522 ❤︎ Bài viết: 420 Tìm chủ đề
Chương 20

Hồ nước xoáy, Quái vật biển và Con cừu của Thần Mặt trời

Vừa ra khỏi hòn đảo của loài Sirens, thuyền của Ulysses lại nghe thấy phía trước có tiếng nước réo ầm ầm. Chàng nhìn thấy một con sóng lớn, phía trên là một đám mây tia nước dày, sáng chói. Vậy là họ đã đi vào vùng biển hẹp chảy qua giữa hai vách đá lớn, vô cùng hiểm trở. Phía dưới tảng đá bên trái là một hồ nước xoáy mà nếu đi vào thì không một con thuyền nào có thể sống sót thoát ra khỏi. Bên tảng đá đối diện, bề ngoài thì chẳng có gì nguy hiểm nhưng nữ pháp sư Circe đã khuyến cáo nơi này ẩn chứa một sự nguy hiểm lớn mà nếu ai không biết lái thuyền qua thì ngay lập tức thuyền sẽ bị nhấn chìm dưới đáy biển sâu vạn dặm. Có thể chúng ta sẽ hỏi: Tại sao Ulysses vẫn quyết định vượt qua những eo biển hẹp giữa hai tảng đá này? Tại sao chàng không thể chèo thuyền raphía ngoài của một trong hai phiến đá? Nguyên nhân thật đơn giản, phía ngoài của hai vách đá hiểm trở có những tảng đá lớn mà người ta vâcn thường gọi là Đá Phiêu du. Ở giữa các tảng đá lớn này nước biển vọt lên thành những cột sóng trắng cao vút và khi có bất cứ con thuyền nào đi qua, những tảng đá lớn kia sẽ lao nhanh vào nhau, nghiền nát con thuyền. Cùng trong thời gian Đó, lửa sẽ phun ra từ những đỉnh của một ngọn núi lửa gần đấy. Bên ngoài tưởng như là một nơi an toàn nhưng thực tế lại chứa đựng biết bao nguy hiểm chết người. May sao Ulysses đã được khuyến cáo từ trước nếu không chàng và những chiến hữu của chàng đã bị làm mồi cho quái vật rồi.

Nữ pháp sư Circe đã cảnh báo cho Ulysses biết về những phiến Đá Phiêu du, thậm chí chúng còn không để cho một đàn bồ câu bay qua chúng. Ngay cả chim bồ câu cũng bị bắt và cơ thể nhỏ bé của nó sẽ bị nghiền nát thành từng mảnh chứ đừng nói gì đến một con thuyền to lớn đến như vậy. Nếu chẳng may một con thuyền nào đi vào giữa các tảng đá Đó thì cả thuyền lẫn cơ thể của những thủy thủ sẽ bị sóng lớn tung lên và cuốn vào cơn bão dữ dội cùng với đảm lửa hung tàn phun ra từ núi lửa. Trong số tất cả những con thuyền từng bơi qua vùng biển này, chỉ có duy nhất con thuyền Argo của Jason thoát khỏi sự săn lùng của những phiến Đá Phiêu du. Để biết thêm những tình tiết thú vị của câu chuyện này, bạn hãy đọc chương Bộ lông cừu vàng. Chính vì những lí do trên nên Ulysses buộc phải mạo hiểm lái con thuyền của mình len vào giữa những tảng đá của khu vực nước xoáy.

Tại các eo biển hẹp giữa hai vách đá, nước biển chảy giống như một dòng sông chảy xiết. Những thủy thủ trên thuyền quá sợ hãi nên không dám cầm mái chèo. Tuy nhiên, Ulysses do đã được nữ pháp sư căn dặn trước về nguy hiểm mới này nên chàng tỏ ra rất bình tĩnh, yêu cầu các chiến hữu nắm chặt mái chèo và tiếp tục chèo thuyền qua khỏi vùng nước xoáy. Chàng yêu cầu người điều khiển bánh lái chèo phía dưới vách đá lớn phía bên phải và tránh xa khỏi vùng nước xoáy cũng như đám bọt nước ở bên trái. Chàng biết rất rõ phía bên trái nguy hiểm như thế nào bởi ở phía dưới hang sâu có một con quái vật có tên là Scylla đang sinh sống. Con quái vật này có sáu đầu và mỗi đầu của nó có thể phát ra một âm thanh khác nhau nghe rất rùng rợn. Đồng nghĩa với việc có sáu cái đầu là con quái vật kia có sáu cái miệng lớn, mỗi miệng có ba hàm răng sắc nhọn cùng mười hai tua dài và móng vuốt ở cuối. Nó có thể đùng những tua này để túm lấy bất cứ kẻ nào dám đi ngang qua nơi đây. Quái vật Scylla ngồi trong hang của mình, dùng tua câu những con cá lớn cùng những con người xấu số vô tình lạc đến nơi này. Đây là một quái vật nguy hiểm chết người, không một người bình thường nào có thể dùng gươm giáo để giết chết nó.

Ulysses cũng biết tất cả những điều này bởi chẳng có gì nữ pháp sư chưa nói trước với chàng cả. Tuy nhiên, chàng cũng biết là phía bên kia của con đường, những tia nước lớn vọt lên cao quá đầu các phiến đá. Nơi Đó là một xoáy nước mà người ta thường gọi là xoáy nước Charybdis. Nếu đem so sánh hai bên, ta có thể thấy rõ điểm khác biệt: Xoáy nước có thể nuốt chửng tất cả các con thuyền đi vào bên trong dòng xoáy của nó, trong khi con thủy quái Scylla chỉ có thể bắt một vài người trong đoàn thủy thủ mà thôi. Đây chính là nguyên nhân đáng để Ulysses yêu cầu người điều khiển bánh lái đi theo con đường gần với tảng đá của Scylla. Tất nhiên, chàng không tiết lộ cho những người đi cùng mình là phía dưới con đường họ đi có một quái vật đang nằm yên đợi con mồi tới là chồm lên tấn công. Chàng mặc. Áo giáp vào, tay cầm hai thanh giáo rồi đứng ở ngay mũi thuyền nghĩ về việc làm thế nào để có thể đâm trúng Scylla.. Các chiến hữu của chàng vẫn trèo thuyền vào sâu dòng biển chảy xiết trong khi những con sóng trắng xóa đang dâng lên cao cho đến khi những tia nước của chúng lên tận tới đỉnh vách đá rồi rơi xuống như nô đùa với lớp cát đen. Trong khi đoàn thủy thủ của Ulysses đang mải mê quan sát cột nước thì quái vật Scylla lao đầu ra khỏi hang và vươn dài sáu cái cổ rồi hạ sáu cái miệng rộng ngoạm sáu chiếm hữu của Ulysses lôi vào hang. Những người bị bắt sợ hãi la hét thảm thiết, ai nấy đều gọi tên Ulysses, cầu xin chàng cứu mạng nhưng chính bản thân Ulysses cũng chẳng thể làm bất cứ điều gì để thay đổi tình hình. Chàng than vãn:

- Đây là một điều đáng tiếc nhất từ trước đến nay. Chính mắt ta phải chứng kiến cảnh những chiến hữu của mình bị chết thảm trong khi tìm đường thoát khỏi vùng biển chết này.

Những người còn lại kinh hoàng cố sống cố chết chèo mạnh cho con thuyền lao vụt qua những luồng nước cuộn sóng ầm ầm. Ai nấy đều mệt mỏi nhưng không dám rời tay chèo vì sợ mình sẽ phải làm mồi cho quái vật giống như những người bạn tội nghiệp kia. May mắn thay, cuối cùng họ cũng thoát khỏi được mối nguy hiểm chết người. Thật khó có thể tưởng tượng được những gì họ vừa phải trải qua, chúng ta chỉ biết âm thầm cảm ơn các vị thần đã phù hộ cho Ulysses và những người bạn của chàng.

Sau khi thoát khỏi vùng nước xoáy, con thuyền của Ulysses tiến thẳng ra vùng biển rộng. Họ đi được một lát thì nhìn thấy một hòn đảo tuyệt đẹp. Tất cả đồng ý sẽ đáp thuyền vào bờ nghỉ ngơi bởi những gì họ vừa trải qua vượt xa trí tưởng tượng của họ. Vừa đặt chân lên hòn đảo, các tráng sĩ của chúng ta đã nghe thấy tiếng be be của đàn cừu, tiếng rống của những chú bò đang bị nhốt trong chuồng. Đó chính là hòn đảo của thần mặt trời Heliox. Ngay lập tức, Ulysses nhớ tới lời tiên đoán của nhà tiên tri già khi còn ở thế giới của người chết và lời khuyên của nàng Circe, Ulysses không dám chủ quan mà chăm chú quan sát xung quanh xem có bất cứ dấu hiệu bất thường nào không. Chàng biết rằng nếu người của chàng giết chết và ăn thịt con cừu của thần mặt trời trên hòn đảo thiêng Thrinacia thì tất cả bọn họ sẽ phải chết. Đó là hình phạt dành cho những kẻ dám xúc phạm thần mặt trời. Ulysses sợ gặp nguy hiểm trên hòn đảo tưởng như bình yên này nên thực các chiến hữu của mình đi tiếp. Tuy nhiên, các tráng sĩ Ithaea quá mệt mỏi nên không chịu nghe. Họ nói rằng họ đã kiệt sức và không thể tiếp tục chèo thuyền giống những tên nô lệ được. Dù gì thì họ cũng phải đáp vào đất liền, nấu bữa tối và ngủ một giấc thật ngon lành cho đến tận sáng hôm sau. Thấy vậy, Ulysses đành kể cho họ nghe về lời tiên tri mà chàng biết được rồi yêu cầu họ cố gắng chèo thuyền qua hòn đảo. Chàng vừa dứt lời, Eurylochus nổi giận lôi đình và bảo rằng mọi người đều đã mệt mỏi và không thể đi tiếp. Ulysses không thể bắt họ lao động quá sức, chàng không có quyền yêu cầu họ làm một việc vô lí như thế được. Eurylochus như vừa châm ngòi cho những người còn lại, cả đoàn hét ầm ĩ lên và nói rằng chẳng có lí do gì mà họ phải chèo thuyên vào ban đêm trong khi họ chỉ cách một hòn đảo xinh đẹp có vài mét, Ulysses không có quyền thúc ép họ, điều duy nhất chàng có thể yêu cầu là bắt họ thề không đựng đến con cừu của thần mặt trời. Sau đó, mọi người trên thuyền cập bến, lên bờ, tìm thức ăn và đi ngủ.

Đêm đến, một cơn bão lớn xuất hiện. Mây đen và sương mù kéo đến ầm ầm che lấp mặt biển và bầu trời bao la. Trong vòng một tháng trời, thời tiết vẫn tiếp tục xấu, gió nam đánh những con sóng lên cao khỏi mặt biên. Vào thời gian đó, không có một con thuyền nào có thể đi vào hoặc đi ra khỏi hòn đảo này. Các tráng sĩ trong đoàn của Ulysses buộc phải nán lại trên hòn đảo đợi bão qua đi mới có thể lên đường. Thức ăn cạn kiệt hết, họ phải cố tìm cách săn bắn và đánh cá lấy thức ăn duy trì sự sống. Tuy nhiên, cách đó cũng không phải là một cách hữu ích xét về lâu dài. Những con sóng bạc đầu liên tục xuất hiện, đánh mạnh vào vách đá trên bờ khiến cho các tráng sĩ không thể đi câu cá hay bắt chim biển. Ulysses một mình lên trên đảo, cầu khẩn các vị thần phù hộ cho chàng cùng các chiến hữu của mình. Chàng vừa cầu nguyện xong thì tìm thấy một nơi trú ẩn. Quá mệt mỏi, Ulysses nằm xuống ngủ một giấc ngon lành.

Eurylochus lợi dụng cơ hội lúc Ulysses không có mặt xúi giục đoàn thủy thủ bắt và giết con cừu thiêng của thần Mặt trời mà lẽ ra họ không bao giờ nên chạm vào nó. Khi ngửi thấy mùi thịt nướng thơm phức, Ulysses tỉnh giấc và chạy vội đến chỗ con thuyền của mình. Chàng biết những chiến hữu của chàng vừa phạm phải một sai lầm nghiêm trọng, không gì có thể sửa chữa được. Chàng hết lời quở trách các chiến hơn nhưng sự thật thì con cừu cũng đã chết rồi. Đoàn thủy thủ tiếp tục ăn nốt phần thức ăn còn lại trong vòng sáu ngày, sau đó khi bão ngừng, gió lặng, mặt trời chiếu rọi, họ lên thuyền ra khơi. Tuy nhiên, hành động xấu xa của bọn họ đã bị trừng phạt thích đáng. Khi họ vừa đi được một quãng. Thì giông bão khủng khiếp bắt đầu nổi lên. Sấm chớp nổ đùng đùng đánh gãy góc cột buồm rơi xuống đầu người lái thuyền khiến chàng chết ngay lập tức. Tiếp theo, chớp đánh vào chính giữa con thuyền, khiến con thuyền quay chong chóng. Các chàng thủy thủ của chúng ta ngã lăn xuống boong. Con thuyền quay cuồng trong bão tố và trong nháy mắt bị đập nát ra từng mảnh. Các tráng sĩ bị sóng biển nuốt chửng. Ulysses may mắn chộp được một mẩu cột buồm và một mảnh ván thuyền. Đúng lúc đó thì bão tan. Ulysses nằm lênh đênh trên mảnh ván. Một cơn gió nam xuất hiện, thổi nhẹ từ từ đưa chàng tiến đến phía miệng khổng lồ đen ngòm của xoáy nước Charybdis. Ulysses hoảng hốt nhảy xuống bám vào một cành cây vả mọc trên đá. Mảnh ván thuyền cùng nước biển chui tọt vào miệng hang của con quái vật biển. Ulysses đợi một lúc thì thấy con quái vật đùn nước biển cùng với mảnh ván thuyền trong bụng ra. Lợi dụng dòng nước chảy ra, chàng nhảy xuống ván thuyền rồi theo sóng trôi ra khơi. Chàng dùng tay làm mái chèo rẽ sóng để mảnh ván tiến về phía trước. Cuối cùng thì chàng cùng đến được bờ biển của một hòn đảo.

Đây là nơi sinh sống của một nàng tiên có tên là Calypso. Nàng tìm thấy Ulysses nằm gần như đã chết trên bãi biển. Nàng đối xử tử tế với chàng, đưa chàng về trong động của mình, chăm sóc chàng bảy ngày bảy đêm đến khi sức khỏe của chàng hoàn toàn hồi phục. Ulysses đã sống ở đó bảy năm trời. Mặc dù được sống cùng một nàng tiên vô cùng xinh đẹp, nhưng lúc nào Ulysses cũng khao khát được quay trở về Ithaca để đoàn tụ với người vợ yêu là nàng Penelope. Tuy nhiên, không có một con thuyền nào từng đến hòn đảo này bởi nó nằm ở giữa đại dương bao la, bản thân chàng lại không có thuyền, cũng chẳng có ai lái thuyền hay chèo thuyền nên đành bất lực. Calypso đối xử với chàng rất tốt, nàng lại rất xinh đẹp, là con gái yêu của thần thông thái Atlas, người giữ hai cột chống trời. Tuy nhiên, Ulysses khao khát được nhìn thấy những làn khói nghi ngút bốc lên từ những ngôi nhà trên hòn đảo Ithaca của mình, vì không tìm được cơ hội quay trở về nên chàng không muốn tiếp tục sống trên cõi đời này nữa.
 
522 ❤︎ Bài viết: 420 Tìm chủ đề
Chương 21

Telemachus đi tìm cha

Khi Ulysses đã sống gần bảy năm trên đảo của nữ thần Calypso, con trai chàng là Telemachus quyết định sẽ đi tìm cha. Lúc Ulysses rời Ithaca đi chiến đấu, Teiemachus vẫn chỉ là một đứa trẻ ẵm ngửa, thấm thoắt thời gian trôi đi, cậu bé năm xưa giờ đã trở thành một chàng trai khôi ngô, tuấn tú. Suốt một thời gian dài, chàng và mẹ của chàng là Peneiope đã phải chịu đựng biết bao nhiêu khó khăn, biết bao nhiêu áp lực. Sau khi trận chiến tại thành Troy kết thúc, Ulysses không quay trở về ngay. Kể từ ngày quân Hi Lạp lên thuyền ra khơi, gia đình Ulysses không nhận được bất cứ tin tức nào của chàng nên nhiều người cho rằng chàng đã chết. Thực tế, mọi người nghĩ như vậy cũng không có gì ngạc nhiên bởi phần lớn các hoàng tử khác đều đã trở về, hoặc nếu không người thân của họ cũng nhận được một vài tin tức quý giá. Đằng này, Ulysses vẫn biệt vô âm tín. Telemachus không nhớ rõ gương mặt của cha, lại không có cha bên cạnh, nhưng qua những câu chuyện của mẹ chàng, của những người bạn của Ulysses, chàng kính trọng và yêu quý cha vô cùng.

Telemachus, con trai của Ulysses vẫn chỉ là một chàng trai trẻ, chưa thực sự cứng cáp để có thể làm trụ cột gia đình. Vua Laertes thì quá già nên đã lui về ở ẩn tại một trang trại yên tĩnh trên đảo. Ở trang trại ông không thể làm bất cứ việc gì ngoài chăm sóc khu vườn của mình. Trong lúc đó, Ithaca trong tình trạng không có vua trị vì. Những cậu bé từ mười đến mười hai tuổi từ hồi Ulysses đi giờ đã trưởng thành. Điều đáng nói ở đây là cha của họ cũng tham gia chiến tranh cùng đợt với Ulysses nên họ có thể tự do làm bất cứ thứ gì mình muốn. Chính điều đó đã gây ra biết bao rắc rối cho mẹ con Penelope. Mười hai trong số chàng trai ngỗ ngược này muốn cưới Penelope làm vợ và luôn hành động vô cùng lỗ mãng. Bên cạnh đó, có tới hàng trăm người ở các hòn đảo kế cận cũng có ý định điên rồ kia. Họ tập trung tại cung điện của Penelope, ăn uống suốt ngày, suốt đêm mà không chịu làm việc. Chúng còn tìm lạc thú với những người hầu gái của Penelope một cách trắng trợn không giấu giếm. Penelope có rất nhiều hầu gái, lại cộng thêm quá nhiều việc cần giải quyết nên không thể quản nổi tất cả bọn họ. Những tên đàn ông lỗ mãng kia giết súc vật của Peneiope để mở tiệc tùng linh đình. Không ai có thể khiến chúng dừng lại. Chúng còn hiên ngang tuyên bố rằng sẽ không bao giờ rời khỏi nhà của Penelope chừng nào nàng chưa chọn một trong số bọn chúng làm chồng, đồng nghĩa với việc kẻ đó sẽ trở thành vua của Ithaca. Chúng chẳng hề quan tâm đến việc Telemachus là hoàng tử hợp pháp của đảo. Tất cả những gì chúng muốn là ép Penelope phải tái giá mặc dù chưa có thông tin chính thức nào cho thấy Ulysses đã chết.

Cuối cùng, để hạn chế bớt sự ngông cuồng, phá phách của đám người cầu hôn, Penelope đành hứa sẽ chọn một trong số chúng làm chồng khi nào nàng dệt xong tấm vải len để may áo cho vua Laertes lúc ông lâm chung. Ngày nào cũng vậy, cứ sáng ra là nàng ngồi dệt vải trước mặt đám đông nhiều người, những đêm đến khi những kẻ gây rối đi rồi (chúng không ngủ trong nhà nàng), Penelope lại tháo tấm vải mình vừa dệt ra. Tuy nhiên, có một nữ hầu gái phản bội nàng, đem chuyện đó kể với đám người gây rối, chính vì vậy chúng buộc nàng phải dệt trong tấm vải trong thời gian sớm nhất. Càng ngày chúng càng lộng hành, thúc ép Penelope phải đưa ra lựa chọn của mình bất chấp nàng có muốn hay không. Về phần mình, nàng vẫn luôn hi vọng Ulysses còn sống và sẽ quay trở về gánh vác công việc cho nàng. Nhưng ngay cả khi chàng quay về thì làm sao chàng có thể đuổi được tất cả những kẻ kia ra khỏi nhà? Vừa nhớ chồng, thương con, tủi cho thân phận của mình, nhiều đêm Penelope than khóc đến sáng. Nàng thầm gọi tên chồng và cầu khấn các vị thần phù hộ cho chàng. Mặc dù là một người thông minh, sắc sảo nhưng Penelope vẫn chỉ là một người phụ nữ chânyếu tay mềm. Nàng vẫn cần có sự che trở của một người đàn ông đáng tin cậy. Ulysses đi chiến đấu, nàng chung thủy đợi chồng, không một ngày nào không nhớ tới chồng mà buồn đến nẫu ruột gan. Còn bây giờ, Ulysses đang trôi dạt nơi nào? Chàng còn sống hay đã chết? Liệu chàng có biết vợ mình đang phải chịu đựng những gì hay không?

Trong số các vị thần bất tử, thần Athene luôn yêu quý Ulysses nên thường xuyên tìm cách bảo vệ chàng. Trong cuộc họp giữa các vị thần, nữ thần đứng lên nói rõ quan điểm của mình với những người khác. Đó là một hôm nắng ráo, thời tiết rất đẹp, không có mưa hay tuyết. Khi mọi người tập trung đông đủ trên đỉnh Olympus, nữ thần Athene ca ngợi lòng tốt, sự thông thái và dũng cảm của Ulysses như thế nào, hiện tại chàng đang bị kẹt ở đảo của nữ thần rừng Calypso ra sao, trong khi tại Ithaca, quê hương chàng, những kẻ gây rối đang tác oai tác quái, phá phách tài sản của chàng, gây phiền nhiễu cho vợ con chàng. Nữ thần cũng nói rằng đích thân nàng sẽ đến Ithaca và giúp Telemachus giành được sự quý mến của người dân trong nước, chỉ cho họ thấy chàng bị đối xử tồi tệ như thế nào rồi sau đó sẽ lên thuyền ra khơi đi tìm cha. Nàng nói xong liền bay từ núi Olympus đến thẳng Ithaca để thực hiện những gì nàng vừa nói. Tới Ithaca, nữ thần biến thành một người đàn ông bình thường có tên là Mentes, chỉ huy của người Taphians. Vào tới cửa nhà Ulysses, nàng nhìn thây những kẻ gây rối tự cao tự đại đang vui chơi trong khi bữa tối đã được chuẩn bị sẵn sàng. Thật là một hình ảnh chướng tai, gai mắt, nữ thần chỉ muốn biến những kẻ xấu xa kia thành những con lợn xấu xí để trừng phạt cho những hành động không thể chấp nhận được của chúng. Vừa quan sát thấy người lạ, Teiemachus vội tiến tới gần, dẫn khách vào nhà và đối xử rất tốt với ông. Trong lúc đó, những kẻ cầu hôn vẫn mải mê ăn uống và cười lớn mà không cần để ý gì đến xung quanh.

Sau đó, Telemachus kể cho nữ thần Athene nghe hay nói đúng hơn là người đàn ông lạ về tình cảnh của mẹ con chàng. Trong khi cha chàng tham gia đoàn quân Hi Lạp đi chiến đấu, trong khi chàng không nhận được bất cứ tin tức nào của cha, không biết cha chàng còn sống hay đã chết thì chàng lại bị đối xử không khác gì kẻ nô lệ thấp kém. Nữ thần Athene hay Mentes nói rằng ông là bạn của của Ulysses đang trên đường đến Cypcrus để mua đồng nên tiện thể ghé thăm Ithaca, Mentes nói tiếp:

- Ulysses vẫn chưa chết, ông ấy sẽ quay trở về nhà nhanh thôi. Cháu rất giống ông ấy, chắc chắn cháu là con trai của Ulysses rồi.

Telemachus trả lời mình chính là con trai của Ulysses nhưng chàng không biết làm thế nào để thoát khỏi tình thế hiện tại. Mentes nổi giận lôi đình khi những kẻ câu hôn lăng nhục chàng hoàng tử trẻ, ông nói rằng đầu tiên chàng nên kể lại những chuyện này với mọi người trên đảo, sau đó lên thuyền đi tìm Ulysses. Đây chính là cách giúp chàng thoát khỏi những phiền toái hiện giờ. Nói xong Athene từ biệt Telemachus.

Ngày hôm sau, Telemaehus tập hợp mọi người và kể cho họ nghe về hoàn cảnh trớ trêu mà mẹ con chàng đang phải gánh chịu. Mặc dù ai nấy đều thông cảm và lấy làm tức cho chàng nhưng không ai có thể giúp đỡ chàng. Tuy nhiên, một nhà tiên tri già nói rằng chắc chắn Ulysses sẽ quay trở về, những kẻ cầu hôn liền đe dọa và lăng nhục ông. Vào buổi tối, nữ thần Athene lại đến dưới hình dáng của một người đàn ông Ithaca có tên là Mentor. Chàng khuyến khích Telemachus hãy đi tìm một con thuyần có hai mươi tay chèo nhưng tuyệt đối không được để cho mẹ chàng biết bất cứ điều gì mà chỉ lặng lẽ chuẩn bị mọi thứ cần thiết cho chuyến đi. Chỉ có vú Eurycleia, người từng nuôi dưỡng chàng và cha chàng, bí mật mang rượu và thức ăn cho chuyến đi của Teiemachus. Đêm hôm Đó, Teiemachus và Mentor lên thuyền ra khơi. Họ chèo thuyền cả đêm và ngày hôm sau đã đến đảo Pylos của ông già thông thái Nestor.

Nestor chào đón họ một cách nồng nhiệt, con trai ông là Pisistratưs và Thrasymedes từng chiến đấu ở thành Troy cũng không giấu được sự vui mừng khi gặp con trai Ulysses. Ngày hôm sau, khi Mentor rời đi, Pisistratưs và Telemachus cùng nhau điều khiển xe ngựa lên vùng đồi cao rồi đi xuống thung lũng. Họ đi hai ngày trời và đến được Lacedaemon nằm phía dưới đỉnh Taygetus trên bờ dòng sông Eurotas trong vắt.

Mặc dù kể từ ngày quân Hi Lạp rời khỏi thành Troy, không ai trong số những người tham chiến nhìn thấy Ulysses, tuy nhiên, Menelaus lại nói cho Telemachus biết rằng cha chàng vẫn còn sống và đang ở cùng nữ thần Calypso trên một hòn đảo hoang. Làm sao Menelaus biết được điều này, chúng ta sẽ khám phá ở các trang sau. Khi Telemachus và Pisistratus đến cung điện của Menelaus thì đúng lúc đức vua đang đãi khách. Thật không lịch sự nếu hỏi hai chàng trai trẻ là ai trước khi họ được tắm rửa tẩy sạch bụi trần, mặc quần áo mới và ăn uống. Sau bữa tối, Menelaus mời hai người khách ở lại, ông nhận thấy Telemachus có vẻ rất thích ngôi nhà của ông cùng với những tia sáng lấp lánh phát ra từ những bức tường được phủ bằng đồng và được trang trí bằng vàng, ngà voi và bạc. Telemachus chưa bao giờ nhìn thấy những thứ đẹp như thế ở Ithaca. Nhận thấy vẻ ngạc nhiên của chàng, Menelaus nói rằng ông đã mang rất nhiều thứ quý giá từ thành Troy về nhà sau tám năm đi lang thang tới Cyprus, Phoenia, Ai Cập và thậm chí là vùng Lobya nằm trên bờ biển phía bắc của châu Phi. Mặc dù hiện tại ông rất giàu có và may mắn nhưng ông vẫn rất buồn khi nhớ tới những chiến hữu đã hi sinh vì lợi ích của ông tại thành Troy. Trên hết, ông vô cùng đau khổ khi người dũng sĩ giỏi nhất là Ulysses đã mất tin tức trong nhiều năm, không ai nghe thấy bất cứ tin tức gì của chàng, không biết hiện chàng còn sống hay đã chết. Meneiaus vừa dứt lời, Telemachus lấy vạt áo choàng che mặt khóc nức nở. Thấy vậy, Menelaus đoán ra chàng trai trẻ là ai và không nói thêm bất cứ điều gì.

Telemachus có hình dáng bên ngoài rất giống Ulysses nên Helen nhận ngay ra chàng là con trai của Ulysses. Pisistratus vô tình nghe thấy Heien nói điều này với Meneiaus, liền kể cho hai người nghe chuyện Telemachus đang đi tìm kiếm tin tức của cha mình. Cả Melenaus và Helen đều vô cùng xúc động khi nhìn thấy con trai của Ulysses - người đáng tin cậy nhất trong số những người bạn của họ. Sau đó, tất cả ba người đều không thể kìm được nước mắt bởi Pisistratus nhớ tới người anh Antilochus của mình đã bị Memnon, con trai của thần mặt trời giết chết trong một cuộc chiến tại thành Troy. Helen muốn an ủi hai chàng trai trẻ, nàng lấy ra một lọ thuốc thần kì mà nữ hoàng Polydama, vợ của Vua Hi Lạp đã tặng cho nàng rồi đem hòa với rượu đưa cho họ uống. Loại thuốc này có tác dụng xoa dịu mọi đau đớn và tức giận, khiến con người quên đi tất cả các nỗi đau buồn, bất hạnh. Helen biết rằng đây chính là thời điểm thích hợp nhất để nàng sử dụng loại thuốc này bởi chỉ có nó mới giúp hai chàng trai bất hạnh kia tạm quên đi nỗi buồn đau.

Sau đó, Helen kể cho Telemachus nghe về những chiến công vĩ đại của Ulysses khi còn ở thành Troy. Ulysses đã chịu bao đau đớn, cải trang thành một kẻ ăn mày xấu tính ra sao để lọt vào bên trong thành phố, ăn cắp Vật thiêng của thành Troy. Menelaus kể cho Telemachus nghe về bản lĩnh của cha mình, về việc chàng đã giữ cho ông cùng những hoàng tử khác im lặng như thế nào trong con ngựa gỗ khi Deiphobus buộc Helen giả giọng của vợ họ gọi họ. Telemachus cảm thấy vô cùng vui sướng khi được kể về sự dũng cảm và thông thái của cha mình.

Ngày hôm sau, Telemachus kể cho Menelaus nghe việc chàng và mẹ chàng đã bị những kẻ đến cầu hôn đối xử tệ bạc như thế nào, Menelaus cầu nguyện để Ulysses sớm quay trở về Ithaca, giết chết tất cả những kẻ gây rối. Ông nói:

- Ta sẽ kể cho cháu nghe tất cả những tin tức ta nghe được về cha cháu. Sau khi rời khỏi thành Troy, thuyền của ta bị những con sóng lớn đánh trôi dạt vào một hòn đảo có tên là Paros. Ta phải ở lại hòn đảo đó trong vòng ba tuần liền, sau đó ta phải mất một ngày để ra khỏi cửa sông Aegyptus (tên cũ của sông Nile). Bọn ta bị đói rét, thức ăn hết, vì vậy đoàn thủy thủ của ta phải lên bờ đi câu cá để lấy thức ăn. Thật trùng hợp là con gái của thần biển Proteus cũng sinh sống trên hòn đảo đó. Nàng khuyên ta rằng nếu có thể hãy bắt cha của nàng khi ông xuất hiện trên mặt biển để yêu cầu ông nói ra những điều ta cần biết. Vào giữa trưa Proteus thường nhô lên khỏi mặt nước, lên bờ để ngủ trên lớp cát dày. Nếu ta bắt được ông ta, ông ta sẽ biến thành nhiều hình dạng khác nhau, nhưng cuối cùng rồi cũng phải quay trở lại hình dạng thực của mình và trả lời câu hỏi của ta. Nữ thần nói xong liền đào một hố sâu dưới cát để ta ẩn nấp. Sau khi ta cùng ba người đàn ông nữa nằm xuống hố, nàng dùng da cá voi phủ lên người bọn ta. Vào giữa trưa, ông già của biển cả xuất hiện cùng đoàn cá voi của mình. Sau khi đếm số lượng cá voi, ông nằm xuống dưới bờ biển để ngủ. Ngay lập tức chúng ta nhảy lên, lao về phía ông ta và giữ thật chặt, không để ông ta thoát. Ban đầu ông ta biến thành sư tử, báo, rồi chuyển sang hình dạng của một con rắn, rồi một con lợn rừng. Tiếp theo, ông ta biến thành một dòng nước chảy, rồi một cây cao đang nở hoa. Nhưng dù ông ta biến thành gì đi chăng nữa thì bọn ta vẫn giữ chặt ông ta cho đến khi ông ta biến thành hình dạng thật của mình. Khi ta hỏi về những việc ta cần làm, Proteus nói rằng ta sẽ không bao giờ có được một ngọn gió tốt lành nếu ta không quay trở lại dòng sông Aeguptus và cung tiến vàng cho thiên đàn. Sau đó, ta hỏi ông ấy về người anh em Agamemnon và được kể lại rằng người anh em của ta đã bị giết chết ở đại sảnh của ông ấy ngay khi mới quay trở về. Cuối cùng ông ta nói về Ulysses và thật không may cho người chiến hữu tốt của ta, hiện ông ấy không có thuyền hay thủy thủ để thoát khỏi hòn đảo hoang để trở về nhà.

Đó là tất cả những gì Menelaus có thể kể cho Telemachus nghe. Chàng trai trẻ ở lại trong cung điện của Menelaus một tháng liền. Trong suốt thời gian đó, những kẻ gây rối vẫn chờ đợi chàng và tính kế giết chết chàng để dễ bề đoạt ngôi. Chúng tập trung lực lượng ở một eo biển hẹp mà chúng nghĩ rằng chàng buộc phải lái thuyền qua khi về quê hương, đợi thời cơ bắt và giết chết chàng.
 
522 ❤︎ Bài viết: 420 Tìm chủ đề
Chương 22

Sau ngày Menelaus nói với Telemachus rằng Ulysses vẫn còn sống, các vị thần đã cử thần Hermes đến gặp Calypso. Đó là do nữ thần Athene thuyết phục được hội đồng các vị thần đồng ý tạo cơ hội để Ulysses trở về đoàn tự với gia đình. Thần Hermes đi đôi dép bằng vàng của mình và đáp xuống hòn đảo hoang nhanh như một cơn gió. Mặc dù đường đến hòn đảo của Calypso rất xa xôi, nhưng khoảng cách về không gian và thời gian chẳng có ý nghĩa gì đối với các vị thần, bởới chính họ là những người cai quản trời đất này. Thần bay qua những đỉnh núi cao vời vợi giống như một con chim cốc đang đuổi lũ cá tội nghiệp dọc theo đại dương bao la với bộ lông ướt sũng. Thần Hermes là một vị thần có tâm hồn phóng khoáng, thích đi ngao du thiên hạ, mà đúng hơn, công việc của thần đòi hỏi thần phải đi đây, đi đó rất nhiều. Hermes chính là thần đưa tin. Khi đến hòn đảo, thần Hermes lên thẳng động của Calypso để gặp nàng. Trên mặt hang có một đống lửa cháy rất lớn và ngay cả khi còn ở xa hòn đảo, ta đã có thể ngửi thấy hương thơm phát ra từ những cành cây tuyết tùng đang cháy và mùi thơm của gỗ đàn hương. Đó là một mùi hương nhẹ nhàng, thoang thoảng nhưng vô cùng quyến rũ. Bất cứ ai ngửi thấy mùi hương đó đều muốn hít thật sâu vào lồng ngực, để hương thơm lan tỏa bên trong cơ thể. Trong khi đó nữ thần của chúng ta vẫn đang ngân nga giọng hát ngọt ngào của mình một cách say mê. Nàng đang dệt vải giống như biết bao người phụ nữ bình thường khác. Nếu được nhìn thấy vẻ mặt rạng rỡ của nữ thần lúc đó, chúng ta đều thấy rằng nữ thần đang rất hạnh phúc và mãn nguyện với cuộc sống. Xung quanh động là những dây hoa đang nở rộ tạo cho ngôi nhà của nữ thần một khung cảnh rất nên thơ, không một nơi nào có được. Đi đâu cũng có thể ngửi thấy mùi thơm dễ chịu bởi nàng biết kết hợp những loại cây và hoa tỏa ra hương thơm. Ngôi nhà của nữ thần là sự kết hợp khéo léo, hấp dẫn về thị giác, khứu giác và xúc giác. Bên trên mặt biển, những chú chim cú, chùn ưng đang bay lượn tìm mồi, chúng phát ra những âm thanh ồn ã, tạo cho hòn đảo một bầu không khí khá sôi động. Đây là một hang rất sâu, đường dẫn vào hang phải đi qua một vườn nho lúc nào cũng sai quả. Ngoài ra có bốn vòi phun nước được sắp xếp theo trật tự nhất định. Xung quanh đám cỏ xanh mướt, hoa violet và hoa đàm thi nhau khoe sắc. Có thể nói khung cảnh nơi đây không khác gì chốn thần tiên mà ngay cả một vị thần bất tử một khi đã đến nơi này cũng phải ngạc nhiên trước cảnh vật và cảm thấy vui sướng trong lòng. Thần Hermes đã ngao du khắp thế giới, đã từng nhìn thấy nhiều cảnh quan kì thú nhưng thần vẫn không khỏi bị choáng ngợp trước không gian đặc biệt nơi đây.

Sứ giả đưa tin đã đến, đó là người đã giết chết Argos, một vị thần ghi được nhiều chiến công và được những vị thần khác kính trọng, yêu mến. Thần Hermes đứng lặng yên và tự hỏi tại sao một hòn đảo hoang sơ như thế này lại có những cảnh đẹp tuyệt trần, làm mê đắm lòng người như vậy. Khi thần đã quan sát hết vẻ đẹp của không gian, thần đi vào trong hang rộng để thực hiện nhiệm vụ chính của mình. Ngay cả khi đứng đối diện trực tiếp với vị sứ giả này, Calypso cũng không thể nhận ra đó là ai. Đây là một điều hết sức ngạc nhiên bởi thông thường các vị thần đều biết hết nhau, ngay cả khi có một vị thần nào đó sống ở một nơi xa xôi, ngăn cách với những nơi tập trung đông dân cư. Thần Hermes nhìn thấy Ulysses, nhưng lúc này hình ảnh của chàng hoàn toàn khác với dũng sĩ Ulysses gan dạ, khôn ngoan, hiên ngang đứng giữa quân thù. Bây giờ, chàng là một con người hoàn toàn khác, một người yếu đuối, đau khổ. Chàng như sống với những gì sâu thẳm bên trong tâm hồn mình, chàng ngồi trong động, khóc lóc thảm thương, buồn bã về tình cảnh khốn khổ của mình. Ngay cả tâm hồn cứng rắn của chàng cũng đang than khóc, chàng lau nước mắt, nhìn ra xa phía đại dương bao la với ánh mắt tuyệt vọng. Mặc dù được sống tại một hòn đảo tuyệt đẹp bên cạnh một nữ thần xinh đẹp, lại được nàng yêu thương hết mức, đối xử hết lòng nhưng Ulysses vẫn không quên người vợ trẻ đang vò võ đợi mình ở nhà. Với chàng, tất cả những của ngon vật lạ, tất cả những gì tốt đẹp nhất mà chàng đang được hưởng không thể sánh bằng vợ con chàng, quê hương của chàng. Chàng đau khổ vì không. Thể quay trở về nhà, không thể gặp những người thân yêu đang lo lắng chờ tin chàng. Khi nhìn thấy thần Hermes, Calypso hỏi:

- Hỡi thần Hermes, tôi có thể hỏi về mục đích chuyến viếng thăm của thần lên hòn đảo của tôi được không? Tôi luôn cầu nguyện người, sùng kính người và tất nhiên sẽ chào đón người trong ngôi nhà nhỏ bé của mình. Hãy nói cho tôi biết suy nghĩ của ngài, trái tim của tôi luôn sẵn sàng để làm ngài hài lòng. Hãy theo tôi, tôi muốn cho ngài xem những điều hết sức thú vị.

Nói xong, nữ thần dọn thức ăn lên bàn, tất cả những gì nàng khoản đãi thần Hermes đều là những món caoltương, mỹ vị. Sau đó, nàng ngồi xuống bên cạnh thần, rót rượu tiên đỏ ra cốc, khoản đãi khách. Sứ giả đưa tin vui vẻ đón nhận lòng thịnh tình mến khách của chủ nhà, thần ngồi ăn uống và chuyện trò vui vẻ cùng vị nữ thần xinh đẹp, dịu dàng. Hai vị thần nói chuyện với nhau về bao nhiêu chủ đề trên thiên đàng, cũng như dưới hạ dưới. Nhưng không ai đụng chạm đến chủ đề mà lẽ ra họ cần phải thảo luận đến. Thần Hermes không muốn phá vỡ bầu không khí vui vẻ trong bữa ăn. Mãi đến lúc sau khi đã thưởng thức xong những món ăn ngon lành, uống xong loại rượu quý, thần Hermes mới trả lời nữ thần:

- Nàng vừa hỏi tại sao ta phải vượt một quãng đường xa như vậy để đến đây ư? Hỡi nữ thần xinh đẹp, ta sẽ nói thật cho nàng nghe theo đúng yêu cầu của nàng. Thần Dớt ra lệnh cho ta phải đến đây chứ không phải do ta tự mình đến. Thần nói rằng trên hòn đảo có một người đàn ông đang vô cùng đau khổ. Anh ta đã chiến đấu chín năm ròng rã ở thành Troy xa xôi và đến năm thứ mười thành Troy thất thủ, anh ta cùng các chiến hữu của mình đã lên thuyền quay trở về nhà. Trên đường đi, họ đã mắc tội với nữ thần Athene và nữ thần đã trừng phạt họ, khiến cho biển nổi sóng dữ dội, đẩy họ trôi dạt theo những con sóng lớn. Sau đó, tất cả những chiến hữu của anh ta đều chết hết, chỉ còn lại anh ta vượt qua được sự thử thách dữ dội kia. Cũng chính sóng biển đã đưa anh ta đến đây, đến hòn đảo của nàng. Và bây giờ, thần Dớt yêu cầu nàng hãy để anh ta đi. Số phận của anh ta không phải ở trên một hòn đảo hoang vắng như thế này, anh ta phải được trở về ngôi nhà của mình, gặp gỡ những người thân yêu trong gia đình. Đó là tất cả những gì thần Dớt yêu cầu ta truyền đạt lại với nàng.

Hermes vừa dứt lời, nữ thần xinh đẹp run lên và đáp lại:

- Các người quả là những vị thần khó chịu, các người ghen ghét với ta bởi ta là một nữ thần có tâm hồn rộng mở, có thể kết bạn với con người. Còn người đàn ông kia, ta đâu có cướp anh ta về, khi đi dạo một mình trên bờ biển, ta đã phát. Hiện ra anh ta đang nằm bất tỉnh trên một tấm ván và ta đã cứu sống anh ta. Chính thần Dớt đã để cho thuyền anh ta lao vào dòng nước xoáy để thuyền của anh ta bị đắm, vậy tại sao bây giờ khi anh ta đã được an toàn, thần lại yêu cầu ta để cho anh ta đi. Mặc dù các chiến hữu của anh ta đã chết hết nhưng sóng và gió biển đã đưa anh ta đến đây. Ta nghĩ rằng đây cũng chính là số phận. Chính vì anh ta rất dũng cảm và thông minh nên ta đã đem lòng yêu mến và kính phục con người trần tục này. Ta nghĩ nếu anh ta đồng ý ở lại với ta ta sẽ biến anh ta trở thành một người bất tử, không bao giờ già. Ta sẽ không để cho anh ta ra đi đâu bởi tình cảm của ta dành cho người đàn ông này quá lớn. Hay nói đúng hơn, ta không có thuyền với mái chèo, mà anh ta cũng chẳng có bạn bè để đi cùng. Từ đây về tới quê hương của anh ta là cả một con đường dài đầy khó khăn nguy hiểm, làm sao anh ta có thể một mình vượt qua được cơ chứ. Liệu ta có phải giả vờ như không biết chuyện gì, bắt mình phải tin rằng anh ta sẽ có thể quay về nhà an toàn mà không gặp bất cứ rủi ro nào không? Ta nghĩ rằng mình không thể làm được điều đó. Anh ta sống ở đây rất tốt, không phải lo lắng về cơm ăn, áo mặc, không phải e sợ về những mối nguy hiểm có thể rình rập anh ta ở thế giới bên ngoài. Vậy thì tại sao lại bắt ta phải rời xa người đàn ông ta vô cũng yêu mến.

Mặc dù hiểu được tấm lòng của nữ thần xinh đẹp, nhưng sứ giả đưa tin không thể làm gì khác bởi nhiệm vụ của thần chỉ là truyền đạt lại những gì thần Dớt đã nói lại cho Calypso. Thần đáp lại:

- Ta hiểu suy nghĩ của nàng, nhưng một khi thần Dớt đã quyết định điều gì thì khó có thể thay đổi được. Thần yêu cầu nàng để cho người đàn ông kia đi thì ta nghĩ rằng nàng nên làm như vậy. Nếu trái lệnh thần Dớt thì ngay sau đây thôi, thần sẽ nổi giận và đích thân tìm đến nàng, khi đó thì không ai có thể cầu xin hay giúp được nàng đâu.

Sau đó, thần đưa tin chào tạm biệt nữ thần. Calypso vô cùng đau khổ, nhanh chóng đến thẳng chỗ Ulysses trong lòng đang đầy tâm trạng. Dù sao thì nàng cũng đã được truyền đạt thông điệp của thần Dớt và nàng không thể làm trái được. Có điều, sau ngần ấy thời gian sống chung với Ulysses, chàng đã trở thành một phần vô cùng quan trọng đối với nàng, làm sao nàng nỡ rời xa người dũng sĩ tài ba này đây? Nữ thần Calypso thấy Ulysses đang ngồi trên bờ biển hướng về phía đại dương bao la. Từ khi đến đây, mắt của chàng chưa bao giờ khô nước mắt. Ngày nào cũng vậy, Uiysses đều ra bãi đá nhìn về phương xa, khóc than, đau buồn. Chàng luôn hướng trái tim và tâm trí của mình về Ithaca. Với chàng, khoảng cách về không gian từ hòn đảo hoang sơ này tới Ithaca là rất lớn, nhưng trái tim của chàng như vẫn đã quay trở về quê hương. Nữ thần Calypso đứng cạnh chàng và nói:

- Hỡi người đàn ông tội nghiệp, từ nay chàng sẽ không còn phải chịu cảnh buồn đau trên hòn đảo này nữa đâu. Ta biết rằng, chừng nào còn ở đây, chàng còn lãng phí cuộc đời của mình trong đau khổ bởi chẳng bao giờ chàng cảm thấy hạnh phúc dù chỉ trong một giây phút ngắn ngủi. Bây giờ ta sẽ để chàng đi, để chàng quay lại với những gì thuộc về chàng. Nào, hãy đứng dậy, hãy đi chặt cây trong rừng và làm một chiếc bè rộng, chuẩn bị ra khơi. Ta sẽ chuẩn bị bánh mì, nước và rượu vang đỏ cho chuyến đi dài ngày của chàng. Dù sao chàng vẫn phải ăn và uống khi lênh đênh trên biển, đúng vậy không nào. Và ta cũng sẽ chuẩn bị cho chàng một bộ trang phục mới và gọi gió lành đến để chàng có thể quay trở về quê hương mà không gặp bất cứ nguy hiểm nào. Ta không có quyền giữ chàng ở lại nơi này thêm một ngày nào nữa. Chàng thuộc về quê hương của chàng, thuộc về những người thân yêu mà chàng ngày đêm mong nhớ. Nếu các vị thần coi giữ thiên đàng đều thống nhất để chàng ra đi thì dù ta có cố gắng thế nào đi chăng nữa cũng không thể thay đổi được quyết định của thần Dớt. Thực lòng ta muốn chàng ở lại bên ta suốt cả cuộc đời này nhưng ta biết ta không thể ích kỉ như vậy được.

Ulysses rất vui mừng nhưng lại cũng buồn rầu: Vui vì các vị thần đã chiếu cố đến chàng và buồn vì chàng nghĩ đến cảnh phải một mình vượt qua những vừng biển rộng chưa con thuyền nào đi qua. Hiểu được tâm trạng của Ulysses, nữ thần Calypso nói :

- Rõ ràng là chàng muốn quay trở về nhà mình chỉ trong một tiếng đồng hồ đúng vậy không? Cầu cho chàng sẽ gặp nhiều điều may mắn. Chàng biết rằng chia tay chàng, ta sẽ vô cùng đau khổ, có thể sự đau khổ của ta sẽ không kém với sự dằn vặt mà chàng đã phải chịu đựng trong suốt thời gian qua. Mặc dù nếu chàng ở lại đây sống với ta, chàng sẽ trở thành bất tử, không bao giờ biết đến cái chết, chàng cũng không cần phải vất vả làm việc để nuôi bản thân, nuôi gia đình, nhưng chàng lại mong muốn được nhìn thấy vợ mình, được lặp lại nàng ấy sau bao nhiêu năm xa cách. Tình yêu chàng dành cho vợ, nỗi khát khao được trở về cùng gia đình lớn hơn bất kì một sự cám dỗ nào. Ta chỉ biết nói rằng, vợ chàng là một phụ nữ may mắn vì có được tình yêu của chàng. Ta thừa nhận rằng mình không cao quý như nàng ấy bới nàng ấy đã phải chịu đựng quá nhiều trong thời gian chàng đi vắng. Mà sánh về sắc đẹp và sự duyên dáng thì ta cũng không bằng nàng ấy. Thôi, chàng hãy chuẩn bị đi đi, cứ tiếp tục thế này chắc ta không thể chịu đựng được nữa.

Ulysses nói với nữ thần:

- Hỡi nữ thần, hỡi nữ hoàng của hòn đảo, cầu xin nàng đừng giận ta, cũng đừng căm ghét ta. Ta là người biết rõ hơn ai hết rằng nàng Penelope dù có khôn ngoan, sắc sảo nhưng không thể so sánh với nàng về sự duyên dáng và vẻ đẹp bên ngoài. Nàng đẹp và quyến rũ hơn Penelope. Nàng ấy là người trần mắt thịt, sẽ già đi, nhan sắc sẽ phai tàn, còn nàng thì không bao giờ biết đến tuổi già hay cái chết. Mặc dù vậy, ngày nào ta cũng muốn được quay trở về nhà, được nhìn thấy vợ con, những người dân trên hòn đảo của mình. Nếu có một vị thần nào đó vì ghét ta mà đày ta xuống địa ngục tăm tối thì ta vẫn sẽ chịu đựng, chờ đợi cơ hội quay trở về nhà. Ta đã phải chịu đựng quá nhiều điều vất vả, quá nhiều đau khổ rồi, vì vậy chẳng có gì có thể khiến ta thay lòng.

Ngày hôm sau, Calypso mang đến cho Ulysses những đồ dùng của thợ mộc. Chàng chặt những cây gỗ lớn, đóng một chiếc bè thật chắc. Xong xuôi, nữ thần chất đầy đồ ăn, thức uống xuống bè cho chàng rồi bịn rịn chia tay chàng dũng sĩ thân yêu đã cho nàng bảy năm trời hạnh phúc. Ulysses giương buồm và một cơn gió thuận đưa chàng ra khơi. Mặc dù chàng hoàn toàn có thể sống bất tử cùng với một nữ thần xinh đẹp nhưng chàng đã chọn gia đình, quê hương. Chàng biết, ra đi lần này nếu may mắn, chàng có thể quay trở về đoàn tụ với gia đình, bằng không chàng sẽ phải chết. Tuy nhiên, Ulysses đã quyết tâm và không gì có thể thay đổi được quyết định của chàng.
 
522 ❤︎ Bài viết: 420 Tìm chủ đề
Chương 23

Ulysses bị đắm thuyền và tới Phaeacia

Sau khi Ulysses rời khỏi đảo của nữ thần Calypso, thời tiết trở nên thuận lợi lạ kì. Những cơn gió tốt lành thổi trên biển nên tạm thời chuyến đi của Ulysses chưa gặp bất cứ khó khăn nào. Chàng ngồi trên bè, kệ mặc nó trôi đi theo chiều gió, tuy nhiên, đi được một quãng đường khá xa nhưng chàng vẫn không nhìn thấy đất liền hay bất cứ con thuyền nào. Vào ban đêm, chàng phải hạn chế ngủ để trông chừng những con sóng lớn, luôn cầm chặt bên tay trái như nữ thần Calypso đã dạy chàng. Chuyến hành trình của chàng diễn ra bình yên vô sự trong vòng mười bảy ngày, sang ngày thứ mười tám, chàng nhìn thấy những đỉnh núi cao của một hòn đảo được gọi là Phaeacia. Chàng khấp khởi mừng thầm vì cuối cùng mình cũng đến được đất liền dù chàng không biết hòn đảo đó là của ai. Đúng lúc đó thì thần biển nhìn thấy chàng và thần nhớ lại chàng đã chọc mù mắt của con trai mình là Cyclops như thế nào. Thần đùng đùng nổi giận vung đinh ba đập mạnh xuống nước làm cho sóng bão lại nổi lên ầm ầm: Những đám mây đen ùn ùn kéo đến trên bầu trời và sấm chớp nổi lên sáng rực cả một góc trời. Ulysses kinh hoàng khi nghĩ đến cảnh có thể mình phải bỏ mạng nơi này. Chàng ước gì giá như chàng chết đi khi bị quân thành Troy vây xung quanh trong lúc đang cố gắng bảo vệ thi thể của Achilles. Thà chết như vậy, chàng còn được mọi người biết đến, còn được chôn cất và được nằm bên cạnh bạn bè. Nhưng nếu bây giờ, chàng bị chết đuối thì hồn ma của chàng sẽ mãi mãi phải lang thang một mình ở vùng đệm của thế giới người chết giống như hồn ma của Elpenor. Chàng rùng mình khi nghĩ đến điều đó và gần như mất hết hi vọng. Chàng không sợ chết nhưng lại lo cho số phận của hồn ma của mình sau khi chết. Chàng không chịu được cảnh cô đơn phải lang thang một mình mà không được nói chuyện với những người xung quanh dù chàng biết họ đang ở rất gần mình.

Trong lúc chàng đang mải suy nghĩ những cơn gió lớn làm gẫy cột buồm của chiếc bè, buồm và cột rơi xuống biển. Thật không may, sóng biển cùng kéo chàng dũng sĩ bất hạnh của chúng ta xuống sâu dưới lòng đại dương. Đó chính là chủ ý của thần biển ởồi thân quyết tâm giết chết Ulysses trả thù cho con trai. Sau một hồi vật lộn với sóng biển, cuối cùng chàng cũng ngoi lên được mặt nước và cố gắng bơi đuổi theo chiếc bè rồi trèo lên trên, bám chặt lấy hai thành bè. Như vậy vẫn chưa hết, mặc dù chàng đã ngồi được lên trên bè nhưng những cơn gió biển vẫn đẩy chiếc bè của chàng tiến lên, lùi xuống giống như một chiếc lông vũ. Đúng lúc đó thì nữ thần biển Ina xuất hiện. Nàng cảm thấy thương cảm cho con người tội nghiệp kia nên đã ngoi lên mặt nước giống như con chim mòng biển ngoi lên rũ khô cơ thể sau khi vừa ngụp xuống dưới nước tìm thức ăn. Nàng an ủi chàng và cho chàng một chiếc khăn rồi nói:

- Hãy cởi hết quần áo ra và quấn chiếc khăn này xung quanh ngực. Sau đó, chàng hãy nhảy xuống nước và bơi cho đến khi tới được đất liền thì hãy ném chiếc khăn trở lại đại dương bao la rồi quay đầu đi. Chàng hãy ghi nhớ những gì ta vừa nói bởi nếu làm theo đúng chỉ dẫn của ta, chàng sẽ có thể tai qua nạn khỏi.

Ulysses bắt lấy chiếc khăn và quấn quanh ngực như lời nữ thần biển vừa nói, tuy nhiên chàng quyết tâm không rời khỏi chiếc bè của mình chừng nào những thanh gỗ của nó còn gắn chặt với nhau. Dù sao thì chàng vẫn cần một phương tiện để nếu may mắn thoát nạn, còn có cái để sử dụng cho chuyến đi tiếp theo. Chàng nghĩ thì nghĩ vậy thôi chứ chàng hiểu rằng trong điều kiện thời tiết như thế này, chiếc bè của. Chàng khó có thể chống chịu được lâu. Càng lúc, những tấm gỗ bị đánh ra xa nhau hơn, chàng nắm chặt lấy một tấm ván, ngồi dạng chân sang hai bên giống như một người đang cưới ngựa. Những cơn gió dịu bớt đi, nhưng gió bấc đẩy Ulysses trôi lênh đênh trên mặt biển trong vòng hai ngày, hai đêm. Vào ngày thứ ba, mọi thứ dường như lắng xuống và trở về trạng thái bình thường vốn có của nó. Đất liền chỉ còn cách chỗ chàng một đoạn không xa, Ulysses bắt đầu bơi đến đất liền. Chàng phải vượt qua một ngọn sóng khủng khiếp, ngọn sóng này đánh mạnh vào những tảng đá sắc nhọn gần bờ và nếu không may bị cuốn theo, chắc chắn cơ thể của chàng sẽ bị tan thành từng mảnh nhỏ. Trong khi chàng cố gắng nắm lấy một tảng đá thì một đợt sóng biển lại ập đến chực kẻo chàng quay trở lại biển khơi. Ulyssses phải cố gắng lắm mới có thể bơi ra khỏi những đợt sóng lớn đó, rồi bơi dọc theo dải đất liền để tìm một nơi an toàn. Cuối cùng thì chàng cũng đến được cửa sông. Mọi thứ ở đây đều yên bình, hai bờ sông không thể hiện bất cứ dấu hiệu nguy hiểm nào. Nước của sông khá nông, Ulysses còn có thể chạm chân xuống đáy sông. Chàng lảo đảo bước ra khỏi dòng nước chảy hiền hòa và ngất đi khi vừa lên. Tới mặt đất. Chàng đã tốn quá nhiều sức khi phải vật lộn với những con sóng quái ác, gió dữ của biển khơi, trong khi đó lại không ăn gì hai ngày rồi. Khi đã tỉnh táo trở lại, chàng ném trả chiếc khăn của nữ thần biển rồi lại gục xuống mệt lử giữa những đám lau sậy mọc bên bờ sông. Chàng dũng sĩ Ulysses lúc đó ở trong bộ dạng trần truồng, đói khát giống như một kẻ ăn mày không chốn dung thân. Chàng bò ở giữa hai hàng cây nhu dày, mọc san sát nhau tạo thành một nơi trú ẩn lý tưởng, giúp chàng tránh khỏi sự tấn công của gió. Chàng dùng lá ôliu phủ kín cơ thể, một lúc sau người chàng ấm trở lại và chàng chìm vào trong một. Giấc ngủ sâu ngon lành. Chàng ngủ say đến mức không biết gì đến xung quanh, không còn lo lắng gì đến tình trạng khó khăn của mình lúc bấy giờ. Đơn giản, chàng chỉ muốn ngủ để lấy sức, sau đó còn phải tìm chút gì ăn cho đỡ đói bụng.

Trong khi chàng dũng sĩ Ulysses đang ngủ ngon giấc trong trạng thái trần truồng trên một vùng đất lạ thì nàng Nausicaa, con gái của đức vua nước Phaeacia (chính là hòn đảo Ulysses vừa đặt chân đến) có một giấc mơ kì lạ mà bản thân nàng cũng không thể lí giải được. Trong giấc mơ, Nausicaa gặp một người bạn gái của mình và người bạn đó đã nói với nàng những điều mà nàng chưa từng nghe tới: "Hỡi Nausicaa, tôi tự hỏi tại sao mẹ bạn lại có một người con gái quá bất cẩn như bạn nhỉ? Trong nhà bạn có rất nhiều quần áo, vải vóc cần được giặt giũ trước ngày cưới của bạn nhưng bạn lại chưa làm. Theo phong tục thì bạn phải tặng quần áo cho những người khách đến thăm, bạn có nhớ không? Vậy ngày mai bạn hãy đi giặt giũ quần áo ở sông và nhớ mang theo trang phục dành cho nam giới. Tôi hi vọng bạn sẽ ghi nhớ những gì tôi vừa nói đấy".

Ngày hôm sau, khi Nausicaa tỉnh giấc, nàng nhớ lại giấc mơ đêm hôm trước với vẻ ngạc nhiên nhưng có đôi chút tò mò. Nàng tin rằng đó không phải là một giấc mơ vớ vẩn, mà là một điềm báo dành cho nàng. Nàng đến gặp cha, hỏi cho cho mượn chiếc xe đẩy để chở quần áo đi giặt Nàng không nói bất cứ điều gì về ngày cưới của mình bởi nàng chưa có ý định gì cho chuyện đó. Mặc dù có rất nhiều chàng trai trẻ yêu nàng tha thiết và muốn cưới nàng làm vợ nhưng nàng không yêu ai trong số bọn họ. Như là sự sắp đặt của số phận, nàng công chúa xinh đẹp luôn có cảm giác mình đang chờ đợi một người nào đó mà không phải là một trong số những người đang si mê nàng. Có rất nhiều quần áo cần được giặt sạch, cha nàng cho nàng mượn một chiếc xe ngựa có khung cao và vài con la để kẻo xe. Quần áo được chất đầy lên xe, còn thức ăn được xếp vào trong một chiếc rổ xinh xắn. Nausicaa nắm lấy dây cương, điều khiển những con ra từ từ tiến về phía trước. Theo sau nàng là rất nhiều người hầu nữ cùng trang lứa, bởi nàng là công chúa nên không thể đi ra ngoài một mình được. Hơn thế nữa, không đời nào cha nàng để nàng phải một mình giặt hết số quần áo kia trong khi số người hầu trong cung điện lên tới con số không đếm được. Họ đến một cái ao sâu và trong, chảy tràn qua một con đập nước nhỏ. Đây là nơi họ sẽ giặt quần áo và lội xuống những dòng suối nhỏ để chơi đùa. Các cô gái la hét, cười đùa rộn rã khiến Ulysses tỉnh giấc. Lúc đó chàng đang ở trong một khu rừng nhỏ nhưng lại không thể định thần được xem mình đang ở nơi đâu và làm thế nào có thể bò được tới nơi này. Chàng tự hỏi: "Ta đang ở đâu thế này? Đây có phải là một đất nước của những người hoang dã, dữ tợn không? Liệu ta có phải đối mặt với những mối nguy hiểm chết người nữa hay không? Các cô gái kia đang chơi đùa xung quanh ta và có taêr phát hiện ra sự có mặt của ta bất cứ lúc nào. Liệu có phải họ chính là những nàng tiên của những đỉnh đồi và những con sông hay những đồng cỏ nơi đây không? Làm thế nào để có thể giải đáp được ngần ấy thắc mắc bây giờ?".

Ulysses không có quần áo, hơn nữa những giọng nói kia chắc. Chắn là của phụ nữ nên chàng không thể để họ nhìn thấy mình trong bộ dạng khiếm nhã như thế này được. Chàng vội bẻ một chiếc lá lớn, che toàn bộ cơ thể trừ đôi chân trần, khuôn mặt hoang dại đầy mệt mỏi vì lạnh và đói. Tóc và râu của chàng bết lại với nhau, lởm chởm. Không ai còn nhận ra hình ảnh chàng Ulysses khôi ngô tuấn tú, từng lập được rất nhiều chiến công oanh liệt cho quân Hi Lạp.

Những cô gái trẻ vừa nhìn thấy một khuôn mặt lạ nhô ra khỏi cành cây xanh liền hét lên và hốt hoảng bỏ chạy tán loạn dọc theo bờ biển. Họ sợ rằng người lạ kia là kẻ xấu và sẽ làm hại họ. Chỉ riêng có Nausicaa là vẫn đứng yên tại chỗ không hề sợ hãi bởi nàng đã được nữ thần Athene truyền cho lòng can đảm. Ulysses không dám đến gần mà chỉ đứng từ xa cầu khẩn người con gái xinh đẹp:

- Hỡi nữ hoàng xinh đẹp tuyệt trần! Dù nàng là thần tiên hay người phàm trần thì tôi cũng xin thể hiện lòng ngưỡng mộ của mình trước sắc đẹp nghiêng nước, nghiêng thành của nàng. Nếu nàng là một vị thần thì tôi tin rằng nàng chỉ có thể là nữ thần Artemis, con gái của thần Dớt vĩ đại và tôi thật sự vui mừng vì đây là lần đầu tiên tôi được gặp một nữ thần dưới vùng đất của con người. Còn nếu nàng chỉ là con gái của những người bình thường như tôi thì thật hạnh phúc cho bậc cha mẹ nào có được người con gái như nàng. Chắc chắn cha mẹ nàng phải tự hào về con gái của họ lắm đây. Mỗi khi đưa nàng đến dự hội hay khiêu vũ thì trong trái tim họ luôn rộn lên niềm vui sướng ngay khi nàng mới bắt đầu bước chân vào đại sảnh vì họ sẽ thấy rằng nàng giống như một bông hoa đẹp lộng lẫy giữa những người con gái khác. Các chàng trai không thể kìm lòng được khi đứng trước nàng. Họ yêu nàng. Và chỉ mong có thể cưới nàng về làm vợ. Họ sẵn sàng tặng nàng những món quà quý giá nhất để chiếm được trái tim của nàng. Tôi tin rằng những gì mình nói là hoàn toàn chính xác. Có một lần ở Delos tôi nhìn thấy một thứ rất đẹp, đó là cây cọ non đặt trên bàn thờ của thần Apollo. Tôi đã đi rất nhiều nơi, gặp gỡ rất nhiều người nhưng hiếm ai có được vẻ bề ngoài giống như nàng. Khi tôi nhìn thấy nàng, tôi không chỉ thấy được vẻ đẹp bên ngoài mà còn thấy được sự đáng quý của tâm hồn nàng. Tôi ngưỡng mộ tâm hồn và trái tim của nàng dù đây mới chỉ là lần đầu tiên chúng ta gặp nhau. Trước đây tôi đi cùng với rất nhiều người, nhưng do các điều kiện khách quan và do họ đã hành động sai lầm nên bây giờ chỉ còn lại mình tôi cô đơn một mình. Trông bộ dạng của tôi lúc này không khác gì một kẻ ăn xin bẩn thỉu, một tên thuộc tầng lớp thấp đến nỗi những cô gái khác vừa nhìn thấy tôi đã bỏ đi, không dám nhìn lại. Thế còn nàng, tại sao nàng lại không bỏ chạy cùng họ? Phải chăng nàng ngạc nhiên đến nỗi không thể cất bước bỏ đi, hay do nàng chỉ tò mò muốn biết tôi là ai và tôi đang làm gì ở đây? Tôi không biết nàng đang nghĩ gì nhưng tôi tin rằng nàng là một người con gái không chỉ xinh đẹp mà còn rất thông minh, dũng cảm. Phong thái của nàng toát lên hết những phẩm chất tốt đẹp bên trong mà ai nhìn vào cũng có thể cảm nhận được. Tôi ngạc nhiên trước nàng đấy. Bình thường nàng hoàn toàn có thể khiến tôi đau đớn về thể xác để tự vệ bới nàng đâu có biết gì về tôi, về những đắng cay nhọc nhằn mà tôi phải gánh chịu. Tôi đang đứng trước mặt nàng đây chỉ là một người đàn ông bất hạnh, thấp kém, không một mảnh vải che thân. Hỡi người con gái xinh đẹp, tôi không biết dùng lời nào để diễn tả ấn tượng và sự khâm phục của mình dành cho nàng. Ngày hôm qua, vào ngày thứ hai mươi, tôi vừa trốn thoát khỏi lòng đại dương tối tăm bao la nhưng những con sóng nối tiếp nhau không chịu để cho tôi yên. Chúng đã khiến tôi ở trong bộ dạng như thế này, rồi lại còn những cơn gió mạnh đã đẩy tôi trôi dạt tới đây từ đảo Ogygla. Tôi nghĩ rằng một vị thần nào đó đã đưa tôi lên bờ biển này và cũng rất có thể một vài thế lực xấu xa sẽ không chịu tha cho tôi mà tiếp tục săn đuổi tôi đến khi tôi không còn trên cõi đời này nữa mới thôi. Tôi không cho rằng mọi rắc rối đến đây là chấm dứt, các vị thần đã nói rằng tôi phải vượt qua rất nhiều thử thách nữa mới mong được bình yên vô sự. Bản thân tôi lại không biết mình còn phải đối mặt với những điều khủng khiếp nào nữa đây. Hỡi người con gái nhân hậu, xin nàng hãy thương tôi, một kẻ suốt gần hai mươi năm qua không ngừng phải đương đầu với sóng biển bão tố. Nàng là người phụ nữ trần tục đầu tiên tôi gặp trong suốt quãng thời gian lênh đênh với sóng gió của mình đấy. Ít nhất hãy cho tôi một mảnh vải che thân bởi tôi không thể ở trong bộ dạng này mãi được. Sau đó, xin nàng hãy đưa tôi đến thành phố, nơi nàng đang sinh sống. Cầu chúc cho nàng được thần linh phù hộ để nàng được đáp ứng mọi điều trái tim nàng mong muốn. Cầu chúc cho nàng có một cuộc sống gia đình hạnh phúc, một người chồng tốt, một ngôi nhà xinh xắn. Tôi không biết thể hiện lòng biết ơn của mình như thế nào ngoài sự chân thành của mình, mong cho nàng gặp được mọi điều tốt đẹp. Ta nghĩ rằng chẳng có gì mạnh hơn khi trái tim của một người đàn ông và vợ anh ta đập chung một nhịp. Khi họ hiểu nhau, chia sẻ mọi khó khăn, vui sướng thì họ sẽ không bao giờ phải chịu cảnh đau buồn, bạn bè của họ sẽ vui mừng cho họ. Ta tin rằng nàng sẽ có được những điều đó.

- Hỡi người đàn ông lạ mặt kia! - Nausicaa đáp - Nghe chàng nói ta đoán chàng không phải là một kẻ xấu hay ngu ngốc. Chính thần Dớt vĩ đại trên đỉnh Olympus đã ban tặng sự giàu có và thịnh vượng cho con người chúng ta, cho những người tốt và cho cả những kẻ xấu theo ý thích của người. Thần linh đã ban cho chàng một trí tuệ thông minh sắc sảo, tài ăn nói khó ai có thể sánh được. Chàng đã đến thành phố của chúng ta, vùng đất của chứng ta thì ta tin rằng đó cũng là sự sắp đặt của thần linh. Ở đây chàng sẽ không thiếu thốn bất cứ thứ gì chứ đừng nói là quần áo. Chúng ta là những người rất hiếu khách, nếu chúng ta nhận thấy một ai đó có thể trở thành bạn của mình, một người không có ý định làm hại chúng ta thì chúng ta sẽ đối xử rất tốt với người đó, dành tặng cho người đó những thứ quý giá và tốt đẹp nhất. Ta tin chàng nên sẽ đưa chúng về thành phố, giới thiệu chàng với những người thân của ta. Người Phaeacian là chủ của thành phố và vùng đất này. Còn ta, ta là con gái của vua Aleinous, người có trái tim vĩ đại, người mà tất cả những người dân của chúng ta đều có thể tin tưởng và giao phó tính mạng của mình.

Nói xong, nàng gọi đám nô tì đến, giải thích với họ không có bất cứ sự đe dọa nào ở đây cả. Người đàn ông đang đứng trước mặt nàng là người tốt, đang gặp vận hạn nên cần sự giúp đỡ của họ:

- Hỡi những người hầu gái tội nghiệp của ta. Tại sao các người lại phải chạy trốn khi nhìn thấy một người đàn ông? Chắc chắn anh ta không phải là kẻ thù của chúng ta nên các ngươi đừng coi anh ta giống như kẻ thù mà sợ hãi, căm ghét. Sẽ không có người nào dám mang chiến tranh tới vùng đất của người Phaeacian đâu bởi chúng ta là những người thân thiết với thần linh, được thần linh yêu mến, che chở. Chúng ta sống trên một vùng đất xa xôi mà không có một người nào tự nhiên tới đây để gây chiến hay giao thiệp với chúng ta. Người đàn ông này đã bị sóng gió đẩy vào đây nên chúng ta phải đối xử tốt với anh ta. Các người nên nhớ rằng tất cả những người lạ và người ăn mày đều do thần Dớt đưa đến, chính vì vậy nếu chúng ta xua đuổi họ, đánh đập họ thì thần sẽ không bao giờ tha thứ cho chúng ta. Nào, hãy mang quần áo, đồ ăn, thức uống đến cho anh ta. Ta chắc rằng bụng anh ta đang sôi lên vì đói.

Những người hầu gái nghe chủ nhân của mình nói vậy nên cũng vững lòng. Họ không chạy trốn nữa mà gọi nhau quay lại. Sau đó, họ mang quần áo đến cho Ulysses mặc nhưng ai nấy vẫn có vẻ gì đó rất sợ sệt, không tự nhiên. Nausicaa không hiểu tại sao họ lại có thể yếu đuối và dễ sợ hãi đến như vậy. Nàng là con gái của vua, là người thuộc dòng dõi quý tộc nhưng cũng không đến nỗi như vậy. Nàng buộc họ phải làm theo yêu cầu của nàng. Họ đặt bộ quần áo mới dành cho Ulysses xuống dưới đất, sau đó đưa cho chàng một lọ dầu oliu rồi yêu cầu chàng xuống dưới sông tắm rửa sạch sẽ. Trong khi tắm, chàng dũng sĩ Ulysses nói với các nữ hầu gái:

- Ta nghĩ rằng các nàng nên đứng xa ra trong khi ta tắm và bôi dầu oliu lên người bởi từ lâu rồi thứ dầu này đã trở thành một kẻ xa lạ với làn da của ta. Nếu các nàng ở đây, nhìn ta thì ta sẽ không thể tắm được bởi ta cảm thấy xấu hổ khi ở trong bộ dạng trần truồng giữa những cô gái đẹp như các nàng. Suốt thời gian qua ta phải lênh đênh trên biển, phải chịu sự hành hạ của sóng gió dữ dội nên bây giờ ta không tự tin khi tắm trước mặt người khác.

Thấy vậy, các nữ hầu gái của Nausicaa tản ra và kể lại chuyện với chủ nhân của mình. Còn lại một mình, Ulysses tận hưởng quãng thời gian thoải mái, gột sạch lớp muối mặn bao phủ khắp lưng và đôi vai rộng lớn của chàng. Chàng không nhớ lần cuối cùng mình được tắm trong nước ngọt như thế này là từ bao giờ nữa, chỉ biết rằng đã rất lâu rồi chàng không được thư thái như vậy. Sóng gió của biển khơi đã đốt cháy làn da của chàng. Tắm xong, chàng xức dầu thơm lên người và mặc bộ quần áo mà người con gái còn trinh trắng đã chưa cho chàng. Trong suốt cuộc hành trình, nữ thần Athene, con gái của thần Dớt luôn dõi theo chàng nhưng nàng lại không thể trực tiếp đưa chàng thoát khỏi toàn bộ những chuyện này bởi đó chính là số phận của chàng. Khi chàng tắm rửa xong, nữ thần khiến cho chàng trở nên tuyệt hơn, mạnh mẽ hơn, phong độ hơn rất nhiều. Mặc quần áo xong, trông chàng khác hẳn so với lúc trước. Bộ quần áo chàng mặc trên người là một tác phẩm tuyệt vời của kĩ thuật thủ công khéo léo, tinh xảo. Chính nữ thần Hephaestus, Pallas Athene đã dạy những phụ nữ ở đây cách dệt vải, may quần áo và trang trí quần áo sao cho ai nấy nhìn thấy cũng phải trâm trồ ngưỡng mộ. Vì công chúa Nausicaa làm theo giấc mơ đêm hôm trước, nên nàng mang theo một bộ quần áo rất đẹp mà khi Ulysses khoác lên trên người, cả công chúa và những nữ tì đều phải sững sờ bởi lúc đó trông chàng quá đẹp trai và dũng mãnh.

Sau đó, Ulysses lên bờ, ngồi giữa những nàng thiếu nữ xinh đẹp. Công chúa Nausicaa không thể rời mắt khỏi chàng, nàng ngồi ngắm chàng trai lạ từ đầu đến chân và nói với những người hầu gái:

- Hãy nghe này, ta muốn nói một vài điều. Ta tin rằng chính thần Dớt đã đưa người đàn ông này đến vùng đất của người Phaeacian chúng ta. Bình thường làm gì có một người trần nào đến nơi đây. Ta nói vậy có đúng không nào? Ban đầu thì trông chàng chẳng có chút gì khôi ngô, quyến rũ cả mà nói đúng hơn lúc đó chàng giống như một kẻ ăn mày khốn khổ. Nhưng bây giờ thì sao nào? Các ngươi hãy nhìn lại chàng đi, trông chàng có giống một vị thần đang cai quản núi Olympus không? Liệu người đàn ông này có thể được gọi là chồng của ta không? Chàng sẽ sống ở đây và ta chắc rằng ta sẽ làm cho chàng vui vẻ và hạnh phúc. Ta tin rằng đây chính là duyên số, và không hiểu sao mới gặp chàng một lần duy nhất mà trong ta đã có những tình cảm khó diễn tả thành lời. Nhưng thôi, tạm thời gác chuyện đó lại. Bây giờ các ngươi hãy mang thịt và rượu đến cho người lạ đi. Chắc mấy ngày rồi chàng chưa được ăn uống gì cả.

Các nữ hầu gái vâng lời công chúa của mình. Họ chuẩn bị tất cả mọi thứ rồi mang thịt, đồ uống lại cho Ulysses. Ulysses ăn uống rất ngon lành bởi đã lâu rồi chàng không biết đến mùi thức ăn. Chàng không cố tỏ ra là một quý tộc luôn giữ ý tứ trước mặt người lạ, ngược lại, chàng đang đói nên ăn rất nhanh, ăn nhiều và ăn rất tự nhiên. Công chúa Nausicaa ngắm người đàn ông lạ trong lúc ăn và trong lòng nàng xuất hiện một thứ tình cảm đặc biệt. Nàng có cảm giác thứ tình cảm này trở nên mạnh dần theo từng giây, từng phút.

Cũng trong lúc đó, nàng Nausicaa có đôi tay trắng muốt có một suy nghĩ khác. Nàng gấp bộ y phục lại, cất vào trong một chiếc hòm nhỏ, sau đó thắng la vào ách rồi leo lên trên xe. Sau đó, nàng gọi Ulysses và nói:

- Hỡi chàng trai lạ mặt, hãy lên đây cùng ta và chúng ta sẽ quay về thành phố. Ta sẽ dẫn chàng đến gặp cha mẹ ta và ta tin rằng chàng sẽ biết tất cả những ai thuộc dòng dõi quý tộc của người Phaeacian. Rồi bọn họ sẽ yêu quý chàng, đối xử với chàng như người nhà. Chỉ cần chàng làm theo những gì ta nói thì chắc chắn chàng sẽ trở thành một người đàn ông được kính nể. Khi chúng ta đi ngang qua những cánh đồng và trang trại nơi những thần dân của cha ta sinh sống chàng hãy ngồi cùng những người nữ hầu gái đằng sau xe và ta sẽ dẫn đường. Tuy nhiên, khi đến thành phố nơi có những bức tường thành cao và chắc chắn, chàng sẽ thấy mỗi bên của thành phố có một bến cảng và đường dẫn đến bến cảng rất hẹp. Trên bến cảng, những con thuyền đang đậu ngay ngắn thành hành và từ trên xe chàng có thế nhìn thấy khu rừng của nữ thần Athene, Đó là khu rừng dương rất đẹp nằm cạnh đường đi. Xung quanh từng là những đồng cỏ xanh mướt khiến ta có cảm giác nơi đây chỉ có một mùa duy nhất là mùa xuân. Đó chính là vùng đất của cha ta với một khu đất màu mỡ, trù phú. Chàng hãy ngồi ở đó cho đến khi chúng ta tới thành phố của người Phaeacian của ta và đến nhà của cha ta. Nhưng khi chúng ta đã đến lâu đài, sau đó lên thành phố thì hãy hỏi xin ngôi nhà của cha ta bởi cha ta là một người rất rộng lượng. Tuy nhiên, khi chàng đã vào bên trong đại sảnh, hãy núp vào bóng râm và tìm cách đi thẳng đến phòng lớn nơi mẹ ta đang ngồi. Chiếc ghế của mẹ ta tựa vào một cột lớn, bên cạnh bà là những nữ hầu gái trung thành, sẵn sàng phụ vụ bà bất cứ lúc nào cần thiết. Ngai vàng của cha ta cũng ở ngay bên cạnh ghế của bà. Cha ta vẫn thường ngồi đó uống rượu giống như một người bình thường. Hãy đi qua cha và tới thẳng chỗ mẹ ta đang ngồi và quỳ gối cầu xin bà giúp đỡ. Làm như vậy chắc chắc rằng thời gian chàng có thể quay trở về nhà là rất nhanh cho dù đất nước của chàng có cách xa nơi đây đến thế nào đi chăng nữa. Còn nếu bà thực sự yêu quý chàng, có thể bà còn cất công đến thăm nhà chàng tại đất nước của chàng nữa đấy.

Công chúa Nausicaa nói xong, dùng chiếc roi da quất nhẹ những con la, ra lệnh cho chúng khởi hành. Họ nhanh chóng tiến về phía trước, để lại sau lưng những nhánh sông hiền hòa. Nàng công chúa đánh xe đi phía trước, Ulysses và những người hầu gái theo sau. Mặt trời lặn sau ngọn đồi lớn cũng là lúc họ tới khu rừng dương nổi tiếng, ngôi nhà thiêng liêng của nữ thần Athene. Ulysses quỳ xuống cầu nguyện con gái của thần Dớt:

- Hỡi người con gái của thần Dớt vĩ đại, hỡi nữ thần của những cô gái dũng cảm, không bao giờ biết mệt mỏi. Bây giờ xin nữ thần hãy lắng nghe những gì tôi nói. Tôi biết khi tôi gặp nạn trên biển, nữ thần đã không nghe thấy lời thỉnh cầu của tôi. Xin người hãy phù hộ cho tôi để khi đến gặp những người Phaeacian, họ sẽ nghĩ rằng tôi là một người đàn ông đích thực mặc dù tôi phải trải qua biết bao gian nan, thử thách. Xin người hãy khiến họ động lòng trước những gì tôi đã gặp phải, như vậy họ sẽ giúp tôi trở về nhà.

Chàng Ulysses lẩm bẩm cầu nguyện và nữ thần Pallas Athene nghe thấu những gì chàng nói. Nàng luôn quan tâm và ưu ái Ulysses vì những phẩm chất tốt đẹp của chàng. Chính vì vậy, nữ thần luôn cố gắng giúp đỡ chàng hết mức có thể. Tuy nhiên nữ thần lại không thể hiện hình mặt đối mặt với Ulysses, bởi nàng còn e ngại anh trai của cha mình là thần biển vĩ đại. Ông nổi giận và định trừng phạt Ulysess cho tới khi nào chàng quay trở về đất nước của mình.

Trong khi Nausicaa và những nữ hầu gái của nàng về đến nhà, Ulysses đứng đợi ở gần đền thờ cho đến khi họ vào trong lâu đài, sau đó chàng đứng dậy và đi bộ vào thành phố chàng vừa đi vừa trầm trồ ngạc nhiên trước bến càng rộng lớn đầy thuyền và trước sự kiên cố của những bức tường bao quanh thành. Nữ thần Athene gặp chàng, nàng đóng giả là một cô gái trần tục và kể với chàng về đức vua Alcinous, vợ của ông là Arete: Đây là một người phụ nữ thông minh, nhân hậu và có sức ảnh hưởng lớn trong đất nước của mình. Các thần dân kính nể bà giống như một nữ thần. Nữ thần Athene phủ kín Ulysses bằng một đám mây mù để không một ai trông thấy chàng. Mãi cho đến khi chàng đi vào trong lâu đài với những bức tường lấp lánh bằng đồng và đến tận đại sảnh nơi có hàng trăm bức tường của những người đàn ông trẻ tuổi đang cầm đuốc châm lửa trong bữa tối. Những khu vườn ở đây rất đẹp, với rất nhiều những cây ăn quả được tưới nước từ những dòng suối chảy từ hai đài phun nước lớn. Chàng đứng lại để chiêm ngưỡng khung cảnh của khu vườn thật kĩ rồi mới tiếp tục đi qua đại sảnh tới thẳng chỗ nữ hoàng Arete. Đến đây, nữ thần mới xua tan đám mây, khiến mọi người ngạc nhiên trước sự xuất hiện bất ngờ của một chàng trai khôi ngô, tuấn tú. Chàng bước đến quỳ xuống trước nữ hoàng Arete và cầu xin nữ hoàng cho chàng một con thuyền để quay trở về đất nước của mình. Chàng cùng kể lại tất cả chuyến phiêu lưu của mình trên biển trong suốt hơn bảy năm trời và những nỗi vất vả của chàng khi bị thần biển trừng phạt vì đã chọc mù mắt con trai của thần.

Mọi người dọn bàn ăn cho chàng. Trước khi vua Aicinous và các khách mời của ông về phòng, ông nói rằng người khách lạ này sẽ được hậu đãi dù anh ta là ai đi chăng nữa và chắc chắn anh ta sẽ lên đường an toàn trở về nhà. Những vị khách chào từ biệt đức vua và hoàng hậu hiếu khách. Nữ hoàng Arete nhìn Ulysses và nhận ra rằng bộ quần áo chàng đang mặc chính là quần áo trong nhà của mình. Ngay lập tức, bà hỏi chàng là ai, tại sao chàng lại có được bộ quần áo này? Chàng kể lại câu chuyện chàng bị đắm thuyền và Nausicaa đã cứu chàng, cho chàng thức ăn và quần áo. Khi nữ hoàng nói rằng lẽ ra công chúa Nausicaa phải đưa chàng về thẳng lâu đài để gặp vua và hoàng hậu thì chúng trả lời đó là do lỗi của chàng. Chàng quá ngại ngừng và sợ bố mẹ của Nausicaa có thể sẽ không thích khi nhìn thấy con gái mình về nhà cùng một người lạ. Đức vua Aleinous đáp lại ông không hề cảm thấy ghen ghét hay nghi ngờ người đàn ông đang ngồi trước mặt mình. Ngay từ khi nhìn thấy chàng, ông đã có cảm giác chàng là người tốt, chính trực nhưng do hoàn cảnh xô đẩy, phải lang bạt đến hòn đảo xa xôi này; Đức vua nói ông sẽ rất vui mừng nếu con gái ông kết hôn với một người lạ quý phái và lịch lãm giống như Ulysses. Chỉ cần chàng đồng ý thì ông sẽ tiến hành lễ cưới ngay lập tức và tặng chàng một ngôi nhà đẹp cùng với rất nhiều đồ vật quý giá khác. Tuy nhiên, nếu người lạ vẫn mong muốn quay trở về nhà thì ông sẽ ra lệnh cho cận thần chuẩn bị một chiếc thuyền tốt cho chàng. Ông không muốn ép chàng phải làm bất cứ điều gì, tất cả là do chàng hoàn toàn quyết định. Đức vua Aicmous là một người lịch lãm, nhã nhặn và tốt bụng; vừa nhìn thấy Ulysses ông đã có cảm giác chàng thuộc dòng dõi cao quý là một người khỏe mạnh, khôn ngoan mặc dù chàng chưa nói tên mình là gì. Đức vua rất tôn trọng những người như thế và thực lòng mong muốn con gái mình có được một đức lang quân như vậy. Tuy nhiên, không đời nào ông dùng quyền lực hay thủ đoạn ép chàng trai lạ kia làm theo những gì ông mong muốn. Những người hầu gái đã chuẩn bị cho Ulysses một căn phòng đẹp với một chiếc giường êm và ấm, những chiếc chăn, đệm màu hồng tía. Khi nằm lên trên chiếc giường êm, Ulysses không khỏi xúc động bởi đã gần hai mươi năm nay chàng không biết đến những thứ như thế này. Chàng bồi hồi nhớ đến vợ, con, nhớ đến quê hương và những gì đầm ấm, thân thương nhất nơi quê nhà.

Ngày hôm sau, vua Alcinous cử hai trăm năm mươi chàng trai trẻ đến chuẩn bị một con thuyền tốt nhất với tất cả những vật dụng cần thiết cho chuyến đi dài. Trong lâu đài, đức vua mở tiệc khoản đãi chàng với tất cả thịnh tình của một ông vua hiểu khách nhất. Trong bữa tiệc, những vị chỉ huy ăn tối cùng đức vua, thảo luận về cuộc chiến ở thành Troy, còn các nữ tì hát vang những bài hát về những dũng sĩ đã chiến đấu anh dũng nơi chiến trường, khiến cho trái tim của Ulysses đau nhói. Chàng lấy vạt áo lau nước mắt, không giấu được nỗi xúc động bởi bài hát đã khiến chàng như được quay trở lại thời gian khi chàng còn đang ở thành Troy. Nhận thấy tâm trạng của khách, vua Aicmous muốn thay đổi chủ đề nên yêu cầu mọi người ra ngoài trực tiếp tham gia các môn thể thao ngoài trời như chạy, ném lao và đấm bốc. Con trai của Alcious đề nghị Ulysses tham gia trò chơi nhưng chàng nói rằng chàng quá buồn nên không có tâm trí vui chơi. Đối với chàng trai trẻ Euryalus, Ulysses có thể vừa là thuyền trưởng của một con thuyền buôn, vừa là thương nhân, nhưng lại không phải là một vận động viên thể thao.

Khi Ulysses còn trẻ và vui vẻ, chàng chơi thể thao rất giỏi nhưng khi chàng đã quá mệt mỏi với chiến tranh và những chuyến phiêu lưu trên biển, chàng không. Còn hứng thú với những trò giải trí này. Tuy nhiên, chàng vẫn có thể chứng minh cho mọi người thấy chàng có thể làm được những gì. Chàng không tin rằng thời gian và chiến tranh đã cướp hết những khả năng đó của chàng. Chàng nâng một tảng đá lên, tảng đá đó to và nặng hơn tất cả những tảng đá mà người Phaeacian vẫn thường sử dụng trong các cuộc chơi rồi nhấc bổng lên, ném ra xa. Sau khi kiểm tra, mọi người thấy Ulysses đã ném tàng đá ra xa hơn điểm xa nhất mà những người Phaeacian từng ném được với những tảng đá nhẹ hơn. Sau đó, chàng thách đấu bất cứ người nào dám chạy thi với chàng hoặc đấm bốc hay bắn cung tên với chàng. Trong số những trò chơi trên, chàng chỉ không tin tưởng vào khả năng chạy của mình bởi đôi chân của chàng đã bị sóng gió, biển khơi làm tê cứng. Có thể vua Alcinous nhận thấy rằng bất cứ người nào dám thách đấu với người khách lạ đều sẽ bị thua nên ông gọi một người chơi đàn đến, hát một bài hát vui vẻ khiến cho những chàng trai trẻ muốn nhảy múa. Tiếp theo, ông yêu cầu họ chơi bóng và đề nghị những người lớn tuổi hơn đến gặp gỡ, tặng quà, vàng và vải vóc cho Ulysses. Ông không bao giờ nghi ngờ về sức mạnh của Ulysses và bây giờ lại càng củng cố lại niềm tin và sự nhận xét của mình về chàng dũng sĩ lạ mặt. Đích thân vua Alcinous tặng Ulysses một chiếc két và một chiếc hòm cùng một chiếc cốc lớn bằng vàng. Hoàng hậu Arete sắp xếp những món quà rồi cất gọn vào bên trong két trong khi các nữ hầu gái đi tắm cho Ulysses và sức dầu thơm cho chàng.

Sau khi ra khỏi phòng tắm, chàng gặp Nausicaa đang đứng ở cổng đại sành. Nàng buồn rầu nói lời tạm biệt với chàng:

- Tạm biệt người khách lạ. Hi vọng chàng sẽ không bao giờ quên ta dù chàng trở về quê hương của mình bởi chàng còn nợ ta cuộc đời chàng. Ta biết chàng không bao giờ muốn ở lại đây dù cha mẹ ta có hứa hẹn dành cho chàng những gì tốt đẹp nhất và ta tôn trọng quyết định đó của chàng. Chàng đi đường bình an nhé.

- Cầu cho các vị thần phù hộ cho ta, đưa ta thuận buồm xuôi gió quay trở về đất nước của mình. - Chàng đáp lại - Hỡi người con gái xinh đẹp, ta sẽ luôn nhớ tới nàng với sự ngưỡng mộ, tôn sùng. Các vị thần đã run rủi khiến ta gặp được nàng, ta nợ nàng cuộc sống và tính mạng của ta.

Đó là những lời cuối cùng họ nói với nhau bởi công chúa Nausicaa không dự tiệc cùng mọi người để tiễn đưa chàng. Sau khi mọi người đã dùng xong bữa tối, người nhạc công mù hát vang bài hát về những hành động anh hùng của Ulysses khi chàng còn ở thành Troy. Một lần nữa Ulysses lại khóc vì xúc động. Thấy vậy, vua Alcmous hỏi:

- Chắc chắn bạn thân của chàng đã chết nơi chiến trường đúng vậy không?

- Tôi là Ulysses, con trai của vua Laertes, tôi chắc chắn rằng mọi người ở đây đều biết điều đó.

Trong khi họ ngồi yên lặng lắng nghe câu chuyện của Ulysses, chàng kể cho họ chi tiết về những cuộc hành trình của mình từ ngày chàng rời khỏi thành Troy cho đến lúc chàng bị đắm thuyền và trôi dạt vào Phaeacia.

Tất cả câu chuyện chàng kể khiến cho mọi người thích thú và ngưỡng mộ. Euryaius xin lỗi người khách lạ về thái độ thô lỗ của mình với chàng và tặng Ulysses một thanh kiếm bằng vàng với chuôi làm từ ngà voi nạm vàng. Nhiều người khác cũng tặng quà cho chàng và giúp chàng vận chuyển quà và những thứ khác lên trên thuyền. Ulysses không còn biết nói gì trước tấm thịnh tình của đức vua, hoàng hậu và những người khác trên đảo. Chàng bùi ngùi tạm biệt nữ hoàng:

- Hỡi nữ hoàng, cầu chúc cho người một cuộc sống hạnh phúc mãi mãi. Hãy tận hưởng những khoảng thời gian vui vẻ, thư giãn với con cái và những thần dân của người. Cả đức vua Alcinous nữa, hai người thật đẹp đôi bởi hai người đều là những người tốt bụng, hiếu khách.

Sau đó, họ từ biệt nhau. Lúc đó trời đã tối hẳn, Ulysses theo đoàn người ra bờ biển. Tại đây, năm mươi hai tay chèo lực lưỡng đã đợi sẵn trên thuyền, Ulysses hăm hở bước xuống thuyền. Chàng vào trong khoang tối trèo lên chiếc giường đã được chuẩn bị sẵn cho chàng. Các tay chèo quạt nước và cho con thuyền lướt nhẹ ra khơi. Các thần linh ru cho Ulysses đi vào giấc ngủ say sưa suốt cả chặng đường cuối cùng trở về quê hương.
 
522 ❤︎ Bài viết: 420 Tìm chủ đề
Chương 24

Ulysses trở về quê hương, chàng đóng giả là một kẻ ăn mày

Khi Ulysses tỉnh dậy, chàng thấy chỉ còn lại một mình. Chàng đang khoác trên mình một tấm chăn lụa nhưng lại không biết mình đang ở đâu, còn những người khác bây giờ họ ra sao? Chàng có cảm giác như mình vừa mới từ biệt vua Alcinous và hoàng hậu Arete cách đây hơn một tiếng đồng hồ. Chàng đã ngủ quá say và không biết được chuyện gì đã xảy ra trên suốt quãng đường đi. Thực tế thì khi những tay chèo Phaeacia đưa chàng đến Ithaca, họ nhẹ nhàng khiêng chàng cùng tất cả những món quà lên trên bờ rồi vội vã quay trở về nhà ngay. Buổi sáng hôm đó, sương mù phủ kín mặt đất khiến chàng Ulysses của chúng ta không thể nhìn thấy xung quanh, chính vì vậy chàng không biết rằng mình đã về đến nhà và chàng đang đặt chân ở ngay chính hòn đảo Ithaca yêu dấu của mình. Chàng nhảy lên trên một đài phun nước của các nàng tiên nước mà mọi người vẫn thường gọi là Naiads với hi vọng sẽ nhìn thấy thứ gì đó nhưng chàng lại thất vọng nhảy xuống. Chàng tuyệt vọng tưởng rằng các tay chèo Phaeacia đã bỏ chàng lại một mình trên một đất nước xa lạ, chính vì vậy chàng đếm toàn bộ số quà mà mình được tặng rồi đi tới đi lui trên bờ biển với tâm trạng buồn bã đến cùng cực. Chàng chẳng biết phải làm gì nữa, nếu thực sự chàng bị bỏ lại nơi đây thì chàng sẽ hoàn toàn mất hết hi vọng quay trở về nhà. Trong khi đi học theo bờ biển, chàng gặp một chàng trai trẻ mà qua cách ăn mặc của chàng ta, Ulysses đoán rằng đó chính là con trai của đức vua. Chàng tiến đến gần hỏi thăm:

- Hỡi chàng trai trẻ, chàng có thể giúp ta một việc được không? Chàng hãy cho ta biết đây là đâu? Những người nào sống trên hòn đảo này vậy?

Chàng trai trẻ đáp:

- Hỡi người khách lạ, rõ ràng là ông không biết nhiều về vùng đất này rồi hoặc có lẽ ông đến từ một vừng đất xa xôi. Đây chính là đảo Ithaca và tôi nghĩ rằng ngay cả những người ở thành Troy cùng đều đã từng nghe thấy tên của nó.

Thực ra trong lòng Ulysses cảm thấy vô cùng sung sướng bới cuối cùng thì chàng cũng đã về được tới nhà nhưng sau ngần ấy năm xa quê, chàng không biết bây giờ mọi thứ có thay đổi hay không và thay đổi như thế nào, chính vì vậy tạm thời chàng vẫn phải đề phòng. Chàng không biết những chàng trai trẻ đã trưởng thành sẽ đối xử với mình như thế nào trong khi chàng chỉ có một mình, không người thân cận. Chính vì vậy, chàng không vội vàng nói cho chàng trai trẻ biết mình chính là Ulysses, đức vua của Ithaca mà nói rằng chàng là một người Cretan vừa cập cảng đến đây. Tất nhiên là chàng trai trẻ thắc mắc tại sao một người Cretan lại một mình đến Ithaca với biết bao nhiêu của cải, châu báu trong khi bản thân mình lại không biết đây là đâu. Chàng đã nghĩ ra một câu chuyện để chàng trai trẻ không nghi ngờ. Chàng nói rằng, ở thành Crete, con trai của Idomeneus đã tìm cách đoạt tất cả những của cải chàng lấy được tại thành Troy, chính vì vậy chàng đã giết chết anh ta rồi thu dọn tất cả tài sản, chạy trốn trên con thuyền của những người Phoenican. Những người này hứa sẽ đưa chàng đến Pylos. Tuy nhiên, sóng biển đã đẩy con thuyền của họ đi chệch sang. Hướng khác và tất cả bọn họ đều lên bờ rồi ngủ qua đêm tại đây. Nhưng khi tỉnh giấc thì chàng thấy những người Phoenician đã bỏ chàng ở lại và rồi đi lúc nào không biết. Đó chính là lí do tại sao chàng ở đây một mình và lại không biết vùng đất mình đang đứng là nơi nào. Tới đây, chàng trai trẻ cười lớn và đột nhiên biến thành nữ thần Pallas Athene vĩ đại. Nàng nói:

- Chàng quả là một người thông minh, tuy nhiên, chàng lại không biết rằng chính ta đã giúp chàng khi chàng còn ở thành Troy. Đúng là phía trước của chàng có rất nhiều rắc rối và chàng không được để bất cứ người nào biết được thân phận thực của mình bởi chàng có rất nhiều kẻ thù mà kẻ nào cũng rất hùng mạnh và hiếu chiến. Chàng cẩn thận như vậy là rất tốt, ta tin rằng chàng sẽ sớm thoát khỏi tất cả những chuyện này thôi.

- Nhưng nữ thần lại không giúp tôi trong khi tôi phải đối mặt với biết bao nguy hiểm trên biển khơi bao la - Ulysses đáp - Bây giờ thì nữ thần lại trêu đùa tôi, nhạo báng tôi nữa. Vậy đây có đúng là quê hương của tôi không?

Nữ thần đáp:

- Ta không thể tranh cãi với anh trai của cha ta là thần biển vĩ đại. Thần căm thù chàng bởi chàng đã chọc mù mắt con trai thần là Cyclops. Làm sao ta có thể công khai giúp đỡ chàng trong khi thần biển chính là người có ý định trừng phạt chàng. Nhưng bây giờ thì chàng hãy lại đây mà xem, chàng đang đứng trên hòn đảo Ithaca, quê hương của chàng đó.

Uylsses xúc động cúi xuống hôn mảnh đất thân yêu sau bao nhiêu năm xa cách và cầu khấn nữ thần động Naidas. Sau đó, nữ thần giúp chàng giấu các thứ quà cáp vào một nơi bí mật trong hang và chỉ cho chàng cách tiêu diệt những kẻ đến cầu hôn vợ chàng trong khi chàng chỉ có một mình.

Nữ thần Athene biến Ulysses thành một người ăn mày rách rưới với làn da đầy nếp nhăn, mái tóc thưa thớt, đôi mắt buồn u ám giống như một kẻ có số phận bất hạnh. Nhìn chung, trông chàng khác hẳn với chàng Ulysses dũng mãnh, đẹp trai. Sau đó, nữ thần đưa cho chàng một bộ quần áo cũ vừa rách nát, vừa bẩn thỉu giống như bộ quần áo chàng mặc khi đột nhập vào trong thành Troy và cải trang thành kẻ ăn mày để đánh cắp Vật thiêng. Trong bộ dạng như thế này, không ai có thể nhận ra chàng chính là Ulysses, vua của đảo Ithaca. Dĩ nhiên, nữ thần cũng không quên đưa cho Ulysses một chiếc gậy, một chiếc túi để đựng những mẩu thức ăn vụn giống như những kẻ ăn mày khác. Trông chàng đích thị giống như một kẻ ăn mày khốn khổ, thân xác tiều tụy vì đói ăn. Tiếp theo, nữ thần bảo chàng đi dọc theo hòn đảo, đến gặp người chăn lợn của hoàng cung bởi đến thời điểm này anh ta vẫn một mực trung thành với chàng. Ulysses trở về một thân một mình nên phải hết sức cẩn thận, nếu không tính mạng của chàng sẽ khó lòng giữ được. Nữ thần bảo chàng hãy ở lại đó cho đến khi nàng đưa Telmachus hiện đang đến thăm Helen và Meneiaus ở Lacedaemon về nhà cùng chàng bàn mưu tính kế, thay đổi cục diện. Nữ thần kể cho Ulysses nghe về cậu con trai ngoan của chàng, về việc Telemachus nóng lòng muốn gặp cha như thế nào và đang có ý định ra khơi đi tìm tung tích của cha. Nói xong, nữ thần Athene bay thẳng đến Lacedaemon, còn Ullysses trèo lên những ngọn đồi nằm giữa khu động lớn và trang trại nơi người chăn lợn đang sinh sống. Chưa bao giờ Ulysses nghĩ rằng mình lại phải lén lút khi trở về quê hương như thế này, nhưng để đảm bảo an toàn, để giải quyết mọi chuyện êm đẹp, chàng sẵn sàng chịu nhục. Dù sao thì chàng cũng đã trải qua biết bao nhiêu gian nan thử thách rồi, thêm một chuyện này cũng chẳng thể khiến chàng buồn hơn.

Khi Ulysses đến ngôi nhà của người chăn lợn trên trang trại, chàng thấy anh ta đang ngồi một mình trước cửa. Tên của người nô lệ này là Eumaeus và đã ở đây làm việc cho chàng từ rất lâu rồi chàng cũng không nhớ rõ nữa. Eumaeus đang chăm chú tự khâu cho mình một đôi giày từ tấm da bò. Đây là một người đàn ông rất trung thực, với nhiều đức tính cao quý. Mặc dù ở Ithaca, anh ta chỉ là một kẻ chăn lợn, một kẻ nô lệ thấp kém nhưng trên đất nước của mình, anh ta là một hoàng tử cao quý dưới một người và trên muôn người. Con người này có một số phận không may mắn. Khi anh ta còn nhỏ, một vài người Phoenicean đáp thuyền đến thành phố của anh, kết bạn với vú nuôi của anh cũng là một. Phụ nữ Phoenicean. Trong số những người này, có một người đem lòng yêu người phụ nữ kia. Hắn hỏi xem cô ta là ai thì được trả lời đại loại như cô ta là con gái của một người đàn ông giàu có ở vùng Sidon, tuy nhiên, một hôm có mấy tên cướp biển đến cướp cô ta đi và bán cô ta cho ông chủ hiện tại. Từ đó đến giờ, cô ta sống như một kẻ nô lệ và chưa bao giờ biết thế nào là hạnh phúc, thế nào là vui vẻ. Những người Phoenician hứa sẽ đưa cô ta trở lại Sidon đoàn tụ với gia đình. Với một phụ nữ nô lệ thì chẳng gì có thể tốt hơn thế. Vậy là người phụ nữ nhẫn tâm chạy trốn theo những tên thủy thủ Phoenicean mang theo cậu bé Eumaeus tội nghiệp mà cô ta chăm sóc từ nhỏ. Ngoài ra, cô ta còn đánh cắp ba chiếc cốc bằng vàng trong nhà của cha anh. Thật không may, trên đường đi người phụ nữ kia phát bệnh mà chết, còn những tên cướp biển đã bán cậu bé cho vua Laertes, cha của Ulysses. Mặc dù chỉ là nô lệ nhưng Eumaeus được đức vua coi như con, đối xử rất tốt. Eumaeus rất yêu quý gia đình ông chủ mình và anh ta ghét tất cả những kẻ đến cầu hôn đang ngày đêm gây phiền toái cho nữ hoàng và hoàng tử. Đó là một vài thông tin liên quan đến người chăn lợn trung thành, còn bây giờ chúng ta hãy hướng sự chú ý của mình vào nhân vật chính trong câu chuyện: Chàng Ulysses.

Khi Ulysses đến gần ngôi nhà, bốn con chó lớn lao ra sủa inh ỏi. Chắc chắn chàng đã bị cả mấy con chó dữ xông lên cắn nếu Eumaeus không chạy tới ném đá vào chúng. Không một con chó được nuôi trên trang trại nào dám đối mặt trực diện với cơn mưa đá như vậy. Eumaeus cất tiếng như xin lỗi:

- Hỡi người khách lạ! Suýt nữa thì ông mất mạng và lại làm cho ta có thêm một nỗi đau. Ta đã mang một nỗi đau quá lớn là cái chết của chủ nhân Ulysses rồi. Nhưng mà xin mời ông vào nhà đi đã.

Mặc dù người khách lạ kia ở trong bộ dạng rách rưới, bẩn thỉu nhưng Eumaenus không hề coi khinh mà vẫn dẫn khách vào nhà, mời khách ăn thịt lợn, uống rượu cho đỡ đói. Sau đó, anh kể cho Ulysses nghe về sự tham lam và kiêu ngạo của những kẻ đến cầu hôn. Eumaenus nói rằng nếu anh ta có sức mạnh thì anh ta đã giết chết tất cả bọn chúng rồi, những tiếc thay anh ta chỉ là một người bình thường, lại có một mình nên đành chịu bó tay. Nghe vậy, Ulysses nói rằng chắc chắn ông chủ của Eumaenus sẽ quay trở về nhà và kể cho họ nghe một câu chuyện rất dài, ly kì về bản thân mình. Rồi những kẻ gây rối kia sẽ phải trả giá cho những hành động ngỗ ngược của chúng. Chàng kể rằng chàng là người Cretan, từng chiến đấu ở thành Troy. Nhưng khi chiến tranh kết thúc, chàng quay trở về nhà thì bị đắm tàu. May mắn thay, các vị thần đã thương xót chàng, đưa chàng dạt vào một đất nước xa lạ có tên là Thesprotia. Thật trùng hợp là khi đặt chân lên hòn đảo, chàng lại biết được tin tức của Ulysses lúc đó cũng đang ở trên đảo. Chàng vẫn sống và chẳng bao lâu nữa sẽ rời Thesprotia để trở về Ithaca.

Eumaeus không tin vào câu chuyện này, rõ ràng người đàn ông lạ kia chỉ nói những điều mà anh ta muốn nghe thôi. Nếu mọi việc đúng như những gì người ăn mày kể thì lẽ ra Ulysses phải về tới nhà rồi chứ đâu có biệt tăm, biệt tích như vậy. Tuy nhiên, Eumaeus vẫn đãi Ulysses một bữa ăn thật thịnh soạn với các món ăn chế biến từ thịt lợn rất hấp dẫn. Dù gì thì anh cũng không ghét người ăn mày này bởi ở ông ta có một cái gì đó dễ khiến người khác có cảm tình. Ulysses kể cho Eumaeus và những người nô lệ khác nghe những câu chuyện về cuộc vây hãm thành Troy cho tới tận đêm khuya. Cách kể chuyện của Ulysses thật hấp dẫn khiến mọi người ai nấy đều thích thú muốn nghe mãi không thôi. Câu chuyện Ulysess kể giúp mọi người hiểu rõ hơn về sự ác liệt của chiến tranh, về những vất vả mà các chiến binh phải chịu đựng. Rõ ràng người đàn ông này từng tham gia vào cuộc chiến tranh đó, nếu không ông ta không thể kể lể một cách chi tiết, cụ thể và sống động đến như vậy. Eumaeus có cảm giác ông không đơn. Giản chỉ là một người bình thường nhưng anh ta lại không biết giải thích cảm giác của mình như thế nào.

Trong thời gian đó, nữ thần Athene đã tới Lacedaemon và nhẹ nhàng vào trong nhà của vua Menelaus. Mặc dù đã khuya nhưng Telemachus vẫn thức, chàng không thể nào chợp mắt được và luôn nghĩ về những chuyện đã, đang và sẽ xảy ra. Nữ thần kể với chàng rằng mẹ chàng buộc phải cưới một trong những người đến cầu hôn và khuyên chàng nên quay trở về nhà ngay lập tức, nếu không sẽ quá muộn. Nữ thần Athene cảnh báo Telemachus phải tránh xa eo biển giữa Ithaca và các hòn đảo khác bởi kẻ thù của chàng đang phục sẵn ở đó, chỉ đợi chàng đến là giết chết chàng. Khi đến Ithaca, ngay lập tức chàng phải bảo những người còn lại quay trở về thành phố, còn chàng một mình đi dọc theo hòn đảo đến gặp người chăn lợn. Nữ thần nhắc Telemachus phải tuyệt đối ghi nhớ lời mình dặn và làm theo các chỉ dẫn. Sáng hôm sau, Telemachus cùng Pisistratus tạm biệt Menelaus và Helen để chuẩn bị lên thuyền quay trở về nhà. Hai vị chủ nhà hiếu khách muốn tặng hai chàng trai một vài món quà quý nên yêu cầu họ nán lại vài phút. Sau đó, họ đến cho chứa kho báu để lấy đồ. Đến nơi vua của người Atride lấy hai chiếc cốc bằng vàng và bảo con trai mình là Megapenthes lấy một chiếc bát bằng bạc. Helen đứng cạnh một chiếc két lớn, bộ váy dài của nàng quét xuống đất, càng tăng thêm sự thướt tha, duyên dáng và mềm mại của nàng. Nàng quan sát những tác phẩm thêu tay do chính nàng làm rồi lấy ra một bức thêu đẹp nhất, sáng lấp lánh như một vì sao và đặt những chiếc còn lại xuống hòm. Sau đó, họ quay trở lại đại sảnh nơi Telemachus đang đợi. Menelaus ân cần nói với chàng trai trẻ:

- Hỡi Telemachus yêu quý! Ta không biết diễn tả sự sung sướng của mình như thế nào khi gặp cháu ở đây. Ta nợ cha cháu rất nhiều và dù ta có tặng cháu tất cả những gì ta có cũng không thể trả hết món nợ tình nghĩa này. Đây là những món quà ta muốn tặng cho cháu để thể hiện tấm chân tình của mình. Đó là những thứ quý giá nhất, tốt nhất trong ngôi nhà này. Ta sẽ tặng cháu một chiếc bát tuyệt đẹp, nó được làm bằng bạc, trên miệng có dát vàng. Đây là tác phẩm quý của Hephaestuss và người anh hùng Phaedimus, vua của người Sidonian đã tặng nó cho ta khi ta nghỉ chân tại nhà ông. Còn bây giờ, ta tặng lại cho cháu để bày tỏ sự quý mến của vợ chồng ta dành cho cháu.

Người anh hùng Atrides đặt hai chiếc cốc lên tay Telemachus, còn chàng trai Megapenthes khỏe mạnh bê chiếc bình bạc sáng chói đặt trước mặt chàng. Tất cả những món quà quý đó chính là tình cảm quý mến của chủ nhà dành cho chàng trai trẻ. Nàng Helen cũng đến bên cạnh vị khách trẻ tuổi và dịu dàng nói với chàng:

- Ta cũng muốn tặng cho con món quà này, con trai yêu quý ạ. Mỗi khi nhìn thấy nó, hãy nhớ tới ta nhé. Ta đã mất rất nhiều thời gian và công sức để thêu nên chiếc áo choàng này và ta hi vọng rằng khi nào con cưới, cô dâu của con sẽ đẹp lộng lẫy trong bộ váy áo. Khi quay trở về nhà, hãy bảo mẹ con cất vào trong hòm đợi ngày con báo tin vui. Ta hi vọng con sẽ luôn sống một cách vui vẻ trong ngôi nhà của mình và trên hòn đảo quê hương của con. Chúc con mọi điều tốt đẹp và cho ta gửi lời hỏi thăm tới chị họ Penelope của ta.

Telemachus vừa rời khỏi cửa tòa lâu đài lộng lẫy, một con chim đại bàng từ trên bầu trời lao xuống cắp một con ngỗng trắng lớn đang ăn cỏ trên sân. Đám người hầu trên trang trại vừa đuổi theo, vừa la hét nhưng con đại bàng nhanh chóng lượn về phía tay trái, bay ngang qua con ngựa của Pisistratus. Tất nhiên, đây chính là một hiện tượng đặc biệt. Nhìn vào điềm báo này, Helen giải thích ý nghĩa của nó:

- Hãy nghe ta bởi ta sẽ nói ra lời trên tri mà các vị thần muốn ta nói. Ta tin rằng rồi mọi thứ sẽ trở nên tốt đẹp thôi. Con đại bàng kia từ trên đồi lao tới, nơi Telemachus sinh ra và lớn lên, cắp một con ngỗng trắng được nuôi trong nhà đi, điều này có nghĩa rằng Ulysses sẽ quay trở về sau rất nhiều gian nan, thử thách, sau những chuyến phiêu lưu dài và vất vả để trả thù cho những gì vợ con chàng phải gánh chịu. Giờ này, chắc chắn chàng đã về tới nhà và đang reo rắc mầm mống nguy hiểm dành cho những kê gây rối xấu xa. Dù tạm thời chưa thể được hưởng hạnh phúc nhưng cuối cùng sóng cũng lặng, chàng cũng sẽ tiêu diệt được những kẻ tham lam và hưởng một cuộc sống yên bình bên vợ con.

Từ nay trở đi, chúng ta sẽ không còn được nghe kể đến nàng Helen xinh đẹp và nhân hậu nữa bởi cuộc sống của nàng chẳng có gì đáng phàn nàn. Menelaus và nàng không bao giờ chết nhưng được các vị thần đưa đến vùng đồng bằng Elysian xinh đẹp, một nơi hạnh phúc cho tất cả mọi người, . Nơi chiến tranh và phiền toái không bao giờ đến được. Họ sống ở đó trọn đời, không bao giờ biết đến tuổi già hay cái chết. Sau đó, tại đất nước của nàng, mọi người tôn sùng nàng giống như một nữ hoàng bởi nàng vừa xinh đẹp, dịu dàng lại nhân hậu. Hầu như ai cũng yêu quý Helen, muốn được kết bạn với nàng hay ít nhất là gặp nàng một lần dù chỉ là duy nhất để ngắm dung nhan của nàng. Với Helen, đó chính là tất cả những gì trong cuộc sống mà nàng mơ ước. Sau bao nhiêu khổ đau, cuối cùng nàng cũng tìm được hạnh phúc đích thực của mình.

Telemachus cảm ơn Helen về lời tiên tri tốt lành rồi nhanh chóng xuôi thuyền đến thành phố của ông già thông thái Nestor. Mặc dù Nestor rất tốt bụng nhưng Telemachus không dám tới gần vị vua già này bởi chắc chắn ông sẽ muốn giữ chàng ở lại và tìm cách làm chàng vui vẻ. Ông rất yêu quý Ulysses, cha chàng nên khi gặp chàng, mọi tình cảm tốt đẹp ông chuyên sang hết cho người con trai của vị dũng sĩ tài giỏi nhất trong số những dũng sĩ Hi Lạp. Telemachus sợ nếu gặp Nestor, chàng sẽ không thể dứt ra được trong khi chàng lại cần quay trở về Ithaca ngay lập tức. Chàng lên thuyền của mình đang đậu ở cảng, trong khi các thủy thủ chuẩn bị ra khơi thì có một người đàn ông lao nhanh tới, khuôn mặt lộ rõ vẻ hoảng sợ của một kẻ báo thù khát máu. Không biết có chuyện gì không hay đã xảy ra nữa. Đó chính là Theoclymenus, anh ta cầu xin Telemachus cho anh ta đến Ithaca bới anh ta vừa giết chết một người đàn ông tại chính đất nước của mình, kẻ đó đã vô cớ giết chết một trong số những người em trai của anh. Bây giờ anh em và những người họ hàng của kẻ bi chết đang đuôi theo, truy lùng anh ta nhằm trả thù cho người thân của mình. Anh ta nói rằng nếu tiếp tục ở lại đây thì sớm muộn gì anh ta cũng rơi vào tay của những kẻ kia và chắc chắn chúng sẽ không bao giờ để anh chết một cách dễ dàng. Chúng sẽ hành hạ anh ta khiến anh ta phải nếm mùi đau đớn cùng cực cho tới tận lúc chết. Telemachus tự thuyết phục mình chấp nhận người đàn ông này và chào đón anh lên thuyền rồi tất cả bọn họ ra khơi tiến thẳng về phía bắc. Vừa đi chàng vừa suy nghĩ xem làm thế nào có thể vẫn về tới Ithaca mà không đi qua chỗ những kẻ gây rối đang phục sẵn để giết chết chàng. May thay, con thuyền của Telemachus đi qua chỗ bọn chúng mà không kẻ nào nhìn thấy bởi chàng đi qua eo biển nối Ithaca với những hòn đảo khác vào ban đêm. Vậy là Telemachus đến được Ithaca một cách an toàn. Vừa cập bến, chàng yêu cầu những người khác quay trở về thành phố rồi một mình chàng đến nhà của người chăn lợn trung thành. Người đàn ông xin chàng cho đi cùng hỏi chàng anh ta nên làm gì ở đây bởi anh ta chẳng biết ai ở đây, lại lạ nước lạ cái nữa. Telemachus bảo người bạn của chàng có tên là Piraeus đưa người đàn ông này về nhà và đối xử tử tế với anh ta. Sau khi mọi chuyện được sắp xếp ổn thỏa, chàng đi dọc qua đảo đến thẳng trang trại nuôi lợn của hoàng cung.

Trong khi đó, người chăn lợn cùng Ulysses đang đốt lửa nấu bữa sáng và nói chuyện rôm rả. Đột nhiên, lũ chó sủa ầm ĩ và họ nhìn thấy những con chó dữ của trang trại đang vây xung quanh một chàng trai trẻ. Nhưng lạ thay, bọn chó chỉ sủa lên một hồi rồi im lặng, chúng lại có vẻ vui mừng chào đón người đàn ông đang tiến về phía ngôi nhà. Người đàn ông đó không phải là người lạ mà chính là Telemachus, chủ nhân của trang trại này. Eumaeus nhảy tới chỗ Telemachus với vẻ vui sướng và chiếc bát chàng dùng để pha rượu và nước rơi khỏi tay mình. Chàng đã lo lắng biết bao nhiêu khi nữ thần Athene nói rằng lũ người gây rối kia định giết chết Telemachus và chàng đã đứng ngồi không yên trong khi vị hoàng tử trẻ của mình đang trên đường trở về quê hương. Người chăn lợn lúc đó vui mừng đến nỗi không thể tự chủ nổi, chàng lao tới, ôm chầm chàng trai trẻ như cách một người cha chào đón đứa con trai yêu quý của mình vừa trở về đất nước sau một thời gian dài xa cách. Hai người đứng lại một lúc để trao đổi thông tin về tình hình trong hoàng cưng. Telemachus cũng đang lo lắng khi nghe tin mẹ mình đã cưới một trong số những kẻ đến cầu hôn và thực sự vui mừng khi biết rằng hiện giờ bà vẫn đang kiên nhẫn một mình chống lại những rắc rối mà bọn người kia gây ra. Telemachus được mẹ nuôi dưỡng và dạy dỗ từ nhỏ mà không có cha nên chàng vô cũng yêu quý và kính trọng mẹ. Chàng tin rằng mẹ chàng không bao giờ từ bỏ hi vọng, không bao giờ bỏ cuộc giữa chừng.

Khi Telemachus bước vào bên trong nhà của người chăn lợn, Ulysses đứng dậy cúi chào nhưng Telemachus bảo người ăn xin già ngồi xuống và không cần câu nệ. Cả ba người cùng ngồi ăn sáng với thịt lợn lạnh, bánh mì và rượu. Eumaeus kể cho Telemachus nghe về người ăn xin già đã từng chiến đấu ở thành Truy. Ông đến Ithaca từ hòn đảo Crete, muốn xin ngủ nhờ ở đây bởi ông ta không có nhà cửa, cũng chẳng có người thân thích. Telemachus nói rằng tốt nhất không nên đưa những người lạ vào trong nhà của mẹ chàng bởi chàng không thể bảo vệ họ khỏi sự độc ác và hung dữ của những kẻ gây rối. Tuy nhiên, chàng có thể cho người ăn mày quần áo, giày dép và một thanh gươm để ông ta có thể ở lại trong trang trại. Chàng cử người chăn lợn đến gặp mẹ chàng là hoàng hậu Penelope và bí mật thông báo với bà rằng chàng đã quay trở về bình an. Chắc giờ này mẹ chàng đang lo lắng cho con trai của mình, bà đã có quá nhiều điều phiền toái rồi nên Telemachus muốn mẹ mình giảm bớt đi một mối lo.

Trong lúc đó, những con chó ở trang trại đang ăn phần thức ăn của mình bỗng gừ gừ, lông dựng đứng lên, đuôi ve vẩy rồi chạy vào góc trong cùng của ngôi nhà. Bình thường những con chó này hung dữ là vậy, sao hôm nay lại sợ hãi thế. Telemaehus không hiểu tại sao chúng lại sợ hãi và chúng sợ điều gì nhưng Ulysses nhìn thấy nữ thần Athene xuất hiện một mình. Lũ chó này rất khôn, chúng cảm nhận được có một thứ gì đó rất lạ và đáng sợ đang đến trước cửa nên đã nhanh chóng chạy vào nấp trong nhà. Ulysses bước ra ngoài gặp nữ thần và nàng yêu cầu chàng hãy nói toàn bộ sự thật cho Telemachus biết chàng là ai bởi bây giờ họ chỉ còn lại một mình, không sợ ai nghe trộm. Nói xong, nữ thần dùng cây đũa vàng biến Ulysses trở lại hình dáng thật của mình trong bộ quần áo của một vị vua hùng mạnh. Nữ thần Athene bảo đây chính là thời điểm thích hợp nhất để hai cha con nhận nhau, bản thân Telemachus cũng đang cần chàng để đối phó với những kẻ gây rối đáng ghét đang ngày đêm hành hạ mẹ con chàng.

Telemachus chưa từng nhìn thấy hoặc nghe thấy người khác nói đến nữ thần Athene nên tỏ ra vô cùng ngạc nhiên. Chàng nghĩ rằng người ăn mày kia chắc hẳn phải là một vị thần đang hóa trang thành người thường để đi tìm hiểu về cuộc sống trên hòn đảo của chàng. Thấy cậu con trai của mình tròn mắt nhìn, chàng nói:

- Không, ta không phải là thần mà là Ulysses, cha của con.

Telemachus từ thắc mắc, ngạc nhiên đến vui sướng, hạnh phúc. Chàng không dám tin rằng người đang đứng trước mặt mình lại chính là người cha của chàng đã xa nhà gần hai mươi năm. Chàng chạy tới ôm chầm lấy cha khóc rưng rức như một đứa trẻ. Khi cha ra đi chiến đấu, Telemachus còn quá nhỏ, không nhớ rõ hình ảnh của cha mình, lớn lên lại không được cha dạy bảo, chăm sóc nên lúc nào chàng cũng khao khát được gặp cha, ôm cha và gọi một tiếng "cha".

Cuối cùng Ulysses kể cho Telemachus nghe về chuyến đi của mình trên con thuyền của người Phaeacian và chàng đã giấu kho báu trong một hang động của Naidas như thế nào. Chàng hỏi con trai xem có tất cả bao nhiêu kẻ gây rối và làm thế nào có thể đuổi chúng ra khỏi nhà. Teiemachus nói rằng có một trăm linh tám kẻ gây rối và còn cả tên Medon, người hầu của chàng cũng tham gia công chúng. Ngoài ra còn có người đánh đàn trong hoàng cung nữa, cứ mỗi lần mở tiệc ăn uống linh đình là chúng bắt ông ta đàn hát vui vẻ. Tất cả bọn chúng đều là những chàng trai trẻ khỏe mạnh, kẻ nào cũng lăm lăm một thanh kiếm bên người nhưng chúng không có lá chắn, không có mũ hay áo giáp. Nắm được tình hình, Ulysses động viên con trai hãy cố lên. Chàng hy vọng cùng với sự giúp đỡ của nữ thần Athene, mọi thứ sẽ trở nên tốt đẹp. Chàng bảo con trai nên về nhà ngay hôm nay để tránh bị kẻ khác nghi ngờ, còn chàng, chàng sẽ về vào ngày hôm sau trong dáng vẻ của. Một kẻ ăn mày. Tuy nhiên, chàng nhắc Telemachus tuyệt đối không được phản ứng hay chú ý nếu bọn gây rối đối xử với chàng tồi tệ. Chắc chắn nếu chàng cải trang thành kẻ ăn mày đến xin ăn thì chúng sẽ nghĩ ra đủ trò tệ hại để trêu trọc chàng nhưng hãy kệ chúng bỏi sau này chàng sẽ trả lại chúng tất cả những gì đáng ra là thuộc về chúng. Và khi thời cơ đến, Ulysses sẽ ra tín hiệu cho Telemachus lấy lá chắn, mũ, vũ khí treo trên những bức tường lớn và giấu vào một nơi bí mật để không kẻ nào trong số những kẻ gây rối có thể lấy ra sử dụng. Điều cốt lõi là phải giữ bí mật không để ai biết rằng chàng đã trở về, kể cả Penelope. Nếu qua mặt được những kẻ gây rối kia thì chúng sẽ bị lửa thiêu cháy. Telemachus phải giữ lại hai thanh kiếm, hai thanh giáo và hai lá chắn cho chàng và Ulysse. Ngay khi có cơ hội, hai cha con sẽ phối hợp hành động, tiêu diệt đám người kia.

Trong khi hai người đang nói chuyện, một người trong đoàn thủy thủ của Telemachus và người chăn lợn đến gặp Penelope và kể cho nàng nghe về việc con trai nàng đã cập bến an toàn. Nghe thấy điều đó, những kẻ gây rối lập ngay một hội đồng để thảo luân xem chúng nên đối xử với Telemachus như thế nào: Tên Antinons nói rằng để tránh hậu họa về sau, tốt nhất hãy giết chết chàng, những Amphinomus và Eurymachus thì cho rằng hãy đợi xem tình hình thế nào đã, không nên nóng vội sẽ hỏng việc. Trước khi Eumaeus quay trở về trang trại, nữ thần Athene lại biến Ulysses thành kẻ ăn mày già lôi thôi, bẩn thỉu.
 
522 ❤︎ Bài viết: 420 Tìm chủ đề
Chương 25

Ulysses cải trang thành người ăn mày quay trở vể lâu đài của mình

Sáng hôm sau, Telemachus quay trở về nhà an ủi mẹ và kể cho bà nghe về quãng thời gian chàng ở cùng ông Nestor và Menelaus, rồi chàng gặp em họ của bà là nàng Helen xinh đẹp. Tuy nhiên, tất cả những chuyện Telemaehus kể không khiến cho Penelope thích thú bởi nàng nghĩ rằng vẻ đẹp nghiêng nước, nghiêng thành của người em họ Helen chính là nguyên nhân gây ra biết bao điều bất hạnh cho nàng. Chưa bao giờ Penelope yêu quý em họ bởi nàng nghĩ rằng Helen chỉ đem lại những điều phiền toái cho mọi người xung quanh. Sau đó, Theoclymenus, người đàn ông Teiemachus đưa về từ Pylos tiên đoán rằng hiện tại Ulysses đang ở Ithaca và đang suy tính làm thế nào có thể giết chết những kẻ gây rối đáng ghét kia. Anh ta nói rằng Penelope nên kiên nhẫn chờ đợi bởi chồng nàng tạm thời chưa thể xuất hiện. Penelope nửa tin nửa ngờ nhưng dù sao trong lòng nàng vẫn nuôi hi vọng. Nàng nhìn ra ngoài, ngao ngán khi thấy những kẻ đến cầu hôn vẫn đang vui chơi, ăn uống như thể đây chính là nhà của chúng.

Thấy Telemachus trở về, những kẻ cầu hôn rất căm tức Chúng vẫn ra vẻ niềm nở với chàng và lại kéo nhau đến cung điện của cha chàng để bắt mọi người tiếp đãi. Chúng hỏi thăm tình hình của Telemachus như thể rất quan tâm đến chàng nhưng thực tế trong bụng tên nào cũng đang đợi thời cơ thuận lợi để giết chết chàng nhằm tránh những rắc rối cho chúng về sau này.

Trong khi đó, Ulysses trong bộ dạng của một kẻ ăn xin và người chăn lợn cùng nhau đến gần thành phố. Tại đây, họ gặp người chăn dê Melanthms là bạn của những kẻ đến cầu hôn. Melanthms là một tên nô lệ xấc láo và hung tợn, hắn lợi dụng lợi thế của những kẻ cầu hôn coi những người cùng đẳng cấp không ra sao. Chỉ cần ai đó làm hắn không hài lòng là ngay lập tức hắn chửi mắng, đánh đập người đó một cách tàn nhẫn. Vừa nhìn thấy người ăn xin già, hắn đã lăng nhục ông và khuyên ông không nên tới gần nhà của Ulysses. Hắn còn đá người ăn xin ra ngoài đường và tuyên bố nơi này không cho phép một kẻ bẩn thỉu và thấp kém như ông đặt chân vào; Ulysses nổi giận đùng đùng định giết chết kẻ hách dịch này nhưng cuối cùng chàng cũng kiềm chế được. Nếu chàng ra tay thì thân phận của chàng sẽ bị bại lộ và như vậy mọi kế hoạch chàng và con trai bàn bạc coi như vô ích. Ulysses giữ nỗi tức giận trong lòng rồi cùng Eumaeus tiếp tục đến lâu đài. Trong lúc họ đang chần chừ đứng bên ngoài sân thì một con chó săn ngẩng đầu lên và vểnh tai nghe ngóng tình hình. Đó chính là con chó săn Argos của Ulysses, con chó khôn ngoan mà chàng yêu quý. Bây giờ nó đã già lắm rồi và chắc chẳng thể theo chàng đi săn trong rừng được nữa. Thời gian qua, những kẻ cầu hôn thường dẫn chú chó săn ra để dọa đàn dê, hươu, nai nhưng Argos dường như hiểu chuyện nên không bao giờ giúp chúng thực hiện được mục đích của mình. Chú ta nằm đó với vẻ khinh miệt những con người xấu xa đang hoành hành trong nhà của ông chủ. Nó nằm sâu trong chuồng ra và bò, cạnh đó có một chiếc giường rộng dành cho những người chăn gia súc. Mãi đến khi những người nô lệ của Ulysses khuân chiếc giường đi, nó mới chịu ra ngoài. Chú chó Argos nằm đấy, có thể nó bị bọn ve và kí sinh trùng hành hạ nhưng không ai để ý đến nó. Sau khi Ulysses đi, nó đã bị bỏ rơi. Khi Ulysses cùng người chăn lợn đang đứng ngoài sân, nó như cảm nhận được sự có mặt của Ulysses nên đã đứng dậy, ve vẩy đuôi, cụp hai tai xuống và cố gắng tới gần ông chủ hơn. Tuy nhiên, Ulysses cố dằn lòng nhìn đi chỗ khác rồi gạt nước mắt để Eumaeus không thắc mắc rồi đi thẳng về phía trước, vừa đi vừa gọi người chăn lợn:

- Eumaeus ơi! Thật là kỳ lạ. Con chó săn nằm kia trên đống phân dê mà không ai để ý.

Eumaeus đáp lại:

- Đúng vậy, đây chính là con chó của ông chủ tôi, người đã chết trên một vùng đất xa xôi. Nếu ông được chứng kiến cảnh nó theo Ulysses đi săn thì ông sẽ còn ngạc nhiên hơn trước tốc độ và sự khôn ngoan của nó. Nhưng từ khi đức vua đi chiến đấu, nó dường như chẳng hứng thú gì với những chuyện khác mà chỉ nằm một chỗ, buồn bã giống như người vậy.

Ulysses đi vào trong nhà rồi đi thẳng tới đại sảnh nơi những kẻ cầu hôn đang vui chơi ồn ã. Còn chú chó Argos đã thanh thản ra đi vào đúng giờ phút nó cảm nhận được sự trở về của Ulysses sau hai mươi năm xa cách.

Chú chó khôn ngoan kia nhận ra Ulysses trong khi ngay cả vợ chàng là Penelope cũng không nhận ra chàng khi đối diện trực tiếp với chàng. Ulysses ứa nước mắt khi nhìn thấy thi thể của chú chó săn mà chàng yêu quý nằm trên sân, không ai để ý. Dù vậy, chàng vẫn không thể làm gì bởi hiện tại chàng đang ở trong bộ dạng của một kẻ ăn mày, chẳng có quan hệ gì với tất cả mọi thứ nơi đây. Chàng rất buồn trước sự ra đi của. Con vật yêu quí đã cùng chàng trải qua rất nhiều chuyến đi săn nhưng chàng đành bất lực không thể làm gì để bảo vệ chú chó của mình. Lâu đài, vợ, con và thần dân sẽ lại thuộc về chàng khi chàng cởi bỏ bộ quần áo rách rưới để trở thành Ulysses đích thực. Eumaeus đi vào trong nhà còn Ulysses ngồi bên ngoài, chỗ dành cho những người ăn xin. Telemachus nhìn thấy cha từ trên ghế cao dưới những chiếc cột lớn nhưng không dám thể hiện cảm xúc, cũng chẳng dám tiến lại gần nói chuyện. Chàng than trách tại sao cha chàng lại không thể đường hoàng bước vào trong nhà của ông trong khi tất cả những gì ở đây đều thuộc về ông. Nhưng hơn lúc nào hết, Telemachus cảm thấy vững tâm hơn bởi chàng biết cha của mình đang ở ngay bên cạnh, sẵn sàng trợ giúp chàng trong bất kỳ tình huống nào. Chàng bảo Eumaeus mang một ổ bánh mì và một miếng thịt lớn đến cho người ăn mày và nói rằng tuyệt đối không được làm bất cứ điều gì xấu đối với ông. Ulysses để số thức ăn vào trong túi rồi ngồi ăn uống ngon lành như thể chàng đang rất đói và lâu lắm rồi mới có người hảo tâm cho chàng nhiều thức ăn như thế. Ăn xong, Ulysses nghĩ rằng chàng nên thử xem trong số những kẻ đến cầu hôn kia có người nào vẫn còn lương tâm và là người lịch sự không. Nghĩ xong, chàng bước vào trong đại sảnh và bắt đầu xin ăn giống như một kẻ ăn mày chuyên nghiệp. Một số kẻ cho chàng vài mẩu bánh mỳ và xương nhưng Antinous cầm một chiếc ghế lên, ném trúng vai của chàng. Ulysses nguyền rủa kẻ độc ác:

- Cái chết sẽ đến với mi trước khi mi làm đám cưới.

Nghe thấy vậy, Antinous càng tức giận, xông vào đánh người ăn mày mặc dù những người khác quở trách hắn ta về hành động vừa rồi. Rõ ràng, đây là kẻ hung hãn, tàn nhẫn, bất lịch sự nhất và đáng bị trừng phạt nhất. Nhưng thôi, tạm thời Ulysses gác chuyện này lại một bên bởi chàng không thể để bất cứ điều gì làm bại lộ thân phận của mình. Nghe thấy tiếng ồn ào bên ngoài, Penelope bảo Eumaeus đưa người ăn mày đến gặp nàng bởi nàng nghĩ rằng có thể ông ta sẽ cung cấp cho nàng một vài tin tức quý giá về chồng mình. Penelope luôn hi vọng Ulysses sẽ trở về và nàng không bỏ qua một cơ hội dù là nhỏ nhất để hỏithăm tin tức của chồng. Ulysses bảo Eurameus nói với hoàng hậu rằng chàng đã bị đánh khi vào trong đại sảnh và sẽ không vào trong đó lần nữa để bị lăng nhục, hành hạ. Khi nào những kẻ cầu hôn rời khỏi nhà, chàng sẽ vào gặp hoàng hậu Penelope bởi vì chàng không muốn bị chúng lăng nhục hay hành hạ một lần nữa. Sau đó Eumaeus quay trở về trang trại để trông coi đàn lợn. Trước khi đi, anh. Ta nói với Telemachus rằng ngày mai anh ta sẽ mang lợn đến để nấu bữa trưa cho những người đến cầu hôn.

Ulysses là một người ăn xin mới trong thành Ithaca nên những kẻ ăn xin khác cũng không lấy gì làm thích chàng. Chẳng bao lâu, chàng phát hiện ra mình có một kẻ thù đó là người ăn xin già có tên là Irus. Ông ta đến lâu đài và tỏ ra tức giận khi nhìn thấy người mới đang ngồi ở bậc cửa. Ông ta nghĩ rằng ông ta là kẻ đứng đầu trong số những người ăn mày ở đây và không một người ăn mày nào dám chiếm chỗ của ông ta cả. Ông ta hét lớn với Ulysses:

- Hãy biến đi nếu không ta sẽ lôi nhà ngươi đi đấy. Nào, biến đi trước khi chúng ta cãi nhau bởi như vậy nhà ngươi sẽ không còn đất ăn xin đâu.

- Lâu đài này đủ rộng cho cả hai chúng ta. - Ulysses nhẹ nhàng đáp lại - Đừng nổi giận với tôi bởi tôi cũng chỉ vừa đến đây được vài ngày thôi mà.

Iris thách đấu với Ulysses và tuyên bố rằng ông ta tuyên bố mình không chịu nhường nơi béo bở này cho bất cứ ai, nhất là một người mới như Ulysses. Trên hòn đảo Ithaca, ông là ông trùm ăn xin và tất cả những kẻ ăn mày khác đều phải chịu sự phân chia của ông ta. Những kẻ cầu hôn cho rằng đây chính là một trò tiêu khiển thú vị nên đã đứng thành một vòng tròn và hứa rằng người thắng cuộc sẽ là chỉ huy bọn ăn mày, đích thân chứng sẽ phong danh hiệu này cho người đó. Những kẻ xấu xa này luôn lấy đấm đá, đánh nhau làm thú vui. Chứng sung sướng khi nhìn thấy những kẻ khốn khổ lao vào tấn công nhau vì miếng cơm, manh áo. Ulysses yêu cầu những kẻ đến cầu hôn phải chơi đẹp và không can thiệp trong khi hai người giao đấu. Sau đó, chàng cởi áo ra để lộ đôi vai lực lưỡng và buộc gọn chiếc quần rách rưới để lộ đôi chân chắc khỏe của một người đã dạn dày sương gió. Thấy vậy, Irus bắt đầu run rẩy nhưng Antinons buộc ông ta phải chiến đấu. Irus lao vào Ulysses, đánh vào vai của chàng nhưng Ulysses tránh được khiến ông ta ngã dúi xuống đất, miệng chảy máu. Rõ ràng kẻ ăn mày này không phải là đối thủ của chàng, đấy là chàng còn chưa dùng hết sức, nếu không ông ta đã chết ngay lập tức rồi. Ulysses kéo người ăn xin già ra khỏi cửa rồi đập đầu ông ta vào bức tường trên sân trong khi những kẻ cầu hôn cười sung sướng. Sau đó Ulysses dũng cảm nói với Amphmomus rằng tốt hơn hết là anh ta hãy về nhà nếu không khi Ulysses trở về thì dù có cố gắng cũng khó lòng. Thoát được. Thực sự, Ulysses không phải là kẻ hiếu chiến, chàng muốn mọi chuyện được giải quyết một cách êm đẹp trong hòa bình. Chàng đã quá mệt mỏi với chiến tranh rồi và nếu những kẻ cầu hôn tự nguyện rút lui thì chàng cũng bỏ qua, không tính toán.

Vào lúc xẩm tối, Ulysses to tiếng với những người hầu gái của Penelope vì dám lăng nhục chàng. Sau ngần ấy thời gian, mọi chuyện đã thay đổi hoàn toàn, hòn đảo bình yên của chàng không còn giữ được trật tự của nó. Bây giờ ngay cả những kẻ hầu và những tên nô lệ cũng hoành hành ngang ngược, không coi ai ra gì. Các nữ hầu gái quá ngượng nên chạy thẳng về phòng của mình nhưng Eurymachus ném một chiếc ghế mà hắn ta tiện tay nhặt lên gần đó về phía chàng để thị uy. Hắn cho rằng người ăn xin kia chỉ là một kẻ thấp kém nên sẽ chẳng dám làm bất cứ điều gì trái ý hắn. Tuy nhiên, Ulysses tránh được và chiếc ghế lao trúng vào đầu của một người phục vụ, khiến anh ta bất tỉnh nhân sự tại sảnh trong lâu đài ngổn ngang nào là chén, bát rồi đồ ăn, thức uống.. Bản thân những kẻ cầu hôn cũng đã quá mệt mỏi vì sự lộn xộn và tiếng ồn. Nơi đây nên kéo nhau về nhà ngủ. Chúng đã vui chơi, đã ăn không ngồi rồi quá lâu nên cũng mất dần hứng thú về những chuyện ăn chơi trác táng này. Lúc đó, chỉ còn lại Telemachus và Ulysses trong phòng. Hai cha con cất toàn bộ số vũ khí, lá chắn, mũ bảo vệ, áo giáp treo trên tường trong đại sảnh vào một căn hầm bí mật. Sau khi hoàn thành công việc Telemachus về phòng ngủ, còn Ulyess ngồi trong chỗ tối của đại sảnh để đợi Penelope vào. Hai chiếc lò sưởi vẫn đang cháy, phát ra ánh sáng mờ chiếu rõ một góc đại sảnh. Chàng hồi hộp chờ đợi giây phút được nhìn thây khuôn mặt xinh đẹp của người vợ chàng vô cùng yêu thương. Dù có biết bao nhiêu người phụ nữ đẹp đem lòng yêu chàng muốn sống bên chàng suốt đời trong đó có cả nữ thần Calypso nhưng chàng vẫn luôn nhớ tới người vợ nơi quê nhà và quyết tâm quay trở về đoàn tụ với nàng.

Những người hầu gái của Penelope kẻo nhau vào trong đại sảnh dọn dẹp, họ cười nói vui vẻ như thể chẳng có chuyện gì xảy ra. Tất cả những người này đều đem lòng yêu những kẻ đến cầu hôn đẹp trai và một trong số những kẻ đó là Melantho, kẻ buộc Ulysses ra khỏi cung điện đến ngủ tại lò rèn của một người thợ rèn trong thành phố. Hắn đe dọa, nếu chàng không đi hắn sẽ dùng đuốc đốt cháy chàng. Penelope nghe thấy Melantho người mà chính nàng đã tự tay nuôi dưỡng, đang lăng nhục người ăn mày khốn khổ hèn la mắng hắn ta. Nàng quay sang yêu cầu một nữ hầu gái mang ghế đến để Ulysses ngồi. Khi Ulysses đã ngồi xuống, nàng hỏi xem chàng là ai, tại sao lại đến nơi đây. Đáp lại Ulysses ngợi ca vẻ đẹp kiêu sa của nữ hoàng. Dù đã hơn hai mươi năm trôi qua nhưng nàng vẫn còn rất trẻ so với tưổi và vẫn giữ được những nét đẹp trời ban. Tuy nhiên, chàng tránh không trả lời câu hỏi của nữ hoàng về thân phận của mình. Nữ hoàng khăng khăng yêu cầu người ăn mày trả lời câu hỏi của nàng bởi đó là điều đầu tiên mà mọi người thường muốn biết khi gặp một người lạ. Không thể lảng tránh được sự khôn ngoan sắc sảo của nữ hoàng, Ulysses bèn trả lời rằng chàng là hoàng tử của người Cretan, là em trai của Idomeneus nhưng không tham gia cuộc chiến ở thành Troy. Khi còn ở Crete, chàng đã gặp Ulysses khi Ulysses đang trên đường đến thành Troy và mọi người trong cung điện đã tiếp đón chàng hai tháng liền. Penelope bật khóc khi nghe người lạ nói rằng ông ta đã gặp chồng mình nhưng đã có rất nhiều người kề những câu chuyện giả về Ulysses nên nàng chưa dám tin. Nàng hỏi xem Ulysses mặc đồ gì và có những người nào đi cùng. Penelope không muốn phải nghe những thông tin thiếu chính xác về người chồng yêu quý đã xa nhà hai mươi năm qua mặc dù nàng không thể giấu được xúc động khi có ai đó nhắc tới chồng.

Người ăn mày nói rằng Ulysses mặc một chiếc áo dài màu hồng tía, có một chiếc trâm bằng vàng với hai ghim đính an toàn (đó là những đồ vật thường được sử dụng vào thời bấy giờ). Hơn nữa, trên mặt trâm (brooch) có hình một con chó săn giữ một con Paron đang vùng vẫy chân trước (có nhiều brooch đã được tìm thấy trong những nấm mộ của người Hi Lạp). Phía đuôi áo choàng, Ulysses đeo một smock sáng lấp lánh, phẳng và óng ánh giống như vỏ củ hành. Có thể nó được làm bằng lụa và những người phụ nữ cứ nhìn thấy là trầm trồ ngưỡng mộ. Đi cùng Ulysses là một người hầu có tên là Eurybates, đó là một người đàn ông có vai tròn, da màu nâu bóng.

Tất cả những gì người ăn mày nói đều hoàn toàn chính xác, vì vậy Penelope tin ngay. Nàng lau nước mắt, bùi ngùi nhớ lại ngày nàng đưa cho chồng chiếc brooch và tự tay may cho chàng bộ quần áo chàng mặc lúc lên đường. Nàng vẫn nhớ đến từng chi tiết trên những đồ vật đó, nhớ từng lời nói, cử chỉ của chàng trước lúc ra đi. Bây giờ thì nàng tin rằng người lạ đang ngồi đối diện mình đã gặp Ulysses và ông ta lặn lội đến đây đề gặp nàng và thông báo rằng trong những chuyến phiêu lưu của mình ông ta đã nghe được một số tin tức của Ulysses và điều quan trọng là chàng vẫn còn sống mặc dù toàn bộ những người đi cùng đều đã chết. Nàng cũng được biết Ulysses phải trải qua rất nhiều thử thách mới có thể quay trở về nhà đoàn tụ với gia đình. Chàng cũng đã đi đến vùng Dodona ở phía Tây Hi Lạp để xin lời khuyên từ phía cây sồi già thiêng của thần Dớt, cây sồi thì thầm, chàng nên quay trở về nhà như thế nào: Về một cách đường đường chính chính, công khai cho mọi người biết hay về một cách bí mật. Nhưng dù có chuyện gì xảy ra thì chắc chắn Ulysses sẽ trở về trong năm nay.

Penelope có cảm giác trái tim mình sắp nhảy ra khỏi lồng ngực vì hồi hộp tuy nhiên nàng vẫn không thể tin vào một tin quá tốt lành như vậy. Qua bao nhiêu chuyện xảy ra, Penelope không dám nghĩ rằng rồi mọi chuyện sẽ trở nên tốt đẹp. Mặc dù vậy, nàng bảo vú già Eurycleia rửa chân cho người ăn mày bằng nước ấm để tỏ lòng biết ơn ông. Đây cũng chính là cách người Hi Lạp thường dùng để thể hiện lòng hiếu khách của mình đối với những người đến thăm nhà. Ulysses quay mặt đi đế tránh ánh sáng từ lò sưởi chiếu vào bởi người vú già nói rằng trông chàng rất giống ông chủ của bà. Dù hiện tại chàng đang mặc bộ quần áo rách rưới, bẩn thỉu nhưng bà vẫn cảm nhận thấy ở người ăn mày cái gì đó rất quen thuộc. Trong khi rửa chân cho người ăn mày, vú nhận ra vết sẹo dài trên chân Ulysses do bị lợn rừng tấn công trong lúc chàng đi săn với anh em họ cách đây rất lâu rồi, vào thời chàng chưa lập gia đình. Thảo nào ngay từ khi nhìn thấy người ăn mày, bà đã có cảm giác thân thuộc như đã quen từ rất lâu rồi. Bây giờ thì chàng không thể chối cãi được, bà đã nhận ra chàng chính là Ulysses, là ông chủ của bà, cũng là người bà đã nâng niu chăm sóc từ lúc chàng mới lọt lòng cho đến khi chàng trưởng thành. Bà thầm gọi tên Ulysses mắt rơm rớm nước mắt vì xúc động. Ngay lập tức, Ulysses dùng tay bịt miệng vú Eurycleia và giải thích rằng nếu thân phận của chàng bị lộ thì những kẻ đến cầu hôn sẽ lao tới giết chết chàng. Chàng cũng đâu muốn lén lút về nhà nhưng vì an toàn của cả gia đình, vì thời cuộc chàng buộc lòng phải che giấu thân phận. Eurycleia gọi chàng là con trai và hứa sẽ im lặng, không nói cho bất cứ ai kể cả Penelope về sự trở về của chàng. Sau đó bà đi lấy thêm nước nóng để rửa chân cho Uiysses bởi vì vừa nãy bà quá ngạc nhiên khi nhìn thấy vết sẹo nên đã buông tay ra khiến chân của Ulysses rơi xuống chậu, nước bắn tung tóe ra ngoài. Đã lâu lắm rồi vú già Erycleia mới cảm thấy vui vẻ như vậy, đột nhiên bà trở nên linh hoạt, nhanh nhẹn hơn hẳn.

Sau khi Ulysses trở ra, Penelope nói với người ăn mày rằng dù đã cố gắng hết sức nhưng không thể cầm cự hơn được. Nàng đã tìm đủ mọi cách để kiểm soát tình hình và bây giờ nàng không thể từ chối việc kết hôn với một trong những kẻ gây rối ngoài kia được. Ulysses đã đề lại trong lâu đài một cây cung lớn của vua Eurytus mà rất ít người có thể lên được cung tên, ngoài ra chàng cũng để lại mười hai chiếc rìu sắt, mỗi chiếc có một vòng tròn mở ở trên lưỡi rìu. Những chiếc rìu này cũng có mặt ở Laceclaemon, nơi Helen sinh sống, chính vì vậy chúng ta đều biết được hình dáng và đặc điểm của chúng. Khi còn ở nhà, Ulysses thường xếp mười hai chiếc rìu thành một đường thẳng rồi bắn cung để mũi tên xuyên qua mười hai lỗ trên mười hai lưỡi rìu đó. Vì vậy, Penelope định ngày hôm sau sẽ mang cây cung và những chiếc rìu ra trước toàn thể những kẻ đến cầu hôn và hứa sẽ cưới bất cứ người nào có thê giương cung bắn tên qua mười hai lỗ trên mười hai chiếc rìu. Nghe Penelope tâm sự xong, người ăn mày nói:

- Tôi nghĩ rằng Ulysses sẽ có mặt ở đây trước khi những kẻ đến cầu hôn kịp giương cung lên.

Penelope về phòng nghỉ, còn Ulysses ngủ ở phòng ngoài của ngôi nhà. Đêm hôm đó, Ulysses không ngủ mà trằn trọc suy nghĩ xem mình nên làm thế nào để tiêu diệt tất cả những kẻ đến cầu hôn đã gây đau khô cho vợ con chàng. Đúng lúc đó, nữ thần Athene xuất hiện, an ủi chàng và tiên đoán rằng rồi mọi chuyện sẽ tốt đẹp, Ulysses hãy chợp mắt một lát để lấy sức mai còn chiến đấu. Sáng hôm sau, Ulysses tỉnh dậy và cầu nguyện thần Dớt, xin thần ban cho chàng một tín hiệu tốt lành. Nếu có sự giúp đỡ của thần thì dù có khó khăn đến đâu, chàng cũng có thể vượt qua để giành chiến thắng. Ngay sau đó, thần Dớt đáp lại lời cầu nguyện của Ulysses: Đầu tiên là một hồi sấm vang trời tưởng như trái đất này nổ tung, sau đó là giọng nói của một người phụ nữ ốm yếu, già nua đang ngồi nghiền ngô làm bánh mì cho những kẻ cầu hôn. Tất cả những phụ nữ làm việc liên quan đến cối xay đều đã hoàn thành nhiệm vụ của mình và đi ngủ, chỉ còn người phụ nữ này vẫn phải vật lộn với cối xay, bởi trọng lượng của cối quá nặng đối với bà. Bà không thể đi ngủ vì chưa xay hết số ngô của mình. Bà cầu nguyện sự cứu giúp của thần Dớt:

- Hỡi thần Dớt vĩ đại, người đứng đầu trong thế giới thần linh và con người. Tiếng sấm của người thật to và ròn rã. Xin người hãy chiếu cố đến lời cầu nguyện của con bởi con đúng là một người phụ nữ bất hạnh. Cầu cho đây là ngày cuối cùng những kẻ đến cầu hôn được ăn uống trong nhà của Ulysses. Chúng đã khiến đầu gối của con như muốn rời ra vì lao động cực khổ, chúng làm suy kiệt sức lực của con chỉ vì những cuộc ăn chơi vô độ của chúng. Đó là những kẻ xấu xa, độc ác, chỉ biết hưởng thụ thành quả lao động của người khác. Chúng cậy đông, cậy khỏe bắt nạt đàn bà con gái, khiến cho hoàng cung Ithaca chìm trong những chuỗi ngày u ám.

Nghe thấy lời cầu nguyện đó, Ulysses vui mừng khôn xiết bởi chàng nghĩ rằng đây chính là dấu hiệu may mắn.

Một lát sau, những người phục vụ lại tiếp tục làm việc, còn Eumaeus mang mấy con lợn đến làm thịt. Người đàn ông này luôn đối xử tử tế với người ăn mày, không như tên Melanthius chỉ mang những con dê đến thôi nhưng lại rất xấc xược, chẳng coi ai ra gì. Người chăn bò tên là Philoetius cũng vừa mới đến, anh ta căm ghét đám người đến cầu hôn và nói chuyện nhã nhặn với người ăn xin tội nghiệp. Cuối cùng là đám người cầu hôn lũ lượt kéo đến tụ tập tại phòng khách để ăn chơi phá phách. Bàn tiệc lại được dọn ra như lệ thường, Telemachus kê một chiếc bàn và một chiếc ghế ngay cạnh cửa ra vào cho ông lão ăn mày ngồi rồi ra lệnh cho người hầu mang thức ăn và rượu đến cho ông. Chàng bảo rằng dù là ăn mày nhưng ông ấy là người chính trực, đáng quý, xứng đáng được mời ngồi ăn cùng tất cả mọi người giống như một người khách. Hơn nữa, chính chàng là chủ nhà ở đây, chàng hoàn toàn có quyền quyết định sẽ mời ai dùng bữa mà không cần người khác chỉ giáo. Thấy vậy, một tên trong đám cầu hôn là Ctesippus nói:

- Ông ta xứng đáng được mời ăn uống giống như một vị khách ư? Được rồi, ta đồng ý. Về phần mình, ta sẽ dành cho ông ta một món quà khác nữa và như vậy ông ta sẽ được phần nhiều hơn so với những người khác.

Nói xong hắn ta nhặt một chiếc chân bò lên và lùng hết sức ném về phía Ulysses. Ngay lúc đó, Ulysses né sang một bên và chiếc chân bò lao thẳng vào tường. Lũ người cầu hôn luôn như vậy, chẳng bao giờ cư xử đúng mực với bất cứ ai. Rồi thế nào chúng cùng sẽ bị trừng phạt thích đáng. Telemachus không thể chịu đựng được hành động đó, chàng mắng Ctesippus, bảo hắn ta là kẻ thô lỗ. Những tên khác thấy vậy hèn bò lăn ra cười với vẻ sung sướng rồi sau đó lại khóc giống như những kẻ điên loạn. Chúng không hiểu sao chúng lại như vậy, chỉ có một người duy nhất là Theoclymenus người có khả năng tiên tri biết được. Số phận đã định sẵn, tất cả những kẻ đến cầu hôn đều là những kẻ xấu số và sẽ chết trẻ. Điềm gở ở đây là chúng luôn cười nói hớn hở mà chẳng có lý do chính đáng nào cả. Theoclymenus cảm thấy khó chịu trước hành động của những kẻ kiêu ngạo kia nên hét lên:

- Các ngươi cứ cười đi, cứ cười cho thỏa thích đi bởi chẳng bao lâu nữa các ngươi sẽ không có cơ hội được cười nói. Các ngươi không biết rằng chính bản thân các ngươi là những kẻ bất hạnh. Ta tin rằng chẳng có kẻ nào trong các ngươi biết về những điều sắp xảy đến với mình đứng vậy không? Ta nhìn thấy những đám mây đen sắp treo lơ lửng trên đầu các ngươi, những tấm vải khâm liệm sẽ phủ lên đầu gối, lên mặt của các ngươi, nước mắt sẽ chảy dài lên má các ngươi mà các ngươi không làm gì được Những bức tường, những chiếc cột, mái nhà nơi đây sẽ nhuốm đầy máu tươi và các ngươi sẽ thấy hối hận vì những việc các ngươi làm. Đừng tưởng Chúa trời không biết gì. Các ngài đang dõi theo từng bước đi của các ngươi đó.

Những lời tiên tri của Theoclymenus không những không khiến chúng thấy e sợ mà chúng còn cười lớn như thề đó chỉ là một trò đùa ngớ ngẩn. Chúng khuyên chàng nên biến khỏi đây nếu còn muốn nhìn thấy ánh sáng mặt trời. Chúng bảo chúng không thể liên nhẫn với những kẻ chỉ toàn nói điều gở như chàng, tốt nhất là chàng nên đi trước khi chúng đổi ý.

- Đôi mắt và đôi tay của ta chưa bao giờ làm ta thất vọng. - Theoclymenus nói - Các ngươi nói như vậy thì ta sẽ đi ra ngoài trời ta chẳng hề muốn kết bạn với các ngươi. Cái chết sắp đến với tất cả các ngươi. Cứ đợi đấy mà xem.

Nói xong, anh ta đứng lên và đi thẳng tới nhà của Piraeus, bạn của Telemachus. Những kẻ đến cầu hôn cười to hơn bao giờ hết như những kẻ gặp điềm gở vẫn thường làm. Chúng còn quay sang mỉa mai Telemachus, nói chàng là một vị chủ nhà bất hạnh bởi những vị khách đến thăm đều rất khác thường: Một người là kẻ ăn mày thấp kém, người kia là một kẻ điên khùng, thích ăn nói linh tinh. Tuy nhiên, Telemachus tiếp tục quan sát cha mình cho đến khi những kẻ cầu hôn đang chờ đợi để được dùng bữa trưa nhưng chúng lại không biết rằng chúng không thể sống trên cõi đời này cho đến khi chúng được thưởng thức bữa ăn đó. Tất cả những gì Theoclymenus nói đều đúng và nó sẽ xảy ra rất sớm thôi.

Hoàng hậu Penelope đi qua đám đông sang căn phòng có chứa những đồ vật quý giá của Ulysses. Nàng quay lại đem theo cây cung của vua Eurytus và một ống tên đầy. Các nữ hầu gái đi theo sau nàng khuân chiếc hòm chứa mười hai chiếc rìu bằng sắt. Penelope nghĩ ra cách này với hi vọng sẽ giảm bớt được sự quấy nhiễu của bọn đến cầu hôn. Nàng biết rằng không phải ai cũng có thể giương chiếc cung chồng nàng để lại và bắn xuyên qua mười hai chiếc rìu giống như Ulysses vẫn thường làm nên cũng có đôi chút yên tâm. Còn nếu trong trường hợp có người đủ khả năng làm được những việc ấy thì đó chính là sự an bài của số phận và nàng sẽ phải tuân theo. Với vẻ coi thường, nàng đứng lên tuyên bố sẽ lấy người nào có thể giương cung lên và bắn xuyên qua những chiếc rìu. Telemachus nói rằng chàng là người thử đầu tiên và nếu thành công thì chúng sẽ không cho phép bất cứ kẻ nào dám đưa mẹ chàng ra khỏi ngôi nhà của bà. Mặc dù chàng cố gắng hết sức nhưng đến lần thứ tư chàng vẫn không thể giương cung lên. Khi Ulysses ra hiệu cho chàng thì chàng đặt xuống và nói:

- Ta quá yếu. Hãy để cho kẻ nào khỏe mạnh hơn thực hiện được chiến công này.

Và lần lượt từng người trong đám cầu hôn tham gia thử thách do hoàng hậu Penelope đưa ra, đầu tiên là người đàn ông ngồi cạnh chiếc bình rượu.

Đó là nhà tiên tri Seer nhưng đôi tay trắng trẻo của hắn ta quá yếu và chính bản thân hắn ta đã tiên đoán cây cung này chính là dấu hiệu của cái chết đang đến gần với tất cả bọn chúng. Những tên còn lại không tin vào những lời tiên tri mà chúng cho là nhảm nhí đó. Chúng chẳng sợ bất cứ ai, bất cứ thứ gì thì làm gì có kẻ nào dám đến đây khiêu chiến với chúng chứ. Tiếp theo tên Antinous châm lửa, mang dầu đến hơ nóng cây cung đê khiến nó trở nên mềm hơn, dễ bẻ hơn. Hắn tự tin cho rằng làm như vậy thì kiểu gì cũng có thề uốn cong được cây cung đó. Chúng hơ nóng và bôi mỡ bò vào cây cung để cho một kẻ khác thử sức. Eunaeus và người chăn bò chạy vào trong sân, Ulysses theo sau họ rồi hỏi:

- Nếu Ulysses trở về thì các anh sẽ đứng về phía ai? Liệu các anh có đồng ý chiến đấu cho Ulysses không hay các anh hùa theo những kẻ đến cầu hôn bởi chúng đông hơn và mạnh hơn?

Không cần bảo nhau, cả hai người đó cùng đồng thanh trả lời:

- Tất nhiên là về phía Ulysses rồi, nhưng thực sự ông ấy sắp trở về chứ?

Ulysses thấy được an ủi phần nào bởi ít ra cũng còn hai người trung thành với chàng, sẵn sàng đứng về phía chàng dù chàng chỉ có một mình. Chàng nhìn họ với ánh mắt cảm ơn và nói:

- Đúng, ông ấy đã đến rồi. Ta đang ở đây đây.

Tất nhiên là hai người không tin chàng ngay lập tức nhưng khi chàng cho họ xem vết sẹo ở chân thì cả hai đều quỳ xuống, hôn tay Ulysses và bật khóc vì sung sướng. Ulysses hứa sẽ hậu đãi họ xứng đáng, sẽ cắt đất chia cho hai người nếu kế hoạch của chàng thành công và mấy người bọn họ giành được thắng lợi. Chàng giải thích kế hoạch này rất nguy hiểm, bất cứ người nào tham gia cũng có thể mất mạng nhưng cả hai người nô lệ đều một lòng theo ông chủ, cho dù có chết cũng cảm thấy vinh quang. Ulysses quay trở lại đại sảnh và hai người kia đi theo chàng. Chàng sẽ yêu cầu nữ hoàng cho phép mình thử giương cung bắn, và chàng dặn Eumaeus phải nhớ thật kĩ cho dù những kẻ cầu hôn kia nói gì đi chăng nữa, cũng phải nhanh chóng mang cung tên đến cho chàng. Thêm vào đó, chàng cũng yêu cầu mọi người bí mật khóa cửa nhốt những người phụ nữ ở trong phòng của họ, đồng thời bảo Philoetrius chốt chặt cánh cửa dẫn ra đường lớn phòng trường hợp có kẻ nào đó bỏ chạy. Xong xuôi đâu đấy, chàng quay lại ghế ngồi của mình trong đại sảnh như thể chẳng có chuyện gì xảy ra. Chàng luôn giữ điệu bộ bình tĩnh khiến cho những kẻ khác không thể đoán được trong đầu chàng đang nghĩ gì. Hơn nữa, khi cải trang thành kẻ ăn mày, tự nhiên kẻ thù của chàng không chú ý đến chàng và trở nên mất cảnh giác hơn.

Eurymachus đang gồng mình uốn cong chiếc cung nhưng vô ích. Thấy tình hình có vẻ không thuận lợi, Antinous yêu cầu hoãn buổi thử sức đến ngày hôm sau để bọn chúng dâng đồ cúng tế cho thần Apouo rồi thử lại thêm lần nữa. Hắn giải thích tại hôm nay mọi người đã mệt mỏi, hơn nữa Penelope thông báo quá bất ngờ nên chúng không có thời gian chuẩn bị. Nói là yêu cầu thôi nhưng thực ra hắn nói thế và thực hiện luôn như vậy chẳng cần ai đồng ý. Rồi chúng tụ tập xung quanh bàn tiệc uống rượu. Ulysses xin phép cho mình được giương thử cung. Nghe thế bọn người cầu hôn bật cười chế nhạo chàng. Chúng bảo rượu đã khiến chàng trở nên mất trí rồi, tại sao một kẻ ăn xin như chàng lại dám cầu xin tham dự vào "lễ kén chồng" của nữ hoàng Penelope cao quý chứ. Chúng đe dọa sẽ đưa chàng lên thuyền rồi đưa thẳng đến chỗ đức vua Echetus của bộ tộc ăn thịt người và ông ta sẽ cắt chàng ra từng mảnh nhỏ. Tuy nhiên, nữ hoàng Penelope nói ai cũng có quyền thử sức và người ăn xin này cũng không phải là ngoại lệ. Nếu thực sự ông ta thành công thì nàng sẽ đồng ý cưới ông ta làm chồng. Penelope tuyên bố một khi nàng đã nói thì sẽ thực hiện được. Nếu ông ta thất bại thì. Nàng sẽ chỉ tặng ông ta mấy bộ quần áo mới, một thanh kiếm và một thanh giáo rồi đưa ông ta đi đến bất cứ nơi nào ông ta muốn. Telemachus hét lên rằng chiếc cung đó là của chàng và chàng sẽ tặng cho người ăn mày nếu ông ấy muốn. Rồi chàng bảo mẹ mình đi cùng những người hầu gái vào trong thực hiện công việc may vá, thêu thùa của phụ nữ. Penelope cảm thấy rất ngạc nhiên khi con trai nàng nói như thể chàng chính là chủ nhân của ngôi nhà. Tuy nhiên, nàng vẫn nghe lời con và đi lên trên tầng cùng những người hầu gái.

Eumaeus mang. Cây cung đến cho Ulysses trong khi những kẻ cầu hôn phản ứng gay gắt, la lối om sòm, dọa sẽ giết chết anh ta nếu anh ta mang cây cung đến chỗ người ăn mày. Eumaeus sợ hãi liền đặt cây cung xuống nhưng Telemachus dọa sẽ trừng phạt anh ta nếu anh ta không nghe lời ông chủ của mình. Vậy là cuối cùng Eumaeus cũng đặt cây cung lên tay của Ulysses rồi ra ngoài bảo vợ Eurycleia khóa cửa nhốt những người hầu gái trong sảnh riêng dành cho phụ nữ. Philoetius lẩn vào trong sân sau và dùng dây thừng buộc chặt những cánh cổng dẫn ra ngoài lâu đài rồi lại trở vào trong xem Ulysses giương cung. Ulysses lúc đó đang xoay cây cung theo hướng này, hướng khác để kiểm tra xem liệu những chiếc sừng còn có thể phát ra âm thanh hay không bởi sau đó những chiếc sừng này sẽ được sử dụng trong quá trình chế tạo cung. Những kẻ cầu hôn lại chế nhạo chàng nhưng đột nhiên chàng uốn cong chiếc cung rồi căng dây cung một cách dễ dàng giống như một người chơi đàn căng dây cho chiếc đàn của anh ta. Chàng bật thử dây cung xem nó đủ căng chưa. Dây cung rung lên bần bật thật đáng sợ. Mặt mũi bọn người cầu hôn tái xanh như tàu lá. Ngoài trời bỗng nổi lên một tiếng sấm vang trời: Đó chính là thần Dớt báo hiệu cho Ulysses hành động. Lòng Ulysses rộn lên niềm vui vì chàng biết rằng thần Dớt đang giúp mình. Chàng rứt một mũi tên, vẫn ngồi yên trên ghế, chàng lắp tên vào cung rồi nhằm vào mục tiêu bật dây. Mũi tên lao vút đi xuyên suốt qua mười hai chiếc rìu trước ánh mắt ngạc nhiên của tất cả những người chứng kiến. Những kẻ cầu hôn không thể tin vào mắt mình. Tại sao một kẻ ăn xin rách rưới lại có một sức mạnh ghê gớm đến như vậy. Chúng chưa kịp lên tiếng hay làm gì thì Ulysses nói:

- Hỡi hoàng tử Telemachus, người khách này đã không làm cho con phải hổ thẹn đấy chứ? Giờ chúng ta hãy chuẩn bị cho mọi người ở đây một bữa tiệc mới. Và lần này thì một điệu đàn kithara mới sẽ cất lên trong bữa tiệc của chúng ta.

Telemachus gật đầu hiểu ý cha. Chàng rút kiếm ra, chộp lấy một mũi giáo cầm chắc bên tay trái và tiến đến đứng cạnh Ulysses.
 
522 ❤︎ Bài viết: 420 Tìm chủ đề
Chương 26

Ulysses giết chết bọn người cầu hôn

Ulysses trút bộ quần áo rách rưới xuống và nhảy một bước lên ngưỡng cửa, sau đó chàng rút những mũi tên bằng đồng từ bao ra rồi ném xuống dưới chân mình rồi quát vào mặt lũ người cầu hôn:

- Mục tiêu thứ nhất ta đã bắn trúng. Giờ thì ta chọn một mục tiêu khác mà từ trước đến nay chưa có ai nhắm vào nó. Thần cung nỏ Apolo sẽ giúp ta bắn trúng mục tiêu này.

Nói xong, Ulysses nhắm thẳng vào kẻ cầu hôn hỗn láo nhất có tên là Antinous đang ngồi uống rượu với vẻ kiêu ngạo khinh người. Mũi tên xuyên đúng cổ họng tên này. Hắn lảo đảo ngã xuống đất chết tươi, chiếc cốc hắn cầm trên tay rơi xuống tạo nên một âm thanh ròn rã. Cả bọn người cầu hôn như bừng tỉnh khỏi cơn mơ, chúng liều mạng lao tới tường nhà để lấy khí giới, lá chắn và áo giáp nhưng tường nhà trống trơn không còn một thứ vũ khí nào. Tuy nhiên, những kẻ ngu muội này lại nghĩ rằng người ăn mày bắn trúng bạn của chúng là do vô tình nên quát lên với Ulysses:

- Nhà ngươi sẽ phải chết cho hành động vừa rồi của mình. Rồi các con thú ác sẽ ăn thịt xác của nhà người. Đó sẽ là hình phạt tồi tệ dành cho ngươi dù đó chỉ là do chẳng may ngươi giết chếtngười anh em của chúng ta.

- Ha ha, lũ chó hèn hạ kia! - Ulysses lại quát lên - Các ngươi tưởng rằng ta sẽ không bao giờ quay trở lại từ thành Troy xa xôi ư? Các ngươi cậy đông, cậy mạnh nên tha hồ phá phách nhà cửa của ta, cướp bóc tài sản của ta, lăng nhục vợ ta mà không sợ bị trừng phạt. Các ngươi tưởng các vị thần sẽ bỏ qua những hành động xấu xa của các ngươi ư? Không, không bao giờ! Hôm nay sẽ là ngày tận số của các ngươi. Hãy chọn đi: Chiến đấu hay bỏ chạy? Dù thế nào thì một số kẻ trong các ngươi cũng không thể chạy trốn khỏi bàn tay của ta.

Cả bọn tỏ ra hoảng hốt nhưng tên Eurymachus hét lên với những kẻ khác:

- Hãy rút kiếm ra! Rút kiếm ra chiến đấu. Hãy dùng bàn làm lá chắn để chống lại những mũi tên của người đàn ông này. Xông vào tấn công ông ta và buộc ông ta phải rời khỏi cửa.

Nói xong hắn là kẻ đầu tiên rút kiếm ra, lao về phía trước định đâm chết Ulysses nhưng Ulysses nhanh hơn, bắn một mũi tên khác trúng ngực hắn khiến hắn ngã lăn ra chết nay. Sau đó Amphinomus cũng lao về phía Ulysses nhưng Telemachus ném cây giáo của chàng trúng đằng sau vai hắn ta. Chàng không thể lấy lại cây giáo của mình nên nói với cha:

- Con sẽ vào trong mang lá chắn, giáo và mũ cho chúng ta, cho người chăn lợn và người chăn bò nữa.

- Đi đi - Ulysses trả lời.

Telemachus chạy qua một hành lang hẹp, xuống phòng bí mật và mang khí giới lên đưa cho cha và hai người còn lại. Trong khi đó, Ulysses vẫn liên tục xả tên vào đám người cầu hôn khiến chúng không kịp trở tay. Trong đó đám người cầu hôn có tên Melanthius khá xảo quyệt, hắn biết cách lấy được khí giới trong lâu đài nên đã trèo lên và mang mười hai chiếc mũ, mười hai cây giáo và lá chắn cho đồng bọn của mình.

Ulysses đoán rằng có một người hầu gái nào đó đã phản bội và chỉ cho chúng chỗ để vũ khí trong đại sảnh. Tuy nhiên, người chăn lợn và người chăn bò đã kịp đi theo hắn, bắt được hắn rồi trói hắn lại giống như một bó rạ rồi treo hắn lên trên cao, để mặc hắn vừa la hét, vừa van xin. Sau đó, hai người quay trở lại chỗ Ulysses. Cả bốn người canh giữ cửa ra vào không cho bất cứ kẻ cầu hôn nào chạy thoát. Đúng lúc đó, nữ thần Athene xuất hiện dưới hình dáng của dũng sĩ Mentor, người bạn trung thành của Ulysses, xông vào trợ chiến cho họ. Nữ thần đã tiếp thêm cho Ulysses sức mạnh, lòng can đảm và niềm tin vào chiến thắng. Chàng cần tất cả những điều đó bởi những kẻ cầu hôn cũng đã có vũ khí. Chúng đồng loạt lao lên tấn công bốn người nên đôi khi phía Ulysses bị rơi vào tình trạng yếu thế. Sự xuất hiện của nữ thần đã làm thay đổi hoàn toàn cục diện. Phía Ulysses tuy có ít người nhưng ai nấy đều chiến đấu hết sức dũng mãnh, mỗi người trong số bọn họ giết được một kẻ cầu hôn, rồi một kẻ nữa, một kẻ nữa.. Họ tấn công, ném giáo và kiếm về phía đám đông đang sợ hãi, nháo nhác tìm cách chạy trốn, cầu xin tha thứ. Nhưng bây giờ chúng mới biết sợ thì đã quá muộn. Những việc chúng đã gây ra cho vợ của Ulysses quả không thể tha thứ được, chàng không thể chịu đựng được khi nghĩ đến cảnh nàng Penelope xinh đẹp phải gồng mình cam chịu như thế nào trong khi chàng đi vắng. Vậy là chàng lại trở nên mạnh mẽ hơn, quyết tâm giết chết tất cả lũ người này. Ulysses giết chết Leiodes, nhà tiên tri của lũ người cầu hôn nhưng chàng tha cho Phemius bởi anh ta không làm điều gì sai trái và tên Medon, kẻ nô lệ bị lôi kéo. Hắn phải bò lồm cồm dưới một chiếc bàn ra và câu xin Telemachus tha thứ. Thực tế, Ulysses không phải là kẻ khát máu, chàng sẵn sàng tha thứ cho bất cứ kẻ nào chàng cho rằng không đáng chết và có thê cải tà quy chính; nhưng đối với những kẻ hỗn láo, ngoan cố, thì hình phạt duy nhất là cái chết. Ulysses yêu cầu Phemius và người hát rong ra ngoài sân sau, bọn họ ngồi đó run rẩy vì sợ hãi. Tất cả những kẻ đến cầu hôn còn lại chết la liệt, nằm chồng đống lên nhau giống như những đống cá lớn trên bờ biên sau khi người đánh cá chăng lưới và kéo chúng lên trên bờ.

Giết xong lũ người cầu hôn, Ulysses bảo Telemachus đưa vú Eurycleia ra ngoài đại sảnh để vú được tận mắt chứng kiến số phận của những kẻ đã gây ra bao nhiêu phiền phức cho gia đình chàng. Người vú già sung sướng hét lên nhưng Ulysses bảo không nên lấy làm tự hào và kiêu hãnh trước những người đã chết. Chàng yêu cầu Telemachus cùng những người nô lệ mang những xác chết trong đại sảnh ra ngoài sân sau, còn những nữ tì đến lau dọn đại sảnh, bàn ghế và cột trụ. Ulysses muốn mọi dấu vết của cuộc chiến được xóa bỏ càng nhanh càng tốt bởi chàng cũng không hề thấy tự hào vì đã giết chết những kẻ đến cầu hôn. Sau khi mọi thứ đã được dọn sạch, họ giải Melanthius ra, giết chết hắn ta. Những người hầu gái trung thành với Penelope chạy ùa ra ngoài, trên tay cầm đuốc bởi lúc đó là vào ban đêm và hôn tay Ulysses trong nước mắt vì quá sung sướng. Họ không phải là những người phụ nữ còn trẻ và Ulysses nhớ tất cả bọn họ. Mọi người chúc tụng Ulysses, mừng chàng trở về trong tư thế oai hùng, giải cứu cho cả đất nước khỏi sự đe dọa của những kẻ cầu hôn xấu xa. Các gia nhân nói rằng, Ithaca đã phải trải qua nhiều biến động lớn bởi chàng không ở nhà cai trị đất nước. Nước không thể không có vua nên họ hi vọng chàng sẽ không phải đi xa thêm bất cứ ngày nào nữa. Trong khi cả hoàng cung đang đến vây quanh chúc tụng Ulysses, thì vú già Eurycleia chạy đến phòng riêng của hoàng hậu Penelope để báo tin vui cho nàng. Bà vừa chạy, vừa vấp ngã rồi lại đứng lên, rồi lại vấp ngã nhưng bà không hề cảm thấy đau mà ngược lại trong lòng tràn ngập niềm vui. Vú Eurycleia chạy vào bên trong đánh thức Penelope:

- Nào con gái, hay dậy và ra ngoài để được tận mắt nhìn thấy điều mà con đã mong chờ từ rất lâu rồi. Ulysses đã trở về và đang ở ngay trong chính ngôi nhà này, còn lũ người cầu hôn đều đã chết dưới mũi kiếm của Ulysses.

Pelenope không dám tin vào những gì vú Eurycleia nói. Nàng mỉm cười đáp:

- Chắc vú điên thật rồi, tại sao vú lại đánh thức tôi dậy để kể một câu chuyện quá hoang tưởng như vậy. Kề từ lúc chàng đi, tôi chưa từng yên giấc lấy một phút. Tôi sẽ rất tức giận nếu một trong số những người hầu gái của tôi đánh thức tôi dậy với câu chuyện ngốc nghếch đó nhưng vú đã già rồi nên tôi không trách. Vú hãy quay trở lại phòng đi.

- Tôi nói thật mà, không có gì gọi là ngu ngốc cả. - Vị vú già tốt bụng nói tiếp - Đúng là Ulysses đang ở trong đại sảnh, ông ấy chính là vị khách tội nghiệp mà tất cả những người đàn ông đã đánh và lăng nhục đấy. Nhưng Telemachus biết đó là cha mình và hai cha con họ đã lập ra một kế hoạch chu toàn tiêu diệt những kẻ cầu hôn hỗn láo. Nếu không tin, hoàng hậu hãy tự mình xuống dưới đó để xem thực hư ra sao.

Penelope nhảy lên vì sung sướng và hôn người vú già vì đã thông báo một tin tuyệt vời như vậy. Tuy nhiên, nàng vẫn không dám chắc rằng chồng mình đã trở về và sợ rằng có thể một vị thần nào đó hay một kẻ xấu đã cải trang thành Ulysses. Nàng nói:

- Chắc chắn Ulysses đã chết ở một nơi nào đó rất xa nơi đây rồi.

Mặc dù vú già đã thề rằng chính mắt bà đã nhìn thấy vết sẹo trên chân chàng do lợn rừng gây ra cách đây rất lâu rồi nhưng cũng không thể thuyết phục hoàng hậu Penelope. Nói đúng hơn, Penelope rất muốn tin vào điều vú Eurycleia nói nhưng nàng lại không dám bởi nàng sợ mình sẽ bị thất vọng. Nỗi mong nhớ chồng đã tích tụ thành niềm mong mỏi bỏng cháy, niềm hi vọng mỏng manh trong trái tim nàng, nếu thực sự niềm hi vọng này bị dập tắt thì nàng không biết mình sẽ bấu víu vào đâu để tiếp tục sống trên cõi đời này. Nàng nói với vú già:

- Không thể nào lại có chuyện như vậy. Nhưng thôi, chúng ta hãy xuống gặp con trai ta, xác chết của những kẻ cầu hôn và người đàn ông đã giết chết chúng.

Hai người đi xuống cầu thang và đi dọc theo hành lang dài dưới tầng một đan vào sân sau, rồi họ bước vào phía trong đại sảnh, đi qua ngưỡng cửa bằng đá cao mà Ulysses đã đứng khi bắn chết Antinous. Penelope đến cạnh lò sưởi và ngồi đối diện với Ulysses, lúc đó đang dựa người vào một trong bốn chiếc cột trụ lớn chống đỡ mái nhà. Trông chàng có vẻ rất mệt mỏi và tiều tụy. Nàng ngồi xuống và nhìn chăm chú người đàn ông vừa giết chết gần hai trăm kẻ cầu hôn kiêu ngạo. Ulysses vẫn mặc bộ quần áo rách rưới, trên người dính đầy máu của đối thủ trong khi giao chiến. Nữ hoàng Penelope không biết người đàn ông này là ai, nàng ngồi đó im lặng mặc dù Telemachus gọi nàng, thuyết phục trái tim băng giá của nàng tin vào những điều tốt đẹp đang diễn ra ngay trước mắt nàng.

Nàng nói với con trai:

- Con trai yêu quý của ta. Mẹ đang rất bối rối và không biết nên nói gì trong lúc này đây, mẹ rất muốn tin rằng mọi chuyện đã trở nên tốt đẹp, sóng gió thế là đã qua hết nhưng mẹ sợ đó chỉ là một giấc mơ mà thôi. Nếu quả thực người đàn ông này là Ulysses thì chắc chắn ông ấy sẽ biết những điều mà chỉ có mẹ và cha con biết. Chúng ta không cần phải vội vàng kết luận điều gì cả, rồi đâu sẽ vào đó con à.

Ulysses bảo Telemachus đi tắm rửa cho sạch sẽ và mặc quần áo mới vào bởi quần áo chàng đang mặc trên người dính đầy máu. Sau đó, Ulysses cũng ra lệnh cho những người hầu gái đưa người hát rong vào trong để chơi nhạc còn họ có thể thoải mái nhảy múa trong đại sảnh để ăn mừng. Trong khi đó, bạn bè và người thân của những kẻ cầu hôn vẫn chưa biết gì về tình hình trong hoàng cung hay về cái chết của chúng. Khi họ nghe thấy tiếng nhạc phát ra từ trong cung họ cũng chẳng nghĩ rằng có bất kỳ chuyện gì xảy ra, đơn giản chúng chỉ đang vui chơi, nhảy múa như mọi khi. Thực sự trong hoàn cảnh như vậy, tốt nhất người thân của những kẻ cầu hôn không nên biết về cái chết của chúng, bởi nếu không họ sẽ tìm cách trả thù và có thể sẽ đốt cháy cung điện của Ulysses. Dù đã giết chết được những kẻ cầu hôn nhưng Ulysses vẫn đang ở trong tình trạng vô cùng nguy hiểm, bởi theo pháp luật Hi Lạp lúc bấy giờ, anh em và họ hàng của những người đàn ông bị giết chết phải giết chết kẻ giết người để trả thù cho người thân của mình. Ulysses đã giết chết bao nhiêu người, điều đó có nghĩa là chàng còn có rất nhiều kẻ thù khác. Tạm thời Ulysses vẫn chưa ổn định được tình hình nên chưa đủ mạnh để đối mặt với những người muốn giết chàng (trong trường hợp họ biết người thân của họ đã chết), chính vì vậy, chàng ra lệnh cho mọi người giữ kín mọi chuyện, chờ tình hình lắng xuống rồi tính tiếp.

Eurynome tắm rửa cho Ulysses và xức dầu thơm cho chàng, khoác lên người chàng một bộ quần áo mới. Người ăn mày tội nghiệp đã lột xác trở lại thành Ulysess dũng mãnh, đẹp trai, là vị vua hợp pháp của hòn đảo Ithaca. Chàng ngồi xuống chiếc ghế cao cạnh lò sưởi và nói:

- Penelope, nàng là một hoàng hậu xinh đẹp và nhẫn tâm nhất còn sống trên cõi đời này, nàng có biết không? Không một người phụ nữ nào lại tỏ ra hờ hững với chồng mình trong khi anh ta vừa trở về nhà sau bao nhiêu năm xa cách. Nàng có biết ta đã phải chịu biết bao nguy hiểm và gian nan, thử thách không? Vú ơi - Ulysses quay sang gọi vú Eurycleia - Hãy chuẩn bị cho ta một chiếc giương, đêm nay ta sẽ ngủ một mình bởi trái tim của hoàng hậu đã trở nên chai cứng rồi.

Thực ra Penelope không hề hờ hững với chồng mình, nàng chi muốn chắc chắn rằng mình không vui mừng quá sớm thôi. Nàng thử người đàn ông đang ngồi đối diện với mình:

- Vú hãy trải một chiếc giường cho chàng bên ngoài phòng dành cho cô dâu và mang khung giường trong đó ra khỏi phòng cho chàng.

- Làm sao có thể mang khung giường đó ra khỏi phòng cơ chứ? Ngay cả một người đàn ông khoẻ mạnh nhất cũng không thế làm được điều đó. - Ulysses đáp - Chính ta là người đã làm chiếc khung giường đó và dùng một cây đang sống để làm cột giường. Theo nàng làm thế nào có thể mang khung giường ra ngoài đây?

Cuối cùng thì Penelope đã hoàn toàn tin rằng người đàn ông đang ngồi đối diện mình là Ulysses. Nàng chạy đến cạnh chàng, ôm chầm lấy người chồng yêu quý, hôn lên đôi môi của chàng và nói:

- Chàng đừng giận em mà tội nghiệp, bồi em luôn lo sợ rằng một vài người lạ xảo quyệt đến, lừa dối em, giả vờ là chồng em. Nhưng bây giờ, khi chàng đã nói cho em biết bí mật về chiếc giường mà không một người trần tục nào trừ chàng và em biết được thì em chẳng có lý do gì để nghi ngờ chàng.

Hai vợ chồng ôm riết lấy nhau như không muốn rời xa. Penelope bật khóc giống như một đứa trẻ. Hai mươi năm rồi nàng không được nhìn thấy chồng, không được ôm chàng vào lòng. Nàng quá xúc động và sung sướng. Ulysses kể cho Penelope nghe rất nhiều chuyện, về những chuyến phiêu lưu của chàng sau khi rời khỏi thành Troy và về việc chàng phải ra đi thêm một lần nữa nhưng lần này là trên đất liền cho đến khi đến được một đất nước gồm những người đàn ông chưa bao giờ nhìn thấy muối. Penelope an ủi chồng:

- Các vị thần sẽ bảo vệ cho chàng và sẽ mang chàng quay trở về với em.

Sau đó hai người quay trở về phòng riêng. Eurynome đi trước cầm nến soi đường nhưng điều đó là không cần thiết bởi các vị thần đã đưa họ đến nơi thuộc về họ.
 
522 ❤︎ Bài viết: 420 Tìm chủ đề
Chương 27

Kết thúc

Hôm sau, khi bình minh vừa hé rạng, Ulysses đã tỉnh giấc sớm bởi chàng còn có rất nhiều việc cần làm. Chàng và Telemachus cùng người chăn lợn Eumaeus mặc quần áo giáp vào, cầm gươm và giáo rồi cùng đi tới trang trại nơi đức vua già Laertes, cha của Ulysses đang an dưỡng tuổi già với sự phục vụ của đám người hầu thân cận. Lúc này, ông không còn minh mẫn nữa, chính vì vậy việc duy nhất ông có thể làm là chăm sóc vườn tược. Ulysses bảo những người khác vào trong nhà yêu cầu người quản gia già chuẩn bị bữa sáng cho mọi người, còn chàng một mình đi vào vườn nho để gặp cha. Hai mươi năm rồi chàng không được ở bên cạnh, chăm sóc cha, bây giờ cha chàng đã già lắm rồi, chàng muốn làm một điều gì đó để cha được vui lòng.

Trong vườn là một ông già tóc bạc đang mặc bộ quần áo làm vườn cũ, tay đeo găng bằng da và chân đi ủng cũng được làm từ da bò. Ông đang di chuyển từng bước chậm chạp, kiên nhẫn chăm sóc những cây nho xanh mởn. Mặc dù công việc này có vẻ hơi nặng nhọc đối với một người già ở tuổi Laertes nhưng Ulysses nhận thấy sự thanh thản và thích thú ở cha mình. Những người hầu của ông đã đi lượm đá về làm đập và chỉ còn lại một mình đức vua già Laertes ở lại trong vườn. Ông chăm chú làm việc đến nỗi mãi khi Ulysses tới gần hỏi ông là nô lệ của ai, ai là chủ sở hữu khu vườn này, ông mới nhìn lên. Ulysses cũng nói rằng chàng là một người lạ mặt đến Ithaca có chút việc, nhưng có một lần trong chuyến hành trình dài của mình, chàng có gặp đức vua của đảo này và đức vua nói rằng Laertes chính là cha của mình.

Laertes vô cùng ngạc nhiên khi nhìn thấy một người chiến binh trong bộ áo giáp sắt bước vào trong vườn bởi từ lâu rồi không có ai ăn vận như vậy đến thăm ông. Ông nói rằng mình là cha của Ulysses và đã từ lâu rồi ông cùng gia đình chẳng nhận được chút tin tức nào của chàng cả. Ông tâm sự mình đã quá già rồi, không còn đủ sức để gánh vác mọi chuyện trong nước, hiện tại hoàng cung đang gặp chuyện phiền toái nhưng chẳng ai có thể thay đổi được tình hình. Ông rất buồn vì Ulysses mãi chẳng trở về tiếp quản mọi chuyện, có Ulysses, mọi rắc rối sẽ được giải quyết. Nói một hồi, Laertes hỏi:

- Thế nhà ngươi là ai? Từ đâu đến?

Ulysses đáp lại rằng chàng đến từ Sicily, một hòn đảo cách đây, rất xa, năm năm trước chàng có gặp Ulysses và hi vọng lần này đến đây, Ulysses đã quay trở về nhà đề hai người bạn cũ gặp mặt, tâm tình. Sau đó, người đàn ông già ngồi sụp xuống mắt nhòa lệ bởi năm năm ròng trôi qua nhưng Ulysses vẫn chưa trở về từ Sicily, như vậy rất có thể chàng đã chết ở một đất nước xa xôi nào đó. Ulysses không thể chịu được khi cha mình khóc nên đã xin lỗi cha và nói rằng chàng chính là Ulysses, con trai của ông. Sau bao nhiêu gian lao, cuối cùng chàng đã trở về nhà và giết chết tất cả lũ người cầu hôn đáng ghét. Chàng cũng nói với cha rằng chàng đã gặp vợ và con trai, con trai của chàng đã lớn và nó cũng là một chàng trai dũng cảm.

Vua Laertes cũng giống như Penelope ban đầu không dám tin vào những gì Ulysses nói, ông bắt chàng phải chứng minh điều chàng vừa nói. Ulysses hiểu được tâm trạng của cha nên cũng không trách ông vì đã không tin chàng. Chàng chỉ cho ông xem vết sẹo trên chân của mình rồi nhìn xung quanh và nói:

- Con sẽ chỉ cho cha thấy những cây mà cha đã tặng riêng cho con khi con còn là một cậu bé suốt ngày chạy theo cha và đòi cha thứ này, thứ nọ như những đứa trẻ vẫn thường nhõng nhẽo với cha mẹ của mình. Cha đã tặng con mười ba cây lê và nói rằng chúng thuộc về con và chỉ một mình con thôi, ngoài ra con còn có năm mươi hàng nho và bốn mươi cây vải nữa. Đó là tài sản mà hồi còn nhỏ con rất yêu quý, tự hào và coi là vật báu.

Laertes vui mừng khôn xiết nhưng sức ông quá yếu nên không thể thể hiện được cảm xúc của mình. Ulysses đỡ cha lên và an ủi cha. Tuy nhiên, khi Laertes bình tĩnh trở lại, ông thở dài và nói:

- Làm thế nào chúng ta có thể đối mặt được với lòng hận thù của họ hàng những kẻ đã chết trên đảo Ithaca và trên những hòn đảo khác đây?

- Cha ơi, cha hãy vững tâm lên! - Ulysses đáp - Rồi chuyện gì cũng có cách giải quyết mà. Bây giờ chúng ta hãy quay trở vào nhà và dùng bữa sáng cùng với Telemachus. Ba người chúng ta chưa bao giờ được ngồi ăn chung mâm, cùng nhau uống lượn và trò chuyện. Cha biết không, đây chính là việc con muốn làm nhất khi quay trở về đất nước đây.

Vị vua già đi tắm, sau đó ông mặc một bộ quần áo mới rất đẹp khiến ông có vẻ trẻ hơn đến chục tuổi. Ulysses ngạc nhiên tự hỏi tại sao cha chàng lúc này lại khoẻ khoắn như vậy, phải chăng niềm hạnh phúc và vui sướng đã tiếp thêm sức mạnh cho ông?

- Trông ta có còn khoẻ mạnh như hồi ta đoạt đàn gia súc của Nencus cách đây rất lâu rồi và nếu ta còn có đủ sức để chiến đấu chống lại lũ người cầu hôn không?

Một lát sau, tất cả những người phục vụ của vị vua già Laertes bước vào, ai nấy đều vui sướng khi thấy Ulysses trở về. Họ cùng nhau ăn sáng và nói chuyện rôm rả.

Vào thời gian này, mọi người trong thành phố đều biết rằng những người cầu hôn đã bị giết chết nên họ tụ tập đông đúc tại nhà của Ulysses. Ai nấy đều khóc lóc thảm thiết, đau buồn trước sự ra đi của những người thân yêu. Họ thu lượm những xác chết và đem đi mai táng, sau đó họ tập trung lại thành một hội đồng lớn. Cha của Antinous, Eupeithes phát biểu rằng tất cả bọn họ sẽ bị người đời chê cười, nhạo báng nếu không giết chết Ulysses trước khi anh ta chạy trốn tới nhà Nestor tại Pylas. Mặc dù nhà tiên tri đã nói rằng các chàng trai trẻ đáng bị chết và ngay cả khi họ không chết dưới tay của Ulysses thì họ cũng sẽ phải chịu đựng một cái chết đau đớn hơn rất nhiều lần nhưng chẳng ai chịu lắng nghe những gì ông nói. Phần lớn những người đàn ông quay trở về nhà, trang bi vũ khí và Eupeithes dẫn họ đi đến trang trại của Laertes. Tuy nhiên, các vị thần trên thiên đàng quan tâm đến Ulysses và cử nữ thần Athene đến giảng hòa để tránh phiền phức đối với chàng dũng sĩ tài ba.

Những kẻ đang nóng lòng muốn trả thù kẻo đến gần ngôi nhà trên trang trại, trong khi đó phía Ulysses chỉ có vẻn vẹn tất cả mười hai người bao gồm Ulysses, Telemachus, người chăn lợn, người chăn bò và mấy người hầu của Laertes. Họ đều tự trang bị vũ khí cho mình và không lựa chọn cách chỉ đứng bên trong bảo vệ ngôi nhà mà dũng cảm tiến lên phía trước mặt đối mặt với kẻ thù. Họ động viên nhau hãy cố gắng, còn vua Laertes cầu nguyện nữ thần Athene đến cứu giúp rồi ném mũi giáo của mình về phía Eupeithes; cây giáo đâm xuyên qua mũ của hắn ta khiến Eupeithes ngã xuống đất. Tuy nhiên, trong lúc gay cấn như vậy, nữ thần Athene xuất hiện và hét lên:

- Hãy dừng tay, hỡi những người đàn ông của đảo Ithaca. Như vậy là quá đủ rồi, ta không muốn nhìn thấy máu của bất cứ ai chảy nữa. Đã đến lúc hòa bình được lập rồi đấy.

Những kẻ muốn trả thù chạy toán loạn còn Ulysses thét lên rồi lao nhanh về phía chúng nhưng một tiếng sấm vang trời đã cản chân chàng. Nữ thần Athene yêu cầu chàng ngừng lại nếu không chàng sẽ khiến cho thần Dớt vĩ đại nổi giận. Ulysses vui vẻ nghe theo, hòa bình được lập ra trên hòn đảo Ithaca và giữa Ithaca với các hòn đảo khác.

Đây chính là phần kết của câu chuyện về Ulysses, con trai của Laertes bởi chúng ta không biết gì hơn về những chuyến thám hiểm đi tìm vùng đất của những người đàn ông chưa từng nghe nói về biển hoặc chưa từng ăn thức ăn có muối. Hãy để cho những chuyến thám hiểm đó trở thành một ẩn số đối với những người yêu quý Ulysses và đối với những người đang muốn biết rõ hơn về tình hình của chàng dũng sĩ khôn ngoan, tài ba này.
 
522 ❤︎ Bài viết: 420 Tìm chủ đề
Chương 28: Bộ lông cừu vàng

Những đứa con của mây

Toàn bộ thành Troy vẫn đứng vững, mạnh mẽ, kiên cường và thịnh vượng. Trước khi vua Priam ra đời, có một vị vua tên là Athamas, người cai trị một đất nước nằm bên cạnh vùng biển Hi Lạp. Athamas là một chàng trai trẻ chưa lập gia đình bởi vì không có một công chúa nào vào thời đó đủ xinh đẹp và thông minh để trở thành vợ của chàng. Chàng cũng đã đi tìm kiếm và mong muốn có được một gia đình hạnh phúc của riêng mình nhưng điều đơn giản đó dường như khó có thể thực hiện được.

Một ngày kia, chàng rời khỏi lâu đài và một mình leo lên một ngọn núi cao, chàng đi theo dấu của những tảng đá lớn nằm dọc theo một dòng sông nhỏ. Đi mãi, đi mãi, cuối cùng chàng cũng đến được một nơi rất lạ, nơi đó có một tảng đá lớn màu đen đứng bên bờ sông và nhô ra phía một con suối. Xung quanh tảng đá lớn, nước sông có màu đen tối và rất sâu. Điều kỳ lạ hơn là khi nghe thấy tiếng nước chảy trên dòng sông, vị vua trẻ có cảm giác nó giống như tiếng cười lớn của những cô gái trẻ đang nô đùa vui vẻ. Đầu tiên, chàng không tin vào tai mình và nghĩ rằng có thể do chàng đã quá mệt nên bị hoang tưởng, nhưng càng nghe, chàng càng thấy điều đó là chính xác. Athamas quá tò mò trước hiện tượng lạ nên đã lặng lẽ trèo lại đằng sau tảng đá và quan sát. Trước mặt chàng là ba cô gái trẻ, xinh đẹp đang tắm trong một cái ao, họ đang nô đùa, té nước vào nhau một cách vui vẻ. Mái tóc dài vàng óng của họ thả xuống phía dưới giống như một chiếc áo choàng tuyệt đẹp. Trong số ba người có một cô gái vô cùng xinh đẹp, đẹp hơn hắn hai người kia. Trông nàng thật quyến rũ, duyên dáng đến nỗi vị vua của chúng ta đem lòng yêu mến nàng ngay từ cái nhìn đầu tiên dù chàng chưa biết nàng là ai, từ đâu đến. Vị vua trẻ ngây ngất trước vẻ đẹp có một không hai này, chàng nằm lặng im quan sát người con gái có sắc đẹp nghiêng nước, nghiêng thành với sự ngưỡng mộ sâu sắc. Athamas tự nói với mình:

- Cuối cùng thì mình cũng tìm được người xứng đáng làm vợ. Thật không lãng phí thời gian mình đến tận nơi này.

Vì mải mê suy nghĩ, chàng không để ý xung quanh nên chạm tay vào một hòn đá khiến hòn đá rơi từ trên đỉnh của tảng đá xuống. Hòn đá lao nhanh trên không trung cho đến khi nó rơi tõm xuống cái ao phía dưới, nơi ba nàng tiên xinh đẹp đang tắm. Ngay lập tức ba nàng nghe thấy tiếng động và trở nên hốt hoảng sợ hãi bởi các nàng nghĩ rằng có ai đó đang ở gần đây và rất có thể họ có mưu đồ xấu xa đối với họ. Cả ba cô gái hốt hoảng lao nhanh lên bờ, mặc quần áo vào. Quần áo của ba nàng rất đẹp, xứng với vẻ đẹp kiêu sa của họ. Đó là những bộ váy mềm, đáng yêu có màu trắng, màu nâu và màu đỏ hoa hồng, tất cả đều ánh lên những hạt ngọc trai và kim cương giống như những giọt sương mai buổi sáng.

Họ vừa mặc quần áo vào thì ngay lập tức những bộ quần áo biến thành những đôi cánh trắng muốt tuyệt đẹp. Rồi họ nhẹ nhàng đứng lên khẽ vỗ cánh và bay lên không trung. Chưa bao giờ vị vua trẻ của chúng ta được chứng kiến một cảnh tượng tuyệt vời như vậy. Chàng quá sững sờ đến nỗi chẳng biết phản ứng thế nào, hơn nữa mọi việc diễn ra quá nhanh nên chàng chỉ biết đứng đó với vẻ nuối tiếc. Chàng ngước mặt lên cao quan sát và đâu đó giữa những hàng cây xanh mướt trên đinh núi cao, đức vua có thể nhìn thấy những bộ quần áo sáng lấp lánh, một lát sau chúng biến mất, rồi lại xuất hiện lấp lánh cho đến khi họ lẫn vào những đám mây trên bầu trời bao la giống như một lớp sương mù. Chàng có cảm giác những đám mây trên cao chính là nhà của ba nàng tiên xinh đẹp. Chàng chẳng biết làm gì ngoài việc dõi mắt hướng lên cao nhìn ngắm họ bay giống như những đám mây giữa những đám mây khác dọc theo nền trời xanh biếc. Cả ngày hôm đó, chàng chẳng muốn làm gì ngoài việc quan sát ba nàng tiên mây và ngẩn ngơ nhớ tới cô gái có sắc đẹp tuyệt trần. Cho đến khi mặt trời lặn, trên nền trời chi còn những tia sáng màu vàng nhạt, màu đỏ tía, họ mới hoàn toàn biến mất. Athamas tiếc rẻ nhìn lên trên bầu trời và thầm ước giá như trời chưa tối, giá như mặt trời còn nán lại thêm một chút nữa thì chàng có thêm chút thời gian để nhìn ngắm các nàng tiên mây duyên dáng.

Đức vua quay trở về lâu đài nhưng chàng cảm thấy rất buồn và chẳng gì có thể khiến chàng vui vẻ lên được. Cả ngày chàng đi lang thang giữa các ngọn đồi và tìm kiếm những cô gái xinh đẹp nhưng chàng chẳng bao giờ tìm được họ. Ban đêm, chàng mơ về họ cho đến khi chàng trở nên gầy gò, ốm yếu, xanh xao giống như một người sắp chết. Khi một người không còn cảm thấy hứng thú về bất cứ chuyện gì, anh ta cảm thấy sống trên đời cũng vô nghĩa. Khi một người suốt ngày đi tìm kiếm một thứ gì đó anh ta vô cùng khao khát có được nhưng chẳng bao giờ tìm thấy thì người đó sẽ trở nên thất vọng, tiều tụy và không còn hứng thú với cuộc sống. Đó chính là tình cảnh của vị vua trẻ Athamas. Người thân của chàng, các vị đại thần trong triều cảm thấy rất lo lắng, không hiểu tại sao đức vua của mình lại trở nên như vậy. Họ tìm đủ mọi cách mời thầy lang đến khám bệnh và chữa trị nhưng vô ích. Đức vua ngày càng ốm yếu và chẳng thiết ăn uống, cũng chẳng bao giờ nở một nụ cười.

Vào thời đó, nếu có ai bị ốm, những người nhà của người ốm sẽ yêu cầu những người hành hương đến đền thờ của một vị thần để cầu nguyện và dâng đồ cúng tế. Họ hi vọng rằng vị thần đó sẽ xuất hiện trong giấc mơ của mình hoặc ít nhất là gửi đến cho họ một giấc mơ có thật và nói với họ làm cách nào họ có thể đạt được những thứ mình muốn. Chính vì vậy, đức vua ra lệnh cho người lái xe ngựa đưa mình đến đền thờ trong thành phố. Khi tới nơi, chàng nhận thấy đó là một nơi rất kỳ lạ. Các thầy cúng mặc quần áo làm từ da chó, đầu đội mũ có hình mặt chó, ngoài ra có rất nhiều chú chó chạy xưng quanh đền thờ bởi chó là loài vật yêu thích của thần. Vị thần đó có tên là Asclepius. Trong đền thờ có hình ảnh của thần với một con chó đang ngồi dưới chân, trên tay thần cầm một con rắn và cho nó ăn thức ăn đựng trong một cái bát. Mặc dù cảm thấy ngạc nhiên nhưng vị vua trẻ của chúng ta vẫn tỏ ra tôn kính với vị thần yêu động vật với hi vọng thần sẽ giúp chàng vượt qua được giai đoạn khó khăn này.

Đức vua kính cẩn trước thần. Khi đêm xuống, chàng được đưa vào trong đền thờ. Có rất nhiều chiếc giường đã được trải bên trong và có rất nhiều người, cả giàu lẫn nghèo, nằm trên đó. Họ đều hi vọng thần sẽ xuất hiện trong giấc mơ của mình, nói cho họ biết họ cần phải làm gì để có thể chữa lành được vết thương dù đó là vết thương thể xác hay tinh thần. Đức vua nằm đó, giống như những người còn lại nhưng mãi mà chàng chẳng thể nào chợp mắt được. Chàng cứ suy nghĩ vẩn vơ cho đến khi chàng quá mệt và chìm vào trong giấc ngủ. Điều đáng mừng hơn nữa là cuối cùng chàng cũng mơ một giấc mơ như mong muốn. Tuy nhiên, người xuất hiện trong giấc mơ không phải là vị thần được thờ trong khu đền này mà là một phụ nữ vô cùng xinh đẹp. Dường như nàng đang bay trước mặt chàng trên một chiếc xe do những con chim bồ câu kéo. Xung quanh nàng là một đàn chim sẻ đang ca hót ríu rít. Ngay lập tức chàng nhận ra đó không phải ai khác mà chính là nữ thần Aphrodite, nữ hoàng Tình yêu. Nàng xinh đẹp hơn bất cứ người phụ nữ nào trên thế giới này, nàng còn mỉm cười với chàng. Nàng nhìn vị vua trẻ với vẻ thông cảm và nói:

- Hỡi đức vua Athamas, chàng đang bi ốm tương tư. Tình yêu đã làm chàng trở nên héo hon tiều tụy. Chứ thực tế chàng không hề bị bệnh tật gì cả. Chàng hãy quay trở về nhà và vào đêm đầu tiên của tuần trăng mới, chàng hãy trèo lên trên những ngọn đồi nơi chàng đã nhìn thấy ba người phụ nữ trẻ xinh đẹp kia. Khi hoàng hôn xuống, họ sẽ quay trở lại dòng sông để tắm. Sau đó, chàng hãy bò ra khỏi rừng và đánh cắp quần áo của người phụ nữ chàng yêu, như vậy nàng ấy sẽ không thể bay đi cùng những người còn lại. Nàng sẽ trở thành vợ của chàng.

Sau đó, người phụ nữ trẻ lại mỉm cười với chàng và các chú chim bồ câu kéo nàng đi, đi xa khỏi giấc mơ của chàng.

Vị vua trẻ thức dậy, nhớ lại toàn bộ giấc mơ và thầm cảm ơn người phụ nữ trẻ đã chỉ cho chàng cách thoát khỏi tình trạng đau khổ này. Chàng biết đó chính là nữ thần Tình yêu và sự xuất hiện của nàng trong giấc mơ của chàng chính là một điềm báo tốt lành. Vị vua trẻ chẳng mong muốn gì hơn thế và trong trái tim héo úa của chàng bỗng rộn lên một niềm vui khó tả. Chàng quay trở về nhà làm tất cả những gì nữ thần Tình yêu đã nói, trong lòng rộn ràng niềm vui và sự hi vọng.

Vào ngày trăng mới đầu tiên khi nữ thần mặt trăng chiếu những ánh sáng bạc êm dịu của mình giống như một sợi chỉ vàng trên bầu trời cao vời vợi, vua Athamas rời lâu đài và trèo qua những ngọn đồi, rồi ẩn mình trong khu rừng cạnh bờ sông kiên nhẫn chờ đợi. Khi thần Hoàng hôn xuất hiện, bao trùm lên cảnh vật một màu sắc bạc mát lành, chàng nghe thấy giọng nói trong trẻo của các cô gái trẻ. Chỉ một lát sau. Chàng nhìn thấy bóng dáng của ba nàng tiên bay qua những ngọn cây và đáp xuống bờ sông. Họ cởi quần áo ra rồi chạy xuống sông tắm. Họ cùng nhau tắm và té nước vào nhau, chơi đùa vui vẻ. Tận dụng lúc đó, vị vua trẻ của chúng ta nhẹ nhàng bò ra chỗ bờ sông có cỏ mọc um tùm và lấy cắp quần áo của cô gái trẻ nhất, xinh đẹp nhất. Ba cô gái nghe thấy tiếng động lạ nên hoảng hốt chạy lên bờ mặc quần áo vào. Hai trong số ba nàng lấy được quần áo, bay lên trên trời cao trong khi nàng thứ ba ngồi sụp xuống khóc lóc, cầu xin vị vua trẻ trả lại quần áo cho nàng. Tuy nhiên. Athamas khăng khăng không chịu trừ khi nàng hứa sẽ trở thành vợ chàng và sống bên chàng trong suốt cuộc đời này. Đức vua kể với nàng về tình yêu của mình dành cho nàng ngay từ cái nhìn đầu tiên và chàng đã đau khổ như thế nào khi không được gặp nàng. Rồi còn cả chuyện nữ thần Tình yêu đã cử chàng đến đây để làm chồng của nàng. Cuối cùng vị tiên nữ xinh đẹp hứa sẽ làm vợ Athamas và cầm tay chàng rồi cả hai cùng trở về lâu đài. Tuy nhiên. Athamas có cảm giác người con gái đi cạnh mình đang đi trên không khí. Chân của nàng không hề chạm đất. Nàng nói rằng nàng là Nephele, theo ngôn ngữ của các nàng có nghĩa là "một đám mây". Nàng là một trong số các nàng tiên mây tạo ra mưa, đem lại mưa cho thế giới này. Nàng cùng chị em mình sống trên những đỉnh đồi và trong những khu hồ nước ở trên trời cao. Cuộc sống của họ rất vui vẻ không phải lo lắng bất cứ thứ gì. Nàng là em út nên được các chị yêu quý, chiều chuộng. Đây là nơi ba chị em nàng thường đến tắm, vui đùa.

Về tới lâu đài hai người tổ chức đám cưới và sống với nhau rất vui vẻ. Cả hai đều yêu thương nhau hết mực, chẳng bao giờ to tiếng với nhau lấy một câu. Một thời gian sau, họ sinh được hai người con: Cậu con trai tên là Phrixus, còn cô con gái là Helle. Hai đứa trẻ có một con vật cưng rất đẹp tên là ram với bộ lông bằng vàng óng ánh. Đó là một con cừu do thần Hermes tặng cho hai đứa trẻ. Hermes là một vị thần trẻ, đẹp trai, tinh anh vui vẻ với đôi cánh trắng muốt trên vai, đó là đôi cánh của sự nhanh nhẹn. Sau này, thần cho cậu bé Perseus mượn đề chàng đi giết chết phù thủy Gorgon và lấy đầu bà ta. Hai đứa trẻ thường chơi đùa với con cừu này. Cưỡi con vật cưng đi dạo trên những đồng cỏ đầy hoa. Phrixus và Helle rất ngoan. Chúng chẳng bao giờ đòi hỏi cha mẹ điều gì, cả ngày chúng dạo chơi cùng chú cừu và luôn đối xử tốt với người ăn kẻ ở.

Hai đứa trẻ sẽ sống một cuộc sống vô cùng vui vẻ. Hạnh phúc nếu không có một việc xảy ra làm thay đối mọi chuyện. Khi có những đám mây xuất hiện trên bầu trời và khi trời mưa, mẹ của Phrixus và Helle luôn ở bên cạnh chúng, chăm sóc, vui đùa với chúng. Nhưng vào những ngày nắng nóng. Không có mây, nàng thường bỏ đi và mọi người không biết nàng đi đâu. Những ngày khô nóng dài khiến nàng trở nên xanh xao, gầy rộc và cuối cùng nàng không thể chịu được nên đã biến mất không để lại dấu vết nào. Nephele chỉ quay trở về lâu đài khi thời tiết ẩm ướt và bầu trời u ám là dấu hiệu của mưa. Không ai hiểu cho nỗi khổ của nàng: Nàng là tiên nữ mây, là người mang mưa đến khắp mọi miền trên thế giới chính vì vậy nàng không thể chỉ ở lại đây quanh năm suốt tháng. Hơn nữa. Nàng không thể thích nghi được với thời tiết khô nóng kéo dài. Đó chính là lí do tại sao nàng thường biến mất một cách bí ẩn.

Vua Athamas mệt mỏi về những điều đó. Chàng không thể chấp nhận việc vợ mình thường xuyên biến mất trong thời gian dài mà không nói năng gì. Trong lúc đó, có một cô gái vô cùng xinh đẹp tên là Ino đến thành phố của Athamas trên một chiếc thuyền của các lái buôn Phoenician. Đó là một cô gái da đen trẻ, thông minh, sắc xảo và khéo léo trong cách cư xử. Đức vua nhìn thấy cô ta và cảm thấy thích liền. Ino nhận ra được tình cảm của vị vua trẻ, hiểu được tâm trạng của chàng nên cũng tìm cách tiếp cận. Nói chuyện với hi vọng sẽ giành được nhiều tình cảm hơn nữa của đức vua. Mụ ta thường xuyên đến lâu đài chơi với hai đứa trẻ trong khi mẹ chúng biến mất cùng những người chị mây của mình. Mụ tỏ ra yêu quý hai đứa trẻ, hết lòng chiều chuộng chúng nên đã nhanh chóng chiếm được cảm tình của đức vua.

Thực ra người phụ nữ có tên Ino này là một mụ phù thủy với nhiều phép thuật. Một lần, cô ta bỏ một loại thuốc vào rượu và cho đức vua uống. Uống xong, chàng hoàn toàn quên nàng Nephele, vợ chính thức của mình và đem lòng yêu Ino. Cuối cùng, chàng cưới mụ ta và họ cũng có với nhau hai mặt con: Một trai. Một gái. Ino đeo vương miện nữ hoàng và ra lệnh không cho phép Nephele đặt chân vào trong lâu đài thêm một lần nào nữa. Mụ đã lộ bản chất thực của mình. Thay đổi thái độ với vợ cả và hai đứa con riêng của chồng. Bây giờ, mụ là người nắm quyền trong hoàng cung nên tha hồ tác oai tác quái mà không cần để ý đến những người xung quanh. Phrixus và Helle không bao giờ nhìn thấy mẹ mình nữa và phải mặc những bộ quần áo rách rưới làm từ da dê. Chứng chỉ được cho ăn những món ăn dành cho kẻ ăn. Người ở, phải lao động vất vả trong khi hai đứa con của Ino được đội vương miện vàng, được mặc những bộ quần áo đẹp nhất, ăn những món ăn ngon nhất, dùng những đồ vật tốt nhất.

Một ngày kia, Phrixus và Helle dang chăn cừu trên đồng cỏ bởi lúc đó chúng bị đối xử như con cái của nông dân và phải lao động vất vả để lấy thức ăn, chúng gặp một người phụ nữ già, da nhăn nheo, ăn mặc rách rưới. Cả hai tỏ ra thương cảm đối với bà nên đã đưa người đàn bà khốn khổ về nhà. Mặc dù chúng không bao giờ được ăn no, ăn ngon nhưng chúng vẫn sẵn sàng chia sẻ phần bánh mì ít ỏi của mình cho người đàn bà tội nghiệp, không nơi nương tựa. Nữ hoàng Ino thấy bà, mụ ta muốn bà trở về cing làm vú nuôi cho hai đứa con mình. Người phụ nữ già đồng ý với một điều kiện, bà sẽ chăm sóc cả Phrixus và Helle. Mụ Ino chẳng thèm quan tâm nên cũng. Đồng ý. Hàng ngày, bà vẫn sống cùng các công chúa, hoàng tử và đối xử tử tế với Phrixus, Helle. Hai đứa trẻ rất vui vì cuối cùng cũng có người thực sự tốt với chúng, quan tâm tới chúng. Nhưng có một điều cả hai đều không biết: Người phụ nữ già kia chính là mẹ của chúng, đã giả dạng thành một bà già, một người hầu để được ở bên cạnh bảo vệ, chăm sóc hai đứa con của mình.

Càng ngày Phrixus và Helle càng cao lớn và xinh đẹp hơn hai đứa con của Ino nên mụ ta tỏ ra ghét chúng ra mặt. Mụ tìm mọi cách để hành hạ, ngược đãi, bắt chúng phải lao động vất vả với hi vọng chứng sẽ yếu đi, xấu đi. Tuy nhiên, tất cả những gì mụ nhận được chỉ là một nỗi thất vọng lớn. Mụ không thể chấp nhận được sự thật đó nên đã quyết tâm giết chết hai đứa con riêng của chồng.

Phrixus và Helle và hai đứa con của Ino cùng ngủ chung một phòng. Có điều là hai đứa con của Ino thì đội vương miện và nằm trên những chiếc giường có đệm êm. Một đêm, Phrixus đang nửa tỉnh, nửa mơ thì cậu nghe thấy tiếng vú già đang bước chân vào phòng trong bóng tối. Bà đặt cái gì đó lên đầu cậu rồi thay khăn trải giường cho cậu. Tuy nhiên, lúc đó cậu lại quá buồn ngủ và cứ nghĩ rằng vú chỉ muốn đắp lại chăn cho mình nên không để ý. Cậu say sưa chìm trong giấc ngủ ngon lành, và cậu mơ được gặp mẹ mình. Vào cái đêm chết người đó, mụ mẹ ghẻ độc ác nhẹ nhàng vào trong căn phòng, trên tay cầm một con dao găm. Mụ ta lần mò đến giường của Phrixus rồi sờ lên đầu cậu và khăn trải giường của cậu. Sau đó mụ ta nhẹ nhàng sang giường của Helle và sờ khăn trải giường của cô bé cùng mái tóc của cô. Khi thấy cả hai đứa trẻ đều đội vương miện và giường của chúng đều trải đệm, mụ ta nghĩ rằng đó là con mình nên nhẹ nhàng hôn vào trán chúng. Rồi mụ sang giường của hai đứa trẻ con mụ, sờ đầu chúng. Khi thấy hai đứa trẻ không có vương miện trên đầu, mụ nghĩ rằng đó chính là hai đứa con riêng của chồng nên đã giết chết chúng. Sau đó, mụ nở một nụ cười mãn nguyện rồi lần xuống tầng dưới, tiếp tục đi ngủ như không có chuyện gì xảy ra.

Sáng hôm sau, hai đứa con của Ino nằm đó chết cứng, thi thể lạnh cóng nhưng không ai biết kẻ nào đã giết chúng. Mọi người thắc mắc ai lại nhẫn tâm giết chết hai đứa trẻ vô tội bởi chúng chẳng hề làm hại đến ai. Chỉ có duy nhất mụ nữ hoàng độc ác biết được sự thật và tất nhiên, mụ chẳng đời nào hé răng nói rằng chính mụ là kẻ đã giết chết con mình. Mụ đau đớn vô cùng nhưng lại không thể thổ lộ với bất cứ ai. Bình thường mụ đã căm ghét Phrixus và Helle thì giờ đây sự căm ghét của mụ dành cho hai đứa trẻ tăng lên đến trăm lần. Chỉ cần thấy chúng là mụ muốn xé xác, hành hạ nhưng lại không thể làm được như vậy, ít nhất là trong thời điểm hiện tại. Sau khi sự việc đó xảy ra, người vú già đã biến mất, từ đó trở về sau không ai nhìn thấy bà nên tất cả mọi người, trừ nữ hoàng độc ác, nghĩ rằng chính bà là kẻ đã giết chết hai người con yêu quý của đức vua. Nhà vua sai người đi khắp nơi tìm kiếm bà để thiêu sống bà nhưng chẳng bao giờ chàng có thể tìm thấy người phụ nữ đó bởi nàng đã quay trở về với những người chị em gái của mình, những nữ thần mây.

Những nàng tiên mây khác, hay nói đúng hơn là những đám mây cũng biến mất luôn. Trong sáu tháng liền từ mùa đông đến mùa thu hoạch cả đất nước không hề có một hạt mưa nào. Cả nước trở nên khô hạn như thể mọi vật bị đốt cháy thành than. Cây cối trở nên đen kịt và khô héo. Các dòng suối cạn hết nước, những bãi ngô chuyển sang màu vàng và chết trước khi nông dân có thể thu hoạch. Mọi người trong nước rơi vào nạn đói khủng khiếp, gia súc và cừu chết hết bởi không có cỏ cho chứng ăn. Ngày nào cũng vậy, mặt trời chiếu xuống mặt đất như thiêu như đốt, ánh nắng gay gắt chiếu trực tiếp xuống đất nước của Athamas mà không qua một đám mây nào.

Mụ dì ghẻ độc ác Ino thấy rằng đây chính là cơ hội tốt để mụ ta thực hiện dã tâm của mình. Đức vua cử những người đưa tin tới Pytho và xin lời khuyên của một nữ tiên tri, nhờ bà chỉ cho cách đưa những đám mây và mưa quay trở lại với đất nước của chàng. Ino đón đường những người đưa tin. Cho họ vàng, tiền và đe dọa sẽ giết chết họ nếu họ không mang về thông điệp từ nữ trên tri theo ý muốn của mụ.

Những người đưa tin đi đến gặp nữ tiên tri và quay trở về trong tâm trạng vô cùng buồn bã. Họ đến gặp đức vua và nhất định không chịu nói cho đức vua biết bất cứ điều gì. Tuy nhiên. Đức vua ra lệnh cho họ phải nói và họ đã đưa cho đức vua thông điệp không phải của nữ pháp sư mà chỉ là những gì Ino buộc họ phải nói. Những người này là những kẻ sợ chết, họ lại trót nhận tiền của mụ phù thủy độc ác nên không thể làm khác đi được.

Đức vua nghe thấy tin được mang về thì trong lòng cảm thấy vô cùng buồn bã nhưng chàng lại không thể làm trái ý của các vị thần. Vậy là Phrixus và Helle tội nghiệp được người ta đội lên đầu những vòng hoa trắng như cách người ta vẫn làm với những chú cừu khi chúng được sử dụng làm đồ tế thần. Sau đó, những người hầu của Ino đưa chúng đến bàn thờ, mọi người đi theo sau khóc lóc thảm thiết. Chú cừu vàng cùng đi ở giữa hai đứa trẻ tội nghiệp trong khi chúng được đưa đến đền thờ. Khi chúng đến gần bờ biển, nằm bên dưới những vách đá đựng đứng nơi đền thờ được xây dựng, thần mặt trời và những chú chim hải âu trắng vui vẻ bay xung quanh đền thờ. Tới đây, chú cừu vàng nói với Phrixus bởi thần linh đã cho phép nó nói tiếng người:

- Hãy nắm lấy sừng của tôi rồi ngồi lên lưng tôi, sau đó để Helle trèo lên và tôi sẽ đưa các bạn đến một vùng đất rất xa, nơi không có mụ phù thủy Ino độc ác.

Chú cừu đưa hai anh em Phrixus bay về hướng đông. Từ trên cao, hai đứa trẻ nhìn thấy biển cả và những hòn đảo, những tòa tháp, đền thờ trắng muốt rồi những cánh đồng rộng mênh mông, những con thuyền đang nối đuôi nhau đậu trên bến. Chú cừu đi về hướng đông, hướng mặt trời mọc. Vì ngồi trên lưng chú cừu quá lâu nên Helle buồn ngủ và mệt mỏi. Cuối cùng, cô bé chìm vào giấc ngủ sâu lúc nào không biết và bỏ tay khỏi chú cừu vàng. Mặc dù chú cừu vàng đã cố sức lao xuống phía dưới với hi vọng sẽ đón được Helle nhưng vô ích. Cô bé tội nghiệp rơi xuống vừng biển hẹp nối giữa châu Âu và châu Á rồi chìm xuống đáy biển sâu. Ngày nay, eo biển đó được gọi là Khúc cạn của Helle hoặc Hellespont.

Còn lại một mình Phrixus trên lưng chú cừu vàng. Cậu bé vô cùng buồn bã nhưng lại không thể làm gì để cứu em gái. Chú cừu tiếp tục đưa cậu đến vùng biển lớn nơi người Hi Lạp gọi là Euxine, còn chúng ta gọi là vùng Biển Đen cho đến khi chúng đến một đất nước có tên là Colchis. Chú cừu đáp xuống đây. Chú quá mệt mỏi, kiệt sức nên đã chết ngay khi đặt chân xuống đất liền, Phrixus lột bộ da vàng tuyệt đẹp của chú và coi đó là kho báu quý giá nhất của mình. Chàng treo bộ lông cừu vàng trên một cây sồi trong một khu rừng sâu. Bộ lông cừu được một con rồng lớn bảo vệ, không ai dám đến gần vị trí cất giữ bộ lông cừu. Phrixus cưới con gái đức vua của hòn đảo và sống ở đó cho đến khi chết. Đức vua của đảo này tên là Aeetes, em trai của nữ pháp sư xinh đẹp Circe. Trong số tất cả những đồ vật tài sản chàng có thì bộ lông cừu vàng là vật hiếm nhất quý nhất. Có một lời nguyền rằng không ai có thể lấy được bộ lông cừu vàng đó trừ khi người đó đánh lừa được con rồng dữ bảo vệ nó. Vậy là Phrixus, nhờ chú cừu vàng, đã thoát khỏi sự độc ác của dì ghẻ và chàng đã đến được một vùng đất mới, xây dựng một cuộc đời mới hạnh phúc về sau. Chắc mẹ chàng là nữ thần mây Nephele cũng mỉm cười khi biết được cậu con trai yêu quý của mình đã có được một cuộc sống hạnh phúc.
 
522 ❤︎ Bài viết: 420 Tìm chủ đề
Chương 29

Tìm kiếm bộ lông cừu vàng

Một vài năm sau khi con cừu vàng chết ở Colchis xảy ra một vài chuyện liên quan tới bộ lông của nó. Ở vùng biển xa xôi ngoài xa có một vị vua tên là Pelias. Ông ta cai trị hòn đảo Iolcos ờ Hi Lạp và là một ông vua khá tai tiếng. Pelias không phải là đức vua hợp pháp của hòn đảo bởi ông ta đã lật đổ người anh cùng cha khác mẹ của mình là đức vua Aeson và cướp ngôi của anh mình. Hành động của Pelias không được mọi người ủng hộ nhưng hắn ta là kẻ mạnh, nắm trong tay một lực lượng quân đội lớn nên thần dân trong nước đành phải khuất phục.

Vua Aeson có một người con trai tên là Jason. Để đề phòng người em cùng cha khác mẹ giết hại cậu con trai duy nhất, Aeson đã gửi cậu đến một nơi cách xa Pelias. Jason được nuôi dưỡng và trưởng thành trên vùng núi cao, khí hậu trong lành, mát mẻ. Trong những ngọn đồi này có một chiếc hang lớn và trong hang đó có một con nhân mã vô cùng thông thái tên là Chiron. Mọi người nói rằng từ ngực trở lên đầu của ông ta là người nhưng cơ thể và chân là ngựa. Chiron nổi tiếng là người hiểu rộng, kiến thức của ông bao trùm hầu hết các khía cạnh trong cuộc sống và không một người thường nào trong đất nước Hi Lạp có thể biết nhiều hơn những gì ông ta biết. Ai muốn hỏi về vấn đề gì, không cần đợi đến vài giây, Chiron có thể giải đáp được hết. Ông cũng là một người hào hiệp, trượng nghĩa, rất thích giúp đỡ người khác. Ông biết về các vì sao và các loại cây được trồng trên trái đất này, loại nào là loại tốt có thể được dùng làm thuốc, loại nào có độc nên tránh. Ông cũng là một tay cung cự phách, một nghệ si chơi đàn lia tuyệt vời, không người nào sánh kịp. Ông có thể hát những bài hát, kể những câu chuyện từ thời xa xưa bởi ông là người cuối cùng còn sống sót của bộ tộc nhân mã. Bộ tộc này trước đây thường sống trên những ngọn đồi cao, họ sống và sinh hoạt bên trong những hang động và thường thì không bao giờ muốn gây chiến với bất cứ ai. Biết được những điểm mạnh của Chiron. Các vị vua Hi Lạp thường gửi con trai của mình đến chỗ ông để ông dạy hát, dạy bắn tên, dạy những đức tính tốt đẹp, dạy cách luôn nói sự thật. Đó là tất cả những gì họ được dạy trừ một số môn đặc biệt khác như câu cá, đánh trận, ném lao và ném búa. Jason sống trong hang động cùng Chiron và những cậu bé khác cũng là các hoàng tử có dòng dõi quý tộc. Nhiều người trong số những cậu bé cùng thời với Jason ở đây sau này trở thành những nhân vật nổi tiếng, có sức ảnh hưởng lớn tới thời cuộc.

Trong số những chàng trai trưởng thành nổi tiếng từng được Chiron dạy dỗ có chàng Orpheus - người có khả năng chơi đàn lia thật ngọt ngào. Tiếng đàn của chàng khiến những con vật bị mê hoặc đi theo, ngay cả những hàng cây cũng nhảy múa theo sau chàng và tất cả chỉ dừng lại khi chàng ngừng chơi nhạc Ngoài ra, còn có chàng Mopsus người có thể hiểu được ngôn ngữ của chim muông, hiểu được câu chuyện giữa các chú chim với nhau. Rồi còn có cả chàng Butes đẹp trai, Tiphys tay lái thuyền tài giỏi nhất và Castor cùng em trai mình là Polydeuces, vận động viên đấm bốc nổi tiếng. Không những thế, Chiron còn dạy Heracles, tráng sĩ khoẻ mạnh nhất trên thế giới này; Lynceus người có khả năng nhìn thấy mọi vật ở vị trí rất xa, thậm chí chàng còn có thể nhìn thấy xác của những người đã chết nằm trong mộ chôn dưới đất sâu. Bên cạnh đó. Ephemus - người có đôi chân nhanh nhẹn và nhẹ nhàng nhất, có thể chạy trên mặt biển xanh mà không bị ướt chân cũng là học trò của vị nhân mã này. Ông còn thu nạp Calais và Zetes, hai người con trai của thần gió với đôi cánh bằng vàng ờ chân. Học trò xuất sắc mà Chiron đã dạy dỗ có cả Peleus, sau này kết hôn với nữ thần biển Thetis và là cha của Achilles. Còn có rất nhiều người khác nhưng không tiện kể tên ra đây bởi danh sách những người đó quá dài, nếu kể ra hết không biết phải mất đến mấy ngày nữa. Tất cả bọn họ đều lớn lên cùng nhau trong những ngọn đồi, ai nấy đều khoẻ mạnh, dũng cảm và họ coi nhau như những người bạn tốt, cùng chia sẻ buồn vui, cùng giúp đỡ nhau trong khó khăn, hoạn nạn. Cuối cùng, tất cả các hoàng tử đều quay trở về nhà nhưng Jason lại không biết đi đâu về đâu bởi chú chàng đã cướp mất ngôi vị của cha chàng, cướp mất ngôi nhà hạnh phúc mà trước đây chàng cùng gia đình từng sinh sống. Ngay cả bản thân cha chàng hiện cũng phải đi lang thang từ nơi này sang nơi khác bởi thế lực của Pelias quá lớn, đâu đâu cũng có tai mắt của hắn.

Cuối cùng, chàng cảm thấy chán ghét cảnh phải sống thui thủi một mình, không có người bầu bạn. Chàng đành chào từ biệt thầy, băng qua những ngọn đồi hướng thẳng về Iolcos - nhà cũ của cha chàng. Mặc dù chàng biết ông chú độc ác của mình vẫn đang ngự trị trên ngai vàng và đang sống trong ngôi nhà của chàng nhưng Jason vẫn muốn làm một việc gì đó để thoát khỏi tình cảnh chán chường này. Trên đường đi, Jason bắt gặp một dòng sông lớn nước đỏ ngầu chảy từ bên bờ này sang bờ khác, cuộn tròn giống như những xoáy nước. Trên bờ sông có một người phụ nữ già đang ngồi, trông mặt bà ta có vẻ rất tuyệt vọng. Jason thấy vậy liền tới gần và hỏi:

- Bà ơi, bà không thể đi qua sông đúng vậy không ạ?

Người phụ nữ già trả lời rằng trong tình trạng như thế này thì bà không thể, bà phải chờ cho đến khi cơn lũ qua đi, dòng sông trở lại hiền hòa rồi mới có thể đi qua sông sang bờ bên kia. Con sông này không có cầu nên bà chẳng biết làm gì cả. Jason nghĩ thương bà già tội nghiệp nên nói:

- Bà ơi, bà hãy để cháu đưa bà sang sông. Cháu sẽ cõng bà đi nhé.

Người phụ nữ già cảm ơn Jason và nói rằng chàng vừa làm một việc rất tốt, không phải ai cũng sẵn sàng cõng một bà già nghèo như bà qua sông. Bà muốn đến túp lều tranh bên kia sông, nơi cháu bà đang bị ốm và nằm đó chờ bà đến chăm sóc.

Jason quỳ xuống và người phụ nữ già leo lên lưng chàng. Chàng dùng thanh giáo của mình làm gậy chống rồi bước xuống sông. Dòng sông này sâu hơn chàng nghĩ, mà càng đi ra xa. Nước chảy càng mạnh khiến chàng mấy phen suýt ngã. Cuối cùng, sau bao nhiêu cố gắng chàng lảo đảo bước lên bờ bên kia. Chàng đi thêm một đoạn nữa mới đặt bà già đáng thương đó xuống. Chàng làm việc đó hoàn toàn do tự nguyện, do chàng là một người tốt sẵn sàng giúp đỡ những người gặp khó khăn. Người phụ nữ già nói:

- Chàng trai trẻ, cầu cho các vị thần phù hộ cho chàng bởi chàng là một chàng trai khỏe mạnh, dũng cảm và tốt bụng. Lời cầu nguyện của ta sẽ đi theo con trong suốt cuộc đời này. Vì lòng tốtvà sự nhân hậu, con sẽ gặp rất nhiều điều may mắn.

Sau đó, Jason quay lại nhìn bà nhưng bà đã biến đi lúc nào không biết bởi người phụ nữ lớn tuổi đó chính là người đứng đầu của các nữ thần - nữ thần Hera, đồng thời là vợ của thần Dớt vi đại. Thấy tình cảnh của Jason, nàng muốn giúp đỡ chàng nhưng trước khi quyết đinh có nên làm như vậy không, nàng đã thử lòng nhân hậu và sức mạnh của chàng trai trẻ bằng cách giả dạng thành một người phụ nữ già đang cần giúp đỡ. Từ hôm đó trở đi, nữ thần Hera luôn theo bước Jason và giúp đỡ chàng trong mọi tình huống nguy hiểm. Nữ thần yêu mến những người tài giỏi, dũng cảm và luôn dành cho họ một sự ưu ái đặc biệt. Jason may mắn là một trong những người đó, bởi chính nhờ sự giúp đỡ của nữ thần Hera mà chàng đã thoát khỏi nhiều gian nan, nguy hiểm trong những cuộc hành trình của mình về sau này.

Jason đi xuống phía thành phố. Trong khi cõng nữ thần Hera qua sông chàng đã đánh mất một chiếc giày nên lúc này trông chàng thật buồn cười với một chiếc giày trên chân. Khi đến thành phố, chàng đi thẳng tới lâu đài và vào bên trong cung điện. Chàng bước qua cánh cửa đang mở, tiến thẳng vào trong đại sảnh nơi đức vua đang ngồi quanh bàn ăn cùng cận thần của ông ta. Jason đứng đó, hiên ngang chống thanh giáo của mình xuống dưới đất. Chàng không hề sợ hãi khi phải đối mặt với người chú độc ác của mình và cũng là kẻ thù của cha chàng. Chàng biết chàng đến đây có thể sẽ gặp nguy hiểm chết người nhưng chàng không sợ bởi chàng đã quá chán nản với việc phải chạy trốn, phải sống một mình không người thân thích.

Khi đức vua nhìn thấy chàng trai trẻ, mặt ông ta trở nên nhợt nhạt khác thường vì sợ hãi. Mọi người không hiểu được tại sao ông ta lại như vậy nên ai nấy đều nhìn nhau khó hiểu. Tuy nhiên, có một điều mà chỉ có đức vua biết và cũng là điều khiến ông ta lo sợ không. Yên: Có một vị nữ pháp sư ở Pytho đã tiên đoán rằng một ngày kia có một người đàn ông chân chỉ đi một nhiếc giày duy nhất đến cung điện và lấy đi vương quốc của ông ta. Điều này khiến Pelias đứng ngồi không yên và gặp bất cứ người nào. Ông ta cũng chú ý xuống dưới chân xem người đó đi một hay hai nhiếc giày. Thời gian trôi qua. Không có một người nào như vậy xuất hiện trong thành phố nên Pelias cảm thấy an tâm phần nào. Tuy nhiên. Nếu là số phận thì chắc chắn sẽ xảy ra dù ông ta có muốn hay không. Và người đang đứng trước mặt ông ta lúc này đây chính là người đàn ông được nhắc đến trong lời tiên tri.

Dù đang vô cùng hoảng sợ nhưng Pelias vẫn không quên phép lịch sự thông thường đối với những người khách lạ. Ông ta yêu cầu đám gia nhân chuẩn bị nước tắm cho chàng trai trẻ. Những người phục vụ pha nước nóng tắm cho người khách lạ và sức dầu thơm cho nhàng. Xong xuôi. Họ mang cho Jason một bộ quần áo mới rồi đưa nhàng trở lại đại sảnh. Đức vua Pelias không hề thể hiện thái độ khác thường, ông ta cười cười nói nói như thể rất vui sướng khi được đón tiếp một người khách trẻ, đẹp trai như Jason. Ông ta mời nhàng ngồi xuống bàn cạnh mình và sai người hầu mang thịt và đồ uống đến cho khách. Mặc dù trong bụng Pelias đang thầm tính toán một số điều không lấy gì làm tốt đẹp nhưng ông ta vẫn tỏ ra mình là một người hiếu khách, dành cho khách sự đối xử tốt nhất.

Sau khi ăn uống xong, đức vua quay sang nói chuyện với người khách lạ. Ông ta hỏi:

- Bây giờ đã đến lúc ta phải hỏi người khách lạ xem anh ta là ai, bố mẹ ở đâu, làm gì và tại sao lại đến Iolcos? Ta không muốn hỏi chàng quá nhiều câu hỏi nhưng ta nghĩ rằng nên biết những điều này để chúng ta tiện xưng hô với nhau.

- Tên tôi là Jason. Con trai của đức vua hợp pháp Aeson của hòn đảo này. - Jason trả lời - Tôi quay trở về quê hương để lấy lại vương quốc lẽ ra thuộc về tôi. Tôi nghĩ một người đàn ông nhân chính nên làm như vậy chứ không thể cả đời lẩn tránh, để mặc người khác chiếm mất những thứ thuộc về mình.

Mặt của Pelias lại tái đi một lần nữa nhưng ông ta là một kẻ xảo quyệt nên đã nhảy lên, ôm chầm lấy chàng trai trẻ như thể ông ta quá vui mừng vì gặp được đứa cháu họ thất lạc từ hồi nhỏ và cố tình để một nhiếc nhẫn nhỏ mắc trên mái tóc của nhàng. Sau đó ông ta nói ông ta đã quá già rồi và quá mệt mỏi vì ngày nào cũng phải phân xử tranh nhấp của mọi người, phải cai quản cả đất nước trong khi chỉ có một mình. Pelias nói:

- Công việc đã khiến ta trở nên mệt mỏi rồi và ta không còn muốn tiếp tục làm vua của đất nước này nữa. Quyền lực chỉ làm cho ta suy kiệt sức lực nên đã từ lâu ta muốn giao lại ngai vàng cho người xứng đáng thuộc dòng họ mình, chỉ có điều đến nay vẫn chưa tìm thấy. Đất nước của ta bị yểm bởi một lời nguyền mà lời nguyền đó chỉ không còn tác dụng cho đến khi nào có ai đó lấy được bộ lông cừu vàng mang về nhà. Bộ lông cừu vàng đó đang được canh giữ hết sức cẩn thận trong một đất nước ở tận cùng thế giới. Hồn ma của Phrixus luôn ủng hộ ta và ở bên cạnh ta vào mỗi đêm, ông ta nói rằng linh hồn của ông ta sẽ chưa được siêu thoát chừng nào bộ lông cừu chưa được mang về nhà.

Khi Jason nghe thấy điều đó, chàng hét lên:

- Ta sẽ giải lời nguyền đó, sẽ mang bộ lông cừu vàng đi khỏi đất nước ấy với sự giúp đỡ của nữ thần Hera. Ta sẽ đem nó trở về trước khi ta ngồi lên trên ngai vàng của cha mình. Có thể coi đây là một sự thử thách trước khi ta chính thức lên ngôi vua.

Nghe Jason nói vậy, ông vua độc ác như mở cờ trong bụng, ông ta nghĩ rằng nếu Jason đi tìm bộ lông cừu vàng thì chàng sẽ không bao giờ trở lại nữa bởi vùng đất đó nằm ở một nơi rất xa, xa mãi tận bờ bên kia của biển cả, hơn nữa những chuyến hành trình trên biển thường rất nguy hiểm và đã có không ít người không vượt qua được thử thách đó. Hơn nữa, bảo vệ bộ lông cừu vàng là một chú rồng lớn và hung dữ mà không người đàn ông nào đối mặt với nó lại sống sót quay trở về. Vậy là Pelias chuẩn bị sẵn mọi thứ cho chuyến đi bởi dù Jason có tài giỏi đến đâu đi chăng nữa thì cơ hội chàng quay trở về là rất ít. Trong khi đó. Vịệc sẽ phải chiến đấu với con rồng dũng mãnh lại hấp dẫn Jason và chàng nóng lòng muốn thực hiện chuyến đi này. Chàng đã thề độc bằng nước Styx dưới sự chứng kiến của các vị thần rằng chàng sẽ mang bộ lông cừu vàng trở về nhà. Hình thức thề nguyền này là hình thức cao nhất, thiêng liêng nhất mà ngay cả các vị thần cũng sợ không dám phá vỡ. Sau đó, chàng gửi thông điệp đi khắp đất nước Hi Lạp, tới tất cả những người bạn cũ của chàng từng sống cùng chàng trong hang của Nhân mã và mời họ tham giạ chuyến thám hiểm sắp tới của mình. Chàng nói rằng chàng cần sự giúp đỡ của họ và rất mong những người bạn cũ sẽ chung sức cùng chàng chiến đấu với con rồng kia. Chàng biết chắc chắn rằng thế nào cũng xảy ra chiến tranh nên lực lượng tham gia càng đông càng tốt, cơ hội chiến thắng sẽ càng cao. Theo lời mời của Jason, tất cả những người bạn cũ của chàng đều đến. Họ cưỡi trên những chiếc xe ngựa chạy dọc những con đường đất băng qua những ngọn đồi để tập trung ở kinh thành của Jason. Các dũng sĩ tham gia cuộc hành trình gồm có: Heracles, người đàn ông khỏe mạnh nhất với một cây cung mà không một người nào có thể bẻ được; Orpheus cùng cây đàn lia của mình; Castor và Polydeuces; Zetes và Calais có đôi cánh vàng; Tiphys - người lái thuyền tài ba nhất, cùng cậu bé Hylas trắng trẻo giống như một cô gái đẹp. Cậu bé trẻ nhất hội Hylas luôn đi cùng Heracles đến bất cứ nơi nào. Vậy là những người bạn cũ của Jason đã nhiệt tình giúp đỡ chàng khi chàng cần họ nhất. Thật không uổng công họ đã sống cùng nhau, coi nhau như anh em tốt trong nhà, cùng chia sẻ với nhau biết bao nhiêu điều bí mật. Chưa bao giờ đất nước Hi Lạp được chứng kiến một cuộc hội tụ các tráng sĩ đông như vậy. Họ là những chàng trai dũng mãnh và trẻ đẹp như các vị thần trên đỉnh Olympus, mọi người dân Iolcos đều trầm trồ thán phục khi được nhìn ngắm họ. Liệu có thứ gì có thể ngăn cản được bước đi của họ, có ai có thể chống lại họ và có thứ gì có thể làm cho họ sợ hãi.

Những tráng sĩ nói trên và nhiều người khác nữa đã tập trung đông đủ tại quê hương của Jason. Họ lập một đội đóng thuyền và bắt đầu làm vịệc, chuẩn bị cho chuyến đi. Họ chặt những cây sồi để làm làm sườn ngang của con thuyền và các vật dụng cần thiết khác. Các tráng sĩ của chúng ta còn làm thêm giáo, chuẩn bị thêm cung tên, mài sắc kiếm phòng khi cần sử dụng đến. Trên mũi thuyền, họ đặt một cành cây sồi lấy từ trong rừng của thần Dớt ở Dodona. Đây là một khu rừng thiêng, nơi các loài cây đều biết nói, chính vì vậy cành cây cũng biết nói và tiên đoán những điều sẽ xảy ra trong tương lai. Con thuyền có chín cặp mái chèo đóng thật đẹp. Các tráng sĩ đặt tên cho con thuyền của mình là Argo theo tên của người đã đóng ra nó. Còn các tráng sĩ được gọi là các tráng sĩ thuyền Argo. Tất cả đã sẵn sàng. Con thuyền Argo được hạ thủy xuống biển. Các tráng sĩ chất đồ ăn, thức uống trên thuyền bởi họ phải thực hiện một chuyến đi rất dài và rất gian nan. Họ dâng lễ vật tế thần Apolo cùng tất cả các vị thần linh lần cuối cùng. Tối hôm đó, họ tổ chức một bữa tiệc thật linh đình và vui vẻ để lấy chí khí cho mọi người trước khi bước vào chuyến đi. Đã đến lúc họ lên đường thực hiện một cuộc hành trình lâu dài và đầy nguy hiểm.

Hôm sau, khi trời vừa rạng sáng thì Tiphys đã đánh thức các tráng sĩ dậy. Họ xuống thuyền và từng đôi ngồi vào chỗ mái chèo. Những đôi tay rắn chắc bắt đầu khua mái chèo quạt nước rào rào. Con thuyền Argo hùng dũng tiến ra biển. Các tráng sĩ giương cánh buồm trắng như tuyết. Gió thuận thổi căng buồm và con thuyền rẽ nước lướt nhanh trên sóng như một con chim hải âu.

Đi theo đoàn tráng sĩ không chỉ có nữ thần Athene với nhiệm vụ che chở cho các tráng sĩ thuyền Argo, mà cả nữ thần Hera cũng luôn luôn theo sát để bảo vệ họ. Nữ thần vô cùng căm ghét Pelias vì ông ta không cúng tế lễ vật cho nữ thần. Riêng tráng sĩ Jason được Hera yêu quý một cách đặc biệt bởi trước đây có lần nàng đã thử chàng trai trẻ bằng cách hóa phép thành một bà già ngồi bên con sông và được Jason cõng sang bờ bên kia. Thần Apolo cũng luôn che chở cho các tráng sĩ tàu Argo, bởi chính thần đã khuyến khích họ đi lấy lại bộ lông cừu vàng và cũng chính thần đã tiên đoán là họ sẽ gặp may mắn và thành công.

Họ lái thuyền lênh đênh trên biển cả ngày trời nhưng khi tối đến họ lại cho tàu đáp vào bờ bởi họ không lái thuyền vào ban đêm. Các tráng sĩ tìm một hòn đảo nhỏ trên đường đi, ghé chân lại dùng bữa tối và nghỉ ngơi để có sức hôm sau tiếp tục cuộc hành trình. Từ trên ngọn núi cao của mình, nhân mã Chiron nhìn thấy con thuyền Argo chạy băng băng trên mặt biển nên đã chạy nhanh xuống phía dưới biển, ông đứng cùng với những ngọn sóng vỗ bờ, vẫy tay chào những chàng trai mạnh mẽ và thầm mong những cậu bé của ông sẽ trở về nhà an toàn. Chiron đã dạy dỗ các chàng trai từ khi họ còn là những cậu bé nên ông luôn dành cho họ một tình cảm đặc biệt giống như của một người cha già dành cho những đứa con nhỏ, ông biết mình không thể giúp đỡ được họ nên chỉ biết cầu các vị thần phù hộ cho chuyến đi của họ. Vợ ông đứng bên cạnh dắt tay một cậu bé là con trai của một trong số các tráng sĩ đang ở trên con thuyền Argo. Cậu bé đó không phải là ai khác mà chính là Achilles, con trai của Peleus và nữ thần biển Thetis. Ngay sau khi nhận lời tham gia cuộc thám hiểm cùng Jason, Peleus đã gửi con trai của mình đến nhờ ông già thông thái Chiron dạy dỗ với hi vọng con trai chàng lớn lên sẽ trở thành một tráng sĩ nổi tiếng, dũng mãnh khiến kẻ địch phải run sợ.

Đoàn tráng sĩ thuyền Argo tiến thẳng về hướng đông. Họ đi mãi, đi mãi cho tới khi bắt gặp một hòn đảo lạ nơi có những người đàn ông sáu tay sinh sống. Thực tế đó là những người khổng lồ ngỗ ngược, không biết sợ bất cứ ai kể cả các vị thần. Những người không lồ này nằm mai phục trên những vách đá dựng đứng ở miệng sông và khi phát hiện ra bất cứ con thuyền nào chuẩn bị đi qua, trước khi hoàng hôn xuống họ sẽ ném những tảng đá lớn về phía những người thủy thủ trên thuyền. Đối với con thuyền Argo, những người khổng lồ này cũng làm như vậy. Tuy nhiên, Heracles đã rút cây cung lớn của mình ra và bắn chết Eurytus - đức vua của Oechalia và bất cứ khi nào có một người không lồ giơ tay hay vai ra khỏi vách đá, chàng sẽ bắn một mũi tên găm tay hay vai của kẻ đó vào tảng đá cho đến khi tất cả bọn họ chết hết mới thôi. Sau khi giải quyết xong vấn đề với người khổng lồ, họ lại tiếp tục lên đường tiến về hướng đông, trong lòng ai nấy đều tràn ngập hi vọng Gió thuận thổi căng cánh buồm và con thuyền Argo nhẹ nhàng lướt sóng suốt cả ngày. Nhưng đến đêm, gió bắt đầu đổi hướng và nổi bão đẩy con thuyền quay lại đúng nơi mà họ xuất phát ban sáng nhưng không ai trong số họ biết được điều đó. Những người dân trên đảo tưởng họ là kẻ cướp liền xông vào định giết chết họ. Tuy nhiên, sau khi nhận ra chỉ là hiểu lầm thì hai bên dàn hòa với nhau.

Sau một quãng đường ngắn nữa, đoàn tráng sĩ thuyền Argo tới bờ biển xứ Mysia, một hòn đảo thuộc châu Á. Tại đây họ cập bến lên bờ để bổ sung đồ ăn, thức uống, tuy nhiên, họ lại gặp một chuyện không may trên chính hòn đảo tưởng như là yên bình này. Trong khi chàng dũng sĩ Heracles cùng mọi người đang cắt những đám sậy và cỏ để trải thành giường trên cát thì một người trên thuyền nói có một mái chèo bị gãy. Vậy là Heracles phải vào trong rừng chặt cây để làm một mái chèo mới. Chàng trai trẻ vô cùng đẹp trai là Hylas là bạn của Heracles và được chàng yêu quý nên được chàng cho đi theo. Khi Hylas xuống một dòng suối rất đẹp sâu, trong xanh để múc nước thì các nàng tiên nước sống trong khu suối nhìn thấy chàng. Họ thường được gọi là các nàng Nereids với giọng hát trong trẻo khiến người nghe bị mê hoặc. Trong số các nàng tiên nước có hai người tên là Eunis và Nycheia với đôi mắt tháng Tư. Vừa trông thấy chàng trai trẻ đẹp, cả hai đều muốn Hylas là của riêng mình và đưa chàng xuống sống ớ dưới dòng nước trong như pha lê. Khi Hylas đi đến bờ suối và lội xuống phía dưới, các nàng tiên nước đã nhẹ nhàng cầm lấy tay chàng, kéo chàng xuống dòng nước. Từ đó trở đi, không ai nhìn thấy chàng trai trẻ đẹp trai bởi chàng đã sống trong những hang động bằng thủy tinh nằm dưới đáy suối sâu cạnh rừng.

Heracles không nhìn thấy người bạn mà chàng vô cùng yêu quý và coi như em trai nên đã đi dọc cả hòn đảo vừa đi vừa hét tên Hylas. Tuy nhiên, từ dưới nước chàng trai trẻ trả lời tiếng gọi của Heracles quá nhỏ nên chàng không thê nghe thấy gì. Vậy là chàng lang thang một mình trong những khu rừng sâu để tìm kiếm người bạn trẻ. Những người còn lại trong đoàn không tìm thấy chàng ở đâu nên nghĩ rằng chàng đã bị lạc, không thể tìm đường quay trở lại tàu.

Những người con của thần gió Bắc nổi giận và yêu cầu những người khác nhổ neo mà không có Heracles và họ buộc phải bằng lòng. Sáng hôm sau, họ nhổ neo, bỏ lại chàng dũng sĩ khỏe mạnh trên hòn đảo lạ. Một thời gian sau khi lấy được bộ lông cừu vàng, Heracles gặp hai người con của thần gió Bắc và chàng đã giết chết họ vì đã thúc giục mọi người lên đường bỏ lại chàng một mình. Vào thời đó, các tráng sĩ thường giải quyết ân oán của mình thông qua các cuộc quyết đấu. Kẻ chiến thắng có quyền giết chết người thua cuộc và không ai có thể trách phạt anh ta về chuyện này. Sau đó, chàng chôn cất họ tử tế và khắc tên họ trên bia đá cắm trên mỗi ngôi mộ. Mỗi khi gió bắc thổi qua, không một ngôi mộ hay bia đá nào lay động dù chỉ là rất khẽ. Họ nằm đó, đôi cánh vàng của họ đã yên nghỉ trong sự vĩnh hằng.

Quay trở lại với đoàn tráng sĩ Argo, họ vẫn tiếp tục tiến lên phía trước, gió tây thổi đến khá mạnh đẩy họ đến một đất nước lạ ở miền Tây Bắc Tiểu Á. Tại đây họ không được đón tiếp một cách nồng nhiệt như ở hòn đảo trước. Đức vua của đất nước này là một người rất khỏe mạnh và ông ta luôn tự phụ về sức khỏe và tài đấu võ vô địch của mình. Ông ta thường bắt tất cả những người lạ đi qua đây phải đánh nhau với ông ta và tất cả đều bị ông ta giết chết bằng những cú đấm khủng khiếp. Đây là một người đàn ông rất hiếu chiến và coi thường tất cả những người khác. Vừa thấy con thuyền Argo, ông ta đã lên thuyền và thách đấu với cả đoàn thủy thủ, ông ta còn không tiếc lời xúc phạm các tráng sĩ bảo các chàng là những kẻ vô tích sự, tại sao lại tham gia một chuyến đi vô ích như thế này. Ông ta yêu cầu họ cử ra một người tài giỏi nhất để đấu võ với ông ta bởi ông ta không có thời giờ và hứng thú để thử sức với những kẻ vô dụng, yếu đuối. Các tráng sĩ vô cũng tức giận. Polydeuces, con trai của thần Dớt với Leda bước ra khỏi hàng, nhảy lên bờ nhận lời thách đấu của con người hiếu chiến và tự phụ này. Những người còn lại trên thuyền và dân chúng của đất nước đứng tạo thành vòng tròn giống như một đấu trường. Polydeuces bình tĩnh bước vào, trong lòng không hề run sợ bởi chàng đã được cho mình ban cho sự dũng cảm phi thường. Vua Amycus hiện ra trong chiếc áo khoác đen và với cây gậy khổng lồ trên vai. Ông ta lạnh lùng nhìn Polydeuces đứng trước mặt mình trong tư thế hiên ngang rạng rỡ như một ngôi sao. Hai bên nhìn nhau một lát. Amycus quăng gậy, quấn dây da vào tay để chuẩn bị đấu tay không. Polydeuces cũng quấn dây da vào một bàn tay và gườm gườm quan sát đối thủ. Hai người đi vòng quanh quan sát đối phương và đợi cơ hội thích hợp sẽ lao vào tấn công. Trận đấu bắt đầu. Lợi dụng lúc mặt trời chiếu thẳng vào mặt của người khổng lồ, Polydeuces nhảy lên đấm vào giữa hai mắt của ông ta. Cú đấm mạnh đến nỗi người khổng lồ lảo đảo và ngã xuống. Sau đó những người bạn của ông ta đỡ ông ta lên, chườm nước lên mặt cho ông ta để giảm bớt sự đau đớn. Các tráng sĩ Argo nhảy lên sung sướng, hò reo ầm ĩ Tuy nhiên, chỉ một lát sau, Amycus lại đứng lên và lao vào phía Polydeuces để trả miếng. Cú lao người của tên khổng lồ thật mạnh và chắc chắn nếu trúng Polydeuces thì chàng đã bị chết dưới tay ông ta rồi. Nhưng Polydeuces đã nhanh chóng né sang một bên khiến ông ta mất đà và trượt ngã. Polydeuces đấm một cú như trời giáng nữa vào miệng của người khổng lồ và một cú nữa vào tai mạnh đến nỗi làm cho ông ta ngã gục xuống đất. Các tráng sĩ Argo hoan hô nhiệt liệt chiến công của chàng Polydeuces dũng mãnh. Amycus ngay lập tức lại đứng lên nhưng có vẻ như ông ta đã xuống sức lắm rồi và khó có thể chiến đấu được lâu.

Cả hai người đứng đó thở mạnh và nhìn chằm chằm vào nhau như muốn ăn tươi, nuốt sống đối thủ. Một lát sau, tên khổng lồ hiếu chiến lao về phía Polydeuces nhưng lại một lần nữa chàng tránh được và đấm liên hồi vào hai mắt ông ta khiến ông ta gần như bị mù hẳn. Cuối cùng, chàng ra đòn quyết định bằng một cú đấm mạnh lên thái dương. Tên khổng lồ ngã gục xuống và nằm im như chết. Chưa bao giờ ông ta bị một ai tấn công dữ dội như thế này, chưa bao giờ ông ta bị thua chứ đừng nói gì đến việc thua thảm hại. Khi Amycus cố gắng gượng dậy đứng lên, các chiến sĩ Argo lại reo hò ầm ĩ còn người cửa ông ta đứng đó im lặng lo lắng cho đức vua của mình. Gã khổng lồ không còn tâm trí và sức lực đâu để tiếp tục cuộc chiến bởi hai đầu gối ông ta đang run lên cầm cập và ông ta lại không thể nhìn thấy bất cứ thứ gì. Ông ta có cảm giác như thể sự đau đớn đang len lỏi vào từng tế bào trong cơ thể, khiến ông ta không còn suy nghĩ được gì nữa.

Polydeuces thắng trận nhưng chàng không giết chết Amycus mà chỉ trói ông ta lại rồi bắt ông ta phải thề từ nay sẽ tôn trọng và hiếu khách đối với người lạ. Mọi người chúc mừng Polydeuces và đội lên đầu chàng vòng nguyệt quế chiến thắng. Amycus thề rồi sau đó mở tiệc tiếp đãi các tráng sĩ và cung cấp cho họ đồ ăn thức uống để họ bổ sung vào kho dự trữ thức ăn cửa mình. Trong bữa tối Orpheus hát cho tất cả mọi người nghe, tiếng hát cửa chàng như vang vọng cả một vùng đảo, khiến cả con người lẫn cảnh vật như chìm đắm trong sự yên tĩnh. Không ai dám nói bất cứ điều gì, gây ra bất cứ tiếng động gì bởi giọng hát của chàng quả khiến người khác phải mê mẩn.

Ngày hôm sau, các tráng sĩ lại tiếp tục lên đường và điểm dừng chân tiếp theo của họ là một đất nước mà đức vua của họ là một ông vua bất hạnh nhất trên thế giới này.

Khi cho thuyền cập bến, họ nhìn thấy một ngôi nhà bên bờ biển liền bước tới hỏi thăm. Trong nhà có một ông già mù, tiều tụy đến nỗi đôi chân ông ta đứng không vững. Ông đi được vài bước thì kiệt sức và lại phải ngồi xuống. Nhưng có điều ngạc nhiên nhất mà các tráng sĩ không ngờ tới người đàn ông già kia không phải ai khác mà chính là vua của hòn đảo này - đức vua Phineus, một nhà tiên tri. Tuy nhiên, khi gặp Jason và những người bạn cửa chàng, trông ông ta giống một hồn ma của một kẻ ăn mày hơn là một ông vua đội vương miện trên đầu, ông bị mù, rất già yếu và đi lang thang như thể đang chìm trong một giấc mơ. Vừa đi ông vừa phải chống gậy nhưng vẫn không thể đỡ được thân thể tiều tụy của ông. Đôi chân ông luôn run rẩy. Cơ thể ông ta chỉ là một lớp da bọc xương, trông ông ta thật bẩn thỉu, dơ dáy. Chưa bao giờ các chàng tráng sĩ của chúng ta lại gặp một vị vua trong bộ dạng đáng thương như thế này. Cuối cùng thì ông ta cũng lê đến bậc cửa của ngôi nhà nơi Jason đang đứng. Chàng đỡ người đàn ông già ngồi xuống ghế bởi ông ta không thể tự mình làm như vậy. Ông già Phineus chào đón Jason bởi ông là một nhà tiên tri giỏi, ông biết được chàng chính là vị anh hùng sẽ giúp ông thoát khỏi hoàn cảnh khốn khổ này.

Khi được hỏi thì ông trả lời trước khi ông là một vị vua sáng suốt và được thần Apolo yêu mến, ban cho tài tiên tri. Tuy nhiên, một lần ông đã khiến các vị thần nổi giận vì đã tiên đoán những điều các vị thần không cho phép con người được biết, chính vì vậy, các vị thần đã nổi giận lôi đình, trừng phạt ông bằng cách làm cho ông bị đui mù. Từ đó trở đi, ông sống hay nói đúng hơn là tồn tại trong tình cảnh khốn khổ như vậy. Nếu chỉ bị mù không thì không sao, nhưng các vị thần còn giao ông cho các quái vật có cánh và móng vuốt được gọi là Harpies để chúng thường xuyên đến hành hạ ông, khiến ông phải trả một cái giá quá đắt cho sai lầm của mình Mỗi khi ông bày biện thức ăn ra để chuẩn bị ăn, bọn Harpies không biết từ đâu đã nhanh chóng bay vào trong nhà ông, vơ vét ăn uống hết tất cả mâm cơm của ông rồi thải ra một mùi hôi thối ghê tởm. Cũng có những lúc chúng bỏ lại một chút thức ăn, như vậy ông vẫn có thứ để nhét vào bụng, duy trì sự sống. Ông không chết nhưng cuộc sống cửa ông chẳng khác nào địa ngục, sống mà chẳng bằng chết. Tuy nhiên, ông vẫn tiếp tục sống lay lắt như vậy bởi các vị thần linh thông báo cho ông biết rằng ông vẫn còn hi vọng sẽ được giải thoát khỏi sự trừng phạt này khi gặp đoàn tráng sĩ tàu Argo đi qua nhà ông trong đó có hai người anh em vợ cũ của ông là Zetes và Calais chính là hai người con trai của thần gió Bắc.

Ông chào đón các vị anh hùng và cầu xin họ giải thoát cho ông, đặc biệt là Zetes và Calais bởi ông biết rằng họ sẽ giúp ông thoát khỏi sự hành hạ của những con quái vật Harpies, chẳng gì thì ông cũng không phải là người hoàn toàn xa lạ đối với họ. Các tráng sĩ đi vào trong đại sảnh cũ nát và trống trơn của ông rồi ngồi xuống xung quanh bàn ăn. Những người phục vụ trong nhà mang thịt và đồ uống đặt trước mặt họ. Đây chính là bữa tối cuối cùng của những con quái vật Harpies hung dữ. Phenius vừa ngồi vào bàn ăn là các con Harpies đã bay đến nuốt tất cà các món ăn và thải ra một mùi hôi thối khủng khiếp: Chúng đậu xuống bàn ăn giống như một tia chớp hay một cơn gió có cánh bằng đồng thau và có móng vuốt bằng sắt. Mùi hôi chúng thải ra giống hệt như mùi của một chiến trường nơi có hàng trăm ngàn xác chết đang nằm lại mà không được mai táng hay chôn cất. Ngay lập tức, hai người con trai của thần gió Bắc rút kiếm ra rồi dang đôi cánh bằng vàng của họ, vỗ cánh bay theo những con quái vật Harpies. Họ đuổi theo, đuổi theo mãi, băng qua một vùng biển rộng bao la, vượt qua một vùng đất trù phú cho đến khi họ đuổi kịp chúng tại một hòn đảo xa lạ và giết chết những con quái vật khủng khiếp. Sau này, hòn đảo đó được gọi là đảo "Quay trở lại" bởi tại đây những người con của thần gió Bắc quay đầu và trở về gặp những người bạn đồng hành của mình đang đợi trong đại sảnh của Phineus vào ban đêm.

Từ nay, sẽ không còn ai đến quấy phá và hành hạ ông vua già tội nghiệp nữa. Các tráng sĩ tàu Argo nấu cho Phineus một bữa ăn khác và cuối cùng ông cũng được thỏa cơn đói khủng khiếp. Không biết đã bao lâu rồi ông không được ăn uống thoải mái như vậy. Ăn xong, với tài tiên tri của mình, ông tiết lộ cho Jason và những người bạn của mình về những nguy hiểm họ sẽ gặp phải trên đường đi từ đây tới Colchis, nơi tận cùng của thế giới và nói cho họ biết làm cách nào có thể thoát khỏi nguy hiểm đó. Ông cũng chỉ cho các tráng sĩ biết cách làm thế nào để lấy được bộ lông cừu vàng đang được canh giữ trong một khu rừng sâu. Ông nói:

- Đầu tiên, khi con thuyền của các bạn sẽ đến eo biển hẹp nơi có những tảng đá Phiêu du, gọi như vậy là vì những tàng đá này lang thang trên mặt biển giống như những sinh vật sống và có thể cảm nhận được những con thuyền hay những sinh vật khác đang tới gần. Chưa một con thuyền nào có thể đi qua chúng một cách an toàn. Tất cả các con thuyền từng đi qua vùng biển đó điều bị những tảng đá này nghiền nát không thương tiếc. Nhìn bề ngoài thì chúng mở ra giống như một cái miệng khổng lồ, cho phép những con thuyền đi qua nhưng khi một con thuyền đang ở giữa lưỡi của chúng thì chúng lại ngậm miệng lại và nghiền nát con thuyền bằng hai hàm răng sắt khủng khiếp của mình. Theo cách này, ngay cả những sinh vật có cánh cũng không thể đi qua được dù chỉ là những chú chim bồ câu mang cao lương mỹ vị đến cho thần Dớt vĩ đại. Những tảng đá này không trừ bất cứ ai, chúng còn nguy hiểm hơn nhưng con quái vật nguy hiểm nhất trên thế giới này. Chính vì vậy, khi đến gần vùng biển đó, đầu tiên các bạn hay thả một con bồ câu ra và để nó bay phía trước tàu rồi các bạn mới quyết định sẽ làm gì tiếp theo. Nếu con bồ câu bay qua những tảng đá một cách an toàn thì hãy dùng hết sức để chèo thuyền đi qua trong khi các tảng đá còn mở. Nếu như các tảng đá đóng lại, nghiền nát cơ thể nhỏ bé của chú chim bồ câu thì hay quay trở lại, đừng thử mạo hiểm làm gì bởi như vậy các bạn chỉ có con đường duy nhất là chết mà thôi. Nếu may mắn vượt qua vùng biển đó an toàn, hãy tiếp tục đi về phía bên phải của cửa sông Phasis. Tại đây, các bạn sẽ nhìn thấy các tòa tháp cửa đức vua Aeetes và rừng cây nơi cất giữ bộ lông cừu vàng. Cầu cho các bạn gặp thật nhiều may mắn và mang tin vui trở về nhà. Tôi không thể làm gì khác, đó là tất cả những gì tôi biết và có thể nói ra cho các bạn. Các bạn hãy cố gắng nắm lấy từng cơ hội dù chỉ là nhỏ nhất. Chúc các bạn thành công.

Các tráng sĩ cảm ơn vị vua già tội nghiệp. Sáng hôm sau, họ lại ra khơi tiếp tục cuộc hành trình. Con thuyền Argo lại lướt băng băng trên sóng, bỗng nhiên từ xa họ nghe thấy có tiếng động lạ. Tiếng động vang lên ngày một rõ và mạnh giống như tiếng rít của giông bão đang đến gần, thỉnh thoảng hình như lại bị tắc nghẹn bởi những tiếng sấm. Cuối cùng, các tráng sĩ thấy hiện ra những tảng đá Phiêu du. Ngay lập tức các tráng sĩ được chứng kiến cảnh những quả núi tách xa nhau ra, rồi sao đó, chúng lại lao vào nhau gây nên một tiếng va đập chói tai. Mặt biển sôi sùng sục xung quanh chúng và những khối nước khổng lồ tung lên tận trời xanh. Đến khi những quả núi đá tách xa nhau ra thì sóng biển xoay tròn làm thành một vực xoáy khủng khiếp. Có thể nói không có một vùng biển nào đáng sợ hơn vùng biển này. Nó gầm gừ giống như những con quái thú dũng mãnh, chỉ đợi người ta đến là lao vào giết chết. Chàng Euphemus cầm sẵn chú chim bồ câu trong tay và thả chú chim ra cho nó bay qua. Lập tức các tảng núi đá lại lao vào chọi nhau với một sức mạnh ghê gớm làm rung chuyển cả bầu trời. Những khối nước bắn tung tóe vào người các tráng sĩ. Con thuyền quay tròn giữa các làn sóng như thể bị một luồng xoáy cuốn vào. Con chim bồ câu đã bay thoát qua được giữa hai quả núi mà chỉ bị giật đứt mất vài chiếc lông đuôi. Các tráng sĩ hò reo phấn khởi và tất cả hăng hái gắng sức chèo. Các tảng đá lại tách nhau ra giống như miệng của một con thú đang mở, Tiphys lúc đó đang lái thuyền hét lên:

- Cố lên, chèo đi.

Chàng giữ vững mái chèo tiếp tục thẳng tiến. Sau đó các mái chèo bị bẻ cong giống như nhũng cây cung trên tay những người đàn ông, con thuyền Argo băng qua những cú đánh của sóng biển. Các tráng sĩ bắt đầu ra sức chèo. Một con sóng khổng lồ có chiếc mào sủi bọt cuốn con thuyền vào hẻm vực vừa được hé ra giữa hai vách núi đá nhưng lại có một con sóng khác hất nó trở lại. Xung quanh là những con sóng sôi sùng sục. Chẳng mấy chốc họ đã tiến đến sát gần những tảng núi đá khổng lồ. Đúng lúc những tảng đá lớn này va đập vào nhau gây ra một tiếng động ầm vang như sấm rồi ngay lập tức chúng lại tách nhau ra như chẳng có chuyện gì xảy ra. Họ kéo thêm ba sải chèo nữa và cứ mỗi lần như vậy con thuyền lại nhảy chồm lên trên những ngọn sóng khổng lồ. Nước xung quanh như sôi lên sùng sục và bầu trời phía trên đen kịt đến nỗi họ không thể nhìn thấy những vì sao trên bầu trời, còn những người chèo thuyền lại không thể nhìn thấy ánh sáng ban ngày ở đằng sau họ. Những người lái tàu chăm chú vào công vịệc của mình, nhưng họ cũng không thể nhìn thấy những ánh mặt trời ở đằng trước. Sau đó có một đợt sóng lớn lao nhanh ở giữa những tảng đá giống như một dòng sông chảy xiết và nâng con thuyền lên giống như một chú chim nhỏ. Rồi những tảng đá lớn lại va vào nhau nhưng chúng chỉ làm vỡ một mảnh gỗ ở đầu bánh lái. Sau đó, những tảng đá lại tách nhau ra rồi đứng yên ở hai bên hẻm vực. Các tráng sĩ trong đoàn của Jason vẫn tiếp tục giữ vững tay chèo, bởi họ lại đối mặt với những con sóng khủng khiếp. Tuy nhiên, có thể nói nguy hiểm lớn nhất có thể đã qua, họ không còn phải lo ngại về những tảng đá Phiêu du khủng khiếp nữa.

Bọn họ lại tiếp tục lên đường, băng qua vùng biển rộng bao la, đi qua nhiều vịnh lớn nhỏ khác nhau, qua các thành phố và cửa sông, vòng qua những ngọn đồi xanh rì, nơi có những nấm mộ của những người đã chết từ rất lâu rồi. Đứng trên đỉnh của một ngọn đồi có một người đàn ông cao lớn trong bộ quần áo giáp đã rỉ, tay cầm một thanh kiếm gãy, đầu đội mũ có mào màu đỏ. Ông ta vẫy tay rồi hét lớn nhưng sau đó không ai nhìn thấy người đàn ông này cả. Ông ta thoắt ẩn, thoắt hiện, lúc thì nói lớn điều gì đó, lúc lại im lặng chẳng nói năng gì. Thì ra đó chính là hồn ma của Sthenelus, con trai của Actaeon. Cách đây đã rất lâu rồi, chàng bi một mũi tên của kẻ thù bắn chết và khi nghe nói đến cuộc hành trình của các tráng sĩ thuyền Argo, chàng từ mộ đi ra để được nhìn thấy những người đàn ông cùng dòng máu và vẫy tay chào Jason cộng đồng đội. Các tráng sĩ cập bến và giết cừu cúng tế, rảy máu tươi lên mộ của Sthenelus. Sau đó, Orpheus để lại cây đàn lia của mình trên một cành cây, như vậy mỗi khi gió thổi sẽ phát ra âm thanh góp vui cho chàng trai trẻ Sthenelus đang nằm dưới mộ.

Họ lại tiếp tục lên đường. Các tráng sĩ khua mái chèo đẩy con thuyền lướt nhanh về phía trước. Mặt trời từ từ lặn xuống ngoài biển khơi. Hoàng hôn đang trải dài trên mặt biển. Mọi người bỗng nghe thấy trên đầu có tiếng vỗ cánh. Họ ngẩng đầu lên thì thấy một con đại bàng lớn đang bay về dãy núi Cancasus.. Đó chính là con đại bàng bay tới chỗ tảng đá xích thần Prometheus khổng lồ để moi gan thần theo lệnh của thần Dớt. Tiếng vỗ cánh của nó làm nổi lên một trận gió rít vù vù. Con đại bàng mất hút về phía chân trời và chẳng mấy chốc các tráng sĩ đã nghe thấy tiếng kêu đau đớn của thần Prometheus. Khi nghe thấy tiếng hét, các vị anh hùng đều cảm thấy run sợ. Tuy nhiên, không lâu sau đó, chàng dũng sĩ Heracles đi theo đường này và dùng tên bắn chết con đại bàng và thả tự do cho Prometheus. Các tráng sĩ không dừng lại mà tiếp tục lên đường. Màn đêm buông xuống, bờ biển bắt đầu hiện ra. Các tráng sĩ nhìn thấy cửa sông Phasis chảy qua vùng đất tận cùng của thế giới và nhìn thấy những ánh sáng phát ra từ lâu đài của vua Aeetes. Họ cho con thuyền đi ngược dòng sông rồi dừng lại tại một khúc ngoặt có những bụi cây rậm rạp che phủ. Jason chắp tay cảm ơn các vị thần linh và cầu xin các vị thần của vùng đất này phù hộ cho chàng cùng những người bạn của mình thực hiện được nhiệm vụ sắp tới. Đây chính là giai đoạn cuối cùng trong chuyến đi dài ngày của họ. Bây giờ họ có thể ngủ và mơ về bộ lông cừu vàng.
 
522 ❤︎ Bài viết: 420 Tìm chủ đề
Chương 30

Đánh cắp bộ lông cừu vàng

Hôm sau, từ tờ mờ sáng các tráng sĩ đã thức dậy, họ họp nhau lại để bàn xem nên làm thế nào tiếp theo. Họ đậu thuyền ở cửa sông giữa những đám lau sậy cao để tránh bị người khác phát hiện. Các chàng trai của chúng ta chưa biết mình sẽ được tiếp đón như thế nào nên cách tốt nhất là cứ chuẩn bị an toàn cho trường hợp xấu nhất xảy ra. Rồi họ đi về hướng thành phố Colchis, băng qua một cánh rừng lạ và khủng khiếp. Những người chết, xương trắng của họ được buộc lại với nhau rồi treo trên những cành cây. Tập tục của người Colchis là chỉ chôn cất phụ nữ, còn treo những người đàn ông đã chết lên những cành cây trong rừng. Đây là một tập tục kỳ lạ nhất mà các tráng sĩ của chúng ta từng nghe nói đến. Sau đó, họ đi thẳng đến cung điện của vua Aeetes đang sống cùng người con trai trẻ của mình là Absyrtus, cô con gái xinh đẹp Chalciope là vợ của Phrixus cùng cô con gái út là Medea. Medea là một phù thủy và là nữ tư tế của nữ thần ma thuật Brimo. Trong khi các tráng sĩ đi, nữ thần Hera sai một đám sương mù dày đặc tới che phủ cho Jason cùng mọi người để tránh những tình huống xấu có thể xảy ra. Khi đoàn của chàng tới gần cung điện thì đám sương mù tan đi. Trước mặt họ hiện ra tòa lâu đài nguy nga của vua Aeetes, với bức tường thành cao bao quanh và những ngọn tháp vươn lên tận trời xanh. Hai cánh cổng lớn được trang hoàng rực rỡ bằng những loại đá rất đẹp lấp lánh dưới ánh nắng mặt trời chói chang.

Tất cả những đồ trang hoàng lộng lẫy bên trong cung điện đều là những đồ vật tinh xảo, đẹp mắt khiến Ai nhìn vào cũng thấy thích thú. Chalciope vui vẻ ra đón Jason bởi nàng biết rằng những anh hùng này đến từ đất nước của chồng nàng, chính vì vậy, cũng có thể nói rằng họ không phải là những kẻ hoàn toàn xạ lạ. Nàng công chúa dịu dàng mời họ vào trong nhà và tiếp đón các tráng sĩ thật chu đáo. Nghe thấy tiếng ồn ào bên ngoài, nữ pháp sư Medea cũng từ trong nhà bước ra. Medea là một phụ nữ vô cùng xinh đẹp và quyến rũ, nàng là đối tượng tìm hiểu của rất nhiều chàng trai trên đảo nhưng cho đến tận lúc này, nàng vẫn chưa thấy rung động với bất cứ người nào. Vừa nhìn thấy Jason, người con gái út của vua Aeetes đã đem lòng yêu chàng say đắm. Nàng yêu chàng hơn cả cha mình, các anh của mình và tòa lâu đài lộng lẫy của vua cha. Tuy nhiên, nàng lại không thể nói ra được tình cảm của mình bởi nàng là phụ nữ. Với Medea tất cả những gì Jasọn mặc trên người đều thật đẹp và quý phái: Từ bộ quần áo giáp bằng vàng, bộ da báo khoác phía trên áo giáp rồi lại còn bộ tóc dài màu vàng óng trùm quá vai làm nàng không thể rời mắt khỏi chàng. Jason có một điểm gì đó hết sức đặc biệt mà Međea khó có thể diễn tả thành lời, chỉ biết rằng đây là người đàn ông đầu tiên và duy nhất nàng muốn lấy làm chồng và chung sống suốt đời. Medea nhận thấy mình đang nhìn Jason chăm chú nên cảm thấy xấu hổ. Mặt nàng đó ửng lên và ngay lập tức nàng cụp mắt xuống không dám nhìn về phía chàng dũng sĩ đẹp trai nữa.

Chalciope tỏ ra là một nữ chủ nhà hiếu khách và chu đáo. Nàng dẫn các vị anh hùng của chúng ta vào bên trong và sai người hầu tắm rửa cho họ. Sau đó, nàng chuẩn bị tiệc khoản đãi các tráng sĩ vừa vượt một quãng đường vô cùng xa xôi để đến được đất nước nhỏ bé của nàng. Jason cùng mọi người cảm ơn tấm thịnh tình của Chalciope và ngó ý muốn được gặp đức vua Aeetes. Tất nhiên là mong muốn của họ được thực hiện ngay lập tức. Chalciope đích thân dẫn những vị anh hùng của tàu Argo đến gặp cha mình trong đại sảnh lớn.

Khi đức vua hỏi họ đến đây làm gì, Jason trả lời rằng chàng và những người bạn vượt một quãng đường xa xôi tới đây để xin bộ lông cừu vàng bởi đây là vật vô cùng quan trọng đối với chàng và số phận sau này của chàng. Nghe chàng nói xong, đức vua Aeetes trừng mắt lên vì giận dữ và nhíu mày hăm dọa. Ông không tin là các tráng sĩ chỉ đến đây để xin bộ lông cừu vàng, ông nghi là họ muốn chiếm đất nước của ông nên mới tập hợp thành một đoàn đông đảo gồm có rất nhiều dũng sĩ tài giỏi như thế này. Nhưng ông không có bằng chứng để chứng minh mối nghi ngờ của mình. Jason nhận thấy thái độ cua vua Aeetes liền phân trần rằng bộ lông cừu vàng là lí do duy nhất khiến bọn họ đến nơi đây và chàng hứa sẽ làm bất cứ điều gì ông muốn, miễn là ông cho chàng báu vật đó. Đức vua khẽ mỉm cười rồi nói rằng ông chỉ đồng ý tặng bộ lông cừu cho người nào giỏi hơn chính ông. Nếu có bất cứ ai đó muốn chứng minh rằng họ xứng đáng có được bộ lông cừu vàng thì người đó phải thuần dưỡng hai con bò tót thở ra lừa từ hai lỗ mũi và phải dùng chúng để cày bốn héc ta ruộng. Tiếp theo, anh ta phải trồng những chiếc răng sắc nhọn của một con rồng lên trên cánh đồng và ngay lập tức những chiếc răng này phải mọc thành một đội chiến binh được trang bị áo giáp đầy đủ.

Jason tự tin đáp lại nếu đó là những gì chàng phải làm thì chàng sẽ thử. Tuy nhiên, sau khi nhận lời thách thức chàng buồn bã quay trở lại thuyền mà không hề chú ý đến nàng Medea xinh đẹp đang nhìn theo mỗi bước chàng đi. Dù chỉ đứng lặng im một chỗ nhưng Međea luôn âm thầm để ý từng cử chỉ điệu bộ, từng thay đổi nhỏ trên nét mặt của Jason. Nàng ước gì chàng có thể hiểu được tâm trạng của nàng, biết được tình yêu của nàng dành cho chàng thật sâu sắc biết bao nhiêu.

Trong đêm tối, cả tòa thành chìm trong giấc ngủ say sưa. Sự yên tĩnh bao trùm lên khắp nơi trừ tòa nhà của nàng công chúa Medea xinh đẹp. Nàng nằm trên giường nhưng không tài nào chợp mắt được bởi nàng đang cảm thấy thương xót cho người lạ kia. Một lát sau, nàng chợp mắt đôi chút và nằm mơ thấy một chuỗi các sự việc làm cho nàng thấy xốn xang. Lúc thì nàng nhìn thấy Jason đánh nhau với lũ bò tót, còn phần thưởng dành cho người chiến thắng chính là bản thân nàng; lúc thì nàng mơ thấy chính mình đánh nhau với lũ bò tót phun ra lửa và nàng đã thắng chúng một cách dễ dàng, lúc thì nàng lại mơ thấy cha mẹ nàng không muốn gả nàng cho Jason vì chàng không thắng được lũ bò tót. Medea tỉnh đậy, trong lòng thấy thật khó xử và mất phương hướng. Nàng biết rằng với phép thuật của mình, nàng có thể giúp chàng thực hiện những điều chàng mong muốn. Tuy nhiên nàng lại nhớ đến việc cha nàng sẽ thiêu sống nàng nếu nàng dùng phép thuật giúp đỡ Jason bởi chính ông cũng không biết con gái mình là một phù thủy. Trên đất nước của Medea, phù thủy là lớp người bị khinh ghét, bất cứ ai bị phát hiện là phù thủy đều sẽ khiến cho người thân, gia đình phải gánh chịu một nỗi ô nhục lớn. Mặt khác, Medea cũng tự cảm thấy xấu hổ với bản thân mình khi nàng nhận ra rằng mình đang yêu quý một người lạ hơn những người thân của nàng. Nàng tự trách mình tại sao lại có ý định giúp đỡ chàng trai lạ chống lại cha nàng trong khi cha nàng luôn vô cùng yêu quý và tin tưởng nàng. Nàng nhổm dậy trong bóng tối và nhẹ nhàng đi đến phòng của chị gái mình. Nàng mặc đồ trắng tinh nên trông giống như một hồn ma đang lang thang trong lâu đài. Khi đến cửa phòng chị gái Medea xấu hổ quay trớ lại và tự nói với mình: Không được, mình không bao giờ được làm như vậy.

Rồi nàng quay trở lại phòng riêng và ngồi suy nghĩ. Tuy nhiên nàng nghĩ mãi, nghĩ mãi mà vẫn không nghĩ ra mình nên làm gì. Cuối cùng nàng đành nằm xuống chiếc giường êm ấm của mình và bật khóc. Medea tội nghiệp đang bị dày vò và giằng co giữa một bên là tình thân với một bên là tình yêu. Thật khó có thể nói rằng bên nào nặng hơn bên nào nên nàng rơi vào tình cảnh tiến thoái lưỡng nan. Chị gái của nàng nghe thấy tiếng Medea khóc nên chạy đến phòng em gái. Sau khi được em gái kể rõ đầu đuôi câu chuyện, hai chị em cùng ôm nhau khóc. Nhưng họ chỉ dám khóc rất nhỏ mà thôi bởi họ sợ sẽ bị người khác nghe thấy. Về phần mình, Chalciope cũng muốn giúp những tráng sĩ Hi Lạp bởi dù Phrixus, chồng nàng, đã chết nhưng tình yêu của nàng dành cho chàng vẫn vẹn nguyên, không hề thay đổi. Còn Medea cũng dành cho Jason một tình yêu lớn không thể nói lên thành lời.

Trong lòng Medea đang xốn xang những tình cảm trái ngược nhau. Lúc thì nàng không dám trái ý cha, lúc thì lại quyết định giúp đỡ Jason, người mà nàng yêu say đắm. Nhưng cuối cùng, nàng quyết định sẽ giúp đỡ người mình yêu. Medea hứa với chị gái sẽ mang một loại thuốc từ đền thờ nữ thần nơi nàng làm nữ tư tế về tặng cho chàng trai lạ mặt kia. Đây là loại thuốc được trồng bên trong đền thờ và có thể giúp bất cứ người nào thuần hóa được những con bò hung dữ phun ra lửa. Tuy nhiên, nàng vẫn khóc lóc thảm thiết và ước gì nàng chết đi để khỏi phải chịu đựng sự giằng co này. Nàng có ý định tự tử nhưng nàng lại nóng lòng mong sớm đến bình minh bởi vào lúc đó nàng sẽ lại được nhìn thấy Jason, được gặp chàng để đưa cho chàng loại thuốc đặc biệt.

Khi bình minh hé rạng, Medea chải lại tóc, rửa mặt và cầm lọ thuốc được trích từ một loài hoa quý rồi bước ra khỏi phòng. Loài hoa này nở lần đầu tiên khi một chú chim đại bàng tưới máu của Prometheus lên trên mặt đất. Loại nước chiết xuất từ loài hoa này có tác dụng vô cùng đặc biệt: Nếu người nào được xức nước hoa thì cả ngày hôm đó sẽ không có một thanh kiếm nào có thể làm anh ta bị thương và lửa cũng không thể thiêu cháy anh ta. Nàng đặt lọ nước chiết xuất từ hoa vào thắt lưng của mình và đi đến đền thờ cùng với những người bạn gái khác.

Trong khi đó, Chalciope đến gặp Jason để thông báo rằng em gái nàng muốn gặp chàng tại lâu đài của nữ thần pháp thuật. Jason đi cùng Mopsus, người hiểu được ngôn ngữ của các loài chim. Trong khi đợi Medea, Mepsus nghe thấy một con bò ngồi phía dưới một bóng cây nói:

- Ở đây có một kẻ tiên tri ngu ngốc, thậm chí ông ta còn ngu ngốc hơn một con ngỗng. Ông ta cùng đi với một người đàn ông trẻ để gặp một cô gái mà không biết rằng dù anh ta có đến đứng trước mặt nàng ta thì nàng cũng không bao giờ nói ra những điều thầm kín trong trái tim mình. Hãy biến đi, kẻ tiên tri ngốc nghếch. Medea không quan tâm đến ông bởi ông chỉ là một người lớn tuổi bình thường mà thôi.

Nghe thấy vậy, Mopsus mỉm cười và dừng lại không đi tiếp. Chàng biết mình là người thứ ba sẽ cản trở cuộc trò chuyện của Jason và chàng hiểu mình nên làm gì là tốt nhất trong lúc này. Còn Jason vẫn tiếp tục đi cho tới khi chàng đến được đền thờ của nữ thần phép thuật có sức mạnh vô cùng to lớn. Jason đến nơi thì thấy Medea đang nô đùa với những cô gái khác nhưng thực ra nàng chỉ giả vờ làm như vậy bởi tâm trí nàng đang hướng về chàng Jason đẹp trai. Khi vừa nhìn thấy Jason, nàng có cảm giác mình không thể tiến lên phía trước hay lùi lại. Khuôn mặt nàng nhợt nhạt vì khó xử. Nàng không hiểu những người khác đối mặt với chuyện tương tự như nàng ra sao nhưng quả thật nàng thấy rất khó khăn. Medea nhìn Jason và trái tim nàng bắt đầu đập dồn khiến nàng không thể thốt nên lời. Hai người cứ đứng yên lặng nhìn nhau như vậy một lúc lâu, cuối cùng Jason là người chủ động lên tiếng trước:

- Hỡi người con gái xinh đẹp tuyệt trần! Cớ sao nàng cứ cúi mặt xuống đất như vậy? Có gì mà nàng phải sợ chứ. Chẳng lẽ nàng nghĩ ta đang giấu giếm một ý đồ xấu xa nào đó chăng? Không, ta đến đây không phải với ý đồ đen tối mà để cầu xin nàng giúp đỡ. Ta xin nàng hãy cho ta biết sự thật và chỉ cho ta cách hoàn thành tất cả những thử thách mà ta sắp phải đối mặt. Nàng hãy nói điều gì đi chứ?

Medea chỉ im lặng đứng nhìn Jason với đôi mắt tràn đầy yêu thương. Trong tình cảnh đầy phân vân, trông nàng càng đẹp lên gấp ngàn lần. Nàng run rẩy lấy trong thắt lưng ra lọ thuốc thần diệu, đưa cho Jason rồi nói khẽ gần như thì thầm:

- Chàng sẽ mang bộ lông cừu vàng về Iolcos đúng vậy không? Nhưng chàng có bao giờ nghĩ đến việc em sẽ ra sao nếu như chàng đã trở về nhà không? Rồi một lúc nào đó chàng sẽ quên em, người con gái phản bội cha mình và những người thân trong gia đình để giúp đỡ chàng.

- Hỡi nàng Medea xinh đẹp. Ta không biết những cơn gió sẽ mang theo những giọng nói như thế nào, những chú chim sẽ mang thông điệp ra sao bởi đó không phải là phạm vi ta có thể kiểm soát được. Nhưng có điều ta dám khẳng định với nàng rằng sẽ không có một cơn gió hay một chú chim nào nói với nàng rằng ta đã quên nàng bởi sẽ chẳng bao giờ xảy ra điều đó. Nàng hãy đi cùng ta và trở thành vợ yêu của ta. Nàng không biết ta sẽ hạnh phúc như thế nào nếu nàng đồng ý làm như vậy đâu.

Hai mắt Medea nhòa lệ. Nàng không tin vào những gì mình nghe thấy nữa. Nàng không chịu được ý nghĩ sẽ phải chia tay với người mình yêu. Nàng đau khổ khi phải nghĩ đến cảnh ly biệt và không hiểu rồi cuộc sống của nàng sẽ ra sao khi tình yêu và nỗi nhớ nhung chàng trai lạ cứ ảm ảnh nàng từng giây, từng phút. Chính vì vậy nàng quyết định sẽ đồng ý đi theo chàng tới bất cứ nơi nào chàng muốn. Tuy nhiên, trong lòng nàng vẫn có sự giằng co, nàng vừa vui mừng nhưng cũng vừa sợ hãi khi nghĩ tới một chuyến đi dài ngày nguy hiểm với một người lạ, rồi thái độ của cha nàng dành cho nàng khi biết được sự thật. Nhưng suy đi tính lại nàng không thể cầu toàn được Vậy là hai người chia tay nhau: Jason quay trở về tàu còn Medea về lâu đài. Jason hứa sẽ đến gặp Medea lần nữa để quyết đinh các bước hành động tiếp theo. Medea lên xe ra về, lòng rất vui vì Jason đã chia sẻ tình yêu cùng nàng.

Sáng hôm sau, Jason dùng loại thuốc đặc biệt mà Medea đưa cho chàng bôi lên người và quần áo giáp. Trước khi tiến hành công việc chính, các hoàng tử khác thử dùng giáo và kiếm đâm vào chàng nhưng không một thanh kiếm nào có thể xuyên qua áo giáp và làn da của Jason. Chàng cảm thấy mình trở nên vô cùng khoẻ mạnh và nhẹ nhàng, các bắp thịt của chàng trở nên rắn như thép và toàn thân chàng như làm bằng sắt. Không ngờ loại thuốc này lại có sức mạnh to lớn đến như vậy. Jason nhảy lên vì sung sướng, ánh sáng mặt trời chiếu lên lá chắn của chàng khiến nó lấp lánh giống như một vì sao sáng.

Các tráng sĩ cùng nhau tiến thẳng đến cánh đồng nơi những con bò tót thở ra lửa đang đứng. Khi tới gần họ đã thấy vua Aeetes đang đứng đợi ở đó, còn trên các sườn núi xung quanh đông nghịt người xem, tất cả bọn họ đến đây để chứng kiến cảnh Jason chết đau đớn như thế nào. Từ trước đến nay chưa có một người nào có thể chiến thắng được những con bò tót thở ra lửa này. Về phần mình, Jason tỏ ra rất tự tin và bước lên bờ trong bộ áo giáp lóng lánh như một ngôi sao. Sau đó chàng bước ra đồng, thấy có một chiếc cày sắt và một chiếc ách bằng đồng. Chàng liền cầm khí giới đi tìm những con bò dữ. Bỗng nhiên, từ trong một chiếc hang gần đó, hai con bò tót xông ra. Chúng rống lên dữ tợn rồi lao thẳng về phía chàng tráng sĩ dũng cảm rồi phun lửa xung quanh chàng. Tuy nhiên, Jason đã có loại thuốc thần kì bảo vệ nên chàng chẳng bị hề hấn gì. Dừng lửa không được, hai con bò cắm đầu húc sừng vào Jason nhưng chàng đã nhanh chóng đưa khiên ra chống đỡ. Những người xung quanh nghĩ rằng chàng sẽ chẳng thể chống đỡ được với cú húc đó nhưng Jason vẫn đứng hiên ngang như không có chuyện gì xảy ra. Jason dùng đôi tay rắn chắc của mình túm lấy sừng của một con bò bằng tay phải và tay kia túm lấy sừng của con bò khác. Sau đó chàng kéo đầu chúng lại với nhau khiến hai con thú dữ ngã lăn xuống đất.

Khi chúng đứng dậy run rẩy vì cú ngã, Jason bắc ách chúng vào cày rồi dùng cây lao kéo cho chúng kéo cày, cày hết cả cánh đồng. Cày xong, nhúng chiếc mũ của mình xuống sông, múc nước uống vì chàng đã thấm mệt với cuộc vật lộn vừa rồi. Tiếp theo, chàng lấy răng long xà ra gieo như thể một người nông dân đang gieo hạt giống. Jason chưa kịp nghỉ ngơi thì bỗng nhiên trên cánh đồng bắt đầu xuất hiện một ngọn lao, rồi lại một ngọn nữa, chẳng mấy chốc cả cánh đồng như được phủ kín bằng chiếc bàn chải đồng dựng ngược lên. Mặt đất như bị rung chuyển rồi từ dưới đất bắt đầu xuất hiện những chiếc mũ trụ và rồi những chiếc đầu của các chiến binh ló ra, sau đó cả cánh đồng tràn ngập các chiến binh mặc áo giáp sắt sáng loáng. Các tráng sĩ tàu Argo mở to mắt với vẻ kinh ngạc bởi họ chưa từng được chứng kiến một cảnh tượng nào kì vĩ đến như vậy. Mọi người chưa kịp định thân thì các chiến binh sắt lao đến tấn công Jason. Ngay lúc đó, chàng nhớ tới lời dặn của nàng nên đã nhặt một tảng đá lên và ném thẳng vào giữa đám chiến binh. Sau đó, kẻ bị trúng đá sẽ quay sang nói với người đứng bên cạnh là: Nhà ngươi đánh ta à? Vậy thì hãy nhận lấy những gì nhà ngươi đáng được nhận này.

Rồi hắn ta lao vào người kia tấn công, nhưng trước khi kịp rút lao ra thì một người khác đã đâm hắn ta vào mũ. Và thế là giữa các chiến binh xảy ra một trận chiến nảy lửa. Họ lao vào đâm chém nhau quyết liệt. Những rãnh cày ngập trong máu tươi và những người đàn ông bị thương bò lổm ngổm trên cánh đồng nhưng cả kẻ đứng lẫn người ngồi đều cố gắng tấn công nhau như thể nếu không giết chết người kia thì chính bản thân mình sẽ bị chết. Cuộc chiến diễn ra vô càng ác liệt; giáo mác, rìu rồi kiếm va vào nhau loảng xoảng. Hơn một tiếng đồng hồ trôi qua, tất cả những chiến binh đều ngã xuống trừ một kẻ cao lớn nhất, khỏe mạnh nhất. Hắn nhìn xung quanh mình thấy chỉ còn duy nhất có Jason đang đứng hiên ngang cạnh đó. Chính vì vậy, hắn lao vào định giết chết Jason nhưng chàng nhảy sang một bên và giáng một đòn chí tử lên đầu gã chiến binh khiến hắn lảo đảo rồi ngã xuống chết ngay lập tức. Sau đó, Jason đến gần đức vua và nói:

- Hỡi đức vua vĩ đại. Vậy là cánh đồng đã được cày xong, vụ mùa đã được thu hoạch. Hãy đưa cho tôi bộ lông cừu bằng vàng như đã hứa để chúng tôi trở về nhà.

Mặc dù đức vua vô cùng thán phục sức mạnh siêu nhân của chàng tráng sĩ, nhưng ông vẫn chưa bỏ cuộc. Nhà vua cau mày lại và đôi mắt long lên giận dữ, ông lạnh lùng đáp:

- Hôm nay như vậy là đủ lắm rồi. Ngày mai là một ngày mới. Ngày mai nhà ngươi sẽ có được bộ lông cừu vàng.

Trở về cung, vua Aeetes cho vời những công dân thông thái nhất trong nước đến để họp bàn. Họ vừa uống rượu, vừa thảo luận. Tâm trạng của ông vô cùng tồi tệ bởi ông sắp bị mất bộ lông cừu vàng quý nhưng điều khiến ông tức giận hơn là Jason không dành chiến thắng bằng chính sức lực và quyền năng của mình mà nhờ sự giúp đỡ ma thuật cửa Medea. Ông hiểu rằng dù là một người bình thường khỏe mạnh nhất, tài giỏi nhất cũng không thể làm được những việc như vừa rồi nếu không có sự giúp đỡ. Ông không ngờ cô con gái yêu quý của mình lại phản bội ông và giúp đỡ người ngoài. Ông chưa thể làm gì được Jason nhưng rồi ông sẽ nghĩ cách. Còn Medea, nhà vua định sẽ trừng phạt nàng và xử nàng phải chết một cách đau đớn. Medea có hai sự lựa chọn duy nhất: Uống thuốc độc hoặc chạy trốn cùng những người anh hùng trên con thuyền Argo.

Medea cảm thấy có một sự nguy hiểm ghê gớm đang rình rập nàng và Jason.. Nàng biết cha nàng đang dự định làm. Gì và nàng nghĩ thà chiến đấu và chạy trốn còn hơn phải chết. Nàng bắt đầu thấy yêu cuộc sống bởi cuộc sống này có Jason, có tình yêu của chàng. Chính vì vậy nàng giấu tất cả những đồ dùng phép thuật của mình vào trong áo choàng, nàng hôn chiếc giường mà nàng sẽ không còn cơ hội được ngủ trên đó, đóng cửa phòng, vuốt nhẹ những bức tường như lời vĩnh biệt cuối cùng. Rồi Medea cắt một lọn tóc vàng để lại trong phòng để mẹ nàng còn có một kỉ vật giúp bà nhớ tới nàng, nhớ tới thời thanh xuân hạnh phúc của cô con gái út tội lỗi. Nàng thầm nói:

- Tạm biệt mẹ. Lọn tóc dài này sẽ thay con ở bên cạnh mẹ. Tạm biệt mẹ, sắp tới đây con sẽ tham gia vào một chuyến đi rất dài. Tạm biệt chị gái Chalciope của em. Tạm biệt, ngôi nhà thân yêu. Tạm biệt tất cả.

Sau đó nàng nhẹ nhàng chạy trốn ra khỏi nhà. Nàng dùng phép thuật khiến cho những cánh cửa đã cài then tự động mở ra. Rồi nàng dùng hết sức chạy nhanh về phía trước. Nàng chạy qua những con đường mòn cỏ mọc hai bên đường rồi chạy qua đền thờ của nữ thần phép thuật. Mặt trăng tròn vành vạnh luôn dõi theo nàng. Có một lần nàng đã phải dùng bài hát ma thuật của mình để che khuất mặt trăng, để nữ thần mặt trăng không nhìn thấy nàng. Nữ thần mặt trăng nói:

- Ta không phải là kẻ lang thang duy nhất trong bóng đêm tĩnh mịch. Ta yêu chàng trai đang ngủ có tên là Endyminon, hiện tại chàng đang ngủ trên đỉnh đồi Latmian. Trong giấc mơ của chàng, chàng đã thấy ta trong bộ váy áo thướt tha. Nàng đã che khuất mặt ta bằng bài hát của mình và khiến cho buổi đêm trở nên đen kịt, không có lấy một chút ánh sáng le lói. Nàng đang yêu, đang yêu nồng nhiệt. Nàng hãy cứ đi đi, đi theo tiếng gọi cửa con tim mình. Nhưng có một điều ta muốn nhắc nàng, rồi trái tim đầy yêu thương cửa nàng sẽ phải chịu đựng nhiều điều đau khổ. Trước mặt nàng là một số phận buồn thương. Rồi nàng sẽ thấy.

Medea không để ý nhiều đến những điều mặt trăng nói. Nàng vội vã chạy đến bờ sông nơi các tráng sĩ tàu Argo đang đốt lửa ăn mừng. Nàng tới gần và khẽ gọi Jason:

- Xin hãy cứu ta, những người bạn của ta. Cái chết đang chờ ta ở phía trước nếu các chàng bỏ mặc ta. Ta đã giúp đỡ các chàng và bây giờ cha ta đang nổi giận. Ta sẽ mang bộ lông cừu vàng đến cho các chàng và đổi lại, các chàng hãy cứu tính mạng ta.

Jason thề sẽ cưới nàng làm vợ và coi nàng là người thân thiết với chàng hơn bất cứ người nào trên thế giới này. Medea theo các vị anh hùng lên tàu và họ chèo thuyền dọc theo dòng suối lên trên khu rừng, tới nơi con rồng hung giữ không bao giờ ngủ đang nằm bảo vệ bộ lông cừu vàng. Họ đáp thuyền vào bờ. Jason, Orpheus cùng chiếc đàn của mình và Medea đi vào sâu trong cánh rừng thiêng. Một con mãng xà già nhìn thấy họ liền hít lên thật to khiến cho những người phụ nữ trong thị trấn Colchis tỉnh giấc, khiến cho những đứa trẻ khóc thét. Tuy nhiên, Orpheus đã chơi một bản nhạc với cây đàn lia của mình để xoa dịu những người phụ nữ và những đứa trẻ. Chàng hát vang một bài hát ngọt ngào có thể đưa bất cứ người nào chìm vào trong giấc ngủ. Chàng hát:

Hãy ngủ đi hỡi đức vua của các vị thần và những con người trần tục!

Hãy đến đây theo tiếng gọi từ trái tim của ta,

Hãy bay thật nhanh qua những cánh đồng và qua những hàng rào chắn,

Qua những ngọn núi và vực đại dương sâu thắm,

Hãy đến đây và khiến những con sóng trở nên tĩnh lặng.

Hãy ngủ đi hỡi những dòng suối ở trên cao,

Những con thú, những chú chim trên trời và những chú rắn hãy nghỉ ngơi,

Hãy ngủ đi để tận hưởng cảm giác an bình,

Hỡi các vị thần hãy đến đây bằng đôi cánh vàng của mình!

Hãy để cho những chú chim én hát vang bài hát du dương,

Ru ngủ những sinh vật sống,

Hãy bay đến đây thật nhẹ nhàng!

Hãy đến với chiếc đũa thần phép thuật,

Đến với bàn tay dịu dàng, ấm áp,

Để xoa dịu sự giận dữ của biển cả bao la và của đất liền rộng lớn,

Xoa dịu những con người đang khóc,

Hãy đến đây với chúng tôi,

Khiến cho con rồng hung dữ kia chìm vào giấc ngủ,

Hãy đến với ta hỡi thần ngủ vĩ đại!

Orpheus hát ngọt ngào đến nỗi đôi mắt nhỏ nhưng sáng quắc của con rồng nhắm nghiền lại, những lọn tua cứng của nó trở nên mềm đi. Jason tiến đến bên cạnh con rồng, chặt đầu nó rồi nhẹ nhàng lấy đi bộ lông cừu vàng trên cây sồi thiêng. Trông bộ lông cừu giống như một đám mây màu vàng lúc bình minh. Chàng đứng đó ngẩn ngơ trước vẻ đẹp của nó nhưng Medea và Orpheus thúc giục chàng nhanh lên bởi đây không phải là lúc bỏ phí thời gian. Họ phải rời khỏi chỗ này trước khi nhà vua phát hiện ra chuyện lấy cắp bộ lông cừu vàng. Vậy là tất cả bọn họ quay trở lại tàu và phân chia các tráng sĩ: Một nửa chèo thuyền, một nửa trang bị quần áo giáp, vũ khí đầy đủ đứng bên cạnh những người chèo thuyền để bảo vệ họ trong trường hợp cần thiết, rất có thể những người lính trong thành Colchis sẽ từ trong thành bắn tên ra tấn công họ, chính vì vậy họ vẫn vừa phải chèo thuyền, vừa phải chiến đấu. Jason cắt dây buộc thuyền và các tráng sĩ vội vã ngồi vào bên mái chèo và con thuyền Argo lao nhanh ra cửa sông như một mũi tên. Nhưng tiếng rít của con rồng đã khiến những người Colchis tỉnh giấc, ánh sáng lóe lên trong những cánh cửa sổ của lâu đài. Đức vua Aeetes vội vàng leo lên xe ngựa cùng binh lính lao ra phía bờ sông. Những mũi tên rơi xuống con thuyền giống như mưa, nhưng do đã chuẩn bị trước nên các tráng sĩ đã dùng khiên che chắn hết cho những người đồng đội của mình.

Vậy là các tráng sĩ đã lấy được bộ lông cừu vàng. Tuy nhiên, mang được bộ lông cừu vàng quay trở về nhà mới là công việc khó khăn và gian khổ. Trên đường đi Medea và Jason đã làm một việc khiến cho các vị thần nổi giận. Họ đã giết chết anh trai của Medea là Absyrtus trong khi chàng cùng hạm đội thuyền của mình đuổi theo họ. Không những vậy Jason và Medea còn chặt chân của chàng khiến cho chàng chết không toàn thây. Khi đức vua Aeetes đuổi theo, thấy xác chết của cậu con trai duy nhất của mình đang bị trôi nổi trên sông, ông buồn bã quay trở về, ông không ngờ cuộc đời ông lại phải chịu nhiều đau đớn đến như vậy. Chính vì tội ác đó mà các vị thần không bao giờ để cho đoàn tráng sĩ Hi Lạp quay trở về thuận buồm xuôi gió như lúc họ lên đường mà theo một cách vô cùng kì lạ mà không một con thuyền nào từng trải qua. Ban đầu con thuyền Argo gặp gió thuận. Các tráng sĩ giương buồm và con thuyền lướt nhanh trên sóng biển hướng thẳng về phía Ister. Họ đã đi qua rất nhiều đất nước mà người dân nơi đây sống hoang dã, không có ánh sáng văn minh. Họ Cứ đi mãi, đi mãi cho đến khi con thuyền Argo không thể tiến về phía trước thêm một bước nào nữa bởi dòng nước ở đó quá hẹp, hẹp hơn rất nhiều so với kích cỡ của con thuyền. Các tráng sĩ phải kéo thuyền đi trên cạn và cuối cùng cũng đưa được con thuyền đến Elbe và thả neo xuống vùng biển vắng mà chưa có một con thuyên nào chạy qua. Họ bị đẩy thẳng ra đại dương bao la tới hòn đảo xa xôi nơi nữ pháp sư Circe sinh sống. Circe là em gái của đức vua Aeetes và hai người bọn họ đều là con của thần mặt trời. Medea hi vọng cô mình sẽ rất mừng khi gặp nàng và tiếp đón nàng ân cần bởi Circle chưa nghe được bất cứ thông tin gì về việc nàng và Jason đã giết chết Absyrtus.

Medea và Jason đi qua những khu rừng nhỏ trên hòn đảo và đến nhà của nữ pháp sư Circe. Họ không sợ những con sư tử, những con chó sói và những con gấu đang làm nhiệm vụ bảo vệ ngôi nhà. Những con vật này biết Medea cũng là một nữ pháp sư nên chúng chẳng dám làm gì họ mà để cho họ đi qua. Tuy nhiên, khi bước vào bên trong tòa lâu đài của Circe họ thấy nàng đang mặc một bộ tang phục, mái tóc đen của nàng thả dài xuống phía dưới. Nàng là người có tài tiên tri nên có thể nhìn thấy những hình ảnh của tội ác và những điều xấu xa. Chính vì vậy nàng phải ngâm mình trong dòng nước mặn của đại dương với hi vọng sẽ xóa bỏ được những ám khí tội lỗi. Vào ban đêm bốn bức tường trong phòng riêng của nàng sáng trưng như lửa cháy và nhỏ từng giọt máu tươi xuống và một giọng nói vang lên nghe rất rùng rợn. Đó chính là linh hồn của chàng Absyrtus đã chết đang kể lể cho cô mình nghe về tội ác của em gái chàng cùng những người lạ đến từ nước Hi Lạp xa xôi.

Khi Medea và Jason bước vào trong đại sảnh của Circe, nữ pháp sư mời họ ngồi xuống, gọi những người hầu gái là các nàng tiên trong khu rừng. Các nàng tiên bước đến dọn bàn ăn và mang thức ăn rồi rượu đến đãi khách. Circe không hề tỏ ra tức giận hay nói bất cứ điều gì trách móc cô cháu gái của mình. Thái độ lạnh lùng của nàng khiến Medea sợ. Jason và Medea chạy đến phía lò sưởi nơi thiêng liêng nhất của ngôi nhà, nơi những kẻ giết người thường chạy đến bởi đó là nơi an toàn khi họ bước chân vào trong nhà của một người lạ. Cả hai lấy tro từ lò sưởi rồi bôi lên trên đầu. Chính hành động của hai người đã tự tố cáo họ, Circe biết chính hai người này đã giết chết Absyrtus. Tuy nhiên, nữ pháp sư là cô ruột của Medea và nàng tôn trọng luật lệ của lò sưởi. Chính vì vậy nữ pháp sư đã tiến hành lễ rửa tội cho hai người rồi nướng một loại bánh làm từ mật ong, thịt và dầu để xoa dịu sự giận dữ của các vị thần báo thù.

Khi mọi việc đã được tiến hành xong xuôi đâu đấy, Medea và Jason đứng dậy, ngồi trên ghế giữa đại sảnh và Medea kể cho nàng nghe câu chuyện của mình trừ việc giết chết Absyrtus. Circe nói:

- Những chuyện cháu vừa nói với ta vẫn chưa đủ. Cháu còn giấu ta một chuyện xấu xa và tồi tệ hơn rất nhiều. Nhưng dù sau cháu vẫn là con gái của anh trai ta nên ta không muốn cháu gặp thêm những nguy hiểm không cần thiết. Ta biết, dù rất giận cháu nhưng anh trai ta vẫn dành cho cháu một tình cảm đặc biệt. Chẳng có người cha nào căm ghét con mình cả.

Sau đó, nữ pháp sư nói cho họ biết về những nguy hiểm đang đợi họ ở phía trước trên con đường quay trở về nhà của họ. Họ sẽ phải đi qua hòn đào của loài nhân điểu Sirens một loài nữ quái mặt đàn bà, thân chim, gặp hai thủy quái Scylla và Charybdis. Nữ thần nói rằng loài Sirens là một loài có giọng hát rất du dương nên bất cứ người nào nghe thấy cũng bị hớp hồn và tàu của họ sẽ lao vào đá ngầm mà chết. Tuy nhiên, khi tới gần hòn đảo đó, nếu ca sĩ lừng danh Orpheus mà dạo cây đàn lia bằng vàng của mình và cất giọng hát ngọt ngào lên thì sẽ át được cả tiếng hát của lũ nhân điểu. Sau này mọi chuyện diễn ra theo đúng lời tiên tri cửa nữ pháp sư nhưng nhờ đã được nói trước, các chiến sĩ tàu Argo vượt qua được các gian nan thử thách một cách an toàn.

Biết được những nguy hiểm mà cô cháu gái tội lỗi của mình sắp gặp phải, nữ pháp sư Circe sai một người đưa tin là nữ thần cầu vồng Iris đến gặp nữ thần Thetis cầu xin bà giúp đỡ đoàn tráng sĩ của tàu Argo vượt qua những mối nguy hiểm của biển khơi và đưa họ an toàn tới Phaeacia. Tới được Phaeacia, những người dân ở đây sẽ đưa họ về nhà mà không gặp thêm bất cứ thử thách nào. Nữ pháp sư rất tức giận trước hành động của Medea nhưng nàng không muốn gây cho Medea thêm bất cứ đau khổ nào bởi nàng biết từ nay trở đi Medea sẽ có một cuộc sống bất hạnh mà chính bản thân nàng cũng không ngờ tới.

Sau đó, Circe chào tạm biệt mọi người và nói:

- Medea, dù cháu có thoát khỏi được cái chết nhưng cháu sẽ không bao giờ hạnh phúc. Trong cuộc đời này, cháu chỉ được sống một năm vui vẻ thôi. Cháu hãy nhớ lấy nhưng cũng không nên oán trách các vị thần bởi đó là hình phạt dành cho những sai lầm của cháu.

Đoàn tráng sĩ Argo đi theo đường mà Ulysses đi về sau này. Họ vượt qua rất nhiều khó khăn nguy hiểm và đến Iolcos, nơi ông vua già Pelias đang ngồi trên ngai vàng. Jason lấy được ngôi vị mà lẽ ra đã thuộc về chàng và cai trị đất nước từ đó trở đi.

Tuy nhiên, khi mọi chuyện đã qua, Jason và Medea không còn yêu nhau nữa. Cũng không hiểu tại sao họ lại trở nên như vậy nhưng có lẽ tình yêu họ dành cho nhau từ ban đầu không phải là thứ tình yêu đích thực mà chỉ là một chút rung động của con tim. Có rất nhiều câu chuyện từ các nguồn khác nhau kể về những hành động xấu xa mà họ đã làm. Tất nhiên cuối cùng họ rời xa nhau, Jason lấy một người vợ khác còn Medea đến Athens bởi Iolcos không phải là nơi nàng có thể sinh sống. Đến Athen, Medea sống trong lâu đài của Aegeus, một ông vua bất hạnh, kẻ đã không thành thực với tình yêu đích thực của mình, nên các vị thần đã lấy đi sự dũng cảm và sức mạnh của ông ta. Cuộc sống ở Athen của Medea thế nào chúng ta sẽ theo dõi câu chuyện tiếp theo, câu chuyện về chàng Theseus, con trai của Aegeus.
 
522 ❤︎ Bài viết: 420 Tìm chủ đề
Chương 31: Theseus

Đám cưới của Aethra

Một thời gian dài trước khi Ulysses ra đời, tại thành Athen của nước Hi Lạp rộng lớn có một ông vua khỏe mạnh, dũng cảm, đẹp trai có tên là Aegeus. Mặc dù sau này Athen trở thành một thành phố lớn và nổi tiếng khắp thế giới nhưng vào thời bấy giờ nó chỉ là một thị trấn nhỏ tọa lạc trên đỉnh của một tảng đá dựng đứng nhô cao lên khỏi vùng đồng bằng và cách mặt nước biển khoảng hai đến ba dặm. Ông tổ của Athen lựa chọn nơi này để xây dựng thành phố nhằm tránh sự tấn công của những tên cướp biển hung hãn. Những tên cướp biển tập trung lại thành nhóm, đi lang thang trên các vùng biển để cướp tàu của các lái buôn và để bắt nô lệ đem về bán. Người dân Athen không có một hạm đội hùng mạnh để đàn áp bọn cướp biển, hơn nữa họ lại không có nhiều đất giống như ở nước Anh.

Đức vua Aegeus còn rất trẻ và chàng mong muốn lấy được một người vợ như ý. Thực tế là cha mẹ chàng đã lựa chọn cho chàng một người vợ truyền thống bởi nàng mang đầy đủ tố chất của một người vợ ngoan trong gia đình. Tuy nhiên, nếu có thể, chàng muốn chắc chắn rằng chàng sẽ có nhiều con trai bởi thời đó ở nơi đây con cái mới chính là nhân tố quyết định bạn có phải là một người thành công hay không. Những ông vua không có con cái thường là những ông vua bất hạnh, dù khi sống họ có cố gắng đến đâu đi chăng nữa nhưng cuối cùng toàn bộ vương quốc, của cải là dành cho ai? Nhưng làm thế nào chàng có thể biết được liệu mình có con cái hay không? Thời đó tôn giáo Hi Lạp chưa chuyển sang Thiên chúa giáo, đất nước này có rất nhiều đền thờ các vị thần đặt ở các địa điểm khác nhau. Nếu bất cứ ai muốn biết điều gì đó họ có thể nhận được câu trả lời từ các vị thần trong đền thờ. Những ngôi đền thờ này được gọi là nơi linh thiêng có thể xin thần thánh cho biết tương lai. Trong số các đền thờ trên đất nước Hi Lạp, đền thờ thần Apollo ở Pytho hoặc Delphi nằm ở phía tây bắc của Athen là đền thờ nổi tiếng nhất. Apollo là một nhà tiên tri tài ba, thần có thể đoán trước được tất cả các sự kiện diễn ra trong tương lai và chỉ cho mọi người biết cách thoát khỏi những nguy hiểm họ có thể gặp phải. Nơi đây cũng có một khe núi của đỉnh núi cao nơi thần Apollo dùng những mũi lên thần của mình bắn chết một con rồng hung dữ. Sau đó thần yêu cầu người dân nơi đây xây dựng một ngôi đền dành cho mình và bên trong đền có một người con gái chuyên làm công việc tư tế. Thần Apollo yêu mến nàng và ban cho nàng tài tiên tri. Mọi người đến xin lời khuyên của nàng thường mang những món quà quý giá đến cho những thầy tu vì vậy cốc và bát bằng vàng, bạc được chất đầy trong đền thờ. Thời gian trôi qua, mọi người mang nhiều quà tặng đến biếu nhà tiên tri đến nỗi báu vật trong ngôi đền này nhiều hơn bất cứ vị vua giàu có nào.

Aegeus quyết tâm đến Delphi để hỏi xem liệu chàng có sinh được những cậu con trai như mong muốn không? Chàng không nói cho những người thân cận của mình biết chàng định đi đâu. Chàng lặng lẽ rời kinh thành và tạm thời để cho em trai chàng là Pallas cai quản đất nước. Chàng không muốn điều thắc mắc của chàng lại trở thành một vấn đề lớn khiến những người khác phải quan tâm, dò hỏi. Đức vua cũng không mặc trang phục hoàng gia trong chuyến đi của mình và đơn giản chỉ nói với những nữ tư tế biết rằng chàng là hậu duệ của vua Peleus, vua thành Phthia. Trả lời câu hỏi của chàng, một nữ tư tế đọc hai câu thành ngữ bởi nàng luôn tiên đoán tương lai thông qua các câu thành ngữ và những vần thơ mượt mà. Aegeus cảm thấy khó hiểu bởi nữ tư tế không nói rõ ràng mà thường nói bóng gió khiến người nghe hiểu lệch theo một hướng khác. Chính vì chẳng bao giờ nàng nói trực tiếp vào vấn đề được hỏi nên dù có chuyện gì xảy ra thì nàng vẫn không hề nói sai.

Aegeus hoàn toàn bị bối rối trước câu trả lời chàng nhận được. Chàng không trở về Athen ngay mà đến gặp hoàng tử của thành Troezen là Pittheus để xin lời khuyên của chàng. Vào thời đó, mọi người cho rằng Pittheus là người thông thái và khôn ngoan nhất trong tất cả những người trần tục sống trong thế giới này. Pittheus không biết Aegeus là ai nhưng nhìn dáng vẻ bề ngoài của chàng, Pittheus có thể nhận ra đây là một người đàn ông cao quý, thuộc tầng lớp quý tộc tôn kính. Dưới con mắt của chàng Aegeus là một người đàn ông cao lớn, đẹp trai lại lịch sự nên chàng tiếp đón Aegeus một cách ân cần, niềm nở và giữ chàng ở lại nhà một thời gian, chiêu đãi chàng những bữa ăn ngon và những buổi tiệc tùng nhảy múa hoặc những bữa tiệc đi săn thú vị.

Pittheus có một người con gái vô cùng đáng yêu tên là Aethra. Nàng và Aegeus đem lòng yêu mến nhau và tình yêu của họ sâu nặng đến nỗi họ muốn xin đức vua cho họ tổ chức đám cưới. Vào thời đã trước khi tổ chức một đám cưới, chú rể phải có đồ lễ tương đương một số lượng gia súc nào đó với cha của cô dâu rồi mới có thể lấy cô gái đó về làm vợ. Tất nhiên vì Aegeus đang lang thang nên chàng không có gia súc để đổi lấy người mình yêu. Tuy nhiên, cũng có một phong tục khác: Nếu người cầu hôn có những hành động dũng cảm và hữu ích thì đức vua sẽ thưởng cho người đó một người con gái do đích thân đức vua lựa chọn. Aegeus muốn tận dụng cơ hội này để lấy được người chàng yêu mến. Đúng vào thời gian đó có một nhóm cướp biển đáp thuyền vào Troezen và tấn công thành phố. Aegeus thầm cảm ơn các vị thần đã tạo cho chàng một cơ hội để chứng minh sức mạnh và tài năng của mình. Chàng Aegeus chỉ huy quân đội của Pittheus và chiến đấu vô cùng dũng cảm bất chấp những tên cướp biển hung hãn có thể giết chết chàng bất cứ lúc nào nếu chàng không chạy. Aegeus không chỉ giết chết tên thuyền trưởng, đánh bại đám tùy tùng cửa hắn ta mà còn lấy được những con thuyền đầy của cải vàng bạc, đồng, sắt và nô lệ. Đây chính là thứ thay cho đồ lễ mà Aegeus trả cho cô dâu của mình và thế là hai người tổ chức đám cưới linh đình tại hòn đảo đó. Pittheus nghĩ rằng mình là một người đàn ông vô cùng may mắn bởi ông không có con trai nhưng lại có một chàng rể quý có thể bảo vệ vương quốc nhỏ bé của ông khỏi sự tấn công của những kẻ khác. Ông hứa sau khi ông chết, ngai vàng sẽ thuộc về Aegeus. Ông không có gì đáng phải phàn nàn, trách móc người con rể dũng cảm này bởi chàng sẵn sàng chiến đấu hết sức mình để bảo vệ quê hương, bảo vệ ngai vàng của cha vợ mình.

Mặc dù mọi người tin rằng Pittheus là một nhân vật hết sức thông thái, khôn ngoan nhưng về vấn đề này ông lại là một kẻ vô cùng ngốc nghếch. Ông không bao giờ biết được thân phận thực sự của Aegeus là đức vua của Athen, và ngay cả nàng Aethra cũng không hề biết điều đó. Trong một thời gian ngắn, Aegeus cảm thấy mệt mỏi với nàng Aethra xinh đẹp: Chàng không còn hứng thú với nàng và cũng không còn yêu nàng như trước. Tuy nhiên, Aethra vẫn một lòng yêu thương chàng, dành cho chàng những tình cảm tốt đẹp nhất. Aegeus cảm thấy quá lo lắng về tình hình nước mình và muốn quay trở về nước để cai trị ngai vàng của mình bởi chàng sợ rằng Pallas sẽ chiếm ngai vàng của chàng. Trong thời gian đó địa vị mạnh hơn tình thân. Nhiều người sẵn sàng ám hại anh chị em ruột trong gia đình để cướp ngôi. Sau đó chàng nói chuyện với Aethra về chuyến đi dài ngày mà chàng buộc phải tiến hành vì một vài nguyên nhân bí mật, không thể tiết lộ cho người khác và chính bản thân chàng cũng không biết liệu chàng có thể sống sót mà quay trở về không. Chàng không muốn nói thật những gì mình đang nghĩ với Aethra bởi như vậy sẽ khiến nàng vô cùng đau khổ. Trên thực tế, Aegeus cũng không còn yêu nàng như trước nữa, chàng buộc phải đưa ra một vài nguyên nhân hữu ích để giải thích cho chuyến đi của mình. Aegeus có đất nước riêng của chàng nên chàng không thể ở lại theo mong muốn của Aethra.

Nàng Aethra khóc lóc thảm thiết, đôi khi nàng nghĩ rằng người lạ vừa cưới nàng làm vợ không phải là một người thường mà là một vị thần. Sau một thời gian chung sống với người phụ nữ dưới trần gian, vị thần đó phải quay trở về núi Olympus, ngôi nhà của các vị thần. Nàng nghĩ Aegeus là một vị thần và chàng nhanh chóng quên nàng bởi các vị thần không bao giờ nán lại lâu với những người phụ nữ yêu họ. Không chỉ có Aethra mà rất nhiều người phụ nữ khác vào thời bấy giờ có suy nghĩ như vậy. Nhiều người còn khao khát được chung sống với thần linh dù chỉ trong một thời gian ngắn. Họ sẵn sàng hi sinh mọi thứ để có được cơ hội đó. Họ biết các vị thần không bao giờ chung sống với họ cả đời, nhưng chỉ một tháng, một năm được sống bên các vị thần cũng đã là hạnh phúc rồi.

Cuối cùng Aegeus đưa Aethra đến một thung lũng hẹp hoang vắng giữa những khu rừng. Trong thung lũng có một dòng suối chảy từ trên núi xuống và bên cạnh đó là một tảng đá rơi xuống phía dưới từ một vách đá dựng đứng do ảnh hưởng của một trận động đất lớn cách đó rất lâu rồi. Thời gian trôi đi, tảng đá vẫn nằm đó nhưng rêu mọc xanh rì bao phủ kín toàn bộ tảng đá lớn. Aethra đang thắc mắc không hiểu tảng đá này có gì đặc biệt mà chàng phải dặn dò nàng như vậy thì Aegeus nói:

- Đã đến lúc chúng ta phải nói lời chia tay và chỉ có các vị thần mới biết chính xác bao giờ chúng ta có thể gặp lại nhau. Có thể nàng sẽ mang thai và nếu đó là con trai thì nàng hãy đợi cho đến lúc nó trưởng thành, khỏe mạnh, hãy dẫn nó đến đây, đến chính tảng đá này. Nàng hãy nhớ là chỉ được phép đi hai người đến đây - nàng và con trai của chúng ta. Nàng hãy bảo nó lăn tảng đá lên và nếu nó làm được điều đó thì nó sẽ tìm thấy một vài thứ ở bên dưới. Hãy để con trai của chúng ta xem xét mọi thứ thật kĩ càng và làm những điều các vị thần truyền vào trong ý chí của nó. Nàng hãy bảo con trai lấy thanh kiếm và đôi dép dưới này rồi đi đến gặp ta. Ta sẽ nhìn vào đó để nhận ra đó là con trai của mình. Tất nhiên, ta rất yêu con trai nhưng có nhiều việc ta không thể kiểm soát được nên đành nhờ đến sự giúp đỡ của nàng. Nếu sinh hạ được con trai, nàng hay nuôi con thật tốt nhé, để sau này nó trở thành một chiến binh thực sự.

Ba ngày sau kể từ hôm Aegeus nói những lời trên, chàng ra đi. Aethra tỉnh dậy và không thấy chồng mình ở bên cạnh. Nàng đứng bật dậy chạy khắp nơi tìm chàng, vừa đi vừa gọi tên Aegeus. Tuy nhiên, chẳng có ai đáp lại nàng bởi Aegeus đã đi được một quãng đường khá xa. Từ đó trở đi không ai còn nhìn thấy chàng trên đất nước Troezen. Những người dân nơi đây nghĩ rằng chàng là một vị thần bất tử bởi chỉ có thần linh mới dũng cảm, tài giỏi và đẹp trai đến như vậy. Họ ngưỡng mộ chàng và cũng ngưỡng mộ Aethra vì đã có được tình yêu của một vị thần. Không ít các cô gái ghen tị với những gì Aethra có nhưng trên thực tế nàng chẳng có gì ngoài sự nhớ nhung và tình yêu lớn dành cho người đàn ông đã rời bỏ nàng. Trong khi đó nàng công chúa xinh đẹp luôn buồn bã, nhớ nhung Aegeus giống như một đóa hoa huệ tây gầy yếu bị sương mù bao phủ trong khu vườn của một người đàn ông giàu có. Nàng đâu có cần tất cả những hư danh kia, nếu có Aegeus ở bên cạnh, nàng sẵn sàng từ bỏ mọi thứ để theo chàng đi đến bất cứ nơi nào chàng muốn.
 
522 ❤︎ Bài viết: 420 Tìm chủ đề
Chương 32

Thời niên thiếu của Theseus

Thời gian trôi đi, Aethra phát hiện ra mình đã có thai. Chín tháng mười ngày sau, nàng sinh hạ được một cậu con trai kháu khỉnh. Đây chính là niềm an ủi lớn nhất của nàng và nàng nghĩ rằng nàng có thể nhìn thấy hình ảnh của Aegeus qua cậu con trai bởi cậu bé giống cha như đúc. Trên thực tế, ngay cả bản thân nàng cũng. Không biết tên thật của Aegeus là gì, khi họ cưới nhau hai người vẫn chỉ là những kẻ xa lạ. Tình yêu của họ tiến triển quá nhanh chóng nên họ cũng không có nhiều thời gian bên nhau.

Không cần nói thì ai cũng phải thừa nhận cậu bé rất đẹp trai, có thân hình rắn chắc cân đối và khỏe mạnh. Ngay khi biết đi, cậu bé đã thường xuyên cãi vã với những đứa trẻ khác cùng tuổi, đánh nhau với chúng nhưng không bao giờ gây ra bất cứ nguy hiểm nào cho những cậu bé khác. Tất cả những thứ cậu khơi mào ra chỉ để giải trí, để cậu cũng vui chơi cùng những người bạn khác. Cậu bé không phải là một đứa trẻ nhã nhặn, dễ thương nhưng lúc nào cậu cũng dịu dàng với mẹ mình. Cậu rất yêu quý mẹ bởi từ nhỏ cậu đã không biết đến bàn tay chăm sóc của cha, mẹ cậu vừa là cha vừa là mẹ. Tuy nhiên, ngay từ khi còn nhỏ cậu đã chẳng biết sợ bất cứ thứ gì. Cậu lại thường khiến cho mẹ cậu sợ hãi chỉ vì những chuyện lẽ ra không nên có. Hồi còn bốn đến năm tuổi cậu thường cầm cây cung và những mũi tên nhó của mình lang thang vào trong rừng và ở lại trong đó một mình mấy ngày liền. Không ai biết cậu ờ đâu để đi tìm, nhưng mấy ngày sau, cậu tự tìm đường quay trở về nhà trên tay cầm một con chim hoặc một con rắn cậu bắn được và có một lần cậu lếch thếch lôi vê một con hươu có kích thước gần bằng cơ thể cậu. Ngay từ khi còn nhỏ mẹ cậu đã luôn lo lắng cho con trai mình, nàng sợ rằng có thể cậu sẽ bị một vài con lợn rừng hung dữ giết chết bởi khi vào trong rừng cậu bắn tất cả những con thú nào cậu gặp trên đường hoặc cũng có thể những đứa trẻ khác vì tức giận sẽ giết chết cậu trong khi cậu cãi lộn với chúng. Chẳng bao giờ cậu bé để cho mẹ mình có một ngày bình yên không phải lo lắng về điều này hay điều khác. Tuy nhiên, dường như những đứa trẻ khác lại tìm cách không gây lộn với Theseus (Aethra đặt tên cho cậu con trai hiếu động của mình là Theseus) bởi cậu bé rất nóng tính và có đôi tay khỏe mạnh. Các cậu bé khác không đủ khỏe để có thể thắng được cậu nên cách tốt nhất là chúng sẽ tránh những cuộc cãi vã với cậu con trai bướng bỉnh này. Còn đối với các con thú, lúc thì cậu tỏ ra bình tĩnh, lúc thì nóng lòng muốn bắn trúng mục tiêu và rõ ràng không ai dạy cậu làm thế nào để có thể đối mặt với những con thú dữ. Tất cả những gì Theseus có được đều do tự cậu học được bởi cậu làm gì có cha để chỉ bảo cách săn bắn, chiến đấu.

Càng ngày Aethra càng tự hào về cậu con trai của mình và nàng bắt đầu hi vọng rằng khi nào cậu lớn lên sẽ có thể lăn tảng đá lớn trong thung lũng và lấy được những kỉ vật mà cha cậu dành tặng cho cậu. Khi còn còn nhỏ nàng không hề kể cho Theseus về điều này bởi nàng biết con trai mình là một người nóng tính nếu biết bất cứ chuyện gì quá sớm mà chưa có khả năng thực hiện, cậu bé sẽ dễ trở nên tức giận và chán nản. Cứ mỗi lần hai mẹ con đi dạo trong rừng hay trên bờ biển, nàng lại bảo con trai hãy thử sức của mình bằng cách nâng những hòn đá lớn lên. Tất nhiên, phải mất một thời gian dài Theseus không thể nâng nổi, bởi đá có trọng lượng nặng hơn cậu rất nhiều lần. Nhưng rồi một ngày kia cậu đã thành công, Aethra vui sướng chạy đến hôn con trai và khen ngợi cậu. Rồi nàng kể cho con trai nghe những câu chuyện của vị anh hùng nổi tiếng Heracles mà tên tuổi và tiếng tăm của chàng vang đến khắp mọi nơi trên đất nước Hi Lạp. Thực tế Theseus không phải là người dễ bỏ cuộc, mỗi khi nâng vật nặng không thành công, sáng hôm sau cậu sẽ dậy thật sớm để thử sức. Cậu biết rằng có rất nhiều người đàn ông sau khi vừa ngủ dậy có thể nâng được một vật có trọng lượng rất nặng, có thể nặng hơn trọng lượng họ có thể nâng vào buổi chiều muộn.

Khi Theseus được bảy tuổi, Aethra tìm cho cậu con trai mình một thầy dạy có tên là Counidas. Bất cứ một hoàng tử nào cũng phải được hưởng một nền giáo dục tốt, như vậy khi lớn lên họ sẽ trở thành những dũng sĩ tài giỏi. Aethra đặt tất cả hi vọng vào cậu con trai của mình và cậu cũng chính là nguyên nhận duy nhất khiến nàng tiếp tục cố gắng, tiếp tục sống trên cõi đời này. Counidas dạy cho cậu nghệ thuật làm tổ chim và đi săn, làm thế nào có thể điều khiển được những con chó và làm thế nào để điều khiển được xe ngựa, cách rèn kiếm, rèn khiên và cách ném lao. Đó là tất cả những thứ tối thiểu mà một người đàn ông vào thời bấy giờ cần biết. Theseus học rất nhanh bởi cậu không chỉ thông minh mà ngay từ hồi nhỏ xíu cậu đã thích vũ khí, thích săn bắn và chiến đấu. Ngoài ra, ông còn dạy cho chàng những thứ mà rất ít người trong đất nước Hi Lạp biết được bởi Counidas đến từ hòn đảo Crete giàu có. Khi còn ở quê hương của mình, Counidas đã giết chết một người trong khi ông và người đó cãi vã nhau nên phải chạy trốn đến Troezen để thoát khỏi sự trả thù của anh em, họ hàng của người đàn ông đã chết. Trên đảo Crete, rất nhiều người biết đọc và biết viết trong khi đó hầu như không ai trong nước Hi Lạp có khả năng này. Và Counidas đã dạy Theseus học cách đọc và viết chữ. Điều này cũng là một điểm mạnh của Theseus và nó cũng giúp ích rất nhiều cho cậu về sau.

Khi Theseus mười lăm tuổi, theo phong tục dành cho các hoàng tử trẻ, chàng đến đền thờ Delphi nhưng chàng đến đó không phải để xin thần Apollo giải đáp những thắc mắc của mình mà để cắt bộ tóc dài tế thần để tỏ lòng tôn kính. Chàng cắt chùm tóc trên trán, như vậy khi chiến đấu, kẻ thù sẽ không thể túm lấy tóc của chàng đề kéo đi. Chắc các bạn sẽ nghĩ Theseus là một người quá lo xa nhưng thực ra chàng cũng có lí do của mình. Chàng dự định khi tham gia chiến tranh, chàng sẽ chiến đấu tay đôi, chiến đấu trực tiếp chứ không đứng từ xa để bắn cung hoặc ném lao.

Khi chàng lớn lên và chàng cho rằng mình đã trở thành một người đàn ông đích thực, Theseus luôn hỏi mẹ về cha mình, tại sao từ nhỏ đến giờ chàng lại chưa bao giờ gặp cha. Aethra kể cho con trai nghe toàn bộ câu chuyện về sự gặp gỡ của Aegeus và nàng, về đám cưới của hai người và về hôm chồng nàng rời nàng đi. Đến tận bây giờ nàng vẫn không hề nghe thấy bất cứ tin tức gì của chồng nhưng nàng hi vọng rồi một ngày kia chồng nàng sẽ trở lại, hoặc ít nhất gửi cho nàng một chút tin tức về mình. Trên thực tế, ngay cả mẹ của Theseus cũng chẳng biết nhiều về cha của chàng bởi họ chỉ sống với nhau trong một thời gian quá ngắn ngủi. Theseus có thể tự tìm ra tất cả các thông tin liên quan đến chàng, điều mà không một người nào khác có thể làm được. Chàng nghĩ rằng chàng đã lớn và chàng hoàn toàn có quyền biết về cha, biết về những người họ hàng của chàng. Bao giờ cũng vậy, các cậu con trai luôn muốn tự hào về cha mình nhưng thậm chí Theseus còn không biết cha cậu là ai thì làm gì có chuyện chàng cảm thấy tự hào hay khâm phục những chiến công mà cha chàng đã làm được. Ai dám chắc cha chàng là một dũng sĩ tài giỏi. Tuy nhiên, theo những gì mẹ kể, Theseus tin rằng cha chàng là một người đàn ông khỏe mạnh, dũng cảm.

Aethra không kể cho Theseus nghe về bí mật của tảng đá lớn bởi nàng sợ rằng con trai của nàng sẽ lại rời nàng ra đi. Nàng không biết bên trong tảng đá giấu những gì nhưng nàng biết rằng trước sau gì nàng cũng phải nói cho Theseus biết về lời dặn dò của cha chàng trước lúc ra đi. Nàng muốn Theseus ở bên cạnh nàng thêm một thời gian nữa, và nàng biết rất rõ tính cách của con trai mình. Ngay khi biết được bí mật đó chàng sẽ bằng mọi giá lăn tảng đá lớn đó đi để xem bên trong có những gì và sẽ chào từ biệt mẹ rồi lên đường đi tìm cha. Một khi Theseus ra đi thì nàng sẽ mất con trai. Càng lớn, Theseus càng giống cha như đúc và điều này khiến Aethra nhớ người yêu của mình da diết. Càng nhớ nàng càng thấy buồn tủi và đau khồ bởi dù hai người đã cưới nhau nhưng nàng lại không được làm tròn bổn phận của một người vợ tốt. Nàng cũng không biết giờ này chồng nàng còn nhớ tới nàng không, hay với chàng nàng chỉ là một cơn gió nhẹ khẽ thổi qua mà chẳng để lại bất cứ ấn tượng gì sâu đậm.

Khi Theseus mười chín tuổi, chàng nói với mẹ mình rằng chàng sẽ đi đến tất cả mọi nơi trên đất nước Hi Lạp rộng lớn để tìm kiếm cha mình. Dù phải lật tung cả thế giới này chàng cũng quyết tâm làm cho được việc đó. Aethra nhận thấy cậu con trai của mình đã thực sự trưởng thành và quyết tâm thực hiện những gì chàng nói. Một ngày kia nàng đưa Theseus vào trong thung lũng và đến bên cạnh tảng đá lớn rồi bảo con trai ngồi xuống cùng mình. Nàng im lặng lắng nghe xem xung quanh có bất cứ tiếng động nào không bởi trước khi đi Aegeus đã dặn nàng chỉ được nói bí mật này ra khi không có người thứ ba. Nàng im lặng như thể nàng đang lắng nghe một bài hát tuyệt vời của dòng suối chảy từ độ cao hàng trăm mét xuống cái ao sâu, nước trong xanh. Thực ra, nàng chú ý lắng nghe để chắc rằng không có người thợ săn nào và cũng không có những đôi yêu nhau nào đang ở gần họ trong khu rừng. Thứ duy nhất nàng nghe được là những bài hát của dòng nước chảy, tiếng chim chóc, tiếng hét của chó săn hoặc tiếng cành củi khô gãy sau mỗi bước chân của con người.

Cuối cùng khi chắc chắn không có ai đang ở gần, nàng thì thầm với Theseus và kể cho chàng nghe về cha của cậu. Trước khi rời đi, chàng đã đưa nàng đến nơi này và chỉ cho nàng tảng đá lớn rêu phủ đầy và bảo rằng khi nào con trai có thể nâng được tảng đá đó lên thì sẽ tìm thấy một số vật kỉ niệm và con trai của họ phải làm theo những gì các vị thần mách bảo. Theseus lắng nghe chăm chú như muốn nuốt từng lời, từng chữ của mẹ mình. Chàng nói:

- Nếu cha con đã nâng được hòn đá này lên và đặt một số kỉ vật trong đó thì con cũng có thể làm được điều đó, có thể bây giờ con chưa làm được nhưng một ngày nào đó con sẽ cao lớn và khỏe mạnh giống như cha của con.

Sau đó chàng thử nâng tảng đá lên, chàng cố gắng mãi, cố gắng mãi nhưng chẳng thể khiến cho tảng đá di chuyển. Chàng gần như đã kiệt sức, còn tảng đá vẫn nằm im không di chuyển như thể nó có rễ ăn sâu xuống lòng đất. Thấy mình không thể làm gì được, chàng ngồi phịch xuống bãi cỏ bên cạnh mẹ và nằm xuống nhắm mắt suy nghĩ, không nói gì. Chàng thở mạnh và gấp bởi chàng dồn toàn bộ sức lực của mình vào việc đẩy tảng đá lớn ra khỏi vị trí của nó, nên hai tay chàng bị chảy máu. Aethra đặt tay lên mái tóc dài của con trai và im lặng. Nàng thầm nghĩ: Năm nay mình sẽ chưa phải nói lời tạm biệt với con trai. Mặc dù mình rất muốn nó thực hiện được mong muốn của mình nhưng từ sâu trong trái tim của người mẹ, mình không muốn con trai nâng được tảng đá lên.

Họ ở trong rừng rất lâu và chẳng ai nói với ai câu gì. Cuối cùng, Theseus đứng dậy, hôn mẹ mình và dang rộng tay ra. Chàng nói:

- Không phải hôm nay mẹ ạ. Nhưng con tin rồi một ngày gần đây, con sẽ làm được điều đó.

Aethra không nói gì nhưng nàng tự nhủ với mình:

- Mẹ hi vọng là con chưa thể làm được điều này trong nhiều ngày tới. Mẹ sợ con sẽ vĩnh viễn rời xa mẹ.

Sau đó hai người cùng nhau quay trở về nhà của đức vua Pitthes, họ chỉ nói với nhau một vài câu chuyện bình thường. Trong khi ăn tối, Theseus nói rằng chàng sẽ đi ngủ sớm với hi vọng sẽ mơ một giấc mơ may mắn. Chàng đứng dậy, quay trở về phòng để đi ngủ. Lúc này, mặc dù chưa nâng được tảng đá lớn nhưng trong lòng Theseus ngập tràn hi vọng, vậy là cha chàng cũng để lại cho chàng một vài kỉ vật nhưng chàng lại không thể biết được chúng là cái gì. Chàng nuôi hi vọng, nuôi quyết tâm sẽ lăn bằng được tảng đá ra khỏi vị trí cũ của nó. Chàng cầu nguyện các vị thần hãy xuất hiện trong giấc mơ của chàng và chỉ cho chàng biết chàng nên làm gì lúc này.

Aethra cũng quay trở về phòng riêng của mình nhưng nàng không hề cảm thấy buồn bã bởi nàng nghĩ rằng con trai nàng sẽ ở lại bên nàng trong một quãng thời gian dài nữa. Đôi khi nàng thầm mong, Theseus không bao giờ nâng được tảng đá lên nhưng nàng lại tự bắt mình không được suy nghĩ như vậy bởi nàng không thể chỉ vì tình cảm của mình mà muốn con trai suốt đời ở bên cạnh. Chàng có ước mơ cửa mình, có hoài bão của mình và khao khát được gặp cha dù chỉ là một lần trong đời.

Tuy nhiên, đêm hôm đó Theseus thức dậy, chàng đi giày, mặc áo choàng vào và dự định làm một việc gì đó, chàng cầm lấy thanh kiếm bằng đồng của mình và đi vào trong phòng của người quản gia. Theseus lấy một miếng da cừu nhỏ và một chút thức ăn mang đi. Chàng để những thứ vừa lấy được vào trong túi rồi đeo qua cổ. Cuối cùng, chàng đi ra khỏi sân và đi bộ về phía thung lũng hoang vắng. Chàng quấn chiếc áo choàng màu đỏ tía bằng lông cừu của mình xung quanh người và nằm ngủ trên cỏ với thanh kiếm lăm lăm trên tay.

Khi tỉnh dậy vào buổi sáng sớm, Theseus mỉm cười khi nghe thấy những chú chim trong rừng hát vang bài hát chào đón thần bình minh hé rạng. Chàng cảm thấy tâm trạng thật sảng khoái, dễ chịu. Chàng cởi bỏ quần áo rồi nhảy xuống dòng nước lạnh cóng. Khi lên bờ, chàng uống một chút rượu, ăn một chút bánh mì cùng thịt nguội và khởi động cơ thể chuẩn bị di chuyển tảng đá. Đầu tiên, dù có cố gắng hết sức nhưng tảng đá vẫn không di chuyển mà chỉ khẽ lay động. Lần thứ hai cố gắng, chàng có cảm giác tảng đá nâng lên một chút khỏi mặt đất. Sau đó, chàng vận dụng tất cả sức mạnh và ý chí, quyết tâm của mình để nâng tảng đá và kì diệu thay tảng đá đã dịch chuyển sang một bên.

Phía dưới tảng đá chẳng có thứ gì ngoài lớp đất nát, tuy nhiên trong một lỗ nhỏ dưới đáy tảng đá có một túi vải màu đỏ tía. Hình như bên trong túi có thứ gì đó. Theseus mở túi ra và thấy bên trong là một bọc vải lụa trắng. Cha chàng quả là người cẩn thận, ông dùng vải lụa quấn thành nhiều vòng khiến cho chàng vừa tháo ra vừa hồi hộp không biết bên trong là vật gì. Cuối cùng thì lớp vải lụa cũng được tháo ra hết và bên trong cùng là một đôi dép mà các vị vua vẫn thường đi. Đôi dép được trang trí bằng vàng, bạc và đá quý với những nét họa tiết thật cầu kì nhưng rất đẹp. Ngoài ra, còn có một thanh kiếm tuyệt đẹp mà từ trước đến nay chàng chưa được trông thấy bao giờ. Chuôi cửa thanh kiếm làm từ đá pha lê trong suốt và thông qua lớp pha lê bạn có thể nhìn thấy vàng và những bức vẽ một chú sư tư đang đi săn được mạ vàng và bạc khác nhau. Vỏ bọc của thanh gươm làm bằng da, lưỡi kiếm bằng đồng với hình dáng độc đáo chạy dài từ trên xuống dưới; lưỡi kiếm thẳng, sắc có hai cạnh, rất mềm nhưng đồng thời cũng rất khỏe. Theseus chưa bao giờ nhìn thây một thanh kiếm nào đẹp đến như vậy. Chàng cầm kiếm trên tay mà cảm thấy thật thoải mái, vừa vặn như thể nó được làm ra để dành tặng riêng cho chàng.

Theseus nhận thấy rằng đây là thanh kiếm của một vị vua và chàng cho rằng nó không được làm ở nước Hi Lạp bởi không có một người thợ rèn nào trong nước Hi Lạp có thể làm được một tác phẩm tuyệt vời như thế này. Chàng xem xét thanh kiếm một cách cẩn thận và nhận thấy vài kí tự được khắc ở chuôi kiếm không phải là những chữ cái mà người Hi Lạp sử dụng trong thời này mà là các dấu hiệu của người Crete mà thầy giáo Connidas đã dậy chàng cách đọc trong nhiều giờ mệt mỏi. Theseus không phải là một người ham học, chàng thích được vào rừng săn bắn vui chơi hơn là dành hàng mấy tiếng đồng hồ liền học và viết những thứ mà chính chàng cũng không biết sau này mình có sử dụng hay không. Tuy nhiên, bây giờ thì chàng thầm cảm ơn thầy giáo vì đã dạy chàng chữ của người Crete.

Theseus nhìn kĩ những kí tự này và đọc: Icmahus đã làm thanh kiếm này. Thanh kiếm này là của ta, đức vua Aegeus của Athen.

Bây giờ thì Theseus đã biết được điều bí mật mà chính mẹ chàng cũng không biết. Cha của cậu chính là Aegeus, đức vua hợp pháp của Athen. Theseus đã từng nghe nói về ông và chàng biết rằng hiện tại ông vẫn đang sống nhưng cuộc sống của ông là một chuỗi ngày đau khổ và rắc rối. Aegeus không có con trai với người vợ Hi Lạp của mình trong khi đó năm mươi người con trai của Pallas, em trai ông luôn tỏ ra khinh thường ông và cả ngày ăn uống, vui đùa trong đại sảnh của ông mà không nể nang bất cứ ai. Chúng cướp bóc, lấy người của ông đi bất chấp mọi quy định của triều đình. Chúng nói rằng một vị vua mà không có con trai thì không xứng đáng làm vua, chắc chắc các vị thần căm ghét ông, không muốn cho ông tiếp tục cai trị đất nước này nên mới trừng phạt ông như vậy. Chúng luôn dùng những lời lẽ cay độc và xấc xược để nói với đức vua và cũng là người bác ruột của mình. Dù vẫn ngồi trên ngai vàng nhưng thực tế Aegeus không hề có quyền lực gì trong vương quốc của chính mình. Bản thân Aegeus cũng không còn tâm trí đâu để giải quyết những sự việc này. Ông luôn buồn bã vì không có con trai, lại phải đối mặt với rất nhiều vấn đề nên dần dần ông mất đi quyền lực của một vị vua hợp pháp.

Theseus tự nhủ với mình: Bây giờ cha ta đang cần ta hơn bao giờ hết. Trước kia ta chưa biết cha là ai nên không sao nhưng một khi ta đã biết tình cảnh khốn khổ của cha thì ta không thể đứng yên mặc kệ những kẻ kia hoành hành trên vương quốc của ông.

Sau đó chàng gói thanh kiếm và đôi dép lại rồi quay trở về lâu đài của Pittheus để mọi người không thắc mắc. Chàng trở về lâu đài khi mặt trời mới nhô lên khỏi đỉnh núi phía đông. Chàng đi thẳng lên phòng của mẹ nơi bà đang ngồi quay sợi dệt vải. Theseus đưa cho mẹ xem thanh kiếm và đôi dép mà cha chàng để lại. Aethra sửng sốt đánh rơi con quay sợi bởi bà không ngờ rằng con trai của mình lại có thể lăn được tảng đá lớn đó chỉ sau một đêm. Bà đã hi vọng Theseus ở lại với bà trong một thời gian nữa nhưng bây giờ thì điều đó sẽ không xảy ra. Aethra ôm chầm lấy con trai bật khóc. Theseus hiểu được tâm trạng của mẹ mình lúc đó, chàng hôn lên tay mẹ và an ủi bà. Aethra lau khô nước mắt và khen ngợi sức mạnh và lòng dũng cảm của con trai. Vậy là con trai của nàng đã trở thành một người đàn ông thực sự, bao nhiêu năm qua, nàng chăm sóc, lo lắng cho con không uổng công. Nàng buồn vì sắp phải rời xa con trai nhưng cũng thấy rất hạnh phúc và tự hào vì con trai mình đã trưởng thành. Nàng nói:

- Đây là thanh kiếm và đôi giày của cha con để lại cho con. Tuy nhiên, các vị thần đã lấy đi sức mạnh và sự dũng cảm của ông ấy. Nếu gặp ông ấy cách đây hai mươi năm thì chắc chắn con sẽ ngưỡng mộ ông vì ông là một người đẹp trai, phong độ, dũng cảm và mạnh mẽ. Ta không biết tại sao bây giờ ông lại rơi vào tình cảnh này. Mọi người đều nói rằng Aegeus ở Athen không hề làm chủ ngôi nhà của ông, con trai của em trai ông cùng mụ phù thủy Medea từng là vợ của Jason thống trị cả vương quốc, chúng liên kết với nhau biến Aegeus thành một ông vua bù nhìn có ngai vàng nhưng không có quyền lực. Bây giờ ta mới biết chồng của ta chính là Aegeus. Thì ra từ trước đến giờ ta nghe thấy rất nhiều tin tức của chàng mà không hề biết.

Theseus vừa ôm mẹ vừa nói:

- Bây giờ thì cha con rất cần có một cậu con trai. Mẹ ơi, con phải đi đến giúp cha và là người thừa kế hợp pháp của vương quốc. Khi nào mọi việc trở nên tốt đẹp, con sẽ quay trở về đón mẹ đến đó cùng con và chúng ta sẽ sống một cuộc sống hạnh phúc, sẽ cai trị người dân Cecrops, những người luôn buộc tóc bằng những con châu chấu bằng vàng. Với con mẹ là người quan trọng nhất, chính vì vậy dù thế nào thì con cũng sẽ quay về đón mẹ.

- Con trai của ta, dù ta rất muốn con ở bên cạnh mình nhưng như vậy là không công bằng. Con hãy đi đi bởi cha con đang rất cần con. Ta ở nhà sẽ luôn cầu mong các vị thần đi theo bảo vệ con. Con hãy chuẩn bị một con thuyền tốt với năm mươi người thủy thủ bởi nếu đi bằng đường bộ thì phải mất rất lâu, rất lâu con mới có thể đến được Athen. Hơn nữa, đi đường bộ con sẽ phải đối mặt với rất nhiều nguy hiểm, với vực thẳm, với những con quái vật hung dữ, rất nhiều tên khổng lồ độc ác và những người đàn ông khát máu.

- Mẹ yêu quý của con! - Theseus nói - Con phải đi bằng đường bộ bởi vì con sẽ không được biết đến ở Athen, không giúp gì được cha con một khi con không biết rõ điều gì đang xảy ra trên đất nước của cha. Con biết nếu đi bằng đường bộ con sẽ phải đối mặt với rất nhiều nguy hiểm nhưng con sẽ tiêu diệt những tên khổng lồ những kẻ cướp hung hãn trên đường và đem lại hòa bình cho mọi người. Bằng cách đó, con sẽ dành được tình cảm yêu mến của người dân và điều này rất có lợi cho con về sau. Con biết mẹ rất lo lắng cho sự an toàn của con nhưng mẹ hãy yên tâm bởi con trai mẹ là một chàng trai kiên cường, không phải ai cũng có thể hạ gục được. Con hứa sẽ quay trở về nhà an toàn để đón mẹ đi cùng con. Đêm nay con sẽ lên đường mẹ ạ. Mẹ ở nhà phải tự chăm sóc mình, giữ gìn sức khỏe và đợi con về.

Theseus cảm thấy rất buồn khi phải chia tay mẹ chàng bởi suốt gần hai mươi năm qua, chàng chưa từng xa mẹ một ngày. Tất cả mọi buồn vui, những suy nghĩ và chí hướng phấn đấu của chàng đều có sự hiện diện của mẹ. Mẹ chàng là người chia sẻ tất cả mọi thứ, dành cho chàng trọn vẹn tình yêu của bà. Nhưng dù sao chàng vẫn phải ra đi, hơn lúc nào hết cha của chàng đang cần chàng. Đêm xuống, Theseus lên đường. Chàng mang theo thanh kiếm của Aegeus và đôi dép được trang trí bằng vàng rất đẹp. Theseus lên đường với một sự quyết tâm lớn và ý chí sắt đá.
 
522 ❤︎ Bài viết: 420 Tìm chủ đề
Chương 33

Những chuyến thám hiểm của Theseus

Theseus đi suốt đêm và ngày hôm sau chàng nằm nghỉ ngơi trong lều của một người chăn thả gia súc. Chàng quyết định đi vào ban đêm vì chàng không muốn mọi người phải bịn rịn chia tay. Người chăn gia súc đối xử với chàng rất tốt, mời chàng ăn bánh mì, uống sữa và bảo chàng hãy chú ý tới một người có tên là Maceman, anh ta là người bảo vệ con đường hẹp với vách đá dựng đứng phía trên và vách núi sâu thẳm phía dưới. Ông nói:

- Không có một người bình thường nào có thể đánh bại Maceman bởi ông ta có một chiếc trùy lớn bằng sắt. Chiếc dùi cui đó không bao giờ vỡ bởi đó là sản phẩm của một vị thần trên đỉnh Olympus. Maceman khỏe bằng mười người đàn ông gộp lại mặc dù đôi chân của ông ta không đủ khỏe để đỡ toàn bộ cơ thể của mình bởi ông ta có một thân hình lực lưỡng và đôi tay chắc khỏe. Mọi người nói rằng ông ta là con trai của thần què chân Hephaestus, chính là người làm ra chiếc trùy sắt ông ta vẫn dùng. Trên thế giới này không có một chiếc này thứ hai như vậy đâu. Tôi không biết có biết bao nhiêu người phải bỏ mạng dưới bàn tay của Maceman rồi, nhưng có điều chắc chắn rằng xung quanh ngôi nhà ông ta sinh sống xương trắng chất thành đống.

- Chẳng lẽ tôi lại phải sợ một người đàn ông bị què ư? - Theseus đáp lại - Mặc dù hắn ta là một kẻ khỏe mạnh, hung dữ nhưng liệu tôi có thể đi qua đoạn đường đó một cách an toàn vào ban đêm không? Tôi sẽ lợi dụng lúc trời tối, nhẹ nhàng đi bộ qua quãng đó, hi vọng hắn ta không tỉnh dậy.

Người chăn gia súc lắc đầu nói:

- Rất ít người có thể đi qua chỗ Maceman. Thông thường những người khôn ngoan hơn sẽ lựa chọn đi bằng đường thủy chứ không đi theo đường bộ như vậy. Tại sao anh lại không làm theo cách mọi người vẫn làm, đi đường thủy an toàn hơn và tiết kiệm được thời gian.

- Cảm ơn ông già tốt bụng! - Theseus nắm tay người chăn gia súc già - Ông đã rất tốt với con và con sẽ không bao giờ quên ông. Tất nhiên là con biết đi theo đường biển sẽ nhanh hơn và ít nguy hiểm hơn, nhưng con định sau chuyến này sẽ làm cho đường bộ trở thành một con đường an toàn cho tất cả mọi người. Con không sợ những nguy hiểm mà con sẽ gặp trước mặt bởi con đã chuẩn bị tâm lí sẵn sàng cho tất cả mọi việc có thể xảy ra.

Theseus cảm ơn người chăn gia súc và chào từ biệt ông. Chàng tiếp tục lên đường khi hoàng hôn buông xuống. Mặt trời gần như đã khuất sau những ngọn núi phía trước, con đường chàng đi là một con đường dốc. Càng tiến lên phía trước chàng càng cảm thấy khó có thể nhìn thấy lối đi. Con đường chàng đi bị cỏ mọc đầy, hơn nữa trời đã bắt đầu chạng vạng tối. Đi thêm một đoạn đường nữa, màn đêm đã bao trùm, Theseus không dám đi xa hơn bởi phía bên tay trái chàng là một bức tường đá, còn bên phải là một vách đá dựng đứng, nhô ra ngoài đại dương bao la. Chàng sợ rằng nếu mình cứ đi thì khả năng bị rơi xuống vực sâu là rất lớn. Dừng lại một lúc thì chàng nhìn thấy một ánh đèn ở trước mặt, ánh sáng đỏ đang lấp lóe như thể nó phát ra từ một đống lửa lớn vừa được thắp lên. Chàng tiếp tục tiến về phía trước, chàng đi rất chậm và cẩn trọng cho đến khi chàng nhìn rõ đống lửa đang cháy bập bùng trên một phiến đá lớn, rồi chàng nhìn thấy vách đá lớn bên tay trái và đại dương bao la bên tay phải. Phía trước động lửa là một hình dáng đen xì to lớn, Theseus không biết đó là cái gì. Chàng tiếp tục nến lên phía trước cho đến khi chàng nhìn thấy rõ hình dáng to lớn kia chính là người đàn ông hung dữ mà ông già chăn gia súc đã cảnh báo trước với chàng. Hắn ta đang ngồi quay lưng về phía đống lửa như thể đang quan sát thứ gì đó. Người đàn ông gật cái đầu nặng nề của hắn ta với mái tóc đỏ không được cắt tỉa, Theseus đến gần hắn ta. Mặc dù biết đây là một kẻ nguy hiểm, nhưng Theseus nghĩ rằng nếu mình không làm gì hắn thì có lẽ hẳn cũng sẽ chẳng làm hại gì đến mình. Còn một khi hắn đã có ý định xấu thì chàng sẽ phải tùy cơ ứng biến. Chàng hét lên:

- Đây là con đường của ta, ta đang đi trên con đường của ta.

Tên không lồ mở mắt ra với vẻ buồn ngủ và nói:

- Đây là đường của ta, nhà người đang đi trên đường của ta. Ta và chiếc trùy của ta đang canh giữ con đường này. Nhà ngươi có biết không vậy? Nhà ngươi không thể đi qua con đường này nếu không được phép của ta. Một khi ta không rời khỏi đây thì nhà người đừng hòng mà đi qua được.

Theseus không hề tỏ ra sợ hãi, chàng tiếp tục nói lớn, giọng văng vẳng:

- Vậy thì hãy đứng dậy và đi đi.

- Đó là một việc vô cùng khó khăn đối với ta - Người khổng lồ than thở - Đôi chân của ta không đủ sức để nâng đỡ sức nặng cơ thể ta, nhưng đôi tay ta thì rất khỏe mạnh, có thể nâng bất cứ thứ nào lên không trung.

- Để xem nào.

Theseus nói và rút kiếm ra, nhảy vào nơi tên quái vật đang ngồi che lấp cả con đường hẹp. Tên canh đường không thể đứng dậy nên vẫn cứ ngồi đó. Hắn ta vung chiếc trùy lớn của mình về phía Theseus nhưng chàng đã nhảy sang một bên và trong giây phút đó, trước khi tên khổng lồ có thể lấy lại chiếc trùy của mình chàng dùng kiếm đâm xuyên cổ họng hắn ta, tên khổng lồ nằm lăn ra chết. Rõ ràng hắn ta khỏe mạnh hơn Theseus nhưng hắn lại không thể di chuyên bằng chân, chính vì vậy về mặt linh hoạt, hắn thua hẳn chàng. Theseus đã biết tận dụng lợi thế của mình, tấn công vào điểm yếu của kẻ địch khiến hắn không kịp trở tay.

Theseus tự nói với mình: "Ta sẽ dành cho hắn một đặc ân là thiêu xác hắn, như vậy hắn sẽ không phải lang thang bên ngoài ngôi nhà cửa Diêm vương Hades. Ta sẽ để hắn chết một cách yên bình và tạo cơ hội để hắn trở thành thành viên chính thức của thế giới âm phủ."

Nói rồi chàng châm lửa thiêu cơ thể to lớn của tên khổng lồ. Sau đó chàng lùi lại một đoạn, lấy áo choàng khoác quanh cơ thể và nằm ngủ trên một tảng đá gần đó cho đến khi mặt trời chiếu sáng trên bầu trời cao xanh bao la. Đống lửa lớn của tên khổng lồ tắt dần, tắt dần và Theseus nhẹ nhàng nhảy qua đống lửa rồi đi xuống phía dòng suối chảy qua một khu rừng xanh mướt. Trên đường đi, chàng có cây cối, con suối và chim chóc làm bạn với mình. Đi được một đoạn đường khá dài chàng đến một trang trại lớn nơi có nhiều người sinh sống.

Tất cả mọi người đều trầm trồ ngạc nhiên khi nhìn thấy một chàng trai trẻ đẹp trai mang chiếc trùy lớn của tên không lồ gác đường. Kẻ gác đường này đã gây cho họ bao khó khăn trong việc đi lại, giao lưu với các nơi khác. Những người trong trang trại không tin vào mắt mình nữa. Chàng trai này còn trẻ thế mà vượt qua được đoạn đường gian nan đó lại còn lấy được chiếc trùy khổng lồ của con trai thần lửa. Họ vây xung quanh chàng và hỏi:

- Khi anh đến nơi thì hắn ta đang ngủ à?

Theseus mỉm cười và nói:

- Không, hắn vẫn thức. Nhưng bây giờ thì hắn đã ngủ một giấc ngủ vĩnh hằng không bao giờ tỉnh dậy rồi. Tôi đã thiêu cơ thể to lớn của hắn để gió tự cuốn trôi xuống biển. Từ bây giờ trở đi con đường hẹp đó đã được thông.

Nghe đến đây, mọi người trong trang trại sung sướng tán dương Theseus và đội lên đầu chàng một vòng hoa được kết rất đẹp. Họ cũng giết cừu và dê để cúng tế các vị thần trên thiên đàng. Sau đã họ dọn bữa mời Theseus cùng ăn và ríu rít trò chuyện với nhau về việc từ nay họ có thể đi đến Troezen bằng đường bộ mà không sợ phải gặp bất cứ nguy hiểm nào. Họ cảm ơn chàng dũng sĩ dũng cảm.

Sau khi đã ăn uống xong, họ đổ cốc rượu cuối cùng xuống đất để tò lòng tôn kính thần Hermes, thần của sự may mắn. Mọi người hỏi Theseus xem chàng đang định đi đâu mà lại đi một mình như vậy. Chàng đáp lại rằng chàng đang đi đến Athen, thì mọi người ai nấy đều tỏ ra buồn bã. Họ nói rằng:

- Không ai có thể đi bộ qua vùng đất nơi tòa lâu đài Ephyre được xây dựng bởi phía trên nó, Sirius - người bẻ cong những cây thông - có một tòa tháp canh và hắn ta luôn đứng đó để quan sát lối đi. Hắn không để cho bất cứ ai vượt qua cổng của mình.

- Sirius là ai ạ, tại sao hắn ta lại bẻ cong những cây thông? - Theseus hỏi.

- Hắn ta là một người đàn ông rất khỏe mạnh và sau khi bắt được một người qua đường hắn sẽ trói tay chân người đó lại rồi đặt vào giữa hai cây thông. Sau đó hắn uốn cong hai cây thông cho đến khi chúng chạm nhau, buộc người đó vào hai cành cây của mỗi cây thông, sau đó thả tay ra, cây thông bật trở lại vị trí cũ cúa nó và cơ thể của người qua đường sẽ bị xé ra thành hai mảnh. Đó là thú vui của hắn và hắn tỏ ra vô cùng thích thú khi nhìn thấy người khác phải giãy giụa trong đau đớn.

Theseus mỉmcười đáp lại:

- Cả hai người đều có thể chơi trò đó.

Rồi chàng chào từ biệt những người nông dân tốt bụng và lại lên đường. Chàng vừa đi vừa hát vang rất vui vẻ. Mọi người thấy vậy ai nấy đều lo lắng cho chàng. Họ tự nói với nhau tại sao trên đời lại có một chàng trai trẻ dũng cảm đến như vậy, chàng đối mặt với nguy hiểm nhưng không hề nao núng hay bối rối. Con đường lớn dẫn chàng đi qua những đồng cỏ bao la, những ngôi nhà trong trang trại tuy nhỏ bé nhưng rất xinh đẹp và cuối cùng đến đỉnh của ngọn đồi nơi chàng nhìn thấy hai vùng biển lớn gặp nhau. Hai vùng biển không được bao bọc bởi chỗ thẳt lại của vùng đất mà hiện nay được gọi là Eo đất của Corinth. Đó là một con đường rất hẹp, hai bên có những rừng thông mọc um tùm, san sát nhau. Theseus nghĩ trong đầu: Đây rồi. Ta đang nóng lòng muốn gặp kẻ bẻ cong những cây thông đây.

Những gì mọi người kể khiến chàng cảm thấy vô cùng tò mò và muốn gặp con người khỏe mạnh kia xem hắn ta thế nào mà lại hung dữ và độc ác đến như vậy. Những gì chàng nhìn thấy tiếp theo chứng tỏ chàng đã đúng. Đây chính là nơi kẻ bẻ cong cây thông đang sinh sống. Trên những cành cây thông hai bên đường còn treo xác chết của những con người tội nghiệp bị hắn ta đưa ra làm trò chơi. Không khí phía trên đầu trở nên đen kịt bởi những con chim ăn thịt và những con quạ đến mổ xác những người chết. Có lẽ những con vật này rất yêu quý và biết ơn Sirius bởi hắn ta đã cung cấp cho chúng một nguồn thức ăn lớn, nuôi sống cả một đàn chim đông đúc. Theseus nói:

- Mình sẽ chiến đấu tốt hơn trong bóng tối.

Rồi chàng nới lỏng thanh kiếm và nâng cây trùy của Maceman lên, cầm lăm lăm trên tay trong trường hợp cần sử dụng ngay lập tức. Chàng đã chuẩn bị mọi thứ để chào đón tên cướp đường tàn bạo.

Trong khi Theseus nâng chiếc trùy sắt lên thì từ đâu đó trong bụi cây văng ra một chiếc móc sắt dài, mỏng và đen láy. Chiếc móc bay xung quanh đầu chàng trong giây lát và suýt rơi xuống đầu khiến chàng giật mình. Tuy nhiên, chàng cầm chặt chiếc trùy nên chiếc móc rơi đứng vào đầu của chiếc trùy sắt. Chàng giữ chặt chiếc trùy, kéo chiếc móc ra phía xa để không chạm vào cổ chàng. Rồi tay trái chàng cầm một con dao găm cắt đứt dây nối với chiếc móc và nhanh như sóc, chàng nhảy vào bên trong những bụi cây nơi chiếc móc sắt bay ra. Không cần đoán, chàng cũng biết kẻ nào vừa tấn công. Tuy nhiên, nếu chỉ biết tấn công người khác trong bóng tối thì chẳng có gì là dũng cảm. Thì ra tên cướp đường cũng chỉ là một kẻ ham sống sợ chết, hèn nhát, tìm cách đánh lén người qua đường. Theseus thấy một người đàn ông có thân hình to lớn trong bụi cây, hắn ta khoác trên người một chiếc áo làm bằng da sư tử, đầu của con sư tử vừa vặn với đầu hắn giống như một chiếc mặt nạ. Người đàn ông kia giơ một cây trùy làm từ thân cây thông với lưỡi đá mài sắc gắn chặt ở đầu giống như lười rìu. Tuy nhiên, tên quái vật giơ vũ khí dài của mình lên phía trên được buộc lên cành cây. Theseus chộp lấy cơ hội, dùng trùy sắt giáng một cú vào đầu hắn, khiến hắn ta ngã vật xuống mặt đất giống như một cây sồi đổ sập xuống. Người đàn ông này là một trong những người còn lại duy nhất của tộc người nguyên thủy cổ còn sót lại. Bộ tộc này sống trên đất nước Hi Lạp trước khi người Hi Lạp đến đây định cư. Hắn ta vẫn đánh nhau theo cách những người cùng bộ tộc của mình từng chiến đấu, vũ khí chính của họ vẫn được làm từ gỗ và đá.

Theseus ngồi lên trên ngực của kẻ bẻ cong cây thông và túm lấy cổ họng hắn ta không cho hắn ta kịp trở tay. Chàng cứ giữ vậy cho đến khi tên quái vật mở mắt ra. Theseus lại xiết chặt tay hơn và nói:

- Hỡi kẻ bẻ cong cây thông kia, những cây thông sẽ được uốn cong xuống để dành cho ngươi. Ta không phải là một tên quái vật mà là một người đàn ông chân chính muốn giải thoát cho loài người khỏi bàn tay của kẻ độc ác như ngươi. Ngươi sẽ được chết một cách nhanh chóng trước khi cơ thể ngươi bị xé rách thành từng mảnh và trở thành thức ăn cho lũ chim ăn xác thối. Ta không mạnh tay hơn những gì ngươi đã làm đối với những người đi đường tội nghiệp đâu. Trò chơi này là do nhà ngươi nghĩ ra nên ta cho rằng nhà ngươi cũng nên tự mình tận hưởng sự thú vị của nó.

Nói xong chàng dùng đôi tay chắc khỏe xiết chặt cổ họng Sirius giống như hai giọng kìm. Rồi sau đã chàng lấy thanh kiếm quý của Aegeus để lại cho chàng đâm vào trái tim của hắn ta. Sau đã Theseus dùng dây da buộc cơ thể của gã không lồ vào hai ngọn thông ở hai bên đường như cách hắn đã làm với những người đi đường khi họ vẫn còn sống.

Sau cùng chàng lau sạch lưỡi kiếm một cách cẩn thận bằng cỏ và lá cây rồi đâm xuống dưới lớp đất nát phía dưới những cây thông. Chàng không muốn bỏ lỡ thời gian nên vội vã đi theo con đường này cho đến khi chàng đến một dòng suối nhỏ chảy ra biển từ đỉnh của một ngọn đồi trên thành phố Ephyre, bây giờ được gọi là Corinth. Tuy nhiên, trong khi chàng đang tắm rửa dưới dòng suối nước trong vắt, chàng nghe thấy một tiếng sột soạt trên những cành cây trong rừng. Chàng cầm kiếm chạy đến nơi phát ra âm thanh. Tới nơi chàng nghe thấy tiếng thì thầm của một người phụ nữ. Rồi chàng nhìn thấy một cảnh tượng kì lạ: Một người phụ nữ cao và xinh đẹp đang quỳ xuống cạnh một bụi cây khóc nức nở. Nàng vừa khóc vừa cầu nguyện giống như một đứa trẻ ngây thơ. Nàng cầu xin những bụi cây gai che trở cho nàng và bảo vệ nàng khỏi những mối nguy hiểm. Theseus chăm chú quan sát người con gái đẹp và nhẹ nhàng tiến tới gần chỗ nàng, an ủi nàng. Chàng bảo nàng không cần sợ hãi bất cứ điều gì cả bởi chàng sẽ là người bảo vệ nàng tránh khỏi mọi khó khăn, nguy hiểm. Nàng giơ tay ôm đầu gối của chàng dũng sĩ, ngước mắt lên nhìn và cầu xin chàng thương xót nàng bởi nàng không làm gì nguy hại đến bất cứ ai.

Theseus hỏi:

- Hỡi người con gái xinh đẹp, nàng là ai vậy? Nàng sẽ được an toàn khi ở cùng ta. Nàng sợ kẻ bẻ cong cây thông à?

Cô gái khóc nức nở và trả lời:

- Thưa ngài, tôi là Perigyne, con gái của người đàn ông ngài vừa nhắc tới, vậy thì làm sao tôi có thể sợ ông ấy cơ chứ. Nhưng bây giờ bàn tay của ngài đã dính máu của cha tôi rồi. Tôi không biết phải làm gì đây, nhưng quả thực tôi gần như đã bị mất phương hướng.

Theseus nói tiếp:

- Ta không đánh nhau với phụ nữ mặc dù các vị thần không phản đối đàn ông làm như vậy. Nếu nàng đi theo ta, ta sẽ đối xử tốt với nàng và cưới nàng làm vợ. Nếu nàng đông ý thì nàng sẽ trở thành một người vợ hạnh phúc trong một ngôi nhà xinh đẹp.

Vừa nghe những điều Theseus nói, nàng đứng dậy đặt tay mình vào tay chàng. Theseus nhẹ nhàng nói:

- Tất nhiên bây giờ chưa phải là thời điểm thích hợp, có thể dòng nước trong lành rửa sạch mọi hiềm khích giữa ta và nàng. Tại sao khi sợ hãi nàng lại không cầu nguyện sự giúp đỡ của các vị thần mà lại cầu xin sự giúp đỡ của những bụi gai trong khi chúng không thể nghe thấy những gì nàng nói hay giúp ích gì cho nàng.

- Cha của em không hề biết đến một vị thần nào cả, ông là một trong những người thuộc bộ tộc có nguồn gốc từ bụi gai, chính vì vậy mỗi khi cần em thường khóc lóc và cầu xin sự giúp đỡ của những bụi gai đó.

Theseus ngạc nhiên trước những lời nói vừa rồi của cô gái trẻ, rõ ràng cô không hề biết rằng chính các vị thần mới là người thống trị thế giới này, là người quyết định xem ai xứng đáng được hưởng may mắn. Chàng nói:

- Từ bây giờ trở đi nàng nên cầu nguyện thần Dớt, chúa tể của sấm sét và các vị thần khác. Họ chính là người có thể nghe thấy và giúp đỡ nàng.

Rồi chàng quay ra khỏi khu rừng, theo sau là người phụ nữ trẻ xinh đẹp. Ra đến ngoài, chàng xuống dòng suối gần đó tắm rửa sạch sẽ.

Theseus và con gái kẻ bẻ cong cây thông đi xuống một thành phố giàu có của Ephyre. Đức vua nơi đây chào đón chàng nồng nhiệt bởi ông đã nghe thần dân của mình kể về chiến công của chàng: Giết chết kẻ canh đường Maceman và kẻ bẻ cong cây thông Sirius. Hoàng hậu của thành phố cảm thấy thương cảm nàng Perigyne bởi nàng quá xinh đẹp và vừa phải chịu cảnh mất cha. Hoàng hậu giữ nàng ở lại trong lâu đài và đối xử với nàng rất tốt. Sau đó Perigyne cưới hoàng tử Deiones, con của vua Erytus, vua nước Oechalia. Tuy nhiên, sau này dũng sĩ vĩ đại Heracles đã giết chết chàng bằng cung tên mà sau này Ulysses sử dụng để tiêu diệt những kẻ cầu hôn trong đại sảnh của mình. Sau này, những người con trai của Perigyne và Deiones băng qua các vùng biển khơi rộng lớn tới châu Á và định cư ở một vùng đất có tên là Caria. Họ không bao giờ đốt hay làm hại những bụi gai mà nàng Pengyne đã cầu nguyện trong khu rừng ngày trước.

Trong những ngày ấy, nước Hi Lạp không có hệ thống pháp luật. Tất cả các con đường từ Troezen lên phía bắc tới Athen đều bị chiếm giữ bởi những kẻ hung bạo và không biết thế nào là quy tắc. Họ cậy có sửc khỏe nên chiếm những con đường là của riêng, buộc những người qua đường phải nộp tiền hoặc giết chết họ chỉ vì những nguyên nhân rất nhỏ. Họ yêu thích sự hung bạo hơn cả sự cướp bóc và tiền bạc, chính vì vậy mỗi người trong số họ lại bỏ công suy nghĩ làm thế nào để thể hiện sự hung bạo theo cách riêng của mình. Các thành phố thường rất nhỏ và giữa các thành phố thường xảy ra chiến tranh hoặc nếu không thì xảy ra các cuộc nội chiến ngay trong nội bộ thành phố: Một gia đình có thù oán với một gia đình khác hoặc gây chiến với một gia đình khác để tranh giành ngôi báu. Chính vì vậy, họ không có thời gian để tập trung lực lượng, tiêu diệt những kẻ hung ác đang thống trị trên những con đường. Sau này, Theseus đưa mọi thứ trở lại trật tự nhưng hiện tại chàng vẫn chỉ là một người đàn ông bình thường đang thực hiện những chuyến thám hiểm thú vị của mình.

Trên biên giới của một đất nước nhỏ được gọi là Megara, chàng lại tìm thấy một cơ hội mạo hiểm mới và lại giành thêm được vinh quang. Người dân nơi đây bị khinh bỉ, coi thường trong lãnh thổ của nước Hi Lạp nhưng Theseus lại không bao giờ coi họ là những người thuộc tầng lớp thấp kém. Trong lúc chàng đang đi bộ trên một con đường hẹp nằm trên đỉnh của một vách đá dựng đứng nhô ra khỏi mặt biên thì nhìn thấy những tia sáng lấp lánh của một đống lửa lớn giữa không gian bao la. Khói và hơi nước bốc lên nghi ngút từ đống lửa. Chắc có một người nào đó đang đun nước nhưng do bận việc nên không chú ý nước đã sôi. Bên cạnh đống lửa là một chiếc chậu rửa chân bằng đồng, có vẻ như người đốt đống lửa đang đun nước để rửa chân. Cạnh đó là một gian phòng nhỏ làm bằng những cành cây xanh. Trong những ngày nắng nóng thì ngôi nhà này quả là một nơi mát mẻ, ở giữa cánh cửa của ngôi nhà có treo hai chiếc chân đầy lông lá.

Từ những gì chàng được nghe kể, chàng đoán chủ nhân của hai cái chân vừa rồi chính là người đá hung dữ Sciron. Hắn là một kẻ ngoài vòng pháp luật và rất hung dữ, ai ai nghe nói tới con người này cũng không khỏi run sợ. Chính vì hắn mà nhiều người dân không dám đi qua nơi này. Hắn được gọi là người đá là vì hắn bắt tất cả những người đi qua đoạn đường này phải rửa chân cho hắn. Ngay khi nạn nhân vừa cúi xuống để rửa chân cho hắn thì hắn liền đá mạnh người đó văng xuống biển sâu đang cuộn sóng. Nạn nhân đập mạnh vào những mỏm đá sắc nhọn mọc nhô lên khỏi mặt nước. Một số người nói rằng ở chân vách đá hiểm trở có một con rùa khổng lồ ăn thịt người chết và những người sắp chết khi họ ngã xuống gần tổ của nó, tuy nhiên trên thực tế thì con rùa đó không ăn thịt tươi. Có thể đây là một sai sót của người kể chuyện, nhưng cũng khó có thể trách họ được bởi những câu chuyện này đều được kể truyền miệng từ đời này qua đời khác đến thế kỉ của chúng ta mới được ghi chép lại thành sách. Theseus quyết tâm khiến cho Sciron phải bỏ tính xấc xược của mình, chàng hét lớn:

- Tên nô lệ láo xược kia. Hãy bỏ đôi chân bẩn thỉu của ngươi ra khỏi đường đi của một vị hoàng tử cao quý.

Nghe thấy vậy, Sciron đáp lại:

- Hoàng tử ư? Nếu chân ta bẩn thì rõ ràng các vị thần đã rất tốt đối với ta khi cử ngươi đến rửa sạch đôi chân cho ta.

Sau đó hắn lười biếng đứng dậy, cười lớn để lộ hai hàm răng xấu xí. Hắn đứng trước nhà tắm, tay cầm một cây trùy lớn bằng gỗ như muốn thị uy người lạ. Hắn xoay chiếc trùy của mình phía trên đầu mấy vòng liền nhưng Theseus nhanh nhẹn hơn nên đã dùng cây trùy của mình đâm thẳng vào ngực Sciron. Chàng không lao tới tấn công bởi như vậy sẽ rất chậm, chàng lợi dụng sự chậm chập của hắn do có thân hình to lớn nên phản công khiến hắn không kịp trở tay. Sciron lảo đảo và trong khi hắn lùi lại, Theseus giáng cho hắn một quả đấm vào đùi, ngay lập tức hắn ngã gục xuống dưới đất Theseus chộp lấy cây trùy rơi từ tay Sciron ném xuống phía vách đá và nói:

- Quả là một quãng đường khá dài. Bay từ đây xuống mặt biên chắc phải mất một quãng thời gian không ngắn đâu nhỉ. Bây giờ thì hãy rửa chân cho ta đi. Nhanh lên, đứng dậy và quay lưng lại phía ta. Nhà ngươi phải chuẩn bị sẵn sàng ngay khi ta lên tiếng. Đừng để ta phải nổi giận nếu không nhà ngươi sẽ lĩnh đủ đấy.

Sciron đứng dậy và chậm chạp làm theo những gì Theseus bảo.

Lúc này Theseus không đi đôi giày hoặc dép nhẹ giống như đôi dép bằng vàng của vua Aegeus mà chàng đang mang theo trong túi xách. Chàng đi một đôi ủng dày, có đinh bằng đồng ở đáy, lớp da phía trên được buộc lên chân của chàng. Vào thời bấy giờ mỗi khi đi một chuyến dài ngày hoặc phải vượt qua đoạn đường núi hiểm trở, người Hi Lạp thường đi những đôi ủng loại này. Mặc dù chúng hơi nặng nhưng lại rất phù hợp với những chuyến đi xa. Ngay khi Theseus đã bắt Sciron đứng ở vị trí thích hợp, chàng bắt hắn ta phải ngồi xổm và cởi các nút buộc ủng cho mình. Sciron không thể làm gì khác ngoài việc nghe lời. Trong khi hắn ta ngồi xổm, Theseus tặng cho hẳn ta một cú đá trời giáng khiến hắn ta ngã lao xuống phía dưới vách đá dựng đứng. Vậy là số phận của tên Sciron độc ác kết thúc từ đây, hắn xuống dưới biển khơi làm bạn với cá biển và chú rùa không lồ. Mọi người qua đường sẽ không phải sợ hãi mỗi khi đi qua nơi này. Theseus cảm thấy hài lòng khi lại làm được một việc tốt nữa đối với người dân Hi Lạp, chàng hi vọng mình có thể loại bỏ được tất cả những điều bất công, những tội ác trên thế giới này để đem lại sự bình yên cho mọi người. Theseus luôn tiêu diệt đối thủ bằng chính cách thức chúng dùng để giết hại những người qua đường tội nghiệp. Chàng muốn chứng tỏ cho mọi người thấy không chỉ có những kẻ hung hãn này mới có thể chơi trò chơi do chúng đặt ra.

Theseus đi hết những con đường của Megara, chàng vừa đi vừa hát vang bài hát ca ngợi những chiến thắng vẻ vang của các dũng sĩ anh hùng. Trái tim chàng đang ngập tràn niềm vui và chàng đang đi kiếm tìm những cuộc hành trình mà chàng mong muốn. Chàng hi vọng sẽ lập được thật nhiều chiến công, sẽ tạo được danh tiếng tốt đối với những người dân Athen để nhận được sự ủng hộ của họ. Chàng quyết tâm sẽ giúp cha mình là vua Aegeus thoát khỏi hoàn cảnh khốn khổ này. Chàng còn rất trẻ, lại được đào tạo hết sức bài bản, được học tất cả những kĩ năng một tráng sĩ giỏi cần có, được rèn luyện ngay từ khi còn rất nhỏ nên đôi tay, đôi chân của chàng di chuyển rất nhanh nhẹn giống như những tia chớp. Thường thì kẻ thù của chàng lớn tuổi hơn chàng, tuy có khỏe mạnh hơn nhưng lại rất nặng nề và di chuyển chậm. Đây chính là một lợi thế Theseus có được khi tham chiến với chúng. Tốc độ chính là nhân tố quyết định xem ai là người chiến thắng trong mỗi trận đấu dù trận đấu đó giữa một lực lượng quân đội hùng mạnh hay chỉ là giữa hai người với nhau. Tất nhiên, tốc độ chỉ có thể dành ưu thế nếu đi kèm với sức mạnh và lòng dũng cảm. Một người dù nhanh nhẹn đến đâu đi chăng nữa nhưng nếu yếu ớt và hèn nhát thì cũng chẳng làm nên trò chống gì. Ngược lại, một người dù khỏe mạnh đến đâu và không sợ bất cứ điều gì nhưng lại ì ạch, chậm chạp thì cũng rất dễ bị kẻ thù tiêu diệt.

Cuối cùng, con đường dẫn Theseus xuống một vùng đồng bằng lớn trù phú được gọi là đồng bằng Thriasian. Nơi đây gần với thành phố Athen, chính là nơi Theseus muốn đến. Vậy là chàng trai trẻ của chúng ta đã gần đến đích, tuy nhiên, những thử thách mà chàng phải trải qua chưa hẳn đã kết thúc. Trên vùng đồng bằng này có một thành phố cổ nổi tiếng là Eleusis nằm gần bãi biển. Khi thần chết Hades mang nàng Persephone xinh đẹp, con gái của nữ thần ngô và các loại hạt, xuống lâu đài tối tăm cạnh vùng biển chết dưới thế giới của mình, nữ thần Demeter đã lang thang đến Eleusis để tìm kiếm sự an ủi cho tâm hồn đau khổ của bà. Bà quá đau khổ khi mất đi đứa con gái duy nhất mà bà vô cùng yêu quý. Mặc dù biết ai là kẻ bắt cóc nhưng bà lại không làm gì được để cứu con gái trở về, bởi Hades là một vị thần có sức mạnh vô địch, chỉ đứng sau thần Dớt vĩ đại. Nữ thần mặc bộ váy tang và ngồi trên một hòn đá cạnh đường đi giống như một người phụ nữ già đang mệt mỏi vì phải chịu đựng quá nhiều điều bất hạnh. Đúng lúc đó, ba nàng công chúa, con đức vua đang trị vì ở Eleusis đi ngang qua thì thấy người phụ nữ già trong bộ dạng vô cùng đáng thương. Họ dừng lại, đến gần và hỏi xem họ có thể giúp gì được cho bà không bởi trông bà rất mệt mỏi và tội nghiệp. Họ nói rằng họ có một người em trai nhỏ đang ở trong cung điện và họ rất yêu quý em trai mình. Trong lúc này, em trai họ đang cần có một người vú nuôi nhưng cha họ chưa tìm được người thích hợp. Demeter rất vui khi các nàng công chúa đối xử tốt với bà. Khi các nàng công chúa hỏi bà là ai, bà không tiết lộ tên thật của mình mà chỉ nói rằng bà là Đêo, người đảo Crete, rằng bà bị bọn cướp bắt cóc nhưng đã chạy trốn được và phiêu bạt đến nơi đây. Các nàng công chúa để những bình nước bên cạnh bà rồi chạy thật nhanh về cung điện để gặp mẹ. Trong khi chạy, mái tóc dài vàng óng của các nàng chảy xuống vai trông thật đẹp. Khi đến chỗ hoàng hậu, họ thở gấp và hỏi hoàng hậu xem bà có đồng ý đưa người phụ nữ già tội nghiệp về làm vú nuôi cho em trai của họ. Hoàng hậu cũng là một người nhân hậu và tốt bụng, bà đồng ý để các cô con gái của mình đưa người phụ nữ kia về cung điện sinh sống. Vậy là nữ thần Demete chuyển về sống trong cung điện của vua và hoàng hậu cho đến khi thần Dớt yêu cầu Diêm vương Hades trả Persephone lại trần gian để sống cùng mẹ vào mỗi mùa xuân, mùa hè và đầu mùa thu. Tuy nhiên, vào mùa đông, nàng phải sống với chồng mình tại lâu đài tối cạnh dòng sông Ocean.

Các nàng công chúa con vua vùng Eleusis không biết rằng họ đang dẫn một nữ thần vĩ đại về nhà nhưng thực lòng hoàn yêu quý bà và đối xử tốt với bà giống như một thành viên trong gia đình. Nữ thần Demete vui mừng khôn xiết, bà làm cho đất đai sinh sôi, mùa màng bội thu trên vùng đất Eleusis. Cây cối đâm chồi nảy lộc, ra hoa kết trái nhiều hơn bao giờ hết. Núi rừng phủ một màu xanh tươi mát mà không phải nơi nào cũng có được. Đồng ruộng cho nhũng vụ mùa tốt tươi, lương thực, thực phẩm dồi dào. Chim chóc muông thú mừng vui nhảy nhót. Cả thiên nhiên như trở nên tươi đẹp hơn lên từ khi người phụ nữ già đến sống trong cung điện. Nữ thần Demete dạy người dân nơi đây những nghi lễ cần thiết và một vở kịch trong đó thể hiện toàn bộ câu chuyện về những nỗi buồn và niềm vui của bà. Sau khi mất con gái, đây là quãng thời gian vui vẻ nhất của nữ thần. Bà tìm thấy niềm vui trong cung điện nhỏ bé này, bà vơi đi nỗi đau buồn chất chứa bấy lâu nay mặc dù ngày nào bà cũng nhớ tới cô con gái yêu quý. Bà dạy mọi người biết một quy luật của sự sống và cái chết, những linh hồn của con người không chết đi khi cơ thể của họ rời bỏ thế giới này mà những linh hồn đó sẽ chuyển sang sống trong một thế giới hạnh phúc và tươi đẹp hơn thế giới của chúng ta. Mặc dù ai cũng phải chết đi nhưng mọi người không nên sợ chết và quá lo sợ về cái chết. Tất cả mọi thứ đều đã được các vị thần mà đứng đầu là thần Dớt vĩ đại quy định sẵn. Những nghi thức này được gọi chung là những điều huyền bí của Eleusis và trở nên nổi tiếng trên toàn thế giới. Cho đến tận ngày nay, chúng ta vẫn có thể nghe nói và tìm thấy những cuốn sách viết về những nghi lễ cổ xưa này.

Lẽ ra Theseus có thể mong đợi rằng khi đến Eleusis, chàng sẽ thấy một thành phố thiêng liêng, yên bình và tĩnh lặng với những trang trại rộng lớn và khung cảnh thiên nhiên tươi đẹp. Tuy nhiên, trên đường đi, chàng lại nghe mọi người nói rằng ở Eleusis có một người khỏe mạnh tên là Cercyon luôn bắt nạt người khác. Hắn ta là một trong số những người sống ở vùng cao xa xôi trên vùng Arcadia. Đó là tộc người Peloponesus sống trong những ngọn đồi ở trung tâm miền Nam Hi Lạp. Mọi người nói rằng hắn ta đã chiếm ngôi vua và đuổi những hậu duệ của đức vua là những nàng công chúa xinh đẹp đối xử rất tốt với nữ thần Demete ra khỏi cung điện và bắt họ phải chịu đựng một cuộc sống vất vả. Kẻ xấu xa đó bắt tất cả những người lạ đi qua thành phố này phải thi đấu vật với hắn và khi hắn hạ gục họ thì hắn bẻ gãy lưng họ khiến những con người tội nghiệp này chết ngay lập tức. Chưa bao giờ hắn biết thế nào là thất bại và hắn tỏ ra rất kiêu ngạo với sức mạnh của mình. Hắn luôn nghĩ mình là kẻ mạnh nhất trên đời và sẽ không có một người trần nào có thể chiến thắng được hắn.

Biết được điều này, lại thêm việc chàng yêu thích bộ môn đấu vật nên Theseus đã đến thẳng cung điện của vua và thách đố với con người lộng quyền kia. Mặc dù mọi người đã cảnh báo chàng, khuyên can chàng không nên làm như vậy, mặc dù những phụ nữ trong thành nhìn chàng với ánh mắt buồn bã nhưng chàng không hề sợ hãi. Chàng quyết tâm chứng minh cho kẻ tự cho mình là khỏe mạnh kia thấy rằng trên thế giới này còn có rất nhiều người tài giỏi hơn hắn ta. Chàng muốn dạy cho hắn ta một bài học nhớ đời. Đến nơi, chàng nhìn thấy cửa của sân cung điện mở rộng, phía trên cao là bàn thờ thần Dớt đang nghi ngút khói và trên ngưỡng cửa có hai người hầu mỉm cười tiếp đón chàng với vẻ ân cần và đưa chàng vào tắm trong một nhà tắm sạch sẽ, sáng láng. Những nữ hầu gái trong lâu đài tắm rửa và xức đầu thơm cho chàng tráng sĩ trẻ tuổi đẹp trai và mang đến cho chàng bộ quần áo mới rất đẹp. Đây chính là tập quán và nghi thức tiếp đón khách trong nhà của đức vua. Sau đó, họ dẫn chàng vào một đại sảnh và bảo chàng đi đến chỗ những chiếc ghế đặt ở giữa bốn cột chống nhà bên cạnh lò sưởi.

Cerceyon đang ngồi trên bàn ăn uống thỏa thích, xung quanh hắn ta là đám đồng đảng hung dữ kẻ nào cũng to lớn, lực lưỡng và có mái tóc màu đỏ. Tuy nhiên, Cerceyon có thân hình to lớn nhất trong số đó. Hắn ta chào đón Theseus theo phép lịch sự và yêu cầu người hầu mang bàn đến cho chàng. Khi Theseus dùng bữa xong, chàng bắt đầu nói với những người ở đó chàng là ai và đến đây với mục đích gì. Theseus nói với Cerceyon rằng chàng đã đi bộ từ Troezen đến đây và đang trên đường đến lâu đài của đức vua Peleus (cha của Achilles) ở phía bắc. Chàng nói như vậy bởi vì chàng không muốn tin mình đang đến Athen truyền đến đó trước khi chàng có mặt trong kinh thành. Cercyon tròn xoe mắt vì ngạc nhiên và hỏi lại:

- Tráng sĩ đi bộ từ Troezen đến đây thật sao? Thế tráng sĩ có gặp hoặc nghe nói về người đàn ông đã giết chết kẻ canh đường và người bẻ cong cây thông, rồi đá tên Scrion xuống biển không?

Đáp lại câu hỏi của hắn ta, Theseus chỉ nói mỗi một câu:

- Tôi đã đi nhanh nhưng tin tức còn bay nhanh hơn.

- Ta biết tin đó là do người có khả năng nhìn xa nói lại với ta. Anh ta đang ở đây, ở trong góc kia kìa.

Rồi Cercyon ném xương chân bò về phía nhà tiên tri, ông ta liền nhảy ra khỏi chỗ đứng của mình.

Cercyon nói tiếp:

- Dường như ông ta có thể nhìn thấy trước việc xương chân bò đang tới chỗ ông ta. Sáng nay, ông ta nói với chúng tôi rằng có một người lạ đang đến và người đó đã giết chết những tên cướp đường hung ác. Ta không biết những lời ông ta nói có đúng không nhưng rõ ràng hiện nay đang có một người lạ ngồi trước mặt ta. Nhìn từ chân đến đầu của tráng sĩ và dựa vào chiếc trùy sắt mà tráng sĩ mang theo, ta đoán tráng sĩ chính là người lạ mà ông ta đã nhắc đến. Ta nói vậy có đúng không?

Tên Cercyon nói với giọng mỉa mai. Hắn không tin rằng một chàng trai trẻ tuổi như chàng lại có thể lập được những chiến công hiển hách như vậy. Tuy nhiên, Theseus không hề chú ý đến thái độ của hắn bởi với chàng, con người này không xứng đáng được tôn trọng. Chàng chỉ mỉm cười và gật đầu. Đây là cử chỉ người Hi Lạp thường dùng để thay thế cho câu trả lời: Đúng như vậy.

Theseus không có ý định giấu những chiến công của mình, chàng đâu có sợ Cercyon mà ngược lại chính chàng đang muốn dạy cho hắn một bài học thích đáng. Dù thế nào thì chàng cũng sẽ thi tài cùng hắn để xem xem thực sự thì hắn có những bản lĩnh gì. Về phần mình, tên Cercyon cười lớn đầy sảng khoái và nói:

- Thật vậy sao? Chúc mừng tráng sĩ. Chắc các vị thần rất yêu quý tráng sĩ và luôn đi theo ủng hộ tráng sĩ trên mỗi bước đi. Lâu lắm rồi mới có một người đàn ông đích thực đi ngang qua thành phố của ta và ta đã chờ đợi cơ hội này rất lâu rồi. Những kẻ đến đây trong thời gian qua đều là một lũ vô dụng, thậm chí chúng còn không thể chịu nổi cú vật ngã của ta nữa. Thế ở Troezen mọi người có luyện tập môn đấu vật không? Ta không phải là người hiểu sâu biết rộng nên không biết nhiều về những vùng đất khách.

Theseus đáp lại, giọng lạnh lùng:

- Tất nhiên là có rồi. Họ đang luyện tập và sẽ luyện tập.

- Vậy thì tráng sĩ không ngại thi đấu với ta chứ? Chúng ta thử đọ sức xem ai là người thắng cuộc. Dù gì thì tráng sĩ cũng đã giết chết được những người có sức khỏe phi thường kia, vậy nên ta rất hân hạnh nếu tráng sĩ nhận lời thách đấu của ta. Ở ngoài sân sau có một khán đài dành riêng cho môn đấu vật đấy. Ta rất thích môn thể thao này nên đã yêu cầu mọi người dựng hẳn một khán đài khá lớn.

Theseus trả lời rằng chàng đến đây với hi vọng đức vua sẽ yêu quý chàng và dành cho chàng một cơ hội để thử sức. Chàng tỏ ra rất lịch sự và khiêm tốn nên nói rằng chàng đã được nghe rất nhiều người ca ngợi về tài đấu vật của đức vua nên liều tới đây để thử sức. Những người khách trong phòng hét lên đầy phấn khích. Tất cả bọn họ đều kéo ra ngoài và tạo thành một vòng tròn xung quanh khán đài. Ai nấy đều háo hức được xem trận thi đấu giữa một con sư tử khỏe mạnh và một con hổ mới trưởng thành. Theseus và Cercyon cởi quần áo ra, xức dầu khắp cơ thể. Sau đó cả hai người cùng lên trên khán đài, chuẩn bị bước vào trận đấu. Mặc dù chỉ nói là thử sức nhưng thực tế trong đầu hai người luôn suy nghĩ mình phải thắng đối thủ để dạy cho hắn một bài học.

Khi tiếng kẻng báo hiệu trận đấu vật bắt đầu, cả hai người lắc sang bên này rồi sang bên kia, hai chân dậm xuống đất. Mọi người đứng xem hầu như không gào thét nữa. Một lát sau, tất cả đồng thanh hô vang cổ vũ cả hai người hãy đi đấu hết sức mình và giành thẳng lợi. Cuối cùng họ hét nhiều quá nên bị mệt, tất cả đều thở dốc và im lặng. Một lát sau họ bắt đầu đặt cược xem ai sẽ là người chiến thắng. Họ đặt cược cho Cercyon với giá bảy con bò so với ba con bò dành cho Theseus.

Quay trở lại trận đấu, Theseus nhận thấy đây là lần thử thách khó khăn nhất của chàng bởi Cercyon nặng hơn chàng, khỏe hơn chàng mặc dù không linh hoạt cho lắm. Tuy nhiên, đấu vật đòi hỏi bạn phải có sức khỏe hơn đối thủ, chính vì vậy, Theseus có chút lo lắng. Ban đầu, Theseus không tấn công nhiều mà chủ yếu là tìm cách tránh bàn tay chắc khỏe của Cercyon, tuy nhiên, Cercyon tấn công nhiều nên nhanh chóng mất sức và trở nên yếu đi. Chớp lấy cơ hội này, Theseus nhảy lên trên người Cercyon và cố sức nhấc hắn lên rồi ném hắn xuống dưới đất. Cú ngã quá mạnh nên Cercyon bị gãy cổ và hắn nằm đó chết ngay tức khắc. Theseus nói với mọi người:

- Như vậy có phải là công bằng hay không?

Những người vùng cao của Arcadia hét lên:

- Rất công bằng. Đây là một trận đấu công bằng.

Sau đó họ khóc lóc thảm thiết trước thi thể của người chết. Theseus nhận thấy rằng tốt nhất chàng nên mặc quần áo vào và rời khỏi nơi này. Chàng nhảy lên xe ngựa và chạy hết tốc lực.

Mặc dù Cercyon là một người đàn ông tàn ác và hoang dã nhưng thực lòng trong trái tim mình, Theseus thấy thương cảm cho ông ta.

Xe ngựa chạy quá nhanh, người hầu trên xe tìm cách nhảy ra khỏi xe nhưng Theseus nắm chặt vai hắn ta và nói:

- Anh bạn của ta, đừng vội vàng như vậy. Ta vẫn cần anh mà. Ta không đánh cắp chiếc xe ngựa và những con ngựa này đâu. Sau khi đưa ta tới Athen, anh có thể đánh xe quay trở về. Đừng sợ, ta đâu có làm gì hại cho anh đâu.

Người đánh xe ngựa buồn bã đáp lại:

- Nhưng thưa ngài, ngài sẽ không bao giờ đến được Athen đâu.

- Sao vậy? Theseus hỏi lại.

- Bởi vì sắp tới chúng ta sẽ phải đối mặt với người đàn ông có tên là Procrustes. Hắn sống trong một tòa lâu đài vững chắc trên đường đi giữa các ngọn đồi cao. Hắn là nỗi sợ hãi của tất cả những người sống trên trái đất này bởi hắn sẽ gây thương tích cho tất cả những ai hắn gặp trên đường. Hắn chỉ huy một đội xạ thủ và những chiến binh được trang bị vũ khí đầy đủ, những tên cướp biển đến từ hòn đảo của hắn. Tên tướng cướp này nghĩ ra một hình phạt cực kỳ đau đớn dành cho những ai vô phúc gặp phải hắn. Khi gặp một người đi đường, hắn sẽ nói chuyện với anh ta một cách lịch sự và mời anh ta trở thành khách của mình. Nếu ai từ chối thì những tay xạ thú sẽ nhảy ra ngoài từ những bụi cây và chọc mù mắt người đàn ông tội nghiệp. Không ai có thể là đối thủ của những con người này. Hắn có một cái giường mà hắn gọi là một vật thần kì bởi chiều dài của chiếc giường có thể phù hợp với bất cứ người nào. Ngay cả một người cao lớn nhất thế giới hay một người thấp bé nhất cũng có thể ngủ trên chiếc giường đó. Tuy nhiên, điều đặc biệt là hắn có một động cơ có dây thừng ở trên đầu giường và một cái cưa gắn chặt ở chân giường. Nếu người nào thấp quá thì dây thừng sẽ xiết chặt vào tay của người đó và kéo dài ra cho đến khi hai chân chạm mép giường. Nếu người nào cao lớn thò chân ra khỏi giường thì hắn chặt chân người đó đi để cho vừa chiếc giường. Không ai có thể thoát khỏi sự độc ác của hắn. Không biết từ trước đến nay đã có bao nhiêu người phải chịu đựng hình phạt khủng khiếp này rồi. Tên quỷ ác đó chính là Procrustes. Thưa ngài, ngày mai vua Cercyon sẽ dẫn một lực lượng quân đội hùng hậu đến tấn công hắn ta và đức vua đã phát minh ra một thiết bị mới. Như ngài nhìn thấy chiếc xe ngựa ngày, theo ý tướng của đức vua mỗi chiếc xe ngựa sẽ được gắn hai chiếc lá chắn lớn ở hai bên, như vậy sẽ có thể bảo vệ những người trên xe khỏi cung tên của Procrustes. Nhưng bây giờ thì đức vua đã chết rồi và sẽ không còn ai dám chống lại tên quái vật độc ác kia nữa.

Theseus suy nghĩ một lát và nói:

- Vậy thì ta và anh sẽ đeo những chiếc lá chắn này vào người khi đến gần nơi tên Procrustes thường đón đường những người khách lạ. Ta nghĩ rằng tối nay, chiếc giường của hắn sẽ quá dài đối với hắn.

Nghe đến đây, người đánh xe ngựa không trả lời mà run rẩy.

Theseus yêu cầu người đánh xe ngựa lao nhanh về phía trước. Họ vượt qua phần thấp nhất của đỉnh Pames, sau đó Theseus kéo yên cương và đeo chiếc khiên lớn vào người che toàn bộ cơ thể. Chàng yêu cầu người đánh xe ngựa cũng làm như chàng. Sau đó, họ điều khiển xe ngựa chạy từ từ trên đường, vừa đi vừa quan sát những bụi cây bên đường. Một lát sau, chàng nhìn thấy khói bay lên từ mái của một lâu đài lớn nằm trên cao trong những khu rừng cạnh đường và trên đường có một người đàn ông đang đứng đợi. Trong khi điều khiển xe ngựa tiến đến chỗ người lạ, Theseus nhìn thấy ánh sáng lấp lánh của áo giáp ở khu rừng bên cạnh và mặt trời chiếu đỏ trên những chiếc lá xanh. Người đánh xe cho ngựa dừng lại bên cạnh người lạ và nói:

- Người đàn ông của chúng ta đây rồi.

Theseus nới lỏng thanh kiếm của mình cất trong bao và và nhảy ra khỏi xe ngựa, nắm chắc dây cương ở tay trái, cúi xuống chào người đàn ông. Hắn ta là một người cao lớn nhưng trông có vẻ yếu ớt và già nua với mái tóc màu hạt dẻ và khuôn mặt được cạo râu sạch sẽ. Ông ta ăn vận giống như một vị vua, quần áo may từ vải lụa màu tối được trang trí với vòng vàng, nhẫn vàng. Người đàn ông lạ luôn nở một nụ cười trên môi khiến người khác có cảm giác hắn ta là một người hiếu khách, hắn liên tục xoa tay trong khi hắn nhìn sang bên trái, rồi sang phải chứ không nhìn thẳng về phía Theseus. Theseus biết thừa hắn đang ra tín hiệu cho người của hắn nấp ở hai bụi cây nhưng chàng tỏ ra như thể không có chuyện gì. Người đàn ông lạ nói với Theseus:

- Thưa ngài, nói một cách công bằng thì tôi là một người vô cùng may mắn bởi tôi rất thích được tiếp đón những người lạ qua đường dưới sự bảo vệ của thần Dớt. Đây là niềm vui của tôi và tôi luôn cố gắng hết sức để khiến cho những người lạ được vui vẻ. Chắc chắn những người lạ này được mọi người yêu quý. Cả ngài nữa, ngài là một người may mắn bởi vì màn đêm sắp sửa buông xuống, con đường phía trước sẽ bị bóng tối bao phủ và rất nguy hiểm. Đúng lúc này thì ngài lại gặp một người hiếu khách như tôi bởi tôi sẵn sàng mời ngài ở lại ngủ trong lâu đài của tôi. Đêm nay tôi sẽ dành cho ngài một chiếc giường vô cùng đặc biệt mà khi nhìn thấy nó ngài sẽ thấy thích. Nói về chiếc giường này thì phải thừa nhận nó rất đặc biệt bởi nó vừa với tất cả mọi người dù là người thấp hay người cao. Trong số những người từng đến đây thì ngài là người cao nhất đấy. Tôi chắc chắn rằng ngài sẽ thấy thoải mái trên chiếc giường đặc biệt của tôi.

Theseus cúi đầu cám ơn rất lịch sự và đáp lại:

- Thưa ngài hiếu khách! Tôi đã được nghe nhiều người nói đến sự hiếu khách của ngài. Tôi cũng đã biết về chiếc giường đặc biệt của ngài. Tối nay, chiều dài cửa chiếc giường sẽ vừa khít với chiều cao của ngài đấy.

Nói rồi, chàng rút kiếm của cha mình ra và cắt ngang cổ tên Procrustes khiến đầu của hắn văng qua một bên, cơ thể văng qua một bên khác. Theseus là một chàng trai linh hoạt và nhanh nhẹn nên thường thì đối thủ của chàng khó có thể chống đỡ được trước mỗi đợt tấn công của chàng.

Sau đó, Theseus chuyển lá chắn của mình từ đằng trước ra đằng sau và lại nhảy lên xe ngựa. Chàng dùng roi da thúc ngựa chạy nhanh về phía trước, cùng lúc đó người đánh xe ngựa cũng làm theo Theseus. Họ vừa hoàn tất công việc chuẩn bị của mình thì hàng loạt mũi tên của thuộc hạ Procrustes bay đến phía hai người nhưng bị bật lại khi gặp phải những chiếc lá chắn kim loại rắn chắc. Một mũi tên bắn trúng hông một con ngựa khiến cả mấy chú ngựa phi nhanh nước đại, tiến thẳng về phía trước để lại những kẻ bắn cung gào thét ở đằng sau. Một lúc sau, những chú ngựa cũng quay trở lại tốc độ bình thường. Khi lên tới đỉnh một ngọn đồi, Theseus nhìn thấy ánh sáng phát ra trong thành phố Aphidnae. Chàng nói với người đánh xe ngựa:

- Anh bạn của ta, bây giờ thì ta có thể tự mình đến Athen rồi, anh hãy đánh xe quay trở về nhà đi. Ta rất cảm ơn anh vì đã đi theo ta trong suốt quãng đường vừa qua.

Đêm hôm đó, hai người ngủ trên một chiếc giường an toàn trong nhà của những người con trai của Phytalus đang cai trị Aphidnae. Họ được những người chủ nhà tiếp đón ân cần, những người con trai của Phytalus rất vui khi nghe kể lại những chuyến phiêu lưu và những chiến công của Theseus trên đường đi. Họ nói với chàng:

- Chúng tôi là người của tráng sĩ. Chúng tôi và thần dân của chúng tôi sẽ luôn có mặt khi tráng sĩ cần, nhất là khi tráng sĩ đã trở thành vua của Athen.
 
522 ❤︎ Bài viết: 420 Tìm chủ đề
Chương 34

Theseus tìm thấy cha

Ngày hôm sau Theseus chào tạm biệt những người con trai của Phytalus và đánh xe ngựa qua những khu rừng xanh mướt cạnh dòng sông Cephisus. Chàng dừng lại để cho những chú ngựa của mình nghỉ ngơi sau một chuyến đi dài mệt mỏi. Trong khi xuống suối rửa mặt, chàng nhìn thấy một chàng trai trẻ, đẹp trai đang đi bộ trên đồng cỏ cạnh dòng sông êm đềm. Chàng trai trẻ cầm trên tay một bó hoa trắng được kết từ một loại hoa rất lạ: Mặc dù cánh màu trắng nhưng rễ lại có màu đen tuyền. Tay kia chàng trai cầm một chiếc đũa bằng vàng sáng bóng. Không hiểu sao tự nhiên môi trên của chàng trai lại bị thâm đen nhưng nhìn toàn thể chàng vẫn rất đẹp trai, khoẻ mạnh và đang ở độ tuổi đẹp nhất của tuổi trẻ. Chàng trai tiến đến gần Theseus và nói:

- Hãy đến đây với ta nào.

Theseus làm theo lời chàng trai trẻ. Chàng không hề biết rằng trước mặt chàng còn có rất nhiều nguy hiểm kì lạ.

Chàng trai trẻ nói tiếp:

- Hỡi chàng trai bất hạnh, chàng đang đi đâu thế? Chàng không hề biết gì về vùng đất này đúng không? Hãy cẩn thận bởi những người con trai của Pallas đang cai trị đất nước Athen một cách tàn bạo và không có trật tự. Cha của chàng không hề có quyền lực thực sự và trong nhà ông ấy có một nữ phù thủy đến từ một đất nước xa xôi. Tên của mụ ta là Medea, con gái của Aeetes là anh trai của nữ pháp sư Circe đang sinh sống tại hòn đảo Sorceress. Mụ ta từng cưới chàng dũng sĩ Jason nổi tiếng và lấy cho chàng bộ lông cừu vàng. Tuy nhiên, để thực hiện mục đích của mình, để giúp đỡ người mà mình lấy làm chồng, Medea đã giết chết anh trai mình là Absyrtus. Bên cạnh đó, mụ ta cũng đã gây ra rất nhiều tội ác, làm rất nhiều việc xấu xa khiến mọi người căm ghét. Thế nhưng, hiện giờ mụ đang sống cùng đức vua Aegeus, không hiểu mụ ta cho ông uống bùa mê thuốc lú gì mà ông vua tội nghiệp sợ và yêu mụ ta hết mực. Hãy mang theo mình loại thảo dược thần kỳ này và nếu Medea mời chàng uống rượu thì hãy để một nhánh thảo dược vào trong cốc, như vậy chàng sẽ thoát khỏi bàn tay của thần chết. Medea cũng là một nữ pháp sư nên mụ ta có nhiều phép thuật mà những người bình thường không thể chống lại được. Mụ biết trước Aegeus có một cậu con trai sẽ đến Athen tìm cha và giúp ông lấy lại ngai vàng và quyền lực nên mụ luôn chuẩn bị mọi thứ sẵn sàng để tiếp đón và ám hại người con trai đó của đức vua. Hãy cẩn thận đấy chàng trai trẻ của ta. Ta chính là thần Hermes đây và ta muốn giúp chàng thoát khỏi những mối nguy hiểm sắp xảy ra.

Nói xong thần Hermes đưa cho Theseus bó hoa rồi đi nhanh vào trong rừng. Theseus không nhìn thấy bóng dáng của thần ở nơi nào và đây là lần cuối cùng chàng được chiêm ngưỡng hình dáng thực sự của một vị thần tài giỏi. Theseus quỳ xuống và cầu nguyện. Chàng cảm ơn các vị thần đã không bỏ rơi chàng trong lúc khó khăn nhất. Chàng để những bông hoa vào túi treo trước ngực rồi quay trở về xe ngựa, tiếp tục lên đường. Chàng điều khiển những chú ngựa đến thẳng thành Athen. Đến gần tới nơi, chàng nhìn thấy ngôi đền của Athene đứng sừng sững giữa bầu trời và lâu đài của đức vua Aegeus với vẻ cổ kính. Đây chính là quê hương của cha chàng, chàng không ngờ Athen lại là một vùng đất đẹp đến vậy. Mọi thứ đối với chàng đều vô cùng lạ lẫm nhưng chàng tin rằng chỉ trong một thời gian nữa thôi, chàng sẽ là thành viên chính thức của gia đình.

Vậy là Theseus đã đến Athen. Với vẻ khôi ngô, tuấn tú, mặt rạng rỡ, chàng hiên ngang bước đi trên đường phố Athen. Chàng mặc bộ quần áo của người dân Inonia. Mái tóc chàng buông kín hai vai. Trong chiếc áo dài, trông chàng giống như một cô gái hơn là một dũng sĩ vừa lập hàng loạt chiến công hiển hách. Con đường chàng đi chạy qua trước cửa đền thờ Apollo đang được xây dựng. Đúng lúc đó, những người thợ xây đang lợp mái đền nhìn thấy chàng, họ tưởng chàng là con gái nên buông lời chòng ghẹo. Tức giận trước những lời đó, Theseus bước nhanh tới một chiếc xe ngựa kéo đang đi trên đường, chàng tháo ách ngựa, cầm cả chiếc xe quăng lên khiến những người thợ hoảng sợ khi nhận ra đó không phải là một cô gái mà là một chàng trai có sức khỏe vô địch.

Theseus lái xe thẳng vào lâu đài, đi qua sân và để xe ngựa đỗ ở cổng. Trong sân, những người trẻ tuổi đang học cách ném lao trúng mục tiêu, những người khác ngồi trên bậc của ngôi nhà. Họ chơi đàn, chơi sáo, cùng nhau hò hét và vui chơi hết mình. Họ là những người đàn ông vụng về, cục mịch và hay bị đỏ mặt hơn những người khác. Họ ngước mắt lên nhìn chằm chằm về phía chàng trai trẻ nhưng lại chẳng nói bất cứ điều gì. Theseus biết rằng họ chính là những người anh em họ của mình, con trai của Pallas. Tuy nhiên, những người đó chẳng nói gì với chàng, nên chàng đi qua họ vào bên trong, tay vẫn cầm quả trùy sắt lớn. Chắc chàng sẽ không để ý đến họ nếu không có một anh bạn cao lớn chặn chàng lại để hỏi của chàng. Đến cửa đại sảnh, Theseus dừng lại và hét lên. Hai người phục vụ chạy đến chỗ chàng. Theseus nói:

- Hãy chăm sóc những con ngựa của ta, ta đến đây để gặp ông chủ của các người.

Nói rồi chàng đi thẳng lên chỗ những chiếc ghế cao đặt cạnh lò sưởi. Căn phòng vắng lặng nhưng trên một chiếc ghế cao có một người đàn ông đang ngủ lơ mơ. Trên đầu người đàn ông này đội một chiếc vòng vàng và một con cào cào cũng bằng vàng. Theseus biết đó chính là cha mình, trông ông thật tiều tụy giống như đám lửa sắp tàn trong lò sưởi. Bộ dạng ông lúc này khác hẳn những gì mẹ chàng kể về ông hồi còn trẻ. Thời gian và những rắc rối ông phải đối mặt đã khiến ông trở nên yếu đuối và ốm yếu như thế này. Nhà vua không hề ngước mắt nhìn lên để xem ai vừa vào trong đại sảnh, về phần mình, Theseus chạm tay vào vai của ông. Chàng quỳ xuống và đặt tay xung quanh đầu gối của đức vua với vẻ yêu thương và kính trọng. Đây là lần đầu tiên chàng được gặp mặt cha mình, lần đầu tiên chàng ở gần ông đến thế và được chạm vào ông. Ban đầu, nhà vua khẽ giật mình, ông vừa giụi đôi mắt đỏ ngầu của mình vừa nói:

- Ngươi.. ngươi là ai vậy? Ngươi muốn gì ở đây?

- Thưa đức vua, con là một kẻ tội nghiệp đến từ Troezen. - Theseus đáp lại - Con đến đây quỳ gối dưới chân người và mang cho người những món quà vô cùng quý giá. Con không hề có ý định làm hại người, cũng không phải là người xấu nên đức vua không cần phải hoảng sợ như vậy.

Đức vua vẫn chưa hoàn toàn tỉnh ngủ, ông lẩm bẩm trong miệng như thể đang cố gắng ghi nhớ điều gì đó:

- Từ Troezen đến à?

- Vâng đúng như vậy đấy ạ. Con mang những món quà từ Aethra, vợ của người và con chính là con trai của người đây. Con nghĩ rằng người vẫn nhớ thanh kiếm và đôi dép vàng người cất dưới tảng đá lớn trong rừng trước khi người chia tay mẹ con!

Nói rồi Theseus đặt thanh kiếm và đôi dép lên chân của đức vua để ông nhìn những đồ vật này kĩ hơn.

Đức vua đứng dậy hét lên với vẻ sung sướng:

- Cuối cùng thì con cũng đã đến rồi. Vậy là các vị thần đã tha thứ cho ta và nghe thấu những lời cầu nguyện của ông già tội nghiệp này. Nhưng từ "vợ" không được ghi trong chuôi kiếm và không được giấu trong đôi dép bằng vàng. Ta nghĩ rằng con không nên nhắc đến từ đó nếu không người khác sẽ nghe thấy..

- Người khác đó đã nghe thấy rồi đó.

Một giọng nói trong trẻo ngọt ngào vang lên đằng sau chiếc cột lớn. Một người đàn bà da đen, xanh xao nhưng rất xinh đẹp xuất hiện. Mụ ta mặc một bộ váy áo kiểu phương Tây dành cho người giàu có, chiếc váy sáng lấp lánh và được pha nhiều màu sắc rực rỡ. Mới nhìn người phụ nữ này, Theseus đã có cảm giác ở mụ ta có điều gì đó khiến chàng không thích - sự xấu xa, độc ác và vô cùng nham hiểm. Người phụ nữ nhẹ nhàng đưa tay lên ôm quanh cổ Theseus và hôn lên đôi má của chàng. Trên cơ thể mụ ta toát lên một mùi hương ngọt ngào khó tả, mùi hương đó thật quyến rũ. Sau đó, mụ ta buông chàng ra, đặt tay lên vai chàng và cười lớn. Mụ hơi hướng mặt về phía Aegeus lúc đó vì bị giật mình và sợ hãi đã ngã vào trong chiếc ghế bành rồi nói:

- Đức vua yêu quý của thiếp, tại sao chàng lại nghĩ rằng chàng có thể giấu thiếp bất cứ việc gì cơ chứ. Dù chàng cố gắng giấu giếm điều gì thì rồi sau đó thiếp cũng tìm ra được câu trả lời cơ mà.

Rồi mụ ta quay sang nhìn chăm chăm vào mắt Theseus, mỉm cười với vẻ thân thiện:

- Chúng ta là bạn bè, đúng vậy không nào? Ta rất mừng vì chàng đã đến nơi này.

Theseus hiểu được sự nham hiểm trong câu nói của mụ ta nhưng chàng vẫn đáp lại một cách nhã nhặn:

- Thưa quý bà, tôi yêu quý bà như yêu quý cha tôi, đức vua Aegeus vậy. Tôi cũng rất kính trọng người vì người là vợ của cha tôi.

Quý bà Medea nói tiếp:

- Chàng yêu quý ta nhiều đến vậy thật sao? Vậy thì để chúc mừng cho điều này, ta nghĩ chúng ta phải uống rượu ăn mừng mới được. Ta cũng không ngờ con riêng của chồng ta lại dành cho ta một tình cảm sâu sắc đến như vậy.

Rồi mụ ta với chiếc cốc bằng vàng đang đặt trên bàn đằng sau Aegeus. Mụ ta quay lưng lại phía Theseus rồi nhẹ nhàng rót cho người lạ mặt một cốc rượu màu trông rất lạ. Rót xong, mụ ta mang cốc rượu đến cho Theseus và nói:

- Hãy chúc mừng ta và đức vua, cha của chàng đi.

Theseus nhận lấy cốc rượu và cảm ơn tấm thịnh tình của Medea. Nhớ đến lời thần Hemles dặn dò, chàng rút một bông hoa có cuống đen cánh trắng ra và đặt vào trong cốc rượu. Sau đó cốc rượu nổi bong bóng, khẽ rít lên rồi vỡ tan thành nhiều mảnh. Thứ rượu mà Medea mời Theseus chảy xuống sàn nhà, nhuốm đỏ mặt sàn giống như máu tươi. Thấy vậy Theseus cũng không hề tỏ ra tức giận bởi chàng biết đối với người phụ nữ nham hiểm này, nóng nảy chẳng đem lại kết quả tốt đẹp nào cả.

Medea cười lớn và nói:

- Thực sự bây giờ chúng ta đã là bạn của nhau bởi các vị thần đã bảo vệ chàng. Ta xin thề với sự chứng kiến của nước thiêng của Styx rằng bạn của chàng cũng là bạn của ta và kẻ thù của chàng sẽ là kẻ thù cửa ta từ bây giờ cho đến lúc chúng ta chết. Các vị thần ủng hộ chàng và ta xin thề lời thề độc của các vị thần và lời thề đó không bao giờ có thể bị phá bỏ bởi ta có quan hệ họ hàng với các vị thần bất tử.

Bây giờ thì Theseus đã biết ông nội của Medea là thần mặt trời. Medea đúng là một phụ nữ lắm mưu nhiều kế nhưng dù sao bà ta cũng có nguồn gốc từ các vị thần. Theseus cầm tay của Medea bởi chàng đã hoàn toàn tin vào lời thề của bà ta. Một khi ai đó đã thề độc dưới sự chứng kiến của các vị thần thì sẽ không bao giờ phá vỡ lời thề của mình. Chàng nắm lấy tay Medea và nói:

- Ta cũng xin thề dưới sự chứng kiến của thần Dớt vĩ đại rằng bạn của người sẽ là bạn của ta và kẻ thù của người sẽ là kẻ thù của ta cho đến khi ta chết. Ban đầu ta không tin người nhưng bây giờ thì chẳng có gì khiến ta phải nghi ngờ về sự trung thực của người cả.

Medea ngồi cạnh Aegeus và đỡ đầu ông về phía vai mình trong khi Theseus cầm tay ông. Đức vua Aegeus bật khóc vì vui sướng. Làm sao ông không vui được khi đứa con trai mà ông yêu quý và chờ đợi đã lâu và người phụ nữ ông yêu cũng rất nể sợ lại trở thành bạn của nhau. Cả hai người bọn họ đều mạnh hơn những đứa con của Pallas. Vậy là bây giờ ông đã có hy vọng rồi. Trong khi ba người đang ngồi chuyện trò, một trong số những người con của Pallas có tên là Pallantidae chạy vào bên trong đại sảnh để xem xem bữa tối đã được chuẩn bị chưa. Hắn nhìn chăm chăm về phía chàng trai lạ rồi lại chạy ra bên ngoài thông báo với anh em của mình:

- Ông già đó ngồi trong vòng tay của người phụ nữ kia và một chàng trai trẻ cao lớn với chiếc trùy bằng sắt. Đây là lần đầu tiên em nhìn thấy cảnh đó nên vội chạy đến báo ngay cho các anh.

Thế là tất cả bọn họ cùng nhau đi vào trong sân trước lâu đài vừa đi vừa lầm bầm những câu dọa nạt, chúng đá những viên đá trong sân và cãi vã như thể đó là những việc giỏi nhất chúng có thể làm. Những kẻ hống hách này luôn cho mình là mạnh nhất nên đã coi thường đức vua, tước đoạt quyền lực của ông, biến ông thành một ông vua bù nhìn.

Trong khi đó, bên trong đại sảnh những người phục vụ bắt đầu dọn bàn ăn, thịt và đồ uống ra ăn mừng. Theseus được đưa đi tắm và mặc quần áo mới. Suốt bao nhiêu năm qua, đây là lần đầu tiên vua Aegeus cảm thấy vui mừng và phấn khởi đến như vậy. Tâm nguyện có một người con trai nối dõi của ông cuối cùng cũng trở thành hiện thực. Ông ân hận vì trước kia đã đối xử không tốt với mẹ của Theseus và luôn nghĩ rằng các vị thần trừng phạt ông vì điều đó. Nhưng bây giờ thì ông biết ông đã được tha thứ và nàng Aethra không hận ông, mà ngược lại vẫn còn yêu ông và làm theo những gì ông dặn dò vào ngày cuối cùng họ gặp nhau.

Trong khi Theseus đang ở trong nhà tắm, Medea nói cho Aegeus biết những việc. Ông nên làm. Vì vậy khi Theseus quay trở ra ngoài đại sảnh nơi những người con trai của Pallas đang ăn uống ầm ĩ thì Aegeus đứng dậy, gọi Theseus đến ngồi cạnh mình. Ông tuyên bố dõng dạc trước tất cả những người có mặt trong đại sảnh:

- Đây là Theseus, con trai của ta, người đã giết chết những quái vật nó gặp trên đường đi. Bây giờ ta có thể khẳng đinh một điều con trai ta chính là người có quyền lực cao nhất trong ngôi nhà này. Theseus sẽ trở thành người kế vị ngai vàng và cai trị thần dân thành Athen.

Những người con trai của Pallas mặt mũi tái xanh vì sợ hãi và giận dữ, tuy nhiên, không kẻ nào trong số chúng dám đưa ra một câu trả lời ngu xuẩn bởi chúng biết bây giờ Aegeus không chỉ có một mình. Chúng biết rằng dân thành Athen căm ghét chúng, muốn chúng biến khỏi thành phố này, chính vì vậy chúng không dám làm bất cứ điều gì chống lại người đàn ông đã giết chết Periphetes, Sirius, Cercyon và Sciron, đồng thời chém đứt đầu của Procrustes trước mặt bao nhiêu binh lính của hắn ta. Chúng thừa hiểu chàng trai mà Aegeus gọi là con trai có sức mạnh to lớn như thế nào, chàng dũng cảm ra sao và sẵn sàng chiến đấu bảo vệ cha mình dù chàng có phải hi sinh tính mạng. Tất cả những người con trai của Pallas đều ngồi im lặng đến hết bữa tối, san đó chúng quay trở về phòng của mình, tập trung lại với nhau bàn bạc một kế hoạch mà không ai có thể nghe trộm được.

Theseus đi cùng Medea đến căn phòng thơm phức của bà và hai người cùng thảo luận một số vấn đề quan trọng. Sau đã Medea lấy một chiếc bát bằng bạc có chứa nước và trùm chiếc khăn bằng lụa màu đen qua đầu rồi ngồi nhìn chăm chăm vào trong chiếc bát. Bà ngồi im lặng như vậy một lúc lâu, rồi nói:

- Một số trong những kẻ hách dịch kia đang đi đến Sphettus nơi cha chúng sinh sống để triệu tập lực lượng, số khác thì đến Gargettus nằm cạnh thành phố để mai phục, sẵn sàng đánh bại chúng ta khi đội quân của chúng từ Sphettus bao vây chúng ta. Trước khi bình minh lên, chúng sẽ tấn công cung điện. Bây giờ ta sẽ đi ngang qua thành phố và bí mật triệu tập những người đáng tin cậy đến để bảo vệ lâu đài, ta sẽ nói với họ rằng con trai của Aegeus, người đã thông những con đường bị những kẻ độc ác chiếm đóng đang ở cùng chúng ta và chàng cần mọi người giúp đỡ để chống lại những kẻ phản bội định cướp ngôi của đức vua. Còn chàng, chàng hãy lên xe ngựa, chạy nhanh tới gặp những người con trai của Phytalus; mang giáo mác, kị binh, bộ binh của họ về đây để mai phục xung quanh làng Gargettus nơi một nhóm binh lính của Pallantidae sẽ nằm đó từ tối nay cho đến tận rạng sáng hôm sau. Phần còn lại thì chàng đã biết rồi đúng vậy không nào. Bây giờ chúng ta phải nhanh chóng thực hiện kế hoạch, nếu không mọi chuyện sẽ hỏng hết.

Theseus gật đầu và mỉm cười. Chàng không ngờ nữ phù thủy Medea, người đã làm biết bao việc xấu khiến các vi thần căm tức, người mà theo những người khác nói là độc ác, lắm mưu nhiều kế bây giờ lại thay đổi và giúp đở chàng cùng cha chàng chống lại những kẻ muốn đoạt ngôi. Chàng điều khiển xe ngựa với tốc độ tối đa đến Aphidnae nơi những người con của Phytalus trang bị lực lượng quân đội tối tân và đã nằm mai phục trong những khu rừng xung quanh làng Gargettus. Mọi việc được tiến hành vô cùng nhanh chóng và theo trật tự. Khi các vì sao gần như biến mất khỏi bầu trời đêm, họ cử binh lính bảo vệ từng con đường dẫn vào trong thành phố. Theseus cùng những nhóm khác nhanh chóng lao vào bên trong giết chết binh lính của những người con trai của Pallas đang ngồi xung quanh những đống lửa lớn. Những kẻ chạy trốn cũng bị những nhóm khác bắt được và tiêu diệt hết trên đường chạy trốn. Lúc đó bầu trời cũng sắp sáng, những tia sáng đầu tiên của ngày mới le lói qua những đám mây xám, chiếu xuống mặt đất khiến cho cảnh vật hiện ra mờ mờ. Theseus dẫn những người đồng chí của mình đến lâu đài của Aegeus và họ đánh bại những đám lính đến từ Sphettus đang bao vây lâu đài của Aegeus.

Đội quân Sphettus bị đánh tan ngay trong cổng sân lâu đài trong khi họ đang cố gắng đốt ngôi nhà của Aegeus. Từ trên mái nhà, những binh lính trung thành của Athen bắn tên như mưa xuống phía dưới, tiêu diệt hầu hết lực lượng của chúng. Quân Pallantidae không có lính gác bởi chúng nghĩ rằng, ngay sau khi vào trong lâu đài chúng sẽ bắt Theseus, thiêu sống chàng và giành ngôi báu. Chúng không ngờ kế hoạch cửa chúng đã bị Medea tiên đoán trước và Theseus đã lập kế hoạch bí mật phản công khiến chúng bất ngờ không kịp trở tay. Sau đó những người bạn của Theseus nhẹ nhàng vào bên trong sân, họ chỉ để lại một số người gác cổng bên ngoài, rồi tấn công đám đông đang rối loạn của những người Pallantid. Giáo mác lao như mưa về phía kẻ thù sau đó quân của Theseus tấn công kẻ thù bằng kiếm. Họ dùng đá lớn ném về phía những tên đang cố gắng trèo qua tường để vào thành. Khi mặt trời xuống, xác chết của bọn Pallantid và đồng đảng nằm ngổn ngang trên sân trước lâu đài. Toàn bộ lực lượng kẻ thù đã bị tiêu diệt.

Thắng trận, Theseus và những người con trai của Phytalus cùng đồng minh của họ diễu binh qua thành phố. Vừa đi họ vừa hô vang rằng hoàng tử hợp pháp của đất nước đã đến và những kẻ cướp bóc cùng lũ người chống đối đã bị giết chết. Mọi người cùng nhau chia sẻ niềm vui, niềm vinh quang chiến thắng của Theseus và những người bạn. Người dân Athen thiêu xác chết và chôn cất tàn tro của họ theo đứng phong tục, tập quán dành cho những người đã chết. Cả ngày hôm đó cả kinh thành mở tiệc ăn mừng. Các tráng sĩ tập trung trong đại sảnh của Aegeus để chúc mừng đức vua và hoàng tử. Ngày hôm sau, Theseus dẫn những người bạn của mình quay trở về Procrustes, giết chết những tên cướp biển bấy lâu nay hoành hành ngang dọc, gây ra bao nhiêu đau khồ cho người dân. Theseus chia toàn bộ số tài sản lấy được từ những tên cướp biển hung hãn cho những người con trai của Phytalus và binh lính của họ. Còn chiếc giường đáng sợ của Procustes họ đem đốt để vĩnh viễn không có bất cứ nạn nhân nào phải chịu cảnh đau đớn trên chiếc giường đó nữa.
 
522 ❤︎ Bài viết: 420 Tìm chủ đề
Chương 35

Huy hiệu chiến thắng

Ngày tháng trôi qua, Theseus cùng cha mình cai trị đất nước trong hòa bình. Những người con trai của Pallas đã bị đánh bại nên không còn kẻ nào dám có ý định cướp ngôi. Tiếng tăm và công trạng của Theseus lan truyền đến khắp mọi nơi trên đất nước Hi Lạp. Những vị chỉ huy của các thành phố nhỏ trong nước đều đến cầu xin Theseus trở thành thủ lĩnh và đức vua của họ. Họ mong muốn khi có kẻ thù đến xâm lược, Theseus sẽ chỉ huy lực lượng của họ đánh đuổi kẻ thù. Họ tôn vinh Theseus là tráng sĩ vĩ đại và dành chọ chàng một sự kính trọng mà không phải vị vua nào cũng có được. Thậm chí họ còn bỏ một khoản tiền lớn để củng cố lực lượng quân đội, xây dựng tường thành và cung cấp tàu thuyền cho Athen bởi lúc đó Athen không có lực lượng hải quân Không ai là không ngưỡng mộ tài năng và lòng dũng cảm của chàng Theseus. Có những người lớn hơn chàng đến chục tuổi hoặc hơn thế cũng cúi đầu tỏ lòng kính trọng trước vị hoàng tử trẻ đầy tài năng. Athen từ một thành phố nhỏ không được nhiều người biết đến thì nay bắt đầu trở nên nổi tiếng. Tất cả đều là nhờ công lao của Theseus. Theseus không hề tỏ ra kiêu căng, chàng đón tiếp các vị chỉ huy một cách lịch sự khiêm tốn và hứa sẽ thực hiện những gì họ đề nghị. Chàng hiểu hơn ai hết tầm quan trọng của việc mở rộng thêm quan hệ, kết giao thêm bạn bè và đồng minh. Chàng không hề biết rằng, sau này chàng được cử đi với tư cách là một phần đồ cống nạp cho đức vua Minos của Crete. Đây là quy định bất thành văn: Cứ chín năm một lần người dân thành Athen phải nộp đồ cống tiến cho đảo Crete.

Mặc dù nhìn từ ngoài mọi thứ có vẻ rất bình yên và hạnh phúc, tuy nhiên Theseus luôn có cảm giác rằng vẫn có điều gì đó không ổn mà chàng chưa phát hiện ra. Đánh thắng những kẻ phàn bội là một thắng lợi lớn nhưng điều đó không có nghĩa rằng mọi vấn đề trong thành đã được giải quyết. Khi chàng đến thăm nhà những người sống trong thành phố, chàng nhìn thấy một bi kịch mà mọi người đang cố tìm cách giấu chàng. Mặc dù ai nấy đều vui vẻ và tự hào khi chàng đến thăm nhà nhưng lần nào cũng vậy, cứ đến nhà ai chàng chỉ gặp những bà mẹ lặng lẽ ngồi dệt vài, đôi mắt họ chất chứa nỗi buồn sâu thẳm. Hầu như chàng không nhìn thấy những người trẻ tuổi, những chàng trai, những cô gái mới lớn. Điều này khiến Theseus vô cùng thắc mắc, khi chàng hỏi những người xung quanh thì họ trả lời rằng những người trẻ đó đang đi thăm bạn bè ở một nơi rất xa trên đất nước Hi Lạp. Câu trả lời đó không làm Theseus thấy thỏa mãn. Chàng vẫn có cảm giác mọi chuyện không đơn giàn như những gì chàng nghe được. Chàng tự nhủ với mình có thể chàng còn chưa biết hết những gì đang diễn ra nơi đây. Những người già và những người trẻ tuổi còn lại trong thành phố thường đứng trên bờ biển đăm chiêu nhìn ra phía đại dương bao la như mong chờ một điều gì đó khác lạ xảy ra. Còn đức vua Aegeus ngồi buồn bã bên cạnh đống lửa lớn, hầu như không nói gì. Qua biểu hiện của cha, Theseus có cảm giác ông đang sợ hãi điều gì đó mà chưa tìm ra cách giải quyết. Nếu thực sự mọi chuyện vẫn tốt đẹp thì cha chàng phải vui vẻ và hạnh phúc mới phải chứ.

Theseus cảm thấy vô cùng khó chịu nhưng chàng không có ý định đến gặp cha hay những người trong thành phố để hỏi bởi chàng biết có làm vậy cũng vô ích. Mọi người quá yêu quý chàng và không muốn chàng phiền lòng vì những rắc rối. Họ nghĩ rằng chàng đã làm quá nhiều việc, đã lập được quá nhiều chiến công cho Athen rồi, bây giờ chàng cần được nghỉ ngơi, ít nhất là thêm một thời gian nữa. Sẽ chẳng có ai chịu tiết lộ cho chàng biết về những gì đang xảy ra khiến họ phải phiền lòng. Chàng và Medea là những người bạn tốt, chàng tin rằng Medea sẽ giải đáp tất cả những thắc mắc của chàng. Một ngày kia, khi chỉ có hai người trong phòng của Medea, chàng nói lại cho bà nghe những gì chàng thấy. Chàng bảo Medea rằng cha và nhưng người dân trong thành phố không chịu nói cho chàng biết chuyện gì đang xảy ra ở nơi đây. Medea thở dài, nói:

- Sự tàn nhẫn của những người con trai của Pallas đã khiến cho người dân thành Athen phải chịu đựng một nỗi bất hạnh lớn. Tai họa chúng gây ra khủng khiếp đến mức ngay cà chàng, hoàng tử Theseus dũng cảm, cũng không thể giải quyết được. Bao nhiêu năm trôi qua nhưng tai họa đó vẫn treo lơ lửng trên đầu người dân Athen khiến cho cha chàng phải sống trong cảnh đau buồn bởi ông là vua nhưng lại bất lực không làm gì được. Kẻ thù của chúng ta không chỉ là một người đàn ông hay một con quái vật mà là một ông vua vĩ đại nhất, hùng mạnh nhất trên thế giới này. Chính vì vậy mà Athen không thể làm gì khác ngoài việc chấp nhận làm theo những gì được yêu cầu.

Theseus nóng lòng muốn biết toàn bộ câu chuyện nên giục:

- Medea, hãy kể cho ta mọi chuyện đi. Mặc dù ta chỉ là một người đàn ông bình thường nhưng các vị thần luôn ở bên cạnh giúp đỡ, ủng hộ ta trên từng con đường ta đi.

- Câu chuyện về tai họa đó rất dài và phức tạp, khi cha chàng - đức vua Aegeus còn trẻ và trở về Athen từ hòn đảo Troezen, nơi chàng sinh ra và lớn lên, ông tuyên bố khai mạc lễ hội tổ chức năm năm một lần. Lễ hội gồm các cuộc thi đấu thể thao bao gồm chạy, thi đấu vật, đấm bốc, đua ngựa, chạy đường dài, không chỉ người dân trong thành Athen mà tất cả những người từ nơi khác đến, tất cả những vị khách lạ đều có quyền tham gia thi đấu. Lần đó rất nhiều người khách qua đường đến tham gia cuộc thi, trong đó có Androgeos, con trai của đức vua vĩ đại Minos, vua thành Knossos trên vùng đảo Crete ở vùng biển phía nam. Đây là một hòn đảo lớn bao gồm hàng trăm thành phố lớn nhỏ khác nhau và thành phố nào cũng giàu có thịnh vượng. Minos là người khôn ngoan nhất và thậm chí ngay cả thần Dớt vĩ đại cũng là người tư vấn cho ông ấy, nhiều lần xuất hiện nói chuyện trực tiếp với ông. Minos cũng là người giàu có nhất thế giới này, không thể đếm được ông có bao nhiêu chiếc thuyền, bao nhiêu binh lính và gia súc. Ông chính là người cai trị toàn bộ các đảo và nếu muốn ông ấy có thể tuyên chiến với đức vua Ai Cập, không gì có thể ngăn cản bước đi của ông. Con trai của Minos đến tham dự cuộc thi đấu thể thao cùng ba chiếc thuyền lớn. Chàng là người khỏe mạnh nhất và nhanh nhẹn nhất trong số những người tham gia. Chàng giành thắng lợi trong cuộc thi chạy, giành phần thưởng trong cuộc thi đấm bốc và đấu vật. Ngoài ra trong tất cả các cuộc thi đấu khác chàng đều dễ dàng vượt qua người khỏe nhất trong số những người con trai của Pallas.

Sau đó, những người con trai của Pallas ghen ghét tài năng của chàng, phần vì xấu hổ không giành được chiến thắng và bị mọi người chê cười, chúng đã giết chết chàng dũng sĩ đáng thương trong một bữa tiệc tổ chức tại đại sảnh của vua Aegeus. Việc giết chết một vị khách trong nhà của đức vua là hành động khiến các vị thần tức giận nhất trong số những hành động xấu xa con người phạm phải trên thế giới này. Vào ban đêm, những con thuyền của chàng hoàng tử con vua Minos lặng lẽ rời khỏi Athen quay trở về nhà để báo tin dữ cho đức vua vĩ đại của họ. Một tháng sau, vùng biển trước mặt Athen đông nghịt những chiến thuyền của vua Minos đến đòi công bằng cho con trai mình. Binh lính của đức vua Minos nhiều vô số, ai nấy đều mặc trên người những bộ áo giáp bằng đồng sáng loáng. Đó là những binh lính tài giỏi và dũng cảm nhất, hầu như không ai dám đối mặt với họ trong chiến trận. Vua Aegeus và những người lớn tuổi trong thành lặng lẽ ra gặp vua Minos trong bộ tang phục đau thương, trên tay họ cầm những cành cây kết với len là dấu hiệu chứng tỏ họ đến Để cầu xin sự tha thứ. Athen chỉ là một thành phố nhỏ nên không đủ lực lượng để chống lại sức mạnh của quân đội đảo Crete rộng lớn. Khi nhìn thấy đức vua Aegeus cùng những vị bô lão trong triều, đức vua Minos nói: "Ta chỉ đồng ý tha thứ cho các ngươi nếu các ngươi chịu giao nộp những kẻ đã giết chết con trai của ta. Nợ máu phải trả bằng máu, con trai ta chết một cách oan uổng, chính vì vậy ta phải trả thù cho nó để linh hồn nó được siêu thoát." Tuy nhiên, Aegeus lại không thể giao nộp cho vua Minos những đứa con của Pallas bởi ngay sau khi giết chết con trai của vua Minos, chúng đã chạy trốn đến một nơi mà không ai tìm thấy chúng. Chúng lang thang nơi này nơi khác, trốn trong những túp lều của nông dân, lẩn tránh tại những vùng xa xôi nhất của nước Hi Lạp. Cha chàng đã cho người tìm kiếm khắp nơi nhưng vô ích. Vua Minos không đốt cháy thành phố Athen, cũng không giết chết người của vua Aegeus hay bắt phụ nữ về làm nô lệ. Những thứ đó cũng không thể đánh đổi được mạng sống con trai ông. Tuy nhiên, vua Minos bắt Aegeus và các vị đại thần trong triều phải hứa cứ chín năm một lần, Athenẽ phải lựa chọn bảy chàng trai khỏe mạnh nhất, bảy cô gái xinh đẹp nhất để cống nạp cho ông, Aegeus phải cử người đưa họ đến tận đảo Crete. Nếu không làm được điều đó thì ngay lập tức ông sẽ cho quân đội đến tấn công Athen mà không có bất cứ hình thức giảm nhẹ nào. Cứ chín năm, cha chàng lại phải cử một con thuyền đưa những tù binh được lựa chọn đến đảo Crete. Ngày mai đã đến hạn phải cống nạp rồi. Vậy chàng có thể chống lại vua Minos không? Nếu chàng nghĩ là chàng có thể làm được thì chàng dự định sẽ làm gì?

Theseus nghe xong câu chuyện cảm thấy vô cùng tức giận những người con trai của Pallas, chàng nắm chặt chuôi kiếm và nói:

- Chúng ta sẽ đốt tàu của vua Minos, chúng ta có thể giết chết người của ông ta.

- Làm như vậy chỉ tránh được năm nay thôi nhưng chàng có nghĩ đến hậu quả của hành động đó không? Sang năm, vua Minos sẽ cùng binh lính của ông ta đến Athen, đốt cháy thành phố của chúng ta, giết chết người của chúng ta. Các thành phố khác của Hi Lạp đều nể sợ Minos, chính vì vậy sẽ chẳng ai ủng hộ chúng ta, chẳng ai đến giúp đỡ chúng ta cả. Lúc đó chàng sẽ làm thế nào để cứu cả thành phố Athen đây?

Câu hỏi của Medea khiến Theseus như sực tỉnh. Chàng đáp lại:

- Vậy chúng ta cứ phải cống nạp cho Minos ư? Chẳng lẽ cứ sau chín năm chúng ta lại phải đem những người khỏe mạnh nhất và xinh đẹp nhất của mình cống nạp cho họ thật sao? Nếu tôi còn sống và nếu các vị thần giúp đỡ tôi thì trong tương lai tôi sẽ có một hạm đội thuyền, một lực lượng quân đội hùng mạnh và Minos sẽ phải chiến đấu vất vả vì những món cống nạp của ông ta. Trong vòng chín năm tới, Athen sẽ trở nên hùng mạnh nhất so với tất cà các thành phố xung quanh với lực lượng quân đội lớn mạnh và những con thuyền lớn, tốt nhất. Tôi tin rằng mình có thể làm được như vậy. Medea, hãy nói cho tôi biết Minos đối xử với những tù nhân đến từ Ahen như thế nào? Ông ta có đối xử tốt với họ không hay đem họ ra làm vật trút những cơn giận dữ của ông ta?

Medea đáp:

- Chưa ai quay trở về để kể câu chuyện đó cả, nhưng những thủy thủ của Minos nói rằng ông ta để những tù binh trong một nhà tù lạ được gọi là Labyrinth. Khu nhà tù này có những lối đi ngoằn ngoèo, tối, cắt ngang qua những tảng đá lớn. Phần lớn tù nhân khi lạc vào trong khu nhà tù này sẽ không tìm được lối ra và chết vì đói. Trong trường hợp họ may mắn sống sót khỏi cơn đói thì chỉ một thời gian ngắn sau họ sẽ gặp một quái vật tên là Minotaur. Con quái vật này có cơ thể của con người, có chân, có tay giống như chúng ta nhưng đầu của hắn là đầu bò hàm răng của sư tử. Không một người đàn ông nào từng địch nổi sức mạnh của nó. Có lẽ biết bao nhiêu tù nhân khốn khổ đã bỏ mạng trong nhà tù này rồi. Mỗi khi gặp một tù nhân nào bên trong nhà tù con quái vật sẽ tung người lên, dùng sừng húc chết nạn nhân tội nghiệp sau đó ăn thịt họ. Ta không biết nguồn gốc xuất xứ của con quái vật này nhưng có thể sự thật về nó vẫn chưa được tiết lộ. Có lẽ chỉ có Minos và những người thân của ông ta mới biết được bí mật về nó. Thực ra, Minos không thể tự mình giết chết những người đang sợ hãi bởi như vậy mọi người sẽ chê cười ông ta, và ông ta sẽ cảm thấy vô cùng đau khổ và xấu hổ. Mặt khác, ông ta cũng không thể giết chết con quái vật đáng sợ này và cũng chẳng thể tìm được ai có đủ sức mạnh để làm điều đó. Chính vì vậy, trong sự giận dữ đối với những người đến từ Athen, ông ta thề rằng cứ chín năm ông ta sẽ tặng cho con thú dữ đó mười bốn người Athen để nó toàn quyền xử lý. Tất cả những người bị nhốt vào trong nhà tù đó đều không có vũ khí, không mang bất cứ một thứ gì có thể sử dụng được để chống lại con quái thú. Tuy nhiên, thực lòng Minos cũng chẳng yêu quý gì con quái thú mà ngược lại ông ta căm thù nó giống như người Athen bởi nó gây cho ông ta biết bao nhiêu phiền toái. Hiềm nỗi ông ta lại không có cách nào giết chết được Minotaur nên đành bó tay. Ông ta cũng thề rằng nếu một người Athen hoặc tất cả những tù nhân bị nhốt trong nhà tù có thể kết hợp giết chết được con quái thú thì Athenẽ được trả tự do khỏi sự kiểm soát của ông ta và sẽ không phải nộp đồ cống nạp nữa.

Theseus cười lớn và đứng dậy như thể chàng đã tìm ra cách để giúp người dân nước mình. Chàng nói với Medea:

- Nếu các vị thần ủng hộ ta thì vua Minos sẽ được giải thoát khỏi con quái thú đáng sợ kia và Athenẽ không còn phải cống nạp cho Minos như trước nữa. Ta không cần phải suy nghĩ nhiều hay lo lắng về bất cứ điều gì cả. Ta sẽ rất vui đi cùng những người khác đến đảo Crete. Ta không tin rằng mình sẽ không thắng nổi con quái thú đáng sợ đó.

Nghe xong những lời đó, Medea đáp:

- Ta không cần là một nhà tiên tri cũng có thể đoán được chàng sẽ nói như vậy sau khi nghe toàn bộ câu chuyện. Chính vì vậy cha chàng không muốn cho chàng biết bất cứ điều gì về vấn đề này. Về phần mình, ta nghĩ rằng chàng có quyền được biết và có nghĩa vụ phải biết bởi chàng chịu trách nhiệm về số phận của thành phố Athen cùng bao người dân nơi đây. Lúc này, ta có thể làm được một điều để giúp chàng. Hãy cầm lấy lọ thuốc này và giấu nó vào bên trong ngực chàng. Khi chàng đối mặt trực diện với quái vật Minotaur, hãy làm đúng theo những gì ta bảo chàng sau đây.

Medea thì thầm điều gì đó với Theseus và chàng chăm chú lắng nghe như nuốt từng lời của bà.

Chàng rời khỏi phòng của Medea và đi thẳng đến đỉnh đồi nơi Athen được xây dựng. Tại đây, chàng nhìn thấy một cảnh tượng đau lòng: Tất cả mọi người tập trung lại nơi đây, khóc lóc, nhìn hướng ra vùng biển khơi bao la. Bây giờ thì chàng đã hiểu tại sao họ lại đau buồn đến thế. Một con thuyền treo buồm đen nhanh chóng lướt trên mặt biển và hướng thằng vào bờ. Ở mỗi phía của con thuyền phát ra những ánh sáng lấp lánh của lá chắn và áo giáp của những người trong đoàn thủy thủ. Vừa nhìn thấy con thuyền, mọi người lại càng khóc to bởi giây phút con thuyền cập cảng thì cũng là lúc họ phải nói lời vĩnh biệt với những người con thân yêu của mình. Từ trước đến giờ chưa ai ra đi mà quay trở lại cả, chính vì vậy lần chia tay này có thể coi là lần chia tay mãi mãi. Theseus đứng giữa đám đông và nói lớn:

- Những người bạn yêu quý của ta. Ta biết rằng con thuyền kia chính là con thuyền mang đến cho chúng ta một nỗi đau không gì bù đắp nổi. Nó sẽ mang những người con khỏe mạnh và xinh đẹp nhất của chúng ta đi. Lần này, ta sẽ đi cùng mọi người đến Crete và giết chết con quái thú Minotaur, chấm dứt việc nạp đồ cống tiến. Ta là. Hoàng tử của Athen, ta phải có trách nhiệm giải quyết vấn đề này. Ta không thể đứng im nhìn mọi người tiếp tục chịu đựng đau khồ như vậy. Có phải ta đã giết chết Sirius, Sciron, Cercyon và Procrustes không? Vậy thì Minotaur cũng nằm trong danh sách những kẻ độc ác phải chết dưới bàn tay của Theseus này. Bảy người con trai và bảy người con gái phải đi đến Crete làm đồ cống sẽ đi cùng ta đâu rồi?

Theseus vừa dứt lời, bảy chàng trai trẻ đẹp, cao lớn, khỏe mạnh nhất Athen cùng bảy cô gái xinh đẹp nhất bước lên phía trước. Có Theseus cùng đi, họ cảm thấy vững tin hơn rất nhiều. Họ đồng thanh nói:

- Hỡi hoàng tử Theseus, chúng tôi sẽ cùng sống chết với người.

Những người dân trong thành nhìn Theseus với ánh mắt khâm phục và kính trọng. Họ cảm thấy Athen thật may mắn khi có một vị hoàng tử tốt bụng và dũng cảm như vậy. Chàng không quản ngại nguy hiểm, khó khăn, sẵn sàng chia sẻ mọi điều với thần dân. Trước tinh thần trượng nghĩa của hoàng tử mọi người lau nước mắt cùng nắm tay cầu nguyện cho Theseus và những người còn lại gặp nhiều may mắn. Họ tin tưởng vào một ngày mai tươi sáng, tin rằng rồi con em của họ sẽ có cơ hội quay trở về.

Rồi bảy chàng trai và bảy cô gái vững bước tiến lên phía trước. Những cô gái trẻ cũng cao lớn và xinh đẹp giống như nữ thần đá Caryatides, những người chống đỡ mái của các ngôi đền. Bảy chàng trai trong đoàn đem lòng yêu bảy cô gái xinh đẹp. Họ không còn sợ hãi như trước, ai nấy đều cảm thấy phấn chấn hơn rất nhiều. Theseus quả là một nguồn động viên tinh thần lớn đối với họ. Họ ra đi, trong lòng cảm thấy nhẹ nhàng và thanh thản. Họ hét lên:

- Chúng tôi sẽ cùng sống hoặc chết với người, hoàng tử Theseus và những người chúng tôi yêu quý.

Rồi tất cả mọi người đều đồng thanh hô vang, tiếng hô to đến nỗi đức vua Aegeus cũng nghe thấy. Ông vội vã rời lâu đài tiến thẳng lên đỉnh đồi, Medea đi bên cạnh ông. Aegeus hỏi:

- Tại sao các con lại hét lên với vẻ vui sướng như vậy? Chẳng lẽ đó không phải là con thuyền của thần chết hay sao? Chăng lẽ chúng ta không phải nộp đồ cống cho vua Minos hay sao?

Theseus đáp lại lời cha:

- Thưa cha, chúng con vui sướng như vậy bởi vì chúng con sẽ ra đi như những người tự do, theo nguyện vọng và ý chí của mình. Những người đàn ông, phụ nữ này và con sẽ cùng nhau đến đảo Crete để thử vận may, biết đâu các vị thần sẽ giúp đỡ chúng con thoát khỏi những nguy hiểm chúng con có thể gặp phải. Chúng con sẽ cố gắng hết sức để tự giúp mình, giúp thành phố Athen yêu quý. Không gì có thể ngăn cản được chúng con bởi từ giờ phút này trở đi Athenẽ được tự do, chúng ta sẽ không phải chịu sự kiểm soát của bất cứ vị vua nào, kể cả vua Minos vĩ đại của đảo Cretes.

Aegeus bất ngờ trước quyết định của con trai, ông không nghĩ rằng Theseus sẽ đi cùng những người trẻ tuổi kia. Ông vừa nói vừa khóc:

- Theseus, con trai yêu quý của ta. Con quyết định ra đi thật sao? Vậy từ nay ai sẽ bảo vệ ta, ai sẽ chỉ đường cho ta đây? Con biết không, con là ánh sáng của ta, là sức mạnh của đôi tay ta. Mất con rồi ta biết phải làm gì đây? Con không thương xót người cha già tội nghiệp này sao? Cha chưa được hưởng niềm vui trọn vẹn kể từ khi có con ở bên cạnh thì con lại rời xa ta.

- Tại sao đức vua lại khóc một mình trong khi những ông bố bà mẹ của những người bạn đi cùng con đã lau khô nước mắt từ bao giờ rồi? - Theseus đến bên cạnh cha và nói - Các vị thần sẽ giúp đỡ cha và người phụ nữ thông minh đang đứng bên cạnh cha nữa. Chính bà đã chỉ cho con cách giết chết những người con trai hung hãn của chú Pallas đó. Cha đang có một vật báu ở bên cạnh mình mà không biết. Medea sẽ trở thành trợ thủ đắc lực của cha mỗi khi cha cần. Trong thắng lợi vừa rồi, công sức mạnh thuộc về con, còn mưu kế thì thuộc về Medea. Cha hãy xin bà lời khuyên mỗi khi có việc gì đó bởi không ai khôn ngoan hơn người phụ nữ này. Trước kia, con cứ nghĩ rằng bà là một mụ phù thủy độc ác nhưng bây giờ thì không phải như vậy, con và Medea đã trở thành những người bạn tốt của nhau. Cha à, con thuyền đang đến gần rồi, chúng con phải đi đây. Cha ở nhà nhớ giữ gìn sức khỏe nhé. - Rồi chàng quay sang nói với Medea - Medea, bạn tốt của ta, bà hãy chăm sóc cha ta nhé. Ta tin tưởng vào bà. Hi vọng sẽ sớm gặp lại.

Sau đó, Theseus ôm chầm lấy Aegeus, còn Medea hôn lên má chàng. Những chàng trai và cô gái trẻ đẹp hôn cha mẹ mình rồi chào tạm biệt cha mẹ. Theseus dẫn đầu đoàn người tiến về phía trước. Một lát sau, Medea cho người đánh xe ngựa đuổi theo đưa cho Theseus và những người khác quần áo mới để thay đổi cùng thức ăn, rượu và những thứ cần thiết khác. Họ sẽ đi trên con thuyền thuê của mình bởi đó là phong tục. Tuy nhiên Theseus cùng mười bốn người trẻ tuổi không thể mang kiếm hay bất cứ một loại vũ khí chiến tranh nào. Con thuyền giương buồm đen nhưng Aegeus đưa cho thuyền trưởng một cánh buồm màu đỏ và dặn rằng nếu Theseus quay trở về an toàn thì hãy giương buồm đỏ lên, còn nếu không, cứ để buồm đen như bình thường. Ông muốn biết số phận của con trai mình như thế nào. Mặc dù không muốn Theseus đi nhưng đức vua lại không thể ngăn cản nổi con trai duy nhất của mình bởi ý chí của chàng mạnh mẽ hơn ông. Hơn nữa, nếu làm như vậy những ông bố bà mẹ khác sẽ phẫn nộ và căm tức đức vua vì không chịu hi sinh cho đất nước. Mặt khác, ông hiểu Theseus muốn đi để chấm dứt mọi phiền toái cho người dân Athen, giúp Athen trở thành một thành phố hoàn toàn tự do, không phải chịu sự kiểm soát của bất cứ người nào. Thế nhưng, là cha, Aegeus không thể không lo lắng cho con trai mình. Mặc dù biết Theseus có sức khỏe vô địch nhưng con quái thú là một con vật vô cùng khủng khiếp. Hơn nữa, dù có giết chết được con quỷ thì chàng cũng sẽ vĩnh viễn phải ở lại trong mê cung vì mê cung này là một công trình xây dựng nổi tiếng với vô vàn ngõ ngách rắc rối. Một khi đã lạc vào đây thì sẽ không bao giờ tìm được lối ra.

Thuyền trưởng và những người lính canh cùng đoàn thủy thủ đều đến từ đảo Salamis bởi vào thời đó Athen không có bất cứ con thuyền nào phù hợp cho một chuyến đi dài ngày mà chỉ có những thuyền đánh cá Nhỏ. Khi Theseus và những người đồng hành của mình lên trên thuyền, họ gặp người đưa tin của vua Minos đang cầm một chiếc quyền trượng thiêng liêng. Những người đưa tin là những người linh thiêng và giết chết người đưa tin là một tội ác khủng khiếp khiến các vị thần nổi giận lôi đình. Khi gặp Theseus, ông ta dừng lại, trầm trồ ngưỡng mộ trước vẻ đẹp và sức mạnh của chàng. Ông ta quay sang hỏi Theseus:

- Hỡi chàng trai trẻ, chàng từ đâu đến? Tại sao chàng lại đi cùng mười bốn người kia. Chàng biết họ sẽ đi đến đâu không? - Tôi không biết điều đó, tôi cũng không biết ông là ai hay những người ở đây là ai nhưng họ và tôi đang đến cùng một đích mà các vị thần dành riêng cho chúng tôi. Tôi tin rằng dù thế nào thì các vị thần cũng đối xử với con người hết sức công bằng, dành cho họ những món quà mà họ xứng đáng được hưởng. - Theseus trả lời - Xin ông đừng nói chuyện với tôi nữa và xin đừng đến gần những người Athen bởi hôm nay tinh thần của chúng tôi vô cùng phấn chấn và một số người trong số chúng tôi lại mang theo kiếm nữa. Tôi không muốn có bất cứ chuyện gì không hay xảy ra.

Giọng nói và ánh mắt của Theseus khiến cho người đưa tin hoảng sợ, ông ta cùng người của mình quay lại đằng sau như thể chính bản thân họ mới là tù nhân còn Theseus là ông chủ. Ngay từ nhỏ, Theseus đã là một cậu bé vô cùng dũng cảm và chẳng sợ bất cứ thứ gì. Dù trước mặt chàng là kẻ thù hung dữ hay những kẻ nham hiểm, chàng vẫn luôn giữ vững tinh thần khí khái của mình.
 
522 ❤︎ Bài viết: 420 Tìm chủ đề
Chương 36

Chàng Theseus ở đảo Crete

Sau nhiều ngày lênh đênh trên biển, con thuyền đưa Theseus và những người đồng hành đến Crete đang đi qua những eo biển hẹp nằm phía dưới những đỉnh núi tuyệt đẹp tô điểm cho các hòn đảo. Tiếp theo họ đi qua một vùng biển rộng cách đất liền một đoạn đường khá xa. Họ trầm trồ nhìn ngắm đỉnh của ngọn núi lửa thuộc hòn đảo Crete, quả thật đây là lần đầu tiên trong đời họ được tận mắt nhìn thấy một ngọn núi cao và đẹp như vậy. Con thuyền đi vào trong bến, nơi có hàng trăm con thuyền khác đang nằm thả neo và một đám đông lớn đang tụ tập trên bờ. Mới nhìn qua cũng biết Crete là một hòn đảo náo nhiệt, giàu có. Theseus nhìn ngắm những con thuyền không chán mắt. Chàng lẩm nhẩm đếm nhưng không tài nào đếm được chính xác có bao nhiêu con thuyền đang đậu trong bến cảng. Tất cả đều rất to và chắc chắn, xứng đảng được mệnh danh là chiến thuyền hạng nhất. Khu cảng nơi những con thuyền thả neo được bao bọc bởi những bức tường khổng lồ. Trong khi thuyền của Theseus cập bến, họ thấy hàng trăm lính gác của vua Minos, ai nấy đều được trang bị lá chắn khổng lồ, áo giáp làm bằng đồng và đội mũ bào vệ có hai sừng phía trên đang tập trung trên bến cảng. Họ vây quanh nhóm người đến từ Athen rồi sau đó tất cả mọi người diễu hành đến thị trấn Knosos và lâu đài của đức vua. Quân đội trên hòn đào này cũng được huấn luyện cẩn thận và nghiêm khắc, Theseus có cảm giác họ tuân thủ một nguyên tắc nghiêm ngặt và qua đây chàng cũng phần nào hiểu được sức mạnh và quyền lực to lớn của vua Minos.

Nếu Theseus lấy làm kinh ngạc trước bến cảng của hòn đảo thì khi vào sâu trong thành phố chàng còn thấy ngạc nhiên hơn. Đó là một thành phố lớn dường như vô tận, xung quanh thành phố là một bức tường cao, cứ mấy chục mét lại có một tháp canh hình vuông với những ô cửa sổ nhỏ ở trên cao. Những ngọn tháp này giống hệt những ngọn tháp mà các bạn có thể thấy ở giữa những ngọn đồi sau những dòng suối nằm ở biên giới phía nam Scotland và phía bắc Anh. Những ngọn tháp đó được xây dựng khi nước Anh và Scotland đang giao chiến với nhau. Tuy nhiên, khi họ đi qua cổng của tòa tháp chính thì thành phố dường như còn đáng chiêm ngưỡng hơn với những bức tường thành cao và dài bởi tất cả những gì bên trong nó đều không giống với những thành phố của Hi Lạp. Đường phố được lát phẳng bằng đá, uốn lượn giữa những ngôi nhà giống như những con đường của chúng ta. Nhà ở đây không chỉ có một tầng mà là những ngôi nhà hai hoặc ba tầng với lối kiến trúc độc đáo. Tầng dưới không có cửa sổ nhưng từ tầng hai trở lên, mỗi tầng có rất nhiều cửa sổ và mỗi cửa sổ có rất nhiều ô được sơn màu đỏ. Mỗi cửa sổ mở ra một ban công và các ban công là nơi các quý bà, quý cô tập trung đông đúc trong những bộ trang phục vui vẻ, tươi mới, sặc sỡ giống như màu sắc của trang phục chúng ta mặc bây giờ. Đây là một điểm khác biệt giữa phụ nữ ở Crete với phụ nữ trên đất nước Hi Lạp. Những người phụ nữ ở đây thường đội mũ và thả tóc dài xuống thành từng lọn trên vai, họ mặc những chiếc áo màu trắng, áo khoác ngắn được thêu bằng vải lụa sáng màu và áo sơ mi có nhiều đường viền ren ở vạt áo. Họ đứng trên ban công cười vui vẻ và nói chuyện với nhau. Khi đoàn diễu hành đi qua họ nhìn xuống nhóm tù nhân với tâm trạng khác nhau. Một số người thì cảm thấy thương xót cho nhưng cô gái đến từ Athen bởi họ còn quá trẻ lại vô cùng xinh đẹp. Nhưng người khác vừa nhìn thấy Theseus dẫn đầu đoàn diễu hành với dáng vẻ hiên ngang, chàng lại cao hơn những người lính gác cao nhất trong đoàn một cái đầu, liền ném hoa xuống chân chàng như thể họ đang chào đón một vị khách quý và hét to:

- Hãy cố lên hỡi hoàng tử đẹp trai.

Nhìn dáng vẻ của chàng họ không tin rằng chàng là một tù nhân bình thường như những người khác. Nhiều cô gái còn nói với nhau giá như họ lấy được một người chồng đẹp trai và dũng mãnh như chàng trai trẻ kia thì hạnh phúc biết mấy.

Càng ngày mọi người càng tập trung đông trên đường phố, đoàn diễu hành dừng lại trước một ngôi nhà lớn, cao hơn tất cả những ngôi nhà còn lại. Trên ban công của ngôi nhà có một người phụ nữ trẻ, xinh đẹp đang ngồi một mình trên ghế, còn những người khác đứng xung quanh nàng như thể họ là hầu gái của nàng. Người phụ nữ này ăn vận đẹp nhất, trẻ nhất, đẹp nhất và trang nghiêm nhất trong tất cà những phụ nữ trên ban công. Nếu ai đó ngước mắt nhìn lên thì chắc chắn người đầu tiên họ chú ý tới chính là cô gái xinh đẹp đó. Nàng không phải ai khác mà chính là công chúa Ariadne, con gái cửa đức vua Minos. Trông dáng vẻ của nàng rất nghiêm nghị, đầy vẻ cảm thương cho những người Athen đang đi phía dưới. Trong lúc đó Theseus vô tình ngước nhìn lên, bốn mắt gặp nhau và họ nhìn nhau đăm đắm như không thể dứt ra được. Theseus chưa từng nghĩ nhiều đến bất cứ cô gái nào bởi với chàng tình yêu không phải là thứ quan trọng nhất. Chàng vẫn còn trẻ, lại khao khát lập được nhiều chiến công và phải lo lắng rất nhiều điều nên tâm trí chàng không dành nhiều cho phụ nữ. Nhưng lần này thì khác, đột nhiên, chàng trở nên nhợt nhạt và bối rối bởi chàng chưa từng nhìn thấy một cô gái nào đẹp như vậy. Vẻ đẹp của nàng có thể làm lu mờ tất cà những cô gái xinh đẹp xung quanh và khiến cho những loài hoa đẹp nhất cũng phải ghen tị. Còn Ariadne cũng không kém phần bối rối, hai má nàng đỏ ửng lên vì xấu hổ, rồi nàng quay mặt đi chỗ khác để tránh ánh mắt của chàng hoàng tử đẹp trai. Tuy nhiên, đôi mắt của nàng vẫn kín đáo dõi theo từng bước đi của Theseus, bởi ngay từ cái nhìn đầu tiên nàng đã có cảm giác đây chính là tình yêu đích thực của nàng. Theseus biết cô gái xinh đẹp kia vẫn đang nhìn theo mình và một cảm giác kì lạ trào đến trong tim chàng.

Những người lính canh giải tán đám đông, còn bọn họ tiếp tục diễu binh cho đến khi đã vào bên trong những bức tường của lâu đài. Tường và cổng nơi đây đẹp hơn rất nhiều so với tường và cổng xung quanh thành phố. Theseus có cảm giác càng đi sâu, chàng càng tìm thấy nhiều điều thú vị. Hòn đảo này quả là một hòn đảo giàu có theo đúng nghĩa của nó, giàu có ở đây không chỉ là số lượng tiền bạc và của cải vật chất mà còn bao gồm cả nền văn hóa, các công trình kiến trúc và những tác phẩm nghệ thuật thu hút người xem. Tuy nhiên, điều ngạc nhiên lớn nhất trong số tất cả những điều khiến Theseus phải chú ý chính là tòa lâu đài của đức vua. Đó là một lâu đài được xây dựng trong một công viên rộng và chỉ tính riêng lâu đài này Theseus cũng đã có cảm giác nó còn rộng lớn hơn tất cả nhưng thành phố và thị trấn mà chàng từng đến như Troezen, Aphidnae hay Athen. Nhìn từ xa có thể thấy rất nhiều mái nhà có kích thước và độ cao khác nhau. Hàng trăm ngàn mái nhà, hàng ngàn ô cửa sổ, ruộng bậc thang, rồi các khu vườn cây cối um tùm, cỏ hoa tươi tốt Ngay cả tính đến thời bây giờ không có một tòa lâu đài của bất cứ ông vua nào có thể to lớn và vững chãi như lâu đài của Minos. Trong khuôn viên của lâu đài có rất nhiều vòi phun nước, nhiều loại hoa và cây cối tỏa ra mùi hương ngọt ngào đang đua nhau khoe sắc. Khi những người Athen được đưa vào bên trong lâu đài, họ cảm thấy dường như mình bị lạc giữa những hành lang uốn lượn và những đại sảnh lớn. Đây ắt phải là kì công của một nghệ nhân nổi tiếng nào đó. Theseus ngắm cung điện của đức vua với ánh mắt thèm muốn và ngưỡng mộ. Chàng ước gì sau này Athen cũng có được một tòa lâu đài giống như vậy.

Tường trong lâu đài được sơn những bức tranh có những chú cá đang bay trên một vùng biển trắng. Bên cạnh đó, có rất nhiều loại cá khác nhau bơi lội dưới biển khơi. Còn có cả những tranh vẽ những trận đấu bò, những chàng trai, cô gái đang trêu đùa với những chú bò hung dữ và ném những cành lau lên đầu chú ta. Một con bò tung một cô gái lên không trung. Trên tường của ban công là hình vẽ những cô gái xinh đẹp đang nhìn xuống. Còn có những bức tường được trang trí với hình những chú bò tót và hoẵng bằng thạch cao cứng trông rất thời trang và dường như đó là những bức tường được sơn sửa thoải mái nhất trong lâu đài. Một số bửc tường nữa được sơn hình những chiếc lá và những bông hoa rất đẹp tạo nên sự phong phú, đa dạng trong lâu đài

Các căn phòng trong lâu đài chứa đầy đồ vật đắt tiền, những chiếc ghế tựa được nạm vàng bạc, ngà voi, những chiếc hòm bên trong được tráng một lớp sứ bóng trong rất đẹp mắt. Có những tấm thảm đỏ trang trọng trải trong hành lang chứa nhũng hàng lọ bình dài, mỗi chiếc bình có kích thước đủ lớn để chứa một người đàn ông ngồi bên trong giống như những chiếc bình trong câu chuyện của chàng Alibaba và bốn mươi tên cướp. Bên cạnh đó có những viên đá mang từ Ai Cập về, trên mặt của chúng có khắc hình các vị thần và các ông vua cùng với loại chữ viết rất lạ của người Ai Cập. Một trong số những vật cũng khiến người đến thăm phải chú ý là nhũng chiếc cốc bằng vàng bạc với hình dáng độc đáo. Tôi không thể kể ra đây một nửa những đồ đẹp mắt và quý giá trong lâu đài của vua Minos bởi chúng quá nhiều, quá phong phú. Điều quan trọng là chúng ta biết rằng nó là sự thật bởi tất cả nhũng thứ bên trong lâu đài hoặc các hình vẽ của chúng đều đã được khai quật từ trong lòng đất và sau nhiều lần đào xới vẫn có rất nhiều đồ vật của lâu đài này tiếp tục được khám phá.

Những người đến từ Athen bỡ ngỡ, hoa mắt và cảm thấy như bị lạc trong những căn phòng và hành lang được trang trí đẹp mắt. Sau đó, họ đựợc đưa đến đại sảnh lớn được gọi là phòng của ngôi báu, nơi vua Minos đang ngồi trên ngai vàng với rất nhiều vị chỉ huy, các đại thần, hoàng tử xung quanh. Tất cả bọn họ đều mặc những bộ quần áo choàng bằng lụa, đeo đồ trang sức bằng vàng. Các vị đại thần ngồi ở hai bên, ở giữa có một con đường nhỏ dẫn thẳng tới chỗ đức vua. Theseus đi đầu với dáng vẻ hiên ngang. Vua Minos đang ngồi trên ngai vàng, tay đỡ cằm và nhìn chăm chú về phía Theseus. Theseus cúi người xuống sau đó đứng thẳng dậy, mắt nhìn trực diện đức vua Minos. Cuối cùng nhà vua lên tiếng:

- Các ngươi có tất cả mười lăm người đúng vậy không?

- Đúng vậy thưa đức vua. - Theseus đáp lại - Tôi tự nguyện đi đến đây và những người bạn của tôi cũng vậy. Không có gì bị coi là ép buộc ở đây cả.

- Vậy sao?

- Thưa đức vua, người dân Athen mong muốn được tự do và chúng tôi sẽ cố gắng làm được điều đó.

Minos khẽ mỉm cười nói:

- Có một cách, ta luôn mỏ đường cho mọi người mà. Hãy giết chết Minotaur và các ngươi sẽ không phải nộp đồ tiến cống nữa.

- Tôi quyết tâm sẽ giết chết con quái vật đó.

Trong khi, Theseus nói điều này, các vị chỉ huy quay sang bàn tán với nhau. Các hoàng tử và các thầy cúng tế cũng lắc đầu với vẻ thông cảm cho chàng trai trẻ. Họ nghĩ rằng chàng trai không hề biết rõ Minotaur nên mới dám tuyên bố như vậy. Công chúa Ariadne nhẹ nhàng đi lên phía trên đứng cạnh cha mình để quan sát mọi người được kĩ hơn. Theseus cúi người thấp xuống tỏ ý muốn chào nàng công chúa xinh đẹp rồi lại đứng thẳng người lên, mắt nhìn thẳng về phía Ariadne. Vua Minos cũng tròn mắt ngạc nhiên và hỏi:

- Nhà ngươi nói với khí khái giống như con trai của đức vua vậy. Chắc ngươi không biết gì đến con ngưu nhân đó, không biết gì về điều bất hạnh đang chờ đợi mình ở phía trước.

- Tất nhiên là tôi biết rõ tất cả sự bất hạnh mà những chàng trai, cô gái của chúng tôi phải chịu đựng. Tôi là Theseus, con trai của vua Aegeus.

- Đây đúng là một tin mới rồi. Hồi ta gặp vua Aegeus, ta không nghe nói ông ấy có một người con trai nhưng có rất nhiều cháu trai.

Theseus đáp lại nhà vua:

- Đó là chuyện trước kia thôi. Còn bây giờ ông không có cháu trai mà chỉ có một người con trai duy nhất là tôi thưa đức vua Minos.

- Vậy sao? Vậy là ngươi đã giúp ta trả thù những kẻ giết chết con trai ta. Như vậy rất công bằng, đó là thanh kiếm của ngươi đúng không? Chính ngươi đã giải thoát cho Aegeus khỏi những người con trai của Pallas.

- Không chỉ có tôi mà còn có những người bạn của tôi nữa, trong số đó có cả bảy chàng trai tuấn tú đang đứng trước mặt đức vua đây. Chúng tôi là những người bạn tốt và chúng tôi sẵn sàng chia sẻ khó khăn, nguy hiểm và không hề hối hận.

Minos lại mỉm cười nói:

- Ta sẽ biết điều đó nếu nó là sự thật.

- Tất nhiên đó là sự thật rồi thưa đức vua.

Theseus nói lớn, chàng sờ tay xuống hông nơi chàng thường treo kiếm nhưng lúc này chàng làm gì có kiếm bên người.

Vua Minos nói:

- Ngươi vẫn còn rất trẻ và ta sẽ tìm hiểu thêm về những điều nhà ngươi vừa nói - Rồi ông ta hét lên với lính gác của mình - Hãy dẫn những chàng trai và cô gái này đến phòng của họ trong lâu đài. Mỗi người sẽ có một phòng riêng và mọi thứ trong phòng phải tương đương với những đồ vật dành cho các công chúa, hoàng tử. Ngày mai ta sẽ họp bàn với các đại thần trong triều.

Theseus liếc mắt nhìn Ariadne. Nàng đứng bên cạnh cha và giơ tay phải lên như thể nàng muốn chỉnh lại khăn che đầu của mình nhưng thực tế là muốn chào chàng trai trẻ. Theseus nhận ra ám hiệu của công chúa và cúi chào nàng, vua Minos cùng những người khác. Rồi họ được đưa về những căn phòng đẹp và sang trọng hơn tất cả những gì họ có thể tưởng tượng trong giấc mơ của mình. Họ không ngờ mọi thứ nơi đây lại đẹp đến như vậy chẳng thể chê bai hay phàn nàn về bất cứ chi tiết nào dù chỉ là nhỏ nhất. Mỗi người trong đoàn đến từ Athen đều được người hầu trong cung điện dẫn đi tắm và được mặc quần áo mới. Sau đó, họ quay trở về phòng và thấy thức ăn đã được dợn sẵn chỉ đợi họ về ăn. Trước cửa mỗi phòng có hai người lính gác, tuy nhiên, riêng trước cửa phòng của Theseus có tới bốn người bởi vua Minos cho rằng chàng trai này rất dũng cảm và rất có thể sẽ làm gì đó mà ông không muốn. Vào ban đêm, người hầu trong cung điện mang thêm thức ăn đến cho Theseus cùng với rượu vang đỏ đựng trong một chiếc bình lớn được trang trí bằng dây thừng và vàng.

Theseus ăn hết thức ăn nhưng không hề uống rượu. Khi chàng dùng bữa xong, chàng mở cửa phòng rồi mang toàn bộ số rượu và cốc ra ngoài, chàng nói:

- Tôi chỉ biết uống nước thôi. Tôi không thích trong phòng mình lại có mùi rượu. Vậy xin gửi các anh số rượu này.

Những người lính gác cảm ơn chàng và chỉ một lát sau chàng đã nghe thấy tiếng họ chúc tụng nhau loại rượu ngon nhất của đức vua. Một lát sau, chàng không hề nghe thấy giọng nói của cả bốn người bọn họ mà chỉ nghe thấy tiếng ngáy đều đều.

Theseus nhẹ nhàng mở cửa ra thì thấy những người lính gác đang nằm ngủ ngay trên ngưỡng cửa. Vậy là họ đã uống quá nhiều và quá say nên quên nhiệm vụ canh gác chàng. Có một thứ gì đó rất sáng chiếu vào mắt chàng: Một người phụ nữ trong chiếc áo choàng màu đen trên tay cầm ngọn đèn đang tiến lại phía cửa phòng chàng, đi sau người phụ nữ đó là một người khác. Theseus nhẹ nhàng quay trở về phòng. Ánh sáng phát ra từ chiếc đèn trên tay cô gái chiếu rõ một khe hở giữa cánh cửa và bản lề. Nàng Ariadne bước vào phòng Theseus, theo sau nàng là một người phụ nữ già, chính là người vú nuôi thân tín của nàng. Nàng thì thầm:

- Có phải chàng đoán được ám hiệu của ta không? Trong rượu có thuốc ngủ đó, ta đã cố tình đưa đến phòng chàng.

Theseus quỳ xuống chân nàng và gật đầu.

- Ta có thể chỉ cho chàng lối chạy trốn và mang đến cho chàng một thanh kiếm để phòng thân.

- Cảm ơn lòng tốt của nàng. Ta không thể chạy trốn trong lúc này. Nàng làm ơn cho ta một thanh kiếm và chỉ đường cho ta tới chỗ con quái vật Minotaur. Ta đến đây để giết chết nó mà.

Khuôn mặt Ariadne trở nên nhợt nhạt, tay nàng run rẩy đầy vẻ sợ hãi.

- Ta cầu xin chàng đấy. Chàng hãy chạy trốn đi, đó là một con quái thú hung dữ, không ai có thể giết chết được nó đâu.

Theseus hiểu rõ tấm thịnh tình của nàng công chúa xinh đẹp, nhưng chàng nhẹ nhàng nói với nàng:

- Xin nàng hãy nói cho ta biết nhanh lên. Ta sẽ không chạy trốn đâu bởi nếu ta làm một việc hèn hạ như vậy thì đức vua Minos sẽ không bao giờ khoan thứ cho chúng ta. Ta chỉ rời khỏi Crete khi nào đã gặp con quái thú Minotaur, bởi bàn tay nó đã nhuốm máu bao nhiêu người dân của ta. Ta không bắt buộc phải đến đây mà ta tự nguyện. Ta muốn làm một việc gì đó cho người dân Athen bởi ta là hoàng tử con vua Aegeus, ta phải có trách nhiệm san sẻ nỗi lo lắng của cha ta.

Ariadne yêu Theseus ngay từ cái nhìn đầu tiên và bây giờ nàng lại càng yêu chàng hơn. Nàng biết chàng cũng yêu mình, chỉ là tạm thời giữa họ vẫn có một khoảng cách mà thôi. Tuy nhiên, nàng là một cô gái dũng cảm, nàng không sợ hãi hay cầu xin chàng chạy trốn nữa. Nàng ra hiệu cho Theseus rồi bước ra ngoài. Họ bước đi thật nhẹ nhàng tránh bị vua cha phát hiện. Tuy nhiên, ra tới ngưỡng cửa, Theseus giơ tay lên và Ariadne dừng lại. Chàng lấy hai thanh kiếm từ những người lính canh đang ngủ phòng trường hợp cần dùng đến. Một thanh kiếm dài với lưỡi kiếm thẳng, nhỏ nhưng rất khỏe với một điểm sắc nhọn ở trên đầu, chiếc kia nhỏ, ngắn nhưng có hai lưỡi. Theseus treo hai thanh kiếm vào thắt lưng, còn Ariadne đi bộ xuống hành lang tối. Theseus theo sau nàng, người vú già đi theo sau chàng. Chàng lấy hai thanh kiếm của những người lính gác bởi vì chàng sợ rằng nếu Ariadne đưa cho chàng một thanh kiếm thì có thể vua Minos sẽ phát hiện ra rằng chính nàng là người giúp đỡ chàng và như vậy nàng sẽ bị trừng phạt. Theseus không muốn có bất cứ chuyện gì không hay xảy đến với nàng công chúa xinh đẹp, người khiến trái tim chàng rung động lần đầu tiên trong đời. Ariadne hiểu được điều này và nàng cảm thấy vô cùng hạnh phúc nhưng cả hai người bọn họ không ai nói với ai câu nào. Nhiều khi im lặng cũng nói lên nhiều điều mà lời nói không diễn tả hết. Hai người lặng lẽ đi về phía trước.

Họ đi nhanh và nhẹ nhàng, cố gắng không phát ra tiếng động dù là nhỏ nhất. Họ đi qua những hành lang lớn cho đến khi Ariadne đến trước cửa phòng nàng. Tới đây, nàng giơ tay lên và Theseus dừng lại, nàng tiến lên phía trước, rút vật gì đó từ ngực áo ra. Rồi nàng lại dẫn đường, đưa chàng xuống dưới những bậc cầu thang rộng giữa những cột trụ lớn dẫn vào trong một đại sảnh. Tới đây nàng rẽ sang một cầu thang hẹp hơn, sau đó tới một vùng đất gồ ghề dẫn tới một chiếc hang tối trên một ngọn đồi. Đằng sau động là một chiếc cửa dát đồng và Ariadne dùng chìa khóa mở cửa ra. Nàng dừng lại rồi lấy ra một cuộn dây đồng mỏng nhưng rất chắc đưa cho Theseus. Nàng nói:

- Chàng hãy cầm lấy vật này và vào trong cánh cửa ta vừa mở đây. Đầu tiên hãy buộc đầu cuộn dây đồng vào một tảng đá, rồi sau đó chàng hãy đi qua mê cung, khi chàng quay trở lại cuộn dây đồng này sẽ dẫn đường cho chàng đến lối ra. Chàng cũng nên cầm chiếc chìa khóa này nữa, để mở và khóa cửa từ bên trong. Nếu chàng trở về thì hãy để chiếc chìa khóa trong một hốc nhỏ trên tường phía trong cửa ngoài của lâu đài. Ta không biết làm gì hơn để giúp chàng nữa. Ta thực sự lo lắng cho chàng.

Nàng dừng lại, nhìn Theseus với đôi mắt u sầu. Theseus vòng tay ôm nàng công chúa xinh đẹp và họ hôn nhau giống như những người yêu nhau đang nói lời chia tay mà không biết đến bao giờ mới có ngày tái ngộ. Trong lúc hôn nhau, hai người có cảm giác dường như họ đã thuộc về nhau từ rất lâu rồi. Tình yêu họ dành cho nhau thật sâu sắc, nó có thể vượt qua tất cả ranh giới về khoảng cách và phong tục. Cuối cùng, nàng thở dài nói:

- Bình minh sắp đến rồi đó. Tạm biệt chàng, cầu cho các vị thần luôn ở bên và che chở cho chàng. Em sẽ canh chừng cho chàng vào ban đêm. Em sẽ nói cho chàng biết một khẩu lệnh, cứ nghe thấy khẩu lệnh đó thì chàng sẽ biết được phía trước có lính canh hay không.

Rồi nàng nói cho chàng nghe khẩu lệnh. Sau đó, nàng mở cửa và đưa cho chàng chìa khóa, còn vú nuôi đưa cho chàng chiếc đèn mà bà đang cầm trên tay cùng một ít thức ăn để chàng mang theo.
 
522 ❤︎ Bài viết: 420 Tìm chủ đề
Chương 37

Giết chết Minotaur

Đầu tiên, chàng buộc một đầu của sợi dây đồng vào một tảng đá ở cửa ra vào rồi bắt đầu đi vào sâu bên trong. Mê cung rất tối và có nhiều con đường ngoằn nghoèo. Chàng từ từ tiến về phía trước, tay nắm chặt cuộn dây và thả dây sau mỗi bước đi. Chàng đi xuống một con đường rộng nhất, từ đây có những con đường rẽ về bên trái hoặc bên phải. Chàng đếm từng bước đi của mình và cho đến thời điểm này chàng đã đi được gần ba nghìn bước. Rồi chàng nhìn thây bầu trời đen qua một vòng tròn nhỏ cắt trên mái bằng đá và quan sát thấy những vì sao đang chuẩn bị tắt dần, tắt dần. Những bức tường đá thô ráp khiến cho đôi tay chàng đau đớn bởi chàng phải dùng tay để lần mò đường đi. Tuy nhiên, nóc của hang động lại là một nơi mở và dọc qua đó là những thanh kim loại nặng. Chẳng mấy chốc bình minh đã ló rạng, những tia nắng mặt trời đầu tiên chiếu le lói qua khe hở trên mái.

Theseus đặt chiếc đèn xuống một tảng đá ở một nơi kín đáo và đứng đó chờ đợi. Trong khi đợi chàng suy nghĩ xem mình nên làm gì tiếp theo. Chàng nhìn xung quanh một cách cẩn thận và thấy một đống xương, không phải xương của người mà là xương sọ cúảu cừu, bò và dê. Chàng tự nhủ: "Đây chắc là nơi người ta thả thức ăn cho Minotaur từ trên cao kia. Không phải ngày nào họ cũng đưa những cô gái và chàng trai trẻ của Athen vào trong này làm mồi cho quái thú. Mình sẽ đợi đằng sau chỗ tên quái vật thường ăn thức ăn mà người ta đem đến cho nó."

Chàng đứng dậy và đi vòng qua một góc tối trên con đường hẹp cắt sâu vào bên trong bức tường đá ở bên trái. Chàng ngồi đó, lấy số thức ăn mà vú nuôi của Ariadne đưa cho rồi ăn sáng để lấy sức chuẩn bị cho trận chiến. Đột nhiên, chàng nghĩ rằng có thể con quái thú cũng nghĩ đã đến lúc nó phải dùng bữa sáng rồi và có lẽ nó sẽ rời khỏi chỗ ẩn nấp ra đây lấy thức ăn.

Chàng ngồi im lặng, từ xa chàng nghe thấy một âm thanh yếu ớt giống như phản âm của một tiếng rống. Chàng đứng bật dậy, rút thanh kiếm dài ra chăm chú lắng nghe. Âm thanh càng ngày càng gần và to hơn, một thứ âm thanh rất lạ, nó không sâu giống như tiếng rống của một con bò nhưng đáng sợ hơn và yếu hơn. Theseus cười thầm trong bụng. Một lát sau, con quái thú đầu bò nhưng từ cổ xuống lại có hình dạng của con người xuất hiện. Nhìn thấy con quái thú, chàng tự nhủ với mình có thể mọi người quá sợ hãi con quái vật này nên mới phóng đại lên như vậy chứ thực sự nó không đáng sợ như những gì họ vẫn nói. Âm thanh gần hơn và to hơn nhưng không sắc và đanh. Theseus lấy ra lọ thuốc bằng vàng mà Medea đã đưa cho chàng khi còn ở Athen. Chàng tháo nắp ra và lấy ngón tay cái bịt miệng lọ, tay trái nắm chặt thanh kiếm dài sau khi đã thắt chặt đầu cuộn dây vào thắt lưng. Theseus tỏ ra hết sức cẩn thận và thực hiện theo đúng những gì được hướng dẫn từ trước. Chàng biết đây là một trong những chuyến mạo hiểm gian nan nhất của mình, nhưng chàng không nghĩ rằng mình sẽ phải bỏ mạng nơi đây.

Con bò rống lên vì đói. Minotaur tiến gần hơn và Theseus có thể nghe thấy tiếng động phát ra sau mỗi bước chân của nó. Theseus rời đến chỗ khuất của con đường hẹp, ngồi mai phục ở đó, tim chàng đập mạnh vì hồi hộp. Chàng không sợ hãi nhưng dù sao chàng vẫn chưa biết chính xác mình cần phải làm gì nên có phần hơi lo lắng. Khi con quái thú đến gần, Theseus nhảy ra và xịt thứ thuốc bột Medea đưa vào mắt nó. Trong khi thứ bột trắng bay ra, Theseus nhảy lùi lại nơi chàng vừa ẩn nấp. Minotaur rống lên đau đớn, nó dụi mắt rồi ngẩng đầu lên nhưng thứ bột trắng kia khiến cho đôi mắt của nó như bị mù, nó không thể nhìn thấy bất cứ vật gì xung quanh. Minotaur dùng tay sờ xoạng xung quanh để tìm đường. Theseus nhanh chóng rút thanh kiếm ngắn ra, nhẹ nhàng tiến đến đằng sau con quái thú và đâm vào ngang lưng, chân và đầu gối của nó. Minotaur ngã gục xuống, rống lên đau đớn. Nó dùng đôi hàm răng sư tử sắc nhọn của mình cắn vào các bức tường đá xung quanh rồi giơ tay quờ quạng trong không khí để tìm kiếm kẻ nào dám làm mù đôi mắt nó. Theseus lợi dụng cơ hội này, chàng dùng thanh kiếm dài đâm một nhát vào tim của Minotaur. Con quái thú nhảy chồm lên rồi ngã xuống đất, nằm bất động.

Theseus quỳ xuống, cảm ơn các vị thần đã ủng hộ chàng, hứa sau khi trở về sẽ dâng đồ cúng tế cho các thần và xây dựng một đền thờ mới cho nữ thần Pallas Athene, nữ thần bảo hộ thành Athen. Sau khi cầu nguyện xong, chàng cắt đầu con quái thú rồi theo cuộn dây đồng đi thẳng ra bên ngoài cửa hang. Với cây đèn trên tay và sự dẫn đường của cuộn dây đồng chàng dễ dàng tìm được lối dẫn ra cửa. Chàng nhận ra rằng chiếc cửa bằng đồng đã bị méo đi và thủng vì đôi sừng sắc nhọn của Minotaur, có lẽ nó đã cố gắng đánh bật cửa ra để trốn thoát. Theseus hiểu rằng ngay cả hòn đảo Crete cũng đang phải chịu đựng con quái thú độc ác này. Mặc dù họ đã tìm nhiều cách nhưng không tiêu diệt được nó, đành nhốt nó vào trong mê cung và hàng ngày thả thức ăn xuống để nó không quậy phá. Con quái thú này cũng chẳng thích thú khi phải ở đây, chính vì vậy nhiều lần nó đã cố gắng tìm cách chạy thoát thân.

Theseus ra khỏi mê cung vào buổi sáng sớm đẹp trời, những chú chim hót líu lo như chào đón sự trở về cua chàng sau một thử thách vô cùng mạo hiểm. Trái tim chàng hoàng tử trẻ cũng rộn lên niềm sung sướng và dễ chịu. Vậy là chàng đã an toàn trở ra, chàng lại được nhìn thấy mọi người, nhìn lại nàng công chúa xinh đẹp mà chàng yêu say đắm. Theseus khóa cửa cửa mê cung lại rồi đi dọc theo cung điện, cất chiếc chìa khóa vào nơi Ariadne đã dặn chàng. Nàng công chúa xinh đẹp đã ở đó chờ chàng, khi nhìn thấy Theseus nàng vừa sợ hãi vừa vui sướng và cảm giác khó diễn tả đó thể hiện rõ qua ánh mắt của nàng. Theseus chạy đến nhẹ nhàng nói với nàng:

- Nàng đừng chạm vào người ta bởi hiện giờ cơ thể ta đã nhuốm máu của con quái vật Minotaur.

Nàng dẫn chàng đi tắm ở tầng trệt rồi hai người lặng lẽ lên trên gác bằng lối cầu thang bí mật. Theseus tắm rửa sạch sẽ rồi mặc quần áo mới. Chàng dùng dây thừng và vải buộc vào hai sừng của con quái thú rồi trở lại đằng sau lâu đài. Chàng đi thẳng về phía trước cho đến khi gặp một người lính canh. Tuy nhiên, Ariadne đã nói cho chàng biết trước mật khẩu nên chàng bình tĩnh nói với người lính:

- Ta đến gặp đức vua Minos. Mật khẩu là Androgeos.

Người lính mặt tái nhợt vì ngạc nhiên. Anh ta thắc mắc tại sao người lạ kia lại biết được mật khẩu nhưng theo nguyên tắc anh ta vẫn phải cho chàng vào. Theseus đi qua những người lính gác và đến trước cửa lớn của cung điện. Khi nhìn thấy chiếc đầu của quái vật Minotaur, những người hầu đều khẽ reo lên không biết vì ngạc nhiên hay sung sướng hoặc cũng có thể là cả hai. Họ lấy vải bọc cái đầu thật kĩ bởi họ sợ rằng máu từ cái đầu đó sẽ làm nhơ bẩn sàn nhà. Theseus yêu cầu những người hầu trong cung điện đưa chàng tới gặp vua Minos. Khi chàng được đưa vào trong đại sảnh chính, chàng thấy đức vua đang ngồi trên ngai vàng và mắng nhiếc bốn người lính canh đã ngủ quên trong lúc thi hành nhiệm vụ.

Khi Theseus bước vào, theo sau chàng là nhũng nữ phục vụ bê đầu của quái vật Minotaur, vua Minos không hề rời khỏi ngai vàng mà chỉ hướng mắt nhìn về phía chàng hoàng tử trẻ một cách vô cảm. Theseus nói:

- Thưa đức vua? Việc gì cần làm tôi đã làm được rồi đây.

Sau đó, những người hầu đặt đầu con quái thú xuống chân đức vua và cởi bỏ lớp bọc bên ngoài. Đức vua quay sang phía người chỉ huy lính gác và nói:

- Một tuần bị giam trong ngục tốt là hình phạt dành cho những người này.

Vậy là bốn người lính gác bị dẫn đi, tuy nhiên, trong lòng họ cảm thấy rất vui bởi lúc bị giải đến đây họ đều nghĩ rằng họ sẽ phải chịu hình phạt nặng nhất đó là cái chết. Không hiểu sao lần này đức vua lại nhân nhượng với họ như vậy, nhưng dù sao đây cũng là một việc đáng mừng.

Đức vua nói tiếp:

- Hãy đốt cái đầu khủng khiếp và cơ thể của Minotaur đi rồi ném xuống biển khơi. Nhớ là phải cho thuyền ra xa bờ rồi mới rải tro đấy.

Những người hầu lặng lẽ làm theo chỉ thị của đức vua, không ai thắc mắc hay hỏi lại bất cứ câu nào. Minos là một vị vua nghiêm nghị, ông muốn mọi mệnh lệnh và yêu cầu của mình phải được thực hiện ngay lập tức

Sau đó, ông đứng dậy, rời khỏi ngai vàng rồi nắm tay Theseus nói:

- Cảm ơn chàng trai trẻ. Ta sẽ đưa chàng và những người bạn của chàng quay trở về Athen an toàn. Từ nay Athen sẽ được tự do, ta không còn căm ghét thần dân của chàng nữa. Chúng ta hãy lập lại hòa bình và Trở thành những người bạn tốt của nhau. Tuy nhiên, ta muốn đề nghị chàng ở lại cung điện của ta thêm một thời gian nữa. Chàng và những người bạn của chàng sẽ trở thành nhũng vị khách quý của Crete và được đối xử giống như những người đặc biệt.

Theseus vui sướng nhận lời bởi đó cũng là mong muốn của chàng. Ban đầu khi đến đây, mục đích lớn nhất của chàng là tiêu diệt con quái vật, tuy nhiên, sau khi gặp nàng công chúa Ariadne xinh đẹp thì chàng lại rất mong muốn có cơ hội được ở bên cạnh nàng. Theseus và những người bạn của chàng chuyển vào trong lâu đài và họ được mọi người đối xử rất tốt. Vua Minos chỉ cho Theseus tất cả những loại vũ khí tối tân nhất mà ông có trong hoàng cung, chàng không nhớ tên và số lượng chính xác các loại vũ khí chàng nhìn thấy, chỉ biết rằng mỗi loại vũ khí đều được ghi tên trên bảng đất sét và đặt trước mỗi chủng loại để phân biệt. Đến đây, Theseus học hỏi được rất nhiều điều mà chàng chưa hề biết đến. Chàng đã hiểu tại sao mọi người tôn vinh Minos là một ông vua hùng mạnh và giàu có nhất. Lúc tảng sáng, Theseus và Ariadne đi dạo trong khu vườn thơm ngát hương hoa với những bản nhạc êm dịu, ngọt ngào của những chú chim họa mi. Dường như, cảnh vật cũng chiều lòng người để đôi uyên ương sánh bước bên nhau. Vua Minos biết được điều đó mặc dù con gái ông không hề nói cho ông biết bất cứ điều gì và ông vui mừng ra mặt. Theseus là một chàng trai tài giỏi, dũng cảm và vua Minos luôn mong muốn con gái mình tìm được một người chồng như vậy. Ông nghĩ rằng dù có đi đến khắp nơi trên thế giới này ông cũng không thể tìm được một người chồng lí tương như vậy cho Ariadne. Hơn nữa, ông cũng rất muốn có được một đồng minh như Theseus cùng những người trong vương quốc của chàng. Mặc dù Athen vẫn chỉ là một thành phố nhỏ nhưng dưới sự cai trị của Theseus, ông tin rằng Athen sẽ không ngừng phát triển. Tuy nhiên, Minos rất yêu quý con gái nên cố gắng giữ Theseus ở lại cùng ông một thời gian dài cho đến khi vị hoàng tử trẻ của chúng ta cảm thấy xấu hổ vì mình chậm trễ không quay trở về khi cha chàng và những người khác đang nóng lòng chờ tin tức của chàng. Nếu tiếp tục ở lại, chàng sẽ khiến cho mọi người nơi quê nhà phải lo lắng.

Theseus tâm sự những suy nghĩ của chàng với vua Minos. Nghe xong, đức vua thở dài nói:

- Ta biết trái tim con đang hướng về quê hương, con trai ạ. Ta không thể nói rằng con quên đất nước của con đi, hãy ở lại đây với ta bởi ta biết nói như vậy chỉ khiến con cảm thấy căm ghét ta mà thôi. Ta trao con gái của mình cho con và ta muốn con biết rằng ta rất vui khi làm điều đó. Con xứng đáng có được tình yêu của Ariadne.

Rồi họ trò chuyện như hai người bạn tri kỉ và cả hai đều đồng ý sẽ kết giao đồng minh chặt chẽ giữa Crete và Athen chừng nào họ còn sống trên cõi đời này. Vua Minos tổ chức một đám cưới linh đình dành cho Theseus và con gái yêu của mình ngay trên đảo Crete. Sau đó Theseus, Ariadne cùng mọi người lên tàu quay trở về Athen. Chuyến đi không được thuận buồm xuôi gió như mọi người mong muốn. Có một chuyện không may xảy ra là thuyền trưởng của con thuyền do bị ốm mà chết nên vua Minos phải cử một thuyền trướng giỏi nhất trên đảo đưa con gái và con rể trở về quê hương. Đó là một chuyến đi dài và khủng khiếp bởi sóng to, gió lớn luôn ập đến bất ngờ và đẩy con thuyền đến những vùng biển lạ. Trên đường quay trở về Athen, Ariadne bị ốm nặng. Càng ngày nàng càng trở nên yếu hơn, phải nằm bẹp trên giường. Theseus đưa vợ lên trên bờ và ở nhờ nhà của vua trên hòn đảo đó. Mặc dù mọi người đã cố gắng chữa trị cho nàng nhưng cuối cùng nàng Ariadne xinh đẹp đã chết trong tay của Theseus. Theseus đau xót chôn vợ mình ngay trên hòn đảo lạ rồi lên tàu tiếp tục về nhà. Chàng quá đau buồn, không ăn không uống cũng chẳng chịu nói năng gì. Hạnh phúc vừa mới mỉm cười với chàng thì đau khổ đã đến. Chàng vẫn chưa dẫn vợ của mình về ra mắt cha và làm cho nàng được hạnh phúc. Mọi người trên thuyền không ai dám nói chuyện với chàng bởi làm như vậy chỉ khiến chàng tức giận. Mãi cho đến khi con thuyền cập bến, chàng mới đứng dậy nhìn xung quanh.

Người dân Athen tập trung trên bờ trong bộ tang phục màu đen, người đưa tin của thành phố chạy bổ đến thông báo tin xấu: Đức vua Aegeus đã băng hà. Trước khi Theseus ra đi, ông đã căn dặn với thuyền trưởng của con thuyền rằng nếu Theseus an toàn trở về thì hãy giương buồm màu đỏ lên nhưng vị thuyền trương người Crete lại không biết mình phải làm như vậy. Vua Aegeus nhìn thấy con thuyền quay trở về với chiếc buồm màu đen thì nghĩ rằng con trai độc nhất của ông đã chết. Quá đau buồn vì tin dữ, ông lao người xuống vực sâu và chết chìm dưới đáy biển.

Theseus không muốn tiếp tục sống trên cõi đời này nữa. Chàng muốn chết để được gặp lại cha và nàng Ariadne xinh đẹp. Tuy nhiên, chàng là một người đàn ông mạnh mẽ, hơn nữa chàng có trách nhiệm phải chăm lo cho Athen và người dân nơi đây nên chàng tiếp tục phải sống. Với tài năng và lòng dũng cảm, Theseus trở thành vị vua vĩ đại nhất của Athen. Nhiều thành phố khác đều cầu xin được đặt dưới sự cai quản của chàng và chàng đã trị vì tất cả các thành phố một cách tốt đẹp. Mối quan tâm đầu tiên của chàng là xây dựng một hạm đội lớn trong những khu cảng bí mật cách xa thành phố và các con đường mọi người hay đi lại. Chàng và Minos là những người bạn tốt cho đến tận lúc qua đời. Khi Minos băng hà, đức vua mới của đảo Crete quay sang chống đối Athen và luôn tìm cách hãm hại chàng Theseus dũng cảm.

Sau khi đức vua Minos qua đời, con trai của ông cãi cọ với Theseus và muốn giết chết chàng. Một hôm, người đưa tin đến thông báo rằng một lực lượng hải quân đã được tập trung ở Crete, chuẩn bị sẵn sàng lên đường đến Athen tấn công Theseus. Ngay lập tức chàng cử người đưa tin đến gặp đức vua của một tộc người hung dữ được gọi là Dorians. Tộc người này di chuyển chỗ ở từ đất nước này qua đất nước khác và đến vùng tây bắc của nước Hi Lạp. Họ cướp đất, định cư nơi đây, vài năm sau đó lại tiếp tục tiến lên phía trước. Họ là những con người hoang dã, khỏe mạnh và dũng cảm. Vũ khí của họ là những thanh kiếm làm từ sắt, rắn chắc hơn nhũng thanh kiếm làm bằng đồng của người Hi Lạp. Người đưa tin của Theseus nói với họ:

- Xin hãy đến giúp đỡ đức vua của chúng ta và ngài sẽ đưa các bạn băng qua đại dương. Tuy nhiên, các bạn hãy hứa sẽ không bao giờ làm hại vương quốc của chúng tôi.

Lời đề nghị này khiến những người Dorians cảm thấy vui mừng khôn xiết và thế là những con thuyền của Theseus đưa họ đến Athen. Tới nơi, Theseus gộp lực lượng của họ với quân đội của chàng, họ cùng nhau thề độc sẽ trung thành với chàng cho đến phút trót. Sau đó họ chèo thuyền đến thằng đảo Crete, họ đến nơi khi trời đã tối hẳn. Những vị thuyền trưởng trên đảo nghĩ rằng đó là một phần lực lượng hải quân của họ đang tiến đến gia nhập hàng ngũ của mình để tấn công Athen bởi những người trên đảo Crete không hề biết rằng Theseus cũng có lực lượng quân đội của mình. Vào ban đêm, chàng dẫn đầu đoàn quân tiến vào Knossos và bắt ngờ tấn công những người lính gác, đốt cháy lâu đài rồi bao vây hòn đảo.

Người Dorians ở lại trên đảo Crete và định cư ở đó tới thời của Ulysses. Họ nắm quyền kiểm soát một phần hòn đảo còn những người Crete cai quản phần lớn hơn. Theseus quay trở về Athen và cưới nàng Hippolyte, nữ hoàng Amazons. Câu chuyện về đám cưới của họ được kể lại trong vở kịch của đại văn hào Shakespeare: Giấc mộng đêm hè. Sau này, Theseus có rất nhiều chuyến thám hiểm mới và phải đối mặt với nhiều khó khăn mới nhưng chàng đã xây dựng Athen thành một thành phố giàu mạnh và không phải lo lắng về bất cứ nguy hiểm nào do vua đảo Crete gây ra. Vào thời của Dorians, sau thời Ulysses, tất cả những phần còn lại của nước Hi Lạp chiếm đóng gồm Mycenae và Lacedaemon, hai thành phố của Agamemnon và Mamelaus luôn giữ lời thề của mình là để thành Athen thuộc về người Athen.
 
522 ❤︎ Bài viết: 420 Tìm chủ đề
Chương 38: Preseus

Nàng Danae bị cầm tù

Nhiều năm trước khi thành Troy bị bao vây, trong nước Hi Lạp có hai hoàng tử, nhưng có điều rất lạ là họ vừa là anh em trai nhưng lại vừa là kẻ thù không đội trời chung. Mỗi người đều mong muốn trở thành vua của cả Argos (thành phố nằm dưới sự cai trị của Diomedes trong thời gian xảy ra chiến tranh ở thành Troy) và Tiryns. Sau những cuộc chiến ác liệt kéo dài, Proetus lấy được Tiryns, liền xây dựng những tường thành lớn bằng đá và một tòa lâu đài tráng lệ còn người anh em của chàng là Acrisius lấy được Argos và cưới Eurydice, công chúa của thành Lacedaemon nơi Menelaus đang trị vì cùng nàng Helen xinh đẹp.

Acrisius có một người con gái tên là Danae, sau này trở thành người phụ nữ xinh đẹp nhất nước Hi Lạp nhưng ông lại không có con trai. Điều này khiến ông vô cùng phiền lòng bởi ông nghĩ rằng khi ông già đi, những người con trai của Proetus sẽ tấn công ông, cướp đi đất đai và thành phố của ông nếu ông không có con trai để chỉ huy lực lượng. Và ông đã đưa ra một kế hoạch mà theo ông là chu toàn: Ông tìm một chàng hoàng tử trẻ giống như Theseus và gả con gái của mình cho người đó, con trai của họ sẽ là những người đứng đầu Argos. Tuy nhiên, Acrisus lại muốn đến gặp một nữ tiên tri trong đền thờ của thần Apollo ở Delphi (sau này đổi tên thành Pytho) để xin lời khuyên và hỏi bà xem liệu ông có thể may mắn có con trai hay không.

Nữ tiên tri hầu như chẳng bao giờ thông báo tin tốt lành cho bất cứ người nào nhưng lần này những gì bà nói lại khác. Bà ngồi xuống dưới sàn đền thờ, một lớp sương mỏng và lạ bỗng xuất hiện từ dưới đất bay lên khiến bà chìm sâu vào giấc ngủ. Khi ngủ mà vẫn có thể nói, đi lại nhưng lại không biết mình đang nói gì bởi bà nói lời tiên tri dành cho người đàn ông đang lo sợ. Sau khi tỉnh dậy, hai mắt của nữ tiên tri mở to nhưng lại không thể nhìn thấy gì. Bà hát rằng Acrisius không bao giờ có con trai nhưng con gái của ông sẽ sinh được một cậu con trai kháu khỉnh. Có điều không hay là sau khi lớn lên, chính người cháu ngoại của ông sẽ giết chết ông. Acrisrưs vội vã lên xe ngựa trong tâm trạng vừa buồn bã vừa bối rối rồi sai người đánh xe ngựa điều khiển xe về nhà càng nhanh càng tốt. Trên đường đi, ông không nói bất cứ điều gì nhưng trong đầu luôn suy nghĩ làm thế nào để có thể tránh được lời tiên tri đó. Ông cầu xin thần Dớt giúp đỡ mình. Tuy nhiên, có điều ông không biết là thần Dớt khi nhìn thấy nàng Danae xinh đẹp nên đã đem lòng yêu nàng và chính nàng cũng không biết điều đó.

Chỉ có cách duy nhất và chắc chắn nhất để tránh được điều tiên tri kia là giết chết nàng Danae, như vậy nàng sẽ chẳng bao giờ có con được. Tuy nhiên, ông cũng vô cùng yêu quý con gái và sợ rằng mọi người sẽ phản đối hành động đó của ông nên ông không dám làm liều. Dù sao Danae cũng là niềm tự hào của ông, là mục tiêu theo đuôi của biết bao hoàng tử và đức vua giàu có. Làm sao ông lại nỡ giết chết cô con gái độc nhất của mình chứ. Nhưng dù thế nào ông cũng phải nghĩ ra cách gì đó. Ông nhận thấy rằng tốt nhất là xây một ngôi nhà bằng đồng trong cung điện, một ngôi nhà chìm sâu xuống dưới đất thật kiên cố rồi nhốt con gái vào trong đó để ngăn không cho ai nhìn thấy nàng. Chỉ có điều ngôi nhà có mái mở nhìn lên trời và đây cũng là nơi khói thoát ra từ bên trong.

Danae và những người hầu gái của mình bị đưa xuống ngôi nhà bí mật. Hàng ngày họ không nhìn thấy những ngọn đồi hoặc vùng đồng bằng rộng lớn hay đại dương bao la, cũng chằng nhìn thấy bất cứ người nào hay cỏ cây hoa lá, thứ duy nhất họ nhìn thấy đó là mặt trời và những chú chim tung bay trên trời cao qua mái mở của ngôi nhà. Danae nằm trên giường buồn bã, mệt mỏi nhưng không biết làm gì để thoát khỏi cảnh này. Nàng luôn tự hỏi tại sao cha lại cầm tù nàng như vậy nhưng càng nghĩ càng không hiểu tại sao. Thường thì cha của Danae đến thăm nàng và đối xử với nàng rất tốt nhưng không bao giờ ông chịu lắng nghe nàng dù nàng cầu xin ông hãy bán nàng làm nô lệ và đưa nàng đến một đất nước xa xôi thì ít nhất nàng vẫn có thể nhìn thấy thế giới mà nàng đang sống. Nàng không thể chịu được cảnh sống tăm tối và tẻ nhạt như thế này. Cả ngày nàng chẳng biết làm gì chẳng gặp gỡ ai, không có cơ hội vui chơi và làm những việc nàng thích.

Vào một ngày kia, có một chuyện rất bí hiểm đã xảy ra: Nhà thơ già Pindar, người sống rất lâu nói rằng có một dòng ánh sáng vàng sống động chảy từ trên bầu trời xuống phòng của Danae. Một thời gian sau, nàng có mang và sinh hạ được một cậu con trai kháu khỉnh. Đây là một cậu bé khỏe mạnh và đẹp trai nhất trong số những cậu bé ra đời trên đất nước Hi Lạp vào thời bấy giờ. Nàng và vú nuôi của nàng quyết tâm giữ bí mật này và đứa trẻ được nuôi lớn trong phòng kín của ngôi nhà bằng đồng. Thật khó có thể ngăn tiếng khóc của một đứa trẻ phát ra ngoài, khi nó lớn lên lại càng khó có thể bắt nó im lặng không chơi đùa hay phát ra tiếng động.

Một ngày kia, khi vua Acrisius vào thăm Danae (lúc đó cậu bé đã được ba đến bốn tuổi) thì cậu con trai của Danae trốn khỏi vú nuôi và chạy vào trong phòng của mẹ hét lên ầm ĩ. Vua Acrisius lao nhanh ra ngoài, ông nhìn thấy vú nuôi đang túm lấy đứa trẻ và dùng áo choàng che cậu bé lại như không muốn ông nhìn thấy. Acrisius bắt lấy đứa trẻ nhưng dường như nó là một cậu bé rất bướng bỉnh nên đứng vững trên đôi chân nhỏ bé của mình, đầu ngẩng lên nhìn thẳng vào mắt ông ngoại một cách giận dữ. Acrisius thấy rằng đứa trẻ này sẽ trở nên rất nguy hiểm khi nó lớn lên, trong nỗi tức giận không kiểm soát nổi, ông đã ra lệnh cho lính gác đưa vú nuôi ra ngoài, dùng dây thừng trói bà lại mặc kệ nàng Danae quỳ xuống van xin thảm thiết.

Khi chỉ còn mình đức vua và Danae, ông hỏi:

- Ai là cha của đứa trẻ này?

Nàng Danea xinh đẹp ôm chặt cậu con trai trên tay đi qua Acrisius và đi ra khỏi cánh cửa đang mở, rồi bước ra ngoài để tận hưởng bầu không khí dễ chịu. Nàng chạy nhanh đến bàn thờ của thần Dớt, vòng tay ôm lấy bàn thờ bởi nàng nghĩ rằng làm như vậy sẽ không người nào dám chạm vào người nàng. Nàng vừa khóc vừa nói:

- Thiếp cầu xin người hỡi thần Dớt vĩ đại, người hãy phù hộ cho thiếp và con trai của chúng ta, Perseus.

Bầu trời trong xanh không một gợn mây. Nàng Danae than khóc trong tuyệt vọng. Acrisius hỏi lại con gái:

- Điều đó có đúng không hả? Nếu quả thật như vậy thì hãy để thần Dớt bảo vệ con trai của người.

Ông ra lệnh cho lính gác lôi Danae ra khỏi bàn thờ của thần Dớt và nhốt nàng trong ngôi nhà bằng đồng, rồi ông sai người làm một chiếc hòm lớn. Sau đó, ông nhốt hai mẹ con Danae trong hòm và sai người quăng chiếc hòm xuống biển.

Vua Acrisrus không biết rằng người cháu trai sau này sẽ gây ra cái chết của ông vẫn còn sống. Người Hi Lạp tin rằng nếu ai đó mà tự tay giết chết họ hàng của mình thì người đó sẽ bị các nữ thần báo thù Erinyes theo đuổi và làm cho phát điên lên. Đó là những người phụ nữ có đôi cánh khủng khiếp với những móng vuốt sắc nhọn, đáng sợ. Những người phụ nữ này đã khiến cho Orestes, con trai của Agamemnon chạy khắp nơi giống như một người điên bởi vì chàng đã giết chết mẹ mình. Mặc dù mẹ của Orestes là một người đàn bà độc ác nhưng các nữ thần báo thù không quan tâm đến điều đó. Họ không chấp nhận bất cứ một lí do nào dù là hợp lí nhất. Trên thế giới này không có gì đáng sợ hơn những nữ thần trả thù hung dữ, chính vì vậy, vua Acrisius không dám giết chết con gái và cháu trai Perseus của mình mà chỉ nhốt họ vào trong hòm, thả xuống biển với hi vọng họ sẽ bị chết chìm. Từ đó đến một thời gian dài về sau, ông không nghe thấy bất cứ tin tức nào của hai mẹ con Danae, ông hi vọng rằng họ đã bị sóng biển đánh dạt vào một nơi nào đó và chết trên một vùng đất xa lạ. Ông không thể tự mình giết con cháu nhưng hi vọng họ sẽ mãi mãi xuống thế giới bên kia và không oán trách ông. Ông không có sự lựa chọn nào khác. Tuy nhiên, ông không biết điều đó có xảy ra hay không. Mặc dù đã thả hai mẹ con của con gái mình xuống đại dương nhưng lúc nào ông cũng sống trong tâm trạng lo lắng: Ông lo sợ rằng Perseus đã trốn thoát và một ngày nào đó sẽ quay lại giết chết ông như những gì nữ tiên tri đã nói trong bài hát của bà ta. Dù sao ông cũng đã không phải với Danae và Perseus, vì vậy chẳng bao giờ ông có thể sống một cách yên ổn mà không lo lắng, không dằn vặt.

Chiếc hòm trôi nổi trên mặt đại dương bao la, những con chim hải âu đậu trên chiếc hòm như muốn tìm hiểu xem bên trong chứa những gì. Mặt trời lặn xuống đáy biển, từ trong hòm Danae nhìn thấy những vì sao lấp lánh. Nàng lấy chăn quấn quanh người cậu con trai nhỏ để cậu bé được ấm trong khi Perseus ngủ say sưa như chẳng có chuyện gì xảy ra. Trong vòng tay của mẹ mình, cậu tỏ ra mình chẳng sợ gì cả. Những đỉnh núi nhọn và xanh mướt trên những hòn đảo hiện ra, chúng nằm rải rác giống như những đóa hoa thủy tiên nước trên những vùng biển của Hi Lạp. Nàng thầm nghĩ giá như dòng nước đẩy nàng cùng con trai vào một hòn đảo nào đó thì tốt biết mấy. Nàng cầu nguyện các vị thần nhân hậu: Pallas Athene và thần Hermes với cây đũa thần bằng vàng, cầu xin họ cứu giúp. Lát sau, nàng bắt đầu cảm thấy hi vọng bởi nàng cảm nhận chiếc hòm đang được đẩy gần vào một hòn đảo. Nàng quay đầu lại nhìn về phía trước. Càng ngày, nàng càng đến gần hòn đảo đó và có thể nhìn thấy khói bốc lên từ những ngôi nhà nhỏ giữa những lùm cây trên đảo. Tuy nhiên, cả ngày hôm đó chiếc hòm bị đẩy đi đẩy lại từ đầu hòn đảo đến cuối hòn đảo khiến nàng vô cùng sốt ruột.

Hôm đó là một ngày mệt mỏi bởi cậu con trai hiếu động của nàng rất nghịch ngợm và lúc nào cũng muốn vui đùa. Nàng cho con trai uống một ít rượu và nước, một lúc sau, cậu bé nằm lăn ra ngủ. Danea quan sát mặt biển và những hòn đảo ở tít đằng xa cho đến khi trời tối. Nàng nằm đó, tuyệt vọng và chán chường. Nàng nhìn thấy một luồng ánh sáng lướt nhanh trên mặt biển và nàng hét thật lớn gọi chủ nhân của ánh sáng đó. Một lát sau, ánh sáng dừng lại và một người đàn ông hét lên đáp lại tiếng gọi của nàng. Đó là ánh sáng phát ra từ một ngọn đèn làm bằng đồng thau đặt ở một lỗ trên thuyền. Danae có thể nhìn thấy những tia lửa sáng chói qua những khe hở của chiếc hòm gỗ. Rõ ràng chiếc thuyền kia đang tiến lại gần chỗ nàng.

Danae trở nên nhợt nhạt do sức nóng của mặt trời và do nhiều lần hi vọng, thất vọng rồi sợ hãi, Danae ngất lịm đi và chẳng biết gì cho đến khi nàng cảm thấy có một dòng nước lạnh chảy trên mặt. Nàng mở mắt và nhìn thấy ánh mắt đầy thương cảm của một người đàn ông có khuôn mặt đen xạm vì nắng đang chăm chú nhìn nàng. Đó là một người đánh cá, chính ông đã cứu Danae và con trai nàng. Lúc này, nàng đang nằm trên con thuyền đánh cá, còn cậu con trai yêu quý của nàng đang ngồi ngay bên cạnh mẹ.

Danea thở phào nhẹ nhõm bời bây giờ thì nàng đã có thể chắc chắn nàng và con trai đã được cứu thoát. Nàng nằm đó, yếu ớt và không thể nói gì cho đến khi những người chèo thuyền kéo chiếc thuyền vào gần một hòn đá. Những người đánh cá nhẹ nhàng khênh nàng lên trên đất liền và người lái thuyền bế cậu bé Perseus đang khóc đòi ăn.

Người đàn ông tốt bụng cầm cây giáo trên tay nói:

- Quý cô đã được an toàn rồi. Hôm nay tôi cũng đã đánh được rất nhiều cá. Tôi là Dictys, anh trai tôi là Polydectes, đức vua của hòn đảo này. Bây giờ vợ tôi đang đợi tôi ở nhà và tôi tin rằng nàng ấy sẽ chào đón nàng và cậu con trai của nàng đến làm khách trong ngôi nhà nhỏ bé của chúng tôi. Vợ tôi rất thích trẻ con bởi các vị thần đã lấy đi đứa con trai độc nhất của chúng tôi.

Ông không đặt ra bất cứ câu hỏi nào đối với Danae, bởi đó là phong tục và nghi thức giao tiếp của người Hi Lạp. Bạn không nên đặt câu hỏi cho người lạ hay những vị khách trong nhà bạn, làm như vậy là bất lịch sự và thiếu tôn trọng người khác. Ông đốt hai ngọn đuốc trên thuyền và yêu cầu hai người đàn ông cầm đuốc đi trước soi đường trong khi ông đỡ Danae và bế Perseus đi về nhà. Đi được một đoạn đường ngắn đã tới nhà của Dictys. Dictys rất yêu biển và thích công việc đánh cá. Mặc dù không ai yêu cầu ông làm việc đó và ông cũng chẳng thiếu thốn thứ gì nhưng ông thường xuyên ra khơi. Đánh cá trở thành một thú vui của người đàn ông này. Ngôi nhà của Dictys là một ngôi nhà rất đẹp nằm gần bờ biển. Vừa nghe thấy tiếng bước chân và giọng nói của chồng, vợ Dictys chạy ra hét lớn:

- Mọi việc tốt chứ?

Dictys cũng rất vui khi nhìn thấy vợ, ông đáp lại:

- Một môn thể thao đặc biệt.

Rồi ông dẫn Danae vào trong phòng, đưa cậu bé Perseus cho vợ mình bế. Đợi Danae khỏe lại một chút, vợ cùa Dictys sai người hầu tắm rửa cho mẹ con nàng và đưa cho họ những bộ quần áo mới thơm phức dầu ô liu. Trong khi đó, những người phục vụ khác dọn bàn ăn cho Danae và đêm hôm đó nàng cùng con trai được ngủ trên một chiếc giường đệm êm, có ga trải giường làm từ len màu đỏ tươi.

Dictys và vợ không hề hỏi Danae bất cứ câu hỏi nào về việc tại sao nàng lại lênh đênh trên biển như vậy. Tin tức được lan truyền đi rất nhanh và Dictys đã nghe thấy những người đánh cá nói chuyện với nhau về đức vua của Argos đã nhốt cô con gái duy nhất của mình và con trai của nàng vào trong một chiếc hòm rồi thả ra biển với hi vọng họ sẽ bị chết đuối. Mọi người trên hòn đảo này đều biết điều đó. Đây là đảo Seriphos và mọi người nơi đây căm ghét sự độc ác và tàn nhẫn của Acrisius, đồng thời có nhiều người tin rằng Perseus là con trai của thần Dớt.

Tin tức từ Argos truyền đến Seriphos một cách nhanh chóng, chúng ta có thể đoán rằng tin tức từ Seriphos cũng không mất nhiều thời gian để bay đến Argos. Acrisius nghe mọi người bàn tán về việc một người phụ nữ xinh đẹp như nữ thần và một cậu bé có dõng dõi của thần thánh đã trôi dạt vào bờ của một hòn đảo nhỏ. Acrisius biết rằng đó chính là con gái và cháu trai của mình nên cảm thấy vô cùng sợ hãi. Càng ngày, nỗi sợ hãi của ông càng tăng lên khiến ông không bao giờ biết tới hai từ thanh thản trong trái tim. Ông thường xuyên nghĩ đến việc cháu trai mình sẽ quay trở về và giết chết mình. Ông tưởng tượng ra những chuyện vô cùng kinh khủng rằng cháu trai của ông dành cho ông một cái chết khủng khiếp. Acrisius không dám bước ra khỏi cửa trừ khi ông được cả một đội lính gác bảo vệ. Nỗi sợ hãi gặm nhấm trái tim khiến ông cảm thấy vô cùng khó chịu và đôi khi ông thầm ước rằng giá như mình không bao giờ được sinh ra trên cõi đời này thì tốt biết mấy.
 
522 ❤︎ Bài viết: 420 Tìm chủ đề
Chương 39

Lời thề của Perseus

Thật may mắn cho Perseus vì Dictys đã đối xử với chàng như con đẻ và dạy dỗ chàng cẩn thận, uốn nắn chàng mỗi khi chàng tức giận hay cãi nhau với những đứa trẻ khác trên đảo. Chàng được đào tạo và luyện tập những bài tập dành cho những người đàn ông khỏe mạnh nhất. Chàng được học cách dùng lao, dùng kiếm, khiên và cung tên rồi học cách chạy, nhảy, săn. Bắn, chèo thuyền và nghệ thuật đi biển. Trên hòn đảo Seriphos không có sách vở bởi không ai biết đọc hay biết viết. Tuy nhiên, Perseus được dạy những câu chuyện của thời cổ đại về những người chiến binh giết chết những con quái vật trên biền và trên đất liền. Hầu hết những con quát thú đã bị giết chết và Perseus cảm thấy tiếc khi nghe điều đó bởi chàng muốn thử vận may của mình khi chàng trở thành một người đàn ông khỏe mạnh. Tuy nhiên, vẫn còn một loài quái vật khủng khiếp nhất sống trên một hòn đảo gần vùng đất của người chết. Đó là quái vật Gorgon bị cả thần và người cùng căm ghét. Những con quái vật Gorgon có hai chị em là bất tử nhưng trông chúng thật đáng sợ và bẩn thỉu còn kẻ thứ ba thì đỡ hơn một chút nhưng cũng đáng sợ không kém. Gorgon là tên của ba mụ la sát quái vật nói trên và theo nhiều người kể lại thì chúng là con gái của thần biển Phorkyx và nữ thần biền Keto. Trong số ba nữ quái trên thì có hai kẻ là bất tử còn nữ quái cuối cùng và cũng là nữ quái tai ác nhất lại không phải là bất tử. Thân thề của ba nữ quái được phủ một lớp vảy bọc sáng loáng, cứng như thép. Không có một thanh kiếm nào có thể đâm thủng lớp vảy bọc này trừ thanh kiếm cong của thần Hermes. Ba nữ quái Gorgon có đôi tay khổng lồ bằng đồng thau và những chiếc móng vuốt cứng như thép. Trên đầu chúng, thay cho mái tóc là những con rắn độc lúc nhúc miệng thở phì phò. Với những chiếc răng sắc nhọn như dao găm, với đôi môi đỏ như ngậm máu với đôi mắt dữ tợn, bộ mặt chúng trông thật tàn ác và gớm ghiếc đến nỗi bất cứ ai chỉ cần nhìn vào mặt chúng một lần là lập tức bị hóa thành đá. Ba mụ Gorgon mang trên mình những đôi cánh bằng vàng sáng chói và nhờ đó chúng có thể bay nhanh như gió.

Đó là một trong số những câu chuyện Perseus nghe được khi chàng còn là một đứa trẻ. Có một câu thành ngữ so sánh những nhiệm vụ khó khăn giống như việc "giết chết quái vật Gorgon". Sau đó, Perseus luôn tự hỏi làm thế nào chàng có thể giết chết được con quái vật kia và trở thành một người nổi tiếng như chàng dũng sĩ vĩ đại Heracless hay đức vua thông thái Bellerophon, người đã giết chết Chimaera. Perseus luôn nghĩ về những người nổi tiếng và chàng đặc biệt yêu thích câu chuyện của Bellerophon. Câu chuyện như sau:

Trong thành phố Ephyre, mà hiện tại được gọi là Corinth, có một đức vua tên là Glaucus. Ông có một người con trai tên là Bellerophon. Chàng được cha nuôi mình là đức vua Proetus nuôi dưỡng trưởng thành tại Argos, ông yêu chàng hết mực và đối xử với chàng như con đẻ. Proetus đã lớn tuổi trong khi vợ ông, nàng Anteia, lại còn rất trẻ và xinh đẹp. Dần dần, Anteia đem lòng yêu mến Bellerophon và không thể có được hạnh phúc nếu không có chàng bên cạnh. Tuy nhiên, Bellerophon lại không hề mảy may rung động trước nàng bởi nàng là mẹ đỡ đầu của chàng. Cuối cùng, Anteia nói với Bellerophon rằng nàng yêu chàng và căm ghét chồng của nàng. Nàng đề nghị chàng cùng mình chạy trốn và hai người sẽ có được cuộc sống hạnh phúc trên một hòn đảo xa xôi, nơi đức vua Proetus không bao giờ đến được.

Bellerophon không biết nói sao, chàng không thể làm gì sai trái đối với đức vua Proetus bởi chàng rất yêu quý và kính trọng ông. Chàng đứng lên, im lặng, mặt đỏ bừng vì ngượng, tuy nhiên, Anteia lại tỏ ra vô cùng giận dữ trước thái độ cúa chàng trai trẻ. Nàng nói:

- Đúng là đồ hèn nhát. Chàng sẽ không thể sống lâu ở Argos để chế nhạo tình yêu của ta nữa đâu.

Rồi nàng chạy đến gặp đức vua Proetus, lao vào lòng ông và nói:

- Hỡi đức vua tôn kính, chúng ta nên làm gì với người đàn ông vừa nói rằng anh ta yêu nữ hoàng của Argos bây giờ?

Proetus giận dữ hét lên:

- Nếu đó là con trai đỡ đầu của ta thì nó sẽ phải chết.

- Chàng vừa nói ra tên hắn ta đấy.

Rồi nàng ta chạy thẳng lên phòng riêng, khóa trái cửa rồi nằm gục xuống giường khóc lóc thảm thiết như thể trái tim nàng ta đang bị vỡ ra thành trăm mảnh. Proetus theo sau nàng ta nhưng nàng ta không chịu mở cửa, đứng bên ngoài, ông chỉ nghe thấy tiếng khóc nức nở của người vợ trẻ. Ông quay trở xuống, vừa đi vừa nghĩ nên làm gì đối với Bellerophons để trả thù những gì chàng gây ra cho người vợ trẻ của mình. Ông không muốn giết chết chàng một cách công khai bởi đức vua Ephyre sẽ gây chiến chống lại ông. Ông cũng không thể đem chàng ra xử tội trước hội đồng phán xét bởi không ai có thể đứng ra làm chứng chống lại chàng trừ Anteia.

Trong vòng một hai ngày tiếp theo, vua Proetus tỏ ra yêu quý Bellerophon hơn bao giờ hết. Tiếp theo, ông gọi riêng chàng tới phòng của mình và nói rằng nhũng người đàn ông trẻ tuổi tốt nhất nên tiến hành một chuyến thám hiểm vòng quanh thế giới để có thể nhìn thấy nhũng điều mình chưa biết. Con mắt của Bellerophon sáng lên khi nghe thấy những lời này của cha nuôi. Chàng vui sướng không chỉ vì chàng muốn được đi du lịch và còn bởi vì nếu tiếp tục ở lại Argos chàng sẽ cảm thấy không yên mỗi khi bắt gặp ánh mắt giận dữ của Anteia. Vua Proetus bảo chàng rằng đức vua thành Lycia ở châu Á là cha vợ của ông và cũng là người bạn tốt nhất của ông. Ông sẽ cử Bellerophon mang một bức thư đến cho cha vợ. Thực tế, bức thư đó ngầm nói với vua thành Lycia rằng hãy giết chết người đưa tin đến. Đức vua thành Lycia đón tiếp chàng trai trẻ một cách nồng nhiệt, đến ngày thứ mười sáu, ông hỏi Bellerophon xem chàng có mang theo dấu hiệu nào của vua Proetus không.

Bellerophon đưa cho ông tấm thẻ bài của vua Proetus, đức vua mở ra và đọc. Những dòng chữ trong tấm thẻ bài nói rằng Bellerophon phải chết. Vào thời gian đó, đất nước Lycia bị một con quái vật ám ảnh. Đầu của con quái thú có hình dạng của một con sư tử, ở giữa là một con dê, mũi thở ra lửa trông rất đáng sợ. Vua của Lycia mong muốn loại trừ được con quái vật này từ rất lâu rồi nhưng lại không có người nào đủ sức mạnh làm được điều đó, nhân cơ hội này ông liền yêu cầu chàng đến canh chừng con quái thú trong một đêm với hi vọng chàng sẽ bị quái vật giết chết.

Tuy nhiên, Bellerophon vừa khôn ngoan lại vừa dũng cảm. Khi mọi người hỏi chàng tại sao chàng không mang theo vũ khí trừ thanh kiếm và hai chiếc lao làm bằng chì của mình thì chàng nói rằng chàng có cách chiến đấu riêng của mình. Chàng yêu cầu những người đi cùng quay trở về nhà và để chàng lại một mình trong khi những người đánh xe ngựa đứng ở đằng sau tại một vị trí khuất. Bellerophon quan sát xung quanh, chàng nằm xuống, nấp đằng sau một tảng đá ở cửa hang. Khi mặt trời lên, quái vật Chimaera xuất hiện, đặt hai tay trước lên trên một tảng đá gần đó rồi nhìn xuống thung lũng. Đúng lúc mụ ta mở miệng thở ra lửa thì Bellerophon ném những thanh lao bằng chì của mình vào sâu trong cổ họng của mụ. Những con rắn độc bò lổm ngổm xung quanh con quái vật nhưng Bellerophons vẫn giữ khoảng cách ở một vị trí khá xa. Chimaera dừng lại để đuổi theo chàng, mụ ta lăn trên mặt đất kêu gào vì đau đớn bởi những thanh lao bằng chì đã tan ra dưới ảnh hưởng sức nóng của ngọn lửa bên trong mụ ta. Một lúc sau, số chì hòa tan bốc cháy thiêu sống con quái vật độc ác. Bellerophon cắt đầu, vài cái chân và chiếc đuôi của con quái thú rồi chất lên xe ngựa, lao thẳng về lâu đài của vua thành Lycia trong khi những người dân trong thành theo sau chàng hát vang bài ca chiến thắng.

Đức vua vẫn chưa chịu bỏ cuộc. Ông giao cho chàng những nhiệm vụ khủng khiếp khác nhưng chàng luôn hoàn thành một cách vinh quang. Cuối cùng, đức vua gả con gái mình cho chàng trai trẻ dũng cảm và chia một nửa vương quốc cho chàng. Đó là câu chuyện về chàng Bellerophon dũng cảm. Perseus quyết tâm sẽ thực hiện những cuộc phiêu lưu và lập được những chiến công hiển hách như chàng Bellerophon. Tuy nhiên, Perseus vẫn chỉ là một cậu bé và cậu không biết, đồng thời cũng không ai chỉ cho cậu đường đến hòn đảo của những con Gorgon.

Khi Perseus mười sáu tuổi, đức vua của đảo Seriphos là Polydectes nhìn thấy Danae, đem lòng yêu thương nàng và muốn đưa nàng về cung điện của mình. Tuy nhiên, ông lại không muốn nàng mang theo Perseus vì ông ta nghĩ chàng chỉ đem lại rắc rối cho ông ta mà thôi. Polydetes là một kẻ xấu xa và độc ác, trong khi mọi người dân trên đảo lại rất yêu quý Perseus nên ông ta không dám công khai giết chàng. Chính vì vậy, ông ta tìm cách kết bạn với chàng trai trẻ và quan sát chàng thật kĩ để xem xem ông ta có thể lợi dụng được chàng hay không. Đức vua nhận thấy, chàng là một người hấp tấp, liều lĩnh và ngạo mạn mặc dù Dictys đã dạy chàng cách tự kiềm chế mình. Lúc nào, Perseus cũng khao khát giành được vinh quang, bất chấp chàng có phải đối mặt với bất cứ nguy hiểm nào. Vậy và Polydectes nghĩ ra một kế hoạch: Ông ta tổ chức một bữa tiệc lớn mừng sinh nhật của mình rồi mời tất cả các vị chỉ huy và những người giàu có nhất trên đảo đến tham dự. Tất nhiên, Perseus cũng nằm trong danh sách khách mời danh dự. Theo phong tục, mọi người đến đều mang theo quà tặng, những người giàu có thì mang tặng đức vua gia súc, phụ nữ, cốc vàng, trâm vàng, những chiếc bình lớn bằng đồng và rất nhiều đồ vật khác nữa. Ông ta ra tận cửa đón tiếp các vị khách nồng hậu.

Perseus là người cuối cùng đến dự tiệc. Chàng không mang quà đến tặng đức vua bởi chàng chẳng hề có thứ gì của riêng mình. Những người khác bắt đầu la hét:

- Vị khách này đến mà không mang theo quà sinh nhật kìa. Mà làm sao cậu con trai không biết cha mình là ai kia có thể tìm được một món quà thích hợp dành cho đức vua chứ.

- Chàng trai này thật lười biếng, suốt ngày chỉ biết bám lấy mẹ mà thôi. Tại sao anh ta lại không xin gia nhập quân đội nhỉ.

Rồi một người khác nói tiếp:

- Ít nhất thì anh ta cũng phải đi chăn bò trên những cánh đồng trong thành phố chứ.

Họ lăng nhục Perseus không tiếc lời, đức vua Polydectes chỉ nhìn chàng với nụ cười nham hiểm, ông ta sung sướng khi thấy mặt chàng đỏ lên vì xấu hổ và giận dữ, đôi mắt xanh biếc của chàng long lên. Chàng nhìn hết kẻ châm chọc này đến kẻ châm chọc khác.

Cuối cùng Perseus nói:

- Hỡi những người nông dân, những ngư dân, hỡi những thuyền trưởng trên những con thuyền buôn nô lệ của hòn đảo nhỏ bé, ta sẽ mang về cho đức vua của các người một món quà mà không ai trong số các ngươi dám đi tìm kiếm. Tạm biệt. Ta sẽ quay trở lại gặp các ngươi. Bây giờ ta sẽ đi giết chết quái vật Gorgon và mang về một món quà mà không một ông vua nào có được: Đó là đầu của Gorgon.

Tất cả bọn họ cười lớn nhưng Perseus quay đi, tay lăm lăm thanh kiếm bỏ mặc ông vua độc ác và những kẻ kiêu ngạo kia ở lại dự tiệc. Perseus không dám gặp mẹ trước khi lên đường mà chỉ dám nói chuyện với Dictys về dự định của mình. Chàng nhờ Dictys bảo vệ mẹ chàng khỏi những kẻ xấu. Chàng nói với ông rằng trên hòn đảo này chỉ có ông là đối xử tốt với chàng và chàng sẽ không bao giờ quên điều này. Dictys hứa sẽ tìm cách bảo vệ Danae và tặng Perseus ba cái nêm bằng vàng, cho chàng mượn một con thuyền để đưa chàng đến đất liền của nước Hi Lạp.

Bình minh lên, Perseus bí mật rời khỏi đảo rồi cập bến Malea, từ đây chàng tiếp tục cuộc hành trình của mình bằng đường bộ. Chàng ăn mặc tồi tàn và ngủ cạnh những đống lửa của những lò rèn, nơi những kẻ ăn mày và những người lang thang vẫn thường nằm. Chàng lắng nghe những câu chuyện của họ và hỏi họ đường tới hòn đảo của các quái vật Gorgon. Họ đều lắc đầu không biết. Tuy nhiên một người đàn ông già lên tiếng:

- Hình như ta có biết thì phải. Nếu không nhầm thì đó là hòn đảo cạnh vùng đất của người chết bởi ta sắp rời đến nơi đấy rồi. Xem nào.. nhưng không, ta cũng chẳng biết thêm thông tin gì. Có thể những người chết biết được, hãy đến gặp nữ tiên tri ở Python hay Selloi, họ sẽ chỉ cho con đường đến nơi con muốn đến thông qua việc nói chuyện với người chết.

Perseus không biết gì hơn nữa. Chàng lại tiếp tục lang thang trong chuyến hành trình dài của mình. Chàng đến một chiếc hang dẫn đến vùng đất của người chết, nơi những linh hồn của người đã chết có thể trả lời câu hỏi của chàng. Tuy nhiên, ngay cả những hồn ma cũng không thể nói cho chàng nghe những gì chàng muốn biết. Chàng phải đi đến Python gặp một nữ tư tế. Nữ tư tế này nói rằng chàng phải tìm kiếm vùng đất của những người ăn quả đầu thay vì những hạt thực phẩm vàng của nữ thần nông Demeter. Sau đó chàng đến Epirus và gặp những người Selloi, những người sống trong khu rừng thiêng của thần Dớt. Trong khu rừng này, các loại cây cỏ thể nói tiếng người. Những chiếc lá thần nói:

- Chũng ta hãy tăng thêm hi vọng cho chàng trai trẻ kia, hãy truyền hi vọng cho chàng và cầu xin các vị thần ủng hộ chàng.

Tuy nhiên câu trả lời này cũng không nói cho Perseus biết hòn đảo của các nữ quái Gorgon ở đâu. Có điều trong trái tim chàng xuất hiện một niềm hi vọng lấn át sự mệt mỏi và buồn bã mà chàng phải chịu đựng. Chàng ăn bánh làm từ bột ngô và thịt dê mà người Selloi cho chàng. Sau đó chàng đi một mình vào rừng và nằm gối đầu trên những lớp rêu xanh rì. Chàng không ngủ mà quan sát những vì sao sáng lấp lánh trên bầu trời cao.

Chàng nói với mình: "Nếu các vị thần ủng hộ ta thì ta sẽ thành công".

Trong khi nói vậy, Perseus nhìn thấy một tia sáng rõ ràng chuyển động qua bóng tối. Ánh sáng đó phát ra từ một ngọn đèn vàng trên tay một người phụ nữ cao và xinh đẹp. Có điều người phụ nữ này mặc áo giáp và đeo một chiếc khiên bằng đồng sáng bóng. Đi cùng nàng là một chàng trai trẻ chân đi đôi dép vàng và trên thắt lưng là một thanh kiếm uốn cong. Chàng cầm một chiếc đũa thần bằng vàng rất đẹp.

Ngay lập tức Perseus biết hai người đó chính là nữ thần Athene và thần Hermes đang mang may mắn đến cho chàng. Chàng cúi đầu trước hai vị thần nhưng nữ thần Athene nói:

- Đứng lên đi Perseus và hãy nhìn thẳng chúng ta mà nói bởi chúng ta là anh em của chàng. Chúng ta cũng là con trai, con gái của thần Dớt - cha của các vị thần và con người.

Perseus đứng dậy nhìn thẳng vào mắt của hai vị thần, đồng thời cũng là anh chị em của chàng.

- Perseus, chúng ta đã quan sát chàng rất lâu rồi. Chúng ta phải thử xem chàng có phải là một người đàn ông dũng cảm có thể giành thắng lợi trong những chuyến thám hiểm hay không. Qua những gì quan sát được, chúng ta thấy rằng chàng rất vội vàng và nóng lòng muốn ghi được chiến công. Chàng sẽ không thể tìm thấy đường mà không có sự giúp đỡ của các vị thần đâu. Đầu tiên, chàng phải tìm ba người phụ nữ da nâu sống ở trong vùng đất đằng sau thần Gió bắc. Họ sẽ chỉ cho chàng đường tới chỗ ba nữ thần rừng ở phía tây, họ đang sống trên một hòn đảo mà không hề biết thuyền là gì. Chàng phải đến gặp các nữ thần này và họ sẽ chỉ cho chàng cách giết chết những con quái thú Gorgon. Nếu chàng nhìn vào mặt của bọn Gorgon thì chàng sẽ bị biến thành đá. Chàng đã thề sẽ mang đầu của con quái thú trẻ nhất về, nó không được một con Gorgon khác sinh ra nhưng nó rất độc ác. Nếu chàng giết chết con quái vật này, chàng không được nhìn vào cái đầu đã chết của nó mà hãy dùng da dê bọc kín rồi treo cạnh khiên của ta. Chàng hãy để cho kẻ thù cưa chàng nhìn thấy chiếc đầu đó rồi chúng sẽ nhận được một bài học thích đáng.

Perseus đáp lại:

- Đây là một chuyến phiêu lưu vĩ đại nhất: Ta phải giết chết con quái vật mà ta không được nhìn vào mặt nó nếu không ta sẽ bị biến thành đá.

- Ta tặng cho chàng chiếc khiên sáng bóng. - Nữ thần Athene quay sang Perseus nói tiếp - Nếu chàng sống sót và nhìn thấy ánh sáng mặt trời thì nó sẽ không bao giờ bị mờ đi.

Nàng tháo chiếc khiên từ cổ ra và dùng một miếng da cừu phủ kín rồi đeo xung quanh cổ của chàng. Perseus quỳ xuống cảm ơn nàng rồi nhìn vào không gian trống giữa những bụi cây trong rừng, chàng nói:

- Ta nhìn thấy chòm sao gấu tinh ở phía bắc là chòm sao chỉ đường dẫn lối cho các thủy thủ. Bây giờ ta sẽ đi theo hướng của chòm sao bởi trái tim ta nóng lòng tìm thấy ba người phụ nữ hung dữ kia và tìm ra cách giết chết chúng.

Thần Hermes mỉm cười:

- Nếu chàng định đi bộ theo hướng đó thì có lẽ đến khi chàng trở thành một ông già râu tóc bạc phơ mới có thể tìm được nơi chàng muốn đến. Đây là đôi dép có cánh của ta, chàng hãy đi vào chân. Chúng biết tất cả các lối đi và sẽ đưa chàng đến chỗ ba người phụ nữ hung dữ trong thời gian nhanh nhất. Chàng cũng phải hết sức cẩn thận với thanh kiếm của ta bởi thanh kiếm này chỉ cần đâm một nhát là có thể tiêu diệt được đối thủ.

Perseus đi đôi dép nhanh nhẹn vào chân, chàng cầm thanh kiếm sắc tên là Herpmes rồi đứng dậy chuẩn bị lên đường. Chưa kịp quay sang chào hai vị thần thì họ đã biến mất. Chàng rút kiếm ra, chặt một cây sồi cản đường trước mặt rồi tiến thẳng về phía trước. Chàng bay đến phía bắc của nước Hi Lạp, bay trên những đỉnh núi Thracian và Danube (sau này được gọi là Ister). Những ngọn núi này nằm phía dưới chàng giống như một dải bạc dài. Không khí trở nên khô lạnh trong khi chàng băng qua những vùng đất lạ mà người Hi Lạp chưa biết tới. Đây là những vùng đất nơi người nguyên thủy và hoang dã sinh sống, họ mặc những bộ quần áo làm từ da thú và sử dụng đầu rìu, đầu lao làm từ đá mài nhọn. Rồi chàng đến phía sau của Gió bắc, một vùng đất ấm áp, đầy nắng nơi mọi người thường cúng tế đồ hoang dã cho thần Apollo. Đi xa hơn một chút, chàng đến một vùng sa mạc, cát nóng như thiêu như đốt, nhưng nhìn về phía xa xa thấy những hàng cây xanh mướt chàng liền bay thẳng đến đó.

Chàng đến một hồ nước lớn, xung quanh hồ có ba con thiên nga xám nhưng đầu là đầu của ba người phụ nữ đang bay lượn. Chúng có mái tóc dài thả xuống, trong khi bay mái tóc của chúng cũng bay theo chiều gió. Chúng vừa bay vừa hát nhưng giọng hát của chúng giống như tiếng hét của thiên nga. Chúng chỉ có một mắt, một hàm răng nên phải lần lượt chuyển cho nhau. Khi một người chuyển mắt cho người kia thì tất cả ba kẻ trong số chúng đều không thể nhìn thấy gì. Vậy là Perseus chộp lấy cơ hội đó lao đến cướp đi con mắt duy nhất của ba phụ nữ kia.

Một kẻ hét lên với hai kẻ còn lại:

- Ta vẫn chưa lấy được mắt.

Vậy là cả ba đều lo lắng không biết có chuyện gì xảy ra. Đúng lúc đó Perseus bay đến và nói:

- Ta có nó đây này. Ta đang giữ con mắt duy nhất của các ngươi, nếu các ngươi nói cho ta điều mà ngoài các ngươi ra không ai biết thì ta sẽ trả lại mắt. Nào bây giờ chỉ cho ta đường tới hòn đảo của các nữ quái Gorgon.

Cà ba người cùng hô to:

- Chúng tôi không biết điều đó, mà thực ra không ai biết điều đó trừ những nữ thần rừng của đảo phía tây. Nào, bây giờ thì trả mắt cho chúng tôi.

- Thế thì hãy chỉ đường cho ta đến đảo của các nữ thần rừng. - Perseus nói tiếp.

- Hãy quay lưng lại, đầu tiên đi qua đảo Albion, nơi có những vách đá trắng rồi tiếp tục đi theo phía tay trái đến một hòn đảo chưa ai đến. Từ đây đi theo hướng phải cho đến khi nhìn thấy những cột trụ của Heracles ở bên tay trái. Cuối cùng hãy đi về hướng nam là sẽ đến. Hãy trả lại mắt cho chúng ta đi.

Perseus trả mắt cho ba người phụ nữ. Sau khi lấy được mắt, một người trong số họ ném thanh kiếm sắc nhọn về phía chàng nhưng chàng đã bay đi rất xa nên chúng không thể làm gì được. Chàng đi theo hướng dẫn của ba người phụ nữ kia cho đến khi nhìn thấy những chiếc cột trụ của Heracles ở Gibraltar. Rồi chàng đi tiếp về phía nam, băng qua luồng không khí ấm áp trên dòng nước Atlantic. Cuối cùng chàng nhìn thấy một đỉnh núi xanh phủ dày tuyết ở một hòn đảo phía xa. Perseus hướng thẳng đến phía hòn đảo đó. Hòn đảo này là một đất nước của các rừng hoa tươi đẹp và những rừng thông ngút ngàn nằm trên đỉnh đồi. Phía dưới rừng thông là một khu đất giống như một khu vườn, trong khu vườn có một cây táo với ba quả táo vàng. Xung quanh cây quý là ba phụ nữ xinh đẹp trong trang phục màu xanh, trắng và đỏ đang nhảy múa. Chàng lẩm bẩm:

- Chắc hẳn đây là các nữ thần rừng của đảo phía tây rồi.

Perseus đáp xuống khu vườn và tiến lại gần ba nữ thần. Vừa nhìn thấy chàng trai lạ, họ ngừng nhảy múa và tiến đến phía chàng và nói:

- Hermes, anh bạn Hermes của chúng ta đã đến rồi.

Rồi bọn họ ôm chầm lấy chàng, hôn lên má chàng và hỏi:

- Hermes, tại sao chàng lại mang một chiếc khiên lớn như vậy? Nơi này làm gì có ai muốn chống lại chàng chứ.

Perseus nói rằng họ đã nhầm chàng với thần Hermes, chàng chỉ mượn thanh kiếm và đôi dép có cánh của thần thôi Tuy nhiên, chàng lại thấy thích thú với sự nhầm lẫn của các nữ thần. Chàng nói:

- Ta không phải là Hermes mà là một người bình thường nhưng thần Hermes đã hào phóng cho ta mượn kiếm và dép, còn chiếc khiên này là của nữ thần Athene tặng cho ta.

Các cô gái lùi lại, mặt đỏ ửng vì xấu hổ. Người lớn tuổi nhất nói:

- Chúng ta là con gái của thần Hesperus, thần của các vì sao buổi tối. Ta là Aegle, đây là hai em của ta Erytheia và Hesperia. Chúng ta canh giữ hòn đảo này bởi đây là khu vườn của các vị thần. Các vị thần thường xuyên đến thăm chúng ta như thần Dionysus, thần rượu nho, Hermes, vị thần vui vẻ có chiếc đũa thần vàng, thần ánh sáng Apollo và chị Artemis, nữ thần săn bắn. Tuy nhiên chúng ta chưa từng nhìn thấy một người trần nào cả. Các vị thần nào cử chàng tới đây à?

- Hai vị thần đã cử tôi tới đây để hỏi các nàng về đường đến đảo của các nữ quái Gorgon. Ta cần phải giết chết Medusa với mái tóc là những con rắn độc.

Ba người phụ nữ kêu lên:

- Trời ạ, làm sao chàng có thể giết chết nó cơ chứ? Chúng ta không biết đường đến hòn đảo đó đâu.

Perseus thở dài, chàng đã đi quá xa rồi và chịu đựng quá nhiều thử thách nhưng ngay cả những nữ thần rừng trên hòn đảo phía tây cũng không biết đường đến hòn đảo của quái vật Gorgon. Một trong ba người con gái an ủi:

- Đừng lo lắng như vậy bởi chúng tôi biết cách giúp chàng biết được điều chàng muốn biết. Atlas là vị thần khổng lồ trên đỉnh núi kia. Ông ấy sống trên đỉnh cao nhất trong số những đỉnh núi tuyết phủ và là người nâng đỡ thiên đàng, giữ cho trái đất được vững chắc. Ông ấy nhìn được khắp mọi nơi trên thế giới này. Chàng hãy cởi khiên ra bởi nó quá nặng, ngồi xuống với chúng tôi giữa những đóa hoa này rồi chúng ta cùng nghĩ ra cách giết chết mụ Gorgon.

Perseus làm theo lời của ba nữ thần rừng. Chàng tháo khiên, ngồi xuống giữa những đóa hoa dại màu đỏ tía và màu trắng. Aegle cũng ngồi xuống nhưng nàng Erytheia giữ chiếc khiên thẳng đứng trong khi nàng Hesperia xinh đẹp tự ngắm mình trong gương và hài lòng với sắc đẹp của mình.

Perseus mỉm cười quan sát họ và tự nhiên một kế hoạch xuất hiện trong đầu chàng. Điều đó thật đơn giản, vậy mà trong suốt quãng đường đi chàng đã cố gắng suy nghĩ xem mình nên làm gì để giết được mụ yêu tinh mà không bị biến thành đá. Bây giờ thì mọi thắc mắc của chàng đã được giải đáp. Chàng có thể giơ chiếc khiên lên trên mụ Gorgon và khi nhìn thấy hình ảnh phản chiếu của mình qua chiếc khiên thì mụ sẽ biến thành đá. Chàng quay lại phía Agele và nói:

- Hỡi nữ thần rừng xinh đẹp, ta đã tìm ra bí mật khiến ta phải suy nghĩ rất lâu trong suốt thời gian qua. Ta có thể tấn công mụ Gorgon mà không phải nhìn thấy khuôn mặt đáng sợ có thể biến mọi người thành đá. Ta sẽ treo chiếc khiên phía trên mụ và nhìn khuôn mặt mụ phản chiến qua chiếc khiên, như vậy ta sẽ biết mình nên tấn công nơi nào.

Hai cô gái còn lại đặt chiếc khiên trên cỏ và vỗ tay tán thưởng khi Perseus nói điều này. Tuy nhiên Aegle vẫn tỏ ra rất nghiêm nghị. Có lẽ nàng đang lo lắng điều gì đó mà những người khác không biết. Nàng nói:

- Thật tuyệt vì chàng đã nghĩ ra được kế hoạch khôn ngoan đó, nhưng những mụ Gorgon còn lại sẽ nhìn thấy chàng và chàng không được quên rằng hai mụ đó là bất tử, không ai có thể giết chết được mụ, thậm chí khi người đó dùng thanh kiếm Herpe. Những mụ Gorgon này có cánh bay nhanh không kém gì đôi dép có cánh của thần Hermes và chúng lại có những chiếc vuốt bằng đồng không gì có thể chém đứt được.

Hesperia lại vỗ tay và nói:

- Em biết cách giúp người bạn của chúng ta có thể đến gần những con quái vật kia mà không bị chúng phát hiện. - rồi nàng quay sang phía Perseus - Chị em chúng ta là bạn của nữ hoàng Persephone, con gái của thần nông Demeter. Chúng ta thường đi hái hoa cùng nàng ấy trên cánh đồng Enna vào buổi sáng mùa xuân. Trên vùng đồng bằng này có một loài hoa rất lạ, hương thơm quyến rũ. Ngay khi Persephone hái một bông hoa lên thì chiếc xe ngựa của thần Hades xuất hiện và bắt nàng lên xe rồi đưa nàng xuống ngôi nhà dưới địa ngục của mình. Chúng tôi đã than khóc và sợ hãi nhưng thần Dớt đã cho phép Persephone được quay trở về trái đất vào những tháng mùa xuân và mùa hè để sống cùng mẹ mình cho đến khi những đóa hoa hồng tàn phai mới phải xuống dưới âm phủ. Bây giờ ta là người bạn Persephone rất yêu quý và nàng thường đưa ta đến gặp chồng nàng và ông cũng đôi xử rất tốt với ta. Ông chẳng thể từ chối ta điều gì và ta tin rằng thần Hades cũng sẽ giúp chàng. Ta sẽ đến gặp ông và quay trở lại nhanh thôi. Ta sẽ nhờ ông biến chàng thành người tàng hình, như vậy không một vị thần hay con người nào hay thậm chí là lũ quái vật có thể nhìn thấy chàng. Trong khi đó, các chị của ta sẽ chăm sóc chàng và ngày mai họ sẽ dẫn chàng lên đỉnh núi nói chuyện với thần khổng lồ Atlas.

Nàng Aegle bây giờ mới mỉm cười thoải mái. Nàng nói:

- Tuyệt lắm, cứ quyết định làm như vậy đi.

Rồi nàng đưa Perseus vào trong nhà, mời chàng dùng bữa và thưởng thức thứ rượu vang ngon nhất. Đêm hôm đó, chàng ngủ trong nhà của các nữ thần, trong lòng tràn đầy niềm vui và hi vọng.

Sáng sớm hôm sau, Perseus cùng Aegel và Erytheia bay lên trên đỉnh núi gặp thần khổng lồ, Perseus cầm tay hai nữ thần và họ bay lên trên cao chứ không cần phải đi bộ. Tới nơi họ thấy Atlas đang quỳ trên một tảng đá đen lớn, hai vai đỡ thiên đàng. Khi Aegle nói chuyện với ông, ông yêu cầu hai cô gái hãy đi đi và chỉ chịu nói chuyện trực tiếp với Perseus, ông nói:

- Trên một hòn đảo xa ở phía tây, nơi có một ngọn núi cao, đỉnh bằng phẳng đằng kia chính là nơi các nữ quái Gorgon sinh sống.

Perseus cảm ơn người khổng lồ Atlas nhưng ông thở dài và nói:

- Cuộc đời của ta thật khốn khổ. Ta phải quỳ ở đây để thực hiện nhiệm vụ của mình bởi đó là hình phạt thần Dớt dành cho ta. Tuy nhiên, thần cũng nói rằng sau mấy trăm năm, ta có thể được nghỉ ngơi và người sẽ xây một cột trụ khổng lồ thay thế ta. Nhưng bây giờ thì ta không còn hi vọng nữa. Khi nào giết được mụ Gorgon, chàng hãy quay lại đây, đưa cho ta xem mặt của mụ để cơ thể ta biến thành đá, còn linh hồn ta sẽ bay lên đỉnh Olympus sống cùng các vị thần.

Perseus cảm thấy thương cảm cho Atlas, ông đã chấp hành mệnh lệnh của thần Dớt mà không hề oán thán. Chàng cầu nguyện các vị thần hãy ở bên cạnh ông và hứa sẽ quay trở lại gặp ông sau khi chàng hoàn thành nhiệm vụ.

Nói xong chàng cùng hai nữ thần rừng lại quay xuống khu vườn có những quả táo vàng. Tới nơi, họ nhẹ nhàng đi bộ trên cỏ và thưởng thức những bản nhạc vui vẻ do những đóa hoa chuông tạo ra. Đột nhiên, ba người nghe thấy tiếng cười của cô em út Hesperia, Aegle nói:

- Em ở đâu vậy Hesperia, em đang chơi trò trốn tìm à?

Aegle vừa nói, vừa chạy đi tìm cô em út trong các bụi cây nhưng không tài nào tìm thấy. Hesperia nói:

- Chị hãy tìm em đi nếu chị có thể.

Thực ra nàng đang đứng ngay bên cạnh các chị của mình, trên tay cầm những đóa hoa tươi thắm nhưng không ai có thể nhìn thấy nàng.

Perseus thấy lạ nên hỏi:

- Hình như nơi này bị yểm bùa thì phải.

- Không phải đâu, theo ta, ta sẽ chỉ cho chàng thấy bí mật của ta.

Sau đó họ nhìn thấy những đóa hoa và những đám cỏ phía dưới hằn vết chân của Hesperia. Khi đến cửa, nàng xuất hiện và nói:

- Mọi người không nhìn thấy em đúng không nào. Như vậy, các nữ quái Gorgon cũng sẽ không nhìn thấy Perseus. Hãy nhìn này, trên bàn là chiếc mũ của thần Hades. Nếu ai đội nó lên đầu sẽ trở thành người tàng hình. Em vừa đội chiếc mũ nên mọi người không nhìn thấy em là đúng thôi.

Nàng cầm chiếc mũ đội lên đầu, ngay lập tức nàng trở thành vô hình. Khi bỏ mũ ra, nàng lại trở thành Hesperia xinh đẹp. Perseus thử chiếc mũ và cũng giống như Hesperia lúc nãy, chàng dường như biến mất. Các cô gái đồng thanh reo lên:

- Chúng ta không nhìn thấy chàng. Hãy thở nhìn chàng trong gương mà xem. Chàng có nhìn thấy mình không?

Perseus quay sang chỗ chiếc khiên nhưng chàng chỉ nhìn thấy lớp đồng sáng loáng và khuôn mặt xinh đẹp của các cô gái. Chàng tháo mũ ra và thở dài:

- Các vị thần thật tốt với ta. Ta nghĩ rằng ta sẽ giữ lời thề của mình và đem đầu của Gorgon về cho Polydectes.

Đêm hôm đó, họ vui chơi thỏa thích. Perseus kể cho ba nữ thần rừng nghe câu chuyện của chàng: Về thân phận thực của chàng. Khi nghe chàng nói chàng là con trai của thần Dớt thì các nữ thần gọi chàng là anh họ Perseus. Hesperia nói:

- Chúng em yêu chàng và chúng em có thể biến chàng thành bất tử, không bao giờ chết. Nhưng chàng có thể từ bỏ tất cả và sống ở đây với chúng em mãi mãi không. Đây là một hòn đảo hoang vắng, chỉ có ba cô gái trẻ canh giữ khu vườn của các vị thần. Tuy nhiên, chàng phải giữ lời thề của mình, trừng phạt kẻ thù của chàng, tôn vinh mẹ chàng và đừng quên ba cô em họ của chàng ở đây nhé. Dù sau này chàng cưới một cô gái chàng yêu thương hết mực và trở thành vua của Argos nhưng chàng đừng bao giờ quên chúng em.

Perseus xúc động bật khóc. Chàng nói:

- Hỡi ba cô em họ xinh đẹp. Ta sẽ không bao giờ quên các nàng ngay cả khi ta phải xuống địa ngục. Hespesria, thỉnh thoảng nàng cũng xuống âm phủ chơi với nữ hoàng Persephone đúng không? Ta biết rồi có một ngày mọi thứ sẽ thay đổi nhưng hiện giờ ta chẳng yêu bất cứ người phụ nữ nào cả.

Erytheia đáp lại chàng:

- Em nghĩ rằng chàng không thể cứ sống mà không có một người phụ nữ bên cạnh. Cuộc sống mà không có tình yêu thì thật vô vị. Perseus, đêm cũng đã muộn rồi, chàng hãy đi ngủ một lát đi bởi ngày mai chàng có rất nhiều việc cần phải làm đấy.

Họ chia tay, sáng hôm sau Perseus chào từ biệt ba người con gái xinh đẹp và lên đường. Chàng lấy tấm da dê che kín chiếc khiên, đi đôi giày nhanh nhẹn vào và cất thanh gươm thần Hermes cho mượn vào thắt lưng rồi đội chiếc mũ của thần Hades lên đầu. Sau đó, chàng bay lên không trung, tiến thẳng đến hòn đảo của các nữ quái Gorgon.

Con đường quả là rất dài nhưng đôi giày thần kì giúp chàng bay nhanh như gió và chỉ đến giữa trưa Perseus đã đáp xuống đỉnh của ngọn núi cao trên đảo. Từ đây, chàng có thể lờ mờ nhìn thấy ba hình dáng kì lạ với đôi chân khủng khiếp không bao giờ cử động. Chàng biết đó chính là ba nữ quái Gorgon đang ngủ trưa. Sau đó chàng nâng chiếc khiên lên để ba hình dáng kia phản chiếu trên bề mặt sáng bóng rồi từ từ bay xuống cho đến khi chàng tới vị trí rất gần có thể tấn công kẻ thù. Chúng nằm đó, hai trong số ba mụ vừa xấu xí, vừa độc ác, chúng thở to như những người say rượu. Tuy nhiên, khuôn mặt của mụ nằm giữa lại giống như khuôn mặt của một đứa trẻ đang ngủ và đặc biệt nhìn mụ ta xinh đẹp không khác gì nữ thần tình yêu. Tất cả những bộ phận trên cơ thể chúng đều không cử động trừ lũ rắn độc trên đầu của Medusa. Lũ rắn này không bao giờ ngủ mà cuộn vào nhau trông thật gớm ghiếc. Perseus quan sát chúng qua gương chứ không dám nhìn trực diện. Chàng rút thanh kiếm Herpe ra và tấn công ngay lập tức. Chàng vung thanh kiếm sắc nhọn của mình lên như ánh chớp và chỉ một nhát, chàng đã chặt đứt chiếc đầu của mụ la sát. Một dòng máu đen phụt ra chảy lênh láng khắp cả tảng đá.

Trong gương, chàng nhìn thấy chiếc đầu của Medusa rơi ra khỏi cơ thể. Chàng vội vàng nhặt lên và bọc kín vào miếng da dê rồi cất vào trong túi. Sau đó chàng bay lên cao và nhìn xuống. Lúc này hai chị em Gorgon vẫn đang ngủ say, nhưng nghe thấy tiếng động, chúng tỉnh giấc và thấy chị gái của chúng đã chết từ lúc nào không biết. Dường như chúng nói chuyện gì đó với nhau rồi nhìn xung quanh nhưng chẳng thể thấy gì bởi Perseus đang đội mũ tàng hình của thần Hades. Chúng đứng dậy, giang đôi cánh khỏe mạnh ra và bay lên phía trên. Perseus bay nhanh hơn bao giờ hết. Bọn Gorgon cảm thấy bối rối bởi rõ ràng chúng cảm thấy điều gì đó nhưng lại chẳng hề nhìn thấy bất cứ bóng dáng của người lạ nào. Chúng dùng mũi hít hít ngửi ngửi và cảm thấy có mùi lạ nhưng Perseus bay đi quá xa nên chúng đã mất hết dấu vết. Sau khi bay được một quãng dài, Perseus nhìn lại nhưng đằng sau chàng chỉ là một bầu không gian bao la không một bóng người. Từ đó trở đi, chàng không bao giờ nhìn thấy những quái vật Gorgon nữa. Chàng quay trở lại chỗ thần khổng lồ Atlas và ông chào đón chàng nồng nhiệt:

- Chào mừng chàng quay lại. Cầu cho các vị thần luôn ở bên giúp đỡ chàng. Hãy cho ta xem cái đầu đó và ta sẽ được nghỉ ngơi mãi mãi.

Perseus cẩn thận mở tấm da dê rồi lấy chiếc đầu từ trong túi ra. Chàng nhìn đi phía khác để thần khổng lồ Atlas cúi xuống nhìn chiếc đầu. Vậy là Perseus đã giúp Atlas hoàn thành tâm nguyện của ông. Sau đó Perseus quay trở về thăm ba nữ thần rừng xinh đẹp. Họ đang ngồi đó lo lắng chờ đợi chàng. Vừa nhìn thấy chàng, họ đã nhảy lên sung sướng. Đêm hôm đó, chàng ở lại cùng ba người em họ. Sáng hôm sau, Perseus lên đường quay trở về nhà.

Aegle hôn Perseus rồi nói:

- Đừng quên chúng em nhé. Chàng không phải thương xót chúng em vì phải ở trên hòn đảo hoang vắng này đâu. Hôm nay, thần Hermes sẽ đến thăm chúng em và ngày mai là thần rượu nho Dionysus. Chúng em lại vui đùa thoải mái. Chàng hãy quay trở về và chắc rằng chàng sẽ tìm được hạnh phúc cho mình.

Họ từ biệt nhau và đây cũng là lần cuối cùng Perseus gặp ba nữ thần rừng xinh đẹp.
 

Những người đang xem chủ đề này

Xu hướng nội dung

Back