Đại điện Phú Xuân - Mùa hạ tháng 4 năm Canh Tuất 1790
Tiếng trống hội ba hồi vang rền. Ánh nắng đầu xuân chan hòa khắp Phú Xuân, từng rặng liễu, bãi lau như khoác lên mình lớp áo mới tinh khôi.
Hôm ấy, trong Điện Cần Chính,
Quang Trung hoàng đế mở đại triều.
Bá quan văn võ chỉnh tề triều phục, từng hàng ngay ngắn chầu hai bên. Không khí vừa trang nghiêm vừa hừng hực khí thế thời mở nước.
Trên ngai vàng, Quang Trung hoàng đế mặc long bào màu đại hồng thêu hình rồng bay cuộn mây, thần sắc uy nghi mà gần gũi.
Bên dưới, Nam Bình Vương Nguyễn Quang Minh đứng bên hữu, uy phong lẫm liệt, ánh mắt như lưỡi kiếm sáng.
Giữa lúc quần thần đang đồng thanh chúc tụng "Hoàng thượng vạn tuế, quốc vận trường tồn", thì bỗng nhiên, từ ngoài Ngự môn, một viên nội thị hớt hải chạy vào, hai tay dâng mật hàm:
Khải tấu bệ hạ! Tin khẩn từ trấn Bình Thuận!
Không khí trong điện lập tức lắng đọng lại. Quang Trung đế nhíu mày, tay khẽ phẩy:
Dâng lên!
Nội thị quỳ dâng mật hàm. Quang Trung cầm lấy, ánh mắt lướt nhanh qua từng dòng. Chỉ trong khoảnh khắc, sắc mặt Ngài tối sầm lại như trời nổi giông.
Một tiếng "bốp" vang lên khi long ấn trong tay nhà vua nện mạnh xuống án thư.
Ngài trầm giọng, như tiếng sấm đầu mùa:
Nguyễn Ánh, thằng giặc ấy, đang tập trung binh mã ba vạn, chuẩn bị đánh thốc vào Bình Thuận, các tướng Nguyễn Văn Huấn, Nguyễn Văn Danh xin cứu viện..
Toàn bộ bá quan ồ lên, Thượng thư Bộ Binh, Tả Hữu đô đốc.. đều nghiêm mặt. Bình Thuận nếu mất, Phú Xuân sẽ nguy ngập như ngọn nến trước gió.
Quang Trung siết chặt tay, mắt đỏ rực, như đấu tranh giữa mối thù riêng rực cháy và đại cục giang sơn trước mắt.
Giữa bầu không khí đặc quánh, Quang Trung hoàng đế siết chặt tay áo, mắt đỏ rực tựa chiến thần nổi giận. Ngài quay nhanh sang phía Nam Bình Vương, giọng dội vang giữa điện:
Minh nhi!
Có tấu báo gì trọng yếu nữa không?
Nguyễn Quang Minh quỳ thấp, trán chạm đất, đôi mắt chợt lóe lên ánh lửa hận thù, nhưng rồi lập tức thu lại, trấn định như mặt hồ sâu thẳm.
Chàng dập đầu kính cẩn:
Bẩm phụ hoàng, hiện thời, giặc Nguyễn Ánh đang manh động tại Bình Thuận, nguy cấp trước mắt. Nhi thần nguyện xin lĩnh binh thân chinh, phá tan giặc thù trước để ổn định đại cục, cứu nguy Bình Thuận.
Trong thâm tâm, Nam Bình Vương hùng tài hiểu: Huyết án Bắc Bình Vương phủ là vết thương chưa lành, nếu tấu trình lúc này, sẽ làm kinh động toàn triều, không có lợi cho việc đánh sập bè lũ Thanh Long Sơn..
Quang Trung hoàng đế chăm chú nhìn con trai, ánh mắt nhuốm đầy yêu thương và kiêu hãnh.
Ngài trầm giọng:
Tốt!
Đại nghĩa đặt lên trên hết, mới xứng làm rường cột nước nhà
Rồi ngài phất tay áo long bào, hạ chiếu:
Lệnh Nam Bình Vương thống lĩnh hai vạn tinh binh, kỵ binh và hỏa pháo, thần tốc đánh thẳng cứu nguy Bình Thuận!
Nguyễn Minh quỳ xuống, thanh âm như sóng trào:
Nhi thần lĩnh chỉ, tạ ơn hoàng thượng!
Tiếng hô "Tuân chỉ!" của toàn bộ bá quan vang dội khắp đại điện, làm chấn động cả thành Phú Xuân.
Gió hạ nổi lên như điềm báo trận phong ba sắp ập tới miền Trung. Vua Quang Trung
Nguyễn Huệ khoác long bào, bước từng bước dứt khoát xuống điện. Trước mặt ông, Nam Bình Vương vận chiến bào đen lam, tay đeo bao tay da, vai đeo vũ khí lạ, đầu ngẩng cao, mắt sáng như dải ngân hà.
Ánh mắt vị đế vương giàu lòng nhân ái nhưng dày dạn máu lửa không giấu nổi tự hào:
"Minh nhi, hôm nay Hoàng nhi ra trận, không phải như một tướng. Mà như một ngọn cờ.
Hoàng nhi mang trong người thứ ánh sáng chưa từng thấy. Vậy thì thắp nó lên đi! Dùng chính thứ lửa con mang theo, thiêu rụi mộng bá đồ vương của Nguyễn Ánh!"
Quang Trung rút Bình Nam kiếm khỏi vỏ, ánh thép lóe lên như một lời tuyên cáo giữa trời:
"Thanh kiếm này đã theo Trẫm Nam chinh Bắc chiến, đã rửa hận Đống Đa, đánh bại Mãn Thanh. Giờ nó là của con"
Nguyễn Minh quỳ gối, giọng chắc như đinh đóng cột:
"Tâu Bệ hạ, thần không dám hứa sẽ toàn thắng, nhưng thần xin thề: Sẽ không để giặc Ánh tiến thêm một bước!"
Quang Trung đặt tay lên đầu nhi tử yêu quý của Nhà vua, mắt ánh lên niềm hy vọng chưa từng hé lộ với bất kỳ ai:
"Đi đi. Phía trước Hoàng nhi là chiến trường. Sau lưng con là vận mệnh một triều đại."
Ngay hôm ấy, đạo quân đặc biệt do Nguyễn Minh chỉ huy rời Phú Xuân, chỉ trong ba ngày ba đêm, dùng ngựa chiến được huấn luyện theo chiến pháp mới, mang theo vũ khí bí mật chế tạo tại xưởng Phượng Hoàng Sơn - nơi Minh âm thầm chỉ huy thợ rèn và binh lính trung tín làm theo thiết kế hiện đại hóa.
Đến Diên Khánh, Minh nhận được tin do Điệp Ảnh quân tấu trình:
- Bẩm Nam Bình Vương điện hạ: Võ Tánh dẫn quân vượt Phan Rí từ hướng biển, Lê Văn Quân tiến theo đường quốc lộ từ phía Bắc, Nguyễn Văn Thành hành quân vòng qua phía Tây hòng đánh úp từ sườn núi.
Phòng thủ phi truyền thống - Trận Phan Rí rung chuyển trời Nam
Tại Bình Thuận, Nguyễn Minh chia quân thành ba mũi đối xứng hình cánh cung, đào sẵn công sự sâu, rải mìn hỏa pháo kiểu ống dẫn nổ cơ học do chàng cải tiến từ nguyên lý thuốc súng.
Ở ba ngọn đồi chiến lược, Minh cho dựng tháp cao lắp kính viễn vọng - lấy từ vật dụng mang theo khi xuyên thời gian, để theo dõi toàn bộ địa hình từ hơn ba dặm.
Quân Tây Sơn ngơ ngác không hiểu, nhưng Minh không giải thích - chỉ ra lệnh rèn luyện theo cách chưa từng thấy: Hành quân theo đội hình rút-lưới, thay đổi thế trận theo hiệu lệnh đèn lửa ban đêm, pháo hiệu và chuông đồng ban ngày.
Đêm ngày 13 tháng 4 năm Canh Tuất, 1790 ba cánh quân Nguyễn Ánh đồng loạt đánh vào Phan Rí.
Nhưng ngay khi vừa tiến vào thung lũng, trận địa lôi được kích hoạt bằng hệ thống chốt đạp cơ học, khiến lửa bùng lên như trời giáng, hàng ngàn quân giặc bỏ mạng.
Phía đồi, hỏa tiễn thô sơ do Minh thiết kế - dùng cơ cấu kéo-bật bằng bánh răng, phóng ra từng loạt lửa rực đỏ, tạo ảo giác như pháo binh thật sự.
Võ Tánh bị thương nơi đùi. Lê Văn Quân hoảng loạn rút chạy, nhưng bị phục binh Tây Sơn do Lý Văn Bưu chặn đánh giữa rừng mai.
Trận Phan Rí - Bẫy thiên địa, lưới tử thần
Nguyễn Minh đứng trên đỉnh núi Cà Ná, gió biển thổi phần phật áo chiến. Dưới chân chàng, trận đồ ba tầng cánh cung đã giăng xong. Hơn ba vạn quân Nguyễn Ánh đang tiến vào một vùng đất tưởng chừng trống trải - nhưng thật ra là bãi tử địa Minh đã bố trí suốt ba ngày ba đêm, bằng chiến thuật "mê lộ - lôi trận - hỏa châu".
"Địch đông, nhưng tâm loạn. Ta ít, nhưng trí sáng.
Trận này, chỉ cần một phát súng - ba con cờ đổ."
Ban đêm - Minh dùng kính viễn vọng xác định vị trí ba tướng địch. Ban ngày – đội cảm tử đào hầm hỏa lôi, cắm cọc tre tẩm nhựa thông, xếp thuốc súng theo cấu trúc từng học trong sách vật lý quân sự hiện đại.
Ngày 14 tháng 4 năm Canh Tuất, lúc 05 giờ sáng, khi ánh rạng đông còn mờ trên triền cát đỏ, ba vạn quân Nguyễn Ánh rầm rập kéo qua thung lũng Phan Rí, toan đánh thốc vào Bình Thuận. Không ngờ, nơi tưởng như địa hình trống trải lại là một mê trận bẫy chờ sẵn
Nguyễn Minh lặng đứng sau chiến lũy, ánh mắt sắc lạnh. Gió biển quét rát da thịt. Khi giặc lọt trọn vào thung lũng, chàng hô to:
"Kích hỏa! Rút lưới!"
Chớp mắt, lửa bốc lên rừng rực, mìn nổ vang trời, khói bụi che kín trời. Quân Nguyễn hoảng loạn, hàng ngũ rối loạn trong biển lửa và bẫy chông.
Ngay lúc đó, tín pháo đỏ từ phía bắc bắn lên trời - tín hiệu mở thành.
Từ hướng Bình Thuận, cổng thành phía nam bật mở. Cánh quân do Nguyễn Văn Danh chỉ huy, mặc giáp nhẹ, cưỡi ngựa nhanh, kéo ra như vũ bão.
Danh cầm đại đao, hét vang:
"Tuân lệnh Nam Bình Vương! Chia lửa cùng chủ soái! Diệt sạch giặc Nguyễn Ánh!"
Chỉ trong chớp mắt, toàn bộ thung lũng biến thành địa ngục trần gian. Lửa bùng lên ngùn ngụt từ các bẫy hỏa tiễn giấu dưới cát, khói đen đặc cuồn cuộn bốc cao che lấp cả bầu trời, mùi thịt cháy lan trong không khí ngột ngạt.
Quân giặc hoảng loạn, bị chia cắt, rối đội hình giữa biển lửa và hầm mìn. Tiếng la hét, tiếng ngựa hí, tiếng binh khí va chạm vang rền như sấm dậy.
Chính giữa khu địa đạo được đào sẵn, Nguyễn Minh cưỡi trên chiến mã, vác cây súng bắn tỉa M700 Remington được chàng cải tiến, lắp kính ngắm quang học. Dưới ánh lửa phản chiếu, chiến bào đẫm sương đêm, dáng chàng như vị chiến thần giáng lâm.
Tay ghì súng chặt vào vai, Nguyễn Minh ngắm lạnh lùng:
"Kẻ trước tiên – Võ Tánh. Lão là trụ cột của chúng."
PẰNG!
Tiếng súng như tiếng sét xé toang không gian. Võ Tánh trúng đạn vào vai phải, gục khỏi yên ngựa, máu phun ra thành dòng.
Chưa kịp ai cứu, Nguyễn Minh đã chỉnh súng, ngắm tiếp:
"Lê Văn Quân – tâm tham, thân trọng. Khi sợ hãi mới lộ sơ hở!"
PẰNG!
Lê Văn Quân bị bắn gãy cánh tay. Đám quân lính lao tới cứu, dẫm trúng mìn, cả đội hình nổ tung trong lửa và cát.
Nguyễn Minh siết cò một lần nữa:
"Nguyễn Văn Thành – thông minh nhưng bất đắc chí. Để xem trí khôn nhà ngươi có cứu nổi mạng không!"
PẰNG!
Thành trúng đạn vào bắp chân trái, ngã lăn xuống gò đất, quằn quại.
Không còn người chỉ huy, quân Nguyễn Ánh tan vỡ như đàn ong vỡ tổ. Gần hai vạn quân tử trận, số còn lại hoặc đầu hàng hoặc bị bắt sống. Cờ trắng giăng kín những dải cát cháy đen.
Ba tướng trụ cột gục ngã, quân Nguyễn vỡ thế, không còn sức phản kháng.
Từ hai cánh Nam Bình quân và quân Bình Thuận khép vòng, biến thung lũng Phan Rí thành cối xay máu. Tiếng hô chém giết, tiếng ngựa hí, tiếng pháo nổ hòa thành khúc khải hoàn đẫm máu.
Chỉ trong nửa buổi sáng, hai vạn quân địch bỏ mạng, hàng nghìn đầu hàng, cờ trắng giăng đầy trên cát cháy.
Nguyễn Văn Thành, kẻ từng can gián Nguyễn Ánh không nên mở chiến dịch này, giờ bị quân cảm tử Nam Bình quân bao vây. Chính Nguyễn Minh, mình bận chiến bào xanh thẫm, cưỡi chiến mã, rút thanh kiếm gương sáng chói, thúc ngựa lướt như sét đến trước mặt Thành.
Ánh thép lóe lên, Minh thét lớn:
"Bỏ vũ khí, Thành! Ngươi bại rồi!"
Giữa ánh lửa đỏ rực và tiếng hò reo chiến thắng của Tây Sơn binh, Nguyễn Văn Thành rã rời, buông kiếm, quỳ xuống trước ánh mắt kinh hoàng của hơn ba nghìn quân còn sống.
Thành Bình Thuận, giờ Thìn, ngày 15 tháng 4 năm Canh Tuất 1790.
Trời trong xanh, mùi khói súng còn vương trên cát. Cổng thành phía bắc mở rộng, cờ xí rợp trời, trống đồng dồn dập, chiêng đồng ngân vang như đón thiên tử.
Dẫn đầu đoàn quân khải hoàn là Nam Bình Vương Nguyễn Quang Minh, thân khoác chiến bào nhuốm bụi đỏ và vệt máu, oai phong cưỡi chiến mã bạch sắc, sau lưng là kỵ binh Nam Bình chiến thắng trở về. Ánh mặt trời chiếu lên áo giáp, phản chiếu ánh kim rực rỡ.
Nguyễn Văn Danh và Nguyễn Văn Huấn đã quỳ sẵn trước cổng thành, đầu đội mũ trụ, áo giáp chỉnh tề. Thấy bóng Vương từ xa, hai tướng liền cùng hô lớn, giọng vang vọng cả thành trì:
"Chúng thần Danh, Huấn kính nghênh Nam Bình Vương điện hạ khải hoàn!"
Nguyễn Minh xuống ngựa, tiến đến, đỡ hai tướng dậy, mắt ánh lên niềm xúc động:
"Trận này là nhờ các khanh giữ vững thành, phối hợp thần tốc. Danh, Huấn đều là trụ cột quốc gia. Bổn Vương cảm kích."
Tiếng reo hò vang dội. Người dân Bình Thuận, già trẻ lớn bé, ùa ra từ các con phố, tay cầm hoa, cờ vải, reo vang:
"Quang Trung hoàng đế vạn tuế, Nam Bình Vương thiên tuế! Quan quân Tây Sơn đại thắng!"
Bà lão tóc bạc rưng rưng nước mắt, dâng lên Vương khay nước dừa và bánh tét:
"Ơn Vương cứu dân, cứu thành, đời đời không quên!"
Trẻ nhỏ chạy theo kỵ binh, hò hét vui mừng. Cờ Tây Sơn tung bay khắp nơi, nhuộm đỏ cả thành trì. Nguyễn Minh nhìn khắp cảnh tượng, lòng rưng trào. Chàng quay sang dân chúng, cất cao giọng dõng dạc:
"Bình Thuận đã giữ. Phan Rí đã bình. Giờ là lúc ổn định lòng dân, lệnh hai tướng Danh, Huấn cùng dân sửa sang thành trì, dọn dẹp tàn tích, phát gạo cứu dâng, vài ngày sau Bản vương sẽ về kinh bẩm báo Phụ hoàng.."
Tiếng hò reo vang rền như sấm. Khí thế cả thành như muốn cuộn sóng. Bình Thuận - ngọn lửa đầu tiên của đại thắng nam chinh - đã được khơi lên.
Ngày 15 tháng 5 năm Canh Tuất 1790, quân chiến thắng rầm rộ hồi Phú Xuân. Trên lưng ngựa, Nguyễn Minh dẫn đầu, sau lưng là hơn 5.000 tù binh - trong đó có cả Võ Tánh, Lê Văn Quân, Nguyễn Văn Thành bị thương đã được cứu chữa, cả Phú Xuân như rực sáng bởi cờ hoa, trống nhạc, và tiếng người vang trời.
Quang Trung Đại đế cưỡi voi bạch tượng dẫn đầu, uy nghiêm như thiên thần giáng thế. Phía sau là Nam Bình Vương hoàng tử áo giáp đen, ánh mắt sáng như lửa, tay cầm chiếc máy hình hiện đại, chẳng giống ai trong đám đông
Đoàn quân Tây Sơn tiến hành duyệt binh một cách lẫm liệt, đội ngũ chỉnh tề, trống kèn rền vang, cờ xí bay phấp phới. Tiếng hò reo và tiếng chúc mừng của dân chúng vang lên khắp nơi, họ đứng hai bên đường, không ngừng tung hoa lên trời, như mưa ngọc chảy tràn khắp mặt đất.
Dân chúng từ Quảng Trị, Quảng Nam, đến Thừa Thiên kéo về Phú Xuân như thác đổ. Ai cũng mang theo hoa, bánh trái, cả thơ văn tự làm để ca tụng Nhà vua và Nam Bình Vương
Lời ca của dân chúng vang tận ngọ môn:
"Chiến thần trở gót về kinh
Non sông nguyên vẹn, lòng dân nguyện thờ
Trời cho đất có anh hùng
Là vua Nguyễn Huệ, là rồng Minh nhi!"
Cảnh tượng ấy, người già kể lại cho cháu, kẻ viết sách chép vào sử. Dân ca lưu truyền đời đời, như một thiên anh hùng ca của một triều đại sinh ra từ nhân dân, chiến thắng vì nhân dân, và được nhân dân muôn đời khắc cốt ghi tâm.
Mọi ánh mắt đều hướng về Nam Bình Vương, người con kiệt xuất của Quang Trung, như một vị anh hùng mới của đất nước. Nhưng điều khiến dân chúng càng thêm kinh ngạc là khi Nguyễn Minh bước xuống từ chiến mã, cầm trong tay chiếc máy hình - thứ mà họ chưa từng thấy.
Minh đưa chiếc máy lên, nhắm đúng ba tướng bại trận đang đứng xa xa cùng các tướng lĩnh Tây Sơn – ánh sáng lóe lên trong khoảnh khắc, và tiếng "click" của máy ảnh vang lên như một âm thanh lạ lẫm giữa không gian lịch sử, khiến mọi người đờ ra, không hiểu chuyện gì xảy ra.
Từng người lính Tây Sơn đều dừng bước, ngơ ngác nhìn nhau, không biết chuyện gì vừa xảy ra. Họ xôn xao bàn tán về chiếc "hình thụy" kỳ lạ mà Nam Bình Vương vừa sử dụng.
"Chuyện gì thế? Nó làm gì vậy? Thứ này có thể ghi lại hình ảnh sao?"
Màn duyệt binh kết thúc trong tiếng hò reo rộn ràng, nhưng ánh mắt của Quang Trung và Nam Bình Vương vẫn sáng ngời, như một biểu tượng vĩ đại cho những gì đất nước có thể đạt được, không chỉ bằng chiến tranh, mà còn bởi sự đổi mới và trí tuệ vượt thời gian.
Đại điện Thái Hòa chật kín bá quan. Quang Trung ngự ngai rồng, thần sắc rạng ngời nhưng ánh mắt chỉ chăm chăm dõi theo Minh nhi.
Nguyễn Minh quỳ xuống, dâng sớ báo công:
"Tâu Bệ hạ, quân ta đã đập tan ba đạo quân xâm lược, bắt ba tướng, giữ vững Bình Thuận. Dân chúng an ổn, thành lũy đã được gia cố. Xin giao tù binh cho triều đình phán xét."
Quang Trung bước xuống, không giữ hình tượng bậc đế vương, nâng người con yêu quý của Nhà vua dậy giữa đại điện.
"Minh nhi, Hoàng nhi không chỉ giữ đất, đã giữ luôn cả hồn nước.
Một mình đánh tan ba đạo quân, bắn thương ba tướng bằng vũ khí chưa từng thấy, lập nên chiến công vang dội ngàn năm chưa ai từng làm nổi!"
Cả triều vang tiếng:
" "Quang Trung hoàng đế vạn tuế, Nam Bình Vương thiên tuế! Tây Sơn đại thắng!"
Giữa đại điện Phú Xuân, ba tướng Võ Tánh, Lê Văn Quân, Nguyễn Văn Thành đang quỳ phục trước sân rồng. Ánh mặt trời tháng Tư chiếu qua lớp mây mỏng, soi rõ mồ hôi lạnh rịn khắp trán ba người. Không ai lên tiếng, chỉ có tiếng bước chân Nguyễn Minh, nhẹ nhưng vang như sấm trong lòng họ.
Nguyễn Minh dừng lại giữa đại điện, nhìn thẳng vào ba tướng, giọng trầm ấm nhưng lạnh lẽo như thép mài qua sương:
"Ba vị - là trụ cột dưới trướng Nguyễn Ánh, từng khiến bao trận Tây Sơn phải nhọc lòng.
Hôm nay bại dưới tay ta, không phải vì các ngươi yếu.. mà vì vận nước đã đổi."
Võ Tánh cúi đầu, nghiến răng nhưng không phản kháng. Nguyễn Văn Thành khẽ thở dài. Chỉ riêng Lê Văn Quân, cố vớt chút sĩ diện:
"Nếu là Nguyễn Vương, có bắt được các tướng như Bùi Thị Xuân, Trần Quang Diệu.. e rằng.. chẳng ai còn đầu mà về."
Nguyễn Minh bật cười, một nụ cười sắc lạnh như gươm tuốt khỏi vỏ:
"Các ngươi nói đúng. Nguyễn Ánh - nếu có quyền, sẽ tận pháp trừng trị.
Ông ta giết không tha, dù đó là nữ tướng hay hài nhi còn bú mẹ.
Nhưng ta.. không phải Nguyễn Ánh."
Cả triều lặng đi. Võ Tánh bất giác ngẩng đầu – ánh mắt y ánh lên nỗi sợ, không phải vì Minh, mà vì lời hắn nói – như thể người này đã đọc được tương lai!
Nguyễn Minh bước tới trước ngai rồng, quỳ xuống, tay cầm kiếm đặt ngang trán, tâu lớn:
"Tâu Bệ hạ!
Ba tướng tuy là kẻ địch, nhưng dám xông pha trận mạc, giữ lòng trung với chủ.
Lại biết cúi đầu khi thua, không ngụy trá.
Thần xin Bệ hạ rộng lượng ban cho một chữ 'tha' - để lấy chính nghĩa mà cảm hóa thiên hạ!"
Quang Trung hoàng đế vuốt râu, nhìn nhi tử của Nhà vua bằng ánh mắt hài lòng. Bao năm chinh chiến, ông hiểu: Tha một kẻ địch, đôi khi còn mạnh hơn vạn lưỡi gươm.
Ông đứng dậy, rút Thanh Long bảo kiếm, gõ xuống sàn ba tiếng:
"Ba tướng, vì Nam Bình Vương mà ta ban lệnh tha.
Nhưng hãy nhớ:
Hôm nay ta tha là vì giữ nghĩa.
Ngày sau nếu còn tái phạm, chính tay trẫm sẽ không dung tha!"
Ba tướng dập đầu, không dám ngẩng mặt. Mồ hôi trên lưng họ đã lạnh đến tận xương sống.
Đêm hôm đó, trên lầu Ngự Lan, ánh trăng vàng rọi xuống hai bóng người - một mặc long bào thêu rồng đỏ, một giáp đen ánh bạc, vai còn vết máu trận.
Quang Trung đứng bên lan can, rót rượu, đưa cho cháu:
"Minh nhi.. trận này con thắng bằng trí, bằng tâm, bằng đạo.
Lúc đánh Thanh, trẫm một thân một kiếm, giờ có hoàng nhi.. thấy lòng an định biết bao."
Nguyễn Minh kính cẩn nâng chén, mắt ánh lên kiên định:
"Tâu Bệ hạ.. Thần nguyện cùng người dựng cột nước từ Phú Xuân tới tận Gia Định, mang ánh sáng Tây Sơn phủ khắp sơn hà."
Hai chén chạm nhau - một tiếng vang lan xa trong đêm, vọng tới tận lòng dân chúng.
Sau khi được tha tội, ba tướng Võ Tánh, Lê Văn Quân, Nguyễn Văn Thành được giam lỏng tại Phú Xuân, chờ định đoạt tương lai. Một ngày, Nguyễn Minh thân chinh đến thăm, không phải để tra hỏi, mà để trò chuyện.
Trong phòng khách giản đơn, Minh khoanh tay sau lưng, nhìn ba tướng nói bằng giọng vừa hòa nhã, vừa buốt lạnh như gió bấc:
"Ta nể các người - sống có trung, chết có tiết.
Nhưng tiếc thay.. trung sai chỗ, tiết đặt nhầm người."
Võ Tánh nghiêm mặt, thẳng thắn đáp:
"Nguyễn Vương là người có đức có tài, giữ lòng vì dân. Chúng tôi theo Ngài là thuận trời."
Minh nhếch môi, ánh mắt như soi thấu tâm can họ:
"Người các vị gọi là 'Nguyễn Vương', chính là kẻ từng hai lần cầu viện ngoại bang - trước là Xiêm, sau là Pháp.
Trận Rạch Gầm - Xoài Mút, mấy chục ngàn quân Xiêm bị Tây Sơn đánh tan tác, là tội ai?
Chẳng phải chính Nguyễn Ánh rước voi dày mả tổ, khiến trăm họ miền Tây chết chìm trong máu?
Đó là 'vì dân' sao?"
Ba tướng lặng người. Lê Văn Quân thở dài:
"Nguyễn Vương làm vậy.. vì thế yếu, phải mượn thế để tồn."
Minh gằn giọng, bước tới sát bàn:
"Thế yếu ư? Nếu ai cũng yếu thì được quyền bán nước, thì tổ tiên chúng ta giữ non sông này để làm gì?
Lịch sử không tha thứ cho kẻ nào cõng rắn cắn gà nhà. Và con cháu kẻ ấy - cũng sẽ mang tiếng nghìn đời."
Nguyễn Văn Thành mặt tái đi, Võ Tánh cụp mắt, không dám cãi thêm. Trong họ, dường như một phần niềm tin lung lay trước lời Nguyễn Minh - người tuổi còn trẻ, nhưng lời như đinh đóng cột, hào khí rực lửa của Quang Trung thuở nào.
Nguyễn Minh dừng lại, giọng chậm rãi:
"Các người thua - không phải vì vũ khí hay binh lực. Mà vì đi ngược lòng dân".
Còn Tây Sơn, dưới tay Hoàng đế Quang Trung - Đại đế của trăm họ, người mà sử sách sau này sẽ tôn là bậc vĩ nhân trấn quốc - Chúng ta sẽ nhất thống sơn hà, dựng một Đại Việt không còn chia rẽ bởi họ Trịnh hay Nguyễn, không còn máu đổ vì lòng riêng. "
Ngoài cửa, một cơn gió thổi qua. Lá vàng bay theo gió như ngả mình trước đạo lý.
Sau khi phơi bày chuyện Nguyễn Ánh từng rước quân Xiêm, Nguyễn Minh ngẩng đầu nhìn ba tướng, giọng trầm hẳn lại:
" Võ Tánh - ngươi nổi tiếng dũng mãnh, đánh đâu thắng đó. Nhưng nếu ta đoán không sai, sau này ngươi sẽ chết khi thủ thành, vì bị vây đến cùng đường.
Ngươi có muốn biết.. cái chết ấy sẽ đau đớn thế nào không? "
Võ Tánh trừng mắt, nhưng đồng tử bất giác co lại. Minh vẫn bình thản:
" Lê Văn Quân - là tướng thân tín, có công đầu từ thuở Nguyễn Ánh còn lưu vong. Nhưng cuối đời.. Ngươi sẽ chết tức tưởi, thân thể chẳng toàn, máu nhuộm đất Gia Định. Tin không? "
Lê Văn Quân tái mặt, toát mồ hôi, không dám trả lời. Minh tiến tới chỗ cuối cùng - Nguyễn Văn Thành - người nổi tiếng học rộng, văn võ song toàn. Minh nói chậm rãi, từng từ như mũi kim đâm thẳng vào tim:
" Ngươi - người mà sử sách gọi là cẩn trọng, nghiêm minh, thế nhưng..
Sau này sẽ chịu oan, con trai chết, ngươi bị ép uống thuốc độc tự tận.
Và kẻ bức tử ngươi.. không ai khác, chính là 'con cháu' của Nguyễn Ánh! "
Nguyễn Văn Thành run rẩy, sắc mặt trắng bệch. Cả ba không ai dám hỏi vì sao Nam Bình Vương đoán biết vậy, chỉ thấy trước mắt mình là một thiếu niên mới vừa tròn mười chín tuổi mà ánh mắt như đã sống qua cả trăm năm lịch sử, lạnh lùng, sâu thẳm.
Nguyễn Minh lặng một lúc, rồi quay đi, buông một câu cuối:
" Ta tha các ngươi không phải vì thương, mà để các ngươi còn sống mà thấy..
Ai mới là người thật sự dựng nước, giữ nước. "
Tiếng bước chân của Minh vang xa, hòa trong tiếng chuông chùa vọng từ xa - như gõ một hồi trống cảnh tỉnh giữa thời loạn.
Ba tướng - kẻ toát mồ hôi, người gục đầu, kẻ thở dốc. Không phải vì thua trận, mà vì đã đứng trước một vị" hậu nhân "- còn nguy hiểm và sắc sảo chẳng kém gì Quang Trung năm xưa.
Gia Định, tháng năm Canh Tuất 1790. Tại dinh Bảo Long, Nguyễn Ánh ngồi trên sập gụ, sắc mặt tối sầm. Trước mặt ông, ba đại tướng vừa trở về từ Bình Thuận quỳ rạp, thân thể vẫn còn vết thương, ánh mắt hằn rõ sự thất thần.
Võ Tánh là người đầu tiên cất lời, giọng khàn khàn như vừa sống sót từ cõi chết:
" Khải tấu.. Thất bại là do ta. Địch quân.. không giống người thường.
Chúng biết trước lộ trình hành quân, địa hình mai phục, thậm chí cả chiến pháp mà ta chưa dùng tới. "
Nguyễn Ánh cau mày:" Ngươi nói.. Tây Sơn đoán trước cả mưu của ngươi? "
Nguyễn Văn Thành cắn răng, nói tiếp:
" Không phải đoán.. mà như thể hắn biết từ trước. Người cầm quân tên là Nguyễn Minh – cháu ruột Quang Trung.
Mới mười chín tuổi mà thao lược sâu không đáy. Hắn dùng loại vũ khí bắn xa hàng trăm bước, sát thương kinh hồn, lại còn ra lệnh thông qua loại ống phát thanh không dây - Thần chưa từng thấy thứ gì như thế! "
Nguyễn Ánh giật mình:" Con ruột.. Quang Trung? "
Lê Văn Quân giọng run run:
" Bẩm.. Vâng. Nam Bình Vương Nguyễn Quang Minh. Người dân gọi là Tiểu Chiến thần Tây Sơn
Trên chiến trường, hắn bắn thương cả ba chúng thần chỉ trong nháy mắt. Không một ai kịp phản ứng.
Quân Tây Sơn khi nhắc đến hắn.. kính phục y như Quang Trung
Nguyễn Ánh ngả người ra sau, trán rịn mồ hôi. Từ Rạch Gầm Xoài Mút đến trận Thăng Long năm Kỷ Dậu, cái tên Quang Trung đã trở thành bóng ma ám ảnh trong tâm trí ông rất nhiều năm qua.
Giờ đây, lại thêm một cái tên mới – Nam Bình Vương Nguyễn Quang Minh - kẻ còn trẻ nhưng trí dũng và sát khí khiến ba tướng lừng danh của ông phải run rẩy trở về, thì.. cơ đồ còn giữ được bao lâu?
"Trời ơi.." - ông lẩm bẩm -
"Chẳng lẽ.. trời sinh Quang Trung chưa đủ, lại còn sinh thêm Nam Bình Vương?"
Ông nắm chặt tay, nhưng lòng lạnh buốt.
"Nếu Quang Trung là thiên lôi trấn bắc, thì Nguyễn Minh chính là lưỡi kiếm xoáy thẳng vào Nam.
Chưa đánh đã biết thua.. chẳng lẽ Đại Việt thật sự đã có người nối gót Tổ Hùng Vương thống nhất sơn hà?"
Một tuần sau đại thắng Bình Thuận. Trong sân điện Võ Thành ở Phú Xuân, nghi trượng rợp trời, trống chiêng vang dội. Hàng ngàn quân Tây Sơn xếp hàng chỉnh tề, cờ hiệu bay phấp phới.
Ba tướng bại trận nhà Nguyễn - Võ Tánh, Lê Văn Quân, Nguyễn Văn Thành - bị áp giải ra trước sân, mặt mày sạm nắng, áo giáp rách nát, sắc mặt vẫn chưa hết ngỡ ngàng sau trận thảm bại.
Thay vì hành quyết, Nam Bình Vương bước ra, toàn thân uy nghi trong chiến phục đen tuyền, đeo song kiếm sau lưng, vai choàng bảo sa đỏ thẫm – uy thế như thiên tướng giáng trần.
"Ba vị tướng là bậc anh tài, chí khí ngang trời.
Dẫu là địch, vẫn xứng là quân tử. Nay ta, theo ý chỉ Phụ hoàng, đặc xá cho cả ba, cấp ngựa tốt, vàng bạc, và lễ vật, để hồi cố quốc."
Quần thần sửng sốt. Nhưng Nguyễn Minh chưa dừng ở đó.
Nam Bình Vương bước lên, trao cho từng người một thẻ bài bằng đồng khắc chữ Hán cổ, dặn nhỏ:
"Vật này là của Bệ hạ truyền, chỉ trao cho người tri kỷ. Khi lâm nguy, mở ra sẽ biết."
Lễ xong, Nam Bình Vương ra hiệu triệu tập Điệp ảnh quân:
"Điệp ảnh quân nghe lệnh truyền tin cả nước: Ba tướng nhà Nguyễn cảm phục uy vũ và đức độ của Quang Trung hoàng đế, xin hàng mà chưa được. Nay Hoàng đế rộng lượng tha mạng, trọng đãi như tân khách, tiễn về để gieo nhân thiện lành, cảm hóa thiên hạ."
Tin ấy lan đi khắp miền Nam như gió cuốn. Dân chúng ngưỡng vọng Tây Sơn, còn triều đình Gia Định thì rúng động.
Gia Định - Một cơn địa chấn chính trị
Khi ba tướng trở về, Nguyễn Ánh không mở yến tiệc như lệ thường. Trái lại, ông cho giữ lại trong nội điện kín đáo, chỉ tiếp riêng từng người.
Cả ba đều nói giống nhau: Được tha vô điều kiện, lại được trọng thưởng và ban thẻ bài "bí ẩn".
Nguyễn Ánh cầm thẻ đồng, sắc mặt tái mét.
"Một người bại trận, còn được cho ngựa. Ba người bại trận, lại có thưởng lộc và lễ vật.
Quang Trung dùng người hay dùng kế? Còn thẻ này.. là thư chiêu hàng hay là bằng chứng phản trắc?"
Đêm ấy, ông mất ngủ. Ngồi bóp trán trước án thư, Nguyễn Ánh nói với Trịnh Hoài Đức:
"Bọn chúng.. có thực trung thành chăng? Hay đã bị mua chuộc? Ta còn dùng được họ, hay nên âm thầm thay thế?"
Từ đó, Nguyễn Ánh chia ba tướng về ba nơi, tước bớt binh quyền, ngầm cho người theo dõi. Ba người tuy được thả, luôn bị nghi kỵ, chẳng còn được trọng dụng như xưa.
Phú Xuân - Đêm trăng đầu mùa thu 1790
Trong thư phòng, Nguyễn Minh quỳ dưới ánh đèn, thưa với Quang Trung:
"Tâu Bệ hạ, độc dược mạnh nhất.. không cần uống, chỉ cần nhìn.
Một giọt ngờ vực gieo vào lòng địch, cũng hơn ngàn quân tinh nhuệ."
Quang Trung cười lớn, nâng chén rượu, nghiêng người về phía con:
"Hoàng nhi, kế ấy.. như gươm trong gấm, như châm trong gối.
Hoàng nhi quả là đứa con trời ban, nếu ta không có con, chỉ sợ thiên hạ thống nhất vẫn còn xa lắm."
Nhà vua và Nam Bình Vương cùng ngẩng nhìn trăng sáng, trên không trung, lá cờ đào Tây Sơn bay phấp phới, như khẳng định một điều không thể thay đổi: Đại Việt sẽ thống nhất, và không ai có thể ngăn cản bước tiến của những người anh hùng.