1,325 ❤︎ Bài viết: 131 Tìm chủ đề
Đọc: 36 Tìm: 0
Bằng bài văn khoảng 800 chữ, anh chị hãy phân tích đoạn trích từ bài ký "Sử thi buồn" của Hoàng Phủ Ngọc Tường

Bài làm tham khảo​

Một nhà văn Pháp nổi tiếng từng nhận định "Nhà văn là người thư ký trung thành của thời đại" và như vậy, hi lại khoảnh khắc chân thực của cuộc sống là nhiệm vụ của một người nghệ sĩ cầm bút chân chính. Bởi vậy, dạo bước trong phiên chợ văn chương, ta bắt gặp nhiều tác phẩm mang đậm tính chất hiện thực, đặc biệt là những bài ký với tính xác thực cao đưa ta đến thế giới của người thật, việc thật và cảnh thật. Một trong những tác giả gây dựng được tiếng vang lớn khi viết ký là Hoàng Phủ Ngọc Tường. Nhắc đến ông, ngoài tác phẩm ký nổi tiếng "Ai đã đặt tên cho dòng sông", người đọc còn nhớ đến bài ký "Sử thi buồn" cũng không kém phần đặc sắc về nội dung và nghệ thuật. Điểm sáng ấy của bài ký được thể hiện sâu sắc trong đoạn trích.

Tác giả Hoàng Phủ Ngọc Tường là một người sống trọn đời với Huế, viết nhiều nhất, hay nhất về Huế. Với phong cách viết ký lãng mạn, tài hoa, giàu liên tưởng cùng giọng văn ngọt ngào như chất giọng vốn có của người Huế, các tác phẩm ký của ông mang đậm yếu tố văn hóa, đặc biệt là những nét văn hóa độc đáo, cổ truyền được gìn giữ, bảo lưu tại mảnh đất cố đô đầy trầm tích. Bài ký "Sử thi buồn" là tiếp nối những trang viết của Hoàng Phủ Ngọc Tường về mảnh đất và con người nơi đây.

Bài ký với đề tài về thiên nhiên, văn hóa, con người, lịch sử xứ Huế quen thuộc đã thể hiện vốn kiến thức sâu rộng và tình yêu, sự gắn bó của tác giả với Huế. Thiên nhiên nơi đây được khắc họa với vẻ đẹp mộng mơ, huyền ảo, sương mù trên sông Hương và trong lòng thành phố Huế kéo dài từ cuối năm đến đầu hạ. Con người nơi đây cũng được nhà văn khéo léo nhắc đến, nổi bật là câu chuyện về những năm tháng nhà thi sĩ yêu nước Phan Bội Châu bị giam lỏng ở Huế. Văn hóa của người Huế như hình ảnh về xóm thuyền chài, thói quen mặc áo dài trắng, về những câu hò mái nhì, mái đẩy trên sông Hương cũng được HPNT đưa vào trong tác phẩm. Có thể thấy, các sáng tác của nhà văn đều mang đậm dấu ấn của sông Hương, gắn liền với xứ Huế mộng mơ.

Bài ký đã thể hiện vẻ đẹp của Huế qua lớp sương mù huyền ảo và vẻ đẹp của những người làm nên văn hóa, lịch sử nơi đây. Hình ảnh sương mù là "một nét phong vận riêng của sông Hương", là dáng vẻ đặc trưng, mang tính nghệ thuật của sông Hương. Sương mù vừa là vẻ đẹp của thiên nhiên, vừa là nguồn cảm hứng thôi thúc người nghệ sĩ sáng tác. Sương mù đã tạo ra "một tác phẩm xưa hư ảo". Sương mù bao phủ dòng sông, thành phố, người ta ngồi nói chuyện gần nhau mà cũng chỉ lờ mờ thấy mặt nhau. Sương mù còn tạo ra những nét vẽ rất tạo hình như là nét cong của cầu Trường Tiền, những mái lầu, những hàng cây, tất cả đều nhạt nhòa đi trong sương mờ, nhìn như một bức tranh họa cổ. Sương mù đã đem đến cho cố đô vẻ đẹp cổ điển, thơ mộng, huyền ảo như chốn bồng lai tiên cảnh. Bên cạnh sương mù thì hình ảnh thiếu nữ với tà áo dài trắng cũng góp phần làm nên vẻ đẹp xứ Huế mộng mơ. Nhà văn đã miêu tả con người qua hình ảnh những thiếu nữ Huế thường ra ngoài với áo dài trắng mà người ta cứ ngỡ là dáng người từ sương mù sinh ra. Câu văn gợi liên tưởng đến bài thơ "Đây thôn Vĩ Dạ" của Hàn Mặc Tử. Nhà thơ đã trở về "khách đường xa" mà thấy "em" với màu áo trắng lẫn với màu sương khói:

"Mơ khách đường xa khách đường xa

Áo em trắng quá nhìn không ra

Ở đây sương khói mờ nhân ảnh

Ai biết tình ai có đậm đà"​

Trở lại với "Sử thi buồn", Hoàng Phủ Ngọc Tường cũng nhận ra vẻ đẹp của thiếu nữ Huế với màu áo trắng và dáng người đi trong sương mù. Màu áo trắng như sự pha trộn, hòa quyện với màu của sương khối và người Huế giữ mãi màu áo ấy như kỉ niệm của của tình yêu trinh bạch của những người mộng mơ tuổi trẻ. Ý nghĩa của sương mù với Huế là đã đưa Huế quay về với linh hồn cố đô sâu thẳm. Chính sương mù đã làm nên hồn cốt, thần thái rất riêng của Huế, để Huế mang ý nghĩa là một cố đô.

Vẻ đẹp của con người Huế còn được thể hiện ở nhân vật Phan Bội Châu. Đây là một nhân vật có thật trong lịch sử. Khi bị giam lỏng ở Huế, cụ Phan đã làm bạn với dòng sông sương mù, ngồi thuyền trên sông Hương để viết những áng văn yêu nước. Mối quan hệ bền chặt giữa con người với thiên nhiên như người bạn tri âm tri kỷ. Sư đồng điệu, gặp gỡ với tâm hồn của sông Hương - một người bạn vừa sáng suốt, vừa tinh nghịch lại vừa có thể sẻ chia tâm tình với cụ Phan giữa màn sương bồng bềnh. Bên cạnh đó là bà Trần Thị Nữ - một người con của mảnh đất cố đô. Bà là người đã chèo đò suốt 15 năm cho cụ Phan ở Huế. Bà là nhân chứng lịch sử, là người một lòng trung thành với cụ Phan và có thể coi như là người chung chí hướng yêu nước với cụ. Hình ảnh con người xứ Huế còn hiện lên qua cô gái mặc áo vá vai đang hát câu hò mái nhì trên thuyền như lay động, thức tỉnh cụ Phan mà suốt đêm ấy cụ đã trằn trọc không ngủ. Cô gái ấy là hình ảnh người dân bình thường xứ kinh kỳ hiểu được tấm lòng và hành động yêu nước của cụ Phan.

Bài ký là lời ca ngợi, tự hào về vẻ đẹp thiên nhiên, con người cũng như những giá trị văn hóa, lịch sử ở Huế và thể hiện sự trân trọng cùng tiếc nuối về dấu ấn xưa cũ của cố đô có thể sẽ phai mời theo thời gian. Từ đó, tác giả gửi gắm đến người đọc thông điệp về việc gìn giữ, trân quý vẻ đẹp thiên nhiên, con người truyền thống ở Huế.

Bên cạnh những yếu tố nội dung, những đặc sắc nghệ thuật cũng góp phần làm nên thành công của tác phẩm. Đoạn trích đã bám sát những đặc trưng của thể ký để làm nổi bật nội dung truyền tải. Trước hết là tính hi hư cấu, đoạn trích có sự xuất hiện về không gian, thời gian, địa điểm, con người xác thực "Huế", "sông Hương", "cụ Phan Bội Châu".. Hay "tháng dài Huế có sương mù từ cuối năm đến đầu hạ" - kiểu thời tiết đặc trưng ở Huế được nói đến. Bên cạnh đó là yếu tố trần thuật kết hợp trữ tình - tác giả đã ghi chép, kể chuyện kết hợp với miêu tả và bày tỏ cảm xúc. HPNT đã kể câu chuyện về nhà cách mạng Phan Bội Châu, khi con đường cứu nước thất bại, cụ bị thực dân Pháp giam lỏng ở Huế. Song song với câu chuyện của cụ Phan, tác giả còn kể chuyện về bà Trần Thị Nữ - một nhân chứng lịch sử, đồng hành cùng cụ Phan trong suốt những năm tháng ở Huế. Bên cạnh việc ghi chép, kể chuyện, HPNT còn sử dụng phương thức miêu tả. Bút pháp miêu tả chủ yếu để làm nổi bật hình ảnh sương mù ở Huế. Sương mù vừa là thời tiết đặc trưng của nơi đây, vừa làm nên vẻ đẹp hư ảo giao thoa giữa cõi mộng và cõi thực cho mảnh đất cố đô.

Có những câu văn tác giả trực tiếp bộc lộ cảm xúc. Tác giả khẳng định dù có đi đến đâu trên thế giới cũng không thể quên được ấn tượng riêng với Huế. Đó là tình cảm tha thiết gắn bó của người nghệ sĩ với mảnh đất cố đô thơ mộng trữ tình. Tác giả còn bộc lộ cảm xúc về câu chuyện của cụ Phan Bội Châu và bà Trần Thị Nữ. Tác giả thể hiện rất rõ, bày tỏ cảm xúc trực tiếp "Tôi nghĩ thầm" kết hợp hình ảnh mái chèo thời gian là suy ngẫm của tác giả về sự vận động, trôi chảy của dòng đời, về những câu chuyện lịch sử như cụ Phan Bội Châu, bà Trần Thị Nữ.. Có thể thấy, sự kết hợp giữa trần thuật với trữ tình đã tạo ra sức hấp dẫn, thuyết phục cho tác phẩm.

Thêm vào đó, bài ký còn thể hiện rõ cái tôi của người viết. Đó là cái tôi giàu vốn sống, giàu trải nghiệm và sự am hiểu về thời tiết, khí hậu, về địa hình, văn hóa lịch sử của Huế. Những yếu tố đó đã tạo ra tính chân thực cho bài viết. Đó còn là cái tôi tài hoa, lãng mạn được thể hiện qua việc tác giả sử dụng linh hoạt các biện pháp tu từ, hình ảnh..

Đoạn trích là sự am hiểu đến sâu sắc của nhà văn về thiên nhiên, con người người, lịch sử văn hóa của Huế. Nhà văn đã khai thác và thể hiện những vẻ đẹp truyền thống đặc trưng của Huế. Đồng thời, đoạn trích còn là những đặc điểm nổi bật trong phong cách viết ký của HPNT. Trong hành trình tìm kiếm và khám phá vẻ đẹp, những trang văn của HPNT là hiện thân của tình yêu, niềm tự hào về vẻ đẹp quê hương đất nước. Từ đó, người đọc hiểu thêm về những giá trị văn hóa, lịch sử ở Huế, có thái độ gìn giữ vẻ đẹp của mảnh đất cố đô.
 

Những người đang xem chủ đề này

Xu hướng nội dung

Back