Thế. Giờ hãy tra chìa khóa vào phía bên trong. Cám ơn anh! Đây là cuốn sách cũ rất lạ mà hôm qua tôi vừa mới mua được ở hiệu sách – De Jure inter Gentes – được xuất bản bằng tiếng La tinh ở Liége, Hà Lan và năm 1642. Cái đầu của Charles vẫn yên vị trên vai ông ta trong khi cuốn sách này đã bị xóa sổ.

– Của nhà xuất bản nào vậy?

– Philippe de Croy. Chẳng biết là ai nữa. Trên trang giấy trắng đầu cuốn sách có một dòng chữ viết bằng mực nhưng đã khá mờ "Ex libris Guliolmi Whyte". Tôi tự hỏi không biết William Whyte là ai. Có lẽ là một luật sư thực dụng nào đó ở thế kỷ mười bảy. A, tôi nghĩ là vị khách của chúng ta đến rồi đấy.

Anh nói khi vừa nghe thấy tiếng chuông cửa vang lên. Sherlock Holmes nhẹ nhàng bật dậy và dịch cái ghế của anh quay lại theo hướng cửa ra vào. Chúng tôi nghe thấy tiếng chân người phục vụ đi qua sảnh và tiếng khóa lách cách khi bà mở cửa.

– Bác sĩ Watson sống ở đây phải không? – một giọng nói rõ ràng nhưng hơi khàn khàn cất lên. Chúng tôi không nghe thấy tiếng người phục vụ trả lời nhưng cửa đóng lại và ai đó bắt đầu leo lên cầu thang. Tiếng bước chân có vẻ không chắc chắn và khá ngập ngừng, run rẩy. Một thoáng ngạc nhiên lướt trên gương mặt Holmes khi anh nghe thấy tiếng chân đó. Tiếng chân chậm rãi đi trên hành lang và một tiếng gõ yếu ớt vang lên ngoài cửa phòng chúng tôi.

– Xin mời vào, – tôi nói.

Vừa dứt lời, thay vì một người đàn ông mạnh khoẻ như chúng tôi chờ đợi, một người phụ nữ rất già nua, da nhăn nheo tập tễnh bước vào căn phòng. Dường như bà ta hơi bị chói mắt vì ánh sáng tràn ngập trong căn phòng bất ngờ ập vào mắt. Sau khi cúi chào, bà ta đứng đó, hấp háy nhìn chúng tôi bằng con mắt mờ đục, tay sờ soạng trong túi một cách căng thẳng, những ngón tay run rẩy. Tôi đưa mắt nhìn Holmes. Gương mặt anh lộ rõ một vẻ thất vọng đến nỗi cố gắng lắm tôi mới giữ được nét mặt bình thường.

Bà già rút ra một tờ báo và chỉ vào mục quảng cáo. – Đây chính là thứ đã đưa tôi đến đây thưa các quý ngài tốt bụng, – bà ta nói và lại cúi chào một lần nữa, – chiếc nhẫn cưới vàng trơn trên đường Brixton. Đó là chiếc nhẫn của con gái tôi Sally. Nó kết hôn cách đây mười hai tháng và chồng nó là một bồi bàn trên tàu viễn dương. Tôi thật không dám nghĩ con rể tôi sẽ nói gì nếu khi quay trở về mà không thấy chiếc nhẫn cưới trên tay con gái tôi. Nó là kẻ cục cằn, thô lỗ nhất là khi rượu vào. Nếu các ngài muốn biết thì đêm qua, nó đã đi xem hát với..

– Có phải chiếc nhẫn này là của cô ấy không? – tôi hỏi.

– Ôi, tạ ơn Chúa! – bà già kêu lên. – Sally chắc hẳn sẽ là người phụ nữ cảm thấy sung sướng nhất tối nay. Đúng là chiếc nhẫn đó rồi.

– Và địa chỉ của bà là? – tôi hỏi và cầm lấy chiếc bút chì trên bàn.

– Số 13 phố Duncan, Houndsditch. Cách đây rất xa.

– Nhưng đường Brixton không nằm giữa Houndsditch và bất cứ rạp hát nào, – Sherlock Holmes tinh ranh nói.

Bà già quay ngoắt lại và nhìn xăm xoi vào Holmes với đôi mắt ti hí, viền mắt đỏ lựng. – Quý ngài đây hỏi địa chỉ của tôi. – Bà ta nói. – Còn Sally ở số 3, Mayfield Place, Peckham.

– Và tên bà là gì?

– Tên tôi là Sawyer, tên của nó là Dennis kể từ khi nó kết hôn với Tom Dennis – một chàng trai thông minh, sạch sẽ, bóng bẩy khi ở trên tàu, một bồi bàn tuyệt vời. Nhưng khi lên bờ, với đàn bà và với những chai rượu..

– Nhẫn của bà đây bà Sawyer, – tôi ngắt lời khi nhận được tín hiệu đồng tình từ Holmes. – Rõ ràng nó là của con gái bà, và tôi cảm thấy rất vui khi trả được nó về cho đúng chủ nhân của mình.

Sau khi lẩm bẩm vài lời cầu nguyện và cảm ơn chúng tôi, bà già nhét chiếc nhẫn vào túi và rồi lê bước xuống cầu thang. Ngay khi bà ta vừa ra khỏi cửa, Sherlock Holmes lập tức bật dậy. Hai phút sau, anh đã quay trở lại, trên người là chiếc áo choàng và đã kịp thắt caravat. – Tôi sẽ bám theo bà ta, – anh nói và vội vã ra đi. – Bà ta chắc chắn là một đồng bọn và sẽ dẫn tôi tới chỗ hắn ta. Đợi tôi nhé. – Cánh cửa dưới nhà vừa đóng lại thì Sherlock Holmes cũng bắt đầu bước xuống cầu thang. Nhìn qua khung cửa sổ, tôi thấy bà già run rẩy đi dọc theo một bên phố còn Holmes đi cách bà ta một đoạn không đổi và bám theo. – Hoặc là toàn bộ giả thuyết của anh ấy là sai lầm, nếu không thì anh ấy sắp khám phá được chân tướng sự việc rồi, – tôi nghĩ thầm.

Thực ra Holmes không cần nhắc tôi phải thức đợi anh bởi vì tôi cảm thấy mình sẽ chưa thể ngủ được chừng nào chưa được biết về kết quả chuyến đi của anh.

Lúc anh rời khỏi nhà đã là gần chín giờ tối. Tôi không biết anh đã ra ngoài hết bao lâu nhưng tôi đăm đăm với cái tẩu thuốc trên môi và đọc lướt qua từng trang cuốn Cuộc sống của người Bô hê miêng của tác giả Henri Murger. Hơn mười giờ, tôi nghe thấy tiếng chân người hầu gái hướng tới buồng ngủ. Mười một giờ, tiếng bước chân của bà chủ nhà cũng vang lên trên hành lang ngoài phòng tôi để về phòng. Gần mười hai giờ, tôi mới nghe thấy tiếng Holmes mở chốt cửa. Ngay khi anh vừa bước vào phòng, nhìn vẻ mặt anh, tôi đã biết anh không thành công. Buồn cười và thất vọng, chán nản dường như đang đấu tranh để được làm chủ và rồi cuối cùng anh bật lên một tràng cười ngặt nghẽo.

– Tôi sẽ không bao giờ để cho những thanh tra của sở cảnh sát Scotland Yard biết được chuyện này đâu, – anh kêu lên và buông mình xuống ghế. – Tôi đã chế giễu và bỡn cợt họ quá nhiều đến nỗi họ sẽ không bao giờ từ bỏ cơ hội này để thêm mắm thêm muối bôi nhọ tôi. Tôi có thể cười bởi vì tôi biết rằng tôi sẽ còn sát cánh cùng họ trong một thời gian dài nữa.

– Vậy đã xảy ra chuyện gì?

– Ồ, tôi cũng không ngại kể lại chuyện chẳng mấy hay ho cho tôi đâu. Cái bà già đó đi bộ được một quãng thì bắt đầu khập khiễng và chắc hẳn đã bị sưng chân. Lập tức, bà ta dừng lại và vẫy một chiếc xe ngựa vừa chạy ngang qua. Tôi cố gắng đi gần lại để nghe được địa chỉ mà bà ta nói, nhưng thực ra tôi cũng chẳng cần phải bận tâm về điều đó bởi vì bà ta hét to đến nỗi đủ để người đứng tận bên kia đường cũng nghe thấy được. – Số 11 Phố Duncan, Houndsditch, – bà ta hét lên. Vậy là đã đến lúc chúng ta tìm được thủ phạm rồi, tôi thầm nghĩ như vậy và yên tâm vì chiếc xe của bà già vẫn nằm trong tầm ngắm còn tôi thì bám theo sau. Bám theo đối tượng là một nghệ thuật mà bất cứ một thám tử nào cũng phải trở thành một chuyên gia. Vậy là chúng tôi chạy xe và không nới lỏng cương ngựa cho tới khi chúng tôi tới con phố mà bà ta yêu cầu. Tôi xuống xe trước khi chúng tôi tới cửa ngôi nhà đó rồi thư thả đi bộ xuống con phố. Tôi nhìn thấy cỗ xe ngựa dừng lại. Người lái xe nhảy xuống và tôi thấy anh ta mở cửa xe và đứng chờ đợi một cách hy vọng. Nhưng chẳng có ai bước ra khỏi xe cả. Khi tôi đến gần anh ta, anh ta đang điên cuồng lục soát thùng xe trống không và văng ra hỗn hợp những câu chửi thề mà trong đời mình tôi chưa từng nghe thấy. Không có bất kỳ một dấu vết nào của vị khách lúc trước vẫy xe để lại. Sau khi hỏi thăm những người sống ở số nhà 13, chúng tôi được biết rằng ngôi nhà này thuộc về một người thợ dán giấy tường đáng kính tên là Keswick và chưa ai từng nghe thấy ai có cái tên Sawyer hay Dennis sống ở đó cả.

– Không phải anh định nói rằng cái bà già yếu ớt, bước đi còn không vững đó có thể biến mất khỏi cỗ xe ngựa trong khi nó vẫn đang chạy đều đều trên đường mà cả người đánh xe lẫn anh đều không hề hay biết sao? – tôi kêu lên sửng sốt.

– Bà già cái chết tiệt gì! – Sherlock Holmes điên tiết nói. – Chính chúng ta mới là những bà già chậm chạp và ngu ngốc khi để bị lừa dễ dàng đến thế. Chắc chắn đó là một gã trai tráng, khoẻ mạnh và rất hoạt bát nữa. Ngoài ra, hắn ta còn là một diễn viên kiệt xuất. Hắn ta đã hết sức sáng tạo. Chắc chắn là hắn ta đã phát hiện ra mình bị theo dõi và sử dụng cách này để cắt đuôi. Tôi có thể nhận thấy rằng người đàn ông mà chúng ta đang theo dõi không hành động một mình như tôi vẫn tưởng mà hắn ta phải có đồng bọn, những kẻ sẵn sàng liều mình vì hắn ta. Ồ, bác sĩ, trông anh mệt mỏi quá. Hãy nghe lời tôi, đi nghỉ một chút đi.

Quả thực là tôi cảm thấy toàn thân đang rệu rã, vì vậy tôi nghe theo lời khuyên của anh ngay lập tức. Tôi để Holmes ngồi đó, trước lò sưởi vẫn đang âm ỉ cháy và rất lâu sau, khi đồng hồ đã điểm rất muộn rồi, tôi vẫn còn nghe thấy tiếng đàn violon nho nhỏ vang lên buồn bã và tôi biết rằng anh vẫn còn đang ngẫm nghĩ về sự việc kỳ lạ mà anh quyết tâm khám phá bằng được.
 
Chỉnh sửa cuối:
454 ❤︎ Bài viết: 271 Tìm chủ đề
10. Chương 6: Tobias Gregson chứng tỏ khả năng của mình (1)

Ngày hôm sau, trên các mặt báo đều đăng tải thông tin về: Bí ẩn trên đường Brixton, cái tên mà báo chí đặt cho vụ việc này. Mỗi tờ báo đều có một bài tường thuật dài về vụ việc này và một số còn đưa ra thêm những phán đoán. Trong số những bài báo đó cũng có những thông tin mới đối với tôi. Trong những cuốn sổ ghi chép cũ kỹ của tôi vẫn còn lưu lại những bài báo, những đoạn trích mô tả về sự việc này được cắt ra từ những tờ báo thời đó. Đây là một trong những đoạn mô tả súc tích nhất về vụ việc này:

Tờ Daily Telegraph nhận định rằng trong lịch sử các vụ phạm tội, hiếm có thảm kịch nào có nhiều nét kỳ lạ và bí ẩn như vụ này. Nạn nhân mang một cái tên đậm chất Đức, không hề có một dấu hiệu nào tiết lộ động cơ của việc phạm tội, chữ viết bằng máu trên tường; tất cả đều chứng tỏ có sự dính líu của những người tị nạn chính trị hoặc của cộng sản. Chủ nghĩa cộng sản có thể có chân rết ở Mỹ và chắc hẳn là người bị giết đã vi phạm những luật lệ bất thành văn của họ và vì vậy anh ta đã bị theo đuổi tới tận đây. Sau khi nói bóng gió một cách hài hước đến Vehmgericht, tới Carbonari, tới Marchioness de Brinvilliers, tới học thuyết của Darwin, tới những nguyên lý của Malthus và tới những kẻ giết người trên đường Ratcliff, bài báo kết luận bằng cách đưa ra những lời khuyên đối với chính phủ và ủng hộ việc giám sát chặt chẽ hơn nữa những người nước ngoài đang sống ở Anh.

Tờ Standard nhận xét rằng những hành động dã man, vô đạo đức như thế này vẫn thường xảy ra dưới một xã hội dân chủ. Chúng nảy sinh từ đầu óc đáng lo ngại của số đông và là hậu quả của sự yếu kém của các cơ quan chức năng. Người bị giết là một quý ông người Mỹ, người đã từng sống nhiều tuần ở thủ đô. Ông ta đã trọ trong nhà trọ của quý bà Charpentier ở Torquay Terrace, Camberwell. Ông ta được thư ký riêng là ông Joseph Stangerson hộ tống trong cuộc hành trình này. Hôm thứ ba ngày mùng bốn, hai người này đã chào tạm biệt bà chủ nhà trọ và tới ga Euston với ý định khá công khai là sẽ đón chuyến tàu tới Liverpool. Sau đó người ta còn nhìn thấy hai người này đi cùng nhau trên sân ga. Kể từ đó, người ta không nghe được tin tức gì khác về hai người bọn họ cho tới khi xác của ông Drebber được phát hiện trong một ngôi nhà bỏ không trên đường Brixton, cách Euston nhiều dặm. Ông ta đã tới Brixton như thế nào? Hay ông ta đã chết như thế nào? Tất cả những câu hỏi này vẫn còn đang là một ẩn số. Cũng không ai biết hiện giờ Stangerson đang ở đâu. Nhưng chúng tôi cảm thấy rất vui mừng khi biết rằng ngài Lestrade và ngài Gregson, thanh tra sở cảnh sát Scotland Yard, đang cùng điều tra vụ việc này và người ta tin tưởng chắc chắn rằng hai vị thanh tra tài năng này sẽ nhanh chóng đưa sự việc này ra ánh sáng.

Tờ Daily News thì cho rằng chẳng có lý do gì để phủ nhận đây là một vụ phạm tội có liên quan tới chính trị. Chế độ chuyên quyền và việc ngăn cản chủ nghĩa tự do đã khiến cho rất nhiều người vượt biên tới lục địa. Những người này có thể là những công dân tuyệt vời nếu như họ không bị dày vò bởi ký ức về những gì họ đã phải trải qua. Giữa những người này có một mật mã hết sức nghiêm ngặt về danh dự và chữ tín. Bất cứ ai vi phạm điều này cũng sẽ bị trừng phạt bằng cái chết. Mọi nỗ lực đang được tập trung để tìm kiếm viên thư ký, Stangerson, và để tìm ra những thói quen đặc biệt của người bị hại. Cảnh sát đã đạt được một bước tiến vượt bậc trong quá trình điều tra khi tìm ra được địa chỉ mà anh ta đã ở trọ. Đây chính là kết quả đạt được nhờ sự chính xác và nỗ lực của ngài Gregson, thanh tra sở cảnh sát Scotland Yard.

Sherlock Holmes và tôi cùng đọc những bài báo này trong bữa sáng và có vẻ như chúng giúp vui cho anh khá nhiều.

– Tôi đã nói với anh rồi mà, dù chuyện gì xảy ra đi chăng nữa thì chắc chắn Lestrade và Gregson cũng sẽ ghi bàn thôi. –

– Còn phụ thuộc vào kết quả cuối cùng như thế nào đã.

– Ồ, điều đó chẳng có ý nghĩa gì đâu. Nếu thủ phạm bị bắt thì đó sẽ là thành quả của những nỗ lực của họ. Nếu thủ phạm thoát được, thì đó sẽ là điều đáng tiếc dù họ đã nỗ lực hết sức. Vậy đấy, dù họ có làm gì đi chăng nữa thì họ vẫn luôn có những kẻ bám theo nịnh bợ.

– Chuyện quái quỷ gì thế? – tôi kêu lên khi nghe thấy những tiếng bước chân ầm ĩ dưới sảnh đang leo lên cầu thang cùng với những tiếng kêu phẫn nộ của bà chủ nhà trọ.

– Đó là đội quân hè phố của văn phòng thám tử phố Barker, – anh nói một cách cứng rắn. Và anh vừa nói xong thì khoảng nửa tá những người Ảrập sống trên hè phố rách rưới, bẩn thỉu mà tôi chưa từng nhìn thấy ào vào trong phòng.

– Chú ý! – Holmes kêu lên với một giọng cao, sắc và lập tức sáu kẻ ăn mày rách rưới đứng nghiêm như tượng. – Trong thời gian tới, các bạn sẽ chỉ cử một mình Wiggins tới đây báo cáo tình hình thôi, số còn lại sẽ đứng đợi ngoài phố. Anh đã tìm ra chưa, Wiggins?

– Chưa, thưa ngài, chúng tôi vẫn chưa tìm ra. – Một trong số những người đó trả lời.

– Tôi cũng không hy vọng là các anh tìm thấy ngay. Nhưng các anh sẽ phải tiếp tục tìm cho tới bao giờ thấy thì thôi. Đây là lương của các anh. – Nói rồi Holmes trao cho mỗi người bọn họ một shilling. – Còn bây giờ, các bạn hãy về đi. Lần sau tới, nhớ là mang tin tốt lành đến nhé.

Holmes phẩy tay, thế là tất cả bọn họ tản đi, nhanh chóng bước xuống cầu thang như đội quân chuột cống, và một lúc sau chúng tôi đã nghe thấy những giọng nói the thé của họ trên phố.

– Nhiều khi một người ăn xin bẩn thỉu còn thu thập được nhiều thông tin hữu ích hơn cả tá cảnh sát, – Holmes nhận xét. – Bộ đồng phục của một viên cảnh sát sẽ khiến nhiều đôi môi ngậm như hến. Còn những người ăn xin này có thể đi tới mọi nơi và nghe ngóng được mọi tin tức. Những giác quan của họ cũng có thể tinh nhạy và họ cũng sẽ trở nên hết sức sắc sảo. Tất cả những gì họ cần là một sự tổ chức chu đáo.

– Anh thuê họ vì vụ Brixton phải không? – Tôi hỏi.

– Đúng vậy. Còn có một điểm mà tôi cần phải khẳng định lại một cách chắc chắn. Vấn đề chỉ là thời gian. Ô kìa, chúng ta sắp sửa được biết thêm những thông tin mới ngoài mong đợi rồi đây. Tôi đã trông thấy Gregson đang đi xuống phố. Trên nét mặt ông ta hiện rõ vẻ tự hào, vui sướng và ban ơn. Chắc là định tới chỗ chúng ta. Tôi biết mà. Phải, ông ta đang dừng lại kìa. Ông ta đây rồi.

Tiếng chuông cửa vang lên lanh lảnh và vài giây sau, mái tóc sáng màu của viên thanh tra đã xuất hiện trên cầu thang. Ông ta nhảy ba bậc một và lao vào phòng.

– Bạn thân mến của tôi, – ông ta kêu lên và nắm chặt lấy đôi bàn tay hờ hững của Holmes lắc mạnh, – hãy chúc mừng tôi đi! Hôm nay, tôi đã làm sáng tỏ được mọi chuyện rồi.

Tôi có cảm giác như một tia băn khoăn, lo lắng vừa lướt qua trên gương mặt người bạn đồng hành của tôi.

– Ý ông là ông đã đi đúng hướng? – anh hỏi.

– Đúng hướng! Chỉ thế thôi sao thưa ngài? Chúng tôi thậm chí đã tóm được thủ phạm, còng tay hắn và tống vào tù rồi cơ.

– Và tên hắn là?

– Athur Charpentier, trung uý quân đội hải quân của nữ hoàng. – Gregson nói lớn, hai tay xoa xoa vào nhau đầy vẻ tự hào, ngực vươn ra phía trước, khoe khoang.

Sherlock Holmes thở phào nhẹ nhõm và nở một nụ cười có vẻ thư thái.

– Xin hãy ngồi xuống và thưởng thức một điếu xì gà này đã, – anh nói. – Chúng tôi rất nóng lòng muốn biết ông đã giải quyết vụ việc như thế nào. Ông có muốn uống chút rượu uýt ki không? Hay là nước?

– Tôi sẽ không từ chối đâu, – viên thanh tra trả lời. – Công việc căng thẳng mà tôi phải trải qua trong mấy ngày qua quả thật khiến tôi mệt lử. Ngài cũng biết đấy, không phải là công việc đòi hỏi sự mệt mỏi về thể xác, mà là sự căng thẳng thần kinh. Ngài Sherlock Holmes, chắc ngài cũng hiểu rõ điều đó, bởi vì chúng ta đều là những người làm việc trí óc.

– Ông khiến tôi vinh dự quá, – Holmes nói một cách trang trọng. – Giờ hãy cho chúng tôi biết làm thế nào mà ông đạt được kết quả đáng hài lòng như vậy?

Viên thanh tra ngồi xuống chiếc ghế bành và rút một điếu xì gà ra với vẻ thỏa mãn, tự hào. Rồi bỗng nhiên, ông ta vỗ đùi đánh đét một cái với sự vui vẻ bột phát.

– Thật buồn cười là anh chàng Lestrade ngốc nghếch cứ nghĩ rằng mình rất thông minh đã đi chệch hướng, – ông ta kêu lên. – Ông ta quyết định theo dõi viên thư ký Stangerson. Thực ra trong vụ việc này Stangerson hoàn toàn vô tội. Nhưng lúc này chắc anh ta đã bị Lestrade bắt rồi cũng nên.

Cái ý nghĩ này khiến cho Gregson cười sặc sụa.

– Và làm thế nào ông tìm được đầu mối của sự việc?

– A, tôi sẽ nói cho ngài biết điều đó. Tất nhiên, bác sĩ Watson, đây hoàn toàn chỉ là vấn đề giữa chúng ta mà thôi. Khó khăn đầu tiên mà chúng ta cần phải vượt qua là tìm ra nguồn gốc của người Mỹ này. Một số người chắc sẽ đợi cho tới khi những gì anh ta rêu rao nhận được câu trả lời, hay cho tới khi các bên tự động đến và mang theo thông tin. Nhưng đó không phải là cách làm việc của Tobias Gregson. Chắc hẳn các ngài vẫn còn nhớ chiếc mũ bên cạnh người chết chứ?

– Nhớ! – Holmes nói. – Chiếc mũ mua ở hiệu John Underwood and Sons, 129 đường Camberwell.

Gregson trông có vẻ tiu nghỉu.

– Tôi không hề nghĩ rằng ngài có chú ý đến chiếc mũ đó, – ông ta nói. – Vậy ngài đã tới đó chưa?

– Chưa.

– Ha! – Gregson reo lên với một vẻ nhẹ nhõm; – Ngài đừng bao giờ bỏ lỡ cơ hội, dù cho cơ hội đó có nhỏ đến thế nào đi chăng nữa.

– Đối với một bộ óc vĩ đại, chẳng có gì được gọi là nhỏ cả, – Holmes nhận xét một cách nghiêm túc.

– Vậy là tôi đã tới hiệu Underwood và hỏi xem ông ta có bán chiếc mũ cỡ đó, và giống như chiếc mũ đó không. Ông ta nhìn sổ ghi chép của mình và ngay lập tức nhớ ra nó. Ông ta đã bán chiếc mũ cho ông Drebber, ngụ ở khu nhà trọ của bà Charpentier, Torquay Terrace. Thế là tôi đã có được địa chỉ của ông ta.

– Thông minh – rất thông minh! – Holmes lẩm bẩm.

– Sau đó, tôi đã đến thăm bà Charpentier, – viên thanh tra tiếp tục. – Tôi nhận thấy bà ta trông rất xanh xao và u buồn. Lúc đó cô con gái của bà ta cũng ở trong phòng – đó cũng là một cô gái hết sức xinh đẹp. Nhưng mắt cô ta đỏ hoe và đôi môi cô ta run rẩy khi tôi nói chuyện với cô ta. Và điều đó đã không qua nổi mắt tôi. Tôi bắt đầu cảm thấy nghi ngờ. Ngài Sherlock Holmes, chắc ngài cũng biết cảm giác đó chứ, cái cảm giác khi mà ngài đánh hơi được đúng đối tượng – một cảm giác rung động tới đầu dây thần kinh. Tôi hỏi bà ta: – Bà đã nghe nói về cái chết của ông Enoch J. Drebber, vị khách đến từ Clevand trước đây đã từng trọ trong nhà bà chưa?

Người mẹ gật đầu. Dường như bà ta không thể thốt ra được một lời nào cả. Còn cô con gái thì bật khóc. Hơn bao giờ hết, tôi dám khẳng định rằng những người này biết điều gì đó liên quan tới vụ án. Tôi hỏi:

– Mấy giờ thì ông Drebber rời khỏi nhà bà để ra ga?

– Tám giờ, – bà ta trả lời, một tay đưa lên chẹn ngang cổ họng để kìm lại tiếng nức nở chực trào lên. – Ông Stangerson, thư ký của ông Drebber, nói rằng có hai chuyến tàu, một chuyến khởi hành lúc 9h15, một chuyến khởi hành lúc 11 giờ. Và ông ta đã quyết định đi chuyến sớm hơn.

– Và đó là lần cuối bà nhìn thấy ông ấy đúng không?

– Khi tôi hỏi câu đó, sắc mặt người phụ nữ thay đổi rõ rệt, đang hồng hào chợt chuyển sang xám ngắt. Phải mất mấy giây, bà ta mới trả lời được từ: Đúng. – và bà ta thốt cái từ đơn giản đó ra với một giọng khô khốc, thiếu tự nhiên.


-còn tiếp-
 
454 ❤︎ Bài viết: 271 Tìm chủ đề
11. Chương 6: Tobias Gregson chứng tỏ khả năng của mình (2)

Mọi người im lặng một lúc, nhưng sau đó, cô con gái lên tiếng bằng một giọng rõ ràng và bình thản:

– Mẹ ơi, nói dối như vậy cũng chẳng ích gì đâu. Chúng ta nên thành thật với quý ông đây. Sự thực là chúng tôi đã có gặp lại ngài Drebber.

– Chúa tha lỗi cho con! – bà Charpentier kêu lên, hai bàn tay buông thõng và rơi người xuống ghế. – Con đã giết chết anh trai con rồi.

– Athur sẽ muốn chúng ta nói ra sự thật, – cô gái đáp lại bằng một giọng cứng cỏi.

– Tốt hơn hết là bà hãy kể lại cho tôi toàn bộ việc đó, – tôi nói. – Tin cậy nửa vời thì chẳng thà bà không tin cậy còn hơn. Ngoài ra, bà cũng biết rằng trong vụ này chúng tôi đã biết được những gì rồi.

– Tại con đấy Alice! – bà mẹ kêu lên và sau đó, bà ta quay sang tôi: – Tôi sẽ kể tất cả cho ngài, thưa ngài. Đừng nghĩ rằng tâm trạng bối rối, lo lắng cho con trai tôi của tôi là do nó có dính líu tới chuyện này. Nó hoàn toàn vô tội. Ngược lại, tôi lo sợ rằng trong con mắt ngài và trong con mắt của những người khác, nó lại hóa ra là người có tội. Tất nhiên, điều đó hoàn toàn không phải là sự thật. Nhân cách cao cả của nó, nghề nghiệp của nó, truyền thống của gia đình, tổ tiên, tất cả đều không cho phép nó làm điều đó.

– Tốt nhất là bà hãy làm sáng tỏ mọi việc bằng cách kể lại thật chi tiết mọi chuyện, – tôi trả lời. – Dựa vào đó, nếu như con trai bà vô tội, cậu ta sẽ không gặp phải bất cứ rắc rối nào cả.

– Alice, có lẽ con nên để mẹ và ngài đây nói chuyện riêng với nhau, – bà ta nói. Và khi cô con gái đã rời khỏi phòng, bà tiếp tục: – Giờ thì, thưa ngài, thực ra tôi không hề có ý định kể với ngài tất cả những điều này, nhưng vì cô con gái tội nghiệp của tôi đã vô tình tiết lộ mọi chuyện nên tôi chẳng còn sự lựa chọn nào khác. Và vì đã quyết định sẽ nói ra nên tôi sẽ khai với ngài mọi chuyện mà không bỏ qua bất kỳ một chi tiết nào.

– Bà làm thế là rất khôn ngoan, – tôi nói.

– Ông Drebber đã trọ trong nhà tôi được gần ba tuần rồi. Ông ta cùng thư ký của mình, ông Stangerson, đang đi du lịch ở châu Âu. Tôi nhìn thấy trên mỗi chiếc va ly của họ đều có dán nhãn Copenhagen. Điều đó chứng tỏ rằng đó là nơi cuối cùng họ dừng chân trước khi đến đây. Stangerson là một người đàn ông ít nói, kín đáo và có vẻ đáng kính, nhưng ông chủ của ông ta thì hoàn toàn ngược lại, tôi rất tiếc phải nói như vậy. Ông ta có những thói quen thô lỗ, bỉ ổi và phong cách hung hăng, côn đồ. Ngay đêm đầu tiên tới đây trọ, ông ta đã uống say khướt và vì thế đến tận mười hai giờ trưa hôm sau, ông ta còn chưa tỉnh táo. Thái độ, cách xử sự của ông ta đối với những cô hầu phòng tự do và thân mật một cách đáng ghê tởm. Điều tệ hại nhất là ông ta bắt đầu có thái độ đó đối với con gái tôi, Alice, và hơn một lần ông ta nói với nó những lời mà, thật may mắn là nó còn quá ngây thơ để có thể hiểu được. Một lần, ông ta đã kéo giật con bé lại, ôm nó trong tay và hôn nó, một hành động đồi bại khiến cho thư ký của ông ta đã phải thẳng thừng chỉ trích ông ta vì hành động không đáng mặt đàn ông đó.

– Nhưng tại sao bà vẫn để yên cho những chuyện đó xảy ra? – tôi hỏi. – Tôi nghĩ rằng bà có thể tống cổ những kẻ ở trọ đó ra khỏi nhà bà bất cứ khi nào bà muốn.

Bà Charpentier đỏ mặt vì câu hỏi thẳng thừng của tôi. – Thề có Chúa là ngay từ ngày đầu tiên ông ta tới đây tôi đã lưu ý ông ta về điều đó rồi, – bà ta trả lời. – Nhưng điều đó dường như chỉ khuyến khích ông ta hơn nữa mà thôi. Họ trả chúng tôi mỗi ngày một bảng – mười bốn bảng một tuần, trong khi hiện đang là mùa làm ăn ế ẩm. Tôi không muốn ném tiền qua cửa sổ. Tôi đã cố gắng hết sức mình. Nhưng lần cuối cùng này đã vượt quá sức chịu đựng của tôi và tôi đã buộc họ phải rời khỏi nhà tôi ngay lập tức. Đó chính là lý do tại sao ông ta rời khỏi nhà trọ của tôi.

– Vậy sao?

– Tôi thực sự cảm thấy lòng mình thanh thản hơn rất nhiều khi tôi đứng nhìn ông ta rời khỏi nhà tôi. Con trai tôi cũng đang được nghỉ phép thời gian này, nhưng tôi không nói cho nó biết bất cứ điều gì liên quan tới chuyện này cả bởi vì tính khí nó rất hung dữ và nó lại quá yêu thương em gái. Khi cánh cửa nhà tôi đóng lại sau lưng họ, tôi cảm thấy tâm trí mình dường như vừa cất đi được một gánh nặng. Nhưng lạy Chúa, chưa đầy nửa giờ sau, chuông cửa rung ầm ĩ và tôi nhận ra rằng ông Drebber đã quay trở lại. Ông ta đang hết sức kích động và rõ ràng là đã uống tuý luý. Ông ta lao vào trong phòng nơi tôi đang ngồi với con gái tôi và nói vài lời rời rạc, lắp bắt về việc ông ta bị lỡ chuyến tàu. Sau đó, ông ta quay về phía Alice và ngay trước mặt tôi, ông ta đề nghị con bé chạy trốn cùng với ông ta. Ông ta nói: – Cô đã đến tuổi rồi và chẳng có luật pháp nào có thể ngăn cản được cô. Tôi có đủ tiền cho cô và còn có rất nhiều nữa. Đừng để ý đến bà già này, hãy đi với tôi. Với tôi, cô sẽ trở thành một nàng công chúa. – Alice tội nghiệp của tôi quá sợ hãi đến nỗi con bé cứ co người lại để tránh ông ta, nhưng ông ta đã tóm được cổ tay con bé và cố gắng kéo con bé ra phía của. Tôi thét lên và đúng lúc đó con trai tôi, Athur, bước vào phòng. Tôi cũng không biết chuyện gì xảy ra sau đó nữa. Tôi nghe thấy những tiếng chửi thề, tiếng đổ vỡ loảng xoảng của cuộc ẩu đả. Tôi sợ đến nỗi không dám ngẩng mặt lên. Khi tôi nhìn lên thì tôi đã thấy Athur đang đứng ở cửa và cười lớn với cây gậy trong tay. – Con không nghĩ là thằng cha đó còn dám quay trở lại đây nữa đâu, – nó nói. – Con sẽ đi theo hắn ta và xem hắn ta tự giúp mình ra sao. – Nói rồi nó cầm lấy mũ và xuống phố. Sáng hôm sau, tôi nghe tin về cái chết bí ẩn của ông Drebber.

– Câu chuyện này được chính bà Charpentier kể sau nhiều lần ngập ngừng và ngắt quãng. Nhiều lúc, bà ta nói nhỏ đến nỗi tôi hầu như không thể bắt được những từ bà ta nói. Tuy nhiên, trong suốt thời gian đó, tôi cũng đã ghi lại mọi lời mà ta khai nhờ vậy mà tôi không để lọt chi tiết nào.

– Chuyện này khá thú vị, – Sherlock Holmes nói với một cái ngáp dài. – Sau đó chuyện gì xảy ra?

– Khi bà Charpentier ngừng lời, tôi nhận ra rằng toàn bộ sự việc này đã tựu trunglại ở một điểm, – viên thanh tra tiếp tục. – Tôi nhìn bà ta một cách nghiêm khắc, cái nhìn mà tôi biết chắc chắn là sẽ có hiệu quả đối với phụ nữ, tôi hỏi bà ta rằng mấy giờ thì con trai bà ta trở về nhà.

– Tôi không biết, – bà ta trả lời.

– Không biết ư?

– Không, nó có chìa khóa ngoài và có thể tự vào nhà mà không cần gọi cửa.

– Vậy là cậu ta về sau khi bà đã đi ngủ?

– Vâng.

– Và bà đi nghỉ lúc mấy giờ?

– Khoảng mười một giờ.

– Vậy là con trai bà rời khỏi nhà ít nhất là hai tiếng đồng hồ?

– Vâng.

– Mà cũng có thể là bốn hoặc năm tiếng?

– Vâng.

– Và cậu ấy đã làm gì trong suốt thời gian đó?

– Tôi không biết, – bà ta trả lời và khuôn mặt trở nên trắng bệch.

– Tất nhiên, sau đó chẳng còn gì hơn để làm nữa. Tôi đã tìm ra được nơi ở của trung úy Charpentier và cùng với hai nhân viên cảnh sát nữa, tôi đến bắt anh ta. Khi tôi vừa đặt tay vào vai anh ta và đề nghị anh ta nên lặng lẽ đi theo chúng tôi, anh ta trả lời chúng tôi một cách thẳng thừng: – Tôi đoán rằng các ngài bắt tôi vì có liên quan tới cái chết của tên vô lại Drebber đó? – anh ta nói. Chúng tôi chưa hề nói gì với anh ta, vậy mà anh ta lại tự đả động tới chuyện đó. Đây chính là tình tiết đáng nghi ngờ nhất.

– Rất đáng, – Holmes nói.

– Lúc đó anh ta vẫn còn đang mang theo cây gậy lớn mà mẹ anh ta đã mô tả là anh ta có mang lúc đuổi theo Drebber. Đó là một cái dùi cui bằng gỗ sồi chắc, cứng.

– Vậy thì giả thuyết của ông là gì?

– Ồ, giả thuyết của tôi là anh ta đã theo Drebber tới tận đường Brixton. Tới đó, một cuộc ẩu đả giữa họ đã xảy ra và trong cuộc ẩu đả đó, Drebber đã nhận một cú đánh bằng cây gậy, có lẽ là vào đúng phần bụng, khiến cho ông ta chết mà không để lại dấu vết gì. Đêm đó trời quá ẩm ướt nên không có ai trên đường cả vì thế Charpentier đã lôi xác nạn nhân vào ngôi nhà trống. Còn về cây nến và những vết máu cũng như chữ viết trên tường và chiếc nhẫn, tất cả chỉ là trò tháu cáy của anh ta nhằm đánh lạc hướng điều tra của cảnh sát mà thôi.

– Rất tốt! – Holmes nói với một giọng khích lệ. – Thật đấy Gregson, ông thật sự đã rất tiến bộ.

– Tôi cảm thấy tự hào vì mình đã giải quyết vụ việc này khá gọn gàng, – viên thanh tra đáp lại một cách tự mãn. – Viên trung úy trẻ tuổi đã khai rằng sau khi bám theo Drebber một lúc, ông ta nhận ra anh và đã bắt một chiếc xe ngựa để cắt đuôi anh ta. Trên đường trở về nhà, anh ta gặp một người bạn cũ và đi cùng anh này một quãng khá xa. Nhưng khi được hỏi anh bạn đó sống ở đâu thì anh ta không thể đưa ra được một câu trả lời làm chúng tôi hài lòng. Tôi nghĩ rằng mọi tình tiết thế là đã rất khớp với nhau rồi. Và điều khiến tôi cảm thấy nực cười là anh bạn Lestrade lúc này vẫn đang lần theo một đầu mối sai lầm. Tôi e rằng anh ta sẽ chẳng đạt được gì đâu. Ô, lạy Chúa, có phải chính anh ta đấy không?

Và đúng là trong khi chúng tôi đang nói chuyện, Lestrade đã bước lên cầu thang và lúc này ông ta đã có mặt trong phòng. Nét mặt chắc chắn và sự vui vẻ hoạt bát thường ngày vẫn hiện hữu trên gương mặt ông ta giờ đây không còn nữa. Thay vào đó là sự bối rối và lo âu cộng với trang phục xộc xệch, chẳng mấy gọn gàng. Rõ ràng là ông ta định tới để tham khảo ý kiến của riêng Holmes bởi vì khi nhìn thấy sự hiện diện của người đồng nghiệp, ông ta lập tức trở nên lúng túng và khó chịu. Ông ta đứng giữa phòng, căng thẳng mân mê vành mũ và phân vân không biết phải làm gì. Cuối cùng, ông ta nói: – Đây là một vụ hết sức kỳ lạ, vụ án khó hiểu nhất mà tôi từng gặp.

– A, vậy ra đó là điều anh nhận thấy hả Lestrade? – Gregson kêu to với một vẻ chiến thắng. – Tôi cũng đã nghĩ rằng anh sẽ đi tới kết luận như vậy. Thế anh có tìm thấy viên thư ký Joseph Stangerson không?

– Viên thư ký, ông Joseph Stangerson đã bị giết ở khách sạn tư nhân Halliday vào khoảng sáu giờ sáng hôm nay, – Lestrade nghiêm trang nói.
 
454 ❤︎ Bài viết: 271 Tìm chủ đề
12. Chương 7: Ánh sáng trong bóng tối (1)

Cái tin mà Lestrade vừa đem tới cho chúng tôi quá quan trọng và quá bất ngờ đến nỗi cả ba người chúng tôi đều chết điếng người. Gregson đứng bật dậy và đánh đổ cả ly rượu lẫn ly nước đặt trước mặt. Tôi yên lặng liếc nhìn Sherlock Holmes. Lúc này, môi anh mím chặt lại và hai hàng lông mày nhíu sâu trên đôi mắt đăm chiêu.

– Lại cả Stangerson nữa! – anh lẩm bẩm. – Vậy là âm mưu đã dần xiết chặt lại.

– Ngay cả trước đó nó đã rất chặt rồi, – Lestrade cằn nhằn và ngồi xuống ghế. – Tôi có cảm tưởng như mình đang ngồi giữa một hội đồng chiến tranh vậy.

– Anh có khẳng định chắc chắn về thông tin vừa rồi không? – Gregson lắp bắp.

– Tôi vừa mới từ phòng ông ta trở về đây, – Lestrade nói. – Tôi là người đầu tiên phát hiện ra sự việc.

– Chúng tôi vừa mới được nghe ý kiến của Gregson về vấn đề này, – Holmes nói. – Ông có thể kể cho chúng tôi biết ông đã nhìn thấy gì và đã làm gì không?

– Hoàn toàn đồng ý, – Lestrade trả lời và ngồi xuống.

– Tôi phải thừa nhận là tôi đã nghĩ rằng Stangerson có liên quan tới cái chết của Drebber. Nhưng tình tiết mới này đã chứng minh rằng tôi đã hoàn toàn sai lầm. Nhưng trước đó, vẫn khẳng định rằng đây là đầu mối, tôi đã quyết tâm tìm xem viên thư ký hiện giờ đang ở đâu. Lúc tám rưỡi tối ngày mùng ba, người ta có nhìn thấy cả hai người bọn họ trên sân ga Euston. Vào hai giờ sáng hôm sau, xác của Drebber đã được tìm thấy ở đường Brixton. Vấn đề mà tôi phải tìm hiểu là Stangerson đã làm gì từ tám giờ ba mươi phút tối tới thời điểm xảy ra vụ án và sau đó ông ta ở đâu. Tôi đã đánh điện tới Liverpool, mô tả nhận dạng ông ta và thông báo với họ là phải để ý tới những tàu Mỹ. Sau đó, tôi gọi điện tới tất cả các khách sạn và nhà trọ ở khu vực lân cận Euston. Các ngài cũng biết đấy, tôi đã nghĩ rằng nếu Drebber và người bạn đồng hành của ông ta đã chia tay nhau thì chắc chắn là người đồng hành ấy sẽ tìm một nơi nào đó ở vùng lân cận để qua đêm và sau đó sẽ bắt chuyến tàu sáng hôm sau.

– Chắc hẳn họ đã thỏa thuận trước điểm gặp gỡ, – Holmes nhận xét.

– Đúng vậy. Tôi đã giành cả tối qua để dò hỏi nhưng không đem lại kết quả gì. Sáng nay, tôi bắt đầu công việc từ sớm và đến tám giờ, tôi đã tới Khách sạn tư nhân Halliday ở đường Little George. Khi được hỏi có ông Stangerson sống ở đây không, ngay lập tức họ trả lời là có.

– Chắc chắn ông là người mà ông ấy đang chờ, – họ nói. – Đã hai ngày nay ông ta chờ gặp một quý ông.

– Giờ ông ta ở đâu? – tôi hỏi.

– Ông ta đang ngủ trên gác. Ông ta muốn chúng tôi đánh thức ông ta dậy lúc chín giờ.

– Tôi sẽ lên đó và gặp ông ta ngay bây giờ, – tôi nói.

Tôi nghĩ rằng sự xuất hiện bất ngờ của tôi sẽ khiến cho ông ta bối rối và sẽ khiến ông ta nói ra điều gì đó không đề phòng. Một người khuân vác hành lý trong khách sạn tự nguyện chỉ phòng ông ta cho tôi: Căn phòng ở tầng hai và có một hành lang nhỏ dẫn tới đó. Người phục vụ khách sạn chỉ phòng cho tôi và đang định đi xuống lầu thì tôi nhìn thấy cái gì đó khiến cho tôi cảm thấy buồn nôn, mặc dù tôi đã có tới hai mươi năm kinh nghiệm. Một dải dài màu đỏ bò ra từ dưới khe cửa, rỉ ra ngoài hành lang và đọng lại thành vũng nhỏ ở rìa lối đi. Tôi kêu lên một tiếng khiến cho người phục vụ quay lại. Anh ta suýt nữa ngất xỉu khi nhìn thấy vũng máu. Cửa phòng đã bị khóa bên trong nhưng chúng tôi đã dùng vai để phá cửa. Cửa sổ căn phòng mở toang và bên cạnh cửa sổ, giữa đống hỗn độn, xác một người đàn ông trong bộ đồ ngủ nằm đó. Ông ta đã chết được một thời gian rồi bởi vì chân tay đã tím tái và lạnh ngắt. Khi chúng tôi lật ông ta nằm ngửa ra, người phục vụ lập tức nhận ra đó chính là quý ông đã thuê phòng với cái tên Joseph Stangerson. Nguyên nhân cái chết là một vết đâm rất sâu từ sườn trái. Chắc chắn là vết đâm đó đã xuyên tới tận tim. Còn đây là điểm lạ lùng nhất của vụ án. Các ngài nghĩ trên xác chết có cái gì?

Tôi cảm thấy một cơn rùng mình, ớn lạnh tới tận sống lưng, một sự rùng rợn xâm chiếm lấy tôi trước cả khi Sherlock Holmes trả lời.

– Chữ RACHE được viết bằng máu tươi, – Holmes trả lời.

– Chính là nó, – Lestrade nói với giọng kinh hoàng. Tất cả chúng tôi lặng thinh trong giây lát.

Có một điều gì đó mang tính hệ thống nhưng hết sức khó hiểu trong hành vi của kẻ giết người bí ẩn này khiến cho những tội ác của hắn ta càng thêm phần rùng rợn. Thần kinh của tôi mặc dù đã được tôi luyện đến mức cứng rắn trên chiến trường, nhưng khi nghĩ đến việc này, tôi vẫn cảm thấy sởn da gà.

– Có người đã nhìn thấy người đàn ông đó, – Lestrade nói tiếp. – Một cậu bé đưa sữa, trên đường trở về cửa hàng sữa, đã tình cờ đi ngang qua sân sau khách sạn. Cậu bé có để ý thấy một chiếc thang thường ngày vẫn đặt nằm nhưng hôm nay lại được bắc lên một ô cửa sổ ở tầng hai. Lúc đó ô cửa sổ này đang mở rộng. Sau khi đi ngang qua, cậu ta ngoái lại nhìn và thấy một người đàn ông đang leo xuống chiếc thang. Người đàn ông đó leo xuống nhẹ nhàng và có vẻ tự nhiên đến nỗi cậu bé cứ tưởng rằng đó là một người thợ mộc hay công nhân nào đó đang làm việc trong khách sạn. Cậu bé không đặc biệt chú ý lắm tới người đàn ông đó ngoài việc cậu ta thoáng nghĩ rằng ông ta đến làm việc hơi sớm một chút. Cậu ta có mang máng nhớ rằng người đàn ông đó cao, mặt đỏ và mặc một chiếc áo khoác ngoài dài màu nâu. Chắc hẳn là hắn ta phải ở lại trong phòng một lát sau khi giết người bởi vì chúng tôi có tìm thấy vết máu trong bồn rửa, nơi hắn ta đã rửa tay cũng như vết máu trên tấm ga trải giường nơi hắn ta đã lau con dao làm hung khí.

Ngay khi nghe thấy mô tả nhận dạng của kẻ giết người, tôi liếc sang nhìn Holmes bởi vì mô tả này hoàn toàn trùng khớp với những gì anh đã nói trước đó. Tuy nhiên, tôi không hề nhận thấy dấu hiệu của niềm hân hoan và sự hài lòng trên nét mặt anh.

– Ông đã không tìm thấy gì có thể làm dấu vết để tìm ra hung thủ trong căn phòng đó sao? – anh hỏi.

– Chẳng có gì cả. Trong túi Stangerson có chiếc ví của Drebber nhưng có vẻ như đó là chiếc ví hết sức bình thường bởi vì Stangerson luôn luôn là người chi trả mọi khoản. Trong ví còn nguyên tám mươi mốt bảng. Vì vậy tôi có thể khẳng định chắc chắn rằng dù thế nào đi chăng nữa, động cơ của những vụ giết người kỳ lạ này cũng không phải là để cướp của. Trong túi của người chết không hề có bất cứ giấy tờ hay thư từ gì cả ngoại trừ một bức điện tín được gửi đi từ Cleveland khoảng một tháng trước và chỉ vỏn vẹn có vài từ: "J. H đang ở Châu Âu." Cũng không có chữ ký sau lời thông báo ngắn ngủi đó.

– Không còn gì nữa sao? – Holmes hỏi.

– Chẳng còn gì quan trọng nữa. Có một cuốn tiểu thuyết mà chắc ông ta thường đọc trước khi đi ngủ vẫn đặt trên giường, chiếc tẩu thuốc đặt trên ghế ngay bên cạnh ông ta. Trên bàn có một cốc nước và trên bậu cửa sổ có một chiếc hộp trong đó có hai viên thuốc.

Sherlock Holmes bật dậy từ chiếc ghế đang ngồi và reo lên một tiếng vui mừng.

– Đó chính là điểm mấu chốt cuối cùng, – anh kêu lên sung sướng. – Chứng cớ của tôi thế là đã đầy đủ.

Hai viên thanh tra sửng sốt nhìn anh.

Bạn tôi tiếp tục một cách tự tin: – Giờ đây, tôi đã có trong tay đầy đủ mọi đầu mối để tái hiện lại đường đi nước bước của mớ bòng bong này. Tất nhiên vẫn còn có một số chi tiết cụ thể cần phải làm rõ nhưng tôi có thể khẳng định chắc chắn về tất cả những sự kiện chính kể từ lúc Drebber tạm biệt Stangerson trên sân ga cho tới khi các ngài tìm ra cái xác của viên thư ký, chắc chắn như chính mắt tôi được chứng kiến toàn bộ sự việc vậy. Tôi sẽ chứng minh cho các ngài thấy. Vậy ông có động tay vào những viên thuốc đó không?

– Tôi có chúng ở đây luôn, – Lestrade nói và lôi ra một chiếc hộp nhỏ màu trắng. – Tôi mang theo chúng, chiếc ví cùng bức điện tín nhằm cất chúng vào một nơi an toàn trong sở cảnh sát. Nhưng quả thực suýt nữa thì tôi đã không đem theo những viên thuốc này bởi vì tôi không nghĩ rằng chúng có thể là một đầu mối quan trọng nên cũng không mấy quan tâm tới chúng.

– Đưa chúng cho tôi, – Holmes nói. – Nào, bác sĩ, – anh quay sang tôi, – đây có phải là những viên thuốc bình thường không?

Chắc chắn là không. Chúng có màu xám ánh ngọc trai, nhỏ, tròn và gần như chuyển thành trong suốt khi soi lên ánh sáng. – Qua độ sáng và độ trong suốt khi soi lên ánh sáng, tôi chắc rằng chúng có thể hòa tan trong nước, – tôi nhận xét.

– Chính xác, – Holmes trả lời. – Giờ phiền anh xuống nhà và đưa chú chó tội nghiệp bị ốm khá lâu mà hôm trước bà chủ nhà vừa nhờ chúng ta hãy giúp nó chấm dứt sự đau đớn lên đây.

Tôi xuống nhà và bế con chó lên lầu. Hơi thở nặng nhọc và ánh mắt rực lên của con chó cho thấy nó chẳng còn sống được bao lâu nữa. Nước dãi trắng ởn rỏ ra bên mép cũng chứng minh điều đó. Tôi đặt con chó lên tấm đệm đặt trên thảm.

– Tôi sẽ cắt những viên thuốc này làm hai phần, – Holmes nói và rút trong túi ra một con dao nhíp nhỏ để thực hiện luôn những gì anh vừa nói. – Một nửa chúng ta sẽ để lại trong hộp để giành sau này cần đến. Nửa còn lại tôi sẽ cho vào chiếc ly này, trong đó đã có một thìa đầy nước. Các ngài thấy đây, anh bạn tôi, bác sĩ Watson đây, đã đúng, nửa viên thuốc đã hoàn toàn bị hòa tan trong nước.

– Điều này có thể cũng rất thú vị, – Lestrade nói với giọng của một người đang nghi ngờ rằng mình đang bị cười nhạo. – Tuy nhiên tôi không biết điều này thì có liên quan gì tới cái chết của Joseph Stangerson?

– Bình tĩnh, ông bạn của tôi, hãy bình tĩnh! Rồi sẽ đến lúc ông nhận thấy điều này liên quan mật thiết tới vụ án mạng. Tôi sẽ thêm một chút sữa để làm cho hỗn hợp này ngon miệng hơn. Nhờ vậy, khi đưa nó cho con chó, nó sẽ sẵn sàng liếm sạch.

Nói rồi, anh đổ hỗn hợp vừa pha từ cốc ra một chiếc đĩa và đặt nó trước mặt con chó. Và đúng như anh nói, nó nhanh chóng liếm sạch đĩa. Những hành động dứt khoát, quả quyết của Holmes khiến cho chúng tôi hoàn toàn bị thuyết phục và ngồi yên lặng, chăm chú nhìn con vật và chờ đợi một kết quả bất ngờ. Nhưng chẳng có điều gì xảy ra cả. Con chó vẫn nằm duỗi dài trên tấm thảm, thở một cách nặng nhọc nhưng không hề có dấu hiệu khoẻ lên hay yếu đi sau khi uống chỗ nước trong đĩa.

-Còn tiếp-
 
454 ❤︎ Bài viết: 271 Tìm chủ đề
13. Chương 7: Ánh sáng trong bóng tối (2)

Holmes đã lấy chiếc đồng hồ ra khỏi túi và mỗi phút không kết quả trôi qua, nét mặt anh càng lộ rõ vẻ buồn nản và thất vọng. Anh cắn môi, những ngón tay gõ nhịp lên bàn, mọi cử động của anh đều cho thấy đó là dấu hiệu của sự mất kiên nhẫn cao độ. Nỗi thất vọng và bồn chồn của anh lớn tới nỗi tôi cảm thấy tội nghiệp cho anh vô hạn, trong khi đó, hai vị thanh tra mỉm cười đầy nhạo báng mà không hề bực mình vì sự thất bại này của Holmes.

– Không thể chỉ là một sự trùng hợp ngẫu nhiên, – cuối cùng, anh kêu lên và bật dậy, bước quanh phòng một cách bồn chồn. – Không thể nào! Đây không thể nào chỉ đơn thuần là một sự trùng hợp ngẫu nhiên. Những viên thuốc mà tôi đã nghi ngờ từ vụ Drebber thì giờ đây đã được tìm thấy sau cái chết của Stangerson. Nhưng chúng lại không hề có tác dụng. Điều này có nghĩ là gì? Chắc chắn, cả chuỗi lý luận của tôi không thể nào sai lầm được. Không thể nào! Tuy nhiên, con chó này vẫn không sao cả sau khi uống thuốc. A! Tôi biết rồi! Tôi biết tại sao rồi! – Với một tiếng hét sung sướng, anh lao tới bên chiếc hộp và cắt viên thuốc còn lại làm hai phần, hòa tan nó với nước, thêm một chút sữa và đưa cho con chó uống. Lưỡi con vật tội nghiệp vừa thè ra, chạm vào thứ chất lỏng trên đĩa thì tứ chi nó đã run rẩy, toàn thân co giật, sau đó nó nằm cứng đơ, bất động nhanh như vừa bị sét đánh.

Sherlock Holmes thở hắt ra hài lòng và lau những giọt mồ hôi lấm tấm trên trán. – Lẽ ra tôi phải tin tưởng ở mình hơn, – anh nói. – Sau lần này, tôi cần phải biết rằng một khi thực tế xảy ra không giống như những gì ta suy luận thì bao giờ cũng có thể có một cách giải thích khác. Trong số hai viên thuốc còn lại trong chiếc hộp, có một viên là thuốc độc chết người còn một viên thì hoàn toàn vô hại. Lẽ ra tôi đã phải biết điều này từ trước khi tôi nhìn thấy chiếc hộp mới đúng.

Câu nói cuối cùng của anh quá bất ngờ đối với tôi đến nỗi tôi khó có thể tin được rằng lúc này anh đang tỉnh táo. Tuy nhiên, vẫn còn đó xác con chó để chứng minh rằng những điều anh phỏng đoán là chính xác. Tôi có cảm tưởng như màn sương trong tâm trí mình đang dần dần được xua tan và tôi bắt đầu mơ hồ nhận ra được chân tướng sự việc.

– Tất cả những điều này dường như thật kỳ lạ với các vị bởi vì ngay từ đầu các vị đã sai lầm trong việc nắm bắt những đầu mối quan trọng, những đầu mối được bày ra rõ mồn một trước mắt các vị. Tôi lại có may mắn nhận ra được những thứ như vậy và tất cả những điều đã xảy ra từ đó đến giờ đã chứng minh cho giả định ban đầu của tôi là đúng và cả những suy luận logic từ giả định đó nữa. Vì vậy, những điều tưởng chừng như đang làm đau đầu các vị, đang làm cho sự việc ngày càng trở nên rắc rối hơn, khó hiểu hơn, mơ hồ hơn thì lại làm sáng tỏ hơn cho chuỗi suy luận logíc của tôi và củng cố thêm cho kết luận của tôi. Thật sai lầm khi lầm tưởng những tình tiết lạ lùng mà bạn chưa từng gặp bao giờ với sự bí ẩn. Thông thường, những vụ án cũ rích lại là những vụ án bí ẩn nhất bởi vì nó không bao hàm một đặc điểm mới lạ hay đặc biệt nào để người ta có thể đưa ra các phán đoán. Vụ giết người này thực sự sẽ vô cùng khó khăn nếu như chúng ta chỉ đơn giản là tìm thấy xác nạn nhân trên phố mà không hề có bất kỳ tình tiết thái quá hay những chi tiết bổ sung mang tính chất nhạy cảm nào khiến cho nó trở nên đặc biệt. Thay vì khiến cho sự việc càng trở nên khó khăn hơn, những chi tiết kỳ lạ này chỉ làm cho vụ án bớt phức tạp hơn mà thôi.

Gregson, nãy giờ vẫn lắng nghe những lời Holmes nói với một vẻ sốt ruột tột độ, giờ không thể chịu đựng hơn được nữa. Ông ta nói:

– Nghe này ngài Sherlock Holmes, tất cả chúng tôi đều biết rằng ngài là một người hết sức thông minh và xuất chúng và rằng ngài có một phương pháp làm việc riêng của mình. Dù vậy, hiện giờ, những gì chúng tôi cần không phải đơn thuần chỉ là lý thuyết. Cái mà chúng tôi cần là bằng chứng để bắt kẻ phạm tội. Tôi đã tìm ra được bằng chứng của mình nhưng thực tế chứng minh là tôi đã sai. Viên sĩ quan trẻ Charpentier không thể dính líu vào vụ án mạng thứ hai này được. Lestrade thì lần theo dấu vết kẻ tình nghi của anh ta, Stangerson, và thực tế cũng chứng minh là anh ta cũng sai lầm. Ngài đã đưa ra những dấu vết ở đây đó, và có vẻ như ngài biết nhiều hơn chúng tôi. Nhưng đã đến lúc, chúng tôi thấy mình có quyền hỏi thẳng thắn rằng trong vụ này ngài đã biết đến đâu rồi. Ngài có thể nói tên người đàn ông là thủ phạm của hai vụ án mạng này không?

– Tôi không thể không nói rằng những gì Gregson đòi hỏi là chính đáng thưa ngài, – Lestrade thêm vào. – Cả hai chúng tôi đều đã rất cố gắng và cuối cùng chúng tôi đều thất bại. Từ lúc tôi bước vào căn phòng này, đã hơn một lần ngài khẳng định rằng ngài đã có đủ mọi bằng chứng mình cần. Và rõ ràng là ngài cũng không nên giữ bí mật những bằng chứng đó lâu hơn nữa.

– Chúng ta càng trì hoãn việc bắt giữ kẻ giết người thì chúng ta càng khiến cho hắn có thể thời gian để thực hiện thêm những hành vi tàn bạo khác, – tôi nói thêm

Và thế là, trước sức ép của cả ba người chúng tôi, Holmes có phần phân vân. Anh vẫn tiếp tục bước quanh phòng, đầu cúi xuống ngực, đôi lông mày nhíu lại như thói quen mỗi khi anh phải suy nghĩ căng thẳng.

– Chắc chắn là sẽ không có thêm vụ giết người nào nữa, – cuối cùng anh bất ngờ dừng lại, quay mặt về phía chúng tôi và nói. – Các ngài có thể không cần phải lo lắng về điều đó. Các ngài vừa hỏi tôi có biết tên của kẻ giết người không. Tôi xin trả lời là tôi có biết. Tuy nhiên việc biết tên của hắn ta là một việc quá nhỏ so với việc chúng ta có thể tóm được hắn ta hay không. Tôi hy vọng chúng ta sẽ nhanh chóng thực hiện được việc này. Và tôi hy vọng rằng mình có thể tự thu xếp được. Nhưng để làm được điều đó cần phải có một sự sắp xếp cẩn thận, kỹ lưỡng và khéo léo bởi vì chúng ta đang phải đối mặt với một người đàn ông liều lĩnh và tinh ranh. Chính bản thân tôi đã có dịp thử nghiệm và có thể khẳng định rằng ông ta được trợ giúp bởi một một người nữa, người này cũng thông minh và tinh ranh chẳng kém gì ông ta. Nhưng chừng nào mà người đàn ông này vẫn còn chưa biết rằng ông ta đang bị nghi ngờ thì chúng ta vẫn còn cơ hội để tóm được ông ta. Tuy nhiên, nếu như chúng ta khiến cho ông ta nghi ngờ, dù chỉ là một tia nghi ngờ nhỏ nhất thì ông ta sẽ thay tên đổi họ và ngay lập tức biến mất tăm giữa bốn triệu dân của thành phố rộng lớn này. Dù không hề có ý định làm tổn thương tình cảm của bất cứ ai trong các ngài, tôi cũng vẫn phải nói rằng người đàn ông này không phải là đối thủ của lực lượng cảnh sát thành phố và đó là lý do tại sao tôi không yêu cầu hỗ trợ của các ngài. Tất nhiên, nếu như tôi thất bại, tôi sẽ chịu hoàn toàn trách nhiệm về thất bại này. Nhưng tôi đã chuẩn bị tinh thần cho mọi chuyện rồi. Ngay lúc này, tôi chỉ có thể hứa rằng ngay khi nào tôi nhận thấy mình có thể nói với các ngài toàn bộ những điều tôi biết mà không gây hậu quả xấu nào cho kế hoạch của tôi, tôi sẽ nói cho các ngài biết.

Dường như Gregson và Lestrade chẳng mấy hài lòng với lời hứa của Holmes, cũng có thể là họ chạnh lòng vì lời nói bóng gió đánh giá thấp năng lực của lực lượng cảnh sát nên Gregson thì mặt đỏ tía tai trong khi đôi mắt tròn, nhỏ của Lestrade long lên vừa vì tò mò, vừa vì tức giận. Tuy nhiên, chẳng ai trong số họ kịp có thời gian để nói thêm được câu gì bởi vì có tiếng gõ cửa và người đại diện của đội quân đường phố người Arập của Holmes, anh chàng Viggins trẻ tuổi, đã bước vào với bộ dạng bẩn thỉu và thấp hèn của mình.

– Thưa ngài, – anh ta nói, tay vuốt chùm tóc phía trước trán, – tôi đã gọi chiếc xe ngựa đó đến chờ dưới nhà rồi.

– Tốt lắm, – Holmes nói với một giọng nhẹ nhàng. – Cậu hãy đưa cái còng tay này cho các ngài ở sở cảnh sát Scotland Yard. – anh nói tiếp và lấy từ trong tủ ra một chiếc còng số tám. – Để xem cái còng tay này còn làm việc tốt không, có còn nhạy không, bập vào khóa nhanh không?

– Cái còng tay cũ này vẫn còn rất tốt, miễn là chúng ta tìm được người để đưa tay vào đó thôi, – Lestrade nhận xét.

– Rất tốt, rất tốt, – Holmes nói và mỉm cười. – Người đánh xe ngựa có thể lên đây giúp tôi một tay chuẩn bị hành lý. Hãy bảo anh ta lên đây Wiggins.

Tôi rất ngạc nhiên khi nhận thấy anh bạn tôi nói như thể anh đang chuẩn bị đi đâu một chuyến khá xa bởi vì anh chưa hề nói với tôi tiếng nào về điều đó. Trong phòng có một chiếc va li bằng da nhỏ và anh vừa mới lôi ra để buộc và đóng gói. Khi người đánh xe bước vào phòng thì anh vẫn đang bận rộn với chiếc va li.

– Giúp tôi một chút, anh đánh xe, – anh nói, đầu vẫn cúi xuống chiếc va li mà không hề ngẩng lên giây nào.

Người đánh xe bước tới nhưng có vẻ không mấy thoải mái, gương mặt hơi sưng lên vì không hài lòng. Anh ta đặt một tay vào giúp Holmes. Ngay lập tức, một tiếng cách vang lên, tiếng kim loại đập vào nhau chói tai và một lần nữa, Sherlock Holmes bật dậy.

– Các quý ngài, – anh kêu lên với đôi mắt loé sáng, – cho phép tôi giới thiệu ngài Jefferson Hope, thủ phạm vụ giết Drebber và Joseph Stangerson.

Toàn bộ diễn biến của sự việc diễn ra trong giây lát – nhanh tới nỗi tôi hầu như không có đủ thời gian để nhận ra rằng mọi chuyện đã kết thúc. Tôi vẫn còn nhớ rất rõ cái giây phút ấy, về câu nói đầy chiến thắng của Holmes, về âm điệu trong giọng nói của anh, về gương mặt hung dữ nhưng ngạc nhiên đến sững sờ của người đánh xe ngựa khi ông ta nhìn xuống chiếc còng vừa bập vào tay mình nhanh như có một phép thần nào đó. Trong một hay hai giây sau đó, tất cả chúng tôi đứng yên như trời trồng. Sau đó, với một tiếng gầm giận dữ, hoang dại, người tù của chúng tôi gồng người thoát ra khỏi tay Holmes và lao mình qua cửa sổ. Những thanh gỗ và kính vỡ văng ra trước mặt anh ta. Nhưng trước khi toàn thân anh ta thoát ra khỏi khung cửa thì Gregson, Lestrade và Holmes đã cùng lao về phía anh ta như những chú chó săn được huấn luyện thuần thục. Anh ta bị lôi vào trong phòng và sau đó lại bắt đầu một cuộc vật lộn gay go, cuồng nộ. Anh ta khoẻ và điên cuồng tới mức cả bốn người chúng tôi phải vật lộn hết sức mình, trồi lên, tuột xuống một lúc lâu mới khuất phục được anh ta. Anh ta dồn hết sức mình vật lộn điên cuồng như một kẻ đang lên cơn động kinh. Mặt và tay anh ta đã bị kính cắt đứt và chảy máu ròng ròng. Nhưng việc mất máu không làm giảm đi sức chống cự của anh ta. Chỉ tới khi Lestrade trói chặt được hai tay anh ta lại bằng chiếc cà vạt và gần như bóp ngẹt cổ họng anh ta thì chúng tôi mới khiến được anh ta hiểu rằng có chống cự cũng vô ích. Nhưng ngay cả khi đó, chúng tôi vẫn chưa hề cảm thấy an toàn cho tới khi trói được cả hai tay và hai chân hắn ta lại. Xong việc, chúng tôi đứng dậy, mệt nhoài và thở hổn hển.

– Chúng ta có cỗ xe ngựa của anh ta luôn, – Sherlock Holmes nói. – Chúng ta sẽ dùng nó để đưa anh ta về sở cảnh sát Scotland Yard. Còn bây giờ, thưa các quý ông, – anh tiếp tục với một nụ cười hài lòng, – chúng ta đã đặt dấu chấm hết cho bí ẩn nho nhỏ này. Giờ thì các ngài có thể đặt bất cứ câu hỏi nào mà các ngài muốn và sẽ chẳng còn gì nguy hiểm khiến tôi từ chối trả lời câu hỏi của các ngài nữa.
 
454 ❤︎ Bài viết: 271 Tìm chủ đề
Phần II: Đất nước của các vị thánh

14. Chương 1: Trên vùng đồng bằng rộng lớn của muối mặn (1)

Ở trung tâm của lục địa Bắc Mỹ rộng lớn có một sa mạc khô cằn, hoang sơ, đáng sợ, một sa mạc mà bao nhiêu năm qua đã trở thành biên giới ngăn cản bước tiến của cuộc sống văn minh. Trải dài từ Sierra Nevada tới Nebraska và từ Yellowstone River ở phía bắc tới Colorado ở phía Nam, vùng đất này là một vùng đất của sự hoang vu, tiêu điều và vắng lặng. Hơn nữa thiên nhiên cũng không ưu đãi tạo ra một đồng bằng bằng phẳng trên vùng đất u ám này. Nơi đây có những đỉnh núi cao ngất, quanh năm tuyết phủ và có cả những thung lũng sâu thăm thẳm, tối tăm và đáng sợ. Nơi đây có những dòng sông chảy xiết, chọc thẳng vào những vách vúi đá lởm chởm. Và nơi đây cũng có những vùng đồng bằng rộng mênh mông, trên những đồng bằng đó, mùa đông tuyết phủ trắng xóa và mùa hè thì nhuốm màu xám xịt của những lớp bụi kiềm mặn chát. Tất cả đều toát lên vẻ cằn cỗi và không thể là vùng đất hứa cho sự tồn tại của con người.

Trên vùng đất của sự tuyệt vọng này không hề có cư dân nào sinh sống. Thi thoảng, có một nhóm người Pawnee hoặc người Blackfeet đi ngang qua đây nhằm hướng tới vùng đất săn bắn mới của họ nhưng ngay cả những người can đảm nhất, cứng rắn nhất, từng trải nhất cũng cảm thấy sung sướng nếu có thể tránh xa được vùng đồng bằng đáng sợ này để được một lần nữa nhìn thấy thảo nguyên xanh tươi của họ. Chó sói ẩn náu trong những bụi rậm rình mồi, chim ó butêo nặng nề vỗ cánh trên không và những chú gấu xám Bắc Mỹ nặng nề băng qua những khe núi tối tăm để kiếm những miếng mồi hiếm hoi có thể ẩn sau những tảng đá. Đó là những cư dân duy nhất của vùng đồng bằng hoang vu này.

Trên thế giới này, không đâu có được một khung cảnh đáng sợ hơn khung cảnh của những cao nguyên phương Bắc vùng Sierra Blanco. Những dải đồng bằng rộng mênh mông ngút tầm mắt, tất cả đều phủ một lớp kiềm mặn chát và bị chia cắt bởi những lùm cây còi cọc trên thảo nguyên. Ở riềm chân trời xa tít tắp, người ta có thể nhìn thấy một dải núi dài với đỉnh núi lởm chởm, lô nhô phủ kín tuyết. Trên khắp một vùng đất rộng mênh mông, bất tận, không hề có dấu hiệu của sự sống, và cũng chẳng có thứ gì có thể sống được trên đó cả. Không một cánh chim nào trên bầu trời ánh bạc, không một chuyển động dù là nhỏ nhất trên mặt đất xám xịt, hoang vu. Bao trùm lên tất cả là một sự tĩnh lặng tuyệt đối. Hãy lắng nghe mà xem, không hề có một tiếng động nào giữa không gian hoang dã mênh mông này. Không có gì cả ngoài sự tĩnh lặng, một sự tĩnh lặng đến rợn người.

Nếu nói rằng chẳng có bất kỳ thứ gì liên quan đến sự sống trên vùng đất rộng mênh mông này cũng không phải là hoàn toàn đúng. Hãy nhìn từ Sierra Blanco, người ta sẽ thấy một con đường mòn băng qua sa mạc. Con đường đó uốn lượn vòng vèo và mất hút phía xa tít tắp. Nó được hằn sâu bởi vết bánh xe ngựa và được củng cố bởi dấu chân của những người thích phiêu lưu, mạo hiểm. Đây đó, rải rác những vật màu trắng, lấp lánh dưới ánh nắng mặt trời, nổi bật lên hẳn so với cái màu xám ảm đạm của muối kiềm. Hãy tiến gần lại và xem đó là gì! Chúng là những mẩu xương: Có mẩu to và thô, một số nhỏ hơn và thon hơn. Những mẩu xương to và thô thuộc về gia súc như bò, ngựa, còn những mẩu xương nhỏ, thon là xương người. Trong vòng bán kính khoảng một nghìn năm trăm dặm, người ta có thể lần ra dấu vết con đường mòn đáng sợ của những đoàn lữ hành này qua những gì còn lại rải rác hai bên đường của những lữ khách đã ngã gục trên đường băng qua vùng sa mạc khủng khiếp này.

Vào ngày mùng bốn tháng năm năm một nghìn tám trăm bốn mươi bảy, nhìn từ vị trí này, người ta sẽ thấy một người lữ hành đơn độc. Người ngoài nhìn vào chắc sẽ rất khó có thể đoán được anh ta gần bốn mươi hay gần sáu mươi tuổi. Gương mặt anh ta gầy guộc, hốc hác, phờ phạc, lớp da cháy nắng khô như da dê dán chặt vào những cục xương nhô ra; bộ râu cũng như mái tóc dài, màu nâu của anh ta nhuộm trắng bụi đường; đôi mắt trũng sâu và cháy rực nhờ một thứ ánh sáng không mấy tự nhiên trong khi hai bàn tay nắm chặt lấy khẩu súng trường cũng chỉ còn có da bọc xương. Khi anh ta đứng lại, anh ta tựa cả người vào khẩu súng trường để làm chỗ dựa. Có thể nhận thấy anh ta vẫn là một người rất cao, khung xương vạm vỡ cho thấy anh ta là người có sức khoẻ dẻo dai và cường tráng. Vì vậy, gương mặt hốc hác và quần áo rộng thùng thình khoác trên một bộ xương run rẩy cho thấy điều gì đã khiến cho anh ta trở nên yếu ớt và hom hem đến như vậy. Anh ta đang chết dần, chết dần chết mòn vì đói và khát.

Anh ta di chuyển một cách chậm chạp, khó nhọc và đau đớn xuống những hẻm núi và lúc này, anh ta đang cố leo lên một chút với hy vọng tìm thấy chút nước ở đâu đó. Giờ đây, giữa vùng đồng bằng muối phủ đã trải dài trước mắt anh ta và cả cái vành đai núi đáng sợ phía xa đều không thấy chút xanh nào của cây cối, dấu hiệu chứng tỏ sự hiện diện của nguồn nước. Trên cả vùng đất rộng lớn này, chẳng có một tia hy vọng nào cho sự chờ đợi của anh cả. Từ Bắc rồi sang Đông, rồi qua Tây, anh ta nhìn dáo dác với con mắt tìm kiếm, mòn mỏi và sau đó anh ta nhận ra rằng cuộc hành trình của anh ta thế là đã kết thúc và rằng ở đây, trên con dốc lởm chởm đá và cằn cỗi này, anh ta sắp chết. – Tại sao lại ở đây mà không phải ở bên giường của cha hai mươi năm về trước? – anh ta lẩm bẩm khi nặng nề đặt người xuống một tảng đá bằng phẳng.

Trước khi ngồi xống, anh ta đặt khẩu súng vô dụng xuống đất và sau đó là cái bọc lớn buộc chặt bằng một chiếc khăn choàng màu xám mà anh ta vẫn đeo bên vai phải. Có vẻ như cái túi đó hơi quá nặng đối với sức khoẻ của anh ta lúc này vì khi đặt xuống, cái bịch va hơi mạnh vào mặt đất. Ngay lập tức, từ trong cái bọc màu xám vang lên một tiếng kêu rên rỉ và từ trong cái bọc thòi ra một khuôn mặt nhỏ xíu, có vẻ lo sợ với đôi mắt nâu rất sáng và hai nắm đấm nhỏ xíu.

– Chú vừa làm cháu đau quá đấy! – giọng nói trẻ con cất lên có vẻ trách móc.

– Thật vậy sao? – người đàn ông trả lời với vẻ ăn năn, hối lỗi. – Ta không chủ định làm thế đâu. – Vừa nói, anh ta vừa tháo cái khăn choàng màu xám ra và để lộ ra một cô bé dễ thương khoảng năm tuổi, đi đôi giày xinh xắn và mặc chiếc váy màu hồng trang nhã. Tất cả cho thấy một sự chăm chút chu đáo của người mẹ. Đứa trẻ có vẻ xanh xao và mệt mỏi nhưng đôi cánh tay và đôi chân khoẻ mạnh của cô cho thấy cô không phải chịu đựng nhiều khó khăn như người bạn đồng hành của mình.

– Giờ thì thế nào rồi? – Người đàn ông hỏi một cách căng thẳng vì cô bé vẫn đang xoa xoa lọn tóc rối bù xù đằng sau đầu.

– Hãy hôn vào đó và làm cho nó hết đau, – cô bé nói với một vẻ nghiêm khắc và chìa chỗ đau ra cho người đàn ông. – Đó là những gì mà mẹ vẫn thường làm. Thế mẹ đâu rồi?

– Mẹ đi rồi. Ta nghĩ chẳng mấy chốc nữa cháu sẽ được gặp mẹ thôi.

– Đi ư? – cô bé nói. – Thật là buồn cười. Mẹ thậm chí còn không hề nói lời tạm biệt. Mẹ luôn luôn làm như vậy khi mẹ chuẩn bị đến nhà dì dùng trà. Vậy mà bây giờ mẹ đi đã được ba ngày rồi. Chú nói xem, chú có khát không? Không có nước uống, cũng chẳng có thứ gì để ăn sao?

– Không, chẳng có gì cả cháu yêu ạ. Cháu chỉ cần kiên nhẫn một chút thôi, và rồi mọi chuyện sẽ ổn. Hãy đặt đầu cháu vào ngực ta như thế, và rồi cháu sẽ cảm thấy dễ chịu hơn. Thật chẳng dễ dàng gì khi nói chuyện với đôi môi khô khốc như thế này nhưng ta nghĩ tốt hơn hết ta nên nói cho cháu biết tình hình hiện tại. Cháu có cái gì đó?

– Những thứ rất đẹp! Những thứ rất tuyệt vời! – cô bé reo lên háo hức và giơ lên hai miếng nhựa mica lấp lánh. – Khi nào chúng ta về nhà, cháu sẽ đưa chúng cho anh Bob.

– Rồi cháu sẽ được nhìn thấy những thứ còn đẹp hơn thế nhiều. Không lâu nữa đâu, – nguời đàn ông nói một cách tự tin. – Cháu chỉ cần đợi một chút thôi. Ta sẽ nói cho cháu biết. Cháu còn nhớ khi chúng ta rời khỏi con sông không?

– Ồ, có chứ!

– Vậy đấy, chúng ta cứ tưởng rằng mình sẽ nhanh chóng tìm được một con sông nữa. Nhưng có điều gì đó không ổn: Đường vòng sai, hay bản đồ, hay một cái gì đó nhưng cuối cùng chúng ta đã không tìm thấy dòng sông. Hết nước. Chỉ còn một vài giọt đủ cho cháu và.. và..

– Và chú không thể tắm được, – người bạn đồng hành bé nhỏ của anh ta ngắt lời với vẻ hết sức nghiêm trọng, mắt nhìn chằm chằm vào khuôn mặt hốc hác của anh.

– Không có nước tắm, cũng không có nước để uống. Và ông Bender là người đầu tiên ra đi, sau đó đến Pete, rồi sau đó đến bà McGregor, sau đó đến Hones, và sau đó, cháu yêu ạ, đến mẹ cháu.

– Vậy là mẹ cũng đã chết, – cô bé kêu lên, vùi mặt vào áo choàng và khóc nức nở.

– Phải, tất cả bọn họ đều chết trừ ta và cháu. Sau đó, ta nghĩ rằng có thể chúng ta sẽ tìm được nguồn nước nếu như đi theo hướng này vì thế ta đã cõng cháu trên vai và chúng ta cùng đi. Nhưng có vẻ như chúng ta chẳng thể cải thiện được tình hình. Giờ đây, chúng ta hầu như chẳng còn hy vọng gì nữa.

– Ý chú là chúng ta cũng sắp chết phải không? – cô bé hỏi, ngừng nức nở và ngẩng khuôn mặt đẫm nước mắt lên.

-Còn tiếp-
 
454 ❤︎ Bài viết: 271 Tìm chủ đề
15. Chương 1: Trên vùng đồng bằng rộng lớn của muối mặn (2)

– Ta nghĩ là như vậy.

– Tại sao chú không nói sớm hơn? – Cô bé nói và mỉm cười sung sướng. – Chú làm cho cháu sợ quá. Tất nhiên nếu chúng ta chết, chúng ta sẽ được gặp mẹ.

– Đúng vậy, cháu sẽ được gặp mẹ, cháu yêu ạ!

– Và chú cũng thế. Cháu sẽ nói với mẹ chú tốt với cháu đến thế nào. Cháu dám cá là mẹ sẽ đón chúng ta ở cửa thiên đường với một bình đầy nước và rất nhiều bánh kiều mạch, nóng và giòn ở hai bên giống như cháu và Bob vẫn thường thích ăn. Vậy còn bao lâu nữa thì chúng ta được tới thiên đàng?

– Ta cũng không biết – chắc là không lâu nữa đâu. – Đôi mắt người đàn ông dán chặt vào đường chân trời phía bắc. Trên vòm trời xanh thẫm xuất hiện ba chấm đen nho nhỏ, những chấm đen đó to dần lên và tiến lại ngày càng nhanh hơn. Người đàn ông nhanh chóng nhận ra đó là ba con chim lớn màu nâu, chúng lượn vòng trên đầu hai kẻ lang thang rồi đậu xuống ba tảng đá trước mặt họ. Chúng là chim ó butêo, loài kền kền săn xác chết ở phương tây. Sự xuất hiện của chúng luôn luôn báo hiệu sẽ có người chết.

– Gà trống và gà mái kìa, – cô bé reo lên vui sướng, chỉ vào cái bóng đáng sợ, báo trước điềm gở của những con chim và vỗ tay để xua chúng bay lên. – Chú nói xem, có phải Chúa đã tạo ra vùng đất này không?

– Tất nhiên là Chúa đã tạo ra vùng đất này rồi, – người bạn đồng hành của cô trả lời, hơi giật mình trước câu hỏi bất ngờ này.

– Chúa đã tạo ra vùng đất Illinois, và Chúa cũng tạo ra vùng Missouri, – cô bé tiếp tục. – Cháu đoán là ai đó khác đã tạo ra vùng đất này chứ không phải Chúa bởi vì công trình của họ không được hoàn hảo lắm. Họ quên mất nước và cây cối.

– Cháu có nghĩ đến chuyện cầu nguyện điều gì không? – người đàn ông rụt rè hỏi.

– Nhưng trời vẫn chưa đêm mà! – Cô bé trả lời.

– Điều đó cũng không sao. Cầu nguyện lúc này cũng không giống như lệ thường lắm nhưng chắc chắn Chúa sẽ không phiền đâu. Cháu có tin không? Cháu có thể nói lại tất cả những gì mà cháu vẫn thường cầu nguyện hàng đêm khi chúng ta còn ở trên thảo nguyên là được.

– Tại sao chú không tự cầu nguyện vài điều gì đó? – Cô bé nói với đôi mắt dò hỏi.

– Ta không nhớ được những lời cầu nguyện đó, – người đàn ông trả lời. – Ta đã không còn cầu nguyện kể từ khi ta cao bằng cây súng này. Nhưng ta nghĩ cầu nguyện sẽ chẳng bao giờ là muộn cả. Cháu cứ đọc to những lời cầu nguyện của mình lên, ta sẽ đứng bên cạnh và đọc cùng cháu khi vào đoạn điệp khúc.

– Vậy thì chú sẽ phải quỳ xuống, cả cháu cũng thế, – cô bé nói và trải chiếc khăn ra để phục vụ cho mục đích đó. – Chú phải chắp tay lại thế này. Việc đó sẽ khiến chú cảm thấy mình tốt đẹp.

Nếu như có ai đó ngoài những con chim săn xác thối kia nhìn thấy cảnh này chắc chắn người ta sẽ phải thừa nhận rằng đây là một cảnh tượng kỳ lạ. Vai sát vai, trên tấm khăn choàng bé xíu, hai kẻ lang thang, một đứa trẻ vô tư và một người đàn ông liều lĩnh, cứng rắn, đang quỳ xuống cầu nguyện. Khuôn mặt mũm mĩm của cô bé và gương mặt góc cạnh, hốc hác của người đàn ông đều hướng về phía chân trời xanh thẳm, không một gợn mây để thành tâm cầu nguyện đấng cứu thế mà họ đang đối mặt. Hai giọng nói – một mỏng nhẹ, trong trẻo, thơ ngây, một giọng khàn, trầm, đục – cùng hòa vào nhau để cầu xin lòng nhân từ nơi Chúa. Sau khi cầu nguyện xong, họ trở lại chỗ ngồi dưới bóng tảng đá cho tới khi đứa bé thiếp ngủ, cuộn tròn trong vòm ngực rộng của người bảo trợ cô. Người đàn ông ngồi ngắm giấc ngủ của cô bé. Sau ba ngày ba đêm không nghỉ ngơi, không ngủ, mi mắt anh giờ chầm chậm trĩu xuống trên đôi mắt mệt mỏi, cái đầu cúi gập xuống ngực cho tới khi bộ râu lởm chởm của anh ta hòa vào với bím tóc màu vàng của người bạn đồng hành. Cả hai cùng thiếp vào giấc ngủ sâu và không mộng mị.

Giá như người lữ hành kia cố thức thêm chừng nửa giờ nữa thì anh ta chắc chắn sẽ bắt gặp một cảnh tượng lạ lùng. Từ đằng xa, tít tận rìa ngoài cùng của dải đồng bằng phủ muối kiềm mặn chát, một đám bụi mỏng bốc lên. Ban đầu, đám bụi đó rất mỏng và nhẹ, hầu như khó có thể phát hiện ra từ khoảng cách xa đến vậy nhưng càng ngày, nó càng mịt mù thêm, tăng rộng thêm cho tới khi tạo thành một đám bụi dày đặc, khổng lồ, rất dễ nhận thấy. Đám bụi này tiếp tục lớn dần lên cho tới khi người ta có thể cảm nhận rõ ràng rằng nó được tạo ra bởi một số lượng cực đông những sinh vật đang di chuyển. Nếu ở một nơi nào đó màu mỡ và phì nhiêu hơn, chắc chắn người ta sẽ nghĩ rằng đám bụi khổng lồ đó sinh ra do một đàn bò rừng bizon đang đi tìm nơi cỏ tươi tốt trên thảo nguyên. Nhưng ở một nơi hoang dã, khô cằn như nơi đây thì điều này là không thể xảy ra. Khi khối bụi khổng lồ tiến gần hơn tới con dốc, nơi hai con người bơ vơ đang dừng chân, hình dáng những chiếc xe căng vải bạt, những kỵ sĩ trên lưng ngựa có trang bị vũ khí dần hiện ra trong lớp bụi. Chắc hẳn đây là đoàn người ngựa đang trên đường hành hương tới phương Tây. Nhưng đây quả là một đoàn người ngựa khổng lồ! Khi đầu đoàn người đã tới được chân núi thì phần đuôi của nó vẫn còn ở xa tít tắp cuối chân trời và người ta khó có thể nhận biết được đâu là điểm cuối cùng của đoàn người dài dằng dặc đó. Và lúc này, ngay giữa vùng sa mạc mênh mông, một hàng người ngựa, xe bò, xe thồ, những kỵ sĩ trên lưng ngựa cùng vô số những người đi bộ dài dằng dặng đang giăng hàng ngang. Vô số phụ nữ loạng choạng bước đi dưới sức nặng của những thứ đồ mang trên lưng, những đứa trẻ chập chững bước đi bên những chiếc xe thồ hay ghé mắt nhìn qua cửa sổ những cỗ xe căng bạt trắng. Rõ ràng, đây không phải là một đoàn người di cư bình thường mà có lẽ là những người du cư ở trong cảnh ngộ bị ép buộc phải ra đi tìm kiếm một vùng đất mới để sinh sống. Giữa không gian tĩnh lặng, tiếng bánh xe ngựa lách cách, tiếng bước chân người sầm sập, tiếng ngựa hý vang làm xáo động cả vùng đồng bằng hoang vu. Nhưng dù cho đoàn người có tạo ra tiếng động to đến như thế đi chăng nữa thì nó vẫn không đủ để đánh thức hai người lữ hành mệt mỏi đang dừng chân trên con dốc.

Dẫn đầu đoàn người là một người đàn ông với gương mặt cứng rắn và dũng cảm hơn cả. Người đàn ông đó khoác trên mình một mảnh vải sợi thô tối màu và mang bên mình súng lục. Khi tiến tới chân con dốc, họ dừng lại và vài người quây lại quanh người đàn ông đó tạo thành một nhóm nhỏ.

– Các giếng nước ở bên phía tay phải chúng ta, – một người đàn ông với đôi môi dày, không để râu và mái tóc cứng xám màu nói.

– Ở bên phải Sierra Blanco – vậy là chúng ta sẽ tới được Rio Grande, – một người khác nói.

– Đừng lo lắng về nước, – người thứ ba nói to. – Đấng tối cao, người có thể tạo ra nước từ những vách đá, chắc chắn sẽ không bỏ rơi chúng ta, những người mà ngài đã lựa chọn đâu.

– Amen! Amen! – Tất cả cùng đồng thanh nói.

Họ đang chuẩn bị tiếp tục cuộc hành trình thì một người trẻ tuổi nhất, có đôi mắt tinh anh nhất bỗng kêu lên một tiếng và chỉ tay về phía dốc đá lởm chởm trước mặt họ. Từ trên đỉnh dốc, một tà váy màu hồng nhạt bay phấp phới, nổi bật trên nền đá xám phía sau. Vừa nhìn thấy hình ảnh đó, tất cả nhóm người cùng ghì cương ngựa và cảnh giác đưa tay về phía khẩu súng bên hông. Trong khi đó, những người khác thúc ngựa tiến lại gần người dẫn đầu. Từ – người da đỏ – dường như đã buột ra từ tất cả những đôi môi kia.


– Không thể có người da đỏ ở đây được, – một người trông có vẻ là người lãnh đạo nói. – Chúng ta đã qua vùng Pawnees rồi và từ đây cho tới khi nào chúng ta vượt qua được dãy núi khổng lồ này, chắc chắn không thể có bộ lạc nào sinh sống được.

– Tôi sẽ tới đó kiểm tra được không người anh em Stangerson? – một người trong nhóm hỏi.

– Cả tôi! – – Cả tôi nữa, – khoảng một tá người khác cùng đồng thanh.

– Hãy để ngựa lại, chúng tôi sẽ đợi các bạn ở đây, – người đàn ông đó trả lời. Một giây sau, những người trẻ tuổi đó đã xuống ngựa, buộc dây cương vào tảng đá và bắt đầu trèo lên con dốc nơi xuất hiện cái hình ảnh kích thích sự tò mò của họ. Họ tiến lên rất nhanh và không hề gây tiếng động với sự tự tin và khéo léo của những tay trinh sát đã được rèn luyện. Những người đứng lại ở phía dưới có thể quan sát họ di chuyển nhẹ nhàng từ tảng đá này tới tảng đá khác cho tới khi hình dáng họ in lên trên nền trời. Người đàn ông trẻ, người đầu tiên để ý tới hình ảnh đó là người dẫn đầu đoàn trinh sát. Bỗng nhiên, những người phía sau thấy anh ta giơ hai tay lên trời như thể quá đỗi ngạc nhiên và như để chia sẻ cảm giác đó cùng anh ta, tất cả những người đi sau cùng thực hiện động tác đó khi họ nhìn thấy cảnh tượng bày ra trước mắt mình.

-Còn tiếp-
 
454 ❤︎ Bài viết: 271 Tìm chủ đề
16. Chương 1: Trên vùng đồng bằng rộng lớn của muối mặn (3)

Trên đỉnh con dốc, giữa một khoảng đất trơ trọi có một tảng đá rất lớn đứng cô độc và một người đàn ông cao, râu dài lởm chởm, nét mặt cương nghị nhưng gầy giơ xương đang tựa vào tảng đá đó. Gương mặt bình thản và hơi thở đều đặn của anh ta chứng tỏ anh ta đang ngủ rất sâu. Bên cạnh anh ta là một đứa trẻ, đôi tay trắng trẻo, tròn trịa của cô bé ôm lấy cái cổ gân guốc, cháy nắng anh, mái tóc vàng của cô bé ngả vào khuôn ngực rộng của người đàn ông. Đôi môi hồng xinh xắn của cô bé hé mở để lộ ra hai hàng răng trắng đều và một nụ cười vô tư hiển hiện trên nét mặt thơ trẻ của cô bé. Đôi chân xinh xắn, trắng mũm của cô bé lộ ra trong chiếc váy trắng và đôi giày gọn gàng hoàn toàn đối lập với vẻ bề ngoài nhàu nhĩ, làn da rám nắng, khô khốc và thân hình gầy guộc của người bạn đồng hành của cô. Trên bờ đá đối diện hai con người lạ lùng này là ba con chim ó butêo. Khi nhìn thấy những người mới đến, chúng lập tức rít lên tiếng kêu khàn đục vì thất vọng và vỗ cánh bay đi.

Tiếng kêu của những con chim đã đánh thức hai người đang ngủ. Họ dụi mắt nhìn quanh mình. Người đàn ông lảo đảo đứng dậy, nhìn xuống vùng đất bằng phẳng phía dưới, vùng đất mà khi anh ta thiếp vào giấc ngủ vẫn còn hết sức hoang vắng, không một bóng người, không một sinh vật sống, giờ đây đã giăng một hàng dài toàn người, xe và ngựa. Gương mặt anh ta ánh lên vẻ hoài nghi khi nhìn thấy cảnh tượng đó. Anh đưa tay lên dụi mắt một lần nữa rồi lẩm bẩm: – Mình chắc đây chỉ là một giấc mơ. – Đứa trẻ đã đứng bên cạnh anh, nắm chặt lấy đuôi áo anh và không nói gì cả nhưng nhìn quanh với đôi mắt ngạc nhiên, dò hỏi rất con trẻ.

Nhóm người vừa tới nhanh chóng thuyết phục được hai người lang thang rằng sự xuất hiện của họ không phải là ảo giác. Một trong số những người đó ôm lấy cô bé và đặt cô lên vai anh ta trong khi đó hai người khác dìu người bạn đồng hành gầy guộc, hốc hác của cô đi về phía đoàn người ngựa.

– Tên tôi là John Ferrier, – người đàn ông giải thích, – trong đoàn gồm có hai mươi người, tôi và cô bé kia là hai người duy nhất còn sống sót. Những người còn lại đã chết vì đói và khát từ khi còn ở phía nam.

– Cô bé là con anh phải không? – Ai đó hỏi.

– Bây giờ thì đúng là như vậy, – người đàn ông trả lời đầy vẻ thách thức, – cô bé là con tôi bởi vì tôi đã cứu nó. Không ai có thể lấy nó khỏi tôi được. Từ hôm nay trở đi, con bé sẽ tên là Lucy Ferrier. Các anh là ai? – Anh tiếp tục, đôi mắt liếc nhìn những người to cao, vạm vỡ, da cháy nắng vừa tới giải cứu mình với vẻ tò mò. – Hình như các anh đi theo đoàn rất đông.

– Khoảng chín hay mười nghìn người, – một trong số những người trẻ tuổi nói. – Chúng tôi là những đứa con bị Chúa hắt hủi và là những đứa con được thiên thần Moroni lựa chọn.

– Tôi chưa bao giờ được nghe nói về thiên thần Moroni, – người lữ hành nói. – Có vẻ như ông ấy chọn nhiều người quá nhỉ.

– Đừng chế giễu những điều linh thiêng, thần thánh, – người kia nói một cách nghiêm nghị. – Chúng tôi là một trong số những người tin vào những điều linh thiêng viết trong những bức thư cổ Hy lạp được đặt trên chiếc đĩa thánh bằng vàng và dâng lên cho thần Joseph Smith ở đền Palmyra. Chúng tôi đến từ Nauvoo ở bang Illinois, nơi chúng tôi đã lập ra một đền thờ. Nhưng chúng tôi phải ra đi tìm kiếm một nơi trú ẩn mới để tránh xa khỏi những kẻ bạo lực và những kẻ vô thần, dù cho đó là giữa vùng sa mạc hoang vu này.

Cái tên Nauvoo rõ ràng là đã gợi nhớ lại những hồi ức cho John Ferrier. Anh nói: – Tôi biết, các anh là người Mormons. – (Người Mormon là những người có thể lấy nhiều vợ – ND).

– Phải, chúng tôi là người Mormon, – những người khác đồng thanh trả lời.

– Vậy các anh đang định đi đâu?

– Chúng tôi cũng chưa biết. Đấng tối cao sẽ dẫn đường cho chúng tôi thông qua một nhà tiên tri. Anh phải đến gặp ông ấy và ông ấy sẽ nói chúng tôi sẽ phải làm gì với các anh..

Lúc đó, họ đã xuống tới chân dốc và một đám đông những người hành hương đang vây quanh họ. Đó là những người phụ nữ với gương mặt xanh xao, trông có vẻ nhu mì, những đứa trẻ mạnh khoẻ, cười đùa, và những người đàn ông với cái nhìn nghiêm nghị. Rất nhiều người đã thốt lên ngạc nhiên cũng như thương xót khi nhìn thấy hai người lạ mặt, một cô bé quá non nớt và một người đàn ông tiều tuỵ. Tuy nhiên, đám đông vẫn tiếp tục đi mà không dừng lại, đằng sau thu hút ngày càng đông những người Mormon cho tới khi họ tới chỗ một cỗ xe ngựa. Đó là một cỗ xe ngựa hết sức nổi bật bởi sự đồ sộ, dáng vẻ cầu kỳ nhưng cũng hết sức thanh nhã của nó. Sáu con ngựa to khoẻ được đóng vào cỗ xe đó trong khi những cỗ xe khác chỉ có hai hay nhiều lắm là bốn con. Bên cạnh người đánh xe ngựa là một người đàn ông, trông không quá ba mươi tuổi nhưng cái đầu to và vẻ bề ngoài quyết đoán của ông ta cho thấy đây chính là người đứng đầu đoàn người hành hương. Ông ta đang đọc một cuốn sách đóng gáy nâu nhưng khi đám đông tiến tới gần, ông đặt cuốn sách sang một bên và lắng nghe một cách chăm chú toàn bộ sự việc. Sau đó ông ta quay lại phía hai người lang thang. Ông ta nghiêm trang nói:

– Chúng tôi chỉ có thể đưa các bạn đi cùng chúng tôi với một điều kiện duy nhất là các bạn cũng phải tin tưởng vào tín ngưỡng của chúng tôi. Chúng tôi không muốn có một con chiên ghẻ nào trong đoàn người của mình. Nếu không thể chấp nhận được điều này thì tốt hơn hết là các bạn ở lại đây, thà làm những mảnh xương trắng trên hoang mạc này còn hơn trở thành con sâu làm rầu nồi canh. Các bạn có chấp nhận điều kiện này không?

– Tôi sẽ đi với các ngài với bất cứ điều kiện nào, – Ferrier nói với giọng nhấn mạnh đến nỗi những người đứng đầu đoàn người không thể nén nổi một nụ cười. Chỉ riêng người lãnh đạo cao nhất vẫn giữ được vẻ nghiêm nghị, cứng rắn và không biểu cảm của mình. Ông ta nói:

– Người anh em Stangerson, hãy thu nhận anh ta, cho anh ta ăn uống. Cả đứa trẻ nữa. Anh cũng sẽ có nhiệm vụ dạy anh ta tín ngưỡng thần thánh của chúng ta. Thôi, chúng ta dừng lại đây như thế là quá lâu rồi. Tiến lên! Tiếp tục hướng tới thiên đường.

– Tiếp tục hướng tới thiên đường! – cả đám đông người Mormon đồng thanh kêu to, tiếng kêu đó lan dần xuống đoàn người đằng sau, truyền từ miệng người này sang miệng người khác cho tới khi chúng mờ dần thành những tiếng rầm rì ở tít phía cuối chân trời.

Tiếng vút của roi da và tiếng lách cách của những cỗ xe ngựa bắt đầu khởi hành nhà chẳng mấy chốc, đoàn người ngựa lại chầm chậm tiến về phía trước. Người được giao nhiệm vụ chăm lo cho hai kẻ lang thang vừa gia nhập đã đưa họ tới xe của mình, nơi một bữa ăn đầy đủ đang đợi họ. Ông ta nói:

– Anh sẽ ở lại đây. Vài ngày nữa anh sẽ lại sức. Trong thời gian đó, hãy nhớ rằng từ giờ trở đi, anh đã là một người theo tín ngưỡng của chúng tôi. Brigham Young đã truyền đạt điều đó và ông ấy đã truyền đạt lại lời của Joseph Smith, đó là lời của Chúa trời.
 
454 ❤︎ Bài viết: 271 Tìm chủ đề
17. Chương 2: Đóa hoa của vùng Utah (1)

Đây không phải là lúc để hồi tưởng lại những khó khăn thử thách, những thiếu thốn mà những người di cư Mormon phải chịu đựng trước khi họ tới được thiên đường cuối cùng của mình. Từ bờ sông Mississippi cho tới những dốc núi miền Tây của vùng Rocky Mountáin, họ luôn luôn phải đấu tranh với một sự kiên trì không gì sánh nổi. Những kẻ thù nghịch, thú dữ, đói khát, mệt mỏi đến kiệt sức và bệnh tật – tất cả những khó khăn, trở ngại mà thiên nhiên có thể tạo ra trên đường đi, những người Anglo Saxon ngoan cường này đều đã vượt qua được. Tuy vậy, cuộc hành trình dài dằng dặc cùng với những nỗi kinh hoàng nối tiếp kinh hoàng ngày một nhân lên khiến cho những người dũng cảm nhất trong số họ cũng phải nản lòng. Vì vậy, khi họ nhìn thấy những thung lũng rộng lớn của vùng Utah trải dài dưới ánh mặt trời hiện ra trước mặt cũng như khi họ nghe được lời nói tối cao từ người lãnh đạo của mình rằng đây chính là vùng đất hứa, rằng những đồng cỏ nguyên sơ trải rộng dưới kia chính là điểm đến cuối cùng và mãi mãi của họ thì không một ai không quỳ sụp xuống đất và thốt lên những lời cầu nguyện, tạ ơn thành tâm nhất từ đáy lòng mình.

Young đã nhanh chóng chứng tỏ mình là một nhà tổ chức có kỹ năng cũng như một nhà lãnh đạo quyết đoán. Ngay lập tức, ông ta cho vẽ bản đồ, dựng mô hình và một thành phố trong tương lai chẳng mấy chốc đã được phác thảo. Những vùng đất xung quanh được chia lô và phân cho từng người. Những nhà lái thương bắt đầu vận hành công việc buôn bán, thợ thủ công cũng bắt đầu vào việc. Đường xá và các khu phố cũng dần hiện lên, nhanh như một phép màu. Ở vùng nông thôn, người ta làm đường ống dẫn nước, rào vườn tược, trồng cấy, phát quang và mùa hè năm sau, khắp vùng đã nhuộm một màu vàng óng của những cánh đồng lúa mì đến vụ gặp. Mọi việc đều diễn ra suôn sẻ đến lạ lùng. Cuối cùng, một đền thờ lớn được dựng lên giữa trung tâm thành phố, ngày càng cao hơn và vĩ đại hơn. Từ khi ánh bình minh đầu tiên báo hiệu một ngày mới cho tới khi tia sáng cuối cùng của buổi hoàng hôn báo hiệu đêm về, tiếng búa gõ, tiếng xẻ gỗ không bao giờ dứt ở nơi mà những người di cư đang dựng lên một điện thờ cho đấng tối cao, người đã dẫn dắt họ an toàn vượt qua bao thử thách và hiểm nguy.

Hai người lữ khách lang thang, John Ferrier và cô gái nhỏ, người đã cùng sẻ chia vận may cùng ông và giờ đây đã trở thành con gái ông, cũng cùng với những người Mormon vượt qua gian khó để đi tới tận cùng của cuộc hành hương vĩ đại của họ. Cô bé Lucy Ferrier khá vui vẻ khi ở trong cỗ xe ngựa của Stangerson cùng với ba bà vợ và cậu con trai cứng đầu mười hai tuổi của ông ta. Với sự bốc đồng và dễ quên của con trẻ, cô bé đã vượt qua được cơn sốc sau cái chết của người mẹ và nhanh chóng làm quen với những người phụ nữ đồng thời hòa nhập với cuộc sống mới của cô trong ngôi nhà di động có mái che này. Trong khi đó, Ferrier đã hồi phục lại sau những khó khăn phải trải qua. Giờ đây, ông đã chứng tỏ mình là một người dẫn đường hữu dụng và một thợ săn không biết mệt mỏi. Ông nhanh chóng nhận được sự kính mến và quý trọng của những người bạn đồng hành mới đến nỗi khi tới đích của cuộc hành trình này, tất cả đều nhất trí rằng ông xứng đáng được nhận một phần đất rộng lớn và màu mỡ giống như bất cứ ai trong đoàn người hành hương này ngoại trừ Young, Stangerson, Kemball, Johnston và Drebber, nhà lãnh đạo cao nhất và bốn người đứng đầu chủ chốt.

Và thế là trên mảnh đất được phân chia, John Ferrier đã xây dựng cho mình một ngôi nhà lớn, và sau nhiều năm làm ăn thành công, ngôi nhà đó đã biến thành một biệt thự rộng rãi. Ông là một người có đầu óc thực tế, quyết đoán trong hành động và có tay nghề thành thạo. Cơ thể rắn chắc, dẻo dai như sắt như đồng cho phép ông làm việc từ sáng tới tối để khai thác và cày bừa trên đất đai của mình. Vì thế, tiếng tăm về trang trại của ông ngày một lan xa và tất cả những gì thuộc về ông ngày một phát triển thịnh vượng. Trong ba năm, ông đã vượt xa những người hàng xóm của mình, sau sáu năm ông đủ ăn đủ mặc, sau chín năm, ông trở nên giàu có và sau mười hai năm, khắp thành phố Salt Lake, chưa có đến nửa tá người có thể sánh được với ông. Từ hải đảo rộng lớn giữa biển khơi cho tới vùng núi Wasatch xa xôi, không có cái tên nào nổi tiếng hơn cái tên của John Ferrier.

Nhưng chỉ có một điều ông khiến cho những người đồng đạo của mình phải phật lòng. Đó là không ai có thể thuyết phục được ông lập gia đình. Ông không bao giờ đưa ra lý do cho sự từ chối hết sức cương quyết của mình mà chỉ thể hiện sự cứng rắn, kiên định trong quyết định của mình. Có một số người quy kết cho ông là thờ ơ đối với tôn giáo mà ông đã chấp nhận, số còn lại cho rằng vì ông quá tham lam, không muốn phải chia sẻ sự giàu có và tài sản của mình cho một người khác. Cũng có những người tưởng tượng rằng ông đã từng có một cuộc tình trước đó với một cô gái tóc vàng, người đã bỏ ông đi trên bờ biển Đại Tây Dương. Nhưng dù người ta có đồn đại lý do là gì đi chăng nữa thì Ferrier vẫn nhất quyết sống độc thân. Ngoài việc này ra, ông luôn tuân theo mọi văn hóa của tín ngưỡng mới và được coi là một con chiên mẫu mực.

Lucy Ferrier lớn lên trong ngôi nhà lớn và giúp đỡ cha nuôi trong công việc kinh doanh của ông. Không khí khắc nghiệt vùng núi và hương thơm của nhựa thông vừa là thuốc thang, vừa là người mẹ nuôi nấng cô gái trẻ. Năm tháng qua đi, cô lớn hơn lên, mạnh khoẻ hơn, gò má cô đỏ hồng và những bước chân của cô uyển chuyển hơn. Rất nhiều khách du lịch đi qua con đường vắt ngang trang trại của nhà Ferrier đều khó có thể quên được cảm giác sống động trong lòng mình khi nhìn thấy dáng vẻ yểu điệu, thướt tha, mềm mại, xinh xắn của cô thiếu nữ đang bước đi giữa cánh đồng lúa mạch, hay gặp cô trèo lên lưng con ngựa của cha mình và điều khiển nó một cách thuần thục như một đứa trẻ miền Tây đích thực. Năm tháng qua, nụ hoa đã hé nở thành một bông hoa rực rỡ, và vào những năm trang trại của cha cô trở thành trang trại giàu có nhất, thịnh vượng nhất vùng thì cô cũng trở thành một cô gái xinh đẹp nhất vùng.

Tuy nhiên, người cha không phải là người đầu tiên nhận ra con gái mình đã trở thành một người phụ nữ. Những thay đổi bí ẩn đó quá mơ hồ và tinh vi, nó biến đổi từng chút một qua thời gian và được đo đếm bằng từng ngày. Vì vậy, trong những trường hợp như thế này, hiếm khi người cha có thể nhận ra những biến đổi đó. Ngay chính bản thân cô thiếu nữ cũng khó có thể nhận ra được điều đó cho tới khi một giọng nói, một âm thanh chạm tới cô, làm trái tim cô run rẩy, khi đó, với một cảm xúc tự hào xen lẫn lo ngại, cô mới nhận ra rằng một bản thể mới, lớn hơn đang trỗi dậy trong cô. Cũng rất hiếm người có thể nhớ được cái ngày hôm đó và nhớ được cái sự kiện nho nhỏ xảy đến báo trước bình minh của một cuộc đời mới. Nhưng trong trường hợp cả Lucy Ferrier, ngay bản chính bản thân sự kiện đó đã đủ quan trọng để cô phải nhớ tới nó chứ chưa nói tới những tác động trong tương lai của nó tới vận mệnh của cả cuộc đời cô và của cả rất nhiều những người khác xung quanh cô.

Hôm đó là một buổi sáng tháng sáu ấm áp, một ngày bận rộn của những chú ong xây tổ. Trên những cánh đồng cũng như trên đường phố, từng nhóm người đang chăm chỉ làm việc. Dưới con đường bụi bặm, từng hàng dài những con la chất nặng hàng hóa đang trên đường hướng về phương tây vì dịch sốt vàng da đang bùng nổ ở California và con đường bộ tới phương tây nằm ngang qua thành phố này. Ngoài ra còn có những đàn cừu, đàn bò đông đúc trên đường trở về từ những đồng cỏ ngoài thành phố và những đoàn người di cư kiệt sức, những người đàn ông cùng những con ngựa cùng mệt mỏi như nhau sau một cuộc hành trình dài vô tận. Giữa tập hợp hỗn độn đó, Lucy Ferrier đang điều khiển ngựa phi nước kiệu một cách khéo léo như bất kỳ một kỵ sĩ điêu luyện nào. Khuôn mặt xinh xắn của cô ửng đỏ vì nỗ lực, bím tóc dài bay bay sau lưng. Cô được cha giao một nhiệm vụ và như nhiều lần trước, cô vui vẻ đảm nhận nhiệm vụ đó với tất cả lòng hăng hái của tuổi trẻ, chỉ chú tâm nghĩ về công việc của mình và làm thế nào để thực hiện được công việc đó. Những người khách lữ hành, trên mình còn nhuốm bụi đường, nhìn theo cô sững sờ, ngay cả những người Ấn Độ vốn được coi là lãnh đạm với phụ nữ cũng nuông chiều mình, buông lỏng chủ nghĩa khắc kỷ mà họ vẫn ép mình tuân theo và ngắm nhìn khuôn mặt xinh đẹp của cô thiếu nữ.

-Còn tiếp-​
 
454 ❤︎ Bài viết: 271 Tìm chủ đề
18. Chương 2: Đóa hoa của vùng Utah (2)

[COLOR=rgb(0, 0, 0) ]


Vừa ra tới rìa thành phố thì cô gái nhận thấy con đường bị tắc lại bởi một đoàn gia sức khổng lồ được điều khiển bởi khoảng nửa tá những người chăn gia súc đang trên đường trở về từ đồng cỏ. Cô gái nóng lòng cố gắng vượt qua trở ngại này bằng cách thúc ngựa đi vào bất cứ chỗ nào cô thấy có khoảng trống. Nhưng cô hầu như không thể tiến lên thêm được chút nào, và chẳng mấy chốc, những con vật càng xiết chặt hơn sau lưng cô khiến cho cô hoàn toàn bị vây giữa những con bò với đôi mắt dữ tợn và cái sừng dài, nhọn. Vì đã quen với những gia súc trong trang trại của cha mình, cô không hề lo lắng về tình huống mình đang gặp phải. Dù vậy, cô vẫn không thể thúc ngựa tiến lên với hy vọng mở được một con đường vượt qua đám đông những con vật đang vây quanh mình. Thật không may, không biết là do vô tình hay cố ý, một con bò đực húc mạnh sừng mình vào sườn con ngựa cô gái đang cưỡi và làm cho nó nổi điên lên. Ngay lập tức, nó dựng đứng hai chân trước và chồm lên trong cơn thịnh nộ. Nếu không phải là một kỵ sĩ lão luyện và can trường thì chắc chắn với cú chồm người dựng đứng lên của con ngựa, bất cứ ai ngồi sau yên ngựa cũng sẽ bị hất thẳng xuống đất. Tình thế đúng là ngàn cân treo sợi tóc. Nhưng mọi cử động của con ngựa đang bị kích động đều khiến cho nó bị đâm mạnh hơn vào sừng những con bò và càng kích thích hơn nữa cơn điên của con ngựa hoang dã. Tất cả những gì cô gái có thể làm là giữ cho mình còn ngồi lại được trên yên ngựa vì chỉ cần trượt đi một chút thôi cũng có nghĩa là cô sẽ bị hất xuống đất và chết dưới hàng ngàn móng guốc của những con vật hoang dã. Vì không quen với những tình huống nguy hiểm như thế này, tâm trí cô bắt đầu luống cuống và nắm tay cầm dây cương bắt đầu lỏng dần. Chán nản, tuyệt vọng khi nhìn thấy đám bụi mù mịt bay bốc lên vì những con vật điên cuồng, cô suýt nữa đã từ bỏ mọi nỗ lực trong tuyệt vọng nếu như không nghe thấy một giọng nói nhẹ nhàng vang lên bên cạnh. Cô biết rằng mình đã được giúp đỡ. Cùng lúc đó, một bàn tay rám nắng, gân guốc tóm lấy dây cằm con ngựa đang hết sức hoảng sợ và dẫn nó ra khỏi vòng vây của đàn gia súc đồng thời nhanh chóng đưa cô ra tới vùng ngoại ô.

– Tôi hy vọng là cô không bị thương, thưa cô, – người vừa cứu cô nói một cách lịch sự.

Cô nhìn lên gương mặt rắn rỏi, rám nắng của anh và mỉm cười vui vẻ. Cô ngây thơ nói:

– Tôi sợ kinh khủng. Ai mà biết được rằng Poncho lại sợ đàn bò này đến thế.

– Ơn Chúa vì cô đã giữ được mình ngồi yên trên ngựa, – người đàn ông nói với vẻ sốt sắng, tha thiết.

Đó là một chàng trai trẻ, cao, có vẻ ngoài hoang dã, cưỡi trên lưng một con ngựa lang to khoẻ và mặc một bộ đồ thô của những người thợ săn, một khẩu súng trường dài khoác trên vai. Anh nói:

– Tôi đoán cô là con gái của ngài John Ferrier. Tôi nhìn thấy cô cưỡi ngựa đi ra từ nhà ông ấy. Khi nào gặp lại ông ấy, nhờ cô hỏi xem ông ấy có còn nhớ Jefferson Hopes ở St. Louis không nhé. Nếu như ông ấy đúng là ngài Ferrier đó thì cha tôi và ông ấy trước đây rất thân với nhau đấy.

– Anh tự mình đến và hỏi không tốt hơn sao? – cô gái e dè hỏi.

Chàng trai trẻ có vẻ sung sướng với lời gợi ý vừa rồi, đôi mắt sẫm màu của anh ánh lên vẻ hài lòng. Anh nói: – Tôi sẽ làm như vậy. Chúng tôi đã tới vùng này được hai tháng rồi mà chưa có cơ hội đi thăm ai cả.

– Cha tôi chắc chắn sẽ rất biết ơn anh, và tôi cũng vậy, – cô gái đáp lại. – Cha tôi rất yêu tôi. Nếu như những con bò kia giết chết tôi, chắc chắn cha tôi sẽ không thể chịu đựng được đâu.

– Tôi cũng vậy! – Người thanh niên trả lời.

– Anh ư? Ồ, tôi không cho rằng điều đó có ảnh hưởng gì đến anh đâu. Anh thậm chí đâu đã phải là bạn của chúng tôi.

Gương mặt rám nắng của chàng trai trẻ tỏ ra rầu rĩ trước câu nói này của Lucy đến nỗi cô phải bật cười.

– Thôi nào, tôi không hề có ý đó đâu, – cô nói. – Tất nhiên, giờ đây anh đã là một người bạn rồi. Anh phải đến chơi với chúng tôi đấy nhé. Còn bây giờ tôi phải đi ngay đây nếu không cha tôi sẽ không bao giờ còn tin tưởng mà giao việc cho tôi nữa đâu. Tạm biệt.

– Tạm biệt, – chàng trai trả lời, nâng chiếc mũ rộng vành lên chào và cúi mình xuống bàn tay xinh xắn của cô. Cô gái điều khiển ngựa quay người lại, thúc ngựa và lao vào con đường rộng rãi, khuất dần trong đám bụi mịt mù.

Young Jefferson Hope thúc ngựa lại chỗ những người bạn đồng hành của mình với gương mặt trầm tư. Anh và bạn bè mình đã ở vùng núi Nevada Mountain với hy vọng tìm được mỏ bạc và đang trở về Salt Lake City với hy vọng gia tăng số tiền đang có để khai thác được những mỏ bạc mà họ đã phát hiện được. Anh cũng tha thiết với công việc này như bất kỳ ai trong bọn họ cho tới khi sự kiện bất ngờ này xảy ra khiến cho những suy nghĩ của anh đột ngột xoay theo một chiều hướng khác. Khi nhìn thấy cô thiếu nữ trẻ tuổi, xinh đẹp, chân thật, trong trẻo và ngây thơ như cơn gió vùng Sierra, ngọn lửa mãnh liệt vốn chìm sâu trong tim anh giờ được thổi bùng lên. Khi nhìn thấy cô biến mất trước mắt mình, anh nhận ra rằng cuộc đời mình đã diễn ra một bước ngoặt mới và rằng những cuộc săn tìm vàng bạc hay bất kỳ điều gì khác cũng không bao giờ có thể quan trọng bằng việc này. Tình yêu vừa mới nảy nở trong lòng anh không phải là tình yêu bồng bột của một cậu bé mới lớn mà là một niềm đam mê mãnh liệt, hoang dã của một chàng trai có ý chí mạnh mẽ và tính tình quyết đoán. Anh đã quen với việc phải thành công trong bất kỳ điều gì anh muốn. Anh thề với lòng mình rằng lần này anh cũng sẽ không thất bại và sự bền chí sẽ đem lại cho anh thành công.

Ngay tối hôm đó, anh đã đến thăm nhà John Ferrier và nhiều lần sau đó nữa cho tới khi anh đã quá quen mặt ở ngôi nhà này. Trong suốt mười hai năm qua John chỉ giam mình trong thung lũng, tập trung tuyệt đối vào công việc của mình nên hầu như không có thời gian để theo dõi tin tức ở thế giới bên ngoài. Jefferson Hope lại có thể kể cho ông tất cả những điều mà ông muốn và theo cái cách khiến cả Lucy và cha cô đều thấy hấp dẫn. Anh là một trong những người tiên phong tới California và có thể kể lại rất nhiều những câu chuyện kỳ lạ về những vận may và những thất bại trong những ngày khởi đầu đó. Anh cũng là một người dũng cảm, một thợ săn, một người khám phá những mỏ bạc và là một chủ trang trại. Bất cứ nơi nào chuẩn bị có những cuộc thám hiểm, Jefferson Hope đều có mặt. Anh nhanh chóng chiếm được cảm tình của vị chủ trang trại già và được ông tâm sự về quá khứ của mình. Trong những lúc như vậy, Lucy chỉ ngồi yên lặng, nhưng đôi gò má ửng hồng và đôi mắt bừng sáng lên niềm hạnh phúc của cô là minh chứng hùng hồn cho thấy trái tim cô không còn thuộc về cô nữa. Người cha trung thực của cô có thể không nhận ra được những biểu hiện đó nhưng chúng không thể thoát khỏi đôi mắt của người đã chiếm được cảm tình của cô.

Một buổi tối mùa hè, anh cưỡi ngựa tới nhà Ferrier và dừng lại trước cổng. Cô đang đứng ở đó và bước xuống gặp anh. Anh buộc dây cương vào hàng rào và bước lên lối mòn có cô gái đang bước tới.

– Anh sắp phải đi, Lucy ạ, – anh nói và cầm lấy hai tay cô trong tay mình, tha thiết nhìn vào mặt cô. – Anh sẽ không yêu cầu em đi cùng anh ngay lúc này, nhưng em sẽ sẵn sàng đi cùng anh khi anh quay trở lại chứ?

– Nhưng khi nào thì anh sẽ quay trở lại? – cô hỏi, đỏ bừng mặt và cười lớn.

– Chỉ khoảng hai tháng thôi. Anh sẽ trở lại và sẽ gặp em, người yêu của anh. Và khi đó không ai có thể đứng chắn đường chúng ta được nữa.

– Còn cha em thì sao? – cô hỏi.

– Cha em sẽ đồng ý miễn là chúng ta có những mỏ bạc hoạt động tốt. Anh tin chắc điều đó.

– Ồ, tất nhiên, nếu cha và anh đã cùng sắp xếp như vậy rồi thì chẳng còn gì phải nói nữa, – cô thì thầm, má cô áp sát vào khuôn ngực rộng của chàng trai.

– Ơn Chúa! – Anh khàn giọng nói và cúi xuống hôn cô. – Vậy là mọi việc đã được sắp xếp. Anh ở lại đây lâu thêm bao lâu thì ngày đó càng xa bấy nhiêu. Họ đang đợi anh ở hẻm núi. Tạm biệt em yêu, tạm biệt. Hai tháng nữa, chúng ta sẽ gặp lại nhau.

Anh gỡ mình khỏi cô khi anh nói và nhảy lên ngựa, phóng đi, không hề nhìn lại như thể sợ rằng nếu anh quay lại một lần nữa để nhìn người con gái anh để lại đằng sau thì quyết tâm của anh sẽ bị lung lay và sụp đổ. Cô gái đứng đó, trước cửa nhà, nhìn theo anh cho tới khi anh hoàn toàn khuất khỏi tầm nhìn của cô. Sau đó, cô quay vào nhà, cảm thấy mình là cô gái hạnh phúc nhất vùng Utah này.
[/COLOR]
 
Từ khóa: Sửa

Những người đang xem chủ đề này

Xu hướng nội dung

Back