- Xu
- 10
Tập thơ: Thơ Trần Lê Chọn Lọc
Tác giả: Trần Lê
Thể loại: Thơ trữ tình
Văn án: Giới thiệu thơ Trần Lê
Sau khi đã cho ra đời ba tập thơ với giá trị nội dung, nghệ thuật và tư tưởng sâu sắc đó là:
"Tiếng gọi; Trở về; Mùa hoa muộn" thì tập thơ thứ tư "Quả trái mùa" lần này của tác giả Trần Lê – người làng Hoàng Xá, xã Vĩnh Phú, tỉnh Phú Thọ lại là những bản tình thơ với nhiều màu sắc khác biệt..
Nếu ba tập thơ trước như những nấc thang tâm linh - từ tiếng gọi nội tâm, hành trình trở về ký ức đến mùa hoa muộn của chiêm nghiệm - thì "Quả trái mùa" là độ chín lắng đọng của một đời người từng trải luôn mang trong mình "Tâm – Nghĩa" của chân, thiện, mĩ, ích trong cuộc đời. Ở đó có quê hương, đất nước, gia đình, nghề nghiệp, tình yêu đôi lứa và cả suy tư Phật tính ở cõi nhân sinh.
Nhan đề "Quả trái mùa" trước hết gợi một nghịch lý của tự nhiên: Quả vốn phải chín đúng vụ, đúng thời điểm, thuận quy luật sinh trưởng.
Hình ảnh ấy mang ý nghĩa biểu tượng: Tình yêu đến muộn nhưng sâu sắc hơn; hạnh phúc không ồn ào mà bền bỉ; thành quả của đời người được kết tinh sau năm tháng trải nghiệm. "Quả trái mùa" vì thế không chỉ là ẩn dụ cho mối tình đầu thủy chung kéo dài suốt đời, mà còn là biểu tượng của những giá trị tinh thần chín muồi ở tuổi xế chiều – khi con người đã đi qua danh lợi, được mất, để lắng lại trong sự biết ơn và an nhiên. Cái "trái mùa" hóa ra lại "đắt", như chính tác giả từng khẳng định trong bài thơ: "Quả đúng mùa thì rẻ/ Giá trái mùa đắt câm.".
Nhan đề vì thế vừa mang sắc thái triết lý nhân sinh, vừa là lời tự bạch: Tập thơ này chính là "quả" của một hành trình dài, đến muộn nhưng đậm vị, như mật ngọt của đời người sau bao mùa gió nắng.
Mạch nguồn quê hương đất nước chảy xuyên suốt tập thơ với một cảm thức biết ơn và tự hào sâu sắc. Từ ký ức chiến tranh đến công cuộc đổi mới hôm nay, nhà thơ nhìn quê hương bằng ánh mắt của người từng đi qua gian khó. Trong bài "Thế Rồng Bay", tác giả khắc họa hình tượng đất nước bằng cảm hứng sử thi: "Đất nước Ta 'bất tử'/ Với tất cả lòng son". Hay niềm tự hào nguồn cội Lạc Hồng: "Cha, Mẹ Ta 'Tiên, Rồng'/ Chia con về hai ngả". Không chỉ là niềm tự hào chung, thơ Trần Lê còn gắn với địa danh cụ thể: Vĩnh Thịnh, Vĩnh Phú, đầm Vạn, Hoàng Xá Đình.. Bài "Đồng quê khởi sắc" ghi lại bước chuyển mình của nông thôn thời đổi mới: "Bức tranh tổng thể quê hương/ Ngày càng rực rỡ thân thương sắc màu.". Tình yêu quê hương trong "Quả trái mùa" không phải là khẩu hiệu mà là ký ức sống, là trải nghiệm thật, là sự chứng kiến đổi thay bằng đôi mắt người trong cuộc.
Gia đình - cội rễ của yêu thương. Một trong những giá trị nổi bật của tập thơ là mảng đề tài gia đình. Tình vợ chồng, con cháu, tổ tiên hiện lên vừa giản dị vừa sâu sắc. Bài "Vợ tôi ngày ấy" là lời tri ân chân thành: "Lam lũ một thời nuôi tiên. Bài" Nhớ về Cụ Tổ "là sự cúi đầu trước nguồn cội:" Ơn đức muôn đời cháu, con nhắc nhở/ Nguyện lòng mình cho xứng đáng Tổ tông! ". Ở đây, thơ không chỉ là cảm xúc mà còn là đạo lý.
Là người gắn bó với nghề giáo trọn một đời, Trần Lê dành nhiều trang thơ viết về mái trường với lý tưởng và trách nhiệm sâu sắc. Những ký ức về ngành sư phạm luôn đau đáu trong trái tim ông. Trong" Mái trường thân yêu ", cảm xúc hoài niệm đầy ắp:" Khi khôn lớn là thầy dạy học/ Một cuộc đời gắn bó.. Trường ơi! "Hay trong" Sinh viên ngày ấy ", ký ức thời sơ tán hiện về:" Tất cả vì miền Nam/ Quyết đánh tan giặc Mỹ. ". Nghề giáo trong thơ ông không đơn thuần là nghề mưu sinh mà là lý tưởng phụng sự.
Trục cảm xúc quan trọng nhất của tập thơ là tình yêu đôi lứa. Nếu ở tuổi trẻ, tình yêu là khát vọng, thì ở đây là sự chiêm nghiệm, gìn giữ và biết ơn đã đạt đến độ chín của cảm xúc. Ngay bài thơ mang tên tập sách –" Quả trái mùa "tác giả đã gửi gắm triết lý ấy:" Quả trái mùa chất mật/ Ngọt lịm lòng biết ơn/ Đậm mùi hương thơm hơn/ Tình đời hoa nở muộn! "Tình yêu ở đây không còn ồn ào mà bền bỉ. Trong" Hai mà một ", điệp cấu trúc" Ta trở về.. "Tạo nhịp điệu khẳng định:" Ta trở về vì tất cả trắng trong/ Ta trở về vì: Hai Ta Là Một! ". Cấu trúc lặp tạo nên âm hưởng tuyên ngôn tình yêu – vừa giản dị, vừa kiên định.
Và nếu" Hai mà một "là lời tuyên ngôn của sự trở về trong trắng thì bài thơ" Chọn tên ngày ấy "lại là minh chứng đẹp đẽ cho sự hòa quyện trọn vẹn giữa hai con người mang tên thật Trần Trọng Nghĩa và Đỗ Thị Tâm. Không chỉ là sự ghép nối ngôn từ," Tâm – Nghĩa "trong thơ đã trở thành một biểu tượng sống động của đạo vợ chồng:" Anh nhận là Tâm Nghĩa/ Em gọi mình Nghĩa Tâm/ Mang nặng một tấm lòng/ Tình yêu thương, gắn bó. ". Tên gọi được đảo chiều như một cách soi chiếu lẫn nhau, nâng đỡ nhau, làm sáng nhau. Ở đó," Tâm "là cội nguồn yêu thương," Nghĩa "là bền chặt thủy chung; hai yếu tố ấy hòa
Quyện thành một chỉnh thể không thể tách rời. Khi nhà thơ viết:" Vợ chồng mình đầm ấm/ Tên gọi như nhân đôi/ Tâm Nghĩa ấm lòng người/ Nghĩa Tâm đời duyên nợ. "Thì đó không chỉ là niềm riêng mà còn là một quan niệm sống: Tình yêu muốn bền lâu phải được đặt trên nền tảng của tâm sáng và nghĩa dày. Sự" nhân đôi "trong tên gọi cũng chính là sự cộng hưởng của hai nửa đời người đã đi qua gian nan:" Dù răng long, bạc đầu/ Vẫn sắt son Tâm Nghĩa! ".
Trong mạch cảm xúc của" Quả trái mùa ", tình yêu ấy chính là" chất mật "kết tinh sau bao mùa mưa nắng. Nó không còn là khát vọng bồng bột của tuổi trẻ mà là bản tình ca chín muồi của một đời người đã sống, đã giữ lời hứa, đã vượt qua thử thách." Tâm – Nghĩa "vì thế không chỉ là hai cái tên, mà là hai giá trị làm nên linh hồn tập thơ, làm nên vẻ đẹp bền bỉ của" quả trái mùa "- ngọt đậm bởi biết ơn, lấp lánh bởi thủy chung, và tỏa hương bởi sự chín muồi của yêu thương.
Về nghệ thuật tác giả vẫn giữ được phong vị truyền thống và giọng điệu riêng." Quả trái mùa "sử dụng đa dạng thể thơ: Lục bát mềm mại, năm chữ, bảy chữ, tám chữ, thơ tự do và rất nhiều bài thơ Đường luật với cấu trúc chỉnh thể chặt chẽ, tứ thơ đẹp đẽ như mùa xuân đời người.
Ngôn ngữ thơ gần gũi đời sống, ít cầu kỳ, thiên về trực cảm và tâm tình. Nhiều bài sử dụng điệp cấu trúc, đối xứng câu, nhịp đều, tạo âm hưởng như lời tâm sự. Ví dụ trong" Nhắc mình ":" Tiền tài, danh vọng làm chi/ Vô thường. Có đấy lắm khi hại đời ". Giọng điệu mang màu sắc Phật giáo rõ nét, thể hiện chiều sâu chiêm nghiệm.
Tập thơ không chỉ dừng ở tình yêu đời mà còn hướng tới sự giải thoát tâm linh. Nhiều bài như" Tự chọn "," Một đời thành Phật "," Hết nợ đời "thể hiện tư tưởng buông xả. Trong" Hết nợ đời ", tác giả viết:" Tiêu đi hết nợ đời/ Không kiếp sau Em ơi! ". Đó không phải là bi quan, mà là thái độ an nhiên sau khi đã sống trọn vẹn.
" Quả trái mùa "không tìm kiếm sự cách tân hình thức quyết liệt. Giá trị của nó nằm ở sự chân thành, ở độ chín trải nghiệm và ở đạo lý gia đình - quê hương được gìn giữ. Tập thơ góp thêm một tiếng nói mộc mạc nhưng bền bỉ vào dòng chảy thơ ca đương đại: Thơ của người từng
Nhưng ngọt bền, như chính lời tác giả:" Quả trái mùa chất mật/ Ngọt lịm lòng biết ơn."Và có lẽ, chính sự biết ơn ấy đã làm nên linh hồn của tập thơ rất tình cảm này.
Lê Gia Hoài
Chỉnh sửa cuối: