Bạn được Minh Nguyệt Mạn mời tham gia diễn đàn viết bài kiếm tiền VNO, bấm vào đây để đăng ký.
34,431 ❤︎ Bài viết: 2241 Tìm chủ đề
Hồi 19: Trợn mắt xem khinh nghìn hảo hán - Nhất tâm cứu mạng tiểu cô nương

Kiều Phong vận công điều khí một hồi lâu, bỗng nghe ở phía tây bắc có hai tiếng lạch cạnh vang lên, biết ngay có người nhảy lên nóc nhà, kế tiếp phía đông nam cũng có tiếng động. Lúc mới nghe tiếng động phía tây bắc Kiều Phong chưa quan tâm lắm, nhưng khi nghe cả hai phía đều có người, chàng nghĩ hẳn có kẻ đến tìm. Chàng khẽ bảo A Châu: "Ta ra ngoài một chốc sẽ quay lại ngay, cô nương đừng sợ" A Châu gật đầu. Kiều Phong không thổi tắt đèn, cửa phòng vốn dĩ khép hờ, chàng nghiêng người lẻn ra, vòng ra cửa sổ phía sau, đứng nép sát vào tường.

Từ một căn phòng phía đông khách điếm có tiếng người vọng ra: "Có phải Hướng bát gia đó không? Xin mời xuống đây." Người ở phía tây bắc cười nói: "Kỳ lão lục ở Quan Tây cũng đến rồi." Người trong phòng đáp: "Thế thì hay lắm! Mời xuống cả đây!" Hai người trên nóc nhà lần lượt nhảy xuống, đi vào trong phòng.

Kiều Phong nghĩ thầm: "Kỳ lão lục ở Quan Tây được người đời gọi là Khoái đao Kỳ Lục, cũng là một hảo hán nổi tiếng. Còn Hướng bát gia kia chắc là Hướng Vọng Hải đất Tương Đông, nghe nói y là người trọng nghĩa khinh tài, bản lãnh khá cao cường. Hai người này không phải là bọn gian ác, cũng chẳng liên quan gì đến ta, ắt không phải vì mình mà đến đây. Hóa ra mình nghi nhầm. Mà giọng người trong phòng nghe cũng quen quen, không biết là ai?"

Bỗng nghe Hướng Vọng Hải nói: "Diêm Vương Địch Tiết Thần Y đột nhiên phát Anh hùng thiếp mời hết thảy đồng đạo giang hồ, chắc hẳn có chuyện khẩn cấp. Trong thiếp có ghi là bất kể vị anh hùng hảo hán nào cũng xin mời đến. Bào đại ca, huynh có biết chuyện gì chăng?"

Kiều Phong nghe đến sáu chữ "Diêm Vương Địch Tiết Thần Y" lập tức mừng thầm: "Tiết Thần Y ở gần đây sao? Ta vẫn tưởng y ở tận Cam Châu, nếu như ở gần đây thì mạng A Châu có thể giữ được."

Tiết Thần Y là thánh thủ đệ nhất trong y giới bấy giờ. Hai tiếng "thần y" đã quá nổi tiếng nên chẳng mấy người biết tên thật của ông là gì nữa. Các chuyện đồn đại trên giang hồ vốn dĩ hay khoa trương, nói là đến người chết ông cũng cứu sống lại được, còn người sống thì dù thương tích hay bệnh tật nặng tới đâu, ông cũng có cách chữa khỏi. Mỗi lần Diêm Vương ở dưới âm cung sai quỉ vô thường đi bắt người đều bị Tiết Thần Y ngăn trở chặn đường đoạt mất, do đó mà có ngoại hiệu Diêm Vương Địch. Tiết Thần Y không những y đạo tinh thông mà võ công cũng vào hạng giỏi. Ông thích kết giao bằng hữu giang hồ, mỗi khi trị bệnh cho ai đều muốn học mấy chiêu. Người ta cảm cái ân cứu mạng, dĩ nhiên là đem những tuyệt kỹ của mình ra truyền thụ, không giấu giếm chút nào.

Khoái đao Kỳ Lục lại hỏi: "Bào lão bản lâu nay có làm ăn được vố nào khá không?" Kiều Phong nghĩ thầm: "Hèn gì giọng người trong phòng nghe quen quen, thì ra là Một Bản Tiền Bào Thiên Linh. Gã này chuyên ăn trộm của người giàu phát cho người nghèo, cũng có đôi chút hiệp danh. Năm xưa khi ta làm lễ tiếp nhiệm chức vụ bang chủ Cái Bang, gã cũng đến dự."

Kiều Phong đã biết ba người trong phòng là Hướng Vọng Hải, Kỳ Lục, Bào Thiên Linh, không muốn nghe lén thêm, chỉ nghĩ thầm: "Sáng mai ta đến gặp Bào Thiên Linh, hỏi y xem Tiết Thần Y hiện đang ở đâu." Chàng vừa toan quay về phòng, bỗng nghe Bào Thiên Linh thở dài nói: "Hỡi ôi! Mấy hôm nay trong lòng ta thật là chán nản, chả hứng thú làm ăn gì. Lại mới nghe nói y giết cha, giết mẹ, giết thầy ba tội đại ác, càng bực bội thêm." Y nói tới đây, vỗ bàn một cái rồi lại thở dài.

Kiều Phong nghe nói đến "giết cha, giết mẹ, giết thầy", chột dạ tự hỏi: "Họ nói đến ta chăng?" Hướng Vọng Hải nói: "Kiều Phong trước nay tiếng tăm lừng lẫy, thì ra giả nhân giả nghĩa lừa được vô số người. Ai mà ngờ nổi y dám phạm những tội tày trời đến thế?" Bào Thiên Linh cũng nói: "Ngày y nhậm chức bang chủ Cái Bang, ta có gặp một lần. Người đó xưa nay ta vẫn mười phần bội phục. Nghe Triệu lão tam nói y là dòng giống Khất Đan, ta gân cổ lên cãi, khiến cho Triệu lão tam đỏ mặt tía tai, suýt nữa đánh nhau. Ôi chao, giống người Di Địch chẳng khác gì cầm thú, tính tình hung dữ của y có giấu được một thời gian, rồi sau cũng bộc phát ra." Kỳ Lục nói: "Cũng chẳng ai biết y xuất thân từ phái Thiếu Lâm, Huyền Khổ đại sư lại là sư phụ của y." Bào Thiên Linh nói: "Chuyện đó rất bí mật, ngay trong phái Thiếu Lâm cũng chẳng mấy ai biết. Thế nhưng Kiều Phong giết sư phụ y rồi, phái Thiếu Lâm chẳng thể che đậy được nữa. Tên ác tặc họ Kiều kia cứ tưởng giết cha giết mẹ giết thầy là có thể giấu được lai lịch xuất thân của y, ai hỏi cứ chối biến đi là xong. Có ngờ đâu y khéo quá hóa vụng, tội nghiệt càng lúc càng nhiều."

Kiều Phong đứng bên ngoài cửa sổ, nghe Bào Thiên Linh đánh giá mình như thế, nghĩ thầm: "Một Bản Tiền Bào Thiên Linh không phải hạng người bạ đâu nói đó, cũng có chút giao tình với ta, thế mà chính y cũng nghĩ như vậy. Không hiểu những người khác còn nói tới đâu. Ôi chao, Kiều mỗ đã mang tiếng oan không sao xóa sạch, việc gì phải phí công gột rửa? Chi bằng từ nay mai danh ẩn tích, mươi năm sau chẳng còn ai nhớ tới mình, thế là xong." Kiều Phong chán nản vô cùng, bao nhiêu hùng tâm tráng chí tan thành mây khói.

Lại nghe Hướng Vọng Hải nói: "Cứ như ta đoán, Tiết Thần Y gửi Anh hùng thiếp, chắc là để bàn việc đối phó với Kiều Phong. Vị Diêm Vương Địch này ghét kẻ ác như kẻ thù, lại giao tình rất hậu với hai vị Huyền Nạn, Huyền Tịch đại sư của chùa Thiếu Lâm." Bào Thiên Linh nói: "Đúng thế! Ta cũng nghĩ là gần đây trên giang hồ chẳng có chuyện gì lớn hơn hành vi tàn ác của Kiều Phong. Hướng huynh, Kỳ huynh, mau mau lại đây, tối nay bọn ta uống cạn mấy cân rượu, gác chân nhau đàm luận một phen."

Kiều Phong nghĩ bụng: "Bọn họ nói chuyện đến sáng mai, chắc cũng chỉ thêm dầu thêm mỡ chửi rủa mình suốt đêm mà thôi." Chàng không muốn nghe thêm, bèn quay về phòng A Châu. Nàng thấy mặt mày ân nhân nhợt nhạt trông thật khó coi, liền hỏi: "Kiều đại gia! Đại gia vừa gặp kẻ địch chăng?" Nàng ra vẻ lo lắng, sợ chàng bị nội thương. Kiều Phong lắc đầu, A Châu vẫn chưa yên tâm, lại hỏi: "Đại gia không bị thương đấy chứ?"

Từ khi Kiều Phong bước chân vào chốn giang hồ chỉ thấy bạn bè kính trọng, địch nhân sợ hãi, chưa hề bị người ta khinh bỉ coi thường như mấy hôm nay. Chàng nghe A Châu hỏi như thế, bất giác tấm lòng cao ngạo lại nổi lên, lớn tiếng đáp: "Không đâu! Bọn tiểu nhân ngu dốt đó vu oan giá họa cho Kiều mỗ thì dễ, chứ ra tay đả thương ta thì khó đấy." Đột nhiên Kiều Phong nổi hùng tâm, muốn làm chuyện kinh thiên động địa, bèn nói: "A Châu! Ngày mai ta sẽ đưa cô đi tìm danh y đệ nhất thiên hạ để trị thương. Cô cứ yên tâm ngủ đi."

A Châu nhìn thần thái cao ngạo của Kiều Phong, trong lòng không khỏi kính phục, lại mấy phần sợ hãi. Nàng thấy người trước mặt mình đây hoàn toàn khác Mộ Dung công tử, dẫu rằng cả hai đều chẳng sợ trời sợ đất, đều tính khí cao ngạo, vẻ mặt hiên ngang. Thế nhưng Kiều Phong hùng tráng hào sảng chẳng khác gì một con sư tử oai mãnh, còn Mộ Dung Phục ôn nhu tiêu sái như một con phượng hoàng.

Kiều Phong đã quyết định xong, không nghĩ ngợi gì nữa, ngồi ngay xuống ghế mà ngủ. A Châu nhìn khuôn mặt chàng dưới ánh đèn dầu ảm đạm, chỉ một chốc đã nghe tiếng ngáy khò khò. Bỗng nhiên Kiều Phong nghiến răng trong giấc ngủ, các cơ bắp trên mặt hơi giật giật, quai hàm vuông vắn gồng cứng lên. A Châu bỗng thấy vị hào kiệt trước mặt mình thật đáng thương, so với mình còn bất hạnh hơn nhiều.

Sáng sớm hôm sau, Kiều Phong lại truyền nội lực cho A Châu, thanh toán tiền trọ rồi nhờ tiểu nhị đi thuê một cỗ xe lừa. Chàng đỡ A Châu vào trong xe, sau đó đi đến bên ngoài phòng của Bào Thiên Linh, lớn tiếng gọi: "Bào huynh! Tiểu đệ Kiều Phong đến bái kiến đây!"

Bào Thiên Linh, Hướng Vọng Hải và Kỳ Lục ba người ngồi nói xấu Kiều Phong đến gần sáng, lúc đó còn chưa ngủ dậy. Nghe tiếng Kiều Phong bên ngoài, ai nấy hoảng hồn cùng nhảy khỏi giường, vớ lấy đao, kiếm, nhuyễn tiên. Ba người cầm khí giới trong tay mới thộn mặt ra, thấy trên món nào cũng có dán một mảnh giấy nhỏ, trên viết bốn chữ "Kiều Phong bái kiến". Họ kinh hãi nhìn nhau, đều hiểu rằng đêm qua đã bị Kiều Phong đùa một mẻ, nếu như hắn muốn lấy mạng ba người thật dễ như trở bàn tay. Trong ba người thì Bào Thiên Linh hổ thẹn nhất, y có ngoại hiệu là Một Bản Tiền, ban ngày đi rình nhà này nhà khác, tối đến dỡ mái khoét vách lẻn vào. Bản lĩnh độc đáo của y là lấy tiền trộm bạc, ngờ đâu đêm hôm bị Kiều Phong chơi một vố, đến sáng bạch mới biết.

Bào Thiên Linh nghĩ rằng nếu như Kiều Phong muốn lấy mạng mình thì đêm qua đã ra tay rồi, liền quấn nhuyễn tiên lại vào lưng, bước ra trước cửa nói: "Đầu của Bào Thiên Linh này còn trên cổ đây, Kiều huynh lúc nào muốn lấy thì cứ tự tiện. Bào mỗ làm cái nghề đi buôn không vốn, chẳng có cơ nghiệp gì, có chết dưới tay Kiều huynh cũng chẳng sao. Ngay cả phụ thân, mẫu thân, sư phụ mà các hạ còn chẳng dung tình, thì cái tình sở giao nhạt nhẽo như Bào mỗ còn mong gì các hạ dung thứ?" Từ lúc y nhìn thấy mảnh giấy gắn trên nhuyễn tiên đã có chủ ý, biết hôm nay mười phần chết đến chín, chạy trốn cũng không xong, thà rằng cứ ngang tàng hết sức rồi đem tính mạng giao cho địch còn hơn.

Kiều Phong vòng tay nói: "Ngày nào từ biệt nhau nơi phủ Thanh Châu đất Sơn Đông, thấm thoắt đã mấy năm rồi, Bào huynh phong thái vẫn như xưa, thật là đáng mừng." Bào Thiên Linh cười khanh khách, đáp: "Bào mỗ cứ sống hôm nay không biết đến ngày mai, thế mà không ngờ đến nay vẫn chưa chết," Kiều Phong hỏi: "Nghe nói Diêm Vương Địch Tiết Thần Y phát Anh hùng thiếp, tại hạ cũng muốn đến xem sao. Không biết đi cùng với ba vị liệu có tiện chăng?" Bào Thiên Linh rất lấy làm lạ, nghĩ: "Tiết Thần Y đại hội anh hùng chính là để đối phó với ngươi. Ngươi chán sống rồi sao mà vác xác tới một mình, hay là có dụng ý gì? Ta thường nghe Kiều bang chủ Cái Bang đã lớn mật lại tinh tế, trí dũng song toàn. Nếu ngươi không có gian mưu thì lẽ nào tự chui vào lưới, ta dại gì mà trúng kế?"

Kiều Phong thấy y ngần ngừ không trả lời, liền nói: "Kiều mỗ có việc phải cầu đến Tiết Thần Y, mong được Bào huynh dẫn đường." Bào Thiên Linh nghĩ bụng: "Ta đang sợ chạy không thoát độc thủ của ngươi, lại được dắt ngươi đến Anh hùng yến cho quần hào vây đánh, dù ngươi có ba đầu sáu tay cũng không trốn thoát. Có điều đi chung một đường với ngươi thì vẫn là chín phần chết một phần sống." Tuy y trong bụng phập phồng nhưng nghĩ lại, dẫn Kiều Phong đến Anh hùng yến vẫn hay hơn, bèn nói: "Anh hùng yến họp ở Tụ Hiền Trang, cách đây bảy mươi dặm về phía đông bắc. Kiều huynh muốn đi thì cứ đi. Bào Thiên Linh này xin nói rõ, bữa hội yến này chẳng hay ho mà cũng chẳng vui vẻ gì. Kiều huynh đến đó thì dữ nhiều lành ít, đừng trách Bào mỗ không nói trước."

Kiều Phong thản nhiên cười nói: "Hảo ý của Bào huynh, Kiều mỗ xin tâm lãnh. Anh hùng yến họp tại Tụ Hiền Trang, chủ nhân có phải là Du Thị Song Hùng chăng? Hỏi thăm đường đi Tụ Hiền Trang chắc cũng dễ, ba vị cứ tùy tiện đi trước, một giờ nữa tiểu đệ chầm chậm đi theo cũng chưa muộn, cũng là cho các vị có thời gian chuẩn bị."

Bào Thiên Linh quay lại nhìn Kỳ Lục và Hướng Vọng Hải, hai người chậm rãi gật đầu. Bào Thiên Linh nói: "Nếu thế thì bọn tại hạ đến Tụ Hiền Trang trước, đón chờ đại giá của Kiều huynh."

Bào, Kỳ, Hướng hấp tấp thanh toán tiền cho khách điếm rồi nhảy lên ngựa, ra roi chạy thẳng về phía Tụ Hiền Trang. Ba người có sức chạy nhanh, thỉnh thoảng quay đầu nhìn lại, chỉ sợ Kiều Phong cười khoái mã đuổi theo, nhưng trước sau vẫn không thấy. Bào Thiên Linh tâm cơ linh mẫn, Kỳ Lục và Hướng Vọng Hải cũng nhiều lịch duyệt giang hồ, kiến văn rộng rãi. Thế nhưng ba người vừa đi đường vừa phỏng đoán, vẫn không hiểu được Kiều Phong đơn thân đến Anh hùng yến để làm gì.

Kỳ Lục bỗng nói: "Bào đại ca! Đại ca có trông thấy chiếc xe lớn bên cạnh Kiều Phong không? Bên trong cỗ xe đó hẳn có điều quái dị." Hướng Vọng Hải nói: "Chẳng lẽ có nhân vật lợi hại mai phục trong xe chăng?" Bào Thiên Linh đáp: "Cỗ xe đó mà xếp chật đến không thở nổi cũng chỉ được bảy tảm mạng, tính luôn Kiều Phong cũng chưa đủ chục, đến Anh hùng yến chẳng khác gì thuyền con vào trong sóng cả, làm được trò trống gì?"

Ba người vừa đi vừa trò chuyện, trên đường gặp võ lâm đồng đạo mỗi lúc một đông, ai ai cũng đi phó yến tại Tụ Hiền Trang. Lần hội yến này rất đột ngột, thiếp mời không đề tên khách, tất cả nhân vật võ lâm đều được hoan nghênh, Người nào nhận được thiếp cũng phi ngựa suốt ngày đêm chuyển giao cho bạn bè quen biết, người nọ truyền người kia, mới một ngày một đêm mà thiếp mời đã truyền đi thật xa. Thế nhưng vì quá cấp bách, phần lớn những người đến Tụ Hiền Trang chỉ ở trong chu vi vài trăm dặm quanh chùa Thiếu Lâm. May mà Hà Nam nằm ở khoảng giữa, ngoài người bản địa, nhân vật võ lâm ở khắp bốn phía nghe được tin này cũng lên đường đi ngay, thành ra số người tham gia cũng không ít.

Anh hùng yến lần này do Du Thị Song Hùng của Tụ Hiền Trang liên danh với Diêm Vương Địch Tiết Thần Y cùng mời. Du thị Song Hùng Du Ký, Du Câu giàu có, hào hiệp, giao du rộng rãi, võ công cao siêu mà tiếng tăm cũng vang dội, nhưng không đủ thể lực, cũng không thể coi là đức cao vọng trọng để có thể mời được bấy nhiêu anh hùng hảo hán. Thế nhưng Tiết Thần Y lại là người mà ai ai cũng muốn kết giao. Ta nên biết người tự phụ võ công cao cường thì nhiều, còn người tự xưng thiên hạ vô địch thì ít, mà thiên hạ vô địch cũng không dám chắc suốt đời không bệnh tật hay bị thương. Nếu kết giao được với Tiết Thần Y thì giữ được tính mạng vững chắc, chỉ cần còn sống mà đưa đến, bất luận bệnh nặng thế nào ông ta cũng chữa được. Do đó mà Anh hùng thiếp của Du Thị Song Hùng cùng Tiết Thần Y, ngoài việc làm vinh dự cho người nhận còn có giá trị như một đạo bùa hộ mệnh. Những nhân sĩ võ lâm sinh sống bằng nghề đao kiếm không ai dám chắc giữ mình được yên lành suốt đời, hôm nay có dịp làm quen với Tiết Thần Y, đến khi sơ sẩy lẽ nào ông ta lại bỏ mặc không thèm chữa? Trên danh thiếp ngoài ba cái tên Tiết Mộ Hoa, Du Ký, Du Câu còn chua thêm một hàng chữ nhỏ: "Du Ký, Du Câu trình bày thêm, Tiết Mộ Hoa tiên sinh được người đời gọi là Tiết Thần Y". Nếu không có hàng phụ chú đó, người nhận được thiếp chắc ít ai biết Tiết Mộ Hoa là cao nhân phương nào, số người đến Tụ Hiền Trang mười phần có lẽ chưa được ba bốn.

Bào Thiên Linh, Kỳ Lục, Hướng Vọng Hải ba người đến Tụ Hiền Trang rồi, Du Câu lão nhị ra nghênh tiếp, vào nhà đại sảnh thì thấy đã đầy tân khách. Bào Thiên Linh chỉ quen biết chừng một nửa, nhưng y vừa bước chân vào là bốn phía đã nhao nhao lên, ai cũng: "Bào lão gia có phát tài không?" "Bào huynh! Mấy bữa nay làm ăn khá chứ?" Bào Thiên Linh luôn tay thi lễ, hỏi thăm khắp lượt. Y thật không dám sơ suất chút nào, trong chỗ đông đảo nhân vật giang hồ thế này không thiếu kẻ hẹp hòi. Chỉ cần sót một cái gật đầu đáp lễ, hay thiếu một nụ cười chào hỏi là có thể xảy ra chuyện lôi thôi, nếu có mất mạng thì cũng không phải là chuyện lạ.

Du Câu dẫn y đến chỗ chủ vị phía đông, Tiết Thần Y liền đứng lên nói: "Bào huynh, Kỳ huynh, Hướng huynh ba vị đại giá quang lâm, thực chẳng khác gì nạm vàng lên mặt lão hủ. Lão hủ thật là cảm kích!" Bào Thiên Linh vội vàng đáp lễ, nói: "Tiết lão gia đã có lệnh gọi, Bào Thiên Linh này dù có ốm liệt giường cũng phải cho người khiêng đến." Du Ký lão đại cười nói: "Nếu quả như Bào huynh bị bệnh liệt giường thì lại càng cần cho người khiêng đến gặp Tiết lão gia" Mọi người nghe thế, ai nấy cười ha hả, Du Câu nói: "Ba vị đường xa nhọc mệt, xin mời vào hậu sảnh dùng điểm tâm." Bào Thiên Linh nói: "Việc điểm tâm thong thả một chút cũng không sao. Tại hạ có việc muốn hỏi, lần này Tiết lão gia tử và hai vị Du lão gia mời khách, có mời Kiều Phong không?"

Tiết Thần Y và Du Thị Song Hùng nghe thấy hai chữ "Kiều Phong" liền biến sắc mặt. Du Ký nói: "Lần này phát, thiếp vô danh, ai đến cũng đón tiếp. Sao Bào huynh lại đề cập đến Kiều Phong? Phải chăng Bào huynh và gã cũng có chút giao tình?" Bào Thiên Linh đáp: "Tiểu đệ nghe gã nói là sẽ đến Tụ Hiền Trang để tham dự Anh hùng đại yến."

Y vừa nói ra, quần hùng đều sửng sốt. Mấy chục người trong đại sảnh đang cao đàm khoát luận rất là huyên náo cũng đột nhiên dừng lại, im phăng phắc. Những người ngồi xa không nghe Bào Thiên Linh nói gì, thấy mọi người im lặng cũng ngừng nói chuyện để lắng nghe. Chỉ giây lát, trong đại sảnh không còn một tiếng động, đến nỗi tiếng người đang ăn uống dưới hậu sảnh cũng vọng lên tận nhà trên.

Tiết Thần Y hỏi: "Làm sao Bào huynh biết được là Kiều Phong sẽ đến?" Bào Thiên Linh đáp: "Chính tai tại hạ cùng hai vị Kỳ huynh, Hướng huynh đều nghe thấy. Nói ra lại xấu hổ, đêm qua ba người chúng ta bị một vố ê chề." Hướng Vọng Hải liên tiếp đưa mắt ra hiệu cho Bào Thiên Linh đừng thuật lại câu chuyện xấu hổ ấy. Nhưng Bào Thiên Linh là người khôn ngoan, hiểu rõ Tiết Thần Y cùng Du Thị Song Hùng cố nhiên rất tinh ý, mà trong đám anh hùng đây những người tài trí cũng không phải ít. Mình chỉ giấu giếm một chút cũng đủ cho người ta phải nghi ngờ. Đây là việc vô cùng hệ trọng, mình đã bị lôi cuốn vào thì sơ ý một chút là đi đến chỗ thân bại danh liệt ngay. Y chậm rãi tháo cây nhuyễn tiên ở thắt lưng ra, mảnh giấy có viết bốn chữ "Kiều Phong bái kiến" kia vẫn còn dính nơi đó. Y liền hai tay đưa cho Tiết Thần Y, nói: "Kiều Phong nhờ ba người bọn tại hạ báo tin, hôm nay y sẽ tới Tụ Hiền Trang." Sau đó y kể lại đã gặp Kiều Phong ra sao, đối đáp những gì nhất nhất thuật lại không giấu một mảy, không đổi một từ. Hướng Vọng Hải đứng bên cạnh liên tiếp dậm chân, mặt mày thẹn đỏ lên.

Bào Thiên Linh kể xong xuôi, sau cùng mới nói: "Gã Kiều Phong kia là giống chó dại Khất Đan, Dù y có nhân nghĩa chúng ta cũng phải diệt đi, huống chi tính ác đã lộ ra, gây họa càng ngày càng lớn. Nếu mà y xa chạy cao bay thì khó mà tầm nã được, Quả là lòng trời run rủi, y lại tự đâm đầu vào bẫy."

Du Câu trầm ngâm đáp: "Ta thường nghe Kiều Phong trí dũng song toàn, đủ tài để làm việc đại ác chứ không phải kẻ thất phu liều lĩnh. Lẽ nào y dám đến Anh hùng đại yến?" Bào Thiên Linh đáp: "Chỉ sợ y có gian mưu, ta phải đề phòng cẩn thận. Có câu lắm người nhiều kế, tất cả chúng ta đây phải cùng nhau bàn thảo tính toán xem thế nào."

Trong khi đang nói chuyện, phía ngoài lại có vô số anh hùng hào kiệt mới tới, trong đó có cả Thiết diện pháp quan Đơn Chính cùng năm con, vợ chồng Đàm công Đàm bà cùng Triệu Tiền Tôn. Lát sau hai vị cao tăng chùa Thiếu Lâm là Huyền Nạn, Huyền Tịch cũng tới nơi. Ai ai cũng được Tiết Thần Y cùng Du Thị Huynh Đệ hoan nghênh khoản đãi. Quần hào ngồi nhắc lại những tội ác của Kiều Phong, mọi người đều hết sức phẫn nộ.

Bỗng nhiên gã quản gia lật đật chạy vào bẩm: "Từ trưởng lão ở Cái Bang suất lãnh các trưởng lão Truyền Công, Chấp Pháp cùng Tống Hề Trần Ngô đến bái trang." Mọi người ai nấy rùng mình, Cái Bang là bang hội lớn nhất giang hồ, thanh thế quả thật đáng gờm. Hướng Vọng Hải nói: "Bọn Cái Bang kéo hết đến đây, chắc hẳn là để viện trợ cho Kiều Phong." Đơn Chính nói: "Kiều Phong đã ra khỏi Cái Bang, không còn là bang chủ nữa. Chính mắt tại hạ trông thấy bọn họ trở mặt với nhau rồi." Hướng Vọng Hải nói: "Tình nghĩa cố cựu không phải dễ quên được ngay đâu." Du Ký nói: "Các vị trưởng lão Cái Bang ai cũng là nam tử hiên ngang khẳng khái, chẳng lẽ lại không phân biệt. Phải trái, bảo vệ kẻ thù? Nếu họ đến đây để giúp Kiều Phong, chẳng hóa ra biến thành Hán gian bán nước hay sao?" Mọi người gật đầu khen phải, cùng nói: "Dẫu có là người không ra gì cũng chẳng ai cam tâm làm Hán gian bán nước."

Tiết Thần Y cùng Du Thị Song Hùng thân hành ra ngoài cửa trang nghênh tiếp, thấy Cái Bang chỉ đến chừng mười hai, mười ba người. Quần hùng thấy vậy cũng hơi yên tâm vì đều nghĩ rằng chưa chắc bọn này có giúp đỡ Kiều Phong hay không, dù cho họ tâm địa bất hảo thì mười hai, mười ba người cũng chẳng làm trò gì được. Quần hùng cùng Từ trưởng lão chỉ chào hỏi qua loa rồi cùng vào đại sảnh. Các nhân vật Cái Bang đều mặt mày lo âu, rõ ràng trong bụng có tâm sự nặng nề.

Chủ khách an tọa rồi, Từ trưởng lão cất tiếng hỏi: "Tiết huynh cùng hai vị Du lão đệ! Hôm nay anh hùng khắp nơi tụ họp ở đây, phải chăng để đối phó với cái mầm họa mới trong võ lâm là Kiều Phong?" Mọi người nghe ông ta gọi Kiều Phong là "mầm họa mới của võ lâm", đưa mắt nhìn nhau, không ai bảo ai cũng thở phào nhẹ nhõm. Du Ký đáp: "Đúng thế. Chắc cũng vì việc này mà Từ trưởng lão cùng các vị trưởng lão nhất tề giá lâm, thật là đại hạnh cho võ lâm. Chúng tôi trừ diệt tên mọi rợ này cần được quý bang chứng kiến, nếu không lỡ có chuyện hiểu lầm làm tổn thương hòa khí thì cả đôi bên đều không khỏi hối hận.".

Từ trưởng lão thở dài, nói: "Y táng tận lương tâm thành kẻ điên rồ, hành động đại nghịch bất đạo. Quả thật y đã giúp tệ bang không biết bao nhiêu công lao, mới đây bọn ta bị gian nhân ám toán cũng được y ra tay giải cứu. Thế nhưng đại trượng phu lập thân xử thế, phải lấy đại thể làm trọng, những điều ân oán nhỏ mọn đành phải gác qua một bên. Y là tử thù của Đại Tống chúng ta, các trưởng lão tệ bang tuy đều từng được y đối đãi tử tế, nhưng không thể vì ơn riêng mà bỏ nghĩa công. Người ta có câu Đại nghĩa diệt thân, huống chi y không phải là thân thích của tệ bang."

Lão vừa dứt lời, quần hùng đều vỗ tay hoan hô nhiệt liệt. Lúc đó Du Ký mới nói đến việc Kiều Phong muốn đến tham dự Anh hùng đại yến, các trưởng lão đều sửng sốt. Mọi người đều theo Kiều Phong lâu ngày, biết chàng không bao giờ hành sự hữu dũng vô mưu, nếu lần này đơn thương độc mã đến Tụ Hiền Trang thì quả là kỳ quái. Hướng Vọng Hải đột nhiên nói: "Tôi nghĩ Kiều Phong cố ý bày kế nghi binh để quần hùng chờ ở đây, còn y cúp đuôi chạy mất rồi. Cái đó gọi là kế Kim Thiền Thoát Xác." Ngô trưởng lão đập tay xuống bàn, mắng ngay: "Kim Thiền Thoát Xác cái con bà ngươi. Kiều Phong là hạng người nào ngươi có biết không? Người ta đã nói thế nào là làm đúng như vậy." Hướng Vọng Hải bị Ngô trưởng lão mắng thẹn đỏ mặt lên, giận dữ đáp: "Ngươi định bệnh vực cho Kiều Phong chăng? Hướng mỗ đây nhất định không chịu. Ngươi có giỏi thì lại đây tỷ võ với ta!" Ngô trưởng lão nghe những chuyện Kiều Phong giết cha, giết mẹ, giết thầy, đại náo chùa Thiếu Lâm thì trong lòng hết sức uất ức, lửa giận chưa biết trút vào ai. Gã Hướng Vọng Hải lại đứng ra khiêu chiến, thật là cầu còn chưa được. Lão tung người nhảy vọt ra sân, lớn tiếng nói: "Kiều Phong là giống chó Khất Đan hay đường đường là người Hán, lúc này chưa rõ ràng. Nếu quả y là Khất Đan mọi rợ, Ngô mỗ sẽ là người thứ nhất liều mạng với y, đến thứ một nghìn cũng chưa đến lượt thằng khốn kiếp kia giết Kiều Phong. Ngươi là cái thá gì mà đến đây nói năng bậy bạ? Vác xác ra đây để ông dạy cho một trận."

Hướng Vọng Hải giận tím mặt, rút đơn đao ra khỏi vỏ đánh soạt một tiếng, nhìn đến binh khí lại nhớ tờ giấy có ghi "Kiều Phong bái kiến", không khỏi ngẩn ngơ. Du Ký vội can: "Hai vị đều là tân khách của Du mỗ, xin nể mặt họ Du này, đừng để mất hòa khí." Từ trưởng lão cũng nói: "Ngô huynh đệ chớ nên nóng nảy, phải giữ lấy thanh danh cho bản bang."

Trong đám đông bỗng có tiếng nhỏ nhẹ nói móc: "Cái Bang đã có một nhân vật như Kiều Phong, thanh danh quả là lừng lẫy. Phải cố giữ lấy thanh danh đó." Quần hào Cái Bang nghe nói thế, ai nấy thét lên quát hỏi: "Đứa nào đánh rắm đó? Có gan thì chường mặt ra, cứ lủi trong đám đông thì sao đáng mặt hảo hán?" "Thằng chó đẻ khốn kiếp nào thế?"

Kẻ kia chỉ nói một câu rồi im bặt, chẳng ai phát hiện ra y. Bọn Cái Bang bị mỉa mai trêu tức, ai nấy căm giận vô cùng, nhưng không kiếm ra thủ phạm nên cũng đành chịu. Cái Bang tuy là đệ nhất đại bang trên giang hồ nhưng bang chúng đều là dân ăn mày, chẳng cần biết lễ nghĩa thượng lưu. Họ thi nhau chửi rủa quát tháo, có người lại lôi đến tổ tông mười tám đời của thằng hèn nhát ra mà réo.

Tiết Thần Y nhíu mày nói: "Xin các vị hãy nén giận để nghe lão hủ nói một lời." Quần hào Cái Bang dần dần yên lặng trở lại. Bỗng nhiên trong đám đông, giọng nói lạnh lùng ban nãy lại phát ra: "Hay lắm! Hay lắm! Kiều Phong phái vô số thủ hạ lợi hại đến nằm vùng. Thể nào ta cũng được xem một tuồng kịch thật hay." Bọn Ngô trưởng lão nghe thế lại càng căm tức, liên tiếp rút binh khí ra loạt soạt, ánh sáng lập lòe. Các tân khách thấy Cái Bang muốn động thủ, cũng vội lấy vũ khí, tiếng quát tháo la rầm rầm như chợ vỡ. Tiết Thần Y và Du Thị huynh đệ cố khuyên can mọi người bình tĩnh, nhưng ba người hò hét chỉ làm huyên náo thêm chứ chẳng ích lợi gì.

Trong lúc hỗn loạn, có một tên quản gia chạy vào, ghé tai Du Ký nói nhỏ mấy câu. Du Ký biến sắc hỏi lại thì gã quản gia trỏ tay ra cổng, vẻ mặt cực kỳ kinh hãi. Du Ký lại ghé tai nói thầm với Tiết Thần Y, Tiết Thần Y thốt nhiên thay đổi sắc mặt. Du Câu chạy đến bên anh. Du Ký nhìn em vừa nói một câu, Du Câu cũng biến sắc liền. Thế rồi người nọ truyền người kia, một truyền thành hai, hai truyền thành bốn, bốn truyền thành tám, tin đó lan ra rất mau, chỉ trong giây lát đại sảnh lặng yên không một tiếng động.

Ai cũng đã nghe bốn chữ "Kiều Phong bái trang". Tiết Thần Y quay sang nhìn anh em họ Du gật đầu, lại quay sang nhìn hai vị sư Huyền Nạn, Huyền Tịch, mới nói: "Mời vào!" Gã quản gia trở gót đi ra. Quần hùng ai nấy trống ngực đánh thình thình, tuy biết rằng bên mình người đông thế mạnh, tất cả cùng xông lên thì chỉ chớp mắt đã băm vằm Kiều Phong thành muôn mảnh. Nhưng uy danh Kiều Phong không phải nhỏ, lại đàng hoàng một mình đến đây, hiển nhiên còn có âm mưu gì khác.

Tất cả yên lặng đợi chờ, chỉ nghe tiếng vó lộp cộp cùng tiếng bánh xe lăn lọc cọc, một cỗ xe lừa chậm rãi vượt qua cổng chính, tiến thẳng vào trong. Hai anh em họ Du nhíu đôi mày khó chịu, xem chừng thái độ nghênh ngang của Kiều Phong cực kỳ vô lễ. Lại nghe lạch cạch mấy tiếng, chiếc xe đã vượt qua ngạch cửa, ngồi chỗ xa phu là một đại hán cầm roi. Chiếc xe thì buông rèm rủ thấp, không biết bên trong có chứa những gì, quần hào không ai bảo ai cùng đăm đăm nhìn vào xe phu.

Người đó mặt vuông, thân hình cao lớn, vai rộng ngực nở, không giận mà lộ vẻ oai nghiêm, chính là tiền nhiệm bang chủ Cái Bang tên gọi Kiều Phong.

Kiều Phong để chiếc roi nơi chỗ ngồi, xuống xe ôm quyền thi lễ nói: "Nghe nói Tiết Thần Y cùng Du Thị huynh đệ họp Anh hùng đại yến tại Tụ Hiền Trang, Kiều mỗ không phải hào kiệt Trung Nguyên, lẽ ra đâu dám mặt dày đến dự. Chỉ vì hôm nay gặp việc khẩn cấp phải cần đến Tiết Thần Y nên mạo muội đến đây, mong liệt vị thứ tội cho." Nói xong chàng vái một cái thật sâu, vẻ mặt cực kỳ cung kính. Kiều Phong càng lễ độ, quần hùng càng tin là chàng đã sắp đặt âm mưu ngụy kế. Du Câu vẫy tay một cái, bốn tên đệ tử lẳng lặng ra xem xét trước sau trang viện xem có gì khác lạ. Tiết Thần Y chắp tay đáp lễ, nói: "Không hiểu Kiều huynh có việc chi cần đến tại hạ?"

Kiều Phong lùi lại hai bước, vén chiếc rèm xe, đưa tay đỡ A Châu ra, nói: "Tại hạ hành sự lỗ mãng khiến cho tiểu cô nương này bị trúng phải chưởng lực của người khác, thương tích cực kỳ trầm trọng. Trên đời này ngoài Tiết Thần Y ra không ai chữa nổi, nên đành liều lĩnh chạy đến đây xin thần y cứu mạng cho nàng."

Quần hào khi thấy chiếc xe lừa buông rèm kín mít liền đem lòng nghi hoặc, cố phỏng đoán điều gì quái lạ bên trong, ắt là độc dược thuốc nổ, độc xà mãnh thú, hoặc người thân của Tiết Thần Y bị Kiều Phong bắt làm con tin. Đến lúc thấy trong xe chỉ có một cô gái mười sáu mười bảy tuổi, ai nấy đều chưng hửng. Nghe Kiều Phong nói đem nàng đến để nhờ trị thương, mọi người càng kinh ngạc.

Thiếu nữ mặc áo màu vàng nhạt, gò má nhô cao không đẹp chút nào. Thì ra A Châu nghĩ rằng nhà Mộ Dung ân oán rất nhiều, nếu Tiết Thần Y biết được lai lịch cô tất không chịu chữa. Thành thử ở Hứa Gia Tập cô đã mua quần áo, ngồi trong xe sửa đổi dung mạo, nhưng không dám giả thành đàn ông hoặc đàn bà trung niên, vì thần y ắt phải xem mạch coi bệnh.

Tiết Thần Y nghe chàng nhờ cậy, quả thật ngoài dự liệu. Trong đời ông, người ở xa ngàn dặm đến nhờ chữa bệnh là việc rất thường, hầu như ngày nào cũng có. Thế nhưng ở đây mọi người đang tính việc bắt giết Kiều Phong, thì kẻ hung đồ không việc ác nào không làm, người lẫn quỷ thần đều căm giận, lại tự nhiên dẫn xác đến, thực khiến cho người ta không khỏi sinh lòng ngờ vực.

Tiết Thần Y đưa mắt nhìn A Châu từ đầu đến chân, thấy nàng dung mạo xấu xí lại còn ít tuổi, quyết nhiên Kiều Phong không thể bị sắc đẹp của cô bé này mê hoặc. Ông ta tự hỏi: "Phải chăng cô bé này là em gái y? Hừ, không thể được, y hạ độc thủ cả song thân cùng sư phụ, không có lý nào vì một đứa em gái mà vào nơi nguy hiểm để rước lấy cái họa sát thân. Hay đó là con gái y? Cũng không phải, có nghe ai nói y đã lấy vợ đâu?" Tiết Thần Y là người rất tinh thông y lý, chỉ trông qua thể chất hình mạo đã nhìn ngay ra đặc điểm. Ông thấy Kiều Phong tráng kiện to cao mà cô bé yểu điệu ốm yếu không giống chút nào, đoán chắc ngay hai người này không có liên quan cốt nhục gì với nhau. Ông trầm ngâm một lúc rồi hỏi: "Cô nương này tôn tính là gì? Có liên hệ thế nào với các hạ?"

Kiều Phong ngỡ ngàng, từ khi chàng biết A Châu chỉ gọi nàng là A Châu, cũng không biết có phải họ Châu hay không. Chàng bèn quay lại hỏi: "A Châu! Có phải cô nương họ Châu không?" A Châu mỉm cười đáp: "Ta họ Nguyễn." Kiều Phong gật đầu nói: "Tiết Thần Y, thì ra cô ta họ Nguyễn. Tới lúc này tại hạ mới biết." Tiết Thần Y càng lấy làm kỳ, hỏi thêm: "Thế ra cô nương này không phải là chỗ thâm giao với các hạ?" Kiều Phong đáp: "Cô ta là thị tì của một vị bằng hữu." Tiết Thần Y nói: "Thế vị bằng hữu của các hạ là ai? Ắt hẳn hai người tình thân như cốt nhục, mới quí nhau đến thế?" Kiều Phong lắc đầu: "Vị bằng hữu đó tại hạ cũng chưa biết mặt, trước nay chưa từng tương kiến."

Kiều Phong vừa dứt lời, quần hào trong đại sảnh đều "ủa" lên một tiếng. Quá nửa số người không tin trên đời có chuyện lạ đến thế, chắc là hắn chỉ mượn cớ để thực hành âm mưu quỷ quái gì khác. Song cũng có nhiều người biết trước nay Kiều Phong không nói dối bao giờ. Dù gần đây y có làm nhiều việc độc ác nhưng con người tự trọng ấy vị tất đã công khai dối trá đánh lừa ai.

Tiết Thần Y đưa tay chẩn mạch cho A Châu, thấy mạch nàng nhảy rất yếu nhưng trong người lại có chân khí thúc đẩy, hai đằng không tương xứng chút nào. Ông đưa tay bắt thêm mạch bên trái, hiểu ngay lý do, quay sang nói với Kiều Phong: "Vị cô nương này nếu không nhờ linh dược trị thương của Đàm công ở Thái Hàng Sơn, không nhờ các hạ truyền nội lực vào thì đã chết vì Đại Kim Cương Chưởng của Huyền Từ đại sư từ lâu rồi."

Quần hùng nghe thế đều chấn động. Đàm công, Đàm bà mặt mày ngơ ngác nghĩ thầm: "Sao cô ta có được linh dược trị thương của chúng ta?" Hai vị sư Huyền Nạn, Huyền Tịch lại càng lạ lùng, tự hỏi: "Phương trượng sư huynh khi nào lại dùng Đại Kim Cương Chưởng đánh một cô bé bao giờ? Giả tỷ cô ta trúng phải Đại Kim Cương Chưởng thật thì có lý nào còn sống được?" Huyền Nạn nói: "Tiết cư sĩ, Phương trượng sư huynh của bần tăng mấy năm nay không ra khỏi bổn tự; mà chùa Thiếu Lâm xưa nay không cho đàn bà con gái vào thăm. Bần tăng e rằng đòn Đại Kim Cương Chưởng này không phải do sư huynh hạ thủ."

Tiết Thần Y nhíu mày nói: "Trên đời này còn ai khác biết Đại Kim Cương Chưởng của quý phái?". Huyền Nạn, Huyền Tịch nhìn nhau không nói gì. Hai người ở trong chùa Thiếu Lâm đã mấy chục năm nay, cùng với Huyền Từ học chung một thầy, đã luyện tập mất không biết bao nhiêu công sức, chỉ vì thiên tư có hạn mà không sao luyện thành môn Đại Kim Cương Chưởng. Hai vị cũng không tiếc nuối vì biết rằng phái Thiếu Lâm hàng trăm năm mới có một bậc kỳ tài luyện được chưởng pháp này. Cũng may là yếu quyết luyện Đại Kim Cương Chưởng đều được các vị cao tăng đời trước ghi chép kỹ càng trong võ kinh, thành thử có khi cả chùa không ai luyện được mà cũng không đến nỗi thất truyền.

Huyền Tịch định hỏi "Có thật cô ta trúng phải Đại Kim Cương Chưởng chăng?" nhưng e rằng hỏi như vậy không tiện nên ngừng lại. Nếu đưa ra câu hỏi đó tựa hồ như có ý nghi ngờ y đạo của Tiết Thần Y, như vậy là đại bất kính. Lão tăng liền quay sang hỏi Kiều Phong: "Đêm trước, thí chủ lẻn vào chùa Thiếu Lâm ám hại Huyền Khổ sư huynh, đã thử đỡ một chiêu Đại Kim Cương Chưởng của phương trượng sư huynh ta. Phát chưởng đó nếu đánh vào một tiểu cô nương thì cô ta làm sao sống được?" Kiều Phong lắc đầu: "Huyền Khổ đại sư là ân sư, tại hạ vẫn còn chưa bao đáp được đại ân của sư phụ. Kiều mỗ dù phải bỏ mạng cũng chẳng dám động một ngón tay vào ân sư." Huyền Tịch giận dữ nói: "Ngươi còn chối à? Thế còn nhà sư Thiếu Lâm bị ngươi bắt cóc thì sao? Không lẽ cũng không phải thủ đoạn của ngươi?"

Kiều Phong nghĩ thầm: "Nhà sư Thiếu Lâm bị ta bắt cóc đang ở ngay trước mặt chứ đâu", bèn nói: "Đại sư nói Kiều mỗ bắt cóc một cao tăng chùa Thiếu Lâm, xin hỏi vị đó pháp hiệu là gì?" Huyền Tịch và Huyền Nạn hai người nhìn nhau, ấp úng không trả lời được. Đêm hôm qua, Huyền Từ, Huyền Tịch, Huyền Nạn ba người hợp kích Kiều Phong vẫn để chàng chạy thoát, còn chính mắt thấy chàng bắt theo một nhà sư. Thế mà kiểm tra tăng chúng trong chùa thì lại không thiếu một ai, việc đó quả là cổ quái, quần tăng không sao hiểu nổi.

Tiết Thần Y xen vào: "Kiều huynh một thân một mình vào chùa Thiếu Lâm mà không rụng một sợi tóc, lại còn bắt được một vị cao tăng đem đi, quả thật là lạ. Trong đó ắt có điều gì không minh bạch, Kiều huynh còn giấu giếm chưa nói hết." Kiều Phong đáp: "Tại hạ không làm hại Huyền Khổ đại sư, mà cũng không bắt vị hòa thượng nào ra khỏi chùa Thiếu Lâm. Các vị có nhiều điều chưa minh bạch, tại hạ cũng có nhiều điều còn thắc mắc."

Huyền Nạn nói: "Nói gì thì nói, tiểu cô nương này quyết không phải do phương trượng sư huynh chúng ta đả thương. Sư huynh bần tăng là một vị cao tăng đạo đức, địa vị cao cả chưởng môn một phái, lẽ nào lại ra tay đánh một cô bé bị thương nặng đến thế? Dù tiểu cô nương đây có muôn vàn chuyện sai quấy thì sư huynh chúng ta cũng không chấp nhất."

Kiều Phong trong bụng nảy ra một ý: "Hai nhà sư này không chịu nhận là A Châu bị Huyền Từ đả thương thì lại càng tốt. Nếu không, Tiết Thần Y nể mặt phái Thiếu Lâm, nhất định không chịu chữa." Nghĩ vậy, ông cũng xuôi nước đẩy thuyền, nói theo: "Phải lắm! Huyền Từ phương trượng vốn một lòng từ bi, quyết không bao giờ quá tay đánh bị thương một cô gái nhỏ tuổi. Chắc hẳn có kẻ mạo nhận cao tăng chùa Thiếu Lâm ra tay đánh người bừa bãi." Huyền Tịch và Huyền Nạn đưa mắt nhìn nhau, lẩm nhẩm gật đầu, nghĩ thầm: "Gã Kiều Phong kia tuy đại gian ác, nhưng nói mấy câu này quả là biết điều.".

A Châu cười thầm trong bụng: "Kiều đại gia nói không sai một ly. Quả là có người mạo xưng làm sư chùa Thiếu Lâm, ra tay đánh người bừa bãi. Có điều y không mạo xưng Huyền Từ phương trượng, mà chỉ dám mạo xưng hòa thượng Chỉ Thanh." Thế nhưng Huyền Tịch, Huyền Nạn, Tiết Thần Y và những người khác đoán thế nào nổi những ẩn ý trong câu nói của Kiều Phong.

Tiết Thần Y nghe thấy hai vị cao tăng không nói gì, ắt hẳn không sai liền nói: "Thì ra trên đời hãy còn kẻ khác biết sử dụng Đại Kim Cương Chưởng của quý phái. Người đó khi hạ thủ bị vật gì ngăn trở, chưởng lực mười phần đã bớt đi bảy tám. Vì vậy Nguyễn cô nương không đến nỗi chết ngay lập tức. Chưởng lực của gã này cực kỳ hùng hậu, xem ra cũng ngang ngửa với Huyền Từ phương trượng."

Kiều Phong trong lòng ngấm ngầm bội phục: "Quả thực chưởng lực của Huyền Từ phương trượng bị ta dùng tấm gương đồng chặn lại, làm tiêu giảm đến quá nửa. Vị Tiết Thần Y này quả là y đạo như thần, chỉ mới bắt mạch A Châu đã nói được tình hình hai bên ra chiêu động thủ không sai chút nào. Chắc chắn ông ta đủ tài chữa A Châu khỏi bệnh". Chàng nghĩ thế, mặt lộ vẻ vui mừng nói tiếp: "Nếu vị tiểu cô nương này bỏ mạng vì Đại Kim Cương Chưởng thì thanh danh của phái Thiếu Lâm bị tổn thương rất nhiều, xin Tiết Thần Y mở lượng từ bi.." Nói xong vai một cái thật dài.

Huyền Tịch không đợi Tiết Thần Y trả lời, hỏi A Châu: "Ai đã ra tay đả thương cô nương? Ở địa phương nào? Người đó bây giờ đang ở đâu?" Nhà sư vừa nghĩ đến thanh danh chùa Thiếu Lâm, vừa băn khoăn trên đời này còn có kẻ biết môn Đại Kim Cương Chưởng độc đáo của phái Thiếu Lâm, nên muốn hỏi cho ra lẽ.

Bản tính A Châu cực kỳ ngang bướng, đâu có giống như Kiều Phong mực thước chín chắn, nàng vốn lẹ miệng, bịa đặt trơn như cháo chảy, lúc này trong lòng tính toán: "Mấy ông sư này đều khiếp vía công tử nhà ta, chi bằng ta dọa cho sợ một mẻ." Nàng liền nói: "Gã đó là một công tử tướng mạo anh tuấn, tuổi chừng hăm tám hăm chín. Tiểu nữ đang cùng Kiều đại gia ở trong khách điếm, đàm luận về y thuật thần sầu quỷ khốc của Tiết Thần Y. Không những hiện nay chẳng ai bằng mà người xưa cũng không ai bì kịp, sau này không còn người kế tiếp, không chừng cả thần tiên trên trời cũng chưa bằng.."

Con người ta ở đời, chẳng ai không ưa lời tâng bốc. Tiết Thần Y bình sinh đã được nghe vô số người tán dương xưng tụng, nhưng lời tâng bốc líu lo réo rắt từ miệng một thiếu nữ thì đây mới là lần đầu. Hơn nữa nàng lại khoa trương quá đỗi, Tiết Thần Y nghe xuôi tai, bất giác vuốt râu mỉm cười. Kiều Phong nghe vậy lại nhíu mày: "Làm gì có chuyện đó? Cô nương này chỉ giỏi ba hoa phóng đại."

A Châu lại tiếp: "Khi đó tiểu nữ mới nói rằng: Trời sinh ra vị Tiết Thần Y này thì đại gia học võ giỏi đến đâu cũng bằng vô ích. Kiều đại gia mới hỏi: Sao lại vô ích? Tiểu nữ đáp: Người nào bị đánh chết, Tiết Thần Y cũng cứu sống lại được. Thế thì đại gia luyện quyền tập kiếm ích gì? Giết một người thì Tiết Thần Y cứu một người, giết hai người thì Tiết Thần Y cứu một cặp, có phải đại gia chỉ mất công vô ích không?"

Nàng lanh mồm lanh miệng, thanh âm réo rắt, tuy đang bị trọng thương mà thanh âm trong trẻo như tiếng trân châu rơi trên mâm ngọc, bắt chước thổ âm Tứ Xuyên của bọn phái Thanh Thành, nghe không biết chán tai. Mọi người ai nấy đều vui vẻ, có kẻ bật cười thành tiếng.

Thế nhưng A Châu không cười, vẫn tiếp tục kể: "Góc phòng bên kia có một gã công tử nghe chúng tôi nói chuyện, đột nhiên cười khẩy nói: Chưởng lực trong thiên hạ đa số nhẹ như bông gòn, nội lực chẳng có gì đáng kể, nên gã lang băm họ Tiết kia mới có được cái hư danh. Để ta đánh một chưởng xem y có trị nổi không nào? Gã nói xong liền vung chưởng lên. Tiểu nữ thấy mình ngồi cách xa y đến mấy trượng, lại tưởng y thuận mồm nói chơi nên cũng không để ý. Song Kiều đại gia kinh hãi.."

Huyền Tich hỏi lại: "Kiều thí chủ đưa song chưởng ra đỡ phải không?" A Châu lắc đầu, đáp: "Không phải. Nếu như Kiều đại gia phong chưởng ra đỡ thì gã công tử kia làm sao đánh tiểu nữ bị thương được. Kiều đại gia ngồi xa, không đến cứu kịp, vội chụp một chiếc ghế nếm qua. Kình lực của đại gia vừa lợi hại vừa chính xác, chỉ nghe lách cách mấy tiếng, chiếc ghế đã bị Phách Không Chưởng của gã công tử kia đánh tan nát. Gã kia nói giọng Tô Châu êm dịu, mà xuất thủ lại chẳng êm dịu chút nào. Tiểu nữ chỉ thấy người nhẹ lâng lâng, tựa hồ như bồng bềnh trên mây, không còn chút khí lực nào nữa. Lại nghe gã công tử kia nói: Người đi kêu Tiết Thần Y lục lọi sách thuốc, luyện tay nghề thêm một bậc nữa, chữa thử cho ngươi để sau này chữa cho Huyền Từ khỏi phải luống cuống." Huyền Nạn chau mày, hỏi: "Y nói thế là có ý gì?" A Châu đáp: "Dường như gã có ý hăm dọa sau này sẽ dùng Đại Kim Cương Chưởng đả thương Huyền Từ đại sư."

Quần hùng ai nấy kêu lên kinh hãi. Có người nói: "Đúng là gậy ông đập lưng ông." Có vị lại bảo: "Quả nhiên là Cô Tô Mộ Dung!" Các vị dùng hai chữ "quả nhiên" để tỏ ra đã đoán được trước là ai rồi. Ta nên biết chuyện này A Châu đổ oan cho Mộ Dung công tử gây chuyện với phái Thiếu Lâm, vì nàng hiểu sớm muộn gì hai bên cũng sẽ tranh chấp, nên mới thổi phồng câu chuyện để dọa nạt đối phương, tăng gia uy phong cho chủ mình.

Bỗng nghe Du Câu nói: "Vừa rồi Kiều huynh bảo có kẻ mạo xưng cao tăng phái Thiếu Lâm, đả thương người bừa bãi. Bây giờ cô nương này lại bảo là một gã công tử đánh cô nương bị thương. Không hiểu ai nói đúng?" A Châu vội đáp: "Quả là có kẻ mạo xưng cao tăng phái Thiếu Lâm. Chính mắt tiểu nữ thấy hai người tự xưng là sư chùa Thiếu Lâm đi ăn trộm của nhà người ta một con chó mực, về làm thịt ăn." Nàng tự biết mình nói dối mãi tất có chỗ lòi đuôi, liền đánh trống lảng sang chuyện khác.

Tiết Thần Y biết nàng nói không hoàn toàn đúng, nhưng cũng có phần sự thật. Ông cũng chưa biết có nên chữa thương cho cô ta hay không, quay sang nhìn Huyền Tịch, Huyền Nạn rồi lại đưa mắt nhìn Du Ký, Du Câu, sau đó nhìn Kiều Phong và A Châu ngầm nghĩ.

Kiều Phong nói: "Hôm nay Tiết tiên sinh cứu mạng cho cô nương này, Kiều mỗ suốt đời không dám quên đại đức." Tiết Thần Y cười gần, lạnh lùng hỏi: "Ngày sau không dám quên đại đức ư? Không lẽ bữa nay Kiều huynh còn tưởng sống sót được mà ra khỏi Tụ Hiền Trang chăng?" Kiều Phong đáp: "Kiều mỗ còn sống ra khỏi nơi đây hay chết rồi mới ra được cũng thế, điều đó không có gì đáng kể. Thương thế của cô nương này xin thần y mở lòng chữa trị cho." Tiết Thần Y hỏi lại: "Ta trị thương cho cô ta để làm gì?"

Kiều Phong đáp: "Người đời có câu: Cứu một mạng người bằng xây bảy tòa bảo tháp. Tiết tiên sinh đã nổi tiếng về công đức trong võ lâm, chẳng lẽ thấy một cô gái vô tội chết oan như thế này lại không nổi lòng trắc ẩn hay sao?".

Tiết Thần Y đáp: "Bất luận là ai đưa cô ta đến đây ta cũng chữa. Hừ! Chỉ mình ngươi đưa đến là ta không chữa."

Kiều Phong biến sắc mặt, buồn bã nói: "Hôm nay các vị hội họp ở Tụ Hiền Trang để đối phó với Kiều mỗ, họ Kiều này không lẽ không biết.." A Châu xen vào: "Chao ôi! Kiều đại gia, hóa ra đại gia đã vì tiểu nữ mà mạo hiểm đến đây ư?" Kiều Phong cứ nói tiếp: "Ta tưởng các vị đây đều đường đường là những bậc đại trượng phu, phải trái phân minh. Muốn giết thì chỉ giết một mình Kiều mỗ là đủ hả giận, chứ có can dự gì đến cô nương đây? Tiết tiên sinh đem lòng thống hận Kiều mỗ mà trút lên đầu Nguyễn cô nương thì đúng là giận cá chém thớt, thật không nên chút nào."

Tiết Thần Y cứng họng không trả lời được, hồi lâu mới nói: "Ta trị bệnh hay không là do ta vui buồn yêu ghét, người ngoài cưỡng ép ta thế nào được? Kiều Phong! Ngươi làm tội đại ác, bọn ta đang muốn truy nã ngươi để băm vằm ra đem tế song thân và sư phụ ngươi. Ngươi dẫn xác đến đây là tốt lắm, tự xử đi là hơn." Tiết Thần Y nói tới đây, vẫy tay một cái. Quần hào nhốn nháo cả lên, tới tấp rút binh khí ra. Trong đại sảnh ánh sáng lấp lánh lóa cả mắt, dường như đủ loại, trường đao đoản kiếm, song phủ đơn tiên đều có cả. Trên nóc nhà cũng có tiếng lao xao, mái nhà góc chải đâu đâu cũng có người lăm lăm binh khí, trấn giữ mọi ngả.

Kiều Phong tuy đánh quen trăm trận, nhưng trước đây thường suất lãnh huynh đệ Cái Bang đối địch, bên mình bao giờ cũng người nhiều thế mạnh. Lúc này một mình chàng thân hãm trùng vi, lại dắt theo một cô gái bị trọng thương, quả thực chưa biết cách nào xông ra, trong bụng không khỏi hoang mang.

A Châu lại càng kinh hãi, khóc òa lên, nói: "Kiều đại gia ơi! Đại gia cứ một mình chạy đi, đừng lo cho tiểu nữ làm gì. Bọn họ với tiểu nữ không thì không oán, chắc không nỡ hại đâu." Kiều Phong chợt nghĩ thầm: "Đúng thế! Ở đây toàn là người nghĩa hiệp, không lý nào vô cớ làm hại cô ta. Ta mau mau thoát khỏi chốn này là hơn." Thế nhưng chàng lại nghĩ: "Đại trượng phu đã cứu người thì phải cứu cho đến nơi đến chốn. Tiết Thần Y chưa nhận lời trị thương, chưa biết cô ta sống chết thế nào, Kiều Phong này không lẽ tham sống sợ chết mà bỏ chạy?".

Chàng đảo mắt nhìn khắp bốn phía, thấy vô số cao thủ võ lâm, trong đám này đến quá nửa là quen biết, ai cũng mang tuyệt nghệ. Hùng tâm trạng khí trong người chàng lại nổi lên, nghĩ thầm: "Kiều Phong này dù cho máu nhuộm Tụ Hiền Trang, thi thể để cho loạn đao chém nát, phỏng có chi đáng kể. Đại trượng phu sống có gì là vui, chết có gì là sợ?" Chàng nghe có người nói khe khẽ: "Đúng đó! Ngươi là đồ tạp chủng, chính mình cũng không biết cha mẹ là giống gì." Thanh âm này cũng chính là thanh âm nhạo báng Cái Bang lúc trước. Có điều y nấp trong đám đông, nói một câu rồi im bặt nên không hiểu là ai. Quần hùng mấy lần quay về phía phát ra tiếng nói, trước sau vẫn không thấy ai mấp máy môi. Trong đám đông cũng chẳng có ai đặc biệt thấp bé để có thể núp lén được.

Kiều Phong nghe mấy câu đó, chăm chú nhìn một hồi rồi gật đầu không lý tới nữa, quay sang Tiết Thần Y nói tiếp: "Giả tỷ Kiều mỗ là người Hán mà hôm nay ông nhục mạ như vậy thì ta đâu có để yên? Còn nếu như ta là người Khất Đan, là kẻ địch của hào kiệt Đại Tống thì người đầu tiên ta phải giết chính là ông, chứ nếu ta giết vị anh hùng nào khác thì ông lại cứu cho sống lại. Có phải thế không?" Tiết Thần Y đáp: "Đúng thế! Đằng nào thì ngươi cũng ra tay giết ta trước." Kiều Phong nói: "Hôm nay ta khẩn cầu ông cứu cô nương này, thế là một mạng đổi một mạng. Kiều mô vĩnh viễn không bao giờ đụng đến chân lông tiên sinh." Tiết Thần Y khanh khách cười, nói: "Bình sinh lão phu trị bệnh cứu người, chỉ có người cầu khẩn, chưa có ai uy hiếp." Kiều Phong đáp: "Một mạng đổi một mạng là hợp lẽ công bằng, nào phải là uy hiếp?"

Tiếng nói nhỏ nhẹ trong đám đông lại nổi lên: "Ngươi mở miệng nói láo sao không biết thẹn? Chỉ lát nữa đã bị loạn đạo băm nát ra như tương mà còn dám bảo tha mạng cho người ư? Ngươi.." Kiều Phong quát lên một tiếng: "Ra đây!" Tiếng quát làm rung chuyển mái ngói, bụi cát trên xà nhà rơi xuống lả tả. Quần hùng ai nấy tai ù đi, tim đập thình thình.

Một đại hán ở trong đám đông chuệnh choạng bước ra theo tiếng gọi, lảo đảo không vững như người say rượu. Kẻ đó mặc áo bào xanh, mặt xám như tro, không ai nhận ra. Đột nhiên Đàm công kêu lên: "Phải rồi! Ngươi chính là Truy hồn trượng Đàm Thanh, đồ đệ của Ác Quán Mãn Doanh Đoàn Diên Khánh."

Quần hào Cái Bang nghe thấy y là đệ tử của Đoàn Diên Khánh lại càng giận dữ vô kể, quát mắng om sòm, nhưng trong bụng cũng không khỏi thấp thỏm. Thì ra hôm đó bọn họ bắt được tướng quân Hách Liên Thiết Thụ cùng các cao thủ Nhất Phẩm Đường của Tây Hạ bị trúng thuốc độc Bi Tô Thanh Phong, nhưng chỉ một lát sau Đoàn Diên Khánh tới nơi, quần hào Cái Bang không một ai địch nổi y. Đoàn Diên Khánh lấy bình thuốc thối chữa cho tất cả các cao thủ Nhất Phẩm Đường, bọn chúng xông lên đánh cho người của Cái Bang thua chạy tan tác. Quần cái vừa tức vừa sợ Đoàn Diên Khánh, thấy rằng Cái Bang nếu đã không còn Kiều bang chủ thì tuyệt không cách nào kháng cự được tên Thiên Hạ Đệ Nhất Ác Nhân này.

Truy hồn trượng Đàm Thanh mặt mũi nhăn nhó giần giật dường như đang đau đớn khôn tả, hai tay không ngớt cào vào trước ngực, từ nơi đó có tiếng nói phát ra không rõ: "Ta.. ta với ngươi không thù không oán, sao.. sao người lại phá pháp thuật của ta?" Thanh âm gã nhỏ nhẹ, lúc có lúc không, còn môi thì không hề động đậy. Mọi người thấy vậy đều kinh hãi. Trong đại sảnh chỉ có vài người biết là y dùng thuật phục ngữ, kết hợp với nội công thượng thừa, có thể làm cho đối phương bị mê man, mất hồn mà chết. Thế nhưng nếu như gặp phải người công lực cao hơn y, thuật đã không linh nghiệm mà chính y lại bị tổn thương.

Tiết Thần Y giận dữ hỏi: "Ngươi là đồ đệ của Ác Quán Mãn Doanh Đoàn Diên Khánh đấy ư? Ta mở Anh hùng đại yến chỉ mời các vị anh hùng hảo hán trong thiên hạ, còn hạng hèn mạt vô liêm sỉ như ngươi sao dám trà trộn vào đây?"

Bỗng từ phía trên cao có tiếng người nói: "Anh hùng yến cái quái gì? Ta thấy gọi là cẩu hùng yến hay hơn." Mấy tiếng đầu thì âm thanh còn văng vẳng xa xa, lúc dứt câu thì người đã từ trên đầu tường nhẹ nhàng nhảy xuống rồi. Người này cao lênh khênh mà gầy khẳng gầy kheo, cử động cực kỳ mau lẹ. Trên nóc nhà vô số người vung quyền, phóng kiếm ra ngăn trở đều bị chậm trễ, gã tránh né lướt qua như không. Trong đại sảnh có nhiều người nhận ra y là Cùng Hung Cực Ác Vân Trung Hạc.

Vân Trung Hạc nhảy vào trong sân rồi, chỉ lạng người một cái đã xông ngay vào trong sảnh, chộp lấy Đàm Thanh, xông luôn vào Tiết Thần Y. Vô số cao thủ trong sinh đều sợ y đả thương Tiết Thần Y, bảy tám người đứng gần nhất lập tức quay ra hộ vệ. Ngờ đâu Vân Trung Hạc đã định trước rồi, lấy tiến làm thoái, y thấy mọi người vừa xông lại thì đã vọt ngược trở lên đầu tường.

Trong anh hùng hội, số hảo thủ không phải là ít, đánh nhau chân thực thì người có bản lãnh thắng được Vân Trung Hạc không đến năm sáu chục thì cũng ba bốn mươi người, nhưng vì y ra tay bất ngờ nên không ai phòng bị kịp. Hơn nữa khinh công của y cực kỳ cao siêu, nhảy được tên đầu tường là khó ai đuổi kịp. Không ít người thò tay vào túi móc ám khí ra, những người đang canh trên mái nhà cũng hò hét tiến lại ngăn trở nhưng muộn mất rồi. Kiều Phong quát lên: "Ngừng lại đã!" Chàng vung tay đánh một chưởng lên không, chưởng lực ào tới không khác gì một binh khí vô hình, trúng ngay vào lưng Vân Trung Hạc. Vân Trung Hạc hự lên một tiếng, rơi bật ngửa trở vào, máu miệng trào ra như suối. Lúc đó Đàm Thanh vẫn còn đứng được, dù lúc thì xiêu về phía đông, lúc lại vẹo sang hướng tây, miệng ú ớ trông thật buồn cười. Thế nhưng trong đại sảnh không một ai dám cười, chỉ thấy tình hình trước mắt cực kỳ ghê rợn, trước nay chưa từng chứng kiến bao giờ.

Tiết Thần Y biết rằng Vân Trung Hạc tuy bị trọng thương nhưng còn chữa được, còn Đàm Thanh tiêu tán hết cả thần hồn rồi, chẳng còn linh đơn diệu dược gì cứu y được nữa. Ông ta thấy Kiều Phong mới quát lên một tiếng, tùy tiện phóng ra một chưởng mà uy lực đã ghê gớm đến thế, nếu gã muốn lấy mạng mình thì vị tất đã có ai ngăn trở kịp. Tiết Thần Y còn đang trầm ngâm, chợt thấy Đàm Thanh đứng không nhúc nhích nữa, miệng hết ú ớ, hai mắt trợn ngược lên, xem ra đã tắt thở rồi.

Vừa rồi Đàm Thanh lên tiếng nhục mạ Cái Bang, quần cái đều cực kỳ tức tối nhưng lúc đó chưa biết là ai, khí tức chẳng biết trút vào đâu. Bây giờ thấy Kiều Phong ra tay giết y, ai nấy đều thống khoái. Tống trưởng lão, Ngô trưởng lão là những tay hảo hán thẳng thắn mau lẹ đã toan cất tiếng hò reo, nhưng nghĩ lại Kiều Phong là giống Khất Đan đại ác, nên đành phải nén lòng. Ai nấy đều tự nhủ: "Có chàng làm bang chủ thì chuyện gì cũng dễ dàng, nếu không, từ nay bước đường sẽ đầy chông gai, Cái Bang chẳng thể duy trì được uy phong như trước nữa."

Lúc đó Vân Trung Hạc gượng đứng lên được, lảo đảo đi ra cửa, cứ ba bước lại thổ ra một ngụm máu. Quần hùng thấy y bị thương nặng nên không ai làm khó nữa, nghĩ thầm: "Gã này chửi mắng bọn mình, chẳng ai làm gì được y, lại phải để Kiều Phong ra tay."

Kiều Phong nói: "Hai vị Du huynh! Hôm nay tại hạ gặp ở đây rất nhiều bằng hữu, nhưng từ nay bạn bè đã trở nên địch thủ cả rồi. Trong lòng tại hạ xiết bao đau xót, mong hai vị cho xin mấy bát rượu."

Mọi người thấy chàng đòi uống rượu đều hết sức kinh ngạc, Du Câu nghĩ thầm: "Để xem y giở trò gì.", rồi lập tức sai người nhà lấy rượu ra. Hôm nay Tụ Hiền Trang mở Anh hùng đại yến, rượu thịt chuẩn bị đầy đủ, nên chỉ giây lát đầy tớ đã mang rượu cùng chén ra.

Kiều Phong nói: "Chén nhỏ thế này làm sao đủ hứng? Xin rót rượu ra bát lớn." Hai tên trang khách bèn đem ra hai cái bát lớn và một vò rượu trắng mới mở nắp, để lên bàn trước mặt Kiều Phong, rồi rót đầy một bát, Kiều Phong nói: "Rót đầy cả hai bát đi." Hai gã đầy tớ theo lời, rót đầy cả bát kia.

Kiều Phong nâng một bát rượu lên nói: "Rất nhiều vị anh hùng tại đây ngày trước đã từng giao thiệp với Kiều mỗ, hôm nay dễ có điều vướng mắc, chi bằng chúng ta cạn chén tuyệt giao. Vị bằng hữu nào muốn giết Kiều mỗ thì xin mời đến đối ẩm một bát, từ nay về sau, giao tình coi như xóa bỏ hết. Kiều mỗ có giết người cũng không phải là vong ân, mà người giết Kiều mỗ cũng không phải là phụ nghĩa. Tất cả anh hùng thiên hạ ở đây đều chứng kiến cho."

Mọi người nghe chàng nói không khỏi rùng mình, trong đại sảnh im lặng như tờ. Ai cũng nghĩ thầm: "Nếu như ta tiến lên uống rượu, rất có thể bị y ám toán. Phách không thần quyền của y đánh ra, làm sao chống đỡ được?" Yên lặng một lúc, đột nhiên một người đàn bà mặc tang phục bước ra, chính là Mã phu nhân, quả phụ của Mã Đại Nguyên. Nàng nâng bát rượu lên, buồn thản nói: "Tiên phu ta táng mạng nơi tay ngươi thì còn tình cố cựu gì nữa?" Nàng đưa bát rượu lên môi nhấp một hớp, nói: "Tửu lượng ta kém không thể uống hết, sinh tử đại cừu cũng như bát rượu này." Nói xong hắt bát rượu xuống đất.

Kiều Phong đưa mắt nhìn thẳng, thấy nàng mi thanh mục tú, tướng mạo khá xinh đẹp. Đêm hôm trước ở trong rừng hạnh, dưới ánh lửa chập chờn chàng nhìn chưa rõ mặt, có ngờ đâu một người đàn bà liễu yếu đào tơ như vậy lại ghê gớm thế. Chàng không nói gì, cầm bát lên uống một hơi cạn sạch, quay sang vẫy tay bảo người nhà lại rót đầy hai bát.

Mã phu nhân lui ra, Từ trưởng lão bước lại, lầm lì bưng rượu uống luôn. Kiều Phong lại uống bát nữa. Đến khi Truyền Công trưởng lão uống xong, Chấp Pháp trưởng lão Bạch Thế Kính bước tới. Lão vừa cầm bát lên, Kiều Phong liền nói: "Khoan đã!" Bạch Thế Kính hỏi: "Kiều huynh có điều gì dặn bảo?" Ông ta trước nay đối với Kiều Phong vẫn một niềm kính cẩn, bây giờ lời lẽ âm điệu cũng chẳng khác xưa, chỉ không gọi là bang chủ mà thôi.

Kiều Phong thở dài: "Chúng ta là huynh đệ đã bấy nhiêu năm, không ngờ ngày nay đã hóa ra cừu địch." Bạch Thế Kính ứa nước mắt nói: "Thân thế Kiều huynh, tại hạ vốn đã nghe đồn đãi, khi đó dù đem chặt đầu cũng quyết không tin, ai ngờ.. ai ngờ lại là thật. Nếu không phải vì chuyện cừu hận quốc gia, Bạch Thế Kính này thà chết cho rồi, không dám coi Kiều huynh là địch thủ." Kiều Phong gật đầu nói: "Ta cũng biết thế. Nhưng bạn bè đã thành cừu địch, lát nữa không khỏi có một trường ác đấu, Kiều Phong này có một việc muốn ủy thác lại cho trưởng lão." Bạch Thế Kính nói: "Miễn là việc đó không liên quan gì đến quốc gia đại sự, Bạch mỗ nhất định sẽ tuân theo." Kiều Phong mỉm cười, chỉ vào A Châu nói: "Các vị huynh đệ Cái Bang, nếu như còn nhớ tới chút công lao nho nhỏ của Kiều mỗ trước kia, xin chiếu cố cho cô nương này được bình an."

Mọi người nghe mấy câu của chàng tựa như trăn trối, lại thấy chàng cùng bằng hữu uống với nhau mỗi người một bát, sau đó sẽ đại chiến một phen. Vô số hào kiệt Trung Nguyên liên hoàn vây đánh, ai cũng biết dù chàng có giết được tám người, mười người, sau cùng cũng không thể thoát chết. Quần hào tuy hận chàng là dòng giống rợ Hồ làm nhiều điều bất nghĩa, nhưng thấy những hành vi nghĩa hiệp khẳng khái kia vẫn không khỏi động lòng hào khí.

Bạch Thế Kính cùng Kiều Phong giao tình rất hậu, nghe chàng nói mấy câu chẳng khác nào di ngôn lúc lâm chung, liền khẳng khái đáp: "Kiều huynh hãy yên tâm. Bạch Thế Kính này thế nào cũng cầu khẩn Tiết Thần Y ra tay chữa trị. Nếu như Nguyễn cô nương đây có mệnh hệ nào, Bạch mỗ sẽ tự vẫn để tạ tội với Kiều huynh," Mấy câu đó quả là minh bạch, giả tỷ Tiết Thần Y không chịu chữa thì lão cũng không thể ép được, nhưng nhất định sẽ hết sức hết lòng.

Kiều Phong nói: "Kiều mỗ đa tạ." Bạch Thế Kính nói: "Đến khi giao thủ, Kiều huynh chẳng cần phải lưu tình. Nếu Bạch mỗ chết dưới tay Kiều huynh thì Cái Bang sẽ có người khác lo liệu cho Nguyễn cô nương." Lão nói xong nâng bát rượu lên uống một hơi cạn sạch. Kiều Phong cũng cầm bát của mình uống cạn.

Kế đó là bọn Tống trưởng lão, Hề trưởng lão của Cái Bang cùng chàng đối ẩm. Khi người của Cái Bang uống rượu tuyệt giao xong rồi, anh hào các bang hội môn phái khác lần lượt đến, mỗi người uống một bát. Mọi người càng lúc càng kinh hãi, xem ra chàng đã uống đến bốn, năm chục bát lớn rồi, một vò rượu to đã hết, người nhà lại khiêng vò khác đến. Thần sắc Kiều Phong vẫn thản nhiên, bụng chỉ hơi phình ra một chút, ngoài ra không thấy gì khác lạ. Ai nấy đều nghĩ "Nếu uống như thế thì say cũng đủ chết, việc gì còn phải ra tay động thủ?"

Ngờ đâu Kiều Phong càng uống thì khí lực càng thêm, hơn nữa mấy hôm nay chàng bị oan khuất quá nhiều, trong lòng buồn bực chưa có chỗ phát tiết. Bây giờ chàng gác hết qua một bên, phóng tâm uống rượu.

Chàng uống cạn năm chục bát lớn rồi, Bào Thiên Linh và Khoái Đao Kỳ Lục cũng đã uống xong, đến lượt Hướng Vọng Hải tiến lên cầm bát rượu nói: "Gã họ Kiều kia! Ta uống với ngươi một bát!" Giọng nói có vẻ vô lễ. Kiều Phong hơi men chếnh choáng, liếc mắt nhìn nói: "Kiều Phong này cùng anh hùng thiên hạ uống rượu là có ý xóa bỏ những ân nghĩa ngày xưa. Còn ngươi có kết giao gì với ta mà cũng đòi uống rượu tuyệt giao?" Nói đến đây, không đợi ý đáp lời, chàng tiến lên một bước vươn tay ra chộp ngay ngực y, hất tay một cái ném ra cửa sảnh. Hướng Vọng Hải va vào bức tường trước mặt nghe "binh" một tiếng, lập tức ngất xỉu. Biến cố đó khiến cho đại sảnh nhốn nháo cả lên.

Kiều Phong nhảy ra giữa viện, lớn tiếng quát: "Ai ra đây tử chiến với ta?" Quần hùng thấy chàng thần oai lẫm liệt, nhất thời không một ai dám xông lên. Kiều Phong lại quát: "Các ngươi không động thủ thì ta ra tay trước." Chàng vung tay lên, bình bình hai tiếng đã có hai người trúng Phách không chưởng ngã lăn ra. Kiều Phong thừa thế xông lên tay đấm chân đá, chỉ chớp mắt lại đánh ngã mấy người nữa.

Du Ký la lên: "Anh em đứng tựa cả vào tường, đừng rối loạn như thế!" Trong đại sảnh tụ tập đến hơn ba trăm người, nếu như cùng hợp công, Kiều Phong có giỏi đến đâu cũng không chống cự nổi. Thế nhưng người nhiều mà đất hẹp, chỉ độ vài chục người đứng gần Kiều Phong, còn đao thương kiếm kích bốn bề múa loạn lên, phần lớn chỉ cốt để phòng giữ cho mình khỏi bị thương. Du Ký vừa hô lên, giữa đại sảnh lập tức giãn ra một khoảng trống.

Kiều Phong quát lên: "Để ta lãnh giáo Du Thị Song Hùng ở Tụ Hiền Trang." Chàng vừa nói vừa vung tay trái lên chụp lấy vò rượu nhắm mặt Du Ký liệng tới. Du Ký liền đưa hai tay chặn lại, định hất sang một bên, ngờ đâu Kiều Phong đã tính sẵn, tay phải lại phóng chưởng nghe ầm một tiếng, chiếc vò liền vỡ tan thành trăm ngàn mảnh. Những mảnh sành đó khá sắc bén, bị chưởng phong cực kỳ lợi hại của Kiều Phong quạt tung ra, thật chẳng khác gì ám khí Kim tiền tiêu. Mặt Du Ký trúng luôn ba mảnh chảy máu đầm đìa, hơn một chục người ở bên cạnh cũng bị vạ lây. Tiếng chửi rủa, kêu la loạn cả lên.

Đột nhiên nơi góc nhà có tiếng một thanh niên kinh hoàng gọi: "Bá phụ! Bá phụ!" Du Ký nhận ra tiếng của Du Thản Chi, đứa con trai duy nhất của em mình, liếc qua thấy trên má y máu me đầm đìa, thì ra cũng bị mảnh vỡ đâm phải, bèn quát lớn: "Cút ngay đi, mi ở đây làm gì?" Du Thân Chi đáp: "Vâng!" Y co người lại nấp sau cột nhà, nhưng vẫn thò đầu ra xem.

Kiều Phong chân trái liền đá một cái, lại thêm một chiếc vò rượu nữa bay vụt ra. Chàng toan phóng chưởng đánh vỡ, bỗng thấy sau lưng có một luồng chưởng lực nhu hòa âm thầm phóng tới. Phát chưởng đó tuy mềm mại ôn nhu, nhưng ẩn tàng nội công cực kỳ hùng hậu. Kiều Phong biết đây phải là một đại cao thủ ra tay, không dám coi thường, vội vàng thu tay về đỡ. Hai người nội lực đụng nhau, đều phải khựng lại. Kiều Phong quay đầu nhìn, thấy y tướng mạo thấp bé xấu xa, chính là kẻ vô danh Triệu Tiền Tôn Lý Chu Ngô Trịnh Vương, gọi tắt là Triệu Tiền Tôn. Chàng nghĩ bụng: "Gã này nội lực khá thật, ta không nên coi thường", bèn hít một hơi chân khí, phóng ra một chưởng nữa mạnh chẳng khác gì bài sơn đảo hải. Triệu Tiền Tôn tự biết một chưởng không chống đỡ nổi, lập tức tung song chương để đối phó với một chưởng của đối phương. Người đàn bà đứng bên cạnh y quát lên: "Sư huynh không muốn sống nữa ư?" Bà vừa nói vừa nắm lấy y nhấc qua một bên tránh được. Thế nhưng chưởng lực của Kiều Phong vẫn ào ào đẩy tới, ba người đứng sau Triệu Tiền Tôn bị bật ngược đập mạnh vào tường khiến cho bức tường rung chuyển. Vôi vữa đất cát bung ra từng mảnh rơi xuống rào rào.

Triệu Tiền Tôn nhìn lại xem ai kéo mình ra, thì chính là Đàm bà, cả mừng nói: "Tiểu Quyên! Nàng đã cứu mạng ta." Đàm bà nói: "Ta sẽ đánh y bên mé tả, sư huynh đánh mé hữu." Triệu Tiền Tôn vừa kịp đáp "được lắm" thì đã thấy một ông già nhỏ bé gầy gò nhảy tới bên Kiều Phong, chính là Đàm công. Y thân hình loắt choắt nhưng nội công thật là hùng hậu. Tay trái vừa đánh ra tay phải đã phóng theo, chưởng trước chưa thu về thì chưởng sau đã đánh tiếp. Y đánh liên hoàn ba chưởng như ba làn sóng xô nhau, chưởng nọ đè chưởng kia khiến cho sức mạnh gấp ba đơn chưởng. Kiều Phong hô lên: "Chiêu Trường Giang Tam Điệp Lãng tuyệt diệu!" Chàng đẩy tả chưởng ra nghênh đón, hai thân hình cùng rung động. Lúc đó Triệu Tiền Tôn và Đàm bà cũng giáp công, rồi lại thêm Từ trưởng lão, Truyền Công trưởng lão, Trần trưởng lão cùng nhảy vào vòng chiến.

Truyền Công trưởng lão kêu lên: "Kiều huynh đệ, Khất Đan và Đại Tống không thể đứng chung, bọn ta phải vì chuyện công mà quên tình riêng. Lão huynh xin đắc tội." Kiều Phong cười đáp: "Bát rượu tuyệt giao đã uống, còn kêu huynh gọi đệ làm gì nữa? Xem chiêu đây!" Chàng nói xong liền phóng ra một cước. Tuy ngoài miệng Kiều Phong nói thế, song trong lòng chàng vẫn chưa quên tình cố cựu. Đối với quần hào Cái Bang chẳng những chàng không muốn giết, mà còn không muốn làm xấu mặt họ trước mọi người, nên ngọn cước đến nửa chừng đột nhiên chuyển hướng. Khoái Đao Kỳ Lục rống một tiếng, vọt lên không.

Không phải y cố ý phi thân mà bị đá trúng mông. Thanh đơn đao trong tay đang vận kình chém xuống đầu Kiều Phong, khi bị hất lên vẫn còn lực đạo, chém ngập vào xà nhà một thước rồi dính cứng vào đấy. Thanh đao đó là vũ khí nổi danh của Khoái Đao Kỳ Lục, hôm nay gã gặp phải cường địch khi nào lại dám bỏ? Tay phải y nắm chặt chuôi đao, thân hình treo lơ lửng trên không. Tình trạng này vừa quái đản vừa buồn cười, nhưng quần hào trong đại sảnh đang chiến đấu trí mạng với Kiều Phong, không ai dám phân tâm để mắt đến Kỳ Lục, cũng không ai rỗi hơi cười một tiếng.

Từ khi Kiều Phong học võ đến nay đã đánh hàng trăm trận chưa chịu thua ai, nhưng bị nhiều cao thủ hợp lực vây đánh nguy hiểm như thế này thì bình sinh chưa gặp. Men rượu bốc lên ngùn ngụt, chàng múa tít song chưởng khiến đối phương không có cách nào đến gần được.

Tiết Thần Y tuy y đạo tinh thông nhưng võ công không thể xếp vào hạng nhất được. Về y thuật, ông ta là một thiên tài siêu việt, dường như không cần học cũng biết. Ông ta cũng học võ từ nhỏ, sư phụ là một nhân vật tiếng tăm lừng lẫy, nhưng năm xưa bỗng dưng Tiết Thần Y cùng bảy anh em đồng môn bị trục xuất khỏi môn phái. Ông đành phải tự mình dùng y

Thuật để trao đổi võ công với người khác, bên đông học một chiêu, bên tây học một thức nên hiểu rộng biết nhiều, trên giang hồ ít ai bằng. Thế nhưng biết rộng về võ thuật cũng có cái hại là vì quá ôm đồm, không môn nào luyện được tới nơi, chẳng khác gì ăn nhiều nhai không kỹ.

Danh tiếng y thuật như thần của ông lừng lẫy khắp nơi, ai cũng kính phục mấy phần. Nhưng mỗi khi ông hỏi đến võ nghệ là người ta đưa đẩy lấy lòng, chẳng ai chịu nói thực. Chính vì thế mà ông không khỏi tự đắc, cứ tưởng rằng võ công thiên hạ mười phần thì mình đã biết được tám chín. Lúc này Tiết Thần Y thấy Kiều Phong đấu với quần hùng, xuất thủ cực nhanh mà chiêu nào cũng cương mãnh phi thường, quả thật dẫu có nằm mơ cũng chẳng thấy. Ông không tưởng tượng được trên đời lại có người bản lãnh ghê gớm đến thế. Tiết Thần Y sợ tái mặt, trống ngực đánh hơn trống làng, không thốt nên lời, không nghĩ đến chuyện xông ra động thủ nữa.

Ông đứng dựa vào tường, mỗi lúc một sợ hãi thêm, đã toan lẳng lặng lẻn ra khỏi đại sảnh nhưng lại không dám, nhìn qua thấy một lão tăng đứng ngay bên cạnh mình, chính là Huyền Nạn. Ông sực nhớ lại một việc hết sức ăn năn nên quay sang nói: "Đại sư phụ! Mới rồi tại hạ có nói một câu vô lễ, xin đại sư miễn trách cho."

Huyền Nạn bao nhiêu tâm trí để cả vào Kiều Phong, không nghe Tiết Thần Y nói gì, phải nghe nhắc lại lần nữa mới ngạc nhiên hỏi lại: "Cư sĩ có nói gì thất lễ đâu?" Tiết Thần Y đáp: "Lúc nãy tại hạ có nói: Kiều huynh một thân một mình vào chùa Thiếu Lâm mà không rụng một sợi tóc, lại còn bắt được một vị cao tăng đem đi, quả thật là lạ." Huyền Nạn hỏi lại: "Thế thì đã sao?" Tiết Thần Y bẽn lẽn đáp: "Võ công Kiều Phong cao đến độ trên thế gian ít người bì kịp. Đến lúc này tại hạ mới biết y vào chùa Thiếu Lâm bắt được người là phải, quả khó mà ngăn trở."

Bản ý Tiết Thần Y nói câu này để xin lỗi Huyền Nạn. Song đại sư nghe xong lại càng khó chịu, bèn hừ một tiếng nói: "Phải chăng Tiết Thần Y muốn khảo sát võ công của phái Thiếu Lâm?" Ông không đợi trả lời, từ từ bước ra khẽ phất tay áo rộng thùng thình, kình phong phát ra vù vù đánh thẳng vào Kiều Phong. Đó là một trong bảy mươi hai tuyệt kỹ của phái Thiếu Lâm tên là Tụ Lý Càn Khôn, tay áo phất lên che khuất quyền kình từ bên dưới đánh ra. Xưa nay Thiếu Lâm Tự vẫn lấy chuyện tham thiền học Phật là gốc, còn luyện võ tập quyền là ngọn, chỉ giận dữ bực bội cũng là phạm giới, huống hồ ra tay đánh nhau? Thế nhưng chùa Thiếu Lâm là nguồn gốc của võ học thiên hạ mấy trăm năm qua, làm sao tránh né việc chiến đấu được. Môn Tụ Lý Càn Khôn này giấu quyền trong tay áo thật là kín đáo, đối phương không thể phán đoán được hướng đánh nên khó mà đỡ cho kịp. Hơn nữa, kình lực của cánh tay áo đó cũng ghê gớm, nếu kẻ địch đem hết tinh thần chú ý vào quyền chiêu giấu bên trong, thì vị đại sư sẽ biến khách thành chủ, dùng tụ lực đả thương người.

Kiều Phong thấy đòn đánh tới, hai cánh tay áo rộng căng phồng như hai cánh buồm no gió, uy thế cực kỳ mãnh liệt, bất giác lớn tiếng: "Tụ Lý Càn Khôn quả là ghê gớm!" Chàng vừa hô vừa phóng một chưởng, trúng vào tay áo nhà sư. Tụ lực của Huyền Nạn trải ra một khoảng rộng, còn chưởng lực của Kiều Phong tập trung theo một đường nên khi hai luồng lực đạo chạm nhau chỉ nghe phần phật mấy tiếng, rồi trong đại sảnh xuất hiện một đàn bướm màu xám tro.

Quần hùng cả kinh, nhìn kỹ lại thì ra đàn bướm đó chính là những mảnh tay áo Huyền Nạn bị bay tung lên. Ai cũng quay lại nhìn ông, thấy áo rách đến tận nách để lộ hai cánh tay gầy guộc dài ngoẵng, trông rất khó coi. Thì ra nội kình hai người xung kích, hai cánh tay tăng bào không chịu nổi, lập tức nát vụn ra.

Chỉ qua một chiêu, Huyền Nạn mất hai ống tay áo, tụ lý không còn tất nhiên càn khôn cũng mất. Nhà sư giận muốn phát điên, sắc mặt xám xanh, có ngờ đâu tuyệt kỹ thành danh của mình bị Kiều Phong phá tan tành. Ông quả là mất mặt, liền múa tít song quyền tấn công tới tấp. Mọi người ai ai cũng biết đây chính là Thái Tổ Trường Quyền lưu hành rộng rãi trong dân gian. Tống Thái Tổ Triệu Khuông Dẫn chỉ nhờ vào một đôi quyền, một cây bổng mà thu được giang sơn cẩm tú, lập nên nhà Đại Tống. Các vị hoàng đế từ xưa tới nay không có ai thần dũng như Tống Thái Tổ, cho nên hai môn Thái Tổ Trường Quyền và Thái Tổ Bổng là phổ biến nhất thời đó, dẫu người chưa tập mà nhìn thấy cũng biết ngay.

Quần hùng thấy vị cao tăng Thiếu Lâm lừng danh lại sử thứ quyền pháp rất thông thường chẳng có chi kỳ dị thì không khỏi ngạc nhiên. Nhưng khi lão tăng đánh ra ba quyền rồi, ai nấy đều phải trầm trồ: "Phái Thiếu Lâm nổi tiếng không phải ngẫu nhiên. Chỉ một chiêu Thiên Lý Hoành Hành ai cũng biết mà ông ta đánh ra uy lực đến thế." Quần hào bội phục, nên cái hình ảnh tăng bào rách nát của Huyền Nạn không ai để ý đến nữa.

Khi Huyền Nạn xuất thủ, mấy chục người đang vây đánh Kiều Phong đều biết không tiện giáp công, lùi lại hết, chỉ bao vây trùng điệp đề phòng Kiều Phong tẩu thoát, ngưng thần quan sát hai bên quyết chiến.

Kiều Phong thấy mọi người lùi ra xem, trong bụng nảy ra một ý, hô lên một tiếng đánh ra chiêu Xung Trận Trảm Tướng, cũng ở trong Thái Tổ Trường Quyền. Chàng xuất chiêu đó trông nhẹ nhàng ung dung mà kình lực gồm đủ cả nhu lẫn cương. Quyền thuật đạt đến mức hoàn mỹ thì chỉ một chiêu cũng đủ thấy. Những người đến tham dự đại hội Anh hùng yến, nếu võ công không cao cường thì kiến thức cũng quảng bác, chỗ tinh yếu trong Thái Tổ Trường Quyền không ai không biết. Kiều Phong vừa ra chiêu, mọi người bất giác bật lên tiếng reo hò khen ngợi.

Sau khi buột miệng hoan hô, nhiều người cảm thấy hối hận vì nhớ ra Kiều Phong là một kẻ đại địch. Reo hò như thế là cổ võ nhuệ khí đối phương mà tiêu giảm oai phong bên mình. Thế nhưng tiếng hò reo đã ra khỏi miệng rồi không thu về được nữa. Kiều Phong đánh ra chiêu thứ hai Hà Sóc Lập Uy cũng tinh diệu đến chỗ cùng cực, so với chiêu thứ nhất thực khó mà phân biệt được chiêu nào hay hơn chiêu nào, trong đại sảnh lại có một phen hô hoán. Nhiều người đã cảnh giác nên tiếng hò reo không vang dội như lần thứ nhất, nhưng cũng lắm tiếng xuýt xoa nho nhỏ "Ái chà!", "Ôi chao!".. nghe còn sướng tai hơn lớn tiếng tán dương. Ban đầu Kiều Phong cùng mọi người ác đấu, quần hùng chỉ chuyên tâm chống đỡ, sợ chàng đánh đòn hung mãnh. Lúc này tạm thời bàng quan đứng xem mới thấy rõ võ công chàng tinh diệu tuyệt luân.

Kiều Phong và Huyền Nạn trao đổi được bảy tám chiêu, ai cao ai thấp đã rõ. Hai người đều sử dụng những quyền chiêu bình thường không có gì kỳ lạ, nhưng Kiều Phong chiêu nào cũng nhường cho Huyền Nạn ra tay trước. Huyền Nạn xuất chiêu rồi, Kiều Phong mới trả đòn, nhưng không hiểu vì chàng tuổi trẻ tráng kiện, hay là thân thủ nhanh nhẹn hơn mà chiêu nào cũng ra sau tới trước. Thái Tổ Trường Quyền vốn chỉ có sáu mươi tư chiêu, chiêu nào cũng khắc chế lẫn nhau, Kiều Phòng nhìn rõ quyền chiêu của đối phương rồi sau đó mới ra chiêu áp đảo thì làm gì mà Huyền Nạn chẳng thua? Đạo lý đó ai mà chẳng biết, thế nhưng dám đem bốn chữ Hậu Phát Chế Nhân áp dụng vào một đại cao thủ như Huyền Nạn, mọi người nếu không chính mắt thấy thì không thể nghĩ đến.

Huyền Tịch thấy Huyền Nạn che tả đỡ hữu rõ ràng không địch nổi, liền quát mắng: "Ngươi là giống chó má Khất Đan, dùng thủ đoạn ti tiện." Kiều Phong thản nhiên đáp: "Tại hạ sử dụng quyền pháp chính tông của Thái Tổ bản triều, sao đại sư lại dùng hai chữ ti tiện?"

Quần hùng nghe nói thế liền hiểu ngay vì sao chàng lại sử Thái Tổ Trường Quyền. Nếu Kiều Phong dùng một loại võ công khác để đánh bại Thái Tổ Trường Quyền, mọi người sẽ đổ tội cho chàng là làm nhục võ công khai quốc của Thái Tổ, càng làm sâu thêm thù nghịch Hồ Hán phân tranh. Đằng này cả hai bên đều sử Thái Tổ Trường Quyền thì ngoài việc so sánh võ công cao thấp, không còn chỗ nào để nhiếc móc nữa.

Huyền Tịch thấy Huyền Nạn chỉ trong chớp mắt nữa là nguy hiểm đến tính mạng, không nói gì, vèo một tiếng phóng chỉ nhắm ngay huyệt Tuyền Cơ của Kiều Phong, chính là tuyệt kỹ điểm huyệt của phái Thiếu Lâm có tên là Thiên Trúc Phật Chỉ.

Kiều Phong vừa nghe tiếng gió liền nghiêng người tránh né, nói: "Kiều mỗ ngưỡng mộ danh tiếng của Thiên Trúc Phật Chỉ đã lâu, quả nhiên lợi hại! Tuy nhiên đại sư dùng võ công của người Hồ Thiên Trúc, tấn công quyền pháp của Thái Tổ bản triều, lỡ mà thắng được tại hạ thì há chẳng mang tiếng thông Phiên mại quốc, làm nhục Trung Hoa hay sao?" Huyền Tịch nghe thế bất giác rùng mình. Hôm nay quần hùng vây đánh Kiều Phong chỉ vì cho rằng chàng là rợ Hồ Khất Đan. Võ công phái Thiếu Lâm do Đạt Ma lão tổ truyền thụ, mà Đạt Ma lại là người Hồ ở Thiên Trúc. Tuy nhiên phái Thiếu Lâm lập nên ở Trung Thổ, mọi môn phái của Trung Quốc đều có liên quan ít nhiều đến phái Thiếu Lâm, nên mọi người cơ hồ đã lãng quên mối liên quan đó. Bây giờ nghe Kiều Phong nói ra, ai nấy trong lòng chấn động.

Trong quần hùng nhiều người có kiến thức, không khỏi nghĩ: "Chúng ta kính trọng Đạt Ma lão tổ như một vị thần minh, sao lại hận người Khất Đan đến tận xương tủy, cả hai đâu cùng dòng giống với mình? Ồ, bởi vì hai giống đó khác nhau xa. Người Thiên Trúc xưa nay đâu có giết hại người Trung Quốc, còn người Khất Đan thì hung dữ như lang sói. Như vậy không phải cứ thấy người Hồ là giết, cũng còn phải phân biệt thiện ác nữa. Thế thì bọn Khất Đan kia liệu có ai là người tốt hay không?" Lúc đó trong đại sảnh đang hồi kịch đấu, số đông thô lỗ không biết suy nghĩ thì chẳng nói làm gì, còn những người hiểu biết suy nghĩ đến đó rồi cũng bỏ qua, trong lòng chỉ băn khoăn: "Kiều Phong chưa hẳn đáng giết, cái lý của bên mình cũng chưa hẳn chắc như đinh đóng cột."

Huyền Nạn, Huyền Tịch lấy hai địch một mà vẫn thủ nhiều công ít. Huyền Nạn thấy Thái Tổ Trường Quyền của mình chiêu nào cũng bị khống chế, trói chân trói tay không thi triển được, đến lúc Huyền Tịch xông vào tấn công lập tức biến đổi quyền pháp sang La Hán Quyền của phái Thiếu Lâm.

Kiều Phong cười nhạt nói: "La Hán Quyền cũng do người Hồ Thiên Trúc đem sang. Để xem võ công người Hồ lợi hại hay võ công Đại Tống lợi hại." Chàng vừa nói vừa liên tiếp đánh ra mấy đòn Thái Tổ Trường Quyền nghe vù vù. Mọi người đều không biết phải cãi thế nào. Quần hào đến vây đánh chỉ vì đối phương là người Hồ, thế nhưng bên mình thì lại dùng võ công gốc tích Phiên bang, còn chính y lại sử dụng trường quyền do Thái Tổ bản triều sáng tạo.

Bỗng nghe Triệu Tiền Tôn lớn tiếng hò hét: "Gã này giết cha, giết mẹ, giết thầy, sử dụng quyền pháp gì thì cũng đáng chết. Tất cả mọi người cùng tiến lên đi." Y miệng thì la, chính mình cũng xông vào đầu tiên. Kế đó Đàm công, Đàm bà, Từ trưởng lão, Trần trưởng lão của Cái Bang rồi cha con nhà Thiết Diện Phán Quan họ Đơn.. tất cả đến mấy chục người cùng ùa lên. Những người đó đều là hảo thủ võ công cao cường, đông mà không loạn, người này lên thì kẻ kia xuống chẳng khác gì xa luân chiến.

Kiều Phong múa chưởng đánh ra, vừa đánh vừa nói: "Các vị bảo ta là người Khất Đan, thế thì Kiều Tam Hòe phu phụ có phải cha mẹ ta đâu. Chưa nói tới chuyện ta cực kỳ kính ái hai vị lão nhân gia tuyệt không có ý gia hại, mà dù ta có giết thì cũng không thể đổ lên đầu ta cái tội giết cha, giết mẹ được. Huyền Khổ đại sư là thu nghiệp ân sư của ta, nếu buộc tội ta giết thầy, thì Kiều mỗ phải là đệ tử Thiếu Lâm, các vị sao lại vây đánh một đệ tử Thiếu Lâm?"

Huyền Tịch hừ một tiếng, nói: "Ngươi chỉ giành phần phải về mình, cưỡng từ đoạt lý." Kiều Phong đáp trả ngay: "Nếu đã giành được phần phải thì không thể gọi là cưỡng từ đoạt lý. Nếu các vị không thừa nhận ta là đệ tử Thiếu Lâm thì không thể đổ cái tội giết thầy lên đầu ta được. Các vị muốn giết ta thì cứ quang minh lỗi lạc ra tay, việc gì phải đổ lên đầu ta vô số tội ác? Thế mới là cưỡng từ đoạt lý" Chàng miệng nói hùng hồn mà tay chân không ngừng chút nào, tay đấm Đơn Thúc Sơn, chân đá Triệu Tiền Tôn, khuỷu thúc một đại hán áo xanh chưa gặp, chưởng đánh một ông già râu bạc quên mất tên, vừa nói vừa đánh luôn bốn người. Kiều Phong biết những người này không phải là phường gian ác nên hạ thủ vẫn lưu tình, đã mười bảy mười tám người trúng đòn nhưng không ai đến nỗi chí mạng. Còn với huynh đệ Cái Bang thì lại càng lịch sự, Từ trưởng lão vừa xông đến, chàng liền né ra chỗ khác. Thế nhưng đối phương đông người quá, đánh ngã mười người thì lại có một chục đầy sinh lực xông vào thay thế. Một lát sau Kiều Phong nghĩ thầm: "Nếu cứ đánh mãi thế này trước sau gì mình cũng kiệt sức, tìm cách chạy trước đi là hơn." Chàng vừa ra chiêu vừa tìm đường đào tẩu.

Triệu Tiền Tôn đang nằm dưới đất không cử động được, nhưng vẫn phát hiện ra ý định của Kiều Phong, liền lớn tiếng nói: "Mọi người cố gắng lấy mạng tên chó má này, đừng để trốn thoát." Kiều Phong chiến đấu đang hăng, hơi rượu bốc lên cùng với lửa giận mỗi lúc một cao. Nghe Triệu Tiền Tôn lên tiếng nhục mạ mình, không kiềm chế được nữa, chàng quát lớn: "Thằng chó má này lấy mạng ngươi đầu tiên." Kiều Phong vừa quát vừa vận kình vào cánh tay, phóng Phách Không Chưởng nhằm đánh Triệu Tiền Tôn. Huyền Nạn và Huyền Tịch cùng kêu lên: "Nguy mất!" Hai người lập tức đưa tay phải đỡ phát chưởng của Kiều Phong để cứu mạng Triệu Tiền Tôn.

Bỗng từ trên không một bóng người thấp thoáng rồi có tiếng kêu rống lên thảm thiết. Người này trước ngực trúng chưởng của Huyền Nạn, Huyền Tịch, sau lưng trúng Phách Không Chưởng của Kiều Phong, ba luồng lực đạo cùng ép lại, khiến y gân cốt đứt đoạn, phủ tạng tan nát, phun máu miệng ra, nằm mềm oặt dưới đất như một đống bùn.

Biến cố này làm cho Huyền Nạn, Huyền Tịch phải kinh hãi, cả Kiều Phong cũng không khỏi ngạc nhiên. Thì ra đó chính là Khoái Đao Kỳ Lục. Y treo lơ lửng trên không cũng đã lâu, cố đong đưa người cho thanh đao bập vào xà nhà lỏng ra. Lúc y rơi xuống lại vừa đúng lúc ba người dùng toàn lực phóng chưởng, thật chẳng khác nào kê giữa đe sắt với búa tạ thì làm gì mà không nát người ra?

Huyền Nạn nói: "A Di Đà Phật! Thiện tại! Thiện tai! Kiều Phong, ngươi lại gây thêm đại nghiệt." Kiều Phong cả giận nói: "Ta chỉ giết gã có một nửa, sư huynh đệ các người hợp lực lại giết gã một nửa. Sao lại đổ cả cho ta?" Huyền Nạn đáp: "A Di Đà Phật! Tội nghiệt! Tội nghiệt! Nếu ngươi không hại người trước thì làm gì có trận đấu ngày hôm nay?".

Kiều Phong càng giận dữ nói: "Được lắm! Mọi việc cứ trút hết vào ta đi, thế thì đã sao?" Trong lúc ác chiến, tính hung dữ nổi lên, Kiều Phong tung hoành chẳng khác gì một con mãnh thú. Chàng vung tay phải chộp trúng một người chính là Đơn Trọng Sơn, đứa con trai thứ của Đơn Chính, tay trái đoạt lấy đơn đao trong tay y rồi cầm đập xuống một cái, đầu Đơn Trọng Sơn nát bét chết ngay tại chỗ. Quần hùng la lối om sòm, vừa kinh hãi vừa căm giận.

Kiều Phong giết người rồi, ra tay lại càng điên cuồng, tay phải khi vung quyền khi phóng chưởng, tay trái cầm đơn đao khi phạt ngang khi chém xuống, uy thế cực kỳ mãnh liệt không ai đương cự nổi. Mấy bức tường trắng nhòe nhoẹt đầy máu tươi, dưới nền đại sảnh ngổn ngang xác chết, kẻ thì đầu một nơi mình một nẻo, kẻ thì cụt chân lòi ruột. Lúc này chàng không thể nghĩ đến tình cố cựu Cái Bang nữa, cũng chẳng còn nhìn xem đối thủ là ai, mắt đỏ long lên sòng sọc, gặp ai giết nấy. Hề trưởng lão cũng bỏ mạng dưới lưỡi đao của chàng.

Hào kiệt đến dự Anh hùng yến, mười phần thì tám chín đã từng giết người, nổi tiếng võ lâm không phải chỉ nhờ vào giao du, nịnh nọt. Dù ai chưa chính tay giết người thì việc sát nhân phóng hỏa cũng đã thấy nhiều. Thế nhưng cuộc ác đấu kinh tâm động phách như hôm nay thì bình sinh chưa ai thấy qua. Địch nhân chỉ có một người nhưng nửa như mãnh thú, nửa như ma quỉ, thoắt ở bên này thoắt qua bên kia chém giết lung tung. Rất đông cao thủ tiến lên tiếp chiến đều bị chàng dùng những chiêu thức vừa nhanh nhẹn, vừa mạnh bạo, vừa độc địa, vừa tinh vi đánh chết. Địch thủ như con mãnh hổ điên cuồng, võ công lại không ai địch nổi, trong đại sảnh máu huyết vung vãi xác người ngổn ngang, tai nghe tiếng người sắp chết kêu la thảm thiết, tuy quần hùng không phải là hạng nhát gan sợ chết mà có đến già nửa muốn tháo chạy ra khỏi đại sảnh, dù Kiều Phong có tội hay vô tội cũng không dây dưa gì nữa.

Du Thị Song Hùng thấy tình hình bất lợi, hai người tay trái cầm khiên, tay phải cầm đoản thương, đơn đao, hô lên một tiếng, múa khiên hộ thân xông vào hai bên tả hữu Kiều Phong. Kiều Phong đang lúc cuồng đả loạn sát không còn kiêng nể gì nữa, song vẫn chú ý nhìn chiêu thức đối phương, tâm ý không loạn chút nào nên vẫn giữ được chưa bị thương. Chàng thấy hai anh em họ Du tấn công tư thế độc địa, lập tức vù vù chém hai người hai bên ngã xuống để chiếm lấy tiên cơ, rồi xông vào tấn công Du Ký. Đao của chàng vừa chém xuống, Du Ký liền đưa khiên lên đỡ, nghe choang một tiếng, đơn đao của Kiều Phong bật trở lại, lưỡi dao quằn lên không còn dùng được nữa. Hai chiếc khiên của anh em họ Du đúc bằng thép nguyên chất bảo kiếm cũng không chặt nổi, huống chi trong tay Kiều Phong chỉ có một thanh cương đao tầm thường đoạt được trong tay Đơn Trọng Sơn?

Du Ký múa khiên gạt được binh khí địch rồi, ngọn đoản thương trong tay liền sử thế Độc Xà Xuất Động, luồn dưới khiên ra, đâm vào bụng dưới Kiều Phong. Cùng lúc đó hàn quang lấp loáng, chiếc khiên trong tay Du Câu cũng quét vào hông đối phương.

Kiều Phong nhanh mắt nhìn thấy mép chiếc khiên cực kỳ sắc bén chẳng khác gì một lưỡi đại phủ hình tròn, nếu bị quét trúng thân hình chắc chắn đứt đôi, quả là lợi hại vô cùng. Chàng liền quát lên "giỏi lắm!" rồi quăng thanh đao mẻ đi, hai tay đấm hai quyền vào giữa đôi khiên của hai đối thủ nghe choang choảng hai tiếng lớn. Du Thị Song Hùng thấy thân trên tê buốt, bị một quyền vô cùng hùng hậu của Kiều Phong làm chấn động đến mắt nổ đom đóm, hai cánh tay ê ẩm cầm không vững, cặp khiên cùng thương đao bốn món binh khí loảng xoảng rơi xuống. Tay trái hai người đều bị toạc hổ khẩu, máu chảy đầm đìa.

Kiều Phong cả cười nói: "Tốt lắm! Để hai món lợi khí này cho ta!" Chàng cướp lấy hai chiếc khiên, múa lên che đỡ. Cặp cương thuẫn này quả là khí giới vừa, công vừa thủ cực kỳ lợi hại, chỉ nghe mấy tiếng rú "Trời ơi!" "Chao ôi!" đã có năm người chết vì hai chiếc khiên.

Du Thị huynh đệ mặt mày xám ngoét, thần khí không còn. Du Ký kêu lên: "Hiền đệ! Sư phụ đã dạy rằng khiên còn người còn, khiên mất người chết." Du Câu cũng đáp lại: "Đại ca! Hôm nay anh em mình thật là đại nhục, còn mặt mũi nào sống ở trên đời?" Hai người nhìn nhau gật đầu một cái, nhặt lấy đao thương của mình đâm cổ tự vẫn. Quần hùng cùng kêu lên: "Ối chà!" Thế nhưng đang lúc Kiều Phong múa cương thuẫn như gió cuốn, chẳng ai dám tới gần, mà dẫu có người dám cũng chẳng thể nhảy vào để cứu viện Du Thị huynh đệ được. Chỉ nghe tiếng một thanh niên khóc rống lên: "Gia gia! Bá phụ!" Chính là Du Thản Chi, con trai Du Câu..

Kiều Phong sững sờ, không ngờ Du Thị huynh đệ của Tụ Hiền Trang lại tự sát. Chàng cảm thấy sống lưng ớn lạnh, hơi men tiêu đi quá nửa, trong lòng không khỏi bàng hoàng, nói: "Du gia huynh đệ sao lại phải tự vẫn? Ta trả lại các vị đôi cương thuẫn này." Nói xong, chàng cung kính đặt hai chiếc khiên cạnh xác của Du Thị Song Hùng.

Kiều Phong vừa cúi xuống chưa kịp đứng lên, bỗng nghe có tiếng một thiếu nữ kinh hãi la lên: "Cẩn thận!" Chàng lập tức nhích qua bên trái, ánh sáng xanh lấp loáng, một thanh kiếm đâm vụt ngang hông.

Giả tỷ A Châu không kêu lên, chiêu kiếm đó cũng chưa chắc đâm trúng, nhưng thể nào chân tay chàng cũng luống cuống, mất thế thượng phong. Người đánh lén chính là Đàm công, lão đâm không trúng liền vội vàng nhảy ra thật xa.

Trong khi Kiều Phong giao chiến với quần hùng thì A Châu nép tại một góc sảnh, nguyên khí trong người dần dần tiêu tán. Nàng thấy mọi người vây đánh Kiều Phong, nghĩ thầm: "Kiều đại gia đã biết là hung hiểm mà vẫn dấn thân đưa mình tới đây xin chữa bệnh. Ơn đức ấy dù ta tan xương nát thịt cũng khó mà báo đáp.". Nàng trong lòng cảm kích, lúc thấy Kiều Phong trả lại cương thuẫn bất giác lo lắng, khi thấy Đàm công đánh lén liền kêu lên cảnh giác.

Đàm bà giận dữ nói: "Con tiểu quỷ này gớm thật! Ta không giết mi thì mi còn nối giáo cho giặc." Bà ta lạng người đi một cái, vung chưởng đánh xuống đỉnh đầu A Châu. Phát chưởng còn cách nửa thước thì Kiều Phong đã tung mình nhảy tới, chộp ngay lưng bà xô mạnh qua một bên, đụng "uỳnh" vào một chiếc ghế bành bằng gỗ lê, ghế vỡ vụn ra từng mảnh. A Châu tuy chưa bị trúng chưởng, nhưng bỗng mặt mày xám ngắt, người nhũn ra quỵ dần xuống Kiều Phong kinh hoàng nghĩ thầm: "Trong người nàng lại hết chân khí rồi. Ta đang bị vây đánh rát thế này, làm sao mà tiếp chân khí cho nàng được?"

Tiết Thần Y cất tiếng lạnh lùng nói: "Cô nương này chỉ lát nữa là chân khí tiêu tán hết. Ngươi có truyền nội lực cho cô ta nữa không? Nếu để tuyệt khí đứt hơi rồi thì thần tiên cũng không cứu sống lại được nữa." Kiều Phong lâm vào cảnh khó xử, biết Tiết Thần Y nói vậy là đúng sự thật. Nhưng nếu mình ra tay giúp đỡ A Châu thì bao nhiêu món binh khí của quần hùng chung quanh sẽ nhắm mình mà phóng tới. Trong đám này kẻ thì chết con, người thì mất bạn bè, ra tay còn dung tình gì nữa? Thế nhưng đứng giương mắt nhìn nàng đoạn khí mà chết thì cũng không xong.

Chàng mạo hiểm đưa A Châu đến Tụ Hiền Trang, đã không được Tiết Thần Y ra tay chữa trị, lại để chết vì hết chân khí thì quả là đáng tiếc. Thế nhưng nếu lúc này chàng lại truyền chân khí giữ mạng cho cô ta thì đúng là đem một mạng đổi một mạng. A Châu bất quá chỉ là một cô thị tỳ giữa đường gặp gỡ, cũng chưa có gì gọi là giao tình, chàng ra tay cứu giúp chỉ là hành vi nghĩa hiệp bình thường, nếu đem mạng mình đổi lấy mạng cô ta, thì quả là hơi quá đáng. Kiều Phong nghĩ thầm: "Cô ta chẳng phải thân nhân, cũng không phải có ơn nghĩa gì với mình mà cần báo đáp, mình cố đến thế này cũng đã là hết lòng hết dạ rồi. Ta phải bỏ chạy ngay, Tiết Thần Y có cứu cô ta hay không thì trông vào vận số."

Kiều Phong liền cúi xuống nhặt đôi cương thuẫn lên lại, sử chiêu Đại Bằng Triển Xí, hai luồng bạch quang lấp loáng cuồn cuộn bọc quanh mình, từ từ tiến ra cửa sảnh. Quần hùng tuy đông người thật nhưng chiêu số của Kiều Phong ghê gớm, đôi khiên lợi hại vô cùng, thành ra không ai dám tới gần hơn một trượng. Chàng tiến được mấy bước, chân vừa đặt vào ngạch cửa, bỗng nghe giọng nói lạnh tanh của một lão già: "Giết con thị tì này trước đã, rồi sau sẽ báo thù!" Chính là tiếng Thiết Diện Phán Quan Đơn Chính. Đứa con trưởng của ông ta là Đơn Bá Sơn liền đáp: "Vâng!" Y vung đơn đao nhắm ngay đầu A Châu chém xuống.

Kiều Phong cực kỳ kinh ngạc, không suy nghĩ gì nữa, lia chiếc khiên bên trái ra. Cương thuẫn xoay vòng vòng bay tới, thế đi vô cùng mãnh liệt. Bảy tám người đồng thanh la lên: "Coi chừng!" Đơn Bá Sơn vội vàng thu đao về đỡ gạt, thế nhưng hình lực Kiều Phong ném ra thật ghê gớm, cạnh chiếc khiên lại sắc bén vô cùng, chỉ nghe một tiếng choảng, cả người lẫn đao của Đơn Bá Sơn đứt làm hai đoạn, Dư lực của cương thuẫn vẫn còn, tiếp tục bay tới chặt đứt thêm một cái cột, ngói trên mái nhà loảng xoảng rơi xuống.

Đơn Chính và ba đứa con còn lại đau lòng kêu rống lên. Thấy Kiều Phong lẫm lẫm thần uy, không ai dám công kích, nhưng sáu bảy người xông vào A Châu. Kiều Phong cất tiếng mắng: "Thật là đồ hèn mạt!" Veo véo liên tiếp bốn chưởng, chàng đánh dạt bọn đó ra rồi sấn lên, tay trái ôm A Châu, lấy chiếc khiên che cho nàng.

A Châu thều thào: "Kiều đại gia! Tiểu nữ không sống được nữa rồi, đừng lý tới nữa. Đại gia mau mau tẩu thoát đi."

Kiều Phong thấy bọn này chẳng còn nghĩ gì tới công đạo, cả đám xông vào hiếp đáp một cô gái yếu đuổi đang hấp hối. Chàng nổi cơn cao ngạo, lớn tiếng nói: "Đã đến nước này, bọn chúng không để cho cô sống đâu. Chúng ta cùng chết nơi đây vậy." Kiều Phong lại xoay tay phải cướp được một thanh trường kiểm, đâm chém tứ tung. Tay trái chàng ôm A Châu nên cử động không thuận lợi, lại thiếu đi một cánh tay để sử dụng. Thế nhưng Kiều Phong đã đến lúc không coi sống chết vào đâu nữa, múa tít thanh trường kiếm rảo bước đi ra. Vừa đi được hai bước, lưng bỗng đau nhói lên, thì ra đã bị người nào đó chém trúng một đao rồi.

Kiều Phong liền phóng chân đi ngược về sau, hất kẻ đó văng ra một trường đụng vào một người khác, cả hai cùng chết ngay. Thế nhưng ngay lúc đó, vai của chàng lại bị đâm một mũi thương, rồi ngực lại bị đâm một kiếm. Chàng gầm lên một tiếng như sấm nổ, quát lớn: "Kiều Phong này biết tự xử lấy mình, quyết không để chết vào tay lũ chuột."

Nhưng quần hùng đang đắc thắng, khi nào chịu để chàng tự vẫn, hơn chục người cùng xông lên. Kiều Phong phấn khởi thần uy, tay phải vươn ra chộp trúng huyệt Đản Trung của Huyền Tịch, thuận tay giơ cao nhà sư lên. Mọi người kêu lên một tiếng, bất giác cùng lùi lại mấy bước.

Huyền Tịch đã bị nắm trùng yếu huyệt rồi, dẫu võ công cao cường nhưng toàn thân tê liệt, không còn cử động gì được. Nhà sư thấy yết hầu mình chỉ còn cách cương thuẫn chừng một thước, Kiều Phong chỉ nhích tay một cái là đầu ông sẽ bị cắt đứt ngay, nên chỉ còn nước thở dài nhắm mắt chờ chết.

Kiều Phong cảm thấy sau lưng, ngực phải, vai phải, ba chỗ bị thương cùng đau buốt như bị lửa đốt, lửa giận hạ xuống, bình tĩnh lại, liền nói: "Bản lĩnh của ta khởi đầu từ Thiếu Lâm Tự mà ra. Uống nước phải nhớ nguồn, không lẽ lại hạ sát cao tăng phái Thiếu Lâm? Hôm nay Kiều mỗ đằng nào cũng chết, giết thêm một người cũng chẳng ích gì." Nói xong ông ném Huyền Tịch xuống đất, giang tay ra lớn tiếng nói: "Các ngươi ra tay đi!"

Quần hùng nhìn nhau ngơ ngác, bị hào khí của chàng làm cho sững sờ, nhất thời không ai muốn động thủ. Lại có người nghĩ thầm: "Đến như Huyền Tịch lúc này y còn không muốn giết, lẽ nào lại ám hại sư phụ là Huyền Khổ đại sư?"

Thế nhưng Đơn Chính mới bị Kiều Phong giết chết hai đứa con trai, thương tâm phấn khích, liền sấn lên vùng dao đâm thẳng vào ngực chàng. Kiều Phong biết mình đã bị trọng thương, không còn cách nào xung sát ra khỏi trùng vi, nên đứng yên không cử động. Chỉ trong chớp mắt, trong đầu chàng xoay chuyển rất nhiều, tự hỏi: "Thực ra ta là người Khất Đan hay người Hán? Kẻ nào ám hại cha mẹ cùng sư phụ ta? Ta một đời hành động nghĩa hiệp, sao hôm nay vô duyên vô cớ sát hại bấy nhiêu anh hùng hiệp sĩ? Ta chỉ vì muốn cứu A Châu mà để cho mình chết uổng, có phải là ngu muội đáng cho anh hùng thiên hạ chê cười hay không?"

Trước mắt chàng chỉ còn khuôn mặt đen sì của Đơn Chính uốn éo biến dạng, hai mắt trợn trừng, thanh đao sắp cắm vào ngực mình. Kiều Phong vừa đau lòng vừa phẫn nộ, ngửa mặt lên trời hú lên một tiếng như tiếng rống của mãnh thú sắp lìa trần.

Comments

0 comments

Trước Tiếp
 
34,431 ❤︎ Bài viết: 2241 Tìm chủ đề
Hồi 20: Chữ trên vách đá đã mòn - Hình xăm trước ngực vẫn còn trơ trơ

Tiếng hú của Kiều Phong làm Đơn Chính muốn điếc cả tai, đầu óc lùng bùng, chân lảo đảo đứng không vững, quần hùng bất giác cũng lùi lại mấy bước. Đơn Tiểu Sơn đứng gần đó lập tức xông lên giơ đao đâm tới. Mũi đao chỉ còn cách ngực Kiều Phong chừng một thước mà chàng không hề có ý tránh né. Bọn Ngô trưởng lão, Bạch Thế Kính của Cái Bang đều nhắm mắt lại không nỡ nhìn cảnh tượng bi thảm.

Đột nhiên từ trên không nghe vụt một tiếng, một người nhào xuống cực kỳ nhanh nhẹn, rơi ngay vào sống đao của Đơn Tiểu Sơn. Y không gượng nổi, phải hạ thấp tay đao xuống. Quần hùng đang la lên những tiếng kinh ngạc, thì từ trên không lại nhào xuống một người nữa, đầu xuống trước, chân xuống sau, cũng thật là mau lẹ. Nghe bốp một tiếng, đầu gã này va vào đầu Đơn Tiểu Sơn, cả hai cái đầu liền vỡ nát.

Quần hùng định thần nhìn lại thì hai người nhào xuống đều là hảo hán đứng trên mái nhà canh chừng Kiều Phong đào tẩu, chắc là bị ai bắt dùng làm ám khí ném xuống. Trong sảnh lập tức đại loạn, tiếng người xôn xao ầm ĩ. Từ trên mái nhà tung xuống một sợi dây thừng, lướt ngang đầu mọi người như một cây nhuyễn tiên, quần hùng tới tấp đưa binh khí lên đỡ. Sợi thừng liền vòng trở lại, quấn vào hông Kiều Phong rồi kéo vụt lên.

Ba vết thương của Kiều Phong đều đang tuôn máu, tay trái vẫn còn ôm A Châu nhưng không còn chút sức lực nào, khi chàng bị sợi dây thừng cuốn đi, A Châu lập tức tuột ra. Mọi người nhìn theo sợi thừng, thấy đầu dây kia đang nằm trong tay một đại hán cao to mặc quần áo đen, mặt bịt khăn đen chỉ lộ đôi mắt, đứng trên mái nhà.

Đại hán cắp Kiều Phong vào nách, sợi dây lại tung ra quấn ngay vào cây cột cờ ngoài cổng Tụ Hiền Trang. Quần hùng kêu la ầm ĩ, lập tức cương tiêu, tụ tiễn, phi đao, thiết chùy, phi hoàng thạch, súy thủ tiễn đủ loại ám khí đều nhắm vào Kiều Phong cùng đại hán kia ném tới. Đại hán áo đen níu sợi dây thừng nhẹ nhàng đu người ra, đáp xuống đỉnh cột cờ. Lúc đó mới nghe chát chát, lách cách liên tiếp, mấy chục món ám khí bắn vào cây cột. Sợi dây thừng lại tung ra, quấn lấy một cây to cách xa bảy tám trượng, đại hán cắp Kiều Phong đu ra bay vượt qua cả cái cây, cách cột cờ đến hơn mười trượng mới rơi xuống. Y lại quăng dây lần nữa quấn vào một cái cây ở xa hơn, cứ thế vài lần đã biến mất không tăm tích, dĩ nhiên không để lại cả dấu chân.

Kiều Phong tuy bị thương nặng song thần trí vẫn tỉnh táo. Đại hán quăng dây thừng cứu chàng thoát hiểm, nhất cử nhất động chàng đều nhìn rõ, Chàng hết sức cảm kích cái ơn cứu mạng, lại nghĩ thầm: "Quăng dây chuẩn xác như thế ta cũng làm được, thế nhưng dùng sợi dây làm nhuyễn tiên sử chiêu Thiên Nữ Tán Hoa đánh dạt cả mấy chục người, ta chưa đến trình độ đó."

Đại hán áo đen đặt Kiều Phong lên lưng ngựa, hai người cưỡi chung một con chạy thẳng về hướng bắc, vừa chạy y vừa lấy thuốc ra rịt vào ba chỗ vết thương cho Kiều Phong. Kiều Phong bị mất máu quá nhiều nên cực kỳ hư nhược, mấy lần suýt ngất đi. Nhưng mỗi khi sắp ngất, chàng hít mạnh một hơi, nội lực lưu chuyển rồi tinh thần lại trấn tĩnh. Đại hán phóng ngựa thẳng phía tây bắc, đường đi càng lúc càng hiểm trở. Về sau không còn đường lối nữa, con ngựa phải len lỏi vào những bãi đá chất chồng.

Thêm nửa giờ nữa thì không còn đi ngựa được. Đại hán ôm Kiều Phong trong tay, xuống ngựa trèo lên đỉnh núi. Kiều Phong thân thể nặng nề mà y bồng cứ nhẹ như không, tuy ở nơi cheo leo hiểm trở mà vẫn chạy nhảy như bay. Về sau đến những vách đá dựng đứng không có chỗ để chân, đại hán lại ném dây thừng quấn vào cây bên kia vực mà nhảy qua. Y cứ thế mà qua tám cái khe núi, rồi trèo xuống một cái vực sâu, đứng dưới nhìn lên không thấy trời xanh, lúc đó mới dừng lại để Kiều Phong xuống.

Kiều Phong gắng gượng đứng lên nói: "Đại ân không thể dùng lời mà cảm tạ, chỉ xin ân huynh cho Kiều Phong này được thấy chân diện."

Đại hán đưa cặp mắt sáng rực nhìn đi nhìn lại mặt Kiều Phong, một lát sau mới nói: "Trong sơn động có nửa tháng lương khô, đủ dùng trong lúc ngươi dưỡng thương. Địch nhân không có cách nào tìm đến đây được." Kiều Phong nói "Xin vâng!" rồi nghĩ thầm: "Nghe thanh âm người này hình như tuổi không còn trẻ." Đại hán áo đen xem xét chàng một hồi nữa, bỗng vung tay phải lên tát Kiều Phong bốp một cái. Y ra tay cực kỳ mau lẹ, Kiều Phong tuyệt nhiên không ngờ ân nhân lại ra tay đánh mình, phát thưởng đó thủ pháp cũng kỳ dị, thành thử không sao tránh được.

Đại hán lại toan tát cái thứ hai. Hai cái tát chỉ cách nhau trong chớp mắt, nhưng Kiều Phong đã có chuẩn bị rồi, đời nào để bị đánh trúng nữa. Thế nhưng y là ân nhân cứu mạng nên Kiều Phong không có ý đối địch, cũng không có hơi sức để tránh né, chỉ đưa tay trái lên má, chĩa một ngón đón lấy chưởng tâm.

Ngón tay đó trở đúng vào huyệt Lao Cung trong lòng bàn tay đại hán, nếu y tiếp tục đánh xuống, chưa chạm tới mặt Kiều Phong thì huyệt đạo đã bị ngón tay đâm trúng rồi. Bàn tay y còn cách má Kiều Phong độ một thước, lập tức biến chiêu thật lẹ, xoay lưng bàn tay đánh vào, Kiều Phong cũng nhanh nhẹn xoay ngón tay trỏ vào huyệt Nhị Gian trên lưng bàn tay y.

Đại hán cười một tràng dài, tay phải giật về, tay trái liền chém tới. Ngón tay bên trái Kiều Phong lập tức dựng lên chỉ thẳng vào huyệt Hậu Khoát ở cạnh bàn tay. Y hơi đưa tay lên cao, nhưng vẫn tiếp tục đánh tới không chậm chút nào, Kiều Phong lại di động ngón tay hướng vào huyệt Tiền Cốc ở cổ tay đối phương. Chỉ trong khoảnh khắc, đại hán vũ lộng song chưởng biến chiêu hơn chục lần, còn Kiều Phong chỉ thủ mà không công, thủy chung vẫn đưa ngón tay nhằm vào huyệt đạo chống đỡ để đối phương không đánh tới được. Đại hán chỉ xuất kỳ bất ý tát được chàng một cái lúc đầu, sau đó không thể nào đánh trúng được nữa. Hai người kẻ đánh, người đỡ dù chỉ hời hợt trên không, nhưng đều sử dụng võ công thượng thừa.

Được khoảng hai chục chiêu, đại hán thấy Kiều Phong tuy đã trọng thương mà vẫn biến chiêu thần tốc, nhận huyệt chuẩn xác, y thu chưởng về, nhảy lùi lại nói: "Ta không ngờ ngươi ngu xuẩn đến thế. Lẽ ra ta chẳng nên cứu ngươi làm chi." Kiều Phong đáp: "Kiều mỗ xin kính cẩn nghe ân công giáo huấn." Đại hán mắng: "Ngươi là đồ con lừa! Đã luyện võ công đến mức vô địch thiên hạ, sao lại vì một đứa con gái lưu lạc giang hồ mà bỏ mạng? Con bé đó đã không thân thích lại không ơn nghĩa gì với ngươi, cũng chẳng phải là giai nhân nghiêng nước nghiêng thành, chỉ là một con thị tì hạ lưu chứ là gì đâu. Trong thiên hạ sao lại có kẻ điên rồ như ngươi?" Kiều Phong thở dài một tiếng rồi đáp: "Ân công dạy phải lắm. Kiều Phong này đem thân hữu dụng mà làm chuyện vô ích, quả là sai lầm. Chỉ vì nhất thời bồng bột, nóng giận bực tức, tính dã man hung dữ nổi lên nên không kịp suy xét đến hậu quả."

Đại hán kia nói: "Ha ha! Tính dã man hung dữ nổi lên.." Y ngửa mặt lên trời, cất tiếng cười một tràng dài. Kiều Phong thấy trong tiếng cười đầy vẻ thê lương, không khỏi ngạc nhiên. Thốt nhiên đại hán đứng phắt dậy, nhảy vọt ra xa, thân hình lạng đi một cái đã khuất sau một tảng đá lớn. Kiều Phong gọi với theo: "Ân công! Ân công!" Chỉ nghe tiếng chân nhảy luôn mấy bước nữa, rồi mỗi lúc một xa. Kiều Phong cũng toan chạy theo, nhưng người lảo đảo muốn ngã, phải vịn vào vách núi mới đứng được.

Chàng định thần quay lại, quả nhiên sau vách đá có một sơn động. Kiều Phong men theo vách núi, chầm chậm đi vào trong hang, thấy trên mặt đất để đầy thịt nướng, gạo rang, trái cây khô, đậu phộng, cá muối, toàn là lương thực để lâu được, tuyệt diệu nhất là có cả một vò rượu lớn. Chàng mở nắp ra, một mùi hương ngào ngạt xông lên mũi, vội thò tay vào cốc rượu ra uống thử, quả là loại mỹ tửu thượng đẳng. Kiều Phong cảm kích vô cùng, nghĩ thầm: "Sao ân công chu đáo đến thế, biết ta thích rượu, lại dự bị sẵn nơi đây. Đường núi hiểm trở khó đi, mang được vò rượu lớn thế này xuống đây, quả thật phí nhiều công sức."

Thứ thuốc đại hán nọ bôi lên vết thương cho chàng thật là công hiệu, lúc này đã cầm máu rồi, chỉ mấy giờ sau cơn đau đã giảm. Kiều Phong thân thể tráng kiện, nội công thâm hậu, mà vết thương chỉ ở ngoài da thịt, chỉ bảy tám ngày đã liền da đến non nửa.

Trong bảy tám ngày đó, chàng chỉ nghĩ đến hai việc: "Cừu nhân ta là ai? Ân nhân ta là ai?" Cả hai người đều có bản lĩnh ghê gớm, xem ra chẳng kém gì mình. Trong võ lâm, những người thân thủ như thế chỉ đếm được trên đầu ngón tay, chàng liệt kê cả ra, nhưng nghĩ qua nghĩ lại cũng không thấy ai phù hợp. Cừu nhân chàng chưa hề thấy, chẳng thể nào đoán được thì cũng đành, thế nhưng vị ân nhân đã trao đổi đến hơn hai chục chiêu mà cũng không thể nào đoán được gia số môn phái. Chiêu thức thật là bình thường, nhưng trong cái đơn giản chất phác chứa đựng tinh túy cao siêu chẳng khác gì chàng sử Thái Tổ Trường Quyền ở Tụ Hiền Trang, không bộc lộ lai lịch chút nào.

Mới hai ngày, Kiều Phong đã uống sạch vò rượu không còn một giọt. Chàng cố đợi đến ngày thứ hai mươi thì mấy chỗ vết thương đã khỏi bảy tám phần, nổi cơn thèm rượu không sao nhịn nổi. Chàng liệu chừng đã có đủ sức trèo núi vượt khe, bèn ra khỏi sơn động, trở lại giang hồ.

Kiều Phong nghĩ bụng: "A Châu rơi vào tay bọn chúng, nếu chết thì đã chết rồi, nếu sống được thì mình cũng chẳng cần lo liệu cho cô ta. Việc quan trọng trước mắt là phải điều tra xem mình là giống người nào. Song thân và sư phụ cùng chết một ngày, thân thế ta lại càng mơ hồ chẳng biết hỏi ai, thôi thì phải ra Nhạn Môn Quan xem bài di văn trên vách núi."

Tính toán xong, Kiều Phong đi về hướng tây bắc đến một thị trấn, việc đầu tiên là tìm vào hàng rượu uống hai chục bát. Chàng còn mấy lạng bạc vụn, chỉ uống ba ngày đã hết sạch.

Bấy giờ nhà Đại Tống làm chủ Trung Nguyên, chia thiên hạ ra thành mười lăm lộ, đặt kinh đô ở Đại Lương, gọi phủ Khai Phong là Đông Kinh, Lạc Dương ở Hà Nam là Tây Kinh, Tống Châu là Nam Kinh, Đại Danh là Bắc Kinh, tổng cộng tứ kinh, Khi đó Kiều Phong đang ở Nhữ Châu thuộc lộ Tây Kinh, đến Lương Huyện thì tiền bạc hết nhẵn, chàng bèn chờ đến đêm lẻn vào huyện đường, trộm mấy trăm lượng bạc trong công khố. Thế là nhà Đại Tống phải đài thọ cuộc hành trình của chàng, trên đường đi tha hồ ăn uống phủ phê, cao lương mỹ tửu. Chẳng bao lâu đã đến Đại Châu thuộc lộ Hà Đông.

Ải Nhạn Môn Quan ở trên núi Nhạn Môn, cách Đại Châu ba mươi dặm về phía Bắc. Năm xưa trên đường hành hiệp giang hồ, Kiều Phong đã từng đến đây, nhưng khi đó đang có việc gấp nên chỉ đi qua, không để ý đến. Đến Đại Châu thì đã đầu giờ Ngọ, ghé vào uống một hơi mười bát rượu, ăn một bữa thật no rồi mới ra khỏi thành đi về hướng bắc.

Kiều Phong cước trình nhanh nhẹn, chưa tới nửa giờ đã hết ba chục dặm đường. Chàng trèo lên núi, thấy hai rặng núi dựng đứng hai phía Đông Tây, giữa chỉ có một lối đi quanh co gập ghềnh, quả là cực kỳ hiểm trở. Kiều Phong nghĩ bụng: "Chim nhạn mỗi khi di cư xuống phương Nam tránh rét rồi trở về phương Bắc không thể vượt qua hai dãy núi cao, đều phải bay vào khe núi, thành thử mới gọi là Nhạn Môn. Hôm nay Kiều mỗ ở phương Nam đến đây, giả tỷ mà di văn khắc trên núi đá chứng tỏ ta là giống Khất Đan, thì sau khi ra khỏi ải Nhạn Môn Quan sẽ vĩnh viễn thành người phương Bắc, không bao giờ quay lại nữa. Thật không bằng loài chim nhạn, mỗi năm một lần vào nam ra bắc, tự do qua lại cửa quan." Nghĩ đến đó chàng không khỏi bùi ngùi trong dạ.

Nhạn Môn Quan là trọng trấn của nhà Đại Tống ở phương bắc, kiên cố hùng vĩ nhất trong hơn bốn chục cửa ải suốt cõi Sơn Tây. Chỉ ra khỏi cửa ải này vài mươi dặm là thuộc địa phận nước Liêu, trong ải có đặt trọng binh trấn giữ. Kiều Phong nghĩ rằng nếu theo cửa quan mà ra thì thể nào cũng bị binh lính tra hỏi, chàng bèn theo dãy núi cao phía tây mà đi vòng qua quan ải.

Lên đến đỉnh núi cao nhất, chàng đưa mắt nhìn bốn phía thấy toàn là núi. Phía đông có núi Ngũ Đài cao vọt lên, phía tây là dãy Ninh Võ, phía nam có những ngọn Chính Dương, Thạch Cổ, còn phía bắc là Sóc Châu, Mã Ấp. Núi non chập chùng đến tận chân trời, cảnh tượng lạnh lẽo tiêu điều. Kiều Phong nhớ lại, năm xưa qua Nhạn Môn Quan đã nghe người bạn đồng hành kể chuyện rằng, đại tướng Lý Mục nước Triệu thời Chiến Quốc cùng đại tướng Chất Đô đời Hán từng trấn thủ Nhạn Môn Quan để chống giữ quân Hung Nô xâm lược. Nếu quả thực mình là dòng giống Khất Đan, hậu duệ Hung Nô, thì té ra hàng nghìn năm nay, bọn vào xâm lấn Trung Nguyên đều là tổ tiên mình cả.

Chàng lại đưa mắt nhìn về hướng bắc nghĩ thầm: "Ngày trước Uông bang chủ cùng bọn Triệu Tiền Tôn phục kích bọn võ sĩ Khất Đan ở bên ngoài Nhạn Môn Quan, hẳn là sẽ chọn vị trí thuận lợi không xa quá mười dặm. Địa thế tốt thì phải ở sườn núi phía tây bắc kia, mười phần thì chắc đến tám chín, bọn họ mai phục ở chỗ đó."

Kiều Phong nghĩ thế, liền chạy xuống để sang sườn núi bên kia, trong lòng đột nhiên dậy lên một nỗi bi phẫn không biết từ đâu đưa tới. Chàng để ý thấy chỗ sườn núi đó có một khối đá lớn, Trí Quang đại sư kể là quần hùng Trung Nguyên ẩn nấp sau khối đá mà ném ám khí tẩm độc ra, xem chừng chính là chỗ này.

Ngoài sơn đạo chừng vài bước là vực thẳm, mây mù che phủ không nhìn thấy đáy. Kiều Phong nghĩ thầm: "Mấy lời của Trí Quang đại sư không sai, khi má má ta bị bọn họ giết chết rồi, gia gia ta đứng đây nhảy xuống sơn cốc tự tận. Gia gia nhảy xuống vực mới phát hiện ta còn sống, không nỡ để ta phải chết theo nên mới vứt ta trở lên, rơi trên mình Uông bang chủ. Gia gia.. gia gia đã viết gì trên vách đá nhỉ?".

Chàng quay đầu về phía trái, quả nhiên thấy một vách đá tự nhiên phẳng phiu nhẵn nhụi, nhưng chính giữa có một khoảng lớn đầy vết búa chém vào trông rất rõ. Rõ ràng đã có người cố ý xóa hết tự tích của người võ sĩ Khất Đan.

Kiều Phong đứng ngẩn ngơ trước vách đá, đột nhiên lửa giận bốc lên, chỉ muốn vung đao chém giết một phen. Đột nhiên chàng nhớ lại: "Khi ta rời Cái Bang đã từng bẻ gãy thanh đao của Đơn Chính mà thề rằng: Dù ta là người Hán cũng vậy, mà là người Khất Đan cũng vậy, quyết không bao giờ tàn hại người Hán. Thế nhưng ở Tụ Hiền Trang, ta đã giết bao nhiêu người Hán? Bây giờ ta lại muốn giết người nữa, có phải là trái lời thề chăng? Than ôi! Sự việc xảy ra như thế, mình không giết người, người cũng giết mình. Nếu bó tay chịu chết để mặc người khác băm vằm thì còn gì là phong độ của bậc trượng phu nữa?".

Kiều Phong rong ruổi ngàn dặm chỉ cốt điều tra rõ ràng thân thế mình, rút cục chẳng được việc gì. Chàng càng nghĩ càng thêm bực bội, lớn tiếng gầm lên: "Ta không phải người Hán! Không phải người Hán! Ta là mọi rợ Khất Đan! Mọi rợ Khất Đan!" Chỉ nghe bốn bề sơn cốc vang dội thanh âm vọng lại: "Không phải người Hán.. Không phải người Hán.. Mọi rợ Khất Đan.. Mọi rợ Khất Đan.."

Trong lòng Kiều Phong bao nhiêu uất ức, thịnh nộ không có chỗ phát tiết, cứ hết chưởng này đến chưởng khác đập vào vách đá, tưởng chừng như muốn đem bao nhiêu oan khuất của một tháng qua trút cả lên đấy. Đá vụn bay tứ tung, mãi đến khi bàn tay ứa máu, tảng đá in những dấu tay màu đỏ, chàng vẫn chưa ngừng.

Bất thình lình có tiếng trong trẻo của một cô gái vang lên từ sau lưng: "Kiều đại gia ơi! Đại gia đập nữa đi! Không chừng ngọn núi này đổ xuống mất thôi." Kiều Phong giật mình quay đầu nhìn lại, thấy một thiếu nữ mặc áo hồng đứng tựa vào một cây hoa bên cạnh sườn núi, miệng mỉm cười. Đó chính là A Châu.

Hôm trước chàng ra tay cứu A Châu là vì nỗi lòng nghĩa hiệp lại phấn khích nhất thời, thực ra chưa quan tâm đặc biệt gì đến cô tiểu a đầu này. Về sau ngay cả chuyện nàng còn sống hay đã chết, chàng cũng không còn rảnh rang mà nghĩ đến. Ngờ đâu nàng lại xuất hiện ở nơi này, Kiều Phong cũng thấy hoan hỉ, mỉm cười tiến đến nói: "A Châu! Xem ra cô đã mạnh khỏe rồi!" Có điều chàng đang cuồng nộ bỗng chuyển sang vui mừng, nụ cười trên môi có phần miễn cưỡng.

A Châu hỏi lại: "Kiều đại gia? Đại gia cũng khỏe chứ?" Nàng ngơ ngẩn nhìn Kiều Phong một hồi, đột nhiên nhảy vào lòng chàng, nức nở mà nói: "Kiều đại gia! Tiểu nữ.. tiểu nữ chờ ở đây đã năm ngày năm đêm, lúc nào cung phập phồng không biết đại gia có đến không, quả nhiên bây giờ lại được gặp nhau. Cảm ơn Trời Phật phù hộ, đại gia vẫn bình yên vô sự."

Nàng nghẹn ngào nói lẫn trong tiếng khóc, nhưng thanh âm đầy vẻ vui mừng, an ủi. Kiều Phong vừa nghe đã biết ngay nàng chân tâm lo lắng cho mình, cảm thấy xúc động trong lòng, liền hỏi lại: "Cô nương đây chờ ta đã năm ngày, năm đêm rồi ư? Cô.. cô nương làm sao biết được là ta sẽ đến đây?"

A Châu chậm rãi ngửng đầu lên, chợt nhớ ra mình đang gục vào lòng một người đàn ông, bất giác mặt thẹn đỏ bừng, lùi lại hai bước. Nàng nghĩ đến việc mình ôm chầm lấy chàng trong cơn xúc động, mặt càng đỏ như gấc chín, đột nhiên quay phắt đi chạy nấp vào sau một gốc cây.

Kiều Phong hốt hoảng gọi theo: "A Châu, A Châu! Cô nương làm sao thế?" A Châu không trả lời, chỉ thấy tim đập loạn lên, một lúc lâu sau mới bước ra nhưng vẻ mặt vẫn còn bẽn lẽn, ấp úng không nói nên lời. Kiều Phong thấy vẻ mặt nàng khác lạ liền hỏi: "A Châu, cô nương có chuyện gì nan giải cứ việc nói cho ta nghe. Chúng ta đã hoạn nạn chi giao, đồng sinh cộng tử, thì còn có điều chi phải e dè?" A Châu lại đỏ mặt, nhỏ nhẹ nói: "Không có chuyện gì."

Kiều Phong nhẹ nhàng đặt tay lên vai cô gái, xoay mặt nàng ra hướng mặt trời, thấy dung nhan hãy còn tiều tụy nhưng trong màu xanh xao đã ẩn sắc hồng, không còn xám xịt như lúc đang bị trọng thương nữa. Chàng lại đưa tay xem mạch nàng, vừa chạm vào tay A Châu lập tức nàng run bắn lên, Kiều Phong vội hỏi: "Sao thế? Cô chưa bình phục hẳn hay sao?" A Châu lại càng thẹn thùng, vội đáp: "Không phải! Không.. không có gì hết." Kiều Phong thấy mạch nàng đã có sức lực, bèn khen: "Nghệ thuật diệu thủ hồi xuân của Tiết Thần Y quả thật danh bất hư truyền."

A Châu nói: "Cũng nhờ vị hảo bằng hữu Bạch Thế Kính của đại gia truyền cho bảy chiêu Triền Ti Cầm Nã Thủ, Tiết Thần Y mới chịu trị bệnh cho tiểu nữ. Vả lại bọn họ cũng muốn tra vấn xem tung tích vị tiên sinh áo đen kia ở đâu, nếu như tiểu nữ chết đi dĩ nhiên bọn họ không biết hỏi ai nữa. Thương thế mới đỡ một chút, ngày nào cũng có bảy tám người đến hỏi: Ác tặc Kiều Phong liên hệ với cô nương thế nào? Y chạy đi đâu? Tên áo đen cứu y là ai? Những chuyện đó tiểu nữ đâu có biết, nhưng khi nói thật là không biết thì bọn họ lại bảo là nói láo, đe dọa sẽ không cho ăn uống, sẽ dùng cực hình tra khảo, Thành thử tiểu nữ phải bịa đặt đủ thứ chuyện cho họ nghe, hoang đường nhất là chuyện về tiên sinh áo đen, bữa nay thì bảo là ông ta từ núi Côn Lôn đến, ngày mai lại bảo là ông xuất thân ở Đông Hải, toàn nói nhăng nói cuội mà bọn họ lại nghe lọt tai mới là kỳ." Nàng kể tới đây, nhớ lại mấy bữa đó thuận mồm đặt chuyện mà bịp bợm được vô số anh hùng hào kiệt nổi danh, bất giác cảm thấy khoan khoái trong lòng, miệng cười tươi như hoa nở.

Kiều Phong mỉm cười hỏi: "Thế bọn họ có tin lời cô nương không?" A Châu đáp: "Có người thì tin, có người lại không tin, phần lớn thì bán tín bán nghi. Tiểu nữ đoán chắc chẳng một ai biết lai lịch của tiên sinh áo đen, mình có nói dối bọn họ cũng không cãi được. Bởi thế mà câu chuyện càng nói càng ly kỳ cổ quái khiến cho bọn họ không biết đường nào mà mò, ai nấy sợ mất vía." Kiều Phong thở dài: "Quả thực ta cũng không biết vị tiên sinh áo đen đó lai lịch thế nào. Không chừng ta mà nghe cô bịa chuyện cũng phải nửa tin nửa ngờ."

A Châu lấy làm kỳ, hỏi: "Đại gia cũng không biết ông ta là ai ư? Thế sao ông ta lại xông vào nơi đầm rồng hang cọp cứu đại gia ra? À phải rồi, những bậc đại hiệp cứu người trong cơn hoạn nạn đều như thế cả."

Kiều Phong thở dài nói: "Ta chẳng biết đi kiếm ai mà báo thù, cũng chẳng biết đi kiếm ai mà trả ơn. Ta là người Hán hay người Hồ, hành vi của ta đúng hay sai, ta cũng không tự biết. Kiều Phong hỡi Kiều Phong! Ngươi quả thật không đáng làm người!".

A Châu thấy Kiều Phong chán chường đau khổ, bất giác thò tay ra nắm lấy tay chàng an ủi: "Kiêu đại gia tự làm khổ mình làm gì? Mọi việc rồi cũng có lúc rõ ràng, chỉ cần đại gia vấn tâm không hổ thẹn, hành sự hợp lẽ trời, thế là đủ rồi." Kiều Phong nói: "Thế nhưng ta tự vấn tâm có điều hổ thẹn, thế mới đau lòng. Hôm đó nơi rừng hạnh, ta đã từng búng gãy thanh đao thề rằng sẽ không tàn hại người Hán, ngờ đâu.. ngờ đâu.." A Châu đáp: "Bọn người ở Tụ Hiền Trang không biết phân biệt trắng đen, vây đánh đại gia một cách hồ đồ. Nếu đại gia không trả đòn, không lẽ để yên cho họ chặt ra thành mười bảy hay hai mươi tám miếng hay sao? Trên đời này làm gì có chuyện vô lý đến thế?"

Kiều Phong đáp: "Cô nói phải lắm." Chàng vốn dĩ là một hảo hán tính tình sảng khoái, ít để tâm chuyện gì, có đau lòng cảm thán cũng chỉ một lúc. Chàng gác vấn đề đó sang một bên, nói: "Trí Quang đại sư và Triệu Tiền Tôn đều nói rằng trên vách đá này có viết chữ, không biết kẻ nào đã phá hủy mất rồi." A Châu đáp: "Đúng thế! Tiểu nữ cũng đoán là đại gia sẽ ra ngoài Nhạn Môn Quan để xem lại di văn trên vách núi, nên vừa thoát hiểm là đến đây chờ đại gia ngay."

Kiều Phong hỏi: "Làm sao cô nương thoát hiểm được? Có phải Bạch trưởng lão lại giúp cô nương nữa không?" A Châu mỉm cười: "Không phải đâu. Đại gia còn nhớ hôm tiểu nữ giả trang thành nhà sư chùa Thiếu Lâm không? Ngay cả sư huynh đệ của y cũng không nhận ra." Kiều Phong nói: "Đúng thế! Cái trò tinh nghịch của cô quả là ghê gớm." A Châu nói: "Một hôm thương thế của tiểu nữ đã đỡ nhiều, Tiết Thần Y bảo không cần phải điều trị thêm nữa, chỉ cần nghỉ ngơi bảy tám ngày là phục hồi được như cũ. Câu chuyện tiểu nữ bịa ra càng lúc càng nhiều sơ hở, mà cũng chán ngấy rồi. Tiểu nữ lại lo lắng không biết đại gia ra sao, nên đến tối bèn cải trang thành một người.." Kiều Phong sửng sốt hỏi: "Lại cải trang! Thành ai thế?" A Châu đáp: "Tiểu nữ cải trang thành Tiết Thần Y."

Kiều Phong giật mình hỏi: "Cô nương làm thế nào mà hóa trang giống Tiết Thần Y được?" A Châu đáp: "Ngày nào lão ta cũng gặp tiểu nữ, nói năng cũng nhiều, nên thần thái cùng thanh âm của lão đã thuộc lòng, mà lão lại thường đến một mình. Đêm hôm đó tiểu nữ giả vờ ngất đi, lão bèn tới chẩn mạch, tiểu nữ bèn lật tay lại nắm đúng mạch môn khiến lão không còn cục cựa gì được, đành để cho tiểu nữ bố trí."

Kiều Phong không nhịn cười được, nghĩ thầm: "Lão Tiết Thần Y kia chỉ lo trị bệnh, có biết đâu mắc mưu con nhãi ranh này."

A Châu tiếp: "Tiểu nữ điểm huyệt lão ta, lột sạch cả áo lẫn giày. Công phu điểm huyệt của tiểu nữ tầm thường, sợ lão ta tự mình giải huyệt được, nên xé một cái chăn ra trói luôn chân tay, đặt lên trên giường trùm lại. Nếu ai ở ngoài cửa sổ nhìn vào chỉ tưởng tiểu nữ đang đắp chăn nằm ngủ, không nghi ngờ gì hết. Tiểu nữ mặc áo, đi giày, đóng khăn của lão vào, trên mặt nhồi thêm mấy nếp nhăn. Thế là mười phần đã giống đến bảy, chỉ còn thiếu bộ râu nữa là hoàn toàn.."

Kiều Phong kêu lên: "Ồ, bộ râu của Tiết Thần Y hoa râm nửa đen nửa trắng, không dễ gì mà làm giả được." A Châu nói: "Râu giả thì khó mà giống, chi bằng dùng râu thật." Kiều Phong ngơ ngác hỏi: "Râu thật ư?" A Châu đáp: "Đúng vậy, dùng râu thật. Tiểu nữ lục trong hộp thuốc ra một con dao nhỏ, cạo sạch chòm râu của ông ta không chừa một sợi, gắn hết lên mặt mình, hình dáng màu sắc hoàn toàn giống hệt. Lão Tiết Thần Y tức đến chết được nhưng chẳng biết làm sao. Lão ta trị thương có phải do lòng tốt đâu, tiểu nữ có cạo râu ông ta cũng không thể nói là lấy oán báo ơn được. Huống chi lão cạo sạch râu rồi trông trẻ ra đến chục tuổi, mặt mày anh tuấn đáo để."

Nói đến đây hai người nhìn nhau cùng phá lên cười. A Châu tiếp tục: "Tiểu nữ giả làm Tiết Thần Y, đường hoàng ra khỏi Tụ Hiền Trang chẳng một ai dám hỏi han gì. Tiếu nữ còn sai người chuẩn bị ngựa, lấy tiền bạc rồi mới đi, rời khỏi trong ba chục dặm bèn nhổ bộ râu đi, lại biến thành một chàng thanh niên. Chắc là sáng hôm sau bọn chúng phát giác ra, thế nhưng trên đường tiểu nữ cải trang thêm mấy lần nữa, chúng có đuổi theo cũng vô phương tìm kiếm."

Kiều Phong vỗ tay khen: "Tuyệt diệu! Thật là tuyệt diệu!" Đột nhiên chàng nhớ lại cảm giác bất an khi thoáng nhìn thấy bóng sau lưng mình trong tấm gương đồng ở Bồ Đề Viện nơi chùa Thiếu Lâm, lúc đó chàng thấy hồi hộp mà không biết tại sao. Bây giờ nghe A Châu kể chuyện cải trang thoát hiểm, cái tâm trạng bất an ấy lại nổi lên, còn mạnh hơn cả lần trước. Kiều Phong trầm ngâm rồi bảo: "A Châu, cô quay người lại để ta xem nào." A Châu không hiểu chàng muốn gì nhưng cũng nghe lời xoay lưng lại.

Kiều Phong chăm chú nhìn, rồi cởi chiếc áo ngoài khoác lên người cô gái. A Châu bẽn lẽn xoay đầu lại, đôi mắt đầy vẻ ôn nhu, đắm đuối nhìn chàng mà nói: "Tiểu nữ không lạnh đâu.."

Kiều Phong nhìn nàng khoác chiếc áo choàng của mình, lập tức hiểu ra, lật bàn tay nắm chặt lấy cổ tay cô gái, hậm hực nói: "Thì ra là ngươi! Ai sai khiến ngươi, nói cho mau đi." A Châu hoảng hốt hỏi: "Kiều đại gia! Có chuyện gì thế?" Kiều Phong nói: "Ngươi đã từng giả trang giống ta, mạo nhận làm Kiều mỗ, phải không?".

Thì ra khi đó chàng chợt hiểu ra, trên đường chạy đến Thiên Ninh Tự cứu huynh đệ Cái Bang, chàng đã thoáng thấy sau lưng một người. Lúc đó không để ý, đến khi nhìn thấy bóng sau lưng mình trong tấm gương đồng, trong vô thức mới nhận ra người đó nhìn sau lưng giống hệt mình không sai một mảy. Cảm giác bất an từ đó mà nảy sinh, có điều chàng cứ mơ hồ không hiểu do đâu.

Hôm đó Kiều Phong chạy tới nơi thì mọi người đã thoát hiểm, ai cũng bảo là vừa mới gặp chàng. Tuy chàng nhất định bảo là không phải, nhưng chẳng ai tin. Lúc ấy Kiều Phong chẳng hiểu ra sao, nghĩ bụng trừ phi có người mạo nhận mình thì không còn cách giải thích nào khác. Thế nhưng nếu có ai giả mạo, chẳng lẽ bọn Bạch Thế Kính, Ngô trưởng lão kề cận mình cả ngày đêm lại không nhận ra ư? Mặc dù lúc này A Châu không độn bông, thân hình nhỏ bé khác hẳn tấm thân vạm vỡ của chàng, nhưng nhìn thấy sau lưng nàng khoác chiếc áo của mình, chàng liền tỉnh ngộ. Giả mạo làm bang chủ mà đánh lừa được toàn thể Cái Bang, thiên hạ ngoài cô ta ra thì còn ai giả trang tuyệt diệu như vậy nữa đâu?

A Châu không sợ hãi gì, cười lên khanh khách nói: "Thôi được, để tiểu nữ cung khai vậy." Rồi nàng đem chuyện cải trang thành Kiều Phong thế nào, đem thuốc giải đến cứu quần hào Cái Bang ra sao, nhất nhất thuật lại. Kiều Phong bỏ tay nàng ra, gay gắt hỏi: "Ngươi giả làm ta đi cứu người là có dụng ý gì?" A Châu kinh ngạc đáp: "Tiểu nữ chỉ tinh nghịch cho vui, chứ có dụng ý gì đâu. Tiểu nữ cùng A Bích được đại gia cứu khỏi tay người Tây Hạ, đều rất lấy làm cảm kích. Tiểu nữ lại nghĩ bọn ăn mày đối xử tệ bạc như thế, nếu giả làm đại gia đến đưa thuốc giải độc khiến cho họ phải thấy ăn năn hổ thẹn, cũng là việc hay." Nàng lại thở dài, tức mình nói tiếp: "Ngờ đâu ở Tụ Hiền Trang, họ vẫn tàn nhẫn với đại gia đến vậy, chẳng nhớ gì tới ân nghĩa ngày xưa."

Kiều Phong vẻ mặt mỗi lúc một thêm nghiêm trọng, nghiến răng hỏi: "Vậy sao người lại đến giết song thân ta? Sao lại mạo xưng ta lẻn vào chùa Thiếu Lâm ám hại cả sư phụ ta?" A Châu giật nảy người, kêu lên: "Sao lại thế được? Ai bảo tiểu nữ giết song thân cùng sư phụ của đại gia?"

Kiều Phong đáp: "Sư phụ ta bị đánh trọng thương, người vừa trông thấy ta đến liền bảo là chính ta hạ độc thủ. Không phải ngươi thì còn ai vào đây?" Nói tới đây, Kiều Phong mặt đầy sát khí, từ từ giơ tay phải lên, chỉ chờ A Châu nói một câu ấp úng là đập xuống, dẫu đến mười A Châu cũng chết ngay tức khắc.

A Châu thấy đôi mắt chàng tóe lửa, khiếp sợ vô cùng, hốt hoảng lùi lại hai bước. Nàng chỉ lùi thêm hai bước nữa là rơi ngay xuống vực sâu vạn trượng. Kiều Phong nghiêm giọng quát: "Đứng lại! Không được nhúc nhích!" A Châu sợ quá, nước mắt nhỏ ròng ròng, giọng run run đáp: "Tiểu nữ không.. không giết song thân đại gia, cũng chẳng.. chẳng giết sư phụ đại gia. Bản lĩnh sư phụ đại gia ghê gớm đến mức nào, làm sao tiểu nữ.. ám hại được người?"

Câu cuối cùng của nàng quả là có sức thuyết phục. Kiều Phong hồi tâm nghĩ lại, biết ngay mình trách oan. Lập tức chàng đưa vụt tay trái ra nhanh như chớp, giữ lấy vai nàng kéo vào vách đá cho khỏi sẩy chân rơi xuống vực, rồi mới nói: "Phải rồi! Phải rồi! Sư phụ ta chắc chắc không phải do cô nương ám hại." Sư phụ Huyền Khổ đại sư là sư huynh đệ với các vị cao tăng Huyền Từ, Huyền Tịch, Huyền Nạn, đáng gọi là cao thủ bậc nhất võ lâm. Người viên tịch không phải do trúng độc, cũng chẳng phải do gươm đao hay ám khí đả thương, mà do chưởng lực trầm trọng đánh nát tạng phủ. A Châu là một cô gái nhỏ tuổi làm gì có nội lực thâm hậu đến thế? Nếu nội lực nàng có thể đánh chết được Huyền Khổ đại sư thì Đại Kim Cương Chưởng của Huyền Từ quyết không thể đánh cho nàng chín phần chết một phần sống được.

A Châu đang giàn giụa nước mắt cũng phá lên cười, đấm nhẹ vào ngực chàng nói: "Đại gia kỳ cục, nói năng vô lý làm tiểu nữ sợ muốn chết. Nếu tiểu nữ có bản lãnh đánh chết được vị đại sư đó, thì ở Tụ Hiền Trang đã giúp đại gia giết sạch bọn khốn kiếp kia rồi."

Kiều Phong thấy nàng giận dỗi, trong lòng cũng thấy hổ thẹn, nói: "Mấy bữa nay thần trí ta hoang mang bất định thành ra ăn nói lăng nhăng, xin cô nương đừng trách." A Châu cười đáp: "Ai mà thèm trách đại gia? Nếu tiểu nữ giận thật thì đời nào còn nói chuyện với đại gia nữa." Nàng bỗng nghiêm trang lại, nhỏ nhẹ nói: "Kiều đại gia, dù đại gia đối xử thế nào thì suốt đời tiểu nữ cũng không bao giờ giận đại gia đâu."

Kiều Phong lắc đầu, bình thản nói: "Ta đã cứu mạng cô nương thật, nhưng cô nương cũng đừng để tâm làm gì." Chàng ngơ ngẩn xuất thần, đột nhiên lại hỏi: "A Châu! Ai dạy cho nàng cái tuyệt kỹ hóa trang đó? Sư phụ nàng có còn đệ tử nào khác không?" A Châu lắc đầu: "Không có ai dạy hết. Tiểu nữ từ nhỏ đã thích bắt chước làm người này người khác cho vui, rồi càng tập luyện càng thêm giống, làm gì có sự phụ nào? Không lẽ chuyện chơi nghịch mà cũng phải tầm sư học đạo hay sao?"

Kiều Phong thở hắt ra, nói: "Thế này thì lạ thật! Không lẽ trên đời này lại có người giống hệt như ta để sư phụ phải nhầm hay sao?" A Châu nói: "Đã có cái đầu mối đó thì cũng dễ. Chúng ta chỉ cần đi tìm người đó, khảo đả hỏi cho ra lẽ là xong." Kiều Phong đáp: "Đã đành rằng thế. Nhưng trời đất mênh mông, biết tìm đâu ra y. Không chừng y cũng như cô, có tài nghệ hóa trang giống hệt người khác."

Chàng bước lại gần vách núi, xem kỹ những vết búa đẽo, nhưng nhìn đi nhìn lại cũng không nhận ra chữ nào, bèn nói: "A Châu cô nương! Ta muốn đi tìm Trí Quang đại sư, hỏi xem trên vách đá đã viết những chữ gì. Chưa tra xét rõ ràng thì thật ta ăn ngủ không yên được." A Châu nói: "Tiểu nữ sợ ông ta không chịu nói." Kiều Phong nói: "Nếu ông ta không nói thì mình bức bách van nài bằng được, chứ ta nhất định không bỏ cuộc." A Châu trầm ngâm nói: "Trí Quang đại sư xem ra kiên cường không sợ chết, dẫu có bức bách van nài cũng chẳng đến đâu. Chi bằng.." Kiều Phong gật đầu: "Đúng rồi! Chỉ còn cách đi hỏi Triệu Tiền Tôn. Úi chà, gã này lại càng không sợ chết, chẳng khuất phục đâu, Nhưng ta đã nghĩ ra một cách đối phó với gã rồi."

Chàng nói tới đây, lại quay sang nhìn xuống vực thẳm rồi tiếp: "Ta định xuống đó xem." A Châu giật nảy người, nhìn xuống vực chỉ thấy mây che mù mịt, bất giác run chân vội lùi thêm hai bước nữa, nói: "Không được! Không được! Đại gia muôn vạn lần không nên xuống. Dưới đó có gì để coi đâu?" Kiều Phong đáp: "Ta là người Hán hay người Khất Đan, chuyện đó cứ quanh quẩn mãi trong đầu không yên được. Dù sao ta cũng xuống tìm hiểu cho minh bạch, xem cái xác của người Khất Đan đó ra sao." A Châu nói: "Người đó nhảy xuống đã ba chục năm rồi, nhiều lắm là còn vài nắm xương trắng, có gì để mà xem?" Kiều Phong đáp: "Chính là ta muốn xuống xem nắm xương tàn của y. Nếu quả đó là phụ thân sinh ra ta, thì phải xuống đem lên an táng cho tử tế mới phải đạo làm con."

A Châu sợ quá, kêu lên: "Không thể! Không thể như vậy? Đại gia nhân từ hiệp nghĩa, sao lại là dòng dõi Khất Đan tàn bạo ác độc được?" Kiều Phong nói: "Cô nương cứ ở đây chờ ta một ngày một đêm. Nếu giờ này ngày mai ta chưa lên thì khỏi phải chờ thêm nữa." A Châu kêu lên một tiếng, khóc òa nói: "Kiều đại gia! Đại gia đừng xuống!"

Kiều Phong tính tình cứng cỏi, không động lòng chút nào, tủm tỉm cười nói: "Bao nhiêu anh hùng hảo hán ở Tụ Hiền Trang còn chưa giết ta được, chẳng lẽ cái sơn cốc này lấy được mạng ta hay sao?" A Châu quýnh quáng không tìm được lời ngăn trở, đành nói: "Không chừng dưới đó có rắn độc, trùng độc, hay quái vật hung dữ thì sao?"

Kiều Phong cười ha hả, vỗ nhẹ lên vai nàng, nói: "Nếu quả có quái vật thì tốt quá. Ta sẽ bắt lên cho cô nương tha hồ nghịch ngợm." Chàng xem xét bốn phía hang núi, định tìm chỗ sườn núi nào dễ trèo xuống nhất.

Giữa lúc ấy, phía đông bắc văng vẳng tiếng vó ngựa phi về hướng nam, nghe âm thanh phải đến hai chục con. Kiều Phong lập tức chạy vòng qua sườn núi, nhìn về phía có tiếng chân ngựa. Chàng đứng trên cao nhìn rõ hơn hai chục kỵ sĩ áo vàng giáp vàng đều là quan binh nhà Đại Tống, đi một dãy theo sơn đạo ở sườn núi bên dưới.

Kiều Phong xem rõ rồi, không coi bọn họ vào đâu, nhưng chỗ chàng và A Châu đang đứng lại là độc đạo hiểm yếu từ ngoài ải tiến vào Nhạn Môn Quan. Năm xưa quần hùng Trung Nguyên chọn nơi này phục kích võ sĩ Khất Đan chính là vì thế, Kiều Phong nghĩ thầm: "Đây là nơi biên phòng hệ trọng, quan binh nhà Đại Tống gặp người lạ mặt thể nào cũng tra hỏi lôi thôi. Chi bằng mình tránh đi cho khỏi phiền phức," Kiều Phong quay lại chỗ cũ, kéo A Châu nấp đằng sau tảng đá, nói: "Đó là quan binh nhà Đại Tống."

Chẳng bao lâu, hơn hai chục kỵ binh chạy lên núi. Kiều Phong từ chỗ nấp nhìn ra đã thấy tên quân sĩ đi đầu, không khỏi xúc động lẩm bẩm: "Năm xưa bọn Uông bang chủ, Trí Quang đại sư, Triệu Tiền Tôn hẳn cũng mai phục đằng sau tảng đá này, thấy bọn võ sĩ Khất Đan cưỡi ngựa chạy ngang yếu lộ. Hôm nay đá núi vẫn trơ trơ ra đó, mà các võ sĩ Tống Liêu năm nào đã biến thành xương trắng gần hết rồi."

Kiều Phong còn đang bâng khuâng nghĩ ngợi, bỗng nghe tiếng trẻ con kêu khóc, chàng giật mình như người nằm mơ sực tỉnh, tự hỏi: "Tại sao lại có trẻ nít khóc?" Tiếp theo lại nghe tiếng đàn bà kêu rú lên. Chàng thò đầu ra nhìn bọn quan binh Đại Tống, thấy tên nào cũng bắt được mấy người đàn bà, trẻ con ăn mặc theo lối du mục Khất Đan. Nhiều tên còn đưa tay sờ nắn bọn đàn bà con gái Khất Đan trông thật thô bỉ khả ố, người nào chống cự lại lập tức bị quát mắng đánh đập. Kiều Phong lấy làm kỳ lạ không hiểu nguyên do, chỉ thấy cả bọn vượt ngang qua tảng đá lớn, đi thẳng về phía Nhạn Môn Quan.

A Châu hỏi: "Kiều đại gia! Sao bọn họ lại làm thế?" Kiều Phong lắc đầu nghĩ thầm: "Quan quản trấn thủ biên cương sao lại càn rỡ thế này." A Châu lại nói: "Bọn quan binh này chẳng khác gì đạo tặc."

Kế đó, lại có thêm một đoàn khoảng ba chục tên quan binh khác đi về, dẫn theo một đàn bò cừu đến vài trăm con và mười mấy phụ nữ Khất Đan nữa. Một tên nói: "Lần này thu hoạch chẳng ra gì, không biết đại soái có nổi giận không?" Một tên quan quân khác nói: "Kể ra thì không lấy được nhiều bò cừu của bọn Liêu cẩu. Nhưng trong đám đàn bà có mấy đứa mặt mày không đến nỗi tệ, đem về cho hầu hạ đại soái thì ngài sẽ bớt giận ngay." Gã thứ nhất lại nói: "Được có ba chục đứa đem về, làm sao đủ chia tới phần chúng mình? Đành phải vất vả thêm một ngày, mai lại đi thu hoạch." Một tên cười nói: "Bọn Liêu cầu nghe tin chắc trốn sạch rồi. Muốn đi thu hoạch phải chờ mấy tháng nữa."

Kiều Phong nghe tới đây lửa giận xông lên, nghĩ bụng: "Hành vi của lũ quan binh này còn tệ hại hơn bọn đạo tặc hạng bét trên giang hồ." Đột nhiên một đứa con nít đang được bế trong lòng mẹ khóc thét lên. Người phụ nữ Khất Đan gạt tay tên quân Đại Tống đang sờ soạng ra, vỗ về đứa nhỏ đang khóc. Y nổi giận, nắm lấy đứa nhỏ quật xuống đất rồi cho vó ngựa xéo lên, lập tức ruột gan đứa nhỏ lòi ra. Người đàn bà Khất Đan như chết đứng, không khóc nổi thành tiếng. Bọn quan binh cất tiếng cười rộ, vẫn tiếp tục rầm rập chạy qua.

Kiều Phong đã từng chứng kiến vô số cảnh tàn bạo hung ác, nhưng công nhiên tàn sát con nít để làm trò đùa thì mới thấy lần thứ nhất. Chàng cực kỳ phần nộ, nhưng cố nén lại không phát tác ngay.

Đoàn quan quân đó qua rồi, lại có thêm một toán hơn chục tên nữa hùng hổ đi tới, Những tên lính Đại Tống ngồi trên lưng ngựa, giơ cao trường mâu, đầu ngọn giáo nào cũng có bêu một cái thủ cấp máu chảy đầm đìa. Sau yên ngựa lại buộc một sợi dây dài, trói năm người đàn ông Khất Đan. Kiều Phong nhìn cách ăn mặc thấy cũng toàn là dân chúng chăn nuôi tầm thường. Hai người đã già đầu tóc bạc phơ, còn ba người kia là thiếu niên mười lăm, mười sáu tuổi. Chàng hiểu ngay, khi thấy bọn quan binh Đại Tống này qua cướp bóc, những người du mục Khất Đan tráng niên mạnh khỏe đều chạy thoát, chỉ có đàn bà con trẻ và người già yếu là bị bắt.

Bỗng thấy một tên quan binh cười nói: "Chặt được mười bốn cái thủ cấp, bắt sống được năm con chó Liêu, công lao không lớn nhưng cũng không nhỏ. Bọn ta được thăng một cấp, thưởng một trăm lượng bạc là cái chắc rồi." Lại một người khác nói: "Cao huynh đệ! Có một thị trấn Khất Đan cách đây năm mươi dặm về phía tây, ngươi có dám đến đó thu hoạch không?" Gã họ Cao liền đáp: "Có quái gì mà không dám? Ngươi khinh ta là lính mới chăng? Chính vì ta mới đến, đang cần lập chút công lao đây." Bọn chúng vừa nói chuyện vừa đi đến gần tảng đá lớn.

Một ông già Khất Đan trông thấy xác đứa trẻ vỡ bụng nằm dưới đất, đột nhiên gào to lên đầy vẻ bị thương, xông tới ôm lấy nó hôn hít không ngừng. Kiều Phòng không hiểu tiếng Khất Đan, nhưng chỉ nhìn cũng biết đứa bé bị ngựa xéo chết kia hẳn là thân nhân của ông lão. Tên lính đang nắm sợi dây trói ông già bèn ra sức giật liên hồi, kéo ông ta đi. Ông già Khất Đan như phát điên lên, nhảy xổ vào y. Tên lính kinh hãi, vung đao chém xuống người ông lão, lão còn cố sức giật mạnh một cái, kéo y ngã từ trên lưng ngựa xuống đất rồi há mồm cắn luôn vào cổ. Lúc đó một tên lính Đại Tống khác đang ngồi trên ngựa bèn vung đao chém phập vào lưng ông lão, lại cúi xuống xách cổ lão lôi ra, tên lính ngã dưới đất mới đứng dậy được. Hắn tức quá, lại vung đao chém liên tiếp mấy nhát vào người ông già, lão loạng choạng rồi té lăn xuống đất. Bọn quan binh đứa cầm trường mâu, đứa cầm đoản đao bu lại vây quanh.

Ông lão Khất Đan đột nhiên đứng phắt dậy quay về hướng bắc, cởi phanh áo ra, ưỡn ngực cất tiếng hú lên, thanh âm thê lương bi thảm tựa như tiếng chó sói tru. Cả bọn quan quân đều lộ vẻ kinh hãi.

Kiều Phong trong lòng thảng thốt, bỗng nhiên có cảm giác ông lão Khất Đan kia với mình có điều gì gần gũi tự sâu thẳm trong lòng. Chàng nghe tiếng hú như sói tru kia, bất giác nhớ lại hoàn cảnh lúc mình trúng mấy nhát đao tại Tụ Hiền Trang, cha con Đơn Chính dùng đao đâm tới. Khi đó biết mình sắp chết, trong lòng bi phẫn không sao nhịn được, đã rống lên như mãnh thú cùng đường.

Mấy tiếng hú của lão già Khất Đan đã gợi lên trong lòng Kiều Phong một tâm tình thân cận. Chàng không nghĩ ngợi gì nữa, nhảy vọt từ đằng sau tảng đá ra, vươn tay chộp từng đứa từng đứa quan binh Đại Tống ném xuống vực sâu. Kiều Phong càng đánh càng hăng, phóng chưởng đẩy cả mấy con ngựa chúng cưỡi xuống thâm cốc, tiếng ngựa hí người kêu nổi lên ầm ĩ một lúc rồi ngừng bắt.

A Châu và bốn người Khất Đan sống sót thấy chàng thần uy như vậy, ai nấy đứng thộn mặt ra mà nhìn. Kiều Phong giết sạch hơn chục tên quan binh rồi, cất tiếng hú lên một tràng dài, vang động cả khe núi. Chàng thấy ông lão Khất Đan kia trúng mấy nhát đao mà vẫn đứng sững như trời trồng, trong bụng kính trọng lão là một tay hảo hán, bước đến trước mặt thấy lão đã tắt thở chết rồi, vẫn hướng về phương bắc, ngực áo phanh ra. Kiều Phong nhìn vào ngực ông già bỗng hoảng hốt la lên một tiếng, lùi lại một bước, loạng choạng suýt ngã.

A Châu cả kinh vội hỏi: "Kiều đại gia? Đại gia.. làm sao thế?", Nghe roạc roạc mấy tiếng, Kiều Phong đã xé toạc áo mình ra, để lộ bộ ngực đầy lông đen. A Châu nhìn vào thấy trên ngực chàng có xăm hình đầu một con chó sói xanh lè, há miệng nhe nanh, coi rất hung dữ. Nàng nhìn lại ông già Khất Đan, thấy ngực ông ta cũng có hình đầu chó sói giống hệt như của Kiều Phong. Cả bốn người Khất Đan kia cũng kêu lên những tiếng lạ lùng.

Kiều Phong từ lúc ba tuổi có chút hiểu biết, đã thấy trên ngực mình có hình đầu con sói xanh, nhưng vì từ nhỏ đã có nên không coi là chuyện lạ. Đến khi lớn lên mới hỏi song thân, vợ chồng Kiều Tam Hòe bảo là xăm hình cho đẹp, trầm trồ khen ngợi một lúc, nhưng không nói rõ lai lịch vết xăm. Về thời Bắc Tống, xăm hình trên người là chuyện bình thường, có người xăm hết từ đầu đến chân. Nhà Đại Tống thừa kế giang sơn của họ Sài nhà Hậu Chu. Vị hoàng đế khai quốc nhà Hậu Chu là Quách Uy, nơi cổ có xăm hình một con chim sẻ, vì thế người ta thường gọi là Quách Tước Nhi. Huynh đệ trong Cái Bang thì mười người đến chín có thích hoa văn, nên Kiều Phong cũng chẳng nghi ngờ gì cả.

Nhưng hôm nay chàng nhìn thấy lão già Khất Đan bị giết trên ngực có hình đầu chó sói xanh giống y hệt như mình, không khỏi cực kỳ kinh ngạc, Bốn người Khất Đan kia vây quanh chàng, vừa nói gì đó vừa chỉ vào ngực chàng. Kiều Phong ngơ ngẩn không hiểu họ nói gì. Ông già đột nhiên cởi áo mình ra, để lộ bộ ngực, trên đó cũng có xăm hình đầu chó sói. Ba gã thiếu niên cũng cởi áo, đứa nào cũng có xăm hình y hệt.

Kiều Phong không còn nghi ngờ gì nữa, biết chắc mình là dòng giống Khất Đan. Hình đầu sói trước ngực, nhất định là ký hiệu một bộ tộc Khất Đan, người ta thích vào từ lúc sơ sinh. Chàng trước nay vẫn thống hận người Khất Đan, cho rằng họ tàn ác đê tiện, không giữ tín nghĩa, tàn sát người Hán cực kỳ thê thảm. Bây giờ chàng phải thừa nhận mình chính là giống người không bằng cầm thú kia, trong lòng đau khổ khôn cùng.

Kiều Phong đứng sững một hồi, đột nhiên gầm lên một tiếng thật to rồi cắm đầu chạy vào rừng núi như nổi cơn điên. A Châu vội gọi: "Kiều đại gia! Kiều đại gia!" rồi lật đật chạy theo.

Nàng chạy hơn mười dặm mới thấy chàng ngồi ôm đầu dưới một gốc cây, sắc mặt nhợt nhạt, những đường gân xanh nổi vặn cuồn cuộn trên trán. A Châu chạy đến ngồi cạnh chàng.

Kiều Phong co rút người lại, ngồi nhích ra, nói: "Ta là giống mọi rợ Khất Đan không bằng con heo con chó. Từ đây trở đi, cô nương chẳng nên nhìn mặt ta nữa."

A Châu vốn dĩ cũng như bao nhiêu người Hán khác, thống hận người Khất Đan tận xương tủy. Nhưng trong lòng nàng Kiều Phong thật chẳng khác gì một vị thiên thần phải tôn thờ, Đừng nói chàng là người Khất Đan mà là mãnh thú, ma quỷ hay là gì đi nữa, nàng cũng không muốn bỏ chàng mà đi. A Châu nghĩ bụng: "Lúc này trong lòng Kiều đại gia vô cùng đau đớn, ta càng phải ôn nhu an ủi nhiều hơn." Nàng bèn nhỏ nhẹ nói: "Bất luận dân Hán hay dân Khất Đan cũng có người tốt người xấu. Kiều đại gia, đại gia chả nên quan tâm làm gì. Tính mạng A Châu này đã được đại gia cứu thoát thì dù đại gia là người Hán hay người Khất Đan cũng vậy, A Châu không phân biệt chi hết."

Kiều Phong lạnh lùng đáp: "Ta không cần cô nương an ủi, thực ra trong lòng cô nương chẳng coi ta vào đâu, bất tất phải giả vờ tìm câu nói lấy lòng. Ta cứu mạng cô nương cũng chẳng phải do bản tâm đâu, chẳng qua chỉ nhất thời hiếu thắng tranh cường. Chuyện đó từ nay xóa hết, cô nương mau mau đi đi."

A Châu trong lòng bồn chồn, nghĩ thầm: "Kiều đại gia đã biết mình là người Khất Đan, không chừng sẽ đến sa mạc bắc phương, từ nay không trở lại Trung Nguyên nữa." Nàng hốt hoảng, vội đứng lên năn nỉ: "Kiều đại gia! Nếu đại gia nhất định bỏ đi, tiểu nữ sẽ nhảy xuống vực thẳm tự tận. A Châu này biết rồi, đại gia là anh hùng hảo hán Khất Đan, không coi đứa a hoàn hạ tiện người Hán vào đâu, chi bằng đi tìm cái chết là hơn."

Kiều Phong nghe giọng nàng cực kỳ thành khẩn, trong lòng đâm ra cảm động. Chàng vẫn nghĩ mình đã là giống mọi rợ thì bao nhiêu người Hán trong thiên hạ đều coi như rắn rết chỉ muốn tránh xa, ngờ đâu A Châu đối với mình vẫn không khác chút nào. Kiều Phong bất giác đưa tay ra nắm lấy tay nàng, dịu dàng nói: "A Châu! Nàng là thị tì của Mộ Dung công tử chứ nào phải của ta, ta.. ta nào có dám coi thường nàng?"

A Châu đáp: "Tiểu nữ không cần đại gia an ủi, thực ra trong lòng đại gia chẳng coi tiểu nữ vào đâu, bất tất phải giả vờ tìm câu nói lấy lòng." Nàng nhại lại mấy câu Kiều Phong vừa nói, thanh âm giọng điệu cũng giống hệt, nhưng trong ánh mắt đầy vẻ nghịch ngợm tinh ranh. Kiều Phong thốt nhiên cười ha hả, chàng đang buồn bực đến cùng cực, gặp được một cô gái thông minh lanh lợi an ủi như thế này, phiền não cũng khuây khỏa bớt.

A Châu bỗng nghiêm nét mặt nói: "Kiều đại gia, tiểu nữ phục thị Mộ Dung công tử thì có, nhưng không phải đã bán mình cho công tử đâu. Chỉ vì tiểu nữ từ bé không cha không mẹ bơ vơ lưu lạc, một hôm bị người ta hiếp đáp, gặp được Mộ Dung lão gia cứu đem về. Tiểu nữ không nơi nương tựa, mới ở lại nhà ông ta làm một đứa a hoàn. Thực ra Mộ Dung công tử cũng không coi tiểu nữ như đầy tớ, lại còn mua cho mấy đứa nô tì phục thị nữa kìa. A Bích muội tử cũng thế, được phụ thân cô ta gửi vào nhà Mộ Dung lão gia ở Yến Tử Ổ để lánh nạn. Năm xưa, Mộ Dung lão gia và phu nhân có nói rằng, ngày nào thiếp và A Bích muốn rời khỏi Yến Tử Ổ, Mộ Dung gia trang sẽ vui vẻ để bọn thiếp đi.." Nàng kể đến đây, khuôn mặt bẽn lẽn. Thực ra khi đó Mộ Dung phu nhân nói rằng: "Ngày nào A Châu, A Bích về nhà chồng, toàn thể gia trang nhà Mộ Dung sẽ làm lễ vu qui, dùng kiệu hoa đưa ra khỏi cửa, không khác gì gả con gái cho người ta". Nàng ngừng lại một chút rồi nói với Kiều Phong: "Từ nay trở đi tiểu nữ sẽ phục thị đại gia, làm kẻ nữ tì. Mộ Dung công tử không trách cứ gì đâu."

Kiều Phong xua tay lia lịa, nói: "Không được! Không được! Ta là một gã người Hồ man mọi, làm gì mà có nữ tì? Cô nương sống với gia đình phú quí đất Giang Nam đã quen, theo ta chỉ tổ phiêu lưu khổ sở, có gì là thú? Cô nhìn xem, một gã hán tử thô lỗ như ta liệu có đáng để cô nương phục thị không?"

A Châu thản nhiên cười đáp: "Thế thì đại gia cứ coi tiểu nữ là một đứa nô tì đi cướp về được, vui vẻ thì thưởng cho một nụ cười, bực mình thì tha hồ đánh đập mắng nhiếc. Đại gia đã vừa lòng chưa?" Kiều Phong mỉm cười, nói: "Ta chỉ đánh ra một quyền là cô chết ngay tức khắc," A Châu nói: "Vậy thì xin đại gia đánh nhè nhẹ thôi, đừng ra tay quá nặng." Kiều Phong cười ha hả nói: "Đánh nhè nhẹ thì thà không đánh còn hơn. Thế nhưng ta chẳng cần nô bộc làm quái gì." A Châu đáp: "Đại gia là một vị anh hùng Khất Đan, đi bắt vài cô gái người Hán về làm nô lệ có gì mà không được? Chính mắt đại gia cũng trông thấy quan binh nhà Đại Tống đi bắt người Khất Đan đấy thôi."

Kiều Phong lẳng lặng không nói gì nữa. A Châu thấy chàng nhíu mày, ánh mắt u uẩn, lại lo rằng mình nói câu gì thất thố để chàng phải buồn phiền.

Một hồi sau, Kiều Phong mới chậm rãi nói: "Trước nay ta tưởng chỉ có người Khất Đan hung ác tàn bạo, sát hại người Hán, nhưng hôm nay chính mắt thấy quan binh Đại Tống cũng tàn nhẫn giết hại những kẻ già cả yếu đuối, đàn bà trẻ con người Khất Đan. Ta.. ta.. A Châu ơi! Ta là người Khất Đan, nhưng từ nay không lấy thế làm thẹn mà cũng không nghĩ làm người Hán là vinh nữa."

A Châu nghe nói thế, biết chàng đã gỡ được nỗi u uất trong lòng, vô cùng hoan hỉ mà nói: "Thì tiểu nữ đã nói bất luận dân Hán hay dân Khất Đan cũng có người tốt người xấu mà. Người Hồ không giảo hoạt bằng người Hán, có khi lại còn ít kẻ xấu hơn."

Kiều Phong nhìn xuống vực thẳm lại nhớ chuyện năm xưa, nói: "A Châu! Song thân ta bị người Hán vô cớ sát hại, thù này không thể không trả." A Châu gật gật đầu, trong lòng không khỏi ngấm ngầm kinh hãi. Nàng hiểu rằng mấy chữ đơn giản "thù này không thể không trả" hàm chứa những cuộc ác đấu rùng rợn, máu chảy thây phơi.

Kiều Phong lại chỉ xuống vực thẳm, nói: "Năm xưa mẫu thân ta bị bọn họ sát hại, phụ thân ta đau xót không muốn sống nên đã nhảy xuống vực sâu cạnh tảng đá ban nãy. Trong khi đang rơi lưng chừng, vì không muốn ta phải chết theo, nên đã ném ta trở lên, Kiều mỗ mới có ngày hôm nay. A Châu ơi! Thế thì phụ thân ta yêu ta biết là dường nào, có phải vậy chăng?" A Châu nước mắt rưng rưng đáp: "Vâng!".

Kiều Phong lại tiếp: "Mối huyết hải thâm cừu của song thân ta, không lẽ quên đi không báo? Trước kia ta không biết, nhận thù làm bạn, nghĩ lại thật là bất hiếu. Nếu từ nay không đi tìm giết hung thủ sát hại song thân, Kiều mỗ còn mặt mũi nào đứng trong trời đất nữa? Không hiểu thủ lĩnh đại ca của bọn họ là ai. Y có ký tên dưới bức thư viết cho Uông bang chủ, nhưng Trí Quang hòa thượng đã xé ra nuốt mất rồi. Gã thủ lĩnh đại ca này chắc hẳn còn sống, nếu không bọn họ đâu cần phải che đậy giấu giếm làm chi?"

Chàng cứ tự hỏi rồi tự trả lời, biết rằng A Châu không giúp gì được mình trả mối đại cừu, nhưng có người nghe mình nói cũng đỡ phiền não ít nhiều. Chàng lại tiếp: "Gã thủ lĩnh đại ca kia suất lãnh được hào kiệt Trung Nguyên, hẳn phải là một nhân vật võ nghệ tuyệt luân, tiếng tăm vang dậy. Hắn gọi Uông bang chủ là Kiếm Nhiêm huynh đệ, mối giao tình không phải tầm thường, mà xem chừng khoảng sáu bảy chục tuổi. Một nhân vật lẫy lừng mà tuổi già như vậy tưởng cũng không khó tìm. À phải! Được xem phong thư kia thì chỉ có Trí Quang hòa thượng, Từ trưởng lão và Mã phu nhân của Cái Bang cùng Thiết Diện Phán Quan Đơn Chính. Gã Triệu Tiền Tôn kia cũng biết y là ai. Triệu Tiền Tôn thể nào cũng kể với sư muội y là Đàm bà, mà chắc Đàm bà cũng không giấu ông chồng đâu, Trí Quang hòa thượng và Triệu Tiền Tôn cũng là đồng lõa giết hại song thân ta, đương nhiên là ta phải giết, còn cái thằng khốn nạn Thủ lĩnh đại ca kia, hừ, hừ, ta.. ta phải giết sạch nhà nó từ già chí trẻ, con gà con chó cũng không tha."

A Châu sợ nổi da gà, đã toan nói: "Đại gia giết một mình gã thủ lĩnh đại ca cũng đủ rồi, tha cho gia đình người ta." Thế nhưng nàng thấy Kiều Phong thần uy lẫm liệt không dám nói gì trái ý, câu nói ra đến cửa miệng lại nuốt vào.

Kiều Phong lại tiếp: "Trí Quang hòa thượng vân du bốn bể, Triệu Tiền Tôn phiêu lưu vô định, hai người này khó lòng tìm được. Lão Thiết Diện Phán Quan Đơn Chính kia không tham gia giết hại song thân ta, ta đã giết hai đứa con của lão rồi, đứa con út cũng vì ta mà chết, không nên tìm y nữa. A Châu: Chúng ta lên đường đi tìm Từ trưởng lão của Cái Bang trước!"

A Châu nghe hai chữ "chúng ta" vui mừng khôn xiết, có nghĩa là chàng đã bằng lòng cho mình đi cùng. Nàng lặng lẽ nở một nụ cười, nghĩ thầm: "Dù đại gia có đến chân trời góc biển, tiểu nữ cũng nguyện đi theo."

Comments

0 comments

Trước Tiếp
 
34,431 ❤︎ Bài viết: 2241 Tìm chủ đề
Hồi 21: Nghìn dặm đường trường, mơ hồ mộng ảo

Hai người trở về hướng nam, lại đi vòng qua Nhạn Môn Quan đến một thị trấn nhỏ, tìm một khách điếm. A Châu không chờ Kiều Phong mở miệng đã bảo tiểu nhị lấy hai mươi cân rượu. Tên tiểu nhị thấy hai người không ra vợ chồng, cũng chẳng phải anh em đã lấy làm lạ, nghe đòi lấy hai mươi cân rượu, lại càng thêm ngạc nhiên. Gã đứng ngẩn ra nhìn hai người, không đi lấy rượu cũng chẳng trả lời. Kiều Phong trừng mắt nhìn gã, không giận mà tự nhiên sinh uy. Tên tiểu nhị hoảng hồn vội lật đật quay vào, lẩm bẩm: "Đòi lấy những hai mươi cân rượu, để tắm hay sao?"

A Châu cười nói: "Kiều đại gia! Bọn ta đi tìm Từ trưởng lão, xem ra chỉ chừng hai ngày là bị phát giác. Lúc đó đại gia vừa đi đường vừa đánh giết tuy cũng vui thật, nhưng Từ trưởng lão nghe hơi gió đã chạy mất dép thì làm sao bắt ông ta được?"

Kiều Phong cười ha hả nói: "Cô đừng có đưa ta lên mây. Giả tỷ trên đường gặp ai đánh nấy, địch nhân mỗi lúc kéo đến một đông mà mình chỉ có hai người, tất bị toi mạng." A Châu nói: "Nếu chỉ nguy hiểm thì cũng không đến nỗi, nhưng bọn chúng cúp đuôi chạy trốn hết thì mới là hỏng bét." Kiều Phong nói: "Vậy có tính thế nào? Hay là chúng ta ngày nghỉ đêm đi, có được chăng?"

A Châu mỉm cười nói: "Muốn bọn họ không nhận ra mình cũng chẳng khó gì. Có điều Kiều đại hiệp danh vang khắp thiên hạ, không biết có chịu cải trang hay không?" Nàng nói tới nói lui, cũng có hai chữ "cải trang" Kiều Phong cười nói: "Ta không phải người Hán, đã không muốn mặc bộ Hán phục này nữa rỗi. Thế nhưng ở Trung Nguyên mà mặc y phục Khất Đan thì đi lại thật bất tiện. A Châu! Cô bảo ta cải trang thế nào đây?" A Châu đáp: "Đại gia oai phong tuấn tú, ai thấy cũng chú ý. Tốt nhất là cải trang thành một nhân vật giang hồ tầm thường, bộ dạng không có gì đặc biệt. Người ta đi một ngày đường phải gặp cả trăm người như thế, chẳng ai thèm để ý đến." Kiều Phong vỗ tay khen: "Tuyệt diệu! Tuyệt diệu! Uống rượu xong cô cứ cải trang cho ta."

Chàng uống hết hai mươi cân rượu rồi, A Châu liền bắt tay vào việc. Nàng vừa nhồi vừa dán đủ loại bột mì, hồ dán, a dao, bao nhiêu điểm khác người trên mặt Kiều Phong đều biến mất, lại thêm cho chàng một bộ ria mép. Kiều Phong được hóa trang xong lấy gương soi, thì chính mình cũng không nhận ra mình nữa. Sau đó A Châu cũng tự cải trang thành một hán tử trung niên. Nàng vừa cười vừa nói: "Tướng mạo của đại gia đã thay đổi rồi, thế nhưng khi nói năng hay uống rượu là người ta nhận ra ngay." Kiều Phong gật đầu: "Ừ! Thế thì ta nói ít đi, uống ít rượu là xong."

Từ đó trên đường xuôi nam, Kiều Phong hết sức giữ ý, ít khi mở miệng, mỗi bữa cơm cũng chỉ uống hai ba cân rượu.

Một hôm đến Tam Giáp Trấn ở Tấn Nam, hai người ghé vào một tiệm mì, bỗng nghe ngoài cửa có hai gã ăn mày nói chuyện với nhau. Một gã nói: "Từ trưởng lão chết thê thảm quá, gân cốt trước ngực sau lưng đều đứt hết. Chắc lại là gã ác tặc Kiều Phong hạ độc thủ." Kiều Phong rùng mình nghĩ thầm: "Từ trưởng lão chết rồi sao?" Chàng liền đưa mắt về phía A Châu.

Lại nghe một gã khác nói: "Ngày mai phát tang tại thành Vệ Huy tỉnh Hà Nam, các trưởng lão cùng huynh đệ trong bang đều đến phúng điếu, chắc sẽ bàn cách bắt Kiều Phong." Gã ăn mày lại nói mấy câu tiếng lóng, nhưng Kiều Phong nghe cũng hiểu ngay. Y nói là Kiều Phong thanh thế rất lợi hại, không thể nói năng lung tung để thủ hạ của y nghe được.

Kiều Phong cùng A Châu ăn mì xong liền rời Tam Giáp Trấn. Ra khỏi thị trấn, Kiều Phong mới nói: "Bọn ta thử đến Vệ Huy xem sao, không chừng nghe ngóng được chút manh mối." A Châu đáp: "Phải rồi, cố nhiên ta phải tới đó. Nhưng những người đến phúng điếu Từ trưởng lão đều là cố nhân của đại gia. Đại gia nhớ phải cẩn thận cử chỉ ngôn ngữ, chở để lộ hình tích." Kiều Phong gật đầu, nói: "Cái đó đã hẳn." Hai người liền quay sang hướng đông, đi về phía thành Vệ Huy.

Hôm sau hai người đã đến Vệ Huy, trong thành đầy nghẹt đệ tử Cái Bang. Đứa thì vào nhà hàng ngồi ăn uống, đứa thì mổ heo giết chó trong ngõ hẻm, có đứa vừa xin xỏ vừa cướp giật ngay ở ngoài đường. Kiều Phong đau xót trong lòng, thấy đại bang đệ nhất trên giang hồ này chẳng còn qui củ gì. Còn đâu kỷ luật nghiêm minh, còn đâu bộ mặt hưng vượng khi mình nắm quyền bang chủ, mới chẳng bao lâu đã bị người đời coi rẻ. Vẫn biết Cái Bang với chàng này đã đổi bạn ra thù, nhưng chàng không khỏi luyến tiếc bao nhiêu năm tâm huyết của mình, chỉ một ngày tan thành mây khói.

Kiều Phong chợt nghe mấy đệ tử Cái Bang nói mấy câu tiếng lóng với nhau, biết được linh vị của Từ trưởng lão đặt tại một khu vườn hoang phía tây thành. Kiều Phong và A Châu mua ít nhang đèn, vàng mã và đồ lễ tam sinh đi theo người ta đến khấu đầu trước bài vị Từ trưởng lão.

Linh bài của Từ trưởng lão bôi đầy máu tươi, đó là thể lệ của Cái Bang, biểu thị người quá cố bị ám hại mà chết, bản bang phải trả thù rửa hận. Trong linh đường ai nấy thống mạ Kiều Phong kịch liệt, chẳng ngờ chàng đang ở ngay bên cạnh. Kiều Phong thấy chung quanh toàn là nhân vật đầu não của Cái Bang, sợ lộ hành tung nên không dám nấn ná, lập tức sóng vai A Châu đi ra. Chàng nghĩ thầm: "Từ trưởng lão chết rồi, trên đời này lại bớt đi một người biết Thủ lĩnh đại ca.".

Bỗng nhiên ở đầu hẻm tít đằng xa có một bóng nữ nhân cao to thấp thoáng lướt qua. Kiều Phong nhanh mắt nhận ngay ra Đàm bà, nghĩ bụng: "Hay quá, chắc là mụ đi viếng Từ trưởng lão đây, ta khỏi phải đi tìm" Lại thêm một người nữa vụt qua, khinh công cực cao, chính là Triệu Tiền Tôn.

Kiều Phong ngạc nhiên: "Hai người này thậm thụt với nhau, chắc có tình ý gì đây." Chàng biết hai vị sư huynh muội này đã có một đoạn tình sử dây dưa đến nay chưa dứt, nghĩ thầm: "Cả đôi đều sáu bảy chục tuổi rồi, chẳng lẽ còn lén lút tư tình hay sao?". Bản tính Kiều Phong vốn không ưa dính líu vào chuyện riêng tư của người khác, nhưng Triệu Tiền Tôn biết Thủ lĩnh đại ca là ai, mà chắc Đàm công Đàm bà cũng biết. Chàng nghĩ, nếu mình khám phá được bí ẩn bên trong, không chừng sẽ bức bách được họ phải thổ lộ ra, bèn ghé tai A Châu dặn nhỏ: "Nàng cứ ở khách điếm chờ ta." A Châu gật đầu, Kiều Phong lập tức đuổi theo hướng Triệu Tiền Tôn vừa chạy.

Triệu Tiền Tôn hành tung có vẻ bí mật, hết núp dưới góc tường phía đông lại nép vào chái nhà phía tây, tiến ra phía cửa đông thành. Kiều Phong bám theo xa xa, không hề bị phát giác. Thấy y chạy đến bờ sông, khom người chui vào khoang một chiếc thuyền gỗ lớn, Kiều Phong liền đề khí chạy tới, chỉ nhô lên thụt xuống mấy cái đã đến bên thuyền, rồi nhẹ nhàng nhảy lên mui nằm phục xuống, ghé sát tai nghe lỏm.

Trong khoang thuyền, Đàm bà thở dài một tiếng rồi nói: "Sư ca! Chúng ta đã già rồi, chuyện ngày xưa có hối hận thì cũng đã muộn, nhắc lại làm gì?" Triệu Tiền Tôn đáp: "Cuộc đời ta coi như bỏ đi rồi, hối hận mà làm gì? Tiểu Quyên ơi, ta hẹn nàng ra đây cũng chẳng có ý gì quan trọng, chỉ mong được nghe lại mấy khúc hát năm xưa nàng vẫn thường hát mà thôi." Đàm bà thở dài nói: "Trời ơi! Sao sư huynh si tình đến thế? Lang quân của muội tới Vệ Huy thấy sư ca đã không lấy gì làm vui, y lại đa nghi, sự ca không nên lại gần tiểu muội là hơn." Triều Tiên Tôn đáp: "Sợ quái gì cơ chứ? Chúng ta là sư huynh sư muội quang minh lỗi lạc, đến đây nhớ lại chuyện xưa, có gì mà không được?" Đàm bà lại thở dài một tiếng, nhỏ nhẹ nói: "Mấy khúc hát năm xưa, mấy khúc hát năm xưa.."

Triệu Tiền Tôn thấy bà đã động lòng, lại cố năn nỉ tiếp: "Tiểu Quyên! Hôm nay chúng ta gặp nhau, không biết bao giờ mới lại trùng phùng. Lỡ mà mạng ta chẳng được dài, nàng có muốn hát thì ta cũng chẳng có phúc được nghe nữa." Đàm bà nói: "Sư ca chớ có nói gở như thế. Nếu sư ca thật sự muốn nghe, thì để tiểu muội hát thầm một khúc cho sư ca nghe." Triệu Tiền Tôn vui mừng nói: "Hay quá! Tiểu Quyên ơi, đa tạ sư muội."

Đàm bà liền thầm thì hát: "Năm xưa thiếp ra sông giặt áo, Chàng trên cầu nhẹ gót theo sau.."

Mới hát được hai câu, nghe có tiếng lách cách, cửa khoang thuyền bị mở tung, một đại hán xông vào. Kiều Phong đã cải trang nên Đàm bà và Triệu Tiền Tôn không nhận ra. Hai người đang hoảng hốt, thấy không phải là Đàm công nên cũng hơi yên tâm, quát hỏi: "Ngươi là ai?" Kiều Phong lạnh lùng nhìn hai người, nói: "Một tên khinh bạc vô hạnh, dụ dỗ phụ nữ có chồng, một tên dâm đãng vô sỉ, trốn chồng đi gặp tình nhân.."

Chàng chưa nói hết câu, Đàm bà và Triệu Tiền Tôn đã ra tay, hai bên tả hữu cùng đánh tới. Kiều Phong né người đi một chút, xoay tay một cái chộp vào cổ tay Đàm bà, lại thúc khuỷu tay tấn công vào sườn bên trái Triệu Tiền Tôn. Triệu Tiền Tôn và Đàm bà đều là cao thủ hạng nhất, những tưởng chỉ một chiêu là hạ được đối phương. Ngờ đâu con người tướng mạo tầm thường kia lại có võ công cao siêu đến thế, vừa ra tay đã chuyển thủ thành công. Trong chỗ chật hẹp, hai người không thể thi triển tài nghệ, còn Kiều Phong đánh xa đánh gần gì cũng giỏi. Khoang thuyền rộng chưa đầy một trượng, chàng sử dụng toàn cầm nã thủ và đòn nhập nội cực kỳ linh động. Đến hiệp thứ bảy thì hông Triệu Tiền Tôn bị trúng một chỉ, Đàm bà luống cuống chậm tay một chút, bị một chưởng vào lưng, quỳ xuống ván thuyền.

Kiều Phong lạnh lùng nói: "Hai vị cứ ở đây nghỉ ngơi. Ở khu vườn hoang trong thành Vệ Huy đang có rất nhiều anh hùng hảo hán đến viếng Từ trưởng lão, ta đi mời họ tới đây bình phẩm vụ này sai đúng thế nào."

Triều Tiền Tôn và Đàm bà cả kinh, cố gắng vận khí nhưng huyệt đạo đã bị phong tỏa, ngay cả đầu ngón tay cũng không động đậy được. Hai người đều đã cao niên, thực ra cũng không làm điều gì càn rỡ quá mức, hẹn nhau ở đây chẳng qua để kể lể tình xưa nghĩa cũ mà thôi. Thế nhưng bấy giờ là thời Bắc Tống, ai cũng coi lễ giáo là hệ trọng, nhất là anh hùng hảo hán mà phạm vào nữ sắc lại càng bị giang hồ đàm tiếu. Một nam một nữ lén lút chui vào khoang thuyền gặp gỡ, ai mà tin nổi hai người chỉ nói chuyện tầm phào, hát cho nhau nghe? Nếu mọi người kéo đến bình phẩm thì còn ra gì nữa? Nhất là Đàm công, chắc chắn mất hết thể diện.

Đàm bà vội nói: "Vị anh hùng kia, chúng ta không có gì đắc tội với các hạ. Nếu có thể dung tình một chút, ta.. ta xin báo đáp." Kiều Phong nói: "Báo đáp thì không cần, tại hạ hỏi một câu. Hai vị chỉ thành thật trả lời ba chữ là tại hạ lập tức giải khai huyệt đạo, phủi tay đi thẳng, vĩnh viễn quên hết việc hôm nay." Đàm bà nói: "Nếu bà lão này biết được, sẽ xin nói thật."

Kiều Phong hỏi: "Có người được gọi là Thủ lĩnh đại ca, viết thư cho Uông bang chủ Cái Bang nói về Kiều Phong. Người ấy là ai?"

Đàn bà ngần ngừ chưa đáp, Triệu Tiền Tôn đã vội kêu lên: "Tiểu Quyên! Không được nói! Nghìn vạn lần không được nói!" Kiều Phong trừng mắt nhìn y, hỏi lại: "Ngươi không chịu nói, chấp nhận thân bại danh liệt hay sao?" Triệu Tiền Tôn đáp: "Lão gia thà chết. Vị Thủ lĩnh đại ca có ân với ta, ta nhất quyết không nói ra." Kiều Phong lại hỏi: "Ngươi bất chấp luôn cả thanh danh của Tiểu Quyên bị tiêu tan, phải không?" Triệu Tiền Tôn đáp: "Nếu Đàm công biết chuyện hôm nay, ta lập tức tự vẫn trước mặt y, lấy cái chết tạ tội, thế là xong hết.".

Kiều Phong quay sang Đàm bà nói: "Người đó chưa chắc đã có ân nghĩa gì với bà. Vậy bà nói ra đi, không những mọi người đều vui vẻ mà còn bảo toàn được danh dự cho lang quân cùng tính mạng của sư ca nữa." Đàm bà nghe chàng dọa giết Triệu Tiền Tôn, không khỏi rùng mình nói: "Được! Để ta nói cho các hạ nghe, người đó là.." Triệu Tiền Tôn thét lên: "Tiểu Quyên! Sư muội chớ có nói ra, nhất định chớ có nói ra. Ta van xin muội, khẩn khoản van xin muội. Gã này chắc là thủ hạ của Kiều Phong, chúng ta mà nói ra thì Thủ lĩnh đại ca nguy mất."

Kiều Phong đáp: "Kiều Phong chính thị là ta! Các ngươi không chịu nói thì hậu họa không biết đâu mà lường." Triệu tiền Tôn giật mình nói: "Thảo nào bản lĩnh của ngươi ghê gớm quá! Tiểu Quyên! Suốt cuộc đời ta chưa cầu xin nàng việc gì, đây là điều duy nhất ta xin nàng mà nàng cũng không bằng lòng ư?"

Đàm bà nghĩ thầm: "Sư ca thương yêu mình mấy chục năm qua, tình sâu nghĩa nặng, bị mình phụ bạc đã nhiều. Phen này y không tiếc mạng chỉ muốn bảo vệ cho ân nhân, ta không thể nào làm hỏng nghĩa cử của y được." Bà liền đáp: "Kiều bang chủ, việc ngày hôm nay các hạ muốn thiện hay ác cũng được. Sư huynh muội chúng ta tự vấn lương tâm không có gì đáng thẹn, có đất trời chứng giám. Việc các hạ muốn biết, xin miễn thứ cho bà lão này không thể trả lời." Mấy câu nói của bà ta tuy lễ độ nhưng rất cương quyết, nhất định không thổ lộ. Triệu Tiền Tôn vui mừng nói: "Tiểu Quyên! Đa tạ nàng, đa tạ nàng."

Kiều Phong biết có bức bách nữa cũng vô ích, chỉ hừ một tiếng rồi thò tay rút chiếc trâm ngọc trên đầu Đàm bà, nhảy ra khỏi khoang thuyền, chạy về thành Vệ Huy tìm Đàm công. Chàng hóa trang nên dọc đường không ai nhận ra. Đàm công, Đàm bà ngụ tại Như Quý khách điếm, ai cũng biết nên hỏi được ngay.

Đàm Công đang chắp tay sau lưng, bước lui bước tới trong phòng, xem ra cực kỳ bồn chồn. Kiều Phong vào đến khách điếm đưa tay ra, lòng bàn tay nắm sẵn chiếc trâm ngọc của Đàm bà.

Từ lúc phu phụ Đàm công đến Vệ Huy, Triệu Tiền Tôn cứ bám theo như hình với bóng. Đàm công trong dạ đã chẳng an, bây giờ thấy vợ mình biến đâu mất nửa ngày lại càng băn khoăn không hiểu bà ta đang ở chỗ nào, Lão vừa thấy cây trâm của Đàm bà thì nửa sợ nửa mừng, hỏi ngay: "Các hạ là ai? Phải chăng tệ nội nhờ các hạ đến đây dạy bảo việc gì?" Lão vừa nói vừa đưa tay cầm chiếc trâm ngọc. Kiều Phong để ông ta lấy chiếc trâm rồi mới đáp: "Tôn phu nhân bị người ta bắt, ngay đến nơi rồi." Đàm Công cả kinh nói: "Tệ nội võ công cũng khá, sao lại bị bắt dễ dàng như thế được?" Kiều Phong đáp: "Bị Kiều Phong bắt."

Đàm công nghe thấy tên Kiều Phong liền hết nghi ngờ, lại càng băn khoăn lo lắng, vội hỏi: "Kiều Phong ư? Ôi chao, nếu vậy thì nguy hiểm quá. Nội nhân ta.. đang ở chỗ nào?" Kiều Phong đáp: "Các hạ muốn tôn phu nhân sống thì cũng dễ, mà muốn tôn phu nhân chết thì lại càng dễ hơn." Đàm công tính tình trầm ổn, tuy nóng nảy trong lòng mà vẻ mặt vẫn bình thản, hỏi lại: "Xin được chỉ giáo.".

Kiều Phong nói: "Kiều Phong có một việc muốn hỏi Đàm công, nếu các hạ nói thật thì lập tức thả tôn phu nhân ra, không rụng một sợi tóc. Còn nếu các hạ không nói, Kiều Phong chỉ còn cách đem phu nhân xử tử, rồi đem thi thể phu nhân cùng thi thể Triệu Tiền Tôn chôn chung một chỗ."

Đàm công nghe câu cuối cùng không nhịn được nữa, quát lên một tiếng, vung chưởng đánh vào mặt Kiều Phong. Kiều Phong nghiêng người hơi lùi lại một chút, chưởng đó đánh chệch vào quãng không. Đàm Công cả kinh nghĩ thầm: "Phát chưởng của mình nhanh như điện chớp, ghê gớm đến thế mà y né dễ như chơi." Lão lại phóng hữu chưởng đánh xéo qua, đồng thời tả chưởng tạt ngang. Kiều Phong thấy trong phòng chật hẹp không dễ gì tránh né được, liền dựng thẳng tay phải lên chịu đòn. Nghe bịch một tiếng, phát chưởng đó đánh trúng cánh tay, Kiều Phong vẫn đứng không nhúc nhích, thuận đà vung tay ra, đè xuống bả vai Đàm công.

Đàm công lập tức cảm thấy vai mình như bị một tảng đá nghìn cân đè lên, vội vàng vận kình chống đỡ nhưng đầu vai như đụng phải một ngọn núi, xương sống kêu răng rắc như muốn gãy, đầu gối khuỵu dần xuống. Lão cố đứng thẳng, không chịu lộ ra vẻ khiếp nhược, nhưng không tự chủ được nữa, hai khớp xưởng đầu gối không chịu được sức nặng ngàn cân, không quì không được.

Kiều Phong cố ý làm nhụt ngạo khí của lão ta nên lại gia tăng kính lực ép xuống, tới lúc lưng Đàm công cong như cánh cung, trán chạm đất trông như khấu đầu lạy lục. Đàm công đỏ mặt tía tai, ra sức vùng vẫy, dồn hết sức lực đẩy người lên. Đột nhiên Kiều Phong buông tay, sức nặng nghìn cân trên vai Đàm công biến mất. Lão ta thu sức về không kịp, người vọt lên cao hơn một trượng, đầu va vào xà nhà đánh rầm một tiếng khiến cây gỗ gãy ra làm đôi.

Kiều Phong không đợi lão rơi lại xuống đất, đưa tay ra chộp lấy ngực. Cánh tay Kiều Phong thật dài mà Đàm công thân hình nhỏ thó, bất luận lão đấm đá thế nào cũng không chạm tới người đối phương. Hơn nữa, hai chân lơ lửng trên không thì dù võ công cao siêu đến đâu cũng khó bề thi thố. Đàm công chợt tỉnh ngộ quát to: "Thì ra ngươi chính là Kiều Phong." Kiều Phong đáp: "Không sai, Kiều Phong chính thị là ta!"

Đàm công giận dữ nói: "Ngươi.. Ngươi.. Mẹ kiếp! Sao ngươi lại nói phu nhân ta có dính dáng đến cả thằng khốn kiếp Triệu Tiền Tôn?" Lão giận nhất là câu dọa giết Đàm Bà rồi đem chôn chung với thi thể Triệu Tiền Tôn vào một huyệt.

Kiều Phong nói: "Mụ vợ ngươi dính dáng đến y thì có liên can gì đến ta đâu? Ngươi có muốn biết Đàm bà lúc này đang ở đâu không? Có muốn biết mụ ta đang nói chuyện ngả ngớn, hát xướng tình tang với ai không?" Đàm công nghe nói thế, biết vợ mình đang là lơi với Triệu Tiền Tôn. Lão không dằn lòng được nữa, liền hỏi dồn: "Mụ ta ở đâu? Ngươi dẫn ta đến đó."

Kiều Phong cười khẩy: "Thế người đã làm gì cho ta chưa? Tại sao ta lại phải dẫn ngươi đi?"

Đàm công nhớ lại lời Kiều Phong yêu cầu mình, liền hỏi: "Ngươi vừa bảo có việc cần hỏi ta. Việc gì vậy?" Kiều Phong đáp: "Hôm trước ở rừng hạnh ngoài thành Vô Tích, Từ trưởng lão có đưa ra một lá thư gửi cho bang chủ tiền nhiệm Cái Bang là Uông Kiếm Thông. Lá thư đó do ai viết?"

Đàm công chân tay run rẩy, lúc này lão đang bị Kiều Phong nhấc lơ lửng, chỉ cần chàng nhả nội lực ra là lão lập tức mất mạng. Thế nhưng trời sinh lão bản tính cương cường, vẫn đáp: "Người đó có thù giết cha ngươi, ta nhất quyết không thể tiết lộ tính danh. Nếu không, người thể nào cũng tìm ông ấy để báo thù, chẳng hóa ra chính ta hại mạng ông ấy hay sao?" Kiều Phong nói: "Ngươi không chịu nói tức là tự hại mạng mình trước." Đàm công cười ha hả đáp: "Ngươi coi Đàm mỗ là hạng người nào? Là hạng tham sinh úy tử, bán rẻ bạn bè hay sao?"

Kiều Phong thấy lão gắng bảo toàn nghĩa khí, trong lòng rất kính phục. Giả tỷ là chuyện khác thì chắc chàng không truy vấn nữa, nhưng mối thù giết cha mẹ há phải tầm thường? Kiều Phong bèn hỏi lại: "Ngươi không tiếc mạng mình đã đành, chẳng lẽ cũng không tiếc mạng vợ? Thanh danh Đàm công Đàm bà từ đây trôi theo dòng nước để thiên hạ cười chê, ngươi cũng không sợ ư?"

Trong võ lâm thì danh dự là quan trọng nhất, hảo hán trên giang hồ coi thanh danh trọng hơn tính mạng.

Đàm công nghe mấy câu đó bèn nói: "Đàm mỗ ngồi không nghiêng đứng không ngả, bình sinh không làm chuyện có lỗi với bạn bè, làm gì có chuyện thanh danh trôi theo dòng nước để thiên hạ cười chê?" Kiều Phong thản nhiên đáp lại: "Thế nhưng Đàm bà chưa hẳn đã ngồi không nghiêng đứng không ngả, còn Triệu Tiền Tôn chưa hẳn đã không làm chuyện có lỗi với bạn bè."

Mặt Đàm Công liền đỏ bừng rồi chuyển sang xanh xám. Lão trừng mắt hầm hầm nhìn Kiều Phong.

Chàng buông tay thả lão xuống đất, quay gót đi ngay. Đàm Công không nói một lời, lập tức bước theo. Hai người kẻ trước người sau ra khỏi thành Vệ Huy. Trên đường gặp vô số giang hồ hào khách nhận ra Đàm công, ai cũng cung kính thi lễ nhường lối, lão chỉ ậm ừ có lệ rồi chạy vụt qua. Chẳng mấy chốc hai người đã đến bên chiếc thuyền gỗ.

Kiều Phong tung mình nhảy lên thuyền, chỉ vào trong khoang, nói: "Ngươi vào mà xem cho rõ!" Đàm công nhảy lên theo, nhìn vào trong khoang, thấy vợ mình cùng Triều Tiên, Tôn tựa gối kề vai ngồi nép trong một góc. Lão điên tiết lên, phóng chưởng đánh vào đầu Triệu Tiền Tôn nghe "binh" một tiếng. Triệu Tiền Tôn chỉ lắc lư, không trả đòn cũng không né tránh. Bàn tay Đàm công vừa chạm vào đầu Triệu Tiền Tôn, lão đã phát giác ra có điều kỳ dị, vội vàng đưa tay sờ vào mặt vợ thì thấy giá lạnh như băng, té ra mụ đã chết từ lúc nào rồi. Đàm công run bắn người lên, đặt tay lên mũi bà ta cũng thấy chẳng còn chút hơi thở nào. Lão ngơ ngẩn, đưa tay sờ trán Triệu Tiền Tôn thấy cũng lạnh ngắt, bị phẫn khôn tả, hầm hầm nhìn Kiều Phong bằng cặp mắt tóe lửa.

Kiều Phong thấy Đàm bà cùng Triệu Tiền Tôn bỗng nhiên chết bất đắc kỳ tử thì kinh dị vô cùng. Lúc ra khỏi thuyền, chàng chỉ điểm huyệt hai người, sao hai tay cao thủ này lại chết bất ngờ như thế? Chàng nhấc Triệu Tiền Tôn lên, xem qua không thấy vết thương nào, cũng không có dấu máu, liền giật tung áo trên ngực y nghe soạt một tiếng, thấy một vết bầm thật lớn, hiển nhiên đã trúng chưởng lực rất nặng. Lạ lùng nhất là vết bàn tay hung thủ giống hệt bàn tay chàng.

Đàm công ôm Đàm bà lên, xoay lưng lại, cởi áo bà ta ra xem vết thương trên ngực thấy cũng y hệt Triệu Tiền Tôn. Lão muốn khóc nhưng nước mắt không chịu chảy, nghiến răng nói với Kiều Phong: "Ngươi thật là mặt người dạ thú, cùng hung cực ác!".

Kiều Phong kinh ngạc không biết phải nói sao, chỉ nghĩ: "Không biết ai ra tay đánh chết Đàm bà và Triệu Tiền Tôn? Kẻ này công lực thâm hậu ghê gớm, không lẽ cũng chính là kẻ đối đầu với mình? Làm sao hắn biết hai người này đang ở trên thuyền?"

Đàm công đau lòng vì vợ yêu chết thảm, vận kình lên hai cánh tay, dốc toàn lực xông vào Kiều Phong. Chàng tránh qua một bên, chỉ nghe tiếng lách cách, chưởng lực của Đàm công đã đánh gãy một bên khoang thuyền. Kiều Phong liền vươn tay ra chộp lấy vai lão, nói: "Đàm công, tôn phu nhân không phải do ta giết, ông có tin thế không?" Đàm công hỏi lại: "Không phải người thì còn ai?" Kiều Phong nói: "Hiện giờ mạng ông ở trong tay ta. Kiều mỗ giết ông dễ như trở bàn tay, nói dối để làm gì?" Đàm công nói: "Ngươi vì muốn tra xét cho ra kẻ giết cha mà ra tay tàn độc. Đàm mỗ tuy võ công không bằng ngươi, nhưng đâu chịu để ngươi coi như thằng ngốc?" Kiều Phong nói: "Được lắm! Ông cho ta biết danh tánh kẻ đã giết cha ta, ta sẽ nhận trách nhiệm báo thù kẻ giết tôn phu nhân"

Đàm công vẻ mặt thê thảm, cười sặc sụa như điên khùng, mấy lần cố vận kình lực để giật khỏi tay Kiều Phong, nhưng chàng vẫn giữ được vai lão một cách nhẹ nhàng. Đàm công giãy giụa mạnh lên thì kình lực của đối phương lại tăng theo, thủy chung vẫn không thoát được. Đàm công đã quyết chí, bèn thè lưỡi ra, hai hàm răng nghiến mạnh một cái tiện đứt đầu lưỡi, miệng đầy máu tươi phun thẳng vào mặt Kiều Phong. Chàng vội buông tay né tránh, Đàm công liền xông tới, đem hết tàn lực giơ chân đạp cái xác của Triệu Tiền Tôn qua một bên, hai tay ôm lấy thi thể Đàm bà, đầu ngoẹo xuống, tắt thở chết ngay.

Kiều Phong nhìn thảm trạng này, trong lòng không khỏi bồi hồi đau xót. Phu phụ họ Đàm và Triệu Tiền Tôn tuy không phải chính tay chàng giết, nhưng cũng vì chàng mà chết. Giả tỷ Kiều Phong muốn hủy diệt vết tích thì chỉ giẫm chân một cái đạp thủng đáy thuyền cho nước chảy vào, mấy cái thi thể chìm xuống đáy sông là xong. Nhưng chàng nghĩ thầm: "Nếu ta che giấu ba cái xác này đi, chẳng hóa ra có tật giật mình hay sao?" Kiều Phong ra khỏi khoang thuyền, nhảy lên bờ tìm xem có dấu chân hay manh mối gì chăng, nhưng tuyệt nhiên không thấy một chút tăm tích.

Chàng rảo bước về khách điếm. A Châu đang đứng ngóng ngoài cửa, thấy Kiều Phong trở về bình yên thì mừng rỡ ra mặt. Nàng nhìn kỹ thấy chàng thần thái bất định, biết ngay việc đuổi theo Triệu Tiền Tôn và Đàm bà chẳng được tích sự gì, bèn hạ giọng hỏi nhỏ: "Đại gia! Thế nào?" Kiều Phong đáp: "Chết sạch rồi!" A Chậu rùng mình hỏi lại: "Cả Đàm bà lẫn Triệu Tiền Tôn ư?" Kiều Phong đáp: "Luôn cả Đàm công nữa, hết thảy ba người."

A Châu tưởng là chàng giết, trong bụng tuy không hài lòng nhưng không tiện trách cứ, đành nói: "Triệu Tiền Tôn có tham gia sát hại phụ thân đại gia, có giết cũng.. cũng là phải." Kiều Phong lắc đầu đáp: "Không phải ta giết đâu." A Châu thở ra, nói: "Nếu không phải đại gia giết thì tốt lắm. Tiểu nữ vẫn nghĩ rằng Đàm công, Đàm bà chưa đắc tội với đại gia, có thể tha được. Vậy thì ai giết họ thế?" Kiều Phong lắc đầu: "Ta cũng không biết." Chàng bấm ngón tay tính toán rồi nói: "Bây giờ chỉ còn có ba người biết tên chính phạm đại ác kia. A Châu! Chúng ta phải hành động thật nhanh, đừng để kẻ địch ra tay trước, việc nào cũng phải chiếm thượng phong." A Châu đáp: "Đúng thế! Mã phu nhân thì căm giận đại gia thấu xương, dù gì cũng không chịu nói ra đâu, Huống chi áp bức tra hỏi một quả phụ đâu phải là hành vi của bậc đại trượng phu? Còn chùa của Trí Quang hòa thượng thì ở tận Giang Nam. Thôi, mình đến Thái An đất Sơn Đông tìm nhà họ Đơn vậy."

Kiều Phong khóe mắt lộ vẻ thương xót, nói: "A Châu! Mấy hôm nay nàng quả là cực khổ." A Châu lớn tiếng gọi: "Chủ quán, mau tính tiền!" Kiều Phong lấy làm lạ hỏi: "Để sáng mai hãy tính, vội gì?" A Châu đáp: "Không được! Chúng ta phải đi suốt đêm, đừng để kẻ địch nhanh hơn lần nữa." Kiều Phong cảm kích trong lòng, chầm chậm gật đầu.

Đến tối, hai người ra khỏi thành Vệ Huy, trên đường đã nghe thiên hạ bàn tán xôn xao về chuyện Kiều Phong – con quỷ Khất Đan khát máu hạ độc thủ giết chết phu phụ Đàm công và Triệu Tiền Tôn. Những người đó vừa nói chuyện vừa lấm lét nhìn quanh chỉ sợ Kiều Phong bất thần xuất hiện. Họ có biết đâu chàng ở ngay bên cạnh, nếu muốn giết thì chỉ động ngón tay là xong, trốn đâu cho thoát?

Kiều Phong cùng A Châu thuê ngựa, chạy suốt ngày đêm về hướng đông. Cưỡi ngựa ròng rã hai ngày, tuy A Châu chẳng hề than mệt, nhưng mắt nhắm mắt mở suýt ngã mấy lần. Kiều Phong biết nàng không chịu nổi nữa, liền bỏ ngựa thuê xe. Hai người ngồi trên xe ngủ được ba bốn giờ, tinh thần hơi tỉnh táo lại bỏ xe đi ngựa cho nhanh. A Châu vui vẻ nói: "Lần này Tên Đại Ác kia không thể nhanh hơn mình được." Cả nàng lẫn Kiều Phong đều không biết họ tên kẻ địch, mỗi khi đề cập đến hắn lại gọi là Tên Đại Ác.

Trong lòng Kiều Phong vẫn ngấm ngầm lo âu, thấy Tên Đại Ác này lần nào cũng nhanh hơn mình một bước. Võ công y không kém gì mình, còn mưu lược thì hơn mình xa. Huống gì tới lúc này mình vẫn chưa tìm ra manh mối, còn mình làm gì kẻ địch đều biết rõ. Trong đời Kiều Phong chưa bao giờ gặp một đối thủ lợi hại như vậy, may mà chàng vẫn hào khí ngất trời, không chút sợ hãi.

Gia trang của Thiết diện phán quan Đơn Chính ở ngoài cửa đông huyện thành Thái An, tỉnh Sơn Đông, ai ai cũng biết, Kiều Phong và A Châu đến Thái An thì trời đã xế chiều, hỏi rõ đường đi rồi lập tức băng qua thành tới Đơn gia trang. Hai người ra khỏi cửa đông chừng một dặm bỗng thấy khói bốc ngụt trời, thanh la đánh vang dậy, văng vẳng có tiếng người kêu: "Cháy nhà, cháy nhà! Mau đi cứu hỏa." Kiều Phong không để ý, cứ phóng ngựa chạy nhanh, càng lúc càng gần đám cháy. Lại nghe tiếng người la lối: "Cứu hỏa mau, cứu hỏa mau! Nhà của Thiết diện Đơn gia đó!"

Kiều Phong và A Châu cùng hoảng hốt ghìm ngựa lại, đưa mắt nhìn nhau nghĩ thầm: "Chẳng lẽ Tên Đại Ác lại đi trước một bước?" A Châu tìm lời an ủi: "Đơn Chính võ công cao cường, dẫu bị cháy nhà cũng không việc gì đâu."

Kiều Phong lắc đầu. Từ khi chàng giết chết nhị hổ của Đơn gia đã kết oán sâu xa. Lần này đến Thái An tuy không có ý giết người, nhưng chàng biết chắc Đơn Chính cùng anh em con cháu ông ta tất chẳng chịu tha mình, đã chuẩn bị một cuộc đại chiến. Ngờ đâu mình chưa đến được trang viên, đối phương đã bị hỏa tai, trong lòng chàng không khỏi cảm thấy bùi ngùi.

Càng đến gần Đơn gia trang càng thấy hơi lửa nóng táp vào mặt, ánh lửa chiếu đỏ một góc trời, thật là một vụ hỏa hoạn lớn. Dân chúng quanh vùng đổ xô tới chữa lửa, kẻ thì tạt nước, người thì xúc cát hất vào. May mà chung quanh Đơn gia trang đều có hào sâu nên lửa không cháy lan ra chung quanh.

Kiều Phong và A Châu đến gần đám cháy liền xuống ngựa đứng xem. Bỗng nghe một hán tử than thở: "Đơn lão gia là đại hảo nhân, mấy chục năm nay cứu tế chẩn bần đã tích biết bao công đức, thế mà không những cháy nhà, toàn gia hơn ba chục người cũng không một ai thoát ra được." Một người khác đáp: "Nhất định là kẻ thù phóng hỏa rồi giữ chặt cửa không cho ai chạy ra. Nếu không phải thế, trong Đơn gia đến cả đứa trẻ lên năm cũng biết võ, lẽ nào lại không thoát được?" Người kia bèn nói: "Nghe nói Đơn đại gia, Đơn nhị gia, Đơn ngũ gia đều bị một tên ác tặc tên là Kiều Phong gì gì đó giết hại ở Hà Nam. Lần này đến đây sát nhân phóng hỏa, chẳng phải tên đại ác đó thì còn ai nữa?"

A Châu cùng Kiều Phong mỗi khi đề cập tới kẻ đối đầu đều gọi là Tên Đại Ác. Lúc này nghe mấy người nhà quê cũng gọi mình là tên đại ác, không khỏi đưa mắt nhìn nhau.

Người trẻ tuổi hơn nói: "Nhất định là Kiều Phong rồi!" Y nói đến đây liền hạ giọng xuống, tiếp: "Hẳn là y đưa vô số thủ hạ xông vào trang viện, giết sạch cả nhà họ Đơn không chừa con gà con chó. Trời ơi! Trời không có mắt!" Người lớn tuổi hơn nói: "Thằng cha Kiều Phong kia tội ác ngập đầu, sau này nhất định chết thảm gấp trăm lần các vị đại gia nhà họ Đơn."

A Châu nghe bọn họ rủa Kiều Phong, tức mình giơ tay vỗ vào cổ ngựa một cái, con ngựa giật mình, phóng chân trái ra đá trúng mông gã kia. Y kêu lên một tiếng, ngã sấp xuống. A Châu hỏi: "Cái miệng dơ bẩn của ngươi nói gì lắm thế?" Gã bị ngựa đá đau, lại nghĩ đến thủ hạ tên đại ác kia hẳn là đông lắm, sợ mất vía không dám có ý kiến gì nữa, vội vàng lủi mất.

Kiều Phong mỉm cười buồn bã, cùng A Châu đến bên đám cháy. Mọi người xôn xao bàn tán, đều nói nam phụ lão ấu nhà họ Đơn hơn ba chục người không ai thoát chết. Kiều Phong ngửi thấy mùi xác người cháy khét lẹt bốc ra, biết là họ nói không sai, cả nhà Đơn Chính chết cháy cả.

A Châu khẽ nói: "Tên Đại Ác này quả là tàn nhẫn. Y giết cha con Đơn Chính đã đành, sao lại phải giết toàn gia, đốt luôn cả trang viện?" Kiều Phong hừ một tiếng nói: "Cái đó kêu bằng nhổ cỏ phải nhổ tận gốc. Nếu là ta, thì ta cũng đốt nhà." A Châu kinh hãi hỏi lại: "Sao thế?" Kiều Phong đáp: "Hôm ở rừng hạnh, Đơn Chính có nói mấy câu: Tại hạ và người viết thư kết bạn lâu năm, trong nhà còn giữ nhiều thư từ của người đó nên lập tức dẫn Từ trưởng lão và Mã phu nhận về tệ xá lấy những lá thư cũ ra so, bút tích quả nhiên giống hệt. Chắc cô còn nhớ." A Châu thở dài: "Phải rồi! Nếu Tên Đại Ác chỉ giết Đơn Chính thì đại gia cũng đến Đơn gia trang lục ra mấy bức thư kia mà biết họ tên y, nên y phóng hỏa đốt nhà cháy rụi, chẳng thư tín nào còn lưu lại được nữa."

Khi đó người đến cứu hỏa mỗi lúc một đông, nhưng thế lửa đang mạnh, bao nhiêu nước dội vào chỉ khoảnh khắc là bốc hơi hết, Những luồng hơi nóng bốc lên thổi dạt mọi người ra. Đám đông vừa thở than vừa chửi rủa Kiều Phong, dân quê mùa nắng nhiếc thô tục thật là khó nghe.

A Châu chỉ sợ Kiều Phong nghe những lời nhục mạ vô lý đó, nổi cơn thịnh nộ chém giết thì thật là thê thảm cho dân làng này, Nàng len lén nhìn, thấy mặt chàng lộ ra một vẻ kỳ lạ, vừa như đau lòng, vừa như hối hận, nhất là thương cho đám dân quê ngu dốt không đáng giết. Lát sau Kiều Phong thở dài sườn sượt rồi nói: "Thôi, mình lên núi Thiên Thai."

Phải đến núi Thiên Thai là việc vạn bất đắc dĩ. Trí Quang đại sư tuy năm xưa có tham gia sát hại song thân chàng, nhưng về sau đại phát từ bi, lặn lội đến những nơi xa tít tìm các loại cây cỏ đem về chế thuốc chữa bệnh ngã nước cho bách tính vùng Triết Mân, Lưỡng Quảng cứu sống được vô số người. Chính đại sư vì thế mà nhiễm trọng bệnh, khi khỏi bệnh lại mất hết võ công. Hành vi cứu nhân độ thế này, trên giang hồ không ai không kính trọng. Nói đến Trí Quang đại sư ai cũng tán tụng là Vạn Gia Sinh Phật. Kiều Phong nếu không vì bế tắc trong việc tìm kiếm manh mối sự thật thì không bao giờ đến làm phiền nhiễu ông ta.

Hai người rời huyện Thái An tìm đường đi xuống phía nam. Lần này Kiều Phong không chạy thục mạng nữa, nghĩ thầm nếu như mình đi thong thả không chừng lại giữ được tính mạng cho Trí Quang đại sư. Nếu cứ gấp rút khẩn trương như lần trước, khi đến núi Thiên Thai biết đâu chỉ còn thấy thi thể nhà sư giữa hoang tàn tro bụi. Huống chi Trí Quang vân du vô định, bốn biển là nhà, chưa chắc gì đang ở tại chùa.

Núi Thiên Thai ở Triết Đông, Kiều Phong cùng A Châu từ Thái An đi về hướng nam. Lần này hai người chẳng khác gì du sơn ngoạn thủy, vừa đi vừa đàm luận những chuyện giang hồ, nếu trong bụng không lo âu thì quả là một chuyến du lịch thú vị.

Một hôm đến Trấn Giang, hai người lên chùa Kim Sơn xem phong cảnh. Kiều Phong, nhìn nước sông cuồn cuộn xuôi mãi về Đông sực nghĩ ra một việc, nói: "Không chừng gã Thủ lĩnh đại ca và Tên Đại Ác là một." A Châu vỗ tay, nói: "Đúng rồi! Sao mình chưa nghĩ tới chuyện đó nhỉ?" Kiều Phong nói: "Nếu là hai người thì họ phải liên quan mật thiết với nhau, còn không thì việc gì Tên Đại Ác phải dùng thiên phương bách kế để che giấu gã Thủ lĩnh đại ca? Thế nhưng đến như Uông bang chủ cũng còn theo phò tá, thì gã Thủ lĩnh đại ca kia phải là một nhân vật ghê gớm lắm, cả Tên Đại Ác cũng phải như vậy. Trên đời này làm gì có hai cao nhân thân thiết như một mà ta lại không biết? Suy luận như thế, dĩ nhiên hai người này là một. Ta chỉ cần giết được Tên Đại Ác là coi như trả xong mối thù giết hại song thân rồi."

A Châu gật đầu khen phải, nói tiếp: "Kiều đại gia, hôm đó nơi rừng hạnh bọn họ kể lại chuyện ngày xưa, tiểu nữ e rằng.. e rằng.." Nói tới đây giọng nàng bất giác run lên. Kiều Phong tiếp lời: "E rằng Tên Đại Ác có mặt tại đó phải không?" A Châu run run đáp: "Đúng vậy. Hôm ở khu rừng hạnh, Thiết diện phán quan Đơn Chính chỉ nói mấy câu mà hôm nay toàn gia cháy mất xác.. Ôi chao, tiểu nữ càng nghĩ càng thấy sợ." Nàng run rẩy nép vào Kiều Phong.

Chàng nói: "Tên này độc ác trên đời khó gặp. Triệu Tiền Tôn chấp nhận thân bại danh liệt, không chịu thổ lộ chân tướng của y. Đơn Chính với y có giao tình lâu năm, thế mà y đang tâm hạ độc thủ cả hai người. Đêm đó nơi rừng hạnh, làm gì có nhân vật nào lợi hại đến thế?" Chàng suy nghĩ một chút, nói tiếp: "Ta còn thấy một chuyện rất quái lạ!" A Châu hỏi: "Chuyện gì thế?" Kiều Phong bâng khuâng nhìn chiếc thuyền buồm trên sông, nói: "Tên Đại Ác thông minh mưu trí hơn ta một bực, võ công cũng vì tất đã kém ta. Nếu y muốn lấy mạng ta, e rằng cũng chẳng khó gì. Thế sao y không hạ thủ, lại còn sợ ta biết y là ai?" A Châu nói: "Kiều đại gia cũng không nên quá khiêm nhường. Tiểu nữ nghĩ rằng Tên Đại Ác kia tuy võ công có cao siêu thật, nhưng y đang sợ đòi mạng. Gần đây y cứ nơm nớp sợ đại gia biết được mà đến báo thù. Nếu không, y việc gì phải giết phu phụ Kiều lão, Huyền Khổ đại sư, Triệu Tiền Tôn, Đàm bà, rồi toàn gia Thiết Diện Phán Quan nữa." Kiều Phong gật đầu nói: "Chắc là như thế." Chàng quay sang nhìn A Châu tủm tỉm cười, nói: "Y đã không dám đến hại ta, thì tất nhiên cũng chẳng dám đến gần cô, chẳng việc gì phải sợ" Ngừng một lúc, Kiều Phong lại thở dài: "Tâm cơ gã này quả là ghê gớm. Kiều mỗ mang tiếng anh hùng thật uổng, bị kẻ khác coi như đồ chơi mà không làm gì được."

Hai người vượt sông Trường Giang, chẳng mấy chốc lại vượt sông Tiền Đường, đến huyện Thiên Thai. Kiều Phong và A Châu nghỉ lại khách điếm một đêm. Sáng hôm sau Kiều Phong vừa dậy, đang định hỏi đường lên núi thì chưởng quĩ hấp tấp chạy vào nói: "Kiều đại gia! Có một vị sư phụ ở chùa Chỉ Quán trên núi Thiên Thai xin được bái kiến." Kiều Phong giật mình vì khi thuê phòng chàng đã xưng là họ Quan, bèn hỏi lại: "Sao ngươi lại gọi ta là Kiều đại gia?" Gã chưởng quĩ đáp: "Sư phụ chùa Chỉ Quán tả tướng mạo Kiều đại gia cho tiểu nhân hay, không khác chút nào." Kiều Phong và A Châu đưa mắt nhìn nhau, trong lòng hồi hộp. Hai người đã hóa trang khác hẳn lúc còn ở huyện Thái An tỉnh Sơn Đông, thế mà vừa đến Thiên Thai đã bị người ta nhận ra ngay. Kiều Phong nói: "Thôi được, mời vị đại sư đó vào đây."

Chưởng quĩ trở gót đi ra, chẳng bao lâu đã đưa một nhà sư lùn mập chừng ba mươi tuổi vào phòng. Nhà sư đó chắp tay thi lễ với Kiều Phong, nói: "Gia sư thượng Trí hạ Quang, sai tiểu tăng là Phác Giả đến đây mời Kiều đại gia cùng Nguyễn cô nương lên tệ tự vãn cảnh." Kiều Phong thấy y biết cả A Châu họ Nguyễn, lại càng lấy làm kỳ dị. Chàng hỏi: "Không hiểu tại sao sư phụ lại biết được họ của bọn tại hạ?" Nhà sư Phác Giả đáp: "Gia sư dặn tiểu tăng đến khách điếm Khuynh Cái huyện Thiên Thai, đón Kiều anh hùng cùng Nguyễn cô nương lên núi. Các hạ là Kiều đại gia, còn Nguyễn cô nương không biết đang ở đâu?"

A Châu đang hóa trang thành một người đàn ông trung niên nên hòa thượng Phác Giả không nhìn ra, lại tưởng Nguyễn cô nương không có ở đây.

Kiều Phong lại hỏi: "Bọn tại hạ mới đến đây tối hôm qua, sao tôn sư lại biết sớm thế? Phải chăng người là bậc tiên tri?" Phác Giả chưa kịp trả lời, gã chưởng quĩ đã xen vào: "Trí Quang lão thần tăng ở Chỉ Quán Thiền Tự thần thông quảng đại, chỉ bấm độn là biết được Kiều đại gia sắp đến. Đừng nói gì một hai ngày, việc năm trăm năm sau lão nhân gia cũng biết được sáu bảy phần mười."

Kiều Phong biết Trí Quang đại sư tiếng tăm vang dội, dân chúng coi ông như thần thánh nên không muốn nói nhiều, đáp ngay: "Nguyễn cô nương sẽ đến sau. Bây giờ nhờ hòa thượng đưa bọn tại hạ lên bái kiến tôn sư trước." Nhà sư Phác Giả nói: "Xin vâng." Kiều Phong gọi thanh toán tiền trọ, gã chưởng quĩ liền nói: "Đại gia đã là khách của lão thần tăng ở Chỉ Quán Thiền Tự mà ghé đến đây, tiểu nhân thật là vinh hạnh Mấy đồng tiền cơm tiền trọ quả không dám nhận." Kiều Phong nói: "Thế thì xin cám ơn vậy." Chàng nghĩ thầm: "Trí Quang thiền sư thi ân bố đức cho dân đến thế, ta gác lại mối thù sát hại song thân, quyết không rửa hờn nữa. Chỉ mong đại sư cho biết danh tính Thủ lĩnh đại ca và Tên Đại Ác là ta mãn nguyện rồi." Hai người cùng Phác Giả ra khỏi huyện thành, đi về hướng núi Thiên Thai. Lưu Thần, Nguyễn Triệu đời Hán lạc vào núi Thiên Thai gặp tiên, đủ biết phong cảnh thanh u đẹp đẽ dường nào, đường lên núi khuất khúc như rắn bò thật khó mà nhớ được.

Kiều Phong theo sau nhà sư Phác Giả, thấy y cước trình mau lẹ, nhưng rõ ràng không hiểu võ công. Mặc dù vậy, chàng vẫn không chủ quan, nghĩ thầm: "Đối phương đã biết rõ lai lịch mình, lẽ nào không phòng bị nghiêm ngặt? Trí Quang thiền sư là bậc cao tăng đức độ, nhưng những người xung quanh vị tất đã được như thế."

Tuy có ý cảnh giác, nhưng đường lên chùa Chỉ Quán bình an vô sự. Trên núi Thiên Thai có ngôi Quốc Thanh Tự vang danh thiên hạ, vị cao tăng Trí Khải đời Tùy đã từng tu tại đây, phát triển Thiên Thai Tông là một tông pháp Phật môn đã mấy trăm năm qua. Tuy nhiên trong võ lâm thì chùa Chỉ Quán lại lừng danh hơn Quốc Thanh Tự, hóa ra chỉ là một cái miếu nhỏ tầm thường, tường vách loang lổ. Giả tỷ Kiều Phong và A Châu tự mình tìm tới, chắc không tin được đây là ngôi chùa Chỉ Quán nổi tiếng giang hồ.

Phác Giả hòa thượng đẩy cửa miếu vào, lên tiếng gọi to: "Sư phụ ơi! Kiều đại gia đã đến rồi đây." Có tiếng Trí Quang đại sư vọng ra: "Quí khách từ xa đến, lão nạp không kịp nghênh tiếp." Đại sư vừa nói vừa bước ra cửa chắp tay thi lễ.

Trong lòng Kiều Phong vẫn lo sợ Tên Đại Ác lại hạ sát Trí Quang đại sư trước khi mình đến, bây giờ thấy mặt mới yên tâm. Chàng cùng A Châu bỏ hóa trang, trở lại chân tướng vào bái kiến. Kiều Phong cung kính xá dài, nói: "Quấy nhiễu việc thanh tu của đại sư, trong lòng tại hạ thật bất an." Trí Quang nói: "Thiện tại, thiện tại! Kiều thí chủ! Thí chủ vốn ở họ Tiêu, tự mình đã biết chưa?"

Kiều Phong run rẩy toàn thân. Tuy chàng đã biết mình dòng giống Nhất Đan, nhưng chưa rõ phụ thân họ gì. Bây giờ nghe Trí Quang đại sư bảo mình họ Tiêu, chàng tự dưng lạnh toát, biết rằng thân thế mình đã bắt đầu bộc lộ, khom lưng nói: "Kẻ bất hiếu này đến đây chính là cầu mong đại sư chỉ điểm." Trí Quang gật đầu nói: "Mời hai vị ngồi."

Ba người vừa ngồi xuống ghế thì Phác Giả bưng trà lên. Y thấy tướng mạo hai vị khách biến đổi đột ngột, nhất là A Châu trở thành nữ nhân, thì kinh dị vô cùng, nhưng vì có sư phụ ngồi đó nên không dám hỏi nhiều.

Trí Quang nói tiếp: "Lệnh tôn lưu lại tự tích trên vách đá ngoài Nhạn Môn Quan, tự xưng họ Tiêu, tên gọi Viễn Sơn. Trong di văn có gọi thí chủ là Phong nhi, bọn ta vẫn giữ nguyên tên đó. Chỉ vì phải gửi Kiều Tam Hòe nuôi dưỡng nên lấy theo họ của y." Kiều Phong nước mắt như mưa, đứng lên nói: "Hôm nay tại hạ mới được biết danh tính phụ thân. Xin đại sư nhận một lạy để tỏ lòng cảm tạ ân đức." Nói xong chàng liền phục xuống lạy, A Châu cũng đứng lên, Trí Quang chắp tay đáp lễ nói: "Bần tăng không dám nhận hai chữ ân đức."

Quốc tính nước Liêu là Gia Luật, bao nhiêu triều đại đều lập hoàng hậu ở họ Tiêu. Vì thế mà Tiêu gia công khanh đầy triều, có quyền thế lớn tại Liêu quốc. Những khi vị Liêu chúa còn thơ ấu thì Tiêu thái hậu chấp chính, uy thế Tiêu gia lại càng lừng lẫy. Kiều Phong đột nhiên biết mình thuộc một thế gia vọng tộc của Khất Đan, trong lòng ngổn ngang trăm mối. Chàng đứng ngẫm nghĩ một hồi, quay sang nói với A Châu: "Từ nay trở đi ta là Tiêu Phong, không phải là Kiều Phong nữa." A Châu đáp: "Đúng thế, Tiêu đại gia."

Trí Quang nói: "Tiêu đại hiệp! Đại hiệp đã xem qua tự tích trên vách đá ngoài Nhạn Môn Quan chưa?" Tiêu Phong lắc đầu đáp: "Chưa đâu. Khi tại hạ ra ngoài ải, chữ trên vách đá đã bị ai đẽo hết, tuyệt không còn dấu vết." Trí Quang thở dài nói: "Sự tình đã trải bấy lâu, đến tự tích trên vách đá cũng đã mất, mấy chục sinh linh không biết đã đầu thai đến cõi nào." Nhà sư lấy trong tay áo ra một tấm vải cũ rất lớn, nói: "Tiêu thí chủ! Đây là bản rập bức di văn trên vách đá."

Tiêu Phong tay run bần bật, đón lấy mảnh vải mở ra xem, hóa ra đây là rất nhiều mảnh quần áo rách khâu lại với nhau, chữ trắng hiện trên nền đỏ máu chung quanh. Nét chữ vừa hùng mạnh vừa cứng rắn như dao đục búa chém, hình dáng kỳ lạ, tuy cũng giống chữ Hán nhưng không phải, chàng biết đây là chữ Khất Đan. Tiêu Phong cố tưởng tượng ra cảnh phụ thân cầm đao khắc trên vách đá lúc sắp ôm mẫu thân và mình nhảy xuống vực tự tận, bất giác lệ tuôn từng giọt rơi xuống mảnh vải. Chàng nói: "Mong đại sư dịch nghĩa cho."

Trí Quang đại sư lại nói: "Năm xưa bọn ta sau khi rập được bản khắc trên vách đá, đem về Nhạn Môn Quan nhờ người biết chữ Khất Đan giải thích cho. Hỏi luôn mấy người đều dịch cùng một ý, xem ra không phải là sai. Tiêu thí chủ! Ý nghĩa bản văn này là: Phong nhi tròn một tuổi, ta cùng hiền thê sang ăn tiệc bên nhà ngoại công. Giữa đường bỗng gặp lũ đại đạo Nam Triều.." Tiêu Phong nghe tới đó, trong lòng chua xót. Trí Quang đại sư tiếp tục giải thích: ".. Việc xảy ra bất ngờ. Ái thê bị cường đạo giết chết, ta cũng không muốn sống làm chi nữa. Thụ nghiệp ân sư của ta là người Hán, ta đã tuyên thệ trước mặt sư phụ là không giết người Hán, ngờ đâu hôm nay lâm sự hạ sát hơn mười người. Ta vừa xấu hổ vừa đau xót, chết xuống âm ti chẳng còn mặt mũi nào nhìn thấy ân sư được nữa, Tiêu Viễn Sơn tuyệt bút."

Tiêu Phong nghe nhà sư Trí Quang đọc xong, cung kính xếp mảnh vải lại, nói: "Đây là di ngôn của tiên phụ Tiêu mỗ. Xin đại sư ban cho." Trí Quang nói: "Đương nhiên bần tăng giao tặng cho thí chủ." Tiêu Phong đầu óc bấn loạn, tưởng tượng lúc phụ thân mình vì đau khổ mà nhảy xuống vực thẳm tự tận, không những vì thương mẫu thân mình thảm tử mà còn vì hổ thẹn với sư môn đã hạ sát bấy nhiêu người Hán, vi phạm lời thề.

Trí Quang chậm rãi thở dài một tiếng, nói: "Ban đầu bọn ta vẫn tưởng lệnh tôn thống lĩnh võ sĩ Khất Đan sang chùa Thiếu Lâm để đoạt kinh sách. Đến khi đọc được di văn trên vách núi mới biết là mình lầm lẫn, hành động sai trái. Lúc sắp nhảy xuống vực sâu tự tận, quyết không có lý nào lệnh tôn còn viết lời giả dối lừa người. Hơn nữa, nếu người sang chùa Thiếu Lâm để đoạt kinh sách, lẽ đâu lại đưa theo phu nhân chẳng hiểu võ công, lại bồng bế một đứa bé mới đầy năm? Về sau bọn ta tra xét cái tin người Liêu đến cướp kinh chùa Thiếu Lâm từ đâu mà ra, hóa ra từ miệng một kẻ dối trá. Kẻ đó chủ tâm đùa giỡn Thủ lĩnh đại ca, bắt ông ta xông pha ngàn dặm để làm trò cười chơi."

Tiêu Phong nói: "Trời ơi! Chỉ là chuyện đùa cợt mà ra ư? Gã kia sao lại làm thế?" Trí Quang nói: "Thủ lĩnh đại ca tra xét rõ ràng rồi, trong bụng căm giận đến cực điểm. Nhưng tên nói láo kia đã trốn biệt, không thấy bóng dáng đâu nữa. Đến nay cũng đã ba mươi năm rồi, chắc y không còn sống trên đời."

Tiêu Phong nói: "Đa tạ đại sư cho biết rõ tiền nhân hậu quả, khiến Tiêu Phong này được hiểu rõ lai lịch, tìm lại cội rễ. Tiêu mỗ chỉ muốn hỏi đại sư một điều nữa thôi." Trí Quang đại sư hỏi: "Tiêu thí chủ còn muốn hỏi điều chi?" Tiêu Phong hỏi: "Vị Thủ lĩnh đại ca đó là ai?" Trí Quang nói: "Lão tăng nghe nói Tiêu thí chủ vì muốn tra xét chuyện này mà đã giết chết Từ trưởng lão của Cái Bang, Đàm công, Đàm bà, Triệu Tiền Tôn bốn người, lại giết thêm cả nhà Thiết diện pháp quan Đơn Chính, đốt Đơn gia trang thành bình địa, nên biết rằng sớm muộn gì Tiêu thí chủ cũng sẽ đến đây. Thí chủ hãy chờ một chút, lão tăng sẽ cho thí chủ xem một việc." Nói xong ông đứng lên.

Tiêu Phong đang định thanh minh là mình không hề giết Từ trưởng lão và những người kia, thì Trí Quang đã đi thẳng vào hậu đường không quay đầu lại. Một lát sau, nhà sư Phác Giả đi vào phòng khách nói: "Sư phụ tiểu tăng mời hai vị vào thiền phòng nói chuyện." Tiêu Phong và A Châu đi theo y qua một con đường mòn, hai bên trồng trúc um tùm, đến trước một căn nhà nhỏ. Phác Giả hòa thượng đẩy cửa, nói: "Xin mời." Hai người liền tiến vào.

Căn nhà nhỏ này lâu ngày không ai quét tước nên bụi đóng thật dày. Trí Quang đại sư ngồi xếp bằng trên một chiếc bồ đoàn, nhìn Tiêu Phong mỉm cười, thò ngón tay viết lên lớp bụi mấy hàng chữ: "Vạn vật nhất bàn, Chúng sinh bình đẳng, Thánh hiền súc sinh, Nhất thị đồng nhân, Hán nhân Khất Đan, Diệc huyễn diệc chân, Ân oán vinh nhục, Câu tại khôi trần ." (Vạn vật là một, Chúng sinh ngang nhau, Thánh hiền loài vật, Có khác gì đâu, Hán nhân Khất Đan, Như giả như chân, Ân oán vinh nhục, Như đám bụi trần)

Viết xong, đại sư nở một nụ cười rồi từ từ nhắm mắt lại.

Tiêu Phong nhìn tám câu kệ dưới đất, ngơ ngẩn xuất thần, nghĩ bụng: "Theo thuyết nhà Phật thì chẳng những không phân biệt người thiện kẻ ác, mà cả súc sinh, ngã quỷ hay đế vương cũng như nhau. Ta là người Khất Đan hay là người Hán, cũng chẳng có gì phải suy nghĩ. Tên Đại Ác giết ân sư ta hay ân sư ta giết Tên Đại ác, cũng chẳng có gì phải phân biệt. Nhưng ta có phải đệ tử nhà Phật đâu, làm sao tự giải thoát được đến mức này?" Chàng hỏi lại: "Đại sư Thủ lĩnh đại ca là ai? Xin đại sư chỉ điểm." Hỏi liền mấy câu, Trí Quang đại sư chỉ mỉm cười không đáp.

Tiêu Phong nhìn kỹ lại, bất giác cả kinh, thấy mặt nhà sư vẫn cười, nhưng cứng đờ không rung động. Chàng gọi liên tiếp: "Trí Quang đại sư! Trí Quang đại sư" nhưng nhà sư vẫn trơ trơ không nhúc nhích, đặt tay lên mũi xem, thì ra đại sư đã viên tịch rồi. Tiêu Phong buồn bã không nói gì được nữa, quì xuống lạy mấy lạy rồi quay sang vẫy A Châu nói: "Chúng ta đi thôi."

Hai người lủi thủi ra khỏi chùa Chỉ Quán, cúi đầu lặng lẽ quay về huyện thành Thiên Thai. Đi được mươi dặm, Tiêu Phong mới hỏi: "A Châu! Ta hoàn toàn không có ý gia hại Trí Quang đại sư. Sao ông ta.. Ông ta lại phải khổ đến vậy?" A Châu đáp: "Vị cao tăng đó đã nhìn thấu lẽ tử sinh, đại giác đại ngộ chẳng còn phân biệt đâu là sống đâu là chết." Tiêu Phong nói: "Cô nương thử nghĩ xem, tại sao đại sư lại biết chúng ta tìm đến chùa Chỉ Quán?" A Châu đáp: "Tiểu nữ cho rằng đây cũng là tác phẩm của Tên Đại Ác kia." Tiêu Phong nói: "Ta cũng đoán thế. Có lẽ Tên Đại Ác đã đến bảo Trí Quang đại sư là ta đang tìm đến báo thù. Trí Quang đại sư nghĩ là không sao thoát khỏi độc thủ của ta, nên nói chuyện xong xuôi liên uống thuốc độc tự tận."

Hai người nhìn nhau không nói gì nữa. Hồi lâu A Châu thốt nhiên nói: "Tiêu đại gia! Tiểu nữ không rõ phải trái, có mấy câu muốn nói ra, xin đại gia đừng trách." Tiêu Phong đáp: "Sao cô nương lại khách sáo như thế? Dĩ nhiên là ta không trách cô nương." A Châu nói: "Tiểu nữ nghĩ rằng mấy câu kệ của Trí Quang đại sư rất có lý. Hán nhân Khất Đan, Như giả như chân, Ân oán vinh nhục, Như đám bụi trần . Đại gia là người Hán hay là người Khất Đan cũng vậy, có gì mà phân biệt? Chắc đại gia cũng ngán ngẩm chuyện đao kiếm ở chốn giang hồ rồi, chi bằng từ nay ra ngoài Nhạn Môn Quan săn bắn chăn nuôi, không ngó ngàng tới những chuyện ân oán vinh nhục của võ lâm Trung Nguyên nữa."

Tiêu Phong thở dài nói: "Quả thật ta chán cái việc sống trên đao kiếm lắm rồi. Từ nay ra ngoài biên ải săn chồn đuổi thỏ, không băn khoăn gì nữa thì quả là thoải mái biết bao! A Châu, khi ta ra ngoài quan ải rồi, cô có đến thăm ta không?" A Châu thẹn thùng khẽ đáp: "Tiểu nữ đã nói là săn bắn chăn nuôi đấy thôi. Đại gia săn chồn đuổi thỏ, tiểu nữ thả bò chăn cừu." Nàng nói đến đây liền cúi mặt xuống.

Tiêu Phong tuy là một hán tử thô hào, nhưng hiểu ngay ý tứ mấy câu nói của A Châu. Rõ ràng nàng muốn sống cùng mình suốt đời ngoài biên tái, không về Trung Nguyên nữa. Ban đầu Tiêu Phong cứu nàng chẳng qua chỉ vì khí khái nhất thời, đến khi nàng tìm theo ra ngoài Nhạn Môn Quan, rồi qua Vệ Huy, Thái An, Thiên Thai đường sá xa xôi bao nhiêu sóng gió, ngày đêm kề cận mới dần dần thấy nàng thật là ôn nhu thân thiết. Lúc này nghe nàng thẳng thắn giãi bày tâm sự, chàng không khỏi bồi hồi, đưa bàn tay to tướng ra nắm lấy bàn tay nhỏ nhắn của nàng, nói: "A Châu! Nàng đối với ta thật tốt, chẳng vì ta là người Khất Đan hèn mạt mà đem lòng rẻ rúng ư?" A Châu đáp: "Người Hán cũng là người, người Khất Đan cũng là người, làm gì có chuyện sang hèn? Thiếp.. thiếp thích người Khất Đan, đó là chân tâm thành ý, tuyệt không miễn cưỡng chút nào." Tiếng nàng mỗi lúc một nhỏ đi, sau cùng chỉ thoảng nhẹ như tiếng muỗi kêu, dường như không thể nghe thấy.

Tiêu Phong cả mừng, đột nhiên đưa tay ra nắm lấy lưng nàng tung bổng lên trời. Khi nàng rơi xuống, chàng nhẹ nhàng đón lấy đặt xuống đất, vừa cười ha hả vừa nhìn nàng ra chiều hãnh diện, lớn tiếng nói: "A Châu, từ nay nàng theo ta cưỡi ngựa săn bắn, thả cừu chăn bò, không hối hận chứ?" A Châu nghiêm mặt nói: "Dẫu có theo đại gia giết người đốt nhà, ăn trộm ăn cướp, thiếp cũng không hối hận. Được đi theo đại gia thì dù gian nan khổ sở, trăm cay nghìn đắng, thiếp cũng vui lòng."

Tiêu Phong dõng dạc nói: "Tiêu mỗ có được ngày nay, đừng nói trở về làm bang chủ Cái Bang, dù được làm hoàng đế nhà Đại Tống cũng không thèm. A Châu! Bây giờ chúng ta đến Tín Dương tìm Mã phu nhân, bà ta chịu nói thì tốt, mà không chịu nói cũng thôi, đây là người cuối cùng mình đi tìm. Ta chỉ hỏi một câu, sau đó cùng nàng ra ngoài ải bắc săn bắn chăn nuôi."

A Châu nói: "Tiêu đại gia.." Tiêu Phong ngắt lời: "Từ nay trở đi, nàng đừng gọi ta là đại gia nhị gia gì nữa, chỉ được gọi là đại ca thôi!" A Châu mặt đỏ bừng, nói: "Thiếp đâu dám thế?" Tiêu Phong nói: "Nàng có chịu gọi ta bằng đại ca hay không thì bảo?" A Châu mỉm cười: "Nghìn lần chịu, vạn lần chịu, đâu có dám trái ý." Tiêu Phong cười nói: "Vậy nàng gọi ta nghe thử nào!" A Châu rụt rè khẽ gọi: "Đại.. đại ca!" Tiêu Phong cười ha hả nói: "Thế mới được! Từ nay Tiêu mỗ không còn cô đơn, bị mọi người khinh bỉ vì mang dòng máu mọi rợ. Trên đời này, ít ra cũng có một người.. cũng có một người.." Chàng ngắc ngứ chưa tìm được từ để nói, A Châu bèn tiếp lời: "Cũng có một người kính trọng đại ca, khâm phục đại ca, thương yêu đại ca, nguyện ý đời đời kiếp kiếp theo bên mình đại ca, vĩnh viễn cùng đại ca chia sẻ đắng cay gian khổ, ấm lạnh đói no." Nàng nói những câu đó cực kỳ thành khẩn.

Tiêu Phong nổi lên một tràng cười vang cả núi rừng, chàng hiểu rằng A Châu biết rồi đây sẽ còn nhiều chông gai nhưng quyết không hối hận. Lòng chàng xiết bao cảm kích, miệng thì cười mà bất giác hai dòng lệ chảy dài trên má.

Nguyên phó bang chủ Cái Bang là Mã Đại Nguyên ở tại Tín Dương, tỉnh Hà Nam. Tiêu Phong cùng A Châu từ núi Thiên Thai ở Giang Nam đi đến Tín Dương muôn dặm xa xôi, không phải ngày một ngày hai là đến được.

Hai người từ khi ở núi Thiên Thai đã ý hợp tâm đầu, tơ tình quấn quít, nên thường thả lỏng dây cương để vừa đi vừa thưởng ngoạn phong cảnh đẹp đến mê hoặc lòng người. A Châu không thích uống rượu, nhưng thỉnh thoảng cũng cố uống vài chung để trợ hứng cho Tiêu Phong, đôi má đỏ bừng lên lại càng thêm duyên dáng. Tiêu Phong tuy trong lòng còn đây phẫn uất, nhưng được A Châu cười nói dí dỏm bên mình, phiền não cũng giảm được quá nửa. Hành trình từ Giang Nam ngược lên trung châu, so với hôm trước từ Nhạn Môn Quan vội vã trở về Sơn Đông, chàng cảm thấy trong lòng khác hẳn, khoan khoái hơn nhiều. Chặng đường mấy nghìn dặm này đối với Tiêu Phong quả mơ mơ hồ hồ, lúc đầu là ác mộng, về sau lại là một cơn mộng đẹp, đẹp đến nỗi nếu không có nàng A Châu kiều diễm ở bên mình thì chắc chàng đã tin rằng đó là một giấc mơ thật sự.

Một hôm đi đến Quang Châu, chỉ còn cách Tín Dương hai ngày đường, A Châu hỏi: "Đại ca! Đại ca định hỏi Mã phu nhân cách nào cho tiện?"

Ở rừng hạnh và Tụ Hiền Trang, Mã phu nhân từ lời nói cho đến nét mặt đều lộ vẻ căm hờn Tiêu Phong. Chàng chẳng vui gì, nhưng nghĩ rằng bà ta buộc tội mình sát hại phu quân, có oán hận mình thì cũng là lẽ thường, nếu không oán hận mới bất hợp lý. Chàng lại nghĩ bà ta là một quả phụ không biết võ công, nếu mình dùng bạo lực tra hỏi, nạt nộ uy hiếp thì không phải là hành động của người hào kiệt. Bây giờ nghe A Châu hỏi thế, Tiêu Phong trù trừ không trả lời được, ngẩn ra một lát rồi đáp: "Ta nghĩ, chúng ta chỉ nên nói năng lịch sự cho Mã phu nhân hiểu rõ đen trắng, đừng đổ oan cho ta đã giết Mã đại ca nữa. A Châu, hay là nàng đến hỏi chuyện có tốt hơn chăng? Nàng mồm mép linh lợi, lại là phụ nữ với nhau cũng dễ thông cảm. Mã phu nhân mà thấy mặt ta, oán hận nổi lên là hỏng bét."

A Châu tủm tỉm cười: "Thiếp đã có kế, chỉ sợ đại ca không chịu." Tiêu Phong vội hỏi: "Kế gì thế?" A Châu nói: "Đại ca là đại anh hùng, đại trượng phu không thể bức bách bà ta được. Để thiếp đến đánh lừa bà ta, có nên chăng?"

Tiêu Phong cả mừng nói: "Nếu đánh lừa được cho bà ta thổ lộ chân tình thì còn gì bằng. A Châu! Nàng cũng biết ta ngày đêm khắc khoải, chỉ mong được chính tay đâm chết kẻ đại cừu để trả mối thù giết chết song thân. Tên Đại Ác kia giúp Tiêu mỗ hiểu được gốc gác Khất Đan, giúp Tiêu mỗ biết được tổ tông là ai, ta phải cảm ơn mới phải. Thế nhưng sao y lại giết hại dưỡng phụ dưỡng mẫu cùng ân sư của ta? Y lại ép ta tàn hại bằng hữu, mang tiếng đại ác, biến thành kẻ thù của hết thảy anh hùng thiên hạ. Ta không băm vằm y ra, thì không thể yên tâm cùng nàng ra ngoài quan ải cưỡi ngựa săn thú, chăn bò thả cừu." Chàng càng nói, thanh âm càng quả quyết. Gần đây tâm thần Tiêu Phong không còn u uất như trước, nhưng mối cừu hận Tên Đại Ác không giảm chút nào.

A Châu nói: "Tên Đại Ác kia ám hại đại ca đến thế, thiếp cũng mong được chém y mấy nhát cho đại ca hả dạ. Chúng ta bắt được y rồi sẽ tổ chức một anh hùng yến, mời hết thảy hào kiệt trong thiên hạ, trình bày mọi nỗi oan khuất, hồi phục thanh danh trong sạch cho đại ca" Tiêu Phong thở dài nói: "Bất tất phải như thế. Ta ở Tụ Hiền Trang đã giết quá nhiều người, kết mối thâm cừu với anh hùng thiên hạ, chẳng mong gì họ lượng tình cho mình nữa. Tiêu mỗ chỉ mong kết thúc được chuyện này để tâm hồn thanh thản, sau đó cùng nàng rong ruổi bên ngoài biên ải, chúng ta suốt đời chung sống với hổ lang bò cừu, không gặp lại anh hùng hảo hán Trung Nguyên nữa." A Châu vui mừng nói: "Thiếp cũng tạ trời tạ đất, chỉ cầu được như vậy thôi." Nàng tủm tỉm cười, nói tiếp: "Đại ca! Thiếp định cải trang thành một người khác, đến đánh lừa Mã phu nhân nói danh tính Tên Đại Ác ra."

Tiêu Phong vỗ đùi reo lên: "Phải lắm! Phải lắm! Sao ta lại không nghĩ ra? Thuật cải trang của nàng trên đời có một không hai, dùng vào việc này thì tuyệt diệu. Thế nàng định giá làm ai?" A Châu đáp: "Việc đó phải hỏi đại ca. Khi xưa Mã phó bang chủ giao thiệp với ai trong Cái Bang thân thiết nhất, thiếp sẽ giả làm người đó. Mã phu nhân tưởng là hảo bằng hữu của trượng phu, chắc sẽ không giấu giếm đâu."

Tiêu Phong nói: "Ồ, trong Cái Bang mà thân thiết với Mã huynh đệ thì có Vương đà chủ, Toàn Quan Thanh, Trần trưởng lão. Ngoài ra Chấp Pháp trưởng lão Bạch Thế Kính cũng có giao tình rất hậu với y" A Châu nghiêng đầu, hình dung lại tướng mạo thần thái những người đó. Tiêu Phong lại tiếp: "Mã huynh đệ là người điềm đạm nghiêm cẩn, không thích rượu chè náo nhiệt như ta, vì thế ít khi cùng ta chè chén cười đùa. Toàn Quan Thanh, Bạch Thế Kính là những người giống tính y, nên thường gặp nhau ngồi đàm luận võ công."

A Châu nói: "Trong những người này thì thiếp không biết Vương đà chủ. Trần trưởng lão thường xách cái túi chứa toàn rắn rết, thiếp mới nghĩ tới đã sợ hết hồn, giả mạo không giống được. Toàn Quan Thanh thì cao lênh khênh, giả làm y rất tốn công. Chúng ta phải ở trong nhà Mã phu nhân khá lâu để từ từ dò hỏi, e rằng dễ bị bại lộ. Tốt nhất là để thiếp cải trang thành Bạch trưởng lão. Ông ta có nói chuyện với thiếp mấy lần ở Tụ Hiền Trang, bắt chước ông ta dễ hơn cả."

Tiêu Phong mỉm cười nói: "Bạch trưởng lão đối với nàng thật đã hết lòng, năn nỉ Tiết Thần Y trị thương cho. Bây giờ nàng hóa trang thành lão để đi lừa gạt người ta, thật có điều bất tiện." A Châu cười nói: "Thiếp giả mạo Bạch trưởng lão để làm chuyện tốt, đâu có làm chuyện xấu hại đến thanh danh của lão, có gì là bất tiện?"

Công việc bắt đầu ngay trong khách điếm. Tiêu Phong được A Châu cải trang thành một tên đệ tử Cái Bang năm túi tùy tòng Bạch Thế Kính, lại dặn chàng càng ít nói càng tốt, để đề phòng Mã phu nhân tinh tế nhìn ra chỗ sơ hở. Tiêu Phong thấy A Châu hóa trang thành Bạch trưởng lão rồi, mặt lạnh như băng, không giận mà oai, đúng là một vị Chấp Pháp trưởng lão mà mấy vạn đệ tử Cái Bang vừa sợ vừa kính. Không chỉ tướng mạo hình dáng bên ngoài mà cả ngôn ngữ cử chỉ cũng giống hệt Bạch Thế Kính, khiến Tiêu Phong thân thiết với ông ta cả chục năm mà cũng không nhìn ra chỗ nào không đúng.

Hai người lên đường đến Tín Dương. Mỗi khi gặp anh em Cái Bang, Tiêu Phong đều dùng tiếng lóng nói chuyện, dò la tình hình các nhân vật đầu não trong bang, rồi báo tin Bạch trưởng lão đến Tín Dương để họ truyền đến tai Mã phu nhân. Khi bà ta biết tin, tất là có sẵn ấn tượng trong lòng, lỡ nếu A Châu cải trang có gì sơ hở cũng ít để ý.

Nhà Mã Đại Nguyên ở phía tây Tín Dương, cách thành chừng ba mươi dặm. Tiêu Phong hỏi thăm bọn đệ tử Cái Bang cho biết đường đi, rồi cùng A Châu đến Mã gia. Hai người đi thong thả, cố ý để gần tối mới tới nơi. Dù sao thì ban ngày mọi việc cũng rõ ràng, còn đêm đến cảnh vật lờ mờ, việc cải trang khó bại lộ hơn.

Hai người đến trước Mã gia, thấy một con rạch nhỏ lượn quanh ba gian nhà ngói, bên nhà có hai cây thùy dương, trước cửa là một khu đất bằng phẳng tựa hồ như cái sân để nhà nông phơi thóc, nhưng bốn bề đều có hào sâu, Tiêu Phong hiểu rõ võ công gia số của Mã Đại Nguyên, biết những hào sâu này là chỗ để y luyện công. Chàng nghĩ tới người anh em nay đã âm dương đôi ngả, không khỏi cảm thấy đau lòng. Chàng đang định gọi cửa, đột nhiên cánh cổng mở ra nghe kẹt một tiếng, một người đàn bà mặc toàn màu trắng bước ra, chính là Mã phu nhân.

Mã phu nhân liếc Tiêu Phong một cái, rồi khom lưng thi lễ với A Châu, nói: "Bạch trưởng lão quang lâm tệ xá, quả thật bất ngờ. Xin mời vào dùng trà." A Châu nói: "Tại hạ có việc cần thương lượng với phu nhân, vì thế mà đường đột tới đây. Xin phu nhân thứ lỗi."

Nét mặt Mã phu nhân tựa như cười mà không phải cười, khóe miệng dường như có điều u uẩn, hợp với con người toàn thân mặc tang phục. Khi đó mặt trời đã ngả về sau núi, chiếu lên khuôn mặt nàng một sắc nhợt nhạt. Tiêu Phong gặp nàng hai lần trước đều trong lúc tâm thần khích động, không nhìn kỹ. Bây giờ ông mới thấy nàng khóe mắt đầu mày đã mờ mờ vết nhăn, độ chừng ba lăm ba sáu tuối, mặt không nhồi phấn mà nước da trắng nõn chẳng kém gì A Châu.

Hai người theo Mã phu nhân vào nhà, thấy phòng khách hơi nhỏ, chính giữa chỉ đặt cái bàn và bốn cái ghế mà chẳng còn trống bao nhiêu. Một bà vú già bưng trà lên. Mã phu nhân hỏi đến danh tính Tiêu Phong, A Châu thuận mồm bịa ra một cái tên.

Mã phu nhân hỏi: "Bạch trưởng lão đại giá quang lâm, không biết có điều chi dạy bảo?" A Châu đáp: "Từ trưởng lão qua đời ở Vệ Huy, hẳn phu nhân đã biết." Mã phu nhân đột nhiên ngẩng đầu lên, ánh mắt hơi khác lạ, nói: "Dĩ nhiên là tiện thiếp đã biết." A Châu lại tiếp: "Bọn ta đều nghi là Kiều Phong hạ độc thủ. Sau đó ba vị tiền bối Đàm công, Đàm bà và Triệu Tiền Tôn bị ám hại bên ngoài thành Vệ Huy, rồi đến nhà của Thiết diện phán quan Đơn lão gia ở Thái An, Sơn Đông bị cháy rụi. Mới đây không lâu, ta đi Giang Nam điều tra một tên đệ tử bảy túi vi phạm bang qui, trên đường lại nghe tin Trí Quang lão hóa thượng ở chùa Chỉ Quán núi Thiên Thai đột nhiên viên tịch." Mã phu nhân run lên, mặt biến sắc hỏi: "Phải chăng chuyện.. chuyện đó cũng do Kiều Phong gây ra?"

A Châu nói: "Ta đã đích thân lên chùa Chỉ Quán tìm hiểu, tuy không có manh mối gì, nhưng mười phần thì đến tám chín là do Kiều Phong làm. Dĩ nhiên phu nhân là người kế tiếp bị y đến gây chuyện. Vì vậy ta vội vàng đến đây, khuyên phu nhân lánh đi nơi khác mấy tháng hay một năm để khỏi bị tên ác tặc họ Kiều gia hại." Mã phu nhân rưng rưng lệ, buồn bã nói: "Từ khi trượng phu không may gặp nạn, tiện thiếp thấy sống cũng bằng thừa. Nếu gã họ Kiều kia tới gia hại thì cũng là việc đáng mừng, còn lánh đi làm gì nữa."

A Châu nói: "Sao phu nhân lại nói thế? Mối đại cừu hạ sát Mã huynh đệ chưa trả xong, thủ phạm còn chưa bắt được, thì phu nhân còn phải mang trách nhiệm nặng nề. Ôi! Linh vị Mã huynh đệ đặt ở đâu, để ta đến lạy một lạy." Mã phu nhân đáp: "Không dám." Nhưng nàng vẫn dẫn hai người đi vào hậu đường. A Châu lạy trước, Tiêu Phong cũng cung kính khấu đầu trước linh vị, trong bụng khấn thầm: "Mã đại ca ơi! Đại ca có linh thiêng thì xui khiến phu nhân nói ra danh tính hung thủ, để tiểu đệ báo thù rửa oán cho đại ca."

Mã phu nhân quỳ bên linh vị hoàn lễ, dòng châu lã chã tuôn rơi. Tiêu Phong lạy xong đứng dậy, thấy trong linh đường có treo những câu đối điếu tang của Từ trưởng lão, Bạch trưởng lão và mấy người khác, còn câu đối của mình gửi tới không thấy đâu. Những vuông vải trắng trong linh đường đã bám đầy bụi bặm, càng làm tăng vẻ thê lương, Tiêu Phong nghĩ thầm: "Mã phu nhân chưa có con cái, suốt ngày chỉ có một mụ vú già bầu bạn, chắc là nỗi buồn thảm cô đơn kể sao cho xiết!".

A Châu cất tiếng khuyên nhủ: "Phu nhân nên bảo trọng thân thể, mối oan cừu của Mã huynh đệ là của chung mọi người. Nếu phu nhân có gì khó khăn cứ nói thẳng cho ta nghe, ta sẽ chủ trương cho.." nghe ra vẻ lão thành kẻ cả. Tiêu Phong khen thầm trong bụng: "Cô ả này thật là đáo để. Bang chủ Cái Bang bị trục xuất, phó bang chủ qua đời, Từ trưởng lão bị ám sát, Truyền Công trưởng lão bị ta giết, tính ra bây giờ Bạch trưởng lão là người địa vị tối cao trong bản bang. Cô nàng nói toàn giọng điệu bang chủ vỗ về thuộc hạ, quả là hợp lý." Mã phu nhân tỏ lời cảm tạ, nhưng giọng lưỡi cực kỳ lạnh nhạt. Tiêu Phong âm thầm lo lắng, thấy bà ta chẳng còn sinh khí, thần thái như kẻ mất hồn, chắc là từ khi mất trượng phu đã mất cả ý niệm sinh tồn. Chàng chỉ sợ Mã phu nhân tuẫn tiết theo chồng, người phụ nữ này tính khí cương cường, chuyện gì cũng có thể làm được.

Mã phu nhân đưa hai người trở lại phòng khách, chẳng bao lâu bà vú đã dọn cơm ra, trên bàn có bốn món đồ chay gồm cải xanh, cải củ, đậu phụ, dưa leo và ba bát cơm bốc hơi nghi ngút, không có rượu. A Châu liếc nhìn Tiêu Phong nghĩ thầm: "Hôm nay không có rượu cho đại ca uống." Tiêu Phong thản nhiên bưng bát cơm lên ăn. Mã phu nhân nói: "Từ khi tiên phu qua đời, tiện thiếp ăn chay, chỗ hẻo lánh lại không có rượu thịt, tiếp đãi hai vị đạm bạc thật là đắc tội." A Châu thở dài nói: "Mã huynh đệ chết rồi không thể sống lại được, phu nhân đừng tự làm khổ mình như thế." Tiêu Phong thấy Mã phu nhân đối với tiên phu quả thật có tình có nghĩa, trong lòng rất kính trọng.

Cơm nước xong, Mã phu nhân nói: "Bạch trưởng lão lặn lội đường xa đến đây, đáng lý tiện thiếp phải lưu người nghỉ lại, chỉ hiềm thân phận góa bụa nên có điều không tiện. Không biết trưởng lão còn có điều chi dạy bảo?" Rõ ràng câu này ngụ ý đuổi khách về. A Châu nói: "Lần này ta đến Tín Dương cốt để khuyên phu nhân tạm dời đi nơi khác lánh nạn ít lâu, chưa hiểu phu nhân quyết định ra sao?" Mã phu nhân thở dài đáp: "Gã Kiều Phong đã ám hại Mã đại gia, nếu đến đây giết nốt tiện thiếp, thì cũng là giúp nhanh xuống suối vàng sum họp với trượng phu. Chẳng giấu gì Bạch trưởng lão, tiện thiếp tuy chân yếu tay mềm, nhưng không sợ chết thì còn sợ gì nữa?" A Châu nói: "Nếu thế, phu nhân quả không bằng lòng rời nhà lánh nạn hay sao?" Mã phu nhân đáp: "Đa tạ Bạch trưởng lão đã quan tâm. Tiện thiếp thật không đành rời khỏi căn nhà cũ của Mã đại gia."

A Châu lại thở dài nói: "Bản ý ta muốn ở gần đây ít ngày để bảo hộ cho phu nhân. Bạch mỗ tự biết không phải là địch thủ của Kiều Phong, nhưng trong lúc cần kíp cũng đỡ được một tay. Ngờ đâu dọc đường ta lại vừa nhận được tin tức cơ mật thật là trọng đại." Mã phu nhân thản nhiên hỏi: "Ồ, chắc là việc quan trọng lắm?" Nữ nhân thường có tính hiếu kỳ, nghe nói đến một việc cơ mật trọng đại, dù chẳng liên quan gì đến mình cũng muốn hỏi chơi. Ngờ đâu Mã phu nhân vẫn thờ ơ, mặc cho đối phương muốn nói thì nói, không nói thì thôi, tưởng chừng phu quân đã chết rồi thì trên đời này chẳng còn điều gì đáng phải động tâm nữa. Tiêu Phong nghĩ thầm: "Người ta vẫn so sánh lòng người quả phụ như cây héo tro tàn, nếu nói về Mã phu nhân thì không sai chút nào."

A Châu bỗng khoát tay bảo Tiêu Phong: "Ngươi ra ngoài đợi. Ta có điều cơ mật thương lượng với phu nhân." Tiêu Phong gật đầu đi ra ngoài, thấm khen: "A Châu quả là thông minh, nàng hiểu rằng muốn người khác thổ lộ chuyện bí mật cho nghe thì phải nói chuyện bí mật của mình trước. A Châu giả vờ nói chuyện cơ mật, ngay cả kẻ tâm phúc của mình cũng không được nghe, chính là làm cho Mã phu nhân tin tưởng."

Tiêu Phong ra khỏi cửa, bên ngoài trời tối, vắng lặng không một tiếng động, chỉ nghe tiếng lách cách từ dưới bếp vọng lên, chính là bà vú đang rửa bát. Chàng bèn đi vòng qua góc tường, nép vào ngoài cửa sổ phòng khách, nín thở lắng tai nghe. Giả tỷ Mã phu nhân không nói ra danh tính kẻ thù, ít nhất cũng lộ ra chút đầu mối để biết đường lần theo, còn hơn mù mờ như hiện nay. Huống chi vị Bạch trưởng lão này chẳng quản xa xôi ngàn dặm đến đây cảnh báo đã là thi ân với bà ta rồi, khi sắp từ biệt lại cho biết một chuyện cơ mật. Không lẽ Mã phu nhân lại cảnh giác tuyệt đối mà giấu giếm một vị đầu não bản bang hay sao?

Hồi lâu mới nghe Mã phu nhân thở dài một tiếng, u uẩn nói: "Trưởng lão.. trưởng lão còn đến làm gì nữa đây?" Tiêu Phong sợ bị phát giác làm hỏng đại sự, không dám thò đầu vào xem tình hình trong phòng khách thế nào. Chàng rất lấy làm kỳ, tự hỏi: "Mã phu nhân hỏi câu này là có ý nghĩa gì?". Chỉ nghe A Châu nói: "Ta quả thật nghe tin Kiều Phong có ý gia hại phu nhân nên tới báo tin." Mã phu nhân nói: "Đa tạ hảo ý của Bạch trưởng lão." A Châu hạ giọng nói: "Mã phu nhân! Từ khi Mã hiền đệ chẳng may qua đời, có mấy vị trưởng lão bản bang nhớ đến công đức người quá cố, muốn mời phu nhân đảm nhiệm chức trưởng lão trong bản bang."

Tiêu Phong nghe giọng nàng nói cực kỳ trịnh trọng không khỏi tức cười, nhưng trong bụng cũng phải khen thầm nàng mưu kế thật cao. Giả tỷ Mã phu nhân bằng lòng, Bạch trưởng lão lập tức trở thành thượng cấp của bà, có điều muốn hỏi thì dĩ nhiên phải trả lời. Còn nếu phu nhân không bằng lòng thì cũng thấy mình được Cái Bang coi trọng, thể nào cũng hân hoan trong dạ.

Mã phu nhân đáp: "Tiện thiếp có tài đức gì mà dám đảm nhiệm chức trưởng lão? Tiện thiếp làm đệ tử Cái Bang còn chưa xong, huống chi địa vị trưởng lão có thể nói là cách bậc muôn trùng." A Châu đáp: "Ta cùng Ngô trưởng lão đã cực lực tiến cử, nghĩ rằng nếu có Mã phu nhân tham gia lo liệu thì việc bắt giết Kiều Phong dễ dàng hơn nhiều. Lại còn có một tin tức trọng đại liên quan đến việc Mã huynh đệ bị giết." Mã phu nhân hỏi lại: "Thế ư?" Giọng nói bà ta vẫn có vẻ thờ ơ.

A Châu tiếp: "Hôm đó ta đến thành Vệ Huy điếu tang Từ trưởng lão, có gặp Triệu Tiền Tôn. Y nói với ta là y biết hung thủ sát hại Mã huynh đệ."

Đột nhiên nghe choang một tiếng, một cái tách trà rơi xuống vỡ tan. Mã phu nhân hoảng hốt kêu lên, rồi lắp bắp nói: "Trưởng lão!.. Trưởng lão đùa giỡn gì thế?" Thanh âm ra chiều phẫn nộ, nhưng cũng có mấy phần kinh hoàng. A Châu đáp: "Đây là một việc trọng đại, làm sao ta dám nói đùa? Chính miệng Triệu Tiền Tôn nói cho ta nghe, y biết rõ hung thủ giết Mã Đại Nguyên huynh đệ. Theo y thì hung thủ không phải là Kiều Phong, cũng chẳng phải Cô Tô Mộ Dung."

Mã phu nhân run run hỏi: "Làm sao y biết? Làm sao y biết? Trưởng lão chỉ nói hồ đồ, có khác gì thấy quỉ giữa ban ngày?" A Châu đáp: "Phu nhân đừng nóng ruột, ta sẽ từ từ nói cho biết. Gã Triệu Tiền Tôn kia nói rằng Trung thu năm ngoái.." Nàng nói chưa dứt câu, Mã phu nhân đã rú lên một tiếng, ngất xỉu ngay tại chỗ. A Châu hốt hoảng gọi: "Phu nhân! Phu nhân!" Nàng lấy tay day vào nhân trung ở môi trên, Mã phu nhân dần dần tỉnh lại, u oán nói: "Sao trưởng lão.. trưởng lão lại dọa tiện thiếp?" A Châu đáp: "Ta chẳng dọa phu nhân làm gì. Chính Triệu Tiền Tôn nói thế, tiếc rằng gã chết rồi, không thì ta gọi gã tới đây đối chứng. Gã kể ngày Trung thu năm ngoái, Đàm công Đàm bà đến hội họp tại nhà Thủ lĩnh đại ca, có cả hung thủ giết Mã huynh đệ cũng đến."

Mã phu nhân thở ra một tiếng, hỏi lại: "Có thật gã nói thế không?" A Châu đáp: "Đúng thế. Ta hỏi hung thủ là ai, y bảo là không tiện nói ra. Ta đi hỏi Đàm công thì y hầm hầm nhìn ta không nói một tiếng, Đàm bà thì bảo là đúng thế, chính bà ta nói với Triệu Tiền Tôn. Ta cũng không trách Đàm công nổi cáu, chắc là y giận vợ mình chuyện gì cũng nói cho Triệu Tiền Tôn nghe. Còn Triệu Tiền Tôn không chịu nói tên hung thủ, chắc sợ liên lụy đến Đàm bà." Mã phu nhân hỏi: "Thế thì đã sao?" A Châu nói: "Triệu Tiền Tôn bảo là, ai cũng nghi Kiều Phong và Mộ Dung Phục giết chết Mã huynh đệ, còn hung thủ đích thực thì lại nhởn nhơ tiêu dao tự tại. Mã huynh đệ ở dưới suối vàng mà biết được, ắt càng oán hận muôn đời muôn kiếp không tan." Mã phu nhân nói: "Đúng thế! Tiếc là Triệu Tiền Tôn lại chết rồi. Thế Đàm công, Đàm bà đã nói cho trưởng lão hay chưa?" A Châu đáp: "Họ cũng không chịu nói. Ta chỉ còn cách đi hỏi Thủ lĩnh đại ca thôi." Mã phu nhân đáp: "Phải lắm, trưởng lão đến đấy hỏi là ra hết." A Châu nói: "Nói ra cũng buồn cười, vị Thủ lĩnh đại ca đó là ai, nhà ở đâu, bọn ta làm sao mà biết." Mã phu nhân nói: "Ồ, hóa ra trưởng lão cứ vòng vo nói qua nói lại, chẳng qua chỉ vì mục đích hỏi cho ra danh tính Thủ lĩnh đại ca." A Châu nghiêm mặt đáp: "Nếu phu nhân thấy bất tiện thì không cần cho ta hay. Tự bọn ta sẽ điều tra cho minh bạch rồi đi tìm hung thủ thực sự thanh toán món nợ này." Tiêu Phong hiểu A Châu lấy thoái làm tiến, cố làm bộ bất cần để Mã phu nhân khỏi nghi, nhưng trong lòng cô nàng chắc là nóng nảy lắm rồi.

Mã phu nhân vẫn lãnh đạm nói: "Danh tính Thủ lĩnh đại ca mà lộ ra, lọt đến tai Kiều Phong thì thể nào hắn cũng tìm đến để báo mối đại cừu sát hại song thân. Nhưng giấu ai thì giấu, chứ còn Bạch trưởng lão là chỗ thân tình, tiện thiếp giấu làm gì? Người đó chính là.."

Tiêu Phong đứng ngoài hết sức lắng tai, dường như nghe được cả tiếng tim mình đập, nhưng vẫn không thấy Mã phu nhân nói tiếp. Một lát sau mới nghe bà ta thở dài nói tiếp: "Trăng trên trời thật là tròn, thật là sáng" Tiêu Phong ngẩng đầu nhìn lên chỉ thấy mây đen che phủ, nghĩ thầm: "Hôm nay mới mồng hai, dẫu có trăng thì cũng đâu có tròn, bà ta nói thế là sao nhỉ?" Lại nghe A Châu nói: "Đến ngày rằm thì trăng thể nào chẳng tròn, chẳng sáng? Ôi, đau xót thay, Mã huynh đệ chẳng bao giờ còn được thấy trăng tròn nữa." Mã phu nhân hỏi thêm: "Trưởng lão thích ăn bánh trung thu nhân mặn hay nhân ngọt?" Tiêu Phong lại càng ngạc nhiên, nghĩ thầm: "Dường như tâm thần Mã phu nhân bất thường, có lẽ do Mã đại ca chết thảm." A Châu đáp: "Bọn ăn mày chúng ta lẽ đâu còn kén chọn bánh mặn hay bánh ngọt? Mà ngày nào chưa tìm ra hung thủ để báo thù cho Mã huynh đệ, dẫu có sơn hào hải vị mà ăn cũng chẳng thấy mùi vị gì nữa."

Mã phu nhân lại lặng yên, một lúc lâu sau mới lạnh lùng đáp: "Bạch trưởng lão hết lòng điều tra hung thủ để báo thù rửa hận cho huynh đệ, tiện thiếp cực kỳ cảm kích." A Châu đáp: "Đó là bổn phận của bọn ta. Mấy vạn bang chúng Cái Bang chẳng ai là không nghĩ đến mối thù này." Mã phu nhân nói: "Vị Thủ lĩnh đại ca này địa vị cực cao, thế lực cực lớn, một lời nói có thể điều động mấy vạn người. Ông ta lại rất thủy chung với bạn bè, nếu quả đã có giao tình với hung thủ, trưởng lão hỏi không được đâu."

Tiêu Phong mừng rỡ nghĩ thầm: "Dù sao thì chuyến đi này cũng không đến nỗi vô ích. Giả tỷ Mã phu nhân không nói rõ ra, chỉ dựa vào một câu này, ta cũng có thể đoán được rồi. Trong võ lâm, liệu có mấy ai địa vị thanh thế được như vậy?"

Chàng còn đang nghĩ xem người đó là ai, đã nghe A Châu lên tiếng: "Trong võ lâm mà một lời nói có thể điều động mấy vạn người, thì trước đây chỉ có bang chủ Cái Bang. Ồ, Thiếu Lâm cũng có đệ tử khắp thiên hạ, phương trượng chưởng môn phái Thiếu Lâm mà nói ra một câu thì cũng có hàng vạn người phải nghe theo.." Mã phu nhân ngắt lời: "Trưởng lão khoan hãy suy đoán lung tung. Để tiện thiếp nói thêm một ý, người đó ở về hướng tây nam." A Châu trầm ngâm nói: "Hướng tây nam? Hướng tây nam làm gì có người nào oai quyền như thế? Ta chẳng thấy ai cả."

Mã phu nhân thò ngón tay chọc thủng giấy dán trên cửa sổ nghe roạc một tiếng, sát trên đầu Tiêu Phong. Bà ta lại nói tiếp: "Tiện thiếp không biết võ công, còn Bạch trưởng lão chắc là hiểu biết bao trùm thiên hạ. Ai là người giỏi nhất về công phu này?" A Châu đáp: "Hừ! Công phu dùng chỉ pháp điểm huyệt ư? Hiện thời thì Kim Cương Chỉ của phái Thiếu Lâm và Đoạt Phách chỉ của Trịnh gia ở Thường Châu tỉnh Hà Bắc là ghê gớm hơn cả."

Tiêu Phong kêu thầm trong bụng: "Sai rồi, sai rồi. Về công phu điểm huyệt thì họ Đoàn Đại Lý là số một trong thiên hạ, mà bà ta cũng đã bảo ở hướng tây nam kia mà." Quả nhiên nghe Mã phu nhân nói: "Bạch trưởng lão kiến văn quảng bác, sao lại không nghĩ ra chuyện này? Chắc là tại đường xa nhọc mệt, đầu óc rối mù, không nhớ đến cả môn Nhất Dương Chỉ lừng lẫy nhất thiên hạ." Trong giọng nói xem ra có ý giễu cợt. A Châu đáp: "Dĩ nhiên ta chẳng lạ gì Nhất Dương Chỉ của Đoàn gia, có điều họ xưng đế ở Đại Lý, đã lâu nay không đi lại với võ lâm Trung Nguyên. Nếu bảo vị Thủ lĩnh đại ca kia có liên hệ với họ Đoàn, xem chừng có chỗ không đúng."

Mã phu nhân nói: "Họ Đoàn là chúa tể Đại Lý nhưng Đoàn gia không phải chỉ có một người. Người không làm vua Đại Lý vẫn thường lai vãng Trung Nguyên. Vị Thủ lĩnh đại ca chính là em ruột của đương kim hoàng đế Đại Lý, Trấn Nam Vương Đoàn Chính Thuần."

Tiêu Phong nghe Mã phu nhân nói đến ba chữ "Đoàn Chính Thuần" lập tức toàn thân run bắn lên. Ông ruổi rong muôn dặm, hết sức tìm kiếm mấy tháng nay mới được nghe cái tên này.

A Châu hỏi tiếp: "Vị vương gia này quyền cao chức trọng là thế, sao còn tham gia vào chuyện ân oán giang hồ làm gì?" Mã phu nhân đáp: "Chuyện ân oán giang hồ tầm thường thì dĩ nhiên Đoàn vương gia không dính dáng đến. Nhưng nếu chuyện có liên quan đến sự tồn vong của giống nòi cùng vương triều nước Đại Lý, trưởng lão nghĩ xem họ có thể nhắm mắt bỏ qua hay không?" A Châu đáp: "Nếu là chuyện quan hệ trọng đại thì đương nhiên họ phải nhúng tay vào." Mã phu nhân nói: "Tiện thiếp có nghe Từ trưởng lão nói rằng, Đại Tống là bình phong che mặt bắc cho Đại Lý, Khất Đan một khi diệt xong Đại Tống rồi, thể nào cũng thôn tính nốt Đại Lý. Thành thử Đại Lý và Đại Tống như răng với môi, môi hở thì răng lạnh, cố nhiên Đại Lý không muốn Đại Tống diệt vong dưới tay Liêu quốc." A Châu đáp: "Quả đúng như thế thật."

Mã phu nhân nói: "Từ trưởng lão còn kể, năm xưa vị vương gia đó sang chơi tổng đà Cái Bang, đang uống rượu đàm luận kiếm pháp với Uông bang chủ, thì nghe tin báo võ sĩ Khất Đan đang kéo sang đoạt kinh văn của chùa Thiếu Lâm. Đoàn vương gia vì nghĩa lớn liền thống lĩnh mọi người ra Nhạn Môn Quan đón đánh, tuy là việc của Đại Tống nhưng thực ra cũng vì Đại Lý. Nghe nói vị vương gia này khi đó tuổi còn trẻ nhưng võ công cao cường, mà đối với ai cũng cực kỳ nhân nghĩa. Ở Đại Lý thì ông chỉ dưới một người mà trên muôn người, tính nết hào phóng vung tiền như rác. Bằng hữu chỉ hé miệng một câu là ông ta lập tức tặng hàng ngàn lạng bạc ngay. Trưởng lão nghĩ xem, quần hùng Trung Nguyên không đặt ông ta lên địa vị thủ lĩnh thì còn ai hơn nữa? Ông ta địa vị tôn cao, là hoàng để tương lai của Đại Lý, bọn giang hồ thảo mãng làm sao dám ra lệnh cho bậc đế vương được?"

A Châu nói: "Thì ra Thủ lĩnh đại, ca chính là Trấn Nam Vương nước Đại Lý. Bao nhiêu người chết chỉ để bảo vệ cho ông ta." Mã phu nhân đáp: "Bạch trưởng lão, chuyện cơ mật đó chở nên tiết lộ với ai. Đoàn vương gia với bản bang giao tình chẳng phải tầm thường, nếu chuyện lộ ra thì tai họa khôn lường. Mặc dù họ Đoàn Đại Lý uy chấn một góc trời nam, thế lực ghê gớm, nhưng giả tỷ gã Kiều Phong kia nuôi chí phục thù ấn nhẫn mười năm, thì Đoàn Chính Thuần không yên ổn được đâu."

A Châu đáp: "Phu nhân nói phải lắm, ta quyết không tiết lộ với ai." Mã phu nhân nói: "Bạch trưởng lão tuyên thệ đi, để tiện thiếp được yên tâm!" A Châu nói: "Được lắm! Bạch Thế Kính mà đem chuyện Đoàn Chính Thuần là Thủ lĩnh đại ca tiết lộ với ai thì sẽ bị thảm họa phân thây muôn đoạn, thân danh tan nát, người đời thóa mạ." Lời thề của nàng nghe ra thật là nghiêm trọng, nhưng cực kỳ giảo quyệt, mồm năm miệng mười đổ hết lên đầu Bạch Thế Kính. Phân thây muôn đoạn đã có Bạch Thế Kính chịu, thân danh tan nát, người đời thóa mạ cũng Bạch Thế Kính hứng lấy, không liên quan gì đến A Châu.

Mã phu nhân nghe thề độc, xem chừng rất vừa lòng mà nói: "Thế là được rồi!" A Châu nói: "Nếu vậy ta phải đi Đại Lý bái kiến Trấn Nam Vương, dò hỏi xem Tết Trung Thu năm ngoái có những khách nào đến vương phủ của ông ta, là sẽ điều tra được hung thủ giết hại Mã huynh đệ. Thế nhưng trong thâm tâm ta vẫn cho là Kiều Phong. Triệu Tiền Tôn, Đàm công, Đàm bà ba người dở dở ương ương, lời nói chưa chắc đã đáng tin."

Mã phu nhân đáp: "Hoàn toàn trông cậy vào Bạch trưởng lão điều tra hung thủ." A Châu đáp: "Mã huynh đệ với ta tình như ruột thịt, ta thể nào cũng hết lòng hết dạ." Mã phu nhân rầu rầu nét mặt nói: "Bạch trưởng lão tình nghĩa thâm trọng như thế, vong phu ở dưới suối vàng nếu mà biết được hẳn là cảm kích vô vàn." A Châu đáp: "Phu nhân cố gắng bảo trọng, tại hạ xin cáo biệt." Đoạn đứng lên đi ra. Mã phu nhân đáp lễ, nói: "Tiện thiếp thân phận góa bụa, đêm hôm không tiện tiễn chân, xin Bạch trưởng lão miễn thứ cho." A Châu cũng đáp: "Được rồi, được rồi! Phu nhân chớ nên khách khí".

A Châu ra đến cửa đã thấy Tiêu Phong đứng đợi, hai người nhìn nhau không nói một lời, lên đường đi ngay. Mảnh trăng non mông lung chiếu trên con đường trở về Tín Dương. Hai người sóng vai mà đi, đến hơn mười dặm Tiêu Phong mới thở phào, nói: "A Châu! Đa tạ nàng."

A Châu gượng cười không nói gì. Tuy mặt nàng đang hóa trang thành Bạch Thế Kính đầy vết nhăn, nhưng Tiêu Phong nhìn trong khóe mắt vẫn thấy vẻ lo âu, liền hỏi: "Hôm nay việc lớn đã thành, sao nàng có vẻ không vui?"

A Châu đáp: "Thiếp nghĩ đến họ Đoàn nước Đại Lý người nhiều thế mạnh. Đại ca thân cô thế cô, qua đó tầm cừu thực là nguy hiểm vô cùng." Tiêu Phong đáp: "À, thì ra nàng lo lắng cho ta. Nàng cứ yên tâm, ta ở trong tối, họ ở ngoài sáng, ba năm năm năm chưa báo thù được thì như Mã phu nhân nói đó, mười năm ắt phải xong. Thế nào cũng có ngày ta chặt Đoàn Chính Thuần ra mười bảy mười tám khúc vứt cho chó gặm." Nói tới đây, chàng nghiến hai hàm răng ken két, bộc lộ tấm lòng căm phẫn đến cực điểm.

A Châu nói: "Đại ca phải hết sức cẩn thận mới được." Tiêu Phong đáp: "Cái đó đã hẳn. Ta mất mạng còn là chuyện nhỏ, mối huyết thù của song thân không báo được mới là chuyện lớn, có chết cũng không nhắm được mắt." Chàng chậm rãi đưa tay ra nắm lấy bàn tay A Châu, nói: "Nếu ta chết vào tay Đoàn Chính Thuần thì ai đưa nàng ra ngoài Nhạn Môn Quan hưởng thú săn bắn chăn nuôi đây?" A Châu đáp: "Ôi chao, sao thiếp vẫn băn khoăn, dường như trong vụ này có chuyện gì không ổn. Vị Mã phu nhân kia ra vẻ.. ra vẻ băng thanh ngọc khiết là thế, mà sao thiếp có cảm giác vừa kinh sợ, vừa chán ghét." Tiêu Phong mỉm cười nói: "Người đàn bà đó tinh minh tài giỏi, nàng sợ bà ta khám phá ra chuyện giả trang, nên trong lòng hồi hộp đó thôi."

Hai người về đến khách điếm trong thành Tín Dương, Tiêu Phong lập tức gọi mười cân rượu uống một phen cho thỏa dạ, trong bụng nghĩ cách báo thù. Chàng nghĩ đến họ Đoàn Đại Lý, tự nhiên nhớ lại người em kết nghĩa kim lan là Đoàn Dự, bất giác rùng mình, cầm chén rượu ngồi ngây ra không uống nữa, sắc mặt biến đổi khác thường.

A Châu tưởng chàng phát giác ra chuyện gì, nàng đưa mắt ngó quanh chẳng thấy chi khác lạ, liền hỏi nhỏ: "Đại ca, có chuyện gì thế?" Tiêu Phong giật mình đáp: "Không.. không có gì cả", nói rồi nâng chén lên uống một hơi cạn sạch. Rượu vào đến cổ họng, bỗng dưng chàng nghẹn thở ho sù sụ, phun rượu ra ướt cả vạt áo. Tửu lượng của Tiêu Phong vô địch thiên hạ, nội công lại thâm hậu, uống rượu mà bị sặc phải phun ra là chuyện chưa từng có. A Châu không khỏi ngấm ngầm lo lắng, nhưng không dám hỏi nhiều,

Thực ra Tiêu Phong đang uống rượu bỗng nhớ đến hôm trước uống thì cùng Đoàn Dự tại thành Vô Tích, chàng sử dụng khí công thượng thừa trong phép Lục Mạch Thần Kiếm, dồn rượu chảy ra đầu ngón tay hết. Thần công như thế, Tiêu Phong biết mình không thể bì kịp. Đoàn Dự rõ ràng không biết võ công mà nội công đã ghê gớm đến thế, kẻ đại đối đầu kia là Đoàn Chính Thuần, một nhân vật rường cột nước Đại Lý, so với Đoàn Dự chắc hẳn phải ghê gớm gấp mười. Mối đại cừu giết cha mẹ không biết đến bao giờ trả được? Tiêu Phong không biết rằng Đoàn Dự hữu duyên mà được thần công, ngẫu nhiên hút nội lực người khác. Về nội lực thì chàng đã hơn phụ thân không biết bao nhiêu lần, về công phu Lục Mạch Thần Kiếm thì trên đời ngoài Đoàn Dự ra không còn người thứ hai nào sử dụng được đầy đủ. Họ Đoàn là quốc tính nước Đại Lý, chẳng khác gì họ Triệu bên Đại Tống, họ Lý bên Tây Hạ, họ Gia Luật bên nước Liêu, trong nước Đại Lý có đến hàng nghìn hàng vạn người họ Đoàn. Đoàn Dự trước nay chưa đề cập tới thân thế mình, A Châu và Tiêu Phong đều quen biết chàng rất thân, nhưng có ngờ đâu anh chàng đồ gàn đó lại là lá ngọc cành vàng?

A Châu không hiểu nỗi lòng uẩn khúc của Tiêu Phong, nhưng cũng đoán chàng đang lo nghĩ việc trả thù, liền nói: "Đại ca! Báo thù là việc lớn, không phải một sớm một chiều. Chúng ta bàn định mưu kế rồi sẽ hành động. Dù địch đông ta ít không đủ sức đánh, chẳng lẽ không biết dùng mưu trí mà đánh hay sao?"

Tiêu Phong nghe nàng nói bỗng đổi sầu làm vui, chàng biết A Châu cơ biến khôn ngoan, quả là một trợ thủ đắc lực, lập tức rót thêm một chén, uống một hơi cạn sạch, rồi nói: "Thù này không đội trời chung. Để báo mối thù giết song thân, chẳng cần để ý tới qui củ đạo nghĩa giang hồ, thủ đoạn ác độc đến đâu cũng có thể thi hành. Đúng thế, mình không đủ sức đánh, thì phải dùng mưu."

A Châu lại tiếp: "Đại ca! Ngoại trừ huyết thù của phụ mẫu thân sinh, lại còn của dưỡng phụ dưỡng mẫu đại ca là phu phụ Kiều lão, của sư phụ đại ca là Huyền Khổ đại sư" Tiêu Phong Vỗ bàn một cái, lớn tiếng nói: "Phải đó! Oán thù chồng chất, nào chỉ có một thời đâu?"

A Châu lại nói: "Ngày trước đại ca học nghệ nơi Huyền Khổ đại sư, hẳn còn nhỏ tuổi nên chưa học hết nội công tinh diệu của phái Thiếu Lâm. Nếu không thì Nhất Dương Chỉ của họ Đoàn Đại Lý chưa chắc đã lợi hại hơn Dịch Cân Kinh của Đạt Ma lão tổ. Thiếp từng nghe Mộ Dung lão gia bàn luận võ công thiên hạ, nói là võ công lợi hại nhất của họ Đoàn Đại Lý không phải là Nhất Dương Chỉ mà là Lục Mạch Thần Kiếm gì gì đó."

Tiêu Phong nhíu mày đáp: "Phải rồi! Mộ Dung tiên sinh là bậc kỳ nhân trong võ lâm, quả nhiên kiến thức hơn đời. Vừa rồi ta lo âu không phải vì Nhất Dương Chỉ mà vì Lục Mạch Thần Kiếm."

A Châu nói: "Hôm đó Mộ Dung lão gia và Mộ Dung công tử bàn luận võ công thiên hạ, thiếp đứng hầu trà, nghe được mấy câu. Mộ Dung lão gia nói: Bảy mươi hai tuyệt kỹ của phái Thiếu Lâm, môn nào cũng có chỗ tinh diệu. Muốn khắc địch chế thắng thì chỉ một tuyệt kỹ là đủ, chẳng cần tới bảy mươi hai làm gì." Tiêu Phong gật đầu: "Mộ Dung tiền bối luận rất đúng."

A Châu nói tiếp: "Khi đó Mộ Dung công tử nói: Gia gia dạy chí phải. Vương cô mẫu cùng biểu muội vẫn tự khoe mình là biết võ công rộng nhất thiên hạ nhưng rộng mà không tinh phỏng có ích gì? Mộ Dung lão gia nói: Nói đến chữ tinh, không phải dễ dàng. Tuyệt học chân chính của phái Thiếu Lâm chỉ có một bộ Dịch Cân Kinh, luyện cho tinh thuần bộ kinh này thì những thế võ tầm thường đến đâu cũng biến thành kỳ diệu."

Căn cơ vững chắc, nội công thâm hậu, thì bất luận chiêu thức tầm thường nào cũng phát huy được uy lực mãnh liệt, Tiêu Phong đã hiểu thế từ lâu. Hôm trước ở Tụ Hiền Trang độc đấu quần hùng, chàng chỉ dùng một pho Thái Tổ Trường Quyền ai cũng biết, mà các cao thủ hạng nhất thiên hạ đều phải khoanh tay bái phục. Lúc này ông nghe A Châu nhắc lại lời Mộ Dung tiên sinh, không khỏi nổi hứng uống luôn hai chén nữa, rồi nói: "Thật hợp ý ta! Thật hợp ý ta! Tiếc rằng Mộ Dung tiên sinh đã qua đời, không thì Tiêu Phong thể nào cũng tìm đến bái kiến bậc kỳ nhân trong thiên hạ."

A Châu tủm tỉm cười đáp: "Ngày Mộ Dung lão gia còn tại thế, lão gia không chịu tiếp kiến người ngoài, song đối với đại ca thì khác." Tiêu Phong ngẩng đầu lên mỉm cười, ông biết câu "Đối với đại ca thì khác" phải hiểu là: "Đại ca là người yêu của thiếp, không phải người ngoài." A Châu bắt gặp ánh mắt của Tiêu Phong, thẹn thùng cúi đầu, vừa bẽn lẽn vừa sung sướng.

Tiêu Phong lại uống cạn một chén nữa, hỏi: "Khi Mộ Dung lão gia qua đời, tuổi cũng chưa cao lắm, phải không?" A Châu đáp: "Mới ngoại ngũ tuần, chưa thể gọi là già." Tiêu Phong nói: "Ồ, lão gia nội công thâm hậu, ngoại ngũ tuần chính là thời kỳ võ công tiến triển mau lẹ, không hiểu tại sao đột nhiên qua đời?" A Châu lắc đầu nói: "Lão gia bị bệnh gì mà thác, tôi tớ trong nhà chẳng ai biết. Sự tình rất nhanh, buổi sáng nghe nói bị bệnh, đến chiều đã thấy công tử khóc rống lên, báo với mọi người là lão gia đã từ trần."

Tiêu Phong nói: "Không biết lão gia bị bệnh gì cấp tính. Đáng tiếc, đáng tiếc! Tiếc là Tiết Thần Y không ở gần, không thì giá nào cũng phải mời ông ta đến cứu mạng cho Mộ Dung tiên sinh." Chàng và họ Mộ Dung chưa từng quen biết, chỉ nghe nói về ngôn ngữ cử chỉ của hai cha con mà sinh lòng hâm mộ, nay có A Châu lại càng cảm thấy liên quan thân thiết.

A Châu lại tiếp: "Hôm đó Mộ Dung lão gia cùng công tử đàm luận rất lâu về Dịch Cân Kinh. Lão gia nói: Ta chưa được xem bộ Dịch Cân Kinh của Đạt Ma lão tổ, nhưng lấy đạo lý võ học mà suy, phái Thiếu Lâm nổi tiếng phải là vì pho Dịch Cân Kinh ấy. Bảy mươi hai tuyệt kỹ đều có chỗ lợi hại, nhưng dựa vào đó mà lãnh đạo quần hùng, đứng đầu võ lâm thiên hạ thì chưa xứng. Lão gia lại dặn dò công tử chở ỷ vào võ học tổ truyền mà coi thường đệ tử Thiếu Lâm. Trong Thiếu Lâm Tự đã có pho kinh ấy, biết đâu có vị tăng nhân thiên tư đĩnh ngộ có thể luyện thành?"

Tiêu Phong gật đầu khen phải, nghĩ thầm: "Họ Cô Tô Mộ Dung danh trùm thiên hạ, vậy mà không kiêu ngạo tự cao, quả là không dễ."

A Châu nói: "Lão gia còn bảo, bình sinh đã đọc gần hết võ công trong thiên hạ, chỉ chưa được thấy Lục Mạch Thần Kiếm Phổ của họ Đoàn Đại Lý và Dịch Cân Kinh của phái Thiếu Lâm, quả là đáng tiếc. Đại ca, Mộ Dung lão gia đã đặt hai môn võ công này ngang nhau, vậy thì muốn đối phó với Lục Mạch Thần Kiếm của họ Đoàn phải có Dịch Cân Kinh của chùa Thiếu Lâm. Nếu như ta ăn trộm được Dịch Cân Kinh trong Bồ Đề Viện của Thiếu Lâm Tự, sau đó luyện tập vài năm, thì Lục Mạch Thần Kiếm hay Thất Mạch Quỉ Đạo gì gì đi nữa cũng chẳng có chi đáng kể." Nàng nói đến đây, vẻ mặt trông như cười mà không phải cười.

Tiêu Phong nhảy dựng lên, nói: "Tiểu quỉ đầu! Nàng.. nàng.." A Châu cười nói: "Đại ca! Thiếp lấy cắp pho kinh này định đưa về cho công tử xem, rồi đem thiêu hóa trước mộ lão gia để người được hoàn thành tâm nguyện. Bây giờ thì dĩ nhiên thiếp đưa cho đại ca." Nói xong nàng lấy trong bọc ra một chiếc túi vải dầu, để vào tay Tiêu Phong.

Tối hôm đó chính Tiêu Phong thấy nàng hóa trang thành nhà sư Chỉ Thanh, lấy trộm một cái gói đằng sau tấm gương đồng trong Bồ Đề Viện, có biết đâu rằng đó chính là pho Dịch Cân Kinh bí truyền của phái Thiếu Lâm. A Châu bị quần hào bắt được ở Tụ Hiền Trang, mọi người nghĩ nàng là phận nữ nhi nên không lục soát trong người. Các vị cao tăng Thiếu Lâm như Huyền Tịch, Huyền Nạn cũng không thể ngờ kinh sách trong bản tự lại mất về tay cô gái này.

Tiêu Phong lắc đầu nói: "Nàng mạo hiểm cửu tử nhất sinh vào chùa Thiếu Lâm trộm kinh sách, bản ý là tặng cho Mộ Dung công tử, có lý đâu ta lại chiếm lấy?" A Châu đáp: "Đại ca nói thế là sai bét rồi." Tiêu Phong lấy làm kỳ hỏi: "Sao lại thế?" A Châu đáp: "Bộ kinh này là tự ý thiếp đi ăn trộm chứ có phải vâng mệnh Mộ Dung Công tử đâu, thiếp thích cho ai thì cho. Vả lại sau khi đại ca xem rồi, chúng ta lại đưa tặng công tử cũng không muộn. Mối thù giết phụ mẫu chẳng đội trời chung, chỉ cốt sao trả được là hay. Dù phải dùng thủ đoạn ác độc, hèn hạ xấu xa cũng chẳng từ, huống chi là mượn xem một bộ kinh, có gì mà phải dùng dằng câu nệ?".

Mấy câu thuyết lý của A Châu khiến Tiêu Phong khâm phục, quay sang nàng vái dài mà nói: "Hiền muội trách ta là phải. Đã làm việc lớn mà còn câu nệ tiểu tiết sao được?" A Châu dẩu môi cười, nói tiếp: "Đại ca vốn là đệ tử Thiếu Lâm, dùng võ công phải Thiếu Lâm để rửa thù cho ân sư Huyền Khổ là danh chính ngôn thuận, có gì không phải đâu nào?"

Tiêu Phong luôn mồm khen phải, vừa cảm kích vừa vui sướng, liền mở gói giấy dầu ra xem, chỉ thấy một cuốn sách mỏng giấy đã vàng ố, ngoài bìa viết những chữ ngoằn ngoèo kỳ lạ. Chàng bất giác kêu lên: "Không được rồi!", mở thử trang đầu ra xem, thấy chữ dày chi chít, nhưng văn tự kỳ lạ, toàn là vòng tròn với móc câu, đến nửa chữ cũng không đọc được.

A Châu cũng la lên một tiếng "Ôi chao!" rồi nói: "Thì ra pho kinh này viết bằng chữ Phạn, thật là hỏng bét! Thiếp định đem về thiêu hóa trước mồ lão gia, từ lúc lấy được kinh văn vẫn chưa hề mở ra xem. Ôi, thảo nào mấy tên lừa trọc thấy võ công bí kíp bị trộm mà cứ thờ ơ không tiếc, hóa ra chẳng tên nào hiểu được kinh thư.." Nói xong nàng thở dài, cực kỳ thất vọng.

Tiêu Phong an ủi: "Việc đời có được có mất, nàng chẳng nên quá để tâm." Chàng gói pho Dịch Cân Kinh lại, đưa trả A Châu. Nàng xua tay nói: "Đại ca cứ giữ lấy. Không lẽ giữa chúng ta còn phân biệt của chàng của thiếp nữa hay sao?" Tiêu Phong mỉm cười, cất pho kinh vào trong bọc. Chàng lại rót đầy một bát rượu toan uống, đột nhiên ngoài cửa có tiếng chân người, rồi tiếng kêu rống lên. Tiêu Phong ngạc nhiên, vội bước ra cửa, thấy trên đường có một đại hán người dính đầy máu, hai tay cầm hai chiếc búa lớn, đang múa lên loạn xạ.

Comments

0 comments

Trước Tiếp
 
34,431 ❤︎ Bài viết: 2241 Tìm chủ đề
Hồi 22: Tiểu Kính Hồ, lần ra manh mối

Đại hán đó râu ria tua tủa, thần thái uy mãnh nhưng đôi mắt ngờ nghệch, hành động như điên cuồng, rõ ràng là đang mất trí. Tiêu Phong thấy đôi đại phủ trong tay y đúc bằng thép ròng rất nặng. Thế mà y vung lên nhẹ nhàng, công thủ đúng phép tắc, rõ ràng có phong độ danh gia. Tiêu Phong biết rất nhiều nhân vật võ lâm ở Trung Nguyên nhưng không nhận ra người này là ai, nghĩ thầm: "Thủ pháp của gã này khá lắm, sao mình chưa nghe thấy tiếng tăm bao giờ?"

Đôi búa của người kia vung lên mỗi lúc một nhanh, miệng kêu rầm lên: "Mau! Mau đi bẩm báo chúa công, địch nhân đã tới rồi." Y đứng ngay giữa đường phố đông đúc, đôi phủ sáng choang vung ngang chém dọc, khiến người đi đường đều tránh cho xa, không ai dại dột đến gần. Tiêu Phong thấy y thần sắc hoảng hốt, đường búa xem chừng đã kiệt lực nhưng vẫn cố chống chọi, miệng cứ kêu: "Các vị huynh đệ tránh ra, để mặc ta, mau mau chạy đi bẩm báo chúa công."

Tiêu Phong nghĩ thầm: "Người này trung nghĩa hết lòng vì chủ, quả là một hảo hán, nhưng tinh lực tổn hao như thế, chắc là nội thương rất nặng". Chàng bèn đi tới trước mặt người kia nói: "Lão huynh, dừng tay một chút uống chén rượu được chăng?" Đại hán kia trừng mắt nhìn, đột nhiên kêu lớn: "Tên đại ác! Đừng hòng hại chủ nhân ta." Y vung búa lên chém vào đầu Tiêu Phong. Người chung quanh thấy nguy hiểm, ai nấy kêu toáng cả lên. Tiêu Phong nghe thấy ba chữ "tên đại ác" cũng chột dạ: "Ta và A Châu đang đi tìm Tên Đại Ác để báo thù, hán tử này cũng gọi địch thủ là tên đại ác, nhưng chưa chắc là kẻ mình đang tìm. Thôi thì cứ cứu y trước rồi sẽ tính sau." Ông nghĩ thế, bèn lẻn vào sát người y, giơ tay điểm vào mạng sườn.

Không ngờ thần trí gã hôn mê nhưng võ công chưa mất, chiếc búa bên phải liền xoay ngược lại, thúc cán búa vào bụng dưới Tiêu Phong. Chiêu đó vừa tinh xảo vừa bất ngờ, giả tỷ võ công Tiêu Phong không cao cường gấp bội y thì thế nào cũng bị đánh trúng. Lập tức chàng vươn tay trái ra, chộp được cán búa rồi giằng lấy. Đại hán kia gân cốt đã rũ rượi, làm sao mà gượng nổi? Toàn thân gã rung chuyển, rồi lập tức ngã nhào vào người Tiêu Phong. Xem ra gã không màng sống chết, muốn đồng qui ư tận.

Tay phải Tiêu Phong lại vươn ra ôm chặt lấy gã, rồi hơi vận kình cho gã hết cục cựa. Những người đứng ngoài thấy Tiêu Phong đã khống chế được gã điên khùng, đều reo hò ầm ĩ. Tiêu Phong ôm gã đại hán lôi xệch vào quán rượu, ấn y ngồi xuống rồi nói: "Lão huynh! Uống vài chén rượu rồi nói chuyện." Nói xong, chàng gọi tửu bảo đem rượu đến.

Đại hán nọ giương đôi mắt điên khùng nhìn Tiêu Phong trừng trừng một hồi lâu mới hỏi: "Ngươi.. ngươi là hảo nhân hay là ác nhân?" Tiêu Phong nhất thời chưa biết nói sao cho phải.

A Châu cười nói: "Ông ta dĩ nhiên là người tốt, ta cũng là người tốt. Chúng ta là bằng hữu, cùng đi đánh Tên Đại Ác." Đại hán giương mắt nhìn nàng một hồi, lại quay sang nhìn Tiêu Phong một hồi, dường như nửa tin nửa ngờ, một lúc sau mới hỏi lại: "Đánh tên.. tên đại ác ư?" A Châu nhắc lại: "Chúng ta là bằng hữu, cùng đi đánh Tên Đại Ác.".

Người kia đột nhiên đứng phắt dậy, lớn tiếng nói: "Không Không! Tên đại ác ghê gớm lắm, mau mau đi bẩm với chúa công để người tìm đường tránh đi. Ta ở đây chặn tên đại ác lại, còn ngươi đi báo tin." Y vừa nói vừa cầm đôi búa toan xông ra.

Tiêu Phong đưa tay ra ấn vai gã xuống, hỏi: "Này lão huynh! Tên Đại Ác chưa đến, vội gì? Chúa công của lão huynh là ai? Đang ở nơi nào?" Đại hán cứ kêu lên: "Tên đại ác kia! Mau lại đây quyết đấu ba trăm hiệp, đừng hòng gia hại chúa công ta."

Tiêu Phong nhìn A Châu không biết phải làm thế nào, A Châu đột nhiên la to: "Chao ôi! Không xong rồi! Chúng ta phải mau đi báo với chúa công. Chúa công đang ở đâu? Chúa công đi hướng nào, chớ để cho tên đại ác biết." Đại hán liền hùa theo: "Phải lắm, phải lắm! Ngươi mau mau đi báo tin. Chúa công đến Phương Trúc Lâm ở Tiểu Kính Hồ, ngươi.. ngươi mau đi Phương Trúc Lâm ở Tiểu Kính Hồ bẩm báo chúa công. Đi đi, đi đi!" Gã giục luôn mồm cuống quít cả lên.

Tiêu Phong và A Châu còn chưa biết tính sao, bỗng nghe tên tửu bảo nói: "Đi Tiểu Kính Hồ ư? Đường khá xa đấy." Tiêu Phong thấy quả đúng có địa danh Tiểu Kính Hồ, vội hỏi: "Ở chỗ nào? Cách đây bao xa?" Gã tửu bảo nói: "Ví như quí khách hỏi người khác thì chưa chắc đã có ai biết. May mà hỏi đúng tiểu nhân, thật là may mắn. Quê tiểu nhân chính ở ngay bên cạnh Tiểu Kính Hồ. Trên đời này thật khó mà có chuyện trùng hợp như vậy, đúng là.."

Tiêu Phong nghe tên tửu bảo mồm miệng liến thoắng, nói mãi chẳng vào chính đề liền giơ tay đập bàn một cái, quát: "Ngươi nói mau lên!" Gã tửu bảo vốn định vòi chút tiền thưởng rồi mới nói, bị Tiêu Phong nạt một cái không dám vòng vo thêm, vội đáp: "Ối chà, sao vị đại gia này nóng tính thế? Hì hì, nếu không gặp tiểu nhân thì có vội cách mấy cũng đâu có được, phải không nào?" Y định nói bông phèng mấy câu nhưng liếc thấy mặt Tiêu Phong có vẻ chẳng hiền lành gì, liền tiếp: "Tiểu Kính Hồ ở phía tây bắc. Quý khách ở quán này ra trước hết đi về hướng tây, đi được chừng bảy dặm rưỡi thì đến một khu trồng chừng mươi cây liễu, mỗi hàng bốn cây, cả thảy bốn hàng, một hàng là bốn, hai hàng là tám, ba hàng là mười hai, bốn hàng là mười sáu, cả thảy mười sáu cây liễu lớn, thì đi lên hướng bắc. Đi thêm chín dặm rưỡi nữa, thấy một chiếc cầu bằng đá xanh, phải nhớ kỹ đừng qua cầu này, nếu qua sẽ bị lạc đường. Nhưng không qua cầu thì làm thế nào qua được bên kia? Quý khách cũng phải đi qua, không đi qua chiếc cầu đá xanh ở mé tả mà phải qua cây cầu gỗ ở mé hữu. Qua chiếc cầu gỗ rồi thì có một ngã ba, một đường rẽ qua hướng tây, một đường đi lên hướng bắc, phải đi con đường hướng tây mới đúng. Đi như thế hai mươi mốt dặm rưỡi nữa thì gặp một cái hồ mặt nước sáng như gương, đó chính là Tiểu Kính Hồ. Ai cũng bảo là tổng số chừng bốn mươi dặm, thực ra chính xác chỉ có ba mươi tám dặm rưỡi, nói bốn mươi dặm là không đúng đâu."

Tiêu Phong cố nhẫn nại ngồi nghe gã tửu bảo nói cho xong. A Châu cười bảo: "Ôi chà, vị đại ca này nói năng rành mạch quá, Một dặm đường thì một đồng tiền thưởng, đáng lẽ chúng ta lì xì đại ca bốn mươi đồng, nhưng như thế là không chính xác, chi bằng đừng cho, nhưng lại không cho không được. Tám lần một là tám, hai lần tảm là mười sáu, ba lần tám là hai mươi bốn, bốn lần tám là ba mươi hai, năm lần tám là bốn mươi, bốn mươi dặm đường trừ đi một dặm rưỡi thế là ba mươi tám dặm rưỡi, quy ra ba mươi tám đồng rưỡi." Nàng đếm ba mươi chín đồng tiền, cầm một đồng lên khía vào lưỡi búa cho có vết, rồi bẻ ra làm đôi, đưa cho gã tửu bảo ba mươi tám đồng rưỡi.

Tiêu Phong không nhịn cười được, nghĩ thầm: "Cô tiểu a đầu này gặp cơ hội lại tinh nghịch đùa giỡn một phen".

Đại hán kia mắt vẫn trừng trừng nhìn Tiêu Phong cùng A Châu, miệng không ngớt giục: "Mau đi báo tin, chậm là không kịp đâu. Tên đại ác ghê gớm lắm." Tiêu Phong hỏi lại: "Thế chủ nhân của huynh đài là ai?" Đại hán kia ấp úng nói: "Chúa công ta là.. là.. không thể cho người ngoài biết được. Thôi ngươi đừng đi nữa" Tiêu Phong lớn tiếng hỏi: "Thế còn huynh đài họ gì?" Gã kia buột miệng đáp: "Ta họ Cổ, ối trời, ta không phải họ Cổ."

Tiêu Phong đem lòng ngờ vực, tự hỏi: "Không lẽ tên này giở trò ma giáo, cố ý dụ mình đến Tiểu Kính Hồ chăng? Sao lại họ Cổ rồi lại không phải họ Cổ?". Chàng nghĩ lại: "Giả tỷ như kẻ địch dụ ta tới đó thì cũng tốt, ta đang muốn đi kiếm y đây. Dù Tiểu Kính Hồ là nơi đầm rồng hang cọp chăng nữa, Tiêu mỗ phỏng có sợ gì?". Chàng quay sang A Châu bảo: "Chúng ta đến Tiểu Kính Hồ xem có động tĩnh gì không. Nếu như chủ nhân của vị huynh đài này có ở đó, thì mình thế nào cũng kiếm được."

Gã tửu bảo lại xen vào nói: "Chung quanh Tiểu Kính Hồ toàn là nơi hoang dã, chẳng có gì để xem cả. Hai vị nếu như muốn du sơn ngoạn thủy, ngắm phong cảnh đẹp thì nên đi đến các đình đài phủ các ở đây, có thế mới mở rộng tầm mắt.." Tiêu Phong xua tay bảo y đừng nhiều chuyện nữa, nói với đại hán kia: "Lão huynh mệt lắm rồi, hãy ở đây nghỉ ngơi. Để tại hạ thay mặt đi báo với lệnh chủ nhân là Tên Đại Ác sắp tới."

Người kia mừng rỡ: "Đa tạ! Đa tạ! Cổ mỗ cảm kích vô cùng. Để tại hạ ở đây ngăn cản tên đại ác." Y nói xong đứng dậy, định cầm đôi búa lên nhưng khí lực kiệt quệ, hai tay đau đớn như dần, cầm cán búa mà không sao nhấc lên được.

Tiêu Phong nói: "Lão huynh phải nghỉ một lúc để lấy sức đã." Chàng thanh toán tiền khách điếm xong liền cùng A Châu rảo bước đi ra, theo lời dặn của tên tửu bảo đi về hướng tây chừng bảy tám dặm, quả nhiên thấy ở bên đường có bốn hàng mỗi hàng bốn cây, cả thảy mười sáu cây dương liễu. A Châu cười nói: "Tên tửu bảo đó tuy mồm miệng liến thoắng, song cũng có cái hay. Thế này thì không thể nào nhầm được, phải không đại ca? Ồ, cái gì thế kia?" Nàng đưa tay chỉ một cây liễu, dưới gốc cây có một gã nông phu ngồi tựa lưng, chân thò xuống cái rãnh bùn bên cạnh. Cảnh tượng đó rất thông thường ở nhà quê, nhưng người nông phu đó máu me đầy mặt, vai lại vác một cây thục đồng côn sáng loáng, phân lượng không phải là nhẹ.

Tiêu Phong đi đến trước mặt gã nông phu đó, thấy y thở hổn hển, hiển nhiên đã bị nội thương khá nặng. Chàng liền hỏi: "Này đại ca! Vị bằng hữu sử búa nhờ bọn ta đến Tiểu Kính Hồ nhắn tin. Xin hỏi đây có phải là đường đi Tiểu Kính Hồ không?" Nông phu ngẩng lên hỏi lại: "Huynh đệ sử búa còn sống hay chết rồi?" Tiêu Phong đáp: "Y hao tổn nhiều khí lực, nhưng không đáng ngại." Nông phu thở phào một cái, nói: "Tạ ơn trời đất. Xin nhị vị đi về hướng bắc, cái ơn đưa tin quyết chẳng dám quên." Tiêu Phong nghe y nói năng lịch sự, quyết không phải hạng nhà quê tầm thường, bèn hỏi: "Tôn tính lão huynh là gì? Có phải là bạn của người sử búa chăng?" Nông phu đáp: "Tại hạ họ Phó. Xin các hạ mau mau đến Tiểu Kính Hồ, tên đại ác đã vượt qua đây rồi. Tại hạ không ngăn nổi y, nói ra thật là hổ thẹn."

Tiêu Phong nghĩ thầm: "Người này bị thương nặng không phải giả vờ. Nếu quả kẻ đối đầu thuê y để dụ ta vào rọ thì phải bỏ ra không ít tiền." Chàng bèn hỏi: "Phó đại ca! Tên đại ác dùng khí giới gì đả thương đại ca nặng như vậy?" Nông phu đáp: "Y dùng thiết trượng."

Tiêu Phong thấy máu tươi trên ngực y chảy ra không ngớt, vội vạch áo ra xem, thấy trên ngực có một cái lỗ sâu hoắm to bằng ngón tay. Chàng giơ tay điểm vào mấy đại huyệt chung quanh, giúp y cầm máu, bớt đau. A Châu xé áo y ra, băng bó vết thương lại.

Hán tử họ Phó nói: "Đại ân của hai vị, Phó mỗ không thể lấy lời mà cảm tạ được. Chỉ xin hai vị mau đến Tiểu Kính Hồ, đưa tin cho chủ nhân của chúng tôi." Tiêu Phong hỏi: "Thế chủ nhân của đại ca tên là gì, tướng mạo ra sao?"

Người kia đáp: "Các hạ đến bên Tiểu Kính Hồ, sẽ thấy bên phía tây có một rừng trúc, cây trúc hình vuông. Giữa rừng có mấy gian nhà tre, xin đến bên ngoài nhà gọi to mấy tiếng: Thiên hạ đệ nhất đại ác nhân đã đến, mau mau tránh đi . Như thế là được, tốt nhất là nhị vị đừng vào trong nhà. Tên họ của chủ nhân, xin thứ lỗi Phó mỗ chưa thể nói ra."

Tiêu Phong nghĩ thầm: "Thiên hạ đệ nhất ác nhân ư? Không lẽ đó là Đoàn Diên Khánh, tên đứng đầu Tứ Đại Ác Nhân hay sao? Hình như người này không muốn nói nhiều, ta cũng chẳng nên hỏi nữa". Thế nhưng bây giờ chàng không còn nghi kỵ nữa, nghĩ bụng: "Nếu quả là kẻ địch dụ ta vào tròng thì mỗi câu mỗi chữ phải cho hợp tình hợp lý, không để nghi ngờ. Người này ấp a ấp úng, không dám nói thực, tuyệt không có lòng đen tối." Chàng bèn nói: "Được rồi, xin theo lời dặn dò của các hạ." Đại hán kia cố gượng đứng lên rồi quỳ xuống cảm ơn. Tiêu Phong nói: "Hai chúng ta tuy mới gặp nhau lần đầu mà tựa hồ quen đã lâu. Phó huynh bất tất phải đa lễ." Chàng đỡ người kia dậy, đưa tay lên xoa mặt một cái, bỏ hết những đồ hóa trang để lộ bộ mặt thật của mình, nói: "Tại hạ là Tiêu Phong người Khất Đan, sau này có phen tái ngộ." Không đợi hán tử trả lời, chàng nắm tay A Châu rảo bước đi ngay.

A Châu hỏi: "Chúng ta không cần cải trang nữa ư?" Tiêu Phong đáp: "Không hiểu sao, ta bỗng dưng cảm mến hán tử thô hào kia, muốn cùng y kết giao. Thành thử ta không muốn dùng bộ mặt giả để đối xử với người ta." A Châu nói: "Được lắm! Vậy để thiếp mặc lại quần áo nữ nhân." Nàng đi đến bên khe suối, vã nước lên rửa mặt, cởi mũ ra để lộ mái tóc mềm óng như tơ, cởi bỏ áo bào rộng khoác ngoài, bên trong là y phục phụ nữ.

Hai người đi một mạch chín dặm rưỡi, nhìn xa xa thấy một chiếc cầu xây bằng đá xanh. Đến gần thêm chút nữa đã thấy một thư sinh nằm phục ngay giữa cầu, trước mặt trải một tờ giấy, dùng đá lát cầu làm nghiên, mài một vũng mực lớn. Thư sinh tay cầm bút, viết lên tờ giấy. Tiêu Phong và A Châu rất lấy làm kỳ, ai ngờ trên một chiếc cầu ở nơi hoang dã thế này lại có một người lôi giấy mực ra viết chữ?

Hai người tiến gần lại chút nữa mới biết không phải y đang viết mà là đang vẽ cảnh vật chung quanh, chiếc cầu nhỏ trên khe suối, cây cổ thụ trên núi biếc xa xa đều có cả. Y nằm phục trên cầu, mặt quay về phía Tiêu Phong và A Châu, nhưng lạ lùng ở chỗ cảnh trong tranh cũng quay về phía hai người, thì ra mỗi nét bút đều là vẽ ngược chiều.

Tiêu Phong thì mù tịt về thư họa, còn A Châu đã trong nhà Mộ Dung công tử lâu năm, các loại bút thiếp cùng hội họa xem đã nhiều, thấy thư sinh chưa đến mức đan thanh tuyệt bút, nhưng vẽ ngược mà được như thế đã là khó rồi. Nàng đang toan tiến lên hỏi mấy câu thì Tiêu Phong đã kéo nhẹ áo, lắc đầu, đi qua chiếc cầu gỗ phía bên phải.

Thư sinh thốt nhiên hỏi: "Nhị vị trông thấy tại hạ vẽ ngược sao không để mắt đến? Chẳng lẽ cái công phu nhỏ mọn của tại hạ làm bẩn mắt nhị vị hay sao?" A Châu đáp: "Khổng Phu Tử thấy chiếu trải không ngay thì không ngồi, thịt cắt không vuông thì không ăn. Chính nhân quân tử lẽ nào lại xem vẽ ngược bao giờ?" Người kia cười ha hả, cuộn tờ giấy lại nói: "Lời cô nương quả hữu lý, xin mời qua cầu."

Tiêu Phong đã đoán được dụng ý của y đem giấy trải trên cầu cốt để cho người khác chú ý, trước là kéo dài thời gian, sau là lấy hư làm thực, cố ý dụ người ta đi qua chiếc cầu đá. Chàng bèn nói: "Bọn tại hạ muốn đến Tiểu Kính Hồ, nếu qua cầu đá là sai đường." Thư sinh đáp: "Qua cầu đá là đi đường vòng, xa thêm năm sáu chục dặm rồi cũng đến nơi. Nhị vị cứ lên cầu đá, chẳng sao cả." Tiêu Phong hỏi lại: "Tại sao không đi đường thẳng mà phải đi thêm năm sáu chục dặm?" Thư sinh kia cười nói: "Dục tốc bất đạt, không lẽ hai vị không biết ư?"

A Châu cũng biết gã này cố tình kéo dài thời gian nên không lôi thôi với y nữa, bước ngay lên chiếc cầu gỗ, Tiêu Phong cũng đi theo. Hai người đi đến giữa cầu, đột nhiên dưới chân nghe lách cách mấy tiếng, ván cầu gãy đôi, cả hai tựa hồ. Sắp rơi xuống sông. Tiêu Phong vươn tay trái ôm ngang lưng A Châu, chân phải điểm vào tấm ván đang rơi mượn tức nhảy vọt tới trước, bay qua tới bờ bên kia, lại tiện tay phóng ngược lại một chưởng đề phòng kẻ địch đánh lén phía sau.

Thư sinh kia cười ha hả nói: "Hảo công phu! Nhị vị vội vã đến Tiểu Kính Hồ chẳng hay có chuyện gì?" Tiêu Phong nghe giọng cười của y có vẻ sợ sệt, nghĩ thầm: "Thằng cha này mặt mày thanh nhã mà lại là đồng đảng với Tên Đại Ác." Chàng không lý gì tới y, cứ tiếp tục cùng A Châu đi thẳng.

Được mấy trượng lại nghe thấy tiếng chân người phía sau, quay đầu nhìn lại chính là thư sinh đó đang đuổi theo. Tiêu Phong xoay hẳn người lại, sa sầm nét mặt hỏi: "Dục tốc bất đạt. Các hạ có điều chi dạy bảo?" Thư sinh đáp: "Tại hạ cũng định đến Tiểu Kính Hồ, muốn được cùng đi với nhị vị cho có bạn." Tiêu Phong đáp: "Thế thì tốt lắm." Nói rồi ôm vòng ngang hông A Châu, đề khí kéo nàng đi vèo vèo, lướt êm ru, chân không tung bụi. Thư sinh nọ cắm cổ chạy theo, nhưng mỗi lúc cách hai người một xa. Tiêu Phong thấy y võ công bình thường không coi vào đâu, cứ tiếp tục chạy tới, tuy phải kéo theo A Châu nhưng vẫn nhanh hơn người kia nhiều. Chỉ khoảng một bữa cơm đã không thấy bóng dáng y đâu nữa.

Qua khỏi cây cầu gỗ đường càng lúc càng hẹp, có đoạn cỏ mọc đến ngang lưng thật khó mà nhìn ra đường lối. Giả tỷ không được gã tửu bảo chỉ rành mạch rõ ràng thì không thể nào tìm được. Lại chạy thêm nửa giờ nữa thì thấy một hồ nước. Tiêu Phong đi chậm lại, đến bên cạnh thấy nước hồ trong như ngọc, mặt lặng như gương, thật không thẹn với ba chữ Tiểu Kính Hồ.

Chàng đang định đi tìm khu rừng trúc vuông, bỗng nghe bên trong bụi hoa bên cạnh có tiếng cười khúc khích, rồi một viên sỏi bắn ra. Tiêu Phong nhìn theo hướng viên sỏi, thấy bên bờ hồ có một ngư phủ đội nón lá đang ngồi đó. Cần câu của y vừa giật được một con cá xanh biếc, viên sỏi bắn trúng ngay sợi dây câu không sai một li, nghe "phựt" một tiếng dây câu đứt đôi, con cá lại rơi tõm xuống hồ.

Tiêu Phong hơi kinh ngạc nghĩ thầm: "Thủ kình người này thật là cổ quái. Dây câu vừa mềm vừa dai, nếu phóng phi đao hay tụ tiễn để cắt đứt thì chẳng nói làm gì. Nhưng dùng một viên sỏi tròn ném đứt được dây câu thì phải dùng kình lực âm nhu, hình như không có ở Trung Thổ." Người bắn viên sỏi đó võ công chưa chắc đã cao nhưng đầy tà khí, thủ pháp rõ ràng là của bàng môn tả đạo. Tiêu Phong nghĩ thầm: "Chắc y là đệ tử hay thuộc hạ của Tên Đại Ác, nghe tiếng cười dường như là một cô gái nhỏ tuổi".

Lúc ngư phủ thấy dây câu bị viên sỏi cắt đứt, y giật mình lên tiếng hỏi: "Ai đùa cợt với Chử mỗ đấy? Xin ra mặt coi nào!" Có tiếng sột soạt, một cô gái rẽ bụi hoa bước ra, toàn thân vận quần áo màu tím, chỉ chừng mười lăm mười sáu tuổi, nhỏ hơn A Châu một chút, đôi mắt đen láy đầy vẻ tinh nghịch. Cô chợt nhìn thấy A Châu, không để ý đến ngư phủ nữa, chạy đến trước mặt nàng, nắm tay cười nói: "Tỷ tỷ xinh đẹp quá, muội thích tỷ tỷ ghê." Cô gái phát âm nghe hơi lơ lớ, tựa như người nước ngoài học tiếng Trung Thổ.

A Châu thấy cô gái hoạt bát ngây thơ, cười nói: "Sau này muội tử lớn lên cũng xinh lắm. Tỷ cũng thích muội." A Châu ở Cô Tô đã lâu, bây giờ nói giọng quan thoại thật là dịu dàng, nhưng cũng không chuẩn xác lắm.

Ngư phủ đang bực mình, nhưng thấy chỉ là một thiếu nữ hoạt bát dễ thương, vui tính, lửa giận bỗng tiêu tan hết. Gã nói: "Cô bé này nghịch ngợm quá. Nhưng công phu đánh đứt dây câu quả là giỏi thật."

Cô bé nói: "Câu cá có gì thích đâu, đợi lâu chán chết đi được. Nếu ông thích ăn cá, lấy cái cần câu mà đâm có phải tiện hơn không?" Nói rồi, cô cầm lấy chiếc cần trong tay ngư phủ, thuận tay đâm xuống nước một cái rồi rút lên, đầu cần câu đã xỉa trúng một con cá. Khi cô nhấc lên nó vẫn còn giãy giụa, máu từ vết thương trên cái bụng trắng hếu nhỏ xuống ròng ròng, màu đỏ loang trên mặt nước biếc, trông thật là đẹp đẽ nhưng đầy vẻ tàn nhẫn.

Tiêu Phong thấy khi cô gái vung tay đâm xuống, tay phải thoạt đầu hơi nghiêng đi một chút, vạch thành một vòng nhỏ, rồi mới từ bên phải phất xuống dưới. Thủ pháp xảo diệu, tư thế đẹp đẽ, nhưng để ứng chiến khi lâm địch thì có phần chậm trễ. Chàng không sao đoán được cô ta ở môn phái nào.

Cô gái cứ nhấc cần câu lên lại đâm xuống, liên tiếp viên trúng sáu con cá bạc thành một chuỗi, sau đó rung tay một cái hất cả sáu con xuống dưới hồ, vẻ mặt vẫn tươi cười. Mặt ngư phủ lộ sắc không vui, nói: "Ngươi còn nhỏ tuổi mà đã hành sự tàn ác. Nếu ngươi muốn bắt cá thì không nói làm gì, nhưng đâm chết cá mà không ăn, vô cớ sát sinh thì còn đạo lý gì nữa?"

Cô gái vỗ tay reo lên: "Ta vô cớ sát sinh thì ngươi làm gì được ta nào?" Hai tay cô dùng sức định bẻ gãy chiếc cần của ngư phủ, ngờ đâu chiếc cần đó cực kỳ chắc chắn, bẻ không gãy được. Ngư phủ cười nhạt, nói: "Ngươi tưởng bẻ gãy được chiếc cần của ta ư? Đâu có dễ như thế." Cô gái chỉ về phía sau lưng ngư phủ, hỏi: "Ai đến thế kia?" Ngư phủ quay đầu lại nhìn không thấy ai, biết là mắc mưu vội vàng xoay lại, nhưng đã chậm mất rồi. Chiếc cần của ông bị ném vụt ra ngoài mấy trượng, nghe tõm một tiếng đã chìm xuống giữa hồ, biến mất không còn tăm tích gì nữa. Gã nổi giận quát lên: "Con nhãi mất dạy này ở đâu tới đây?" Y vừa quát chộp vào vai cô gái.

Cô gái vừa cười vừa kêu lên: "Cứu mạng! Cứu mạng!" Rồi nấp sau lưng Tiêu Phong. Ngư phủ chạy vòng qua đuổi bắt, thân pháp rất mau lẹ. Chỉ trong nháy mắt, Tiêu Phong đã thấy cô gái móc đâu ra một vật không hiểu là cái gì, dường như là một mảnh vải trong suốt rất khó nhìn thấy. Ngư phủ đang nhảy xổ tới, không biết tại sao bỗng trượt chân một cái lăn ra đất, thân hình co lại thành một cục. Tiêu Phong bấy giờ mới nhìn rõ, vật mà cô gái cầm trong tay là một cái lưới đan bằng tơ cực mảnh. Sợi tơ trong suốt, nhỏ như sợi tóc nhưng chắc chắn dị thường, đụng vào vật gì liền rút lại. Ngư phủ bị mắc trong cái lưới, càng giãy giụa chiếc lưới càng thắt chặt thêm, chỉ trong giây lát y đã bị bó tròn như khúc giò không nhúc nhích được nữa.

Ngư phủ lớn tiếng quát mắng: "Con nhãi ma quỷ kia, ngươi dám giở trò yêu pháp tà thuật để bắt ta."

Tiêu Phong ngấm ngầm kinh hãi, biết cô gái này không dùng yêu pháp tà thuật gì, nhưng chiếc lưới cá kia mới thật là yêu tà.

Ngư phủ chửi mắng om sòm không ngớt miệng. Cô gái cười nói: "Ngươi mà còn chửi nữa là ta đánh vào đít cho té đái vãi phân." Gã giật mình, vội vàng nín bặt nhưng mặt tím lại.

Bỗng bên phía tây hồ có tiếng người nói: "Chử hiền đệ! Có chuyện gì thế?" Từ con đường nhỏ bên cạnh hồ một người thoăn thoắt đi tới. Tiêu Phong nhìn thấy người kia mặt vuông chữ quốc, tuổi ngoại tứ tuần, tướng mạo uy võ nhưng trang phục có vẻ tiêu sái nhẹ nhàng.

Người kia đến gần, thấy ngư phủ bị trôi bèn kinh ngạc hỏi: "Sao thế?" Ngư phủ đáp: "Cô bé này sử dụng yêu pháp.." Người trung niên quay sang nhìn A Châu, Cô bé kia cười nói: "Không phải tỉ tỉ đó, là ta đây." Người trung niên. "Ủa" một tiếng, cúi xuống nhấc tấm thân to lớn của ngư phủ lên nhẹ như không, giơ tay toan tháo chiếc lưới ra, Ngờ đâu cái lưới thật là cổ quái, càng kéo mạnh thì lại càng thắt chặt vào, loay hoay cách nào cũng không gỡ ra được. Cô gái kia cười nói: "Chỉ cần y nói ba lần: Xin đầu hàng cô nương, thì ta sẽ thả y ra." Người trung niên nói: "Ngươi đắc tội với Chử huynh đệ của ta, kết quả ra sao cô có biết không?" Cô gái lại cười: "Có thật không? Kết quả càng tệ hại thì lại càng hay"

Người kia vươn tay trái ra, chụp lấy vai cô gái. Thiếu nữ co người lại, lách qua né tránh, ngờ đâu cô ta tuy nhanh nhưng người kia lại còn nhanh hơn, hất tay theo đã nắm ngay được cô ta.

Thiếu nữ cố giật ra những bàn tay của người kia tựa hồ như dính chặt lấy vai, liền kêu lên oai oái: "Bỏ tay ra!" Cô ta vung tay lên định đánh nhưng quyền mới đưa ra chừng một thước thì cánh tay đã kiệt lực, xuôi ngay xuống. Thiếu nữ kinh hãi kêu lên: "Ngươi dùng yêu pháp tà thuật gì đó? Mau buông ta ra!" Người đàn ông mỉm cười: "Vậy cô nói ba lần: Xin đầu hàng tiên sinh, sau đó mở cái lưới cho vị huynh đệ kia, thì ta sẽ thả cô ra." Cô gái giận dữ nói: "Ngươi đắc tội với bản cô nương, kết quả ra sao ngươi có biết không?" Người trung niên mỉm cười: "Có thật không? Kết quả càng tệ hại thì lại càng hay."

Thiếu nữ lại hết sức vùng vẫy nhưng không sao thoát được, thấy toàn thân ê ẩm, bèn cười nói: "Chỉ biết bắt chước người ta, thật là xấu hổ. Thôi được rồi, để ta nói: Xin đầu hàng tiên sinh, xin đầu hàng tiên sinh, xin đầu hàng tiên sinh." Cô hô liền ba câu, nhưng giở trò quỷ quái gọi chữ "tiên" lơ lớ thành chữ "súc", nghe mang máng như "Xin đầu hàng súc sinh". Thế nhưng người trung niên kia không phát giác, buông tay khỏi vai cô gái rồi nói: "Mau mở lưới ra!".

Cô gái cười nói: "Cái đó dễ lắm." Rồi đi tới cạnh ngư phủ, cúi xuống vờ như tháo tấm lưới đang quấn chặt lấy ông ta, tay trái hơi đưa lên, một lằn sáng lấp lánh màu xanh biếc xẹt tới người đàn ông trung niên. A Châu kinh hoảng kêu lên, thấy thủ pháp bắn ám khí của cô ta cực kỳ độc địa, cự ly lại quá gần, xem ra thể nào cũng trúng. Thế nhưng Tiêu Phong chỉ mỉm cười. Chàng biết người đàn ông trung niên này vừa ra tay đã chế ngự ngay được cô gái hết cục cựa, hiển nhiên nội lực thâm hậu, võ công cao cường. Mũi ám khí nhỏ bé đó làm sao đả thương ông ta được? Quả nhiên người kia phất tay áo một cái, một luồng kinh lực phát ra thổi dạt đám kim lả tả rơi xuống vũng bùn bên cạnh hồ.

Người trung niên vừa nhìn thấy màu những cây kim kia, đã biết ngay có tẩm thuốc độc ghê gớm thuộc loại kiến huyết phong hầu, chạm vào máu là người chết ngay lập tức, Y tự hỏi: "Mình cùng cô bé này mới gặp nhau lần đầu, không thì không oán, sao lại hạ độc thủ đến thế?" Ông ta cực kỳ bực tức, định tâm cho con nhãi này một bài học, liền vung tay áo bên phải, tụ lực hất cô gái tung lên, nghe tõm một cái đã rơi ngay xuống dưới hồ. Sau đó ông nhún chân nhảy vọt vào một chiếc thuyền nhỏ ở dưới gốc cây liễu, cầm giầm chèo mấy cái đã đến chỗ cô gái rơi xuống, đợi cô ta trồi lên sẽ nắm tóc kéo lên thuyền.

Không ngờ cô gái chỉ kêu được một tiếng "Ối chao!" rơi xuống hồ rồi mất tăm luôn. Thông thường người chết đuối bao giờ cũng trồi lên hụp xuống mấy lần, uống no nước rồi mới chìm hẳn không trồi lên nữa. Thế nhưng cô gái này chẳng khác gì một cục đá, rơi xuống rồi chìm nghỉm, chờ mãi không thấy nhô lên,

Người đàn ông trung niên kia càng lúc càng nóng ruột, ông vốn không có ý định đả thương, chỉ vì thấy cô ta tuổi nhỏ mà hành sự độc ác nên muốn răn dạy một phen. Nếu cô ta chết đuối thật thì quả thực y rất ân hận. Gã ngư phủ bơi lội rất giỏi, có thể nhảy xuống hồ cứu người, nhưng lại đang bị mắc trong lưới không cách nào thoát ra được. Tiêu Phong và A Châu đều không thạo thủy tính nên cũng không biết làm cách nào. Người trung niên kêu to: "A Tinh! A Tinh, ra đây mau!"

Từ trong khu rừng trúc xa xa có tiếng đàn bà truyền ra: "Chuyện gì vậy? Thiếp chẳng ra đâu."

Tiêu Phong nghĩ thầm: "Người này thanh âm trong trẻo nhưng lại có ba phần ngang ngạnh, cùng với A Châu và cô gái mới rơi xuống hồ đúng là một bộ ba."

Người trung niên lại kêu lên: "Có người chết đuối, ra vớt mau lên!" Người đàn bà lại nói ra: "Có phải chàng chết đuối không?" Người trung niên gắt lên: "Đừng đùa nữa, nếu ta chết đuối sao lại còn nói được? Mau ra cứu người đi nào!" Người đàn bà lại nói: "Nếu chàng chết đuối thì thiếp cứu, còn như ai khác thì mặc xác, cứ đế thế cho vui." Người trung niên hỏi gặng: "Nàng có ra hay không thì bảo?" Ông ta vừa nói vừa dậm dậm chân xuống ván thuyền, ra chiều nóng nảy. Người đàn bà lại nói: "Nếu là nam nhân thì thiếp mới cứu, còn nữ nhân thì chết đuối càng nhiều càng thích, thiếp chỉ vỗ tay reo hò, không cứu đâu." Giọng nói mỗi lúc nghe một gần, một loáng đã ra đến bờ hồ.

Tiêu Phong và A Châu nhìn thấy một phụ nữ tuổi chừng ba mươi lăm ba mươi sáu, mặc một bộ áo chẽn màu xanh nhạt bó sát người lộ rõ chiếc eo thon. Dung nhan bà mỹ lệ, lúc nào cũng như tủm tỉm cười, đôi mắt to đen lóng lánh như ánh sao, khóe mắt cực kỳ linh hoạt, tưởng chừng chỉ một đôi mắt đã nói được muôn ngàn lời. Lúc Tiêu Phong nghe giọng nói thì tưởng nhiều lắm cũng chỉ hăm mốt hăm hai, hóa ra lại là một thiếu phụ đứng tuổi. Bộ quần áo chẽn của nàng vẫn rất chỉnh tề, chắc là khi nghe gọi đi cứu người tuy miệng thì trêu chọc, nhưng vẫn nhanh chân lẹ tay thay đổi áo quần.

Người đàn ông trung niên thấy bà ta đến thì hết sức vui mừng, kêu lên: "A Tinh! Lẹ lên! Ta lỡ tay xô một người xuống hồ, nào ngờ không thấy nổi lên nữa." Thiếu phụ xinh đẹp nói: "Thiếp phải hỏi cho rõ đã, nam nhân thì mới cứu, còn nữ nhân thì thây kệ chàng."

Tiêu Phong và A Châu đều cảm thấy lạ lùng, nghĩ thầm: "Giả tỷ bà ta không chịu cứu đàn ông con trai, để khỏi xảy ra chuyện đụng chạm lôi kéo dưới nước làm mất thân phận, thì là chuyện thường. Sao lại có chuyện ngược đời, chỉ cứu đàn ông không cứu đàn bà?".

Người trung niên dậm chân, bực bội nói: "Trời ơi! Đây chỉ là cô bé chừng mười bốn.. mười lăm tuổi, nàng đừng có nghĩ lẩn thẩn." Thiếu phụ xinh đẹp đáp: "Hứ! Cô bé thì sao? Hạng nam nhân như chàng, con bé mười bốn, bà già tám chục cũng chẳng.." Nàng ta định nói "cũng chẳng tha" nhưng chợt nhìn thấy Tiêu Phong và A Châu, mặt hơi đỏ lên vội bụm miệng lại không nói hết câu, nhưng ánh mắt đầy vẻ tinh quái.

Người đàn ông trung niên đứng trên thuyền vái dài một cái, nói: "A Tinh! Nàng mau mau cứu cô ta lên, rồi nàng muốn gì ta cũng bằng lòng." Thiếu phụ hỏi lại: "Có thật là thiếp muốn điều gì chàng cũng bằng lòng không?" Người đàn ông vội đáp: "Thật thế! Trời ơi, bây giờ mà cô bé còn chưa nổi lên, không lẽ chết thật.." Thiếu phụ lại hỏi: "Thiếp muốn chàng ở lại mãi mãi, chàng có bằng lòng không?" Người trung niên vẻ mặt sượng sùng, ấp úng nói: "Cái đó.. cái đó.." Thiếu phụ nói: "Đừng nghe chàng nói, hãy nhìn chàng làm kìa. Chỉ giỏi đầu môi chót lưỡi đánh lừa người khác vui lòng trong chốc lát cho qua chuyện. Có thế mà chàng cũng không chịu." Bà nói tới đây, đôi mắt rưng rưng, phụng phịu, pha chút nghẹn ngào.

Tiêu Phong và A Châu đưa mắt nhìn nhau lấy làm lạ, hai người này tuổi tác chẳng còn trẻ trung gì, mà nói năng hành động thật chẳng khác gì đôi tình nhân trẻ. Đôi này xem ra không phải vợ chồng, thế mà bà kia nói năng trước mặt người ngoài cũng chẳng cần giữ ý, trong lúc có người đang thập tử nhất sinh bà vẫn ăn nói nhấm nhẳn, chẳng gấp gáp gì.

Người trung niên thở dài một tiếng, chèo thuyền quay lại đáp: "Thôi được, chẳng cần cứu nữa. Cô bé này độc địa dùng ám khí bắn lén ta, có chết cũng đáng kiếp, Thôi, mình đi về." Thiếu phụ xinh đep kia chưng hửng: "Sao lại không cứu nữa, thiếp phải cứu. Cô ta dùng ám khí bắn chàng ư, thế thì hay lắm. Mà sao chàng lại không chết, thật là đáng tiếc." Bà ta cười khúc khích, nhún một cái lao luôn xuống hồ. Động tác thật là tuyệt, chỉ nghe tõm một tiếng, nước không thấy văng lên, người đã lặn xuống sâu. Tiếp đó nghe thấy tiếng nước rẽ ra, thiếu phụ thò đầu lên, hai tay nâng cô gái áo tím. Người đàn ông trung niên mừng rỡ, vội chèo thuyền lại đón.

Ông ta chèo đến gần liền giơ tay đón lấy cô gái, thấy hai mắt nhắm nghiền dường như đã tắt thở rồi, sắc mặt không khỏi lo âu. Thiếu phụ la lên: "Không được đụng vào cô ta. Chàng là con quỷ hiếu sắc, không thể tin tưởng được." Người đàn ông làm bộ tức tối nói: "Chỉ nói bậy bạ! Trong đời ta đã bao giờ hiếu sắc đâu?" Thiếu phụ cười khúc khích, ôm cô gái nhảy vọt vào thuyền rồi nói: "Phải rồi, phải rồi! Chàng có bao giờ hiếu sắc đâu, chỉ thích hạng người xấu xí như Chung Vô Diệm thôi.. Ối chao!" Bà vừa sờ vào ngực cô gái, thấy tim đã ngừng đập, mũi không còn thở nữa nhưng bụng vẫn chưa căng hiển nhiên chưa uống nhiều nước. Thiếu phụ vốn tinh thông thủy tính, vẫn tưởng rằng thời gian ngắn chưa thể chết người, ngờ đâu cô gái thân thể yếu ớt nên tắt thở rồi. Trên mặt bà không khỏi lộ vẻ ăn năn, ôm cô gái nhảy ngay lên bờ kêu rối rít: "Mau lên, mau lên! Mình phải tìm cách cứu cô ta." Bà ta bồng cô gái chạy như bay về phía rừng trúc.

Người trung niên cũng cúi xuống ôm gã ngư phủ lên, quay sang Tiêu Phong hỏi: "Tôn tính đại danh huynh đài là gì? Không hiểu huynh đài đến đây có việc gì không?"

Tiêu Phong thấy ông ta khí độ ung dung, mắt thấy cô gái kia thảm tử nhưng vẫn giữ được vẻ bình tĩnh, trong lòng ngầm kính phục liền nói: "Tại hạ vốn người Khất Đan, tên gọi Tiêu Phong, nhận lời ủy thác của hai vị bằng hữu đến đây báo một cái tin".

Tên tuổi Kiều Phong trên giang hồ thì không ai không biết, nhưng bây giờ ông xưng tên họ thật là Tiêu Phong, lại nói trắng lai lịch người Khất Đan của mình ra. Người trung niên không biết cái tên Tiêu Phong nên vẫn thản nhiên, mà nghe đến ba chữ "người Khất Đan" cũng không lạ lùng gì, bèn hỏi: "Không hiểu vị bằng hữu nào nhắn gửi Tiêu huynh thế? Báo tin chuyện gì?" Tiêu Phong đáp: "Một người sử đôi búa, một người sử cây thục đồng côn tự xưng là họ Phó, cả hai đều bị thương.."

Người trung niên kia giật mình hỏi lại: "Hai vị đó thương thế ra sao? Hiện đang ở đâu? Tiêu huynh, hai người đó là bạn tri giao của tại hạ, xin chỉ điểm cho. Ta.. ta phải đi cứu ngay mới được." Ngư phủ đang bị trói cũng nói: "Cho thuộc hạ theo với." Tiêu Phong thấy hai người trọng nghĩa khí, trong bụng kính phục liền nói: "Hai vị đó thương thế tuy có nặng nhưng không đến nỗi nguy đến tính mạng, đang ở thị trấn gần đây." Người trung niên vái một cái thật sâu rồi nói: "Xin đa tạ!" Ông ta không nói nữa, tay xách ngư phủ lên, chạy về phía con đường Tiêu Phong mới tới lúc nãy.

Bỗng thiếu phụ từ trong rừng trúc gọi vọng ra: "Lại đây mau! Mau lên! Chàng xem.. xem cái gì đây này." Giọng nói ra chiều hốt hoảng lạ thường. Người trung niên dừng bước, còn đang do dự bỗng thấy một người chạy như bay từ ngoài vào, miệng kêu: "Chúa công! Có người đến sinh sự chăng?" Chính là gã thư sinh vẽ ngược trên cầu đá, Tiêu Phong nghĩ thầm: "Cứ tưởng y ngăn trở ta không cho đến báo tin, hóa ra lại cùng phe với hai người sử song phủ và thục đồng côn. Chúa công của bọn họ chắc là người trung niên này."

Khi đó gã thư sinh đã thấy Tiêu Phong và A Châu đứng cạnh người trung niên, không khỏi ngạc nhiên, đến lúc tới gần lại thấy ngư nhân bị trói chặt, vừa kinh hãi vừa tức giận hỏi: "Sao.. sao thế?"

Từ trong rừng trúc, tiếng người thiếu phụ kia gọi càng thêm hoảng hốt: "Sao chàng còn chưa vào, trời ơi, thiếp.. thiếp.." Người trung niên liền đáp: "Để ta vào xem chuyện gì." Ông ta xách cả ngư phủ rảo bước đi về phía rừng trúc, bước đi nhẹ nhàng mà lại hết sức nhanh nhẹn, xem ra công lực phi phàm. Tiêu Phong đưa tay đỡ ngang hông A Châu, cũng thản nhiên đi ngang với ông ta. Người trung niên kia liếc mắt nhìn ra vẻ khâm phục.

Chỉ trong khoảnh khắc đã đến bên rừng trúc, quả nhiên những cây trúc đó thân đều hình vuông, đi thêm vài trường đã thấy ba gian nhà nhỏ cũng làm bằng tre, kiến trúc tỉ mỉ xinh xắn.

Thiếu phụ vừa nghe thấy tiếng chân người đã kêu lên: "Chàng.. chàng mau lại đây mà xem, cái gì thế này?". Trong tay bà cầm một sợi dây chuyền vàng.

Tiêu Phong nhìn thấy đó chỉ là một món trang sức tầm thường của phụ nữ, không có gì đặc biệt, hôm trước A Châu bị thương Tiêu Phong thò tay vào túi nàng tìm thuốc, cũng thấy nàng có một sợi dây tương tự như thế này. Ngờ đâu người trung niên kia vừa cầm chiếc dây chuyền, lập tức mặt biến sắc, run run hỏi: "Ở.. ở đâu ra thế này?" Người đàn bà đáp: "Tháo ở cổ nó ra đấy. Trên cánh tay nó còn có cả ký hiệu thiếp vạch vào. Chàng.. chàng lại mà xem."

Người đàn ông vội vàng tiến vào trong phòng, A Châu lướt theo, còn nhanh hơn thiếu phụ một bước. Tiêu Phong cũng theo sau, vào trong thấy đây là phòng ngủ của phụ nữ, bài trí tinh nhã. Tiêu Phong không tiện nhìn kỹ, chỉ thấy cô gái áo tím kia nằm trên giường không động đậy, xem ra đã chết rồi.

Người trung niên vén tay áo cô gái lên, nhìn vào vai cô ta, rồi lập tức bỏ ngay xuống. Tiêu Phong đứng sau lưng ông ta không nhìn thấy ký hiệu gì, chỉ thấy lưng người đàn ông run lên bần bật, đủ biết y đang cảm xúc mãnh liệt.

Thiếu phụ níu áo người trung niên, vừa khóc vừa nói: "Chàng giết con rồi. Chính chàng ra tay giết chết nó! Chàng không nuôi nó lại còn giết nó! Trời ơi! Chàng thật là người cha lòng lang dạ sói.."

Tiêu Phong lạ lùng: "Cái gì thế này? Cô gái đó là con hai người này sao? À, đúng rồi, chắc là cô bé này vừa sinh ra đã đem gửi người khác nuôi, chiếc dây chuyền và ký hiệu gì đó trên vai là dấu tích cha mẹ cô ta để lại cho dễ nhận." Đột nhiên A Châu mặt đầy nước mắt, xiêu người đi ngã xuống giường. Tiêu Phong kinh hãi, vội đưa tay ra đỡ, lúc cúi xuống thấy mi mắt cô gái nằm trên giường hơi rung rung. Đôi mắt cô ta nhắm nghiền nhưng tròng mắt chuyển động, có thể nhận ra được qua lần da mi mắt. Tiêu Phong chỉ quan tâm đến A Châu, hỏi ngay: "Sao thế?" A Châu đứng dậy lau nước mắt, gượng cười đáp: "Thiếp thấy cô bé này không may thảm tử, trong lòng đau xót."

Tiêu Phong đưa tay ra bắt mạch cô gái, thiếu phụ lại khóc òa lên: "Tim đã ngừng đập, mũi đã tắt thở, còn cứu sao được nữa?" Chàng hơi vận nội lực dồn vào cổ tay cô gái rồi lập tức buông lỏng, thấy từ bên trong cơ thể cô ta có sức đẩy ra, hiển nhiên đang vận nội công để phòng vệ.

Tiêu Phong cười ha hả nói: "Một cô bé cứng đầu nghịch ngợm như thế này, quả thực trên đời ít thấy." Thiếu phụ tức giận nói: "Ngươi là ai? Bước ngay! Con gái ta đã chết rồi, ngươi còn vào đây nói năng bậy bạ." Tiêu Phong cười đáp: "Phu nhân có bằng lòng cho tại hạ cứu cô nương này sống lại không?" Chàng đưa tay điểm luôn vào eo cô gái.

Phát chỉ đó điểm trung huyệt Kinh Môn ở đầu xương sườn cụt, chàng lại dùng nội lực day đi day lại khiến cho ngứa ngáy chịu không nổi. Cô gái không chịu được, từ trên giường nhảy vọt lên, cười khanh khách, giơ tay níu vào vai Tiêu Phong.

Cô gái chết đi sống lại, trong phòng ai nấy vừa mừng rỡ, vừa ngạc nhiên. Người trung niên kia cười nói: "Hóa ra là ngươi dọa ta.." Thiếu phụ đang khóc cũng lau nước mắt, nói: "Con gái tội nghiệp của ta!" Bà giang hai tay, bước tới toan ôm lấy cô gái.

Ngờ đâu Tiêu Phong vung tay tát một phát văng cô gái ra, lại vươn tay nắm ngay cổ tay trái, cười nhạt nói: "Ranh con mà đã độc ác thế?" Thiếu phụ la lên: "Sao các hạ lại đánh con ta?" Nếu không nể mặt Tiêu Phong mới "cứu sống" con gái thì chắc bà ta đã động thủ rồi.

Tiêu Phong xoay bàn tay cô ta ra nói: "Các vị xem này!" Mọi người nhìn thấy trong kẽ tay cô gái có kẹp một mũi kim ánh xanh biếc, thoáng nhìn đã biết ngay là kịch độc. Cô ta vờ đưa tay vịn vào vai Tiêu Phong, thật ra là định đâm chiếc kim này, cũng may chàng nhanh tay lẹ mắt không trúng độc thủ, nhưng thật là nguy hiểm vô cùng.

Thiếu nữ bị tát sưng vù mặt, dĩ nhiên Tiêu Phong còn nhẹ tay chứ không thì đã vỡ đầu nát óc. Tay cô ta đã bị nắm chặt, có muốn giấu chiếc kim cũng không kịp, nửa người bên trái ê ẩm không còn hơi sức. Đột nhiên cô khóc òa lên: "Ngươi hiếp đáp ta! Ngươi hiếp đáp ta!" Người trung niên kia bèn nói: "Thôi nín đi, đừng khóc nữa! Bị đánh thế là nhẹ lắm rồi. Ngươi động tí là dùng ám khí kịch độc hại người, dạy bảo cho là phải lắm."

Cô gái vẫn khóc, nói: "Bích Lân Châm này có gì là lợi hại đâu? Ta còn nhiều loại ám khí khác chưa dùng đến." Tiêu Phong lạnh lùng hỏi: "Sao người không dùng Vô Hình Phấn, Tiêu Dao Tán, Cực Lạc Thích, Xuyên Tâm Đinh?" Cô gái nín bặt, kinh ngạc, run run hỏi: "Sao.. sao ngươi lại biết?" Tiêu Phong nói: "Ta đã biết sư phụ ngươi là Tinh Tú Lão Quái, dĩ nhiên biết rõ những loại ám khí âm độc của ngươi."

Câu đó vừa nói ra, mọi người đều giật mình. Tinh Tú Lão Quái Đinh Xuân Thu là một cao thủ tà phái trong võ lâm, là kẻ vô ác bất tác, giết người như ngóe, ai nghe tiếng cũng phải cau mày. Y chuyên sử dụng Hóa Công Đại Pháp để tiêu hủy công lực người khác, là điều đại kỵ trong võ lâm. Võ công y tuyệt cao, không ai làm gì được, nhưng cũng may lão ít khi vào Trung Nguyên nên chưa trở thành đại họa.

Người đàn ông trung niên vẻ mặt vừa thương xót, lại vừa quan tâm, ôn tồn hỏi: "A Tử! Sao con lại bái Tinh Tú Lão Quái làm thầy?" Cô gái giường đôi mắt tròn xoe, đen lay láy nhìn người trung niên, hỏi lại: "Sao ngươi lại biết được tên của ta?" Người trung niên thở dài, nói: "Chúng ta vừa nói chuyện với nhau, con không nghe gì sao?" Thiếu nữ lắc đầu, nhoẻn cười đáp: "Ta đang giả chết, tim ngừng đập, hơi ngừng thở, tai mắt đều bế tắc nên không nhìn thấy, không nghe thấy gì cả."

Tiêu Phong buông tay cô gái ra nói: "Hừ, đó là Qui Tức Công của Tinh Tú Lão Quái." A Tử lườm Tiêu Phong nói: "Hứ, cái gì ngươi cũng biết cả." Cô nàng nói xong lại le lưỡi nhăn mặt trêu.

Thiếu phụ chăm chú ngắm nghía A Tử, mặt mày rạng rỡ, xem ra vui sướng không kể xiết. Người đàn ông trung niên cũng mỉm cười hỏi: "Sao con lại giả chết? Làm ta sợ hết hồn." A Tử ra chiều đắc ý nói: "Ai bảo ngươi hất ta xuống hồ? Ngươi chẳng tử tế gì hết." Người trung niên nhìn Tiêu Phong ra chiều bẽn lẽn, gượng cười nói: "Con nhỏ này ngang ngạnh quá!"

Tiêu Phong biết phụ tử trùng phùng, chắc phải có nhiều chuyện không muốn người ngoài nghe, bèn kéo áo A Châu đi ra rừng trúc. Chàng thấy nàng hai mắt đỏ hoe, thân hình run rẩy bèn hỏi: "A Châu, nàng không khỏe ư?" rồi đưa tay bắt mạch, thấy mạch nhảy thật nhanh đủ biết tâm thần đang xúc động mãnh liệt. A Châu lắc đầu nói: "Thiếp không sao cả" rồi lập tức tiếp ngay: "Đại ca! Chàng ra ngoài trước đi, thiếp.. thiếp muốn đi tiểu tiện." Tiêu Phong gật đầu đi ra xa.

Tiêu Phong đến bờ hồ đợi một hồi vẫn chưa thấy A Châu ra, bỗng nghe tiếng chân, có người rảo bước đi tới, trong lòng chợt động: "Phải chăng đây là Tên Đại Ác?" Chàng nhìn ra thấy ba người đi men theo đường nhỏ bên bờ hồ, trong đó hai người trên lưng có cõng người khác, còn một người thấp bé nhưng đi nhanh như bay, dường như chân không chạm đất. Y đi một quãng lại phải đứng chờ hai người kia. Hai người kia bước chân bình ổn, hiển nhiên võ công cũng khá. Họ đến gần hơn, Tiêu Phong nhìn ra hai người được cõng trên lưng chính là gã điên sử búa và đại hán họ Phó đã gặp trên đường. Người thấp bé gọi to: "Chúa công, chúa công! Tên đại ác sắp đến, chúng ta mau mau chạy đi thôi!"

Người trung niên kia một tay dắt thiếu phụ, một tay dắt A Tử từ trong rừng trúc đi ra. Hai người lớn trên mặt có ngấn nước mắt, còn A Tử thì cười hì hì, mặt nhởn nhơ như không. Kế đó A Châu cũng đi ra, đến bên cạnh Tiêu Phong.

Người trung niên buông thiếu phụ và cô gái ra, bước đến cạnh hai người bị thương đưa tay thăm mạch. Ông thấy cả hai không có gì nguy hiểm đến tính mạng, trên mặt lộ vẻ vui mừng nói: "Ba vị thật là vất vả. May mà nhị vị hiền đệ Cổ Phó không có gì đáng ngại, ta mới yên lòng." Ba người kia khom lưng hành lễ, thần thái cực kỳ cung kính.

Tiêu Phong nghĩ thầm: "Bọn này võ công khí độ không phải tầm thường, nếu không phải ở địa vị chúa tể một phương thì cũng phải là thủ lãnh một môn phái, sao đối với người trung niên này lại cung kính đến như vậy. Không biết lai lịch y đến thế nào."

Hán tử thấp bé nói: "Chúa công! Hạ thần đã bố trí nghi trận bên cạnh cầu đá xanh để ngăn trở tên đại ác. Nhưng e rằng y sẽ khám phá cơ quan ngay, xin chúa công lập tức khởi giá đi nơi khác là hơn." Người trung niên kia đáp: "Dòng họ ta chẳng may sinh ra một tên ác độc phản nghịch như thế, đã gặp y nơi đây thì có muốn tránh cũng không tránh được. Thôi đành cùng y một phen sống mái cho xong." Một đại hán mày rậm mắt to nói: "Việc cự ác chống địch, bọn thần tử sẽ chia nhau ra đảm trách. Xin chúa công lấy xã tắc làm trọng, sớm trở về Đại Lý để hoàng thượng khỏi trông chờ." Một người thân hình tầm thước nói: "Chúa công! Việc hôm nay không thể đem cái dũng nhất thời mà đối phó. Giả tỷ chúa công sẩy tay một tí, bọn hạ thần còn mặt mũi nào trở về Đại Lý khấu kiến hoàng thượng? Chắc phải cùng nhau tự vẫn thôi."

Tiêu Phong nghe tới đây trong lòng hồi hộp, tự hỏi: "Họ nói những gì thần tử, chúa công, hoàng thượng, quay về Đại Lý. Không lẽ bọn này là người nhà họ Đoàn nước Đại Lý chăng?". Tim chàng đập thình thình, nghĩ bụng: "Biết đâu lưới trời lồng lộng, hôm nay tên tặc tử Đoàn Chính Thuần lại rơi vào tay ta."

Tiêu Phong còn đang suy nghĩ, bỗng nghe đằng xa có tiếng rống lên, rồi có tiếng loảng xoảng như kim loại chạm nhau vọng đến: "Con rùa họ Đoàn kia! Ngươi chạy không thoát đâu, mau ngoan ngoãn bó tay chịu trói. Không chừng lão gia nể mặt con người, sẽ tha mạng cho ngươi đó."

Có tiếng một người đàn bà the thé: "Làm gì đến lượt Nhạc lão tam quyết định tha hay không tha y? Chẳng lẽ lão đại không biết đứng ra phát lạc hay sao?" Lại có một giọng lạnh lẽo nói: "Gã tiểu tử họ Đoàn kia! Nếu người biết phải quấy thì thể nào cũng dễ chịu hơn là không biết điều." Thanh âm tên này trung khí bất túc, dường như bị thương chưa khỏi.

Tiêu Phong nghe bọn kia mở miệng ra là gọi họ Đoàn lại càng nghi thêm, đột nhiên có một bàn tay nhỏ nhắn đưa ra nắm lấy tay chàng. Tiêu Phong đưa mắt nhìn lại thì ra A Châu đứng bên cạnh mình, mặt mày trắng bệch, bàn tay lạnh ngắt đầy mồ hôi. Chàng hỏi nhỏ: "A Châu! Nàng sao thế?" A Châu run rẩy đáp: "Thiếp sợ lắm." Tiêu Phong mỉm cười hỏi: "Nàng ở bên cạnh đại ca mà còn sợ nữa sao?" Chàng bĩu môi nhìn về phía người đàn ông trung niên, thì thầm vào tai A Châu: "Gã kia hình như là người họ Đoàn nước Đại Lý." A Châu chỉ mấp máy môi chứ không nói gì.

* * *

Người đàn ông trung niên kia chính là Đoàn Chính Thuần, hoàng thái đệ nước Đại Lý. Hồi còn niên thiếu ông hay du lịch Trung Nguyên, phong lưu hoa nguyệt đi đến đâu vương tình đến đó. Thời đó những bậc phú quí thường là năm thê bảy thiếp, Đoàn Chính Thuần là một hoàng tử địa vị cao sang, đáng ra có nạp nhiều cung phi thì cũng là chuyện bình thường. Thế nhưng họ Đoàn xuất phát từ võ lâm, tuy đã xưng đến nơi Đại Lý nhưng các việc ăn uống thức ngủ vẫn tuân theo tổ huấn, không quên nguồn gốc hào kiệt Trung Nguyên. Nguyên phối của Đoàn Chính Thuần là Đao Bạch Phượng, con gái một đại thủ lãnh người Bài Di ở Vân Nam. Họ Đoàn kết thân cốt để liên kết thế lực, bảo vệ ngôi vị hoàng đế. Thời đó người Hán ở Vân Nam không nhiều, nếu không được người Bài Di ủng hộ thì ngôi vua của họ Đoàn khó mà lâu dài được. Người Bài Di vốn theo tập tục một vợ một chồng. Đao Bạch Phượng từ nhỏ vốn được tôn quí nên nhất định không cho Đoàn Chính Thuần nạp thiếp, cũng chỉ vì chuyện lang quân đi đến đâu trăng hoa đến đó, mà bà tức mình xuất gia làm một đạo cô. Đoàn Chính Thuần với mẹ của Mộc Uyển Thanh là Tần Hồng Miên, vợ của Chung Vạn Cừu là Cam Bảo Bảo, mẹ của A Tử là Nguyễn Tinh Trúc, mỗi người đều có một thiên tình sử.

Lần này Đoàn Chính Thuần phụng mệnh hoàng huynh, tới chùa Thân Giới ở châu Lục Lương tra xét xem Huyền Bi đại sư bị ám hại như thế nào. Ông thấy có nhiều điểm đáng ngờ, chưa chắc đã là Cô Tô Mộ Dung ra tay, nhưng đợi ở đó hơn nửa tháng vẫn không thấy vị cao tăng Thiếu Lâm nào đến để thương nghị. Đoàn vương gia bèn cùng Tam Công là Phạm Hoa, Hoa Hách Cấn, Ba Thiên Thạch và Tứ đại hộ vệ đến Trung Nguyên điều tra hư thực thế nào, nhân tiện đến thăm Nguyễn Tinh Trúc đang ẩn cư ở Tiểu Kính Hồ. Mấy bữa nay hai người chắp lại tình xưa, vui thú chẳng khác thần tiên.

Đoàn Chính Thuần đang cùng cố nhân ôn lại tình nồng, có cả Tam công Tứ vệ chia ra bốn bề hộ giá, thì ngờ đâu đại địch thủ tìm được đến nơi. Đoàn Diên Khánh võ công lợi hại, lần lượt đả thương Cổ Đốc Thành và Phó Tư Qui, Chu Đan Thần lại tưởng Tiêu Phong là địch, ở trên cầu đá xanh ngăn lại không xong đành phải chạy về báo. Chử Vạn Lý thì lại bị cái lưới của A Tử trói lại. Còn Tư mã Phạm Hoa, Tư đồ Hoa Hách Cấn, Tư không Ba Thiên Thạch ba người cứu được Cổ, Phó xong liền quay về chung sức chống trả cường địch.

Chu Đan Thần vẫn đang cố gắng tháo Chử Vạn Lý ra, nhưng chiếc lưới này dao cắt không đứt, tay mở không xong, mồ hôi đầm đìa mà vẫn không làm gì được. Đoàn Chính Thuần quay sang nói với A Tử: "Ngươi mau thả Chử thúc thúc ra. Đại lịch sắp tới rồi, đừng nghịch ngợm nữa." A Tử cười hỏi: "Thế gia gia thưởng cho hài nhi cái gì đây?" Đoàn Chính Thuần nhíu mày: "Ngươi không vâng lời, ta bảo mẫu thân ngươi đét vào lòng bàn tay. Ngươi mạo phạm Chử thúc thúc, còn chưa biết mau mau tạ tội?" A Tử đáp: "Gia gia vứt con xuống hồ làm con phải giả chết một hồi lâu, sao không tạ tội với con? Con kêu má mà đét vào lòng bàn tay gia gia bây giờ."

Bọn Phạm Hoa, Ba Thiên Thạch thấy Trấn Nam Vương bỗng nhiên lại có thêm một cô con gái bướng bỉnh ngang chướng, ăn nói với phụ thân chẳng còn ra thể thống gì, ai nấy đều dè chừng nghĩ thầm: "Cô nương này không phải là con chính thất, nhưng cũng là quận chúa trong vương phủ. Nếu như ả có xúc phạm đến mình, cũng đành chịu chẳng dám làm gì, phải ráng nhịn thôi. Chử huynh đệ bị cô ta trói lâu như thế chắc là khổ sở lắm".

Đoàn Chính Thuần giận dữ đáp: "Ngươi không nghe lời gia gia, để xem ta có còn thương ngươi nữa không?" A Tử cong cớn nói: "Trước nay gia gia có thương gì con đâu, nếu thương thì đâu có bỏ bê con mười mấy năm chẳng thèm nhìn tới?" Đoàn Chính Thuần đắng họng không biết phải nói sao, chỉ lặng lẽ thở dài. Nguyễn Tinh Trúc khuyên con: "A Tử cưng ơi, má má có cái này hay lắm. Con mau cởi trói cho Chử thúc thúc đi nào." A Tử chìa tay ra nói: "Má má đưa con coi trước để xem có thật hay không đã."

Tiêu Phong kính trọng Chử Vạn Lý là một trang hảo hán, đứng ngoài thấy con bé này ngang ngược hỗn láo đã bực mình, nghĩ thầm: "Ngươi là gia thần của y nên không nổi cáu được, còn ta nào phải nể nang gì?". Chàng cúi xuống, nhấc Chử Vạn Lý lên nói: "Chử huynh! Ta xem chừng loại dây tơ này gặp nước sẽ giãn ra, để nhúng Chử huynh xuống nước thử xem."

A Tử giận quá kêu lên: "Tên trời đánh kia! Sao cứ rắc rối xía vào chuyện người ta?" Thế nhưng cô nàng mới bị Tiêu Phong cho một bạt tai nên cũng hơi sợ, không dám ra tay ngăn cản.

Tiêu Phong xách Chử Vạn Lý đến cạnh hồ, nhúng y xuống nước. Quả nhiên cái lưới bằng tơ mềm kia liền nhũn lại, chàng đưa tay gỡ ra. Chử Vạn Lý nói khẽ: "Đa tạ Tiêu huynh giúp đỡ". Tiêu Phong mỉm cười: "Con nhãi cứng đầu này thật là khó dạy, ta đã cho nó một cái tát để Chử huynh hả giận rồi." Chử Vạn Lý lắc đầu ra chiều buồn bã.

Tiêu Phong cuộn chiếc lưới lại thành một cục chỉ to bằng nắm tay, thật là kỳ lạ. A Tử chạy tới chìa tay ra đòi: "Trả lại cho ta!" Tiêu Phong vung tay lên dọa đánh, A Tử sợ quá lùi luôn mấy bước. Tiêu Phong chỉ dọa cô ta thôi, nhét luôn chiếc lưới và bọc. Ông đoán chừng người trung niên kia hẳn là địch thủ của mình, A Tử là con gái y, chiếc lưới này là một món lợi hại không nên trả lại cho cô ta.

A Tử chạy đến kéo áo Đoàn Chính Thuần, kêu lên: "Gia gia! Gã kia đoạt mất tấm lưới của con rồi."

Đoàn Chính Thuần thấy Tiêu Phong thái độ khác thường, nghĩ là ông chỉ muốn răn đe A Tử một phen, chứ người bản lĩnh như vậy lẽ nào lại tham đồ vật của trẻ con.

Đột nhiên Ba Thiên Thạch lên tiếng: "Vân huynh đến phải không? Người ta luyện võ công mỗi ngày một giỏi mà Vân huynh lại mỗi ngày một kém đi là nghĩa làm sao? Xuống ngay đi." Nói xong gã liền phóng chưởng vào một cái cây lớn. Nghe răng rắc mấy tiếng, một cành cây bị đánh gãy rơi xuống, đồng thời một người cũng nhảy xuống theo. Người đó vừa gầy vừa cao, chính là Cùng hung cực ác Vân Trung Hạc. Hôm Tụ Hiền Trang y bị Tiêu Phong đánh cho một chưởng trọng thương, tưởng đâu mất mạng. Gã chữa khỏi vết thương rồi, song công lực suy giảm rất nhiều. Trước đây ở Đại Lý y cùng Ba Thiên Thạch tỉ thí khinh công thì hơn kém không bao nhiêu, nhưng hôm nay Ba Thiên Thạch chỉ nghe tiếng bước chân đã biết khinh công của y kém trước nhiều.

Vân Trung Hạc đảo mắt trông thấy Tiêu Phong, giật mình kinh hãi, xoay lưng toan co giò chạy trốn. Từ con đường mòn bên cạnh hồ lại thêm ba người đi tới. Người bên trái đầu bù tóc rối, áo quần cũn cỡn, chính là Hung thần ác sát Nam Hải Ngạc Thần, còn bên phải là một người đàn bà bồng một đứa trẻ, chính là Vô ác bất tác Diệp Nhị Nương. Người ở giữa mặc áo bào xanh, hai tay chống hai cây trượng sắt nhỏ, mặt trơ trơ như quỷ nhập tràng, chính là người đứng đầu trong Tứ Ác, tên gọi Ác quán mãn doanh Đoàn Diên Khánh.

Đoàn Diên Khánh ít khi lộ diện ở Trung Nguyên, nên Tiêu Phong không biết tên Thiên Hạ Đệ Nhất Ác Nhân này. Còn bọn Đoàn Chính Thuần đã chạm trán lão tại nước Đại Lý, biết rằng Diệp Nhị Nương cùng Nhạc Lão Tam tuy lợi hại thật nhưng không khó đối phó, đến Đoàn Diên Khánh mới thật không sao lường nổi. Y sở trường cả hai mặt chính tà, đã tinh thông Nhất Dương Chỉ của Đoàn gia, lại luyện thêm công phu tà phái, chính tà ngang ngửa. Những cao thủ như Hoàng Mi Tăng còn không địch lại y, Đoàn Chính Thuần tự biết mình không phải là đối thủ.

Phạm Hoa lớn tiếng nói: "Chúa công! Tên Đoàn Diên Khánh này chẳng tử tế gì, chúa công nên lấy xã tắc làm trọng, mau mau đi mời các cao tăng của chùa Thiên Long đến đây cứu viện." Chùa Thiên Long ở mãi tận Đại Lý, làm sao gọi cứu viện cho kịp? Chẳng qua là trước mắt chúa tôi nước Đại Lý lâm vào tình trạng thập tử nhất sinh, Phạm Hoa xin Đoàn Chính Thuần mau mau chạy trốn về Đại Lý, đồng thời hư trương thanh thế để Đoàn Diên Khánh tưởng là các cao tăng chùa Thiên Long ở gần đây mà kiêng nể. Đoàn Diên Khánh là dòng dõi chính thống họ Đoàn Đại Lý, ắt phải biết các cao tăng chùa Thiên Long lợi hại đến thế nào,

Đoàn Chính Thuần cũng biết tình hình nguy hiểm, nhưng ông là tay võ công cao nhất trong đám người Đại Lý ở đây, nếu bỏ chạy một mình thì còn mặt mũi nào nhìn anh hùng thiên hạ? Huống chi tình nhân và con gái cũng đang ở cạnh đây, ai lại để mất mặt đến thế? Ông mỉm cười nói: "Ha ha! Thật đáng tức cười. Chuyện trong nhà của họ Đoàn Đại Lý lại phải dắt nhau đến Đại Tống mà giải quyết hay sao?"

Diệp Nhị Nương cười nói: "Đoàn Chính Thuần! Mỗi lần ta gặp ngươi lại thấy mấy ả dung nhan mỹ lệ cận kề. Ngươi thật là diễm phúc." Đoàn Chính Thuần nhếch mép cười đáp: "Diệp Nhị Nương! Dung nhan nàng cũng mỹ lệ lắm đấy chứ!" Nam Hải Ngạc Thần cả giận nói: "Con rùa kia sao hưởng phúc đã nhiều, thế mà có thằng con không chịu bái ta làm thầy, thật không biết đẻ con. Để lão gia thiến ngươi cho xong." Lão vừa nói vừa lấy cây ngạc chủy tiên ra, xông vào Đoàn Chính Thuần.

Tiêu Phong thấy Diệp Nhị Nương gọi người kia là Đoàn Chính Thuần mà y không phủ nhận, quả là mình đã đoán trúng. Ông quay sang nói nhỏ với A Châu: "Đúng là hắn rồi." A Châu run run hỏi: "Đại ca định.. định nhân lúc người ta nguy cấp mà hai mặt giáp công chăng?" Tiêu Phong tâm tình khích động, vừa phẫn nộ lại vừa vui mừng, đáp ngay: "Mối thù phụ mẫu thân sinh, ân sư, nghĩa phụ nghĩa mẫu, lại thêm còn vì hắn mà ta chịu oan khuất bấy lâu, thật là thù sâu tựa biển. Còn phải bàn đến nhân nghĩa đạo đức, qui củ giang hồ nữa sao?" Mấy câu đó chàng chỉ nói khẽ nhưng đầy oán độc, tưởng như chém đinh chặt sắt không bằng.

Phạm Hoa thấy Nam Hải Ngạc Thần xông tới, nói nhỏ: "Hoa đại ca, Chu hiền đệ ra hiệp công gã thất phu này. Đánh thật mau thật mạnh, kết thúc lẹ chừng nào hay chừng ấy, để bẻ nanh bẻ vuốt Tên Đại Ác trước, sau đó sẽ hợp lực để đối phó với chính hắn." Hoa Hách Cấn và Chu Đan Thần vâng lời bước ra. Hai người biết rằng lấy hai địch một thật là mất mặt, huống chi một mình Hoa Hách Cấn cũng không kém gì Nam Hải Ngạc Thần, chẳng cần ai giúp. Nhưng Phạm Hoa nói rất có lý, Đoàn Diên Khánh ghê gớm quá, lấy một đánh một thì bất luận là ai cũng không địch nổi, chỉ có cách tất cả ùa lên một lượt mới có cơ sống sót. Hoa Hách Cấn lập tức cầm cương sạn, Chu Đan Thần rung động thiết bút, chia ra đánh vào hai bên tả hữu Nam Hải Ngạc Thần.

Phạm Hoa lại tiếp: "Ba huynh đệ đến gặp gỡ ông bạn già, ta và Chử huynh đệ đối phó với con mụ kia." Ba Thiên Thạch vâng lời tiến ra, xông vào Vân Trung Hạc. Phạm Hoa và Chử Vạn Lý cùng nhảy ra theo. Chử Vạn Lý vốn sử chiếc cần câu bằng sắt nhưng đã bị A Tử ném xuống hồ rồi, y bèn cầm cây đồng côn của Phó Tư Qui hậm hực xông lên,

Phạm Hoa lao thẳng vào Diệp Nhị Nương. Mụ thấy thân pháp của họ Phạm biết là kình địch, không dám coi thường, liền toét miệng cười ném huỵch đứa trẻ trong tay xuống đất, lúc xoay tay lại đã cầm một thanh đao vừa mỏng vừa rộng, không biết giấu sẵn ở chỗ nào.

Chử Vạn Lý la hét vang trời, lại xông thẳng vào Đoàn Diên Khánh. Phạm Hoa kinh hãi kêu lên: "Chử huynh đệ, Chử huynh đệ! Trở lại đây!" Chử Vạn Lý coi như không nghe thấy, vung cây đồng côn lên dùng hết sức quật ngang.

Đoàn Diên Khánh cười nhạt không coi vào đâu, điểm thiết trượng bên trái vào mặt y. Thế trượng đó nhẹ nhàng như không, nhưng thời khắc bộ vị không sai một mảy, tới đích trước cây đồng côn của Chử Vạn Lý. Lão hậu phát chế nhân, ra tay thật là lợi hại. Thế đó lấy công làm thủ, chỉ một chiêu đã phản khách vi chủ, Chử Vạn Lý bắt buộc phải tránh né. Ngờ đâu Chử Vạn Lý làm như không trông thấy cây trượng, đồng côn vẫn tiếp tục vụt ngang lưng địch thủ. Đoàn Diên Khánh kinh hãi, nghĩ thầm: "Không lẽ gã này điên rồi sao?", Y không muốn cùng Chử Vạn Lý lưỡng bại câu thương, dù cây trượng có đâm chết y ngay tại chỗ nhưng lưng mình trúng một côn thể nào cũng bị thương, vội vàng điểm hữu trượng xuống đất, tung mình vọt lên tránh né.

Chử Vạn Lý liền dựng thẳng cây côn lên đâm vào bụng dưới Đoàn Diên Khánh. Cây thục đồng côn của Phó Tư Qui nặng nề, vừa dài vừa to, công phu sử dụng món binh khí này cốt ở trầm trọng ổn định. Võ công của Chử Vạn Lý lại lấy nhẹ nhàng linh hoạt làm sở trường, sử dụng đồng côn không thuận tay, huống chi lại ra tay liều lĩnh, chiêu nào cũng nhắm thẳng vào chỗ yếu hại của Đoàn Diên Khánh, việc sống chết của chính mình chẳng hề quan tâm. Người đời thường bảo "Một người liều mạng muôn người khôn địch", Đoàn Diên Khánh võ công cao cường nhưng gặp kẻ điên khùng đánh kiểu thí mạng thế này cũng phải liên tiếp thối lui.

Đám cỏ xanh trên bờ Tiểu Kính Hồ trong chốc lát đã lấm tấm máu tươi. Thì ra Đoàn Diên Khánh tuy phải lùi nhưng vẫn liên tiếp ra chiêu, trượng nào cũng đâm trúng vào người Chử Vạn Lý thành một lỗ sâu. Thế nhưng gã này dường như không biết đau, cây đồng côn vũ lộng càng lúc càng nhanh.

Đoàn Chính Thuần kêu lên: "Chử huynh đệ lui ra, để ta đấu với tên ác đồ". Ông đón lấy thanh kiếm trong tay Nguyễn Tinh Trúc, xông lên toan hai người đánh một mình Đoàn Diên Khánh. Chử Vạn Lý kêu lên: "Chúa công lui ra đi!" Đoàn Chính Thuần khi nào chịu nghe, vung kiếm lên đâm vào Đoàn Diên Khánh. Cây trượng bên phải của Đoàn Diên Khánh chống xuống đất, cây trượng bên trái gạt đồng côn của Chử Vạn Lý, rồi theo khe hở đâm vào giữa hai lông mày Đoàn Chính Thuần. Ông phải lạng người qua, lùi một bước.

Chử Vạn Lý gầm rống như mãnh thú bị thương, đột nhiên chuyển thế đánh, hai tay nắm một đầu côn vung tít lên thành một vòng tròn màu vàng, từ từ nhích gần tới Đoàn Diên Khánh. Lối đánh này chẳng còn ra chiêu số võ học gì nữa.

Phạm Hoa, Hoa Hách Cấn, Chu Đạn Thần cùng lớn tiếng kêu lên: "Chử huynh đệ! Chử đại ca! Lui lại nghỉ một chút." Chử Vạn Lý vẫn gầm lên, vung côn đập loạn vào Đoàn Diên Khánh. Lúc này cả bọn Phạm Hoa lẫn Diệp Nhị Nương, Nam Hải Ngạc Thần thấy tình hình quái đản cũng ngưng chiến, chăm chú xem sao. Chu Đan Thần kêu lên: "Chử đại ca! Mau lui xuống!" Y xông lên toan ôm lấy Chử Vạn Lý nhưng lại bị thúc một khuỷu tay vào mặt, lập tức sưng vù lên rồi tím bầm.

Đoàn Diên Khánh cũng không muốn gặp một đối thủ liều lĩnh như thế. Lúc này y và Chử Vạn Lý đã qua lại hơn ba mươi chiêu, đâm thủng đối phương hơn chục lỗ trên người, nhưng Chử Vạn Lý vẫn gầm thét xông vào. Cả Đoàn Diên Khánh và mọi người bàng quan đều kinh hãi, thấy việc này quả thật khác thường. Chu Đan Thần biết rằng còn đánh nữa thì Chử Vạn Lý không thể nào thoát chết, bất giác dòng lệ tuôn rơi, muốn xông ra trợ chiến nhưng vừa dợm chân thì đã nghe vụt một tiếng, Chử Vạn Lý đem hết sức bình sinh phóng cây đồng côn vào kẻ địch. Thiết trượng của Đoàn Diên Khánh điểm ra thật là tinh xảo, trúng ngay giữa thân cây côn, hất nhẹ một cái bay về phía sau. Cây côn chưa rơi tới đất, mười ngón tay Chử Vạn Lý đã xòe ra nhắm thẳng vào Đoàn Diên Khánh chộp tới.

Đoàn Diên Khánh cười nhạt, nhắm giữa ngực y đâm mạnh một trượng. Đoàn Chính Thuần, Phạm Hoa, Hoa Hách Cấn, Chu Đan Thần bốn người đồng thanh kêu rú lên, toan xông vào cứu. Thế nhưng cây trượng của Đoàn Diên Khánh phóng ra nhanh quá, nghe "sột" một tiếng đã xuyên qua ngực Chử Vạn Lý từ trước ra sau. Trượng bên phải vừa rút ra thì cây trượng bên trái đã điểm xuống đất, thân hình lão đã tà tà bay ra ngoài xa mấy trượng.

Vết thương của Chử Vạn Lý vọt máu tươi ra cả trước ngực lẫn sau lưng. Y vẫn cố đuổi theo Đoàn Diên Khánh nhưng chỉ được một bước thì đã kiệt lực, quay đầu lại nói với Đoàn Chính Thuần: "Chúa công! Chử Vạn Lý thà chết không chịu nhục, đem tính mạng báo đáp ân nghĩa Đoàn gia Đại Lý."

Đoàn Chính Thuần quì gối xuống, nước mắt lã chã: "Chử huynh đệ! Ta không biết dạy con, đến nỗi đắc tội với huynh đệ. Chính Thuần này hổ thẹn vô cùng!"

Chử Vạn Lý quay sang Chu Đan Thần gượng nở một nụ cười: "Hảo hiền đệ! Ta làm anh dĩ nhiên phải đi trước. Hiền đệ.." Y nói chưa hết câu đột nhiên ngừng lại, thì ra đã tuyệt khí chết rồi, thân hình vẫn còn đứng trơ trơ chưa chịu ngã xuống.

Mọi người nghe y lúc lâm chung nói đến "thà chết không chịu nhục", biết rằng Chử Vạn Lý bất kể sống chết tấn công Đoàn Diên Khánh, chỉ vì bị cái nhục A Tử trói vào trong lưới, vốn đã quyết tìm cái chết rồi. Người trong võ lâm đều biết câu: "Cao nhân tất hữu cao nhân trị", võ công mình thua kém người không phải là cái nhục, khổ luyện mười năm cũng có lúc báo được thù. Thế nhưng Chử Vạn Lý là gia thần của họ Đoàn, bị A Tử là con gái chủ nhân làm nhục, mãi mãi không sao rửa nhục được, thôi đành chết dưới tay ngoại địch còn hơn. Chu Đan Thần khóc òa lên. Phó Tư Qui và Cổ Đốc Thành tuy trọng thương chưa khỏi mà cũng lăm le đứng lên thí mạng với Đoàn Diên Khánh.

Đột nhiên có một giọng thiếu nữ trong vắt nổi lên: "Gã này đúng là đồ ngốc, võ công tệ quá, toi mạng là phải rồi." Người nói câu đó chính là A Tử.

Bọn Đoàn Chính Thuần đang đau lòng, nghe một câu ra chiều khinh bạc, ai nấy giận đến điên người. Bọn Phạm Hoa hầm hầm nhìn A Tử, có điều lại là ái nữ chúa công nên không tiện nổi khùng. Đoàn Chính Thuần tức khí xông lên, vung tay nhắm ngay mặt cô ta tát một cái. Nguyễn Tinh Trúc đưa tay ngăn cản, giận dỗi nói: "Chàng đem vứt con cho người khác mười mấy năm nay chẳng ngó ngàng gì tới, sống chết chẳng biết ra sao. Hôm nay mới được trùng phùng, chàng lại nhẫn tâm đánh nó hay sao?"

Đoàn Chính Thuần vốn dĩ cũng hổ thẹn vì đã đối xử với Nguyễn Tinh Trúc chưa hết lòng, thêm nữa, trước nay vẫn chiều chuộng nàng hết mực, Ông lại không muốn tranh chấp trước mặt người ngoài, phát chưởng sắp chạm vào tay Nguyễn Tinh Trúc bèn thu về, hầm hầm mắng A Tử: "Chử thúc thúc vì ngươi mà chết, ngươi có biết không?" A Tử nhếch mép đáp: "Bọn chúng gọi gia gia là chúa công, thì tất nhiên con là tiểu chủ nhân của chúng. Làm chết một vài tên nô bộc thì có đáng gì đâu?" Vẻ mặt cô ta tỏ ra cực kỳ khinh miệt.

Vào thời đó đạo quân thần rất nghiêm ngặt, "Quân xử thần tử, thần bất tử bất trung". Bọn Chử Vạn Lý là phận thần tử ở triều đình Đại Lý, đối với Đoàn gia cực kỳ kính trọng. Thế nhưng họ Đoàn xuất phát từ võ lâm Trung Nguyên, trước sau vẫn giữ qui củ giang hồ. Bọn Hoa Hách Cấn, Chử Vạn Lý.. tuy là bầy tôi nhưng Đoàn Chính Minh, Đoàn Chính Thuần vẫn coi họ như huynh đệ. Đoàn Chính Thuần thường qua lại giang hồ Trung Nguyên từ lúc còn trẻ, Chử Vạn Lý theo ông vào sinh ra tử, từng trải phong ba không biết bao nhiêu, đâu phải là một kẻ nô bộc tầm thường? Câu nói của A Tử làm bọn Phạm Hoa hết sức bất mãn. Nếu không phải ở chỗ cần nghi lễ, Bảo Định Đế đối với bọn họ vẫn thường hô huynh gọi đệ, huống chi Đoàn Chính Thuần chưa lên ngôi cửu ngũ, A Tử chẳng qua là một đứa con tư sinh, danh phận chưa rõ mà đã đối xử khinh bạc.

Đoàn Chính Thuần vừa đau lòng về cái chết của Chử Vạn Lý, lại xấu hổ với anh em vì đứa con như thế. Ông đưa trường kiếm lên thản nhiên bước ra, chỉ vào mặt Đoàn Diên Khánh mà nói: "Nếu ngươi muốn giết ta thì cứ động thủ đi. Họ Đoàn lấy nhân nghĩa trị nước, nếu tàn sát người vô tội thì dù được nước cũng chẳng bền lâu."

Tiêu Phong cười thầm trong bụng, lẩm bẩm: "Ngươi nói thật dễ nghe quá, đến nước này còn giở trò ngụy quân tử."

Đoàn Diên Khánh điểm cây thiết trượng xuống đất, vọt người một cái đã đến bên cạnh Đoàn Chính Thuần, nói: "Phải chăng ngươi muốn đơn đả độc đấu với ta, không liên quan đến người ngoài?" Đoàn Chính Thuần đáp: "Đúng vậy! Ngươi giết ta xong rồi hãy đến Đại Lý giết Hoàng huynh ta, xem có được như ý nguyện hay không? Thuộc hạ cùng thân thích của ta không liên quan gì đến chuyện này." Ông biết Đoàn Diên Khánh võ công cao quá, hôm nay chắc mình mất mạng, chỉ mong y đừng làm khó Nguyễn Tinh Trúc, A Tử cùng bọn Phạm Hoa. Đoàn Diên Khánh đáp: "Thuộc hạ ngươi thì tha, thân thích ngươi thì phải giết. Năm xưa chỉ vì phụ hoàng nhân đức không giết hai anh em ngươi nên mới có cái họa soán nghịch hôm nay."

Đoàn Chính Thuần nghĩ thầm: "Đoàn Chính Thuần này phải đường hoàng mà chết, không thể để người đàm tiếu". Ông quay sang thi thể Chử Vạn Lý, chắp tay nói: "Chử huynh đệ! Hôm nay Đoàn Chính Thuần cùng huynh đệ sóng vai kháng địch." Ông quay lại dặn Phạm Hoa: "Phạm tư mã! Sau khi ta chết hãy chôn ta ngang với Chử huynh đệ, không phân biệt chúa tôi." Đoàn Diên Khánh cười khẩy: "Ha ha! Giả nhân giả nghĩa! Đến nước này ngươi còn cố thu phục nhân tâm, mong người ta liều chết vì ngươi nữa sao?"

Đoàn Chính Thuần không trả lời, tay trái bắt kiếm quyết, tay phải ra chiêu Kỳ Lợi Đoạn Kim, chính là chiêu mở đầu trong Đoàn gia kiếm. Đoàn Diên Khánh biết rõ biến hóa trong chiêu này, thản nhiên trả lại một trượng. Hai người xuất thủ đều sử dụng võ công tổ truyền của nhà họ Đoàn. Đoàn Diên Khánh lấy trượng thay kiếm, định bụng sẽ dùng Đoàn gia kiếm pháp để giết Đoàn Chính Thuần. Y muốn giết Đoàn Chính Thuần không phải vì thù oán riêng tư mà vì tranh đoạt ngôi vua nước Đại Lý, trước mắt có cả Tam công trong triều, nếu như y dùng công phu tà phái giết Đoàn Chính Thuần, chắc chắn quần thần Đại Lý không phục. Còn nếu y dùng bản môn công phu Đoàn gia kiếm pháp để thủ thắng, thật là danh chính ngôn thuận, không ai dị nghị được. Huynh đệ họ Đoàn tranh chấp ngôi vua không liên quan gì đến quần thần, sau này lên ngôi báu cũng tiện lợi hơn nhiều.

Đoàn Chính Thuần thấy y dùng thiết trượng sử dụng công phu bản môn, trong bụng hơi yên tâm, liền ngưng thần nín thở, bộ pháp vững vàng, kiếm chiêu nhẹ nhàng khinh khoái, chiêu nào tung ra cũng công thủ đúng phép tắc. Đoàn Diên Khánh dùng thiết trượng sử Đoàn gia kiếm pháp cũng thật tuyệt vời, chiêu số khinh linh phiêu dật không hề để mất khí tượng đế vương.

Tiêu Phong nghĩ thầm: "Hôm nay quả là dịp may khó gặp. Ta vẫn băn khoăn không biết Nhất Dương Chỉ và Lục Mạch Thần Kiếm của họ Đoàn ghê gớm đến thế nào, may sao Đoàn Chính Thuần lại có cường địch tìm đến. Đối thủ lại cùng họ với y, tuyệt kỹ của Đoàn gia đến mức độ nào, chỉ chốc lát là ta biết."

Xem đến hai chục chiêu, cây thiết trượng trong tay Đoàn Diên Khánh dường như trầm trọng hơn, trì trệ hơn lúc đầu, mỗi khi đụng phải kiếm của Đoàn Chính Thuần, hai món binh khí dội ra càng lúc càng xa. Tiêu Phong gật gù, nghĩ bụng: "Tuyệt nghệ dần dần hiển lộ, chỉ dùng một cây thiết trượng nhẹ nhàng mảnh khảnh mà sử được như thiền trượng sáu bảy chục cân, công lực lão quả thực phi phàm". Người võ công cao cường đều có thể "cử trọng nhược khinh", dùng binh khí nặng một cách nhẹ nhõm, nhưng đến mức "cử khinh nhược trọng", dùng binh khí nhẹ một cách trầm trọng thì công lực phải cao hơn một mức. Tuy nhiên, sử như nặng mà không phải nặng thật, nghĩa là phải uy mãnh như một món binh khí nặng, nhưng cũng phải giữ cái khéo léo linh hoạt của binh khí nhẹ. Tiêu Phong thấy Đoàn Diên Khánh sử dụng cây gậy nhỏ bé chẳng khác gì cương trượng, càng lúc càng như nặng thêm không biết đâu là bờ bến, phải khen thầm nội lực lão thật kinh người.

Đoàn Chính Thuần ra sức nghênh tiếp, thấy mỗi lúc thiết trượng của kẻ địch càng nặng thêm, áp lực khiến ông phải ngộp thở. Võ công họ Đoàn quan trọng nhất là nội kình, hơi thở không thông là kém thế rồi. Thế nhưng Đoàn Chính Thuần không sợ hãi chút nào, vốn đã biết mình không thắng được, tự an ủi cuộc đời hưởng phúc đã nhiều, hôm nay bỏ mạng bên Tiểu Kính Hồ cũng không uổng một kiếp người. Huống chi lại có Nguyễn Tinh Trúc xinh đẹp đứng bên cạnh nhìn mình đầy vẻ tình tứ, có chết cũng thành con quỷ phong lưu.

Ông đi đến đâu vương tình đến đó, đối với Nguyễn Tinh Trúc cũng chẳng quyến luyến gì hơn nguyên phối Đao Bạch Phượng hay những người khác. Thế nhưng tính ông ở cạnh ai cũng chân tâm đối xử, dù có phải chết vì người tình cũng không oán hận. Còn khi đã dứt áo ra đi vui vầy duyên mới rồi, thì lại là chuyện khác.

Đoàn Diên Khánh truyền nội lực vào thiết trượng mỗi lúc một nặng, hai bên qua lại hơn sáu mươi chiêu, Đoàn gia kiếm pháp đã thi triển hết rồi. Lão thấy đầu mũi Đoàn Chính Thuần đã lấm tấm mồ hôi nhưng hơi thở vẫn giữ điều hòa thong thả thì nghĩ thầm: "Ta nghe gã này là tên hiếu sắc, vô số nhân tình, vậy mà nội lực vẫn còn dai dẳng như thế. Ta không thể coi thường hắn được". Lúc này cây thiết trượng đã phát huy nội lực đến cực độ, phát ra tiếng gió vù vù. Mỗi lần Đoàn Chính Thuần đỡ được một chiêu lại lảo đảo người một cái.

Hai người đều sử dụng những kiếm chiêu đã thuộc lòng từ hồi mười ba mười bốn tuổi, ngay như bọn Phạm Hoa, Ba Thiên Thạch coi suốt mấy chục năm cũng đã quen, thành ra trận đấu này không phải tỉ thí chiêu số, mà là tỉ thí nội lực. Bọn Phạm Hoa xem đến đây đã thấy rõ Đoàn Chính Thuần không chịu nổi, đưa mắt cho nhau, lăm lăm binh khí toan xông lên tương trợ.

Đột nhiên có tiếng thiếu nữ cười khanh khách rồi nói: "Buồn cười, thật là buồn cười! Họ Đoàn Đại Lý tự xưng anh hùng hào kiệt, vậy mà cả bọn toan xông lên lấy đông đánh ít, chẳng hóa ra tiểu nhân vô liêm sỉ hay sao?" Mấy câu đó từ miệng A Tử phát ra, thật tình mọi người không ai hiểu nổi. Người đang gặp nguy chính là phụ thân, thế mà cô ta đã không lo lắng mà còn buông lời giễu cợt chê bai.

Nguyễn Tinh Trúc giận dữ mắng con: "A Tử! Ngươi biết gì mà nói láo lếu? Cha ngươi là Trấn Nam Vương nước Đại Lý, còn địch thủ là kẻ phản nghịch của họ Đoàn. Những bằng hữu đây đều là thần tử nước Đại Lý, đều có trách nhiệm diệt quân cuồng bạo; giữ yên đất nước." Bà ta chỉ thông thạo thủy tính, còn võ công thì bình thường, thấy tình lang gặp phải nguy cơ liền nóng ruột kêu lên: "Các vị xông vào cả đi! Đối phó với hung đồ phản nghịch còn nói gì đến qui củ giang hồ?"

A Tử cười nói: "Má má nói vậy càng đáng buồn cười! Gia gia phải là bậc anh hùng hảo hán thì con mới nhìn nhận. Nếu là hạng vô liêm sỉ, đánh nhau cần đến người tiếp sức, thì con nhìn nhận cái thứ gia gia đó làm gì?" Mấy câu đó giọng nói oang oang, ai cũng nghe rõ. Phạm Hoa và bọn Ba Thiên Thạch, Hoa Hách Cấn ai nấy bần thần, cảm thấy xông lên tương trợ thì bẽ mặt, mà đứng yên thì cũng không xong.

Đoàn Chính Thuần tuy là kẻ phong lưu đa tình, nhưng cũng thích bốn chữ "anh hùng hảo hán". Ông vẫn thường tự nhạo mình: "Anh hùng nan quá mỹ nhân quan, dẫu không qua được cửa ải mỹ nhân vẫn là anh hùng. Hạng Bá Vương có Ngu Cơ, Hán Cao Tổ có Thích Cơ, Lý Thế Dân có Võ Tắc Thiên đó thì sao?". Thành thử ông quyết không làm những việc hèn hạ tệ hại, nhút nhát khiếp nhược. Ông đang chiến đấu kịch liệt chợt nghe A Tử nói thế, lập tức lớn tiếng: "Sống hay chết, thắng hay bại phỏng có chi đáng kể? Bất cứ ai tiến lên tương trợ, là coi Đoàn Chính Thuần này chẳng ra gì."

Ông mở miệng nói khiến nội lực gián đoạn, nhưng Đoàn Diên Khánh không thừa cơ bức bách mà lui lại một bước, chống cả song trượng dưới đất, đợi ông nói xong mới đánh tiếp. Bọn Phạm Hoa đều kinh hãi, thấy Đoàn Diên Khánh phong độ ung dung nhàn nhã, chẳng qua biết mình thắng thế nên không thèm nhân cơ hội chiếm lấy tiện nghi.

Đoàn Chính Thuần mỉm cười nói: "Ta lại xuất chiêu nữa đây." Tay áo ông phất một cái, trường kiếm lại đâm ra.

Nguyễn Tinh Trúc nói: "A Tử! Con xem kiếm pháp gia gia lợi hại biết chừng nào, nếu quả ông ta muốn lấy mạng con quỷ nhập tràng kia thì thừa sức. Có điều cha con thân phận vương gia, nên mới giao cho thuộc hạ kết liễu hắn, không cần phải tự mình ra tay." A Tử đáp: "Gia gia chưa chắc đã thanh toán y được. Con chỉ sợ má má mồm lim dạ sứa, ngoài miệng nói cứng mà trong bụng run như cầy sấy." Mấy câu đó quả đúng tâm sự mẫu thân. Nguyễn Tinh Trúc hầm hầm lườm con, nghĩ thầm: "Con nhãi ranh này thực là ngu xuẩn, nói năng vô ý vô tứ.

Đột nhiên Đoàn Chính Thuần đâm ra liên tiếp ba chiêu thật nhanh, nhưng nội lực Đoàn Diên Khánh mỗi lúc một tăng, chiêu nào của ông cũng bị hất ngược lại. Chiêu thứ tư của Đoàn Chính Thuần là Kim Mã Đằng Không, trường kiếm lượn ngang qua, thiết trượng trong tay Đoàn Diên Khánh liền ra chiêu Bích Kế Báo Hiểu đón lấy, trường kiếm vừa gặp nhau lập tức dính chặt lấy. Cổ họng Đoàn Diên Khánh kêu lên ùng ục, hữu trượng điểm mạnh trên mặt đất một cái, thân hình vọt lên không, nhưng đầu tả trượng vẫn dính vào mũi kiếm của Đoàn Chính Thuần.

Tinh thế trở nên một bên hai chân bám sát xuống đất vững như núi, không chịu nhúc nhích, còn một bên toàn thân lơ lửng trên không, dật dờ vô định như cành liễu trước gió.

Người đứng chung quanh đều" Ối chà "một tiếng, biết rằng hai người đã vào giai đoạn khẩn yếu tỉ đấu nội lực. Đoàn Chính Thuần đứng dưới đất, hai chân có chỗ tựa để vận kình, như thế có lợi hơn, thế nhưng Đoàn Diên Khánh từ trên cao ép xuống, trọng lượng toàn thân dồn cả vào mũi kiếm đối phương, cũng có chỗ tiện nghi. Chỉ trong giây lát, trường kiếm từ từ cong lại biến thành hình cánh cung, còn thiết trượng vẫn thẳng băng như mũi tên.

Tiêu Phong thấy trường kiếm trong tay Đoàn Chính Thuần chỉ cong thêm chút nữa là gãy đôi, nghĩ thầm:" Tại sao cả hai vẫn chưa sử dụng tuyệt kỹ Lục Mạch Thần Kiếm? Không lẽ Đoàn Chính Thuần biết công phu của mình không bằng đối phương nên không dám phô cái vụng về ra? Nhưng xem cách y vận dụng nội lực thì hình như đã cạn vốn rồi, chẳng còn bản lĩnh nào chưa dùng đến ".

Đoàn Chính Thuần thấy trường kiếm trong tay lúc nào cũng có thể gãy đôi, vội hít một hơi dài, ngón trỏ bên trái điểm ra, chính là công phu Nhất Dương Chỉ. Công phu của ông còn chưa bằng được hoàng huynh là Đoàn Chính Minh, chỉ lực không xa quả ba thước. Trượng đang nối vào kiếm, cộng lại phải đến tám thước, phát chỉ đó không thể nào đả thương được đối phương. Ông phóng chỉ không phải nhằm vào Đoàn Diên Khánh, mà là đâm vào thiết trượng của y.

Tiêu Phong nhíu mày nghĩ thầm:" Xem chừng gã này không biết sử dụng Lục Mạch Thần Kiếm, có lẽ còn kém cả nghĩa đệ ta. Chỉ pháp này chẳng qua là một môn công phu cách không điểm huyệt cao minh, có gì kỳ diệu đâu? ". Thế nhưng chỉ lực vừa đụng vào, cây trượng của Đoàn Diên Khánh rung lên, trường kiếm duỗi thẳng ra được một chút. Đoàn Chính Thuần liên tiếp điểm ra ba chỉ, trường kiếm duỗi ra được ba lần, tạm thời thẳng thắn như cũ.

A Tử lại liến thoắng nói:" Má má ơi! Gia gia đã dùng trường kiếm, lại còn phóng chỉ ra nữa, mà mới ngang sức được với một cây trượng của người ta. Giả sử đối phương sử dụng luôn cây trượng kia thì không biết gia gia làm sao mọc đủ ba tay để chống lại? Không chừng chỉ còn cách nằm xuống giơ chân đá lên, tuy khó coi cũng còn hơn để người ta đâm cho chết ngoẻo.

Nguyễn Tinh Trúc đã nghĩ đến chuyện đó, trong bụng đang lo, mà cô con gái đứng kế bên lại nói toàn những lời xúi quẩy khó nghe như chọc vào tai. Bà ta chưa kịp trả lời đã thấy hữu trượng của Đoàn Diên Khánh vung lên nghe véo một tiếng, điểm luôn vào ngón trỏ bên trái của Đoàn Chính Thuần.

Thủ pháp cùng nội lực của Đoàn Diên Khánh cũng chính là Nhất Dương Chỉ, có điều lấy trượng thay ngón tay còn lợi thế hơn. Đoàn Chính Thuần không tránh né, ngón tay đụng vào đầu trượng ê ẩm lên đến tận vai. Ông rụt tay về, đang vận nội kình chuẩn bị điểm ra tiếp, ngờ đâu cây trượng chuyển động, Đoàn Diên Khánh đã tiếp tục đâm tiếp. Đoàn Chính Thuần kinh hoàng nghĩ thầm: "Y vận nội lực nhanh đến thế, chẳng khác gì muốn sao được vậy. Công phu Nhất Dương Chỉ của lão tinh điệu phi thường, ta còn thua xa." Ông vội vàng đâm ngón tay ra nhưng đã chậm mất một chút, thân hình lảo đảo.

Đoàn Diên Khánh thấy đánh nhau đã lâu, e rằng đêm dài lắm mộng để lâu sinh chuyện, nếu như phe địch xông cả lên thì mình lại càng hao phí hơi sức. Lão bèn vung trượng như gió cuốn, chớp mắt đã điểm luôn chín lần. Đoàn Chính Thuần hết sức chống đỡ, đến trượng thứ chín thì chân khí không liên tục nữa, nghe "sột" một tiếng, đầu trượng đã đâm vào vai. Thân hình ông lắc lư, lại nghe "cắc" một tiếng, trường kiếm bên tay phải lại gãy đôi.

Trong cổ họng Đoàn Diên Khánh phát ra một tiếng quái gở, thiết trượng bên tay phải đâm luôn vào sọ đối phương. Y sử dụng toàn lực xuất chiêu này quyết lấy mạng Đoàn Chính Thuần, tiếng gió rít vù vù.

Tam công Đại Lý là Phạm Hoa, Ba Thiên Thạch, Hoa Hách Cấn thấy nguy hiểm cùng nhảy tới, chia ra hai bên tấn công Đoàn Diên Khánh. Họ muốn cứu Đoàn Chính Thuần thì không kịp nữa, chỉ còn cách vây Ngụy cứu Triệu, tấn công vào những nơi yếu hại của Đoàn Diên Khánh, ép y phải quay về tự cứu mình. Lão cũng đã tính trước chuyện đó rồi, tả trượng chống xuống đất đỡ thân mình, hữu trượng vận hết nội kình tạt ngang ra đánh giạt cả ba món binh khí, sau đó quay lại đâm vào đầu Đoàn Chính Thuần.

Nguyễn Tinh Trúc kêu lên thất thanh vội vàng nhào đến. Xem ra nếu tình lang chết ngay tại chỗ, thì nàng cũng chẳng muốn sống làm gì.

Thiết trượng của Đoàn Diên Khánh chỉ còn cách huyệt Bách Hội trên đầu Đoàn Chính Thuần chừng ba tấc, đột nhiên thân hình ông bay tạt qua một bên, phát trượng điểm vào chỗ không. Khi đó Phạm Hoa, Hoa Hách Cấn, Ba Thiên Thạch lại ép cho Đoàn Diên Khánh phải thu trượng trở về. Ba Thiên Thạch động thủ chớp nhoáng, lật tay một cái nắm ngay được cổ tay Nguyễn Tinh Trúc lôi về để bà ta khỏi uổng mạng dưới tay Đoàn Diên Khánh. Lúc đó mọi người đều quay sang nhìn Đoàn Chính Thuần.

Đoàn Diên Khánh không điểm trúng đối phương, lão thấy một đại hán thò tay nắm gáy Đoàn Chính Thuần, nhẹ nhàng kéo ông ta ra trong đường tơ kẽ tóc, lực đạo đã phi thường lại vô cùng xảo diệu. Công phu đó quả thật khó lường, Đoàn Diên Khánh tuy võ nghệ tuyệt luân, mà cũng tự nghĩ mình không làm được như thế. May mà toàn bộ da thịt trên mặt lão đã bị cứng đờ, tuy hết sức kinh ngạc nhưng vẫn không biến sắc, chỉ khịt mũi một tiếng.

Người ra tay cứu Đoàn Chính Thuần chính là Tiêu Phong. Trong khi hai người họ Đoàn kịch đấu, chàng đứng bên ngoài chăm chăm quan sát. Đến khi Đoàn Chính Thuần sắp bị đối phương giết chết, chàng thấy cây trượng của Đoàn Diên Khánh mà điểm xuống thì mối huyết hải thâm cừu của mình không sao tự tay báo phục nữa. Mấy ngày qua, Tiêu Phong đã thề nguyền không biết bao nhiêu lần, dù sao cũng phải trả bằng được mối thù này. Bây giờ cừu nhân ở ngay trước mắt, lẽ nào lại để y chết về tay kẻ khác? Chàng bèn tung mình nhảy tới, túm lấy Đoàn Chính Thuần lôi vèo ra ngoài.

Đoàn Diên Khánh tâm cơ linh mẫn, không để Tiêu Phong bỏ Đoàn Chính Thuần xuống. Y vung hữu trượng như gió táp mưa sa, điểm liên tiếp vào những yếu huyệt trên người Đoàn Chính Thuần. Lão nhất quyết trừ khử vật chướng ngại trên đường lên ngôi hoàng đế, còn đối phó Tiêu Phong cách nào thì sẽ tính sau.

Tiêu Phong vẫn xách Đoàn Chính Thuần né tả tránh hữu, luôn theo những khe hở giữa hai chiêu trượng mà tránh được hết. Đoàn Diên Khánh xuất luôn hai mươi bảy chiêu mà vẫn không đụng tới chéo áo Đoàn Chính Thuần. Lão ngấm ngầm kinh hãi, biết mình không phải là địch thủ của Tiêu Phong liền hú lên một tiếng quái dị, tung người ra ngoài mấy trượng rồi hỏi: "Các hạ là ai? Sao lại xen vào việc này?".

Tiêu Phong chưa kịp trả lời, Vân Trung Hạc đã lên tiếng: "Lão đại! Y chính là Kiều Phong, tiền nhiệm bang chủ Cái Bang. Đồ đệ của đại ca là Truy hồn trượng Đàm Thanh chết vì tên ác ôn này." Vân Trung Hạc vừa dứt lời, không chỉ Đoàn Diên Khánh chấn động mà cả đám họ Đoàn Đại Lý cũng rùng mình. Tên tuổi Kiều Phong lừng lẫy khắp thiên hạ, Bắc Kiều Phong Nam Mộ Dung, trong võ lâm chẳng ai không biết. Có điều khi chàng báo danh với Đoàn Chính Thuần và Phó Tư Qui đều tự xưng là "Tiêu Phong người Khất Đan", nên không ai biết chàng chính là Kiều Phong vang danh bốn bể. Đến bây giờ nghe Vân Trung Hạc nói thế, ai nấy đều nghĩ thầm: "Thì ra là y! Võ công tuyệt thế, giàu lòng nghĩa hiệp, quả nhiên danh bất hư truyền".

Đoàn Diên Khánh đã nghe Vân Trung Hạc kể lại rõ ràng việc tên đệ tử đắc ý của mình là Đàm Thanh ở Tụ Hiền Trang hại người không được, lại bị Kiều Phong giết chết. Bây giờ lão nghe nói người đứng trước mặt kia là kẻ giết đệ tử mình, trong lòng vừa căm tức vừa sợ hãi, liền đưa thiết trượng ra viết lên trên nền đá xanh: "Các hạ có thù gì với ta mà đã giết đệ tử, lại đến đây làm hỏng đại sự?"

Tiếng rào rào vang lên không dứt tưởng chừng như viết lên đống cát, chữ nào cũng hằn sâu vào đá. Môn phúc ngữ của y mà đem kết hợp với nội công thượng thừa có thể làm người ta hồn phách mê man, thần trị rối loạn, là một thứ tà môn cực kỳ lợi hại. Có điều môn tà thuật này đem tâm lực khắc chế đối phương, nếu địch nhân nội lực thắng mình, thì lại bị khắc chế ngược lại. Lão đã rõ về cái chết của Đàm Thanh, lại xem thân thủ Tiêu Phong cứu Đoàn Chính Thuần, nên không dám mạo hiểm dùng thuật phúc ngữ để tự hại mình.

Tiêu Phong đợi lão viết xong, không nói một lời, tiến lên lấy gót chân di di mấy cái, xóa sạch những chữ trên nền đá. Người viết dùng thiết trượng viết trên nền đá xanh đã là khó lắm rồi, nhưng còn có thể dồn nội lực vào đầu trượng. Người xóa dùng gót chân di sạch tự tích thì đương nhiên khó khăn gấp bội. Hai người một viết một xóa, coi phiến đá xanh lót đường ven hồ chẳng khác gì bãi cát nơi bờ biển.

Đoàn Diên Khánh thấy đối phương lấy chân xóa hết chữ của mình, biết rằng ông ta một là phô trương bản lãnh, hai là tuyên bố không thù không oán, chuyện cũ bỏ qua, nếu không truy cứu thì hai bên ngừng tay. Đoàn Diên Khánh biết mình không phải đối thủ, lùi sớm đi là hơn để khỏi phải thất bại nhục nhã. Lão bèn đưa thiết trượng bên phải gạch một đường từ trên xuống dưới rồi lại móc lên một cái, một nét sổ toẹt như xóa hết mọi chuyện, sau đó điểm đầu trượng một cái, bay ngược về sau, xoay mình lặng lẽ đi mất.

Nam Hải Ngạc Thần giương cặp mắt ti hí nhìn Tiêu Phong một chặp ra chiều không phục, mắng: "Con mẹ nó, có cái quái gì đâu mà thằng chó đẻ.." Y nói chưa dứt câu, đột nhiên thân hình vọt lên trên không, rơi tõm xuống giữa hồ nước văng tung tóe, rồi chìm lỉm trong Tiểu Kính Hồ.

Thì ra Tiêu Phong giận nhất ai chửi chàng là "đồ chó đẻ", tay trái vẫn nhấc Đoàn Chính Thuần, xông đến dùng tay phải chụp lấy Nam Hải Ngạc Thần quẳng xuống dưới nước. Chàng hạ thủ nhanh như chớp, Nam Hải Ngạc Thần không sao kháng cự được.

May mà lão sống lâu nơi Nam Hải, lại tự xưng là cá sấu thần nên bơi lội rất giỏi, hai chân đạp vào đáy hồ một cái người đã vọt lên khỏi nước, kêu lên: "Ngươi làm cách nào.." Lão mới nói một phần ba câu, thân hình lại chìm xuống dưới đáy hồ. Lão lại nhảy lên khỏi mặt nước, gào lớn: ", ám toán lão gia.." Nói chưa hết câu lại chìm nghỉm. Đến lần thứ ba lão mới nói hết câu: ".. lão gia không tha đâu." Nam Hải Ngạc Thần tính nóng như lửa, tức quá không thể đợi đến lúc lên bờ rồi hãy mắng Tiêu Phong, nên vừa nhô lên hụp xuống vừa chửi mấy câu cho hả giận.

A Tử cười nói: "Mọi người xem kìa! Lão này trồi lên hụp xuống dưới nước, trông giống hệt một con rùa." Vừa lúc đó Nam Hải Ngạc Thần nhảy lên khỏi mặt nước nghe thấy cô ta nói thế, liền chửi: "Ngươi mới là một con rùa.." A Tử vung tay ném ra một mũi phi chùy nghe đánh véo một tiếng.

Khi ám khí bay tới nơi, Nam Hải Ngạc Thần lại chìm mất tăm rồi. Lão bơi tới bờ hồ rồi leo lên, người ướt như chuột lột nhưng không sợ hãi cũng không xấu hổ chút nào, vác mặt đi đến trước Tiêu Phong, ngoẹo cổ giương đôi mắt ti hí nhìn chàng hỏi: "Ngươi dùng thủ pháp gì vứt ta xuống hồ thế? Công phu đó lão gia chưa biết." Diệp Nhị Nương đứng cách bảy tám trượng kêu lên: "Lão tam đi thôi, đừng ở đây mà xấu hổ thêm." Nam Hải Ngạc Thần giận dữ đáp: "Ta bị ném xuống hồ, mà người ta dùng thủ pháp gì cũng chưa biết, mới thật là xấu hổ. Ta phải hỏi cho minh bạch mới được."

A Tử nghiêm nghị nói: "Được lắm! Để bản cô nương nói cho nghe. Tuyệt kỹ đó của ông ta tên là Trịch Qui Công (công phu bắt rùa ). " Nam Hải Ngạc Thần nói: "Ồ, hóa ra môn đó gọi là Trịch Qui Công! Ta biết được tên công phu đó rồi, sẽ đi kiếm người dạy rồi khổ luyện một phen, sau này sẽ không bị bẽ mặt nữa." Nói xong lão xoay người chạy đi, lúc đó Diệp Nhị Nương và Vân Trung Hạc đã chạy xa rồi.

Comments

0 comments

Trước Tiếp
 
34,431 ❤︎ Bài viết: 2241 Tìm chủ đề
Hồi 23: Chưa vui sum họp đã sầu chia ly..

Tiêu Phong buông nhẹ Đoàn Chính Thuần xuống đất rồi lùi lại.

Nguyễn Tinh Trúc xá thật sâu, nói: "Kiều bang chủ! Bang chủ trước đã cứu con gái tôi, bây giờ lại cứu.. cứu chàng, không biết lấy gì đền đáp được!" Bọn Phạm Hoa, Chu Đan Thần cũng lạy tạ cám ơn.

Tiêu Phong lạnh lùng đáp: "Tiêu Phong cứu người là vì có chuyện riêng, các vị bất tất phải cám ơn. Đoàn vương gia, ta hỏi một câu, mong tiên sinh trả lời thành thực. Năm xưa tiên sinh có một việc lầm lỗi rất đáng hổ thẹn, phải không? Tuy bản tâm tiên sinh không hẳn muốn thế, nhưng tiên sinh đã làm một đứa trẻ thơ cả đời khốn khổ, đến cha mẹ mình là ai cũng không biết, phải không?" Câu chuyện song thân chết thảm ngoài Nhạn Môn Quan, chàng càng nghĩ càng đau lòng nên không nói toạc ra trước mặt người ngoài.

Mặt Đoàn Chính Thuần lập tức đỏ bừng lên, rồi lại tái nhợt, khẽ trả lời: "Đúng thế! Mỗi khi Đoàn mỗ nghĩ đến việc này vẫn thấy trong lòng không yên. Thế nhưng tay trót đã nhúng chàm, không còn cách nào vãn hồi được nữa. Hôm nay ta được gặp lại đứa trẻ năm xưa không cha không mẹ, có điều, có điều.. ôi, ta thật là không phải."

Tiêu Phong gay gắt nói: "Nếu ngươi biết là đã trót lầm lỗi, sao đến tận bây giờ vẫn tiếp tục làm chuyện xấu?" Đoàn Chính Thuần lắc đầu, hạ giọng nói nhỏ: "Đoàn mỗ hành sự không đoan chính, đức hạnh khiếm khuyết, những việc sai quấy trong đời kể cũng đã nhiều. Nghĩ lại càng thêm hổ thẹn."

Từ khi Mã phu nhân ở Tín Dương tiết lộ Thủ lĩnh đại ca là Đoàn Chính Thuần, Tiêu Phong đã ngày đêm suy tính, nghĩ bụng gặp được tên này thế nào cũng lột da lóc thịt, để cho y phải điêu đứng trăm chiêu rồi mới lấy mạng. Thế nhưng đến khi gặp mặt, thấy ông ta đối bạn bè thì nhân nghĩa, đối kẻ địch thì hiên ngang, không có vẻ gì là kẻ đê tiện gian tà chuyên làm chuyện xấu. Chàng trong bụng không khỏi ngờ vực, nghĩ thầm: "Y giết cha mẹ ta ở ngoài Nhạn Môn Quan là do hiểu lầm, ai cũng có thể phạm phải những chuyện lầm lỡ hồ đồ như vậy. Thế nhưng y giết nghĩa phụ nghĩa mẫu ta là phu phụ Kiều Tam Hòe, lại ám hại ân sư Huyền Khổ đại sư là những việc ác không thể nào tha thứ được. Không lẽ bên trong còn có điều uẩn khúc hay chăng?". Xưa nay không bao giờ Tiêu Phong hành sự cẩu thả, chàng bèn hỏi thẳng đối phương, để xem Đoàn Chính Thuần trả lời ra sao rồi mới định liệu. Đến khi thấy họ Đoàn mặt mày ngượng nghịu, đầy vẻ hối tiếc, tự nhận mình đã làm việc sai lầm, trong lòng không yên. Y còn nói hôm nay gặp lại đứa trẻ mồ côi năm trước, còn "hành sự không đoan chính, đức hạnh khiếm khuyết" nếu không phải là việc giết phu phụ Kiều Tam Hòe và Huyền Khổ đại sư thì còn là gì nữa? Tiêu Phong thấy mọi chuyện đã minh bạch, khuôn mặt sầm xuống như phủ một làn sương mỏng, hừ một tiếng.

Nguyễn Tinh Trúc bỗng xen vào: "Chàng.. chàng xưa nay vẫn thế, ta.. ta cũng chẳng trách cứ gì đâu." Tiêu Phong quay sang nhìn bà ta, thấy miệng mỉm cười, mắt âu yếm nhìn Đoàn Chính Thuần, trong lòng bỗng nổi cơn lôi đình, cười mũi một tiếng nói: "Thì ra xưa nay y vẫn thế." Chàng quay lại nói với Đoàn Chính Thuần: "Canh ba đêm nay, ta đợi các hạ ở trên cầu đá xanh, có chuyện muốn nói."

Đoàn Chính Thuần nói: "Thể nào ta cũng đến. Đại ân của các hạ, không dám lấy lời mà cảm tạ. Có điều các hạ đường xa mệt nhọc, sao không vào tiểu xá uống mấy chén rượu tẩy trần?" Tiêu Phong hỏi lại: "Thương thế các hạ ra sao? Có cần phải điều dưỡng mấy ngày không?" Chàng bỏ ngoài tai chuyện đối phương mời vào uống rượu. Đoàn Chính Thuần cảm thấy hơi lạ lùng, nói: "Đa tạ Tiêu huynh đã quan tâm. Vết thương nhẹ đó chẳng có gì đáng ngại."

Tiêu Phong gật đầu nói: "Thế thì hay lắm! A Châu, chúng ta đi!" Được mấy bước, bỗng chàng quay đầu lại nói với Đoàn Chính Thuần: "Những vị hảo bằng hữu của các hạ không cần đưa đi theo". Chàng thấy bọn Phạm Hoa, Hoa Hách Cấn đều là những hảo hán một lòng trung nghĩa, nếu như cùng đi với Đoàn Chính Thuần đến cầu đá xanh, tất sẽ chết hết về tay mình, thật là đáng tiếc.

Đoàn Chính Thuần thấy người này hành sự, ăn nói có vẻ khác thường. Cái thói hoa nguyệt của ông, đến hoàng huynh biết được cũng chỉ mỉm cười. Thế mà y lại nghiêm nghị trách mắng trước mặt mọi người, thật là quá đáng. Thế nhưng ông nhớ cái ơn cứu mạng, bèn nói: "Xin theo lời dặn dò của tôn huynh."

Tiêu Phong nắm tay A Châu, không quay về theo con đường cũ. Hai người tìm đến một nhà nông, mua gạo nấu cơm, lại mua thêm hai con gà luộc ăn cho no, tiếc rằng không có rượu nên cũng kém phần hứng thú. Chàng thấy A Châu dường như có tâm sự, từ đầu chí cuối nét mặt đăm chiêu không hề vui vẻ chuyện trò, bèn hỏi: "Ta tìm được kẻ đại thù, nàng phải vui với ta chứ?" A Châu mỉm cười nói: "Đúng thế, thiếp vui lắm."

Tiêu Phong thấy nụ cười của nàng thật là gượng gạo, bèn nói: "Tối nay trả thù xong, chúng ta lập tức đi về phương bắc, ra ngoài Nhạn Môn Quan cưỡi ngựa săn thú, thả bộ chăn cừu, không bao giờ quay lại Trung Nguyên nữa. Ôi! A Châu, trước khi ta gặp Đoàn Chính Thuần đã từng lập thệ giết sạch nhà y không chừa con gà con chó. Thế nhưng gặp người này rồi thấy đầy nghĩa khí, ta lại nghĩ rằng ai làm nấy chịu, bất tất phải giết cả nhà y làm gì." A Châu đáp: "Đại ca có lòng nhân như vậy thật là phúc đức, tất được báo đáp về sau." Tiêu Phong cười rộ lên đáp: "Hai bàn tay ta đã giết vô số người rồi, còn phúc đức gì được nữa?"

Chàng thấy đôi lông mày xinh đẹp của A Châu nhíu lại ra chiều lo lắng, bèn hỏi: "A Châu! Sao nàng lại không vui? Nàng không muốn ta giết người nữa ư?" A Châu đáp: "Không phải thiếp không vui, nhưng chẳng hiểu tại sao bụng thiếp đau quá." Tiêu Phong đưa tay ra cầm mạch nàng, quả nhiên mạch nhảy loạn xạ lúc khoan lúc nhặt, bèn dịu giọng nói: "Nàng đi đường vất vả đã nhiều, e rằng bị nhiễm phong hàn. Để ta gọi bà lão nấu một bát nước gừng cho nàng uống.."

Nước gừng nấu chưa xong, A Châu đã run như cầy sấy, lập cập nói: "Thiếp lạnh quá! Lạnh quá!" Tiêu Phong hết sức lo lắng, vội cởi áo ngoài đắp lên người nàng. A Châu nói: "Đại ca! Tối nay chàng trả được mối thù, là hoàn thành tâm nguyện bấy lâu. Thiếp cũng mong đỡ bệnh một chút để đi cùng chàng." Tiêu Phong vội gạt đi: "Không cần! Không cần! Nàng cứ nghỉ ngơi, ngủ một giấc, lúc tỉnh dậy thì ta đã xách thủ cấp Đoàn Chính Thuần về rồi." A Châu thở dài nói: "Thiếp thật đau lòng xiết bao! Đại ca, thiếp chắc không bồi tiếp chàng được nữa đâu! Thiếp chỉ mong được ở bên chàng, mãi mãi ở bên chàng, không lúc nào muốn xa rời. Chàng.. chàng.. bây giờ phải cô đơn tịch mịch, thiếp chẳng đành lòng."

Tiêu Phong nghe giọng nàng thật thiết tha, trong lòng cảm động bèn đưa tay nắm lấy tay rồi nói: "Hai ta chỉ xa nhau một chốc, có gì phải bận tâm đâu? A Châu, nàng đối với ta thật tốt. Ân tình này ta biết báo đáp thế nào đây?" A Châu đáp: "Không phải xa nhau một chốc đâu. Thiếp biết là mình sẽ xa nhau thật lâu. Đại ca, phân ly rồi thì chàng suốt đời cô độc, thiếp cũng cô khổ lênh đênh. Tốt hơn hết là ngay bây giờ chàng đưa thiếp ra ngoài Nhạn Môn Quan, chúng ta săn bắn chăn nuôi. Để một năm nữa hãy báo oán Đoàn Chính Thuần, có được không? Để thiếp được ở bên chàng một năm nữa thôi."

Tiêu Phong vuốt ve mái tóc óng mượt của nàng, nói: "Gặp được kẻ thù đâu phải chuyện dễ dàng? Đêm nay báo thù xong, chúng ta đi ngay không bao giờ trở lại Trung Nguyên nữa. Đoàn Chính Thuần võ công kém ta xa, y lại không biết sử dụng Lục Mạch Thần Kiếm, đêm nay lấy mạng y như lấy đồ trong túi. Qua một năm nữa thì chúng ta phải tới tận Đại Lý. Ở đó hảo thủ họ Đoàn rất đông, lỡ mà gặp phải người tinh thông Lục Mạch Thần Kiếm, đại ca chưa chắc thắng nổi. Chẳng phải ta không muốn chiều ý nàng, nhưng việc này quả có chỗ nan giải." A Châu gật đầu khẽ nói: "Đúng thế! Thiếp không thể xin chàng một năm sau hãy đến Đại Lý tìm y báo thù. Một mình đại ca vào chốn hang hùm, tất sẽ nguy hiểm vô cùng."

Tiêu Phong cười ha hả, nâng bát cơm lên giả bộ uống một ngụm. Chàng vẫn quen uống rượu từng bát lớn, lúc này chỉ có bát không, nhưng cứ giả vờ cho có vẻ hào hứng rồi nói: "Tiêu mỗ có coi những chuyện sinh tử nguy nan vào đâu. Giả tỷ Tiêu Phong này chỉ có một mình, dù Đoàn gia Đại Lý là đầm rồng hang cọp thì cũng cứ vào. Thế nhưng bây giờ ta lại có cô bé A Châu, cần phải sống bầu bạn với cô, nên tính mạng thành ra quý lắm.".

A Châu gục vào lòng chàng, bờ vai rung nhẹ. Tiêu Phong nhẹ nhàng vuốt tóc nàng, cảm thấy trong lòng ấm áp, lẩm bẩm: "Được người vợ như thế này còn mong gì hơn nữa?". Chỉ trong khoảnh khắc, tâm hồn chàng như lạc ra ngoài biên ải, nghĩ đến một tháng sau mình sẽ cùng A Châu cưỡi ngựa ruổi rong trên thảo nguyên bát ngát, chăn cừu săn thú, không còn đề phòng kẻ gian hãm hại, trút hết lo âu, thật là tiêu dao khoái hoạt. Tiêu Phong lại nhớ hôm trước nơi Tụ Hiền Trang được người áo đen cứu mạng, mình chưa báo đáp được, không khỏi khắc khoải trong lòng. Song chàng tự nhủ: "Bậc đại anh hùng thi ân bất cầu báo, món ân tình ấy mình nợ lại cũng không sao."

Trời đã sụp tối, A Châu ngủ thiếp trong lòng chàng tự lúc nào. Tiêu Phong lấy ba đồng bạc đưa cho chủ nhà, bảo họ dọn cho một phòng riêng, rồi bồng A Châu đặt lên giường, đắp chăn buông màn. Sau đó chàng ra nhà ngoài ngồi nhắm mắt dưỡng thần, chẳng mấy chốc cũng ngủ nốt.

Tiêu Phong ngủ được hơn hai giờ thì tỉnh dậy, mở cửa ra sân thấy trăng non đã cao quá ngọn cây, mây đen phủ kín phía tây bắc, dường như sắp có mưa dông. Chàng khoác trường bào, đi về phía chiếc cầu đá xanh. Đi được chừng năm dặm thì đến bờ sông, tuy bóng trăng vẫn chiếu xuống khe nước, nhưng nửa bầu trời phía tây đã đầy mây đen. Thỉnh thoảng lại có một tia chớp lóe lên sáng tỏ cả bốn bề, rồi nháy mắt lại tối đen như mực. Nơi gò đống xa xa, có ánh lân tinh chập chờn lướt trên ngọn cỏ như thể ma trơi.

Tiêu Phong đi càng lúc càng nhanh, chẳng bao lâu đã đến chiếc cầu đá xanh, nhìn sao Bắc Đẩu thấy mới khoảng canh hai, bèn nghĩ bụng: "Ta sốt ruột báo thù thành thử đến sớm hơn một canh giờ." Bình sinh chàng ước hẹn đánh nhau không biết bao nhiêu lần, đã gặp nhiều đối phương võ công hơn hẳn Đoàn Chính Thuần, mà sao đêm nay tâm thần hồi hộp, thiếu hẳn tự tin. Trước nay chưa hề như thế bao giờ.

Chàng đứng trên đầu cầu, nhìn xuống dòng nước lững lờ trôi, nghĩ thầm: "Phải rồi! Trước kia ta chỉ có một mình, không ai ràng buộc nên chẳng sợ hãi gì. Hôm nay ta còn có A Châu nên có điều lo lắng, đúng là nhi nữ tình trường, anh hùng khí đoản". Nghĩ đến đây, chàng thấy ấm áp trong lòng, mỉm cười nghĩ tiếp: "Giả tỷ A Châu đang đứng cạnh mình thì còn thích thú hơn nhiều."

Tiêu Phong hiểu rõ Đoàn Chính Thuần võ công còn kém mình xa, hôm nay chẳng phải lo gì đến chuyện thắng bại. Chàng thấy giờ hẹn cũng còn lâu, bèn ngồi xuống gốc cây bên cạnh cầu đá ngưng thần điều hòa hơi thở, dần dần tâm ý sạch không, loại hết tạp niệm.

Bỗng dưng một tia chớp lóe lên, rồi tiếng sấm ầm ầm, một luồng sét đánh xuống. Tiêu Phong giật mình mở bừng mắt ra, tự hỏi: "Chỉ chốc nữa là mưa to, không biết đã đến canh ba chưa?" Ngay lúc đó, từ con đường nhỏ bên Tiểu Kính Hồ có một người chậm rãi đi tới, áo bào rộng thùng thình, thắt đai cẩn thận, chính là Đoàn Chính Thuần. Ông ta đến trước mặt Tiêu Phong, vái một cái thật sâu rồi nói: "Kiều bang chủ gọi tại hạ đến đây, không biết có điều chi chỉ giáo?".

Tiêu Phong khẽ nghiêng đầu liếc xéo ông ta, lửa giận bốc lên tận cổ. Chàng hỏi ngay: "Đoàn vương gia! Ta hẹn ngươi đến đây có chuyện gì, không lẽ ngươi chưa biết?"

Đoàn Chính Thuần thở dài nói: "Phải chăng vì câu chuyện ngoài Nhạn Môn Quan năm xưa, ta nghe lời kẻ gian xúi bẩy làm mất mạng lệnh đường, lệnh tôn phải tự tận. Thật là lỗi lầm to lớn." Tiêu Phong lạnh lùng nói: "Thế sao ngươi còn sát hại vợ chồng nghĩa phụ ta là Kiều Tam Hòe, ám toán ân sư ta là Huyền Khổ đại sư?" Đoàn Chính Thuần từ từ lắc đầu, buồn bã nói: "Ta chỉ mong bưng bít được chuyện này, ngờ đâu càng lúc càng lún sâu vào vòng tội lỗi, không sao thoát ra được nữa."

Tiêu Phong nói: "Hừ, ngươi quả là một hán tử thẳng thắn. Bây giờ ngươi tự xử lấy mình hay chờ ta động thủ?" Đoàn Chính Thuần đáp: "Nếu không được Kiều bang chủ cứu viện thì trưa nay Đoàn Chính Thuần này đã táng mạng bên Tiểu Kính Hồ rồi. Đoàn mỗ sống thêm được nửa ngày đã phải cảm tạ ân đức các hạ. Bây giờ Kiều bang chủ muốn lấy mạng tại hạ, xin cứ động thủ!".

Khi đó sấm sét nổi ầm ầm, những giọt mưa to bằng hạt đậu bắt đầu lộp bộp rơi xuống.

Tiêu Phong nghe đối phương nói đầy hào khí, không khỏi động lòng. Chàng vẫn thích kết giao cùng anh hùng hảo hán, từ lúc thấy Đoàn Chính Thuần thẳng thắn hiên ngang, không khỏi đem lòng cảm mến. Nếu chỉ là một việc nhục nhã tầm thường, có lẽ chàng chỉ cùng uống vài mươi chén rượu rồi cười khì bỏ qua. Thế nhưng phụ thù không đội trời chung, làm sao bỏ được? Tiêu Phong giơ chưởng lên nói: "Đại thù của song thân cùng sư trưởng không thể không báo. Ngươi sát hại song thân, nghĩa phụ nghĩa mẫu và ân sư ta, cả thảy năm mạng. Bây giờ ta đánh năm chưởng. Ngươi đỡ năm chưởng rồi, bất luận còn sống hay đã chết thì mối thù cũng coi như thanh toán xong xuôi."

Đoàn Chính Thuần gượng cười đáp: "Mỗi mạng người chỉ đổi lấy một chưởng, thế là Đoàn mỗ được xử nhẹ lắm rồi. Xin thâm cảm thịnh tình của các hạ."

Tiêu Phong thầm nghĩ: "Võ công họ Đoàn Đại Lý nổi tiếng thật, nhưng chưa chắc đã chịu nổi một chưởng của Tiêu mỗ." Chàng bèn nói: "Xem đây!" rồi tay trái cuộn một vòng, tay phải đánh ra nghe vù một tiếng.

Đột nhiên một tia chớp lóe lên, một tiếng sấm dữ dội trên lưng chừng trời nghe điếc cả tai. Lằn sét này tựa hồ trợ uy cho thế chưởng của Tiêu Phong, quả thực mãnh liệt đến trời long đất lở, trúng giữa ngực Đoàn Chính Thuần nghe "bình" một tiếng. Y đứng không vững, ngã khuỵu ngay xuống, nghe bịch một tiếng đã nằm nhũn ra trên lan can chiếc cầu đá xanh, không động đậy gì nữa.

Tiêu Phong ngạc nhiên tự hỏi: "Sao y không phóng chưởng ra chống đỡ? Không lẽ tệ đến thế?". Chàng tung mình nhảy tới, nắm ngay cổ áo y nhấc lên, bất giác kinh ngạc, tai ù đi, không còn biết mưa đang hắt vào mặt nữa. Trong đầu chàng chỉ còn một ý nghĩ: "Sao y lại nhẹ bổng thế này?".

Trưa hôm đó khi ra tay cứu Đoàn Chính Thuần, chàng đã xách y khá lâu. Con người võ công cao cường như Tiêu Phong thì trong tay chỉ sút đi nửa cân là phát hiện ngay lập tức. Thế nhưng lúc này thân thể Đoàn Chính Thuần nhẹ hẫng đi hàng mấy chục cân, trong lòng Tiêu Phong nổi lên một mối kinh hoàng không kể xiết, toàn thân toát mồ hôi lạnh đầm đìa.

Một tia chớp nữa lóe lên. Tiêu Phong đưa tay lên sờ vào mặt Đoàn Chính Thuần, thấy có gì nhão nhoẹt, chàng xoa một cái lập tức rã ra. Trong ánh chớp chàng thấy rõ ràng, thất thanh kêu lên: "A Châu! A Châu! Trời ơi! Thì ra là nàng!"

Chân tay Tiêu Phong bủn rủn không còn chút khí lực nào. Chàng khuyu xuống, ôm chặt lấy hai chân A Châu. Thế chưởng của chàng đã dụng toàn lực, dù cao thủ hạng nhất mà không chống đỡ cũng chịu không nổi, huống chi là cô bé A Châu ẻo lả thướt tha? Phát chưởng đó đánh nàng đứt hết gân cốt, ngũ tạng nát nhừ, dẫu có Tiết Thần Y ở ngay bên cũng khó lòng vãn hồi tính mạng.

Thân hình A Châu đang dựa vào thành cầu, từ từ tuột xuống, rơi vào lòng Tiêu Phong. Nàng thều thào nói: "Đại ca, thiếp.. thiếp thật có lỗi với chàng. Chàng có giận thiếp không?" Tiêu Phong gào lên: "Ta không giận nàng! Ta chỉ giận mình thôi, ta chỉ giận mình thôi.." Nói xong chàng giơ tay lên đập xuống đầu luôn mấy cái. Bàn tay A Châu nhúc nhích, tựa hồ muốn ngăn ông tự đánh mình, nhưng không giơ lên nổi nữa, nói: "Đại ca phải hứa với thiếp một chuyện, vĩnh viễn không được hủy mình."

Tiêu Phong gầm lên: "Tại sao? Tại sao nàng làm thế?" A Châu khẽ đáp: "Đại ca, chàng cởi áo thiếp ra, nhìn vào vai bên trái đi." Tiêu Phong cùng nàng rong ruổi muôn dặm quan san, tuy cùng đi một đường, cùng trọ một nơi, mà thủy chung vẫn giữ lễ giáo. Bây giờ ông nghe A Châu bảo mình cởi áo nàng ra, không khỏi tần ngần, A Châu nói: "Thiếp vốn đã thuộc về chàng rồi, tấm thân này là của chàng. Chàng nhìn.. nhìn vào vai thiếp thì sẽ rõ."

Tiêu Phong nước mắt rưng rưng, nghe nàng nói không có vẻ gì mê loạn, bỗng nổi lên một chút hi vọng. Chàng vội vàng dùng tay trái đỡ lưng A Châu, trút chân khí cuồn cuộn vào thân thể nàng, thử xem có khắc phục được lỗi lầm chăng; tay phải từ từ cởi áo cô gái ra, để lộ vai trái.

Trên trời lại có một tia chớp ngoằn ngoèo vụt ngang, Tiêu Phong nhìn thấy bờ vai trắng như tuyết của nàng có thích một chữ "Đoàn" đỏ như máu. Tiêu Phong vừa kinh ngạc vừa thương tâm, không dám nhìn lâu, vội vàng khép áo che vai A Châu lại, nhà nhẹ ôm nàng vào lòng hỏi: "Chữ Đoàn trên vai nàng là nghĩa gì vậy?" A Châu đáp: "Khi gia gia cùng má má gởi thiếp cho người khác nuôi, có thích trên vai chữ này để về sau dễ nhận." Tiêu Phong run rẩy nói: "Chữ Đoàn đó, chữ Đoàn đó.." A Châu đáp: "Ngày hôm nay, hai người phát hiện trên vai A Tử có một ký hiệu, nhận ra ngay đó là con gái của họ. Chàng.. chàng.. có thấy cái ký hiệu đó không?" Tiêu Phong đáp: "Không, ta không tiện xem." A Châu nói: "Trên vai.. trên vai A Tử muội muội cũng có một chữ Đoàn chẳng khác gì thiếp."

Tiêu Phong chợt tỉnh ngộ, run run hỏi: "Nàng.. nàng cũng là con họ ư? A Châu đáp:" Trước kia thiếp cũng không biết, sau khi nhìn thấy vai A Tử mới hay. Tử muội cũng đeo một sợi dây chuyền vàng giống hệt như sợi của thiếp, mỗi sợi có khắc mười hai chữ. Của Tử muội là: Hồ biên trúc, Doanh doanh lục. Báo bình an, Đa hỉ lạc. (Trúc bên hồ, Xanh biêng biếc, Nhiều bình an, Nhiều hạnh phúc) Còn trên dây chuyền của thiếp thì có mấy câu: Thiên thượng tinh, Lượng tinh tinh, Vĩnh xán lạn, Trường an ninh. (Sao trên trời, Chiếu lấp lánh, Mãi xán lạn, Mãi bình an) Thiếp.. thiếp.. trước nay có hiểu gì đâu, có ngờ đâu là tên của mẫu thân, chính là.. Nguyễn.. Tinh Trúc. Đôi dây chuyền này là của phụ thân tặng cho mẫu thân, sau khi sinh ra hai chị em mới chia cho mỗi đứa một cái đeo vào cổ.

Tiêu Phong nói: "Ta hiểu rồi. Bây giờ phải tìm cách cứu chữa cho nàng ngay mới được, câu chuyện này hãy gác lại đó rồi sẽ bàn sau cũng chưa muộn." A Châu vội nói: "Không được, không được! Thiếp phải nói rõ cho chàng nghe, để lát nữa e không kịp. Đại ca, chàng nghe cho hết đã." Tiêu Phong không nỡ trái ý nàng, đành nói: "Được rồi! Ta nghe đây, nhưng nàng đừng phí sức nhiều quá." A Châu gượng cười nói: "Đại ca thật là tốt, chuyện gì cũng nghĩ đến thiếp, cưng chiều thiếp biết bao." Tiêu Phong nói: "Từ nay trở đi, ta còn thương nàng gấp trăm lần, ngàn lần nữa."

A Châu mỉm cười: "Đại ca thương như vậy là đủ rồi. Giả tỷ thương nhiều hơn nữa, thì sau này thiếp sẽ nằm ườn ra bắt chàng phải nấu cơm giặt giũ mất. Đại ca! Lúc nãy thiếp.. thiếp nấp ở sau căn nhà tre, nghe lén song thân và A Tử muội muội nói chuyện. Hóa ra phụ thân đã có chính thất rồi, song thân thiếp không phải phu thê chính thức, năm trước sinh ra thiếp, năm sau sinh thêm Tử muội. Sau đó phụ thân muốn về Đại Lý, mẫu thân lại không cho đi, hai bên cãi nhau một trận. Mẫu thân còn đánh phụ thân, ông chỉ chịu đòn chứ không đánh trả. Về sau.. về sau.. không còn cách nào khác, hai vị phải chia tay. Gia pháp nhà ngoại công của thiếp rất nghiêm ngặt, nếu chuyện này mà lộ ra, thế nào mâu thân cũng mất mạng ngay. Bà không dám đưa chị em thiếp về nhà, đành chia ra đem cho người ta nuôi, nhưng vẫn hy vọng ngày sau có dịp trùng phùng, bèn thích một chữ Đoàn lên vai mỗi đứa. Người nuôi nấng thiếp chỉ biết mẫu thân họ Nguyễn, thực ra thiếp.. thiếp họ Đoàn.."

Tiêu Phong càng thêm thương xót, nói nhỏ: "Nàng thật là đáng thương!"

Trên trời sấm sét vẫn đùng đùng không ngớt. Đột nhiên sét đánh trúng vào một cây to bên cạnh bờ sông, cái cây kêu răng rắc rồi ngã xuống. Hai người tuyệt nhiên không để ý tới bên ngoài, đất trời đại biến đến đâu cũng không hề hay biết.

A Châu lại tiếp: "Người gia hại song thân chàng lại chính là phụ thân thiếp. Ôi chao, ông trời thật là cay nghiệt, bắt đôi ta gặp cảnh éo le đến dường này. Vậy mà.. vậy mà lại chính là thiếp lập kế buộc Mã phu nhân nói ra họ tên hung thủ. Giả tỷ thiếp không giả trang Bạch Thế Kính để đánh lừa thì nhất quyết bà ta không tiết lộ tên gia gia thiếp. Người ta thường nói rằng: Nhất ẩm nhất trác giai do tiền định, nhất nhất việc gì cũng do trời định sẵn. Trước nay thiếp chẳng tin đâu, thế nhưng.. thế nhưng.. đại ca thử nghĩ xem có phải thế không?"

Tiêu Phong ngẩng mặt nhìn trời. Mây đen vần vụ che hết ánh trăng, một tia chớp ngoằn ngoèo chiếu sáng bốn bề tựa hồ thiên môn vừa mở. Chàng cúi đầu xuống, hoang mang hỏi lại: "Nàng có chắc Đoàn Chính Thuần là phụ thân không? Không nhầm đấy chứ?" A Châu đáp: "Không thể nhầm được. Thiếp thấy gia gia cùng má má ôm Tử muội khóc nức nở, kể lại chuyện bỏ rơi hai chị em như thế nào. Song thân cùng bảo rằng, giá nào cũng phải tìm cho ra thiếp. Hai người có ngờ đâu đứa con lưu lạc đang nằm phục ngay bên cửa sổ. Đại ca ơi, lúc nãy thiếp giả vờ lâm bệnh là để cải trang thành chàng đến nói với gia gia bỏ cái hẹn ở cầu đá đêm nay, bao nhiêu chuyện đã qua đều xóa bỏ hết. Sau đó lại cải trang thành gia gia, đến gặp chàng.. để cho chàng.. để cho chàng.." Nàng nói đến đây hơi thở chỉ còn thoi thóp.

Tiêu Phong càng gia tăng nội kình vào lòng bàn tay để giữ A Châu không tuyệt khí, sa lệ nói: "Sao nàng không cho ta biết? Nếu ta biết y là gia gia nàng.." Chàng không nói tiếp được, cũng chưa hiểu nếu mình biết Đoàn Chính Thuần là cha người mình yêu thương nhất, thì phải làm sao.

A Châu nói: "Thiếp suy đi tính lại đã nhiều, đắn đo thật lâu. Đại ca, thiếp vẫn mong được sống bên chàng ít lâu nữa, nhưng biết làm sao? Thiếp nào dám khẩn cầu chàng đừng báo thù cho năm vị thân nhân? Giả tỷ thiếp hồ đồ nói ra mà chàng ưng thuận, thì.. thì suốt đời chàng làm sao yên lòng được?"

Thanh âm của nàng thì càng lúc càng nhỏ, mà trên trời tiếng sấm vẫn ì ầm không ngớt. Nhưng mỗi lời của A Châu lọt vào tai Tiêu Phong còn kinh tâm động phách hơn tiếng sấm nhiều. Chàng vò đầu bứt tai nói: "Sao nàng không bảo gia gia bỏ đi, đừng đến dây nữa? Mà giả tỷ phụ thân nàng là bậc anh hùng hảo hán, không chịu trốn đi thì nàng hãy giả làm ta, hẹn lại một nơi thật xa, một ngày thật xa gặp lại. Nàng.. nàng việc gì phải khổ đến thế này?"

A Châu đáp: "Thiếp muốn chàng hiểu, một người có thể lỡ tay đánh chết một người khác, hoàn toàn chẳng do bản tâm. Có khi nào chàng tưởng đến chuyện hại thiếp đâu, nhưng chính tay chàng đánh thiếp một chưởng. Phụ thân thiếp làm chết song thân chàng, cũng chỉ vì vô ý mà nên tội tày trời."

Tiêu Phong đăm đăm nhìn nàng. Mấy lần ánh chớp lóe lên, chàng thấy đôi mắt nàng ôn nhu vô hạn. Tiêu Phong trong lòng rung động, biết A Châu lưu luyến mình biết chừng nào, vượt xa những gì chàng đã tưởng. Chàng cũng hiểu rõ một điều: "Đoàn Chính Thuần tuy là thân sinh, nhưng nào có ơn dưỡng dục, nàng chịu hi sinh tính mạng, có phần là để mình hiểu được: Lầm lỗi có thể chỉ vì vô tâm, đừng để trong lòng." Tiêu Phong run run nói: "A Châu! Nào phải nàng chỉ muốn cứu phụ thân, cũng nào phải chỉ nhắc nhở ta rằng có những lỗi lầm chỉ vì vô ý. Nàng hy sinh chỉ vì ta đấy thôi, vì ta đấy thôi!" Chàng bế nàng lên, đứng dậy.

A Châu nhoẻn cười, thấy Tiêu Phong hiểu được thâm ý mình liền trong lòng hoan hỉ. Nàng biết đã đến lúc lâm chung, không hy vọng tình lang hiểu kịp nỗi lòng thầm kín bấy lâu, nhưng rồi chàng đã hiểu.

Tiêu Phong nói: "Nàng hoàn toàn chỉ vì ta. A Châu! Có phải thế không?" A Châu nhỏ nhẹ đáp: "Đúng thế." Tiêu Phong gào lên: "Vì sao? Vì sao?" A Châu đáp: "Họ Đoàn Đại Lý có tuyệt kỹ Lục Mạch Thần Kiếm, nếu chàng giết Trấn Nam Vương, họ đâu có để yên? Đại ca ơi, mình có đọc được bộ Dịch Cân Kinh đâu.." Tiêu Phong giật mình tỉnh ngộ, dòng lệ nóng bỏng trào ra, ròng ròng nhỏ xuống.

A Châu nói: "Thiếp cầu xin chàng một việc, chàng có bằng lòng không?" Tiêu Phong đáp: "Đừng nói một việc, dù đến trăm việc, ngàn việc ta cũng bằng lòng." A Châu nói: "Thiếp chỉ có một cô muội tử, hai đứa từ nhỏ đã không được ở gần nhau. Xin chàng chiếu cố đến nó, thiếp chỉ lo nó lầm đường lạc lối." Tiêu Phong gượng cười nói: "Đợi khi nàng khỏe hắn, chúng ta sẽ đi tìm Tử muội để hai chị em đoàn tụ bên nhau." A Châu mơ màng nói: "Đợi thiếp khỏe.. ôi, đại ca ơi, chúng ta sẽ cùng ra ngoài ải Nhạn Môn Quan cưỡi ngựa đi săn, thả bò chăn cừu. Chàng nghĩ xem Tử muội có chịu đi theo không?" Tiêu Phong đáp: "Dĩ nhiên là Tử muội đi chứ, tỉ tỉ và tỉ phu bảo đi không lẽ không đi?"

Đột nhiên có tiếng cười khúc khích, từ dưới gầm cầu đá xanh một người chui ra, kêu lên: "Xấu hổ thật! Cái gì mà tỉ tỉ với lại tỉ phu? Ta không đi đâu!" Người đó thân hình mảnh mai, khoác áo tơi, chính là A Tử.

Tiêu Phong từ lúc lỡ tay đánh A Châu một chưởng, bao nhiêu tâm ý để cả vào nàng. Với bản lĩnh của chàng, làm gì không biết có người đang nấp dưới gầm cầu? Nhưng một là vì mưa to gió lớn sấm chớp dùng đùng, hai là vì tâm thần đại loạn, đến khi A Tử chui ra chàng mới phát giác. Tiêu Phong kinh ngạc kêu lên: "A Tử! Muội tử mau mau lại đây gặp tỉ tỉ." A Tử bĩu môi đáp: "Ta nấp dưới vòm cầu, cốt để xem ngươi giao đấu với gia gia, ai ngờ ngươi lại đánh trúng tỉ tỉ. Hai người to nhỏ thầm thì ta đâu có muốn nghe, muốn tâm sự thì cứ tự nhiên, sao lại dính líu ta vào?" Cô vừa nói vừa đủng đỉnh tiến lại.

A Châu nói: "Hảo muội muội! Từ nay trở đi, Tiêu đại ca sẽ chiếu cố đến muội, muội.. muội cũng nên chiếu cố cho anh ấy." A Tử cười khanh khách nói: "Thằng cha man rợ thô lỗ kia, ta chẳng thèm đâu."

A Châu đang nằm trong lòng Tiêu Phong bỗng giẫy nhẹ mấy cái, đầu ngoẹo xuống, mái tóc xõa ta phủ lên vai ông, rồi không còn động đậy gì nữa. Tiêu Phong thất kinh gọi lớn: "A Châu A Châu!" Chàng đưa tay xem mạch thì mạch đã dừng rồi, tưởng chừng trái tim chàng cũng dừng theo, lại để tay lên mũi thì hơi thở cũng không còn. Chàng gào lên: "A Châu! A Châu!" Dù có gọi đến nghìn vạn lần, A Châu cũng không đáp lời được nữa. Tiêu Phong vội vàng đem chân lực trút vào người nàng nhưng A Châu vẫn không hề cử động.

A Tử thấy A Châu tắt thở, cũng kinh hãi không đùa cợt nữa, hoảng hốt rú lên: "Ngươi đánh chết tỉ tỉ ta! Ngươi đánh chết tỉ tỉ ta!" Tiêu Phong đáp: "Phải rồi! Chính ta đánh chết lệnh tỉ, cô báo thù đi. Cô giết ta đi, mau lên! Mau lên!" Chàng đặt A Châu xuống, phưỡn ngực ra gào lên: "Cô mau giết ta đi!" Thực tình chàng chỉ mong A Tử rút dao ra đâm vào ngực mình, như vậy mới chấm dứt được nỗi đau vô cùng tận.

A Tử thấy Tiêu Phong nghiến răng nghiến lợi trông thật dễ sợ, kinh hãi lùi lại mấy bước kêu lên: "Ngươi.. ngươi đừng giết ta."

Tiêu Phong cũng tiến lên theo, đưa tay lên xé áo đánh roặc một tiếng, phanh ngực ra mà nói: "Cô có độc châm, độc thích, độc chùy.. phóng chết ta đi." Dưới ánh chớp, A Tử trông rõ trên ngực ông có đầu một con chó sói xanh lè, nhe nanh hung ác, lại càng khiếp vía, rú lên một tiếng rồi quay người chạy thục mạng.

Tiêu Phong đứng sững trên cầu, thương tâm cực điểm mà hối hận cũng cực điểm, đập tay vào lan can cầu đánh chát một tiếng, đá vỡ bay tung tóe. Chàng đánh hết chưởng này đến chưởng khác, muốn khóc mà không khóc được, bỗng nghe lách cách rồi một phiến đá lan can rơi tòm xuống sông. Một ánh chớp lại lóe lên soi rõ mặt A Châu, nỗi thâm tình tha thiết của nàng như vẫn còn vương trên khóe mát.

Tiêu Phong lại gào một tiếng: "A Châu!" Chàng ôm xác người yêu lên, chạy như bay vào giữa đồng không mông quạnh. Sấm chớp vẫn dùng đùng, mưa như trút nước. Chàng hết chạy lên triền núi, lại chạy xuống khe sâu, đầu óc hỗn loạn trống rỗng không còn biết gì nữa.

Sấm chớp thưa dần nhưng mưa chưa ngớt. Phương đông đã ửng đỏ, bầu trời cũng sáng dần. Tiêu Phong đã chạy điên khùng một lúc lâu mà không hề mỏi mệt, chỉ muốn tự hành hạ cho chết đi, để mãi mãi ở bên cạnh A Châu. Chàng gào rú từng hổi, chạy tràn chạy ẩu, không hiểu sao lại quay trở về chiếc cầu đá xanh.

Tiêu Phong vẫn lảm nhảm: "Ta đi tìm Đoàn Chính Thuần, bảo y giết ta đi mà báo thù cho con gái." Chàng bèn rảo bước chạy về Tiểu Kính Hồ.

Chẳng bao lâu Tiêu Phong đã đến bờ hồ, cất tiếng gọi to: "Đoàn Chính Thuần! Ta đã giết con ngươi, ngươi ra giết ta đi! Ta không đánh trả đâu, mau ra đây giết ta đi!" Chàng ôm ngang lưng A Châu, đứng trước khu rừng trúc, đợi đã lâu mà trong rừng vẫn lặng như tờ, không thấy một ai.

Tiêu Phong tiến vào, đi đến trước căn nhà tre, đạp tung cánh cửa bước vào gọi to: "Đoàn Chính Thuần! Ngươi ra đây giết ta đi!" nhưng trong nhà trống không chẳng thấy một ai. Chàng tìm khắp cả nhà ngang, nhà sau vẫn không thấy Đoàn Chính Thuần cùng thuộc hạ, đến cả chủ nhà là Nguyễn Tinh Trúc và A Tử cũng không thấy đâu. Đồ đạc trần thiết trong nhà vẫn y nguyên, dường như mọi người hốt hoảng ra đi không kịp mang theo gì cả.

Tiêu Phong nghĩ thầm: "Đúng rồi! Chắc là A Tử chạy về báo là ta muốn giết Đoàn Chính Thuần để báo thù. Y dù không chịu bỏ đi, nhưng Nguyễn Tinh Trúc và bọn thuộc hạ ép y phải xa chạy cao bay. Ha ha! Ta có đến giết ngươi đâu, mà đến để ngươi giết ta đấy chứ?". Chàng lại la lên: "Đoàn Chính Thuần! Đoàn Chính Thuần!" Thanh âm vang dội rất xa, nhưng đáp lại chỉ có tiếng gió thổi xào xạc. Bên Tiểu Kính Hồ, rừng trúc quạnh quẽ không một bóng người. Tiêu Phong tưởng chừng trời đất này chỉ còn một mình chàng. Từ lúc A Châu tắt thở đến giờ, chàng vẫn bế nàng trong lòng, cố truyền chân khí vào không biết bao nhiêu lần, chỉ mong giống như lần bị Huyền Từ phương trượng đánh trúng, bị thương nặng mà không chết. Thế nhưng lần trước Đại Kim Cương Chưởng của Huyền Từ đánh vào chiếc gương đồng trong tay Tiêu Phong, A Châu nằm trong tay kia chẳng qua chỉ bị chấn động, còn lần này phát chưởng của Tiêu Phong đánh thẳng vào giữa ngực thì nàng còn sống làm sao được? Chàng có cố gắng cách nào thì A Châu vẫn không động đậy.

Tiêu Phong ôm A Châu, ngơ ngẩn ngồi trước hiên nhà từ sáng tới trưa, rồi từ trưa tới tối. Sau cơn mưa to trời trong vắt, ánh tà dương tỏa chiếu lên thân thể hai người.

Khi chàng ở Tụ Hiền Trang bị quần hùng vây đánh, anh em trở mặt, tình thế nguy ngập nhưng không nao núng chút nào. Bây giờ chính tay mình lầm lỡ quá lớn không sửa chữa được, chàng càng nghĩ càng thấy cô đơn, thật không còn muốn sống trên đời nữa, lại nghĩ: "A Châu thế mạng cho phụ thân rồi, ta không thể đi tìm y báo thù được nữa. Thế thì còn có việc gì mà làm? Đại nghiệp của Cái Bang, hùng tâm tráng chí năm nào, cũng chẳng cần phải nghĩ đến nữa. Ta là người Khất Đan, có hùng tâm đại nghiệp gì đâu?".

Chàng đi ra nhà sau, thấy một cái cuốc trồng hoa dựng ở góc tường bèn nghĩ thầm: "Thôi, ta vĩnh viễn ở lại đây bầu bạn với A Châu." Tay trái chàng vẫn ôm A Châu một phút không rời, tay phải cầm chiếc cuốc đi ra ngoài rừng trúc, đào một cái huyệt xong lại đào thêm cái nữa, hai đống đất vun lại thành một.

Chàng nghĩ bụng: "Song thân nàng quay lại không biết là cái gì, thể nào cũng đào lên xem thử. Ta phải dựng bia lên mộ." Chàng bèn bẻ một đoạn trúc, bóp vỡ đôi, quay lại nhà bếp lấy dao đẽo cho nhẵn nhụi rồi đem qua phòng phía tây. Tiêu Phong thấy trên bàn có sẵn văn phòng tứ bảo, bèn để A Châu nằm ngang trên đùi, cầm bút chấm mực viết lên một mảnh trúc: "Khất Đan mãng phu Tiêu Phong chi mộ".

Chàng lại cảm mành trúc kia lên, trầm ngâm tự hỏi: "Phải viết gì nhỉ? Tiêu môn Đoàn phu nhân chi mộ ư? Tuy nàng với ta có đính ước phu thê nhưng chưa thành hôn, đến chết vẫn còn là một cô nương băng thanh ngọc khiết, gọi nàng là phu nhân không khỏi có điều tiết mạn." Chàng không quyết định được, ngửng đầu lên suy nghĩ một hồi, ngẫu nhiên nhìn vào một bức bút thiếp trên tường, thuận mắt đọc xuống thì ra là một bài từ: Hàm tu ý túy bất thành ca, tiêm thủ yểm hương la. Ôi hoa ánh chúc, thâu truyền thâm ý, tửu tử nhập hoành ba. Khán chu thành bích tâm mê loạn, phiên mạch mạch, liễm song nga. Tương kiến thời hi cách biệt đa. Hựu xuân tận, nại sầu hà?

Tiêu Phong không đọc sách nhiều, trong bài từ này cũng có mấy chữ không biết, nhưng đại khái cũng hiểu được đây là một bài từ tả tình yêu trai gái uống rượu dưới ánh nến trong màn lụa, tương kiến thì ít mà cách biệt lại nhiều nên trong lòng buồn bã. Chàng bâng khuâng nhìn bức thiếp, cũng chẳng có lòng dạ nào suy nghĩ ý tứ văn chương, chỉ thuận miệng đọc cho đến hết. Bên dưới còn mấy dòng lạc khoản: "Thư thiếu niên du phó Trúc muội bổ bích. Tinh mâu trúc yêu tương bạn, bất tri thiên địa tuế nguyệt dã. Đại Lý Đoàn nhị túy hậu cuồng đồ ." (Viết tặng Trúc muội để che tường trống. Có người mắt sáng lưng thon làm bạn, quên hết trời đất tháng ngày. Đoàn nhị nước Đại Lý viết nhảm trong lúc say mèm)

Tiêu Phong lẩm bẩm: "Thằng cha này quả là khoái hoạt. Có người mắt sáng lưng thon làm bạn, quên hết trời đất tháng ngày. Đoàn nhị nước Đại Lý viết bừa sau cơn say. Đoàn nhị nước Đại Lý là ai nhỉ? Đúng rồi, đây là Đoàn Chính Thuần viết tặng tình nhân y là Nguyễn Tinh Trúc. Sao song thân A Châu lại ngang nhiên treo những chuyện phong nguyệt ở đây, không xấu hổ ư? À, thuộc hạ Đoàn Chính Thuần không được vào căn phòng này."

Tiêu Phong không để ý đến bức thiếp đó nữa, lại nghĩ: "Ta viết gì lên mộ bia của A Châu đây?". Chàng tự biết bụng mình quá ít văn chương, cố mãi cũng không nghĩ ra, sau cùng đành viết bốn chữ "A Châu chi mộ". Rồi chàng bỏ bút xuống, đứng lên, định bụng đem thanh trúc cắm trước mộ, an táng A Châu xong xuôi rồi sẽ tự sát theo.

Tiêu Phong bế A Châu lên, mắt lại liếc bức thiếp trên tường một lần nữa. Đột nhiên chàng nhảy dựng lên rồi hốt hoảng la lớn: "Sai rồi! Chuyện này sai bét rồi!" Chàng bước lại gần, xem kỹ mấy dòng chữ trên bức thiếp, thấy nét bút tuấn nhã tiêu sái rõ ra chữ của con người sang trọng. Tựa hồ có ai đó quát thét vào tai ông: "Chữ viết trên phong thư Thủ lĩnh đại ca gửi Uông bang chủ không giống thế này, hoàn toàn khác hẳn."

Tiêu Phong là người ít hiểu văn tự, đúng ra không rành phân biệt bút tích. Nhưng bức thiếp này nét chữ rắn rỏi vuông vắn, cách quãng đều đặn, còn bức thư kia chữ viết xiên xẹo, nét bút gầy guộc, chỉ liếc qua cũng biết là chữ của con nhà võ trên chốn giang hồ. Hai bên quá khác biệt, trẻ con chưa biết chữ cũng phải nhìn ra. Chàng trợn tròn mắt, nhìn chằm chằm vào bức thiếp tựa hồ như muốn tìm sau những hàng chữ kia cái âm mưu khuất khúc bên trong.

Đầu óc chàng quay cuồng, trước mắt như thấy lại cảnh tượng trong rừng hạnh ngoài thành Vô Tích đêm hôm đó, thấy lại rõ ràng phong thư Thủ lĩnh đại ca gửi cho Uông bang chủ. Trí Quang đại sư đã nuốt mất đoạn cuối lá thư nơi có chỗ ký tên, khiến chàng không sao biết được người viết, nhưng nét chữ trên bức thư đã in rõ vào đầu óc chàng. Người viết lá thư đó, với vị Đại Lý Đoàn nhị trên bức thiếp này, không thể là một, điều này chắc chắn không nghi ngờ gì nữa.

Hay là Thủ lĩnh đại ca nhờ ai viết giùm phong thư đó? Chàng ngẫm nghĩ một chút, thấy không hợp lý. Đoàn Chính Thuần viết chữ đẹp đến thế này, thể nào cũng tự mình viết thư. Huống chi một bức thư quan trọng như vậy lẽ nào lại nhờ người viết thay? Còn bài từ phong lưu lãng mạn viết tặng tình nhân, chắc chắn y cũng phải tự mình chấp bút.

Chàng càng nghĩ càng thấy khó hiểu, không ngớt tự hỏi: "Hay là Thủ lĩnh đại ca không phải Đoàn Chính Thuần? Hay là bức thiếp này không phải Đoàn Chính Thuần viết? Không có lý nào thế được! Nếu chẳng phải Đoàn Chính Thuần thì còn ai là Đại Lý Đoàn nhị viết một bài từ lãng mạn treo ở đó? Hay là Mã phu nhân nói sai? Cũng không thể được, bà ta có quen biết gì Đoàn Chính Thuần đâu, người nơi phương bắc, kẻ góc trời nam, một bên là vợ của dân thảo biền thô lỗ, một bên là vương công quí tộc, thù oán gì mà phải dựng chuyện gạt mình?

Từ lúc chàng biết Thủ lĩnh đại ca là Đoàn Chính Thuần liền hết sạch mọi nỗi nghi ngờ, đầu óc thấy thoải mái, chuyên tâm vào việc báo thù. Bây giờ nhìn thấy bức thiếp này, vô số nghi vấn lại hiện lên:" Giả tỷ phong thư kia không phải Đoàn Chính Thuần viết thì Thủ lĩnh đại ca dĩ nhiên không phải là y. Nếu vậy thì là ai? Vì cớ gì Mã phu nhân lại bịa đặt gạt mình, bên trong còn có âm mưu ngụy kế gì đây? Ta ngộ sát A Châu, nàng cam tâm chịu chết vì ta, cũng đều do sai lầm mà ra ư? Vậy là oan khuất không những chưa kết thúc mà lại chồng cao thêm nữa. Sao ta lại không nhìn thấy bức thiếp này từ trước? Chỉ vì bức thiếp này treo trong phòng riêng, làm sao ta thấy được? "Giả tỷ Tiêu Phong không đi tìm bút mà tình cờ ngó thấy bức thiếp này, an táng A Châu xong rồi tự sát, thì câu chuyện này kết thúc tại đây. Nhưng ông trời không để hai người phải chết hồ đồ như vậy.

Ánh dương quang nhạt dần, những tia nắng cuối cùng từ từ khuất sau dãy núi. Bỗng Tiêu Phong nghe thấy tiếng chân hai người đi từ bờ Tiểu Kính Hồ đến khu rừng trúc. Hai người này còn ở ngoài xa, nhưng chàng ngưng thần nghe ngóng, nhận ra đó là hai người đàn bà, liền nghĩ thầm:" Chắc hẳn mẹ con A Tử trở về. Ta phải hỏi Đoàn phu nhân cho rõ xem bức thiếp này có phải Đoàn Chính Thuần viết không. Nhưng thể nào bà ta cũng hận ta làm chết A Châu, muốn giết ta. Ta quyết.. quyết.. ". Chàng đang định không chống trả nhưng nghĩ lại:" Nếu thật sự A Châu chết oan, kẻ giết song thân ta là người khác thì Tên Đại Ác này lại nợ ta thêm một món huyết cừu nữa. Chẳng phải y giết chết A Châu thì còn ai? Lẽ nào ta đành chịu chết, không giữ mạng sống để báo thù? ".

Hai người đàn bà kia đi vào khu rừng trúc, càng lúc càng gần. Tiêu Phong đã nghe thấy tiếng hai người nói chuyện với nhau. Một người nói:" Phải cẩn thận! Con tiện nhân này võ công tầm thường nhưng rất nhiều ngụy kế. "Tiếng một cô gái đáp lại:" Mụ ta chỉ có một mình, mẹ con mình thể nào cũng thanh toán được. "Người lớn tuổi hơn nói:" Thôi im đi! Đừng nói gì nữa. Gặp mụ là hạ sát thủ ngay, không chần chờ gì cả. "Cô gái đáp:" Lỡ gia gia biết được.. "Người đàn bà lớn tuổi gạt đi:" Hừ! Ngươi lại còn nể mặt gia gia sao? "Thế rồi hai người không nói gì nữa, rón rén đi vào. Một người đi về hướng cửa chính, còn một người thì vòng ra sau nhà, rõ ràng là tiền hậu giáp công.

Tiêu Phong rất lấy làm kỳ, nghĩ thầm:" Giọng nói hai người này không phải Nguyễn Tinh Trúc và A Tử, nhưng cũng là hai mẹ con đến đây giết một nữ nhân, ồ, chắc là định giết Nguyễn Tinh Trúc. Gia gia cô gái lại không tán thành việc này. "Chàng nghĩ như vậy nhưng chẳng để tâm tới, lại ngồi ngơ ngẩn xuất thần.

Lát sau bỗng nghe tiếng kẹt cửa, ai đó đã đẩy cửa tiến vào. Tiêu Phong vẫn không ngẩng lên, chỉ thấy một đôi bàn chân đi hài đen nhỏ nhắn đến trước mặt, cách độ bốn thước thì dừng lại. Kế đó cửa sổ bên hông mở ra, một người nhảy vào đứng bên cạnh chàng, chỉ nghe tiếng cũng biết là võ công tầm thường..

Tiêu Phong vẫn ôm A Châu không nhúc nhích, trong đầu cứ quanh quẩn mấy câu hỏi:" Thủ lĩnh đại ca có phải là Đoàn Chính Thuần không? Trong ngôn ngữ của Trí Quang đại sư có ẩn ý gì? Từ trưởng lão có ngụy kế gì? Lời của Mã phu nhân là hư hay thực? ". Quả là mờ mịt, chàng hết đoán thế này lại nghĩ thế khác, tâm thần loạn chuyển, ruột rối như mớ bòng bong.

Cô gái bỗng cất tiếng hỏi:" Ngươi là ai? Con tiện tì họ Nguyễn đâu rồi? "Thanh âm cô lạnh lẽo, giọng điệu khinh mạn cùng cực. Tiêu Phong chẳng thèm để ý, vẫn chìm sâu vào nghi vấn. Người lớn tuổi hơn hỏi:" Tôn giá liên hệ với con tiện tì họ Nguyễn kia thế nào? Cô gái này là ai? Nói ngay cho ta nghe! "Tiêu Phong vẫn không ngẩng lên. Cô gái liền xẵng giọng:" Ngươi câm hay là người điếc? Sao mãi không trả lời? "Giọng nói cô ta đầy vẻ giận dữ. Tiêu Phong vẫn mặc kệ, ngồi trơ trơ như tượng đá.

Cô gái bèn dậm chân, trường kiếm trong tay rung một cái, mũi kiếm rít lên vo vo chỉ cách huyệt Thái Dương của Tiêu Phong vài tấc, quát lên:" Ngươi còn giả vờ ngớ ngẩn thì ta cho nếm mùi lưỡi kiếm này. "

Tiêu Phong không lý gì đến nguy hiểm bên ngoài, đầu óc vẫn loay hoay giữa bao nhiêu nghi vấn. Cô gái phóng kiếm ra, sượt qua cổ chàng độ một tấc. Tiêu Phong nghe rõ đường kiếm đi trệch, vẫn thản nhiên không thèm né tránh. Hai người đàn bà thấy vậy không khỏi kinh hãi. Cô gái gọi mẹ:" Má má! Chắc gã này điên khùng. Cô gái y ôm trên tay dường như chết rồi. "Người đàn bà đáp:" Chắc y giả vờ đó. Trong nhà, con tiện nhân này làm gì có người tốt? Chém y một đao rồi khảo đả sau. "Bà chưa dứt lời, lưỡi đao trong tay trái đã nhằm bả vai Tiêu Phong chém xuống.

Đợi cho lưỡi đao còn cách nửa thước, chàng tay phải vươn ra dùng hai ngón tay kẹp lấy sống đao, thanh đao khựng lại ngay không chém xuống được nữa. Chàng vận chỉ lực đẩy về phía trước, đốc đao đập trúng yếu huyệt trên vai người đàn bà, lập tức bà ta không nhúc nhích được. Tiêu Phong tiện đà rung tay một cái, tiếng lách cách vang lên, thanh đao đã gãy đôi, Tiêu Phong quẳng luôn xuống đất, trước sau vẫn không ngẩng lên nhìn đối thủ.

Cô gái thấy mẹ bị chế ngự, cả kinh nhảy lùi lại, bắn veo véo luôn bảy mũi đoản tiễn vào Tiêu Phong. Tiêu Phong nhặt thanh đao gãy gạt được hết, lại vung tay ném ra, cán đao đập vào hông cô ta nghe bịch một tiếng. Cô gái kia rú lên, huyệt đạo cũng bị ném trúng, đứng sững như trời trồng.

Người đàn bà kinh hoảng hỏi:" Con có bị thương không? "Cô gái đáp:" Hông con đau lắm nhưng chưa đến nỗi bị thương. Má má ơi, con bị ném trúng huyệt Kinh Môn. "Người đàn bà đáp:" Ta bị điểm huyệt Trung Phủ. Người.. người này võ công lợi hại quá. "Cô gái nói:" Má má! Gã này là ai thế? Y không đứng lên mà vẫn chế ngự được mẹ con mình, xem chừng có tà thuật. "

Người đàn bà không dám hung hăng nữa, đổi sang giọng dịu dàng nói với Tiêu Phong:" Mẹ con chúng tôi với tôn giả không thù không oán, vừa rồi mạo phạm ra tay càn rỡ, thật là có lỗi. Mong tôn giá rộng lượng nới tay cho. "Cô gái lập tức xen vào:" Không! Không! Ta thua thì thôi, hà tất phải năn nỉ hắn? Ngươi có giỏi thì chém chết bản cô nương đi, ta chẳng sợ đâu. "

Tiêu Phong chỉ lờ mờ nghe hai mẹ con nối, đại khái là người mẹ xin tha, còn cô con gái ngang tàng, nhưng họ nói những gì thì chàng không để vào tai. Lúc này trong nhà đã tối, một hồi nữa thì bóng đêm hoàn toàn bao phủ. Tiêu Phong trước sau vẫn bồng A Châu ngồi tại đó, không xê dịch chút nào. Bình thời chàng là người sáng suốt mẫn tiệp, gặp việc khó giải quyết đến đâu cũng quyết đoán rất mau lẹ, gặp việc không thể tra xét rõ ngay thì tạm gác một bên, không hề chần chừ do dự. Thế mà hôm nay lầm lỡ đánh chết A Châu, trong lòng chàng bị ai cực điểm, ngơ ngẩn không còn hồn vía, chẳng khác gì người điên khùng mất trí.

Người đàn bà khẽ bảo con:" Con thử vận khí tới huyệt Hoàn Khiêu xem sao, cố mà đả thông kinh mạch, giải huyệt bị phong tỏa. "Cô gái đáp:" Con đã thử rồi, chẳng ăn thua gì.. "Người đàn bà đột nhiên nói:" Có người đến đó. "

Quả có tiếng chân loạt soạt, ai đó đã đẩy cửa vào, lại là một người đàn bà nữa. Người mới đến lấy hỏa đao, hóa thạch ra đánh lửa, châm ngọn đèn dầu xong, xoay người lại đột nhiên thấy Tiêu Phong, A Châu và hai người đàn bà kia, không khỏi kinh ngạc"... "

Lên một tiếng, chân tay bủn rủn, đồ đánh lửa rơi xuống nghe loảng xoảng. Thiếu phụ tới trước đột nhiên kêu lên:" Nguyễn Tinh Trúc, thì ra là ngươi! "

Người vào sau chính là Nguyễn Tinh Trúc. Bà ta quay đầu lại thấy một thiếu phụ trung niên, bên cạnh lại có một thiếu nữ mặc toàn đồ đen, cả hai đều khá đẹp, cô gái lại càng xinh xắn, bà chưa từng gặp bao giờ, Nguyễn Tinh Trúc nói:" Đúng đấy! Ta họ Nguyễn. Còn hai vị là ai? "Thiếu phụ bị điểm huyệt không chịu trả lời, mặt hầm hầm đầy vẻ tức tối.

Nguyễn Tinh Trúc quay lại nói với Tiêu Phong:" Kiều bang chủ! Các hạ đã đánh chết tiện nữ, lại còn tới đây làm chi? Tội nghiệp.. tội nghiệp con tôi.. "Bà vừa gọi vừa khóc rống lên, nhảy xổ lại ôm thi thể A Châu. Tiêu Phong vẫn ngồi thộn mặt ra mà nhìn, một lúc lâu mới nói:" Đoàn phu nhân! Ta gây nên tội nghiệt thâm trọng, xin phu nhân chém chết ta đi! "Nguyễn Tinh Trúc nói:" Ta có chém chết các hạ thì đứa con khốn khổ của ta cũng không sống lại được nữa. Kiều bang chủ! Các hạ trách ta và gia gia của A Châu đã làm một chuyện sai lầm rất đáng hổ thẹn, đến nỗi đứa trẻ phải một đời lênh đênh, không biết cả phụ mẫu thân sinh là ai. Các hạ trách thế là phải, có điều muốn tiết hận thì phải giết Đoàn vương gia, không thì giết ta, sao lại giết A Châu? "

Lúc này đầu óc Tiêu Phong thật là mê muội, phải một lúc sau chàng mới bàng hoàng hỏi lại:" Chuyện gì mà lại sai lầm rất đáng hổ thẹn? "Nguyễn Tinh Trúc vừa khóc vừa đáp:" Các hạ biết rồi sao còn hỏi tới hỏi lui? A Châu.. A Châu và A Tử đều là con tư sinh của ta, không dám mang về nhà, đành phải đem cho người khác nuôi. "

Tiêu Phong run rẩy nói:" Hôm qua ta hỏi Đoàn Chính Thuần phải chăng đã làm một chuyện sai lầm đáng hổ thẹn, chính y đã thừa nhận. Chuyện đó chỉ là việc đem A Châu.. và A Tử cho người khác nuôi hay sao? "Nguyễn Tinh Trúc nổi giận đáp:" Chuyện như thế còn chưa đủ đau thương ư? Ngươi nghĩ ta là thứ đàn bà tồi tệ, chuyên làm những chuyện xấu xa hơn nữa hay sao? "Tiêu Phong lại hỏi:" Hôm qua Đoàn Chính Thuần còn nói là Hôm nay ta được gặp lại đứa trẻ năm xưa không cha không mẹ. Đó là y nói về A Tử, không phải.. không phải nói về ta hay sao? "Nguyễn Tinh Trúc giận dữ đáp:" Chàng nói về ngươi làm gì? Ngươi đâu có phải là đứa trẻ chàng bỏ rơi cho người ta nuôi? Ngươi.. ngươi nói năng láo lếu gì thế? Ta đâu có đẻ ra cái loại súc sinh như ngươi? "Bà vừa thẹn vừa giận Tiêu Phong đến cực điểm, nhưng lại sợ võ công chàng ghê gớm nên không dám động thủ, chỉ động khẩu chửi cho sướng miệng.

Tiêu Phong nói:" Thế sao lúc ta hỏi y tại sao đến giờ phút này vẫn tiếp tục làm chuyện xấu, y lại thừa nhận hành sự không đoan chính, đức hạnh khiếm khuyết? "Nguyễn Tinh Trúc đang ràn rụa nước mắt bỗng dưng đỏ mặt, nói:" Trời sinh chàng có tính phong lưu, yêu hết người này đến người khác. Việc gì đến ngươi mà ngươi phải rỗi hơi xen vào? "

Tiêu Phong lẩm bẩm:" Sai rồi! Sai bét rồi! "Chàng lặng đi một lúc, đột nhiên giơ tay ra tát vào mặt mình luôn bốn cái thật mạnh kêu bôm bốp. Nguyễn Tinh Trúc hoảng hồn, nhảy vọt ra sau hai bước, thấy Tiêu Phong vẫn ra sức tự tát mình, chưởng nào chưởng nấy cực kỳ mãnh liệt, chỉ trong khoảnh khắc hai má đã sưng vù.

Bỗng nghe một tiếng" Ối chà "ngoài cửa, thêm một người bước vào kêu lên:" Má má đã tháo lấy bức thiếp.. "Đó chính là A Tử. Nàng nói chưa dứt câu, bỗng thấy trong nhà đầy người, rồi lại thấy Tiêu Phong tay trái ôm xác A Châu, tay phải liên tiếp tự tát vào mặt, không khỏi kinh ngạc sững sờ.

Mặt Tiêu Phong sưng húp lên rồi dập vỡ ra, lập tức máu tươi văng tung tóe. Mặt mũi tay chân chàng đầy máu đã đành, ngay cả vách tường, bàn ghế, thi thể A Châu cũng vương vãi những điểm hồng.

Nguyễn Tinh Trúc không nỡ nhìn cảnh tượng ghê rợn đó, hai tay liền bưng lấy mặt, nhưng tai vẫn nghe những tiếng bốp bốp rùng rợn, nhịn không nổi bèn kêu lên:" Các hạ đừng đánh nữa, đừng đánh nữa! "A Tử cũng hét lên:" Chao ôi! Ngươi làm hỏng thủ bút của gia gia rồi, ta bắt đền đó! "Cô ta nhảy tót lên bàn, tháo bức thiếp lốm đốm máu trên tường xuống. Thì ra hai mẹ con cô ta quay trở lại chỉ cốt để đem bức bứt thiếp này đi.

Tiêu Phong giật mình, ngừng tay không tát nữa, hỏi lại:" Đại Lý Đoàn nhị viết bức thiếp đó quả thực là Đoàn Chính Thuần hay sao? "Nguyễn Tinh Trúc nói:" Không phải chàng thì còn ai vào đây nữa? "Bà ta nhắc đến Đoàn Chính Thuần, nét mặt bất giác lộ vẻ thâm tình, lại thêm mấy phần kiêu ngạo.

Lời bà ta nói đã giải quyết mấy nghi vấn trong đầu Tiêu Phong: Bức thiếp này đúng là thủ bút của Đoàn Chính Thuần, phong thư gửi Uông bang chủ kia không phải của Đoàn Chính Thuần, Thủ lĩnh đại ca hiển nhiên không phải Đoàn Chính Thuần.

Trong lòng chàng liền nảy ra một ý niệm:" Mã phu nhân vu oan cho Đoàn Chính Thuần, bên trong hẳn có ẩn tình trọng đại. Nếu ta gỡ được chỗ thắt này thì mọi việc tự khắc lộ ra ngay. "Tiêu Phong nghĩ như vậy, lập tức bỏ ý định tự hủy thân mình. Vừa rồi, chàng tự tắt một hồi, tuy máu tươi chảy ra lênh láng, nhưng cũng nhờ đó mà phát tiết được đôi phần uất hận đau thương. Chàng bèn ôm xác A Châu đứng lên.

A Tử chợt thấy hai mảnh trúc ông viết để trên bàn, bật cười nói:" Ha ha! Thảo nào ngoài kia có hai cái huyệt, ta đang ngạc nhiên chưa hiểu. Thì ra ngươi định chết theo rồi chôn chung với chị ta, ái chà, quả thực cũng giống đa tình. "Tiêu Phong nói:" Ta trúng phải độc kế của gian nhân, đánh chết A Châu. Bây giờ ta phải đi báo thù cho nàng đã, sau đó mới yên tâm theo xuống suối vàng. "A Tử hỏi:" Kẻ gian đó là ai thế? "Tiêu Phong nói:" Hiện giờ ta cũng chưa biết, còn phải điều tra. "Chàng nói xong liền bước ra, tay vẫn ôm A Châu, A Tử cười nói:" Ngươi cứ ôm thi thể tỉ tỉ ta mà đi tìm kẻ gian ư? "

Tiêu Phong ngẩn người ra một lúc, chưa biết tính sao. Chàng nghĩ đến chuyện ôm xác A Châu đi xa diệu vợi hàng nghìn dặm, quả là bất tiện, nhưng bỏ nàng lại thì không nỡ. Chàng bần thần nhìn A Châu, nước mắt pha lẫn máu trên mặt nhỏ xuống thành những giọt hồng, rơi trên khuôn mặt trắng bệch của A Châu, đúng là huyết lệ đầm đìa.

Nguyễn Tinh Trúc thấy chàng thương tâm quá đỗi, bao nhiêu căm hờn đều tiêu tan hết, bèn khuyên giải:" Kiều bang chủ! Việc đã lỡ rồi, không vãn hồi được nữa. Các hạ hãy.. hãy.. "Vốn dĩ bà định khuyên Tiêu Phong bớt nỗi bi thương, nhưng chính mình lại nhịn không nổi khóc òa lên, nức nở nói:" Trăm điều cũng tại ta, ta thật chẳng ra gì.. đứa con ngoan ngoãn thế kia sao lại đem cho người khác? "

Thiếu nữ bị Tiêu Phong điểm huyệt bỗng xen vào:" Đương nhiên là người thật chẳng ra gì! Phu phụ người ta đang vui vầy, sao ngươi lại đâm vào tranh cướp để gây nỗi chia ly? "Nguyễn Tinh Trúc ngẩng đầu lên nhìn thiếu nữ rồi hỏi:" Sao cô nương lại nói thế? Cô là ai? "Thiếu nữ đáp:" Ngươi thật là giống hồ ly yêu quái, làm má má ta khốn khổ, làm cả ta. "

A Tử xông tới vung tay toan tát vào mặt cô gái. Cô kia không cử động được, chẳng thể nào tránh né. Nguyễn Tinh Trúc giơ tay lên gạt con ra rồi nói:" A Tử, không được lỗ mãng thế! "Bà quay sang nhìn thiếu phụ kia lần nữa, thấy thanh đao trong tay bà ta, dưới đất cũng có một thanh đao gãy, lập tức hiểu ra nói:" Phải rồi! Bà sử dụng song đao, bà.. bà.. là Tu la đao Tần Hồng Miên.. Tần tỉ tỉ. "

Thiếu phụ đó chính là Tu la đao Tần Hồng Miên, một tình nhân của Đoàn Chính Thuần. Thiếu nữ áo đen kia là Mộc Uyển Thanh, con gái bà ta. Tần Hồng Miên không oán trách Đoàn Chính Thuần ong bướm vật vờ, đi đến đâu vương tình đến đó. Bà lại thù hận những người đàn bà khác trăng hoa quyến rũ, chiếm đoạt mất tình lang. Khi được sư muội Cam Bảo Bảo cho hay tin tức, bà liền dẫn con gái Mộc Uyển Thanh đi hành thích vợ Đoàn Chính Thuần là Đao Bạch Phượng và một người tình nhân khác, kết quả chẳng được gì. Về sau bà lại biết Đoàn Chính Thuần còn một người yêu khác là Nguyễn Tinh Trúc, ẩn cư nơi Phương Trúc Lâm gần Tiểu Kính Hồ, lại dắt con gái đến tìm giết.

Tần Hồng Miên thấy Nguyễn Tinh Trúc đã nhận ra mình, bèn quát lên:" Phải đó! Ta đây là Tần Hồng Miên. Ai cho con tiện nhân kia gọi ta là tỉ tỉ? "

Nguyễn Tinh Trúc chưa hiểu Tần Hồng Miên đến đây để làm gì, lại sợ kẻ tình địch này gặp lại Đoàn Chính Thuần rồi nối lại duyên xưa, bèn cười nói:" Phải lắm, ta nói sai rồi. Ngươi còn ít tuổi hơn ta, nhan sắc nguyệt thẹn hoa nhường như thế, thảo nào Đoàn lang mê mẩn. Ngươi là muội muội của ta, không phải tỉ tỉ. Tần muội tử, Đoàn lang ghi lòng tạc dạ ngày nào cũng tưởng nhớ ngươi, ta thật thèm cái phúc phận của muội tử. "

Tần Hồng Miên nghe Nguyễn Tinh Trúc khen mình trẻ tuổi xinh đẹp, lửa giận trong bụng đã bớt được ba phần, đến khi nghe kể Đoàn Chính Thuần ngày ngày tưởng nhớ mình, lửa giận lại giảm thêm ba phần nữa, bèn nói:" Ta vốn không ưa những kẻ chuyện trò thơn thớt như ngươi, chỉ cốt cho người ta mát lòng mát dạ. "

Nguyễn Tinh Trúc lại nói:" Còn vị cô nương này có phải là lệnh ái chăng? Ái chà, thật là một vị thiên kim nhan sắc khuynh thành. Sao Tần muội tử lại sinh được cô gái xinh đẹp đến thế.. "

Tiêu Phong thấy hai bà lải nhải toàn chuyện gió trăng, không muốn nghe thêm nữa. Chàng là một trang hảo hán hành động dứt khoát, không ưa dài dòng. Chuyện đau lòng đã qua, lập tức nghĩ ngay đến những việc phải làm.

Chàng ôm thi thể A Châu ra huyệt, đặt nàng xuống, đưa hai bàn tay hộ pháp ra bốc đất từ từ rắc lên người nàng, còn chừa hở mặt. Đôi mắt Tiêu Phong chăm chăm nhìn xác A Châu, chỉ vài vốc đất nữa là vĩnh viễn không còn được thấy nàng. Bên tai chàng tựa hồ còn văng vẳng lời nàng ước hẹn ra ngoài quan ải cưỡi ngựa săn thú, thả cừu chăn bò, bầu bạn với mình. Mới hôm qua, hai người còn nói với nhau những chuyện thâm tình, khi thì nghịch ngợm, lúc lại nghiêm trang đứng đắn, từ nay không bao giờ còn được nghe nữa. Giấc mơ cùng nhau chăn bò, thả cừu ở ngoài quan ải nay đã trở thành một trường ảo mộng.

Tiêu Phong quì cạnh huyệt một hồi lâu, không đủ can đảm vùi đất xuống mặt A Châu. Đột nhiên chàng đứng bật dậy, hú lên một tiếng dài, không nhìn nàng nữa, hai tay hất hết đất ở bên cạnh huyệt xuống, vun thành nấm mộ rồi quay phắt lại đi vào nhà.

Lúc này Nguyễn Tinh Trúc cùng Tần Hồng Miên đã chị chị em em nói năng ríu rít. Nguyễn Tinh Trúc tuy vừa gặp cảnh đau lòng, nhưng miệng vẫn trơn như mỡ, đưa đẩy cho Tần Hồng Miên hết sức vui lòng, bao nhiêu hiềm khích đều tiêu giải. Nguyễn Tinh Trúc quay ra nói:" Kiều bang chủ! Mẹ con vị muội tử này vô tâm mà đắc tội, xin các hạ giải huyệt cho. "

Nguyễn Tinh Trúc là thân mẫu A Châu, Tiêu Phong dĩ nhiên nể lời. Huống chi chàng đã có ý định tha cho hai người kia, bèn lại gần giơ tay vỗ vào vai Tần Hồng Miên và Mộc Uyển Thanh. Hai người thấy một luồng nhiệt khí từ bả vai xung thẳng xuống huyệt đạo bị phong tỏa, chân tay lập tức cử động bình thường. Hai mẹ con đưa mắt nhìn nhau, trong lòng không khỏi bội phục. Tiêu Phong quay sang A Tử nói:" A Tử muội tử, cho ta mượn coi bức thiếp của gia gia cô một chút. "A Tử đáp:" Ta không thích ngươi gọi ta một điều muội tử, hai điều muội tử. "Nói vậy thì nói, nhưng cô vẫn cầm bức bút thiếp đưa cho Tiêu Phong.

Chàng mở ra, lại xem kỹ bút tích Đoàn Chính Thuần mấy lượt. Nguyễn Tinh Trúc mặt đỏ bừng, thẹn thùng nói:" Có gì mà phải xem kỹ thế? "Tiêu Phong hỏi lại:" Hiện giờ Đoàn vương gia ở đâu? "Nguyễn Tinh Trúc mặt biến sắc ngay, lùi lại hai bước, ấp úng nói:" Thôi.. Thôi!.. Các hạ đừng đi tìm y nữa. "Tiêu Phong nói:" Ta không kiếm y để làm khó dễ, chỉ muốn hỏi mấy điều thôi. "Nguyễn Tinh Trúc không dám tin, nói:" Các hạ đã lỡ tay đánh chết A Châu là đủ rồi, đừng đi tìm y làm gì nữa. "

Tiêu Phong hiểu rằng bà ta không dám nói ra, không hỏi thêm nữa, cuộn bức thiếp lại trao trả A Tử rồi nói:" A Châu có di ngôn, nhờ ta trông nom cho em nàng là Tử muội. Đoàn phu nhân! Nếu sau này A Tử gặp chuyện khó khăn, việc gì Tiêu mỗ có thể làm được xin cứ cho biết, quyết không từ chối. "

Nguyễn Tinh Trúc cả mừng nghĩ bụng:" A Tử có một người bản lĩnh như thế mà nương tựa, thì ra gặp dữ hóa lành. "Bà liền đáp:" Thế thì xin đa tạ. A Tử, mau mau tạ ơn Kiều đại ca đi. "Bà ta đổi ngay" Kiều bang chủ "thành" Kiều đại ca "để cho chàng cùng A Tử thêm phần thân thiết.

Thế nhưng A Tử chỉ bĩu môi nói:" Con chẳng cần y giúp đỡ. Sư phụ con vô địch thiên hạ rồi, lại còn vô số sư ca, con sợ gì ai khinh miệt? Y ốc không mang nổi mình ốc, việc của mình còn làm chưa xong, còn mong gì giúp con? Hứ, không chừng có y càng thêm hỏng chuyện. "Cô ta mồm năm miệng mười nói năng khoác lác, mấy lần Nguyễn Tinh Trúc đưa mắt ngăn lại, vẫn vờ như không thấy.

Bà ta dậm chân nói:" Hừ! Con nhỏ này nói năng hỗn láo chẳng biết trên dưới gì cả. Kiều bang chủ! Xin các hạ nghĩ đến A Châu, đừng để bụng làm gì. "Tiêu Phong đáp:" Tại hạ họ Tiêu, không phải họ Kiều. "A Tử lại xen vào:" Má má thấy chưa, thằng cha này đến họ mình cũng không rõ, quả đúng là điên khùng.. "Nguyễn Tinh Trúc quát lên:" A Tử!.. "

Tiêu Phong vài chào, nói:" Xin từ biệt. "Chàng quay lại bảo Mộc Uyển Thanh:" Đoàn cô nương! Cô đừng dùng thứ ám khí độc địa này nữa, nếu gặp phải đối thủ bản lĩnh hơn cô thì không những vô ích mà còn hại đến mình. "Mộc Uyển Thanh chưa kịp trả lời, A Tử lại chõ mỏ vào:" Tỉ tỉ đừng nghe y nói nhăng nói cuội. Ám khí phóng ra cùng lắm là không trúng đối phương, sao lại có hại được? "

Tiêu Phong không trả lời, xoay mình đi ra. Lúc chân bước qua ngạch cửa, tay áo bên phải chàng nhất một cái, kình phong quạt bảy mũi đoản tiễn lúc nãy Mộc Uyển Thanh ném còn nằm dưới đất bay vụt lên, bắn thẳng vào A Tử nhanh như chớp. Cô nàng chỉ kêu được một tiếng" Ối chao! ", không sao tránh kịp. Bảy mũi tên bay sượt qua đỉnh đầu, cổ, thân mình A Tử, cắm cả vào bức tường phía sau lút đến tận chuôi.

Nguyễn Tinh Trúc vội vàng chạy tới ôm lấy A Tử, hốt hoảng kêu lên:" Tần muội tử! Mau lấy thuốc giải ra đây. "Tần Hồng Miên hỏi dồn:" Bị thương ở đâu? Bị thương ở đâu? "Mộc Uyển Thanh vội thò tay vào bọc lấy thuốc giải, đến xem vết thương của A Tử.

Một lát sau, A Tử hoàn hồn mới nói:" Không.. không bắn trúng con. "Bốn người đàn bà lúc ấy mới nhìn lên bảy mũi đoản tiễn trên tường, ai nấy cả kinh thất sắc.

Thì ra Tiêu Phong nghĩ đến A Châu di ngôn dặn chàng chiếu cố cho A Tử, nhưng nghe nàng ta nói" Sư phụ con vô địch thiên hạ rồi, lại còn vô số sư ca, con sợ gì ai khinh miệt? "Nên mới phất tay áo dùng tụ phong bắn tên dọa A Tử một phen, để nàng biết trời cao đất dày, đừng khinh thường anh hùng hảo hán trong thiên hạ mà rước lấy đau khổ về mình.

Tiêu Phong ra khỏi rừng trúc, đến bên bờ hồ, tìm một cây to cành lá rậm rạp bên cạnh đường, nhảy lên ngồi nấp. Chàng muốn gặp Đoàn Chính Thuần để điều tra vì cớ gì Mã phu nhân cố ý vu oan, nhưng vì Nguyễn Tinh Trúc không cho biết, đành phải tự mình ngấm ngầm theo dõi ông ta đang ở đâu.

Chẳng mấy chốc đã thấy hai mẹ con Tần Hồng Miên đi ra trước, hai mẹ con Nguyễn Tinh Trúc theo sau, hình như đang tiễn khách. Bốn người ra đến bờ hồ, Tần Hồng Miên nói:" Nguyễn tỉ tỉ! Chúng ta mới gặp lần đầu mà như đã quen lâu, bao nhiêu hiềm khích cũ từ nay bỏ hết, thế là bớt được một mối hận lòng. Bây giờ muội muốn đi kiếm con tiện tì họ Khang, tỉ tỉ có biết ả ở đâu không? "Nguyễn Tinh Trúc ngạc nhiên hỏi lại:" Muội tử đi kiếm mụ ta làm gì? "Tần Hồng Miên hậm hực đáp:" Muội với Đoàn lang đang ân ái nồng nàn, thì bị con tiện tì yêu tinh đó giở trò mê hoặc.. "Nguyễn Tinh Trúc ngẫm nghĩ rồi đáp:" Con tiện nhân.. Khang.. Khang Mẫn đó, ta thật không biết nó ở đâu. Nếu muội tử tìm thấy ả thì chém thêm vài đao giúp ta. "Tần Hồng Miên đáp:" Cái đó không cần phải nói, chỉ sợ khó mà tìm được. Thôi xin từ biệt, sẽ gặp lại sau. Nếu tỉ tỉ gặp Đoàn lang.. "Nguyễn Tinh Trúc chột dạ hỏi:" Gặp y thì sao? "Tần Hồng Miên đáp:" Tỉ tỉ thay mặt muội tát y hai cái thật mạnh, một cái phần muội, một cái phần Uyển nhi ".

Nguyễn Tinh Trúc bật cười nói:" Ta làm sao mà tìm được cái gã chết tiệt lòng lang dạ sói đó? Nếu muội tử gặp được y, cũng đánh giùm ta hai cái, một cái phần ta, một cái phần A Tử. Không được, tát tai chưa đủ, phải đá y thêm hai cái vào mông nữa. Sinh con ra chẳng ngó ngàng gì đến, để mẹ con chúng ta cô khổ lênh đênh.. "Bà nói đến đây lại sụt sùi, Tần Hồng Miên an ủi:" Tỉ tỉ đừng đau lòng nữa. Để hai mẹ con muội tìm giết được con tiện tì họ Khang rồi sẽ quay lại bầu bạn với tỉ tỉ. "

Tiêu Phong nấp trên cây, nghe rõ ràng hai người đối thoại. Chàng nghĩ thầm, Đoàn Chính Thuần võ công không tệ, đối với bạn bè có nhân có nghĩa, có điều đam mê nữ sắc, mất cả khí phách anh hùng. Chỉ thấy Tần Hồng Miên cùng Mộc Uyển Thanh hành lễ từ biệt mẹ con Nguyễn Tinh Trúc rồi ra đi, Nguyễn Tinh Trúc cũng dắt tay A Tử trở về khu rừng trúc.

Tiêu Phong nghĩ thầm:" Chắc chắn là Nguyễn Tinh Trúc đi kiếm Đoàn Chính Thuần, nhưng không muốn cho Tần Hồng Miên đi theo. Lúc đầu bà ta bảo là trở lại lấy bức thiếp, Đoàn Chính Thuần chắc đang ở một nơi không xa. Ta cứ đợi ở đây là đúng. "

Bỗng trong lùm cây có tiếng động nhỏ, hai người vận y phục đen rón rén bước ra, chính là mẹ con Tần Hồng Miên quay trở lại. Tần Hồng Miên hạ giọng bảo con:" Uyển nhi! Con thật là vô tâm, mắc lừa người ta một cách dễ dàng. Trong phòng ngủ Nguyễn tỉ tỉ ở dưới gầm giường có đôi giày đàn ông, đầu mũi giày có thêu hai chữ bằng vàng, chân trái có một chữ Sơn, chân phải có một chữ Hà, chính là giày của gia gia con. Đôi giày còn mới, mà gót giày lại dính bùn chưa khô. Xem thế cũng biết ngay là gia gia con ở đâu quanh đây. "Mộc Uyển Thanh nói:" A, hóa ra bà ấy nói dối mẹ con mình. "Tần Hồng Miên nói:" Phải rồi! Đời nào bà ta dám để con người bạc bẽo kia gặp mẹ con ta? "Mộc Uyển Thanh nói:" Gia gia đã là người bạc bẽo vô lương tâm, má má chẳng cần gặp làm chi nữa! "

Tần Hồng Miên lặng lẽ hồi lâu mới đáp:" Ta muốn nhìn thấy y, nhưng lại không muốn để y nhìn thấy ta. Bao nhiêu năm qua, chắc y đã già đi nhiều, mà má má ngươi cũng già rồi còn gì. "Mấy câu nói thật là bình dị nhưng bên trong chứa chất đầy nỗi thâm tình.

Mộc Uyển Thanh đáp:" Phải đấy! "Thanh âm nàng cũng đầy vẻ thê lương. Từ khi chia tay Đoàn Dự đến nay, lòng nhớ nhung mỗi ngày một tăng, nhưng nàng biết rằng chuyện chẳng đến đâu, nên không hở ra chút tâm sự gì với mẹ.

Tần Hồng Miên nói:" Mẹ con mình mình ở đây, chắc chẳng bao lâu gia gia sẽ tới. "Nói xong, bà vạch đám cỏ cao ẩn thân vào trong, Mộc Uyển Thanh cũng nấp sau một gốc cây.

Dưới ánh sao lờ mờ, Tiêu Phong thấy khuôn mặt trắng trẻo của Tần Hồng Miên thoáng hiện sắc hồng, hiển nhiên đang xúc động. Chàng nghĩ thầm:" Tình ái quả là lụy con người ", lại chợt nhớ đến A Châu, trong lòng không khỏi tê tái.

Chẳng bao lâu lại có tiếng chân người vội vã đi tới, Tiêu Phong nghĩ thầm:" Thân pháp này không phải của Đoàn Chính Thuần, có lẽ là thuộc hạ ông ta ". Quả nhiên khi đến gần, chàng nhận ra người ngồi vẽ trên cầu, chính là Chu Đan Thần.

Nguyễn Tinh Trúc cũng nghe thấy tiếng chân nhưng không phân biệt được, lại tưởng là Đoàn Chính Thuần nên vội cất tiếng gọi:" Đoàn lang! Đoàn lang! ", vừa gọi vừa chạy ra nghênh tiếp, A Tử lẽo đẽo theo sau. Chu Đan Thần cúi rạp xuống nói:" Chúa công sai thuộc hạ về bẩm báo là người có việc gấp, hôm nay không trở lại đây được. "

Nguyễn Tinh Trúc ngạc nhiên hỏi lại:" Chuyện gì mà gấp thế? Bao giờ chàng mới trở lại? "Chu Đan Thần đáp:" Việc này có liên quan đến nhà Cô Tô Mộ Dung, dường như đã phát hiện tung tích Mộ Dung công tử. Chúa công đi xa muôn dặm chỉ cốt để tìm người này. Chúa công có dặn: Khi nào đại sự xong xuôi sẽ quay về Tiểu Kính Hồ đoàn tụ, phu nhân bất tất phải trông chờ. "Nguyễn Tinh Trúc nước mắt chảy quanh, nghẹn ngào nói:" Lần nào y ra đi cũng nói là quay lại ngay, mà lần nào cũng ba năm, năm năm không thấy mặt. Ta biết trông chờ đến bao giờ? "

Chu Đan Thần rất căm phẫn về việc A Tử trêu Chử Vạn Lý đến nỗi y uất lên mà liều chết, nên không muốn ở lâu, chuyển lời của Đoàn Chính Thuần xong là nghiêng mình thi lễ rồi trở gót cắm đầu đi thẳng, từ đầu chí cuối không hề nhìn đến A Tử.

Nguyễn Tinh Trúc đợi gã đi xa rồi, nói nhỏ với A Tử:" Khinh công của con giỏi hơn ta nhiều, mau mau theo dõi y. Nhớ ghi lại ký hiệu cho ta biết đường theo sau. "A Tử lại nhõng nhẽo cười nói:" Má má bảo con theo dõi gia gia, thế có thưởng gì cho con không nào? "Nguyễn Tinh Trúc đáp:" Bất luận cái gì của ta cũng là của con hết, còn gì đâu mà thưởng? "A Tử nói:" Được rồi! Con đi tới đâu sẽ viết một chữ Đoàn vào góc tường rồi vẽ một mũi tên, má má cứ thế mà theo. "Nguyễn Tinh Trúc ôm vai con vui mừng nói:" Con gái ngoan quá! "A Tử cười đáp:" Má má đa tình quá! "Cô ta nhổm dậy, chạy đuổi theo Chu Đan Thần.

Nguyễn Tinh Trúc đứng bên bờ hồ một chốc, rồi theo đường mòn mà đi. Bà ta đi đã xa rồi, mẹ con Tần Hồng Miên mới hiện thân, vỗ tay ra hiệu cho nhau, rón rén đuổi theo.

Tiêu Phong nghĩ thầm:" Dọc đường A Tử đã ghi ký hiệu, việc đi tìm Đoàn Chính Thuần không còn khó nữa. "Chàng bước được mấy bước, chợt thấy ánh trăng soi bóng mình dưới hồ cô đơn hiu quạnh, trong lòng lại tê tái thê lương, muốn quay lại rừng trúc ngồi bên mộ A Châu một lát. Nhưng chàng nghĩ lại, hào khí bốc lên, tung một chưởng xuống mặt hồ làm nước bắn tung tóe, bóng hình dưới nước cũng tan thành muôn mảnh. Tiêu Phong hú lên một tiếng dài rồi cất bước đuổi theo.

Ngày đi đêm nghỉ, suốt mấy ngày liền chàng uống rượu nhiều mà ăn chẳng bao nhiêu, đến thị trấn nào cũng thấy đây đó trên những góc tường có chữ" Đoàn "và mũi tên A Tử để lại. Cũng có chỗ Nguyễn Tinh Trúc xóa đi, nhưng dấu vết vẫn dễ nhận ra.

Mọi người vẫn bám theo nhau tiến về hướng bắc, tiết trời lạnh dần. Một hôm Tiêu Phong mới ra khỏi cửa thì trời đổ một trận tuyết lớn. Chàng đi đến trưa, ghé một quán rượu uống một lèo mười hai, mười ba bát vẫn chưa đã thèm nhưng rượu trong quán đã hết nhẫn. Chàng cụt hứng bỏ đi, một lúc sau đến một tòa thành lớn, Tiêu Phong tới gần liền sửng sốt, thì ra đó chính là thành Tín Dương.

Dọc đường chàng chỉ mải nhìn ký hiệu A Tử để lại, lại thêm tâm sự ngổn ngang, chẳng để ý gì đến phong cảnh cùng nhân vật chung quanh, thành thử quay lại Tín Dương lúc nào cũng không hay. Kể ra thì chàng tìm Đoàn Chính Thuần dễ như trở bàn tay, chỉ cần rảo bước nửa ngày là đủ. Thế nhưng từ khi A Châu chết đi, đầu óc chàng cứ bâng khuâng, chẳng biết làm gì cho hết ngày giờ, Tiêu Phong cứ nghĩ:" Đuổi kịp Đoàn Chính Thuần rồi làm gì? Tìm được chính phạm, báo thù xong rồi sao nữa? Một mình ta ra ngoài quan ải, săn thú chăn bò trong sa mạc hay làm gì nữa? Những việc đó không có chi là gấp rút. "Thành thử chàng cũng không quyết đuổi cho nhanh.

Tiêu Phong vào thành Tín Dương, thấy dưới chân tường có một chữ Đoàn vẽ bằng than, bên cạnh có mũi tên chỉ hướng tây. Chàng lại cảm thấy trong lòng chua xót, nhớ đến hôm nào mình sánh vai A Châu cùng đi đến phía tây thành Tín Dương tìm nhà Mã phu nhân để hỏi thăm tin tức. Hôm nay hồi tưởng lại, quả là hôm đó mỗi bước của A Châu chẳng khác gì một bước đi xuống âm ty.

Chàng ra khỏi cửa tây, đi thêm năm sáu dặm. Trên trời gió bấc từng đợt cuốn tuyết bay mù mịt.

Ký hiệu A Tử để lại vẫn chỉ hướng tây, dấu hiệu nào cũng mới viết chưa lâu. Chỗ sau cùng, cô bóc vỏ cây ra khắc chữ vào thân cây, nhựa trên vết đao hãy còn ướt. Ký hiệu này chỉ thẳng đến nhà Mã Đại Nguyên, Tiêu Phong càng lấy làm kỳ, tự hỏi:" Phải chăng Đoàn Chính Thuần biết Mã phu nhân hãm hại y nên đến tìm bà ta thanh toán? Đúng rồi! Lúc A Châu hấp hối nơi cầu đá xanh, nói chuyện với ta đã nhắc đến Mũ phu nhân, hẳn là A Tử nghe được mà kể với gia gia. Thế nhưng bọn ta chỉ nói là Mã phu nhân, làm sao họ biết chính là vị Mã phu nhân này?".

Dọc đường chàng cứ như người mất hồn, bây giờ gặp chuyện cổ quái, lập tức phấn chấn tinh thần, khôi phục được cảm giác như sắp giao phong với kình địch. Tiêu Phong thấy bên đường có một ngôi miếu hoang, lập tức chui vào đóng cửa lại, lăn ra ngủ ba giờ liền. Vào khoảng canh hai chàng mới ra khỏi miếu, tiến về phía nhà Mã phu nhân.

Gần tới nơi, chàng nấp sau gốc cây quan sát kỹ chung quanh, bỗng nhếch mép mỉm cười. Trên mái nhà phía đông bắc có hai người nằm phục, nhìn kỹ thì ra Nguyễn Tinh Trúc và A Tử. Kế đó chàng lại phát hiện mẹ con Tần Hồng Miên nấp trên nóc nhà phía đông nam. Lúc đó bão tuyết chưa dứt, bốn người phụ nữ đều bị phủ một lớp tuyết trắng. Trong nhà, cửa sổ phòng phía đông le lói ánh sáng, nhưng tứ bề vẫn lặng ngắt như tờ. Tiêu Phong bẻ một cành cây ném về phía tây, rơi xuống nghe cạch một tiếng nhỏ. Cả bốn người đang nấp đều nhìn về phía có tiếng động, Tiêu Phong nhẹ nhàng nhảy xuống, lạng người tới bên cửa sổ phòng phía đông.

Tiết trời giá lạnh đến mức đất đông thành đá, nên cửa sổ nhà họ Mã đều đóng ván gỗ kín bên ngoài. Tiêu Phong đợi một cơn gió đập vào cửa sổ, liền nhẹ nhàng vỗ một cái, chưởng phong hòa với gió trời đập mạnh vào ván cửa lên lách cách, tấm ván liền nứt ra một khe hở, giấy dán tường bên trong cũng rách một đường. Tần Hồng Miên và Nguyễn Tinh Trúc tuy nấp gần đó, nhưng chưởng phong lẫn trong gió bấc nên không phát giác, nếu có người trong phòng cũng không thể biết được. Tiêu Phong ghé mắt qua khe ván nhìn vào bên trong, bất giác ngẩn ngơ, dường như không tin vào mắt mình được nữa.

Rõ ràng Đoàn Chính Thuần mặc quần áo ngủ ngồi xếp bằng trên giường, tay cầm chén rượu cười hề hề, đang nhìn một người đàn bà ngồi ở trường kỷ bên cạnh.

Người đàn bà đó mặc toàn màu trắng, trên mặt phơn phớt một lớp phấn mỏng, đầu mày cuối mắt đầy vẻ xuân tình, đôi mắt ướt rượt đang liếc xéo Đoàn Chính Thuần, tựa như cười mà không phải cười, tựa như giận mà không phải giận. Người này chính là Mã phu nhân, quả phụ của Mã Đại Nguyên.

Comments

0 comments

Trước Tiếp
 
34,431 ❤︎ Bài viết: 2241 Tìm chủ đề
Hồi 24: Yêu nhau lắm, cắn nhau đau

Giả tỷ Tiêu Phong không tận mắt chứng kiến tình cảnh trong nhà, thì dù bất cứ ai kể lại chàng cũng cho là chuyện hoang đường bịa đặt. Tiêu Phong đã gặp Mã phu nhân lần đầu nơi rừng hạnh ngoài thành Vô Tích, sau đó còn gặp hai lần nữa, lúc nào cũng thấy mặt bà lạnh như băng khó mà mạo phạm, ngay cả nụ cười của bà, chàng cũng chưa thấy bao giờ. Kỳ lạ hơn nữa, chắc chắn bà ta phải có thâm thù đại hận với Đoàn Chính Thuần mới dùng lời hãm hại, thế mà trong nhà xuân ý triền miên, rượu chuốc hương nồng, bốn mắt đưa tình đầy vẻ yêu thương, có gì là thù là oán đâu?

Trên bàn có một bình hoa mai lớn, dưới giường lò than đang đỏ. Áo của Mã phu nhân không cài khuy cổ để lộ làn da trắng ngần, hở cả một nửa chiếc yếm đào. Cạnh giường đốt một đôi bạch lạp, ánh nến bập bùng chiếu lên khuôn mặt ửng hồng. Bên ngoài gió lộng tuyết rơi, nhưng trong nhà thực là tình xuân nồng đượm.

Đoàn Chính Thuần gọi: "Lại đây, lại đây! Uống với ta một chén nữa cho thành đôi thành lứa." Mã phu nhân nũng nịu "hứ" một tiếng rồi nói: "Thành đôi thành lứa cái gì? Người ta cô đơn lạnh lẽo ở đây, đêm mong ngày nhớ, lúc nào cũng mơ tưởng đến kẻ oan gia, còn chàng.. chàng.. biến đâu mất dạng, có thăm hỏi người ta được câu nào đâu?" Nói đến đây, mắt nàng rưng rưng tưởng chừng sa lệ.

Tiêu Phong nghĩ thầm: "Bà ta thật chẳng khác gì Tần Hồng Miên, Nguyễn Tinh Trúc, chắc là dan díu với Đoàn Chính Thuần từ lâu rồi."

Đoàn Chính Thuần dịu giọng đáp: "Ta ở Đại Lý, có ngày nào không nhớ nhung Tiểu Khang yêu quí của ta đâu? Ta chỉ hận không có cánh mà bay tới ôm nàng vào lòng, yêu nàng một lúc. Hôm nghe tin nàng thành hôn cùng Mã phó bang chủ, ta bỏ ăn bỏ ngủ mất ba ngày. Khi nàng đã có chỗ có nơi, nếu còn tới lui thăm viếng chẳng hóa ra liên lụy đến nàng hay sao? Mã phó bang chủ là một vị anh hùng thân phận tôn cao trong Cái Bang, nếu ta vẫn chàng màng với nàng thì té ra coi y chẳng ra gì, mình hóa thành kẻ tiểu nhân đê tiện."

Mã phu nhân nói: "Ai thèm chàng đến để vui vậy? Thiếp chỉ lo lắng chẳng hiểu chàng có bình yên không, trong lòng có sảng khoái không, chuyện lớn chuyện nhỏ có xuôi chèo mát mái không? Chỉ mong chàng vô sự là thiếp yên lòng, cuộc đời còn được đôi chút ý vị. Chàng ở tận Đại Lý xa xăm, thiếp muốn nghe ngóng tin chàng đâu có dễ dàng? Thân thiếp thì tại Tín Dương, nhưng trái tim thiếp có giờ nào khắc nào không bên chàng đâu?"

Nàng ta càng nói càng thấp giọng, thanh âm vẫn ra vẻ tự nhiên không cố ý mê hoặc ai, thế mà vừa nũng nịu vừa hờn mát, vừa nhẹ nhàng lại vừa trách móc, ai nghe lọt vào tai cũng phải bần thần như kẻ mất hồn. Tiêu Phong đã từng gặp biết bao phụ nữ, nhưng không ngờ trên đời này lại có người nói chuyện quyến rũ đến thế, tuy đang kinh ngạc mà mặt cũng phải đỏ lên. Chàng đã gặp mấy cô tình nhân của Đoàn Chính Thuần, mỗi người một vẻ phong lưu, Tần Hồng Miên thẳng thắn bộc trực, Nguyễn Tinh Trúc xinh đẹp yêu kiều, còn Mã phu nhân thì lại rất ư là mềm mỏng nhu mì.

Đoàn Chính Thuần là người trong cuộc hẳn càng mê mẩn, mặt tươi như hoa, đưa tay kéo nàng vào lòng. Mã phu nhân "hứ" một tiếng, giả vờ chống cự đẩy ra.

Tiêu Phong chau mày, không muốn nhìn hai người sàm sỡ nữa, chợt nghe bên cạnh có tiếng chân người đạp lên tuyết kêu lép bép. Chàng than thầm: "Hỏng bét! Hai mụ này mà xông vào đánh ghen thì hỏng hết đại sự của ta", Tiêu Phong lạng đi như một cơn gió ra sau bọn Tần Hồng Miên, giơ tay điểm huyệt cả bốn người.

Chưa kịp nhận ra thủ đoạn của ai thì bốn người đã không nhúc nhích được nữa. Lần này Tiêu Phong điểm luôn á huyệt cho họ không lên tiếng được. Tần Hồng Miên và Nguyễn Tinh Trúc nằm lăn trên tuyết lạnh, nghe tình lang thù thì thủ thỉ cùng con hồ ly tinh trong phòng ấm áp, cơn ghen nổi dậy bừng bừng, nhưng chẳng làm gì được.

Tiêu Phong lại ghé mắt vào khe cửa, thấy Mã phu nhân ngồi bên cạnh Đoàn Chính Thuần, đầu tựa vào vai y, người mềm nhũn như không có xương sống, mở tóc dài đen nhánh xõa ra che nửa mặt tình lang. Bà lim dim mắt nói: "Phu quân thiếp bị người ta giết hại, chắc chàng cũng biết, thế mà không tới hỏi thăm một chút. Trượng phu thiếp không còn, chàng có phải tị hiềm gì nữa đâu?" Thanh âm vừa trách cứ vừa nhõng nhẽo.

Đoàn Chính Thuần cười nói: "Thì ta đã đến đây rồi! Ta được tin là lập tức đi suốt ngày đêm, từ Đại Lý tới đây ngựa không ngừng vó, chỉ sợ chậm mất một bước." Mã phu nhân hỏi lại: "Đến chậm thì đã làm sao mà phải vội thế?" Đoàn Chính Thuần mỉm cười: "Ta chỉ sợ nàng không chịu nổi cô đơn tịch mịch mà vội lấy người khác, thì Đại Lý Đoàn Nhị này rong ruổi uổng công, mười năm tương tự trôi theo dòng nước." Mã phu nhân hứ một tiếng nói: "Ái chà! Chàng lại vu cho người ta không chịu nổi cô đơn tịch mịch ư? Chàng có nhớ gì tới thiếp đâu, dám leo lẻo những gì mười năm tương tư không biết ngượng miệng hay sao?"

Đoàn Chính Thuần hai tay ôm nàng ta càng chặt thêm, cười nói: "Giả tỷ ta không nhớ nàng thì lặn lội từ Đại Lý tới đây làm gì?" Mã phu nhân mỉm cười: "Thôi được, cứ cho là chàng có nhớ thiếp đi. Đoàn lang ơi, từ nay chàng định sắp đặt cho thiếp thế nào?" Nói đến đây bà ta vòng hai tay quanh cổ Đoàn Chính Thuần, kề má mình vào mặt ông ta cọ nhè nhẹ, làn sóng tóc dài bập bềnh như sóng nước.

Đoàn Chính Thuần nói: "Hôm nay có rượu hôm nay uống, chuyện tương lai nói tới làm chi cho sớm? Nàng để ta bế thử xem mười năm xa cách có nhẹ đi tí nào không, hay lại nặng hơn?" Nói xong lại càng ôm chặt Mã phu nhân.

Bà ta hỏi: "Thế chàng không đưa thiếp về Đại Lý ư?" Đoàn Chính Thuần hơi nhíu mày, nói: "Ở Đại Lý có gì là hay đâu? Phong cảnh đã không đẹp lại nhiều lam sơn chướng khí, nàng đến đó không hợp thủy thổ, lại sinh bệnh mất thôi." Mã phu nhân thở dài, nói nhỏ: "Ôi! Thế ra chàng đến đây dỗ dành thiếp chỉ để mua vui chốc lát thôi." Đoàn Chính Thuần cười bảo: "Sao lại bảo là mua vui chốc lát? Ta lập tức hoan hỉ cùng nàng thực sự."

Mã phu nhân khẽ cựa ra, đứng xuống đất, rót một chén rượu rồi nói: "Đoàn lang! Hãy uống thêm chén nữa." Đoàn Chính Thuần nói: "Ta không uống nữa đâu, uống thế là đủ rồi." Mã phu nhân đưa tay trái ra ve vuốt má tình lang, thỏ thẻ: "Ứ, thiếp chả chịu đâu, thiếp muốn chàng uống đến say mèm kia." Đoàn Chính Thuần cười hỏi lại: "Say mèm ư? Say mèm thì còn làm gì được nữa?" Nhưng ông vẫn đưa tay đón lấy chén rượu uống một hơi cạn sạch. Tiêu Phong nghe hai người nói toàn chuyện phong nguyệt đã chán cả tai, thấy Đoàn Chính Thuần uống rượu chàng thèm quá, nuốt nước bọt ừng ực.

Bỗng Đoàn Chính Thuần mở miệng ngáp dài, ra chiều mỏi mệt. Mã phu nhân khẽ cười, nói: "Đoàn lang! Chàng có thích nghe thiếp kể chuyện không?" Tiêu Phong phấn chấn tinh thần, nghĩ thầm: "Mụ ta kể chuyện cũ, ắt hẳn có đầu mối gì đây". Đoàn Chính Thuần nói: "Khoan đã! Nàng lại đây để ta cởi bớt y phục cho, nằm chung gối kề vào tai, kể ta nghe cho rõ."

Mã phu nhân lườm một cái rồi nói: "Đoàn lang ơi! Chàng có biết không, lúc nhỏ nhà thiếp nghèo lắm, chỉ mong có quần áo mới mà gia gia cùng má má cũng không mua nổi. Thiếp chỉ ước mơ được như tỉ tỉ nhà họ Giang bên cạnh, năm nào cũng có áo hoa, giày mới." Đoàn Chính Thuần nói: "Hồi nàng còn nhỏ chắc đã xinh lắm rồi. Một cô bé dễ thương như nàng, dẫu mặc quần áo rách đến đâu vẫn mỹ lệ như thường." Mã phu nhân đáp: "Không đâu, thiếp cứ thích mặc áo hoa cơ." Đoàn Chính Thuần đáp: "Nàng mặc tang phục trắng toát thế này lại càng thêm kiều mỵ, áo hoa có gì là đẹp đâu?"

Mã phu nhân nhếch mép cười, dịu dàng đáp: "Hồi thiếp còn nhỏ, cứ mơ đến quần áo mới suốt ngày suốt đêm mà thành bệnh." Đoàn Chính Thuần hỏi: "Mãi đến năm mười bảy tuổi phải không?" Mắt Mã phu nhân sáng lên, khúc khích cười: "Đoàn lang ơi, từ đó thì thiếp lại chuyển sang bệnh tương tư chàng. Ác bệnh đó trị không dứt nọc, đến nay vẫn chưa hết. Chẳng biết kiếp này Đoàn đại phu có chữa bớt cho thiếp được chút nào không?"

Đoàn Chính Thuần ngây ngất tâm hồn, vươn tay định níu lấy nàng, nhưng hình như đã quá say nên chân tay bải hoải, cánh tay đưa lên nửa chừng lại phải hạ xuống, cười nói: "Nàng ép ta uống nhiều quá, bây giờ muốn.. muốn.. Tiểu Khang ơi! Rồi đến mấy năm sau nàng mới được mặc áo hoa đi giày mới?"

Mã phu nhân đáp: "Chàng được trời cho giàu sang ngay từ tấm bé, đâu có biết cái khổ của con nhà nghèo. Hồi đó, giá mà thiếp được đôi giày mới thì sung sướng biết bao. Năm lên bảy, gia gia thiếp bảo rằng đến tháng chạp sẽ đem ba con cừu, mười bốn con gà ra chợ bán để sắm tết, lúc đó sẽ mua một vuông vải hoa về cho thiếp may áo mới. Thế là suốt từ tháng tám, ngày ngày thiếp ngóng cho thời gian qua mau, chăm chỉ nuôi gà, chăn cừu.."

Hai chữ "chăn cừu" vừa lọt vào tai Tiêu Phong, chàng chạnh lòng không nhịn nổi, mắt đỏ hoe.

Mã phu nhân vẫn kể tiếp: "Mãi mới đến đầu tháng chạp, ngày nào thiếp cũng giục gia gia đi bán cừu, bán gà, gia gia chỉ bảo: Con đừng nóng ruột, đợi đến hết năm hết tháng mới bán được giá cao. Được mấy hôm, trời bỗng đổ tuyết lớn suốt mấy ngày mấy đêm. Đến một buổi chiều, đột nhiên có tiếng lạch cạch, thì ra tuyết đổ sập mất mái chuồng cừu. Cũng may mấy con vật không việc gì, gia gia mởi dắt cừu vào buộc cạnh hiên nhà, nói là sáng mai sẽ đem ra chợ bán. Ngờ đâu, đến tối bỗng nghe tiếng sói tru, cừu be be loạn cả lên. Gia gia thiếp biết là chó sói đến bắt cừu, vội xách giáo xông ra. Thế nhưng ba con cừu đã bị tha đi mất, bầy gà cũng bị ăn thịt mất hơn một nửa. Gia gia kêu ầm lên, vội đuổi theo định đoạt lại."

"Gia gia thiếp đuổi vào tận trong núi, thiếp cứ lo ngay ngáy, không hiểu có lấy lại mấy con cừu được không. Đợi mãi mới thấy gia gia khập khiễng về, kể rằng tuyết trơn quá nên ông té xuống triền núi, bị thương ở đùi, cây giáo cũng rơi mất, đương nhiên là mấy con cừu không đoạt lại được."

"Thiếp thất vọng hết sức, ngồi phịch xuống tuyết khóc ầm lên. Mấy tháng rồi thiếp phải đi chăn cừu, chỉ mong được bộ quần áo mới, nào ngờ rốt cuộc chẳng có gì. Thiếp vừa khóc vừa đòi luôn miệng: Gia gia mau đi bắt cừu lại, con muốn có áo mới, con không có áo mới không được."

Tiêu Phong nghe đến đây, sa sầm nét mặt nghĩ thầm: "Mụ này tính tình bạc bẽo, gia gia ngã xuống núi bị thương, mụ chẳng lý gì đến, chỉ nhớ đến áo mới của mình, huống chi trời tối đuổi theo đàn sói đói, thật là nguy hiểm. Lúc đó mụ còn nhỏ chưa hiểu sự đời, nhưng cũng không thể như thế được."

Lại nghe Mã phu nhân kể tiếp: "Gia gia liền dỗ: Thôi con à. Ngày mai mình nuôi mấy con cừu khác, sang năm lại bán đi mua áo hoa cho con. Thiếp khóc lại càng to, nhưng có làm gì được đâu? Nửa tháng sau là Tết, Giang tỉ tỉ bên hàng xóm mặc một cái áo đỏ hoa vàng, một chiếc quần xanh hoa vàng. Thiếp nhìn mà ghen tức đến bỏ ăn bỏ uống. Gia gia dỗ dành cách nào, thiếp cũng nhất định không thèm nghe."

Đoàn Chính Thuần cười nói: "Giả tỷ khi đó ta biết được, nhất định sẽ gửi biếu nàng một chục, hai chục cái áo mới." Ông ta vươn vai một cái, ánh nến lung linh chiếu lên khuôn mặt ngà ngà say.

Mã phu nhân nói: "Nếu có đến một chục, hai chục cái thì lại chẳng có chi là quý nữa. Tối giao thừa, thiếp trằn trọc trên giường, không sao ngủ được, trở dậy, len lén mò qua nhà Giang bá bá. Người lớn hãy còn thức để đón giao thừa, đèn nến sáng trưng. Thiếp thấy Giang tỉ tỉ nằm ngủ trên giường, bộ quần áo mới xếp gọn để trên bụng, ánh nến chiếu vào lại càng đẹp đẽ. Thiếp đứng ngẩn ra nhìn một hồi rồi lẻn vào trong phòng, cầm bộ quần áo mới lên.."

Đoàn Chính Thuần cười nói: "Ăn trộm áo mới ư? Trời ơi! Ta tưởng Tiểu Khang chỉ biết ăn trộm nam nhân, té ra biết cả ăn trộm y phục."

Mã phu nhân đưa đẩy sóng tình, mỉm cười nói: "Thiếp có ăn trộm y phục đâu? Thiếp lại bàn lấy chiếc kéo trong giỏ may, cắt vụn chiếc áo mới ra, lại rọc chiếc quần thành từng sợi, không còn cách gì vá lại được. Thiếp cắt nát bộ quần áo rồi, trong lòng thỏa mãn vô cùng, sướng hơn cả chính mình có quần áo mới."

Đoàn Chính Thuần từ nãy vẫn tươi cười, nghe tới đây biến đổi nét mặt xem chừng kém vui, nói: "Tiểu Khang ơi! Nàng đừng kể chuyện nữa, chúng ta đi ngủ thôi."

Mã phu nhân đáp: "Không đâu! Chẳng mấy khi thiếp được cùng chàng sum họp mấy ngày, lại e rằng từ nay trở đi không còn gặp nhau nữa. Thiếp chỉ muốn nói chuyện với chàng thật nhiều cho hả dạ. Đoàn lang, chàng có biết tại sao thiếp kể câu chuyện này không? Là để cho chàng hiểu tính khí thiếp, từ bé đã vậy rồi. Hễ thiếp đã thích cái gì là ao ước có cho bằng được, nếu người khác may mắn hơn mà chiếm lấy, thì bằng giá nào thiếp cũng phải phá hủy đi. Còn bé dại thì phương pháp ngây thơ vụng về, lớn lên rồi thì thiếp khôn ngoan hơn, cách thức cũng tinh tế hơn."

Đoàn Chính Thuần lắc đầu nói: "Nàng đừng nói nữa. Ta nghe những chuyện ghê gớm ấy vào tai, xẹp cả hứng đi thì đừng trách ta nhé."

Mã phu nhân tủm tỉm cười, từ từ đứng dậy, tháo chiếc dải trắng buộc tóc ra. Suối tóc dài xõa xuống tận hông, vừa mềm mại vừa đen nhánh. Bà cầm chiếc lược gỗ dương màu vàng, chậm rãi chải tóc, đột nhiên quay lại nhìn Đoàn Chính Thuần nở một nụ cười, vẻ mặt thật là quyến rũ. Bà nói: "Đoàn lang ơi! Chàng lại đây ôm lấy thiếp đi." Thanh âm cực kỳ lơi lả.

Tiêu Phong tuy khinh miệt người phụ nữ này, nhưng nhìn thấy khóe thu ba long lanh trong ánh nến, nghe gọi "chàng lại đây ôm lấy thiếp đi", cũng bất giác rung động trong lòng.

Đoàn Chính Thuần cười hì hì, chống tay xuống giường toan đứng dậy ôm lấy bà ta, nhưng không sao nhỏm dậy nổi, bèn nói: "Ối chà, mới uống có sáu bảy chén rượu mà đã say đến thế này. Tiểu Khang ơi, hình như nhan sắc của nàng làm ta say mê say mệt, chẳng khác gì uống đủ ba cân rượu mạnh. Ha ha.."

Tiêu Phong nghe vậy giật mình, nghĩ thầm: "Chỉ sáu bảy chén thì làm sao say được? Nội lực Đoàn Chính Thuần đâu phải tầm thường, tửu lượng kém như vậy thì vô lý. Phải chăng có điều gì bí ẩn bên trong?".

Mã phu nhân lại cười khúc khích, nũng nịu nói: "Đoàn lang! Chàng lại đây! Thiếp hết cả hơi sức rồi. Chàng.. chàng.. lại đây ôm thiếp đi."

Tân Hồng Miên và Nguyễn Tinh Trúc nằm lăn lóc bên ngoài nghe Mã phu nhân õng ẹo đưa tình, lửa ghen bốc lên tưởng chừng muốn vỡ cả ngực, chỉ hận không đưa tay lên bịt tai được.

Đoàn Chính Thuần chống tay trái vào thành giường, cố gắng đứng dậy, nhưng đầu gối mềm nhũn ra, lại ngồi phịch xuống rồi cười nói: "Ta cũng chẳng có chút hơi sức nào, thật là lạ quá. Ta nhìn thấy nàng chẳng khác gì chuột gặp phải mèo, toàn thân bủn rủn lập tức."

Mã phu nhân khẽ cười: "Đoàn lang ơi, thiếp không tin đâu, mới uống có một tí rượu mà đã giả vờ say để nhũng nhiễu người ta thì sao mà nghe được. Chàng thử vận khí thúc đẩy nội lực xem có tỉnh không?"

Đoàn Chính Thuần vận công đề khí, nhưng sao đan điền trống rỗng, làm cách nào cũng không được. Ông vận khí liên tiếp ba lần, mấy chục năm công lực chẳng hiểu mất tự bao giờ, không sót lại mảy may. Bấy giờ ông mới hoang mang, biết là có biến, cũng may lịch duyệt đã nhiều nên ngoài mặt vẫn thản nhiên, cười nói: "Ta chỉ vận được nội kình Nhất Dương Chỉ và Lục Mạch Thần Kiếm thôi. Say quá, thật là say tới mức chỉ biết giết người chứ không ôm người được nữa."

Tiêu Phong nghĩ thầm: "Gã này tuy hiếu sắc nhưng không hồ đồ chút nào. Y biết đang lâm nguy nên cố hù dọa người ta. Thực ra y chỉ biết Nhất Dương Chỉ, còn Lục Mạch Thần Kiếm y có biết đâu, chẳng qua chỉ là hư trương thanh thế. Nếu y không còn nội lực thì làm sao sử dụng Nhất Dương Chỉ được?".

Bỗng dưng Mã phu nhân rũ người ra nói: "Chao ôi! Thiếp nhức đầu quá. Đoàn lang, hay là.. hay là.. chàng có bỏ cái gì vào rượu không đấy?" Đoàn Chính Thuần vốn dĩ nghi ngờ tình nhân bỏ thuốc mê vào rượu, nghe nói thế hết cả ngờ vực, vẫy tay nói: "Tiểu Khang, nàng lại đây. Ta có chuyện muốn nói với nàng." Mã phu nhân làm ra vẻ muốn bước lại chỗ Đoàn Chính Thuần, nhưng không đứng lên nổi, lại gục xuống bàn thở hổn hển, mặt ửng đỏ lên rồi nũng nịu nói: "Đoàn lang ơi, thiếp bước không nổi nữa rồi. Chàng sợ thiếp không chiều chuộng nên bỏ xuân dược vào rượu chứ gì? Thật chẳng đàng hoàng chi hết."

Đoàn Chính Thuần lắc đầu, chấm ngón tay vào rượu viết lên bàn: "Địch nhân ám toán, cố gắng trấn tĩnh", miệng vẫn nói cứng: "May quá, ta lại vận nội lực được rồi. Mấy chén rượu độc kia làm sao hại ta nổi?" Mã phu nhân cũng viết lên bàn: "Thật chăng?". Đoàn Chính Thuần lại viết: "Chớ tỏ ra khiếp nhược". Ông lớn tiếng nói: "Tiểu Khang, địch thủ của nàng có mấy đầu mấy tay mà dám đến kiếm chuyện với chúng ta?"

Tiêu Phong đứng ngoài cửa sổ nhìn thấy năm chữ "Chớ tỏ ra khiếp nhược", biết ngay là không ổn, nghĩ thầm: "Đoàn Chính Thuần là kẻ tinh minh đáo để, thế mà lại chết về tay con mụ này. Rõ ràng là Mã phu nhân hạ độc, mụ ta nghe ngươi hăm dọa vẫn còn biết giết người, bèn giả vờ cũng trúng độc để xem hư thực. Sao y lại dễ mắc mưu đến thế?".

Lúc đó Mã phu nhân lộ vẻ lo lắng, lại viết trên bàn: "Nội lực mất hết là thực hay giả?" nhưng mồm vẫn nói: "Đoàn lang, nếu có tên gian tặc nào đến kiếm chuyện thì thật là hay lắm. Lúc này không biết làm gì, tóm cổ chúng để giải sầu thì thật là đúng lúc. Chàng cứ ngồi yên đó, xem chúng có dám thò mặt ra không."

Đoàn Chính Thuần viết: "Chỉ mong thuốc sớm tan, địch đến chậm". Ông nói: "Phải đó! Có kẻ nào vào cho mình tiêu khiển một lúc lại càng vui. Tiểu Khang, nàng có muốn xem ta cách không điểm huyệt không nào?"

Mã phu nhân cười nói: "Thiếp chưa được xem chàng thi triển tuyệt nghệ bao giờ. Nếu chàng đã khôi phục nội lực thì sử dụng Nhất Dương Chỉ điểm thủng giấy dán cửa sổ xem nào." Đoàn Chính Thuần nhíu mày đưa mắt ra hiệu, có ý nói: "Ta mất sạch nội lực rồi, làm sao cách không điểm huyệt được? Đấy là dọa địch nhân thôi, sao nàng lại không hiểu ý?". Thế nhưng Mã phu nhân vẫn luôn mồm thúc giục: "Mau động thủ đi! Chàng chỉ cần điểm cho mảnh giấy kia thủng một lỗ nhỏ là kẻ địch chạy mất ngay. Nếu không thì chúng nhìn thấy điểm yếu của chúng ta mất."

Đoàn Chính Thuần lại càng chột dạ, nghĩ thầm: "Xưa nay nàng vẫn thông minh lanh lợi, sao bây giờ lại có ý ngớ ngẩn như thế?". Ông còn đang suy nghĩ, bỗng nghe Mã phu nhân dịu dàng nói: "Đoàn lang ơi! Chàng đã trúng phải Thập Hương Mê Hồn Tán thì dẫu bản lãnh nghiêng trời cũng mất hết nội lực. Nếu chàng điểm cách không mà thủng được một cái lỗ nơi cửa sổ thì quả là kỳ diệu quá." Đoàn Chính Thuần thất kinh hỏi: "Ta.. ta trúng phải Thập Hương Mê Hồn Tán ư? Sao nàng.. nàng lại biết?"

Mã phu nhân cười đáp: "Hì hì! Thật là vô ý quá, khi thiếp rót rượu cho chàng đã sẩy tay làm rơi một gói thuốc vào bình rượu. Chao ôi, thiếp vừa gặp lại chàng là thần hồn điên đảo, chân tay quýnh quáng, Đoàn lang ơi, chàng đừng giận thiếp nhé!"

Đoàn Chính Thuần gượng cười nói: "À, ra thế đấy! Thế thì có sao đâu?" Bây giờ ông hiểu rõ là mình đã bị Mã phu nhân chế ngự, có nổi nóng chửi rủa cũng chẳng ích lợi gì. Ông giả vờ không quan tâm, hết sức trấn tĩnh tâm thần để ứng phó với tình hình nguy hiểm. Ông suy đoán: "Nàng có thâm tình với ta, chắc không có ý hại mạng. Cùng lắm là bắt ta ở lại đây vĩnh viễn không trở về nhà nữa, nếu không thì ép ta đưa về Đại Lý, thành vợ thành chồng danh chính ngôn thuận. Thế thì chẳng qua bởi lòng si mê, hạ thủ có hơi quá đáng nhưng không phải do ý xấu." Ông nghĩ như thế liền bình tâm trở lại.

Quả nhiên Mã phu nhân lại hỏi: "Đoàn lang, chàng có bằng lòng kết nghĩa phu thê với thiếp cho tới răng long đầu bạc không?" Đoàn Chính Thuần cười nói: "Ái chà! Nàng tính toán quả là lợi hại. Thôi, ta chịu thua vậy! Sáng mai chúng ta lên đường trở về Đại Lý, ta đưa nàng vào phủ Trấn Nam Vương làm một vị phi tần."

Tần Hồng Miên và Nguyễn Tinh Trúc nghe thế đều nổi tam bành, cùng nghĩ: "Con tiện nhân này có tốt đẹp gì đâu? Sao chàng không ưng thuận ta, lại nghe lời nó?".

Mã phu nhân thở dài rồi nói: "Đoàn lang ơi! Lúc nãy thiếp mới hỏi chàng định sắp đặt cho thiếp thế nào, chàng bảo đất Đại Lý nhiều lam chướng, thiếp đến đó chỉ tổ sinh bệnh. Bây giờ chàng bị bức bách nên phải bằng lòng, chứ bản tâm có tình nghĩa gì đâu?"

Đoàn Chính Thuần cũng thở ra, nói: "Tiểu Khang nàng ơi! Ta nói cho, mà nghe, ta là hoàng thái đệ của nước Đại Lý. Vương huynh ta không có con trai, sau khi trăm tuổi rồi ta sẽ kế vị ngôi vua. Ở Trung Nguyên thì ta chỉ là một kẻ võ phu, nhưng về Đại Lý thì không phải muốn làm gì cũng được. Nàng nghĩ có phải không?" Mã phu nhân đáp: "Phải rồi! Thế thì đã sao?" Đoàn Chính Thuần nói: "Bên trong chuyện này còn nhiều chỗ khó giải quyết, nhưng nàng đã thiết tha với ta đến mức ra tay hạ độc, nên ta đành phải hồi tâm chuyển ý. Không lẽ ta không nghĩ đến cái diễm phúc ngày ngày có một mỹ nhân như nàng cận kề bầu bạn? Ta đã đồng ý đưa nàng về Đại Lý thì quyết không hối hận."

Mã phu nhân "Ồ" một tiếng nhỏ rồi nói: "Chàng nói có lý lắm. Thế sau này chàng lên ngôi đại bảo, có phong thiếp làm hoàng hậu nương nương không?" Đoàn Chính Thuần trù trừ đáp: "Ta đã có nguyên phối, ngôi hoàng hậu thật không thể cho nàng được.." Mã phu nhân đáp: "Đúng thế! Thiếp là một bà quả phụ xui xẻo, làm hoàng hậu nương nương sao được? Nếu vậy thì hàng nghìn hàng vạn dân Đại Lý phải cười đến chết mất." Nàng lại cầm chiếc lược lên, từ từ chải đầu, cười nói: "Đoàn lang! Câu chuyện lúc nãy thiếp kể cho chàng nghe, chàng đã hiểu ra ý tứ chưa?"

Đoàn Chính Thuần mồ hôi trân toát ra đầm đìa, cố trấn tĩnh tinh thần nhưng khổ nỗi công lực khổ luyện mấy chục năm trời biến đâu mất hết, khác nào người đang chết đuối, hai tay chới với không biết bám víu vào đâu, một cọng cỏ cũng không vớ được.

Mã phu nhân lại hỏi: "Đoàn lang! Chàng nóng bức lắm phải không? Để thiếp lau mồ hôi cho." Nàng lấy trong túi ra một chiếc khăn tay trắng tinh, đến trước mặt ông ta nhẹ nhàng lau mồ hôi trán, ngọt ngào nói: "Đoàn lang, chàng phải chú ý giữ gìn sức khỏe. Sau khi uống rượu dễ trúng gió lắm. Nếu trong người chàng khó chịu, thiếp cũng không khỏi đau lòng."

Tiêu ở ngoài cửa sổ, Đoàn ở trong cửa sổ, cả hai người nghe mụ nói câu này đều phát buồn nôn.

Đoàn Chính Thuần gượng cười nói: "Đêm xưa nàng toát mồ hôi đầm đìa thơm phức, ta cũng từng lau khắp người cho. Hơn chục năm nay ta vẫn giữ chiếc khăn đó bên mình làm kỷ niệm." Mã phu nhân thẹn thùng nói nhỏ: "Chàng thật không biết xấu hổ, chuyện cũ từ đời nào mà vẫn còn nhắc lại. Đâu, lấy ra cho thiếp xem nào?"

Đoàn Chính Thuần nói là hơn chục năm qua vẫn mang theo chiếc khăn cũ trong người, tưởng là câu nói mua lòng nữ nhân, không ngờ có trong túi thật. Ông được vô số phụ nữ say mê cũng có lý do, cô nào đã từng vướng víu với ông cũng nghĩ rằng ông thực lòng yêu mình nhưng chỉ vì số kiếp long đong nên không thể trọn mối lương duyên. Ông toan lấy chiếc khăn trong bọc ra, hy vọng Mã phu nhân động tâm nghĩ lại tình xưa nghĩa cũ, ngờ đâu chỉ hơi nhúc nhích được ngón tay, còn bàn tay hoàn toàn tê dại. Độc tính của Thập Hương Mê Hồn Tán quả là ghê gớm.

Mã phu nhân lại giục: "Chàng lấy cho thiếp coi đi! Không chịu đâu, chàng lại đánh lừa người ta rồi." Đoàn Chính Thuần nhăn nhó cười nói: "Ha ha! Ta say đến nỗi tay không cất lên được. Nàng lấy ra giúp ta đi." Mã phu nhân nói: "Thiếp chả mắc lừa chàng đâu. Chàng định dụ thiếp đến gần, rồi dùng Nhất Dương Chỉ giết chết chứ gì." Đoàn Chính Thuần mỉm cười đáp: "Dẫu ta có là một tên hung đồ tội ác ngập trời thì cũng chẳng nỡ dùng móng tay vạch lên khuôn mặt một vị tuyệt thế giai nhân như nàng."

Mã phu nhân cười nói: "Có thật thế chăng? Đoàn lang ơi, thiếp vẫn chưa yên tâm. Thôi để thiếp lấy dây cột hai tay chàng lại, sau đó.. sau đó, mới dùng dây tơ buộc luôn cả trái tim." Đoàn Chính Thuần đáp: "Nàng đã buộc trái tim ta rồi đấy, nếu không ta đâu có ngoan ngoãn mò tới tận đây?" Mã phu nhân cười rộ lên nói: "Chàng thật là tử tế, chả trách cái bệnh tương tư của thiếp không sao chữa cho lành được."

Nói xong, bà mở cái ngăn kéo bên cạnh giường lấy ra một cuộn dây gân bò.

Đoàn Chính Thuần càng thêm kinh hãi: "Té ra mụ ta đã chuẩn bị mọi thứ đầy đủ, còn ta từ đầu chí cuối cứ như ở trong đám mây mù, Đoàn Chính Thuần ơi là Đoàn Chính Thuần, hôm nay người mất mạng nơi đây cũng đừng trách ai nữa." Mã phu nhân nói: "Đoàn lang ơi, cho thiếp trói chân tay chàng trước. Lòng thiếp yêu thương chàng không sao kể xiết, chàng có giận thiếp không?"

Đoàn Chính Thuần biết tính Mã phu nhân hiểm độc, tuy là nữ nhân nhưng so với nam nhân bình thường còn ghê gớm hơn. Ông có chửi mắng thì mụ cũng không nổi giận, có năn nỉ thì mụ cũng chẳng hồi tâm, chỉ còn cách kéo dài thời gian, may ra có cơ hội thoát hiểm. Ông bèn cười nói: "Mỗi khi ta nhìn thấy đôi mắt long lanh của nàng là bao nhiêu giận hờn tan biến cả. Tiểu Khang ơi! Nàng lại đây, cho ta ngửi đóa hoa nhài trên tóc nàng xem có thơm không."

Hơn mười năm trước, vì câu nói tình tứ này mà Đoàn Chính Thuần đã cùng Mã phu nhân tạo nên một mối nghiệt duyên. Bây giờ ông nhắc lại chuyện xưa, Mã phu nhân lại ngả đầu vào lòng ông thật là tình tứ, dáng điệu đầy vẻ nhu mì bẽn lẽn. Bà đưa tay ve vuốt khuôn mặt tình lang, thỏ thẻ hỏi: "Đoàn lang, Đoàn lang ơi! Tối hôm đó thiếp trao thân gởi phận cho chàng, có hỏi trước rằng, giả tỷ sau này chàng ăn ở hai lòng thì sẽ ra sao?" Mắt Đoàn Chính Thuần nổ đom đóm, những giọt mồ hôi to bằng hạt đậu lăn dài trên trán. Mã phu nhân tiếp: "Hảo lang quân ơi, thân ái lang quân ơi, bạc tình lang quân ơi, chàng đã thề nguyền rồi lại quên ngay đấy ư? "

Đoàn Chính Thuần gượng cười nói: "Khi đó ta hứa sẽ để cho nàng cắn từng miếng thịt trên người." Cái câu thề thốt kia vốn dĩ là đôi nam nữ say mê đùa bỡn trong cuộc truy hoan, nhưng bây giờ Đoàn Chính Thuần nhắc đến mà không khỏi hãi hùng.

Mã phu nhân nhoẻn cười tình tứ, nói: "Đã bao nhiêu năm chàng vẫn không quên những gì đã nói cùng thiếp, quả là thành ý. Đoàn lang, thiếp định trói tay chàng lại, chẳng biết chàng có chịu hay không? Chàng bằng lòng thì thiếp mới trói, nếu không chịu thì thôi. Thiếp xưa nay không hề trái ý chàng, lúc nào cũng chỉ mong chàng được vui lòng."

Đoàn Chính Thuần hiểu rằng nếu mình không chịu cho trói cũng không được, mà không chừng mụ lại lấy cớ giở ra những trò cổ quái khác, đành gượng cười nói: "Nàng muốn trói thì cứ trói đi. Dưới khóm mẫu đơn mà bỏ mạng, chết thành quỷ sứ cũng phong lưu. Ta được chết dưới bàn tay của nàng cũng đã là khoái hoạt rồi."

Tiêu Phong ở bên ngoài cửa sổ nghe thấy câu này, phải bội phục ông ta định lực hơn người, trong lúc nguy ngập như vậy mà vẫn cười nói ung dung. Chỉ thấy Mã phu nhân bẻ quặt hai tay Đoàn Chính Thuần ra sau lưng, dùng dây gân bò trói chặt rồi thắt bảy tám cái nút. Đừng nói Đoàn Chính Thuần lúc này đã mất hết võ công, mà dẫu nội lực còn nguyên, cũng không thể nào cựa thoát được.

Mã phu nhân lại cười tình tứ nói: "Thiếp còn giận cả hai cái chân chàng, mỗi lần bước ra đi là mất hút chẳng thấy bóng hình đâu nữa." Bà ta nói xong đưa tay véo yêu vào đùi ông một cái. Đoàn Chính Thuần cười nói: "Nhưng năm xưa ta hội ngộ nàng cũng là nhờ đôi chân này mang tới. Vậy thì đôi chân này tuy có tội lớn, nhưng công cũng không nhỏ, có thể bù đắp được." Mã phu nhân nói: "Được rồi, để thiếp trói chúng lại rồi sẽ xử sau." Nói xong lại lấy một sợi dây gân bò nữa, trói nốt hai chân Đoàn Chính Thuần.

Bà ta lấy một chiếc kéo, từ từ cắt mấy lớp áo trên vai phải ông ta, để lộ làn da trắng trẻo. Đoàn Chính Thuần tuổi không còn trẻ nhưng cả đời vinh hoa phú quí, ăn uống sung sướng lại thêm nội công thâm hậu, da thịt trên vai vừa săn chắc vừa mịn màng.

Mã phu nhân đưa tay vuốt ve vai ông, ghé môi hôn nhè nhẹ lên má, từ từ lần xuống cổ, xuống vai, vừa hôn vừa rên ư ử cơ hồ không chịu đựng nổi nữa.

Đột nhiên Đoàn Chính Thuần rú lên một tiếng, tiếng rú kinh hồn xé tan màn đêm tĩnh mịch. Mã phu nhân ngửng đầu lên, miệng đầy máu tươi. Mụ đã cắn một miếng thịt trên vai Đoàn Chính Thuần đứt hẳn ra.

Mã phu nhân nhả miếng thịt xuống đất, nũng nịu: "Yêu nhau lắm, cắn nhau đau, thiếp yêu chàng quá nên mới cắn cho thỏa. Đoàn lang, đây là chính miệng chàng nói mà, nếu chàng thay lòng đổi dạ sẽ cho thiếp cắn đứt từng miếng thịt."

Đoàn Chính Thuần cười ha hả nói: "Đúng rồi! Tiểu Khang ơi, ta đã nói ra dứt khoát phải giữ lời. Cũng nhiều lúc ta nghĩ mãi mà không ra, sau này chết thế nào cho thú vị? Chết trên giường bệnh thì quá tầm thường. Bảo vệ đất nước mà chết tại chiến trường thì anh dũng đáng khen, nhưng chẳng được phong lưu, không hợp với Đoàn mỗ lúc bình thời. Tiểu Khang, hôm nay nàng nghĩ ra được cách này quả là cao minh. Ta được chết trong chiếc miệng anh đào của mỹ nhân đệ nhất thiên hạ, dưới những chiếc răng xinh xắn như trân châu kia, thật là thỏa chí bình sinh. Giả tỷ không phải Đoàn lang yêu quí của nàng mà là một người đàn ông khác, dẫu tặng nàng một kho châu báu cũng chưa chắc được nàng cắn cho một miếng. Tiểu Khang, có phải thế không nào?"

Hồn vía của Tần Hồng Miên và Nguyễn Tinh Trúc bay mất cả, biết Đoàn lang có thể mất mạng trong khoảnh khắc. Hai bà thấy Tiêu Phong vẫn đứng yên bên cửa sổ, không hề ra tay cứu viện, trong bụng mắng thầm chứ chẳng làm gì được.

Tiêu Phong vẫn chưa rõ bản ý của Mã phu nhân ra sao, chẳng hiểu mụ ta muốn giết Đoàn Chính Thuần thật, hay chỉ hăm dọa để từ rày ông ta không thay lòng đổi dạ, mà cũng có thể đây là một trò phong nguyệt mới cho thêm phần hứng thú. Giả tỷ hai người đùa cợt với nhau chốn phòng the, mà mình lại lỗ mãng xông vào là mất đi cơ hội thám thính tin tức. Chàng vẫn trầm tĩnh đứng yên xem tình hình biến chuyển thế nào.

Mã phu nhân cười nói: "Đúng thế! Thiên tử Đại Tống hay hoàng đế Khất Đan muốn giết thiếp thì dễ, chứ muốn thiếp cắn một cái thì đừng hòng. Đoàn lang ơi, thiếp định bụng cắn chàng từ từ cho tới chết, muốn cắn hàng ngàn hàng vạn miếng mới tỏ hết tình yêu, nhưng lại e thuộc hạ chàng hiểu lầm mà đến cứu. Thôi đành thế này, thiếp cắm một con dao nhỏ vào chỗ tim chàng, chỉ đâm sâu nửa tấc để chàng không chết, giả tỷ có ai phá rối, thiếp chỉ nhấn vào cán dao một cái là chàng hoàn thành tâm nguyện, không còn phải đau đớn gì nữa" Mụ vừa nói vừa lấy ra một thanh trủy thủ sáng loáng, rạch áo trước ngực Đoàn Chính Thuần, để mũi dao đúng ngay chỗ tim đập, rồi bàn tay nhỏ nhắn khẽ ấn xuống, cắm con dao vào ngực, quả nhiên chỉ nhấn vào một chút rồi thôi.

Đoàn Chính Thuần không kêu tiếng nào, thấy máu rỉ ra nơi ngực bèn nói: "Tiểu Khang ơi, mười ngón tay nàng so với hồi mười bảy tuổi còn trắng trẻo nhẵn nhụi hơn nhiều."

Khi Mã phu nhân cầm trủy thủ đâm vào ngực Đoàn Chính Thuần, Tiêu Phong nhìn tay mụ không chớp mắt, nếu thấy ngay đến tính mạng Đoàn Chính Thuần thì lập tức phóng chưởng đánh văng mụ ra. Nhưng chàng thấy mụ chỉ ấn vào nhè nhẹ nên cứ mặc kệ.

Mã phu nhân nói: "Hồi thiếp mười bảy tuổi, ngày ngày phải giặt giũ nấu ăn, dĩ nhiên bàn tay da dẻ sần sùi. Mấy năm nay không phải làm việc nặng, da dẻ cũng mịn màng hơn, Đoàn lang! Miếng thứ hai thiếp phải cắn vào đâu? Chàng bảo cắn chỗ nào thiếp sẽ cắn chỗ đó, phục tùng chàng thật là ngoan ngoãn."

Đoàn Chính Thuần cười nói: "Tiểu Khang, sau khi nàng cắn chết ta rồi, hồn ta sẽ luôn luôn quấn quít bên nàng." Mã phu nhân hỏi: "Để làm gì?" Đoàn Chính Thuần nói: "Hễ vợ mà mưu sát chồng thì linh hồn chồng vất vưởng không tan, cứ loanh quanh bên vợ để giữ không cho người đàn ông khác đến vui vầy."

Đoàn Chính Thuần chỉ định dọa cho mụ nao núng, không chừng không dám ra tay độc ác nữa. Ngờ đâu Mã phu nhân lại biến sắc mặt, quay lại nhìn sau lưng. Đoàn Chính Thuần nhân cơ hội nói: "Ồ, gã nào đứng sau lưng nàng thế kia?" Mã phu nhân hoảng hốt nói: "Làm gì có ai nào? Chàng chỉ nói lăng nhăng." Đoàn Chính Thuần nói: "Hừ! Rõ ràng có một người đàn ông đang đứng nhìn nàng, gã đang sờ vào cổ họng, dường như đau đớn lắm. Ta chẳng biết gã là ai, chỉ thấy y phục rách rưới, nước mắt chảy không ngớt."

Mã phu nhân vội quay lại mà có thấy ai đâu, run giọng nói: "Ngươi.. nói láo, ngươi nói láo!"

Ban đầu Đoàn Chính Thuần chỉ thuận miệng nói nhăng nói cuội, nhưng thấy mụ kinh hoảng lạ thường, lập tức nghi ngờ, đoán rằng cái chết của Mã Đại Nguyên hẳn là không minh bạch. Ông biết Mã Đại Nguyên chết vì Tỏa Hầu Cầm Nã Thủ nên cố ý nói người đó đau đớn ở cổ họng, chảy nước mắt, y phục rách rưới, quả nhiên Mã phu nhân càng khiếp đảm hơn. Đoàn Chính Thuần đã đoán được mấy phần, nói tiếp: "Ô hay! Lạ quá! Gã kia chớp mắt đã biến đâu mất rồi, không thấy đứng đó nữa. Hắn là ai vậy?"

Vẻ mặt Mã phu nhân hết sức kinh khủng nhưng chỉ giây lát mụ đã trấn tĩnh được, bèn nói: "Đoàn lang! Hôm nay đã đến nước này, chàng còn dọa thiếp để làm gì? Hay là chàng không rủa xả thiếp vài câu thì chết không yên? Đôi ta đã vui thú xong rồi, bây giờ thiếp sẽ tống tiễn chàng đi một cách mau lẹ khoan khoái." Mụ vừa nói vừa bước tới một bước, đưa tay toan nắm lấy chuôi dao đâm vào.

Đoàn Chính Thuần muốn kéo dài thời gian thêm chút nữa cũng không được. Ông trợn trừng hai mắt nhìn ra sau lưng Mã phu nhân, kêu toáng lên: "Mã Đại Nguyên! Mã huynh đệ mau bóp chết mụ vợ sát phu đi!"

Mã phu nhân thấy khuôn mặt ông ta kinh hãi lạ thường, lại gọi tên Mã Đại Nguyên, bất giác giật mình, quay đầu nhìn lại. Đoàn Chính Thuần dồn hết sức húc đầu một cái, trúng ngay cằm Mã phu nhân khiến mụ ta lăn xuống đất, ngất đi.

Cái húc của Đoàn Chính Thuần hoàn toàn không có chút nội lực nào. Mã phu nhân chỉ ngất đi một chút rồi tỉnh lại ngay. Mụ đứng lên, xuýt xoa vỗ vỗ quai hàm, cười nói: "Đoàn lang ơi! Chàng nựng nịu thiếp mạnh thế, đụng phải chỗ này đau ơi là đau. Thiếp biết rồi, chàng chỉ đặt điều hăm dọa, không thèm mắc mưu nữa đâu."

Đoàn Chính Thuần từ nay đến giờ tích tụ được bao nhiêu sức lực đã dồn hết vào cái húc, buông tiếng thở dài, nghĩ thầm: "Mạng ta đến đây là hết, chẳng còn gì để nói nữa." Ông chợt nghĩ ra một điều, lại hỏi: "Tiểu Khang ơi, nàng định giết ta thật ư? Thế sau này người trong Cái Bang đến truy vấn cái tội mưu sát thân phu thì ta còn đâu mà giúp đỡ nàng?"

Mã phu nhân cười khúc khích nói: "Ai dám bảo là thiếp mưu sát thân phu? Chàng có phải là lang quân thiếp đâu? Nếu chàng quả là chồng thiếp, thiếp yêu thương chiều chuộng chàng còn chưa đủ, lẽ đâu lại gia hại chàng? Thiếp giết chàng rồi sẽ lập tức cao chạy xa bay, chứ nếu ở lại đây, bọn thuộc hạ Đại Lý của chàng đi tìm thì thiếp biết đối phó làm sao?" Mụ thở dài nói tiếp: "Đoàn lang, thiếp yêu chàng chân thật, thương nhớ chàng vô bờ bến, lúc nào cũng mong được ôm chàng, hôn chàng, nựng nịu chàng thôi. Chỉ vì thiếp không có được chàng, không được ăn thì đạp đổ, đó là cái tính trời sinh của thiếp chứ không còn cách nào khác."

Đoàn Chính Thuần nói: "Ồ, thì ra lý do là thế! Thảo nào hôm trước nàng cố ý đánh lừa cô gái kia, muốn mượn tay Kiều Phong giết ta." Mã phu nhân nói: "Đúng thế! Thằng cha Kiều Phong thật là vô dụng, có cái việc giết chàng mà gã làm cũng không xong, để chàng chạy mất."

Tiêu Phong trong bụng không ngớt tự hỏi: "A Châu giả trang làm Bạch Thế Kính thần diệu vô song, ngay cả ta cũng nhìn không ra, Mã phu nhân cùng Bạch Thế Kính có thân thiết gì đâu, sao mụ lại phát hiện được nhỉ?".

Mã phu nhân lại nói tiếp: "Đoàn lang ơi! Thiếp lại muốn cắn chàng một miếng nữa." Đoàn Chính Thuần mỉm cười: "Nàng cứ cắn đi, ta sung sướng lắm." Tiêu Phong thấy không thể chần chờ được nữa, chàng đặt bàn tay lên vách chỗ sau lưng Đoàn Chính Thuần, ngầm vận kinh lực. Bức vách đất chẳng kiên cố gì, bàn tay Tiêu Phong từ từ xuyên thủng qua không một tiếng động, rồi đặt lên lưng Đoàn Chính Thuần.

Ngay lúc đó, Mã phu nhân đã ngoạm một miếng thịt nữa trên vai Đoàn Chính Thuần, ông ta kêu rủ lên, vùng vẫy, đột nhiên thấy hai tay đã tự do. Thì ra Tiêu Phong đã cấu đứt dây trói nơi cổ tay, đồng thời dồn một luồng nội lực cực kỳ hùng hậu vào kinh mạch của ông.

Đoàn Chính Thuần giật mình, biết ngay bên ngoài có cao thủ đến giúp đỡ. Khí tùy theo ý mà chuyển, luồng nội lực ngoại viện từ sau lưng được dẫn vào cánh tay, truyền tới ngón tay, nghe xoẹt một tiếng nhỏ, thần công Nhất Dương Chỉ đã phóng ra. Mã phu nhân bị trúng chỉ vào mạng sườn, rú lên một tiếng rồi gục ngay xuống giường.

Tiêu Phong thấy Mã phu nhân đã bị chế ngự rồi, lập tức rút tay về, Đoàn Chính Thuần đang toan mở miệng tạ ơn, bỗng dưng cửa mở tung ra, một người chạy vào nói: "Tiểu Khang! Nàng không cắt đứt được mối tình xưa thật ư? Sao đến mãi giờ này vẫn chưa thanh toán xong xuôi?"

Tiêu Phong từ bên ngoài nhìn thấy gã kia, lập tức thẫn thờ, đờ người ra. Chàng vừa kinh hoàng lại vừa tức tối, bao nhiêu nghi vấn trong đầu đều được giải quyết trong chớp mắt. Hôm đó tại khu rừng hạnh ngoài thành Vô Tích, Mã phu nhân lấy ra chiếc quạt của chàng, vu cáo chàng lẻn vào Mã gia ăn trộm thư rồi vội vã bỏ rơi. Cái quạt đó ở đâu ra? Chắc chắn phải có người ăn trộm của chàng, đó phải là người rất thân cận, là ai? Chàng là người Khất Đan, điều này đã được các vị tiền bối giấu kín bao nhiêu năm, sao lại đột nhiên bị tiết lộ? A Châu cải trang thành Bạch Thế Kính, đến chàng cũng không nhìn ra, Mã phu nhân sao lại phát hiện được?

Thì ra, kẻ vừa vào phòng chẳng phải ai xa lạ, chính là Chấp pháp trưởng lão Bạch Thế Kính của Cái Bang.

Mã phu nhân kinh hãi ấp úng: "Y.. y chưa mất hết võ công, điểm.. điểm huyệt ta rồi." Bạch Thế Kính nhảy vọt tới chộp hai cổ tay Đoàn Chính Thuần, nghe lách cách mấy tiếng đã vặn trật khớp. Đoàn Chính Thuần chẳng có cách nào kháng cự, nội lực Tiêu Phong truyền vào người chỉ giữ được một tí, Tiêu Phong vừa rụt tay về là ông lại trở thành phế nhân.

Từ lúc Tiêu Phong trông thấy Bạch Thế Kính, nhất thời bao nhiêu ý nghĩ nổi lên như sóng cồn. Chàng chưa tính tới chuyện ra tay giúp Đoàn Chính Thuần, cũng không ngờ Bạch Thế Kính hạ độc thủ ngay, đến lúc nghĩ ra thì hai cổ tay Đoàn Chính Thuần đã gãy mất. Chàng nghĩ bụng: "Gã này phong lưu hiếu sắc, hôm nay cho y nếm mùi đau khổ cũng đáng kiếp. Ta nể mặt A Châu thì cũng chờ đến lúc tối hậu sẽ cứu mạng y."

Bạch Thế Kính nói: "Họ Đoàn kia! Bản lĩnh ngươi kể cũng khá đấy, đã uống Thập Hương Mê Hồn Tán mà nội lực vẫn còn lại mấy phần."

Đoàn Chính Thuần chưa hiểu người ở bên ngoài giúp mình là ai, nhưng biết nhân vật này có bản lĩnh ghê gớm. Tuy trước mắt có thêm cường địch, nhưng sau lưng đã có đại viện, trong lòng ông chẳng chút hoang mang. Ông biết rằng Bạch Thế Kính không hiểu có người ám trợ mình, bèn hỏi lại: "Phải chăng tôn giá là trưởng lão trong Cái Bang? Tại hạ cùng tôn giá chưa từng quen biết, sao lại hạ độc thủ đến thế?"

Bạch Thế Kính không đáp, bước tới cạnh Mã phu nhân, đưa tay xoa bóp mấy cái dưới mạng sườn. Nhưng công phu điểm huyệt của họ Đoàn cực kỳ thần diệu, Bạch Thế Kính võ công không tệ nhưng cũng không giải huyệt được. Y chau mày hỏi: "Nàng thấy trong người sao rồi?" Giọng nói cực kỳ lo lắng. Mã phu nhân đáp: "Chân tay thiếp bị tê liệt không nhúc nhích được. Thế Kính, chàng thanh toán hắn mau đi, rồi đôi ta mau thoát khỏi đây. Thiếp không muốn ở trong căn nhà này nữa."

Đoàn Chính Thuần đột nhiên buông một tràng cười ròn rã: "Ha ha! Ha ha! Tiểu Khang! Nàng.. nàng.. chẳng tiến bộ chút nào cả! Ha ha! Ha ha!"

Mã phu nhân mỉm cười nói: "Đoàn lang vẫn cao hứng lắm nhỉ, chết đến gáy rồi mà vẫn còn cười sung sướng thế ư?

Bạch Thế Kính nổi sùng la lên:" Ngươi vẫn gọi y là Đoàn lang kia à? Đồ tiện nhân lăng loàn! "Y xoay tay tát Mã phu nhân một cái thật mạnh. Khuôn mặt trắng trẻo của mụ ta lập tức sưng vù, nước mắt ràn rụa.

Đoàn Chính Thuần quát lên:" Ngừng tay! Sao ngươi lại đánh nàng? "Bạch Thế Kính cười nhạt hỏi lại:" Ngươi làm gì được ta? Thị là người của ta, ta muốn đánh là đánh, muốn chửi là chửi. "Đoàn Chính Thuần nói:" Một mỹ nhân như hoa như ngọc, vậy mà ngươi nỡ giở thói vũ phu. Dẫu nàng có thuộc về ngươi, thì ngươi cũng phải đối xử sao cho nàng được vui lòng mới phải chứ? "

Mã phu nhân nhìn Bạch Thế Kính nói:" Người ta đối với thiếp như thế, còn chàng sao lại phũ phàng mà không biết thẹn? "Thanh âm mụ vẫn đầy vẻ lẳng lơ.

Bạch Thế Kính lại chửi:" Đồ dâm phụ này không trị không được. Tên họ Đoàn ngu dốt kia, ta đếch thèm tin ngưoi. Ngươi giỏi tài nịnh gái, sao để gái hại đến nông nỗi này? Thôi, ngày này sang năm là giỗ đầu của ngươi rồi. "Y nói xong hung hăng tiến tới, đưa tay định ấn sâu lưỡi trủy thủ vẫn cắm trên ngực Đoàn Chính Thuần từ trước.

Bàn tay Tiêu Phong đã thò qua lỗ hổng trên tường, chỉ đợi Bạch Thế Kính tiến thêm nửa bước là phóng chưởng ngay. Đột nhiên một cơn gió mạnh đập vào cửa, rồi một luồng kình phong thổi vù một tiếng, hai ngọn nến lập tức tắt phụt, trong phòng tối đen như mực.

Mã phu nhân kinh hãi rú lên. Bạch Thế Kính biết là có kẻ địch mới vào, lúc này không rảnh tay giết Đoàn Chính Thuần mà phải nghênh địch trước. Y bèn quát lên:" Ai đó? ", đưa song chưởng lên bảo vệ trước ngực rồi xoay người lại.

Kình phong thổi tắt hai ngọn nến rõ ràng là do một nhân vật bản lĩnh tuyệt cao phóng ra, nhưng sau khi nến tắt rồi vẫn không nghe động tĩnh gì. Cả bốn người Bạch Thế Kính, Đoàn Chính Thuần, Mã phu nhân, Tiêu Phong đều ngưng thần, lờ mờ thấy có thêm một người nữa trong nhà.

Mã phu nhân không nén nổi, kêu rú lên:" Có người! Có người! "Chỉ thấy người đó chắn ngay cửa, hai tay buông xuôi, mặt mũi không nhìn rõ, chỉ đứng sừng sững không nhúc nhích gì, Bạch Thế Kính quát hỏi:" Ai đó? "Y tiến lên một bước, người kia vẫn lặng thinh không nói cũng không cử động. Bạch Thế Kính lại quát:" Không trả lời thì tại hạ không nể mặt nữa đâu. "Bạch Thế Kính thấy người lạ quạt tắt hai ngọn nến, biết y võ công cực kỳ cao cường, không dám hấp tấp ra tay. Trong bóng đêm tối mò, người kia vẫn bất động tựa như ma quỉ.

Mã phu nhân lại rít lên:" Chàng đốt đèn lên đi! Thiếp sợ lắm! "Bạch Thế Kính quát trả:" Con dâm phụ kia, sao mà ngu thế? "Y nói thế vì nếu quay sang thắp đèn là đưa lưng cho địch, thành thử vẫn thủ thế hai tay giữ ngực chờ kẻ địch xuất thủ trước. Ngờ đâu người kia vẫn đứng yên, mọi người cứ nhìn nhau như thế khoảng thời gian uống một chén trà. Tiêu Phong dĩ nhiên không lên tiếng, cả Đoàn Chính Thuần cũng lặng thinh. Bốn bề tĩnh mịch như tờ, nghe thấy được cả tiếng từng bông tuyết rơi chạm đất.

Sau cùng Bạch Thế Kính không nhịn nổi, kêu lên:" Các hạ đã không trả lời, ta đành phải mạo phạm. "Y ngừng lại một chút, thấy đối phương vẫn không cục cựa, bèn thò tay vào bọc lấy ra một cây phá giáp cương trùy, tung mình nhảy tới.

Trong bóng đêm chỉ thấy ánh sáng lấp loáng, cây dùi thép nhằm đâm vào ngực người kia, y nghiêng người tránh được. Đột nhiên Bạch Thế Kính thấy một luồng gió ép tới, mấy ngón tay đối phương nhằm cổ họng mình chụp xuống. Chiêu đó nhanh quá, Bạch Thế Kính chưa kịp thu cương trùy về thì năm đầu ngón tay đối phương đã đụng vào cổ họng mình. Lão hồn vía lên mây, hốt hoảng nhảy vọt ra sau tránh kịp, run run hỏi:" Ngươi.. ngươi.. "

Y sợ đến chết người, không phải vì đối phương võ nghệ cao cường, mà vì chiêu số vừa rồi chính là Tỏa Hầu Cầm Nã Thủ. Đó là tuyệt kỹ gia truyền của Mã Đại Nguyên, ngoại trừ con cháu Mã gia không ai biết, chỉ vì Bạch Thế Kính chơi thân với Mã Đại Nguyên đã lâu nên hiểu rõ võ công gia số của y. Lưng Bạch Thế Kính toát mồ hôi lạnh ngắt, chăm chăm nhìn, chỉ thấy kẻ kia thân hình cao lớn chẳng khác gì Mã Đại Nguyên, nhưng trong bóng tối không trông rõ mặt. Người kia vẫn không hé răng, quanh y tỏa ra không khí lạnh lùng như ma như quỉ, Bạch Thế Kính thấy cổ họng ngâm ngẩm đau, chắc hẳn bị móng tay quệt phải. Y cố định thần, cất tiếng hỏi:" Phải chăng tôn giá ở họ Mã? "Người kia vẫn như câm điếc, không nói không rằng.

Bạch Thế Kính quát:" Con tiện nhân, mau đốt đèn cầy lên. "Mã phu nhân nói:" Thiếp không cử động được, chàng thắp lên đi. "Bạch Thế Kính vẫn e dè sợ sệt, không dám quay lưng cho người ta thừa cơ tấn công. Y lại nghĩ:" Rõ ràng võ công người này cao hơn ta, giả tỷ y muốn cứu Đoàn Chính Thuần thì đâu cần đợi người giúp? Sao y chỉ tấn công một chiêu rồi không truy kích nữa? "

Tất cả lại yên lặng một hồi lâu, Bạch Thế Kính đột nhiên phát giác ra một điều kỳ quái. Trong phòng không ai nói năng cử động, tiếng hô hấp mỗi người có thế nghe rõ. Mã phu nhân cũng thở, Đoàn Chính Thuần cũng thở, chính y cũng thở nhưng người đối diện lại tuyệt nhiên không phát ra hơi thở.

Bạch Thế Kính nín hơi nghe ngóng. Y nội lực cao thâm, công phu tu tập đã dày, có thể nghe được tiếng hô hấp của bất kỳ ai, nhưng người trước mặt thật sự không hô hấp gì cả. Một lúc lâu sau, người kia vẫn không thở, nếu là người sống thì làm sao có thể không hô hấp? Bạch Thế Kính bắt đầu nghe tiếng tim mình đập mỗi lúc một rõ, lồng ngực rung động mạnh, trái tim tưởng như muốn nhảy ra ngoài. Y không nhẫn nại nổi, quát lên một tiếng xông vào, vung trùy đâm tới tấp vào mặt đối phương.

Người kia vung tay trái gạt Bạch Thế Kính ra ngoài, tay phải nhanh như chớp chộp thẳng vào yết hầu y. Bạch Thế Kính đã đề phòng đối phương sử dụng Tỏa Hầu Cầm Nã Thủ, liền hụp đầu xuống, lòn dưới nách đối phương để tránh. Người kia không đuổi theo, vẫn đứng trơ trơ ở ngạch cửa như một bức tượng. Bạch Thế Kính lại phóng trùy đâm vào đùi đối phương, y vọt thẳng lên để tránh.

Mã phu nhân thấy người kia thân hình cứng đơ, lúc nhảy lên không co đầu gối. Bất giác mụ la hoảng:" Quỉ nhập tràng! Quỉ nhập tràng! "

Gã kia nặng nề rơi xuống, chân chạm đất nghe" bịch "một tiếng. Bạch Thế Kính sợ nổi da gà, tự hỏi:" Giả tỷ người này là cao thủ võ học, lẽ nào nhảy lên rơi xuống lại vụng về như que củi? Không lẽ trên thế gian có quỉ nhập tràng thực ư? ".

Bạch Thế Kính hơi nhợn, nhưng rồi lại xông lên, chiếc trùy đâm vùn vụt luôn ba nhát vào hạ bàn. Người kia quả nhiên đầu gối cứng ngắc không gập lại được, người ngay đơ nhảy lên tránh đòn. Xem chừng y không thể bước được. Bạch Thế Kính đâm bên trái, y nhảy qua bên phải, đâm bên phải, y lại nhảy qua bên trái mà né tránh. Bạch Thế Kính phát giác được nhược điểm của đối phương rồi, trong lòng bớt sợ nhưng càng để ý càng nhận thấy đây không phải là người sống. Lão mấy lần thay đổi thế trùy cho biến ảo tinh diệu, nhưng thân pháp đối phương tuy vụng về mà vẫn không sao đâm trúng được.

Đột nhiên, Bạch Thế Kính cảm thấy sau gáy mát rượi, một bàn tay to tướng lạnh như băng đè lên cổ lão. Lão giật mình, xoay trùy đâm ngược lại." Vèo "một tiếng, ngọn trùy đâm vào quãng không, bàn tay to lớn của người kia đã chộp được gáy lão rồi. Toàn thân Bạch Thế Kính liền mềm nhũn không còn cử động được nữa, chỉ còn thở lên hồng hộc. Mã phu nhân sợ quá la hoảng:" Thế Kính! Thế Kính! Chàng ra sao rồi? "Bạch Thế Kính chẳng còn hơi sức mà trả lời, chỉ thấy nội lực toàn thân theo bàn tay to lớn đang nắm nơi cổ mà tuôn ra.

Lại một bàn tay to tướng nữa cứng như sắt, lạnh như băng, sờ lên mặt Bạch Thế Kính, đó quả không phải tay người, không có một chút hơi ấm nào. Bạch Thế Kính nhịn không nổi, cố kêu lên:" Quỉ nhập tràng! Quỷ nhập tràng! "Thanh âm lão cực kỳ thê thảm rùng rợn. Bàn tay từ trên trán từ từ vuốt dọc xuống, đến ngang mắt thì dừng lại, hai ngón tay sờ sờ vào mí mắt. Bạch Thế Kính sợ muốn ngất đi, đối phương chỉ nhấn mạnh một chút là đôi tròng mắt bị móc ra. Thế nhưng bàn tay lạnh buốt đó lại từ từ sờ xuống dưới, đến mũi, đến miệng, lại từ từ sờ xuống dưới, sau cùng ngừng lại nơi yết hầu. Hai ngón tay lạnh ngắt kẹp vào yết hầu y, từ từ xiết lại.

Bạch Thế Kính sợ đến nửa mê nửa tỉnh, kêu lên:" Đại Nguyên huynh đệ! Tha mạng cho ta! Tha mạng cho ta! "Mã phu nhân hét lên:" Chàng.. chàng nói gì thế? "Bạch Thế Kính tiếp tục năn nỉ:" Đại Nguyên huynh đệ ơi! Mọi sự đều do chủ ý của con dâm phụ này, nó bắt ta phải làm, chứ ta.. chứ ta không can dự gì đến. "Mã phu nhân giận dữ nói:" Chủ ý của ta thì đã sao nào? Mã Đại Nguyên! Hồi ngươi sống trên thế gian cũng chỉ là cái bị thịt, chết đi thì làm được cái quái gì? Lão nương không sợ ngươi đâu? "

Bạch Thế Kính thấy khi mình mở miệng kể tội tình nhân thì cổ họng dễ thở một tí, nhưng vừa ngậm miệng thì bàn tay băng giá lại từ từ bóp vào. Lão nghe Mã phu nhân cũng gọi tên Mã Đại Nguyên, lại càng tin đây chính là quỉ nhập tràng, liền kêu lớn:" Đại Nguyên huynh đệ! Tha mạng cho ta! Phu nhân của huynh đệ coi trộm di lệnh của Uông bang chủ, năm lần bảy lượt kêu huynh đệ tiết lộ bí mật thân thế của Kiều Phong, huynh đệ nhất định không chịu nên mụ ta.. mụ ta mới nảy ra ý gia hại. "

Tiêu Phong đứng ngoài nghe mà choáng váng. Chàng không tin thế gian này có quỉ thần, đoán rằng người bí mật kia là một cao thủ võ lâm, cố ý giả thần lộng quỉ để cho Mã phu nhân và Bạch Thế Kính khiếp sợ hoang mang, phun ra những điều ám muội. Quả nhiên Bạch Thế Kính vì khủng hoảng mà thú nhận, theo lời y thì Mã Đại Nguyên bị hai người giết hại. Mã phu nhân chủ mưu hạ sát thân phu, chính là vì mụ muốn tiết lộ thân thế chàng nhưng Mã Đại Nguyên không chịu. Rồi chàng tự hỏi:" Sao bà ta lại căm hận mình đến thế? Vì cớ gì mụ quyết lật đổ mình? Giả tỷ mụ muốn lang quân lên làm bang chủ thì sao lại giết đi? "

Mã phu nhân rít lên:" Mã Đại Nguyên! Ngươi lại bóp chết ta đi! Ta chán cái thứ vô dụng như ngươi lắm rồi, đồ tiểu quỉ chẳng làm được chuyện gì? "

Nghe thấy tiếng sào sạo nho nhỏ, chỗ xương sụn nơi cổ họng Bạch Thế Kính đã bị bóp vỡ một miếng. Bạch Thể Kính vùng vẫy hết sức nhưng không sao giãy ra được, tiếp theo lại có tiếng bùng bục, cổ họng lão đã bị bứt đứt. Lão muốn gào lên nhưng không hút khí vào phổi được, hai tay quơ loạn lên một lúc rồi tắt thở.

Người kia giết xong Bạch Thế Kính, xoay mình một cái đã biến mất không thấy hình bóng đâu nữa. Tiêu Phong chợt động tâm nghĩ thầm:" Người này là ai? Ta phải đuổi theo tìm hiểu cho minh bạch ". Chàng lập tức phóng ra cửa, thấy một bóng người lờ mờ đang lướt vun vút về hướng đông bắc dưới ánh trăng chiếu lên nền tuyết trắng xóa, nếu không phải nhãn lực cực tốt thì không sao thấy được.

Tiêu Phong lẩm bẩm:" Thân pháp thật là ghê gớm. "Chàng cúi xuống vỗ vào vai A Tử đang nằm dưới chân để giải huyệt, nghĩ thầm:" Mã phu nhân không biết võ công, tiểu cô nương này thừa sức giải cứu phụ thân. "Chàng không kịp giải huyệt cho ba người kia, vội vàng rảo bước phóng theo người bí mật.

Tiêu Phong ra sức chạy thật nhanh, đến khi khoảng cách còn hơn chục trượng mới nhìn rõ. Đây quả là một võ lâm cao thủ, bây giờ đôi chân không còn cứng đơ như quỷ nhập trang nữa, bộ pháp khinh khoái chăng khác gì lướt trên mặt tuyết. Võ công của Tiêu Phong bắt nguồn từ phái Thiếu Lâm, lại được Uông bang chủ của Cái Bang dạy dỗ, thuần túy dương cương. Khi chàng ra sức chạy nhanh, cứ mỗi bước thì thân hình vọt lên không trung rồi tung mình tới, mỗi lần xa hơn một trượng. Tư thế không tiêu sái tuấn nhã, nhưng chạy đường trường thật là hiệu quả, chàng cố đuổi một lúc khoảng tàn nửa nén nhang, cự ly chỉ còn chừng một trượng.

Tốc độ người đằng trước đột nhiên tăng vọt lên, thay đổi thân pháp chẳng khác gì cánh buồm thuận gió xuôi dòng, chốc lát đã bỏ Tiêu Phong lại một quãng xa. Tiêu Phong kinh hãi nghĩ thầm:" Người này quả là giỏi thật, phải vào hạng nhất nhì trong võ lâm, hèn gì chỉ cất tay là giết được Bạch Thế Kính. "

Tiêu Phong là một kỳ tài võ học thuộc loại trời sinh. Hai vị sư phụ của chàng Huyền Khố đại sư cùng Uông bang chủ võ công cao cường thật, song cũng chưa phải nhân vật đặc biệt. Võ công chàng vượt xa cả hai sư phụ, chẳng khác nào màu xanh xuất từ màu lam mà đẹp hơn màu lam, những chiêu thức bình thường vào tay chàng sử dụng cũng phát sinh uy lực ghê gớm. Những người biết chàng đều bảo đấy là do thiên phú, không thể do truyền thụ hay khổ luyện mà được. Bản thân Tiêu Phong cũng không hiểu tại sao, nhưng chiêu nào chàng đã học là biết, đã biết là tinh tường, đến khi lâm địch lại tự nhiên biến hóa một cách xảo diệu. Có điều ngoài võ học ra, bất cứ đọc sách hay thủ công gì gì, chàng cũng chỉ vào hạng bình thường chẳng có chi đặc biệt hơn người. Bình sinh Tiêu Phong ít gặp địch thủ, nhiều người nội lực tham hậu hơn, chiều số biến hóa hơn chàng, nhưng khi chiến đấu thật sự đến lúc khẩn yếu, đều thất bại dưới tay chàng chỉ một chiêu nửa thức. Tuy họ thua mà vẫn tâm phục khẩu phục, biết mình không phải là địch thủ, nên trước nay chưa có ai đi kiếm chàng để trả thù rửa hận.

Lúc này bỗng dưng Tiêu Phong gặp được một địch thủ khinh công cao cường như thế, bất giác hùng khí bốc lên ngùn ngụt, chàng gia tăng cước bộ vọt lên. Hai người một trước một sau chạy vùn vụt về hướng đông bắc. Tiêu Phong thủy chung vẫn không sao đuổi kịp mà người kia cũng không bứt đi được. Một giờ, rồi hai giờ sau, hai người đã chạy trên một trăm dặm nhưng khoảng cách hai bên vẫn như cũ.

Lại thêm nửa giờ nữa, trời bừng sáng, tuyết cũng đã ngưng đổ, có tiếng gà gáy xao xác. Tiêu Phong nhìn thấy xa xa dưới chân núi có một thị trấn nhà cửa san sát như bát úp. Chàng nổi cơn thèm rượu bèn cất tiếng gọi to:" Vị huynh đài chạy trước ơi! Ta mời các hạ uống hai chục bát rượu, rồi lại chạy nữa, được chăng? "Người kia không đáp, lại càng chạy nhanh hơn, Tiêu Phong cười nói:" Các hạ ra tay hạ thủ tên gian phu Bạch Thế Kính, thực là một bậc anh hùng hảo hán. Tiêu mỗ chịu thua, khinh công không bằng được. Chúng ta đi uống rượu, không tỉ thí nữa, được không? "Tuy vừa chạy vừa nói nhưng bước chân chàng vẫn không chậm lại chút nào.

Người kia đột nhiên dừng bước, nói:" Kiều Phong uy chấn giang hồ, quả nhiên danh bất hư truyền. Miệng nói mà chân khí vẫn vận dụng được như thường, thực là anh hùng, thực là hào kiệt. "

Tiêu Phong nghe thanh âm ông ta mơ hồ không rõ, nhưng dường như hơn tuổi mình nhiều, liền nói:" Tiền bối quá khen! Vãn bối trèo cao, muốn được kết giao bằng hữu, chẳng hiểu tiền bối có vui lòng chăng? "Người kia thở dài:" Ta già rồi, chẳng được việc gì nữa. Ngươi đừng đuổi nữa, chỉ chạy thêm một giờ là ta phải chịu thua. "Lão dứt lời liền chậm rãi đi thẳng.

Tiêu Phong định chạy theo nói chuyện thêm, nhưng chỉ một bước đã dừng lại, nghĩ bụng:" Y đã bảo ta đừng đuổi nữa ". Chàng nghĩ đến quần hào Trung Nguyên coi mình chẳng ra gì, e rằng người này cũng khinh bỉ dân Khất Đan, đành đứng nhìn theo bóng y dần dần mất hút vào rừng cây, trong bụng cảm thán:" Người này khinh công tuyệt diệu, nội lực có thừa. Mình chưa được thấy mặt thực là đáng tiếc. "Chàng lại nghĩ:" Thanh âm của y mơ hồ, hiển nhiên cố ý đổi giọng cho ta khỏi nhận ra. Đến cả tiếng nói y còn không cho mình biết, huống chi là nhìn mặt? ".

Tiêu Phong đứng thẫn thờ một lúc mới đi vào thị trấn, tìm một tửu điếm nhỏ gọi rượu ngồi uống, cứ một hai bát lại vỗ bàn than thở:" Hảo nam nhi? Hảo hán tử! Đáng tiếc! Đáng tiếc! "

Tiêu Phong nói" hảo nam nhi, hảo hán tử "là khen ngợi người kia võ nghệ cao cường, hạ sát tên gian nhân Bạch Thế Kính thật là gọn ghẽ, còn" đáng tiếc "là cảm khái mình không được giao kết cùng y. Xưa nay chàng quý bằng hữu như tính mạng, từ ngày ra khỏi Cái Bang, kết thâm cừu với quần hào Trung Nguyên, bao nhiêu bằng hữu trước đây mất sạch. Chàng trong bụng u uất buồn phiền, hôm nay được gặp một anh hùng võ công không kém gì mình, mà vô duyên không được kết giao, đành uống rượu tiêu sầu. Thế nhưng bao nhiêu nghi vấn tích chứa bấy lâu nay đã giải quyết gần hết, trong lòng cũng có phần nhẹ nhõm.

Tiêu Phong uống hơn hai chục bát rượu thấy cũng đã đủ, liền gọi tính tiền rồi nghĩ thầm:" Đoàn Chính Thuần không biết đã thoát hiểm chưa. Bọn Nguyễn Tinh Trúc, Tân Hồng Miên bị ta điểm huyệt không hiểu có gặp chuyện gì không, mình phải quay lại xem mới được ". Chàng liền rảo bước chạy trở về.

Lần này không dùng hết sức nên chàng chạy chậm hơn nhiều, về đến Mã gia thì đã quá ngọ. Bọn Nguyễn Tinh Trúc không còn trên bãi tuyết ngoài nhà, chắc là A Tử đã đưa họ vào. Chàng đẩy cửa bước vào, thấy thi thể Bạch Thế Kính nằm cong queo bên cạnh cửa, còn Đoàn Chính Thuần không thấy đâu. Một phụ nữ nằm phục bên cạnh giường, người đầy huyết tích, chính là Mã phu nhân.

Mụ ta nghe có tiếng chân người liền quay đầu ra, thều thào nói:" Làm ơn làm phước, mau lại giết ta đi. "Tiêu Phong thấy mặt mụ xám ngắt trông thật xấu xí, chỉ qua một đêm đã già đi đến hai ba chục tuổi. Chàng bèn hỏi:" Đoàn Chính Thuần đâu? "Mã phu nhân đáp:" Con.. con ác nhân đó cứu y đi rồi. A.. "Đột nhiên mụ ta kêu thét lên, thanh âm lanh lảnh nghe đến chói tai. Tiêu Phong bất ngờ, giật nảy người, lùi lại một bước hỏi:" Bà làm sao thế? "Mã phu nhân thở hổn hển, nói:" Ngươi.. ngươi là Kiều.. bang chủ? "Tiêu Phong gượng cười đáp:" Ta có còn là bang chủ Cái Bang đâu, chẳng lẽ bà lại không biết? "Mã phu nhân nói:" Phải rồi! Ngươi đúng là Kiều bang chủ. Làm ơn làm phước giết ta mau đi! "Tiêu Phong nhíu mày nói:" Ta không định giết bà. Bà mưu sát thân phu, sẽ có người trong Cái Bang đến xử lý chuyện này. "

Mã phu nhân năn nỉ:" Ta.. ta không chịu đựng được nữa rồi. Thủ đoạn của con tiểu tiện nhân đó độc ác quá. Ta.. ta thành ma quỉ sẽ không tha cho nó. Ngươi.. ngươi nhìn kỹ ta đây này.. "

Bà ta nằm phục trong xó tối không trông rõ, Tiêu Phong nghe nói thế bèn ra mở cửa sổ cho ánh nắng chiếu vào nhà. Chàng vừa liếc mắt nhìn Mã phu nhân đã bất giác run lên. Bả vai, cánh tay, ngực, đùi, chỗ nào cũng bị dao khoét, kiến bu đầy vào các vết thương. Tiêu Phong nhìn là biết ngay các đường gân trên tứ chi đều bị cắt đứt cả rồi, không còn cử động gì được. Giả tỷ người bị điểm huyệt, sau khi khai thông huyệt đạo lại cử động được như thường, còn gân cốt đứt hết rồi thì không chữa được, từ nay thành phế nhân. Chàng vẫn chưa hiểu sao trên các vết thương lại có kiến bâu vào.

Mã phu nhân thều thào nói:" Con tiện tì cắt đứt gân cốt tay chân ta, rồi lại lấy dao rạch khắp người, đem.. đem nước đường.. nước đường đổ lên, bảo là để dụ cho kiến bu vào đốt, bắt ta cực khổ mấy ngày, đế ta sống không được chết không xong, nó mới cam lòng.

Tiêu Phong biết rằng nếu mình nhìn vào vết thương của bà ta một lần nữa là sẽ nôn vọt ra ngay. Chàng không phải là người mềm yếu, nhưng có giết người đốt nhà thì cũng làm cho mau lẹ, không đành lòng hành hạ địch nhân. Chàng thở dài một tiếng, xuống bếp xách lên một thùng nước dội lên người bà ta để kiến bò đi, đỡ được cái nhức nhối bị cắn xé.

Mã phu nhân nói: "Đa tạ! Ngươi thật là tốt bụng, nhưng ta không sống được nữa đâu. Ngươi làm phước chém ta một nhát cho xong." Tiêu Phong hỏi: "Ai hành hạ bà?" Mã phu nhân nghiến răng đáp: "Là một con tiểu tiện nhân, tuổi mới độ mười lăm mười sáu mà tâm địa cùng thủ đoạn đã độc ác đến thế!" Tiêu Phong thất kinh kêu lên: "Là A Tử ư?" Mã phu nhân đáp: "Đúng rồi! Ta nghe con giặc cái kia bảo nó giết ta đi cho xong. Nhưng cái con A Tử khốn kiếp lại muốn hành hạ ta từ từ, bắt ta chịu muôn vàn khổ sở để báo thù cho phụ thân, để cho mẫu thân tiết hận."

Tiêu Phong nghĩ thầm: "Lúc nãy ta chỉ sợ hai mụ Tần Nguyễn nổi cơn ghen giết mất Mã phu nhân, không còn ai để điều tra. Ngờ đâu con tiểu a đầu A Tử lại ra tay độc ác đến thế." Chàng nhíu mày nói: "Trước kia Đoàn Chính Thuần có tình ý với bà, tuy bà muốn giết y, nhưng không lẽ y thấy con gái tàn ác như thế mà không cản hay sao?"

Mã phu nhân đáp: "Y mê man chẳng biết gì, cũng bởi.. cũng bởi Thập Hương Mê Hồn Tán mà ra."

Tiêu Phong gật đầu đáp: "Thì ra là thế. Y là một tay hảo hán trắng đen minh bạch, lẽ nào dung túng cho con gái hành sự nhẫn tâm như thế? Thế còn mấy người đàn bà kia thì sao rồi?" Mã phu nhân rên rỉ: "Đừng hỏi nữa! Mau giết ta đi!" Tiêu Phong hừ một tiếng rồi nói: "Nếu bà không trả lời tử tế, ta lại lấy mật bôi lên vết thương rồi phủi tay bỏ đi, để bà ra sao thì ra." Mã phu nhân đáp: "Bọn đàn ông các ngươi là phường độc ác, đứa nào cũng long lang dạ thú.." Tiêu Phong hỏi lại: "Thế bà ám hại Mã đại ca, thủ đoạn không ác độc hay sao?" Mã phu nhân lạ lùng: "Sao.. sao người lại biết? Ai nói với người chuyện đó?"

Tiêu Phong lạnh lùng đáp: "Ta hỏi bà, không phải bà hỏi ta. Bà năn nỉ ta, không phải ta năn nỉ bà. Nói nhanh đi!"

Mã phu nhân nói: "Được rồi! Để ta nói cho người nghe. Con tiểu tiện nhân A Tử hành hạ ta, mẹ nó luôn mồm quát mắng bảo thôi nhưng con nhãi khốn kiếp đó chỉ cười hì hì không nghe. Mẹ nó chẳng hiểu bị ai điểm huyệt, không cử động được. Lát sau có năm sáu thuộc hạ của Đoàn Chính Thuần tới nơi, A Tử ôm cha mẹ nó và mẹ con Tân Hồng Miên từng người một ra khỏi nhà, nhưng không cho ai vào để họ khỏi nhìn thấy ta. Bọn thuộc hạ của Đoàn Chính Thuần đỡ bọn chúng lên ngựa rồi đi mất."

Tiêu Phong gật đầu, nghĩ bụng: "Té ra bọn Đoàn Chính Thuần được thuộc hạ đưa đi rồi. Còn ba người bị ta điểm huyệt, vài giờ nữa sẽ tự động giải khai, ta không cần để ý tới làm gì." Mã phu nhân nói: "Ta nói hết rồi. Ngươi.. ngươi mau mau giết ta đi." Tiêu Phong nói: "Bà chưa nói hết đâu. Bà muốn sống thì khó lắm, mà muốn chết cũng chẳng dễ chút nào. Nói tiếp đi, vì cớ gì mà bà giết Mã đại ca?"

Cặp mắt Mã phu nhân phóng ra những tia sáng hung dữ. Mụ hỏi lại: "Ngươi không hỏi không được hay sao?" Tiêu Phong đáp: "Đúng thế, không hỏi không được! Ta là một tên nam nhi ương ngạnh, lòng dạ cứng như đá, không có chuyện thương xót bà đâu."

Mã phu nhân hừ một tiếng rồi nói: "Ngươi tưởng ta chưa biết hay sao? Hôm nay ta đến nông nỗi này cũng do người mà ra. Ngươi ngông cuồng tự đại, là đồ súc sinh coi người bằng nửa con mắt. Bọn mọi rợ Khất Đan không bằng heo chó, sau này chết xuống mười tám tầng địa ngục tất bị ác quỉ hành hạ thảm khốc. Ngươi cứ lấy mật bôi vào vết thương ta đi, có gì mà không dám? Ngươi là đồ chó má, là quân khốn nạn.." Mụ thóa mạ mỗi lúc một độc địa, hiển nhiên trong lòng oán hận đã lâu không có dịp phát tiết, càng chửi càng tuôn ra những câu tục tĩu chướng tai, có vần có điệu, có lớp có lang, không sao tưởng tượng nổi.

Tiêu Phong từ nhỏ đã hòa mình trong Cái Bang, những lời thô tục nghe đã quen tai, mỗi khi chàng uống rượu với bọn ăn mày cũng thường nói bậy chửi càn. Nhưng chàng quả thực không ngờ con người ôn nhu văn nhã như Mã phu nhân lại biết thóa mạ tệ hại đến thế, có những câu trước nay chàng chưa từng nghe thấy bao giờ.

Tiêu Phong nín thinh chẳng nói chẳng rằng, để mặc bà ta chửi cho sướng miệng. Mặt mụ đang tái mét, chửi bới hả hê một hồi má đỏ bừng lên, ánh mắt đầy vẻ thỏa mãn. Mụ chửi thêm một chập nữa, thanh âm nhỏ dần, sau cùng nói: "Thằng chó má Kiều Phong kia! Ngươi hại ta đến nỗi này, để sau này xem quả báo thế nào." Tiêu Phong bình tĩnh hỏi: "Bà chửi xong chưa?" Mã phu nhân đáp: "Ta nghỉ một chút rồi sẽ chửi tiếp. Ngươi là thứ chó đẻ không cha không mẹ, lão nương còn một hơi thở là còn chửi, không bao giờ xong được."

Tiêu Phong nói: "Không sao, bà cứ chửi nữa đi. Ta gặp bà lần đầu là ở rừng hạnh ngoài thành Vô Tích, lúc đó Mã đại ca đã bị giết rồi. Trước đó ta không hề biết bà là ai, sao bà lại bảo là ta hại bà đến nỗi này?"

Mã phu nhân hậm hực đáp: "Ái chà! Ngươi bảo lần đầu gặp ta là ở rừng hạnh ngoài thành Vô Tích ư? Con mẹ ngươi, ngươi là đồ tự cao tự đại, tưởng mình là người võ công số một trên đời rồi kiêu ngạo không coi ai ra gì nữa." Rồi mụ lại thóa mạ một thôi một hồi nữa.

Tiêu Phong cứ để mặc mụ ta chửi mắng cho sướng miệng, đến khi nghe tiếng chửi nhỏ dần mới hỏi lại: "Bà chửi xong chưa?" Mã phu nhân lại hậm hực đáp: "Ta đã bảo là vĩnh viễn không xong. Ngươi.. người có mắt như mù, giả tỷ người có là hoàng đế, ta cũng chẳng coi vào đâu." Tiêu Phong đáp: "Đúng thế! Dẫu ta có là hoàng đế thì bà cũng chẳng cần phải nể nang. Mà thuở nay chẳng bao giờ ta cho rằng mình thiên hạ vô địch, ngay người.. người lúc nãy võ công cũng cao hơn ta nhiều."

Mã phu nhân chẳng cần biết chàng nói tới ai, vẫn luôn mồm thóa mạ một chập nữa rồi nói: "Ngươi bảo lần đầu thấy mặt ta là ở ngoài thành Vô Tích ư? Hứ, thế ở hội Bách Hoa trong thành Lạc Dương ngươi cũng chưa gặp ta hay sao?"

Tiêu Phong ngạc nhiên, cuộc hội Bách Hoa tại Lạc Dương diễn ra đã hai năm rồi. Chàng cùng các huynh đệ Cái Bang có đi dự hội, xai quyền làm lệnh uống rượu một bữa say sưa thoải mái, nhưng dường như đâu có gặp bà ta, liền hỏi: "Hôm ấy Mã đại ca cũng đến, nhưng có giới thiệu bà đâu?"

Mã phu nhân chửi liền: "Ngươi là cái thá gì? Chẳng qua chỉ là đầu đảng của bọn ăn mày chứ đã là gì? Hôm đó trong ngày hội Bách Hoa, ta đứng bên khóm thược dược hoa vàng, bao nhiêu anh hùng hảo hán đến dự hội, có ai không đứng ngơ ngẩn nhìn ta? Có ai nhìn ta mà không điên đảo thần hồn? Chỉ một mình ngươi tự cho là quân tử không ham nữ sắc, chẳng thèm để mắt ngó ngàng đến ta. Nếu thật sự ngươi không thấy ta thì ta cũng chẳng trách. Ngươi rõ ràng có nhìn thấy, vậy mà chỉ đảo mắt qua chẳng thèm ngừng lại chút nào, xem ta chẳng khác gì bọn con gái bình thường. Ngươi là đồ ngụy quân tử, đồ vô liêm sỉ, đồ mặt dày không biết thẹn."

Tiêu Phong hơi nhớ ra, bèn nói: "Phải rồi! Hình như hôm đó quả có vài phụ nữ ở cạnh khóm thược dược. Lúc đó ta còn lo uống rượu, hơi đâu mà đi xem mẫu đơn thược dược với cả đàn bà con gái? Giả tỷ có bậc nữ lưu anh hiệp tiền bối, đương nhiên ta phải lại bái kiến. Còn bà là bậc chị dâu, ta không nhìn bà cũng có chi là thất lễ? Cớ sao bà lại hận ta về chuyện đó?"

Mã phu nhân hầm hầm nhìn ông nói: "Người quả là đồ có mắt không tròng. Bao nhiêu anh hùng hảo hán tiếng tăm lừng lẫy, ai cũng chăm chú nhìn ta từ đầu đến gót chân. Bao nhiêu người đức cao vọng trọng, không dám nhìn thẳng vào mặt ta thì cũng chờ lúc không ai để ý mà liếc trộm ta vài cái. Chỉ một mình ngươi, hừ, hơn một nghìn đàn ông trong hội Bách Hoa, chỉ một mình ngươi thủy chung không nhìn ta lấy một lần. Ngươi là bang chủ Cái Bang, là anh hùng hảo hán vang danh thiên hạ. Trong hội Bách Hoa thành Lạc Dương, nói về đàn ông dĩ nhiên ngươi đứng đầu, còn trong đàn bà thì ta là số một. Ngươi không thèm nhìn ta cái nào thì ta còn tự hào được là mình đẹp hay không? Còn hả lòng hả dạ được nữa hay không?"

Tiêu Phong thở dài, nói: "Từ nhỏ ta đã không thích tán tỉnh con gái, tuổi càng lớn càng ít dòm ngó nữ nhân, nào có phải chỉ mình bà đâu. Có người đẹp gấp trăm lần bà, lúc ban đầu ta không để ý đến, sau này thì lại chậm mất rồi.."

Mã phu nhân rít lên: "Sao? Có người đẹp gấp trăm lần ta ư? Người đó là ai?" Tiêu Phong đáp: "Nàng là con gái Đoàn Chính Thuần, tỉ tỉ của A Tử." Mã phu nhân nhổ nước bọt đánh toẹt một cái, khinh khỉnh nói: "Hừ! Thứ đàn bà đê tiện nói đến chỉ bẩn mồm.." Mụ chưa dứt lời đã bị Tiêu Phong túm tóc nhấc lên liệng mạnh xuống đất, nói: "Ngươi còn dám thốt ra nửa câu bất kính với nàng, hừ, ta sẽ cho ngươi biết thế nào là thủ đoạn tàn khốc."

Mã phu nhân bị ông ném một cái tưởng muốn ngất đi, xương cốt toàn thân kêu răng rắc. Thế mà mụ cất tiếng cười khanh khách, nói: "Thế ra.. thế ra Kiều đại anh hùng, Kiều đại bang chủ cũng bị mê hoặc rồi, ha ha, ha ha, tức cười đến chết được. Ngươi mất chức bang chủ Cái Bang liền tính ngay ngôi phò mã trong phủ Trấn Nam Vương. Kiều bang chủ ơi, vậy mà ta cứ tưởng tiên nga giáng thế ngài cũng không thèm nhìn chứ."

Tiêu Phong hai gối nhũn ra ngồi phịch xuống ghế, từ từ nói: "Ta chỉ mong được nhìn nàng lần nữa, nhưng.. nhưng.. không thể được." Mã phu nhân cười khẩy nói: "Sao thế? Một thân võ công như ngươi không lẽ không giành được nó hay sao?"

Tiêu Phong lặng lẽ lắc đầu, hồi lâu chàng mới buồn rầu đáp: "Dù có bản lĩnh nghiêng trời, cũng không giành lại nàng được nữa." Mã phu nhân khoái trá hỏi gặng: "Sao vậy? Ha ha!" Tiêu Phong khẽ đáp: "Nàng chết rồi!"

Mã phu nhân nín cười, trong lòng cũng hơi bùi ngùi, cảm thấy gã Kiều bang chủ cao ngạo này cũng có ba phần đáng thương. Nhưng lập tức mụ chuyển sang vui mừng, càng lúc càng thích chí.

Tiêu Phong thấy khuôn mặt rạng rỡ của mụ liền hiểu rằng mình càng đau lòng mụ càng khoái trá. Chàng đứng dậy nói: "Ngươi mưu sát thân phu, chết là đáng lắm. Còn muốn nói gì nữa không?" Mã phu nhân tưởng Tiêu Phong định giết mình, đột nhiên thấy sợ chết, van nài: "Ngươi.. bang chủ.. tha cho, xin đừng giết ta." Tiêu Phong đáp: "Ta không cần hạ thủ giết ngươi đâu." Nói rồi xoay người đi ra.

Mã phu nhân thấy chàng không hề quay đầu nhìn, lại tức giận lớn tiếng mắng: "Tên Kiều Phong chó má kia! Ta nói cho ngươi hay. Năm xưa ta hận ngươi không thèm nhìn ta nên mới xúi Mã Đại Nguyên khui gốc tích của ngươi ra. Mã Đại Nguyên nhất định không chịu, ta mới bảo Bạch Thế Kính giết hắn. Hôm nay ngươi.. ngươi đối với ta cũng chẳng chút động tâm."

Tiêu Phong quay mặt lại, lạnh lùng đáp: "Ngươi mưu sát thân phu chỉ vì ta không chịu nhìn ngươi ư? Hừ, chuyện vô lý đến thế ai mà tin nổi?" Mã phu nhân nói: "Ta chết đến nơi rồi, còn gạt ngươi làm gì nữa? Ngươi khinh mạn ta, ta có cách gì tiết hận đâu? Lũ ăn mày xem ngươi như thần như thánh, khắp thiên hạ còn ai dám động đến ngươi? Thế nhưng trời cao có mắt, ta thấy trong cái rương sắt của Mã Đại Nguyên có di thư của Uông bang chủ. Ta xem trộm thư rồi lại bỏ trở vào như cũ, không làm tổn thương đến dấu niêm phong, cũng chẳng khó gì. Ngươi đoán thử xem trong lòng ta có sướng không? Ha ha, thật là cơ hội bằng vàng, ta phải cho ngươi thân bại danh liệt, không còn ra vẻ ta đây anh hùng hảo hán gì nữa. Ta xúi Mã Đại Nguyên tố cáo cho mọi người biết ngươi là giống mọi rợ Khất Đan, khiến ngươi mất ngôi bang chủ Cái Bang, khiến ngươi không còn chỗ đứng ở Trung Nguyên, cái mạng chó của ngươi không chừng cũng mất nốt."

Mụ ta không còn động đậy được nữa, rõ ràng chẳng còn cách nào hại người, nhưng Tiêu Phong nghe những lời ác độc không khỏi lạnh người. Chàng hừ một tiếng rồi nói: "Phải chăng Mã đại ca không nghe lời ngươi nên ngươi mới giết y?" Mã phu nhân đáp: "Đúng thế! Chẳng những y không nghe lời mà còn chửi ta một trận, bảo là từ nay không cho ra khỏi cửa, tiết lộ một tiếng thì sẽ băm vằm ta ra. Y trước nay coi ta còn hơn cha mẹ, có bao giờ dám nổi đóa như thế đâu? Ta có coi y ra chó gì, y dám hỗn với lão nương như thế thì chỉ tổ thiệt thân. Hơn một tháng sau Bạch Thế Kính đến chơi, hôm đó mười bốn tháng tám, lão ở lại ăn tết Trung Thu. Y liếc mắt nhìn ta một cái, lại một cái nữa, hừ hừ, lão già hiếu sắc. Ta thả cho một chút là lão mê tít ngay. Ta bảo lão giết tên vô tích sự Mã Đại Nguyên, lão không chịu, ta dọa sẽ kêu lên là bị lão cưỡng gian. Lão già dịch đó bề ngoài thì mặt sắt gan lim, thế mà với lão nương thì chuyện xấu xa bẩn thỉu tới đâu cũng làm. Ta bảo lão: Chàng giết Mã Đại Nguyên rồi, thiếp từ nay thuộc về chàng. Nếu chàng không chịu thì đánh chết thiếp đi cho xong. Đời nào lão bỏ được ta, bèn ngoan ngoãn giết Mã Đại Nguyên."

Tiêu Phong thở dài, nói: "Bạch Thế Kính là một tay hảo hán gang thép như thế, vậy mà cũng bị hại về tay ngươi. Chắc ngươi cũng cho Mã huynh đệ uống Thập Hương Mê Hồn Tán, rồi bảo Bạch Thế Kính bóp nát yết hầu, đổ tội cho Cô Tô Mộ Dung dùng Tỏa Hầu Cầm Nã Thủ giết y phải không?" Mã phu nhân đáp: "Phải đó? Ha ha! Chẳng làm vậy thì làm thế nào? Có điều Cô Tô Mộ Dung gì gì đó là do thằng già ôn dịch nghĩ ra, ta đâu có biết."

Tiêu Phong gật đầu. Mã phu nhân nói tiếp: "Ta bảo lão già hiếu sắc đứng ra tố cáo thân thế của ngươi. Ái chà, thằng cha già dịch đó còn ráng giữ nghĩa khí, bị ta ép quá, rút dao ra toan tự tận. Ta đành buông tha y, đi kiếm thằng ma cô Toàn Quan Thanh. Lão nương chỉ cho nó ngủ chung ba tiếng là bảo gì nghe nấy, hung hăng vỗ ngực tuyên bố nhất định thành công. Nhưng ta nghĩ chắc một mình thằng chó Toàn Quan Thanh không lật nổi ngươi, nên mới đi mời Từ trưởng lão ra mặt. Còn những việc về sau thì ngươi đã biết rồi, bất tất phải nói nữa."

Nghi vấn cuối cùng trong lòng Tiêu Phong đã được giải tỏa. Chàng đã hiểu vì sao Toàn Quan Thanh chủ mưu phản mình, còn Bạch Thế Kính lại bị loạn đảng bắt giữ, chỉ hỏi thêm: "Cái quạt của ta là do Bạch Thế Kính lấy cắp phải không?" Mã phu nhân đáp: "Không phải thế. Lão già hiếu sắc nói là giá nào y cũng không làm chuyện không phải với ngươi. Đó là Toàn Quan Thanh dụ được Trần trưởng lão xiêu lòng, đợi ngươi rời khỏi nhà lẻn vào ăn cắp." Tiêu Phong nói: "Đoàn cô nương cải trang làm Bạch Thế Kính, đến ta cũng không nhìn ra, thế mà ngươi phát hiện được là phải rồi."

Mã phu nhân ngạc nhiên hỏi lại: "Con bé đó là con gái Đoàn Chính Thuần, là người trong mộng của ngươi đấy ư? Nó có đẹp thật không?" Tiêu Phong không đáp, ngửng đầu nhìn về phía chân trời.

Mã phu nhân nói: "Chà chà! Con ranh ấy đáo để thật, làm ta sợ đến mất vía, còn nói rằm tháng tám gì gì, chính là ngày giỗ Mã Đại Nguyên. Thế nhưng về sau ta khẽ hỏi vài mẩu chuyện phong tình. Ta nói trăng trên trời vừa tròn vừa sáng, hôm đó lão già hiếu sắc đáp lại là: Cặp bánh dầy ở trên người nàng còn tròn hơn, trắng hơn cả trăng trên trời. Ta hỏi con bé đó thích ăn bánh Trung Thu nhân ngọt hay nhân mặn, hôm đó cha già dịch nói là: Cái bánh của nàng vừa thơm tho như bánh ngọt vừa đậm đà như bánh mặn. Con nhãi kia trả lời đầu Ngô mình Sở, lập tức cơ mưu bại lộ ngay."

Bây giờ Tiêu Phong mới hiểu tại sao hôm đó Mã phu nhân lại nhắc tới chuyện trăng tròn và bánh Trung Thu, thì ra tối hôm mười bốn tháng tám năm ngoái, mụ ta thông gian cùng Bạch Thế Kính, hai bên nói năng tục tĩu. Mã phu nhân cười sằng sặc nói: "Kiều Phong! Ngươi giả trang thật là tệ hại. Ta biết con nhãi đó là đồ giả mạo, bèn để ý tới nhà ngươi. Ha ha, làm gì mà ta chẳng nhận ra ngay là Kiều bang chủ? Ta đang muốn giết Đoàn Chính Thuần, mượn luôn tay ngươi thật là tiện lợi đủ đường."

Tiêu Phong nghiến răng nói: "Đoàn cô nương vì ngươi mà chết, món nợ đó ta phải tính vào ngươi." Mã phu nhân đáp: "Đó là tại nó đến gạt ta trước chứ có phải ta đi tìm nó đâu, bất quá chỉ tương kế tựu kế mà thôi. Giả tỷ nó không đến kiếm ta, ta sẽ đợi Bạch Thế Kính lên làm bang chủ Cái Bang, rồi tìm cách cho Cái Bang gây thù kết oán với họ Đoàn Đại Lý, gã Đoàn Chính Thuần chẳng chóng thì chầy cũng không thoát khỏi tay ta."

Tiêu Phong nói: "Ngươi quả là ác độc! Phu quân của ngươi, ngươi cũng giết. Đàn ông đã từng tư tình với ngươi, ngươi cũng giết. Cả người không muốn nhìn dung mạo ngươi, ngươi cũng muốn giết nốt." Mã phu nhân đáp: "Không nhìn mỹ nhân trước mắt thì nhìn gì nữa? Chẳng lẽ ta không đẹp hay sao? Trên đời này ta chưa thấy ai ngụy quân tử như ngươi." Mụ nói đến chỗ đắc ý, hai má ửng hồng ra chiều phấn chấn, nhưng khí lực càng lúc càng suy, nhiều lúc phải nói nhát gừng không mạch lạc được.

Tiêu Phong nói: "Ta hỏi người một câu cuối cùng. Cái gã Thủ lĩnh đại ca viết thư cho Uông bang chủ là người nào thế? Ngươi đã đọc lá thư đó rồi, chắc chắn phải biết ai ký tên ở dưới." Mã phu nhân cười rộ lên đáp: "Ha ha! Kiều Phong ơi là Kiều Phong, bây giờ thì ngươi năn nỉ ta hay là ta năn nỉ ngươi? Mã Đại Nguyên chết rồi, Từ trưởng lão chết rồi, Triệu Tiền Tôn chết rồi, Thiết diện pháp quan Đơn Chính chết rồi, Đàm công Đàm bà chết rồi, Trí Quang đại sư núi Thiên Thai cũng viên tịch nốt. Bây giờ chỉ còn ta và chính Thủ lĩnh đại ca biết được người đó là ai thôi."

Tim Tiêu Phong đập càng lúc càng nhanh, chàng hạ giọng nói: "Đúng thế. Bây giờ đến lúc Tiêu mỗ phải cầu khẩn phu nhân. Xin phu nhân nói cho hay họ tên người đó."

Mã phu nhân hỏi lại: "Ta sắp chết rồi, ngươi đền đáp ta bằng cách gì?" Tiêu Phong đáp: "Bất luận phu nhân sai bảo chuyện gì, sức Tiêu mỗ làm được thì quyết không từ chối." Mã phu nhân mỉm cười đáp: "Ta còn mong gì nữa? Kiều Phong! Ta hận ngươi không chịu nhìn ta, từ đó gây ra bao nhiêu tai họa. Người muốn biết tên của Thủ lĩnh đại ca cũng chẳng khó gì, chỉ cần ôm ta vào lòng, chiêm ngưỡng ta một lúc là được."

Tiêu Phong nhíu cặp lông mày, trong lòng hết sức khó chịu. Thế nhưng trên đời chỉ còn mụ ta biết được cái đại bí mật này, mối huyết hải thâm cừu của mình có báo được hay không chỉ trông vào miệng mụ nói ra mấy tiếng. Đừng nói bà ta bắt làm chuyện khó khăn nguy hiểm, mà dẫu là chuyện xấu xa bỉ ổi, chàng cũng phải miễn cưỡng mà làm. Bây giờ mụ chỉ còn thoi thóp, không biết tắt thở lúc nào, lấy uy mà bức bách, lấy lợi mà cám dỗ cũng đều vô dụng. Tiêu Phong nghĩ thầm: "Nếu ta khăng khăng không chịu, đến lúc mụ thở hắt ra thì kẻ đại cừu giết song thân từ nay không thể biết nữa. Ta ôm mụ lên, nhìn mụ mấy cái phỏng có hại gì?". Chàng bèn nói: "Thôi được, ta bằng lòng.", rồi cúi xuống bế Mã phu nhân vào lòng, đôi mắt đăm đăm nhìn vào mặt mụ.

Lúc đó mặt mụ ta đầy vết máu, dính vô số đất cát bụi bặm, lại chịu đau khổ đọa đày suốt một đêm, dung nhan tiều tụy trông rất khó coi. Tiêu Phong ôm mụ đã là miễn cưỡng, lại phải nhìn bộ mặt giống như quỷ sứ, không khỏi chau mày.

Mã phu nhân giận dữ hỏi: "Sao? Phải chăng người chán ghét không muốn nhìn ta?" Tiêu Phong đành đáp cho xuôi: "Không phải thế." Chàng nói mấy lời này không thực lòng. Bình thời dù gặp việc nguy nan đến đâu, chàng cũng không bao giờ nói dối, nhưng tình trạng hiện tại vạn bất đắc dĩ đành phải bụng nghĩ một đằng miệng nói một nẻo.

Mã phu nhân dịu dàng nói: "Nếu thật chàng không chán ghét, thì cúi xuống hôn thiếp một cái đi." Tiêu Phong nghiêm mặt đáp: "Không thể được! Bà là phu nhân của Mã đại ca, Tiêu mỗ biết điều nghĩa khí, khi nào dám sàm sỡ với quả phụ của huynh đệ cùng bằng hữu?" Mã phu nhân nũng nịu nói: "Ôi chao! Chàng biết điều nghĩa khí với anh em, sao lại ôm thiếp vào lòng.."

Lúc đó bên ngoài cửa sổ có tiếng cười khúc khích, rồi có thanh âm nói vọng vào: "Tên Kiều Phong quả là mặt dày! Ngươi đã giết tỉ tỉ ta rồi, lại tính chuyện ngoại tình, ôm ấp hôn hít tình nhân của gia gia ta, không biết xấu hay sao?" Người nói câu đó chính là A Tử.

Tiêu Phong tự vấn lương tâm không có điều gì đáng thẹn, chẳng thèm để ý câu nói lăng nhăng của đứa trẻ chưa hiểu việc đời. Chàng giục Mã phu nhân: "Bà nói mau đi, cho ta biết Thủ lĩnh đại ca là ai?"

Mã phu nhân hờn dỗi nói: "Sao thiếp bảo chàng nhìn mặt thiếp, mà chàng lại quay đầu đi?" Thanh âm đầy vẻ ỏn thót cám dỗ.

Lúc đó A Tử đã bước vào phòng, cười hỏi: "Ngươi còn chưa chết ư? Cái mặt ngươi bây giờ giống như ma quỉ, còn tên đàn ông nào dám nhìn nữa?" Mã phu nhân hốt hoảng: "Sao? Sao? Ngươi.. ngươi bảo ta giống như ma quỉ ư? Gương đâu? Gương đâu? Đưa ta chiếc gương!" Thanh âm của mụ đầy vẻ kinh hoàng. Tiêu Phong lại giục: "Nói mau lên! Nói mau lên, rồi ta sẽ lấy gương cho bà mượn."

A Tử tiện tay cầm lấy chiếc gương đồng sáng choang trên bàn, đưa ra trước mặt Mã phu nhân, cười nói: "Gương đây, người tự nhìn xem có đẹp hay không?"

Mã phu nhân nhìn vào trong gương, thấy khuôn mặt mình đầy máu me bụi bặm, lại đủ các vẻ hoảng hốt, dữ tợn, độc ác, oán hờn, Bao nhiêu là xấu xa khả ố hiện cả lên đầu mày khoé mắt, còn đâu là vẻ xinh tươi của một mỹ nhân sắc nước hương trời, ai gặp cũng phải điên đảo thần hồn? Bà trợn ngược mắt, rồi không sao nhắm lại được nữa. Mã phu nhân một đời tự hào về nhan sắc, ngờ đâu lúc sắp lìa trần lại thấy mình xấu xa đến thế.

Tiêu Phong nói: "A Tử! Cất gương đi, đừng chọc tức bà ta nữa." A Tử cười khanh khách đáp: "Ta muốn mụ xem đã giống ma quỉ hay chưa." Tiêu Phong nói: "Nếu cô chọc bà ấy tức uất lên mà chết thì thật hỡi ôi." Chàng thấy Mã phu nhân không cử động nữa, tiếng thở hổn hển cũng im bặt, vội vàng đưa tay lên mũi mụ, hóa ra đã tắt hơi thật rồi. Tiêu Phong kinh hãi la lên: "Trời ơi! Không xong, mụ chết mất rồi!" Giọng chàng hoảng hốt, tựa như trời đang sập xuống.

A Tử bĩu môi nói: "Không lẽ ngươi thích mụ ta thật sao? Cái loại đàn bà như thế chết đi, có gì mà phải la lối om sòm." Tiêu Phong dậm chân đáp: "Hừ! Cô còn trẻ con biết gì? Ta đang hỏi mụ một chuyện, trên đời này chỉ còn một mình mụ biết. Nếu cô không đến phá rối thì mụ đã nói ra rồi." A Tử kêu lên: "Úi chà! Hóa ra ta làm hỏng việc của ngươi rồi phải không?"

Tiêu Phong thở dài, nghĩ bụng: "Người chết không sống lại được, ta có nổi nóng cũng chẳng đến đâu. Con nhãi ranh A Tử này mất dạy từ bé, song thân nó còn không quản được, nói chi người ngoài?" Chàng nghĩ đến A Châu bèn bỏ qua chuyện này, đành đặt thi thể Mã phu nhân xuống giường rồi nói: "Thôi vậy. Chúng ta ra ngoài!"

Tiêu Phong xem qua trong nhà thấy không còn ai, bà lão giúp việc không biết đã trốn đâu. Chàng bèn lấy đồ đánh lửa ra, xuống đốt kho chứa củi, chỉ chốc lát ngọn lửa đã bốc lên cao.

Hai người đứng ở bên ngoài nhìn những lưỡi lửa từ trong cửa sổ liếm ra. Tiêu Phong hỏi: "Sao cô không về với gia gia má má đi?" A Tử đáp: "Không được! Ta không về với gia gia má má đâu. Bọn thuộc hạ của ông ấy, tên nào gặp ta cũng trợn mắt, nghiến răng, coi bộ rất khả ố. Ta bảo gia gia giết sạch chúng đi, ông ta nhất định không thèm nghe, thật là tệ hại."

Tiêu Phong nghĩ bụng: "Ngươi làm chết Chử Vạn Lý, dĩ nhiên bằng hữu của y phải hận ngươi. Đoàn Chính Thuần khi nào lại nghe lời ngươi mà giết đám thuộc hạ trung nghĩa được? Chính ngươi tệ hại, lại nói gia gia ngươi tệ hại, đúng là giọng lưỡi trẻ con mất nết." Chàng bèn đáp: "Thôi! Ta đi đây!" Nói xong, trở gót đi về hướng bắc.

A Tử gọi: "Này, này! Gượm đã, chờ ta với!" Tiêu Phong dừng bước, quay lại hỏi: "Bây giờ cô đi đâu? Có về chỗ sư phụ không?" A Tử đáp: "Không đâu! Bây giờ ta không dám về chỗ sư phụ." Tiêu Phong ngạc nhiên hỏi: "Sao lại không dám? Chắc lại gây ra chuyện gì rồi ư?" A Tử đáp: "Không phải gây chuyện, mà là ta lấy một cuốn sách của sư phụ, bây giờ quay về thể nào cũng bị đòi lại. Ta phải luyện cho xong đã, rồi sư phụ có lấy lại cũng không sao." Tiêu Phong nói: "Sách luyện võ ư? Sao cô không xin sư phụ cho đọc một chút, thể nào người chẳng bằng lòng? Hơn nữa nếu cô tự luyện nhất định sẽ có nhiều chỗ nghi vấn, có sư phụ bên cạnh chỉ điểm có phải hơn không?" A Tử bĩu môi đáp: "Sư phụ ta đã bảo không là không, có năn nỉ cũng vô ích."

Tiêu Phong thật sự không ưa cô bé tính nết giảo quyệt này, sư phụ cô ta là Tinh Tú lão quái Đinh Xuân Thu cũng là ác ma có tiếng. Chàng không muốn dây dưa với hạng người đó, bèn nói: "Được rồi! Bây giờ cô muốn làm gì thì làm, muốn đi đâu thì đi, ta không can thiệp vào việc của cô nữa." A Tử hỏi: "Thế bây giờ ngươi đi đâu?".

Tiêu Phong nhìn căn nhà họ Mã đang cháy đùng đùng, thở dài nói: "Ta chỉ muốn đi báo thù, nhưng lại không biết kẻ thù là ai. Suốt kiếp này, ta đành ôm hận ngàn thu, mối thù đó không trả được nữa." A Tử kêu lên: "Ái chà! Ta hiểu rồi, chỉ một mình Mã phu nhân biết, mà mụ lại bị ta chọc tức mà chết, nên từ này ngươi không còn biết được kẻ thù là ai. Khoái quá, khoái quá! Kiều bang chủ uy danh lừng lẫy, vậy mà bị ta trói chân trói cẳng không làm gì được."

Tiêu Phong đưa mắt nhìn A Tử, thấy cô ta gieo rắc tai họa càng nhiều lại càng hớn hở đắc chí. Khuôn mặt cô bé rạng rỡ dưới ánh lửa bập bùng trông thật dễ thương, có ai ngờ đâu dưới khuôn mặt ngây thơ kia lại chỉ toàn là ác ý. Lửa giận bốc lên, chàng định tát cho con nhãi này một phát đích đáng, nhưng chợt nhớ lại A Châu lúc lâm chung chỉ cầu khẩn mình chiếu cố cho cô muội tử duy nhất. Chàng lẩm bẩm: "Cả đời A Châu chỉ xin ta một chuyện, lẽ nào ta lại không làm? Muội tử của nàng dâu là kẻ đại gian đại ác, thì ta cũng phải hết sức đưa về chính đạo, huống gì nó chỉ là một con bé ngang ngược láo lếu chưa hiểu chuyện đời"

A Tử hất mặt lên trời, hỏi lại: "Sao đấy? Ngươi định đánh chết ta ư? Sao không đánh đi? Ngươi đã đánh chết tỉ tỉ ta rồi, giết nốt ta đi cũng có sao đâu?"

Mấy câu này như mũi dao nhọn đâm vào tim Tiêu Phong. Chàng chua xót trong lòng, không còn biết nói sao, cắm đầu rảo bước đi trên con đường tuyết phủ, không ngoảnh cổ lại nữa.

A Tử cười nói: "Này! Khoan đã, ngươi đi đâu thế?" Tiêu Phong đáp: "Ta không thể sống ở Trung Nguyên nữa, mối thù giết cha giết mẹ cũng không còn báo được. Bây giờ ta ra ngoài biên ải, từ nay không quay lại nữa." A Tử nghiêng đầu hỏi: "Ngươi định đi đường nào?" Tiêu Phong đáp: "Ta ra Nhạn Môn Quan." A Tử vỗ tay reo lên: "Hay lắm! Ta định đi Tấn Dương, thì ra cùng đường với ngươi." Tiêu Phong hỏi lại: "Cô đi Tấn Dương để làm gì? Đường xa ngàn dặm, một cô gái bé nhỏ không nên đi một mình." A Tử cười đáp: "Hừ, đường sá xa xôi có gì mà sợ? Ta từ Tinh Tú Hải về đến đây còn xa hơn nhiều. Mà ta đi cùng ngươi, sao lại bảo là đi một mình?" Tiêu Phong lắc đầu đáp: "Ta không đi với cô đâu." A Tử hỏi: "Sao thế?" Tiêu Phong đáp: "Ta là nam nhân, còn cô là con gái ít tuổi, ngày đi đêm ngủ có điều bất tiện." A Tử đáp: "Ngươi nói chuyện tức cười. Ta không khó chịu thì thôi, việc gì ngươi lại thấy bất tiện? Ngươi cùng tỉ tỉ ta, cũng là một nam một nữ ngày đi đêm ngủ, đường xa muôn dặm có sao đâu?"

Tiêu Phong hạ giọng đáp: "Ta cùng tỉ tỉ cô đã ước định hôn nhân, không phải quan hệ tầm thường." A Tử vỗ tay cười nói: "Trời ơi, thế mà ta nghĩ không ra! Ta cứ tưởng A Châu tỉ tỉ giữ gìn nghiêm ngặt lắm, có ngờ đâu ngươi chẳng khác gì gia gia, tỉ tỉ chẳng khác gì má má, chưa kết nghĩa phu thê đã ăn ở với nhau rồi." Tiêu Phong giận dữ quát lên: "Cô không được nói bừa. Tỉ tỉ cô cho đến chết vẫn là một cô nương băng thanh ngọc khiết. Ta đối với nàng vừa kính vừa trọng, một mực thủ lễ." A Tử thở dài, nói: "Ngươi la lối quát mắng phỏng có ích gì? Tỉ tỉ ta có thanh khiết hay không thì cũng bị ngươi đánh chết rồi. Thôi, chúng ta đi."

Tiêu Phong lại nghe nhắc đến chuyện mình lỡ tay đánh chết A Châu, trong lòng đau như cắt. Chàng ôn tồn dỗ dành A Tử: "Thôi, cô về Tiểu Kính Hồ với má má đi. Nếu không thì kiếm chỗ nào tĩnh mịch mà luyện thành công phu trong sách, rồi về với sư phụ. Đi Tấn Dương chơi có gì thích thú đâu?" A Tử nghiêm mặt đáp: "Chẳng phải ta đi chơi đâu, có chuyện trọng đại phải làm đấy chứ?

Tiêu Phong vẫn lắc đầu nói:" Ta không đi với cô. "Nói xong, chàng rảo bước đi thẳng. A Tử thi triển khinh công đuổi theo, vừa chạy vừa gọi:" Đợi ta với! Đợi ta với!"Tiêu Phong không lý gì đến cô nàng, cứ lầm lì mà chạy.

Một lúc sau, gió bấc bắt đầu thổi mạnh, tuyết lại rơi xuống. Tiêu Phong xông pha gió tuyết mà đi, nhớ đến mối thù sâu tựa biển không còn cách nào trả được, trong lòng uất hận vô cùng nhưng lực bất tòng tâm, đành gác bỏ không nghĩ tới.

Comments

Comments

Trước Tiếp
 
34,431 ❤︎ Bài viết: 2241 Tìm chủ đề
Hồi 25: Nén thương đau, đạp tuyết lên đường

Tiêu Phong đi chừng hơn mười dặm, thấy một cái miếu nhỏ bên cạnh đường liền ghé vào, ngồi dựa vào vách ngủ một giấc. Đến hơn hai giờ chàng mới tỉnh dậy, hết cả mệt mỏi, lại tiếp tục đi về hướng bắc, thêm bốn chục dặm nữa thì đến một thành trì quan trọng của miền bắc là Trường Đài quan.

Việc đầu tiên là chàng đi kiếm một tửu điếm, vào gọi mười cân rượu, hai cân thịt bò, một con gà quay, ngồi ăn uống một mình, uống hết mười cân lại gọi thêm năm cân nữa. Đang uống bỗng nghe có tiếng chân người vào quán, chính là A Tử. Tiêu Phong nghĩ thầm: "Con ranh này đến đây làm mình hết cả hứng uống rượu." Chàng liền quay mặt đi, giả vờ không nhìn thấy.

A Tử tủm tỉm cười, ngồi ngay vào bàn đối diện với chàng, hô to: "Đem rượu cho ta!" Một tên tửu bảo lật đật chạy đến, cười nói: "Tiểu cô nương! Cô cũng uống rượu ư?" A Tử quát luôn: "Cô nương là cô nương, sao lại phải thêm chữ tiểu vào? Ta mà không uống rượu được ư? Mau dọn cho ta mười cân rượu, hai cân thịt bò, một con gà quay, nhớ chuẩn bị năm cân rượu nữa đề phòng ta gọi thêm. Mau lên!"

Tên tửu bảo rụt đầu lè lưỡi, kêu lên: "Ối mẹ ôi! Cô nương nói thật hay nói chơi đấy? Cô bé bỏng thế này làm gì mà ăn uống được nhiều thế?" Y vừa nói vừa liếc Tiêu Phong, nghĩ thầm: "Chắc cô nương này đang trêu chọc ông ta, gọi đồ ăn uống giống hệt."

A Tử hỏi lại: "Ngươi không có mắt hay sao mà bảo ta còn bé? Hay là người sợ ta không có tiền trả?" Nói xong, nàng móc ra một đĩnh bạc, vứt lên bàn cạch một tiếng, nói: "Ta ăn uống không hết, còn thừa thì cho chó ăn. Việc gì đến ngươi mà phải lôi thôi?" Gã tửu bảo cười cầu tài, nói: "Vâng! Vâng!" Gã liếc Tiêu Phong một cái, nghĩ thầm: "Cô này đang kiếm chuyện, nói bóng gió để mắng ông đó".

Lát sau rượu thịt đã dọn lên, gã tửu bảo lấy một cái bát lớn đặt trước mặt cô gái, cười nói: "Cô nương! Để tiểu nhân rót rượu cho nhé!" A Tử gật đầu nói: "Được lắm!" Tên tửu bảo rót đầy một bát rượu, nghĩ thầm: "Cô nàng uống hết bát rượu này mà không lăn kềnh ra sàn nhà thì mới là chuyện lạ."

A Tử bưng bát rượu lên, kê vào môi nhắp một chút, nhăn mặt nói: "Cay quá! Cay quá! Thứ rượu này uống tệ quá lắm. Giả tỉ trên đời không có mấy tên bợm nhậu ngu ngốc thì rượu các ngươi biết bán cho ai?" Tên tửu bảo lại liếc trộm Tiêu Phong một cái, thấy chàng vẫn mặc kệ không nhìn đến, không khỏi cười thầm.

A Tử lại xé chiếc đùi gà, cắn một miếng rồi la lên: "Trời ơi! Thịt hôi quá!" Tên tửu bảo cãi ngay: "Con gà vừa béo vừa thơm nức mũi thế này, hồi sáng còn kêu cục cục, thịt tươi nguyên nóng sốt, sao lại hôi được?" A Tử nói: "Hừ! Thế thì thân thể ngươi hôi, nếu không thì khách khứa trong quán này hôi thối." Lúc đó ngoài trời tuyết đang bay trắng xóa, trên đường chẳng có ai, trong tửu điếm chỉ có hai người khách là Tiêu Phong và A Tử. Tên tửu bảo vội cười: "Là tiểu nhân hôi thối, đương nhiên là tiểu nhân hôi thối. Cô nương ăn nói nên cẩn thận, kẻo vô ý đắc tội với người ta."

A Tử đáp: "Đắc tội thì đã sao? Không lẽ người ta đánh ta một chưởng chết ngay ư?" Nói xong, nàng lại cầm đũa gắp thịt bò cắn một miếng, chưa kịp nhai đã nhổ toẹt xuống sàn, kêu lên: "Trời ơi, thịt này cũng hôi quá, không phải thịt bò mà đúng là thịt người. Đây đúng là hắc điếm!"

Tên tửu bảo luống cuống vội nói: "Chao ôi, cô nương làm ơn đừng có la to như thế. Đây là thịt bò tươi, sao cô lại bảo là thịt người? Thịt người gì mà thớ to như thế? Màu sắc đâu được đỏ tươi như thế này?" A Tử nói: "Thì ra ngươi biết cả màu sắc lẫn thớ thịt ngươi, giỏi lắm! Ta hỏi thật, hắc điếm này đã giết bao nhiêu người khách rồi?" Gã hầu bàn gượng cười đáp: "Vị cô nương này thích nói đùa quá. Trường Đài quan phủ Tín Dương là một thị trấn lớn, bọn tiểu nhân mở quán đã trên sáu chục năm, làm gì có chuyện giết người bán thịt?"

A Tử nói: "Được rồi! Nhưng nếu không phải thịt người thì cũng là thịt con gì hôi không chịu nổi, chỉ có mấy tên điên khùng mới ăn được. Ái chà, đi ngoài trời tuyết, giày mau dơ quá." Nói rồi cô ta cầm một miếng thịt bò xào đang bốc hơi thơm phức, chà lên chiếc giày bên trái. Mũi giày đầy bùn được cô ta lau một cái liền sạch trơn, bóng lộn mỡ màng.

Gã tửu bảo thấy cô gái đem miếng thịt to tướng đã nấu nướng công phu để lau giày, xót ruột quá, đứng một bên không ngớt thở dài. A Tử hỏi: "Ngươi ấm ức gì thế?" Tên tửu bảo đáp: "Từ trước tới nay, thịt bò xào của tiểu điếm vẫn được coi là món ngon nhất Trường Đài trấn, trong vòng một trăm dặm, ai ai nhắc tới cũng giơ ngón tay cái lên ca ngợi rồi nuốt nước miếng ừng ực. Thế mà cô nương lại đem lau giày, thế là.. thế là.." A Tử trừng mắt hỏi: "Thế là sao?" Gã tửu bảo đáp: "Thế là cô nương coi khinh quá." A Tử nói: "Ngươi bảo ta coi khinh đôi giày ư? Thịt cũng là thịt bò, da đóng giày cũng là da bò, có bên nào khinh bên nào trọng đâu? Quán này còn món gì ngon nữa không, nói nghe thử xem nào." Tên tứu bảo đáp: "Món ngon thì dĩ nhiên là có, nhưng chỉ đắt tiền thôi." A Tử lấy trong bọc ra một đĩnh bạc nữa, quăng lên bàn kêu cạch một tiếng, hỏi lại: "Đã đủ chưa?"

Tên tửu bảo thấy đĩnh bạc đó nặng tới năm lượng, dư tiền hai mâm rượu thịt, vội vàng cười nịnh: "Đủ rồi, đủ rồi, dư nữa là khác. Những món nổi tiếng của tiểu điếm có cá chép hấp rượu, thịt cừu nướng xắt lát, thịt heo chưng tương.." A Tử ngắt lời: "Tốt lắm, làm cho ta mỗi thứ ba đĩa."

Tên tửu bảo nói: "Nếu cô nương muốn nếm qua, thì mỗi thứ gọi một đĩa cũng đủ rồi." A Tử sầm mặt xuống nói: "Ta bảo lấy ba đĩa, thì ngươi cứ lấy ba đĩa, việc gì phải nói tới nói lui?" Tửu bảo vội đáp: "Vâng! Vâng!" Rồi y ngân nga gọi xuống nhà bếp: "Cá chép hấp rượu ba đĩa.. a.. Thịt cừu nướng xắt lát ba đĩa.. a.."

Tiêu Phong ngồi bên cạnh vẫn thản nhiên. Chàng biết cô nàng này kiếm chuyện với tên tửu bảo chỉ cốt đợi mình can thiệp, nên cứ tỉnh bơ như không nghe không thấy, ngắm tuyết phơi phới bay mà uống rượu.

Một lúc sau, nhà bếp bưng ba đĩa thịt cừu thơm phức lên. A Tử nói: "Ngươi để đây một đĩa, đem một đĩa qua mời vị huynh đài bên kia, còn một đĩa để ở bàn trống bên cạnh. Bàn đó cũng sắp đũa bát, để sẵn rượu ngon cho ta." Tên tửu bảo hỏi lại: "Cô nương còn có khách sắp đến hay sao?" A Tử trừng mắt nói: "Ngươi thật là lắm chuyện, coi chừng ta cắt lưỡi đó." Gã tửu bảo thè lưỡi ra cười, đùa lại: "Chỉ e cô nương không đủ bản lĩnh cắt cái lưỡi của tiểu nhân."

Tiêu Phong không khởi động lòng, liếc y một cái nghĩ thầm: "Ngươi dám trêu vào con tiểu ma đầu này, muốn tìm cái chết hay sao?"

Tửu bảo bưng một đĩa thịt cừu qua đặt lên bàn Tiêu Phong, chàng chẳng nói năng gì, cầm đũa gắp ăn. Lát sau, cá chép hấp rượu cùng thịt heo chưng tương cũng đem lên mỗi thứ ba đĩa, một đĩa cho Tiêu Phong, một đĩa cho A Tử, còn một đĩa để ở bàn trống bên cạnh. Tiêu Phong không từ chối, hễ dọn lên là ăn uống tự nhiên. A Tử chỉ nếm mỗi đĩa một miếng rồi chê: "Hôi quá, thịt hôi thối quá, chỉ đáng cho chó ăn." Rồi lại gắp thịt cừu, cá chép, thịt heo xát vào đôi giày. Tên tửu bảo nhìn mà xót ruột, nhưng không làm gì được.

Tiêu Phong nhìn ra cửa sổ, nghĩ thầm: "Con tiểu ma đầu này thật là khó chịu, nó cứ bám theo mình thì hậu hoạn không biết đến đâu mà kể. A Châu dặn ta chiếu cố cho nó, nhưng con quỷ sứ này đã thành tinh rồi, tự lo cho mình thừa sức, chẳng cần đến ta phải nhọc lòng. Ta cứ làm như không thấy ả, tránh đi trước là hơn."

Vừa nghĩ đến đây, bỗng chàng thấy trên con đường đầy tuyết một người đang đi tới. Trời lạnh ngắt mà y chỉ mặc phong phanh một mảnh áo đơn bằng vải gai màu vàng, tưởng chừng không biết lạnh là gì, chỉ chốc lát đã đến gần. Tiêu Phong thấy y trạc bốn mươi tuỗi, đeo hai cái khuyên tai lớn bằng vàng sáng choang, mũi to như mũi sư tử, miệng rộng đến mang tai. Tướng mạo y vừa dữ dằn vừa kỳ quái, rõ ràng không phải người Trung Nguyên,

Hắn đến trước cửa quán, vén màn bước vào, nhìn thấy A Tử thì có vẻ ngạc nhiên rồi lại mừng rỡ. Dường như gã định nói gì lại thôi, ngồi vào một cái bàn trống. A Tử bảo: "Sẵn rượu thịt đấy, sao không ăn đi?" Người kia thấy một chiếc bàn bày đầy thức ăn nhưng không có người, liền nói: "Sư muội để dành cho ta đấy ư? Đa tạ nhé." Gã nói xong đi đến bàn đó ngồi xuống, lấy trong bọc ra một lưỡi dao nhỏ cán vàng, cắt thịt bò ra rồi lấy tay bốc ăn, cứ ăn vài miếng lại uống một bát rượu lớn, tửu lượng hình như cũng khá.

Tiêu Phong nghĩ thầm: "Thì ra gã này cũng là đồ đệ của Tinh Tú Lão Quái". Chàng vốn không ưa tướng mạo cùng cử chỉ của tên này, nhưng thấy y uống rượu không tệ nên lại thấy không hoàn toàn chán ghét.

A Tử thấy y uống hết một bình rượu, bèn nói với gã tửu bảo: "Đem bát rượu này qua cho vị huynh đài kia." Cô nói xong, thò hai tay vào bát rượu trước mặt, rửa hết dầu mỡ dính trên tay, rồi đẩy cái bát ra. Tên tửu bảo nghĩ thầm: "Bát rượu này làm sao uống được nữa?".

A Tử thấy y ngần ngừ không dám bưng bát rượu đi, liền giục: "Mau bưng đi! Bên kia người ta đang đợi mi đó." Gã tửu bảo cười: "Cô nương lại nói giỡn rồi. Bát rượu này ai mà dám uống?" A Tử vênh mặt lên nói: "Không uống được ư? Ngươi chê tay ta bẩn ư? Đã thế thì người uống một hớp, ta cho ngươi một đĩnh bạc." Cô nói xong, cho tay vào bọc lấy ra một đĩnh bạc chừng một lượng, ném xuống bàn. Tên tửu bảo cả mừng, nói: "Uống một hớp rượu được một lượng bạc, thế thì lời quá. Đừng nói bát rượu này cô nương mới rửa tay, mà dẫu có rửa cái gì tiểu nhân cũng dám uống." Nói xong gã bưng bát rượu lên, hớp một ngụm lớn.

Ngờ đâu rượu vào trong mồm chẳng khác nào một cục sắt nung đỏ gí vào lưỡi, gã tửu bảo đau rát không chịu nổi, rống lên một tiếng rồi há hốc mồm phun rượu ra tung tóe, hai chân nhảy chồm chồm, vừa giãy giụa vừa la: "Trời ơi! Ối cha ơi! Ối mẹ ơi!" Tiêu Phong thấy vậy cũng giật mình, tiếng la của y càng lúc càng khó nghe, tựa hồ đầu lưỡi đã sưng lên rồi.

Mọi người trong quán từ chưởng quĩ đến đầu bếp, hỏa công, cùng những tên tửu bảo khác chạy cả ra, rối rít hỏi: "Cái gì vậy? Cái gì vậy?" Tên tửu bảo không nói được nữa bèn thè lưỡi ra, ai cũng thấy đầu lưỡi sưng to gấp ba lần bình thường, đen sạm lại. Tiêu Phong lại càng kinh ngạc, lẩm bẩm: "Tựa hồ gã bị trúng phải kịch độc. Con tiểu ma đầu chỉ thò tay vào bát rượu một lúc mà rượu đã độc đến thế."

Mọi người thấy tình hình quái dị như vậy, ai cũng bở vía, nhốn nháo cả lên: "Trúng phải chất độc gì vậy?" "Có phải bị rết cắn không?" "Đừng chần chờ nữa, mau mau đi gọi thầy thuốc!"

Tên tửu bảo đưa tay trỏ vào A Tử, đột nhiên chạy đến trước mặt cô ta, quỳ mọp xuống dập đầu lạy binh binh, A Tử cười nói: "Ta không dám! Ngươi cầu xin ta chuyện gì?" Gã ngẩng lên, trỏ tay vào miệng mình, rồi lại dập đầu lạy tiếp. A Tử cười hỏi: "Có phải ngươi muốn ta chữa trị không?" Tên tửu bảo đau đến toát mồ hôi hột, hai tay cào khắp mình mẩy, rồi chắp tay lại dập đầu lạy tiếp.

A Tử thò tay vào bọc lấy ra một cây dao nhỏ cán vàng, giống hệt như dao của gã mũi sư tử, một tay nắm gáy tên tửu bảo, tay phải vung dao soẹt một tiếng, cắt đứt một khúc lưỡi của y. Mọi người bàng quan đều la hoảng, máu trong miệng tên tứu bảo phun ra như suối. Ban đầu gã vừa đau đớn vừa kinh hãi, nhưng chất độc theo máu chảy ra, đầu lưỡi giảm đau được vài phần, vết sưng cũng xẹp xuống. A Tử lại lấy trong bọc một chiếc bình nhỏ, mở nắp ra, dùng móng tay khều một chút bột vàng búng lên đầu lưỡi tên tửu bảo, vết thương hết chảy máu ngay.

Tên tửu bảo không dám oán hận mà cũng không thể tạ ơn, ngẩn ngơ một lúc rồi ú ớ: "Cô nương.. cô nương.." Gã bị cắt mất đầu lưỡi, nói năng không rõ ràng được nữa.

A Tử lấy lại đĩnh bạc trên bàn, cười nói: "Ta hứa là ngươi uống một hớp, ta sẽ cho ngươi một đĩnh bạc. Hớp rượu khi nãy ngươi nhổ ra mất rồi, ta lấy tiền lại. Người muốn lấy tiền thì uống một hớp nữa đi." Gã hầu bàn xua tay lia lịa, ấp úng nói: "Tiểu nhân không uống rượu, không lấy tiền nữa." A Tử cất tiền vào bọc, cười nói: "Lúc nãy người nói gì? Hình như là: Chỉ e cô nương không đủ bản lĩnh cắt cái lưỡi của tiểu nhân. Rồi sau người lại dập đầu lia lịa xin ta cắt lưỡi. Thế thì cô nương có đủ bản lĩnh không?"

Tên tửu bảo bấy giờ mới tỉnh ngộ, mình chỉ lỡ lời một câu mà phải chịu bao nhiêu đau khổ. Gã tức giận đến cực điểm, toan xông lên đập cho cô ả một trận, nhưng hai bàn bên cạnh, bàn nào cũng có một người cao to hùng tráng, xem ra có quan hệ với cô ta, nên đâm ra khiếp đảm. A Tử lại hỏi: "Ngươi có uống rượu nữa không?" Gã hầu bàn giận dữ đáp: "Lão.. lão gia.." Y toan thóa mạ mấy câu, nhưng lại sợ cô ta nổi nóng, quay mặt chạy vào trong nhà, không dám thò đầu ra nữa.

Mọi người đều xôn xao, hầm hầm nhìn A Tử một lúc rồi cũng ai làm việc nấy, một gã tửu bảo khác ra tiếp khách. Tên này rút được kinh nghiệm, nơm nớp đề phòng, không dám nói câu nào.

Tiêu Phong nóng mặt, lẩm bẩm: "Tên tửu bảo kia chỉ nói đùa một câu, vậy mà con tiểu quỷ này trừng trị gã đến tàn phế, suốt đời không nói năng rõ ràng được nữa. Mới tí tuổi đầu mà hành sự đã độc ác đến thế."

A Tử lại gọi: "Tửu bảo, đem bát rượu này qua mời vị huynh đài kia." Nói xong, nàng giơ tay chỉ vào gã mũi sư tử. Gã hầu bàn thấy nàng chỉ tay vào bát rượu, giật bắn người lên, nghe nàng bảo đem qua mời người khác uống, lại càng hoảng hốt. A Tử cười nói: "À, đúng rồi. Ngươi không chịu đem rượu cho khách uống, chắc là lên cơn thèm rượu chứ gì? Một bát chẳng đáng gì, ngươi cứ việc uống đi." Tên tửu bảo sợ đến mặt cắt không ra máu, ấp úng: "Không, không.. Tiểu nhân.. tiểu nhân không uống." A Tử nói: "Vậy thì mau bưng đi." Tên tửu bảo đáp: "Vâng! Vâng!" Gã trịnh trọng bưng bát rượu, run rẩy đi qua bàn gã mũi sư tử ngồi, chỉ sợ sóng sánh rượu rớt ra tay. Gã vừa đi răng vừa đánh bò cạp, bát rượu đặt xuống bàn rung lên kêu lạch cạch.

Gã mũi sư tử bưng bát rượu bằng cả hai tay, quan sát thật kỹ, còn cách miệng chừng một thước thì ngừng lại không đưa lên nữa mà cũng không hạ xuống bàn. A Tử cười hỏi: "Nhị sư huynh, sao vậy? Tiểu muội mời sư huynh uống rượu, mà sư huynh không nể mặt ư?"

Tiêu Phong nghĩ thầm: "Bát rượu này độc ghê gớm, đương nhiên gã kia không thể nghe nói khích mà mất mạng một cách hồ đồ. Dù ai có nội công ghê gớm đến đâu cũng khó mà chống nổi bát rượu độc này." Nào ngờ gã mũi sư tử vẫn chăm chú nhìn một lúc nữa rồi đưa bát lên môi, uống ừng ực. Tiêu Phong giật mình tự hỏi: "Chẳng lẽ gã này nội lực thâm hậu tới mức hóa giải được chất kịch độc đó?". Chàng còn đang ngẫm nghĩ, đã thấy y uống cạn, để bát xuống bàn, tiện tay chùi hai ngón tay cái còn ướt vào vạt áo. Tiêu Phong suy nghĩ một chút, tỉnh ngộ: "Đúng rồi, lúc nãy y bưng chén một hồi chưa uống, chắc là đã thò hai ngón tay cái vào, ngón tay có thuốc giải, hóa tán được chất độc trong rượu."

A Tử thấy y uống hết bát rượu độc, vẻ mặt hoảng hốt, gượng cười nói: "Bản lĩnh hóa độc của nhị sư huynh tiến bộ rất nhiều, tiểu muội xin chúc mừng!" Gã mũi sư tử không đáp, lại ngồi ăn như rồng cuốn, chỉ một loáng thức ăn trên bàn đã mười phần hết chín, rồi giơ tay xoa bụng, đứng lên nói: "Đi thôi!" A Tử đáp: "Sư huynh cứ tự tiện, chúng ta còn có ngày tái ngộ." Gã mũi sư tử trừng mắt nói: "Tái ngộ cái gì? Sư muội phải đi theo ta." A Tử lắc đầu: "Tiểu muội không đi." Nàng chạy đến bên Tiêu Phong, nói tiếp: "Tiểu muội đã hẹn với đại ca đây, cùng nhau đi Giang Nam một chuyến."

Gã mũi sư tử lại trừng mắt nhìn Tiêu Phong, hỏi: "Thằng cha này là ai?" A Tử đáp: "Sư huynh phải nói năng cho lễ phép. Đây là tỉ phu của tiểu muội, là phu quân của tỉ tỉ tiểu muội, quan hệ rất thân thiết." Gã mũi sư tử nói: "Ngươi ra đề mục, ta đã làm xong rồi, ngươi phải tuân lời ta. Ngươi quên mất lề luật của bản môn rồi chăng?"

Tiêu Phong nghĩ bụng: "Thì ra A Tử bảo y uống rượu độc, là đưa ra một đề mục khó khăn, không ngờ gã lại giải quyết được."

A Tử đáp: "Tiểu muội ra đề mục hồi nào? Phải chăng sư huynh nói tới bát rượu vừa rồi? Ha ha, buồn cười đến chết được, bát rượu đó là tiểu muội trị tội gã tửu bảo. Đường đường một bậc cao đồ phái Tinh Tú lẽ đâu lại đi uống rượu thừa của một tên hầu bàn? Tên tửu bảo hạng bét kia uống cũng không chết, sư huynh uống được thì có gì là lạ? Tiểu muội muốn đánh đố sư huynh thì đâu có đưa ra đề mục dễ dàng đến thế?" Ai cũng biết cô nàng cãi chầy cãi cối nhưng muốn phản bác cũng không phải dễ.

Gã mũi sư tử nén giận, nói: "Sư phụ ra lệnh cho ta tìm sự muội rồi dẫn về. Ngươi muốn chống lại mệnh lệnh của sư phụ chăng?" A Tử cười đáp: "Nhị sư huynh ơi! Sư phụ thương tiểu muội lắm. Nhờ nhị sư huynh về bẩm lại với sư phụ là tiểu muội trên đường gặp tỉ phu, muốn cùng xuống Giang Nam du ngoạn ít bữa, tiện thể tìm ít món châu báu cổ vật mua biếu sư phụ, sau đó sẽ về." Gã mũi sư tử lắc đầu nói: "Không được! Ngươi lấy trộm của sư phụ.." Nói đến đây y liếc qua Tiêu Phong, dường như sợ tiết lộ bí mật, ngừng lại một chút rồi tiếp: "Sư phụ nổi giận, ra lệnh tìm ngươi về ngay lập tức." A Tử năn nỉ: "Nhị sư huynh đã biết sư phụ nổi giận, lại còn ép tiểu muội phải trở về, là muốn tiểu muội nếm mùi đau khổ chứ gì? Lần sau sư phụ trách phạt nhị sư huynh, tiểu muội không van xin giúp cho nữa đâu."

A Tử nói câu này làm gã mũi sư tử phải động tâm, lập tức tỏ ra do dự. Chắc hẳn Tinh Tú Lão Quái cưng chiều cô ta, cô nói gì sư phụ cũng để vào tai. Gã trầm ngâm một lát rồi nói: "Nếu ngươi nhất định không chịu về thì đưa vật đó cho ta. Ta đem về báo cáo rồi nộp cho sư phụ, may ra lão nhân gia bớt giận."

A Tử nói: "Sư huynh bảo sao? Vật đó là vật gì? Tiểu muội chẳng hiểu gì hết." Gã mũi sư tử dằn giọng nói: "Này sư muội! Ta chưa động thủ mạo phạm đến ngươi là còn nghĩ đến tình nghĩa đồng môn. Ngươi phải biết phân biệt phải trái mới được." A Tử cười đáp: "Đương nhiên là tiểu muội biết phân biệt phải trái. Tiểu muội mời sư huynh ăn uống là điều phải, còn sư huynh bức bách tiểu muội quay về là điều trái." Gã mũi sư tử nói: "Đừng nhiều lời vô ích. Một là ngươi giao lại vật đó, hai là theo ta về." A Tử đáp: "Tiểu muội không về, cũng chẳng hiểu sư huynh nói tới vật gì. Sư huynh muốn có cái gì để làm tin chăng? Được rồi.." Nàng rút cành kim thoa cài trên tóc, nói: "Chắc là sư huynh muốn có vật gì làm tin để về báo cáo với sư phụ, cầm cái thoa này là được." Gã mũi sư tử tức giận nói: "Thế là ngươi buộc ta phải động thủ rồi." Nói xong, y tiến lên một bước.

A Tử thấy y tỉnh bơ uống cạn bát rượu độc, rõ ràng bản lĩnh dụng độc cao hơn nàng nhiều, mà cả nội lực võ công, không môn gì nàng đối địch với y được. Phái Tinh Tú võ công hiểm độc tàn ác, đã ra tay là không có nể nang gì, đối phương trúng một đòn thì không chết cũng tàn phế suốt đời, cái chết cũng thảm khốc phi thường. Sư huynh đệ trong phái này chỉ khi tranh giành thứ hạng cao thấp mới phải đánh nhau, chứ chẳng bao giờ cùng đối chiêu luyện quyền, vì đã đối chiêu là có hơn thua, đã có hơn thua là có kẻ mất mạng. Ngay cả sư phụ dạy cho đệ tử cũng không thi triển công phu. Tinh Tú Lão Quái chỉ truyền thụ yếu quyết luyện công, sau đó đồ đệ tự mình tu luyện, không ai biết ai bản lĩnh cao thấp thế nào, chỉ đến khi đối địch mới biết ai hơn ai kém. Vừa rồi A Tử lấy rượu độc để thử thách sư huynh, cũng là theo môn qui của phái Tinh Tú. Giả tỉ gã mũi sư tử chịu thua thì phải để nàng sai khiến, đằng này gã tuyệt nhiên không do dự bưng bát rượu độc uống một hơi cạn sạch, A Tử phải nhất nhất nghe lời y, nếu không là gặp đại họa ngay. Cô nàng thấy tình thế nguy cấp, vội níu áo Kiều Phong kêu cứu: "Tỉ phu ơi, có người định giết muội, Tỉ phu cứu muội đi!"

Tiêu Phong thấy nàng gọi một điều tỉ phu hai điều tỉ phu thì không khỏi động lòng, nhớ tới di ngôn của A Châu, đã toan ra tay đuổi gã mũi sư tử đi ngay. Nhưng chàng nhìn qua, thấy mặt đất đầy máu tươi, lại nghĩ rằng A Tử đối phó với tên tửu bảo quá sức độc ác, phải để cô nàng chịu đau khổ ít nhiều mà rút kinh nghiệm. Chàng liền nhìn ra cửa sổ, làm như không biết.

Gã mũi sư tử cũng chẳng muốn động thủ với A Tử làm gì, chỉ muốn hăm dọa cho nàng sợ mà ngoan ngoãn theo về. Y bèn vươn tay phải ra chộp vào cổ tay trái Tiêu Phong.

Tiêu Phong liếc thấy đầu vai của y hơi chuyển động, biết ngay y định xuất thủ đánh mình, nhưng chàng chẳng thèm để ý, để cho y chộp lấy cổ tay. Lập tức cổ tay chàng nóng như lửa đốt, biết ngay bàn tay đối phương có tẩm thuốc độc, liền vận chân khí lên cổ tay, cười nói: "Sao thế? Các hạ muốn uống rượu với ta chăng?" Tiêu Phong đưa tay phải rót đầy hai bát rượu lớn, nói: "Xin mời!"

Gã mũi sư tử liên tiếp vận kình nhưng Tiêu Phong vẫn ung dung như không hay biết gì cả. Gã nghĩ thầm: "Ngươi đừng đắc ý vội, lát nữa sẽ biết độc chưởng của ta ghê gớm cỡ nào". Y bèn nói: "Có rượu thì uống, sao lại không dám?" Y bưng bát rượu lên, hớp ngay một ngụm lớn. Ngờ đâu rượu vào đến cổ họng, một luồng nội khí từ dưới ngực bỗng trào ngược lên. Gã không sao nhịn được, oẹ lên một tiếng, ngụm rượu chưa nuốt đã phun ra ướt cả vạt áo đằng trước, lại còn ho sặc sụa một hồi lâu.

Tình trạng này khiến cho gã mũi sư tử phải hoảng hồn. Gã biết rằng luồng nội khí bốc ngược lên là do nội lực hùng hậu của đối phương truyền vào thân thể mình mà ra, giả tỉ đối phương muốn lấy mạng mình cũng dễ như trở bàn tay. Y kinh hãi vội buông cổ tay Tiêu Phong ra. Ngờ đâu cổ tay chàng lại hút chặt bàn tay y, muốn buông ra cũng không được. Gã sợ quá, cố sức giãy giụa, Tiêu Phong ngồi yên không nhúc nhích. Gã cố xô đẩy nhưng chẳng khác gì thạch sùng lay cột đình, chẳng ăn thua gì.

Tiêu Phong lại rót một bát rượu nữa, nói: "Vừa rồi lão huynh chưa uống rượu. Uống cạn bát này đi rồi chúng ta sẽ chia tay."

Gã mũi sư tử lại ra sức vùng vẫy mà vẫn không thoát ra được, liền vung tay trái nhắm ngay mặt Tiêu Phong đánh ra một chưởng. Chương lực chưa đến, Tiêu Phong đã nghe thấy mùi vừa tanh vừa thối như cá ươn, liền nhẹ nhàng vung tay phải lên gạt ra. Gã đã dụng toàn lực để phát chưởng, ngờ đâu nửa chừng bị đẩy xéo đi, muốn thu về cũng không được. Y biết ngay đối phương đã dùng phép tá lực đả lực, điều khiển cánh tay trái y đánh ngược về vai phải nghe một tiếng rắc, xương vai đã trật khớp rồi.

A Tử cười nói: "Nhị sư huynh có lỗi gì đâu mà tự đánh mình mạnh như thế, chẳng nhẹ đòn chút nào. Tiểu muội thật không hiểu ý tứ sư huynh ra sao."

Gã mũi sư tử căm hận đến cực điểm, khổ nỗi bàn tay phải đã dính vào cổ tay Tiêu Phong không gỡ ra được, còn tay trái không dám đánh tiếp chưởng thứ hai. Gã giãy giụa đến lần thứ ba vẫn không thoát, bèn vận nội lực thúc đẩy chất độc trong lòng bàn tay vào cơ thể đối phương. Ngờ đâu luồng nội lực đó vừa đến cổ tay Tiêu Phong lập tức bị hất ngược về, không ngừng tại bàn tay, mà lại tiếp tục chạy lên. Gã hoảng hồn vội vàng vận nội lực để chống đỡ. Thế nhưng luồng nội khí âm độc đó chẳng khác gì sóng biển tràn vào sông, chỉ chốc lát đã lên đến khuỷu tay, rồi đến nách, rồi từ từ tràn vào lồng ngực. Gã mũi sư tử tự biết chất độc của mình lợi hại ghê gớm, truyền vào đến tim là chết ngay. Y sợ đến mồ hôi đổ ra đầm đìa, nhỏ giọt xuống sàn nhà.

A Tử lại cười, nói: "Nội lực của nhị sư huynh thật là cao cường. Mùa đông giá rét thế này, vậy mà sư huynh vẫn tuôn mồ hôi ra được, tiểu muội khâm phục vô cùng." Gã mũi sư tử chẳng còn lòng dạ đâu mà để ý tới câu nói châm chọc của A Tử. Gã biết mình sắp chết nhưng chẳng lẽ buông xuôi, càng ra sức chống chọi, cố duy trì được lúc nào hay lúc ấy.

Tiêu Phong nghĩ bụng: "Gã này với mình không thù không oán, tuy y vô cớ xuất thủ đánh mình thật là láo xược, nhưng cũng chưa đáng giết." Chàng bèn thu nội lực về.

Gã mũi sư tử thấy bàn tay mình đột nhiên rút về được, luồng nội lực chứa chất độc đã đến màng ngoài trái tim lập tức phóng ngược ra lòng bàn tay. Gã nửa mừng nửa sợ, lùi lại hai bước thở hồng hộc, không dám tiến đến gần Tiêu Phong nữa.

Gã mũi sư tử đúng là chết đi sống lại, chẳng khác gì đến Quỉ Môn Quan lại quay về. Tên tửu bảo chẳng biết gì hết, lật đật đến rót rượu cho y. Gã mũi sư tử phóng ra một chưởng đánh ngay mặt tên tửu bảo, tên này chỉ kêu được một tiếng rồi ngã ngửa ra ngay. Gã vội vàng nhảy vọt ra cửa, chạy như bay về hướng tây nam. Lát sau có một hồi còi lanh lảnh, thanh âm mơ hồ từ xa truyền đến.

Tiêu Phong nhìn gã tửu bảo, thấy da mặt đen xạm lại, khí đã tuyệt rồi. Chàng không khỏi tức giận, quát lên: "Thằng này quả là khả ố, mới được tha mạng đã lại vô cớ giết người", bèn xô cái bàn ra, toan đuổi theo. A Tử kêu lên: "Tỉ phu! Tỉ phu ngồi xuống đã, để tiểu muội nói cho nghe.".

Giả tỉ nàng chỉ gọi Kiều bang chủ hay Tiêu đại ca gì gì thì Tiêu Phong nhất định không lý gì đến, nhưng hai tiếng tỉ phu khiến chàng nhớ đến A Châu, lòng đau như cắt, liền hỏi lại: "Sao thế?" A Tử đáp: "Nhị sư huynh không khả ố đâu. Hắn xuất thủ không đả thương được tỉ phu, chất độc chưa tán phát, không giết một người không được." Tiêu Phong có nghe nói trong võ công tà phái có một thủ pháp gọi là tán độc, chất độc tụ vào bàn tay rồi, nếu không tống được vào thân thể địch nhân thì cũng phải đánh chết bò, ngựa hay một con vật gì khác, nếu không chất độc lại chạy ngược vào mình. Chàng bèn nói: "Nếu y muốn tán độc, sao không tìm một con vật mà đánh? Sao lại vô cớ xuất thủ giết người?" A Tử nhìn thi thể tên tửu bảo nằm dưới đất, cười nói: "Những người ngu ngốc như thế có khác gì bò ngựa, giết y cũng như giết một con vật thôi." Cô ta nói câu đó trơn tru, tựa như chuyện xảy ra tất nhiên phải thế, chẳng có gì đáng bận tâm.

Tiêu Phong phát nổi da gà, nghĩ thầm: "Con nhãi này độc ác không có tính người, mình chiếu cố đến nó làm gì nữa?". Chàng thấy bọn chủ quán lại chạy ra, không muốn lôi thôi, liền nhảy vọt ra khỏi tửu điếm rồi chạy về hướng bắc.

Chàng nghe tiếng chân A Tử đuổi theo, lại càng gia tăng cước bộ, chỉ mấy bước đã bỏ xa. Bỗng nghe thanh âm A Tử vọng tới, thật là mềm mại ôn nhu: "Tỉ phu ơi! Tỉ phu đợi muội với.. muội không theo kịp."

Vừa rồi Tiêu Phong đối diện nói chuyện với cô nàng, thấy vẻ mặt cử chỉ đều đáng ghét, mà bây giờ nghe thanh âm phía sau gọi tới êm ái chẳng khác gì giọng A Châu. Hai chị em cùng cha cùng mẹ, tuy mới sinh đã phân ly mà âm điệu cũng giống hệt nhau.

Tiêu Phong bàng hoàng trong dạ, dừng chân ngoảnh lại, đôi mắt rưng rưng mơ hồ thấy một thiếu nữ đang chạy trên mặt đất đầy tuyết phủ, chẳng khác gì A Châu sống lại. Bất giác chàng giang tay ra, khẽ kêu lên: "A Châu! A Châu!"

Trong chốc lát chàng tưởng mình cùng A Châu đang từ Nhạn Môn Quan quay lại Trung Nguyên, chuyện trò thân mật, má tựa vai kề. Bỗng một thân hình mềm mại sà vào lòng chàng, kêu lên: "Tỉ phu! Sao không đợi muội?"

Tiêu Phong chợt tỉnh giấc mơ, nhè nhẹ đẩy nàng ra, nói: "Cô đi theo ta làm chi?" A Tử nói: "Tỉ phu đuổi nhị sư huynh đi giúp muội, đương nhiên muội phải đến tạ ơn." Tiêu Phong lạnh lùng nói: "Cô không cần phải cảm ơn ta. Ta cũng chẳng có ý giúp cô, mà vì hắn xuất thủ đánh ta, ta phải tự vệ để khỏi chết vì tay hắn mà thôi." Chàng nói xong lại quay người bước đi.

A Tử chạy lên định nắm cánh tay chàng. Tiêu Phong hơi nghiêng người tránh, A Tử chộp hụt, loạng choạng ngã xiêu về phía trước. Kể ra thì cô nàng dư sức gượng dậy, nhưng được dịp nhõng nhẽo, té xuống nằm luôn trên tuyết, la to: "Ôi chao! Ngã đau đến chết người!"

Tiêu Phong biết nàng giả vờ, nhưng nghe giọng nói ôn nhu lại nhớ đến A Châu, cảm thấy trong lòng êm ái. Chàng quay lại đưa tay nắm cổ áo nàng kéo dậy. A Tử tủm tỉm cười, nói: "Tỉ phu ơi! A Châu tỉ tỉ nhờ tỉ phu chiếu cố cho muội, sao tỉ phu không nghe lời tỉ tỉ? Muội là một cô gái nhỏ lênh đênh cô khổ, bị bao nhiêu người ức hiếp, tỉ phu không ngó ngàng gì tới muội hay sao?"

Mấy câu đó nghe thật đáng thương. Tiêu Phong biết mười phần có đến chín là giả dối, nhưng vẫn không khỏi mềm lòng. Chàng hỏi lại: "Cô theo ta có ích gì đâu? Trong lòng ta u uất, không muốn nói chuyện với ai. Mỗi khi cô làm chuyện càn rỡ thì ta lại ngăn cản." A Tử đáp: "Tỉ phu u uất trong lòng, thì muội đi theo giải sầu, biết đâu dần dần sẽ khuây khỏa hơn? Tỉ phu muốn uống rượu thì muội rót rượu, tỉ phu thay quần áo ra thì muội giặt giũ khâu vá. Muội mà làm gì sai quấy thì tỉ phu can thiệp cho. Song thân bỏ rơi muội từ bé, không ai nuôi nấng, không ai dạy dỗ, nên nhiều việc muội chẳng hiểu thế nào là phải thế nào là quấy.." Nói đến đây thanh âm cô nàng nghẹn lại, nước mắt ứa ra.

Tiêu Phong nghĩ bụng: "Tỉ muội cô này có tài đóng kịch, bản lĩnh gạt người lại càng ghê gớm đến mức lô hỏa thuần thanh. May mà ta sớm biết cô ta tính tình thâm độc, nhất định không để mắc mưu. Chẳng hiểu cô ta đòi theo mình là mưu tính chuyện gì? Phải chăng sư phụ cô ả tính ám hại ta?" Nghĩ tới đây, Tiêu Phong không khỏi rùng mình, tự hỏi: "Hay là kẻ đại cừu của ta có liên quan đến Tinh Tú Lão Quái, có khi chính là lão không chừng. Nhưng Tiêu mỗ đường đường nam tử, không lẽ lại sợ một con bé ngấm ngầm hạ độc thủ? Chi bằng tương kế tựu kế, ta cứ cho nó theo để xem còn những trò gì, biết đâu chừng nhờ thế mà mình trả được mối thâm cừu." Chàng liền nói: "Đã thế thì cô cùng đi với ta. Nhưng ta phải nói trước, nếu cô giết hại người vô tội thì ta không tha đâu."

A Tử thè lưỡi ra, nói: "Nếu như người ta hại muội trước thì sao? Nếu như muội phải giết người xấu thì sao?" Tiêu Phong nghĩ thầm: "Con nhãi này giảo hoạt lắm, nếu nó hại người, thế nào cũng cãi là người ta hại nó trước; nếu nó giết người tốt, nó sẽ cãi là nhận lầm kẻ xấu." Chàng bèn nói: "Bất luận là người xấu hay tốt, cô chẳng cần để ý làm gì. Cô đã đi cùng với ta thì không ai làm gì được cô đâu. Ta nói tóm tắt là cô không được động thủ với ai." A Tử nói: "Được rồi! Vậy thì tiểu muội quyết không động thủ, chuyện gì cũng giao cho tỉ phu hết là xong." Rồi cô nàng thở dài sườn sượt, nói tiếp: "Ôi chao! Tỉ phu bất quá là lang quân của tỉ tỉ mà đã quản thúc muội chặt chẽ đến thế. Nếu như A Châu tỉ tỉ chưa chết, không hiểu bị giám sát kỹ lưỡng đến đâu."

Tiêu Phong nổi giận, đã toan la mắng mấy câu nhưng lại không nỡ. Đột nhiên chàng thấy ánh mắt tinh quái của A Tử lộ vẻ đắc ý, tự hỏi: "Sao con bé này lại hả hê như thế nhỉ?". Chàng nghĩ một lúc không ra bèn không để bụng nữa, hăng hái bước đi, được chừng một dặm mới tỉnh ngộ, la thầm: "Chết rồi! Chắc là cô ta có đại cừu nhân đang kiếm chuyện, nên lừa gạt để mình bảo vệ cho. Ta đã bảo: Cô đã đi cùng với ta thì không ai làm gì được cô đâu, tức là nhận lời chiếu cố cô ả rồi. Nhưng dẫu cho mình không nói thế, thì cũng không thể để muội tử của A Châu bị người ta ức hiếp được."

Đi thêm một dặm nữa, A Tử lại hỏi: "Tỉ phu ơi! Để muội hát cho tỉ phu nghe có được chăng?" Tiêu Phong đã quyết định: "Dù cô nàng muốn chuyện gì, ta cũng không nghe. Ta càng gắt gao, càng có lợi cho cô ta". Chàng gạt đi: "Không được." A Tử nói: "Thế muội ra câu đố để tỉ phu đoán thử, được chăng?" Tiêu Phong đáp: "Không được." A Tử nói: "Vậy tỉ phu kể chuyện vui cho muội nghe, được chăng?" Tiêu Phong đáp: "Không được." A Tử nói: "Thế thì tỉ phu hát cho muội nghe vậy." Tiêu Phong đáp: "Không được." Cô ta đề nghị luôn mười bảy, mười tám chuyện, Tiêu Phong không cần nghĩ ngợi, đều cự tuyệt ngay. A Tử lại hỏi: "Vậy muội không thổi sáo cho tỉ phu nghe, được chăng?" Tiêu Phong quen mồm đáp: "Không được." Chàng biết ngay mình buột miệng nói hớ, cô ta muốn không thổi sáo mà mình không chịu, hóa ra là mình bắt cô ta thổi sáo rồi. Nhưng chàng đã trót nói ra miệng, đành để mặc cô ta muốn thổi sáo thì thổi.

A Tử lại thở dài nói: "Cái gì tỉ phu cũng bảo không được, thật khó chiều quá. Tỉ phu nhất định bắt muội phải thổi sáo thì muội đành phải thổi vậy." Nàng nói xong, rút trong bọc ra một ống ngọc địch.

Cây sáo này rất ngắn, chỉ độ bảy tấc, trắng tinh, bóng lộn trông rất xinh xắn. A Tử đưa lên môi khẽ thổi, một âm thanh réo rắt vang đi thật xa. Khi nãy gã mũi sư tử bỏ đi, cũng có nổi lên một tiếng còi lanh lảnh như thế. Lẽ ra thì tiếng sáo phải nhẹ nhàng êm ái, nhưng thanh âm của cây ngọc địch này nghe chỉ có vẻ thê lương.

Tiêu Phong hiểu ngay lý do, trong bụng cười thầm: "Phải rồi! Thì ra cô nàng báo hiệu cho đồng đảng mai phục quanh đây, định tập kích ta. Lẽ nào Tiêu mỗ lại sợ cái bọn chuột nhắt này? Có điều đánh nhau với chúng chẳng có gì thú vị."

Chàng biết bọn đệ tử Tinh Tú Lão Quái từ võ công đến tính nết đều cực kỳ âm độc, lơ là một chút là bị ám toán ngay. Tiếng địch của A Tử chuyển giọng lúc cao lúc thấp, lúc rống lên như heo bị cắt tiết, lúc thê thảm như ma quỉ kêu gào, hết sức khó nghe. Một cô gái hoạt bát dễ thương như A Tử, cầm một ống ngọc địch xinh xắn mà lại thổi ra âm điệu rùng rợn, biểu lộ đầy đủ vẻ tà ác của phái Tinh Tú.

Tiêu Phong để mặc cô ta, vẫn tiếp tục đi, chẳng mấy chốc đến một con đường nhỏ chỉ vừa một người đi trên đỉnh núi. Chàng nghĩ thầm: "Giả tỉ địch nhân phục kích thì phải chọn chỗ này". Quả nhiên khi lên đến đỉnh núi, vừa qua một vùng đất bằng đã thấy bốn người chặn phía trước. Cả bốn gã đó đều mặc áo vải gai màu vàng, giống hệt gã mũi sư tử vừa gặp trong quán rượu. Bốn gã không đứng hàng ngang, mà kẻ trước người sau một dãy, mỗi tên cầm một cây cương trượng dài ngoằng.

A Tử không thổi sáo nữa, dừng lại gọi to: "Tam sư huynh, tứ sư huynh, thất sư huynh, bát sư huynh, bốn vị khỏe cả chứ? Sao thật khéo quá, chúng ta gặp nhau cả nơi đây." Tiêu Phong cũng dừng bước, tựa lưng vào vách núi, nghĩ thầm: "Để xem bọn mi giở trò quỉ gì.".

Trong bốn người, gã đứng đầu là một hán tử trung niên mập mạp, nhìn Tiêu Phong từ đầu xuống chân một hồi mới hỏi: "Tiểu sư muội cũng khỏe chứ? Mà sao ngươi lại đả thương nhị sư huynh?" A Tử giật mình hỏi lại: "Nhị sư huynh bị thương ư? Ai đả thương thế? Bị thương có nặng không?"

Gã đứng sau cùng trong bốn người lớn tiếng đáp: "Ngươi đừng giả ngây giả dại nữa. Nhị sư huynh nói là chính ngươi nhờ kẻ khác đả thương y đó." Tên này thấp lủn thủn lại đứng sau cùng, bị ba tên đứng trước che khuất hết. Tiêu Phong không nhìn thấy y, nhưng chỉ nghe y nói năng gấp gáp cũng đủ biết tính tình nóng nảy. Cây cương trượng y cầm vừa dài vừa to đủ rõ cánh tay rất khỏe, chỉ vì trời sinh thấp lùn mà muốn tìm cách tỏ ra có chỗ hơn người.

A Tử nói: "Bát sư huynh bảo sao? Nhị sư huynh bảo là bát huynh gọi người đả thương y sao? Chao ôi, sao bát huynh nỡ làm thế? Sư phụ mà biết thì không tha cho bát huynh đâu, không lẽ huynh không sợ hay sao?" Gã lùn kia nổi cơn lôi đình nhảy chồm chồm lên, dộng cây cương trượng xuống đá núi nghe chan chát, lớn tiếng quát: "Ngươi đánh y chứ có phải ta đâu?" A Tử nói: "Sao? Ngươi đánh y chứ có phải ta đâu? Được rồi, bát sư huynh thú nhận rồi. Tam sư huynh, tứ sư huynh, thất sư huynh, ba người chính tại nghe rõ rồi nhé, bát sư huynh nói là y giết chết nhị sư huynh. Đúng rồi, chắc là bát sư huynh dùng Tam Âm Ngô Công Trảo giết chết nhị sư huynh."

Gã lùn lại gào lên: "Ta bảo nhị sư huynh chết hồi nào? Y chưa chết, thụ thương cũng không phải do Tam Âm Ngô Công Trảo.." A Tử mồm năm miệng mười, cướp lời: "Không phải Tam Âm Ngô Công Trảo ư? Thế thì nhất định do Trừu Tủy Chưởng, nghề ruột của bát sư huynh rồi. Nhị sư huynh chắc là không cẩn thận nên bị ngươi ám toán. Ngươi.. ngươi quả là độc ác thật."

Gã lùn càng giận điên lên, quát to: "Tam sư huynh! Mau động thủ, bắt con nhãi ranh này về cho sư phụ phát lạc. Nó.. nó, nói lăng nhăng láo lếu, chẳng đâu ra đâu, chẳng ai hiểu được." Thanh âm y vốn đã khó nghe, lại đang nóng nảy càng lắp bắp, mới thật là chẳng đâu ra đâu, chẳng ai hiểu được. Gã mập liền nói: "Chưa cần phải động thủ, tiểu sư muội xưa nay vẫn ngoan ngoãn dễ bảo kia mà. Tiểu sư muội, theo bọn ta về thôi." Gã mập đó nói năng ôn tồn, ra vẻ con người hòa nhã. A Tử cười đáp: "Được rồi! Tam sư huynh nói sao thì tiểu muội làm vậy, có bao giờ muội cãi lời huynh đâu?" Gã mập cười ha hả, nói: "Thế thì hay lắm! Chúng ta đi." A Tử đáp: "Vâng! Các vị sư huynh cứ tùy tiện."

Ga lùn phía sau lại gào lên: "Láo toét! Ngươi nói thế là sao? Ngươi phải đi cùng với bọn ta." A Tử cười nói: "Các vị cứ đi trước đi, tiểu muội sẽ theo sau ngay mà." Gã lùn nói: "Không được! Ngươi phải đi chung với bọn ta ngay bây giờ." A Tử nói: "Tiểu muội thì đồng ý, nhưng tỉ phu của tiểu muội lại không chịu." Nàng vừa nói vừa trỏ vào Tiêu Phong.

Gã lùn nói: "Ai là tỉ phu ngươi? Sao ta không thấy?" A Tử cười nói: "Chỉ tại bát sư huynh cao quá thôi. Cả tỉ phu tiểu muội cũng không ngó thấy bát sư huynh." Nghe chát một tiếng, cây cương trượng của gã lùn đã giáng xuống đất, rồi cả người lẫn gậy bay vọt qua khỏi đầu ba tên đứng trước, rơi xuống trước mặt A Tử. Gã quát lên: "Theo chúng ta trở về ngay!" Vừa nói y vừa vươn tay chộp vào vai cô gái. Gã này thấp lùn nhưng hông to vai nở, nhìn ngang thì cũng khá vạm vỡ, động tác lại rất nhanh nhẹn. A Tử không né tránh, cứ mặc y chộp tới. Bàn tay to lớn của gã lùn sắp sửa chạm vào vai nàng, bỗng y ngẩn ra rồi dừng tay lại, hỏi: "Ngươi đã đem nó ra dùng rồi ư?" A Tử hỏi: "Dùng cái gì?" Gã lùn đáp: "Là Thần Mộc Vương Đỉnh.."

Bốn chữ "Thần Mộc Vương Đỉnh" vừa buột khỏi miệng, ba gã kia đồng thanh quát lên: "Bát sư đệ! Ngươi nói gì đó?" Thanh âm cực kỳ gay gắt. Gã lùn lập tức lùi lại một bước, mặt lộ vẻ hoảng hốt.

Tiêu Phong tự hỏi: "Thần Mộc Vương Đỉnh là cái gì nhỉ? Bốn gã này vẻ mặt cực kỳ trịnh trọng, chắc đó là một vật quan trọng chứ không phải chuyện đùa. Chúng đã mai phục nơi đây để tập kích mình, sao chưa ra tay mà còn lo cãi nhau, không lẽ sợ đánh không lại mình, phải chờ thêm ngoại viện?".

Gã lùn đưa tay ra, nói: "Đưa đây!" A Tử hỏi lại: "Đưa cái gì?" Gã lùn đáp: "Cái Thần.. Thần.. đó đó." A Tử chỉ vào Tiêu Phong nói: "Tiểu muội đưa cho tỉ phu rồi." Nàng vừa nói vậy, cả bốn tên liền quay về phía Tiêu Phong, ánh mắt đầy vẻ giận dữ.

Tiêu Phong nghĩ thầm: "Bọn này khả ố thật, mình cũng chẳng dây dưa với chúng làm gì". Chàng từ từ đứng dậy, bất thần búng hai chân một cái vọt người qua đầu bọn kia. Động tác đó vừa kỳ lạ vừa nhanh nhẹn, cả đám không thấy chàng lấy đà chi hết, chỉ thấy thấp thoáng trước mắt, gió thoảng trên đầu, Tiêu Phong đã ở phía sau rồi. Cả bọn hốt hoảng kêu la, quay lại rượt theo, nhưng chỉ chớp mắt Tiêu Phong đã chạy xa đến mấy trượng.

Bỗng nghe vù một tiếng, một món binh khí nặng nề bay tới sau lưng. Tiêu Phong không cần quay lại cũng biết là có tên ném cương trượng tới, bèn đưa tay trái ra phía sau đón lấy. Cả bốn tên cùng quát tháo, lại thêm hai cây cương trượng nữa ném theo, Tiêu Phong lại xoay tay bắt được. Mỗi cây trượng nặng hơn năm chục cân, chàng cầm cả ba cây trong tay cũng phải đến trăm sáu, trăm bảy cân, mà bước chân vẫn không chậm lại chút nào. Vù một tiếng, lại một cây nữa ném tới. Nghe tiếng gió cũng đủ biết cây trượng này nặng hơn hết, chắc là do gã lùn ném ra. Tiêu Phong nghĩ thầm: "Mấy thằng ngu dốt này chẳng hiểu phải quấy, ta phải cho chúng biết tay." Chàng đợi tiếng gió bay tới sau ót còn cách chừng hai thước, liền đưa tay ra sau bắt nốt.

Bốn gã ném trượng ra đã nghĩ rằng đối phương tránh né không phải dễ, trong bốn cây trượng thể nào cũng có một hai cây trúng vào người, nếu không thì chúng đâu có để binh khí rời khỏi tay? Có ai ngờ Tiêu Phong bắt hết thản nhiên như không, cả đám vừa kinh hãi vừa tức tối, la ó đuổi theo. Tiêu Phong chờ cho chúng chạy gần lại một quãng, bất thần đứng khựng lại. Bốn gã kia đang gắng sức đuổi theo, không dừng kịp, lao cả vào người chàng, tên nào cũng thở hồng hộc.

Tiêu Phong nghe chúng phóng trượng, lại nhìn chúng đuổi theo, biết rằng võ công bọn này chỉ bình thường thôi. Chàng mỉm cười hỏi: "Các vị đuổi theo tại hạ có điều chi chỉ giáo?" Gã lùn lắp bắp: "Ngươi.. ngươi là ai? Võ công ngươi thật là ghê gớm." Tiêu Phong cười đáp: "Thường thôi, đừng quá khen." Chàng vừa nói vừa vận kình lực vào bàn tay, cắm một cây cương trượng xuống mặt đất phủ tuyết. Con đường núi đó đất cũng rất cứng, thế mà chàng cứ nhấn cây trượng xuống dần, còn khoảng hai thước mới buông tay, đưa chân phải đạp xuống một cái, cây trượng liền ngập bằng mặt đất.

Bốn người, gã thì giương hai mắt tròn xoe mà nhìn, gã lại há hốc miệng ra không ngậm lại nữa. Tiêu Phong cứ cắm từng cây rồi đạp lún xuống ngang mặt đất. Đến cây sau cùng, gã lùn nhảy vọt lại, quát lên: "Đừng động đến binh khí của ta." Tiêu Phong cười nói: "Được lắm! Trả lại ngươi đây." Chàng cầm cương trượng lên, phóng thẳng vào vách núi nghe keng một tiếng, cây trượng dài tám thước đã lút vào đá phải đến năm thước. Chỗ vách đá này là loại hắc thạch cực kỳ cứng rắn, vậy mà cây trượng vẫn cắm sâu vào đá, làm cho chính Tiêu Phong cũng phải ngạc nhiên, nghĩ thầm: "Mấy tháng nay ta trải qua biết bao chuyện lo phiền mà công phu không giảm sút, lại còn tiến bộ là khác. Nửa năm trước có lẽ ta ném không được mạnh đến thế."

Bốn gã kia đồng thời kêu la ầm ĩ, vẻ mặt kinh hoàng. A Tử từ phía sau chạy tới gọi: "Tỉ phu! Võ công phu tỉ phu giỏi quá, dạy cho muội nhé!" Gã lùn giận dữ nói: "Ngươi nói sao? Đã là đệ tử phái Tinh Tú mà lại đi nhờ người ngoài dạy võ công ư?" A Tử nói: "Đó là tỉ phu của ta, đâu phải người ngoài?"

Gã lùn nóng ruột, tung mình nhảy lên, vươn tay toan nắm lấy cây cương trượng của y. Ngờ đâu Tiêu Phong đã ước lượng được khinh công của gã, chàng phóng cây trượng cắm vào vách đá ở chỗ cao hơn mặt đất một trượng bốn năm thước, gã lùn nhảy còn thấp một thước, không với tới được. A Tử vỗ tay reo lên: "Hay lắm! Bát sư huynh ơi, huynh mà nhổ được khí giới ra thì tiểu muội sẽ theo huynh về bái kiến sư phụ ngay, còn nhổ không được thì đừng hòng." Gã lùn nhảy cái vừa rồi đã dùng hết sức bình sinh, muốn nhảy cao thêm một tấc quả là thiên nan vạn nan. Y nghe A Tử khích bác, trong bụng tức lắm, cố sức nhảy lên lần nữa, đầu ngón tay giữa đã chạm được vào cây trượng. A Tử lại cười, nói: "Chạm đến không kể, phải nhổ ra được mới tính."

Gã lùn càng giận dữ, công lực tăng tiến đột xuất, hai chân vận hết sức tung tấm thân vừa lùn vừa mập lên, hai tay quờ quờ chộp ngay được cây gậy. Thân hình y treo lơ lửng giữa trời, đu qua đu lại. Y cứ cố lay tới lay lui, nhưng cây trượng dài tám thước đã cắm vào đá sâu đến năm thước, giả tỉ y lắc đến ba ngày ba đêm cũng chẳng ăn thua gì. Cảnh tượng đó trông thật hoạt kê.

Tiêu Phong cười, nói: "Xin lỗi nhé, Tiêu mỗ không chờ được nữa." Nói xong chàng quay mặt bước đi. Gã lùn kia giá nào cũng không chịu buông tay, tự biết rằng vừa rồi nhảy lên chụp được cây gậy cũng là may mắn lắm rồi, nếu để rơi xuống đất thì lần sau nhảy lại chưa chắc tới được. Gã dùng cây trượng đó đã lâu, phân lượng đã vừa, kích thước quen tay, có rèn cây khác y như vậy cũng khó. Y lại cố lắc thêm mấy lần cũng không thấy chuyển động chút nào, bèn kêu lên: "Ngươi phải để Thần Mộc Vương Đỉnh lại đã, nếu không thì hậu hoạn không biết đến đâu mà lường."

Tiêu Phong hỏi: "Thần Mộc Vương Đỉnh là cái gì thế?"

Ba tên đệ tử phái Tinh Tú cùng tiến lên một bước nói: "Võ công các hạ xuất thần nhập hóa, chúng ta bội phục. Cái đỉnh nhỏ kia bản môn coi rất trọng nhưng người ngoài chẳng dùng làm gì được, xin các hạ trả lại cho, chúng tôi xin đền đáp."

Tiêu Phong xem bọn chúng không có vẻ giả trá, thì ra không phải mai phục nơi đây để tấn công mình. Chàng liền nói: "A Tử! Cô lấy cái Thần Mộc Vương Đỉnh đó ra, cho ta xem đó là cái gì." A Tử nói: "Trời ơi! Tiểu muội đưa cho tỉ phu rồi mà, bây giờ trả lại hay không hoàn toàn là do tỉ phu. Hay là tỉ phu cứ giữ lấy cho được việc." Tiêu Phong nghe vậy, đoán rằng cô nàng đã ăn cắp bảo vật của sư môn, bây giờ nói là đưa cho mình rồi, cốt ý là bắt mình đứng ra chịu trận. Chàng bèn tương kế tựu kế, cười ha hả nói: "Cô đưa cho ta nhiều thứ quá, ta có biết Thần Mộc Vương Đỉnh là cái nào đâu?".

Gã lùn đang lơ lửng giữa trời cũng chõ miệng vào: "Đó là một cái đỉnh gỗ nhỏ màu vàng sậm, cao chừng sáu tấc." Tiêu Phong kêu lên: "Ồ, thì ra là cái đó. Một món đồ chơi trẻ con như thế thì dùng làm gì được?" Gã lùn nói: "Ngươi biết gì mà bảo là đồ chơi trẻ con? Cái đỉnh gỗ.." Y chưa nói hết câu, gã mập đã quát lên: "Sư đệ! Không được nói càn!", rồi quay sang Tiêu Phong nói: "Đó chỉ là một món đồ chơi không dùng làm gì được, nhưng là của.. là của.. phụ thân gia sư để lại cho lão nhân gia, vì vậy không thể để mất. Xin các hạ trả lại cho, chúng tôi cảm kích vô cùng." Tiêu Phong đáp: "Ta vứt bừa bãi, không biết bỏ đâu mất rồi, cũng chẳng biết còn tìm lại được hay không. Nếu quan trọng thật thì ta phải trở về Tín Dương tìm thử, có điều đường sá xa xôi, quay lại thì thật là phiền quá."

Gã lùn lại xen vào: "Quan trọng thật chứ, sao lại không quan trọng? Chúng ta mau.. mau.. quay về Tín Dương tìm thôi." Y buông tay thả người rơi xuống, bỏ luôn món binh khí quí giá của mình.

Tiêu Phong đưa tay vỗ vỗ lên trán, nói: "Hừ! Mấy bữa nay ít uống rượu, đầu óc lú lẫn quá. Cái đỉnh gỗ nhỏ kia, không biết ta vứt ở Tín Dương hay ở Đại Lý.. mà không chừng ở Tấn Dương cũng nên.." Gã lùn vội kêu lên: "Trời ơi! Ngươi nói gì đó? Ráng nhớ lại xem ở Đại Lý hay ở Tấn Dương? Thiên nam địa bắc, xa xôi vạn dặm không phải chuyện giỡn chơi đâu nhé." Gã mập biết Tiêu Phong làm khó dễ, bèn nói: "Các hạ bất tất phải nói giỡn. Giả tỉ cái đỉnh đó quay về nguyên vẹn, chúng tôi thể nào cũng báo đáp, không dám sai lời."

Tiêu Phong đột nhiên thất kinh la to: "Chết rồi! Không xong, ta nhớ ra rồi.." Cả bốn tên kinh hãi hỏi lại: "Cái gì thế?" Tiêu Phong đáp: "Cái đỉnh gỗ đó ta vứt ở nhà Mã phu nhân. Lúc đó ta quên mất, châm lửa đốt cháy rụi cả nhà. Không biết cái đỉnh đó bị lửa thiêu đốt có hỏng mất không?" Gã lùn kêu thất thanh: "Sao lại không hỏng! Cái này.. cái này.. tam sư huynh, tứ sư huynh, bây giờ biết làm sao? Ta không biết, sư phụ có trách phạt thì không liên quan đến ta. Tiểu sư muội, ngươi phải đích thân bẩm với sư phụ, ta không dám nói giúp ngươi đâu."

A Tử cười nói: "Tiểu muội lại nhớ hình như không phải tỉ phu bỏ ở nhà Mã phu nhân. Các vị sư huynh! Tiểu muội xin lỗi nhé, mấy huynh ở đây nói chuyện với tỉ phu." Nói xong nàng lạng người đi một cái, lách qua mặt Tiêu Phong. Tiêu Phong quay lại giang tay chặn bốn tên kia, nói: "Nếu các ngươi nói cho rõ ràng lai lịch cùng công dụng của Thần Mộc Vương Đỉnh, không chừng ta sẽ giúp các ngươi đi tìm. Còn nếu không thì xin cáo từ."

Gã lùn xoa tay lia lịa nói: "Tam sư huynh! Đệ thấy không còn cách nào khác, nói cho y nghe là xong!" Gã mập nói: "Được! Để ta nói cho các hạ hay.."

Đột nhiên Tiêu Phong vọt tới cạnh gã lùn, vươn tay chộp vào nách y, nói: "Chúng ta qua kia nói chuyện. Ta chỉ tin lời ngươi, không tin hắn." Chàng biết rằng gã mập trông thì thực thà nhưng lại giảo hoạt không có câu nào thành thực, còn gã lùn thẳng tính, lại nhanh mồm nhanh miệng không biết nói dối. Chàng xách gã lùn chạy thẳng lên vách núi. Vách núi chỗ này tuy không dựng đứng nhưng cũng khó trèo, lại không có chỗ nào để bấu víu. Thế mà Tiêu Phong đề khí chạy thẳng một mạch đã lên được hơn chục trượng, tới một mỏm đá nhô ra, liền đặt gã lùn ngồi lên đó, còn mình chỉ đứng một chân, một chân đưa ra khoảng không. Chàng nói với gã lùn: "Bây giờ ngươi nói cho ta nghe đi."

Gã lùn ở lưng chừng trời, nhìn xuống không khỏi choáng váng, vội nói: "Mau.. mau buông ta xuống!" Tiêu Phong cười nói: "Ngươi tự nhảy xuống đi." Gã lùn đáp: "Ngươi chỉ nói nhảm. Ta mà nhảy xuống thì nát ra như cám." Tiêu Phong thấy y tính tình thẳng thắn cũng có chút thiện cảm, lại hỏi: "Người tên là gì?" Gã lùn đáp: "Ta là Xuất Trần Tử." Tiêu Phong mỉm cười, nghĩ bụng: "Cái tên thật là phong nhã, nhưng so với thân thể ngươi không xứng chút nào." Chàng bèn nói tiếp: "Ta không rảnh nữa, xin cáo từ. Hẹn ngày tái ngộ." Xuất Trần Tử la lên: "Không được! Không được! Trời ơi, ta.. ta ngã chết mất." Hai tay y cố vận kình bấu víu, nhưng vách đá trơn tuột, không có chỗ tựa vào. Võ công y không tệ lắm nhưng ở trên cao, lại chênh vênh ba mặt thế này, không khỏi khiếp đảm.

Tiêu Phong lại giục: "Nói mau! Thần Mộc Vương Đỉnh dùng để làm gì? Nếu ngươi không nói là ta đi xuống." Xuất Trần Tử vội hỏi lại: "Ta.. ta không nói không được hay sao?" Tiêu Phong đáp: "Ngươi không nói cũng được, để lần sau gặp ta rồi sẽ nói cũng không muộn." Xuất Trần Tử vội níu áo ông lại, nói: "Để ta nói! Thần Mộc Vương Đỉnh là một trong tam bảo của bản phái, dùng để luyện Hóa Công Đại Pháp. Sư phụ ta nói là bọn võ lâm Trung Nguyên nghe đến Hóa Công Đại Pháp đều sợ đến hồn vía lên mây. Nếu chúng mà thấy Thần Mộc Vương Đỉnh là đập nát ngay, cái đó.. cái đó là một bảo vật hiếm có trên đời, không phải tầm thường."

Tiêu Phong đã nghe đến Hóa Công Đại Pháp, biết đó là một môn tà thuật vô cùng bẩn thỉu. Bây giờ nghe nói Thần Mộc Vương Đỉnh có tác dụng như thế, không cần hỏi nữa, lại nắm lấy nách Xuất Trần Tử, chạy vèo vèo xuống.

Chạy từ vách núi dựng đứng xuống còn nguy hiểm hơn lúc chạy lên. Xuất Trần Tử kinh hãi vô cùng, hô hoán rầm lên, tiếng kêu chưa dứt thì chân đã chạm đất. Mặt y tái mét cắt không ra máu, hai đầu gối run lên bần bật. Gã mập hỏi: "Bát sư đệ! Ngươi đã nói ra chưa?" Hai hàm răng của Xuất Trần Tử vẫn còn khua vào nhau nghe lốp cốp, chưa thể nói ra lời.

Tiêu Phong quay sang A Tử, bảo: "Đưa đây!" A Tử hỏi lại: "Đưa cái gì?" Tiêu Phong đáp: "Thần Mộc Vương Đỉnh." A Tử đáp: "Tỉ phu bảo là để ở nhà Mã phu nhân kia mà, sao còn hỏi muội?" Tiêu Phong nhìn kỹ cô nàng, thấy thân hình mảnh dẻ, lưng thon nhỏ xíu, áo quần lại mỏng mảnh, xem ra không thể giấu chiếc đỉnh cao sáu tấc trong người được. Chàng nghĩ thầm: "Con nhãi này thật là xảo quyệt. Ta đã không muốn nhúng tay vào việc nội bộ môn phái nó, mà bọn tà ma ngoại đạo này cứ như âm hồn bất tán lẩn quẩn bên mình, thật là phiền nhiễu." Tiêu Phong liền nói: "Vật đó Tiêu mỗ chẳng dùng làm gì được, lấy làm quái gì? Các ngươi tin thì tốt, không tin cũng không sao, Tiêu mỗ cáo từ đây." Nói xong thi triển thân pháp vọt đi, chỉ nhô lên hụp xuống mấy cái đã bỏ năm người lại khá xa. Bọn kia thấy chàng thần oai lẫm lẫm không dám đuổi theo, còn đang bàn bạc thì Tiêu Phong đã mất hút rồi.

Tiêu Phong chạy một mạch hơn bảy chục dặm đường mới tìm được một tửu điếm ghé vào ăn cơm uống rượu. Đêm đó, chàng nghỉ lại Chu Vương điếm, luyện nội công một hồi rồi đi ngủ. Đến nửa đêm, chàng mơ màng nghe thấy mấy tiếng còi rít lên, lập tức tỉnh dậy. Một lát sau, phía tây nam cũng nghe mấy tiếng còi chói tai, rồi phía đông nam cũng có tiếng sáo ghê rợn đáp lại, chính là ngọc địch của phái Tinh Tú, Tiêu Phong nghĩ thầm: "Bọn chúng lại đến rồi, mặc kệ, ta chẳng để ý làm gì."

Đột nhiên có hai tiếng sáo nổi lên thật gần, dường như ở ngay trong tửu điếm này. Rồi có tiếng người nói: "Dậy mau đi! Đại sư huynh đến rồi, chắc là đã bắt được tiểu sư muội." Lại một người khác nói: "Bắt được ư? Ngươi thử nghĩ xem cô ả có sống được chăng?" Tên kia đáp: "Làm sao ta biết được? Đi mau, đi mau." Rồi có tiếng đẩy cửa sổ, hai người nhảy ra khỏi phòng.

Tiêu Phong nghĩ thầm: "Lại là bọn đệ tử phải Tinh Tú nữa. Té ra trong tửu điếm này lại có sẵn hai tên, chắc là bọn chúng đến trước ta, không nói năng gì nên ta không biết. Chúng hỏi nhau A Tử có sống được không, con nhãi này tuy tàn nhẫn độc ác nhưng ta cũng không thể để nó bị giết chết, nếu không thì thật không phải đối với A Châu". Chàng nghĩ thế bèn nhảy ra khỏi phòng đuổi theo.

Tiếng địch cứ nổi lên liên tiếp gọi nhau, dần dần chuyển qua phía tây nam, Tiêu Phong theo tiếng địch mà rượt theo, chỉ một lát đã đuổi kịp hai tên từ tửu điếm đi ra. Chàng giữ khoảng cách chừng mươi trượng, lặng lẽ bám đuôi, vượt qua hai ngọn núi thì thấy có một đống lửa dưới sơn cốc. Ngọn lửa cao chừng năm thước, màu sắc xanh biếc trông có vẻ không bình thường. Hai người kia chạy thẳng đến, vừa tới nơi đã quì phục xuống vái lạy đống lửa.

Tiêu Phong rón rén lại gần, nấp sau một tảng đá nhìn vọng ra, thấy đến hơn chục người tụ tập quanh đống lửa. Bọn chúng đều mặc áo vải gai màu vàng, ánh lửa xanh biếc chiếu lên đầy vẻ ma quái. Phía bên trái đống lửa có một người mặc áo tía đang đứng, chính là A Tử. Hai cổ tay nhỏ nhắn bị khóa bằng xích sắt, khuôn mặt trắng trẻo dưới ánh lửa bập bùng trông khác hẳn đi. Cả đám không ai nói một lời, chỉ chăm chú nhìn ngọn lửa, tay trái đặt trên ngực, miệng lẩm bẩm như đang khấn khứa gì đó. Tiêu Phong nghĩ rằng đây là nghi thức quái dị của bọn tà ma ngoại đạo, chẳng thèm để ý. Lúc nãy chàng nghe hai tên đệ tử phái Tinh Tú nói chuyện với nhau có nhắc tới đại sư huynh, nhưng nhìn kỹ hơn mười người này, già có trẻ có, phục sức hoàn toàn giống nhau, không tên nào vẻ mặt cử chỉ đặc sắc ra vẻ cầm đầu.

Bỗng nghe mấy tiếng địch ôn hòa từ phía đông bắc vọng tới, mọi người đều quay lại hướng có tiếng sáo, khom lưng hành lễ. A Tử bĩu môi không thèm quay lại. Tiêu Phong cũng nhìn về phía có tiếng địch, thấy một người áo trắng vun vút đi tới, bộ pháp cực kỳ nhanh nhẹn. Y chớp nhoáng đã đến trước đống lửa, đưa chiếc ngọc địch dài chừng hai thước lên thổi vào đống lửa một cái, lửa lập tức tắt ngóm, rồi lại bùng lên thật to, vọt lên phải hơn một trượng rồi mới từ từ hạ xuống. Bọn chúng cùng hô to: "Đại sư huynh pháp lực thần kỳ, bọn tiểu đệ một phen mở mắt."

Tiêu Phong nhìn gã đại sư huynh kia, hơi ngạc nhiên. Chàng tưởng tên này đứng đầu cả bọn thì phải già năm sáu chục tuổi, ngờ đâu chỉ là một thanh niên chừng hăm bảy hăm tám, thân hình cao gầy, sắc mặt hơi xanh lại ẩn màu vàng, trông cũng khá anh tuấn. Tiêu Phong thấy y thi triển khinh công cùng công phu thổi tắt đống lửa, biết nội lực y không phải là kém. Nhưng thổi tắt đống lửa rồi giây lát lại bùng lên, chắc chắn không phải do nội công mà là trong ống sáo có giấu dược liệu hay chất dẫn hỏa cổ quái.

Gã đó quay sang nói với A Tử: "Tiểu sư muội! Ngươi quả là kẻ to gan lớn mật, vì ngươi mà biết bao nhiêu huynh đệ phải từ Tinh Tú Hải vào tận Trung Nguyên nghìn dặm xa xôi." A Tử đáp: "Ngay cả đại sư huynh cũng thân hành xuất mã, tiểu muội quả thực vinh hạnh. Thế nhưng tiểu muội đã có chỗ dựa, xem ra chừng này người chưa đủ." Tên đại sư huynh hỏi: "Chỗ dựa của sư muội ư? Không biết là ai thế?" A Tử đáp: "Chỗ dựa của tiểu muội là gia gia, bá phụ, má má, tỉ phu chứ còn ai nữa." Gã hừ một tiếng, gặng lại: "Sư muội được sư phụ nuôi dưỡng từ khi còn nhỏ xíu đến ngày khôn lớn, có thấy cha mẹ gì đâu? Sao tự nhiên xuất hiện lắm họ hàng thân thích đến thế?" A Tử đáp: "Trời ơi! Làm gì có ai không cha không mẹ, chẳng lẽ tiểu muội nứt trong hòn đá ra hay sao? Có điều danh tính của song thân tiểu muội là một điều bí ẩn, không thể cho mọi người cùng biết được." Gã đại sư huynh hỏi: "Song thân của sư muội là ai thế?" A Tử đáp: "Chỉ sợ mọi người phải kinh hãi thôi. Sư huynh muốn tiểu muội nói ra, thì phải mở khóa cho tiểu muội trước đã." Hắn đáp: "Sư muội muốn ta mở khóa thì có khó gì, nhưng phải giao Thần Mộc Vương Đỉnh ra trước đã." A Tử đáp: "Vương Đỉnh ở trong tay tỉ phu tiểu muội. Tam sư huynh, tứ sư huynh, thất sư huynh, bát sư huynh không chịu ra tay đòi lại, tiểu muội đâu biết phải làm sao?"

Gã đại sư huynh đưa mắt nhìn bốn tên Tiêu Phong mới gặp lúc ban ngày, mỉm cười ra vẻ ôn hòa nhưng bốn gã kia mặt biến sắc, hiển nhiên rất sợ hãi. Xuất Trần Tử ấp úng nói: "Đại.. đại sư huynh, chuyện này không liên quan gì đến tiểu đệ. Tỉ phu.. của sư muội bản lĩnh ghê gớm quá, bọn đệ.. đệ đuổi theo không kịp." Gã đại sư huynh nói: "Tam sư đệ! Nói cho ta nghe." Gã mập đáp: "Vâng, vâng!" Y liền thuật lại việc gặp Tiêu Phong thế nào, bị đón bắt bốn cây cương trượng ra sao, rồi đối phương bắt Xuất Trần Tử đem lên đỉnh núi ép phải khai ra.. Y kể rõ không giấu giếm chút nào. Thường ngày lúc nào y cũng bình tĩnh thản nhiên, thế mà bây giờ giọng nói run run, tựa như họa lớn đang ập đến.

Tên đại sư huynh chờ gã kể xong, gật đầu rồi quay lại hỏi Xuất Trần Tử: "Ngươi nói với y cả rồi hay sao?" Xuất Trần Tử đáp: "Tiểu đệ.. tiểu đệ.." Tên kia vẫn ôn tồn hỏi: "Ngươi đã nói những gì, cứ thuật lại cho ta nghe." Xuất Trần Tử đáp: "Tiểu đệ.. tiểu đệ nói.. Thần Mộc Vương Đỉnh là một trong tam bảo của bản môn, dùng để.. để.. luyện đại pháp. Đệ còn nói là sư phụ bảo bọn võ lâm Trung Nguyên nghe đến Hóa Công Đại Pháp là hồn vía lên mây, nếu như thấy cái đỉnh là đập nát lập tức. Đệ nói đó là một bảo vật trên đời hiếm có, không phải tầm thường. Vì thế.. vì thế nên xin y trả lại." Gã đại sư huynh nói: "Hay lắm! Thế rồi y bảo sao?" Xuất Trần Tử đáp: "Y.. y không nói chi hết, buông tha tiểu đệ."

Tên kia nói: "Ngươi giỏi lắm! Ngươi cho y biết Thần Mộc Vương Đỉnh dùng để luyện Hóa Công Đại Pháp, lại còn sợ y không hiểu Hóa Công Đại Pháp là gì, nói thêm bọn võ lâm Trung Nguyên nghe đến là hồn vía lên mây. Thế là tuyệt diệu! Không hiểu y có phải là nhân vật trong võ lâm Trung Nguyên không?" Xuất Trần Tử lắp bắp: "Tiểu đệ.. tiểu đệ không biết.."

Gã đại sư huynh hỏi vặn lại: "Ngươi không biết thật, hay giả vờ không biết?" Thanh âm y thủy chung vẫn ôn hòa, nhưng gã Xuất Trần Tử ngay thẳng kia lại sợ đến mất hồn, run rẩy nói: "Tiểu đệ.. đệ.. không.. biết.. nữa." Trong câu nói có xen những tiếng lách cách do hai hàm răng đập vào nhau, gã không tự chủ được.

Gã đại sư huynh lại hỏi: "Vậy y có sợ đến hồn vía lên mây không? Hay là chẳng sợ quái gì?" Xuất Trần Tử đáp: "Dường như.. y.. không sợ.." Tên kia hỏi thêm: "Theo ngươi thì vì sao y lại không sợ?" Xuất Trần Tử đáp: "Tiểu đệ đoán không ra, xin.. xin đại.. sư huynh cho biết." Gã đại sư huynh trả lời: "Bọn võ lâm Trung Nguyên sợ nhất là Hóa Công Đại Pháp của chúng ta, nhưng để luyện Đại Pháp này thì phải dùng Thần Mộc Vương Đỉnh. Nay Vương Đỉnh lọt vào tay y rồi, chúng ta không luyện Hóa Công Đại Pháp được nữa, vì thế mà y không sợ" Xuất Trần Tử vội vuốt đuôi: "Phải rồi, phải rồi! Đại.. đại sư huynh nhìn.. nhìn xa.. muôn dặm.. liệu việc như thần. Tiểu.. tiểu đệ còn kém xa lắm."

Lúc ban ngày Tiêu Phong gặp bọn đệ tử phái Tinh Tú, thấy gã Xuất Trần Tử này là thẳng thắn hơn cả nên cũng có đôi chút thiện cảm. Chàng thấy y khiếp sợ đại sư huynh đến thế, đã có ý ra tay cứu. Ngờ đâu càng nghe càng chán ghét, tên lùn này cũng nịnh bợ khả ố hết mức. Tiêu Phong nghĩ thầm "Gã này không phải là hảo hán, chết hay sống ta cũng chẳng quan tâm làm quái gì."

Gã đại sư huynh lại quay sang hỏi A Tử: "Tiểu sư muội! Tỉ phu của muội là ai?" A Tử đáp: "Tỉ phu tiểu muội ư? Nói ra chỉ sợ đại sư huynh phải giật mình." Gã đáp: "Muội cứ nói, nếu quả là một nhân vật anh hùng lừng lẫy tiếng tăm thì Trích Tinh Tử này cũng cần biết mà lưu ý."

Tiêu Phong nghe y tự xưng danh, nghĩ thầm: "Trích Tinh Tử! Đạo hiệu nghe lớn lối quá, toan hái sao trên trời ư? Thân pháp của y cũng khá thật, nhưng đâu có hơn được Ba Thiên Thạch nước Đại Lý hay Vân Trung Hạc trong Tứ Ác?"

A Tử hỏi lại: "Đại sư huynh! Trong võ lâm Trung Nguyên thì ai là người đứng đầu?" Trích Tinh Tử đáp: "Người ta thường nói Bắc Kiều Phong, Nam Mộ Dung. Chẳng lẽ cả hai người đều là tỉ phu sư muội?" Tiêu Phong lửa giận bốc lên, nghĩ thầm: "Thằng nhãi này ăn nói càn rỡ, ta sẽ cho ngươi biết tay để bỏ thói hồ đồ."

A Tử cười khanh khách nói: "Đại sư huynh nói chuyện kỳ quá. Tiểu muội chỉ có một tỉ nương, sao lại có hai vị tỉ phu được?" Trích Tinh Tử tủm tỉm cười đáp: "Ta đâu có biết tiểu muội chỉ có một tỉ tỉ? Ối chao, mà nếu tiểu muội có một tỉ tỉ mà hai tỉ phu, cũng có chi là lạ đâu?" A Tử nói: "Tỉ phu của tiểu muội tính tình nóng nảy, giả sử tiểu muội gặp lại mà đem câu nói của đại sư huynh kể cho tỉ phu nghe, thì sư huynh phải nếm mùi đau khổ. Nói cho mà nghe, tỉ phu của tiểu muội là Cái Bang bang chủ Bắc Kiều Phong uy chấn Trung Nguyên đó."

Nàng vừa dứt lời, bọn đệ tử Tinh Tú từng gặp Tiêu Phong đều giật mình không nhịn được, cùng "A" lên một tiếng. Gã nhị sư huynh mũi sư tử nói: "Thảo nào! Thảo nào ta thua dưới tay y, thế thì cũng đành lòng."

Trích Tinh Tử nhíu mày nói: "Thần Mộc Vương Đỉnh rơi vào tay Cái Bang thì khó lòng xoay sở rồi." Xuất Trần Tử tuy đang sợ hãi lắm, nhưng không chừa được cái tật lắm mồm, cũng xen vào: "Đại sư huynh! Kiều Phong không phải bang chủ Cái Bang nữa. Sư huynh mới ở Tây Vực qua, chắc là chưa nghe thời sự mới toanh của võ lâm Trung Nguyên. Gã Kiều Phong kia bị bọn Cái Bang đuổi ra khỏi bang rồi." Y tường thuật những việc không can hệ đến mình lại lưu loát hơn nhiều.

Trích Tinh Tử thở phào một cái, khuôn mặt giãn ra, vẻ căng thẳng hầu như biến mất. Gã hỏi lại: "Kiều Phong bị trục xuất khỏi Cái Bang rồi ư? Việc đó có thật không?" Gã mập là tam sư huynh liền đáp: "Khắp giang hồ đều nói thế. Họ còn kể y không phải người Hán mà là người Khất Đan, bọn hảo hán Trung Nguyên đều muốn giết y mới hả dạ. Nghe nói tên này giết cả song thân, sư phụ, bằng hữu, hèn hạ bỉ ổi, không chừa chuyện ác gì không làm."

Tiêu Phong nấp sau tảng đá, nghe chúng bàn luận những chuyện bất hạnh của mình trong mấy tháng qua, không khỏi đau lòng. Mặc dù chàng võ công cái thế, đảm lược hơn người nhưng trên giang hồ mất hết thanh danh, bị anh hùng thiên hạ khinh thường, cuộc sống trở nên vô vị hết sức.

Bỗng nghe Trích Tinh Tử hỏi A Tử: "Sao tỉ tỉ của tiểu sư muội lại chịu lấy một tên như thế? Không lẽ nam tử trong thiên hạ chết hết rồi sao? Hay là bị hắn tiền dâm hậu thú, cưỡng ép phải làm vợ?" A Tử mỉm cười nói: "Vì sao tỉ tỉ của tiểu muội lại lấy y, thì tiểu muội cũng không biết, nhưng tỉ tỉ cũng bị y đánh một chưởng chết nốt."

Cả đám nghe thế đều la lên một tiếng kinh ngạc. Bọn này lòng dạ trơ như gỗ đá, hành sự độc ác, thế mà nghe nói Tiêu Phong giết cả song thân, sư phụ, bằng hữu chưa đủ, lại giết cả thê tử, thủ đoạn tàn ác đến như thế quả là trên đời ít có. Chúng tự thấy không thể nào bằng được, đành chịu ở vào thế hạ phong.

Trích Tinh Tử nói: "Cái Bang người nhiều thế mạnh thì khó đối phó, nay Kiều Phong bị đuổi khỏi bang rồi, chúng ta còn sợ gì y nữa? Ha ha!" Y buông mấy tiếng cười rồi nói tiếp: "Bắc Kiều Phong, Nam Mộ Dung gì gì đó chẳng qua là bọn võ lâm Trung Nguyên mèo khen mèo dài đuôi. Ta không tin rằng hai tên đó chống đỡ nổi công phu kỳ diệu của phái Tinh Tú chúng ta." Gã mập lại hùa theo: "Chính thế! Bọn tiểu đệ cũng nghĩ vậy. Đại sư huynh võ công đã đến mức siêu phàm nhập thánh, phen này vào Trung Thổ giết quách hai gã Bắc Kiều Phong, Nam Mộ Dung kia để làm nhụt nhuệ khí võ lâm Trung Nguyên, cho chúng biết phái Tinh Tú chúng ta lợi hại đến thế nào."

Trích Tinh Tử hỏi: "Gã Kiều Phong kia đi về hướng nào?" A Tử đáp: "Y nói là định ra ngoài Nhạn Môn Quan, chúng ta cứ đuổi theo thì sớm muộn cũng bắt gặp." Trích Tinh Tử nói: "Phải rồi! Nhị, Tam, Tứ, Thất, Bát năm vị sư đệ vừa rồi lâm địch bại trận, các ngươi muốn lãnh tội gì?" Cả năm tên khom lưng đáp: "Xin đại sư huynh trách phạt." Trích Tinh Tử nói: "Phen này chúng ta đến Trung Nguyên có nhiều việc phải làm, nếu cứ đúng pháp mà trị tội thì thiếu hụt nhân số. Thế thì ta đành phải.." Y chưa nói xong đã vung tay trái lên, năm đốm lửa màu xanh bay vụt từ trong tay áo ra trông như năm con đom đóm, bắn vào bả vai năm tên. Mấy đốm lửa này vừa chạm phải da thịt lập tức phát ra tiếng xèo xèo.

Tiêu Phong ngửi thấy mùi thịt cháy khét lẹt, tự hỏi: "Không lẽ thằng ác ôn này thiêu sống luôn mấy tên sư đệ hay sao?". May mà lửa chỉ cháy giây lát rồi tắt ngủm, nhưng mặt năm tên trông càng lúc càng đau đớn khủng khiếp. Tiêu Phong nghĩ thầm: "Chắc là y vừa phóng ra hỏa dược có chất lưu hoàng, lân tinh gì đó, xem chừng còn chứa cả chất độc, nên lửa tắt rồi mà độc tính còn thấm vào da thịt khiến cho càng đau đớn hơn lên".

Bỗng nghe Trích Tinh Tử nói: "Đây là Luyện Tâm Đan, Ta rèn luyện cho các ngươi một phen, sức chịu đựng sẽ tăng thêm. Lần sau có gặp cường địch thì không đến nỗi mới đánh đã thua, làm mất thể diện phái Tinh Tú chúng ta." Gã mũi sư tử và gã mập đông thanh đáp: "Vâng, vâng! Đa tạ đại sư huynh giáo huấn." Còn ba tên kia vẫn phải tiếp tục vận nội lực chống lại cơn đau, chưa mở miệng nói năng được. Chừng tàn một nén hương, tiếng rên rỉ của chúng mới nhỏ dần. Trong thời gian đó bọn đệ tử phái Tinh Tú đứng nhìn đồng môn nghiến răng chịu phạt, tên nào cũng sợ hãi run lên.

Trích Tinh Tử từ từ đưa mắt nhìn sang Xuất Trần Tử, hỏi: "Bát sư đệ! Ngươi tiết lộ việc cơ mật trọng đại, khiến cho bảo vật của bản môn có nguy cơ bị phá hủy, phải chịu tội như thế nào?" Xuất Trần Tử biến sắc mặt, đột nhiên khuỵu gối xuống quì dưới đất van xin: "Đại sư huynh! Lúc đó.. lúc đó tiểu đệ hoảng hốt khai ra.. xin.. xin sư huynh tha mạng. Từ nay.. từ nay đại sư huynh có bắt tiểu đệ làm trâu làm ngựa cũng không dám nửa lời oán trách.." Nói xong y dập đầu lia lịa.

Trích Tinh Tử thở dài nói: "Bát sư đệ! Ngươi với ta là bạn đồng môn, nếu như ta đủ sức tha thì cũng muốn tha cho ngươi. Có điều.. giả tỉ lần này tha cho ngươi thì sau này còn ai chịu tuân theo lệnh của sư phụ nữa? Thôi, ngươi xuất thủ đi! Qui củ của bản môn, ngươi biết rồi, chỉ cần đánh bại được người chấp pháp thì bất luận tội nghiệt gì cũng xóa hết. Đứng dậy động thủ đi."

Xuất Trần Tử nào dám đối địch với đại sư huynh? Y vẫn tiếp tục dập đầu binh binh không ngớt. Trích Tinh Tử nói: "Ngươi không muốn xuất thủ trước thì hãy tiếp chiêu của ta." Xuất Trần Tử rống lên một tiếng, cúi xuống nhặt hai hòn đá ném về phía Trích Tinh Tử, miệng hô to: "Đại sư huynh! Tiểu đệ xin đắc tội!" Y lại nhặt hai cục đá khác liệng ra, nhảy vọt về phía đông bắc, ném thêm hai cục đá nữa nghe vù vù. Người gã tròn quay trông chẳng khác quả cầu bằng thịt, đã bắn đi khá xa. Y tự biết võ công mình còn rất kém so với Trích Tinh Tử, chỉ mong liệng sáu cục đá, may ra cản được sư huynh trong chốc lát, tìm kế tẩu thoát rồi mai danh ẩn tích để bọn môn đồ phải Tinh Tú không lần ra được.

Ngờ đâu tay áo bên phải của Trích Tinh Tử phất lên một cái, cục đá liền quay ngược lại bắn thẳng vào sau lưng Xuất Trần Tử. Tiêu Phong nghĩ thầm: "Công phu tá lực đả lực của gã này cũng khá cao, đây là bản lĩnh chân thực chứ không phải tà pháp chi hết."

Xuất Trần Tử nghe tiếng gió rít sau lưng, vội nhảy qua một bên tránh né. Trích Tinh Tử lại phất cục đá kế tiếp bắn tới, không để cho y dừng lại chút nào. Xuất Trần Tử vừa đặt chân xuống đất đã nghe kình phong thổi tới sau lưng, viên đá thứ ba lại tới nơi. Mỗi viên đá ép được Xuất Trần Tử nhảy qua trái một bước, gã nhảy xong sáu bước đã quay về cạnh đống lửa. Viên đá thứ sáu rơi ở xa xa nghe cạch một tiếng. Xuất Trần Tử sắc mặt nhợt nhạt, thò tay vào bọc rút lưỡi trủy thủ ra, đâm thẳng vào ngực mình. Trích Tinh Tử lại phất nhẹ tay áo, một đốm lửa xanh bắn vào huyệt đạo ở cổ tay y, nghe tiếng xèo xèo. Bàn tay Xuất Trần Tử lỏng ra, lưỡi trủy thủ rơi xuống đất. Y lớn tiếng la lên: "Xin đại sư huynh mở lòng từ bi! Xin đại sư huynh mở lòng từ bi!".

Tay áo Trích Tinh Tử lại vung lên lần nữa, một luồng kình phong bắn vào đống lửa xanh lè. Đột nhiên từ đống lửa này có một tia lửa nhỏ xíu bật thẳng vào Xuất Trần Tử, vừa chạm phải liền bốc lên lem lém, quần áo đầu tóc liền cháy phừng lên. Y lăn lộn trên mặt đất, kêu rú thảm thiết mà không chết ngay được, mùi thịt cháy khét lẹt bay ra thật là ghê gớm. Bọn đệ tử phái Tinh Tú sợ đến nỗi không dám thở mạnh.

Trích Tinh Tử nói: "Mấy sư đệ không nói gì ư? Ái chà! Các ngươi cho rằng thủ đoạn của ta độc ác quá, Xuất Trần Tử chết oan uổng quá, có phải thế không?" Bọn chúng lập tức tranh nhau lên tiếng: "Xuất Trần Tử tội đã đáng chết, đại sư huynh giúp y luyện thân hóa cốt cho sạch sẽ mà về nơi cực lạc, quả là nhân chí nghĩa tận đối với đồng môn." "Đại sư huynh anh minh quyết đoán, xử trí thật là thích đáng, đã không nhu nhược lại không thái quá, chúng sư đệ vô cùng kính phục." "Tên đó tiết lộ chuyện cơ mật của bản môn khiến cho vật chí bảo của sư phụ dùng để luyện công bị nguy hiểm, đáng tội lăng trì, xẻo thịt từ từ bảy ngày bảy đêm rồi mới cho chết. Đại sư huynh niệm tình đồng môn chỉ xử nhẹ nhàng, gã thành ma quỷ cũng còn cảm kích ân đức đại sư huynh." "Bọn tiểu đệ ai cũng có tội, xin đại sư huynh khoan dung tha thứ."

Những lời tán tụng vô liêm sỉ hòa cùng tiếng kêu gào thảm thiết của Xuất Trần Tử vang vọng trong đêm. Tiêu Phong chán ghét cùng cực, quay mình, búng chân phải một cái, vọt ra xa hơn hai trượng không một tiếng động. Đến kẻ bản lĩnh cao cường như Trích Tinh Tử cũng không hay biết gì.

Chàng đang định chạy đi, bỗng nghe Trích Tinh Tử cất giọng ôn tồn hỏi: "Tiểu sư muội! Ngươi ăn trộm bảo đỉnh của sư môn đưa cho người ngoài, thì phải chịu tội gì?" Tiêu Phong run lên nghĩ thầm: "Hình phạt A Tử phải chịu chắc còn thảm khốc gấp mười Xuất Trần Tử, nếu ta buông tay bỏ mặc thì yên tâm thế nào được?". Nghĩ thế, chàng lại lẻn về chỗ nấp khi nãy.

Bỗng nghe A Tử đáp: "Tiểu muội phạm vào qui củ của sư phụ, chuyện đó dĩ nhiên không cãi được. Nhưng chẳng hay đại sư huynh có muốn lấy lại bảo đỉnh hay chăng?" Trích Tinh Tử đáp: "Đó là một trong tam bảo của bản môn, đương nhiên là phải thu hồi, không thể để lọt vào tay người ngoài được." A Tử nói: "Tính nết của tỉ phu tiểu muội hết sức quật cường. Bảo đỉnh là do tiểu muội giao cho tỉ phu, nếu muội muốn lấy lại, tỉ phu sẽ giao hoàn không sứt mẻ. Còn nếu người khác đến đòi thì đại sư huynh nghĩ xem tỉ phu tiểu muội có chịu giao trả không?"

Trích Tinh Tử đằng hắng một tiếng rồi đáp: "Việc này khó mà nói trước được. Nhưng nếu bảo đỉnh bị hư hại thì tội nghiệt nhà ngươi càng nặng thêm." A Tử nói: "Giả tỉ các vị sư huynh đi đòi, nhất định tỉ phu không trả. Đại sư huynh võ công cao đến mức nào cũng giết được tỉ phu là cùng, còn muốn thu hồi bảo đỉnh thì khó hơn lên trời." Trích Tinh Tử trầm ngâm một lát rồi hỏi: "Theo ý sư muội thì phải làm sao?" A Tử đáp: "Sư huynh thả tiểu muội ra, để muội đi một mình ra Nhạn Môn Quan kêu tỉ phu trả lại chiếc bảo đỉnh. Cái đó gọi là lập công chuộc tội. Có điều đại sự huynh phải hứa là sau này không trách phạt gì tiểu muội về vụ này nữa."

Trích Tinh Tử đáp: "Tiểu muội nói nghe cũng có lý. Nhưng nếu làm như thế thì ta còn chi thể diện, từ nay còn làm đại sư huynh của phái Tinh Tú nữa được chăng? Ta thả ngươi ra là lập tức ngươi cùng với tỉ phu xa chạy cao bay, ta biết lên trời hay xuống biển mà tìm đây? Còn về việc bảo đỉnh, ta nghĩ có chí thì nên, nếu không lộ chuyện ra thì gã họ Kiều kia chưa chắc đã hủy đi. Tiểu sư muội, ngươi xuất thủ đi thôi. Chỉ cần đánh thắng ta là ngươi biến thành đại sư tỉ của phái Tinh Tú, lúc đó muốn làm gì thì làm, dĩ nhiên ta phải nghe hiệu lệnh."

Tiêu Phong nghe đến đây mới hiểu rõ: "Thì ra thứ bậc cao thấp của bọn chúng là tùy theo võ công mạnh hay yếu, chứ không tính theo nhập môn trước hay sau. Vì thế mà gã Trích Tinh Tử còn trẻ tuổi mà lại là đại sư huynh, mấy tên lớn tuổi hơn lại là sư đệ. Nhưng như thế thì nội bộ môn phái lúc nào cũng có chuyện tranh đoạt tàn sát, còn gì là tình nghĩa huynh đệ đồng môn nữa?".

Chàng không biết rằng phái Tinh Tú đưa ra phương pháp này để đời sau phải giỏi hơn đời trước. Quyền lực của đại sư huynh rất lớn, sư đệ nào không phục có thể dùng vũ lực phản kháng, tỉ thí cao thấp một phen. Nếu đại sư huynh thắng, thì gã sư đệ kia bị đánh bị giết thế nào cũng đành chịu, không kêu ca gì được. Còn nếu sư đệ thắng thì lập tức nhảy lên làm đại sư huynh, có quyền xử tử gã đại sư huynh cũ. Sư phụ đứng ngoài chỉ thõng tay nhìn, quyết không can thiệp. Vì có lề luật như thế nên ai cũng phải ra sức rèn luyện để tự bảo vệ tính mạng của mình, nhưng bề ngoài thì không tỏ vẻ gì hết, có khi còn làm bộ kém cỏi để khỏi bị đại sư huynh nghi ngờ. Xuất Trần Tử có tý lực lợi hại, y đúc cây cương trượng vừa to vừa dài, trầm trọng nhất môn phái, tuy đứng tận hàng thứ tám nhưng Trích Tinh Tử cũng đã đem lòng đố kỵ, nhân dịp này trừ khử y. Nhân vật các phái khác thì thông thường chỉ luyện tới một mức nào đó là dừng lại không tiến thêm được nữa, còn đệ tử phái Tinh Tú không dám bê trễ đến nửa ngày, lúc nào cũng cố công luyện tập. Đại sư huynh phải lo sợ sư đệ đến khiêu chiến với mình, mà bọn sư đệ cũng sợ đại sư huynh kiếm chuyện đổ lên đầu để thí nghiệm võ công. Đại sư huynh không chắc ăn thì không bao giờ dám gây hấn.

A Tử hy vọng Trích Tinh Tử sợ mất bảo đỉnh mà không dám làm mạnh, nào ngờ y không mắc bẫy, lại đòi động thủ ngay. Cô nàng mặt mày tái mét, nghe Xuất Trần Tử vẫn còn rên la chưa chết được, thảm trạng đó chỉ chớp mắt sẽ đến với mình. A Tử đành bậm môi run run nói: "Chân tay tiểu muội đang bị khóa chặt, làm sao động thủ được? Nếu đại sư huynh muốn hại muội thì hãy dùng cách quang minh chính đại, đừng dùng thủ đoạn này."

Trích Tinh Tử đáp: "Được lắm! Để ta mở khóa cho ngươi." Y phất tay áo một cái, phóng một luồng kình phong vào đống lửa. Từ đống lửa một tia lửa xanh nhỏ bay vọt ra, y như một tia nước phun thẳng vào dây xích đang khóa hai tay A Tử.

Tiêu Phong nhìn rất rõ ràng, thấy tia lửa đó không hề chạm vào người A Tử. Nghe tiếng xì xì một lát, sợi xích nối hai tay A Tử đứt ngay giữa, nhưng vẫn lòng thòng nơi cổ tay. Tia lửa xanh rụt về, rồi lại phóng vào sợi xích dưới chân, chỉ một lát cắt đứt nốt. Lúc đầu Tiêu Phong thấy tia lửa xanh lè nung chảy được dây xích không khỏi ngấm ngầm kinh hãi, tưởng nội lực Trích Tinh Tử cực kỳ ghê gớm. Lúc chàng nhìn tia lửa đốt dây xích dưới chân mới thấy rõ, tia lửa vừa tới xích sắt liền đổi màu, xem ra ngọn lửa này có điều cổ quái chứ không phải thuần túy dựa vào nội lực.

Bọn đồ đệ phái Tinh Tú không ngớt thi nhau tán tụng: "Nội lực đại sư huynh siêu phàm nhập hóa, quả thực kinh người, chúng ta chưa được thấy, cũng chưa từng nghe. Trên thiên hạ ngoài sư phụ ra, đại sư huynh nhất định là vô địch." "Bọn Bắc Kiều Phong, Nam Mộ Dung gì gì đó không đáng xách giày cho đại sư huynh." "Tiểu sư muội đã thấy lợi hại chưa? Nhưng bây giờ hối hận cũng đã muộn rồi." Mỗi tên tranh nhau nói một câu. Trích Tinh Tử nghe nịnh hót mà mặt tươi như hoa, hớn hở liếc mắt nhìn A Tử, A Tử tuy tinh quái nhưng cũng chưa nghĩ ra cách thoát hiểm, chỉ mong bọn chúng ca tụng hoài để Trích Tinh Tử trì hoãn ra tay được lúc nào hay lúc nấy. Nhưng bọn chúng tán tới tán lui một hồi hết vốn, không nghĩ ra ý gì mới mẻ, rời rạc dần dần.

Trích Tinh Tử thủng thẳng nói: "Tiểu sư muội! Xuất thủ đi thôi." A Tử run rẩy đáp: "Ta không xuất thủ đâu." Trích Tinh Tử hỏi lại: "Sao thế? Ngươi cử động được rồi mà?" A Tử đáp: "Ta biết chắc đánh không lại ngươi, việc gì phải phí hơi sức? Người muốn giết ta thì cứ giết phứt cho rồi."

Trích Tinh Tử thở dài đáp: "Thực lòng ta cũng chẳng muốn giết ngươi. Một tiểu cô nương xinh đẹp dễ thương như thế này, giết đi quả là đáng tiếc, nhưng thật không còn cách khác. Tiểu sư muội! Ngươi xuất thủ đi, hạ sát được ta thì sẽ trở thành đại sư tỉ. Khi đó trong phái Tinh Tú, ngoài sư phụ ra, ai cũng phải nghe lời ngươi hết." A Tử đáp: "Ta chỉ là một tiểu cô nương, luyện cả đời cũng không hơn ngươi được. Ngươi e ngại điều gì mà lại muốn giết ta?" Trích Tinh Tử thở dài: "Giả tỉ ngươi không phạm phải đại tội như thế này, nhất quyết ta không làm khó ngươi. Thế nhưng.. thế nhưng.. ta không giúp gì được nữa. Tiểu sư muội, tiếp chiêu?" Y nói xong phất tay áo một cái, một luồng kình phong ập vào đống lửa, một dây lửa xanh phóng tới cô gái, nhưng dường như y chưa muốn giết A Tử ngay nên tia lửa bay thật chậm.

A Tử sợ quá kêu lên, nhảy qua trái hai bước. Tia lửa đuổi theo, A Tử lại lùi một bước nữa, khéo làm sao lại dựa lưng ngay vào tảng đá Tiêu Phong đang nấp đằng sau. Trích Tinh Tử thúc đẩy nội lực, ngọn lửa lại tiến tới, A Tử không còn đường lui, đang tính nhảy sang bên, nhưng tay áo Trích Tinh Tử lại phất lên, hai luồng kình phong chia ra tấn công tả hữu. Cô nàng không còn đường chạy nữa, tia lửa trước mặt vẫn tiến càng lúc càng gần.

Tiêu Phong thấy dây lửa xanh lè chỉ còn cách mặt A Tử hai thước, rồi gần thêm một tấc, một tấc nữa, bèn nói khẽ: "Cô đừng sợ! Có ta đến giúp đây!" Chàng vừa nói vừa thò tay từ sau tảng đá ra đặt vào lưng cô gái, nói: "Ngươi vận chưởng lực nhắm vào tia lửa mà đánh ra."

A Tử đang hồn lạc phách xiêu, đột nhiên nghe thấy tiếng Tiêu Phong không khác gì chết đi sống lại. Nàng không suy nghĩ gì nữa vung chưởng đẩy ra. Khi đó Tiêu Phong đã truyền nội lực vào thân thể nàng, chưởng thế thật là hùng hậu, đánh dội ngọn lửa xanh lại hai thước.

Trích Tinh Tử giật mình, gã vốn yên trí A Tử như cá nằm trên thớt, đang định biểu diễn công phu cho tia lửa vờn qua vờn lại trước mặt cô, dọa cho nàng la hét một hồi để dương oai trước đám sư đệ rồi mới ra tay hạ sát. Ngờ đâu cô ta tuổi còn nhỏ mà nội lực đã ghê gớm đến thế, thực là ngoài dự liệu. Bạn đọc nên biết, khi đệ tử phái Tinh Tú được sư phụ truyền thụ rồi, mỗi người tự luyện lấy, cao thấp thế nào thì khi lâm địch hay khi đồng môn tỉ thí giết nhau mới hiểu, ngoài ra chẳng ai biết ai. Do đó khi A Tử đánh ra một chưởng đẩy được tia lửa co về, cả đám la lên kinh ngạc, nhưng không nghi ngờ có người ám trợ, chỉ nghĩ A Tử thiên tư thông tuệ, đã luyện công phu đến mức cao thâm.

Trích Tinh Tử vận nội lực đẩy ra, tia lửa xanh lại nhắm ngay mặt A Tử phóng tới. Lần này y sử kình rất mạnh, tia lửa xẹt nhanh như chớp. A Tử hốt hoảng không biết làm sao ngăn lại, vội né qua bên trái. May mà hai luồng kình lực Tích Tinh Tử chặn hai bên tả hữu đã hết, nàng vừa né qua, ngọn lửa xanh bắn trúng vào tảng đá nghe mấy tiếng xèo xèo. Tiêu Phong khẽ bảo: "Phóng tả chưởng ra cắt đứt tia lửa." A Tử nghĩ thầm: "Tuyệt diệu!", vung tay trái lên, phóng chưởng vào giữa cắt đứt sợi dây lửa. Phần ngọn không có kình lực nối tiếp, chỉ cháy trên tảng đá thêm một lúc rồi lụi dần.

Trích Tinh Tử nghĩ thầm: "Nếu ta mà để tắt sợi dây lửa này thì coi như thua một trận trước mặt đồng môn, uy phong mất sạch." Y bèn vận chưởng lực, đẩy tia lửa bắn tới tảng đá, định nối vào đầu kia để thu về, giữ cho khỏi tắt.

Lúc này A Tử thấy nội lực cuồn cuộn trút vào sau lưng, nếu không phát tiết ra không chừng thân thể không đủ chỗ chứa sẽ nổ tung. Cô nàng lập tức vung tay phải đánh thẳng ra. Nội lực của Tiêu Phong thâm hậu vô cùng, tuy trút sang người A Tử đã giảm sức mạnh đi vài phần, song nếu nàng khéo vận dụng, xuất kỳ bất ý tấn công Trích Tinh Tử thì chỉ một đòn là xong. Nhưng nàng chưa hết hoảng hốt, phát chưởng đánh ra hời hợt, chưởng phong kêu vù vù mà chỉ đánh tắt được ngọn lửa xanh, không làm Trích Tinh Tử tổn hại chút nào.

Tuy thế bọn đồ đệ phái Tinh Tú cũng không khỏi khiếp vía. Chỉ sót lại tên thất sư đệ ngu ngốc chẳng biết chi hết, vẫn kiếm lời tán tụng: "Đại sư huynh công lực thật là ghê gớm, phát chưởng của tiểu sư muội chẳng qua đánh tắt thần hỏa là cùng, chẳng làm quái gì được đại sư huynh." Bản tâm y thì nịnh bợ sư huynh nhưng Trích Tinh Tử lại tưởng bị xỏ xiên, đột nhiên phất tay áo một cái, một tia lửa xanh lè vọt ra như tên bắn vào mặt gã thất sư đệ. Tia lửa chỉ chạm vào rồi co về ngay, nhưng gã kia đã hai tay ôm lấy mặt, nhào xuống đất rống lên như heo bị chọc tiết.

Trích Tinh Tử xử lý nội bộ xong, đánh xéo tả chưởng ra, tia lửa xanh lại bắn về phía A Tử. Lần này thế lửa mạnh hơn nhiều, rít lên kêu vu vu, chiếu vào khuôn mặt cô gái xanh lè. A Tử đẩy song chưởng ra ngăn chặn, ngọn lửa dừng lại trên không, cứ dài ra được một hai tấc, lại co về một hai tấc. Trong đêm tối, tia lửa trông chẳng khác gì một con rắn dài xanh lét, uốn éo lơ lửng trên không, vừa rực rỡ vừa huyền ảo, khi mờ khi tỏ.

Trích Tinh Tử huy động chưởng lực ba lần đều bị A Tử liên tiếp đẩy lui, không khỏi vừa sốt ruột vừa tức tối. Y thúc thêm hai lần nữa vẫn không đẩy tia lửa tiến lên chút nào, xương sống đột nhiên lạnh toát: "Dư lực.. dư lực.. của con ranh này còn mãi không hết, dường như nó đang trêu chọc ta. Không lẽ sư phụ sủng ái, âm thầm truyền thụ công phu thượng thừa của bản môn cho nó? Ta.. ta chống sao nổi, mắc bẫy rồi." Y nghĩ thế, trong lòng hoang mang, chưởng lực bất giác yếu đi, con rắn xanh thụt lùi về đống lửa nhanh như chớp.

Trích Tinh Tử quát lên một tiếng, lại gia tăng chưởng lực, ngọn lửa biến thành một khối hỏa cầu to như cái đấu, bay vọt về phía A Tử. Nàng vội phóng hữu chưởng ra nhưng không chặn nổi, lập tức đẩy thêm tả chưởng, song chưởng hợp lực mới chống đỡ được khối cầu lửa.

Bọn đệ tử phái Tinh Tú chỉ thấy một cục lửa tròn xoay chuyển trên không, vội vàng cất tiếng reo hò: "Đại sư huynh công lực thần kỳ, phen này con tiểu a đầu phải cháy ra tro bụi." "Tiểu sư muội ơi, đừng hung hăng nữa. Mau ngoan ngoãn chịu thua, không chừng đại sư huynh mở cho một con đường sống."

A Tử liên tiếp thúc đẩy chưởng lực. Dù nội lực của Tiêu Phong đưa vào cực kỳ hùng hậu, nhưng dẫu sao cũng là ngoại lai, nàng vận dụng không được thuần thục. Trích Tinh Tử cầm cự một hồi liền phát giác được chỗ yếu của sư muội, đột nhiên nhíu đôi mày, ngón tay trỏ bên phải điểm luôn hai chỉ nghe soẹt soẹt. Từ đống lửa phóng ra hai đốm hoa lửa, vọt đi như sao băng tấn công vào hai bên A Tử, A Tử la lên: "Úi chà!" Hai tay nàng đang phải chặn hỏa cầu, làm sao chia ra chống đỡ được nữa? Nàng hết cách, đành né sang một bên, Trích Tinh Tử lập tức huy động hai bông hoa lửa đuổi theo.

Tiêu Phong biết A Tử không chống đỡ được nữa, khẽ đưa tay lên, hai luồng chưởng lực từ từ phóng ra. Chỉ thấy thân hình A Tử hơi lắc lư, hai đầu sợi dây thắt lưng phơ phất quạt ra, hai đốm hoa lửa bắn vụt trở lại Trích Tinh Tử.

Gã sợ đến trợn mắt há hốc mồm, chưa ngậm miệng lại thì hai đốm lửa đã bắn tới nơi, vội vàng nhảy vọt lên, một đóa hoa lửa xẹt qua dưới chân. Hai tên sư đệ liền lên tiếng reo hò: "Hảo công phu! Bản lãnh đại sư huynh thật là tuyệt diệu!" Tiếng reo chưa dứt, đóa hoa lửa thứ hai đã bắn vào bụng dưới. Trích Tinh Tử đang lơ lửng trên không, làm sao vọt lên được nữa? Nghe soẹt một tiếng nhỏ, đốm lửa đã trúng vào bụng y. Trích Tinh Tử rú lên một tiếng, rơi bịch xuống đất, quả cầu lửa cũng quay về đống lửa ngay.

Bon đệ tử phái Tinh Tú nhìn A Tử ra vẻ kinh hãi, nghĩ thầm: "Xem ra công lực tiểu sư muội không phải tệ. Đại sư huynh vị tất đã thắng, mình chưa nên reo hò vội."

Trích Tinh Tử thần sắc ảm đạm, đưa tay tháo búi tóc cho xõa xuống che mặt, rồi cắn đầu lưỡi, phun một búng máu vào đống lửa. Ngọn lửa đang le lói bỗng bùng lên, sáng lóa cả mắt mọi người. Bọn sư đệ lại nức nở khen: "Công lực đại sư huynh ghê gớm, thật là mở rộng tầm mắt cho chúng sư đệ." Thân hình Trích Tinh Tử đột nhiên quay tít đến hơn chục vòng như con vụ, giữ tay áo một cái, bốc cả đống lửa dưới đất lên trời, chẳng khác gì một bức tường lửa đổ xuống người A Tử.

Tiêu Phong biết Trích Tinh Tử đang dồn hết công lực bình sinh, sử dụng một tà thuật lợi hại vô cùng. Chàng nghĩ gã này tuy ác độc thật nhưng đối với mình không thù không oán, chẳng việc gì phải quyết tử. Tiêu Phong lập tức biến chưởng thành trảo, chộp vào lưng A Tử kéo nàng chạy đi. Đột nhiên A Tử kêu lên: "A Châu tỉ tỉ! Muội đang bị người ta ức hiếp, sao tỉ tỉ không giúp muội báo thù?" Tiêu Phong ngạc nhiên: "Sao cô này lại hô hoán A Châu, ta.. ta.. làm sao bỏ đi được?".

Tiêu Phong mới chần chừ một chút, bức tường lửa xanh lè đã chồm đến nơi, song chưởng chàng vội luồn vào tay áo A Tử phóng ra. Hai cánh tay áo màu tím căng phồng lên, kình lực của Tiêu Phong đẩy phần phật vào bức tường lửa.

Đám lửa ở trên không ngừng lại một chút rồi từ từ lui về phía Trích Tinh Tử. Gã sợ quá, lại nghiến răng cắn đầu lưỡi, phun thêm một ngụm máu vào, lửa lại bừng bừng tiến lên, nhưng chỉ được hai thước thì lại bị nội lực của Tiêu Phong đẩy ngược trở về. Bọn đệ tử phái Tinh Tú thấy đôi tay áo A Tử căng lên như buồm no gió, đều tưởng nội lực cô tiểu sư muội mãnh liệt đến cùng cực, có ai ngờ sau lưng nàng có người ám trợ.

Lúc này mặt Trích Tinh Tử nhợt nhạt, phun từng ngụm từng ngụm máu vào đám lửa. Mỗi lần gã phun máu ra là nội công lại giảm đi một phần, nhưng trót vào thế cưỡi hổ không xuống được, chỉ mong đốt chết được A Tử rồi chuồn đi ngay, tìm nơi tu luyện phục hồi nguyên khí. Nếu không, bọn sư đệ mà nhìn ra chỗ yếu, chắc là thừa cơ hội tiến lên khiêu chiến ngay. Y không ngớt phun máu ra, song bị nội lực hùng hậu vô song của Tiêu Phong đẩy lại thì đám lửa làm sao mà tiến lên được?

Tiêu Phong nhận thấy chân khí của y càng lúc càng suy yếu, sắp tới mức dầu cạn đèn khô, liền khẽ bảo A Tử: "Cô bảo hắn chịu thua đi thôi, đừng đấu nữa."

A Tử bèn cất tiếng gọi: "Đại sư huynh! Ngươi sắp thua rồi, mau mau quì xuống van xin, ta sẽ tha mạng cho. Ngươi chịu thua chưa?" Trích Tinh Tử hoảng hốt vô kể, biết mạng mình nguy đến nơi rồi, nghe A Tử chiêu hồi liền vội vàng gật đầu. A Tử hỏi lại: "Sao ngươi không trả lời? Ngươi không mở miệng nói, tức là không chịu thua, phải không?" Trích Tinh Tử lại gật đầu lia lịa nhưng không dám mở miệng nói. Y đang dùng toàn lực chống đỡ nội hình của Tiêu Phong, chỉ há miệng thoát hơi ra là ngọn lửa quay ngược về nướng chín y ngay.

Bọn sư đệ thấy thế lập tức đua nhau lên tiếng mắng nhiếc: "Trích Tinh Tử! Ngươi thua rồi sao chưa quì xuống dập đầu?" "Đồ bị thịt như ngươi mà ra ngoài xưng là đệ tử phái Tinh Tú thì bản môn mất hết cả thể diện." "Tiểu sư muội đã khoan hồng đại lượng tha mạng cho ngươi, sao lại còn ngoan cố? Mau mau mở miệng van xin đi." "Trích Tinh Tử! Mười năm trước ta đã biết ngươi là kẻ tệ hại nhất trong phái Tinh Tú. Hôm nay tiểu sư muội thanh lý môn hộ, lập được đại công, làm rạng danh bản phái." "Ngươi đang sắp đặt kế hoạch ám toán sư phụ, gia nhập phái Thiếu Lâm, may mà tiểu sư muội phát hiện gian mưu. Ngươi đúng là đồ heo chó, vô liêm sỉ không nói hết." "Tiểu sư muội thần công cái thế, trừ sư phụ ra thì sư muội là đệ nhất, ta đã biết từ lâu rồi." "Trích Tinh Tử, chính ngươi đã lấy trộm Thần Mộc Vương Đỉnh, lại dám vụ cáo tiểu sư muội, chắc là chán sống rồi chăng?"

Tiêu Phong thấy bọn chúng trở mặt nhanh chóng, thấy Thích Tinh Tử vừa kém thế là lập tức giậu đổ bìm leo, vừa mới ca tụng đại sư huynh anh hùng cái thế, bây giờ thì chửi như heo như chó, thực sự tư cách chúng mới không bằng heo chó. Chàng nghĩ thầm: "Tinh Tú Lão Ma thu gom toàn bọn đệ tử không có nhân cách. A Tử từ thuở nhỏ đã cùng bọn với chúng, thảo nào tư cách cũng đê tiện như thế." Tiêu Phong thấy tình cảnh Trích Tinh Tử thê thảm quá rồi, không nỡ hại thêm liền thu nội kình về, hai cánh tay áo A Tử liền rũ xuống.

Trích Tinh Tử thần sắc thiểu não, thân hình loạng choạng, đột nhiên hai gối nhũn ra ngồi phệch xuống đất. A Tử hỏi: "Đại sư huynh! Sao rồi? Đã phục ta chưa?" Trích Tinh Tử ấp úng nói nhỏ: "Ta chịu thua rồi, ngươi.. ngươi đừng gọi ta là đại sư huynh nữa, bây giờ ngươi là đại sư tỉ."

Bọn đệ tử liền reo hò vang dội: "Tuyệt diệu! Thật là tuyệt diệu! Đại sư tỉ võ công cái thế, phái Tinh Tú có người thừa kế như vậy thể nào cũng dương danh thiên hạ." "Đại sư tỉ! Mau mau đi giết sạch bọn Bắc Kiều Phong, Nam Mộ Dung gì gì đó để phái Tinh Tú chúng ta độc bá Trung Nguyên." Một gã khác cãi lại: "Ngươi chỉ nói lăng nhăng, Bắc Kiều Phong là tỉ phu của sư tỉ, sao lại giết đi?" "Sao lại không giết? Trừ phi y lên tiếng chịu thua, gia nhập phái Tinh Tú thì không kể."

A Tử lên giọng đại sư tỉ mắng: "Các ngươi làm gì mà ồn ào thế? Im lặng hết đi!" Cả bọn liền im bặt.

A Tử quay sang nhìn Trích Tinh Tử, cười hì hì nói: "Theo thể lệ của bản môn, sau khi đổi người thừa kế rồi thì người trước phải như thế nào?" Trích Tinh Tử toát mồ hôi trán ròng ròng, run lên đáp: "Đại sư.. sư tỉ! Xin.. xin đại sư tỉ.." A Tử cười khanh khách nói: "Ta thật lòng muốn tha cho ngươi, có điều thể lệ của bản môn không thể bị hủy hoại nơi tay ta được. Ngươi xuất chiêu đi, có bản lĩnh gì thì đem ra cho hết."

Trích Tinh Tử biết vận mạng mình đã định rồi, năn nỉ thêm chẳng được gì. Y liền vận khí vào song chưởng, nhắm ngọn lửa đẩy tới. Ngờ đâu lực đã kiệt mất rồi, song chưởng phóng ra mà đống lửa xanh lè chỉ hơi nhúc nhích rồi đứng yên trở lại.

A Tử cười nói: "Hay quá! Thật là hay quá! Sao pháp thuật của đại sư huynh không linh nghiệm nữa?" Nàng tiến lên hai bước, vung chưởng đánh ra, một tia lửa xanh bắn vào Trích Tinh Tử, A Tử nội lực bình thường, tia lửa đi vừa chậm vừa tung tóe ra chung quanh nhưng Trích Tinh Tử không còn hơi sức chống trả, muốn đứng dậy bỏ chạy cũng không được. Tia lửa bắn vào người y, chỉ trong chớp mắt là đầu tóc cùng y phục gã cháy bùng. Gã rú lên những tiếng cực kỳ thê thảm, toàn thân biến thành một cây đuốc sống.

Bọn đệ tử lại reo hò vang dội, đua nhau tán dương đại sư tỉ võ công xuất thần nhập hóa, trừ được một tên bại hoại trong môn phái, theo đúng ý chỉ của sư phụ, tạo phúc cho đồng môn.

Tiêu Phong đã từng chứng kiến không biết bao nhiêu cảnh hung tàn thảm khốc trên giang hồ, nhưng chưa từng thấy một cô gái xinh đẹp khả ái, bề ngoài trong trắng ngây thơ như A Tử mà hành sự hiểm độc dã man đến thế. Chàng cảm thấy chán nản, thở dài thườn thượt rồi cất bước bỏ đi.

A Tử bỗng cất tiếng gọi: "Tỉ phu! Tỉ phu khoan đi đã, đợi muội một chút." Bọn đệ tử phái Tinh Tú thấy một người ở sau tảng đá đột nhiên bước ra thì không khỏi kinh ngạc. Mấy tên nhị đệ tử, tam đệ tử nhận ra Tiêu Phong, lại càng mất vía.

A Tử lại kêu: "Tỉ phu! Chờ muội với!" Nàng rào bước chạy đến chỗ Tiêu Phong. Lúc đó Trích Tinh Tử kêu la càng lớn, thêm tiếng vang dội từ trong hang núi lại càng ghê rợn. Tiêu Phong chau mày hỏi: "Cô theo ta làm chi nữa? Cô đã là người thừa kế phải Tinh Tú, làm đại sư tỉ của cả đám môn đồ, vẫn chưa thỏa mãn hay sao?" A Tử cười nói: "Không được!" Nàng hạ giọng xuống nói: "Cái chức đại sư tỉ của tiểu muội là giả mạo, có đáng gì đâu? Tỉ phu ơi, dắt muội theo ra ngoài Nhạn Môn Quan nhé?" Tiêu Phong càng nghe Trích Tinh Tử kêu gào lại càng không muốn chần chờ, rảo bước đi về hướng bắc.

A Tử sánh vai Tiêu Phong cùng đi, chợt nhớ ra điều gì, quay đầu lại nói: "Nhị sư đệ! Ta có việc phải lên phía bắc, bọn ngươi cứ ở quanh quẩn đây đợi ta, không được tự ý bỏ đi. Nghe rõ chưa?" Cả bọn nhất tề tiến lên hai bước, cung kính khom lưng nói: "Đại sư tỉ đã ban pháp chỉ, chúng sư đệ không dám trái lời." Rồi bọn chúng lại nhao nhao tán tụng: "Cung chúc đại sư tỉ thượng lộ bình an." "Cung chúc đại sư tỉ vạn sự như ý." "Cung chúc đại sư tỉ kỳ khai đắc thắng, mã đáo thành công." "Đại sư tỉ một thân thần công tuyệt thế, việc gì mà chẳng dễ dàng? Bọn sư đệ chúc tụng chỉ bằng thừa."

A Tử vẫy tay mấy cái ra chiều đắc ý. Dưới ánh tuyết chiếu lên, Tiêu Phong nhìn rõ vẻ mặt cô nàng vừa xinh đẹp vừa khả ái, lại đầy vẻ ngây thơ. Lúc này cô đang khoái chí trông chẳng khác gì đứa bé mới được món đồ chơi hay một viên kẹo. Nếu chàng không tận mắt trông thấy, thì thật không thể tin được nàng vừa hạ độc thủ sát hại đại sư huynh, lên ngôi thừa kế một tà phái đứng đầu thiên hạ. Tiêu Phong thở dài, lại càng thấy cuộc đời thật ngán ngẩm.

A Tử hỏi: "Tỉ phu! Sao tỉ phu lại thở dài? Phải chăng là vì tiểu muội tinh nghịch quá?" Tiêu Phong đáp: "Cô đâu có tinh nghịch, chỉ hung ác tàn nhẫn thôi. Nếu bọn nam nhi lớn tuổi chúng ta mà hung ác thì còn hiểu được. Còn cô chỉ là một bé gái nhỏ tuổi sao hạ thủ lại không dung tình, độc ác đến thế?" A Tử lấy làm lạ hỏi lại: "Tỉ phu không biết thật hay là giả và không biết?" Nói xong, nàng ngoẹo đầu nhìn Tiêu Phong đầy vẻ tò mò. Tiêu Phong hỏi: "Ta không biết cái gì?"

A Tử đáp: "Lạ thật! Tỉ phu không hiểu thật ư? Cái chức đại sư tỉ của tiểu muội là giả mạo, do tỉ phu tranh đoạt giúp cho, nhưng lúc nãy bọn chúng không nhìn ra đấy thôi. Giả tỉ tiểu muội không giết Trích Tinh Tử, thể nào cũng có lúc y khám phá ra. Lúc ấy chưa chắc đã có tỉ phu ở bên cạnh, muội mất mạng là cái chắc. Muội còn muốn sống thì chỉ còn cách là phải giết gã thôi."

Tiêu Phong nói: "Thôi được. Thế bây giờ cô theo ta ra ngoài Nhạn Môn Quan để làm gì?" A Tử đáp: "Tỉ phu! Bây giờ muội mới nói thật, tỉ phu có chịu nghe không?" Tiêu Phong nghĩ thầm: "Ái chà! Bây giờ người mới nói thật, thế ra xưa nay chỉ toàn nói láo." Chàng bèn đáp: "Dĩ nhiên là ta muốn nghe, chỉ sợ cô nói không thực thôi." A Tử cười khúc khích, nắm cánh tay chàng mà hỏi: "Tỉ phu có sợ tiểu muội không?" Tiêu Phong thở dài đáp: "Ta sợ nhiều lắm, sợ cô gây họa, sợ cô vô cớ giết người, sợ cô giở trò quái quỉ.." A Tử nói: "Thế tỉ phu có sợ tiểu muội bị người ta hiếp đáp hay sát hại không?" Tiêu Phong đáp: "Ta đã nhận lời ủy thác của A Châu, dĩ nhiên phải quan tâm chiếu cố đến cô." A Tử hỏi lại: "Nếu như tỉ tỉ không ủy thác thì sao? Nếu như muội không phải là muội tử của A Châu tỉ tỉ thì sao?" Tiêu Phong hắng giọng rồi đáp: "Nếu thế thì ta chẳng việc gì phải chiếu cố đến cô."

A Tử hỏi: "A Châu tỉ tỉ có gì mà tốt đẹp thế? Sao tỉ phu lại chẳng coi muội ra gì?" Tiêu Phong đáp: "A Châu so với cô thì tốt đẹp gấp nghìn lần, gấp vạn lần. A Tử, người như cô vĩnh viễn chẳng bao giờ bằng tỉ nương cô được." Chàng nói tới đây mắt lại đỏ hoe, thanh âm hơi nghèn nghẹn. A Tử bĩu môi nói: "Nếu A Châu tỉ tỉ tốt đẹp như thế, thì tỉ phu cứ gọi tỉ tỉ đi cùng, tiểu muội không thèm đi nữa." Nàng nói xong quay người bỏ đi.

Tiêu Phong chẳng lý gì đến, cũng cất bước, trong lòng không khỏi đau thương, lẩm bẩm: "Giả tỉ A Châu cùng đi với ta trên mặt tuyết này, giả tỉ nàng hờn giận ta mà bỏ đi như thế, ta sẽ lập tức đuổi theo, tìm lời tử tế dỗ dành. Mà không, chẳng bao giờ ta để nàng phải bực mình, chuyện gì ta cũng chiều ý nàng cả. Ôi chao, A Châu đối với ta một lòng nhu thuận, có bao giờ lại hờn giận ta?".

Đột nhiên nghe tiếng chân người, A Tử lại chạy tới nói: "Tỉ phu ơi! Tỉ phu quả là lòng gang dạ sắt, nói không là không, chẳng có một chút nhân từ nào." Tiêu Phong cười khẩy hỏi lại: "Người như cô mà cũng nói chuyện bụng dạ nhân từ ư? Này A Tử, cô nghe ai nhắc đến hai chữ nhân từ thế?" A Tử đáp: "Muội nghe má má nói. Bà ấy còn bảo đối với người khác không nên quá tàn nhẫn bá đạo, phải có chút ít nhân từ." Tiêu Phong nói: "Mẫu thân cô nói thế là phải lắm. Chỉ tiếc rằng cô từ bé đã không được ở bên mẫu thân, lại phải đi theo sư phụ học được những chuyện tàn ác xấu xa." A Tử cười nói: "Hay lắm! Thế thì từ nay muội đi theo tỉ phu để học làm người tốt."

Tiêu Phong giật bắn người, xua tay lia lịa, vội đáp: "Không được, không được đâu! Cô đi theo một gã thô lỗ như ta thì chỉ có hại thêm. Này A Tử, cô đi đi! Có cô ở bên chỉ khiến ta thêm phiền não, muốn tĩnh trí một chút để suy nghĩ chuyện gì cũng không được." A Tử đáp: "Nếu tỉ phu suy nghĩ chuyện gì, thì cứ nói cho muội hay, muội sẽ lo lắng giúp đỡ. Tỉ phu tốt bụng quá, dễ bị người ta lừa gạt." Tiêu Phong vừa tức mình vừa tức cười, nói: "Trẻ nít như cô thì biết gì mà nói? Chẳng lẽ có chuyện ta suy tính không ra mà cô lại tính được ư?" A Tử đáp: "Cái đó đã hẳn. Có vô số việc tỉ phu không nghĩ ra được."

Cô bốc một nắm tuyết dưới đất, vo thành một viên tròn rồi vung tay ném ra xa, hỏi: "Tỉ phu ơi! Tỉ phu ra ngoài Nhạn Môn Quan để làm gì thế?" Tiêu Phong lắc đầu đáp: "Chẳng làm gì cả. Săn bắn chăn nuôi, sống cho qua ngày, chờ đến hết đời, có vậy thôi." A Tử nói: "Thế ai nấu cho tỉ phu ăn? Ai may áo cho tỉ phu mặc?" Tiêu Phong ngẩn người ra. Trước nay chàng chưa hề nghĩ đến chuyện đó nên thuận miệng đáp: "Nấu cơm may áo thì có khó gì? Người Khất Đan chúng ta ăn thịt bò thịt cừu, mặc áo da bò da cừu, nghỉ đâu cũng là nhà, nằm đâu cũng là giường, chẳng phải lo lắng gì cả." A Tử nói: "Thế lúc cô đơn tịch mịch thì tỉ phu nói chuyện với ai?" Tiêu Phong đáp: "Ta về đó gặp người cùng chủng tộc, sẽ kết giao bằng hữu." A Tử vặn hỏi: "Nếu thế thì nói qua nói lại toàn là chuyện đi săn cưỡi ngựa, mổ bò giết cừu, một lát là nhàm chán, còn có chi là thú?" Tiêu Phong buông tiếng thở dài, biết nàng nói đúng, không trả lời được.

A Tử lại nói: "Tỉ phu không về Liêu quốc thì không được ư? Thôi đừng về nữa, ở lại đây uống rượu đánh nhau, chết cũng được sống càng tốt, oanh oanh liệt liệt, thống khoái hơn nhiều."

Tiêu Phong nghe nàng nói "ở lại đây uống rượu đánh nhau, chết cũng được sống càng tốt" bỗng thấy nhiệt huyết dâng trào, hào khí nổi lên. Chàng ngẩng đầu hú lên một tiếng dài, nói: "Cô nói phải lắm!"

A Tử kéo tay chàng, nói: "Tỉ phu! Tỉ phu đừng đi nữa nhé, Tiểu muội cũng không về Tinh Tú Hải, đi theo tỉ phu uống rượu đánh nhau." Tiêu Phong cười: "Cô là đại sư tỉ của phái Tinh Tú, cô bỏ đi thì họ mất cả người thừa kế, mất cả đại sư tỉ thì coi sao được?" A Tử nói: "Cái chức đại sư tỉ đó của muội là láo toét, đến khi bại lộ thì mất mạng lập tức, không phải chuyện chơi. Làm đại sư tỉ thì cũng thích, nhưng cứ phải nơm nớp đề phòng. Đi theo tỉ phu uống rượu đánh nhau còn thú vị hơn nhiều." Tiêu Phong mỉm cười đáp: "Uống rượu thì cô có biết uống đâu, chưa đến một bát thì đã say mèm. Còn đánh nhau thì bản lĩnh cô cũng chưa tới đâu, gặp lúc nguy cấp ta lại phải lo lắng cho ngươi."

A Tử mặt xịu xuống, lông mày chau lại. Cô nàng đi qua đi lại mấy bước, đột nhiên ngồi phịch xuống khóc òa lên. Tiêu Phong giật nảy mình, vội hỏi: "Cô.. Cô làm sao vậy?" A Tử không trả lời trả vốn gì, lại càng khóc rống lên cực kỳ thảm thiết.

Tiêu Phong quen thấy cô bé này ngang tàng ương ngạnh, cả lúc bị phái Tinh Tú bắt trói cũng tỏ ra bướng binh bất khuất. Chàng không ngờ nàng có thể khóc lóc thảm thương đến vậy, đâm ra luống cuống, hỏi dồn: "A Tử! Này này, cô làm sao thế?" A Tử vẫn sụt sùi, vừa khóc vừa nói: "Tỉ phu cứ đi đi, để mặc muội ở đây khóc cho đến chết, có thế tỉ phu mới vừa lòng." Tiêu Phong mỉm cười: "Cô đang khỏe khoắn thế này, khóc không chết được đâu." A Tử vẫn nức nở: "Nếu như muội muốn khóc cho đến chết, thì sẽ chết cho tỉ phu coi." Tiêu Phong cười nói: "Vậy thì cô cứ ngồi đây mà khóc, ta không ở đây với cô nữa." Chàng nói xong quay đi ngay, chỉ được mấy bước đã nghe cô ta nín bặt. Tiêu Phong lấy làm lạ, ngoảnh mặt lại nhìn, thấy cô nàng đã nằm vùi trong tuyết, không nhúc nhích chút nào. Chàng cười thầm trong bụng: "Con bé này nũng nịu, mình mà quan tâm đến thì nó lại càng làm già." Nghĩ thế, chàng vẫn tiếp tục đi thẳng.

Đi được mấy dặm Tiêu Phong mới quay đầu lại nhìn. Vùng này mặt đất bằng phẳng, lại không có cây cối gì ngăn trở, chàng thấy dường như A Tử vẫn còn nằm đó, không khỏi băn khoăn, nghĩ thầm: "Con bé này tính tình quái gở, chẳng lẽ nó cứ nằm luôn ở đó không dậy nữa". Nghĩ như vậy, chàng lại đâm lo: "Ta đã lỡ tay đánh chết A Châu, dẫu cho nàng không căn dặn thì mình cũng phải biết nghĩ. Ta chẳng chiếu cố cho nó thì thôi, cũng không nên nói khích cho nó tức đến chết." Tiêu Phong nhớ đến A Châu, bầu nhiệt huyết lại nổi lên, lập tức rảo bước quay lại.

Chàng chạy đến gần A Tử, thấy nàng vẫn nằm nguyên như cũ, bộ vị giống hệt lúc đầu không xê xích chút nào. Tiêu Phong đến gần chút nữa bỗng giật mình, thấy tuyết đã đóng trên người nàng đến mấy tấc. Không lẽ nàng chết thật rồi sao? Chàng vội đưa tay sờ vào mặt cô gái, thấy da thịt lạnh như băng, đưa đến mũi thì không thấy hơi thở. Tiêu Phong từng thấy nàng dùng Qui Tức Công của phái Tinh Tú để nín thở giả chết gạt song thân, nhưng cũng không khỏi sợ hãi, liền đưa tay điểm vào mạn sườn, truyền nội lực vào huyệt đạo của nàng.

A Tử hơi ú ớ rồi từ từ hé mắt ra. Bất thần nàng há miệng, phun một mũi kim xanh biếc vào giữa hai lông mày Tiêu Phong. Chàng không thể ngờ được cô ta đột nhiên hạ độc thủ. Khoảng cách chỉ chừng một thước, mũi độc châm lại bay rất nhanh, dù người võ công bằng thần thánh cũng không thể tránh né kịp. Chàng không kịp suy nghĩ, vung tay phải lên, đánh ra một chưởng cực kỳ hùng hậu.

Phát chưởng đó ngưng tụ công lực một đời của Tiêu Phong. Độc giả thử nghĩ xem, mũi độc châm kia chỉ cách một thước bắn tới, muốn dùng chưởng phong cách không đánh bạt ra thì kình lực phải khủng khiếp dường nào. Phát chưởng đẩy độc chấm bay lệch qua trái, đồng thời thân hình Tiêu Phong nghiêng qua phải, cây kim độc bay sượt qua bên má chỉ cách chừng một tấc. Mũi chàng còn thoáng ngửi thấy một mùi hôi tanh, quả thật nguy hiểm vô cùng.

Khi đó thân hình A Tử cũng bị chưởng lực đánh văng đi, nàng không kêu được tiếng nào, chỉ lặng lẽ bay xa hơn mười trượng mới rơi xuống tuyết đánh "bịch" một tiếng, còn trượt thêm một quãng dài nữa mới ngừng lại.

Comments

0 comments

Trước Tiếp
 
34,431 ❤︎ Bài viết: 2241 Tìm chủ đề
Hồi 26: Tay không bắt cọp

Tiêu Phong thoát hiểm chỉ trong đường tơ kẽ tóc, bất giác kêu thầm: "Thật là hú vía". Thoạt đầu thì chàng nghĩ: "Con tiểu yêu nữ này tâm địa độc ác, dám hạ độc thủ ám toán ta." Chàng biết ám khí phái Tinh Tú độc địa vô cùng, lợi hại cực điểm, nếu như trúng phải thì khó mà sống được nên không khỏi tim đập thình thình. Nhưng khi nghĩ đến A Tử bị đánh văng xa hơn chục trượng, lại giật bắn người: "Trời ơi! Làm sao cô ta chịu nổi phát chưởng đó, chắc bị mình đánh chết rồi". Chàng nhảy vọt tới, thấy nàng hai mắt nhắm nghiền, khóe miệng ứa máu tươi, mặt vàng khè, phen này thì ngưng thở thật rồi chứ không phải giả vờ nữa.

Tiêu Phong thẫn thờ nghĩ bụng: "Ta đã đánh chết A Châu, bây giờ lại đánh chết luôn cả muội tử của nàng. Nàng.. nàng lúc lâm tử đã dặn ta chiếu cố cho muội muội, ngờ đâu.. ngờ đâu.. ta lại đánh chết." Ý nghĩ đó chỉ thoáng qua, nhưng chàng đang hoảng hốt nên cảm thấy rất nặng nề. Tiêu Phong lắc đầu, vội đè bàn tay vào sau lưng A Tử, hết sức dồn chân khí sang. Một lúc sau, A Tử hơi nhúc nhích, Tiêu Phong cả mừng gọi rối rít: "A Tử! A Tử! Muội đừng chết! Bằng giá nào ta cũng nhất định cứu muội."

Thế nhưng A Tử chỉ khẽ cựa một cái rồi lại nằm ngay đơ. Tiêu Phong lại càng bồn chồn, liền ngồi xếp bằng xuống tuyết, khẽ đỡ A Tử dậy đặt ngồi trước mặt, áp cả song chưởng vào hậu tâm, từ từ truyền chân lực vào người cô gái. Chàng biết A Tử bị thương rất nặng, hiện giờ chỉ giữ nàng thoi thóp, tạm thời không chết là may, rồi tìm cách cứu chữa sau, thành thử truyền chân khí vào người nàng cũng hết sức chậm rãi. Trong khoảng thời gian chừng ăn xong bữa cơm, trên đầu chàng bốc lên những làn bạch khí, chứng tỏ đã vận dụng toàn lực rồi.

Tiêu Phong liên tục vận công tới nửa giờ, A Tử mới hơi động đậy, phều phào gọi: "Tỉ phu!" Tiêu Phong cả mừng, tiếp tục truyền chân khí nhưng không dám nói chuyện với nàng. Một lúc nữa đã thấy thân thể cô nàng dần dần ấm lại, mũi đã có hơi thở thoang thoảng. Tiêu Phong vẫn sợ nàng bất ngờ tắt thở nên không dám ngừng vận công, đến mãi giữa trưa, hơi thở của A Tử mới đều đặn, nhưng mặt vẫn trắng bệch không một chút huyết sắc.

Tiêu Phong liền bế nàng dậy, rảo bước chạy đi. Chàng càng chạy càng nhanh nhưng vẫn cố giữ cho êm ái, tay trái vẫn đặt sau lưng A Tử, không ngừng truyền khí vào. Hơn một giờ mới đến một tiểu thị trấn, nơi đó lại không có quán xá gì, chàng phải tiếp tục chạy về hướng bắc hơn hai chục dặm nữa mới gặp một khách điếm tồi tàn không có cả tiểu nhị, chính chủ nhân trực tiếp phục vụ khách hàng. Tiêu Phong gọi một bát cháo nóng, dùng thìa đút vào mồm A Tử. Thế nhưng nàng mới nuốt được ba thìa lại nôn hết ra, trong nước cháo có lẫn máu bầm.

Tiêu Phong cực kỳ lo lắng, nghĩ bụng A Tử bị thương nặng thế này khó lòng chữa được. Chẳng biết Diêm vương địch Tiết Thần Y đang ở nơi nào, mà dẫu có ở ngay đây cũng vì tất đã làm được gì. Hôm trước A Châu bị phương trượng chùa Thiếu Lâm đả thương gián tiếp, lại được bôi linh dược của Đàm Công ở Thái Hàng Sơn, tình trạng nhẹ hơn nhiều nên Tiết Thần Y mới chữa khỏi. Tuy chàng biết rõ không thể cứu sống được A Tử, nhưng cũng không chịu xuôi tay, chỉ nghĩ: "Ta phải hết lòng hết sức, dù cho chân khí bản thân kiệt quệ cũng phải còn nước còn tát. Không phải ta quyết cứu con bé này, mà là ta quyết không phụ lời trăn trối của A Châu."

Kể ra thì A Tử ám toán chàng trước, khiến chàng vào tình trạng không phóng chưởng hất mũi độc châm đi thì mất mạng ngay. Người võ công cao cường như chàng, khi gặp nguy biến không kịp suy nghĩ, thì xuất thủ theo phản xạ là lẽ đương nhiên. Giả tỉ A Châu có mặt nơi đây thì chắc nàng cũng không trách cứ gì, vì chính A Tử tự rước vạ vào mình chứ không phải do Tiêu Phong có chủ ý. Nhưng A Châu không biết, nên chàng mới cảm thấy có lỗi với nàng.

Tiêu Phong thức trắng đêm, không ngừng truyền chân khí để giữ mạng cho A Tử. Hôm trước A Châu bị thương, lúc nào nàng tuyệt khí Tiêu Phong mới phải ra tay, còn lần này bàn tay chàng không lúc nào rời khỏi lưng A Tử, vì chỉ nhấc tay ra một cái là nàng tắt thở ngay lập tức.

Đêm hôm sau cũng y vậy. Tiêu Phong công lực thâm hậu thật, nhưng phải vận công hai ngày hai đêm liên tiếp cũng mệt mỏi vô cùng. Khách điếm nhỏ này chỉ có hai vò rượu đã bị chàng uống sạch không còn một giọt, muốn nhờ mua thêm những túi đã cạn tiền. Chàng không ăn cơm một ngày cũng chẳng thấy đói, nhưng một buổi không có rượu thì thật là khó chịu. Lúc này chàng đang bải hoải lại càng cần rượu cho tỉnh táo. Đang vô vọng thì một ý nghĩ chợt lóe lên: "Trên người A Tử chắc là có tiền".

Chàng tháo cái bọc của A Tử ra, quả nhiên có ba đĩnh vàng nhỏ và mấy nén bạc lẻ. Chàng lấy ra một đĩnh bạc, buộc cái túi lại, thấy ngoài túi có một sợi dây lụa màu tím, một đầu buộc vào ngang lưng. Tiêu Phong nghĩ thầm: "Cô bé này cẩn thận quá, không biết buộc cái gì vào người chặt thế này, chắc là sợ rơi mất." Đầu dây buộc vào lưng có thắt nút thật chặt, chàng hí hoáy hồi lâu mới gỡ ra được. Dây lụa vừa tuột ra, dường như đầu kia còn có vật gì giắt vào trong quần.

Tiêu Phong kéo sợi dây, vật đó rơi xuống sàn nghe cạch một tiếng, thì ra là một cái đỉnh nhỏ bằng gỗ màu vàng sậm. Tiêu Phong thở dài, cúi xuống nhặt để lên bàn. Cái đỉnh đó làm bằng một loại gỗ bóng loáng như ngọc, thớ gỗ thấp thoáng những vân màu đỏ, được điêu khắc hết sức tinh vi. Tiêu Phong biết ngay đây là vật mà phái Tinh Tú dùng để luyện Hóa Công Đại Pháp, cảm thấy ghê tởm nên chỉ liếc qua rồi nghĩ thầm: "Con bé này giảo hoạt thật, một hai cứ bảo là giao Thần Mộc Vương Đỉnh cho ta rồi, không ngờ vẫn giắt trong quần. Chắc là bạn đồng môn của nó tưởng là ta đang giữ thật, lại không tiện tra xét nữ nhân nên không khám phá ra. Hỡi ơi! Bây giờ tính mạng nàng còn chẳng giữ được, cái thứ thân ngoại chi vật này còn để làm gì?".

Chàng gọi chủ quán vào, đưa bạc cho y đi mua rượu thịt, còn mình tiếp tục vận công duy trì tính mạng cho A Tử.

Đến ngày thứ tư thì chàng không chịu nổi nữa, đành phải ngả lưng xuống, hai tay nắm một bàn tay A Tử, đặt nàng dựa vào người mình, truyền nội lực theo lòng bàn tay. Tiêu Phong nằm được một lát, hai mắt nhắm ghiền, thiếp đi. Nhưng chàng vẫn khắc khoải về tính mạng A Tử, nên mới chợp mắt một chút đã giật mình tỉnh giấc. May mà trong lúc chàng ngủ, chân khí vẫn lưu chuyển, miễn sao lòng bàn tay còn áp vào A Tử là hơi thở của nàng chưa tuyệt.

Tình trạng này lại kéo dài hai ngày nữa. A Tử vẫn chưa chết nhưng không khả quan hơn chút nào, nếu chàng nằm trong tiểu điểm này đến hết đời thì e rằng vẫn thế. Thỉnh thoảng A Tử cũng mở mắt ra nhưng thần thái lờ đờ, rõ ràng không hay biết gì cả, mà cũng không nói được tiếng nào. Tiêu Phong nghĩ hoài chẳng ra cách gì, đành quyết định: "Ta đành bế nàng đi, may ra gặp được cơ hội gì. Nếu cứ ở trong khách điếm này thì thật sự vô phương."

Chàng bàn tay trái ôm A Tử, tay phải cầm cái túi của nàng nhét vào bọc, thấy cái đỉnh trên bàn liền nghĩ thầm: "Cái vật hại người này để làm gì, đập nát đi cho rồi." Chàng giơ chưởng định đánh xuống, bỗng nghĩ lại: "A Tử khó khăn lắm mới lấy cắp được vật này. Xem ra thương thế nàng không chữa được nữa, không chừng đến lúc lâm chung, hồi quang phản chiếu mà tỉnh táo lại giây lát, hỏi đến cái mộc đỉnh. Ta phải giữ lại để đưa cho nàng xem, yên tâm mà chết."

Tiêu Phong cầm cái đỉnh gỗ lên, cảm thấy bên trong có cái gì cựa quậy, kinh ngạc nhìn kỹ mới biết chung quanh đỉnh, có năm cái lỗ to bằng đồng tiền, còn ở cổ đỉnh có đường nối, tựa hồ có thể tháo ra. Chàng dùng ngón út và ngón vô danh kẹp chiếc đỉnh, ngón cái và ngón trỏ xoay phần nắp qua bên trái, quả nhiên chuyển động được. Chàng xoay mấy vòng, mở nắp nhìn vào không khỏi vừa ngạc nhiên, vừa kinh tởm. Thì ra bên trong có một con rết và một con bò cạp, đang cắn nhau kịch liệt.

Mấy hôm trước, khi chàng đặt chiếc đỉnh lên bàn, rõ ràng trong đỉnh không có gì, thế thì hai con độc trùng này mới ở đâu bò vào. Tiêu Phong đoán chừng phái Tinh Tú dùng những trùng độc này luyện một môn tà pháp quái đản, nên nghiêng chiếc đỉnh đổ hai con vật xuống đất dẫm chết, rồi đậy nắp lại, cất vào túi vải. Tiêu Phong thanh toán tiền khách điếm rồi ôm A Tử lên, đội tuyết mà đi về hướng bắc.

Nhân vật võ lâm Trung Nguyên đều kết thâm thù với Tiêu Phong, mà đường đi càng lúc càng gần kinh đô Biện Lương nhà Đại Tống, thể nào cũng đụng đầu. Chàng không muốn cải trang, lại không muốn giết người kết thêm thù oán, hơn nữa trên tay ôm A Tử, nếu phải động thủ thực là bất tiện, nên tránh đường lớn, chỉ tìm những đường mòn hẻo lánh mà đi. Suốt mấy trăm dặm vẫn bình an vô sự.

Một hôm đến một thị trấn lớn, chàng thấy một hiệu thuốc có treo bảng: "Nho y gia truyền Vương Thông Trị chẩn bệnh miễn phí", nghĩ bụng: "Địa phương nhỏ chắc không có danh y, nhưng ta cứ vào xem thử cũng chẳng hề gì." Ông liền ôm A Tử vào xin chữa trị.

Nho y Vương Thông Trị cầm tay A Tử, đưa mắt nhìn Tiêu Phong, lại bắt mạch A Tử, lại nhìn Tiêu Phong bằng cặp mắt khác lạ, đột nhiên đưa tay bắt mạch Tiêu Phong. Tiêu Phong tức mình nói: "Tiên sinh! Ta nhờ tiên sinh chữa bệnh cho muội tử chứ có nhờ chữa cho ta đâu?" Vương Thông Trị lắc đầu nói: "Ta xem lão huynh có bệnh, đầu óc điên khùng, tâm thần rối loạn cần phải chữa trị ngay." Tiêu Phong đáp: "Ta làm gì mà đầu óc điên khùng?" Vương Thông Trị đáp: "Cô nương này mạch đã ngừng đập, chết lâu rồi, có điều người chưa cứng lại mà thôi. Lão huynh còn ôm cô ta đi chữa trị cái gì nữa? Thế chẳng phải tâm thần rối loạn hay sao? Này lão huynh, người chết không thể sống lại, cũng chẳng nên quá thương tâm, nên đem thi thể lệnh muội mà mai táng cho người chết được yên nghỉ."

Tiêu Phong dở khóc dở mếu nhưng nghĩ lại thì y nói cũng có lý. Đúng là A Tử chết rồi, chỉ nhờ chân khí của mình mà thoi thóp, thầy lang tầm thường làm sao biết được? Nghĩ vậy chàng bèn đứng dậy trở gót đi ra.

Bỗng thấy một người ăn mặc ra lối quản gia chạy vào tiệm thuốc hốt hoảng la lên: "Mau lên! Lấy lão sơn nhân sâm loại tốt nhất. Lão thái gia nhà ta trúng phong sắp tắt thở, cần nhân sâm để giữ cho khỏi chết." Gã chưởng quý trong tiệm thuốc vội đáp: "Có đây! Có lão sơn nhân sâm thượng hảo hạng đây!"

Tiêu Phong nghe nói "cần nhân sâm để giữ cho khỏi chết" liền nhớ ra từng nghe người sắp tắt thở mà cho uống mấy ngụm sâm thang thì có thể cầm hơi, sống thêm một lúc để trối vài lời. Gã chưởng quĩ lấy ra một cái hộp gỗ quý, trịnh trọng mở nắp ra, bên trong có ba củ sâm to bằng ngón tay. Tiêu Phong cũng nghe nói nhân sâm càng to càng tốt, da càng nhăn càng quí, nếu thành hình người đủ cả đầu mình chân tay là loại cực phẩm. Ba củ sâm này chỉ là loại thường, trông chẳng có gì đặc biệt. Gã quản gia chọn một củ rồi lật đật đi ngay.

Tiêu Phong lấy một đĩnh vàng mua luôn hai củ còn lại. Trong tiệm thuốc có sẵn dụng cụ sắc thuốc, ông liền nhờ nấu sâm thang đút cho A Tử mấy thìa. Lần này nàng không nôn ra. Lại đút được mấy thìa nữa, Tiêu Phong thấy mạch nàng đã hơi chuyển động, hơi thở cũng khá hơn một chút, trong bụng không khỏi mừng thầm.

Gã nho y Vương Thông Trị đứng bên vẫn lắc đầu quầy quậy nói: "Lão huynh ơi! Nhân sâm không phải dễ tìm, dùng phí phạm thì uổng lắm. Đó cũng chẳng phải linh chi tiên thảo gì, giả tỉ nhân sâm cứu người chết sống lại được, thì những người giàu chắc sống đời đời."

Mấy bữa nay Tiêu Phong không dám rời A Tử một bước, trong lòng bực bội, nghe gã Vương Thông Trị cứ lải nhải bàn ra, bất giác điên tiết lên, vung tay toan đánh cho y một chưởng. Thế nhưng chàng vừa đưa tay lên chợt nghĩ: "Đả thương kẻ không biết võ công thì đâu phải anh hùng hảo hán?", bèn rụt tay về, bế A Tử ra khỏi hiệu thuốc, nghe văng vẳng tiếng Vương Thông Trị nói theo: "Thằng cha này hồ đồ quá, ôm cái xác chết chạy tới chạy lui. Xem chừng cái mạng của gã cũng chẳng được lâu dài." Y có biết đâu mình đã đến Quỉ Môn Quan rồi quay trở lại? Giả tỉ Tiêu Phong không nén giận được, phóng chưởng đánh ra thì dẫu có mười Vương Thông Trị cũng thành Vương.. Bất Trị.

Tiêu Phong ra khỏi hiệu thuốc rồi nghĩ thầm: "Nghe nói lão sơn nhân sâm chỉ có ở vùng giá rét trong dãy Trường Bạch, chi bằng mình lên đó cầu may. Cứu sống A Tử thì khó lắm, nhưng giữ cho nàng ở lại nhân gian được ít lâu, A Châu ở trên trời có linh thiêng cũng vui vẻ được chút ít." Chàng nghĩ thế, bèn tìm đường đi về phía đông bắc, dọc đường mỗi khi gặp tiệm thuốc liền vào mua nhân sâm. Đến khi hết cả tiền bạc, chàng chẳng nể nang gì nữa, cứ thò tay ra lấy, mấy tên làm công làm sao ngăn nổi? A Tử uống một lượng lớn nhân sâm rồi, thỉnh thoảng cũng có thể mở mắt ra khẽ gọi: "Tỉ phu!", đêm đến cũng tự mình thoi thóp ngủ được vài giờ không cần tiếp chân khí.

Càng đi trời càng lạnh, sau cùng hai người cũng đến được núi Trường Bạch. Tuy nói là nơi này có nhiều nhân sâm, nhưng nếu không phải là người lâu năm quen thuộc địa thế, chuyên môn trong nghề, thì tìm một năm sáu tháng chưa chắc được một củ. Tiêu Phong tiếp tục theo hướng đông bắc mà tiến, quang cảnh càng lúc càng hoang vắng. Về sau chung quanh chỉ thấy bốn bề cỏ hoang mờ mịt, núi cao đồi tuyết, đi mấy ngày đường không gặp một người. Trong lòng chàng không khỏi kêu khổ: "Hỏng bét! Thật là hỏng bét! Chỗ nào cũng thấy toàn là tuyết, làm sao mà tìm được nhân sâm? Thôi đành trở về, tìm chỗ nào có phố chợ, còn tiền thì mua, hết tiền thì cướp." Chàng nghĩ thế lại ôm A Tử quay về.

Khi đó vào đúng tiết đại hàn, khí trời lạnh ngắt, mặt đất đầy băng, tuyết đóng dày mấy thước thật là khó đi. Nếu chàng không phải là người võ công trác tuyệt thì dù không chết rét cũng bị sa lầy vào tuyết không thoát ra được.

Đến ngày thứ ba, trời ảm đạm như sắp có bão tuyết, chàng đưa mắt nhìn tứ phía thấy chỗ nào cũng trắng xóa, mặt đất không một dấu chân người, đến vết dã thú cũng không. Tiêu Phong hoang mang, thấy mình cô độc khác nào con thuyền đang ở giữa biển khơi bao la không bờ không bến, chỉ nghe tiếng gió rít từng hồi bên tai.

Tiêu Phong biết mình đã bị lạc, mấy lần nhảy lên cây cao nhìn ra xung quanh chỉ thấy cây cối rậm rạp, tuyết phủ trắng xóa, chẳng còn phân biệt đâu là đông tây nam bắc nữa. Chàng sợ A Tử bị lạnh, bèn cởi trường bào ra quấn nàng lại. Tuy chàng là người chẳng biết sợ trời sợ đất, nhưng lúc này ở chốn thiên địa mang mang, tưởng như chỉ còn một mình sống trên thế giới, không khỏi chột dạ. Giả tỉ chàng chỉ có một mình thì không sao, giữa biển tuyết bao la cũng không tuyệt vọng, nhưng khổ nỗi trong tay lại ôm cô bé A Tử đang mê man, sống dở chết dở.

Đã ba hôm nay Tiêu Phong không được ăn uống gì, muốn bắt một con gà rừng hay thỏ hoang mà cũng không thấy. Chàng nghĩ thầm: "Mình chạy lung tung cũng chẳng tới đâu, chi bằng nghỉ một đêm trong rừng, đợi tuyết ngừng rơi, nhìn trăng sao mà nhận định phương hướng." Tiêu Phong bèn tìm một chỗ khuất gió, gom ít củi khô đốt một đống lửa. Lát sau, thân thể đã ấm áp nhưng bụng đói như cào, chàng nhìn dưới gốc cây có nhiều nấm dại màu xám hình như không độc, liền nhổ lên nướng ăn.

Tiêu Phong ăn hơn hai chục tai nấm, tinh thần đã có vẻ phấn chấn, bèn đặt A Tử nằm tựa vào ngực mình ngồi sưởi, đang định chợp mắt ngủ bỗng nghe một tiếng gầm thật lớn, chính là tiếng hổ. Tiêu Phong cả mừng lẩm bẩm: "Dã thú đến đây, mình có thịt ăn rồi". Chàng lắng tai nghe, rồi thấy hai con hổ đang chạy trên mặt tuyết, kế đó có tiếng lao xao, chừng như có người đang đuổi theo.

Nghe thấy tiếng người quát tháo, lòng chàng vô cùng mừng rỡ. Lại nghe tiếng hai con dã thú hình như đang chạy về hướng. Tây, chàng liền đặt A Tử xuống cạnh đống lửa, thi triển khinh công chạy ra đón đường. Lúc này tuyết xuống càng nhiều, gió bấc rít lên từng cơn, trời đất mù mịt.

Tiêu Phong mới chạy chừng mười trượng đã thấy hai con hổ vằn thật lớn đang chạy thục mạng, phía sau là một đại hán khoác áo da thú, tay cầm đinh ba đang rượt theo. Được một quãng, một con gầm lên quay ngoắt lại, nhảy chồm vào người thợ săn. Y liền giơ đinh ba lên, nhắm thẳng cổ họng mãnh hổ mà đâm. Con cọp hết sức nhanh nhẹn, nghiêng đầu qua tránh khỏi mũi đinh ba, cùng lúc đó con hổ kia cũng xông tới.

Người thợ săn lập tức trở cán đinh ba lại, quật ngang bụng con vật nghe bịch một tiếng. Nó bị đau, rống lên một tiếng, cụp đuôi bỏ chạy. Con hổ còn lại cũng chạy trốn theo. Tiêu Phong thấy người thợ săn chân tay mau lẹ, sức mạnh vô cùng, nhưng dường như chẳng biết võ công. Y quen tập tính dã thú nên hổ chưa vồ y đã dựng đinh ba đón trước, chính là cách tốt nhất. Nhưng gã muốn đâm chết hai con cọp thì không phải dễ.

Tiêu Phong lớn tiếng kêu lên: "Lão huynh, có ta đến giúp đây!" Chàng lạng người xông ra đón đầu hai con hổ. Người thợ săn thấy Tiêu Phong đột ngột xông ra, kinh hãi la lối om sòm, nghe ra không phải tiếng Hán. Tiêu Phong chẳng hiểu y nói gì nên không để ý nữa, giờ tay phải nhắm ngay đầu một con cọp phóng chưởng nghe đến "bình" một tiếng, con vật tung lên không, lăn đi mấy vòng, rống lên rồi lại phóng thẳng vào chàng.

Phát chưởng đó Tiêu Phong sử dụng đến bảy thành công lực, nếu là người thì võ công cao cường đến đâu cũng vỡ đầu nát óc, nhưng mãnh hổ sọ cứng xương dày, chưởng lực vỡ đá tan bia cũng chỉ khiến nó ngã lăn đi, lại xông vào được, Tiêu Phong khen thầm: "Ngươi quả là ghê gớm!", rồi nghiêng người né tránh, tay phải chém xéo xuống trúng ngay sườn con vật nghe "chát" một tiếng. Phát trảm này chàng lại tăng thêm công lực, con mãnh hổ loạng choạng rồi bỏ chạy. Tiêu Phong tiến lên, tay phải vươn ra chộp trúng đuôi con cọp, tay trái cũng nắm vào, quát lên một tiếng, thi triển thần lực kéo ghì lại. Con hổ đang phóng về phía trước bị Tiêu Phong giật ngược, hai luồng lực đạo hợp lại khiến nó bị hất tung lên không.

Người thợ săn cầm đinh ba đang đấu với con hổ kia, thấy Tiêu Phong giật con cọp tung lên thì kinh hãi vô cùng. Mãnh hổ đang lơ lửng trên không, lại nhe nanh múa vuốt vồ từ trên xuống. Tiêu Phong lại quát lên một tiếng, song chưởng cùng tung ra, trúng ngay bụng dưới con vật. Đó là chỗ thịt mềm, chiêu Bài Vân Song Chưởng lại chính là công phu đắc ý của Tiêu Phong, ngũ tạng con cọp tan nát hết, nó lăn lộn một hồi trên mặt tuyết rồi chết thẳng cẳng.

Người thợ săn thấy Tiêu Phong tay không đánh chết hổ trong lòng kính phục vô cùng, nghĩ thầm "Người ta tay không, mình dùng đinh ba giết một con cũng không xong, hóa ra để bị coi thường ư?" Y bèn đem hết sức bình sinh, đâm tả đâm hữu, nhát nào cũng trúng vào mình cọp. Con cọp bị đau nổi hung lên, nhe hàm răng nhọn hoắt, tung mình vồ tới.

Gã thợ săn nghiêng qua né được, vung đinh ba đâm ngang, trúng vào cổ con thú nghe "phụp" một tiếng, hai tay lại nhấn mạnh vào, con vật rống lên thảm thiết té lăn ra đất. Gã vận sức lên cánh tay, đè chặt con cọp xuống mặt tuyết. Nghe tiếng roạt roạt, cái áo da thú trên người y rách toạc một mảng lớn, để lộ cái lưng trần, bắp thịt cuồn cuộn trông thật hùng vĩ. Tiêu Phong nhìn thấy bất giác khen thầm: "Hảo hán tử!". Con hổ chổng bốn chân lên trời, giãy giụa một lát rồi nằm yên không nhúc nhích nữa.

Người thợ săn nhổ cây đinh ba ra, đắc chí cười ha hả, quay người lại nhìn Tiêu Phong giơ hai ngón tay cái lên nói xì xồ mấy câu. Tiêu Phong không hiểu y nói gì nhưng trông vẻ mặt cũng biết đại khái gã tán dương mình là bậc anh hùng, bèn bắt chước giơ hai ngón tay cái lên nói: "Hảo hán! Hảo hán!"

Gã ra vẻ thích chí, chỉ vào đầu mũi mình nói: "Hoàn Nhan A Cốt Đả!" Tiêu Phong đoán chừng đây là tên y, cũng chỉ vào đầu mũi mình nói: "Tiêu Phong!" Người kia hỏi lại: "Tiêu Phong? Khất Đan?" Tiêu Phong gật đầu hỏi lại: "Khất Đan! Huynh?" Rồi đưa tay chỉ vào y để hỏi. Người kia đáp: "Hoàn Nhan A Cốt Đả! Nữ Chân!"

Tiêu Phong đã từng nghe ở phía đông nước Liêu, phía bắc nước Cao Ly có bộ tộc Nữ Chân dũng mãnh thiện chiến, thì ra gã Hoàn Nhan A Cốt Đả thuộc giống người này. Tuy ngôn ngữ bất đồng nhưng giữa cảnh tuyết trắng mịt mùng mà gặp được đồng loại cũng vui mừng khôn xiết, bèn hoa chân múa tay ra hiệu là còn một người nữa, rồi vác con hổ chết lên, đi lại phía A Tử đang nằm. A Cốt Đả cũng vác con hổ của y đi theo.

Hổ mới chết máu chưa kịp đông, Tiêu Phong lật con thú lại, cắt cổ cho máu chảy vào mồm A Tử. A Tử không mở mắt nhưng vẫn nuốt, hơn mười ngụm mới thôi. Tiêu Phong cả mừng, xé lấy hai đùi cọp nướng vào lửa. A Cốt Đả thấy chàng dùng tay không xé con hổ như người ta xé thịt gà, kình lực như thế y chưa từng thấy cũng chưa từng nghe. Gã ngẩn ngơ nhìn hai cánh tay Tiêu Phong một hồi rồi khẽ sờ thử cổ tay chàng, nét mặt đầy vẻ kính trọng.

Thịt hổ nướng chín rồi, Tiêu Phong và A Cốt Đả ăn một bữa no, A Cốt Đả ra hiệu hỏi chàng đến đây làm gì, Tiêu Phong cũng dùng hai tay ra hiệu đào đất tìm nhân sâm để trị bệnh cho A Tử nhưng bị lạc đường. A Cốt Đả cười ha hả, múa tay lung tung ý nói là nhân sâm rất dễ tìm, đi theo y bao nhiêu cũng có. Tiêu Phong mừng quá, đứng dậy, tay trái bồng A Tử, tay phải xách một con hổ chết. A Cốt Đả lại giơ ngón tay lên ra hiệu khâm phục thần lực của Tiêu Phong.

A Cốt Đả rất quen thuộc địa thế vùng này, trời bão tuyết mịt mùng mà không nhầm lẫn chút nào. Hai người đi đến tối thì ngủ lại trong rừng, sáng hôm sau lại đi. Cứ như thế đi về hướng tây hai ngày, đến trưa ngày thứ ba trên mặt tuyết đã thấy rất nhiều dấu chân, A Cốt Đả ra hiệu là đã đến gần bộ tộc rồi. Quả nhiên đi qua hai thung lũng, thấy bên triền núi phía đông nam lấm chấm mấy trăm mái lều bằng da thú. A Cốt Đả chúm môi huýt một tiếng, lập tức có người chạy ra đón.

Tiêu Phong theo A Cốt Đả lại gần, thấy trước căn lều nào cũng có một đống lửa, vô số phụ nữ ngồi chung quanh, người thì khâu da thú, người thì sấy thịt khô. A Cốt Đả dẫn Tiêu Phong đến căn lều to nhất ở chính giữa, vén màn đi vào, Tiêu Phong cũng đi theo y. Bên trong lều có chừng mươi người đàn ông ngồi thành vòng tròn đang uống rượu, vừa thấy A Cốt Đả đã lớn tiếng reo mừng. A Cốt Đả chỉ vào Tiêu Phong, nói liến thoắng một hồi, nhìn bộ dạng tựa hồ đang kể lại chuyện ông tay không đánh chết hổ. Cả đám liền vây quanh Tiêu Phong, ai nấy giơ ngón tay cái lên, không ngớt trầm trồ khen ngợi.

Đang lúc xôn xao, một người Hán ăn mặc theo kiểu thương gia bước vào, hỏi Tiêu Phong: "Huynh đài có biết tiếng Hán không?" Tiêu Phong mừng rỡ đáp: "Biết chứ! Biết chứ!"

Chàng hỏi ra mới biết căn lều này là của tộc trưởng Nữ Chân, người râu đen ngồi giữa là tộc trưởng, tên gọi Hòa Lý Bố. Ông ta có mười một người con, toàn là anh hùng hảo hán, A Cốt Đả là con trai thứ. Người Hán đó tên là Hứa Trác Thành, mùa đông năm nào cũng tới đây mua nhân sâm, da thú, sang xuân mới quay về. Hứa Trác Thành hiểu tiếng Nữ Chân, bèn làm phiên dịch cho Tiêu Phong. Người Nữ Chân hay đánh nhau với người Khất Đan, nhưng rất kính trọng những bậc anh hùng hảo hán. Hoàn Nhan A Cốt Đả là người thông minh nhanh nhẹn, rất được phụ thân yêu mến, mọi người trong bộ lạc đều kính trọng. Y luôn mồm ca ngợi Tiêu Phong nên mọi người đều coi chàng như khách quí, không còn dị ứng với cái gốc gác Khất Đan của chàng nữa.

A Cốt Đả nhường căn lều của mình cho Tiêu Phong và A Tử ở. Tiêu Phong từ chối mấy lần không được, thấy y thành thực bèn bế A Tử vào trong lều nghỉ ngơi.

Tối hôm đó người Nữ Chân mở đại, tiệc để đón tiếp Tiêu Phong, thịt hai con mãnh hổ được nấu thành món ăn trân quí. Đã nửa tháng nay Tiêu Phong không đụng tới một giọt rượu, bây giờ người Nữ Chân đem ra hết túi da này đến túi da khác, chàng uống một bữa thỏa thuê. Rượu của người Nữ Chân vị không ngon nhưng cực mạnh, người thường chỉ cần uống nửa túi đã say, nhưng Tiêu Phong uống luôn một chục túi mà sắc mặt vẫn như không. Xưa nay dân Nữ Chân vẫn xem ai có tửu lượng giỏi là bậc hảo hán. Chuyện chàng tay không đánh cọp thì họ mới nghe kể chưa thấy tận mắt, nhưng xem chàng uống rượu thì mười hảo hán Nữ Chân cộng lại cũng chưa bằng, tất cả đều phục sát đất.

Hứa Trác Thành thấy người Nữ Chân trọng vọng chàng nên cũng hết sức cung kính. Tiêu Phong lúc này nhàn rỗi không biết làm gì, ban ngày đi săn với A Cốt Đả, tối về lại nhờ Hứa Trác Thành dạy tiếng Nữ Chân. Chàng học được bốn năm phần, nghĩ bụng mình là người Khất Đan, không biết nói tiếng Khất Đan thì có điều bất tiện, nên lại nhờ y dạy. Hứa Trác Thành đi buôn nhiều nơi, bất luận tiếng Nữ Chân, tiếng Tây Hạ, tiếng Khất Đan gã cũng nói lưu loát. Tiêu Phong học ngôn ngữ thì không thông minh lắm, nhưng vì tiếng Nữ Chân và tiếng Khất Đan giản dị hơn tiếng Hán nhiều nên chẳng bao lâu đã có được chút vốn liếng, đủ nói cho người ta hiểu, không cần phải phiên dịch nữa.

Ngày tháng thoi đưa, đông đi xuân tới. A Tử ngày ngày ăn nhân sâm, thương thế giảm dần. Người Nữ Chân ở nơi hoang sơn dã lĩnh, đào được lão sâm hạng nhất, quí hơn cả hoàng kim. Lần nào Tiêu Phong đi săn cũng giết được nhiều dã thú, đem đổi lấy nhân sâm cho A Tử dùng. Giả tỉ là nhà phú hộ mà có một tiểu thư dùng nhân sâm nhiều như thế, e rằng đến tán gia bại sản. Bây giờ mỗi ngày Tiêu Phong chỉ phải vận khí dồn lực vào cho A Tử hai lần là đủ, không như trước đây phải đặt tay lên lưng nàng suốt ngày đêm. A Tử đôi lúc cũng nói được vài câu, nhưng chân tay tê bại không cử động được, mọi chuyện ăn ngủ, đi đứng, nằm ngồi, đều do Tiêu Phong lo liệu cả. Chàng nhớ tới thâm tình của A Châu, dù mệt nhọc cũng vui lòng, nghĩ rằng chăm sóc A Tử một lần là báo đáp A Châu một chút nên cảm thấy an ủi trong lòng.

Một hôm A Cốt Đả dẫn mươi người trong bộ tộc lên miền tây bắc săn gấu, rủ Tiêu Phong đi cùng. Gã nói loài gấu da dày lông rậm, bàn tay gấu là món sơn hào, mật gấu lại trị thương rất linh nghiệm. Tiêu Phong thấy A Tử đã khá nhiều, cũng vui vẻ nhận lời đi theo. Đoàn người ra đi từ lúc trời chưa sáng, tiến thẳng về hướng bắc.

Lúc đó đã vào đầu mùa hạ, băng tuyết tan thành bùn trơn trượt, trong rừng đầy cành lá mục cực kỳ khó đi, nhưng người Nữ Chân đi đứng vẫn nhẹ nhàng nhanh nhẹn như thường. Đến khoảng giờ ngọ, một lão thợ săn già kêu lên: "Gấu kìa! Gấu kìa!" Mọi người nhìn theo hướng tay lão chỉ, thấy ở xa xa trên đất lầy có những dấu chân gấu rất lớn. Mọi người đều phấn khởi, lập tức theo vết chân đuổi theo.

Vết chân gấu dẫm xuống bùn sâu đến mấy tấc, dù là trẻ con cũng lần theo được. Cả đoàn người vừa đuổi vừa reo, theo vết chân đi về hướng tây. Sau khi ra khỏi cánh rừng bùn lầy, đến thảo nguyên mọi người đuổi càng nhanh.

Bỗng nghe tiếng vó ngựa dồn dập, xa xa phía trước bụi bay mù mịt, một đại đội nhân mã đang phóng tới. Một con gấu đen thật lớn đang chạy ngược về hướng Tiêu Phong, đằng sau là bảy tám kỵ sĩ hò hét đuổi theo, kẻ cầm trường mâu, kẻ cầm cung tên coi bộ rất hung hăng.

A Cốt Đả kêu lớn: "Bọn Khất Đan! Chúng đông người, ta chạy đi thôi." Tiêu Phong nghe nói là người đồng tộc với mình, trong lòng cảm thấy thân cận, tuy bọn A Cốt Đả đã quay đầu bỏ chạy nhưng chàng chưa chạy theo mà đứng lại xem cho rõ.

Bỗng bọn Khất Đan hô lớn: "Mọi Nữ Chân! Bắn tên! Bắn tên!" Nghe tiếng rít lên liên tiếp, những mũi tên đuôi có tra lông bắn tới như mưa. Tiêu Phong trong bụng bực tức, nghĩ thầm: "Sao chẳng có lý do gì, vừa thấy mặt đã bắn ngay?". Mấy mũi tên bắn đến đều bị chàng đưa tay gạt ra hết. Bỗng nghe một tiếng rú thê thảm, một lão già Nữ Chân trúng tên vào lưng, gục xuống chết ngay.

A Cốt Đả dẫn cả bọn chạy qua một ngọn đồi, nằm mọp xuống, cũng lắp tên vào cung bắn gục hai gã Khất Đan. Tiêu Phong đứng giữa, không biết giúp bên nào cho phải.

Vũ tiễn của bọn Khất Đan vẫn tiếp tục bắn như mưa bấc, Tiêu Phong thuận tay bắt lấy một mũi vung lên, bao nhiêu tên bắn tới đều bị gạt ra. Chàng lớn tiếng quát hỏi: "Các ngươi làm gì vậy? Sao chưa hỏi han gì đã ra tay giết người?" A Cốt Đả từ sau mô đất lớn tiếng gọi: "Tiêu Phong! Tiêu Phong! Chạy lại đây mau! Bọn chúng không biết huynh là người Khất Đan đâu!"

Lúc đó hai tên Khất Đan cầm trường mâu giục ngựa xông vào Tiêu Phong, chia ra đâm hai bên tả hữu. Tiêu Phong không muốn giết người đồng tộc, hai tay chộp hai cán giáo khẽ giật một cái, hai gã Nhất Đan ngã lăn xuống ngựa, Tiêu Phong lại dùng cán mâu hất hai gã bay trở về, chúng kêu rú lên rồi rơi phịch xuống, một hồi lâu không bò dậy được. A Cốt Đả cùng bọn người Nữ Chân liền lớn tiếng hoan hô.

Trong bọn Khất Đan có một người trung niên mặc hồng bào ra vẻ oai vệ, y lớn tiếng ra lệnh gì đó. Mấy chục tên Khất Đạn liền chia thành hai cánh, bao vây bọn A Cốt Đả lại để chặn đường rút lui, vẫn còn mấy chục tên đứng bảo vệ chung quanh người áo đỏ.

A Cốt Đả xem chừng bất ổn, lớn tiếng kêu gọi tộc nhân và Tiêu Phong bỏ chạy. Bọn Khất Đan bắn tên ra như mưa, lại giết thêm hai người Nữ Chân nữa. Người Nữ Chân cung mạnh tên cứng bắn không trật mũi nào, chốc lát đã bắn hạ khoảng chục kỵ sĩ Khất Đan, có điều ít người hơn nhiều nên phải vừa bắn vừa chạy trốn.

Tiêu Phong thấy bọn Khất Đan ngang ngược không biết phải trái, tuy là người cùng bộ tộc cũng không thể nhường nhịn được nữa. Chàng cướp lấy một cây cung, bắn vùn vụt bốn mũi tên, phát nào cũng trúng vai hay đùi một gã Khất Đan, cả bốn rơi xuống ngựa nhưng không ai chết. Người mặc đồng bào lại quát tháo, lập tức có mấy tên phóng ngựa xông ra cực kỳ dũng mãnh.

Tiêu Phong thấy phe ta chỉ còn A Cốt Đả và năm thanh niên đang vừa bắn trả vừa chạy trốn, còn bao nhiêu đã trúng tên chết cả rồi. Trên thảo nguyên không có chỗ nấp, xem chừng nếu kéo dài thì ngay A Cốt Đả cũng sẽ bị giết. Chàng nghĩ người Nữ Chân đối xử với mình như thượng khách, nếu không ra tay bảo vệ bằng hữu thì sao phải anh hùng hảo hán? Nhưng ra tay đại sát người Khất Đan cùng chủng tộc thì cũng không đành lòng. Chàng thấy chỉ còn cách bắt lấy tên thủ lĩnh áo đỏ kia, buộc y ra lệnh lui quân thì mới đình chiến được.

Nghĩ vậy, Tiêu Phong lớn tiếng quát: "Này! Này! Bọn ngươi mà không lui binh thì ta không nể nang nữa đâu." Chàng chưa dứt lời, ba cây trường mâu đã phóng tới vù vù. Tiêu Phong nghĩ thầm: "Bọn bay không biết phải quấy chút nào." Chàng hạ thấp người, xông thẳng về phía người mặc hồng bào.

A Cốt Đả thấy bằng hữu mạo hiểm liền kêu lên: "Tiêu Phong! Không được đâu, mau quay lại!" Tiêu Phong không đáp, cứ phóng tới thật nhanh. Bọn Khất Đan nhốn nháo cả lên, trường mâu vũ tiễn đều nhắm chàng bay đến tới tấp. Tiêu Phong chụp lấy một thanh trường mâu bẻ gãy đôi, cầm thanh mâu gãy vung lên như trường kiếm để gạt hết tên, vẫn chạy như bay, xông đến trước người áo đỏ.

Người đó râu ria tua tủa trông rất oai phong, thấy Tiêu Phong xông đến vẫn không hoang mang, giựt lấy ba cây lao của bọn hộ vệ chung quanh, phóng vùn vụt vào Tiêu Phong. Tiêu Phong vung tay bắt được ngay mũi lao, mũi thứ hai bay đến cũng bắt nốt. Chàng lại vung tay một cái phóng hai mũi lao bay ra, trúng luôn hai gã hộ vệ lăn xuống ngựa. Người mặc hồng bào quát lớn: "Giỏi lắm!", ném nốt mũi lao thứ ba. Tiêu Phong giơ tay trái lên dùng thủ pháp tá lực đả lực, đẩy mũi lao bay ngược lại cắm thẳng vào ức con ngựa y đang cưỡi.

Người áo đỏ la lên: "Úi chà!", vội vàng nhảy khỏi lưng ngựa. Tiêu Phong tung mình xông tới, vươn tay trái ra nắm lấy vai bên phải của y. Bỗng nghe phía sau có tiếng gió thổi tới, lập tức chàng nhún chân nhảy vọt ra trước hơn một trượng, nghe phập phập, hai thanh trường mâu cắm sâu xuống đất. Tiêu Phong ôm người áo đỏ vọt sang bên tả, tới sau lưng một kỵ sĩ Khất Đan, phóng chưởng hất gã này xuống rồi nhảy phốc lên lưng ngựa.

Người áo đỏ vung quyền lên đấm vào mặt Tiêu Phong, chàng kẹp mạnh tay trái lại khiến y không nhúc nhích được nữa. Tiêu Phong quát lên: "Ngươi bảo bọn chúng rút lui ngay, không thì ta kẹp chết ngươi tức khắc." Người mặc hồng bào bất đắc dĩ phải la lên: "Tất cả lui ngay, không được đánh nữa!"

Bọn Khất Đan tới tấp xông đến trước mặt Tiêu Phong, toan ra tay cứu viện. Tiêu Phong dí mũi giáo gãy vào mặt người áo đỏ, quát lớn: "Các ngươi có muốn ta đâm chết y không?"

Một lão già Khất Đan quát lên: "Ngươi muốn tốt thì thả thủ lĩnh bọn ta ra ngay, nếu không sẽ bị ngũ mã phân thây lập tức." Tiêu Phong cười ha hả, phóng chưởng cách không đánh vào lão. Chàng muốn thị uy, dọa cho chúng sợ để đỡ phải giết người. Nghe ầm một tiếng, lão già Khất Đan kia từ lưng ngựa văng ra mấy trượng, miệng hộc máu tươi chết ngay lập tức.

Xưa nay bọn Khất Đan chưa thấy ai lợi hại đến thế, cách không đánh chết người chẳng khác gì yêu pháp. Chúng hoảng hốt ghìm cương lùi lại, vẻ mặt kinh hoàng, chỉ sợ chưởng phong quét trúng mình. Tiêu Phong quát lớn: "Các ngươi không mau lui ra, ta phóng chưởng đánh y chết trước." Chàng vừa nói vừa giơ tay lên dọa đánh xuống đầu người áo đỏ. Y liền la hoảng: "Các ngươi lui đi! Lui mau đi!" Cả bọn Khất Đan lùi ra mấy bước nhưng không chịu bỏ đi.

Tiêu Phong nghĩ thầm: "Khu này toàn là đồng cỏ mênh mông, nếu mình thả tên này về, chúng cưỡi ngựa đuổi theo thì mình không chạy thoát được". Chàng liền bảo người áo đỏ: "Bảo chúng đem tám con ngựa lại đây." Y vâng lời ra lệnh, bọn Khất Đan liền dắt đến tám con tuấn mã giao cho đám người Nữ Chân.

A Cốt Đả căm hận bọn này sát hại đồng bọn mình, phóng quyền ra đánh binh một tiếng, một tên dắt ngựa lăn đi mấy vòng. Bọn Khất Đan tuy đông người nhưng không dám đánh trả.

Tiêu Phong lại tiếp: "Ngươi ra lệnh cho thuộc hạ giết hết ngựa đang cưỡi, không chừa con nào." Người mặc hồng bào tính tình dứt khoát, không tranh luận gì, lớn tiếng truyền lệnh: "Các ngươi xuống ngựa, giết hết ngựa đi." Bọn kỵ sĩ không do dự chút nào, lập tức nhảy xuống, người dùng đao, kẻ dùng mâu giết ngay con ngựa đang cưỡi.

Tiêu Phong không ngờ bọn chúng tuân lệnh mau lẹ đến thế, trong lòng cảm phục nghĩ thầm: "Gã mặc áo đỏ này xem ra địa vị tôn cao, chỉ nói một tiếng là bon kỵ sĩ không dám trái lệnh. Quân lệnh của người Khất Đan nghiêm minh như vậy, hèn gì đánh nhau với người Tống thắng nhiều thua ít." Chàng bèn nói: "Ngươi bảo chúng quay về hết, không được đuổi theo. Một người đuổi theo thì ta chặt ngươi một cánh tay, hai người đuổi theo ta chặt hai cánh tay, bốn người đuổi theo thì chặt hết tứ chi."

Gã áo đỏ tức giận, râu ria dựng ngược lên, nhưng đang bị kẹp chặt không làm gì được, bất đắc dĩ phải ra lệnh: "Các ngươi quay về, điều động nhân mã kéo đến sào huyệt bọn Nữ Chân." Bọn võ sĩ hô to: "Tuân lệnh!", rồi khom lưng hành lễ.

Tiêu Phong dắt ngựa, đợi cho bọn A Cốt Đả sáu người lên yên hết, rồi cùng theo đường cũ trở về. Đi được mấy dặm, chàng thấy bọn Khất Đan không đuổi theo thật, bèn nhảy lên yên một con ngựa, để cho người áo đỏ tự cưỡi một con.

Tám con ngựa chạy thẳng về đại trại không dừng bước, A Cốt Đả bẩm lại cho phụ thân là Hòa Lý Bố việc gặp địch như thế nào, Tiêu Phong bắt được thủ lĩnh Khất Đan ra sao. Hòa Lý Bố cả mừng nói: "Tuyệt diệu! Đem con chó Khất Đan vào đây ta xem!".

Người áo đỏ bước vào trong trướng, thần thái vẫn uy nghi, đứng hiên ngang không chịu quì, Hòa Lý Bố biết y là người tôn quý bên Khất Đan, liền hỏi: "Ngươi tên gì? Làm chức gì bên Liêu quốc?" Gã kia ngang nhiên đáp: "Có phải người bắt ta đâu mà được phép hỏi ta?" Thì ra người Khất Đan và người Nữ Chân đều có tập quán như nhau, tù binh là nô lệ của người bắt được. Hòa Lý Bố cười ha hả nói: "Ngươi nói đúng lắm!"

Người áo đỏ đi đến trước mặt Tiêu Phong, quì một chân xuống, tay phải đưa lên trán rồi nói: "Chủ nhân quả thực là anh hùng, ta đánh không lại, đông người mà vẫn thua. Ta bị ông bắt cũng không oán hận gì. Nếu ông chịu thả ta về, ta sẽ trả cho năm mươi lượng vàng, năm trăm lượng bạc, ba chục con tuấn mã."

Thúc phụ của A Cốt Đả là Phả Lạp Tô nói: "Ngươi là bậc đại quí của Khất Đan, tiền chuộc như thế ít quá. Tiêu huynh đệ! Ngươi bắt y đem đến năm trăm lượng vàng, năm nghìn lượng bạc, ba trăm con tuấn mã." Phả Lạp Tô là người lanh lợi khôn ngoan, hét giá lên gấp mười, để bên kia trả giá là vừa. Thật ra thì người Nữ Chân sống giản dị đã quen, cái giá năm mươi lượng vàng, năm trăm lượng bạc, ba chục con tuấn mã đã là to lắm rồi. Hai bên Nữ Chân và Khất Đan giao chiến mấy chục năm qua, chưa có món tiền chuộc nào lớn đến thế. Giả tỉ người áo đỏ không chịur cứ theo đúng con số y đưa ra lúc đầu đã là một tài sản ít thấy. Ai dè người áo đỏ không cần suy nghĩ, đáp ngay: "Thế cũng được!"

Những người Nữ Chân trong trường nghe vậy không khỏi giật mình, tưởng chừng tai nghe không rõ. Người Nữ Chân và Khất Đan cũng có khi lập kế đánh lừa nhau, nhưng khi đã giao ước thì một là một, hai là hai không bao giờ nuốt lời. Hơn nữa, hai bên đang thảo luận về tiền chuộc, giả tỉ bên Khất Đan không giao đủ thì người áo đỏ không trở về được, hứa bậy lại càng có hại. Phả Lạp Tô nghi ngờ y bị bắt rồi sợ hãi quá độ, thần trí mê man, liền nhắc lại: "Ngươi nghe rõ chưa? Ta nói là hoàng kim năm trăm lượng, bạch ngân năm nghìn lượng, tuấn mã ba trăm con!".

Người áo đỏ trả lời đầy vẻ ngạo mạn: "Hoàng kim năm trăm lượng, bạch ngân năm nghìn lượng, tuấn mã ba trăm con có chi đáng kể? Nước Đại Liêu chúng ta giàu có nhất thiên hạ, con số đó chẳng thấm vào đâu." Y quay sang Tiêu Phong, đổi giọng cung kính nói: "Chủ nhân! Ta chỉ nghe lệnh một mình ông thôi, người khác nói ta không thèm trả lời nữa đâu." Phả Lạp Tô nói: "Tiêu huynh đệ! Huynh đệ thử hỏi xem y ở nước Liêu làm tới chức gì?" Tiêu Phong chưa kịp hỏi, người kia đã nói: "Giả tỉ chủ nhân gạn hỏi thân thế lai lịch, ta sẽ đặt điều nói láo, ông không thể biết là thật hay giả. Thế nhưng ông là anh hùng hảo hán, ta cũng là anh hùng hảo hán, ta không muốn lừa ông, xin đừng hỏi làm gì."

Tiêu Phong xoay tay trái rút phát thanh đao đeo nơi hông, tay phải vỗ vào sống đao nghe cách một tiếng, lưỡi đao cong oằn lại. Chàng lớn tiếng quát: "Ngươi dám to gan không nói chăng? Bàn tay ta mà vỗ xuống đầu ngươi thì sẽ ra sao?"

Người áo đỏ vẫn thản nhiên không sợ hãi gì, đưa ngón tay cái lên, khen: "Bản lĩnh tuyệt vời! Công lực ghê gớm! Hôm nay ta được gặp đệ nhất anh hùng trên thế gian, quả là không uổng. Tiêu anh hùng! Nếu ông cậy mạnh uy hiếp, bắt ta khuất phục thì không được đâu. Ông muốn giết thì cứ giết, người Khất Đan tuy đánh không lại nhưng cốt cách cứng cỏi quyết không chịu kém."

Tiêu Phong cười ha hả nói: "Hay lắm! Hay lắm! Ta không giết ngươi tại đây. Giả tỉ ta chém ngươi một nhát, chắc ngươi không tâm phục. Chi bằng mình ra chỗ xa xa, tỉ thí một trận."

Hòa Lý Bố và Phả Lạp Tô cùng lên tiếng can ngăn: "Tiêu huynh đệ! Giết tên này đi thì thực là đáng tiếc, để y sống lấy tiền chuộc tốt hơn. Nếu huynh đệ bực mình, chỉ cần xách côn gỗ roi da đánh cho quắn đít là được."

Tiêu Phong đáp: "Không được! Y muốn làm anh hùng hảo hán, ta cho y toại nguyện." Chàng quay sang mượn người Nữ Chân hai cây trường mâu, hai bộ cung tên, nắm tay người áo đỏ kéo ra khỏi trướng, nhảy lên ngựa rồi ra lệnh: "Lên ngựa mau!" Người mặc hồng bào biết chắc đấu với Tiêu Phong thì chỉ có chết, ông muốn tỉ thí chẳng qua là chơi trò mèo vờn chuột, đùa giỡn một hồi rồi mới giết mình. Nhưng y vẫn ngang nhiên chẳng sợ hãi gì, lập tức lên ngựa chạy về hướng bắc.

Tiêu Phong cưỡi ngựa theo sau. Hai người chạy được mấy dặm, Tiêu Phong nói: "Bây giờ rẽ sang hướng tây!" Người áo đỏ đáp: "Chỗ này phong cảnh tuyệt đẹp, ta muốn chết tại đây." Tiêu Phong nói: "Đón lấy!" Chàng ném trường mâu và cung tên qua, người kia đón bắt lấy rồi lớn tiếng nói: "Tiêu anh hùng! Ta không phải là đối thủ của ông, nhưng người Khất Đan thà chết không chịu nhục. Ta động thủ đây!" Tiêu Phong đáp: "Khoan đã!" Chàng ném trường mâu và cung tên xuống, chỉ còn hai tay không, miệng tủm tỉm cười. Người áo đỏ cực kỳ giận dữ, thét lên: "Hừ! Thế ra ngươi định tay không đấu với ta, khinh người đến thế ư?" Tiêu Phong lắc đầu: "Không phải! Tiêu mỗ bình sinh kính trọng anh hùng, yêu thích hảo hán. Võ công ngươi tuy không bằng ta, nhưng cũng là một tay đại anh hùng, đại hảo hán, xứng đáng là bằng hữu. Tiêu mỗ để cho ngươi về nước."

Người áo đỏ hết sức kinh ngạc, hỏi lại: "Thế là thế nào?" Tiêu Phong mỉm cười lập lại: "Tiêu mỗ coi ngươi là một hảo bằng hữu, để cho người bình an về nước". Người mặc hồng bào khác nào đến Quỉ Môn Quan lại được quay về, mừng rỡ khôn xiết, hỏi lại: "Ngươi thả ta về thật chăng? Chẳng hay ngươi muốn gì? Ta sẽ đem tiền chuộc gấp mười, gửi sang cho ngươi." Tiêu Phong hiên ngang đáp: "Ta coi ngươi là bằng hữu, sao ngươi lại không coi ta là bằng hữu? Tiêu Phong này đường đường một đấng anh hào, lẽ đâu còn đi tham tiền bạc là vật ngoại thân hay sao?"

Người áo đỏ đáp: "Đúng lắm!" Y vứt binh khí rồi nhảy xuống ngựa, quì xuống đất nói: "Đa tạ ân công tha mạng!" Tiêu Phong cũng quì xuống đáp lễ, nói: "Nếu là kẻ nô lệ lạy lục Tiêu mỗ, Tiêu mô cũng chẳng tha đâu. Nhưng Tiêu mỗ không giết bằng hữu, sao lại dám nhận lạy của bằng hữu?". Người áo đỏ lại càng mừng rỡ, đứng lên nói: "Tiêu anh hùng! Ông cứ luôn miệng gọi ta là bằng hữu, vậy chúng ta kết làm huynh đệ có được không?"

Nhớ lại năm xưa Tiêu Phong học nghệ xong liền gia nhập Cái Bang. Địa vị trong bang phân biệt rất nghiêm minh, trên có bang chủ, phó bang chủ, dưới có truyền công, chấp pháp và tứ đại trưởng lão. Sau nữa có đà chúa các đà, rồi đến đệ tử tám túi, bảy túi, cho đến kẻ mới nhập bang chưa có túi nào. Tại Cái Bang thì Tiêu Phong chuyên tâm lập những công trạng vẻ vang, chưa từng kết nghĩa anh em với ai. Sau này ở thành Vô Tích ông đấu tửu với Đoàn Dự, đem lòng cảm mến mới kết nghĩa kim lan lần đầu. Bây giờ nghe người áo đỏ đề cập đến việc này, chàng bỗng nhớ lại những năm ở Trung Nguyên giao thiệp với vô số anh hùng thiên hạ, hôm nay lưu lạc đến đất man di ăn nhờ ở đậu, quả thực nghĩ lại tủi thân. Chàng không khỏi cảm khái, lại thấy người áo đỏ khí độ anh hùng đáng là một trang hảo hán, liền đáp: "Hay lắm! Hay lắm! Tại hạ là Tiêu Phong, năm nay ba mươi mốt tuổi. Chẳng hay huynh đài niên kỷ bao nhiêu?" Người kia cười đáp: "Tại hạ là Gia Luật Cơ, nhiều hơn ân công mười ba tuổi." Tiêu Phong nói: "Sao huynh trưởng còn kêu tiểu đệ bằng ân công? Huynh trưởng là đại ca, xin nhận một lạy của đệ." Chàng nói xong phục xuống lạy, Gia Luật Cơ vội vàng hoàn lễ.

Hai người lấy ba mũi tên cắm xuống đất, đốt cháy lông đuôi tên làm nhang, hướng lên trời cùng lạy tám lạy, kết bái anh em.

Gia Luật Cơ cả mừng nói: "Hiền đệ họ Tiêu, chẳng khác gì người Khất Đan chúng ta." Tiêu Phong đáp: "Chẳng giấu gì đại ca, tiểu đệ chính là người Khất Đan." Nói xong chàng cởi áo ra, để lộ hình xăm chiếc đầu sói xanh trên ngực.

Gia Luật Cơ lại càng mừng rỡ, nói: "Đúng rồi! Hiền đệ thuộc dòng họ hoàng hậu Khất Đan, Hiền đệ ơi, đất Nữ Chân rét lắm, chi bằng theo ta về Thượng Kinh chung hưởng phú quí." Tiêu Phong đáp: "Đa tạ hảo ý của ca ca. Có điều tiểu đệ trước nay nghèo hèn, không hợp kiểu sống phú quí. Tiểu đệ ở lại Nữ Chân săn bắn uống rượu làm vui, thấy tiêu dao khoái hoạt hơn. Sau này nhớ tới ca ca, thể nào cũng qua nước Liêu thăm hỏi." Tiêu Phong rời A Tử đã lâu, sực nhớ đến thương thế nàng bèn nói: "Ca ca nên sớm quay về, để người nhà và bộ thuộc khỏi trông đợi." Rồi hai người hành lễ cáo biệt.

Tiêu Phong vừa quay đầu ngựa đã thấy A Cốt Đả dẫn hơn chục người nghênh tiếp. Thì ra A Cốt Đả thấy Tiêu Phong đi lâu không về, sợ chàng trúng phải ngụy kế của người áo đỏ, trong lòng hồi hộp liền đến tiếp ứng. Tiêu Phong kể cho gã nghe mình đã thả người áo đỏ về nước Liêu rồi. A Cốt Đả là người hiểu biết, thấy Tiêu Phong khinh tài trọng nghĩa, khoan hồng đại lượng như thế lại càng kính phục.

Một hôm, Tiêu Phong cùng A Cốt Đả nhàn rỗi ngồi nói chuyện chơi, kể lại A Tử thụ thương là do chưởng lực của mình lỡ tay đánh phải, tuy dùng nhân sâm duy trì được tính mạng nhưng thương thế đã lâu vẫn không giảm, trong lòng phiền muộn. A Cốt Đả nói: "Tiêu đại ca! Thì ra lệnh muội bị ngoại thương, người Nữ Chân chúng tôi trị gãy xương sai khớp xưa nay vẫn dùng gân hổ, xương hổ và mật gấu làm thuốc rất hiệu nghiệm. Đại ca thử xem thế nào." Tiêu Phong cả mừng nói: "Gân hổ, xương hổ thì ở đây không thiếu. Để ta ráng đi kiếm mấy con gấu lấy mật là xong." Chàng hỏi kỹ cách dùng, rồi lấy gân hổ, xương hổ nấu thành cao cho A Tử uống.

Sáng hôm sau, Tiêu Phong một mình đi vào núi hoang đầm lớn tìm gấu. Chàng đi một mình nên có thể thi triển khinh công, mau lẹ hơn đi cả đoàn nhiều. Ngày đầu không tìm thấy dấu vết gấu, đến ngày thứ hai săn được một con. Chàng mổ lấy mật, chạy về trại đút cho A Tử uống. Gân hổ, xương hổ, mật gấu và nhân sâm lâu năm nơi rừng sâu núi thẳm đều là những dược phẩm trân quí để trị thương, nhất là mật gấu còn tươi lại càng khó kiếm. Tiết Thần Y tuy y đạo như thần, nhưng không có thuốc thì cũng bó tay, nếu phải dùng nhân sâm già cho bệnh nhân ăn thay cơm thì lão cũng không làm nổi. Đằng này Tiêu Phong cứ vài ngày lại đánh chết một con gấu lấy mật tươi cho A Tử uống, mười lão Tiết Thần Y cũng không bì kịp.

Một hôm Tiêu Phong đang ngồi nấu xương gân hổ làm cao, có một người Nữ Chân hấp tấp chạy đến gọi: "Tiêu đại ca! Có hơn chục tên Khất Đan đem lễ vật đến cho đại ca." Tiêu Phong gật đầu, đoán là nghĩa huynh Gia Luật Cơ sai người tới. Chỉ nghe tiếng vó ngựa dồn dập, một đoàn ngựa từ từ tiến vào, trên lưng ngựa chất đầy phẩm vật.

Tên đội trưởng Khất Đan đi đầu đã nghe Gia Luật Cơ mô tả diện mạo Tiêu Phong, nên từ xa vừa trông thấy đã vội vàng nhảy xuống ngựa, chạy tới trước mặt ông, lạy phục xuống đất nói: "Từ khi chủ nhân từ biệt Tiêu đại gia đến nay, mong nhớ đêm ngày, nay sai tiểu nhân là Thất Lý đem chút lễ mọn sang mời Tiêu đại gia đến Thượng Kinh hàn huyên cho thỏa tình khát vọng." Y nói xong dập đầu mấy cái, hai tay trình lễ đơn lên, cực kỳ cung kính.

Tiêu Phong đón lấy, cười nói: "Đại ca quả là có lòng. Thôi, ngươi đứng dậy đi." Chàng mở tờ lễ đơn ra thấy toàn là chữ Khất Đan, liền nói: "Ta không biết chữ, xem chẳng hiểu gì." Thất Lý nói: "Chút lễ mọn này gồm năm nghìn lượng hoàng kim, năm vạn lượng bạch ngân, một nghìn súc gấm, một nghìn thạch lúa mạch thượng phẩm, một nghìn con bò, năm nghìn con cừu, ba nghìn con tuấn mã, ngoài ra còn một số quần áo đồ dùng."

Tiêu Phong càng nghe càng kinh ngạc, lễ vật còn nhiều gấp mười khoản tiền chuộc Phả Lạp Tô đòi hôm trước. Lúc đầu chàng thấy hơn chục con ngựa chở phẩm vật đến đã cho là quá nhiều, té ra theo danh sách này thì không biết bao nhiêu ngựa xe mới chất hết.

Thất Lý khom lưng nói: "Chủ nhân còn sợ gia súc đi đường xa mất mát, cho nên cừu bò ngựa đều đem dư một số để bù trừ hao hụt. May nhờ hồng phúc của chủ nhân và Tiêu đại gia, bọn tiểu nhân đi đường không bị gió bão hay dã thú chi hết, tổn thất rất ít." Tiêu Phong thở dài nói: "Gia Luật ca ca thật là chu đáo. Nếu ta không nhận thì phụ hảo tâm của ca ca, còn nhận thì thật chẳng yên tâm chút nào." Thất Lý nói: "Chủ nhân dặn đi dặn lại, nếu Tiêu đại gia khách sáo không nhận, tiểu nhân trở về sẽ bị trọng phạt."

Bỗng nghe tiếng tù và nổi lên inh ỏi, người Nữ Chân trong các lều đều xách đao thương cung tên nhốn nháo chạy ra. Có tiếng hô lớn: "Quân địch đến tấn công, mọi người chuẩn bị nghênh chiến." Tiêu Phong nhìn về phía có hiệu tù và thì thấy cát bụi mù trời, tựa hồ vô số binh mã đang kéo đến.

Thất Lý lớn tiếng gọi to: "Xin các vị chớ có hoang mang, đó là đoàn gia súc của Tiêu đại gia." Y dùng tiếng Nữ Chân kêu gọi liên tiếp, nhưng chẳng ai chịu tin. Hòa Lý Bố, Phả Lạp Tô, A Cốt Đả chia nhau ra chỉ huy người trong bộ lạc dàn thành trận thế ở phía tây doanh trại.

Đây là lần đầu Tiêu Phong thấy người Nữ Chân bố trí trận mạc, nghĩ thầm: "Bộ tộc Nữ Chân ít người, nhưng ai cũng nhanh nhẹn dữ dằn. Bọn kỵ sĩ Khất Đan của Gia Luật ca ca xem chừng không hung hãn bằng, còn quan binh nhà Đại Tống thì lại tệ hơn nữa".

Thất Lý kêu lên: "Để tiểu nhân đi bảo thuộc hạ dừng lại, không tiến lên vội để khỏi hiểu lầm." Y nhảy vọt lên ngựa, chạy về hướng tây. A Cốt Đả vẫy tay một cái, bốn người Nữ Chân liền đuổi theo sau. Năm kỵ sĩ tiến tới chỗ bụi mù, thấy trên đồng cỏ toàn là bò cừu ngựa, hơn một trăm dân Khất Đan cầm roi dài lùa gia súc, tuyệt không có tên quân nào.

Bốn người Nữ Chân bật cười, quay ngựa về báo với Hòa Lý Bố. Chẳng bao lâu, đoàn gia súc đã đến gần, bò kêu ngựa hí ầm ầm át cả tiếng người, không ai nói chuyện với ai được.

Tối hôm đó Tiêu Phong nhờ dân Nữ Chân giết bò mổ cừu để đãi khách phương xa. Hôm sau, chàng lấy một ít vàng bạc gấm vóc thưởng cho bọn người Khất Đan đưa lễ vật đến. Khi chúng từ biệt ra về rồi, chàng đem toàn bộ gia súc cùng vàng bạc giao lại cho A Cốt Đả, bảo y chia cho người trong bộ tộc. Người Nữ Chân vốn dĩ tụ tập sống chung với nhau, không có của riêng, một người được thì cả bộ tộc hưởng chung, thấy Tiêu Phong hào hiệp như thế cũng coi là chuyện bình thường. Thế nhưng tự nhiên được vô số tài vật trên trời rơi xuống như thế, mọi người đều vui vẻ.

Toàn bộ tộc ăn uống vui chơi mấy ngày liền, ai nấy đều cảm kích lòng tốt của Tiêu Phong.

Hết hạ sang thu, bệnh tình A Tử cũng đỡ được vài phần. Nàng đã hơi tỉnh táo, suốt ngày phải nằm trong lều dưỡng thương sinh ra chán ngán, thường bảo Tiêu Phong đưa ra ngoài cưỡi ngựa rong chơi cho khuây khỏa. Hai người cưỡi chung một con ngựa, A Tử ngồi trước dựa vào ngực Tiêu Phong, không tốn một chút hơi sức nào. Tiêu Phong chiều chuộng nàng hết mực, suốt mấy tháng liền ngày nào cũng lên ngựa rong chơi, chỉ trừ những khi gió to tuyết lớn. Về sau, đi mãi những vùng lân cận cũng chán, hai người mang theo cả lều chăn dựng trại ngủ ở bên ngoài, có khi mấy ngày liền không về. Tiêu Phong cũng nhân đó mà đánh hổ, săn gấu, đào nhân sâm. Chỉ vì A Tử bắn lén một mũi độc châm mà gấu cùng hổ ở dãy Trường Bạch hao hụt khá nhiều, không biết bao nhiêu con đã táng mạng dưới tay Tiêu Phong.

Tiêu Phong vì muốn kết hợp đào sâm nên lần đi chơi nào cũng theo hướng đông hoặc hướng bắc. Một hôm A Tử bảo rằng phong cảnh phía đông phía bắc coi đã nhiều, nay muốn qua phía tây du ngoạn, Tiêu Phong nói: "Phía tây chỉ có một thảo nguyên thật rộng, chẳng có núi non sông ngòi gì đáng xem hết." A Tử đáp: "Cánh đồng cỏ bát ngát cũng thích chứ, chẳng khác gì biển cả. Tiểu muội chưa thấy biển thật bao giờ. Tinh Tú Hải tuy gọi là biển, nhưng vẫn còn thấy bờ thấy bến."

Tiêu Phong nghe nàng nhắc đến Tinh Tú Hải cũng thấy chột dạ. Một năm qua sống chung với người Nữ Chân, những chuyện võ lâm đã quên dần, A Tử không cử động được, muốn làm chuyện tàn nhẫn cũng chẳng có cách gì. Còn chàng thì ra sức trị thương cứu mạng, bây giờ mới sợ rằng một khi bệnh tình nàng thuyên giảm thì ác tính lại phát tác, lúc đó biết làm thế nào?

Chàng quay lại nhìn A Tử, thấy khuôn mặt trắng bệch không chút huyết sắc, má hóp lại, đôi mắt to đen sâu hoắm, dung nhan tiều tụy, người gầy tong teo như cái túi da. Tiêu Phong không khỏi chua xót trong lòng, thầm nghĩ: "Nàng vốn dĩ là một cô bé lanh lợi khả ái, bị ta đánh chết đi sống lại đến nỗi thân tàn ma dại thế này. Sao ta lại nỡ nghĩ đến những điều xấu của nàng?" Chàng bèn mỉm cười nói: "Cô đã muốn đi về phía tây thì mình qua đó xem sao. A Tử! Khi nào cô khỏe hẳn, ta sẽ đưa cô đến biên giới nước Cao Ly để xem đại dương thực sự, nước biếc mênh mông, nhìn không thấy bờ, cảnh tượng đó mới thật là hùng vĩ."

A Tử đột nhiên vỗ tay reo lên: "Hay quá! Hay quá! Chẳng cần phải đợi nữa, bây giờ mình đi cũng được." Tiêu Phong kêu lên một tiếng, vừa vui mừng vừa kinh ngạc hỏi: "A Tử: Thì ra hai tay của cô cử động được như thường rồi." A Tử cười đáp: "Hai tay tiểu muội cử động được đã nửa tháng nay, bây giờ linh hoạt lắm rồi." Tiêu Phong cả mừng nói: "Thế thì tuyệt diệu! Con bé cứng đầu này lại giấu giếm ta nữa." Đôi mắt A Tử ánh lên một vẻ tinh quái, mỉm cười đáp: "Muội chỉ mong vĩnh viễn không cử động được, thì tỉ phu mới ngày ngày ngồi cạnh muội. Giả tỉ thương thế muội khỏi rồi, tỉ phu lại đuổi đi mất."

Tiêu Phong nghe thanh âm nàng đầy vẻ chân thành, không khỏi sinh lòng ái ngại, bèn nói: "Ta là người lỗ mãng, hôm đó sơ ý đánh cô tới nông nỗi này. Cô ngày ngày ở bên cạnh ta thì có gì vui thú đâu?" A Tử không trả lời, hồi lâu mới khẽ hỏi: "Tỉ phu ơi! Sao hôm đó tỉ phu phóng chưởng đánh muội mạnh đến thế?" Tiêu Phong không muốn nhắc lại chuyện cũ, lắc đầu đáp: "Chuyện qua rồi, nhắc lại làm gì? A Tử! Ta đánh cô trọng thương, trong lòng rất hối hận. Cô có giận ta không?" A Tử đáp: "Dĩ nhiên là tiểu muội không giận tỉ phu, có gì để giận đâu? Muội chỉ mong được kề cận bên mình tỉ phu, bây giờ thỏa nguyện rồi còn gì? Muội còn hết sức sung sướng là khác."

Tiêu Phong nghe nàng nói như thế, tuy quan niệm của tiểu cô nương này thật là cổ quái, nhưng thấy nàng tử tế hơn, liền cho rằng vì mình quan tâm lo lắng nên ác tính của nàng đã giảm đi nhiều. Chàng quay về chuẩn bị ngựa xe, lều trại, lương khô các thứ.

Sáng hôm sau, hai người đi về hướng tây. Đi được chục dặm, A Tử bỗng hỏi: "Tỉ phu đã đoán ra chưa?" Tiêu Phong hỏi lại: "Đoán cái gì?" A Tử nói: "Hôm đó muội đột nhiên phóng độc châm ám toán, tỉ phu có biết vì lý do gì không?" Tiêu Phong lắc đầu nói: "Ý nghĩ của cô trời không biết, quỉ không hay, làm sao ta đoán nổi?" A Tử thở dài nói: "Tỉ phu đã không đoán ra, thì đừng nghĩ tới nữa. Ô kìa! Tỉ phu xem đàn chim nhạn kia, chúng bay về hướng nam làm gì nhỉ?"

Tiêu Phong ngửng đầu lên, thấy hai đàn chim nhạn xếp thành hình chữ nhân trên trời, đang bay về phương nam, bèn nói: "Trời sắp sang đông, chim nhạn sợ lạnh nên bay về phương nam trốn tuyết." A Tử hỏi: "Thế sao đến mùa xuân, chúng lại bay trở về phương bắc? Mỗi năm bay đi bay về chẳng vất vả lắm sao? Nếu chúng sợ lạnh sao không ở luôn phương nam, quay lại làm gì?"

Tiêu Phong trước nay chuyên tâm học võ, chưa bao giờ suy nghĩ đến tập tính các loài cầm thú, nghe nàng hỏi không sao trả lời được, lắc đầu cười nói: "Ta cũng chẳng hiểu. Chúng không ngại gian khổ, có lẽ là do sinh nơi phương bắc, lưu luyến cố hương đấy thôi."

A Tử gật đầu nói: "Nhất định là thế rồi. Tỉ phu xem kìa, con nhạn sau cùng còn nhỏ xíu mà cũng ráng bay về phương nam. Sau này gia gia, má má, tỉ nương cùng tỉ phu nó bay về phương bắc, dĩ nhiên nó cũng theo về."

Tiêu Phong nghe nàng nói đến tỉ nương cùng tỉ phu, chợt động lòng đưa mắt nhìn thấy cô bé đang mơ màng nhìn theo đàn chim phía chân trời, hiển nhiên câu đó là nàng không cố ý nói ra. Chàng liền nghĩ thầm: "Nàng ngẫu nhiên mà xếp ta cùng với song thân một chỗ, đủ biết trong lòng đã coi mình là người thân thiết, thế thì từ nay ta không nên bỏ rơi nàng nữa. Đến khi nàng khỏi bệnh rồi, ta sẽ đưa nàng về Đại Lý giao lại cho song thân, lúc đó mới trút được trách nhiệm."

Hai người vừa đi đường vừa chuyện trò vui vẻ. Lúc nào A Tử mệt mỏi, Tiêu Phong liền bế nàng xuống ngựa, đặt vào thùng xe cho nàng ngủ. Đến tối, chàng lại tìm rừng cây để dựng lều. Đi như thế mấy ngày, đã đến thảo nguyên.

A Tử đưa mắt nhìn quanh thấy đồng cỏ mênh mông không bờ bến, cao hứng nói: "Giả tỉ mình cứ đi tiếp về hướng tây thì chẳng khác gì lạc vào giữa biển, nhìn bốn bề đông tây nam bắc chỗ nào cũng không bờ không bến." Tiêu Phong biết A Tử muốn đi sâu vào giữa thảo nguyên, liền chiều ý giơ roi lên quất một cái, giục ngựa đi tiếp về hướng tây.

Hai người đi trong đại thảo nguyên mấy ngày liền, quả nhiên nhìn khắp chung quanh đã không còn thấy ranh giới đồng cỏ đâu nữa. Khi đó trời vào thu khí hậu mát mẻ, nghe tiếng cỏ rì rào xào xạc thật là dễ chịu. Trong đồng có rất nhiều thú nhỏ, Tiêu Phong bắt lấy mà ăn, trong lòng lâng lâng chẳng lo nghĩ chi hết.

Lại đi thêm mấy ngày nữa, một buổi trưa chàng nhìn xa xa thấy vô số lều trại, cờ xí rất nhiều, không hiểu là chỗ đóng quân hay là một bộ lạc lớn. Tiêu Phong nói: "Trước mặt có đông người lắm, không biết họ là ai, mình quay về để khỏi bị rắc rối." A Tử nói: "Đừng quay về vội, muội muốn đến đó xem. Hai chân muội vẫn cứng đơ, đâu có làm gì được mà tỉ phu sợ bị rắc rối?" Tiêu Phong cười nói: "Những chuyện rắc rối đâu phải chỉ do mình cô gây ra, có khi người khác gây sự, chúng ta muốn tránh cũng không được." A Tử cười nói: "Thế thì mình cứ đến xem, chẳng sao đâu."

Tiêu Phong biết nàng còn tính trẻ con, thích coi những nơi náo nhiệt, bèn giục ngựa tiến chầm chậm. Trên thảo nguyên địa thế bằng phẳng, những lều trại đó đã nhìn thấy rõ, nhưng không phải là gần. Đi được chừng bảy tám dặm, bỗng nghe tù và thổi u u, sau đó bụi bay mù mịt. Hai đại đội nhân mã xông ra, một đội lên phía bắc, một đội xuống phía nam.

Tiêu Phong hơi e ngại, nói: "Không xong rồi! Đây là kỵ binh Khất Đan." A Tử nói: "Họ là đồng tộc của tỉ phu, thế thì hay quá, tỉ phu còn ngại cái gì?" Tiêu Phong đáp: "Nhưng ta chưa quen biết họ. Mình quay về thôi." Chàng ghìm cương ngựa, quay về theo đường cũ. Mới được mấy bước, bỗng nghe tiếng trống thúc liên hồi, lại thêm mấy đội kỵ binh Khất Đan nữa xông ra. Tiêu Phong nghĩ thầm: "Chung quanh chẳng thấy địch nhân đâu cả, chắc là họ đang tập trận."

Bỗng nghe tiếng reo hò vang dội: "Có hươu kìa! Bắn đi!" Cả ba phía tây nam bắc, chỗ nào cũng nghe tiếng người giục bắn hươu, Tiêu Phong nói: "Té ra họ bao vây để săn thú, thanh thế cuộc đi săn này không phải nhỏ." Chàng bèn ôm A Tử đặt lên yên ngựa, ghìm cương đứng ở phía đông nhìn xem.

Kỵ binh Khất Đan trong mặc thiết giáp, ngoài khoác cẩm bào. Đội thì cẩm bào màu đỏ, đội màu xanh, đội màu vàng, đội màu tím, cờ hiệu cũng cùng màu với áo. Binh cường mà tráng, lui tới nhịp nhàng trông rất oai hùng, Tiêu Phong cùng A Tử trầm trồ khen ngợi. Quân kỵ Khất Đan tung hoành tiến thoái theo đúng quân lệnh, giơ trường mâu ra để xua hươu, trông thấy Tiêu Phong và A Tử cũng chỉ liếc một cái chứ chẳng hỏi han gì. Bốn đội kỵ binh chia ra bao vây bốn mặt, dồn mấy chục con hươu vào giữa. Thỉnh thoảng có một con lọt qua chỗ trống chạy ra ngoài, thì lại có một toán quân nhỏ ra cản, vây đuổi trở lại vào trong.

Comments

0 comments

Trước Tiếp
 
34,431 ❤︎ Bài viết: 2241 Tìm chủ đề
Hồi 27: Chốn thiên quân bắt tướng, khất cái hóa đại vương

Tiêu Phong đang đứng xem, bỗng nghe có tiếng gọi: "Có phải Tiêu đại gia đấy chăng?" Tiêu Phong tự hỏi: "Ai nhận ra ta nhỉ?". Chàng quay lại nhìn, thấy trong đội áo xanh có một người phóng ngựa chạy ra, chính là gã đội trưởng Thất Lý, mấy tháng trước đã được Gia Luật Cơ sai đem lễ vật đến tặng mình.

Y phóng ngựa đến cách Tiêu Phong chục trường đã nhảy xuống chạy bộ, quì gối phải xuống nói: "Chủ nhân của tiểu nhân đang ở phía trước, cách đây không xa. Chủ nhân vẫn nhắc đến Tiêu đại gia luôn, dường như nhớ mong lắm. Hôm nay không biết ngọn gió nào thổi Tiêu đại gia đến đây? Xin mời đại gia đến gặp chủ nhân của tiểu nhân." Tiêu Phong nghe nói Gia Luật Cơ ở gần đây thì vui mừng khôn xiết nói: "Ta đi chơi không có chủ định, không ngờ đến gần chỗ nghĩa huynh, thật là tuyệt diệu. Được rồi, nhờ ngươi dẫn ta đến gặp ca ca."

Thất Lý chúm môi huýt một tiếng, hai tên kỵ binh cưỡi ngựa chạy đến. Y dặn dò: "Các ngươi lập tức về bẩm báo là Tiêu đại gia ở núi Trường Bạch đến chơi." Hai tên kỵ binh nghiêng mình nhận lệnh, rồi phóng ngựa đi ngay. Quân sĩ Khất Đan tiếp tục cuộc săn hươu, còn Thất Lý suất lãnh đội kỵ binh áo xanh, hộ vệ Tiêu Phong và A Tử đi về hướng tây.

Lúc Tiêu Phong được Gia Luật Cơ gửi tặng vàng bạc bò cừu, chàng đã phỏng chừng y có lẽ là một bậc phú quí người Khất Đan, bây giờ lại thấy thanh thế như vậy, đoán chắc vị nghĩa huynh này phải là tướng quân hay đại thần chi đó.

Trên thảo nguyên đầy kỵ binh chạy lui chạy tới như mắc cửi, tên nào cũng y giáp mới tinh. Thất Lý nói: "Hôm nay Tiêu đại gia đến chơi thật là đúng lúc, sáng mai ở đây có lễ hội thật là tưng bừng náo nhiệt." Tiêu Phong đưa mắt nhìn A Tử, thấy nàng tươi tỉnh hẳn lên, liền hỏi: "Cái gì mà tưng bừng náo nhiệt?" Thất Lý đáp: "Ngày mai có cuộc tỉ võ. Hai đội thị vệ Vĩnh Xương, Thái Hòa đang khiếm khuyết chức thống lĩnh. Người Khất Đan chúng tôi đều ra sức thi triển võ công để xem ai may mắn đoạt được chức vụ này."

Tiêu Phong nghe nói đến tỉ võ, tự nhiên thấy hào khí bừng bừng, nổi hứng cười nói: "Thế thì tuyệt diệu! Ta lại được xem võ công người Khất Đan như thế nào." A Tử cũng cười nói: "Đội trưởng ơi, chắc ông cũng ra biểu diễn thân thủ, ta chúc ông giành được một chức thống lĩnh." Thất Lý lè lưỡi nói: "Tiểu nhân đâu có gan dạ như thế?" A Tử lại cười: "Tỉ võ giành chức thống lĩnh thì đã là gì? Ông chỉ xin tỉ phu ta dạy cho mấy đường quyền là đoạt được ngay." Thất Lý mừng rỡ nói: "Giả tỉ tiểu nhân được Tiêu đại gia chỉ giáo là tốt phước lắm rồi. Còn chức thống lĩnh thì tiểu nhân chẳng dám mơ tới."

Đoàn người vừa đi vừa nói chuyện, độ mười dặm đã thấy một đoàn kỵ binh gấp rút chạy tới đón. Thất Lý nói: "Đây là đội Phi Hùng trong Bì thất đại trướng." Đám kỵ binh này mặc áo da gấu đen, đội mũ da gấu trắng, khí thế thật là uy võ. Chúng chạy đến gần, cùng lên tiếng reo hò, đồng thời xuống ngựa chia ra đứng hai bên hô to: "Cung nghinh Tiêu đại gia." Tiêu Phong đáp: "Không dám! Không dám!" Chàng giơ tay đáp lễ, giục ngựa chạy lên trước, đội Phi Hùng phóng ngựa theo sau.

Đi được hơn chục dặm, lại có một đội kỵ binh Phi Hổ mặc áo da hổ, đội mũ da hổ chạy đến nghênh tiếp. Tiêu Phong nghĩ thầm: "Không biết Gia Luật ca ca làm tới chức quan gì mà nghi vệ rầm rộ đến thế này." Nhưng lần gặp trước Gia Luật Cơ nhất định không nói ra thân thế mình, Thất Lý cũng không nói, nên Tiêu Phong không hỏi nữa.

Đến chiều, tới một doanh trại thật lớn thì đội Phi Báo mặc áo đội mũ da báo chạy ra đón Tiêu Phong và A Tử vào căn lều lớn ở chính giữa. Tiêu Phong tưởng vào trong lều này là gặp Gia Luật Cơ, ngờ đâu trong trướng chỉ có đồ dùng sang trọng, trên bàn đặt sẵn vô số thức ăn, hoa quả, mà chủ nhân vẫn chẳng thấy đâu. Đội trưởng đội Phi Báo nói: "Chủ nhân mời Tiêu đại gia nghỉ lại đây một đêm, sáng mai sẽ tương kiến." Tiêu Phong không hỏi thêm, ngồi xuống bên bàn bưng rượu lên uống. Bốn tên lính hầu đứng rót rượu, cắt thịt, hầu hạ rất chu đáo.

Sáng hôm sau thức dậy lại tiếp tục đi về hướng tây, đi suốt ngày phải đến hai trăm dặm, đến đêm lại ngủ ở một doanh trại lớn. Đến trưa ngày thứ ba, Thất Lý mới nói: "Đi hết sườn núi này là tới nơi." Tiêu Phong ngẩng đầu nhìn hình thế trái núi thật là hùng vĩ, một con sông uốn lượn dưới chân núi cuồn cuộn chảy về hướng nam. Cả đoàn người vòng qua sườn núi, đột nhiên trước mắt cờ xí rợp trời, bốn mặt đầy doanh trướng. Phải có đến hàng vạn kỵ binh cùng bộ binh đứng vây quanh một khoảng đất trống. Các đội kỵ mã Phi Hùng, Phi Hổ, Phi Báo hộ vệ Tiêu Phong liền lấy tù và ra thổi lên inh ỏi.

Bỗng nghe tiếng trống đánh tùng tùng, thêm tiếng pháo hiệu nổ ầm ầm, quân lính trên bãi đất trống rẽ ra hai bên. Một con ngựa vàng cao lớn từ trong chạy ra, trên lưng có một đại hán râu ria xồm xoàm, chính là Gia Luật Cơ. Y giục ngựa thẳng đến chỗ Tiêu Phong, hô lớn: "Tiêu huynh đệ! Có nhớ ca ca chăng?" Tiêu Phong cũng phóng ngựa chạy lên, hai người gặp nhau cùng nhảy xuống, tay nắm tay mừng rỡ không sao kể xiết. Tướng sĩ bốn mặt chung quanh đều reo hò vang dội: "Vạn tuế! Vạn vạn tuế!".

Tiêu Phong giật mình tự hỏi: "Tại sao binh sĩ lại hô vạn tuế?". Chàng đưa mắt nhìn quanh, thấy hết thảy mọi người đều khom lưng, chống đao xuống đất, chỉ có Gia Luật Cơ đứng chính giữa, nhìn ngang nhìn ngửa ra chiều đắc ý. Tiêu Phong tỉnh ngộ, ấp úng hỏi: "Ca ca? Phải chăng ca ca là.. là.." Gia Luật Cơ cười ha hả nói: "Giả tỉ hiền đệ biết ta là đương kim hoàng đế nước Đại Liêu, e rằng không chịu cùng ta kết nghĩa đệ huynh đâu. Tiêu hiền đệ, tên thực của ta là Gia Luật Hồng Cơ. Đại ân cứu mạng của hiền đệ, ta vĩnh viễn không quên được."

Tiêu Phong vốn là người hiên ngang khí phách, nhưng trong đời chưa được bái kiến hoàng đế bao giờ. Hôm nay chàng thấy nghi vệ long trọng đến thế, không khỏi luống cuống nói: "Tiểu nhân không biết bệ hạ nên mạo phạm đã nhiều, tội đáng muôn thác", nói xong liền quì xuống. Tiêu Phong là thần dân Khất Đan, gặp hoàng đế nước mình phải quì xuống là chuyện đương nhiên.

Gia Luật Hồng Cơ vội đỡ ông dậy, cười nói: "Không biết thì không có tội. Hiền đệ ơi, ngươi với ta đã kết nghĩa kim lan, hôm nay chỉ nói chuyện nghĩa khí, ngày mai dùng lễ chúa tôi cũng chưa muộn." Ông vẫy tay trái một cái, lập tức chiêng trống nổi lên để hoan nghênh tân khách. Gia Luật Hồng Cơ dắt tay Tiêu Phong đi vào đại trướng.

Doanh trướng của hoàng đế Khất Đan lợp đến mấy lớp da bò, trang trí đủ loại màu sắc cực kỳ rực rỡ, gọi là Bì thất đại trướng. Gia Luật Hồng Cơ ngồi ngay chính giữa, bảo Tiêu Phong ngồi bên cạnh, chẳng mấy chốc văn võ bá quan lục tục tiến vào tham kiến, nào là Bắc viện đại vương, Bắc viện khu mật sứ, Nam viện khu mật sứ, Bì thất đại tướng quân, Tiểu tướng quân, Mã quan chỉ huy sứ, Bộ quân chỉ huy sứ.. Tiêu Phong được nghe giới thiệu, nhưng nhiều quá nhất thời không nhớ hết được.

Đêm hôm đó mở đại tiệc ăn mừng, người Khất Đan tôn trọng nữ giới nên A Tử cũng được mời vào dự yến tại Bì thất đại trướng. Quang cảnh đúng là rượu đổ thành ao, thịt chất thành núi, A Tử cực kỳ hứng thú, mặt tươi như hoa.

Giữa chừng tiệc rượu, hơn mười tên võ sĩ Khất Đan cởi trần ra trổ tài đấu vật trước mặt hoàng thượng để làm trò. Tiêu Phong thấy bọn chúng thân thể rắn chắc, bắp thịt cuồn cuộn, chân tay mau lẹ, mỗi động tác đều chứng tỏ tập luyện công phu. Võ sĩ Khất Đan nói về biến hóa xảo diệu thì không bằng võ sĩ Trung Nguyên, nhưng những đòn thế dứt khoát ngay thẳng xem chừng rất hiệu quả trên chiến trường loạn đấu.

Các quan văn võ nước Liêu đều đến mời Tiêu Phong uống rượu. Chàng không hề từ chối, có rượu đưa đến là cạn, phải đến ngoài ba trăm chén mà sắc mặt vân như thường, mọi người đều kinh hãi.

Xưa nay Gia Luật Hồng Cơ vẫn tự phụ là người dũng lực, mà lần này cả nước ai cũng biết y bị Tiêu Phong bắt. Y đã định hôm sau nơi đại hội tỉ võ sẽ gọi Tiêu Phong trổ tài võ nghệ siêu quần để giảm bớt cái nỗi thẹn bị thất bại. Ngờ đâu Tiêu Phong chưa cần biểu diễn võ công, chỉ cần tửu lượng đã áp đảo quần hùng, ai nấy đều kính phục. Gia Luật Hồng Cơ cả mừng nói: "Tiêu hiền đệ! Ngươi là đệ nhất anh hùng hảo hán của nước Liêu ta."

A Tử đột nhiên xen vào: "Không phải! Y là đệ nhị anh hùng!" Gia Luật Hồng Cơ tươi cười hỏi lại: "Tiểu cô nương! Y chỉ là đệ nhị thôi sao? Thế thì đệ nhất anh hùng là ai?" A Tử đáp: "Đệ nhất anh hùng hảo hán dĩ nhiên phải là bệ hạ rồi. Tỉ phu của tiểu nữ tuy bản lãnh nghiêng trời nhưng vẫn phải tuân theo bệ hạ không dám trái lệnh. Vậy bệ hạ là đệ nhất anh hùng chứ còn ai nữa?" Nàng là môn đệ phái Tinh Tú, nghệ thuật nịnh bợ đã thuộc hàng siêu đẳng, bây giờ tâng bốc người Khất Đan thô lỗ chẳng cần phải dụng công.

Gia Luật Hồng Cơ cười ha hả nói: "Cô nương nói hay lắm! Tiêu huynh đệ! Ta muốn phong cho ngươi một chức quan thật lớn, để ta nghĩ xem phong tước gì cho xứng." Khi đó y đã uống gần say nên gõ gõ ngón tay lên trán ra chiều suy nghĩ. Tiêu Phong vội nói: "Không đâu! Tiểu nhân tính tình thô lỗ, khó lòng hưởng thụ phú quí. Xưa nay tiểu nhân quen lang thang bốn phương, tới lui vô định, thực tâm không thích làm quan." Gia Luật Hồng Cơ cười nói: "Được rồi! Để ta phong cho hiền đệ một chức quan chỉ cần uống rượu mà không cần làm.." Ông chưa dứt lời, bỗng từ xa vọng lại một hồi tù và inh ỏi, nghe thật khẩn cấp.

Quần thần nước Liêu đang ngồi bệt dưới đất uống rượu ăn thịt, vừa nghe tiếng tù và đều nhỏm dậy, mặt lộ vẻ kinh hoàng. Tiếng tù và truyền đến thật nhanh, lúc mới nghe còn cách hơn chục dặm, hồi thứ hai đã gần thêm vài dặm, hồi thứ ba chỉ còn cách mấy dặm nữa. Tiêu Phong nghĩ thầm: "Trên đời này không có con ngựa nào chạy nhanh đến thế, dẫu nhân vật khinh công tuyệt đỉnh cũng không lẹ như vậy được. Chắc là có những trạm truyền tin bố trí sẵn từ trước để cấp báo quân tình, trạm nào nghe tiếng tù và lập tức truyền ngay đến trạm kế tiếp." Trong nháy mắt, tiếng tù và truyền đến ngoài Bì thất đại trướng rồi ngừng lại. Mấy trăm người ngồi trong trướng đang ăn uống reo hò, ồn ào như chợ vỡ, đột nhiên lặng phắt như tờ.

Gia Luật Hồng Cơ thần sắc vẫn trấn tĩnh, từ từ nâng chén vàng lên uống cạn rồi mới nói: "Thượng Kinh có kẻ phản loạn, chúng ta phải về thôi. Nhổ trại!"

Hành quân đại tướng quân lập tức ra khỏi trướng truyền lệnh, hai tiếng "Nhổ trại" truyền ra một thành mười, mười thành trăm, trăm thành nghìn, thanh âm càng lúc càng vang động nhưng vẫn nghiêm chỉnh thứ tự, tuyệt không có vẻ nhốn nháo. Tiêu Phong nghĩ thầm: "Nước Đại Liêu lập quốc đã hơn hai trăm năm, oai phong lẫy lừng thiên hạ. Lúc này có nội loạn mà không bối rối, đủ biết Liêu chúa thống suất quân đội rất có phương pháp."

Tiếng vó ngựa vang lên dồn dập, đội quân xích hầu ra trước, tiếp theo là hai đội tả hữu tiên phong, rồi tiền quân, tả quân, hữu quân từng đội lên đường hồi kinh về hướng nam.

Gia Luật Hồng Cơ nắm tay Tiêu Phong nói: "Chúng ta ra xem sao." Hai người ra khỏi trướng, thấy mỗi lá quân kỳ đều có gắn một chiếc đèn lồng đủ sắc đỏ, vàng, xanh, trắng, lấp lánh trong đêm tối, hơn chục vạn quân xuôi nam mà chỉ nghe tiếng vó ngựa lộp cộp, không một tiếng người. Tiêu Phong thán phục nghĩ thầm: "Trị quân nghiêm minh thế này thì trong thiên hạ còn ai địch nổi? Hôm đó hoàng thượng cậy tài đi săn một mình nên ta mới bắt được. Giả tỉ đại quân kéo đến thì người Nữ Chân tuy kiêu dũng nhưng cũng không chống nổi với số đông."

Hai người vừa ra khỏi trường, bọn vệ sĩ lập tức nhổ trại, chỉ một chốc là gọn gàng sạch sẽ. Hành lý tùy theo nặng nhẹ mà chất lên xe ngựa, xe lạc đà. Trung quân nguyên soái ban lệnh, mọi người lập tức khởi hành. Bá quan Bắc viện đại vương, Vu việt, Thái sư, Thái phó vây quanh Gia Luật Hồng Cơ, ai nấy thần sắc nghiêm trọng nhưng cũng không nói gì. Tin tức về vụ nổi loạn trong kinh tuy đã đưa tới nhưng tình hình thế nào, diễn tiến ra sao hiện giờ vẫn chưa rõ rệt.

Đại đội nhân mã hành tiến về nam, tối ngày thứ ba vừa hạ trại thì một tên thám tử phóng ngựa đến bẩm với Gia Luật Hồng Cơ: "Nam viện đại vương nổi loạn, chiếm hoàng cung, bắt giữ hết hoàng thái hậu, hoàng hậu, vương tử, công chúa cùng gia quyến của bá quan." Gia Luật Hồng Cơ nghe thế lập tức biến sắc.

Quân quốc trọng sự nước Liêu đều do hai viện Nam Bắc chia ra phụ trách. Lần này Bắc viện đại vương hộ giá đi săn để Nam viện đại vương ở lại trấn thủ kinh thành. Nam Viện đại vương Gia Luật Niết Lỗ Cổ được phong tước Sở vương, bản thân không đáng gì, nhưng phụ thân y là Hoàng thái thúc Gia Luật Trọng Nguyên, tước phong Thiên hạ binh mã đại nguyên soái, mới thực là đáng ngại.

Tổ phụ của Gia Luật Hồng Cơ là Gia Luật Long Tự, Liêu sử gọi là Thánh Tông. Trưởng nam của Thánh Tông là Tông Chân, thứ nam là Trọng Nguyên. Tông Chân tính tình hiền lành rộng rãi, còn Trọng Nguyên dũng mãnh lại có tài thao lược. Khi Thánh Tông băng hà có di mệnh truyền ngôi cho trưởng nam Tông Chân. Thế nhưng hoàng hậu lại thiên vị thứ nam nên lập mưu đưa Trọng Nguyễn lên ngôi. Từ xưa tới nay ở nước Liêu, quyền thế hoàng thái hậu bao giờ cũng rất lớn, thành thử ngôi vua của Tông Chân xem ra không vững, ngay cả tính mạng cũng khó bảo toàn. Thế nhưng Trọng Nguyên đem dự định của mẫu hậu báo cho huynh trưởng, dĩ nhiên âm mưu không thành, vì chuyện đó mà Tông Chân cực kỳ cảm kích, lập Trọng Nguyên lên làm Hoàng thái đệ, có nghĩa là sau này sẽ truyền ngôi cho ông ta.

Liêu sử gọi Gia Luật Tông Chân là Hưng Tông, khi ông ta qua đời không hiểu sao lại không truyền ngôi vua cho Hoàng thái đệ Trọng Nguyên, mà lại truyền cho con ruột là Hồng Cơ.

Sau khi Gia Luật Hồng Cơ tiếp vị, trong bụng cũng thấy bất an, nên phong cho Trọng Nguyên tước Hoàng thái thúc, để chứng tỏ rằng thúc phụ mình sẽ thừa kế ngôi Liêu chúa, lại phong thêm tước Thiên hạ binh mã đại nguyên soái, lúc lâm triều miễn lạy miễn xưng tên, ban cho kim khoán thệ thư, mũ bốn chỏm, áo bào hai màu. Ông ta là người được tôn kính nhất trong triều, con là Niết Lỗ Cổ được phong Sở vương, tước Nam viện đại vương chấp chưởng mọi việc ở Nam viện.

Năm xưa rõ ràng Gia Luật Trọng Nguyên có thể đoạt ngôi vua nhưng nhường cho huynh trưởng, đủ chứng tỏ ông ta là người trong nghĩa khí, lại biết khiêm cung. Mỗi khi Gia Luật Hồng Cơ ra ngoài đi săn, bao nhiêu đại sự ở kinh thành đều giao cho Hoàng thái thúc, không nghi ngại chút nào. Bây giờ Gia Luật Hồng Cơ nghe kẻ mưu phản là Nam viện đại vương Gia Luật Niết Lỗ Cổ, vừa lo lắng vừa kinh hoàng. Ông vốn biết Niết Lỗ Cổ hung ác bạo ngược, xử sự tàn nhẫn, mà nếu y mưu phản thì phụ thân y chắc không đứng ngoài mà nhìn.

Bắc viện đại vương tâu lên: "Bệ hạ đừng vội lo, Hoàng thái thúc ắt có lập trường minh bạch, không dung tha cho tên nghịch tử phạm thượng tạo phản, không chừng lúc này đã đem quân dẹp loạn rồi." Gia Luật Hồng Cơ đáp: "Ta cũng chỉ mong được thế."

Bữa cơm tối vừa xong, tên thám tử thứ hai lại về bẩm báo: "Nam viện đại vương lập Hoàng thái thúc lên làm vua, đã ra chiếu chỉ cáo tri thiên hạ." Y không dám nói thêm, hai tay cầm chiếu chỉ của tân hoàng đế dâng lên. Hồng Cơ cầm lấy xem qua, đại khái tố cáo đích danh Gia Luật Hồng Cơ là soán đoạt ngôi vua, nói là tiên đế đã lập Gia Luật Trọng Nguyên làm Hoàng thái đệ hai mươi bốn năm trời ai ai cũng biết. Khi tiên đế băng hà, Gia Luật Hồng Cơ sửa di chiếu, cướp ngôi vua, nhân dân đều phẫn nộ. Hiện Hoàng thái đệ đã lên ngôi chính thống, đốc suất binh mã thiên hạ đi dẹp tên soán đoạt..

Gia Luật Hồng Cơ phẫn nộ, vứt luôn chiếu thư vào đống lửa, nhưng trong bụng lo lắng nghĩ thầm: "Đạo ngụy chiếu này lời lẽ đanh thép rõ ràng, e rằng có thể làm lòng dạ quân dân Liêu quốc phải hoang mang. Hoàng thái thúc ở địa vị Thiên hạ binh mã đại nguyên soái, trong tay cầm binh phù có thể điều động tám mươi vạn binh mã, chưa kể số quân dưới tay con của lão là Nam viện đại vương. Ở đây ta có chưa đầy mười vạn quân tùy giá, quả bất địch chúng, biết làm thế nào?" Ông trằn trọc cả đêm, không sao ngủ được.

Khi Tiêu Phong nghe Liêu đế định phong quan cho mình, đã toan nhân lúc đêm khuya dắt A Tử không từ biệt mà bỏ đi. Nhưng lúc này chàng thấy nghĩa huynh gặp bước nguy nan bèn không nỡ bỏ rơi, phải ra sức giúp y một phen cho khỏi phụ tấm lòng anh em kết nghĩa. Đêm hôm đó chàng dạo chơi ngoài doanh trại, nghe binh tướng thì thầm to nhỏ, đều lo lắng cho cha mẹ vợ con đang ở Thượng Kinh bị Hoàng thái thúc bắt hết, e rằng tính mạng khó giữ. Có kẻ nghĩ đến gia đình, đột nhiên khóc rống lên. Tiếng khóc lây lan rất nhanh, quan binh trong doanh đồng cảnh ngộ cũng không ít kẻ sụt sùi. Các tướng thống lãnh hò hét ngăn trở, lại chém đầu mấy tên khóc to nhất để làm gương, nhưng cũng không sao dứt hết được.

Gia Luật Hồng Cơ nghe tiếng khóc vang trời, biết rằng lòng quân tan vỡ, lại càng lo lắng. Sáng hôm sau lại có thám tử đến báo Hoàng thái thúc và Sở vương dẫn năm mươi vạn quân tiến lên phía bắc mưu toan phạm giá. Hồng Cơ nghĩ bụng: "Việc đến nước này chỉ có tiến chứ không còn đường lui, có bại thì cũng phải một phen tử chiến." Ông lập tức triệu tập bá quan để thương nghị. Quần thần đều trung thành với Gia Luật Hồng Cơ, nguyện chết vì chủ, nhưng chỉ lo lòng quân nghiêng ngả.

Hồng Cơ ban lệnh: "Quan binh phải ra sức bình định phản loạn, khi dẹp yên được rồi, ngoài việc thăng quan còn được trọng thưởng." Ông mặc giáp vàng, thân hành đốc suất ba quân nghênh chiến với quân của Hoàng thái thúc. Tướng sĩ thấy hoàng thượng tự mình cự địch lập tức dũng khí nổi lên, hô vạn tuế ba lần, quyết lấy cái chết báo đền ơn chúa. Mười vạn binh mã chia thành tiền quân, tả quân, hữu quân, trung quân, binh giáp sáng choang tiến về phía nam, thêm những tiểu đội thám thính đi rảo hai bên.

Tiêu Phong cũng đeo cung cầm mâu đi sau Gia Luật Hồng Cơ để hộ giá. Thất Lý dẫn một đội Phi Hùng bảo hộ cho A Tử ở hậu quân, Tiêu Phong thấy lông mày Gia Luật Hồng Cơ nhăn tít lại, biết ông chưa quyết định được kế hoạch gì trong trận chiến này.

Đến giữa trưa thì phía trước có tiếng tù và nổi lên. Tướng chỉ huy trung quân ra lệnh: "Xuống ngựa!" Kỵ binh đều nhảy xuống, tay cầm cương dẫn ngựa đi, chỉ còn Gia Luật Hồng Cơ và các đại thần là ngồi trên yên.

Tiêu Phong không hiểu sao kỵ binh phải xuống ngựa, còn đang thắc mắc thì Gia Luật Hồng Cơ cười hỏi: "Hiền đệ ở Trung Nguyên đã lâu, chưa hiểu phương pháp hành quân của người Khất Đan phải không?"

Tiêu Phong đáp: "Thần đang mong bệ hạ chỉ điểm" Hồng Cơ cười đáp: "Ha ha! Hai chữ bệ hạ không biết có còn được tới hoàng hôn hôm nay nữa không? Ta với ngươi dùng nghĩa huynh đệ mà xưng hô, việc gì phải gọi là bệ hạ?" Tiêu Phong nghe tiếng cười của ông đượm vẻ chua cay, bèn nói: "Hai bên chưa giao tranh, bệ hạ hà tất phải quá lo lắng." Hồng Cơ nói: "Giao phong trên bình nguyên, quan trọng nhất là mã lực, sau đó mới đến nhân lực." Tiêu Phong tỉnh ngộ bèn nói: "À, phải rồi! Kỵ binh phải xuống ngựa là để dưỡng sức cho ngựa đỡ mệt." Hồng Cơ gật đầu nói: "Dưỡng sức cho ngựa để khi lâm trận không sức nào ngăn trở được. Người Khất Đan đánh đông dẹp bắc bách chiến bách thắng phần lớn là nhờ ở bí quyết này."

Ông nói tới đây, phía trước đã thấy bụi bay mù mịt, bốc cao đến mười trượng, chẳng khác gì một đám mây cuồn cuộn kéo tới. Hồng Cơ chỉ roi về phía đó nói: "Hoàng thái thúc và Sở vương đều chinh chiến lâu năm, là những tướng tài của nước Liêu ta. Sao họ lại xua binh đến ầm ầm, không dưỡng sức cho ngựa nhỉ? Hừ, thì ra bọn chúng khinh mạn, cho rằng thể nào cũng thắng nên không e dè chi nữa." Ông đang trù trừ đã nghe tả quân và hữu quân cùng nổi hiệu tù và. Tiêu Phong đưa mắt nhìn phía đông thấy hai cánh quân, phía tây cũng có hai cánh quân, địch chia năm ngả đánh vào.

Gia Luật Hồng Cơ biến sắc mặt, ra lệnh cho tướng chỉ huy trung quân: "Kết trận lập trại mau!" Y đáp lời: "Tuân lệnh!" rồi giục ngựa chạy ra truyền lệnh, lập tức tiền quân, tả quân, hữu quân cùng quay lại trung tâm, đồng thời một toán quân dùng búa đóng cột của Bì thất đại trướng xuống, căng da lên, bốn bề dựng chông, chỉ chốc. Lát đã ghép thành một bức tường vĩ đại giữa thảo nguyên. Bốn mặt tiền hậu tả hữu đều có kỵ binh trấn thủ, mấy vạn cung thủ ẩn sau tường thành, dương cung sẵn sàng, chỉ đợi lệnh buông tên.

Tiêu Phong nhíu mày nghĩ thầm: "Trận đại chiến này dù cho ai thắng ai bại thì người cùng dòng giống Khất Đan cũng thây phơi đầy nội. Ca ca đắc thắng là tốt nhất, chẳng may thua trận thì ta cũng cố cứu cho được nghĩa huynh và A Tử đến nơi an toàn, giữ được ngôi hoàng đế hay không cũng chẳng sao.".

Doanh trại của Liêu đế dựng lên chưa được bao lâu thì đội tiên phong của loạn quân đã tới, nhưng không tiến lên khiêu chiến mà dừng lại ngoài một tầm tên. Nhưng tiếng trống tiếng kèn thì liên miên bất tuyệt, loạn quân tiến đến vây quanh, bốn phương tám hướng chỗ nào cũng kết thành trận thế. Tiêu Phong đưa mắt nhìn ra xa, thấy chỗ nào cũng có quân địch không biết đâu là cùng tận, nghĩ thầm: "Lực lượng nghĩa huynh kém xa, xem chừng chắc chắn thất bại. Bây giờ còn sáng không tiện phá vây đào tẩu, cố giữ cho đến tối, ta sẽ tìm cách cứu y". Thế nhưng bóng của những cây gỗ đóng trại hãy còn ngắn ngủn, nắng chói chang, trời chỉ mới xế trưa một chút.

Đột nhiên trên trời có tiếng quang quạc, một đàn nhạn bay qua. Gia Luật Hồng Cơ ngửng đầu lên ngơ ngẩn nhìn, gượng cười nói: "Giả tỉ ta chắp cánh biến thành con nhạn cũng chưa chắc bay ra khỏi nơi đây."

Bắc viện đại vương và Trung quân tướng quân nhìn nhau thất sắc, biết là hoàng đế thấy binh thế loạn quân mà khiếp sợ.

Quân địch nổi trống vang rền, mấy trăm chiếc trống da cùng gõ một lượt. Tướng chỉ huy trung quân hét lớn: "Đánh trống!" Mấy trăm chiếc trống trong ngự doanh cũng khua lên ầm ầm. Bên kia tiếng trống bỗng ngưng bặt, mấy vạn kỵ binh gầm thét vang trời dậy đất, cầm trường mâu xông thẳng qua.

Khi quân tiền phong của địch sắp tới nơi, lệnh kỳ của Trung quân tướng quân phất xuống, tiếng trống của ngự doanh im bặt, mấy vạn mũi tên đồng thời bắn ra, quân tiền phong bên địch tới tấp ngã ngựa. Nhưng kẻ trước ngã, người sau lại xông lên, thi thể quân mã đi trước biến thành mộc chắn cho những đội sau. Quân cung tiễn của địch có thuẫn bài hộ thân đã xông được tới nơi, bắn tên vào ngự doanh.

Lúc đầu Gia Luật Hồng Cơ quả có khiếp sợ, nhưng khi vào trận lập tức dũng khí nổi lên, đứng trên cao tay cầm trường đao, ra hiệu lệnh chỉ huy. Tướng sĩ ngự doanh thấy hoàng thượng đích thân đốc chiến đều hô lớn: "Vạn tuế! Vạn vạn tuế!" Bên địch nghe tiếng hồ vạn tuế, ngẩng đầu lên thấy Gia Luật Hồng Cơ mặc áo vàng giáp vàng đứng trên đài cao trong ngự doanh, nhất thời sự uy phong của ông nên chùn lại không dám tiến. Hồng Cơ thấy có cơ hội liền quát lớn: "Kỵ binh tả quân xông ra!"

Tả quân do Bắc viện khu mật sứ chỉ huy, nghe thấy hoàng thượng ra lệnh, ba vạn kỵ binh liền xông ra bao vây quân địch. Loạn quân còn đang do dự, quân ngự doanh đã tới nơi, trận thế bên địch lập tức đại loạn. Trống của ngự doanh khua liên hồi như sấm, quân địch chỉ tiếp chiến được một lát phải rút về, quân ngự doanh liền xông lên truy sát, khí thế cực kỳ mãnh liệt.

Tiêu Phong cả mừng la lên: "Đại ca! Trận này phe ta đại thắng rồi." Gia Luật Hồng Cơ xuống đài, nhảy lên ngựa đích thân đem quân tiếp viện. Đột nhiên có tiếng tù và nổi lên, quân chủ lực của phản loạn xông tới, tiền phong quân liền quay lại đánh. Trong chớp mắt vũ tiễn trường mâu phòng vèo vèo, tiếng hò hét vang động cả bầu trời, máu me vương vãi. Tiêu Phong kinh hãi nghĩ thầm: "Cảnh ác đấu như thế này bình sinh ta chưa được thấy. Một người có bản lĩnh thiên hạ vô địch, vào trong chốn thiên quân vạn mã thì cũng chẳng làm gì được, tự bảo vệ mình là may. Cuộc giao chiến của đại quân không thể so sánh với cuộc tỉ đấu trong võ lâm được."

Bỗng nghe hiệu thanh la từ phía sau phản quân ra lệnh thu binh. Kỵ binh của đối phương rút lui, tên liền bắn ra như mưa để chặn đường. Trung quân tướng quân và Bắc viện khu mật sứ xung phong ba lần nhưng không đột phá được trận thế của địch, lại còn bị bắn chết mấy ngàn binh sĩ. Gia Luật Hồng Cơ ra lệnh: "Sĩ tốt tử thương nhiều quá, hãy tạm lui quân!" Lập tức ngự doanh cũng nổi hiệu thanh la thu binh.

Phản quân thấy thế bèn phái hai đội kỵ binh xông lên tập kích, nhưng ngự quân đã phòng bị trước, giả vờ thua chạy, rồi hai cánh quân đánh ập vào vây được ba nghìn phản quân vào giữa, có mấy trăm tên xuống ngựa đầu hàng. Hồng Cơ vẫy tay một cái, ngự doanh quân liền đâm trường mâu ra, giết sạch mấy trăm hàng quân. Trận ác đấu chưa tới một giờ mà cảnh chém giết đã cực kỳ thảm khốc.

Chủ lực hai bên đều lui lại vài chục trượng, khoảng đất trống ở giữa đầy rẫy xác người, những kẻ bị thương rên rỉ kêu la thật là thê thảm. Mỗi bên lại có một đội quân áo đen khoảng ba trăm người xông ra, quân ngự doanh đầu đội mũ vàng còn bên địch đầu đội mũ trắng. Tiêu Phong tưởng bọn này ra tìm người bị thương để cứu chữa, không ngờ hai đội áo đen rút đao ra giết sạch thương binh của đối phương. Khi những người bị thương chết hết rồi, sáu trăm người đó hú lên một tiếng, quay sang đấu với nhau.

Sáu trăm quân áo đen đều có võ công không tệ. Hai bên ra sức ác đấu, đao quang lấp loáng, chẳng mấy chốc đã có hai trăm người bị chém lăn ra. Bọn áo đen ngự doanh đội mũ vàng có võ công cao hơn, chỉ bị giết chừng vài chục người. Cục diện biến thành hai ba người đánh một, thắng bại đã rõ ràng, thêm một lúc nữa, đã trở thành ba bốn người đánh một. Thế nhưng binh tướng hai bên chỉ hò hét trợ oai, mấy chục vạn quân phản loạn không hề cho thêm người ra tăng viện. Cuối cùng ba trăm phản quân áo đen mũ trắng đều bị giết sạch, ngự doanh quân còn sống khoảng hai trăm kéo về. Tiêu Phong nghĩ thầm: "Chắc là người Liêu có thể lệ đánh nhau như thế." Cuộc ác đấu dọn dẹp chiến trường này tuy qui mô không lớn nhưng cực kỳ kinh tâm động phách.

Hồng Cơ giơ cao trường đao, lớn tiếng nói: "Nghịch quân tuy nhiều nhưng tướng sĩ không có lòng chiến đấu. Ta đánh thêm một trận nữa, bọn chúng ắt phải thua chạy thôi." Ngự quân nhất tề hoan hô: "Vạn tuế! Vạn vạn tuế!"

Bỗng bên phản quân có hiệu tù và, năm người cưỡi ngựa chầm chậm đi ra, người đi giữa hai tay cầm một tấm da cừu, dõng dạc đọc chiếu thư của Hoàng thái thúc: "Gia Luật Hồng Cơ soán vị, chỉ là ngụy quân. Hiện nay Hoàng thái thúc đã lên ngôi chính thống. Quan binh trung thành của nước Liêu thì nội hôm nay phải về qui thuận, mỗi người được thăng ba cấp." Mười mấy tay cung nỏ bên ngự quân liền bắn tên ra veo véo nhằm vào gã đọc chiếu thư. Bốn gã đứng bên liền giơ thuẫn lên che đỡ, gã kia vẫn tiếp tục đọc. Năm con ngựa cũng bị bắn ngã, nhưng năm gã vẫn nấp sau thuẫn bài đọc cho hết chiếu thư của Hoàng thái thúc, rồi mới quay về bản trận.

Bắc viện đại vương thấy thuộc hạ nghe ngụy chiếu xong có vẻ động tâm, liền quát lớn: "Ra mắng lại đi!". Ba chục tên lính liền bước ra khoảng chục trượng, hai chục tên cầm thuẫn bài che đỡ cho mười tên mạ thủ mồm to giọng lớn. Tên thứ nhất bắt đầu thóa mạ: "Những tên phản quốc gian tặc kia! Chúng bay chết không có đất mà chôn đến nơi rồi!" Tên thứ hai lại chửi tiếp, càng về sau càng thô tục. Tiêu Phong biết tiếng Khất Đan chẳng bao nhiêu, ngôn từ của mấy tay mạ thủ này có nhiều chỗ ông không hiểu, nhưng thấy Gia Luật Hồng Cơ gật đầu lia lịa ra chiều đắc ý thì chắc rằng chúng đã chửi bới một cách hay ho.

Tiêu Phong nhìn qua trận thế bên địch, thấy xa xa có chỗ lọng vàng cờ tiết rực rỡ, hai người cưỡi ngựa cầm roi chỉ trỏ. Một người thân khoác hoàng bào, đầu đội mũ bình thiên, chòm râu dài đã hoa râm. Người kia mặc giáp vàng lấp lánh, gương mặt gầy nhom nhưng dáng vẻ tinh anh. Tiêu Phong nghĩ thầm: "Xem ra thì đây là cha con Hoàng thái thúc và Sở vương."

Mười tên mạ thủ bỗng thì thầm thương nghị một hồi, rồi lại ngoạc mồm gân cổ bới móc những chuyện xấu xa của đối phương. Nhưng dường như Hoàng thái thúc là người chính trực không chửi mắng vào đâu được, nên cả mười tên chỉ xỉa xói toàn chuyện Sở vương, nào là gian dâm phi tử của phụ thân, nào là cậy thế cha làm điều càn rỡ. Hiển nhiên là những lời đó là để ly gián cha con. Cả mười tên đồng thanh chửi bới vừa to vừa nhịp nhàng, thanh âm vọng ra xa đến mấy dặm, mấy chục vạn quân địch có đến quá nửa nghe được rõ ràng.

Sở vương vẫy roi ngựa một cái, phản quân cũng là lối om sòm, lập tức át hết giọng mười tên mạ thủ kia. Hai bên chửi nhau loạn xạ một lúc nữa, trận thế địch quân bỗng rẽ ra, mấy chục chiếc xe được đẩy đến phía trước quân ngự doanh. Bọn lính đẩy xe lôi từ trong xe ra mấy chục phụ nữ, từ bà lão tóc bạc phơi đến thiếu nữ đang xuân, ai cũng ăn mặc cực kỳ sang trọng. Bọn phụ nữ vừa ra khỏi xe, tiếng chửi hai bên lập tức im bặt.

Gia Luật Hồng Cơ kêu thét lên: "Mẫu thân ơi! Mẫu thân! Hài nhi phải bắt bọn phản nghịch, phân thây muôn đoạn để mẫu thân vui lòng hả dạ."

Bà lão tóc bạc kia chính là Tiêu thái hậu, mẫu thân của Gia Luật Hồng Cơ, ngoài ra còn Tiêu hoàng hậu và các phi tần, công chúa. Hoàng thái thúc và Sở vương nhân dịp Hồng Cơ ra ngoài đi săn, nổi loạn vây chặt cung cấm bắt Hoàng thái hậu cùng hết thảy gia quyến nhà vua.

Hoàng thái hậu lớn tiếng nói: "Bệ hạ đừng nghĩ gì đến thân già này cùng thê tử, phải ra sức dẹp loạn giết giặc." Mấy chục tên lính liền rút trường đao kề vào cổ đám hậu phi, mấy cô còn trẻ kinh hãi khóc òa lên.

Gia Luật Hồng Cơ cả giận quát to: "Bắn chết bọn đang khóc cho ta!" Hơn chục mũi vũ tiễn bắn ra vèo vèo, mấy phi tần đang khóc bị trúng tên lăn ra chết hết.

Hoàng hậu reo lên: "Bệ hạ bắn là phải lắm! Cơ nghiệp tổ tông không thể để rơi vào tay bọn gian thần tặc tử!".

Sở vương thấy Hoàng thái hậu và Hoàng hậu đều quật cường như thế, chẳng những không uy hiếp được Hồng Cơ mà còn làm dao động quân tâm bên mình, bèn ra lệnh: "Bỏ bọn đàn bà lên xe, đẩy lui lại." Bọn quân sĩ liền lùa bọn Hoàng thái hậu, Hoàng hậu lên xe đẩy ra sau trận tuyến. Sở vương lại hạ lệnh: "Đem gia quyến quân địch ra".

Chợt nghe tiếng sáo trúc nổi lên thật thê lương, quân mã lại rẽ sang hai bên, rồi tiếng xích sắt khua loảng xoảng, một đoàn dài già trẻ lớn bé từ phía sau được đưa ra. Chỉ giây lát, hai bên đều nổi lên tiếng khóc vang trời. Thì ra đây là gia quyến của quân ngự doanh. Tướng sĩ trong ngự doanh đều là quân sĩ thân tín của Liêu đế, Gia Luật Hồng Cơ đặc biệt ưu đãi nên cho gia quyến của họ được vào ở Thượng Kinh, một là để họ đem lòng cảm kích, khi có việc sẽ ra sức liều thân, hai là để đề phòng khiến đội quân tinh nhuệ này không dám hài lòng. Ngờ đâu lần đi săn này, mầm họa lại ở ngay sát nách. Gia quyến của quân ngự doanh phải đến hơn hai chục vạn người, số bị giải đến trận tiền bất quá ba vạn, trong đó còn có vô khối người bị bắt nhầm nhưng chưa phân biệt được, thành thử tình hình lại càng rối loạn.

Sở Vương sai một tên tướng giục ngựa chạy ra, lớn tiếng nói: "Quan binh ngự doanh nghe đây! Gia quyến các ngươi đã bị bắt hết rồi, ai đầu hàng thì được sum họp gia đình, thăng quan ba cấp lại còn trọng thưởng. Còn tên nào không đầu hàng thì tân hoàng đế đã có lệnh đem gia quyến ra chém hết." Người Khất Đan vốn tàn nhẫn hiếu sát, hai chữ "chém hết" không phải là hăm dọa suông. Trong đám quân ngự doanh có người nhận ra thân thuộc mình bèn cất tiếng kêu, thế là "Gia gia! Má má! Hài tử! Phu quân! Hiền thê!" hai bên gọi nhau ơi ới.

Trong trận của nghịch quân trống đánh vang lừng, hai nghìn đao phủ thủ bước ra, tay cầm đại đao sáng loáng. Tiếng trống vừa ngừng lại, hai nghìn thanh đao cùng giơ lên, nhắm ngay đầu gia quyến của ngự quân doanh. Viên tướng vừa rồi lại quát lên: "Ai về đầu hàng tân hoàng đế sẽ có trọng thưởng. Ai không hàng thì gia quyến bị giết sạch." Y giơ tay lên, tiếng trống lại bắt đầu nổi lên.

Tướng sĩ bên ngự doanh biết rằng một khi y phất tay, hồi trống sẽ dứt, hai nghìn thanh đại đao kia sẽ chém xuống. Đám thân binh này vẫn một lòng trung thành với Gia Luật Hồng Cơ, dẫu Hoàng thái thúc và Sở vương có đem thăng quan cùng trọng thưởng ra dụ dỗ cũng không ăn nhằm gì, nhưng lúc này thấy cha mẹ vợ con vươn cổ chờ chém, sao lại không hoảng sợ?

Tiếng trống vẫn thúc liên hồi, quả tim trong lồng ngực đám quân ngự doanh cũng đập theo nghe thình thình. Đột nhiên trong ngự doanh có một người chạy ra kêu lớn: "Má má ơi! Má má! Đừng giết má má của ta!" Y quăng trường mâu xuống, hộc tốc chạy về phía một bà lão trong đám địch quân.

Vút một tiếng, một mũi tên từ phía ngự doanh bắn ra, trúng ngay giữa lưng người nọ. Hắn chưa chết ngay, vẫn tiếp tục lao về phía mẫu thân. Thế là tiếng gọi nhau ơi ới bắt đầu ồn ào vang dậy, mấy trăm người trong ngự doanh chạy ùa ra. Những tướng lãnh thân tín của Gia Luật Hồng Cơ rút kiếm chém lia lịa mà cũng không ngăn nổi. Thoạt tiên có mấy trăm người chạy qua, chẳng mấy chốc đã là mấy nghìn người. Sau đó trận thế liền hỗn loạn, trong số mười lăm vạn thân quân của nhà vua đã có đến sáu bảy vạn chạy qua bên địch.

Gia Luật Hồng Cơ thở dài một tiếng, biết rằng đại cuộc đã hỏng. Ông nhân cơ hội bọn thân quân đang tìm kiếm gia quyến, tình hình náo loạn làm đối phương không truy kích được, lập tức ra lệnh: "Nhổ trại, rút lui về dãy núi phía tây bắc." Các tướng trong quân lập tức truyền lệnh ra cho hơn tám vạn quân chưa đầu hàng. Hậu quân đổi thành tiền quân, cả đoàn rút lui về hướng tây bắc.

Sở vương lập tức sai kỵ binh đuổi theo, nhưng trên chiến trường toàn là đàn bà trẻ con và người già yếu làm nghẽn cả lối đi, ngựa chạy không nhanh được. Đến khi dẹp được đường thì Gia Luật Hồng Cơ cùng quân ngự doanh đã chạy xa rồi.

Tám vạn thân quân chạy đến chân núi thì trời đã hoàng hôn, quân sĩ vừa đói vừa mệt, đóng trại ở ngang sườn núi, làm thế phòng ngự từ trên cao đánh xuống. Doanh trại vừa dựng xong, chưa kịp nấu cơm thì Sở vương đã dẫn quân tinh nhuệ đến dưới chân núi, lập tức xung phong lên. Quân ngự doanh bắn tên lăn đá như mưa, đẩy lùi quân phản loạn. Sở vương thấy từ dưới tấn công lên không có lợi, đành tạm thu binh, dựng trại ở chân núi.

Tối hôm đó, Gia Luật Hồng Cơ đứng trên sườn núi nhìn về phía nam thấy doanh trại nghịch quân đèn đuốc như sao sa, xa xa lại có ba con rồng lửa ngoằn ngoèo, chính là ba đạo nghịch quân kéo đến tiếp viện. Ông buồn bã trong lòng, đang định vào trướng thì Bắc viện khu mật sứ lại đến bẩm: "Một vạn năm nghìn quân mã dưới trướng hạ thần đã chạy xuống núi đầu hàng quân phản nghịch. Hạ thần trị quân không nghiêm, tội đáng muôn thác." Gia Luật Hồng Cơ xua tay, lắc đầu nói: "Không phải lỗi của ngươi, thôi vào nghỉ đi."

Ông quay đầu lại, thấy Tiêu Phong đang xuất thần nhìn về phía xa xa, liền bảo: "Đến sáng mai, phản quân sẽ đem toàn lực tấn công, chúng ta sẽ bị bắt hết. Ta là vua một nước, không thể chịu nhục với bọn phản đồ, đành tự vẫn báo đền xã tắc. Hiền đệ nên nhân lúc trời tối trốn đi. Ngươi võ nghệ cao cường, phản quân không ngăn nổi đâu." Đến đây vẻ mặt nhà vua đầy vẻ thê lương, nói tiếp: "Ta đang định phong cho hiền đệ một chức quan to để chung hưởng phú quí, có ngờ đâu tính mạng người anh này cũng chẳng giữ được, lại làm lụy đến cả ngươi."

Tiêu Phong đáp: "Đại ca! Đại trượng phu phải lúc co lúc duỗi. Hôm nay tình hình không lợi, để tiểu đệ bảo vệ đại ca trốn khỏi nơi đây, chiêu tập bộ thuộc cũ rồi lại tính sau." Hồng Cơ lắc đầu: "Ta không giữ nổi tính mạng cho lão mẫu cùng thê tử, sao còn được gọi là đại trượng phu? Đối với người Khất Đan, kẻ thắng là anh hùng, kẻ thua là phản nghịch. Ta thua một trận tan tành, còn mong gì trung hưng cơ nghiệp? Hiền đệ tự trốn đi thôi!"

Tiêu Phong biết ông nói thực tình, liền khẳng khái đáp: "Đã thế thì ngày mai tiểu đệ cùng với ca ca quyết một trận tử chiến với quân phản nghịch. Chúng ta đã kết nghĩa kim lan thì ca ca là hoàng đế cũng vậy, là dân thường cũng vậy, cũng là nghĩa huynh của Tiêu mỗ. Huynh trưởng gặp nạn thì kẻ làm em phải đồng sinh công tử, lẽ nào lại bỏ chạy một mình?"

Gia Luật Hồng Cơ nước mắt rưng rưng, nắm chặt hai tay chàng, nói: "Hảo hiền đệ, ta xin đa tạ." Tiêu Phong quay vào trong trướng thấy A Tử nằm co ở một góc, đôi mắt to mở tròn, thì ra vẫn chưa ngủ. A Tử hỏi: "Tỉ phu có giận muội không?" Tiêu Phong ngạc nhiên hỏi lại: "Sao ta lại giận cô?" A Tử đáp: "Cũng tại muội chẳng ra gì. Giả tỉ muội không đòi ra đại thảo nguyên du ngoạn thì tỉ phu đâu có bị khốn ở đây. Tỉ phu! Chúng mình đành chịu chết tại chốn này rồi phải không?"

Ánh lửa từ bên ngoài hắt vào lều, chiếu lên khuôn mặt xanh xao trông có vẻ ngây thơ non nớt của nàng một chút ánh hồng. Tiêu Phong trong lòng cực kỳ thương xót, dịu dàng đáp: "Ta giận cô thế nào được? Nếu ta không đả thương cô thì chúng mình đã không đến chốn này." A Tử mỉm cười nói: "Nhưng nếu muội không phóng độc châm thì việc gì tỉ phu lại đả thương muội?"

Tiêu Phong đưa bàn tay to bè vuốt tóc nàng. Từ lúc A Tử bị trọng thương, tóc rụng mất quá nửa, chỗ còn lại vừa vàng vừa thưa thớt, Tiêu Phong thở dài, nói: "Cô còn bé bỏng thế này mà đã chịu khổ sở vì ta." A Tử nói: "Tỉ phu ơi! Trước kia muội không hiểu vì sao tỉ tỉ lại thích tỉ phu, bây giờ thì hiểu rồi."

Tiêu Phong nghĩ thầm: "Tỉ tỉ của ngươi đối với ta tình nghĩa thâm trọng, ngươi còn con nít đã biết gì. Thực ra, vì sao A Châu lại yêu một kẻ thô lỗ như ta, chính ta cũng chẳng hiểu thì ngươi làm sao mà hiểu được?" Chàng nghĩ tới đây, buồn bã lắc đầu.

A Tử nghiêng đầu nhìn chàng rồi hỏi: "Tỉ phu có đoán được vì sao hôm đó muội lại bắn độc châm chưa? Muội chẳng muốn bắn chết tỉ phu, mà chỉ muốn tỉ phu không cử động được, để muội được kề cận bên mình." Tiêu Phong thấy kỳ lạ, hỏi lại: "Như thế để làm gì?"

A Tử mỉm cười đáp: "Tỉ phu không cử động được thì vĩnh viễn không thể xa muội. Nếu không thì tỉ phu có coi muội ra gì đâu, lúc nào cũng có thể bỏ đi, không thèm nhìn đến muội nữa."

Tiêu Phong nghe nàng nói đầy vẻ trẻ con, nhưng hoàn toàn không phải hồ đồ. Chàng chột dạ nghĩ thầm: "Đằng nào sáng mai cũng phải chết, thôi thì an ủi cô ta vài câu cũng chẳng sao", bèn nói: "Cô đúng là con nít. Nếu cô muốn đi theo ta thì sao không nói thẳng ra, xem ta có bằng lòng không?"

Đôi mắt A Tử đột nhiên sáng ngời, lộ vẻ vui mừng nói: "Tỉ phu ơi! Sau khi khỏi bệnh rồi, muội muốn đi theo tỉ phu, vĩnh viễn không quay lại chỗ sư phụ ở phái Tinh Tú nữa. Tỉ phu đừng bỏ muội nhé!"

Tiêu Phong biết cô nàng đã gây đại họa tại phái Tinh Tú, đúng là chẳng dám quay về. Chàng cười nói: "Cô là đại sư tỉ thừa kế môn phái, nếu không quay về thì họ như rắn mất đầu, làm sao cho tiện?" A Tử cười khanh khách đáp: "Muội cứ mặc kệ, để bọn chúng rối loạn bát nháo lên càng hay."

Tiêu Phong kéo chăn đắp đến cổ cho nàng, rồi tới một góc lều trải chăn da thú nằm ngủ. Lửa bên ngoài chập chờn mờ tỏ, có tiếng khóc văng vẳng, ắt hẳn là quân ngự doanh nhớ đến người thân. Những người ở lại cũng biết sáng mai tính mạng khó toàn, có điều trung thành với hoàng thượng nên không phản bội.

Sáng sớm hôm sau Tiêu Phong tỉnh dậy, dặn Thất Lý chuẩn bị ngựa tốt, lo cho A Tử. Chàng vận y phục gọn ghẽ, ăn một cân thịt cừu, uống ba cân rượu, rồi đi ra sườn núi. Khi đó trời còn tối mịt, nhưng chẳng bao lâu phương đông đã ửng hồng, ngự doanh nổi tù và ù ù, giáp trụ võ khí chạm nhau loảng xoảng không dứt. Từng đội binh mã kéo trong doanh trại ra, phòng thủ những nơi xung yếu. Tiêu Phong đứng trên cao nhìn xuống thấy ba phía đông, nam và đông nam, chỗ nào cũng đầu người lố nhố, toàn là phản quân. Xa xa còn sương mù bao phủ, thành thử trận thế loạn quân không biết tới đâu mới hết.

Vầng thái dương từ chân trời nhô lên, tỏa ra muôn ngàn tia nắng, màn sương tan dần, thì ra dưới đám mây mù đâu đâu cũng là quân mã phản nghịch. Tiếng trống vang dội khắp nơi. Hai đội quân địch cầm cờ vàng chạy ra, sau đó là Hoàng thái thúc cùng Sở vương cưỡi ngựa đến dưới chân núi, cầm roi ngựa chỉ trỏ lên bàn tán.

Gia Luật Hồng Cơ đang cùng đám thị vệ đứng trên sườn núi, thấy vậy lửa giận bốc lên, cầm lấy cung tên trong tay một tên quân hầu, giường thẳng nhắm vào Sở vương bắn ra một mũi. Từ trên cao nhìn xuống tưởng chừng như khoảng cách không xa, thực ra phải đến mấy tầm tên, mũi tên bay chưa được nửa đường đã rơi xuống đất.

Sở vương cười ha hả lớn tiếng nói: "Hồng Cơ! Ngươi cướp ngôi vua của phụ thân ta, làm ngụy quân đã lâu rồi, bây giờ phải nhường lại thôi. Ngươi mau mau đầu hàng, phụ thân ta sẽ tha cho khỏi chết, lại còn khai ân phong cho ngươi làm Hoàng thái điệt! Ha ha!" Hiển nhiên là y mỉa mai Hồng Cơ phong Trọng Nguyên làm Hoàng thái thúc chỉ là giả nhân giả nghĩa.

Hồng Cơ cả giận mắng lại: "Đồ phản tặc vô liêm sỉ! Ngươi còn mở miệng nói càn nữa ư?"

Bắc viện khu mật sứ kêu lên: "Chúa bị nhục thì bẩy tôi phải chết. Chúa thượng đối với hạ thần ơn nặng như non, hôm nay chính là lúc hạ thần đáp nghĩa." Y liền dẫn ba nghìn thân binh, gầm thét vang trời từ trên cao xông xuống. Ba nghìn người đó đều là dũng sĩ Khất Đan, phen này đã chấp nhận cái chết, thành thử có thể một đánh mười. Chỉ nghe tiếng thét vang động cả một góc trời, máu chảy thịt rơi, ba nghìn quân mỗi lúc một ít dần, sau cùng chết hết. Bắc viện khu mật sứ cố giết thêm mấy tên, rồi đâm cổ tự vẫn. Hồng Cơ, Tiêu Phong cùng các đại thần từ trên cao nhìn xuống rất rõ nhưng không làm sao cứu được, nghĩ đến lòng trung nghĩa của Bắc viện khu mật sứ, ai nấy đều sa nước mắt.

Sở vương lại giục ngựa đến chân núi cười nói: "Hồng Cơ! Ngươi đã chịu hàng chưa? Ngươi chỉ còn một nhóm quân mã thì làm gì được? Thủ hạ ngươi đều là dũng sĩ Đại Liêu, sao ngươi nỡ bắt họ chết uổng theo? Là nam nhi đại trượng phu thì phải quyết đoán mau lẹ, hàng thì hàng cho chóng, đánh thì đánh ngay. Còn nếu ngươi biết khí số đã hết thì nên tự sát để tạ tội với thiên hạ, khỏi làm uổng mạng sĩ tốt."

Gia Luật Hồng Cơ thở dài một tiếng, hai mắt đẫm lệ, rút đao ra nói: "Thôi thì ta nhường giang sơn gấm vóc này cho cha con nhà ngươi. Ngươi nói không sai, chúng ta là người một nhà, cốt nhục tương tàn, chẳng lý nào làm chết thêm dũng sĩ Khất Đan." Nói xong, ông vung đao lên toàn đâm vào cổ mình.

Tiêu Phong vươn tay đoạt ngay thanh đao, nói: "Đại ca! Anh hùng hảo hán có chết cũng chết ở chiến trường, sao lại tự vẫn?" Hồng Cơ thở dài: "Hiền đệ ơi! Tướng sĩ ở đây đều theo ta đã lâu, ta đành chết còn hơn là để họ bỏ mạng vì ta."

Sở vương lại lớn tiếng giục: "Hồng Cơ! Ngươi chờ đến bao giờ mới tự vẫn?" Tay gã cầm roi chỉ thẳng vào mặt nhà vua, ra chiều phách lối vô cùng. Tiêu Phong thấy y mỗi lúc một đến gần, trong lòng chợt động, khẽ nói: "Đại ca cứ nói chuyện kéo dài thời gian, để tiểu đệ lẻn tới gần bắn y một mũi."

Hồng Cơ biết ông bản lãnh cao cường, mừng rỡ nói: "Thế thì tuyệt diệu! Nếu bắn chết được y thì ta có chết cũng nhắm mắt." Ông liền cất cao giọng nói: "Sở vương! Ta đãi cha con nhà ngươi không bạc, giả tỉ phụ thân người muốn làm hoàng đế thì cứ nói ra, việc gì phải làm chết bao nhiêu tướng sĩ cùng bá tính, làm tổn thương nguyên khí nước Đại Liêu?".

Tiêu Phong lấy một cây cung cứng, giắt mười mũi tên răng chó sói, dẫn một con tuấn mã lẻn qua một bên sườn núi, rùn người nấp dưới bụng ngựa, hai chân quặp ngược lên yên, lấy gót chân thúc một cái, con ngựa liền chạy thẳng xuống. Bọn phản quân dưới núi thấy một con ngựa không có người cưỡi, tưởng là sút dây cương chạy lạc, chuyện đó vẫn thường xảy ra nên chẳng ai để ý làm gì. Nhưng một lúc sau, quân sĩ đã thấy dưới bụng ngựa có người, lập tức hô hoán ầm ĩ.

Tiêu Phong dùng chân thúc ngựa xông thẳng vào Sở vương. Lúc ông thấy chỉ còn cách hai trăm bước, vẫn nép dưới bụng ngựa giương cung lên, bắn y một mũi nghe vù một tiếng. Tên vệ sĩ đứng cạnh Sở vương liền đưa mộc lên đỡ được mũi tên. Tiêu Phong vẫn giục ngựa chạy tới, bắn phát thứ hai giết ngay tên vệ sĩ kia, phát tên thứ ba lại nhắm vào ngực Sở vương.

Sở vương mắt tinh tay lẹ, vung roi ngựa ra gạt trúng mũi tên. Thuật dùng roi gạt tên vốn là tuyệt kỹ của y, nhưng không ngờ người bắn tên sức mạnh phi thường, nội kình dồn vào mũi tên. Cây roi ngựa gạt trúng nhưng chỉ làm cho mũi tên bay lệch đi một chút, cắm vào vai y nghe sột một tiếng. Sở vương kêu lên "Chao ôi!", đau quá gục xuống yên ngựa.

Mũi vũ tiễn thứ tư của Tiêu Phong lại đến, lần này khoảng cách gần quá, trúng vào hông xuyên thẳng qua ngực. Sở vương chỉ giãy được một cái, lăn từ lưng ngựa xuống đất. Tiêu Phong vừa ra tay đã đắc thủ, nghĩ thầm: "Ta phải thừa cơ bắn chết luôn Hoàng thái thúc."

Sở Vương trúng tên ngã ngựa, địch quân kêu la ầm ĩ, mấy trăm mũi tên nhắm ngay Tiêu Phong bắn tới. Chỉ nháy mắt con ngựa đã trúng đầy tên, biến thành một con nhím to.

Tiêu Phong lăn dưới đất mấy vòng, nấp dưới bụng một con ngựa địch quân, thi triển chút tiểu xảo công phu, cứ lăn một vòng lại luồn từ bụng con ngựa này sang bụng con ngựa khác. Địch quân không sao bắn tên được, bèn dùng trường mâu mà đâm tới tấp. Tiêu Phong luồn trái lách phải, toàn là ẩn dưới bụng ngựa. Quân địch nhốn nháo cả lên, mấy nghìn quân xô đẩy chen chúc, tưởng chừng giẫm cả lên nhau, nhưng không sao đâm trúng chàng được.

Tiêu Phong đang sử dụng địa đường công phu thật tầm thường của võ lâm Trung Nguyên. Những thứ địa đường quyền, địa đường đao, địa đường kiếm, cũng đều là lăn lộn dưới đất, tấn công vào hạ bàn bên địch. Bây giờ chàng áp dụng trong chiến trận, mắt nhanh tay lẹ, chỉ cố tránh không bị ngựa xéo lên. Chàng lăn về hướng Hoàng thái thúc đang đứng, nhắm thẳng vào y bắn vun vút ba mũi tên.

Bọn vệ sĩ của Hoàng thái thúc đã thấy Sở vương bị trúng tên, dĩ nhiên đề phòng cẩn mật. Hơn ba chục tên cùng giơ mộc che Hoàng thái thúc kín mít. Ba tiếng keng keng, ba mũi tên đều đụng phải thuẫn bài rơi xuống đất. Tiêu Phong mang theo mười mũi tên đã bắn hết bảy, chỉ còn lại ba. Chàng thấy ba chục tên quân dựng thuẫn che đỡ, muốn dùng ba mũi tên bắn chết ba tên vệ sĩ cũng đã khó, thật sự không thể bắn được Hoàng thái thúc. Lúc này Tiêu Phong đã vào sâu trong trận địch, phía sau mấy nghìn quân kỵ cầm mâu đuổi tới, phía trước là thiên quân vạn mã, đúng là bị hãm vào nơi tuyệt địa. Hôm nọ chàng đơn thân chống lại quần hùng Trung Nguyên, đối phương chỉ vài trăm người cũng đã nguy hiểm lắm rồi, nhờ người đến cứu mới thoát chết. Hôm nay bị mấy vạn người vây khốn, làm sao mà thoát được?

Trong lúc cùng đường, chàng hú lên thật to, tung mình nhảy vọt lên, qua hết ba chục tên cầm thuẫn, đáp xuống ngay trước đầu ngựa Hoàng thái thúc. Lão hoảng hốt, vung roi ngựa lên đánh luôn vào mặt chàng. Tiêu Phong lạng người qua tránh, nhảy phốc lên yên ngựa Hoàng thái thúc, vung tay chộp trúng lưng lão. Chàng giơ cao người lão lên, quát hỏi: "Ngươi muốn sống hay muốn chết? Muốn sống thì mau mau bảo mọi người hạ binh khí xuống." Hoàng thái thúc sợ đến hồn vía lên mây, chàng nói gì hình như lão cũng không nghe thấy.

Lúc đó loạn quân la hét inh ỏi nghe điếc cả tai, hàng ngàn hàng vạn người đều lắp tên giương cung nhắm ngay Tiêu Phong, nhưng Hoàng thái thúc bị chàng nắm giữ trong tay nên chẳng tên nào dám bắn.

Tiêu Phong vận khí vào đan điền kêu lớn: "Hoàng thái thúc có lệnh, ba quân bỏ binh khí xuống để nghe tuyên đọc thánh chỉ. Hoàng đế khoan hồng đại lượng, đại xá tam quân, không truy cứu ai." Mấy câu đó trung khí đầy dẫy, át hết tiếng người ồn ào, xa đến mấy dặm còn nghe thấy. Mấy chục vạn quân trước núi sau núi, đến quá nửa nghe được rõ ràng.

Tiêu Phong đã rút kinh nghiệm vụ nổi loạn của Cái Bang, hiểu rõ tâm tư loạn quân. Đang phản nghịch mà thất bại, người nào cũng chỉ cầu được miễn tội, nếu được bảo đảm không truy cứu lỗi lầm thì ý chí chiến đấu tự nhiên mất hết. Hiện giờ phản quân thế mạnh, mà Gia Luật Hồng Cơ chỉ còn bảy tám vạn quân, nhân số quá chênh lệch không thể chống nổi. Trong lúc khẩn cấp, ông không kịp xin ý kiến Hồng Cơ, phải tuyên bố mấy câu cho quân phản loạn yên tâm.

Mấy câu nói dõng dạc của Tiêu Phong vừa truyền ra, tiếng huyên náo của quân phản loạn liền lắng xuống, chúng ngơ ngác nhìn nhau, trong lòng hoang mang không có chủ đích gì cả.

Tiêu Phong hiểu rằng tình thế lúc này cực kỳ nguy hiểm, chỉ cần một người trong quân địch hô hào bất phục, mấy chục vạn quân như rắn mất đầu kia sẽ gây đại biến. Chàng không dám chần chừ một giây phút nào nữa, lại lớn tiếng hô: "Hoàng thượng có chỉ dụ, tướng sĩ nghịch quân bất luận lớn nhỏ, tất cả đều vô tội, hoàng đế khai ân quyết không truy cứu. Quan quân đều được giữ nguyên chức tước, tất cả mau bỏ khí giới xuống!"

Không gian đang lặng như tờ, đột nhiên có tiếng loảng xoảng, mấy tên lính liệng bỏ trường mâu. Tiếng loảng xoảng này lây lan rất mau, chỉ trong giây lát có đến một nửa nghịch quân vứt binh khí, nửa còn lại trù trừ chưa quyết định.

Tiêu Phong dùng tay trái giơ Hoàng thái thúc lên cao, giục ngựa chạy lên núi, phản quân không dám ngăn trở, ngựa chàng đi đến đâu là phía trước lại tránh ra nhường lối.

Tiêu Phong cưỡi ngựa đến lưng chừng núi, hai toán quân ngự doanh liền chạy xuống nghinh tiếp, trên núi chiêng trống vang lừng.

Tiêu Phong nói: "Hoàng thái thúc! Mau mau ra lệnh cho thuộc hạ bỏ khí giới đầu hàng, sẽ được tha mạng." Hoàng thái thúc run run hỏi lại: "Ngươi đảm bảo tha mạng cho ta chứ?"

Tiêu Phong nhìn xuống chân núi, thấy còn nhiều phản quân vẫn nắm cung tên trường mâu trong tay, lòng quân chưa định, nguy hiểm chưa qua. Chàng nghĩ thầm: "Bây giờ việc trấn tĩnh quân tâm là quan trọng nhất. Một mạng Hoàng thái thúc sống hay chết chẳng đáng gì, chỉ cần giám thị kỹ càng là y không thể làm bậy được nữa." Chàng liền nói: "Đây là cơ hội để lập công chuộc tội. Bệ hạ đã biết việc này đều do Sở vương gây ra, nhất định sẽ tha chết cho Hoàng thái thúc."

Hoàng thái thúc vốn không nghĩ đến việc tranh đoạt ngôi vua, chỉ vì con lão là Sở vương có dã tâm mà gây họa. Lúc này lão đã bị bắt, chỉ mong sao khỏi chết bèn đáp: "Được! Ta theo lời ngươi."

Tiêu Phong đặt ông ta ngồi trên yên ngựa rồi dõng dạc nói: "Tam quân nghe đây! Hoàng thái thúc có chỉ thị!"

Hoàng thái thúc lớn tiếng hô: "Người gây nên bạo loạn là Sở vương đã chết rồi. Hoàng thượng khoan hồng đại lượng tha tội cho mọi người. Các ngươi mau mau hạ khí giới rồi đến trước Hoàng thượng mà xin tha thứ."

Hoàng thái thúc đã nói như thế, loạn quân biến thành rắn mất đầu. Tuy cũng có kẻ hung hăng ngoan cố nhưng không dám chống lại, lập tức nghe tiếng loảng xoảng liên hồi, toàn bộ loạn quân đều vứt binh khí xuống đất.

Tiêu Phong áp giải Hoàng thái thúc lên tới khu đất trống trên núi. Gia Luật Hồng Cơ mừng không nói hết, chẳng khác gì đang nằm mơ, tiến đến bên Tiêu Phong nắm hai tay chàng mà nói: "Hiền đệ ơi! Hiền đệ ơi! Giang sơn này của ca ca, từ nay anh em ta chung hưởng." Ông nói đến đây cảm động quá, bất giác nước mắt ròng ròng.

Hoàng thái thúc quì dưới đất nói: "Kẻ loạn thần này cầu xin bệ hạ thứ tội, xin rủ lòng thương xót." Gia Luật Hồng Cơ hoan hỉ vô cùng, quay sang hỏi Tiêu Phong: "Hiền đệ nghĩ sao?" Tiêu Phong đáp: "Phản quân người nhiều thế mạnh, bây giờ cần nhất là an định quân tâm. Xin bệ hạ tha tội chết cho Hoàng thái thúc để mọi người được yên lòng."

Gia Luật Hồng Cơ cười nói: "Hay lắm! Hay lắm! Ngươi nói sao, ta làm vậy." Ông quay lại bảo Bắc viện đại vương: "Ngươi truyền thành chỉ, phong Tiêu Phong tước Sở vương, giữ chức Nam Viện đại vương, thống lĩnh nghịch quân trở về Thượng Kinh."

Tiêu Phong nghe nói giật mình. Chàng giết Sở vương, bắt Hoàng thái thúc chỉ vì muốn cứu mạng nghĩa huynh, không hề có lòng ham muốn tước lộc. Bỗng nhiên được Gia Luật Hồng Cơ phong cho chức quan lớn như thế, chân tay luống cuống, sững sờ không biết nói sao. Bắc viện đại vương quay sang Tiêu Phong, chắp tay nói: "Cung hỉ! Cung hỉ! Tước Sở vương xưa nay chưa phong cho người ngoài hoàng tộc, Tiêu đại vương mau mau tạ ơn hoàng thượng đi." Tiêu Phong nói với Gia Luật Hồng Cơ: "Hôm nay chỉ nhờ hồng phúc của ca ca, lòng quân qui thuận về bệ hạ mà bình định được nội loạn. Tiểu đệ chỉ góp chút sức nhỏ mọn, có chi đáng gọi là công lao? Hơn nữa, tiểu đệ không biết làm quan, cũng chẳng muốn làm quan, xin ca ca thu hồi thánh mệnh."

Gia Luật Hồng Cơ cười ha hả, đưa tay nắm lấy vai Tiêu Phong mà nói: "Ở nước Liêu ta, tước Sở vương, hàm Nam viện đại vương là cao quý nhất rồi. Giả tỉ hiền đệ còn chê nhỏ không chịu nhận thì ca ca phải nhường cả ngôi vua cho hiền đệ, không còn cách nào khác."

Tiêu Phong giật mình nghĩ thầm: "Ca ca vui sướng quá, nói năng chẳng giữ gìn nữa. Tình hình lúc này cần quyết đoán mau lẹ, nếu ta chần chờ có khi sinh họa". Chàng đành quì xuống nói: "Thần là Tiêu Phong tiếp chỉ, đa tạ vạn tuế gia khai ân." Gia Luật Hồng Cơ tươi cười đưa tay đỡ chàng dậy. Tiêu Phong lại nói: "Hạ thần không dám nghịch chỉ nên phải lãnh quan tước. Có điều thần là kẻ thảo dã thô hào, không hiểu pháp độ triều đình. Nếu sau này có phạm lỗi, mong được bệ hạ khoan hồng."

Gia Luật Hồng Cơ vỗ vỗ lên vai chàng, cười nói: "Không sao cả đâu." Ông quay sang nói với Tả quân tướng quân Gia Luật Mạc Ca: "Gia Luật Mạc Ca! Ta phong ngươi làm Nam viện khu mật sứ, phò tá Tiêu đại vương phụ trách quân quốc trọng sự." Gia Luật Mạc Ca cả mừng, vội vàng quì xuống tạ ơn, sau đó khom lưng tham bái Tiêu Phong, nói: "Thuộc hạ tham kiến đại vương." Hồng Cơ nói: "Mạc Ca! Ngươi xin lệnh Tiêu đại vương, thống lĩnh nghịch quân quay về Thượng Kinh. Chúng ta đến vấn an Hoàng thái hậu."

Trên núi chiêng trống nổi tưng bừng, Gia Luật Hồng Cơ cùng bá quan đi xuống. Các loạn tướng đã đưa Hoàng thái hậu, Hoàng hậu các người ra khỏi tù xa, cung kính mời vào doanh trại. Gia Luật Hồng Cơ tiến vào trong trướng, mẹ con vợ chồng gặp nhau quả là cải tử hoàn sinh, tưởng chừng như từ một kiếp khác quay về. Ai nấy tấm tắc tán dương công lao vĩ đại của Tiêu Phong.

Gia Luật Mạc Ca lại dẫn Tiêu Phong đi gặp các bộ thuộc trong Nam viện. Lúc nãy Tiêu Phong xông pha trong chốn thiên quân vạn mã, thần dũng tuyệt luân, ai nấy đã thấy cả rồi. Quan quân Nam viện đều là thuộc hạ cũ của Sở vương nhưng một là Tiêu Phong thần oai lẫm liệt, mọi người đem lòng kính ngưỡng không dám không phục; hai là Sở vương tính tình nóng nảy chẳng được ai ưa; ba là bọn chúng vừa làm loạn phạm thượng, trong bụng nơm nớp lo âu; thành thử Tiêu Phong vừa đến là ai ai cũng nghe lệnh răm rắp.

Tiêu Phong nói: "Hoàng thượng đã miễn tội theo phản thần làm loạn cho các ngươi. Từ nay tất cả phải biết hối cải, đừng ăn ở hai lòng." Một viên tưởng râu tóc bạc phơ tiến lên bẩm: "Bẩm đại vương! Hoàng thái thúc và Thế tử bắt giữ gia quyến chúng tôi, bức bách chúng tôi phải theo. Nếu như chống lại, Thế tử sẽ chém hết cả nhà, thành thử chúng tôi bất đắc dĩ mà phạm tội lỗi. Xin đại vương tâu cho thánh thượng rõ."

Tiêu Phong gật đầu: "Nếu đã thế, từ nay những chuyện đã qua không nhắc đến nữa." Chàng quay lại bảo Gia Luật Mạc Ca: "Cho tam quân nghỉ ngơi ăn uống xong, lập tức nhổ trại hồi kinh."

Sau đó các quan chức lớn nhỏ trong Nam viện tiến lên tham kiến. Tiêu Phong chưa làm quan bao giờ nhưng đã là bang chủ Cái Bang nhiều năm, lãnh đạo quần hào một cách uy nghiêm. Việc chỉ huy quân Khất Đan với thống lĩnh hào kiệt Cái Bang không khác nhau nhiều, Tiêu Phong chỉ cần để ý một ít lề luật riêng của nước Liêu. Ngoài ra mọi sự đều do Gia Luật Mạc Ca điều động giải quyết cho nên cũng đâu vào đấy.

Tiêu Phong thống lĩnh đại quân xuất phát chưa được bao lâu thì Hoàng thái hậu và Hoàng hậu đã phái sứ giả tới trung quân ban tặng áo mũ vàng bạc. Tiêu Phong tạ ơn xong, Thất Lý cũng đưa A Tử tới nơi. Cô nàng mặc áo gấm, cưỡi tuấn mã, nói là đều do Hoàng thái hậu ban cho, Tiêu Phong thấy thân hình loắt choắt của nàng lọt thỏm trong bộ cẩm bào rộng thùng thình, khuôn mặt thon thon bị cổ áo che khuất đến một nửa thì không khỏi tức cười.

A Tử không được chính mắt trông thấy Tiêu Phong bắn chết Sở vương, bắt sống Hoàng thái thúc, chỉ nghe Thất Lý kể lại mà thôi. Khi người ta thuật lại chuyện gì, thể nào cũng thêm mắm thêm muối, nên công lao của Tiêu Phong lại càng thêm phần ly kỳ rùng rợn. A Tử vừa gặp chàng đã nói dỗi: "Tỉ phu ơi! Tỉ phu lập đại công mà không chịu nói trước, để tiểu muội đứng trên sườn núi xem đại ca xông ra rồi lại trở về có phải khoái không? Tỉ phu cứ làm tiểu muội lo sốt vó." Tiêu Phong đáp: "Đó chẳng qua là hên vận lập được chút công, ta có tính trước được đâu? Cô nói chuyện thật là con nít.". A Tử gọi: "Tỉ phu qua đây." Tiêu Phong tiến đến bên nàng, thấy khuôn mặt xanh xao hơi ửng hồng và chiều phấn khởi, thân hình xúng xính trong bộ áo xiêm thật chẳng khác gì một con rối nhỏ, vừa buồn cười lại vừa khả ái. Chàng không nhịn được phá lên cười ha hả.

A Tử phụng phịu nói: "Muội nói chuyện đứng đắn mà sao tỉ phu lại cười, có gì khôi hài đâu?" Tiêu Phong đáp: "Ta thấy cô mặc bộ y phục này chẳng khác gì hình nộm, thật là thú vị." A Tử hậm hực đáp: "Lúc nào tỉ phu cũng chỉ coi muội là một đứa trẻ con, cứ trêu chọc mãi." Tiêu Phong vẫn cười: "Không phải thế đâu. A Tử ơi, lần này cứ tưởng hai huynh muội ta phải mất mạng, ai ngờ chết đi sống lại nên mới vui đùa một chút đấy thôi. Còn những tước vị Nam viện đại vương, Sở vương gì gì đó ta thật không màng, được sống tốt là mừng lắm rồi".

A Tử hỏi: "Tỉ phu cũng sợ chết sao?" Tiêu Phong ngẩn ngơ giây lát rồi gật đầu đáp: "Có chứ! Gặp lúc nguy hiểm ai mà chẳng sợ chết." A Tử nói: "Muội lại tưởng tỉ phu là bậc anh hùng hảo hán không biết sợ chết. Nếu tỉ phu sợ chết, sao lại dám xông vào đám phản quân hàng nghìn hàng vạn?" Tiêu Phong đáp: "Cái đó gọi là xông vào chỗ chết để tìm đường sống. Nếu ta không liều lĩnh xông vào thì chết chắc, không phải là dũng cảm hay không dùng cảm, mà là ở bước đường cùng phải thế. Tỉ như mình bao vây một con gấu hay một con cọp, nó không chạy được thì phải liều mạng quay lại cắn thôi." A Tử mỉm cười nói: "Tỉ phu lại đem ví mình với giống súc sinh rồi."

Lúc đó hai người đang cưỡi ngựa đi song song, đưa mắt nhìn ra thấy một vùng thảo nguyên cờ xí rợp trời, đội ngũ tề chỉnh dài dằng dặc không biết đến đâu là cùng, tứ phía đều là vệ sĩ cùng thuộc hạ.

A Tử vô cùng khoan khoái, nói: "Hôm trước tỉ phu giúp muội đoạt được chức đại sư tỉ phái Tinh Tú, muội nghĩ bụng trong phái Tinh Tú cả hai ba đời có đến mấy trăm đệ tử, ngoài sư phụ ra thì muội có quyền nhất, đã đắc ý lắm rồi. Nhưng bây giờ so với tỉ phu chỉ huy thiên quân vạn mã thật chẳng thấm vào đâu. Tỉ phu ơi, Cái Bang không cho tỉ phu làm bang chủ, ái chà, một cái bang hội nhỏ xíu đã lấy gì làm quí? Bây giờ tỉ phu đem binh mã tới giết sạch chúng cho được việc."

Tiêu Phong lắc đầu lia lịa nói: "Cô lại nói chuyện trẻ con rồi. Ta là người Khất Đan, Cái Bang không cho ta làm bang chủ là phải. Trong Cái Bang toàn là thuộc hạ cùng bằng hữu cũ của ta, sao lại giết họ?" A Tử đáp: "Bọn chúng trục xuất tỉ phu ra khỏi bang, đối xử tệ bạc thì giết đi là phải. Không lẽ lúc này tỉ phu còn coi bọn họ là bằng hữu?"

Tiêu Phong không biết nói sao, chỉ lắc đầu, nhớ đến việc mình đoạn nghĩa tuyệt giao với bạn bè ở Tụ Hiền Trang, không khỏi bùi ngùi.

A Tử lại hỏi: "Giả tỉ bọn chúng nghe tin tỉ phu làm Nam viện đại vương nước Liêu lại đâm ra hối hận, mời về làm bang chủ Cái Bang, thì tỉ phu về hay không về?" Tiêu Phong mỉm cười đáp: "Làm gì có chuyện đó? Anh hùng hảo hán ở Đại Tổng đều coi người Khất Đan là quân dã man hung ác, lại là cừu địch. Ta ở nước Liêu làm quan càng lớn thì họ lại càng căm hận." A Tử nói: "Úi chà, thế thì đã sao? Bọn chúng căm hận mình thì mình cũng căm hận lại bọn chúng."

Tiêu Phong đưa mắt nhìn về hướng nam, thấy núi non trùng điệp ở chân trời, nghĩ bụng: "Qua dãy núi kia là đến Trung Nguyên". Chàng là người Khất Đan nhưng ở phương nam từ thuở nhỏ, trong thâm tâm chàng yêu thích Đại Tống hơn Đại Liêu nhiều. Giả tỉ Cái Bang cho chàng làm một tên đệ tử hạng bét chưa được đeo túi, e rằng chàng còn khoái hơn chức Nam viện đại vương.

A Tử nói tiếp: "Tỉ phu ơi! Muội thấy hoàng thượng thật là anh minh nên mới phong tỉ phu làm Nam viện đại vương. Từ nay về sau mỗi khi nước Liêu đánh với nước nào, tỉ phu đem quân xuất chinh thể nào cũng bách chiến bách thắng. Tỉ phu chỉ cần xông vào trận địch, đánh chết nguyên soái bên kia, tất nhiên chúng sẽ vứt đao thương quì xuống xin hàng, thế là mình toàn thắng."

Tiêu Phong mỉm cười nói: "Bộ hạ của Hoàng thái thúc đều là quan binh nước Liêu, xưa nay vẫn nghe lệnh hoàng thượng. Do đó mà khi Sở vương bỏ mạng, Hoàng thái thúc bị bắt, họ mới đầu hàng. Trường hợp hai nước giao tranh thì lại khác hẳn, giết được nguyên soái thì còn phó soái, giết được đại tướng quân thì còn phó tướng. Họ chiến đấu đến cùng, ta đơn thương độc mã thì làm gì được?"

A Tử gật đầu nói: "Thì ra là thế! Tỉ phu ơi! Tỉ phu bảo là xông vào trận địch, bắn chết Sở vương, bắt Sống Hoàng thái thúc cũng chưa phải là dũng cảm, thế thì trong đời tỉ phu còn có việc gì dũng cảm thực sự? Kể cho muội nghe có được không?"

Xưa nay Tiêu Phong không thích kể cho người ta nghe những sự tích anh hùng của mình. Khi chàng còn ở Cái Bang, mỗi khi ra tay trừ gian diệt ác, dù cho ác đấu kịch liệt đến thế nào, khi về tới bản bang cũng chỉ nói sơ qua là đã giết được người này người nọ. Còn những việc từng trải gian nan, dù cho người khác vặn hỏi thế nào chàng cũng không chịu nói ra. Lúc này nghe A Tử hỏi vậy, chàng nghĩ lại đời mình đánh hàng trăm trận chưa hề chạy trốn, những chuyện dũng cảm quả là không nói làm gì. Chàng bèn đáp: "Ta đi đánh nhau, phần lớn là bị người ta ép không đánh không được, chẳng có gì gọi là dũng cảm."

A Tử nói: "Muội biết rồi! Trong đời tỉ phu dũng cảm nhất là khi ác đấu tại Tụ Hiền Trang." Tiểu Phong ngạc nhiên hỏi lại: "Làm sao cô biết?".

A Tử đáp: "Hôm trước ở Tiểu Kính Hồ, tỉ phu bỏ đi rồi, gia gia má má cùng các thủ hạ của phụ thân nói chuyện, ai cũng bội phục tỉ phu võ công đảm lược ghê gớm, đơn thân phó hội ở Tụ Hiền Trang độc đấu quần hùng, chỉ cốt để trị thương cho một thiếu nữ. Lúc đó song thân chưa biết A Châu tỉ tỉ chính là con ruột, nói tỉ phu đối với nghĩa phụ, nghĩa mẫu cùng ân sư cực kỳ tàn độc, nhưng với phụ nữ lại rất đa tình. Họ kết luận tỉ phu vong ân phụ nghĩa, tàn nhẫn hiếu sắc, quả là tệ hại xấu xa, bất cận nhân tình." Nói tới đây cô bé bật cười khanh khách.

Tiêu Phong lẩm bẩm: "Vong ân phụ nghĩa, tàn nhẫn hiếu sắc! Hỡi ơi! Anh hùng hảo hán Trung Nguyên tặng Tiêu mỗ tám chữ đó sao?" A Tử an ủi: "Tỉ phu đừng tức giận làm chi. Má má muội hết lời ca tụng tỉ phu, nói nam nhân si tình là tốt rồi, ngoài ra không còn gì quan trọng. Má má phê bình gia gia đối với tình nhân thì phụ nghĩa hiểu sắc, đối với con cái thì tàn nhẫn vô tình, không sao bì kịp tỉ phu. Tiểu muội đứng một bên cũng vỗ tay tán thành." Tiêu Phong gượng cười lắc đầu.

Đại quân đi mấy ngày thì đến Thượng Kinh. Bá quan cùng trăm họ đã được tin, ra tận ngoài xa nghênh tiếp. Soái kỳ của Tiêu Phong đi đến đâu, bách tính cũng thắp hương phục lạy, hoan hô không dứt. Chàng ra tay dẹp loạn, bảo toàn tính mạng được cho vô số quân sĩ nước Liêu. Non nửa dân số Thượng Kinh là gia quyến của quân ngự doanh, đối với chàng lại càng cảm kích. Ngựa Tiêu Phong đến đâu trăm họ reo hò đến đấy: "Đội ơn Nam Viện đại vương cứu mạng!" "Cầu trời phù hộ cho Nam viện đại vương sống lâu trăm tuổi, đại phú đại quí!"

Tiêu Phong tai nghe những lời chúc tụng, mắt thấy dân chúng nước mắt chạy quanh, quả thực thành tâm thành ý. Chàng nghĩ thầm: "Người ở ngôi cao, nhất cử nhất động đều quan hệ đến họa phúc của muôn dân. Khi ta bắn chết Sở vương, chỉ là dũng khí nhất thời, trước cứu nghĩa huynh, sau tự cứu mình, không ngờ lại là thi ân cho bách tính. Than ôi! Lúc ở Trung Nguyên ta hết sức làm điều tốt, vậy mà lại bị chê trách là kẻ đại gian đại ác đệ nhất giang hồ. Qua đến Bắc quốc, vô tình lại thành cứu tinh cho trăm họ. Chuyện thị phi thiện các thực khó mà phân biệt được."

Chàng lại nghĩ: "Nơi đây là chỗ ở của song thân ta, năm xưa chắc là hai vị thường qua lại con đường này. Ôi, ta chẳng được biết tướng mạo song thân, hai vị cưỡi ngựa rong ruổi bên nhau thế nào lại càng khó hình dung."

Thượng Kinh là kinh đô của nước Liêu. Thời bấy giờ Đại Liêu là cường quốc đệ nhất trong thiên hạ, cường thịnh hơn Đại Tống nhiều. Thế nhưng người Khất Đan sống du mục là chính, quen nay đây mai đó, quán xá cùng nhà cửa tại Thượng Kinh thật thô sơ hủ lậu, so với Trung Nguyên còn kém xa.

Quan chức thuộc Nam viện liền ra nghênh tiếp Tiêu Phong vào phủ Sở vương. Tòa vương phủ rất rộng lớn, bên trong trần thiết cực kỳ xa xỉ hoa lệ. Tiêu Phong một đời nghèo khổ, chưa từng vào nơi sang trọng như thế. Chàng đi coi một hồi thấy không quen mắt, liền sai thuộc hạ dựng hai cái lều trướng, ông và A Tử mỗi người ở một cái, sống đơn sơ giản dị như xưa.

Đến ngày thứ ba, xa giá Gia Luật Hồng Cơ cùng Hoàng thái hậu, Hoàng hậu, các phi tần, công chúa.. mới về đến Thượng Kinh, Tiêu Phong suất lãnh bá quan tiếp giá. Trong triều tấp nập bận rộn luôn mấy ngày. Đầu tiên là tiệc mừng dẹp yên đại loạn, luận công ban thưởng, phủ tuất gia đình Bắc viện khu mật sứ cùng các quan binh tử trận. Hoàng thái thúc tự biết không còn mặt mũi về đến triều đình, nên đã tự tử chết ở dọc đường. Hồng Cơ là người thủ tín, không hề truy cứu quan binh phản nghịch, chỉ xử tử hai mươi tên thuộc hạ đầu sỏ của Sở vương mưu việc phản loạn. Trong hoàng cung mở tiệc khao thưởng công lao binh sĩ, đại yến liên tiếp ba ngày. Dĩ nhiên Tiêu Phong là đệ nhất anh hùng nơi bàn tiệc. Các món ban thưởng của Gia Luật Hồng Cơ, Hoàng thái hậu, hoàng hậu, các phi tần, công chúa cùng với tặng phẩm của văn võ bá quan, đúng là chất cao như núi.

Khao thưởng xong xuôi, Tiêu Phong mới đến Nam viện xem xét công việc. Mấy chục tộc trưởng trong các bộ tộc nước Liêu đều đến tham kiến, nào là Ô Ngỗi, Bá Đức, Bắc Khắc, Nam Khắc, Thất Vi, Mai Cổ Tất, Ngũ Quốc, Ô Cổ Lạp.. rồi còn gì nữa chàng không nhớ hết. Sau đó là quan quân trong Bì thất đại trướng của hoàng đế, san quân của hoàng hậu, rồi các cấp thị vệ trong Hoằng Ninh cung, Trường Ninh cung, Vĩnh Hưng cung, Tích Khánh cung, Diên Xương cung lần lượt đến chào. Nước Liêu tổng cộng có năm mươi chín thuộc quốc, nào là Thổ Cốc Hỗn, Đột Quyết, Đảng Hạng, Sa Đà, Ba Tư, Đại Lương, Hồi Cốt, Thổ Phồn, Cao Xương, Cao Ly, Vu Khuých, Đôn Hoàng.. Những nước đó đều có sứ thần tại Thượng Kinh, nghe tin Tiêu Phong nắm giữ binh quyền, mang đến tặng những món đồ trân bảo để cầu thân. Tiêu Phong ngày ngày khi thì tiếp khách, khi gặp thuộc hạ, mắt thấy toàn là vàng bạc châu báu, tai nghe toàn những câu xưng tụng tán dương, không khỏi chán ngán.

Cứ thế đến hơn một tháng Gia Luật Hồng Cơ mới gọi ông vào điện, bảo: "Hiền đệ nhận chức Nam viện đại vương trấn thủ Nam Kinh, chờ cơ hội tiến đánh Trung Nguyên. Ca ca không muốn xa cách ngươi, nhưng muốn ngươi lập kỳ công lưu lại nghìn thu. Ngươi sớm chọn ngày thống lĩnh ba quân tiến xuống phía nam."

Tiêu Phong nghe hoàng thượng sai mình đem quân nam chinh, trong lòng kinh hãi, nói: "Tâu bệ hạ! Nam chinh là đại sự, cực kỳ quan trọng. Hạ thần chỉ là một kẻ dũng phu, quả không sở trường về quân lược."

Gia Luật Hồng Cơ cười nói: "Nước ta vừa trải qua một cơn biến loạn, phải để sĩ tốt nghỉ ngơi. Ở Đại Tống hiện nay Thái hậu đang nắm quyền, trọng dụng Tư Mã Quang, sửa sang việc triều chính không có chỗ nào sơ hở, lúc này chúng ta chưa tính chuyện nam chinh đâu. Tiêu hiền đệ! Ngươi đến trấn thủ Nam Kinh, phải luôn luôn để tâm đến việc thôn tính Nam triều. Chúng ta phải nắm bắt cơ hội, hễ Nam triều có nội biến là lập tức ra quân. Còn lúc này nội bộ họ đang vững vàng, Liêu quốc ta đem binh đến đánh ắt là dùng sức nhiều mà thành công ít."

Tiêu Phong đáp: "Vâng! Quả là như thế!" Hồng Cơ nói: "Ngươi có biết sao ta lại hiểu Nam triều nội chính khéo léo, nhân tâm qui phục hay không?" Tiêu Phong đáp: "Thần mong được bệ hạ chỉ điểm." Hồng Cơ cười ha hả nói: "Đường lối xưa nay vẫn thế, cứ việc đem nhiều tiền bạc mua kẻ gian tế làm gián điệp. Ở phương Nam thiếu gì kẻ tham tiền hèn hạ vô liêm sỉ, ngươi hãy ra lệnh cho Nam viện khu mật sứ đừng tiếc tài vật, vung tiền ra mua được càng nhiều càng tốt."

Tiêu Phong vâng lệnh lui ra, trong lòng buồn bã. Chàng trước nay chỉ kết giao với anh hùng hào kiệt, tuy chứng kiến đã nhiều chuyện hãm hại, mai phục, hạ độc, nhưng giết người đốt nhà thì có, chứ đem tiền bạc đi mua chuộc người thì chưa bao giờ. Hơn nữa, chàng là người Liêu nhưng được nuôi dưỡng ở Trung Nguyên từ ngày còn thơ ấu cho đến lúc trưởng thành, bây giờ được hoàng đế giao cho việc tính toán tiêu diệt nhà Đại Tống, trong lòng chán nản, nghĩ thầm: "Ca ca có lòng tốt phong ta làm Nam viện đại vương, nếu ta từ quan ngay thì không khỏi phụ tấm thịnh tình, sứt mẻ tình nghĩa huynh đệ. Ta cứ xuống Nam Kinh làm quan sáu tháng một năm rồi xin từ chức cũng chưa muộn. Khi đó giả tỉ nghĩa huynh không chịu, thì ta mới treo ấn bỏ đi, ca ca cũng đành chịu chứ chẳng làm gì được." Chàng nghĩ thế bèn suất lãnh bộ thuộc, dắt A Tử xuống Nam Kinh.

Nam Kinh của Đại Liêu chính là Bắc Kinh ngày nay, khi đó còn gọi là Yên Kinh hoặc U Đô, là kinh đô của U Châu. Khi xưa Thạch Kính Đường được nước Liêu hết sức giúp đỡ lập nên nhà Hậu Tấn, nên cắt mười sáu châu Yên Vân để đền ơn. Mười sáu châu Yên Vân bao gồm U, Kế, Trác, Thuận, Đàn, Doanh, Mạc, Tân, Quy, Nho, Võ, Úy, Vân, Ứng, Hoàn, Sóc đều là những nơi quan trọng ở Ký Bắc, Tấn Bắc. Sau khi mười sáu châu này được cắt cho nước Liêu rồi, ba triều Hậu Tấn, Hậu Chu, Đại Tống đều đã nhiều phen chinh phạt, mà vẫn không lấy lại được. Mười sáu châu Yên Vân địa thế rất thuận lợi cho nước Liêu đồn trú trọng binh, mỗi lần đem quân xuống đánh phương nam chỉ phải tràn qua một dải bình nguyên, bên Đại Tống không có địa thế gì để phòng thủ. Hơn trăm năm qua Tống Liêu giao binh, Đại Tống thắng ít thua nhiều, hiển nhiên chủ yếu là do lực lượng không bằng, nhưng người Liêu từ cao đánh xuống khống chế được chiến trường cũng có phần tiện nghi rất lớn.

Tiêu Phong vào thành rồi, thấy phố xá ở Nam Kinh rộng rãi, thị tứ phồn hoa hơn Thượng Kinh nhiều. Người đi đường đều là dân chúng Nam triều, bên tai nghe toàn tiếng nói Trung Nguyên, thật chẳng khác gì đã quay về Trung Thổ. Tiêu Phong và A Tử đều rất vui thích, hôm sau liền ăn mặc giản dị, đi du ngoạn khắp nơi.

Thành Yên Kinh vuông vức ba mươi sáu dặm, có tới tám cửa. Phía đông là cửa An Đông, cửa Nghinh Xuân; phía nam là cửa Khai Dương, cửa Đan Phượng; phía tây là cửa Hiển Tây, cửa Thanh Tấn; còn phía bắc là cửa Thông Thiên, cửa Củng Thần. Hai cửa phía bắc gọi là Thông Thiên, Củng Thần có ngụ ý thần phục phương Bắc, tuân theo thánh chỉ của hoàng đế Bắc quốc. Vương phủ của Nam viện đại vương ở về phía tây nam. Tiêu Phong và A Tử đi chơi được nửa ngày, thấy chợ búa, phố xá, chùa chiền san sát khắp nơi, không phải đi xem một lúc mà hết được.

Khi đó Tiêu Phong giữ chức Nam viện đại vương, không chỉ cai quản mười sáu châu Yên Vân, mà cả phủ Đại Đồng thuộc đạo Tây Kinh, phủ Đại Định thuộc đạo Trung Kinh cũng phải tuân theo lệnh chàng. Vì oai quyền quá lớn, chàng không thể ở trong lều trướng lụp xụp được, đành dọn vào vương phủ. Ông trông coi công việc mấy ngày, thấy đầu vàng mắt hoa thật là khổ sở, thấy Nam viện khu mật sự là Gia Luật Mạc Ca tinh minh mẫn cán, quen thuộc chính vụ, liền giao hết cho y.

Tuy nhiên làm quan to cũng có chỗ hay, trong vương phủ không thiếu gì dược phẩm quý giá, A Tử tha hồ dùng làm thức ăn hàng ngày. Nhờ bổ dưỡng như thế, nội thương của nàng mỗi ngày một đỡ, đến đầu mùa đông đã có thể đi lại một mình. Nàng đã dạo chơi khắp trong thành Yên Kinh, về sau lại bảo Thất Lý đưa đi du ngoạn ngoài thành trong phạm vi mười dặm.

Một hôm trời vừa tạnh mưa tuyết, A Tử mặc áo cừu vào điện Tuyên giáo của Tiêu Phong, nói: "Tỉ phu ơi! Tiểu muội ở trong thành mãi chán quá. Tỉ phu dắt muội đi săn nhé!"

Tiêu Phong ở trong cung điện đã lâu cũng thấy ngán ngẩm, nghe nàng nói thế trong bụng cũng khoái, bèn sai thuộc hạ chuẩn bị ngựa để ra ngoài săn bắn. Chàng chỉ đem vài tên tùy tùng để phục thị A Tử, lại ngại làm kinh động đến dân gian nên thay áo lông cừu quân sĩ thường mặc, rồi đeo cung, giắt tên, nhảy lên ngựa cùng A Tử đi ra cửa Thanh Tấn ở phía tây thành.

Đoàn người ra khỏi thành hơn chục dặm, mới bắn được mấy con thỏ. Tiêu Phong nói: "Chúng ta thử qua phía nam xem thế nào." Chàng quay đầu ngựa sang hướng nam, lại đi hơn hai chục dặm, thấy một con hươu nhỏ từ trong bụi chạy ra. A Tử lắp tên vào cung, ngờ đâu cánh tay còn yếu quá, không giường cánh cung lên được. Tiêu Phong đưa tay trái quàng sau lưng A Tử nắm lấy cây cung, tay phải kéo dây cung rồi buông tay nghe vút một tiếng, mũi vũ tiễn phóng ra, con hươu ngã ngay xuống. Bọn tùy tùng reo ầm cả lên.

Tiêu Phong buông tay ra, nhìn A Tử mỉm cười, bỗng thấy mắt nàng ươn ướt thì lấy làm kỳ, hỏi: "Sao thế? Cô không thích ta giúp bắn dã thú ư?" A Tử nước mắt chảy dài xuống má, thổn thức đáp: "Muội.. muội thành phế nhân mất rồi, giương cái cung tầm thường cũng chẳng xong." Tiểu Phong dỗ dành: "Cô đừng nóng nảy, khí lực sẽ dần dần hồi phục. Nếu sau này vẫn không khỏi, ta sẽ truyền cho cô phép tập luyện nội công, thể nào cũng tăng gia khí lực." A Tử đang khóc, bật cười nói: "Tỉ phu đã nói thì phải giữ lời, thể nào cũng dạy muội rèn luyện nội công đấy nhé." Tiêu Phong đáp: "Cô cứ yên tâm! Ta nhất định dạy cho cô."

Đang lúc nói chuyện, bỗng nghe hướng nam có tiếng vó ngựa dồn dập, một đại đội nhân mã chạy tới trên mặt tuyết. Tiêu Phong đưa mắt nhìn ra, thấy đội này toàn là quan binh người Liêu, nhưng không giương cờ hiệu. Chúng vừa đi vừa nói chuyện xôn xao, ca hát vang lừng, sau ngựa buộc theo khá nhiều tù binh, tưởng chừng như vừa thắng trận trở về. Tiêu Phong tự hỏi: "Mình đâu có giao chiến với ai, bọn này đánh trận ở đâu trở về thế kia?". Chàng thấy đám quan binh rẽ qua phía đông trở về thành, liền quay sang bảo một tên tùy tùng: "Ngươi lại hỏi bọn kia, xem chúng đi đâu về?" Gã tùy từng liền đáp: "Vâng" rồi nói: "Chắc là các anh em đi thu hoạch về." Y giục ngựa chạy thẳng đến chỗ bọn kia.

Y tới gần bèn nói mấy câu. Bọn quan binh nghe nói Nam Viện đại vương đang ở tại đây liền lớn tiếng reo hò, lập tức nhảy xuống đất, tay cầm dây cương dắt ngựa tới trước Tiêu Phong, khom lưng thi lễ rồi hô to: "Đại vương thiên tuế!"

Tiêu Phong giơ tay đáp lễ, bảo: "Được rồi!" Chàng thấy đoàn quân này phải hơn tám trăm người, trên lưng ngựa chất đầy quần áo đồ dùng. Số người bị bắt cũng đến bảy tám trăm, phần lớn là phụ nữ còn trẻ nhưng cũng có một số thanh niên, đều mặc y phục người Tống, ai nấy khóc lóc kêu gào.

Gã đội trưởng nói: "Hôm nay đến phiên đội Hắc Lạp Đốc bọn thuộc hạ đi thu hoạch, nhờ hồng phúc đại vương nên kiếm được cũng kha khá." Y quay lại ra lệnh: "Các ngươi đem những cô gái xinh đẹp nhất, vàng bạc châu báu quí giá nhất dâng lên, xin đại vương thiên tuế thu dụng." Bọn quan binh cùng hô to: "Tuân lệnh!" Chúng lựa ra hơn hai chục cô gái đẩy đến trước đầu ngựa Tiêu Phong, lại gói rất nhiều đồ kim ngân trang sức đầy một tấm chăn da. Bọn lính Khất Đan chăm chú nhìn Tiêu Phong, ánh mắt đầy vẻ tôn kính, hiển nhiên nếu được Nam Viện đại vương thu dụng đám mỹ nữ và vàng bạc này thì lấy làm vinh dự lắm.

Ngày trước Tiêu Phong ở ngoài Nhạn Môn Quan đã thấy quan binh nhà Đại Tống bắt người Khất Đan, lần này lại thấy quan binh Khất Đan đi bắt người Đại Tống, những người bị bắt đều thê thảm khốn khổ chẳng khác gì nhau. Chàng ở nước Liêu ít lâu, hiểu biết đại khái quân tình Liêu quốc. Triều đình nước Liêu không phát lương thảo cho quân đội mà cũng không trả tiền. Quan binh cần gì đều phải cướp đoạt của bên địch, mỗi ngày đều sai lính qua đánh cướp các nước lân bang Đại Tống, Tây Hạ, Nữ Chân, Cao Ly. Công việc này họ gọi là "thu hoạch", mà thực ra là hành động của quân cường đạo. Quan binh Tống triều cũng qua thu hoạch của người Liêu để trả thù. Vì thế mà dân chúng ở vùng biên giới cực kỳ khổ sở, ngày nào cũng nơm nớp, sáng lo chiều, chiều lo tối. Tiêu Phong thấy những hành động này cực kì tàn nhẫn vô đạo, có điều chàng không tính chuyện lâu dài, chỉ định bụng giữ chức một thời gian rồi xin cáo quan ở ẩn, thành thử không đưa ra chủ trương gì về các việc quân quốc đại sự. Nhưng bây giờ chính mắt chàng thấy thảm trạng những người bị bắt, không khỏi đem lòng thương hại, bèn hỏi gã đội trưởng: "Ngươi đi thu hoạch ở đâu về thế?"

Gã đội trưởng cung kính đáp: "Bẩm đại vương, bọn tiểu nhân đi thu hoạch bên ngoài địa hạt Trác Châu, bên Đại Tống. Từ khi đại vương tới đây, thuộc hạ không dám đi thu hoạch quanh bản châu nữa."

Tiêu Phong nghĩ thầm: "Thế thì trước đây bọn chúng vẫn cướp bóc người Tống ngay trong châu quận này." Chàng dùng tiếng Hán hỏi một thiếu nữ đang đứng trước đầu ngựa: "Cô là người ở đâu?" Thiếu nữ kia quì xuống, khóc lóc đáp: "Tiểu nữ là người ở Trương gia thôn, cầu đại vương khai ân, tha cho tiểu nữ trở về đoàn tụ với song thân." Tiêu Phong quay đầu nhìn bọn kia, hết thảy mấy trăm người bị bắt đều quì xuống, chỉ có một thanh niên đứng sừng sững không chịu quì.

Tên này trạc mười sáu mười bảy tuổi, mặt dài mà gầy, cằm nhọn, đôi mắt láo liên không có vẻ khiếp sợ. Tiêu Phong liền hỏi: "Chú bé kia! Nhà ngươi ở đâu?" Gã đáp: "Tiểu nhân có một việc cơ mật, muốn bẩm lên đại vương." Tiêu Phong đáp: "Được, ngươi lại đây!" Gã đưa hai tay đang bị dây thừng trói chặt lên, nói: "Xin đại vương dời ra xa bọn thuộc hạ, việc này không thể để người ngoài nghe thấy được." Tiêu Phong động tính hiếu kỳ, tự hỏi: "Một thằng nhỏ thế này làm gì mà biết được chuyện cơ mật đại sự? Gã từ biên giới phía nam qua đây, chắc là biết chuyện gì về quân tình Đại Tống chăng?" Chàng đã có bụng khinh khi gã là người Tống mà đem chuyện cơ mật bẩm báo cho người Khất Đan, là loại Hán gian vô liêm sỉ, nhưng nghe nói là có chuyện cơ mật trọng đại, có nghe cũng chẳng hề gì, bèn phóng ngựa ra khoảng chục trượng, vẫy tay bảo: "Lại đây!"

Gã thanh niên kia liền chạy tới, giơ hai tay lên nói: "Xin đại vương cắt dây trói, tiểu nhân có vật để trong bọc muốn trình lên." Tiêu Phong rút đơn đao cài sau lưng, vung lên chém xuống, thế đao tưởng chừng chẻ y làm đôi nhưng lại rất chuẩn xác, chỉ cắt đứt sợi dây thừng trói hai tay. Gã hoảng hốt, lùi lại hai bước, ngẩn ra nhìn Tiêu Phong. Tiêu Phong mỉm cười, tra đao vào vỏ, hỏi: "Ngươi có cái gì?"

Gã thanh niên thò tay vào bọc, móc ra một vật cầm trong tay, nói: "Đại vương xem thì biết." Gã nói xong liền đến trước đầu ngựa Tiêu Phong, chàng đưa tay ra toan đón lấy. Đột nhiên, gã ném thẳng vật ở trong tay vào mặt Tiêu Phong, chàng vung roi ngựa lên đánh văng ra ngoài, thì ra là một cái túi nhỏ. Cái túi đó rơi xuống đất, bột trắng tung tóe khắp nơi, chính là một túi vôi sống, nếu ném trúng vào mắt là mù ngay lập tức. Đây là một thủ đoạn thấp hèn mà bọn trộm gà bắt chó, đạo tặc hạng bét thường dùng.

Tiêu Phong hừ một tiếng, nghĩ thầm: "Thằng nhỏ này to gan thật, thì ra không phải Hán gian". Chàng hỏi: "Ngươi tên là gì? Sao lại cố ý hại ta?" Gã mím chặt môi, không trả lời. Tiêu Phong dịu giọng nói: "Ngươi cứ nói đi, ta sẽ tha mạng cho." Gã đáp: "Ta đến báo thù cho song thân không được, chẳng còn gì để nói nữa." Tiêu Phong hỏi: "Song thân ngươi là ai? Không lẽ bị ta giết chết sao?"

Gã thanh niên tiến lên hai bước, mặt đầy vẻ bi phẫn, trỏ tay vào mặt Tiêu Phong lớn tiếng mắng: "Kiều Phong! Ngươi giết chết gia gia, má má, cả bá phụ ta, ta hận.. hận không thể ăn tươi nuốt sống, rút gân lột da, xé xác ngươi thành muôn mảnh."

Tiêu Phong nghe y gọi cái tên cũ của mình, lại mắng mình giết song thân và bá phụ, chắc là một món nợ ngày trước ở Trung Nguyên. Chàng bèn hỏi: "Bá phụ cùng phụ thân ngươi là ai?" Gã đáp: "Ta không muốn sống nữa, cũng cần cho ngươi biết, nam nhi họ Du ở Tụ Hiền Trang không phải là phường tham sinh úy tử."

Tiêu Phong "À" lên một tiếng rồi nói: "Thì ra ngươi là con cháu của Du Thị Song Hùng, như vậy lệnh tôn là Du Câu nhị gia." Chàng ngừng lại một chút, nói tiếp: "Hôm đó ta bị quần hùng Trung Nguyên vây đánh ở quí trang, bắt buộc phải ứng chiến, đó là việc bất đắc dĩ. Lệnh tôn và lệnh bá phụ đều tự vẫn mà chết đấy chứ!" Tới đây chàng lắc đầu nói tiếp: "Hỡi ôi! Tự vẫn hay bị giết thì cũng chẳng khác gì nhau. Hôm đó ta đoạt mất binh khí của bá phụ và gia gia ngươi để đến nỗi họ phải tự vẫn. Tên ngươi là gì?"

Gã thanh niên đứng ưỡn ngực ra lớn tiếng đáp: "Ta là Du Thản Chi. Ta không cần ngươi phải giết, quyết noi theo gương sáng của bá phụ và gia gia." Nói xong, gã thò tay vào ống quần, rút ra một thanh đoản đao, giơ lên đâm vào ngực. Tiêu Phong lại vung roi ngựa ra quấn lấy thanh đao, đoạt mất. Du Thản Chi cả giận mắng: "Ta muốn tự vẫn, ngươi cũng không cho ư? Tên Liêu cẩu đáng chết kia, mi thật là lòng lang dạ thú!"

Lúc này A Tử đã giục ngựa đến bên Tiêu Phong, quát lên: "Thằng tiểu quỉ kia, sao dám mở miệng mắng người? Ngươi muốn chết ư? Ha ha, chẳng phải dễ đâu." Đột nhiên Du Thản Chi nhìn thấy một cô gái xinh đẹp thanh tú, gã đứng ngây người ra mà nhìn, không nói nên lời. A Tử lại nói: "Tiểu quỉ! Cái cảnh mù lòa thích thú lắm, ta sẽ cho ngươi được nếm mùi." Nàng quay lại nói với Tiêu Phong: "Tỉ phu! Tên tiểu tử này thật là hiểm độc, dám dùng vôi sống để ám toán. Chúng ta lại dùng vôi đó hất vào mắt y cho biết."

Tiêu Phong lắc đầu, quay sang bảo tên lãnh binh đội trưởng: "Hôm nay các ngươi đi thu hoạch, bắt được bao nhiêu người Tống đều giao lại cho ta, có được chăng?". Gã đội trưởng mừng rỡ vô cùng, vội đáp: "Được đại vương để mắt tới thì còn gì bằng, bọn thuộc hạ xin đa tạ ân đức." Tiêu Phong nói: "Quan binh nào bắt được từ binh, nhớ đến vương phủ lĩnh thưởng." Hắn vui vẻ đáp: "Bọn tiểu nhân thành tâm dâng lên đại vương, không cần ban thưởng." Tiêu Phong nói: "Các ngươi để những kẻ bị bắt lại đây, về thành trước đi, nhớ đến lãnh thưởng". Bọn quan binh khom lưng tạ ơn. Gã đội trưởng nói: "Vùng này không có bao nhiêu dã thú, chắc đại vương muốn đem bọn Tống trư làm bia sống chứ gì? Trước đây Sở vương vẫn thích trò này lắm. Tiếc là hôm nay bọn thuộc hạ bắt được phần nhiều là đàn bà, chạy không nhanh. Lần sau sẽ cố bắt những con heo Tống khỏe mạnh". Y nói xong thi lễ, kéo quân về.

Câu nói "muốn đem bọn Tống trư làm bia sống" vừa lọt vào tai, Tiêu Phong không khỏi rùng mình, trước mắt hiện ra cái cảnh tàn bạo của Sở vương năm xưa: Mấy trăm người Tống chạy thục mạng trên mặt tuyết chẳng khác gì dã thú, trong khi những bậc quí nhân Khất Đan cười ha hả, giương cung lắp tên bắn chết để giả trí. Còn người Tống nào chạy được xa, quân Khất Đan cưỡi ngựa reo hò đuổi theo, chẳng khác gì săn nai đuổi chồn, rốt cuộc cũng bắn chết hết. Bọn Khất Đan nhắc đến chuyện thảm khốc này không hề đổi giọng, hẳn là trước đây đã quen như thế. Chàng đưa mắt nhìn bọn người bị bắt, thấy ai nấy mặt tái mét, run cầm cập trong gió rét buốt. Dân chúng vùng biên giới này phần lớn hiểu tiếng Khất Đan, nghe đến chuyện bắn bia sống, sợ đến mất cả hồn vía.

Tiêu Phong thở dài sườn sượt, nhìn xuống núi non trùng điệp ở phương Nam, nghĩ thầm: "Giả tỉ thân thế mình không bị tiết lộ thì đến bây giờ ta vẫn nghĩ mình là dân Đại Tống. Ta cùng bọn người này cùng nói một thứ tiếng, cùng ăn một thứ cơm, có khác chỗ nào đâu? Vì sao đã là người, lại phải phân chia ra Khất Đan, Đại Tống, Nữ Chân, Cao Ly gì gì để làm chi? Ngươi sang đất ta thu hoạch, ta sang đất ngươi đốt nhà. Ngươi chửi ta là Liêu cẩu, ta mắng ngươi là Tống trư." Mất đến một lúc, lòng chàng cảm khái, tư tưởng cuồn cuộn như sóng biển.

Tiêu Phong nhìn lại, thấy đám quan binh Khất Đan đã đi khuất rồi, bèn quay sang bảo đám nạn dân: "Bữa nay ta tha các ngươi về, mau chạy ngay đi!" Bọn người bị bắt vẫn tưởng Tiêu Phong thả cho họ chạy, sau đó sẽ bắn bia sống, nên vẫn chần chừ đứng đó. Tiêu Phong lại giục: "Các ngươi về rồi, tốt nhất là rời xa biên giới, để khỏi bị chúng đi thu hoạch mang về nữa. Ta chỉ cứu các ngươi được một lần, không cứu được lần thứ hai đâu."

Bấy giờ bọn nạn dân mới tin là thật, reo hò mừng rỡ quỳ mộp cả xuống, dập đầu nói: "Đại vương ân đức tày non, tiểu dân về nhà sẽ cầu trời khấn phật cho đại vương sống lâu, ở ngôi cao mãi mãi." Bọn họ đã biết thân làm dân Tống bị quân Liêu bắt được rồi, trừ người giàu có đem tiền bạc gấm vóc ra chuộc mạng, còn không thì bỏ xác đất người, đến nắm xương cũng không được mang về xứ. Nhưng hai nước Tống Liêu giao tranh đã lâu năm, người giàu có đều di cư vào nội địa cả rồi, ở vùng biên giới chỉ còn lại dân nghèo khổ, làm gì có tiền chuộc mạng? Ai cũng biết thân phận mình không bằng súc vật, được vị đại vương nước Liêu tha cho về, nỗi vui mừng biết lấy chi cân?

Tiêu Phong thấy bọn nạn dân vui mừng dắt díu nhau đi về phía nam, nghĩ thầm: "Người Khất Đan ta bắt họ tới đây, rồi lại thả họ về, khiến bọn họ phải nhọc nhằn khiếp sợ, còn có gì gọi là ân đức?".

Chàng thấy những người khốn khổ kia đi đã xa, chỉ còn Du Thản Chi sừng sững đứng đó, bèn nói: "Sao ngươi không chạy đi? Ngươi đã có lộ phí trở về Trung Nguyên chưa? Chàng vừa nói vừa thò tay vào bọc, định cho y ít tiền, nhưng trong túi không có đồng nào, chỉ có một cái gói giấy dầu nhỏ. Tiêu Phong bỗng chua xót trong lòng, nhớ ra trong cái gói là bộ Dịch Cân Kinh viết bằng chữ Phạn mà hôm trước A Châu ăn trộm được ở chùa Thiếu Lâm, bắt chàng phải cầm lấy. Nay người mất mà kinh còn, trông thấy di vật làm sao chàng chẳng đau thương? Tiêu Phong thuận tay bỏ cái gói trở lại vào bọc, nói:" Hôm nay ta đi săn không mang theo tiền. Nếu ngươi không có tiền tiêu thì theo ta về thành mà lấy. "Du Thản Chi lớn tiếng nói:" Gã họ Kiều kia! Mi muốn giết thì giết, muốn mổ thì mổ, không được bày trò làm nhục ta. Du mỗ dù có chết đói cũng không thèm nhận một đồng một chữ của mi. "

Tiêu Phong nghĩ rằng gã nói không sai, mình là kẻ thù giết cha gã, mối thù không đội trời chung chẳng thể nào hóa giải, nói nhiều cũng vô ích. Chàng bèn bảo:" Ta không giết ngươi! Ngươi muốn báo thù thì lúc nào cũng có thể đến kiếm ta. "

A Tử vội nói:" Tỉ phu ơi, không thả y được. Tên tiểu tử này nếu báo thù cũng không dùng võ công đàng hoàng chân chính, chỉ dùng thủ đoạn hạ lưu. Chi bằng nhổ cỏ tận gốc để khỏi di họa về sau. "

Tiêu Phong lắc đầu:" Trên giang hồ bước nào cũng có chông gai, nơi nào cũng đầy hung hiểm, ta đi qua cả rồi. Gã thiếu niên này không làm gì nổi ta đâu. Ngày trước ta khiến cho bá phụ cùng phụ thân y phải tự vẫn, quả thực không cố ý, nhưng cũng là món nợ máu ta thiếu đã lâu. Có lý nào ta lại giết cả con cháu Du Thị Song Hùng nữa? "Chàng nói tới đây, thấy trong lòng chán nản bèn bảo:" A Tử! Chúng ta về thôi. Hôm nay chẳng còn gì mà săn bắn nữa. "A Tử bĩu môi nói:" Tiểu muội muốn bắt gã này về nghĩ cách hành hạ một phen cho bõ ghét! Tỉ phu thả y rồi, tiểu muội về thành còn có gì vui đâu? "Nhưng nàng không dám trái ý Tiêu Phong, đành quay đầu ngựa, cùng Tiêu Phong trở về. Đi được mấy trượng, nàng quay mặt lại nói:" Thằng lỏi kia! Ngươi về luyện võ công thêm một trăm năm nữa, rồi hãy đi kiếm tỉ phu ta báo thù."Nói xong nàng mỉm cười, giơ roi quất ngựa chạy nhanh.

Comments

0 comments

Trước Tiếp
 
34,431 ❤︎ Bài viết: 2241 Tìm chủ đề
Hồi 28: Chịu thảm hình, trở thành "thiết sửu"

Du Thản Chi thấy Tiêu Phong dẫn người đi về phía tây trước sau vẫn không quay lại, mới tin là mình đã thoát chết. Gã lẩm bẩm một mình: "Sao tên gian tặc này lại không giết ta? Chắc y coi ta chẳng vào đâu, không thèm giết cho bẩn tay. Nay y đã làm tới chức đại vương gì gì đó ở nước Liêu, từ đây về sau việc báo thù của ta lại càng khó khăn gấp bội. Nhưng may mà ta đã biết y ở chỗ nào."

Du Thản Chi cúi xuống nhặt gói vôi sống, sau đó cố tìm lưỡi trủy thủ đã bị Tiêu Phong vung roi ngựa cướp lấy. Bỗng gã thấy trong bụi cỏ ở bên trái có một cái gói giấy dầu, chính là cái gói khi nãy Tiêu Phong lấy trong bọc ra. Gã liền nhặt lên mở ra xem, thì ra là một cuốn sách, giở thử mấy trang thì toàn là văn tự ngoằn ngoèo kỳ quái, chẳng hiểu được gì. Thì ra Tiêu Phong nhìn thấy vật lại nhớ đến người mà lòng đã thẫn thờ, lúc cất Dịch Cân Kinh, không bỏ vào trong túi lại bỏ ra ngoài. Khi chàng cưỡi ngựa chạy đi, gói giấy dầu liền rớt xuống bụi cỏ mà không hay biết.

Gã nghĩ thầm: "Đây chắc là văn tự Khất Đan, cuốn sách này hẳn là vật hữu dụng của tên gian tặc nên y mới đem theo trong mình. Ta không thèm trả lại, để y cuống cuồng khổ sở cho bõ ghét!" Du Thản Chi nghĩ mình lấy được cuốn sách của Tiêu Phong tất làm khó cho y, liền cảm thấy khoan khoái trong lòng, cho là như vậy cũng báo thù cho phụ thân được chút ít. Gã gói cuốn sách lại vào tờ giấy dầu, cất kỹ trong túi rồi nhắm hướng nam mà đi.

Từ thuở nhỏ, Du Thản Chi đã theo phụ thân học võ, nhưng tư chất kém cỏi, thân thể ốm yếu nên không hợp với võ công cương mãnh ngoại gia của Du Thị Song Hùng. Gã học võ ba năm chẳng ăn thua gì, thật không xứng đáng là danh gia tử đệ. Du Thản Chi học võ đến năm mười hai tuổi, phụ thân gã là Du Câu chán ngán, bàn cùng bá phụ gã là Du Ký: "Không ngờ nhà họ Du ta lại sinh ra con mèo què, để ra ngoài thì thiên hạ phải cười đến sái quai hàm. Hơn nữa khi người ngoài biết gã là con cháu Du Thị Song Hùng, thì họ phải dùng hết sức mà xuất thủ, chỉ một chiêu là gã phải uổng mạng. Chúng ta cho gã học văn để bảo toàn mạng sống còn tốt hơn". Thế là từ năm mười hai tuổi, Du Thản Chi không học võ nữa, theo thầy đồ đọc sách.

Song gã đọc sách cũng hay chểnh mảng, tâm trí cứ nghĩ đâu đâu. Một hôm thầy đồ dạy cho Du Thản Chi câu nói của Khổng Tử: "Học nhi thời tập chi, bất diệc lạc hồ" (Việc học siêng năng và chuyên cần, ắt thấy hứng thú ). Gã nói: "Sư phụ nói thế, đệ tử chưa hiểu là nói về việc gì. Gia gia dạy đệ tử tập quyền, đệ tử rất siêng năng và chuyên cần mà chẳng thấy hứng thú chi hết." Sư phụ gã tức mình nói: "Đức Khổng Tử chỉ nói đến học thuyết của thánh hiền để dựng đại nghiệp kinh bang tế thế, chứ ngài nói đến cái việc đánh quyền múa gậy để làm gì?" Du Thản Chi liền nói: "Được lắm! Sư phụ bảo bá phụ cùng gia gia đệ tử đánh quyền múa gậy là chẳng ra gì. Đệ tử phải đem chuyện này tố cáo với gia gia." Đại khái là gã chọc giận để thấy đồ tức mình phải bỏ đi, hết thầy này đến thầy khác. Du Câu đã đánh gã không biết bao nhiêu lần, song càng đánh gã càng quật cường bướng bỉnh. Du Câu thấy con cứng đầu khó dạy cũng chẳng biết làm thế nào, chỉ thở dài rồi bỏ mặc gã muốn làm gì thì làm. Vì thế nên Du Thản Chi đã mười tám tuổi, lại con nhà danh giá mà vẫn văn dốt vũ dát. Từ khi bá phụ cùng phụ thân gã tự vẫn chết, thì mẫu thân cũng đập đầu vào cột tuẫn tiết theo, thì gã lênh đênh cô khổ, lưu lạc khắp nơi. Thâm tâm gã chỉ muốn đi tìm Tiêu Phong để báo thù.

Hôm đại chiến ở Tụ Hiền Trang, Du Thản Chi có nấp ở sau nhà để xem đánh nhau nên đã nhớ rõ mặt Tiêu Phong. Gã nghe nói chàng là người Khất Đan, thế là cứ đi bừa về hướng Bắc. Y thấy trên giang hồ có tên du đãng dùng vôi bột ném mù mắt địch nhân, cảm thấy cách này có thể dùng được. Một hôm gã đến vùng biên giới rồi bị bọn kỵ binh Khất Đan đi thu hoạch bắt, tự nhiên lại gặp Tiêu Phong. Đó quả là một chuyện ông trời sắp đặt, không hẹn mà nên. Gã được Tiêu Phong tha rồi, vừa đi vừa nghĩ bụng: "Bây giờ mình phải chạy càng xa càng tốt để khỏi bị quân Khất Đan bắt lại. Rồi mình sẽ đi bắt rắn độc, tìm cách vứt vào giường Tiêu Phong, y chui vào chăn là bị cắn chết ngay. Còn vị tiểu cô nương kia.. Trời ơi! Sao nàng lại xinh đẹp thế?"

Gã nhớ đến dung mạo A Tử, bất giác nhiệt huyết nổi lên bừng bừng. Càng nhớ đến bộ mặt xanh mét nhưng thanh nhả mỹ miều của cô gái kia, trong lòng gã lại càng sung sướng vô cùng!

Du Thản Chi cắm đầu đi mau, chỉ một lát đã qua mặt bọn nạn dân. Có người gọi cùng đi cho có bạn, nhưng gã cũng mặc, chỉ lầm lũi một mình. Du Thản Chi đi được mấy dặm thì bụng đói như cào, nhìn tả nhìn hữu để xem có thứ gì ăn được không, nhưng ở thảo nguyên bát ngát ngoài cỏ khô cùng tuyết trắng, chẳng có thứ gì nữa. Gã lẩm bẩm: "Giả tỉ mình là con bò hay con cừu lại tốt hơn, chỉ gặm cỏ uống tuyết cũng khoan khoái rồi. Hừ! Nhưng nếu mình là con cừu, người ta giết gia gia, má má là hai con cừu già để ăn thịt thì mình có báo thù không? Thù giết song thân không đội trời chung, lẽ nào không báo? Nhưng báo thù bằng cách nào? Mình lấy sừng húc kẻ đã giết gia gia mình ư? Cũng vô lý, người ta nuôi bò nuôi cừu là để ăn thịt, sao lại nói đến chuyện báo thù với chẳng báo thù?"

Du Thản Chi đang nghĩ vẩn vơ, bỗng nghe thấy tiếng vó ngựa dồn dập. Ba tên kỵ binh Khất Đan đang ruổi ngựa trên mặt tuyết đến gần, vừa thấy gã thì reo hò mừng rỡ. Một tên quân Khất Đan tung thòng lọng ra trong vào cổ gã rồi giật mạnh một cái. Gã thấy nghẹt cổ khó thở, vội giơ tay toan gỡ ra, không ngờ tên Khất Đan huýt lên một tiếng còi rồi giật cương cho ngựa chạy nhanh. Du Thản Chi chân đứng không vững, té lăn xuống đất rồi bị tên Khất Đan lôi xệch đi. Gã kêu lên mấy tiếng thật to, nhưng cổ họng liền bị siết chặt lại, không kêu được nữa.

Tên lính Khất Đan sợ Du Thản Chi chết ngạt nên dừng ngựa lại. Gã lóp ngóp bò dậy, vừa nới dây thòng lọng ở cổ ra một chút thì tên Khất Đan lại giật mạnh một cái, gã lảo đảo suýt ngã phịch xuống. Ba tên lính Khất Đan thấy vậy lại cười ồ, rồi một tên lớn tiếng nối xí xố với Du Thản Chi mấy câu, nhưng gã không hiểu tiếng Khất Đan chỉ lắc đầu quầy quậy. Tên Nhất Đan lại quất ngựa chạy, lần này không nhanh như trước. Du Thản Chi sợ nghẹt cổ không thở được, phải hấp tấp chạy theo, cứ bước hai bước chạy ba bước mới kip.

Ba tên kỵ binh Khất Đan cứ phi về hướng bắc, Du Thản Chi không khỏi hoảng hồn mắng thầm: "Thằng cha Kiều Phong này giả nhân giả nghĩa, bảo tha mình rồi lại cho quân rượt theo bắt lại, Phen này bị y bắt được, chắc khó lòng thoát chết!" Từ ngày Du Thản Chi bỏ nhà đi về phương Bắc, lúc nào cũng nghĩ đến việc báo thù mà chẳng biết trời cao đất rộng là gì. Gã đột ngột gặp Tiêu Phong, cảnh tượng song thân bị thảm tử hiện ra trước mắt, nhiệt huyết sôi lên sùng sục. Gã cứ tưởng ném vôi bột ra là Tiêu Phong mù mắt ngay rồi rút dao đâm chết, nhưng ném không trúng, thế là chí khí lại tiêu tan. Gã đã tưởng may mắn thoát chết, ngờ đâu bị quân Khất Đan bắt lại.

Lần trước bọn Khất Đan đi thu hoạch bắt được gã, cho đi theo dám phụ nữ. Dĩ nhiên đám này không đi nhanh được, nên gã đi theo chẳng khó nhọc gì, cũng không bị hành hạ, chỉ trừ một sống đao đánh vào lưng lúc bị bắt mà thôi. Lần này khác hẳn, gã đã bị ngựa lôi xệch đi, cứ chạy được vài chục bước lại trượt chân té nhào xuống một lần, mỗi lần té là dây thòng lọng lại xiết chặt vào gáy đến trầy da chảy máu. Tên kỵ binh Khất Đan vẫn cho ngựa chạy đều đều không dừng lại lúc nào, cũng chẳng thèm để ý xem gã sống hay chết, cứ thế kéo gã vào thành Nam Kinh. Lúc vào thành, mình mẩy Du Thản Chi bê bết máu, trông không ra hình người nữa. Gã chỉ mong được chết mau lẹ cho khỏi đau đớn.

Vào thành rồi, ba tên kỵ binh Khất Đan còn cho ngựa kéo gã chạy mấy dặm nữa mới đến một tòa nhà to. Du Thản Chi thấy đường lót đá xanh, cổng cao cột lớn, chẳng biết đó là nơi nào. Chừng uống cạn tuần trà, tên Khất Đan lại kéo Du Thản Chi đến một khoảng sân rộng rồi đột nhiên huýt lên một tiếng sáo, thúc gót chân vào sườn ngựa phóng nhanh. Du Thản Chi không ngờ hắn phóng ngựa một cách đột ngột, chỉ chạy theo được ba bước rồi té nhào xuống

Tên kỵ binh Khất Đan huýt sáo liên hồi, kéo Du Thản Chi chạy ba vòng sân, thúc ngựa chạy mỗi lúc một nhanh hơn. Mười mấy tên quan binh đứng ngoài xem, đều reo hò trợ oai. Du Thản Chi nghĩ thầm: "Ôi chao, thì ra bọn chúng muốn lôi ta đến chết." Đầu mình chân tay gã đều va đập vào đá xanh lát dưới đất, khiến gã đau đớn khắp cả mình mẩy.

Giữa tiếng cười rộ của bọn quan binh Khất Đan bỗng nổi lên giọng cười trong trẻo của một thiếu nữ. Du Thản Chi sắp hôn mê, mơ hồ nghe tiếng cô gái vừa cười vừa nói: "Ha ha! Cái diều người này khó mà thả lên được." Du Thản Chi tự hỏi: "Diều người là cái gì vậy?"

Gã còn đang suy nghĩ, bỗng thấy sau gáy bị siết chặt lại, rồi thân thể tung lên không trung. Thì ra tên kỵ mã Khất Đan quất ngựa phóng thật nhanh, lôi gã tung bay lên như cái diều giấy để làm trò chơi.

Thân thể Du Thản Chi lơ lửng trên không, cổ gã bị siết chặt đau điếng, miệng mũi bị gió thốc vào dường như ngộp thở. Bỗng nghe cô gái vỗ tay reo lên: "Tuyệt diệu! Tuyệt diệu! Quả nhiên chẳng khác gì thả diều giấy." Du Thản Chi ngoảnh mặt về phía có tiếng cười nói, thì thấy người đang vỗ tay hoan hô chính là thiếu nữ mặc áo tím nhan sắc mỹ miều. Du Thản Chi nhìn thấy nàng, không biết nên vui mừng hay nên tủi, người gã đang bay trên không trung, không thể suy nghĩ gì nhiều.

Thiếu nữ kiều diễm này chính là A Tử. Nguyên nàng thấy Tiêu Phong buông tha Du Thản Chi, trong lòng không vui, bèn cưỡi ngựa theo chàng đi một lúc rồi cố ý lùi lại sau, dặn bọn tùy tùng đi bắt gã về và không được cho Tiêu đại vương biết. Bọn tùy tùng biết Tiêu Phong nuông chiều cô bé này, dĩ nhiên không dám trái lệnh. Nhân lúc chàng không để ý, chúng dừng lại trên sườn núi chờ đoàn người đã khuất, rồi mới quay lại đuổi theo bắt Du Thản Chi. A Tử về thành, tránh xa Hựu Thánh cũng là chỗ Tiêu Phong ở, ngồi chờ bắt Du Thản Chi về. Nàng hỏi bọn Khất Đan có phương pháp hành hạ tội nhân đặc biệt tân kỳ nào không, thì có gã đưa ra ý kiến: "Thả diều người." A Tử thích thú vô cùng, hạ lệnh lập tức thi hành. Thế là cái diều Du Thản Chi được thả lên trời.

A Tử xem đến lúc cao hứng, liền bảo: "Ngươi để ta thử một chút!" Rồi nàng tung mình nhảy lên yên ngựa tên Khất Đan đang cười, cầm lấy dây thòng lọng rồi giục tên quân: "Ngươi xuống đi!"

Tên quân Khất Đan nhảy xuống ngựa để cho A Tử thả diều người. Nàng nắm đầu dây rồi phóng ngựa một vòng, hớn hở tươi cười, miệng liên tiếp hô: "Thú quá! Thú quá!" Nhưng thương thế nàng chưa bình phục hoàn toàn, bàn tay mềm nhũn ra tuột mất đầu dây. Du Thản Chi rớt xuống đất đánh hụych một tiếng, trán gả đụng vào cạnh sắc một phiến đá, bị thủng một lỗ, máu chảy ra như suối. A Tử cụt hứng la mắng: "Sao thằng khốn nạn này nặng đến thế?"

Du Thản Chi đã đau đến chết người, lại nghe nàng mắng cái tội thân thế mình quá nặng, những muốn quay lại tranh luận, nhưng đau quá không nói nên lời. Một tên lính Khất Đan chạy lại tháo dây thòng lọng tròng cổ gã ra, một tên khác xé vạt áo buộc vết thương, nhưng máu tươi vẫn tuôn ra không ngớt, chưa cầm được.

A Tử nói: "Các ngươi thả diều nữa cho ta coi, thả lên càng cao càng thích." Du Thản Chi không hiểu tiếng Khất Đan, thấy nàng vừa nói vừa giơ tay chỉ trỏ lên nóc nhà, cũng đoán là chuyện không tốt lành gì.

Quả nhiên một tên lính Khất Đan nhặt đầu dây lên, luồn qua nách rồi buộc sau lưng để khỏi làm gã nghẹt thở, rồi quát to một tiếng: "Lên!" rồi phóng ngựa chạy nhanh. Thoạt tiên Du Thản Chi bị kéo lê dưới đất mấy vòng, sau đó mới tung lên cao dần dần. Tên quân Khất Đan thả dây mỗi lúc một dài ra.

Thân hình Du Thản Chi lên càng lúc càng cao, tên Khất Đan đột nhiên quát một tiếng rồi thả đầu dây ra. Du Thản Chi tựa hồ như mũi tên bật khỏi dây cung, bắn tung lên trời. A Tử cùng bọn quan binh reo ầm lên. Du Thản Chi không làm gì được, đành để cho người bay tít lên trời, nghĩ bụng: "Phen này chắc chết!"

Khi tung lên hết đà, gã rơi xuống, đầu dưới chân trên, tựa hồ như đầu gã sắp đâm xuống nền đá xanh. Bốn tên quân Khất Đan liền tung dây thòng lọng ra tròng lấy hông gã rồi giật mạnh ra bốn phía. Du Thản Chi ngất xỉu, bốn luồng lực đạo giữ gã lơ lửng trên không, đầu chúc xuống chỉ còn cách mặt đất chừng ba thước. Tình trạng này cực kỳ nguy hiểm, nếu một trong bốn tên quân Khất Đan ra tay chậm một chút, sức mạnh bốn phía không cân bằng được, thì Du Thản Chi phải đập đầu xuống đá, vỡ óc ra mà chết. Thường ngày bọn Khất Đan vẫn đem dân Tống ra làm trò chơi như vậy, mười người chết hết chín. Dù là ở cánh đồng cỏ mặt đất mềm hơn, không vỡ sọ, nhưng từ trên cao rớt xuống thì cũng gãy cổ, kết quả giống nhau.

Giữa tiếng hoan hô vang dội, bốn tên Khất Đan hạ Du Thản Chi xuống. A Tử lấy tiền ra thưởng cho mỗi tên năm lượng. Cả bọn quan binh sung sướng tạ ơn rồi hỏi: "Cô nương còn muốn xem trò gì nữa không?"

A Tử thấy Du Thản Chi ngất xỉu không biết còn sống hay đã chết rồi. Hơn nữa, cô vừa dùng sức quả nhiều để thả diều người, ngực đau ê ẩm, không muốn xem nữa, liền đáp: "Ta xem chán rồi. Giả tỉ thằng lỏi này không chết thì sáng mai đem vào để ta nghĩ cách tiêu khiển khác. Gã đã toan ám sát Tiêu đại vương thì không thể để chết một cách dễ dàng được." Đám quan binh dạ ran, lôi Du Thản Chi ra.

Lúc Du Thản Chi tỉnh lại thì mũi ngửi thấy mùi ẩm mốc nồng nặc. Gã mở mắt ra nhìn mà chẳng thấy gì, tự hỏi ngay: "Ta còn sống hay chết rồi?" nhưng lập tức thấy toàn thân đau nhức, khát nước cháy cả cổ, gã cất tiếng gọi: "Nước! Nước!" mà chẳng có ai ngó ngàng tới.

Gã gọi luôn mấy tiếng rồi ngất đi, mơ hồ thấy bá phụ cùng phụ thân giao chiến với Tiêu Phong, máu chảy lênh láng, lại thấy mẫu thân từ ái đặt gã ngồi vào lòng dỗ dành và bảo gã đừng sợ. Gã lại thấy A Tử hiện ra trước mắt thật là kiều mỵ, cặp mắt trong veo như nước hồ thu mà sắc sảo dị thường. Đột nhiên khuôn mặt nàng co rúm lại biến thành cái đầu rắn hình tam giác phùng hai má ra, xông lại cắn gã. Du Thản Chi sợ quá muốn chạy trốn, nhưng ngay cả ngón tay cũng không nhúc nhích được. Gã gắng gượng né tránh nhưng người vẫn cứng đờ. Rồi con rắn độc cắn giật ra từng miếng thịt ở trên tay, dưới đùi, sau lưng, trước cổ, khắp mọi chỗ trong người gã, nhất là ở trên trán bị cắn lại càng mạnh hơn. Gã thấy từng miếng thịt trên người rớt lả tả thì hết hồn, muốn la lên mà không kêu thành tiếng.

Du Thản Chi trằn trọc suốt đêm. Lúc tỉnh thì bị hành hạ, lúc nằm mơ cũng khổ sở chẳng kém gì. Hôm sau hai tên lính Khất Đan áp giải gã đến yết kiến A Tử. Người gã hãy còn nóng ran, mới bước một bước đã ngã lăn ra. Hai tên Khất Đan liền lôi gã dậy, rồi vừa chửi mắng vừa dìu đến một tòa nhà rất lớn. Du Thản Chi tự hỏi: "Bọn này lôi ta đi đâu? Có phải đem đi giết chăng?" Đầu óc gã vẫn mê mẩn, không nghĩ cho rõ ràng được, chỉ mơ hồ biết chúng kéo mình qua hai hành lang. Đến một sảnh đường, hai tên Khất Đan dừng lại trước cửa rồi bấm báo mấy câu. Phía trong có thanh âm thiếu nữ đáp lại, cửa sảnh đường mở ra. Hai tên Khất Đan liền đẩy gã vào.

Du Thản Chi ngẩng đầu nhìn thì thấy dưới nền trải một tấm thảm sặc sỡ. Tận phía trong có một thiếu nữ xinh đẹp ngồi trên tấm nệm, chính là A Tử. Nàng đặt đôi bàn chân trần trên tấm thảm, Du Thản Chi thấy đôi bàn chân nhỏ nhắn trắng như tuyết, trong như ngọc, mịn màng như gấm, trái tim gã bỗng đập mạnh, trong lòng rạo rực. Hai mắt gã nhìn chằm chặp vào đôi chân xinh đẹp kia, da bàn chân nàng trong bóng tưởng chừng phát ra ánh sáng, lại có ẩn hiện mấy đường gân xanh, chỉ muốn vươn tay ra vuốt ve cho hả dạ. Hai tên Khất Đan buông tay ra để Du Thản Chi đứng một mình, gã loạng choạng suýt ngã, rồi cố gượng đứng vững được. Đôi mắt Du Thản Chi vẫn không rời bàn chân A Tử, thấy mười ngón chân nàng đều phơn phớt hồng tựa như những cánh hoa nhỏ bé.

A Tử đưa mắt nhìn Du Thản Chi thấy người gã bê bết máu me dơ bẩn, mặt mũi sưng vều, hàm dưới đưa ra, hai mắt đỏ ngầu như tóe ra những tia lửa thèm muốn. A Tử chợt nhớ lại một con sói bị thương, hôm ấy nàng cùng hai tên sư huynh đi săn ở Tinh Tú Hải, bắn một phát trúng con sói, nhưng nó chưa chết ngay. Con sói bị thương nặng cũng dương đôi mắt tóe lửa ra nhìn nàng, trông y hệt cặp mắt Du Thản Chi lúc này. Nàng đoán rằng con sói muốn chồm lại cắn mình, nhưng đang bị thương, miệng hộc máu ra không còn đủ sức. A Tử thích nhìn cặp mắt Du Thản Chi hầm hầm như dã thú, nàng còn muốn gã gầm lên những tiếng thê thảm. Nhưng gã suy nhược quá rồi, không còn chút sức nào để phản kháng, thực là chẳng thú vị gì. Hôm trước gã toan dùng vôi bột ném cho mù mắt Tiêu Phong, ăn nói quật cường không chịu quỳ lạy, lại không thèm lấy tiền của chàng. A Tử rất hứng thú, coi gã như một loài dã thú rất lợi hại, lại muốn hành hạ thêm cho gã bị thương khắp người, mỗi lần bị thương gã lại chồm lên cắn mình một miếng, dĩ nhiên không để gã cắn trúng. Thế mà khi bắt gã đem về chỉ đem thả diều người, cái loài dã thú không phản kháng này dùng làm trò chơi chẳng có gì thích thú. A Tử chau mày tự hỏi: "Không biết có phương pháp gì mới lạ hành hạ gã này cho vui?".

Đột nhiên Du Thản Chi kêu lên mấy tiếng "Hà hà" rồi không biết khí lực ở đâu nổi lên, gã nhảy đến bên A Tử tựa hồ con báo vồ mồi. Gã ôm chặt lấy đôi chân bé nhỏ của nàng, cúi rạp đầu xuống mà hôn hít hai bàn chân. A Tử cả kinh kêu thét lên. Hai tên lính Khất Đan cùng bốn ả nữ tỳ hầu cận đều la ầm lên, chạy vào cố gỡ nàng ra.

Du Thản Chi bám dai như đỉa đói, dù chết cũng không buông. Tên quân Khất Đan lội mạnh quá, khiến A Tử đang ngồi trên chiếc nệm bỗng tuột xuống tấm thảm trải dưới đất. Hai tên Khất Đan vừa sợ vừa tức không dám lôi kéo nữa. Một tên đá mạnh vào lưng Du Thản Chi, còn một tên tát vào mặt gã. Những vết thương của Du Thản Chi vẫn còn sưng, cơn sốt chưa dứt, thần trí gã vẫn như người điên chưa tỉnh, bất luận tình cảnh gì trước mắt cũng chỉ thấy lờ mờ. Gã vẫn ôm chặt đôi chân A Tử, đặt môi lên hôn bàn chân nàng.

A Tử thấy môi gã vừa khô vừa nóng áp vào chân mình thì trong lòng sợ hãi, nhưng cũng có cảm giác kỳ dị tê tê buồn buồn. Đột nhiên nàng thét lên lanh lảnh: "Ối chao! Thằng lỏi này cắn ta!" Rồi nàng vội bảo: "Các ngươi mau lùi ra xa! Gã này phát điên rồi, đừng để gã cắn đứt ngón chân ta." Lúc này Du Thản Chi cắn mơn man ngón chân A Tử, không làm nàng đau, nhưng nàng sợ tên quân Khất Đan đánh đập gã làm cho gã nổi cáu lên cắn mạnh, nên phải bảo chúng lui ra.

Hai tên lính Khất Đan không biết làm thế nào, đành buông tay ra. A Tử dỗ ngọt: "Mi đừng cắn ta nữa, buông ra đi, ta sẽ tha chết cho." Lúc này tâm thần Du Thản Chi đã mê loạn, không hiểu nàng nói gì. Một tên Khất Đan rút đao ra khỏi vỏ toan chém đứt cổ gã cho rớt đầu ra, nhưng lại sợ chém không khéo làm bị thương đến A Tử, nên chần chừ chưa dám hạ thủ.

A Tử lại dỗ dành: "Chao ôi! Ngươi không phải dã thú, cắn người làm gì? Mau nhả ra đi, ta sẽ kêu người đến trị thương cho ngươi, rồi thả ngươi về Trung Nguyên." Du Thản Chi vẫn mặc kệ. Răng lưỡi gã vẫn nhẹ nhàng mơn man trên bàn chân A Tử chứ không cắn cho nàng đau, hai bàn tay gã âu yếm vuốt ve lưng bàn chân nàng. Tâm hồn gã thấy phiêu diêu khoan khoái, tựa như lúc làm diều người bay bổng lên không.

Một tên lính Khất Đan phúc chí tâm linh, đột nhiên thò tay ra bóp cổ Du Thản Chi. Gã bị nghẹt thở phải há miệng ra, A Tử vội co đùi lên, rút ngón chân trong miệng gã ra. Nàng sợ gã phát điên lại cắn nữa, liền rút hẳn hai chân giấu sau tấm nệm. Hai tên quân Khất Đan túm chặt lấy Du Thản Chi rồi giơ quyền đấm vào miệng gã hơn mười cái. Gã hộc lên mấy tiếng, rồi thổ máu tươi ra làm dơ bẩn cả tấm thảm trải dưới đất.

A Tử quát: "Các ngươi dừng tay!" Qua cơn nguy hiểm vừa rồi, nàng thấy gã còn dùng làm trò chơi được, chưa đến nỗi vô vị, nên không muốn đánh gã chết ngay. Hai tên quân Khất Đan liền ngừng lại không đánh nữa. A Tử ngồi xếp bằng trên nệm, để hai bàn chân trần xuống dưới mông, rồi tính toán: "Bây giờ hành hạ gã kiểu nào đây?"

Nàng ngẩng đầu lên thấy cặp mắt Du Thản Chi vẫn nhìn mình trừng trừng, liền hỏi: "Sao ngươi lại nhìn ta?" Du Thản Chi chẳng kể sống chết, không nghĩ ngợi gì đáp ngay: "Cô nương đẹp quá, nên tiểu nhân cứ muốn nhìn hoài." A Tử đỏ mặt lên, nghĩ bụng: "Thằng lỏi này thật là lớn mật, dám buông lời xúc phạm ta."

Nhưng trước nay nàng chưa từng được nghe một chàng trai nào mở miệng khen mình đẹp. Lúc còn học võ ở phái Tinh Tú, bọn sư huynh đều coi nàng là một đứa trẻ tinh ranh. Từ khi nàng theo Tiêu Phong, lúc chàng không sợ nàng gây chuyện thì lại lo nàng chết, chưa từng để ý đến nàng đẹp hay xấu. Bây giờ A Tử thấy Du Thản Chi khen mình thì trong bụng không khỏi khoan khoái, rồi quyết định: "Ta giữ gã bên mình để lúc nào buồn lại lôi ra tiêu khiển, như vậy cũng hay! Có điều tỉ phu ta đã tha gã, nếu biết ta bắt gã về dĩ nhiên nổi giận. Ta có giấu được hôm nay thì ngày mai cũng bị lộ, muốn tỉ phu ta trước sau vẫn không hay biết thì phải dùng cách gì đây? Ta có thể cấm mọi người xung quanh không được tố cáo với tỉ phu, nhưng lỡ tỉ phu bất ngờ đến đây trông thấy gã thì sao?"

Nàng trầm ngâm suy nghĩ một lát rồi lẩm bẩm: "A Châu tỉ tỉ rất giỏi cải trang, giả làm gia gia mà tỉ phu cũng không nhận ra. Ta đem gã này thay hình đổi dạng chắc tỉ phu không thể biết được. Nhưng lại sợ gã không tự nguyện, cải trang một lúc rồi gã rửa đi, khôi phục lại chân tướng thì chỉ mất công vô ích."

Đôi mày cong cong của A Tử nhíu lại, đột nhiên nghĩ ra được một kế, vỗ tay cười ha hả reo lên: "Tuyệt diệu! Ta cứ làm thế là được." Nàng quay sang dùng tiếng Khất Đan chỉ bảo hai tên quân một hồi, chỗ nào chúng chưa hiểu hỏi lại thì nàng lại giải thích rõ ràng, rồi sai nữ tì đưa cho chúng năm chục lạng bạc. Hai tên Khất Đan nhận tiền rồi cúi mình thi lễ, kéo Du Thản Chi ra ngoài phòng. Du Thản Chi la lên: "Ta muốn ở đây nhìn nàng! Ta muốn nhìn cô bé xinh đẹp mà độc ác kia." Mấy tên quân Khất Đan cùng bọn nữ tì không biết tiếng Hán, chẳng hiểu gã kêu la chuyện gì. A Tử nhìn theo gã cười hì hì, thưởng thức sáng kiến thông minh của mình, càng nghĩ càng đắc ý.

Du Thản Chi bị kéo về phòng giam, quẳng xuống đống cỏ khô. Đến chiều có người mang lại cho gã một đĩa thịt cừu và mấy cái bánh bao. Người gã vẫn còn nóng ran, miệng nói lảm nhảm, người đưa bánh đến sợ quá, vội đặt thức ăn xuống rồi chạy đi ngay. Du Thản Chi suy nhược đến nỗi không biết đói nữa, thức ăn để đó mà vẫn không đụng đến.

Chiều hôm ấy có ba người Khất Đan đến. Du Thản Chi tuy thần trí mê man, nhưng gã cũng lờ mờ hiểu là lại có những chuyện không hay xảy đến cho mình. Gã gượng đứng lên toan chạy trốn, hai tên Khất Đan lập tức nắm lại, ấn gã ngồi xuống, xoay mặt ngửa lên. Du Thản Chi lên tiếng mắng nhiếc: "Mấy con chó Liêu này muốn chết ư? Đại gia sẽ băm bọn mi ra thành muôn đoạn!" Tên Khất Đan thứ ba bưng một vật gì trắng toát giống như bông gòn hay tuyết, áp chặt vào mặt gã. Du Thản Chi thấy mặt mình vừa ướt vừa mát lạnh, đầu óc liền tỉnh táo nhưng hơi thở không thông. Gã nghĩ thầm: "Chắc bọn này bịt hết miệng mũi cho ta chết ngạt đây!" Nhưng gã biết ngay là mình đoán sai, chỗ miệng mũi có người chọc ra mấy lỗ, gã lại hít thở được như thường, chỉ còn cặp mắt là không mở ra được. Gã cảm giác mặt mình ướt đẫm, bị người xoa nắn tựa hồ như trát bột hay trát bùn vào.

Du Thản Chi mơ hồ tự hỏi: "Không biết bọn ác tặc này đang dùng phương pháp cổ quái gì để giết ta đây?" Sau một lúc, gã thấy chất bột trên mặt mình được khẽ tháo ra, bèn mở mắt nhìn thì thấy một chiếc mặt nạ bằng bột mì. Tên quân Khất Đan hai tay bưng cái mặt nạ bằng bột ướt này rất cẩn thận, chỉ sợ làm hỏng. Du Thản Chi lớn tiếng mắng: "Quân Liêu cẩu hèn mạt! Ta sẽ cho bọn mi chết không có đất mà chôn." Ba tên quân Khất Đan mặc kệ Du Thản Chi chửi bới kêu gào, chúng mang cái mặt nạ đắp bằng bột đi.

Du Thản Chi sực nghĩ ra, lẩm bẩm: "Phải rồi! Chắc là chúng bôi thuốc độc vào mặt mình, chẳng bao lâu sẽ rữa nát da thịt, biến thành quỷ sứ.." Gã càng nghĩ càng sợ hãi rồi quyết định: "Nếu để chúng hành hạ rồi cũng chết, thà rằng tự tử trước đi còn hơn." Gã có chủ ý rồi, liền đập đầu vào tường binh binh luôn mấy cái. Bọn ngục tốt nghe tiếng liền chạy vào trói chặt tay, chân gã lại. Du Thản Chi đã đập đầu đến choáng óc sắp ngất đi, để mặc bọn ngục tốt muốn làm gì thì làm.

Qua mấy ngày, gã thấy mặt mình chẳng đau đớn gì mà cũng không nát rữa, nhưng hạ quyết tâm chết cho xong. Gã đói bụng, mà ngục tốt đưa cơm vào không ăn nữa.

Đến ngày thứ tư, ba tên quân Khất Đan lại chạy đến chỗ Du Thản Chi lôi gã đi. Trong lúc đau khổ, gã bỗng nghĩ là A Tử gọi đến để hành hạ, thế thì dù đau đớn nhưng còn được thấy dung nhan người đẹp, cũng được an ủi phần nào. Gã ôm môi hy vọng đó, trên gương mặt nhăn nhúm thoáng hiện một nụ cười.

Ba tên quân Khất Đan đưa gã qua mấy đường hẻm nhỏ rồi vào một căn nhà tối om, đến một chỗ than hồng bốc cháy ngùn ngụt chiếu sáng nửa căn phòng vách đá. Một tên thợ rèn vai u thịt bắp mình trần trùng trục đứng bên lò lửa, chăm chú nhìn một vật đen sì đang cầm trên tay. Ba tên quân Khất Đan đẩy Du Thản Chi đến trước mặt gã thợ rèn, hai tên chia nhau giữ chặt hai tay gã, còn một tên nắm lấy sau lưng. Người thợ rèn nghiêng đầu nhìn y, rồi lại ngắm nghía cái vật cầm trong tay, dường như đang so sánh.

Du Thản Chi đưa mắt nhìn vật trong tay người thợ rèn, thì ra một cái mặt nạ bằng sắt, có bốn lỗ thủng ở miệng, mũi và hai mắt. Gã đang tự hỏi: "Không hiểu cái mặt nạ sắt này dùng để làm gì?", bỗng người thợ rèn úp chiếc mặt nạ vào mặt gã. Du Thản Chi bất giác ngửa đầu ra sau để tránh, nhưng sau ót đã bị giữ chặt, người thợ vẫn lồng vào được. Sắt thép chạm vào da thịt làm mặt gã thấy mát lạnh, mà kỳ lạ nhất là chiếc mặt nạ này lồng vào mặt gã hết sức vừa vặn, mồm miệng mặt mũi chỗ nào cũng ăn khớp, dường như chế tạo để gã đeo.

Du Thản Chi ngẫm nghĩ một lúc rồi hiểu ngay vụ này. Gã ớn lạnh cả xương sống, than thầm: "Trời ơi! Đúng là chúng làm cái mặt này để cho mình đeo rồi. Bữa trước bọn chúng lấy bột ướt đắp vào mặt mình, thì ra là làm khuôn mặt. Không biết chúng làm vậy là có dụng ý gì? Hay là..". Du Thản Chi sắp đoán ra mục đích độc ác của bọn Khất Đan đúc mặt nạ, nhưng gã không dám nghĩ thêm nữa, chỉ cố cựa quậy lùi lại.

Người thợ rèn tháo chiếc mặt nạ ra, gật đầu lia lịa ra vẻ hài lòng. Y lấy một cái kìm sắt to tướng, cặp lấy mặt nạ đặt vào lò lửa nung cho đỏ lên. Tay phải y cầm một cái búa sắt gõ beng beng vào mặt nạ một hồi, rồi lại đưa tay sờ đầu sờ gáy Du Thản Chi để sửa lại những chỗ không vừa khít. Du Thản Chi quát mắng: "Bọn Liêu cẩu trời đánh! Chúng mày định làm việc thương thiên nghịch lý gì đây? Chúng mày là những con quỷ hung tàn, trời sẽ giáng họa, không cho chết yên lành đâu! Ông trời sẽ ra tay sát hại cả đến gia súc cùng con cái của chúng mày." Gã lớn tiếng chửi mắng ầm ầm, nhưng bọn Khất Đan chẳng hiểu chi hết. Tên thợ rèn đột nhiên quay đầu lại nhìn gã bằng cặp mắt hung dữ, giơ cái kìm sắt nung đỏ lên chỉ vào mặt gã. Du Thản Chi khiếp quá, mắt trợn lên miệng há hốc ra.

Tên thợ rèn chỉ dọa thế thôi, cười ha hả rút kìm về. Đoạn y lại lấy ra một cái khuôn sắt hình nửa quả dưa, ướm vào sau gáy Du Thản Chi để sửa lại cho vừa khít. Người thợ rèn đặt cả mặt nạ cùng khuôn gáy vào lò lửa, nung cho đỏ lên, đoạn y lớn tiếng nói mấy câu. Ba tên quân Khất Đan đè ngửa Du Thản Chi trên mặt bàn, đầu thò ra ngoài. Lại thêm hai tên Khất Đan nữa đến tiếp tay giữ đầu gã không cho nhúc nhích. Cả thảy năm người giữ lấy chân tay đầu mình Du Thản Chi khiến gã không động cựa gì được nữa.

Tên thợ rèn lấy kìm gắp cái mặt nạ nóng đỏ trong lò ra, dừng lại cho nguội bớt một chút. Đoạn y quát lên một tiếng thật to, áp chiếc mặt nạ vào mặt Du Thản Chi. Khói trắng bốc lên, mùi thịt khét lẹt bay ra, Du Thản Chi rú lên một tiếng ngất đi. Năm tên Khất Đan lật sấp người gã lại để tên thợ rèn lắp nốt miếng kia vào sau gáy gã, hai nửa úp vào nhau thành một cái lồng chụp quanh đầu Du Thản Chi. Cái lồng sắt hãy còn nóng bỏng, chạm vào da cháy xèo xèo, thịt cũng chín nhũn ra. Tên này là thợ rèn khéo nhất thành Yên Kinh, y chế tạo hai cái nửa đầu ráp vào nhau khít rịt, không hở sợi tóc.

Du Thản Chi phải vào hỏa ngục, trải qua lửa nóng. Gã mê man không biết bao lâu mới hồi tỉnh, nhưng trước mặt sau gáy đau đớn không chịu được, lại tiếp tục ngất đi. Du Thản Chi ba lần ngất đi, ba lần hồi tỉnh. Gã lớn tiếng kêu gào nhưng chỉ phát ra những tiếng ú ớ không phải tiếng người.

Gã nằm thẳng đơ không nghĩ ngợi gì, nghiến răng để cố chịu cái đau đớn khủng khiếp từ trước mặt đến sau gáy. Gã giữ nguyên như vậy đến hai giờ rồi gắng gượng giơ tay lên sờ mặt, thấy vừa lạnh vừa cứng ngắt, biết rằng mình đoán không lầm, cái mặt nạ đã chụp vào đầu rồi. Du Thản Chi căm phẫn vô cùng, cố gắng giằng ra, nhưng cái lồng sắt đã gắn chặt rồi, kéo thế nào cũng không nhúc nhích được. Gã tuyệt vọng không nhịn được nữa, khóc òa lên.

Gã đang độ thiếu niên nên dù đau đớn đến đâu vẫn chịu đựng được, không đến nỗi chết. Mấy hôm sau vết thương dần dần bớt đau, gã cảm thấy đói bụng, ngửi mùi bánh mùi thịt thèm quá không nhịn được, liền bốc ăn. Lúc này Du Thản Chi đã đưa tay lên sờ khắp trên đầu trên mặt, biết rằng cái lồng sắt đã úp chụp kín cả đầu mình không còn cách nào tháo ra được. Mấy hôm đó gã tức giận điên cuồng, nhưng ba ngày sau dần dần bình tĩnh trở lại, tự hỏi: "Tên Liêu cẩu Kiều Phong dùng lồng sắt chụp lấy đầu mình là có dụng ý gì?"

Gã vẫn cho rằng đây là mệnh lệnh của Tiêu Phong, còn dụng ý gì thì đoán mãi không ra. Thật ra, A Tử sai chế lồng sắt chụp vào đầu gã là để che mắt Tiêu Phong, việc này đều do gã đội trưởng Thất Lý theo ý A Tử mà thi hành.

Hằng ngày A Tử vẫn hỏi Thất Lý về tình hình Du Thản Chi sau khi chụp lồng sắt vào đầu. Ban đầu nàng vẫn lo rằng Du Thản Chi đau đến chết mất, nhưng về sau nghe nói gã đã dần dần khỏe lại thì rất hứng thú. Một hôm A Tử được tin Tiêu Phong ra Nam Giao duyệt binh, liền bảo Thất Lý đem Du Thản Chi vào. Nàng ngồi trong Đoan Phúc cung, đợi ba tên lính Khất Đàn bộ hạ của Thất Lý dẫn Du Thản Chi vào. Gia Luật Hồng Cơ muốn chiều lòng Tiêu Phong, đã giáng chỉ phong A Tử làm Đoan Phúc quận chúa, cấp riêng cho nàng Đoan Phúc cung này để ở.

A Tử vừa trông thấy Du Thản Chi, trong lòng xiết nỗi vui mừng. Nàng nghĩ bụng: "Thật là tuyệt diệu! Bây giờ thằng lỏi đã đeo bộ mặt này vào, dù đứng đối diện thì tỉ phu ta cũng không thể nhận ra được." Du Thản Chi tiến lên mấy bước, A Tử vỗ tay khen ngợi rồi bảo Thất Lý: "Ngươi lấy năm chục lạng bạc thưởng thêm cho tên thợ rèn đã làm việc chu đáo!" Thất Lý nói: "Vâng. Đa tạ Quận chúa."

Du Thản Chi nhìn qua lỗ mắt trên mặt nạ thấy A Tử tươi cười lại càng xinh đẹp, trong lòng không khỏi rung động. A Tử nhận ra gã Du Thản Chi đeo mặt nạ kỳ dị vẫn nhìn mình không chớp mắt, liền hỏi: "Thằng lỏi ngu xuẩn kia! Mi nhìn ta làm chi vậy?" Du Thản Chi ấp úng: "Tiểu nhân.. tiểu nhân không biết!" A Tử hỏi lại: "Mi đeo mặt nạ có dễ chịu không?" Du Thản Chi hỏi lại: "Cô nương thử đoán xem có dễ chịu không?" A Tử cười khanh khách đáp: "Ta đoán không ra." Nàng thấy lỗ miệng Du Thản Chi rất hẹp, chỉ đủ để ăn cơm húp canh, còn muốn ăn thịt cũng phải xé nát ra mới đưa vào được, liền cười nói: "Ta bắt mi phải đeo mặt nạ là để vĩnh viễn mi không cắn ta được."

Du Thản Chi mừng thầm, hỏi: "Phải chăng cô nương muốn.. muốn tiểu nhân ở bên cạnh để hầu hạ?" A Tử đáp: "Ái chà! Mi thật là khốn kiếp, muốn ở bên cạnh để nghĩ cách hại ta phải không?" Du Thản Chi nói: "Tiểu nhân chỉ thù một mình Kiều Phong, quyết không có ý hại cô nương." A Tử hỏi lại: "Mi muốn hại tỉ phu ta thì có khác gì hại ta?" Du Thản Chi nghe vậy trong lòng chua xót, không biết trả lời thế nào.

A Tử cười nói: "Mi muốn hại tỉ phu ta, thì lên trời cũng không khó bằng. Thằng lỏi ngu ngốc kia! Mi có muốn chết không?" Du Thản Chi đáp "Dĩ nhiên là tiểu nhân không muốn chết. Nhưng hiện giờ trên đầu tiểu nhân chụp một cái lồng sắt, người chả ra người, quỷ chả ra quỷ, thì dù chết hay sống cũng chẳng khác gì." A Tử nói: "Nếu quả mi muốn chết thì ta cũng cho toại nguyện, nhưng không chết ngay được đâu." Nàng quay sang bên cạnh bảo: "Thất Lý! Ngươi lôi nó ra chặt cánh tay trái!" Thất Lý dạ một tiếng rồi túm lấy tay Du Thản Chi.

Du Thản Chi cả kinh la lên: "Không! Không! Tiểu nhân không muốn chết! Cô nương đừng.. đừng chặt tay tiểu nhân." A Tử cười lạt nói: "Ta đã nói sao là làm vậy, trừ phi mi dập đầu năn nỉ!"

Du Thản Chi còn đang ngần ngừ, Thất Lý đã lôi gã đi. Gã không dám chần chừ nữa, quỳ mọp ngay xuống dập đầu lạy, cái đầu chụp lồng sắt chạm xuống đá xanh kêu boong boong như chuông. A Tử cười khanh khách, nói: "Từ nhỏ tới lớn ta chưa thấy ai dập đầu mà âm thanh dễ nghe như vậy. Mi cứ lạy thật lâu để ta nghe."

Du Thản Chi là tiểu trang chúa ở Tụ Hiền Trang, mặc dù mọi người trong trang đều biết gã là một tên đốn mạt văn dốt võ dát, nhưng con Du Ký chết non, Du Câu chỉ có mình gã, quý như hòn ngọc. Tiểu trang chúa mà gọi một tiếng thì gia nhân dạ răm rắp. Từ thuở nhỏ gã đã được nuông chiều, ăn sung mặc sướng, có bao giờ chịu khổ nhục như ngày nay? Lúc Du Thản Chi mới gặp Tiêu Phong, gã còn có khí phách quật cường, thà chết chứ không chịu quỳ lạy. Nhưng mấy bữa nay từ tâm hồn cho đến thể xác đã chịu không biết bao nhiêu đau đớn cực nhục, gã mất hết chí khí, bắt quỳ gã cũng quỳ, bắt lạy gã cũng lạy. A Tử khen gã dập đầu nghe êm tai, gã cũng dập đầu lia lịa vang lên những tiếng boong boong, lại còn hoan hỉ vì được người đẹp như tiên khen.

A Tử mỉm cười nói: "Hay lắm! Từ đây trở đi, ta sai bảo điều gì, mi răm rắp thực hiện thì thôi, còn nếu trái lệnh thì lập tức ta sai chặt tay. Mi đã nhớ chưa?" Du Thản Chi nói: "Vâng, vâng." A Tử nói: "Ta cứu mạng mi mà mi không biết cám ơn ta. Tiêu đại vương muốn bằm mi nát ra như cám, mi có biết không?" Du Thản Chi đáp: "Y là kẻ thù giết thân phụ tiểu nhân, cố nhiên không chịu buông tha." A Tử nói: "Đại vương giả vờ tha mi, rồi lại sai bắt ngươi về để băm vằm mi ra. Ta thấy mi không đến nỗi hèn hạ lắm, nghĩ cũng tội nghiệp, nên sai người tìm cách giấu mi. Giả tỉ Tiêu đại vương lại gặp mi thì ắt mi phải chết, lại phiền hà đến ta nữa."

Du Thản Chi tỉnh ngộ nói: "À! Thế ra cô nương đúc cái lồng sắt này bịt đầu tiểu nhân là để cứu mạng. Tiểu nhân cảm kích vô cùng!"

A Tử lừa được gã đem lòng cảm kích thì đắc ý vô cùng, mỉm cười nói: "Sau này mi có gặp Tiêu đại vương thì đừng nói năng chi hết, để y không nghe được thanh âm. Nếu mi lên tiếng, y nhận ra mi, tức khắc đem chặt cánh tay trái, rồi chờ mi tỉnh dậy lại chặt nốt cánh tay phải. Thất Lý! Ngươi kiếm y phục Khất Đan cho gã mặc, nhớ tắm rửa sạch những chỗ máu mủ trong người gã cho đỡ tanh hôi!" Thất Lý vâng lệnh, lôi Du Thản Chi ra ngoài.

Chẳng mấy chốc tên đội trưởng lại đưa gã vào, đã mặc quần áo Khất Đan, Thất Lý muốn lấy lòng A Tử, cho gã mặc quần áo sặc sỡ giống như một tên tiểu sửu đóng vai hề trong tuồng kịch.

A Tử cười to, nói: "Ta đặt tên cho mi là Thiết Sửu. Từ bây giờ nếu ta kêu Thiết Sửu thì mi phải vâng dạ ngay." Rồi nàng cất tiếng gọi to: "Thiết Sửu!" Du Thản Chi vội đáp: "Dạ, dạ!"

A Tử thích chí vô cùng. Đột nhiên nàng nhớ ra một điều, liền hỏi: "Thất Lý! Có phải nước Đại Tự bên Tây Vực mới đem biếu một con sư tử không? Ngươi kêu quản sư đem nó vào đây, gọi thêm mấy tên vệ sĩ đến nữa."

Thất Lý vâng lệnh chạy đi. Mười sáu tên vệ sĩ cầm trường mâu chạy vào trong điện, khom lưng thi lễ rồi đứng thẳng lên, chĩa mười sáu mũi trường mâu ra phía ngoài để bảo vệ cho A Tử. Lát sau ngoài điện có tiếng sư tử gầm thét, tám đại hán khiêng một chiếc cũi sắt vào. Trong cũi có một con sư tử đực lông vàng, bờm dài, nanh vuốt sắc nhọn, đang chạy quanh trông rất hung dữ. Gã quản sư tay cầm roi da đi trước.

A Tử thấy con mãnh sư hung hăng đến phát khiếp, thì hớn hở nói: "Thiết Sửu! Ta bảo người làm một việc, ngươi có chịu nghe lời ta không?" Du Thản Chi đáp: "Vâng!" Gã trông thấy con sư tử thì trong lòng hồi hộp tự hỏi: "Không biết A Tử muốn ta làm gì đây?", trống ngực đánh hơn trống làng. A Tử nói: "Ta không hiểu cái lồng sắt bịt đầu ngươi có kiên cố không. Ngươi thử thò đầu vào cho con sư tử cắn mấy miếng xem có vỡ được không?"

Du Thản Chi nghe lệnh mà hồn vía lên mây, ấp úng: "Việc này.. việc này.. không nên thử. Giả tỉ nó cắn vỡ thì đầu tiểu nhân.." A Tử gắt gỏng: "Mi thật là vô dụng, việc nhỏ xíu thế mà cũng sợ. Đại trượng phu thì coi cái chết nhẹ như lông hồng mới phải. Mà ta xem chừng nó cắn không vỡ được đâu." Du Thản Chi năn nỉ: "Cô nương! Chuyện này không đùa được. Nếu nó cắn không vỡ, thì cái lồng sắt cũng bị móp méo, rồi đầu tiểu nhân.." A Tử cười khanh khách nói: "Đầu ngươi có méo mó một chút cũng chẳng sao. Thằng lỏi này thật là lắm chuyện! Cái đầu mi vốn chẳng đẹp đẽ gì, mà dù méo mó thì cũng ở bên trong cái lồng chẳng ai trông thấy. Hà tất ngươi phải quan tâm nó đẹp hay xấu?" Du Thản Chi vội cãi: "Đâu có phải tiểu nhân nghĩ đến chuyện đẹp hay xấu.." A Tử sa sầm nét mặt gạt phắt đi: "Mi dám không nghe lời ta ư? Được lắm, ta quẳng ngươi vào trong cũi cho sư tử ăn thịt!" Đoạn nàng quay ra dùng tiếng Khất Đan nói mấy câu, Thất Lý dạ một tiếng rồi chạy lại, nắm lấy Du Thản Chi.

Du Thản Chi nghĩ thầm: "Nếu người mình bị quẳng vào cũi cho sư tử cắn thì chắc chết. Thôi ta đành thò cái đầu sắt vào cũi còn đỡ hơn, việc sống hay chết phó mặc cho vận số." Nghĩ vậy, gã la lên: "Đừng! Đừng! Tiểu nhân xin vâng lời cô nương!".

A Tử cười nói: "Thế mới phải! Ta bảo ngươi cái gì thì lập tức ngươi phải thi hành! Nếu bướng bỉnh để bản cô nương nổi nóng thì không hay đâu. Thất Lý! Ngươi đè gã ra đánh ba chục roi." Thất Lý vâng lệnh, rút lấy cây roi da trong tay gã quản sư quất vào lưng Du Thản Chi. Du Thản Chi đau quá không chịu được, rú lên một tiếng: "Úi chao!"

A Tử nói: "Tên Thiết Sửu kia! Ta cho mi hay, ta sai người đánh mi là tử tế với mi lắm rồi. Thế mà mi lại la làng, phải chăng không muốn ta đánh?" Du Thản Chi vội nói: "Không! Không! Tiểu nhân vui lòng lắm. Đa tạ ân đức cô nương." A Tử bảo: "Thế thì tốt. Đánh đi!" Thất Lý quất veo véo một lúc mười roi. Du Thản Chi nghiến răng chịu đựng không dám hé miệng. May mà gã đã đội lồng sắt, roi da chừa đầu ra chỉ vụt vào lưng, nên gã có thể chịu đựng được.

A Tử thấy gã không rên rỉ gì, hết cả hứng thú bèn hỏi: "Thiết Sửu! Ta hỏi đây, có phải ngươi thích việc ta đã sai người đánh mi không?" Du Thản Chi đáp ngay: "Vâng" A Tử lại hỏi: "Ngươi nói thực hay nói dối? Ta cho rằng ngươi lừa bịp ta." Du Thản Chi nói: "Thực tình là như vậy, tiểu nhân không dám lừa bịp cô nương." A Tử nói: "Mi đã thích thế, sao lại không cười mà reo lên?" Du Thản Chi bị nàng hành hạ nát ruột tan hồn, mất cả ý niệm thù hận, miễn cưỡng lên tiếng: "Cô nương thật là tử tế, tiểu nhân được ăn đòn khoan khoái vô cùng!"

A Tử nói: "Thế mới phải chứ! Thử xem." Nàng nói xong, đập bàn một cái, Thất Lý vung roi lên vụt một phát. Du Thản Chi cười ha hả, reo lên: "Đa tạ cô nương! Roi đòn này thật là sung sướng." Chỉ chốc lát gã đã bị đánh đến hai chục roi, kể cả đợt trước tổng cộng hơn ba chục. A Tử vẫy tay nói: "Hôm nay thế là đủ rồi. Bây giờ mi thò đầu vào cũi đi."

Du Thản Chi đau ê ẩm cả người, loạng choạng bước đến bên cũi sắt. Gã nghiến răng thò đầu vào trong cũi. Con sư tử thấy có người thách thức, giật mình lùi lại, hai mắt nhìn chằm chặp vào cái đầu sắt một hồi rồi lùi thêm một bước nữa, miệng gầm gừ ra oai.

A Tử bảo tên quản sư: "Ngươi giục sư tử đi. Sao mãi nó không chịu cắn?" Tên quản sư liền quát lên mấy tiếng, con sư tử nghe lệnh chồm lại há miệng thật to ngoạm lấy đầu Du Thản Chi, nghe tiếng sào sạo, hàm răng sư tử nghiến vào chiếc lồng sắt. Du Thản Chi sợ quá nhắm mắt lại, cảm thấy một luồng hơi nóng xông vào qua những lỗ hổng thì biết rằng cả cái đầu mình đã lọt vào hàm sư tử, rồi thấy trước trán và sau gáy đau đớn kịch liệt. Đó là do lúc người thợ rèn chụp cái lồng sắt nóng bỏng vào đầu gã, đầu và mặt bị cháy cả da thịt. Những vết thương mới liền da, bây giờ sư tử cắn vào lại loét ra.

Sư tử cố sức cắn mấy cái mà không thủng, lại thấy ê răng. Nó nổi hung giơ vuốt lên cào vai Du Thản Chi. Gã đau điếng, hét lên một tiếng "Úi chao!". Con sư tử thấy tự nhiên có tiếng thét trong miệng mình thì không khỏi giật mình, há miệng ra lùi lại một góc cũi sắt.

Tên quản sư lại lớn tiếng quát tháo giục sư tử vồ Du Thản Chi cắn nữa. Du Thản Chi nổi giận, đột nhiên vươn tay nắm được gáy tên quản sư ra sức kéo mạnh, đút được đầu gã vào cũi sắt, gã quản sư rú lên. A Tử khoái chí vỗ tay cười ha hả: "Tuyệt diệu! Đừng ai can thiệp, để ta coi ai sống ai chết!"

Mấy tên lính Khất Đan toan chạy lại gỡ gã quản sư ra khỏi tay Du Thản Chi, nhưng nghe A Tử nói vậy lại thôi.

Gã quản sư ra sức cựa quậy, nhưng lúc này Du Thản Chi đã nổi hung tính, giữ lấy chằng chằng, nhất quyết không chịu buông tha. Gã quản sư chỉ còn mong con sư tử lại cứu mình, bèn thét lên: "Cắn! Cắn chết đi!" Con sư tử nghe gã giục rối rít, gầm lên một tiếng đinh tai nhức óc, nhảy chồm lại. Nó nghe chủ nhân giục cắn mà không biết cắn ai, bèn nhe hàm răng sắc nhọn trắng nhởn ngoạm rau ráu, cắn đứt nửa đầu gã quản sư, óc và máu tươi vọt ra tung tóe trên mặt đất!

A Tử hớn hở reo ầm lên: "Ha ha! Thiết Sửu đại thắng! Thiết Sửu đại thắng!" Nàng vẫy tay ra lệnh cho bọn lính Khất Đan khiêng cũi sư tử và xác gã quản sư ra ngoài, rồi bảo Du Thản Chi: "Được rồi! Mi làm vừa lòng ta, ta muốn thưởng mi mà chưa biết thưởng gì." Nàng chống tay lên má, ra chiều suy nghĩ.

Du Thản Chị nói: "Cô nương! Tiểu nhân không dám mong cô nương ban thưởng, chỉ xin cô nương một việc." A Tử hỏi: "Mi xin điều gì?" Du Thản Chi nói: "Tiểu nhân xin được ở luôn bên mình cô nương để hầu hạ." A Tử hỏi lại: "Mi muốn hầu hạ ta ư? Để làm chi vậy? À phải rồi, mi muốn ở đây để chờ Tiêu đại vương đến thăm ta, thừa cơ hạ thủ, báo thù cho song thân phải không?" Du Thản Chi vội đáp: "Không! Không phải thế." A Tử hỏi lại: "Không lẽ ngươi không định báo thù hay sao?" Du Thản Chi nói: "Tiểu nhân đến đây đúng là có ý báo thù, nhưng một là không đủ sức, hai là không muốn dính líu đến cô nương.

A Tử nói:" Sao mi thích làm nô lệ cho ta? "Du Thản Chi đáp:" Cô nương là tiên hạ phàm, là người đẹp nhất trần gian. Tiểu nhân.. chỉ mong ngày ngày được trông thấy cô nương. "

Câu nói này thật là hỗn xược, nhưng A Tử nghe lại thấy thích thú. Nàng còn nhỏ tuổi, tuy nhan sắc mỹ miều song chưa trưởng thành hẳn, lại nàng bị trọng thương chưa khỏi, vẫn còn gầy nhom xanh mét. Du Thản Chi thấy nàng đẹp nhất trần gian thì thật là khó hiểu, nhưng nàng thấy ở đời có kẻ say mê nhan sắc của mình thì cũng khoan khoái trong lòng.

A Tử đã toan ưng thuận lời khẩn cầu của Du Thản Chi, bỗng có thị vệ vào báo:" Đại vương đến thăm! "A Tử đưa mắt nhìn Du Thản Chi khẽ hỏi:" Ngươi có sợ không? "Du Thản Chi run run đáp:" Không sợ. "Cửa lớn mở ra, Tiêu Phong mình mặc áo khinh cừu, lưng thắt đai lụa đi vào. Chàng vừa bước qua cửa đã thấy một vũng máu tươi, lại thấy một người đầu chụp lồng sắt, điệu bộ kỳ dị, bèn nhìn A Tử cười hỏi:" Hôm nay cô ra vẻ khoan khoái, chắc lại có trò gì mới lạ phải không? Người này đeo cái gì trên đầu lạ thế? "A Tử cười đáp:" Nước Cao Xương bên Tây Vực mới đem cống gã Thiết Sửu này, sư tử cắn đầu gã cũng không vỡ được. Tỉ phu coi đầu gã còn vết sư tử cắn đây này! "Tiêu Phong nhìn kỹ cái lồng sắt, quả nhiên vết răng sư tử in rõ mồn một. A Tử lại nói tiếp:" Tỉ phu ơi! Tỉ phu có cách nào tháo cái lồng sắt ra không? "

Du Thản Chi nghe A Tử nói vậy, hồn vía lên mây. Gã đã chứng kiến Tiêu Phong đại hiển thần oai đánh nhau với quần hùng Trung Nguyên, từng vung quyền đánh văng mất lá mộc bằng sắt trên tay bá phụ cùng phụ thân gã, bây giờ muốn tháo cái lồng sắt trên đầu gã phỏng có khó gì? Lúc thợ rèn lắp cái lồng sắt vào đầu thì gã muốn ngất đi, thế mà bây giờ gã chỉ mong cái lồng này vĩnh viễn che lấy đầu mình, để Tiêu Phong khỏi nhìn ra bản tướng.

Tiêu Phong đưa ngón tay ra gõ nhẹ vào cái lồng sắt nghe kêu" coong coong ", Chàng bật cười nói:" Cái lồng này rất kiên cố. Người ta chế tạo nó thật là tinh vi, phá hủy đi không đáng tiếc sao? ".

A Tử nói:" Sứ giả nước Cao Xương kể rằng, gã này mặt xanh nanh vàng, ba phần giống người bảy phần giống quỷ, ai trông thấy cũng phải té xỉu. Vì thế mà song thân gã kêu thợ rèn đúc cái lồng sắt này chụp vào đầu để người ngoài trông thấy khỏi phải khiếp sợ! Tỉ phu ơi! Tiểu muội muốn coi chân tướng gã thế nào mà thiên hạ nhìn thấy phải phát khiếp. "

Du Thản Chi lại càng run sợ, hai hàm răng khua lên cầm cập. Tiêu Phong thấy gã kinh hãi quá, liền nói:" Gã này sợ quá rồi, coi mặt gã làm quái gì? Gã đã chụp lồng sắt từ thuở nhỏ, mình mà cố gắng tháo ra, e rằng gã không sống được. "

A Tử vỗ tay cười nói:" Nếu vậy càng hay! Mỗi khi tiểu muội bắt được con rùa đều lột bỏ cái mai đi, thử coi nó có sống được không. "Tiêu Phong bất giác chau mày, cho là tâm địa nàng cực kỳ tàn nhẫn. Chàng nói:" A Tử! Sao muội lại thích chơi những trò độc ác bắt người ta phải sống dở chết dở như vậy? "

A Tử tru tréo lên:" Trời ơi! Thì ra tỉ phu không thương tiểu muội gì hết. Tiểu muội đâu có bằng được A Châu tỉ tỉ? Nếu tỉ phu coi tiểu muội cũng như A Châu tỉ tỉ thì sao mấy ngày không tới thăm tiểu muội lấy một lần? Tiêu Phong nói: "Ta làm cái chức Nam Viện đại vương gì gì đó thật là ngán quá! Ngày nào cũng như ngày nấy, công việc bận tíu tít chẳng có lúc nào mở mắt ra được. Nhưng mỗi ngày ta chẳng đến thăm cô một lần là gì?". A Tử ngắt lời, dằn dỗi: "Mỗi ngày một lần! Tiểu muội không muốn tỉ phu diễn cái trò mỗi ngày đến thăm một lần lấy lệ như vậy. Nếu là A Châu tỉ tỉ thì nhất định tỉ phu ở luôn bên cạnh không rời nửa bước!"

Tiêu Phong nghe A Tử nói đúng không biết trả lời ra sao, đành cười khà khà nói: "Ta là người lớn, không biết chơi những trò trẻ con. Sao cô không kiếm mấy cô bé cùng lứa tuổi mà trò chuyện cho vui có phải hơn không?" A Tử lại hỏi: "Trẻ con với chẳng trẻ con! Tiểu muội có còn trẻ con nữa đâu? Tỉ phu đã không muốn chơi với tiểu muội thì đến đây làm gì nữa?" Tiêu Phong nói: "Ta đến đây xem cô có mạnh khỏe hơn chút nào không. Bữa nay cô đã uống mật gấu chưa?"

A Tử hùng hổ nhấc chiếc nệm lên liệng xuống đất, lại giơ chân đá một cái rồi nói: "Tiểu muội đã phiền muộn trong lòng thì mỗi ngày có uống đến hàng trăm cái mật gấu cũng chẳng ăn thua gì."

Tiêu Phong thấy A Tử làm mình làm mẩy, giả tỉ là A Châu thì chàng sẽ nghĩ cách dỗ dành, nhưng với con người điêu ngoa độc ác như A Tử thì chán ghét không chịu nổi, chỉ buông thõng một câu: "Cô nằm nghỉ một lát cho đỡ mệt.", rồi đứng dậy đi ra.

A Tử ngơ ngẩn nhìn theo Tiêu Phong, muốn khóc òa lên, Nàng chợt thấy Du Thản Chi đứng đó, bao nhiêu lửa giận liền trút lên đầu gã, bèn quát lên: "Thất Lý! Quất cho gã ba mươi roi." Thất Lý "dạ" một tiếng, lại rút lấy roi da.

Du Thản Chi vội kêu lên: "Cô nương! Tiểu nhân có làm gì lầm lỗi đâu?" A Tử chẳng lý gì đến gã, lại quát Thất Lý: "Đánh đòn mau!" Thất Lý tuân lệnh cầm roi quất veo véo vào lưng Du Thản Chi. Gã không ngớt kêu la van vỉ: "Cô nương! Xin cho biết tiểu nhân đã phạm tội gì để sau này khỏi tái phạm." Thất Lý lại quất mạnh luôn mấy roi. A Tử nói: "Ta muốn đánh là đánh! Mi không có quyền chất vấn ta, chẳng lẽ mi vô tội mà ta lại đánh oan mi hay sao? Mi muốn biết đã phạm tội gì ư? Ta cho mi hay, vì mi dám chất vấn ta nên phải đánh đòn!".

Du Thản Chi cãi lại: "Cô nương đánh trước nên tiểu nhân mới hỏi. Lúc tiểu nhân chưa hỏi, cô nương đã sai đánh rồi kia mà?" Ngọn roi lại quất đen đét luôn ba phát. A Tử cười nói: "Ta đoán là mi sẽ hỏi nên sai gã đánh mi, quả nhiên mi chất vấn ta thật! Thế có phải là ta liệu việc như thần không? Nếu mi đúng là kẻ tận trung thì khi bị ta đánh phải cố sức chịu đựng, lại còn vui vẻ chịu đòn mới phải. Mi lên tiếng kêu la là trong lòng không phục rồi. Thôi! Mi đã không muốn thì ta chẳng thèm sai người đánh nữa đâu, không sao."

Du Thản Chi nghe vậy lại càng sợ hãi, người gã nổi da gà run lên bần bật. Gã biết rằng nếu A Tử không đánh nữa, nhất định sẽ nghĩ ra hình phạt thảm khốc gấp mười, thà chịu mấy chục roi đòn còn hơn. Nghĩ vậy gã vội kêu van: "Tiểu nhân thực là có lỗi! Xin cô nương cứ đánh nữa cho, tiểu nhân cảm tạ ơn đức! Cô nương đánh nhiều chừng nào, bổ ích cho tiểu nhân chừng ấy."

A Tử mỉm cười hỏi: "Mi thông minh đấy, nhưng ta không mắc mưu đâu. Phải chăng mi giả vờ xin ta đánh, là để ta hả dạ rồi tha cho mi?" Du Thản Chi nói: "Tiểu nhân không dám lừa bịp cô nương." A Tử lại hỏi: "Mi thật sự muốn ta đánh thật nhiều ư?" Du Thản Chi đáp: "Tâm nguyện của tiểu nhân đúng là như vậy." A Tử nói: "Tốt lắm! Ta sẽ cho mi toại nguyện. Thất Lý! Gã này muốn ăn nhiều đòn, ngươi đánh gã đủ một trăm roi."

Du Thản Chi giật mình nghĩ thầm: "Đánh một trăm roi thì còn chi là tính mạng? Nhưng việc đã đến thế này, có kiên quyết không chịu thì cũng cứ bị đòn. Vậy mình có chống cự cũng chẳng ăn thua gì." Gã nghĩ vậy, bèn không nói gì nữa.

A Tử hỏi: "Sao mi lại lầm lì không nói? Phải chăng trong lòng mi còn ấm ức? Ta kêu người đánh mi, chắc mi cho rằng ta bất công phải không?" Du Thản Chi nói: "Tiểu nhân chân tâm kính phục cô nương, biết rõ cô nương sai đánh tiểu nhân là có hảo tâm muốn thành toàn cho tiểu nhân." A Tử hỏi: "Thế sao mi chẳng nói năng gì?" Du Thản Chi không biết trả lời ra sao, gã ấp úng: "Cái đó.. cái đó.. tiểu nhân đang nghĩ đến ơn đức cô nương thâm trọng như non, vô cùng cảm kích, không nghĩ ra lời nào trình bày cho hết được! Tiểu nhân không biết sau này lấy chi đền đáp cô nương cho phải."

A Tử nói: "Ái chà! Mi không biết đền đáp ta cách nào ư? Ta sai người đánh mi một roi là mi lại ghi vào lòng mà căm thù ta chứ gì?" Du Thản Chi xua tay lia lịa đáp: "Không phải! Không phải! Tiểu nhân nói đền đáp là đền đáp thật tình, Tiểu nhân đã quyết tâm, có phải nhảy vào đống lửa hay phải tan xương nát thịt vì cô nương cũng cam lòng."

A Tử nói: "Vậy thì hay lắm! Đánh gã đi!" Thất Lý "dạ" một tiếng rồi rút roi da ra bắt đầu quất Du Thản Chi.

Lúc đánh được năm chục roi. Du Thản Chi đã tê dại cả người, hai gối gã nhũn ra từ từ rũ xuống. A Tử thấy vậy cười hì hì, đã định bụng hễ gã lên tiếng van xin thì lại tăng thêm năm mươi roi nữa. Ngờ đâu lúc này Du Thản Chi đã nửa mê nửa tỉnh, thỉnh thoảng chỉ rên ư ử trong miệng chứ không van vỉ chi hết. Chịu hơn bảy mươi roi thì gã ngất lịm đi, Thất Lý vẫn chẳng dung tình, đánh đủ trăm rồi mới thôi.

A Tử thấy Du Thản Chi chỉ còn thoi thóp thở, tình trạng cửu tử nhất sinh. Nàng đâm ra cụt hứng liền nói: "Các ngươi đem gã ra ngoài! Thằng lỏi này chẳng có gì đáng coi nữa. Thất Lý! Ngươi còn trò gì mới mẻ nữa không?"

Du Thản Chi bị trận đòn này phải dưỡng thương đến hơn một tháng mới khỏi. Bọn lính Khất Đan thấy đã lâu A Tử không kêu đem gã lại để hành hạ nữa, dường như quên hẳn rồi. Chúng liền ghi tên gã vào danh sách những người Tống bị bắt, cho đi theo bọn này làm những việc đại khái như hốt phân rửa chuồng, nhặt phân bò, lột da cừu, gặp việc gì làm việc ấy.

Trên đầu Du Thản Chi đã chụp chiếc lồng sắt, mọi người đều chế nhạo, khinh mạn gã. Cả đến người Hán đồng tộc cũng coi gã như quái vật. Du Thản Chi ráng sức chịu đựng, tựa hồ đã biến thành câm điếc. Ai đánh mắng gã, gã cũng không hề chống cự. Chỉ khi có người cưỡi ngựa đi ngang qua là gã mới ngẩng đầu lên nhìn một cái. Du Thản Chi chỉ còn một điều tâm nguyện là mong có ngày được A Tử gọi đến để đánh cho một chập. Hiện giờ, gã coi việc không được gặp A Tử là cực hình còn đau khổ hơn bị đánh đòn.

Thời gian cứ trôi, hai tháng sau tiết trời đã đỡ lạnh. Một hôm Du Thản Chi đang theo mọi người ra ngoài thành Nam Kinh vác đất, khuân gạch để đắp tường thành, bỗng nghe tiếng vó ngựa lộp cộp. Có mấy người cưỡi ngựa từ cửa nam ra, một âm thanh trong trẻo cười nói: "A ha! Gã Thiết Sửu chưa chết ư? Ta cứ tưởng gã bỏ mạng từ lâu rồi. Thiết Sửu! Mi lại dây!" Người vừa nói đó chính là A Tử.

Du Thản Chi ngày đêm mơ tưởng, chỉ mong được nghe thanh âm của nàng. Gã vừa nghe gọi đã cuống cả lên, hai chân tựa hồ dính chặt xuống đất không sao nhấc lên được. Trái tim gã rạo rực như muốn nhảy ra ngoài lồng ngực, lòng bàn tay tuôn mồ hôi ra ướt đẫm.

A Tử gắt lên: "Thiết Sửu! Thằng chết toi kia! Ta gọi mà mi không nghe thấy hay sao?" Du Thản Chi vội đáp: "Dạ! Cô nương!.." Gã quay đầu lại, chạy tới trước ngựa A Tử. A Tử hớn hở, cười hỏi: "Thiết Sửu! Sao mi lại chưa chết?" Du Thản Chi đáp: "Tiểu nhân chưa tìm được cách báo đáp ơn đức cô nương, sao đã chết được?" A Tử lại càng khoan khoái, cười khanh khách nói: "Ta đang tìm một tên nô bộc trung thành để làm một việc trọng đại, e rằng người Khất Đan tay chân cục mịch làm hỏng việc. Mi chưa chết thì hay lắm, theo ta đi!" Du Thản Chi đáp: "Xin vâng.", rồi đi theo ngựa nàng.

A Tử vẫy tay ra hiệu cho Thất Lý cùng ba tên vệ sĩ Khất Đan quay về. Thất Lý biết A Tử đã nói là làm, không ai khuyên can được. Vả lại thằng lỏi mặt sắt này hèn hạ nhu nhược đến cực điểm, dù có theo nàng cũng không xảy ra chuyện được. Y chỉ dặn một câu: "Xin cô nương sớm về phủ", rồi cả bốn tên nhảy xuống ngựa đứng đợi ngoài cổng thành.

A Tử buông lỏng cương cho ngựa đi thong thả, chừng bảy tám dặm thì chung quanh bắt đầu hoang vu tịch mịch, rồi đến một khe núi âm u, gió lạnh rít lên theo khe núi thổi vào, khiến da thịt phải tê dại.

Nàng nói: "Hay lắm! Chỗ này được rồi", bèn buộc ngựa vào gốc cây rồi dặn Du Thản Chi: "Mi phải nhớ vào đầu, những việc trông thấy hôm nay không được tiết lộ với ai, ngay với chính ta cũng không được đề cập đến nữa. Nghe rõ chưa?"

Du Thản Chi đáp: "Vâng, vâng!" Lúc này gã mừng như điên. Được A Tử gọi ra nơi hẻo lánh này, dù là để đánh gã một trận nhừ xương thì gã cũng vui vẻ cam tâm.

A Tử thò tay vào bọc lấy chiếc đỉnh gỗ sắc vàng đặt xuống đất nói: "Lát nữa thấy những loài sâu bọ cổ quái xuất hiện, ta cấm mi không được sợ sệt, nhất là không được lên tiếng". Du Thản Chi lại đáp: "Vâng."

A Tử lại lấy trong bọc một cái túi vải nhỏ xíu, mở ra thì bên trong có mấy viên đủ màu sắc vàng, đen, tím, đỏ. Nàng véo lấy mỗi thứ một chút, bỏ vào trong đỉnh châm lửa đốt lên, rồi đậy nắp đỉnh lại nói: "Chúng ta ngồi ở gốc cây này để coi chừng."

A Tử ngồi xuống gốc cây. Du Thản Chi không dám ngồi cạnh nàng, chạy lại ngồi trên một tảng đá dưới chiều gió. Gió lạnh căm căm vẫn thổi, quyện mùi thơm ngát từ y phục A Tử, Du Thản Chi ngây ngất đê mê, nghĩ rằng có được giây phút như lúc này, thì những đau đớn ê chề bấy lâu đã được trả quá hậu rồi. Gã chỉ mong A Tử vĩnh viễn ngồi dưới gốc cây, để mình được đứng xa xa hầu tiếp là mãn nguyện.

Tâm hồn Du Thản Chi đang bay bổng lên chín tầng mây, bỗng nghe có tiếng sột soạt, trong đám cỏ rậm rạp có con vật gì đỏ chót đang động đậy, nhìn kỹ thì là một con rết rất lớn toàn thân lấp lánh. Đầu nó có một cái bướu lồi ra, thật là đặc biệt. Con rết này ngửi thấy mùi hương từ trong mộc đỉnh bay ra liền chuyển mình bò tới, theo lỗ trên đỉnh chui vào rồi không ra nữa.

A Tử lấy trong bọc một mảnh đoạn, tiến lại gần cái đỉnh, phủ tấm đoạn lên rồi gói chặt mộc đỉnh lại, dường như sợ con rết ở trong bò ra mất. Nàng bỏ vào cái túi da treo ở cổ ngựa, cười nói: "Đi thôi", rồi lên ngựa quay về.

Du Thản Chi theo sau A Tử, nghĩ thầm: "Cái đỉnh này thật là cổ quái, chỉ đốt hương liệu là dẫn dụ được con rết to tìm đến. Không hiểu chơi với rết có gì là thú mà cô nương phải đến tận nơi hoang sơn dã lĩnh bắt về?"

A Tử về đến Đoan Phúc cung bèn kêu bọn thị vệ bố trí một cái phòng nhỏ cho Du Thản Chi ở. Gã cả mừng, biết rằng từ nay có thể thấy mặt A Tử thường xuyên. Sáng hôm sau A Tử cho gọi Du Thản Chi đến một gian phụ, tự tay đóng cửa lại, trong phòng chỉ có hai người. A Tử chạy lại góc phòng phía Tây, mở một cái hũ sành ra, cười nói: "Người xem có hay không?" Du Thản Chi nhìn vào, thấy con rết bắt được hôm qua đang chạy qua chạy lại rất nhanh trong hũ.

A Tử bắt một con gà trống lớn đã chuẩn bị sẵn rút đoản đao chặt hết mỏ và móng nhọn của nó, rồi vứt vào hũ sành. Con rết lập tức nhảy chồm lên đầu gà, cắn để hút máu, chỉ chốc lát là con gà trống thấm chất độc lăn ra chết. Thân mình con rết dần dần phồng lên, cái đầu đỏ căng cứng tựa hồ sắp bật máu A Tử cả mừng, khẽ nói: "Thành công rồi! Môn tuyệt kỹ này ta có thể luyện thành tựu được."

Du Thản Chi nghĩ thầm: "Té ra cô này đi bắt rết để luyện một môn tuyệt nghệ gì đây, không hiểu có phải gọi là Ngô Công Pháp hay không."

Bảy ngày kế tiếp cứ như thế, mỗi ngày con rết được hút máu một con gà trống. Đến ngày thứ tám, A Tử gọi Du Thản Chi vào điện, cười hỏi: "Thiết Sửu! Ta đối với mi thế nào?" Du Thản Chi đáp: "Cô nương đối với tiểu nhân ơn nặng như núi." A Tử hỏi: "Mi có nói nếu phải vì ta mà tan xương nát thịt hoặc nhảy vào đống lửa cũng cam tâm. Đó là người nói thực hay nói dối?" Du Thản Chi đáp: "Tiểu nhân không dám lừa dối cô nương. Cô nương có việc gì xin cứ sai bảo, tiểu nhận quyết không từ chối." A Tử nói: "Nếu vậy thì hay lắm! Ta cho mi biết, ta muốn luyện một môn tuyệt kỹ, cần có người trợ giúp. Mi có chịu giúp ta không? Giả tỉ luyện được thành công, nhất định ta sẽ trọng thưởng." Du Thản Chi nói: "Đương nhiên là tiểu nhân phải nghe lời cô nương sai bảo, cô nương bất tất phải quan tâm đến chuyện ban thưởng." A Tử nói: "Thế thì lại càng hay! Chúng ta bắt đầu luyện thôi."

Nói xong nàng ngồi xếp bằng, hai tay áp vào nhau, nhắm mắt vận khí một hồi rồi nói: "Mi thò tay vào hũ đi, thế nào con rết cũng cắn mi, nhưng mi đừng nhúc nhích, để yên cho nó hút máu, càng nhiều càng tốt."

Trong bảy ngày qua, Du Thản Chi đã thấy con rết này hút máu gà, chỉ chút xíu là con gà trống oai phong đã chết ngay, có thể thấy nó độc đến cực điểm. Nghe A Tử nói vậy, gã do dự không trả lời. A Tử sa sầm nét mặt hỏi: "Sao? Mi không chịu ư?" Du Thản Chi ấp úng: "Không phải là tiểu nhân không chịu. Có điều.. có điều.." A Tử nói: "Có điều con rết này độc quá, mi sợ chết chứ gì? Mi là người hay là gà trống?" Du Thản Chi đáp: "Dĩ nhiên tiểu nhân không phải là gà trống." A Tử nói: "Đúng rồi. Gà trống bị rết hút máu thì chết, ngươi không phải là gà thì sao lại chết được? Ngươi nói là cam tâm vì ta mà tan xương nát thịt, nhảy vào đống lửa gì gì đó, bây giờ cho rết hút một chút máu thì đã thấm vào đâu?" Du Thản Chi cứng họng không biết nói sao, ngẩng đầu lên nhìn A Tử, thấy môi nàng bĩu ra có vẻ khinh miệt vô cùng. Gã tựa như người bị thôi miên, nói: "Hay lắm! Tiểu nhân vâng mệnh cô nương." Đoạn gã nghiến răng nhắm mắt lại, tay phải thò vào trong hũ.

Vừa thò vào, đầu ngón tay giữa đau nhói như bị kim đâm, gã bất giác rụt tay lại. A Tử quát: "Không được động đậy!". Du Thản Chi cố nhịn đau, mở mắt ra, nhìn thấy con rết đang cắn ngón tay giữa mình hút máu. Gã sởn gai ốc khắp người, chỉ muốn vẫy tay cho con rết rơi ra rồi đạp mạnh cho chết, nhưng không quay đầu lại cũng cảm thấy đôi mắt sắc như dao của A Tử đang nhìn chằm chằm vào lưng mình như hai lưỡi kiếm, nên lại không dám nhúc nhích nữa.

Thực ra thì lúc con rết hút máu, gã cũng không thấy đau lắm. Con rết từ từ phồng lên, ngón tay gã có một quầng thâm, thoạt tiên màu tím nhạt sau đó dần dần thẫm lại. Sau một lúc vết thâm từ ngón tay loang ra bàn tay, rồi từ bàn tay lên cánh tay. Đến lúc này thì Du Thản Chi không nghĩ gì đến tính mạng mình nữa, gã trở lại bình tĩnh, miệng lộ vẻ tươi cười, nhưng vì mặt gã ẩn trong lồng sắt nên A Tử không nhìn rõ.

Hai mắt nàng chú ý nhìn con rết, để hết cả tâm thần vào đó. Đột nhiên, con rết buông ngón tay Du Thản Chi, nằm rũ ra trong cái hũ sành. A Tử nói: "Ngươi nhẹ tay bắt con rết để vào mộc đỉnh, cẩn thận chớ để nó bị thương." Du Thản Chi vâng lời nhặt lấy con rết, bỏ vào cái đỉnh đang để trước cẩm đôn. A Tử đậy nắp lại, một lát sau, trong các lỗ đỉnh có màu đen rươm rướm chảy ra.

A Tử lộ vẻ vui mừng đưa tay đón lấy, nàng ngồi xếp bằng vận nội công cho huyết dịch thấm vào trong lòng bàn tay. Du Thản Chi nghĩ thầm: "Thế là huyết dịch ta thấm vào trong người nàng. Xem chừng cô nương đang luyện môn Ngô Công Độc Chưởng."

Một lúc sau không còn thấy máu đen từ mộc đỉnh chảy ra nữa. A Tử mở nắp đỉnh nhìn xem thì thấy con rết đã chết cứng. Nàng xoa hai tay mạnh vào nhau, rồi nhìn vào lòng bàn tay thì thấy da vẫn trong như ngọc, không có vết tích gì, cũng không có dấu máu dơ bẩn chi hết. Nàng thấy những gì mình nghe trộm sư phụ về phép luyện công thật là chính xác, bất giác cả mừng cầm mộc đỉnh lên, đổ xác con rết xuống đất rồi chạy thẳng ra ngoài điện không thèm để mắt đến Du Thản Chi nữa, tựa hồ gã cũng như các con rết vậy, đã thành vật vô dụng.

Du Thản Chi nhìn theo A Tử đến khi nàng đi khỏi. Gã cởi áo ra, thấy quầng đen đã lan tới nách, đồng thời cánh tay ngứa ngáy khó chịu. Cơn ngứa lan ra mau chóng, chỉ chốc lát là gã thấy như có hàng ngàn hàng vạn con kiến đang cắn rứt mình.

Du Thản Chi nhảy lên chồm chồm, đưa tay lên gãi. Không gãi thì còn khá, càng gãi bao nhiêu thì càng ngứa thêm bấy nhiêu, dường như trong xương tủy ruột gan đều có sâu bọ bò lúc nhúc. Người bị đau còn chịu được chứ bị ngứa ngáy thì không sao chịu được, Du Thản Chi nhảy lên nhảy xuống, la hét om sòm rồi đập cái đầu sắt vào tường kêu boong boong. Gã chỉ mong sao mình ngất đi không biết gì nữa, để khỏi phải chịu đựng những cơn ngứa ngáy khủng khiếp.

Du Thản Chi đập đầu một lúc bỗng nghe cạch một tiếng, một vật trong bọc rơi xuống. Đó là gói giấy dầu, tuột ra để lộ một cuốn sách giấy vàng, chính là cuốn kinh chữ Phạn mà gã lượm được hôm nọ. Du Thản Chi đang ngứa ngáy kịch liệt, chẳng thèm nhặt lên nữa, cứ để mặc cuốn sách mở tung ra dưới đất. Gã toàn thân khó chịu, giãy giụa chẳng khác gì con cá mắc lưới. Một lúc sau gã kiệt lực nằm thở hồng hộc, nước mắt, nước mũi, nước dãi hòa lẫn nhau, chảy qua các lỗ trên mặt nạ sắt xuống ướt cả quyển kinh chữ Phạn.

Không hiểu tại sao trên những hàng chữ ngoằn ngoèo bỗng hiện ra hình một nhà sư gầy như que củi, tư thế thật là cổ quái, đầu luồn xuống giữa hai chân quặp lại, hai bàn tay nắm lấy hai cổ chân. Y chẳng lòng dạ nào để ý đến hình vẽ kỳ dị này, ngứa ngáy chồm lên nhảy xuống một hồi nữa thì bắt đầu khó thở, lăn lộn xuống đất xé quần áo rách tươm, cho da thịt sát xuống mặt đất, gãi một hồi kịch liệt đến trầy da chảy máu.

Trong lúc Du Thản Chi vừa lăn lộn vừa gãi, tự nhiên đầu gã luồn vào giữa hai đùi. Vì đầu gã có chụp lồng sắt thành ra lớn quá, không kéo ra ngay được. Gã đưa hai tay toan đẩy đầu ra, song lúc này kiệt sức quá rồi, không nhúc nhích được nữa, dùng tay thở hồng hộc. Ngẫu nhiên y nhìn tới cuốn sách, thấy hình vẽ nhà sư gầy, tư thế hơi giống như kiểu gã đang ngồi. Trong lòng gã vừa buồn cười lại vừa kinh ngạc ở chỗ tuy vẫn bị ngứa như cũ, nhưng thở được nhẹ nhàng hơn. Vì vậy nên gã không rút đầu ra khỏi chân nữa, cứ để nguyên vậy gục xuống đất, tay trái cũng đưa ra nắm lấy cổ chân phải, cằm chống xuống đất y như tư thế trong đồ hình. Lúc này gã thở đã dễ dàng hơn nhiều.

Gã gục đầu như vậy thì hai mắt càng gần sách hơn. Gã nhìn lại hình nhà sư, thấy bên cạnh có hai chữ màu vàng rất lớn, trong nét bút có vô số những mũi tên đỏ nhỏ xíu hướng ra. Gã giật mình vội buông tay đứng lên, nhưng lập tức lại vừa ngứa ngáy vừa ngạt thở, bèn vội vàng cúi xuống chui đầu qua háng, hai tay bắt chéo nắm hai cổ chân, cằm tựa dưới đất. Y vừa theo lại tư thế cổ quái này thì dễ chịu hơn nhiều, không dám động đậy nữa. Một lúc sau không biết làm gì bèn đưa mắt nhìn hình nhà sư cùng hai chữ lớn. Y nhìn những mũi tên nhỏ xíu, đưa mắt theo hướng mũi tên quan sát nét bút, tự nhiên cảm thấy cảm giác ngứa ở cánh tay phải biến thành một luồng hơi ấm áp đi lên đến cổ họng, xuống ngực bụng, chạy quanh hai vai vài vòng rồi lên đến đỉnh đầu, dần dần biến mất.

Gã nhìn theo những mũi tên trong nét bút mấy lần, lần nào cũng thấy một luồng nhiệt khí thông lên óc, rồi cánh tay đang ngứa cũng bớt dần đi. Du Thản Chi cảm thấy kỳ lạ, nhưng gã chẳng hơi sức nào suy xét nguyên do, cứ cho ý nghĩ chuyển vận như vậy đến ba mươi mấy lượt. Cánh tay chỉ còn hơi ngứa, gã làm thêm mười lần nữa thì từ cánh tay đến bàn tay không còn ngứa ngáy gì nữa. Bấy giờ ga mới rút đầu ra khỏi đôi chân, giơ bàn tay lên xem thì những quầng đen trên tay cũng đã biến mất.

Du Thản Chi mừng rỡ vô cùng, bỗng nhiên la lên: "Chao ôi, hỏng bét! Nọc rết kịch độc đã chuyển hết lên óc ta rồi." Nhưng dù sao gã cũng đã dứt được cơn ngứa kỳ dị, còn những mối lo gì hãy bỏ đó. Gã lẩm bẩm: "Cuốn sách này rõ ràng là không có hình vẽ, chẳng hiểu sao lại xuất hiện một hòa thượng cổ quái, mà mình lại ngẫu nhiên ngồi theo kiểu giống như hình vẽ. Phải chăng hòa thượng này là bồ tát đến cứu mạng ta?" Y bèn quì xuống cung kính khấu đầu trước nhà sư trong sách, cái lồng sắt gõ xuống nền đá nghe boong boong.

Thực ra đồ hình trong sách vẽ bằng mực đặc biệt, chỉ khi ướt mới hiện ra, nên A Châu và Tiêu Phong chưa nhìn thấy. Những mũi tên để luyện công đều có chú thích bằng chữ Phạn, những cao tăng Thiếu Lâm thời trước tuy không biết bí mật của quyển kinh nhưng cũng đọc chữ mà luyện thành Dịch Cân Kinh. Nhờ vào nước mắt cùng mũi dãi của Du Thản Chi mà hình vẽ lộ ra, gã vô tình học được một bí thuật luyện công để trấn áp ngoại ma xâm nhập của phái Du Già ở Thiên Trúc.

Du Thản Chi đang ngứa ngáy khổ sở đến cực độ thì nhảy chồm chồm, lăn lộn rồi gục đầu xuống đất cũng chỉ là chuyện tự nhiên chẳng có gì lạ. Có điều mũi dãi rớt xuống lại mở ra đúng vào quyển sách thì quả là ý trời. Du Thản Chi ngẩn ngơ một lúc rồi mệt quá lăn ra ngủ.

Sáng sớm hôm sau, gã còn chưa dậy đã thấy A Tử lật đật đi vào. Nàng thấy Du Thản Chi quần áo rách nát, da thịt hở hang thì kinh ngạc la lên rồi hỏi: "Mi vẫn chưa chết ư?" Du Thản Chi giật mình vội kéo chăn lên che mình rồi ấp úng đáp: "Tiểu nhân chưa chết." Rồi gã lẩm bẩm: "Té ra nàng tưởng mình chết rồi!"

A Tử nói: "Mi chưa chết thì hay lắm! Mau kiếm quần áo mặc vào rồi theo ta đi bắt trùng độc." Du Thản Chi dạ một tiếng, A Tử ra ngoài rồi, gã kiếm mấy tên lính Khất Đan hỏi xin quần áo. Bọn này thấy quận chúa có vẻ tử tế với y, liền kiếm một bộ y phục lành lặn sạch sẽ cho gã mặc.

Du Thản Chi lại theo A Tử ra khỏi cung như mấy hôm trước. Nàng lại đem mộc đỉnh ra đốt hương dẫn dụ trùng độc về, dùng máu gà để nuôi, sau cùng cho hút máu Du Thản Chi rồi đem ra luyện công. Lần thứ hai là một con nhện xanh hút máu gã, lần thứ ba tới phiên một con bò cạp lớn. Du Thản Chi lại chiếu theo đồ hình trong sách để hóa giải chất độc. Khi trước A Tử xem trộm sư phụ luyện công, thấy lần nào cũng có người chết, đều là dân chúng quanh vùng bị đệ tử Tinh Tú đi bắt về. Lần nào A Tử cũng chắc là Du Thản Chi phải chết, thế mà gã vẫn không sao, nàng không khỏi kinh ngạc.

A Tử tiếp tục bắt trùng độc trong ba tháng nữa, ngoài thành Nam Kinh trong phạm vi mười dặm rắn rết độc mỗi ngày một ít đi, rồi chỉ còn những con tầm thường, không hợp ý A Tử. Càng về sau hai người càng phải đi xa thêm.

Một hôm hai người đi về phía tây hơn ba mươi dặm. A Tử đốt hương lên, chờ hơn một giờ mới nghe trong đám cỏ rậm có tiếng sột soạt. A Tử kêu: "Cúi thấp xuống!" Du Thản Chi vội phục xuống, thoáng nghe mấy tiếng phì phì, lại có mùi tanh hôi khiến người phải buồn nôn.

Du Thản Chi nín thở, không nhúc nhích, bỗng thấy đám cỏ dại rẽ ra hai bên, một con trăn lớn, mình trắng chấm đen từ phía tây bò tới. Đầu con trăn này bạnh ra thành hình tam giác, trên đầu có một cái mào xù xì. Ở phương bắc vốn ít rắn rết, Du Thản Chi chưa thấy con trăn nào kỳ lạ như thế. Con trăn bò đến cạnh mộc đỉnh ngọc, rồi bò vòng quanh. Nhưng thân nó to bằng cánh tay, lại dài đến hai trượng, làm thế nào chui vào trong đỉnh được? Nó ngửi thấy mùi quyến rũ, cứ đập đầu vào đỉnh kêu cốp cốp.

A Tử không ngờ lại dẫn dụ được một con vật lớn đến thế. Nàng kinh hoàng, không biết làm sao, bò đến bên Du Thản Chi hỏi nhỏ vào tai gã: "Làm sao bây giờ? Nếu để con trăn đập vỡ mộc đỉnh thì hỏng bét!"

Du Thản Chi được nghe thanh âm thỏ thẻ, hơi thở ấm áp kề bên tai, thật là nằm mơ cũng không thấy. Gã vinh hạnh vô cùng, liền đáp: "Không sao, để tiểu nhân ra đuổi nó đi!" Nói xong gã đứng dậy hùng dũng rảo bước đến gần con trăn. Con trăn nghe thấy tiếng động lập tức cuộn lại, ngẩng đầu lên, thè cái lưỡi đỏ hỏn ra phun phì phì, tựa hồ sắp chồm tới mổ. Du Thản Chi sợ hãi chưa dám tiến lên.

Bỗng có một luồng khí lạnh tạt vào mặt, ở phía tây bắc có một dây lửa cháy thẳng tới, chỉ trong khoảnh khắc đã đến trước mặt. Lúc đến gần, gã mới nhìn rõ không phải là dây lửa mà là con vật gì bò trong bụi cỏ. Đám cỏ xanh gặp phải vật đó lập tức héo úa, khô vàng đi, nhìn xa giống như lửa cháy. Hàn khí ở dưới chân mỗi lúc một giá buốt thêm, gã lùi lại mấy bước thì thấy vết cỏ héo vàng tiến dần dần về phía mộc đỉnh. Con vật đó là một con tằm.

Con tằm này trắng trong như ngọc có ẩn hiện sắc xanh, lớn gấp đôi con tằm thường, dài bằng con giun. Con trăn hung hãn thế mà vừa thấy con tằm này thì khiếp đảm vô cùng, bèn rút đầu lại giấu dưới mình. Con tằm trong suốt bò qua mình con trăn chẳng khác nào một đường lửa nóng, bò đến đâu xương sống con trăn biến thành tro đến đó, bò lên đến đầu thì con trăn đã bị rạch đôi. Con tằm chui vào túi nọc độc ở mang tai con trăn, hút một lát là hết cả nọc. Mình con tằm căng phồng lên, nhìn xa xa tựa hồ một bình thủy tinh chứa nước màu xanh.

A Tử vừa mừng vừa sợ, khẽ nói: "Con tằm này thật là ghê gớm, quả là vạn độc chi vương." Du Thản Chi hồi hộp nghĩ thầm: "Giả tỉ nàng cho con tằm này hút máu mình thì mất mạng là cái chắc."

Con tằm đi tới đâu thành vết tới đấy, nhưng nó chỉ bò tới bò lui quanh cái đỉnh, tựa hồ như có linh tính, biết rằng chui vào trong đỉnh là phải chết nên chỉ bò quanh vòng ngoài mà thôi, một lúc thì bỏ đi về hướng tây bắc.

A Tử vừa hoan hỉ vừa nóng ruột la lên: "Mau đuổi theo nó!". Nàng lấy tấm khăn đoạn ra bọc cái đỉnh lại rồi lên ngựa đuổi theo con tằm, Du Thản Chi lếch thếch chạy theo. Con tằm tuy bé nhỏ mà bò nhanh như gió, cũng may là nó để lại vết đen nên mới không bị mất dấu.

Hai người đuổi một mạch chừng ba bốn dặm bỗng nghe phía trước có tiếng nước chảy róc rách, thì ra một con suối. Vệt đen đến bờ suối thì không thấy dấu vết đâu nữa, nhìn sang bờ suối bên kia cũng không thấy vết con tằm bò lên, dĩ nhiên là nó trôi dọc theo suối rồi, A Tử bực mình, giậm chân mắng Du Thản Chi: "Tại mi chạy chậm đuổi không kịp nó, bây giờ biết tìm đâu cho thấy? Ta mặc kệ mi làm gì thì làm, bắt nó đem về cho ta." Du Thản Chi lo lắng ngó quanh, nhưng chẳng thấy gì.

Hai người tìm kiếm đến khi trời sắp tối, A Tử không nhẫn nại được nữa, tức giận nói: "Mi phải tìm bắt nó về cho được, không thì đừng vác mặt tới gặp ta nữa." Nói xong, nàng xoay mình nhảy lên ngựa, phóng về thành.

Du Thản Chi rất đỗi hoang mang, đành tìm theo dọc bờ suối về phía hạ lưu. Gã đi bảy tám dặm đường, đến lúc hoàng hôn bỗng thấy trong đám cỏ rậm bờ bên kia có một vệt đen thì mừng rỡ vô cùng, gọi ầm lên: "Cô nương! Tiểu nhân kiếm thấy nó rồi!" Nhưng A Tử đi xa từ lâu rồi.

Du Thản Chi lội qua suối, cứ theo vệt đen mà đi theo sườn núi, đến một thung lũng phía trước. Y phấn khởi trong lòng nên chạy rất nhanh. Gã ngẩng mặt nhìn lên đỉnh núi có một ngôi chùa, kiến trúc cực kì hùng vĩ, trước cổng chùa có tấm biển đề năm chữ lớn "Sắc Kiến Mẫn Trung Tự". Gã chẳng còn lòng dạ nào mà ngắm phong cảnh chùa chiền, chỉ lần theo vệt đen bên hông chùa mà đi quanh co ra phía sau. Trong chùa đang có khóa lễ, có tiếng chuông khánh vang lên lẫn với tiếng tụng kinh của khá đông người. Du Thản Chi từ khi bị chụp lồng sắt đã tự thẹn về hình thù kì dị của mình, không muốn xuất hiện trước mặt chư tăng, cứ men theo chân tường lầm lũi mà đi. Gã thấy vệt đen đi qua một khu bùn lầy rồi ra đến vườn rau.

Du Thản Chi mừng thầm, hy vọng trong vườn không có người, chỉ cần con tằm đang ăn rau ở đó thì bắt được ngay. Gã rảo bước đi về phía vườn rau, đến hàng rào lập tức dừng bước, vì nghe trong vườn có tiếng người đang mắng nhiếc, nghe khá rõ: "Mi bất tuân kỷ luật, bỏ đi chơi một mình khiến lão sợ hãi nửa ngày trời, chỉ lo mi đi mất không về nữa. Lão đem mi từ đỉnh núi Côn Luân tới đây, đường xa muôn dặm, mà mi chẳng biết phải quấy chi hết. Mi ngang bướng như vậy là tự làm hại mình, chẳng ra trò trống gì, ai mà thương mi nữa." Thanh âm người này ra chiều giận dữ, nhưng vẫn đầy vẻ thương yêu kỳ vọng, tựa như cha mẹ dạy con.

Du Thản Chi nghĩ thầm: "Lão nói đem ai đó từ đỉnh núi Côn Luân tới đây, xem chừng là sư phụ hay tiền bối gì đó, chứ không phải là phụ thân." Gã nép vào bên hàng giậu để nhìn trộm, thấy lão đó là một vị hòa thượng thấp lủn thủn mà béo trùng trục, người tròn như quả bóng. Lão đang trỏ tay xuống đất, vẻ mặt căm tức, mắng nhiếc không ngớt miệng. Du Thản Chi nhìn theo tay nhà sư chỉ, bỗng vừa kinh dị vừa mừng thầm, té ra nhà sư kia đang thống mạ con tằm kỳ dị.

Tướng nhà sư vừa lùn vừa mập đã cổ quái, lão cất tiếng mắng nhiếc con tằm thì lại càng không tưởng tượng nổi. Con tằm đang chạy tới chạy lui dưới đất như muốn tìm đường trốn, nhưng tựa hồ như nó bị nhốt trong một bức tường vô hình, mỗi khi đụng đầu vào lập tức rụt lại chuyển hướng. Du Thản Chi chú ý nhìn thấy dưới đất có vẽ một vòng tròn màu vàng, con tằm tả xung hữu đột mà không sao vượt ra được. Gã tỉnh ngộ, nghĩ thầm: "Phải rồi! Nhà sư vẽ vòng tròn kia bằng một thứ thuốc kị với con tằm đó."

Nhà sư lùn mắng nhiếc một hồi nữa, rồi lấy một vật trong bọc ra cắn nhai ngấu nghiến, nhìn kĩ thì ra một cái đầu dê đã luộc chín. Lão ăn ngon lành, lại lấy trên cột nhà một cái bầu cũ kĩ mở nút ra, ngửa cổ dốc vào miệng nuốt ừng ực một hồi.

Du Thản Chi ngửi thấy mùi thơm, biết cái bầu này đựng rượu ngon. Gã lẩm bẩm: "Té ra là một nhà sư rượu thịt. Xem chừng con tằm này của lão nuôi, quý trọng vô cùng! Ta biết làm sao lấy cắp được đây?"

Gã còn đang ngẫm nghĩ, chợt góc vườn bên kia có tiếng người gọi: "Tuệ Tịnh! Tuệ Tịnh!" Nhà sư mập giật mình, vội giấu cái đầu dê cùng bầu rượu vào đống rơm. Tiếng người bên ngoài lại gọi dồn: "Tuệ Tịnh! Tuệ Tịnh! Ngươi trốn đâu mà kỹ thế, sao không lên đọc kinh chiều?" Nhà sư lùn vớ lấy cái cuốc, lật đật chạy ra luống rau vừa cuốc vừa đáp: "Đệ tử đang cuốc rau mà!" Người đi đến là một nhà sư đứng tuổi, lạnh lùng nói: "Mỗi ngày có hai khóa kinh sáng chiều, ai cũng phải đến đủ. Ngươi lên đọc kinh chiều xong hãy xuống xới rau. Ở chùa Mẫn Trung thì phải chấp hành qui củ cho nghiêm ngặt, không lẽ chùa Thiếu Lâm các ngươi không có lề luật gì sao?" Nhà sư thấp lùn pháp danh là Tuệ Tịnh nói: "Vâng", rồi bỏ cuốc đi theo nhà sư đứng tuổi ngay. Lão không dám ngoái lại nhìn con tằm, tựa hồ sợ bị phát giác.

Du Thản Chi chờ hai người kia đi ra, lắng tai nghe bốn bề vắng lặng như tờ. Gã liền chui từ chân giậu ra, thấy con tằm vẫn chạy lăng xăng không ngớt, tự hỏi: "Làm sao bắt được nó bây giờ?" Gã ngẫm nghĩ một lúc, chạy lại đống rơm móc cái bầu ra, giơ lên lắc lắc thấy còn đến nửa bầu rượu. Gã uống luôn mấy ngụm, chỗ còn thừa đổ xuống vườn rau, rồi để xuống, miệng bầu quay vào trong vòng tròn vẽ dưới đất. Con tằm bò đến miệng bầu, quả nhiên chui tọt vào trong. Du Thản Chi cả mừng, đậy nút hồ lô lại, bưng lên hai tay rồi chui qua giậu, ba chân bốn cẳng chạy về đường cũ.

Du Thản Chi mới ra khỏi chùa Mẫn Trung vài chục trượng thì cái bầu tiết ra khí lạnh ghê người, hơn cả một tảng băng. Gã hết đổi bầu từ tay phải sang tay trái, lại từ tay trái sang tay phải, nhưng lạnh thấu xương không thể cầm được. Du Thản Chi thử để lên đầu đội thì càng không ổn, khí lạnh truyền qua cái lồng sắt thấu vào óc buốt không chịu nổi, các mạch máu tựa hồ đông cứng lại không lưu thông được. Du Thản Chi gặp tình trạng cấp bách liền nghĩ ra một kế, cởi dây lưng ra buộc vào chỗ thắt trên bầu rượu rồi xách đi. Dây lưng không dẫn hơi lạnh, gã có thể xách lâu được, nhưng hơi lạnh trong bầu vẫn tiết ra, chỉ chốc lát phía ngoài bầu hơi nước đã đóng thành một lớp băng mỏng.

Comments

0 comments

Trước Tiếp
 
34,431 ❤︎ Bài viết: 2241 Tìm chủ đề
Hồi 29: Hàn độc trùng luyện hàn độc chưởng..

Du Thản Chi chạy nhanh về tới ngoài thành Nam Kinh thì trời đã khuya, cổng thành đã đóng, gã phải ngủ ở ngoài một đêm. Sáng sớm hôm sau gã mới vào cung Đoan Phúc, trình A Tử là đã bắt được con tằm mang về.

A Tử cả mừng, bỏ con tằm vào hũ sành để nuôi. Lúc đó là tháng năm, vào đầu mùa hạ khí trời ấm áp, trong điện chỉ nuôi một con tằm mà khí lạnh mỗi lúc một thêm, chẳng mấy chốc mà bình nước trà cũng đóng thành băng. Đêm ấy Du Thản Chi rét run bần bật, suốt đêm không sao ngủ được. Gã nghĩ vẩn vơ: "Con tằm này thật là cổ quái nhất thiên hạ. Giả tỉ cô nương cho nó hút máu thì cho dù mình không bị trúng độc chết, cũng rét cóng mà bỏ mạng."

A Tử vẫn tiếp tục đi bắt những rắn độc, trùng độc đem về cho đấu với con tằm. Con tằm chỉ bò quanh một vòng là đủ làm đối thủ lạnh cóng, rồi hút lấy huyết dịch trong mình con vật bị chết, Luôn mười mấy ngày như vậy, không có giống trùng nào chống cự nổi với con tằm. Một hôm A Tử bảo Du Thản Chi: "Thiết Sửu! Hôm nay ta giết con tằm trong suốt kia. Mi thò tay vào trong hũ cho nó hút máu!"

Mấy bữa nay Du Thản Chi ngày thì lo sốt vó, đêm thì mơ thấy toàn ác mộng. Bây giờ gã thấy nàng chẳng chút dung tình, thí mạng mình cho con tằm cắn, lòng gã xiết nỗi thê lương, mắt đăm đăm nhìn A Tử. Nhưng gã không nói gì, cũng không nhúc nhích.

A Tử ngồi xếp bằng tĩnh tâm vận công, trong lòng hoan hỉ nghĩ thầm: "Ta ngẫu nhiên tìm vật dị bảo này, không chừng luyện thành công phu lợi hại hơn cả sư phụ." Nàng giục Du Thản Chi: "Mi thò tay vào trong lọ đi!" Du Thản Chi nước mắt tuôn rơi, quỳ xuống lạy A Tử rồi nói: "Cô nương ơi! Khi cô nương luyện xong thần công độc chưởng rồi, đừng quên kẻ này đã chết vì cô nương, Tiểu nhân họ Du tên Thản Chi, không phải là Thiết Sửu gì gì đó!" A Tử tủm tỉm cười nói: "Được rồi, ngươi tên Du Thản Chi, ta nhớ kĩ lắm! Mi đối với ta hết dạ trung thành, ta coi ngươi là một tên nô bộc trung nghĩa."

Du Thản Chi nghe A Tử tán dương, cảm thấy được an ủi rất nhiều. Gã dập đầu lạy hai lạy rồi nói: "Đa tạ cô nương!" Nhưng ai mà chẳng muốn sống, Du Thản Chi nghĩ đến hôm trước bị rết cắn, nhờ phép vận công của nhà sư trong đồ hình mà thoát chết. Hôm nay gã không muốn bó tay chịu chết, lại đem cách đó ra thử. Gã cúi xuống, chui đầu vào giữa hai chân rồi thò tay phải vào trong lọ, tập trung ý nghĩ theo những mũi tên trong đồ hình. Ngón trỏ gã bắt đầu thấy ngứa ngáy, một luồng khí lạnh tiến vào thân thể. Gã đã chuẩn bị, cứ tâm tâm niệm niệm, quả nhiên thấy luồng khí lạnh đi đúng như ý nghĩ, từ ngón tay chuyển lên cánh tay, sau cùng lên tới đỉnh đầu.. Tia hàn khí này nhỏ xíu mà lạnh vô cùng, Du Thản Chi phải cố lắm mới chịu nổi.

A Tử thấy tư thế của Du Thản Chi thì vừa kinh ngạc vừa buồn cười. Nàng nổi tính hiếu kỳ lại gần coi, thấy con tằm kia đang cắn chặt đầu ngón tay trỏ Du Thản Chi. Mình con tằm trong suốt như thủy tinh, nàng nhìn rõ một dây máu từ miệng tằm hút vào, vòng từ trái sang phải, trở ra miệng rồi quay lại người Du Thản Chi. Từ cái đầu sắt cho đến y phục cùng chân tay gã đều bao phủ một lớp băng trắng toát.

A Tử lẩm bẩm: "Gã này chết rồi! Người sống phải có hơi nóng, khi nào hơi nước lại đóng thành băng được." Tia máu trong mình con tằm vẫn chuyển động, rõ ràng nó chưa hút hết sức. Nàng định chờ cho nó no hẳn rồi mới đập chết, lấy huyết dịch luyện công, bèn để hết tâm trí theo dõi diễn biến. Đột nhiên trên mình con tằm có một luồng nhiệt khí toát ra.

A Tử đang ngạc nhiên, bỗng nghe "tách" một tiếng, con tằm từ ngón tay Du Thản Chi rớt xuống. Nàng đã cầm sẵn một cây côn gỗ, liền đập xuống. Con tằm này rất linh mẫn, lẽ ra khó lòng đánh trúng, không ngờ nó rơi xuống đáy hũ rồi ngửa bụng lên, cựa quậy một lúc vẫn không sao lật lại được, cây côn của A Tử vừa đánh xuống, con vật đã nát nhừ.

A Tử cả mừng, vội thò tay vào lọ lấy huyết dịch trong mình con tằm xoa vào hai bàn tay, rồi nhắm mắt vận công cho thấm vào người. Nàng biết rằng con tằm này là vật chí bảo khó tìm, bèn lấy nước đó chà xát hết lần này đến lần khác để luyện công, đến lúc khô kiệt hẳn mới thôi.

A Tử luyện công vất vả hết nửa ngày mới duỗi chân đứng dậy, vẫn thấy Du Thản Chi đứng như cũ, khắp người phủ một lớp băng trắng xóa. Nàng lấy làm kinh dị, đưa tay sờ vào người gã thì thấy giá buốt vô cùng, phải rụt lại ngay. Ngay cả y phục gã cũng đóng băng cứng ngắt. A Tử chẳng hiểu ra sao, ngơ ngác đứng nhìn một hồi mới bỏ đi. Hôm sau A Tử lại đến xem, thấy Du Thản Chi vẫn đứng nguyên như cũ, băng giá trên người gã lại dày thêm một lớp nữa. Nàng vừa kinh hãi vừa buồn cười, gọi Thất Lý đến, sai y đem xác Du Thản Chi đi chôn.

Thất Lý dẫn mấy tên lính Khất Đan khiêng xác Du Thản Chi bỏ lên xe ngựa chở đi, nhưng gã chẳng buồn đào huyệt, ném xác Du Thản Chi xuống khe nước rồi trở về thành.

Không ngờ cái tính lười biếng của Thất Lý lại cứu được mạng sống cho Du Thản Chi. Ngón tay gã bị con tằm cắn, đáng lẽ phải dùng phép vận công trong Dịch Cân Kinh để giải độc. Nếu gã đã luyện hết yếu quyết trong Dịch Cân Kinh thì có thể đẩy chất độc ra ngoài, nhưng gã chỉ bắt chước tranh vẽ mà hành công, con tằm hút máu, máu lại quay về ngón tay vào huyết quản, đem những tinh hoa của con băng tằm độc nhất thiên hạ kia đưa vào thân thể gã. Chất kịch độc này thuộc loại âm hàn, chồng chất lên những chất độc của rết, nhện, rắn.. đã chứa sẵn trong người, làm gã đóng băng chết cứng.

Giả tỉ Thất Lý đem xác gã chôn cất đàng hoàng thì không chừng mấy trăm năm nữa vẫn còn cứng đơ, chưa chắc đã phân hủy được. Nhưng xác gã bị vứt xuống suối, từ từ chảy xuôi dòng chừng hai mươi dặm thì đến chỗ quanh co chật hẹp, vướng vào đám lau sậy. Lát sau nước quanh chỗ gã đóng lại thành băng, tựa hồ như một cái quan tài bằng thủy tinh. Suối vẫn tiếp tục chảy qua không ngừng, khí lạnh trong người Du Thản Chi giảm xuống dần dần, sau cùng khối băng quanh người gã rã ra.

Đầu gã chụp lồng sắt, kim loại mau nóng mà cũng mau lạnh nên băng giá bọc ngoài cái đầu sắt tan trước. Du Thản Chi bị nước tràn vào miệng mũi, họ sặc sụa, đầu óc tỉnh táo lại. Gã bò dưới suối lên, những mảnh băng còn lại trên người vỡ ra nghe lách cách, mơ màng như vừa tỉnh giấc mơ.

Du Thản Chi ngồi trên bờ suối nhớ lại, mình đối với A Tử hết dạ trung thành, nguyện đem thân nuôi trùng độc cho nàng luyện công, thế mà khi mình chết, A Tử không thở dài lấy một tiếng. Lúc người bắt đầu lạnh cứng, gã chưa mất tri giác, nhưng không nhúc nhích được, lớp băng đóng quanh người gã trong suốt, trông ra rất rõ. Gã thấy A Tử ngoẹo cổ nhìn cái xác mình rồi hớn hở tươi cười lấy huyết dịch con tằm ra xát vào tay luyện công, dường như cái chết của mình chỉ khiến nàng thú vị, tuyệt không thương tiếc.

Gã tự nhủ: "Con tằm kia độc vô cùng, đánh thắng vô số loại trùng độc khác. Cô nương lấy huyết dịch nó thấm vào bàn tay, chắc là luyện xong độc chưởng rồi. Giả tỉ mình về gặp nàng.." Đột nhiên người gã run bắn lên, lẩm bẩm: "Cô nương mà thấy mặt mình, chắc đem ra thử độc chưởng. Nếu luyện thành rồi thì chỉ một chưởng là mình toi mạng. Nếu chưa thành thì nàng lại bắt mình đi tìm trùng độc cho đến khi luyện xong độc chưởng mới thôi, bấy giờ lại thử chưởng thì mình cũng hết sống. Đằng nào cũng chết, mình trở về làm gì nữa?"

Gã đứng dậy, nhảy lên mấy cái cho những miếng băng còn đọng trên người, rơi xuống hết, rồi tự hỏi: "Ta biết đi đâu bây giờ?" Tìm Tiêu Phong để báo phụ thù ư, chuyện đó không thể nghĩ tới được nữa. Gã nhất thời không xác định được chủ ý, chỉ lang thang nơi hoang sơn dã lĩnh, lượm quả dại, bắt các loài thú điểu nhỏ để ăn. Đến xế chiều hôm sau, gã không biết làm gì bèn lôi cuốn Dịch Cân Kinh tiếng Phạn ra, theo những đồ hình vị sư lõa thể mà hành công.

Lúc gã nằm dưới suối, quyển sách bị ướt vẫn chưa khô. Du Thản Chi lật sách rất cẩn thận chỉ sợ rách, thấy trang nào cũng hiện lên đồ hình một vị quái tăng, tư thế đều khác nhau. Gã nghĩ ngợi rất lâu mới tỉnh ngộ, hình vẽ trong sách gặp ẩm ướt thì hiện lên, chứ chẳng có bồ tát nào đến cứu mạng mình. Gã liên bắt chước theo tư thế đồ hình ở trang đầu, rồi tâm niệm theo những mũi tên màu đỏ trên văn tự kỳ lạ. Dường như có một luồng khí lạnh di chuyển khắp nơi trong thân thể và tứ chi gã, tựa hồ như con băng tằm sống dậy bò trong nội thể. Gã kinh hãi đứng dậy, cảm giác băng tằm bò trong cơ thể cũng biến mất.

Trong khoảng hai canh giờ, gã bị ám ảnh bởi con băng tằm vô ảnh vô tung trong cơ thể, không sờ được cũng không bắt được, chẳng hiểu đang ẩn nấp nơi nào. Cuối cùng gã không nhẫn nại được, tiếp tục tập theo những tư thế kỳ quái đó, tâm niệm theo những mũi tên trên văn tự ngoằn ngoèo, chẳng mấy chốc lại thấy băng tằm bò trong nội thể mình. Du Thản Chi hốt hoảng la thầm: "Ta tiếp tục quán tưởng thì băng tằm tiếp tục bò, không quán tưởng thì không hiểu nó trốn chỗ nào trong người, thật là hỏng bét."

Tuy nhiên bằng tăm bò được một lúc thì cơ thể gã thấy sảng khoái vô cùng. Trong sách có rất nhiều đồ hình hòa thượng lõa thể, các mũi tên cũng quanh co biến hóa phức tạp vô cùng. Gã cứ y theo đó mà tập luyện, tựa hồ tâm ý tương thông với băng tằm trong người, trong thân thể lúc nóng lúc lạnh, mỗi lúc đều có cảm giác thư thái khác nhau.

Cứ thế vài tháng, gã thấy việc đuổi bắt cầm thú đã dễ dàng hơn nhiều, nhảy được xa, chạy được nhanh, trước kia không hề có khả năng đó.

Một đêm có một con sói đói đi kiếm ăn, nhảy đến vồ gã. Du Thản Chi kinh sợ, toan cất bước chạy trốn thì móng vuốt sắc bén đã đến vai, mấy cái răng nhọn hoắt kề sát vào yết hầu. Gã kinh hoàng, phóng ra một chưởng đánh vào đầu con sói, nó lăn ra ngoài, giãy giụa rồi gục xuống bất động. Du Thản Chi còn chưa hết sợ, chạy ra xa mấy trượng nhưng thấy con sói vẫn nằm yên, nhặt một hòn đá ném thử, trúng vào con sói mà nó vẫn bất động. Gã cả mừng, bước lại gần nhìn kỹ, thì ra con sói đã chết rồi, thật không thể tưởng tượng được, chỉ thuận tay đánh ra một chưởng đã lợi hại như thế. Rồi gã chăm chú nhìn bàn tay của mình không thấy có gì kỳ lạ cả, không nén nổi sung sướng, la lên: "Quỷ hồn của băng tằm thật là linh ứng!"

Gã chỉ cho rằng đó là năng lực của quỷ hồn con băng tằm nấp trong thân thể, không hiểu đó là công hiệu của Dịch Cân Kinh, thêm vào chất kịch độc của con băng tằm thế gian hãn hữu. Chất kịch độc âm hàn này đã bị gã hút vào nội thể, rồi được phép luyện công thượng thừa của Dịch Cân Kinh dung hợp thành âm kình cực kỳ lợi hại.

Pho Dịch Cân Kinh đúng là một bảo điển tối cao vô thượng trong võ học, nhưng tu tập không dễ dàng chút nào, phải phế bỏ được ý niệm về nhân tướng, ngã tướng mới mong thành tựu được. Những vị tăng lữ tu học môn võ công thượng thừa này đều phải dũng mãnh tinh tiến về Phật học mới có kết quả. Nhưng có ai học võ mà không muốn nhanh chóng thành tựu, muốn tâm vô sở trụ thật là thiên nan vạn nan. Bởi vậy mấy trăm năm nay trong chùa Thiếu Lâm không thiếu gì cao tăng muốn luyện môn này mà dụng công nhiều năm cũng chẳng được gì. Tăng chúng đều tưởng kinh này không hiệu nghiệm, nên khi bị A Châu lấy trộm, các cao tăng trong chùa tuy phẫn nộ nhưng cũng không coi là việc lớn. Một trăm năm trước đây, có một vị hòa thượng tính khí điên khùng xuất gia từ nhỏ, sư phụ của y khổ luyện Dịch Cân Kinh không thành tựu, tức giận mà viên tịch. Nhà sư điên nhặt được cuốn kinh ở bên di thể của sư phụ, cười ha hả rồi bắt đầu luyện, quả nhiên trở thành cao thủ phi thường. Nhưng cũng chỉ được một đời, nhà sư điên đến lúc viên tịch cũng không nói ra được vì sao võ công mình cao cường đến thế, mọi người đều không hiểu đó là công hiệu của Dịch Cân Kinh. Đến bây giờ, Du Thản Chi luyện môn võ công này một cách vô tâm, chỉ vì muốn gọi quỷ hồn của băng tằm ra để chơi đùa, không nghĩ gì đến việc tiến triển công lực, chính là đi đúng con đường của nhà sư điên năm xưa,

Từ đó về sau, gã liên tiếp đánh chết nhiều loại dã thú, biết rằng chưởng lực của mình rất mạnh. Bởi vậy mà dũng khí cũng từ từ nổi dậy, dần dần đi về hướng nam. Nhưng gã sợ có ngày quỷ hồn của băng tằm bỏ mình mà đi, không gọi lên được, bởi thế ngày nào cũng chiêu hồn, không dám bỏ ngày nào. May mà quỷ hồn này thật là linh ứng, hễ gã gọi là đến ngay.

Du Thản Chi cứ nhắm hướng nam mà tiến, một hôm đã đến địa giới Hà Nam ở Trung Châu. Gã tự biết cái đầu sắt làm người ta kinh sợ, nên ban ngày chỉ ở nơi hoang dã nghỉ chân, đêm mới dám ra ngoài trộm cắp vật thực mà ăn. Lúc này thân thủ của hắn đã linh mẫn lắm rồi, không ai phát giác được.

Một hôm gã đang ngủ trong một cái miếu hoang bên vệ đường, bỗng nghe tiếng bước chân, có ba người đi vào miếu.

Gã nhanh chân núp vào phía sau bệ thờ, không dám chạm mặt những người mới đến. Ba người đó vào miếu, ngồi xuống ăn uống nhồm nhoàm, nói đủ thứ chuyện, rồi kể đến những cố sự trên giang hồ. Bỗng một người hỏi: "Theo ngươi thì gã Kiều Phong trốn đâu mà kín thế, cả năm nay không có tí tin tức gì của hắn."

Hai tiếng Kiều Phong vừa lọt vào tai Du Thản Chi, gã trong lòng chợt động, bèn để ý nghe xem họ nói gì. Một người khác nói: "Gã tác ác quá nhiều, bây giờ làm con rùa rút đầu rút cổ, e rằng chúng ta không thể tìm được nữa." Người nói trước lại nói: "Cũng chưa chắc, không chừng gã đang chờ cơ hội, ai mà xui xẻo gặp phải là gã lại tái xuất giang hồ. Ngươi tính mà xem, sau trận chiến ở Tụ Hiền Trang, gã đã giết thêm bao nhiêu người. Nào là Từ trưởng lão, phu phụ Đàm Công Đàm Bà, Triệu Tiền Tôn, cả nhà Thiết diện phán quan Đơn lão anh hùng ở Thái Sơn, Trí Quang hòa thượng trên Thiên Đài Sơn, Mã phu nhân của Cái Bang, trưởng lão Bạch Thế Kính, đúng là không đếm xuể được."

Du Thản Chi nghe thấy năm chữ "đại chiến Tụ Hiền Trang", bất giác tim nhói lên một cái, những lời nói tiếp theo không lọt vào tai nữa. Một hồi lâu, có một âm thanh già nua nói: "Kiều bang chủ trước nay nhân nghĩa với người, sao lại.. sao lại.. ta nghĩ không ra, chẳng lẽ đó là kiếp số? Thôi, chúng ta đi." Rồi lão đứng dậy toan bước đi.

Một người khác nói: "Lão Uông! Theo lão thì chúng ta phải cử ai làm bang chủ?" Thanh âm già nua đáp lại: "Ta cũng không biết, tuyển tới tuyển lui cả năm nay cũng chưa có ai được tất cả anh hùng hảo hán trên dưới đều kính phục. Ái chà, cứ chờ đấy mà xem." Một người khác nói: "Ta biết tâm ý của lão rồi, chỉ mong gã Kiều Phong quay lại làm bang chủ chúng ta. Tốt nhất là lão đừng nằm mơ giữa ban ngày nữa, chuyện này mà lọt vào tai Toàn đà chủ, e rằng mạng lão khó toàn." Lão Uông lo lắng nói: "Tiểu Tất! Chuyện này là mi nói, chứ ta chẳng bao giờ mong Kiều bang chủ quay lại làm bang chủ bản bang đâu." Gã Tiểu Tất cười khẩy, nói: "Lão mở miệng ra là Kiều bang chủ nọ, Kiều bang chủ kia, không phải nhất tâm mong muốn Kiều Phong làm bang chủ Cái Bang sao?" Lão Uông cả giận nói: "Ngươi mà mở miệng nói bậy bạ nữa, là ta đập chết cái mạng chó ngay." Người thứ ba khuyên can: "Thôi, chúng ta là huynh đệ, đừng vì việc này mà thành chuyện. Chúng ta đi thôi, đừng chậm trễ nữa. Còn Kiều Phong sao lại làm bang chủ được, hắn là giống chó Khất Đan, bọn ta mà gặp hắn là muốn liều mạng ngay. Mà nói cho cùng thì giả tỉ chúng ta muốn hắn làm bang chủ, liệu hắn có chịu không?" Lão Uông thở dài nói: "Ngươi nói phải lắm." Nói xong, ba người rời khỏi miếu.

Du Thản Chi nghĩ thầm: "Té ra Cái Bang đang truy tìm Kiều Phong, mà tìm cùng hết cũng không thấy. Làm sao họ đoán nổi gã đang làm Nam viện đại vương ở nước Liêu? Giả tỉ ta đem chuyện này nói cho họ biết, thì Cái Bang người đồng thế mạnh, lại liên hệ với anh hùng hảo hán Trung Nguyên, không chừng đến giết được tên ác tặc này. Ta cũng theo họ mà đi giết Kiều Phong." Gã nghĩ đến chỗ khi quay lại Nam Kinh có thể gặp A Tử, trong đầu lại nóng bừng lên.

Khi đó gã bèn nhẹ nhàng đi từ trong miếu ra, thấy ba tên đệ tử Cái Bang đi theo đường núi về hướng tây, bèn đi theo sau xa xa. Vùng núi này rất hoang vắng, không một bóng người. Gã đi vài dặm nữa đến một hẻm núi, xa xa đã nhìn thấy trong đó có một đống lửa. Du Thản Chi nghĩ thầm: "Cái đầu sắt của ta trông rất kỳ dị, e rằng người ta nhìn thấy phải kinh ngạc. Ta kiếm chỗ nấp để nghe ngóng rồi hãy tính." Gã bèn chui vào bụi cỏ, từ từ bò đến phía đống lửa, cứ vài trượng lại ngừng. Đến gần hơn một chút đã nghe thanh âm ồn ào, số người quanh đống lửa không phải là ít. Thời gian vừa qua Du Thản Chi chịu khổ đã nhiều, nên không dám sơ ý, càng gần đống lửa gã bò càng chậm, sau cùng nấp vào sau một tảng đá chỉ cách vài trượng rồi ngừng lại không dám đến gần hơn, cúi mình lắng tai nghe.

Bên đống lửa có người đang đứng phát biểu, Du Thản Chi nghe một hồi, thì hiểu đây là cuộc họp của Đại Trí phân đà, thương nghị về việc ở đại hội Cái Bang hôm sau sẽ đề cử người nào làm bang chủ. Có người chủ trương đề cử Tống trưởng lão, có người muốn ủng hộ Hề trưởng lão, lại có người nói: "Nếu nói đến trí dũng song toàn, thì phải đề cử Toàn đà chủ của bản đà. Chỉ tiếc rằng ngày trước Toàn đà chủ đã bị Kiều Phóng dùng việc công trả tư thù mà trục xuất, đến nay cũng chưa chính thức trở lại bản bang." Lại có một người nói: "Toàn đà chủ của chúng ta là người đầu tiên đưa âm mưu của Kiều Phong ra ánh sáng, thật là đã lập đại công, việc trở về bản bang là rất dễ dàng. Trong cuộc đại hội, chúng ta hãy đưa việc khôi phục bang tịch cho Toàn đà chủ trước, rồi nhắc đến đại công của ông ta, sau cùng mới đề cử làm bang chủ."

Một giọng khác nói: "Việc ta quay lại bản bang thì hết sức hợp lý, không nói làm gì, nhưng nếu các vị huynh đệ muốn đề cử ta làm bang chủ thì không được đâu. Mọi người sẽ nghĩ huynh đệ chúng ta vạch trần âm mưu của Kiều Phong là vì lợi riêng." Một người lớn tiếng nói: "Toàn đà chủ, người xưa có nói: Đương nhân bất nhượng (không thể nhường nhau làm việc nhân) . Thuộc hạ thấy mấy vị trưởng lão của bản bang tuy võ công rất giỏi, nhưng mưu trí thì không ai hơn huynh được. Đối với gã Kiều Phong, chúng ta phải đấu trí chứ không đấu lực, Toàn đà chủ.." Gã Toàn đà chủ bèn cắt lời: "Thi huynh đệ! Khi ta chưa chính thức trở về bản bang thì ba chữ Toàn đà chủ không thể gọi bừa bãi được."

Quanh đống lửa có hơn hai trăm bang chúng Cái Bang, đều nói: "Tống trưởng lão đã chỉ thị huynh vẫn tạm thời giữ chức đà chủ bản đà, ba chữ Toàn đà chủ có gì mà không gọi được?" "Sau này huynh làm đến bang chủ, khi đó mới không gọi là đà chủ nữa." "Toàn đà chủ có thể tạm thời chưa làm bang chủ, nhưng giá chót cũng phải đưa lên làm trưởng lão, chỉ mong đến lúc đó có thể kiêm nhiệm đà chủ bản đà." Một người khác lại nói: "Đúng thế! Khi Toàn đà chủ đã làm tới bang chủ rồi, cũng mong người kiêm nhiệm chức vị đà chủ của Đại Trí phân đà của chúng ta."

Mọi người đang bàn luận náo nhiệt, bỗng có một tên Cái Bang bước vào hẻm núi dõng dạc nói: "Khải bẩm đà chủ, có Đoàn vương tử nước Đại Lý đến thăm." Toàn đà chủ, chính là Toàn Quan Thanh, đứng dậy nói: "Đoàn vương tử ư? Nước Đại Lý cùng bản bang trước nay có liên hệ gì đâu?" Rồi y lớn tiếng nói với mọi người: "Các vị huynh đệ! Nhà họ Đoàn ở Đại Lý là võ lâm thế gia, lần này Đoàn vương tử đích thân đến thăm, tất cả chúng ta đều phải tiếp đãi chu đáo." Y liền dẫn mọi người ra ngoài hẻm núi để nghênh tiếp.

Bên ngoài có một vị công tử đang đứng cười hì hì, xung quanh có đến bảy tám tùy tùng, chính là Đoàn Dự. Hai bên gặp nhau liền chắp tay thi lễ, kể ra đã có quen biết, từng gặp nhau ở khu rừng hạnh thành Vô Tích, nhưng khi đó Toàn Quan Thanh không hiểu thân phận và lai lịch của Đoàn Dự. Y nghĩ lại ngày đó mình bị Kiều Phong đuổi đi một cách nhục nhã đã bị Đoàn Dự nhìn thấy, không khỏi ngượng ngùng, nhưng bình tâm lại ngay, ôm quyền nói: "Không biết Đoàn vương tử ghé thăm để ra xa nghênh tiếp, thật là thất lễ."

Đoàn Dự cười nói: "Không dám không dám! Vãn sinh phụng mệnh gia phụ, có việc cần phải báo với quý bang, nên phải đến quấy nhiễu."

Hai người nói mấy câu khách sáo, Đoàn Dự giới thiệu mấy người cùng đi là bọn Cổ Đốc Thành, Phó Tư Qui, Chu Đan Thần với bên Cái Bang. Toàn Quan Thanh mời Đoàn Dự ngồi lên một tảng đá ở phía trước đống lửa, rồi bọn Cái Bang đưa rượu lên mời.

Đoàn Dự nâng ly rượu lên uống rồi nói: "Mấy tháng trước, gia phụ ở Trung Châu có ghé qua nhà Mã phó bang chủ của quí bang ở Tín Dương thành, đã chính mắt nhìn thấy Bạch Thế Kính trưởng lão qua đời, bên trong có điều kỳ quái. Việc này có liên quan rất nhiều với quí bang cùng mấy vị anh hùng trong võ lâm. Gia phụ đã muốn nói với nhân vật đầu não của quí bang từ trước, nhưng vì mang thương tích phải điều dưỡng đến nay mới khỏi, hơn nữa các vị trưởng lão của quí bang hành tung vô định, khó mà hội diện. Gia phụ có viết một bức thư mà đến nay vẫn chưa trao được, mấy ngày trước đây biết quí đà sắp tụ hội ở đây, bèn sai vãn sinh đến trao lên." Chàng nói xong liền đứng dậy, lấy trong túi một bức thư trao qua.

Toàn Quan Thanh đứng dậy, đón phong thư bằng cả hai tay rồi nói: "Đoàn vương gia thật là tình nghĩa thâm trọng, phiền đến Đoàn vương tử đích thân trao thư, tệ bang trên dưới cảm kích vô cùng." Phong thư có niêm phong cẩn thận, trên bì thư viết: "Cái Bang chư vị trưởng lão thân khải", tức là trưởng lão Cái Bang mới được đọc. Toàn Quan Thanh thấy tám chữ này, nghĩ mình không tiện mở ra coi, bèn nói: "Tệ bang sắp có kỳ đại hội, các trưởng lão đều đến. Tại hạ sẽ đích thân đem phong thư của Đoàn vương gia trình lên." Đoàn Dự nói: "Nếu vậy thì tốt quá, vãn sinh xin cáo từ."

Toàn Quan Thanh cảm tạ, tiễn khách ra về rồi nói: "Bạch trưởng lão cùng Mã phu nhân của tệ bang không may chết dưới độc thủ của Kiều Phong, ngày đó Đoàn vương gia đã chứng kiến thảm kịch đó ư?"

Đoàn Dự lắc đầu nói: "Bạch trưởng lão cùng Mã phu nhân không phải bị Kiều đại ca giết chết. Hung thủ sát hại Mã phó bang chủ là một người khác, gia phụ đã viết minh bạch trong thư. Sau này Toàn đà chủ xem thư tự nhiên sẽ hiểu." Trong lòng chàng nghĩ: "Việc này nói cũng dông dài, mi lại không phải là người tốt, không cần phải nói nhiều. Chắc mi cũng không dám giấu giếm phong thư của gia gia ta đâu." Toàn Quan Thanh chắp tay nói: "Sau này còn gặp lại, xin không tiễn xa nữa."

Đoàn Dự quay người đi ra ngoài khe núi, thấy hai đệ tử Cái Bang cùng hai hán tử khác đang đến. Hai hán tử nhìn nhau, tiến lên vài bước, hướng về Đoàn Dự thi lễ rồi trình lên một tấm thiệp đỏ. Đoàn Dự nhận lấy, nhìn qua thấy mấy hàng chữ: "Tô Tinh Hà kính mời kỳ thủ trong thiên hạ, đến mùng tám tháng hai tụ hội tại tỉnh Hà Nam, núi Lôi Cổ, đất Thiên Lung."

Trước nay Đoàn Dự vẫn thích chơi cờ, thấy mấy chữ này liền phấn chấn tinh thần, cười nói: "Thật là tuyệt diệu. Nếu vãn sinh không bận chuyện gì khác, nhất định sẽ đến. Không hiểu sao hai vị lại biết vãn sinh thích đánh cờ?". Hai hán tử có vẻ vui mừng, trong miệng ú ớ chỉ xua tay loạn lên ra hiệu, thì ra đều là người câm. Đoàn Dự thấy thế đành cười, hỏi Chu Đan Thần: "Núi Lôi Cổ cách đây có xa không?", rồi đưa tấm thiệp cho y xem.

Chu Đan Thần xem qua, ôm quyền quay sang nói với hai hán tử: "Thế tử của Trấn Nam Vương nước Đại Lý là Đoàn công tử xin đa tạ Thông Biện tiên sinh trước. Đến lúc đó nhất định sẽ đích thân đến viếng." Sau đó liền chỉ Đoàn Dự, ra hiệu rằng sẽ đến dự hội.

Hai hán tử nghiêng mình thi lễ với Đoàn Dự, rồi lấy ra một tấm thiếp trình lên Toàn Quan Thanh. Y xem qua rồi cung kính trao trả, chắp tay nói: "Toàn Quan Thanh là người tạm nắm quyền đà chủ Đại Trí phân đà ở Cái Bang, xin cung kính trình bày với Thông Biện tiên sinh ở núi Lôi Cổ rằng Toàn mỗ kỳ nghệ kém cỏi, chỉ tổ thiên hạ chê cười, không dám đến dự. Xin tiên sinh thứ lỗi." Hai hán tử thi lễ, rồi lại thi lễ lần nữa với Đoàn Dự, quay người đi.

Lúc này Chu Đan Thần mới nói với Đoàn Dự: "Núi Lôi Cổ ở phía nam Cảo Huyện, phía đông bắc Cang Khuất Nguyên, cách đây không xa lắm."

Đoàn Dự cùng Toàn Quan Thanh từ biệt, ra khỏi hẻm núi rồi mới hỏi Chu Đan Thần: "Thông Biện tiên sinh Tô Tinh Hà là người như thế nào? Là một kỳ thủ nổi tiếng ở Trung Nguyên chăng?" Chu Đan Thần nói "Thông Biện tiên sinh chính là Lung Á tiên sinh."

Đoàn Dự "A" lên một tiếng, cái tên Lung Á tiên sinh khi ở Đại Lý chàng đã nghe bá phụ cùng phụ thân nhắc đến, biết đó là một cao thủ tiền bối của võ lâm Trung Nguyên, vừa câm vừa điếc nhưng võ công rất cao. Bá phụ chàng khi nhắc đến ông ta đều có vẻ rất kính trọng. Chu Đan Thần lại nói: "Lung Á tiên sinh có cố tật, nhưng lại tự xưng là Thông Biện tiên sinh, không chừng ông ta nghe bằng tâm, nói bằng bút còn hơn người thường nghe bằng tai, nói bằng lưỡi." Đoàn Dự gật đầu nói: "Cũng có lý." Chàng đi vài bước, đột nhiên thở dài sườn sượt.

Thì ra chàng nghe Chu Đan Thần nói về Tâm Thông Bút Biện của Lung Á tiên sinh thắng được Nhĩ Thông Thiệt Biện của người thường, không khỏi nghĩ đến võ công bằng miệng lưỡi của Vương Ngữ Yên, phàm nhân dùng binh đao quyền cước không sao hơn được.

Sau khi chàng cùng A Châu cứu bọn Cái Bang ở Vô Tích, không bao lâu hai gã Bao Bất Đồng, Phong Ba Ác cũng đến gặp Vương Ngữ Yên, rồi cả năm người đi về hướng bắc tìm Mộ Dung công tử. Đoàn Dự tự nhiên cũng đi theo. Phong Ba Ác thì nghĩ đến cái ơn chàng hút máu độc trị vết thương bò cạp cắn, nên rất hoan nghênh. Còn Bao Bất Đồng nói chuyện không lịch sự chút nào, trách mắng Đoàn Dự không biết trời cao đất dày, dám đóng giả làm Mộ Dung công tử, Về sau gã lại còn nói: "Mi không cút đi cho lẹ thì ta đánh cho bây giờ." Vương Ngữ Yên thì chỉ huyên thuyên với Phong Ba Ác về việc nên đi đâu để tìm biểu huynh, tình cảnh quẫn bách của Đoàn Dự nàng coi như không thấy.

Đoàn Dự không biết làm sao, đành phải chia tay với Vương Ngữ Yên đi về hướng bắc, nhưng rồi lại nghĩ: "Các ngươi đi Hà Nam tìm Mộ Dung Phục, ta cũng muốn đi Hà Nam, Hà Nam ở Trung Châu không phải là nhà của bọn Mộ Dung các ngươi. Mộ Dung Phục và Bao Bất Đồng đi được, chẳng lẽ Đoàn mỗ không đi được? Nếu trên đường có tình cờ gặp mặt với các ngươi thì chẳng qua là ý trời, Bao Tam tiên sinh ngươi không thể trách ta được."

Nhưng ông trời hiển nhiên không có ý định cho chàng gặp Vương Ngữ Yên. Mấy tháng qua, Đoàn Dự du ngoạn Hà Nam, danh nghĩa là du sơn ngoạn thủy, nhưng thực chất là nhìn đông ngó tây chỉ mong thấy được một sợi tóc hay một chéo áo của Vương Ngữ Yên, chứ non xanh nước biếc không lọt vào đến nửa con mắt.

Một hôm, Đoàn Dự vào Bạch Mã Tự ở Lạc Dương, đang đàm luận về kinh A Hàm với phương trượng, thảo luận về Thất Bảo của Chuyển Luân Thánh Vương trong Phật học. Đoàn Dự đặc biệt hứng thú về Ngọc Nữ Bảo "không dài không ngắn, không trắng không đen, đông ấm hè mát". Nhưng phương trượng lắc đầu quầy quậy, nói rằng: "Đoàn cư sĩ, đây chỉ là ví dụ, huống hồ Phật tổ đã nói rõ rằng thất bảo chỉ là vô thường.." Nói đến đây thì có ba người tiến vào trong chùa, chính là Phó Tư Qui, Cổ Đốc Thành và Chu Đan Thần.

Sau khi Đoàn Chính Thuần rời khỏi Mã gia ở Tín Dương, gặp lại Nguyễn Tinh Trúc, rồi tìm một nơi để dưỡng thương. Ông nghĩ đến Tiêu Phong đã bị Cái Bang vu cho cái tội hạ sát Mã Đại Nguyên, nhất định phải vì ông ta mà biện bạch, nên đã viết một lá thư, sai bọn ba người Phó Tư Qui đi trao cho Cái Bang.

Bọn Phó Tư Qui đi đến Lạc Dương, mà trong tổng đà của Cái Bang không có nhân vật đầu não nào. Họ lại nghe nói Đại Trí phân đà đang tụ hội ở gần đó, bèn tìm đến để đưa thư. Trên đường, ghé vào một tửu lâu nghe người ta kể chuyện tiếu lâm về một vị công tử si ngốc, hình mạo cử chỉ rất giống Đoàn Dự, họ bèn hỏi rõ phương hướng rồi tìm đến được Bạch Mã Tự.

Bốn người gặp nhau hết sức vui mừng. Đoàn Dự nói: "Ta cùng đi đưa thư với các ngươi, rồi các ngươi dẫn ta đến bái kiến phụ vương." Chàng đã biết phụ thân đang ở Hà Nam, cũng rất muốn gặp. Bấy lâu chàng không nghe thấy chút tin tức nào của Vương Ngữ Yên, ngày đêm lo lắng. Đoàn Dự chỉ mong tại Đại Trí phân đà của Cái Bang là chỗ nhân vật giang hồ tụ hội, may ra có ai từng trông thấy dung nhan tuyệt thế của nàng chăng, nhưng cuối cùng cũng không được gì.

Chu Đan Thần thấy chàng thở ngắn thở dài, cứ tưởng đang nhớ đến Mộc Uyển Thanh, việc này làm sao khuyên giải được? Gã nghĩ rằng tốt nhất là dẫn dụ cho chàng nghĩ sang chuyện khác, bèn nói: "Thông Biện tiên sinh phát thiếp mời thiên hạ tới đánh cờ, chắc hẳn kỳ lực của ông ta cao lắm. Sau khi công tử gặp Trấn Nam Vương cũng nên đến chỗ Thông Biện tiên sinh mà chơi mấy ván."

Đoàn Dự gật đầu nói: "Không sai, có thể mượn những quân đen trắng giải phá thành sầu. Tuy nàng thấu hiểu võ công khắp thiên hạ, thuộc lòng vô số kinh điển võ học, nhưng vị tất đã biết chơi cờ. Cuộc kỳ hội này của Thông Biện tiên sinh, chắc nàng không tới đâu."

Chu Đan Thần không hiểu Đoàn Dự nói đến ai, dọc đường chỉ thấy chàng tựa hồ đầu óc không để trong người. Gã nghe chàng nói chuyện câu trước chẳng ăn nhập gì đến câu sau, nhưng đã quen nên cũng coi là chuyện thường, không hỏi thêm nữa.

Đoàn người cứ đi về hướng tây bắc. Đoàn Dự ngồi trên lưng ngựa, lúc chau mày, lúc phì cười, rồi nói: "Trong kinh có nói: Nên nghĩ rằng trong thân mỹ nữ chỉ toàn máu mủ, trăm năm sau biến thành xương trắng (đương tự mỹ nữ, thân tàn nồng huyết, bách niên chi hậu, hóa bi bạch cốt ). Nói thì nói vậy, nhưng ta e rằng mỹ nhân sau một trăm năm hóa thành xương trắng thì đống bạch cốt đó cũng cực kỳ mỹ lệ." Chàng đang tưởng tượng xương cốt Vương Ngữ Yên sau này trông thế nào, chợt nghe tiếng vó ngựa từ xa chạy tới. Có một người nằm phục trên lưng ngựa, trong đêm tối không thể nhận định là người như thế nào.

Con ngựa đó không có ai điều khiển, xông thẳng vào bọn bốn người Đoàn Dự. Phó Tư Qui và Cổ Đốc Thành đưa tay nắm dây cương kéo lại, thấy người trên lưng không động đậy gì. Phó Tư Qui đưa mắt nhìn kỹ, thì ra là một sứ giả của Lung Á tiên sinh, trên mặt nhoẻn nụ cười mà lại tựa như không phải cười, đã chết lâu rồi. Lúc nãy y vừa đưa thiệp cho Đoàn Dự, không hiểu sao bây giờ lại chết rồi. Một con ngựa khác cũng chạy tới, trên lưng là xác tên sứ giả kia, trên mặt lộ vẻ cười quái dị. Phó Tư Qui biết ngay hai tên này trúng kịch độc mà chết, liền giật ngựa lui lại hai bước, không dám chạm vào hai cái thi thể đó.

Đoàn Dự cả giận nói: "Tên đà chủ họ Toàn của Cái Bang thật là ác độc, sao lại hạ độc thủ giết những người này? Ta phải đến lý luận với hắn." Chàng nói xong liền quay đầu ngựa lại, muốn đến chất vấn Toàn Quan Thanh.

Trong bóng tối phía trước bỗng có người nói: "Thằng lỏi này không biết trời cao đất rộng chi hết. Ngoài môn hạ của Tinh Tú Lão Tiên, trong thiên hạ còn ai có pháp thuật giết người vô hình vô ảnh như thế? Lão già Lung Á đó cứ làm con rùa rút đầu rút cổ thì chẳng nói làm gì, nhưng hiện nay lão mon men xuất hiện trên giang hồ, Tinh Tú Lão Tiên làm sao tha cho lão được? Ê, tên tiểu tử kia! Chuyện này không liên quan đến ngươi, mau mau cút đi cho ta nhờ."

Chu Đan Thần hạ giọng nói: "Công tử, đây là nhân vật phái Tinh Tú, không liên quan gì đến chúng ta. Mình đi thôi!"

Đoàn Dự tìm không thấy Vương Ngữ Yên cũng đã thấy chán nản. Giả tỉ hai tên sứ giả của Lung Á Lão Nhân mà chưa uổng mạng thì chàng cũng đến cứu, nhưng chúng đã chết rồi thì thật chẳng muốn sinh sự nữa làm gì. Chàng thở dài rồi nói: "Câm điếc vẫn chưa đủ, bao giờ mắt không nhìn thấy gì, mũi không ngửi thấy gì, trong lòng không có ý niệm gì nữa thì mới là giải thoát hết phiền não."

Chàng nói thì nói vậy, nhưng đã lỡ gặp Vương Ngữ Yên, dáng dấp giọng cười của nàng đã in sâu vào tâm khảm, giả tỉ bây giờ hỏng cả tai mắt mũi miệng thì cũng đã muộn, phiền não e rằng không thể giải thoát được. Bỗng nhiên phía trước có người buông tiếng cười rộ rồi vỗ tay nói lớn: "Đúng, đúng lắm! Ngươi nói rất có lý. Móc mắt, cắt mũi vẫn chưa đủ, phải lôi ra đánh đập đến một ý niệm cũng không còn thì mới gọi là xong."

Đoàn Dự than rằng: "Thân thể bên ngoài tàn phế chưa chắc đã hiệu quả. Phải tự mình tu tâm, không nghĩ đến sắc tướng trên thế gian, thì mới tới mức tâm vô sở trụ. Nếu thế thì trở thành đại bồ tát rồi, ta chỉ là phàm phu tục tử, làm sao tu tập tới trình độ đó được? Than ôi! Oán tăng hội, ái biệt ly, cầu bất đắc (gặp người mình ghét, xa người mình thương, muốn mà không được ) đều là cái khổ của nhân sinh."

* * *

Du Thản Chi nấp sau tảng đá trong bụi cỏ, thấy bọn Đoàn Dự đến rồi đi, sau đó lại nghe thấy tiếng hô hoán ở phía trước. Lúc đó hai tên đệ tử Cái Bang chạy lẹ đến nói nhỏ với Toàn Quan Thanh: "Toàn đà chủ, hai gã ban nãy không hiểu sao đã bị người ta đánh chết rồi. Hung thủ tự xưng là người của phái Tinh Tú, môn hạ của Tinh Tú Lão Tiên".

Toàn Quan Thanh giật mình, biến sắc mặt. Y đã nghe nói đến Tinh Tú Lão Quái ở phái Tinh Tú, đã giỏi dụng độc mà võ công cũng rất kỳ ảo, nghĩ rằng môn nhân của lão ta giết sứ giả của Lung á Lão Nhân thì không liên quan đến mình, đừng giây vào là hơn. Y liền nói: "Biết rồi! Chẳng qua là ma quỉ giết nhau, mặc kệ chúng đi."

Bỗng phía trước có tiếng người nói: "Thằng cha này ăn nói láo toét, đã biết bọn ta là môn hạ của Tinh Tú Lão Tiên mà còn dám mắng ta là quỉ, chắc chán sống rồi chăng?" Toàn Quan Thanh cả kinh, bất giác lùi lại một bước, dưới ánh lửa thấy ngay trước mặt có một tên bang chúng thủ hạ của mình. Y định thần nhìn kỹ, thấy mặt tên này tựa như cười mà không phải cười, trông rất kỳ lạ, phía sau hình như lại còn một người nữa, bèn hỏi: "Các hạ là thần hay là quỉ, sao lại đến đây?"

Người đứng phía sau tên đệ tử Cái Bang đáp lại, giọng nói âm hiểm lạ thường: "Ngươi to gan thật, lại nói một chữ quỷ nữa. Lão gia đây là môn hạ của Tinh Tú Lão Tiên. Lão Tiên đã giá đáo Trung Nguyên, trước mắt cần dùng hai chục con rắn độc, một trăm con trùng độc. Cái Bang chúng bay xưa nay vẫn có nhiều độc vật, mau mau đem dâng lên. Tinh Tú Lão Tiên thấy chúng bay ngoan ngoãn, không chừng sẽ tha mạng cho bọn ăn mày mạt hạng này. Nếu không chịu, hà hà, cứ nhìn tên này mà làm gương."

Nghe "binh" một tiếng, tên đệ tử Cái Bang đứng trước bỗng vọt lên không, rồi rớt xuống bên đống lửa không cục cựa, thì ra đã chết rồi. Xác gã vừa bay lên, liền lộ ra một hán tử thân thể lùn mập, mặc áo ngắn, không hiểu đã lẻn đến giết gã từ bao giờ.

Toàn Quan Thanh vừa kinh sợ vừa giận dữ, trong lòng suy nghĩ rất lung: "Tinh Tú Lão Quái muốn cưỡi lên đầu Cái Bang ta, nếu không khuất phục thì phải đối đầu. Việc này tuy hung hiểm, nhưng nếu ta mới nghe dọa một tiếng đã ngoan ngoãn đem rắn độc trùng độc dâng lên, thì huynh đệ trong bang hẳn là nhìn ta bằng nửa con mắt, chuyện ta làm bang chủ coi như vô vọng, mà muốn đứng vững trong bang cũng khó. May mà Tinh Tú Lão Quái chưa thân hành đến đây, gã này chỉ có một mình, không đến nỗi đáng sợ." Y nghĩ đến đó, bèn cười khẩy hỏi lại: "Té ra huynh đài là môn hạ phái Tinh Tú. Xin cho biết tôn tính đại danh?"

Tên lùn kia đáp: "Đạo hiệu ta là Thiên Lang Tử. Ngươi mau mau chuẩn bị sẵn rắn độc trùng độc đi." Toàn Quan Thanh cười nói: "Rắn độc trùng độc chỉ là chuyện nhỏ, không cần lưu tâm lắm." Y thuận tay nhặt dưới đất lên một cái túi vải, nói: "Trong này có mấy con rắn độc, huynh đài xem thử coi Tinh Tú Lão Tiên có dùng được hay không?"

Tên lùn Thiên Lang Tử nghe Toàn Quan Thanh gọi "Tinh Tú Lão Tiên", trong lòng hoan hỉ, lại thấy thái độ y cung kính bèn nghĩ: "Cái Bang gì gì đó là một đại bang ở Trung Nguyên, mà vừa nghe danh hiệu của sự phụ ta đã sợ đến té đái vãi phân. Ta lấy mấy con rắn độc này về ắt là sư phụ hoan hỉ, khen ta làm việc đắc lực. Nói đi nói lại, thì cũng dựa vào uy danh của sư phụ lão nhân gia thôi." Y bèn cúi đầu nhìn vào trong cái túi đó.

Đột nhiên trước mắt y tối sầm lại, cái túi vải đã chụp lên đầu. Thiên Lang Tử kinh hãi, đánh ra một chưởng nhưng chẳng trúng ai. Lúc đó trên đầu, trên mặt, sau gáy đồng thời đau nhói lên, chắc đã bị độc vật trong túi cắn trúng. Gã không kịp giật cái bao xuống, phóng ra hai chưởng rồi vọt người đi. Đầu gã bị cái túi vải chụp kín, mắt không thấy gì, song chưởng vung lên loạn xạ, lại cảm thấy bị rắn rết cắn khắp chỗ trên đầu trên mặt, trong lúc hoảng hốt chỉ biết chạy mà thôi. Bỗng dưng hắn bước vào chỗ không, thân thể rơi từ trên cao xuống. Gã chỉ kêu được một tiếng đã rơi tòm xuống con sông chảy quanh chân núi, rồi bị cuốn trôi theo dòng nước.

Bản ý của Toàn Quan Thanh là giết người diệt khẩu, nào ngờ để người chạy mất. Tuy tên lùn kia bị độc vật cắn vào mặt, lại rớt xuống sông, dĩ nhiên phần chết nhiều hơn phần sống, nhưng Toàn Quan Thanh nghĩ đến phái Tinh Tú dụng độc như thần, không chừng có thuốc giải độc hiệu nghiệm, lại ở Tinh Tú Hải lâu năm chắc không tới nỗi chết đuối. Giả tỉ tên này không chết, phái Tinh Tú biết tin nhất định sẽ cho nhiều người đến phục thù. Gã trầm ngâm một lúc rồi nói: "Chúng ta hãy bày trận mãng xà, đánh nhau với Tinh Tú Lão Quái một phen. Chẳng lẽ vì Kiều Phong bỏ đi mà Cái Bang chúng ta không đứng vững hay sao? Chẳng lẽ từ đây phải chịu người ngoài áp bức hay sao? Phái Tinh Tú chuyên nghề dùng độc, chúng ta không thể đánh nhau bằng binh đao quyền cước, nhưng có thể dĩ độc công độc."

Bọn Cái Bang reo lên khen phải, lập tức tản ra bốn hướng, lập thành thế trận ở cách đống lửa vài trượng rồi xếp bằng ngồi xuống.

Du Thản Chi thấy Toàn Quan Thanh dùng mưu chụp túi vải vào đầu tên Thiên Lang Tử kia, nghĩ thầm: "Té ra trong túi vải đó có độc vật. Họ có nhiều túi vải thế kia, chẳng lẽ túi nào cũng có trùng độc rắn độc hay sao? Bọn Cái Bang này bắt trùng bắt rắn rất giỏi, nếu vậy thì cũng không phải là lạ lắm. Nếu ta trộm được hết đống bao vải này về tặng cho A Tử, nhất định cô nương sẽ rất mừng."

Chỉ thấy bọn Cái Bang ngồi bất động không nói năng gì, cạnh mỗi người đều có một cái túi vải. Có những cái túi rất lớn, bên trong tựa hồ như có vật gì lớn lắm đang nhúc nhích, Du Thản Chi nhìn mà kinh sợ đến nổi gai ốc. Bốn phía đều không một tiếng động, nếu gã bò đến chắc chắn sẽ bị bọn Cái Bang phát giác, Du Thản Chi nghĩ thầm: "Giả tỉ họ dùng cái túi này chụp lên đầu ta, thì ta có cái đầu sắt che đỡ cũng không đáng sợ lắm. Nhưng nếu nhét cả người ta vào một cái túi to cùng với các loại rắn rết sâu bọ thì chắc là khốn khổ không chịu nổi."

Trong mấy giờ, không hề có động tĩnh gì. Một lúc nữa, chân trời hơi rạng, rồi mặt trời ló ra chiếu sáng cả một vùng hoang sơn rộng lớn, chim chóc cũng bắt đầu hót vang. Đột nhiên Toàn Quan Thanh nói nhỏ: "Đến rồi! Mọi người phải cẩn thận." Y ngồi xếp bằng cạnh một tảng đá, bên người không có túi vải, nhưng trong tay cầm một ống sáo bằng sắt.

Ở hướng tây bắc vang lên một tiếng sáo trúc nhẹ nhàng, thấy một đoàn người từ từ tiến đến, trong tiếng sáo trúc lại hòa lẫn tiếng trống, tiếng chiêng nghe cũng réo rắt du dương. Du Thản Chi nghĩ: "Chẳng lẽ là đám rước dâu hay sao?"

Tiếng nhạc từ từ đến gần, còn cách khoảng mười trượng thì dừng lại. Có vài người đồng thanh hô lên: "Pháp giá Tinh Tú Lão Tiên giá lâm Trung Nguyên, đệ tử Cái Bang mau mau ra quì xuống nghênh tiếp." Tiếng hô vừa dứt, bốn tiếng trống tung tung nổi lên, sau ba hồi trống lại có một tiếng thanh la. Sau khi chiêng trống ngừng lại, có đến mấy chục người đồng thanh hô vang: "Cung thỉnh Tinh Tú Lão Tiên thi triển đại pháp, hàng phục bọn yêu ma tiểu quỷ Cái Bang."

Du Thản Chi nghĩ thầm: "Kiểu này giống như bọn đạo sĩ lập đàn trừ tà vậy." Rồi gã từ sau tảng đá, cẩn thận thò nửa cái đầu ra nhìn thấy ở phía tây bắc có hơn hai mươi người xếp hàng chữ nhất, có người thì cầm trống chiêng các loại nhạc khí, có người thì cầm cờ phướn, màu xanh đỏ đập vào mắt. Từ xa cũng nhìn thấy trên cờ phướn có những chữ rất to: "Tinh Tú Lão Tiên thần thông quảng đại, pháp lực vô biên, uy trấn thiên hạ". Trong tiếng sáo trúc, trống chiêng, một ông lão từ từ bước ra, sau lão mấy trượng lại có mấy chục người xếp thành hai hàng đi theo.

Ông lão đang cầm một cái quạt bằng lông ngỗng, sắc mặt hồng hào dưới ánh mặt trời, đầu tóc bạc phơ, dưới cằm có chòm râu dài ba thước, quả là đồng nhan hạc phát, giống như thần tiên trong tranh vậy. Lão đi về phía bọn Cái Bang, cách chừng ba trượng thì dừng lại không tiến nữa, đột nhiên chúm môi phát ra một tiếng sáo lanh lảnh, cái quạt trong tay phẩy lên tựa hồ đưa tiếng huýt gió tới bọn Cái Bang. Lập tức có bốn người đang ngồi dưới đất phải ngã ngửa ra.

Du Thản Chi kinh ngạc la thầm: "Tinh Tú Lão Tiên pháp lực quả nhiên lợi hại." Lão già lộ vẻ tươi cười, cứ huýt một tiếng lại quạt mấy cái, là thêm một tên ăn xin lăn ra. Tiếng huýt gió của lão tựa như một thứ ám khí lợi hại hữu chất vô hình, trong nháy mắt đã đánh ngã sáu bảy đệ tử Cái Bang.

Bọn người đi theo sau lão đều thi nhau tán tụng: "Công lực của sư phụ cổ kim hiếm có. Bọn Cái Bang này muốn chống đối phái ta thì chẳng khác gì đom đóm so với ánh sáng mặt trời mặt trăng thôi." "Châu chấu không biết tự lượng sức lại đòi đá xe, thật là buồn cười đến nẻ ruột." Có tên lại nói "Sư phụ lão nhân gia chỉ cười nói như không, đã làm bọn tiểu yêu này chết tươi tại chỗ, thế thì chẳng phí nửa giọt mồ hôi là hoàn toàn thắng lợi. Từ xưa tới nay đồ đệ chưa được thấy cũng chưa được nghe những việc như thế bao giờ". Cũng có tên nói: "Đây là kỳ tích vô tiền khoáng hậu, nếu sư phụ không hiển lộ cho xem thì bọn võ lâm Trung Nguyên quyết không tưởng tượng nổi trên thế gian lại có công phu đến như thế." Phụ họa vào tiếng hoan hô ca tụng công đức của lão tiên, lại có tiếng sáo trúc, trồng chiêng ầm ĩ thật là náo nhiệt.

Đột nhiên Toàn Quan Thanh thổi thiết địch trên tay nghe suỵt một tiếng, Du Thản Chi kinh ngạc tự hỏi: "Không hiểu y thổi làm chi, không lẽ xoay sang tán tụng Tinh Tú Lão Tiên ư?" Ở dưới đất bỗng có tiếng động, trong những bao vải lớn có mấy con rắn to màu sắc sặc sỡ bò ra, trườn dưới đất hướng đến ông lão. Bọn đệ tử kinh hãi la lên: "Có rắn, có rắn độc!" "Ôi chao, không xong rồi! Ở đây nhiều rắn độc quá." "Sư phụ ơi, dường như lũ rắn độc này đang xông đến chúng ta." Trong túi vải của bọn Cái Bang bò ra mỗi lúc một nhiều rắn độc, lớn có nhỏ có, nhiều con cất đầu lên phun phè phè, cùng xông vào chỗ lão già kia đang đứng với bọn đệ tử. Bọn chúng la rầm lên, thật là hoảng loạn.

Mấy tên đệ tử phái Tinh Tú cầm cương trượng nhắm vào rắn dưới đất mà đập túi bụi, nhưng ông lão sắc mặt vẫn thản nhiên, tiếp tục chúm môi huýt sáo cùng phất quạt để tấn công địch. Bên kia thì tiếng thiết tiêu của Toàn Quan Thanh cất lên không ngớt, bọn Cái Bang cũng hò hét trợ oai.

Rắn bò ra mỗi lúc một nhiều, chỉ chốc lát quanh gánh hát của Tinh Tú Lão Tiên đã tụ lại cả trăm con: Trong đó có năm sáu con trăn lớn, khi bò đến gần liền ngoắt đuôi lại quấn người. Trong đám đệ tử của phái Tinh Tú đã có bốn tên bị trăn quấn, số còn lại đều hoảng hồn muốn co giò chạy trốn cho xa đám rắn này, nhưng lại không dám. Trong lúc sư phụ đang nghênh địch thì đệ tử làm sao dám bỏ chạy được, chúng chỉ đứng đó mà khua binh khí đập loạn xạ. Chúng đánh chết ít nhất cũng đã tám chín chục con rắn, nhưng bảy tám người đã bị rắn độc cắn trúng. Những con trăn lớn da dày xương cứng lại càng lợi hại, cương trượng đập vào chúng chỉ như phủi bụi, mà chúng đã quấn được thân thể tên nào thì không thả ra nữa, càng lúc càng siết chặt. Tiếng thiết tiêu vẫn nổi lên tựa như kèn thúc quân, trăn rắn bò ra lại càng nhiều, dưới đất đã có tới hai mươi bảy, hai mươi tám con trăn lớn.

Ông lão thấy tình hình không êm, muốn rời chỗ để công kích Toàn Quan Thanh, nhưng đột nhiên có hai con rắn nhỏ vọt đến nhắm vào mặt lão mà mổ. Lão cả giận quát: "To gan thật!" rồi phẩy quạt, một trận kình phong cuốn hai con rắn đó rơi xuống. Đột nhiên lão thấy một vật mềm mại cuốn vào chân, biết là nguy rồi, vội vã phi thân lên. Thiết tiêu lại suýt một tiếng nữa, bốn con trăn đồng thời quơ cái đuôi dài lên, hướng vào lão ta mà quấn. Lão đang lơ lửng trên không, kích ra hai chưởng, đánh vào hai con trăn phía trước và bên trái binh binh hai tiếng, chúng lảo đảo rồi bắn ra ngoài hai trượng. Lúc đó đuôi của hai con trăn còn lại đã vươn tới. Trong lúc nguy cấp lão lại vận kình phóng ra một chưởng cực kỳ mãnh liệt, chưởng phong vừa đến thì đầu của một con trăn to nát bét ngay.

Đàn rắn ào ào kéo tới như sóng biển. Tuy lão già đã đánh chết được ba con trăn lớn, nhưng trên lưng và chân phải lại bị hai con khác quấn chặt. Lão quát lên một tiếng, vận hết công lực bình sinh dùng trảo bấu vào bụng con trăn trên lưng, lập tức máu tươi nó tuôn ra đỏ lòm khắp người lão. Nhưng giống trăn thật là dai sức, nó bị thủng bụng mà chưa chết ngay, vẫn cố siết mạnh vào, xương sống lão tựa hồ sắp gãy. Lão đang ra sức kháng cự thì lại có hai con trăn nữa vươn tới, dùng đuôi quấn quanh lưng lão mấy vòng, siết cứng cả hai tay lão vào người. Thế là lão già không còn cách nào chống cự nữa. Du Thản Chi trong bụi có thấy tình hình kinh tâm động phách này, sợ đến không dám thở mạnh.

Toàn Quan Thanh cả mừng, thấy mọi người bên địch đã bị trăn lớn quấn chặt hết, chỉ còn biết rên rỉ, thóa mạ chứ không còn phản kháng gì được nữa. Y bèn ngưng thổi thiết tiêu, tiến lại mấy bước cười nói: "Tinh Tú Lão Quái! Phái Tinh Tú của ngươi cùng Cái Bang chúng ta trước nay vẫn không can thiệp đến công việc của nhau, nước sông không phạm vào nước giếng, sao bỗng dưng đến đây kiếm chuyện? Bây giờ ngươi nói sao đây?"

* * *

Vị tiên ông đồng nhan hạc phát này chính là Tinh Tú lão quái Đinh Xuân Thu mà nhân sĩ võ lâm đều ghét cay ghét đắng. Và một trong Tinh Tú tam bảo là Thần Mộc Vương Đỉnh bị nữ đệ tử là A Tử lấy trộm đem đi mất, lão bèn phái nhiều nhóm đệ tử đi truy lùng, thậm chí đại đồ đệ là Trích Tinh Tử cũng phải đi. Chim bồ câu đưa thư về toàn là tin bất lợi, cuối cùng lão được tin A Tử ỷ vào Kiều Phong là bang chủ Cái Bang, đánh Trích Tinh Tử trọng thương tới cửu tử nhất sinh. Đinh Xuân Thu vừa kinh hãi vừa căm hận, nghĩ rằng Cái Bang là một đại bang của võ lâm Trung Nguyên, không dễ gì đối phó. Vả lại Lung Á Lão Nhân mấy năm nay lại lộ diện trên giang hồ, đó cũng là một mối lo trong lòng, lão mà chưa trừ được thì không thể yên tâm. Lão định bụng sau khi lấy lại vương đỉnh sẽ nhân dịp làm cho xong việc đã ấp ủ nhiều năm, bèn thống lĩnh đệ tử bản phái đông chinh một chuyến.

Việc luyện Hóa Công Đại Pháp là thường xuyên phải bôi chất độc của rắn rết vào lòng bàn tay, cho thấm vào nội thể. Trong vòng bảy ngày mà không bôi chất độc mới vào, thì chẳng những công lực bị giảm sút mà độc chất tích trữ mấy chục năm trời, không được chất độc mới thấm vào nuôi dưỡng, sẽ bắt đầu phát tác, dần dần gây ra tai họa ghê gớm không biết đâu mà lường. Thần Mộc Vương Đỉnh có tiết ra một chất khí đặc biệt, mỗi khi đốt hương liệu lên thì trong khoảnh khắc dẫn dụ được rắn rết độc bò tới. Không có loại trùng độc nào trong phạm vi mười dặm đã ngửi thấy mùi hương mà chống lại nổi, không tìm đến. Đinh Xuân Thu có chiếc bảo đỉnh này trong tay nên việc bắt trùng độc không tốn một chút hơi sức nào mà phép Hóa Công Đại Pháp càng luyện càng thâm hậu. Trước kia lão có một tên đệ tử đắc ý, gã này luyện Hóa Công Đại Pháp cũng có chút thành tựu. Nào ngờ sau này gã ỷ tài, không chịu nịnh bợ sư phụ nữa, Đinh Xuân Thu bèn bắt lấy, rồi không cần trừng phạt bằng roi đòn hay đao kiếm chi hết, chỉ đem giam vào một căn nhà đá, khiến gã không có cách nào bắt được độc vật. Gã này bị độc chất trong mình phát tác cực kỳ khổ sở, tự cào xé da thịt toàn thân nát bét, rên rỉ kêu gào hơn bốn mươi ngày mới chết. Tinh Tú Lão Quái tuy đắc ý, nhưng cũng không khỏi sợ sệt trong lòng, bèn không dám truyền thụ Hóa Công Đại Pháp cho ai nữa, do đó bọn Trích Tinh Tử cũng không biết. A Tử muốn học môn thần công này, bèn lén nhìn phương pháp lão tập luyện.

A Tử mưu mô xảo quyệt, chờ sư phụ vừa bắt trùng độc xong liền ăn cắp cái Thần Mộc Vương Đỉnh, rồi xin phép đàng hoàng đi về hướng đông. Đến lúc Tinh Tú Lão Quái phát giác ra mộc đỉnh đã biến mất, thì đã qua bảy ngày, A Tử đã trốn xa rồi, nàng cứ chọn những con đường vắng vẻ mà đi. Bọn sư huynh đi truy nã tuy võ công cao hơn nàng, nhưng mưu kế lại kém xa. Nàng dùng cách dương đông kích tây, liên tiếp bày ra vô số ngụy kế để trốn tránh.

Nơi ở của Tinh Tú Lão Quái là một khe núi ẩm thấp có rất nhiều rắn độc trùng độc. Tuy lão mất mộc đỉnh ngọc, nhưng việc bắt độc vật cũng không phải là chuyện khó. Tuy nhiên những con rắn độc trùng độc dễ bắt thì lại tầm thường, những loại ghê gớm hiếm có không thể bắt được nữa. Lão còn lo lắng một điều là lỡ mà bọn cao thủ Trung Nguyên khám phá ra lai lịch chiếc đỉnh, thì bất luận là ai cũng đập tan tức khắc. Vì thế ngày nào chưa tìm được là lão chưa yên tâm ngày ấy.

Đinh Xuân Thu đi đến Thiểm Tây thì gặp bọn đồ đệ. Đại đệ tử là Trích Tinh Tử may mà không chết, nhưng mất hết võ công, bị bọn sư đệ nhục mạ rồi đánh đập nhừ tử đến không ra hình người nữa. Nhị đệ tử là gã mũi sư tử đạo hiệu là Sư Hống Tử tạm giữ chức vị đại sư huynh. Bọn đệ tử phái Tinh Tú thấy sư phụ thân hành xuất mã thì vừa kinh ngạc vừa sợ hãi, nghĩ tới chuyện mình không hoàn thành được mệnh lệnh được giao, e rằng sẽ bị trách phạt cực kỳ thảm khốc. May mà Tinh Tú Lão Quái đang lúc cần người, tạm gác chuyện trách phạt lại, cho chúng lập công chuộc tội.

Dọc đường cả bọn đều ra sức thám thính tin tức của Cái Bang, nhưng chúng tướng mạo đã kỳ dị, hành động ngôn ngữ lại làm người ta chán ghét, nên chẳng ai muốn giúp đỡ chỉ bảo cho. Hơn nữa Tiêu Phong đã đến nước Liêu làm tới chức Nam viện đại vương, trong võ lâm không mấy ai biết, nên chúng không dò la được chút xíu tin tức nào, ngay cả tổng đà Cái Bang đang ở đâu cũng không hiểu.

Một hôm Thiên Lang Tử vô tình nghe tin Đại Trí phân đà hội họp, muốn lập công bèn một mình xông vào, không tính toán gì. Gã trúng kế của Toàn Quan Thanh, may mà trong nội thể có nhiều độc chất nên bò cạp cắn lên mặt cũng không chết, thoát nạn chạy về bẩm báo với sư phụ. Đinh Xuân Thu lập tức tìm đến, không ngờ cuối cùng bị mãng xà siết chặt đến nỗi bất động, một thân võ công thâm hậu lại đầy dẫy chất kịch độc cũng tựa hồ vô kế khả thi.

* * *

Đinh Xuân Thu không trả lời câu hỏi của Toàn Quan Thanh, lạnh lùng hỏi lại: "Trong Cái Bang có ai tên là Kiều Phong không? Hắn đang ở đâu, mau kêu ra đây gặp ta." Toàn Quan Thanh bất giác rùng mình một cái, hỏi: "Ngươi có chuyện gì mà muốn kiếm Kiều Phong?" Đinh Xuân Thu ngạo mạn nói: "Tinh Tú Lão Tiên hỏi mi sao mi dám không trả lời, lại còn hỏi tới hỏi lui? Kiều Phong đâu?"

Toàn Quan Thanh thấy lão đang bị trăn quấn chặt, mất cả khả năng phản kháng mà nói chuyện vẫn ngạo mạn như thường, đủ hiểu con người này ác độc cỡ nào, thật là hiếm có trên đời. Y liền kiếm lời châm chọc: "Tinh Tú Lão Tiên lừng danh thiên hạ, thế mà mấy con rắn cỏn con này cũng đối phó không xong, rõ ràng chỉ có hư danh. Xin lỗi nhé, hôm nay chúng ta phải vì thiên hạ mà trừ đại họa."

Đinh Xuân Thu cười nói: "Lão phu bất cẩn để thua loại súc sinh máu lạnh này, hôm nay về Tây phương cực lạc cũng chẳng qua là số mệnh mà thôi."

Lão vừa dứt lời, đột nhiên một tên đệ tử phái Tinh Tú đang bị trăn quấn kêu lên: "Cái Bang đại anh hùng ơi! Xin tha mạng cho tiểu nhân, sẽ có rất nhiều lợi ích. Sư phụ của tiểu nhân rất nhiều ngụy kế, ai đề phòng đến đâu cũng không tránh hết được. Đại anh hùng chỉ sơ ý một chút là mắc bẫy ngay lập tức." Toàn Quan Thanh lạnh lùng hỏi: "Tha cho ngươi thì được lợi gì?" Gã kia đáp: "Phái Tinh Tú có ba món bảo vật gọi là Tinh Tú tam bảo, chỉ có Tinh Tú Lão Quái và tiểu nhân là biết nơi cất giấu. Đại anh hùng cứ tha tiểu nhân ra đi, khi giết xong lão quái, tiểu nhân sẽ đi lấy dâng lên. Nếu đem tiểu nhân giết đi, thì vĩnh viễn không lấy được Tinh Tú tam bảo."

Lại một tên đệ tử khác la lên: "Đại anh hùng! Đại anh hùng chớ có bị đánh lừa! Trong tam bảo thì một vật đã bị người lấy cắp đi mất rồi. Đại anh hùng tha tiểu nhân ra hay hơn, chỉ có tiểu nhân là hết lòng trung thành, quyết không lừa dối."

Trong chốc lát bọn đệ tử phải Tinh Tú nhốn nháo cả lên. Nào là: "Cái Bang đại anh hùng! Tha mạng cho tiểu nhân là hay nhất, bọn kia không hết lòng trung thành với đại anh hùng đâu. Chỉ một mình tiểu nhân là đến chết cũng không đổi dạ, quyết ra sức phục vụ cho ngài." "Tiểu nhân biết rất nhiều tuyệt kỹ bí truyền của phái Tinh Tú, nhất định sẽ nói cho đại anh hùng biết hết, không giấu giếm chút nào." "Bản phái đến Trung Nguyên là có mưu đồ đại sự, chủ yếu là để đối phó với Cái Bang các ngài. Các vị đại anh hùng có muốn biết cụ thể không?" "Trên bờ Tinh Tú Hải có vô số kim ngân châu báu, tiểu nhân biết hết mọi chỗ, xin dẫn các vị đi khai quật, từ nay anh hùng hảo hán Cái Bang không cần phải đi xin ăn nữa." Bọn này ăn nói bát nháo, tên thì hứa hẹn trung thành, tên thì hiến kế, tên thì đem lợi ra nhử, tên thì khêu gợi tính hiếu kỳ, lại có tên lại bịa đặt ra những chuyện hoang đường. Thôi thì kiểu gì cũng có. Có mấy tên bị rắn cắn hoặc trăn quấn chặt đã sắp đứt hơi, chỉ sợ mình chết mà không kịp van xin tha mạng, lại càng nghẹn ngào năn nỉ.

Bang chúng Cái Bang không ngờ đệ tử phái Tinh Tú lại vô sỉ đến thế, liền đem lòng khinh bỉ. Có tên nổi tính hiếu kỳ, lại gần để nghe cho đã tai. Toàn Quan Thanh lạnh lùng nói: "Bọn mi đối với sư phụ còn chẳng trung thành, nói chi đến chuyện trung thành với người chưa quen biết? Thật là đáng buồn cười."

Bọn đệ tử phái Tinh Tú lại tranh nhau nói: "Không phải! Không phải! Tinh Tú Lão Quái bản lĩnh kém cỏi, tiểu nhân theo lão chẳng ăn thua gì, trung thành với lão cũng vô ích. Còn đại anh hùng Cái Bang uy danh lừng lẫy khắp thiên hạ, lại có bí quyết sai khiến rắn độc cực kỳ lợi hại. Tinh Tú Lão Quái bì với đại anh hùng thế nào được?" "Phải rồi! Cái Bang mà thu dụng đệ tử phái Tinh Tú là khiến cho quần hùng Tây Vực cũng như ở Trung Nguyên đều chấn động. Họ sẽ khâm phục các vị anh hùng Cái Bang không biết đến đâu mà nói." "Chỉ gọi là anh hùng thôi ư? Hai chữ" Anh Hùng "không đủ để ca tụng các vị, mà phải kêu bằng" Đại Hiệp "," Thánh Nhân "mới đúng! Tiểu nhân là người biết ăn nói, từ đây sẽ chu du bốn phương trời để ra sức quảng cáo. Oai đức của các vị đại hiệp Cái Bang chẳng mấy chốc khắp thiên hạ không còn ai không biết." "Hứ! Tiếng tăm các vị đại hiệp Cái Bang trước nay đã lẫy lừng như sấm động, hà tất phải đợi ngươi đi khua chuông gõ trống?" "Thánh nhân! Tiểu nhân là kẻ sáng suốt tuyên bố quay về chính nghĩa trước tiên, bọn kia chỉ biết bắt chước chứ có công lao gì?

Một tên đệ tử năm túi của Cái Bang chau mày nói:" Bọn mì toàn là đồ tiểu nhân để tiện, ton hót chỉ tổ người ta bẩn cả tai. Tinh Tú Lão Quái! Sao ngươi lại đào tạo ra bọn đê hèn vô liêm sỉ đến thế? Thôi, ta hóa kiếp cho ngươi trước rồi từ từ cho bọn chúng đi theo hết. Bữa nay lão gia phải đại khai sát giới. "Nói xong, y phóng chưởng đánh Đinh Xuân Thu nghe" vù "một tiếng. Phát chưởng này kình lực cực kỳ lợi hại, đánh trúng ngay giữa ngực, nào ngờ lão vô sự mà tên Cái Bang lại nhũn hai chân ra, khuỵu xuống đất cuộn người thành một khối, giãy giụa hai cái rồi bất động. Bọn Cái Bang cả kinh la lên:" Sao thế? ", rồi hai tên đứng cạnh đưa tay toan đỡ dậy, nhưng vừa chạm vào gã thì lắc lư muốn ngã. Kế bên có ba tên theo phản xạ ra tay đỡ lấy, nhưng vừa động đến cũng ngã ra. Toàn thể quần cái đều chưng hửng đứng nhìn, không dám chạm vào đồng bọn nữa.

Toàn Quan Thanh la lên:" Lão này toàn thân đầy chất độc, không được động đến. Phóng ám khí! "

Tám chín tên đệ tử Cái Bang vào hàng bốn năm túi đồng thời phát xạ ám khí, nào là cương tiêu, phi đao, tụ tiễn, phi hoàng thạch, đều nhắm hướng Đinh Xuân Thu bay đến vèo vèo. Lão quát lên một tiếng, hất đầu xổ mái tóc bạc ra như một cây nhuyễn tiên, gạt hết mười mấy thứ ám khí bay ngược lại. Những tiếng" Ái chà!" "Ôi chao!" liên tiếp vang lên, sáu bảy tên bang chúng Cái Bang bị trúng ám khí. Tên thì trúng vào chỗ hiểm yếu, có tên chỉ bị sướt qua trầy da, nhưng tất cả đều nhũn ra chết cùng một lúc.

Toàn Quan Thanh quát lớn: "Lui ra! Lui ra!". Bỗng nhiên từ mái tóc bạc phơ của Đinh Xuân Thu có một cây cương tiêu bay vèo đến, nhắm vào gã. Toàn Quan Thanh cả kinh, vung thiết tiêu gạt bắn mũi cương tiêu bay ra xa. Gã nghĩ rằng Tinh Tú Lão Quái quái dị khôn lường, dùng trăn quấn chết là an toàn nhất, liền đưa ống thiết tiêu lên miệng toan thổi. Bỗng dưng môi miệng gã tê dại đi, đầu óc choáng váng. Gã biết mình vừa ngu vừa ẩu, vứt ngay thiết tiêu xuống thì đã không kịp nữa, chỉ kêu được một tiếng rồi lăn ra nằm ngửa mặt nhìn trời.

Bang chúng Cái Bang đều cả kinh, có hai tên chạy đến tranh nhau đỡ lấy gã. Toàn Quan Thanh trong lúc nửa mê nửa tỉnh cũng cố nói: "Ta.. ta.. trúng độc rồi! Mau.. mau.. rút đi". Bọn ăn xin sợ đến hồn vía bay hết lên mây, ôm lấy gã dông thẳng một mạch. Chẳng tên nào buồn thu dọn những tử thi đồng bọn và đủ các thứ linh tinh đang nằm vương vãi đầy mặt đất.

* * *

Du Thản Chi nấp trong bụi rậm, cũng hoảng sợ không dám động đậy. Tứ bề đều vắng lặng, mười mấy người Cái Bang nằm dưới đất đều co rút lại như con nhím, hiển nhiên mất mạng cả rồi. Những con trăn lớn không nghe thấy tiếng tiêu của Toàn Quan Thanh đều không cử động gì nữa, chỉ quấn chặt sư đồ của Đinh Xuân Thu như cũ. Mọi người phái Tinh Tú đều không dám cử động, chỉ sợ chúng nổi hung lên mà há miệng đớp cho.

Yên lặng một lúc, một tên cất tiếng nói trước: "Sư phụ! Thần công sư phụ đã đến mức thiên hạ vô địch, đang cười cười nói nói chỉ hất đầu một cái mà bọn độc ác man rợ đều bị giết sạch.." Tên này chưa dứt lời, tên khác đã nói ngay: "Sư phụ! Sư phụ đừng nghe giọng lưỡi thối tha của hắn. Chính hắn vừa ca tụng bọn ăn xin nào là đại hiệp, nào là thánh nhân." Lại một tên khác nói: "Bọn đệ tử theo hầu sư phụ đã bấy nhiêu năm, còn lạ gì bản lĩnh nghiêng trời lệch đất của sư phụ? Vừa rồi bọn Cái Bang nói nhăng nói cuội, toàn những lời bịp bợm."

Bỗng có tiếng khóc rống lên: "Sư phụ! Sư phụ ơi, đệ tử thật là ngu xuẩn, tham sống sợ chết mà đầu hàng kẻ địch, bây giờ hối hận không kịp. Đệ tử thà để rắn độc cắn chết, không còn mặt mũi nào xin sư phụ tha mạng!" Gã nói mấy câu, bọn kia lập tức tỉnh ngộ. Kẻ nào léo mép che lấp tội lỗi lại càng bị Tinh Tú Lão Quái ghét bỏ, còn tự trách mình lầm lỡ đáng chết, nhận hết tội lỗi thì không chừng còn được khoan hồng. Nghĩ vậy, chúng lại tranh nhau tự kể tội mình, những là phân thây muôn đoạn cũng chưa đáng tội. Du Thản Chi nằm trong đám cỏ cũng phải nhức cả đầu, chối cả tai.

Đinh Xuân Thu ngầm vận kình lực, định bứt đứt ba con trăn quấn vào mình. Nhưng thân thể chúng vừa dai vừa cứng, có thể co giãn được, lão đã dồn hết nội lực mà chúng chỉ hơi duỗi mình đi một chút, không thể bứt đứt nổi. Thân thể Đinh Xuân Thu tích chứa chất độc nhiều vô kể, ngay cả trên y phục cùng đầu tóc cũng chẳng thiếu gì, vừa rồi bọn Cái Bang phóng chưởng hoặc phóng ám khí tấn công lão đều nhiễm độc mà uổng mạng. Còn da trăn đã dày lại trơn tuột, chất độc không thể thấm vào cơ thể chúng được, lão đành chịu thua. Lão nghe bọn đệ tử lải nhải bên tai, bực mình nói móc: "Chúng ta bị khốn đốn vì rắn độc, đứa nào nghĩ ra cách giải quyết, ta sẽ tha mạng cho. Các ngươi biết tính ta rồi, ai được việc cho ta, ta mới không giết. Nếu cứ bẻm mép tìm lời xảo trá chẳng ích gì đâu!"

Lão vừa dứt lời, bọn đệ tử lập tức câm mồm. Hồi lâu mới có một tên lên tiếng: "Chỉ còn cách dùng lửa đốt những con trăn lớn này, lập tức chúng phải bỏ chạy." Đinh Xuân Thu mắng: "Thúi lắm! Chỗ này hoang dã tịch mịch không có thôn trang nhà ở, làm gì có ai đi lại? Dù có người đi qua thì thấy nhiều rắn độc tất nhiên hốt hoảng chạy trốn, lấy đâu ra lửa để đốt rắn?" Sau đó bọn kia lại thi đua phát huy sáng kiến, song đều không thể thực hiện được. Chúng nhao nhao lên, chẳng qua để lấy lòng sư phụ, ra vẻ nhiều mưu kế, được việc cho thầy.

Sau một giờ nữa, một tên đệ tử bị xiết chặt quá nghẹt thở. Gã thần trí hồ đồ, mở miệng cắn con trăn một miếng. Con vật bị đau, quay lại cắn vào cổ gã, gã chỉ kêu được một tiếng rồi chết ngay tức khắc.

Đinh Xuân Thu nóng nảy vô cùng. Giả tỉ đang bị địch nhân vây khốn thì chỉ một lát là lão nghĩ ra mưu kế xảo quyệt để lừa đối phương mà thoát thân, nhưng đối với đàn rắn vô tri này thì mưu kế tuyệt diệu đến đâu cũng chẳng ăn thua. Lão chỉ sợ đến lúc đám trăn bị đói sẽ đớp người mà nuốt.

Điều lão lo âu đã thành hiện thực. Một con trăn lớn đã lâu không nghe thấy hiệu lệnh, đang lúc đói bụng liền há cái miệng to tướng đớp vào người tên đệ tử đang bị quấn chặt. Gã này la hoảng: "Sư phụ cứu mạng! Sư phụ cứu mạng!", la chưa dứt tiếng thì cặp giò đã chui vào miệng con trăn, rồi thân hình gã không gượng được nữa, từng khúc một bị nuốt vào, dần dần đến bụng, đến ngực, miệng vẫn gào thét đến phút cuối cùng. Lúc lâm tử, tiếng rú lại càng thảm thiết, vang động cả một vùng rộng lớn. Bạn đọc nên biết loài rắn hay trăn đều có răng hình móc câu, bất luận con vật nào bị đớp đều dần dần bị đẩy vào bụng, không thể thoát ra được.

Mọi người đều hiểu chỉ trong khoảnh khắc là chung số phận với tên này, sợ đến mất mật, hồn vía lên mây. Một tên đệ tử thấy Tinh Tú Lão Quái cũng chịu bó tay, bất giác lửa giận bốc lên ngùn ngụt, liền mở miệng thóa mạ sư phụ, đổ cho lão làm liên lụy mình. Trước kia hắn chăn cừu ở bờ biển Tinh Tú kiếm sống, bị lão dùng lời đường mật, dụ vào làm môn hạ. Hôm nay hắn sắp chết thảm trong miệng rắn, bèn quyết định chết xuống âm ty sẽ làm cáo trạng kiện với Diêm Vương.

Một tên đã bắt đầu, bọn kia không chịu kém, lập tức nhao nhao chửi bới sư phụ. Bọn này ngày thường bị Tinh Tú Lão Quái ngược đãi cực kỳ tàn nhẫn, đều căm hận trong lòng mà không dám nói ra. Bữa nay thầy trò đều chết đến nơi, chúng đều thóa mạ cho sướng miệng để hả lòng căm tức bấy lâu. Hai tên đệ tử chửi bới đến lúc cao hứng, cử động mạnh khiến cho con trăn đang quấn chúng nổi hung đớp cho một miếng vào vai. Hắn lớn tiếng kêu la: "Úi chao! Cứu tôi với! Cứu tôi với!".

Du Thản Chi nghe tiếng hô hoán không nhẫn nại được nữa, đang nằm trong bụi cỏ bèn đứng phắt dậy nói: "Ta phóng hỏa đốt rắn để cứu các ngươi!", rồi ôm cỏ khô chất thành một đống. Bọn phái Tinh Tú bất thình lình thấy xuất hiện một gã bịt mặt hình dung cổ quái, đều kinh hãi giật mình, nhưng nghe hắn nói đốt rắn cứu mình, thì khác nào đã xuống đến Quỷ Môn Quan còn được quay lại, liền nhao nhao lên ngỏ lời cảm tạ.

Bọn này có bản lĩnh thóa mạ rất cao siêu, công phu nịnh hót cũng phi thường. Suốt đời Du Thản Chi chưa được ai ca tụng đến thế, nào là "Đại anh hùng đại hào kiệt", nào là "Nhân nghĩa đại hiệp", nào là "Hảo hán nhất đời", chẳng còn danh từ hoa mỹ nào không được tận dụng. Đã là con người được nghe tán tụng đều nức lòng hả dạ, Du Thản Chi thấy bọn này ca mình lên tới mây xanh thì trong lòng cũng thấy khoan khoái, liền không nề nguy hiểm mà quyết cứu mạng cho chúng.

Gã lấy đồ đánh lửa bên mình ra, toan đốt đống cỏ khô. Nhưng lúc nhìn thấy vô số rắn trăn dữ tợn, gã lại đâm ra sợ hãi, nhớ tới câu "Chọc ong thì ong đốt", trêu vào đám rắn này chắc sẽ liên lụy ngay tức khắc.

Gã suy nghĩ một lát rồi lượm cành cây khô đốt một đống lửa thật to để phòng thủ trước, rồi mới nhặt một cành cây đang cháy liệng vào con trăn gần nhất, chạy về phía đống lửa ẩn nấp để chờ xem, định bụng thấy nó bò lại phía mình là xa chạy cao bay, chẳng thèm làm đại anh hùng, đại hiệp sĩ gì gì nữa.

Nhưng con trăn này quả nhiên rất sợ lửa, vừa nóng đến bên mình là nó buông ngay tên đệ tử phái Tinh Tú ra rồi chui vào đống cỏ rậm. Du Thản Chi thấy phép hỏa công của mình hiệu nghiệm. Giữa những tiếng hoan hô nhiệt liệt của bọn đệ tử phái Tinh Tú, gã liệng từng cành cây đang cháy vào đám rắn. Đàn rắn tới tấp bỏ chạy, ngay cả những con trăn dài mấy trượng cũng không chịu nổi lửa nóng, bò đi rào rào. Chỉ trong khoảnh khắc, mấy trăm con trăn lớn cùng rắn độc biến mất.

Bọn đệ tử phái Tinh Tú lại đổi sang giọng nịnh thầy. Tên thì nói: "Sư phụ mắt nhìn muôn dặm, thần cơ diệu toán, quả nhiên phép hỏa công của sư phụ vô cùng linh nghiệm." Có kẻ nói: "Sư phụ hồng phúc tày trời, gặp dữ hóa lành, hoàn toàn trông cậy vào sư phụ chỉ huy, sai người phóng hỏa cứu mạng kiến ruồi cho bọn đệ tử." Những lời tán tụng đều hướng về Tinh Tú Lão Quái, còn công lao đốt lửa đuổi rắn của Du Thản Chi thì chẳng tên nào nhắc đến nữa.

Du Thản Chi nghe mà kinh ngạc, mắng thầm: "Bọn mi vừa thóa mạ sư phụ đã hết lời tán tụng là sao?" Gã không hiểu bọn này thoát được nạn rắn, thì tính mạng lại ở trong tay Tinh Tú Lão Quái, nếu không nịnh hót thì lão chỉ giơ tay lên một cái là toi mạng. Còn công cứu mạng Du Thản Chi đến đây là sổ toẹt, chúng coi gã như người đi đường mà thôi.

Đinh Xuân Thu vẫy tay gọi Du Thản Chi, bảo: "Thiết đầu tiểu tử, ngươi lại đây! Tên ngươi là gì?" Du Thản Chi bị khinh rẻ đã quen, dù thấy đối phương vô lễ cũng không giận. Gã đáp: "Tại hạ là Du Thản Chi.", rồi tiến lại mấy bước. Đinh Xuân Thu hỏi: "Đám Cái Bang này chết cả chưa? Ngươi lại sờ mũi chúng xem còn thở không?" Du Thản Chi dạ một tiếng rồi cúi xuống sờ vào mũi một tên khất cái thì chỉ thấy lạnh ngắt, đã chết tự bao giờ, lại xem một tên khác cũng thấy tắt hơi rồi. Gã nói: "Họ chết hết rồi, không còn ai thở nữa.", vừa nói vừa đứng thẳng lên, bỗng thấy vẻ mặt mọi người ra chiều giễu cợt mình. Gã chẳng hiểu gì, nhắc lại: "Họ chết cả rồi, không còn ai thở nữa." Bộ mặt vừa khinh khỉnh vừa giễu cợt của bọn đồ đệ phái Tinh Tú dần dần biến thành kinh dị.

Đinh Xuân Thu nói: "Ngươi coi bọn ăn mày lần nữa, xem còn có thể cứu vãn không?" Du Thản Chi đáp: "Vâng.", rồi đi xem xét cẩn thận mười mấy tên Cái Bang một lần nữa. Đoạn gã lắc đầu nói: "Bọn họ chết hết rồi, không cứu vãn được nữa. Công lực của lão tiên sinh thật là ghê gớm!" Đinh Xuân Thu cười nhạt, nói: "Công phu kháng độc của ngươi mới là lợi hại." Du Thản Chi kinh ngạc hỏi: "Tại hạ.. tại hạ có công phu kháng độc gì đâu?"

Thật sự Du Thản Chi không hiểu lão nói vậy là có ý gì, không biết rằng mỗi lần gã sờ vào mũi những xác chết kia là một lần gõ cửa Quỷ Môn Quan, xem hết mười mấy tên Cái Bang là trải qua mười mấy lần suýt mất mạng. Nguyên Tinh Tú Lão Quái ở địa vị tôn sư một phái, bị trăn quấn vô kế khả thi, lại phải nhờ một đứa trẻ nít nhỏ tuổi cứu mạng. Chuyện này mà đồn đại ra giang hồ thì thật là mất thể diện, vì thế mà sau khi đàn trăn bỏ đi rồi, lão nghĩ ngay đến việc giết Du Thản Chi để bịt miệng. Thi thể bọn Cái Bang đều có chất kịch độc, lão sai Du Thản Chi sờ mũi họ là có dụng ý cho gã nhiễm độc mà chết. Dè đâu Du Thản Chi bản chất âm dương sai lệch, đã nhờ mấy tháng luyện Dịch Cân Kinh thành ra nội công ghê gớm, lại hút cả huyết dịch con băng tằm là một loại trùng độc nhất thiên hạ. Chất độc con băng tằm rất dung hợp với thể chất Du Thản Chi, trong mình gã đã chứa chất độc này thì vạn độc bất xâm. Dĩ nhiên là chất độc trong mình Đinh Xuân Thu phát ra chẳng thấm vào đâu.

Đinh Xuân Thu lẩm bẩm: "Không hiểu bản lãnh chân chính của thằng lỏi này ra sao. Chắc là trong mình hắn có vật kỵ độc như Hùng Hoàng Châu, Tịch Tà Bích chi đó, hay đã uống thuốc giải độc từ trước nên mới chịu nổi chất kỳ độc của ta nhiễm vào mình." Nghĩ vậy lão bảo: "Du huynh đệ, ngươi lại đây! Ta có chuyện muốn nói."

Du Thản Chi tuy thấy lão nói có vẻ chân thành, nhưng chính mắt gã vừa thấy lão giết một lúc mười mấy tên Cái Bang một cách tàn nhẫn, lại thấy bọn đồ đệ lúc thì thóa mạ lúc thì xiểm nịnh, biết rằng hạng người này khó mà đối phó, kính nhi viễn chi là hơn. Nghĩ vậy gã đáp: "Tiểu nhân có việc gấp không chần chờ được. Xin cáo từ lão tiên, tiểu nhân phải đi ngay." Gã nói xong, chắp tay vái chào rồi chuyển thân đi ngay.

Gã mới đi được mấy bước, đột nhiên thấy bên mình có luồng gió mát lướt qua, gã chưa kịp phản kháng gì, hai cổ tay đã bị nắm chặt. Du Thản Chi quay đầu nhìn lại thì thấy một tên đệ tử phái Tinh Tú cao lớn mập mạp. Gã không hiểu hắn có dụng ý gì, nhưng nhìn gương mặt đang cười một cách hung dữ, rõ ràng không phải chuyện tử tế. Gã không khỏi giật mình la lên: "Buông ta ra!" rồi cựa mạnh một cái.

Bỗng nghe trên đầu có tiếng gió vù vù, một bóng người to lớn từ sau lưng bay vút qua đầu gã rồi đập vào vách núi trước mặt đánh huỵch một tiếng, mạnh đến nỗi xương thịt tan nát, đầu nhão ra như đất bùn.

Du Thản Chi thấy đại hán này va vào vách núi mãnh liệt quá chừng, cứ tưởng mình lóa mắt. Gã định thần nhìn lại thì ra chính là tên đệ tử phái Tinh Tú vừa nắm chặt tay mình, lại càng kinh ngạc hơn nữa, tự hỏi: "Rõ ràng thằng cha này vừa nắm tay mình, sao lại bất thình lình đâm đầu vào núi mà tự tử?" Thực ra đại hán này không phải tự tử, mà vì Du Thản Chi giãy mạnh một cái, kình lực tung hắn bay qua đầu rồi hất mạnh vào núi đến nỗi toi mạng.

Bọn đệ tử phái Tinh Tú thấy Du Thản Chi chỉ nhấc tay một cái đã giết chết đồng môn, đều cả kinh thất sắc la lên một tiếng: "Ôi chao!" Tinh Tú Lão Quái giàu kinh nghiệm giang hồ, nhìn thủ pháp của gã hất chết đệ tử mình không phải là võ công thượng thặng mà chỉ có sức mạnh phi thường ở cánh tay, bèn cho đó là người có thần lực tự nhiên còn võ công thì vào hạng tầm thường. Lão băng mình đi một cái, chộp lấy cái đầu sắt của Du Thản Chi. Du Thản Chi bị chụp một cách đột ngột không kịp đề phòng, kình lực của lão nặng đến ngàn cân, đè gã ngã quỵ xuống đất. Gã toan đứng dậy, nhưng trên đỉnh đầu dường như có cả một trái núi nhỏ. Gã hết đường cựa quậy, liền mở miệng van lơn: "Xin lão tiên sinh tha mạng!"

Đinh Xuân Thu thấy gã năn nỉ tha mạng mới yên lòng hỏi lại: "Sư phụ mi là ai? Mi to gan thật! Sao dám đánh chết đồ đệ ta?" Du Thản Chi ấp úng: "Tiểu nhân không có sư phụ, Tiểu nhân cũng.. chẳng giết đồ đệ của lão tiên sinh."

Đinh Xuân Thu nghĩ bụng: "Mình đã kiềm chế được gã, đánh chết để bịt miệng là xong." Nghĩ vậy, lão buông tay ra cho Du Thản Chi đứng dậy, rồi phóng chưởng từ từ đánh vào ngực gã. Du Thản Chi thấy vậy cả kinh, bất giác đưa tay lên gạt, hai bàn tay chạm nhau. Chính Đinh Xuân Thu cố ý ra tay rất chậm, lão dùng nội lực hùng mạnh đầy chất độc đã chứa sẵn trong bàn tay ra, đó chính là Hóa Công Đại Pháp nổi danh mấy chục năm trời, đã tàn hại không biết bao nhiêu là cao thủ võ lâm. Thật ra đối với một đứa hậu sinh nhỏ tuổi như Du Thản Chi, lão không muốn thi triển Hóa Công Đại Pháp vì mỗi lần dùng đến nó là tổn hao nguyên khí và giảm bớt chất kịch độc trong mình, nhưng lão thấy Du Thản Chi đã sờ vào mười mấy tên Cái Bang mà vẫn không trúng độc nên bất đắc dĩ phải dùng đến tuyệt kĩ này.

Hai chưởng gặp nhau, Du Thản Chi lảo đảo lùi lại mấy bước. Gã toan đứng dậy nhưng lại trượt đi ngồi phệt xuống, bèn chống hai tay ra sau để ngồi cho vững nhưng dư lực đòn chưởng vẫn còn mãnh liệt, mông của Du Thản Chi chạm tới đất rồi mà còn lộn ba vòng mới dừng lại được.

Về phần Đinh Xuân Thu, sau khi đối chưởng bỗng thấy trước ngực mát lạnh, rồi nội lực tiết từ lòng bàn tay ra ngoài một cách mau lẹ dị thường. Lão cố kìm lại nhưng không tự chủ được, nội lực vẫn thoát ra ngoài, vội đảo ngược đầu xuống giơ chân lên trời, xoay người mấy vòng. Nhờ phép Cố Cơ Vận Kình của phái Tinh Tú, lão mới ngăn nội lực lại được, nhảy lộn người đứng dậy, râu tóc dựng ngược lên, sắc mặt nhợt nhạt, trông rất đáng sợ. Lão lại xòe hai bàn tay to tướng như cái quạt toan đánh xuống Du Thản Chi lần nữa. Du Thản Chi đập đầu lia lịa kêu van: "Xin lão tiên sinh tha mạng, xin lão tiên sinh tha mạng!"

Đinh Xuân Thu đối một chưởng, phát giác ra nội lực gã này thâm hậu, âm hàn đến cực điểm, lại chứa chất kịch độc. Tuy gã bị mình hất đi lăn lộn mấy vòng, mà so ra nội lực và độc kình cũng chưa kém thế chút nào, sao lại van xin tha mạng? Lão nghi ngờ tên này cố ý chế giễu, bèn tiến tới mấy bước, hỏi: "Ngươi muốn ta tha mạng là chân tâm hay giả trá?" Du Thản Chi chỉ biết dập đầu năn nỉ: "Tiểu nhân một dạ chân thành, chỉ mong lão tiên sinh từ bi tha cho cái mạng kiến ruồi."

Đinh Xuân Thu nghĩ thầm: "Không hiểu tên này dùng phương pháp gì, hay gặp cơ duyên nào mà độc chất trong người lại còn nhiều hơn ta, quả là một bảo bối hãn hữu. Tốt nhất là ta thu nhận gã để điều tra cho ra pháp môn luyện công, rồi hấp thu độc chất của hắn, sau cùng mới đem ra xử tử. Bây giờ giết gã thì dễ thôi, nhưng thật là đáng tiếc." Lão bèn đưa tay ấn vào cái đầu sắt, vận nội lực rồi nói: "Ngươi mà bái ta làm sư phụ thì ta mới tha mạng ngươi được."

Du Thản Chi thấy cái đầu sắt nóng như có lửa đốt, tựa hồ bỏng cả mặt mũi, trong lòng sợ sệt vô kể. Từ khi gã bị A Tử hành hạ dã man thì đã chấp nhận người ta muốn sao mình chịu vậy, cũng không phân biệt thị phi thiện ác gì gì nữa, những gì là hào khí trượng phu nam tử hán cũng đã quên sạch cả rồi. Lúc này gã chỉ mong toàn mạng, bèn vội vã nói: "Sư phụ! Đệ tử là Du Thản Chi xin bái kiến sư phụ làm lễ nhập môn, xin lão nhân gia thu nạp."

Đinh Xuân Thu cả mừng, nghiêm nghị nói: "Ngươi đã nguyện ý bái ta làm sư phụ thì được rồi. Nhưng qui củ của bản môn rất nghiêm, ngươi có giữ đúng được không? Sư phụ đã sai bảo việc gì, ngươi phải hết lòng hết sức tuân theo, không được phản kháng, đã nghe rõ chưa?" Du Thản Chi nói: "Đệ tử xin tuân theo qui củ, phục tùng sư mệnh." Đinh Xuân Thu hỏi: "Nếu sư phụ bảo ngươi chết, ngươi có cam tâm chịu chết không?" Du Thản Chi ấp úng: "Cái đó.. Cái đó.." Đinh Xuân Thu nói: "Ngươi suy nghĩ rồi trả lời cho rõ ràng. Cam tâm thì bảo là cam tâm, mà không cam tâm thì bảo là không cam tâm."

Du Thản Chi lẩm bẩm: "Giả tỉ lão muốn giết mình, dĩ nhiên mình không cam tâm. Nhưng nếu thật vậy, lúc đó mình trốn được thì trốn, mà không trốn được thì chịu chết, cam tâm hay không cũng chẳng làm gì." Gã nghĩ vậy liền đáp: "Sư phụ đối với đệ tử ơn sâu nghĩa trọng, bắt phải chết thì đệ tử cũng cam tâm." Đinh Xuân Thu cười ha hả đáp: "Hay lắm! Ngươi thề độc đi, nếu sau này không tuân lời ta thì chịu thế nào?" Du Thản Chi suy nghĩ rồi đáp: "Đệ tử là Du Thản Chi, nếu sau này không tuân lời, xin để sư phụ phân thây muôn đoạn, chẳng được chết toàn thây." Đinh Xuân Thu ngẩn người ra, rồi cười nói: "Tên đầu sắt này xảo quyệt gớm! Ngươi không tuân theo mệnh lệnh sư phụ, dĩ nhiên là ta sẽ xử tử, vậy lời thề độc của ngươi chỉ bằng thừa. Nhưng thôi được, ngươi đã thề rồi thì cố mà nhớ lấy." Rồi lão gọi: "Ngươi lại đây, thuật kỹ lai lịch cho ta nghe!"

Du Thản Chi không làm gì được, đành đem bao nhiêu hoạn nạn cơ cực thuật sơ qua một lượt. Nhưng gã không muốn làm nhơ nhuốc thanh danh họ Du ở Tụ Hiền Trang, chỉ nói mình là con một nông dân, bị quân Liêu đi thu hoạch bắt về, gặp A Tử rồi cùng nàng đi bắt trùng độc. Lúc Du Thản Chi kể đến chuyện bắt con băng tằm, Đinh Xuân Thu lại càng chăm chú nghe, rồi hỏi kỹ hình thù con băng tằm, nhưng vẫn giữ vẻ thản nhiên, tuyệt không lộ vẻ gì khác lạ. Du Thản Chi đột nhiên nghĩ thầm: "Vị sư phụ này không phải người tốt, nếu mình kể về cuốn kinh chữ Phạn tất lão đoạt mất." Gã liền không nhắc gì tới phép luyện công cổ quái này.

Đinh Xuân Thu không biết về Dịch Cân Kinh, tưởng đó chỉ là công hiệu của con tằm kỳ diệu. Lão rủa thầm trong bụng: "Thần vật quí báu như vậy mà lọt vào tay thằng quỉ con mắt sắt này, để gã hút lấy chất độc vào trong người thật là đáng tiếc!" Lão nghĩ một lúc rồi hỏi: "Lúc nãy ngươi nói tên sư mập bắt được băng tằm tên là Tuệ Tịnh, đệ tử Thiếu Lâm ư? Hiện nay y đang ở chùa Mẫn Trung ở Nam Kinh phải không?" Du Thản Chi đáp: "Đúng thế."

Đinh Xuân Thu nói: "Hòa thượng Tuệ Tịnh này đã kể là bắt được băng tằm trên núi Côn Luân thì tốt. Trên đó đã có một con, thì chắc phải còn hai ba con nữa. Có điều núi Côn Luân bao la ngàn dặm, nếu không có ai biết chỗ dẫn đường thì đi bắt băng tầm chẳng phải dễ gì." Lão đã đích thân nếm mùi công hiệu của băng tằm, thấy nó còn quí hơn Thần Mộc Vương Đỉnh nhiều, bèn quyết định việc đầu tiên là phải tìm cho ra Tuệ Tịnh, bắt hắn dẫn lên núi Côn Luân kiếm băng tằm. Kể ra tên này vốn là hòa thượng Thiếu Lâm thì khó mà bắt được, cũng may gã đang ở Nam Kinh nên công việc dễ dàng hơn nhiều. Lão bèn lập tức bảo Du Thản Chi làm lễ bái sư nhập môn.

Bọn môn hạ phái Tinh Tú thấy sư phụ đối đãi với hắn đặc biệt, những lời nịnh bợ tán dương tức thời phun ra như suối. Đinh Xuân Thu đang lúc cần dùng người, bèn vờ như không nghe thấy chúng thóa mạ sư phụ, đầu hàng kẻ địch vừa rồi. Trong phái Tinh Tú thì những chuyện thế này tất phải xảy ra thường xuyên, lão cũng chẳng nổi giận làm chi.

Đoàn người đi về hướng đông bắc. Du Thản Chi theo sau Đinh Xuân Thu, thấy lão tay áo bào phấp phới, chân bước ung dung nhẹ nhàng chẳng khác thần tiên, bất giác trong lòng sinh ra kính ngưỡng, nghĩ thầm: "Ta có phúc bái được một vị sư phụ thế này, chắc là đã tu mấy kiếp."

Phái Tinh Tú đi đã ba ngày, đến một buổi trưa nóng bức bèn ghé vào. Quán lương đình bên đường lớn để nghỉ chân uống nước. Bỗng nghe có tiếng vó ngựa lộp cộp, bốn kỵ sĩ từ phía trước chạy đến.

Bốn con ngựa tới gần, người đi đầu gọi lớn: "Đại ca! Nhị ca! Ta vào lương đình này uống mấy chén nước, nghỉ ngơi một tí nên chăng?" Nói xong y bèn nhảy xuống ngựa chạy vào, ba người đi sau cũng lục tục xuống ngựa. Bốn người này thấy bọn Đinh Xuân Thu liền khẽ gật đầu thi lễ, rồi đến bên lu nước lấy chén múc ra uống.

Hán tử đầu tiên mặc áo đen, thân hình bé nhỏ gầy nhom, có hai chòm râu chuột, thần sắc điêu ngoa. Người thứ hai mặc áo bào màu vàng, cũng gây ốm lộ xương nhưng thân thể cao hơn, lông mày chênh chếch rủ xuống, sắc mặt giống như đang bệnh. Người thứ ba mặc áo bào màu đỏ táo, thân hình khôi vĩ, mặt vuông tai lớn, dưới cằm để một chòm râu trắng, trông giống như một vị thương gia giàu có. Người cuối cùng lại là một nho sinh mặc áo xanh trạc ngũ tuần, đôi mắt lờ đờ tựa như đọc sách quá nhiều nên thị lực kém đi. Gã này không uống nước mà lấy cái hồ lô ra, uống rượu một mình.

Lúc đó lại có một nhà sư đi đến, chắp tay cung kính nói: "Các vị thí chủ! Tiểu tăng đi đường khát nước, xin được vào nghỉ ngơi uống nước một chút." Gã áo đen cười nói: "Sư phụ đa lễ rồi. Ai cũng là người đi đường, mà lương đình này cũng không phải do chúng ta xây. Vào đây uống nước đi." Nhà sư nói: "A Di Đà Phật, tiểu tăng xin đa tạ!", rồi đi vào trong lương đình.

Nhà sư này khoảng hai mươi lăm, hai mươi sáu tuổi, mày rậm mắt to, cái mũi lớn vừa tẹt vừa hếch lên trời, dung mạo xấu xí, mặc tăng bào có nhiều chỗ vá nhưng rất sạch sẽ. Gã đợi ba người uống xong rồi mới đến cái lu nước trong, dùng gáo sành múc lên một chén nước, bưng cả hai tay, hai mắt nhìn xuống, cung kính đọc kệ: "Phật quán nhất bát thủy, bát vạn tứ thiên trùng, Nhược bất trì tỷ chú, Như thực chúng sinh nhục" (Phật nhìn vào một bát nước thấy tám vạn bốn nghìn con trùng, nếu không đọc chú này thì khác nào ăn thịt sống ). Gã đọc kệ xong lại còn niệm một câu chú nữa rồi mới bưng chén nước lên uống.

Hán tử áo đen lấy làm lạ, bèn hỏi: "Tiểu sư phụ lẩm bẩm niệm chú gì vậy?" Nhà sư trả lời: "Tiểu tăng niệm Ẩm Thủy Chú. Phật dạy là trong một bát nước có tám vạn bốn nghìn con trùng, người xuất gia phải niệm chú này rồi mới được uống." Người áo đen cười ha hả nói: "Nước này trong vắt thế kia, một con sâu cũng không có. Tiểu sư phụ nói giỡn rồi." Nhà sư nói: "Thí chủ không biết đâu. Mắt phàm của chúng ta nhìn thì trong nước không có sâu bọ gì, nhưng thiên nhãn của Phật nhìn vào thì lại thấy trong nước có cả ngàn cả vạn con trùng." Người áo đen cười, lại hỏi: "Sau khi niệm chú xong thì lại nuốt hết tám vạn bốn ngàn con trùng vào trong bụng, không hiểu chúng có chết không?" Nhà sư do dự rồi đáp: "Cái này.. cái này sư phụ chưa dạy bảo tiểu tăng, chắc là phần lớn bọn tiểu trùng đó không chết đâu."

Người áo vàng xen vào nói: "Sai bét, sai bét! Bọn tiểu trùng đó nhất định là phải chết. Có điều sau khi tiểu sư phụ niệm chú, tám vạn bốn ngàn con trùng đều được về thế giới tây phương cực lạc. Tiểu sư phụ chỉ uống một bát nước mà siêu độ xong tám vạn bốn ngàn chúng sinh, quả là công đức vô lượng."

Nhà sư không biết gã nói thật hay nói chơi, ngẩn người ra, hai tay vẫn bưng bát nước mà lẩm bẩm nói: "Chỉ chốc lát mà siêu độ được tám vạn bốn ngàn sinh linh ư? Trước nay tiểu tăng chưa dám nghĩ đến pháp lực như thế."

Người áo vàng tiến lại, đỡ lấy cái bát sành trong tay nhà sư, nhìn vào rồi đếm: "Một, hai, ba, bốn, năm, sáu.. một ngàn, hai ngàn, một vạn, hai vạn.. Sai bét, sai bét! Trong cái chén này tổng cộng có tám vạn ba ngàn chín trăm chín mươi chín con tiểu trùng thôi. Tiểu sư phụ đếm thừa mất một con."

Nhà sư nói: "Nam mô a di đà phật. Thí chủ nói giỡn rồi. Thí chủ cũng là người phàm, làm sao có thiên nhãn được?" Người áo vàng nói: "Không lẽ tiểu sư phụ không có thần thông thiên nhãn hay sao?" Nhà sư nói: "Dĩ nhiên là tiểu tăng không có." Người áo vàng nói: "Sai bét, sai bét! Ta nghĩ là tiểu sư phụ có thiên nhãn thông, nếu không thì sao chỉ vừa gặp đã biết ngay ta là phàm phu tục tử, không phải là bồ tát hạ phàm?" Nhà sư nhìn qua nhìn lại, sắc mặt đầy vẻ hoài nghi.

Đại hán mặc áo đỏ sậm đi tới cầm bát nước trao lại vào tay nhà sư, rồi cười nói: "Tiểu sư phụ uống nước đi! Vị huynh đệ của tại hạ tính hay nói giỡn, xin đừng tin là thật." Nhà sư đón lấy bát nước, cung kính nói: "Đa tạ! Đa tạ!", trong lòng hãy còn kinh nghi, chưa uống ngay. Đại hán lại nói: "Tại hạ thấy tiểu sư phụ bộ pháp vững chãi, hẳn là người có võ công. Xin thỉnh giáo tiểu sư phụ pháp danh là gì, và xuất gia ở tự viện nào."

Nhà sư để lại chén nước lên nắp lu, rồi hơi nghiêng người nói: "Tiểu tăng là Hư Trúc, xuất gia tại chùa Thiếu Lâm."

Hán tử áo đen reo lên: "Tuyệt diệu! Thì ra tiểu sư phụ là cao thủ phái Thiếu Lâm. Lại đây, lại đây! Chúng ta tỉ thí một phen." Hư Trúc xua tay lia lịa đáp: "Tiểu tăng võ công thấp kém, không dám động thủ với thí chủ đâu." Gã áo đen cười nói: "Đã mấy ngày nay ta không được động thủ động cước nên ngứa ngáy chân tay. Chúng ta thử vài chiêu, không phải đánh nhau thật đâu, đừng sợ!" Hư Trúc lùi lại hai bước nói: "Tiểu tăng tuy đã luyện mấy năm công phu, nhưng chỉ là để thân thể khỏe mạnh, chứ không phải để đánh nhau." Gã áo đen nói: "Hòa thượng Thiếu Lâm người nào võ công cũng cao cường. Nhà sư nào mới học võ công đều không được rời khỏi sơn môn một bước. Tiểu sư phụ đã được hạ sơn, dĩ nhiên phải là hảo thủ. Đến đây, đến đây! Chúng ta đấu chơi trăm chiêu, ai thắng ai thua cũng chẳng có chi là quan hệ."

Hư Trúc lại lùi hai bước nữa, nói: "Thí chủ không biết đâu. Lần này tiểu tăng tuy bản lĩnh tệ hại mà cũng được xuống núi cho đủ số. Bản tự sai hết đệ tử đi phát thiếp mà vẫn không đủ, mới phải gọi tới tiểu tăng. Tiểu tăng mang đi mười tấm anh hùng thiếp, sư phụ dặn đưa hết thì về chùa, tuyệt đối không được động thủ với ai, Tiểu tăng đưa được bốn tấm rồi, còn lại sáu tấm. Thí chủ võ công cao cường, xin hãy nhận lấy tấm thiệp này." Nhà sư nói xong bèn lôi trong bọc một gói vải dầu, lấy ra một tấm thiệp đỏ chói, cung kính nói: "Xin thỉnh giáo tôn tính đại danh của thí chủ, để tiểu tăng về chùa bẩm lại với sư phụ."

Hán tử áo đen không đón tấm thiếp, chỉ nói: "Tiểu sư phụ chưa động thủ với ta, làm sao biết ta là anh hùng hay cẩu hùng? Chi bằng hãy thử vài chiêu, nếu ta thắng thì mới đủ tư cách để nhận anh hùng thiếp." Gã nói xong tiến lên hai bước, tay trái đang từ từ nắm lại thì hữu quyền đã phóng tới Hư Trúc. Nhưng quyền vừa tới mặt đối phương liền rụt ngay về, la lên: "Tiếp chiêu đi chứ!"

Đại hán khôi vĩ khi nghe Hư Trúc nói đến ba chữ anh hùng thiếp đã để ý, bèn can thiệp: "Tứ đệ, khoan hãy động thủ, để ta xem anh hùng thiếp viết những gì đã." Y đón lấy tấm thiệp trên tay Hư Trúc, nhìn thấy mấy hàng chữ:

"Trụ trì chùa Thiếu Lâm là Huyền Từ, cung kính bái thỉnh anh hùng thiên hạ vào tiết Trùng Dương mùng chín tháng chín giá lâm chùa Thiếu Lâm ở Cảo Sơn để đàm luận về tuyệt kỹ Gậy Ông Đập Lưng Ông, mong được hội kiến Mộ Dung thế gia ở Cô Tô."

Đại hán "A" lên một tiếng, đưa tấm thiệp cho người nho sinh đứng bên, rồi nói với Hư Trúc: "Thì ra phen này phái Thiếu Lâm triệu tập đại hội anh hùng là để đối phó với nhà Cô Tô Mộ Dung." Hán tử áo đen bèn nói: "Hay lắm! Ta là Nhất trận phong Phong Ba Ác, chính là thủ hạ của Cô Tô Mộ Dung đây. Phái Thiếu Lâm muốn làm khó dễ Cô Tô Mộ Dung cũng chẳng cần phải mở đại hội anh hùng làm gì. Bây giờ ta phải lãnh giáo thân thủ của cao đồ phái Thiếu Lâm trước đã."

Hư Trúc lại lùi hai bước nữa, chân trái đã bước ra khỏi lương đình, vội đáp: "Thì ra là Phong thí chủ. Sư phụ của tiểu tăng có nói, không phải bản tự cả gan mời nhà Cô Tô Mộ Dung đến để đắc tội, chỉ vì mấy năm gần đây trên giang hồ đồn đại rằng không ít anh hùng hảo hán mất mạng dưới tuyệt kỹ Gậy Ông Đập Lưng Ông. Sư bá của tiểu tăng là Huyền Bi đại sư cũng viên tịch ở chùa Thân Giới nước Đại Lý, không biết có liên hệ gì tới Cô Tô Mộ Dung hay không. Từ phương trượng đại sư trở xuống, trong bản phái ai cũng nửa tin nửa ngờ, cho nên mới.."

Hán tử áo đen cướp lời: "Ái chà, việc này không dính dáng gì đến nhà Mộ Dung chúng ta đâu. Nhưng ta nói thì nói, làm sao người ta tin ngay được, rốt cuộc cũng phải tỉ võ mà thôi. Bữa nay hai chúng ta thử trước một trận, coi như khua chiêng gióng trống mở màn cho đại chiến sau này. Trận này điểm tới là ngưng, đừng đánh tới mức trọng thương táng mạng mà mất cả vui đi. Đợi đến mùng chín tháng chín, Phong mỗ sẽ đến Thiếu Lâm Tự từ dưới đánh lên, tỉ thí với từng người một mới thật là sảng khoái. Chỉ e rằng Phong mỗ bất quá đánh xong mười bảy mười tám người thì đã thương tích đầy mình, chắc chắn không có cơ hội giao thủ với lão phương trượng Huyền Từ. Thật là đáng tiếc." Gã nói xong, liền vung tay bước lên toan động thủ.

Đại hán khôi vĩ la lên: "Tứ đệ dừng tay! Đợi nói chuyện cho rõ ràng rồi hãy đánh cũng chưa muộn." Người mặc áo vàng xen vào: "Sai bét, sai bét. Sau khi nói cho rõ ràng thì lại không cần đánh nhau nữa. Tứ đệ đừng bỏ qua cơ hội, không nói rõ ràng thì mới đánh nhau được."

Đại hán cao to không lý gì đến y, quay sang Hà Trúc nói: "Tại hạ là Đặng Bách Xuyên, vị này là nhị đệ Công Dã Càn." Y giới thiệu người nho sinh xong, lại quay sang chỉ gã mặc áo vàng nói: "Còn đây là tam đệ Bao Bất Đồng, bọn tại hạ đều là thủ hạ dưới trướng Mộ Dung công tử ở Cô Tô."

Hư Trúc thi lễ với cả bốn người xong, bèn nói: "Đặng thí chủ, Công thí chủ.." Bao Bất Đồng đột ngột cắt lời: "Sai bét, sai bét! Nhị ca của ta mang họ kép là Công Dã, ngươi gọi là Công thí chủ là sai bét, chỉ tổ người ta cười cho." Hư Trúc đỏ mặt lên nói: "Thật là đắc tội! Tiểu tăng học vấn thô thiển, xin Công Dã thí chủ đừng trách. Bao thí chủ.." Bao Bất Đồng lại xen vào: "Ngươi lại nói sai bét. Ta đúng là ở họ Bao, nhưng trước nay không hề bố thí cho bọn hòa thượng ni cô, không thể gọi là Bao thí chủ được." Hư Trúc đáp: "Vâng! Vâng! Bao tam gia, Phong tứ gia.." Bao Bất Đồng lại bắt lỗi: "Ngươi nói sai bét nữa rồi. Lát nữa Phong tứ đệ đánh nhau với ngươi, mặc dù chưa biết ai thắng ai thua nhưng ngươi cũng có thêm chút ít kinh nghiệm giang hồ. Ngươi không thể nói tứ đệ ta không bố thí gì cho ngươi được." Hư Trúc vội đáp: "Vâng! Vâng! Phong thí chủ, tiểu tăng không đánh nhau đâu. Người xuất gia lấy tu hành làm gốc, võ công làm ngọn, bản lĩnh cao hay thấp cũng chẳng can hệ gì."

Phong Ba Ác than thở: "Ngươi khinh thường chuyện học võ quá, thì chắc võ công cũng bình thường thôi, ta không thích đánh nhau với ngươi nữa." Gã cụt hứng lắc đầu quầy quậy. Hư Trúc tựa hồ trút bỏ được gánh nặng, hoan hỉ đáp liền: "Vâng! Vâng!"

Đặng Bách Xuyên nói: "Hư Trúc sư phụ, cái thiệp anh hùng này chúng tôi sẽ thay mặt Mộ Dung công tử mà nhận lấy. Nhưng mấy tháng trước công tử gia đã khởi hành đến bái phỏng Thiếu Lâm Tự, chẳng lẽ chưa đến nơi ư?"

Hư Trúc đáp: "Chưa đến đâu. Phương trượng đại sư chỉ mong Mộ Dung công tử đến nhưng chờ hoài không thấy, đã hai lần phái người đến quí phủ để vấn an, chỉ nghe nói Mộ Dung lão thí chủ đã qui tiên, tiểu thí chủ lại vắng nhà. Lần này phương trượng đại sư chỉ định thủ tòa Đạt Ma Viện thân hành đến Mộ Dung gia để đưa tin, chỉ sợ vẫn không gặp được. Vì vậy mới phát thiệp anh hùng rộng rãi trên giang hồ, nếu có gì thất lễ xin bốn vị thay mặt tệ tự mà nói rõ với Mộ Dung Công tử. Sau này Mộ Dung thí chủ giá lâm bản tự, phương trượng đại sư nhất định sẽ thân hành tạ tội."

Đặng Bách Xuyên nói: "Tiểu sư phụ bất tất phải khách khí. Từ nay đến kỳ hội còn hơn nửa năm, chắc chắn công tử gia sẽ đến Thiếu Lâm Tự bái kiến phương trượng đại sư" Hư Trúc chắp tay cung kính đáp lại: "Mộ Dung công tử cùng các vị giá lâm tệ tự, chắc chắn phương trượng sẽ hoan hỉ vô cùng. Hai chữ Bái Kiến thật tình không dám nhận."

Phong Ba Ác nghe nhà sư này nói năng bảo thủ, tuy là hòa thượng Thiếu Lâm mà không có chút nào khí độ khoái hoạt của nhân vật giang hồ. Gã thấy khó chịu, bèn mặc kệ không lý gì đến nữa, quay lại nhìn đám người bên Đinh Xuân Thu. Gã thấy bọn đệ tử phái Tinh Tú đều cầm binh khí, hiển nhiên là nhân vật võ lâm, liền muốn tìm đối thủ để đánh mấy trận cho đỡ ngứa ngáy tay chân.

Từ lúc Du Thản Chi thấy bốn người bọn Phong Ba Ác vào quán lương đình, gã cứ rúc vào sau lưng sư phụ. Đinh Xuân Thu thân thể cao lớn che khuất cả y nên bọn Đặng Bách Xuyên chưa thấy cái đầu sắt kỳ lạ của gã. Phong Ba Ác chỉ chú ý đến một ông lão đồng nhan hạc phát, tiên phong đạo cốt ra vẻ thế ngoại cao nhân, trong lòng sinh ra kính ngưỡng. Y không tiện vô duyên vô cớ khiêu chiến ngay, bèn hỏi: "Xin thỉnh vấn tôn tính đại danh của lão tiền bối." Đinh Xuân Thu khẽ cười, đáp: "Ta ở họ Đinh."

Ngay lúc đó bỗng nhiên Hư Trúc "A" một tiếng rồi hô lên: "Sư thúc tổ! Lão nhân gia cũng đến đây ư?" Phong Ba Ác quay mặt lại nhìn, thấy ngoài đường có bảy tám hòa thượng đang đến, dẫn đầu là hai vị lão tăng, phía sau lại có hai nhà sư đang khiêng một cái cáng, trên đó có người nằm. Hư Trúc nhanh chân chạy ra khấu kiến hai vị lão tăng, rồi bẩm báo lai lịch của bọn Đặng Bách Xuyên.

Vị lão tăng bên phải gật gật đầu, đi vào lương đình thi lễ với bốn người Đặng Bách Xuyên rồi nói: "Lão nạp là Huyền Nạn", sau đó chỉ sang vị lão tăng kia giới thiệu: "Còn đây là sư đệ Huyền Thống. Hôm nay thật là hân hạnh được gặp bốn vị đại hiền ở nhà Mộ Dung Cô Tô.".

Bọn Đặng Bách Xuyên đã nghe tên Huyền Nạn từ lâu, thấy vị sư già này mặt đầy nếp nhăn, hai mắt lộ thần quang, liền đáp lễ. Phong Ba Ác nói: "Tại hạ kính ngưỡng thần công của đại sư phụ thủ tòa Đạt Ma Viện chùa Thiếu Lâm đã lâu. Hôm nay thể nào cũng xin được lãnh giáo một phen."

Huyền Nạn khẽ cười, đáp: "Lão nạp cùng Huyền Thống sư đệ đang vâng lệnh phương trượng đến Yến Tử Ổ ở Giang Nam để trình tấm thiệp này. Đây là lần thứ ba bản tự phái người đến quí phủ, lần này may mắn gặp được bốn vị ở đây, cơ duyên không phải tầm thường." Lão tăng nói xong bèn lấy trong bọc ra một tấm thiệp đỏ.

Đặng Bách Xuyên đưa hai tay tiếp lấy, thấy trên phong bì có ghi "Kính gửi Mộ Dung thí chủ ở Yến Tử Ổ". Y nghĩ rằng nội dung bên trong chắc cũng đại khái như tấm thiệp của Hư Trúc, bèn nói: "Hai vị đại sư là cao tăng Thiếu Lâm, bằng hữu võ lâm đều kính trọng, lại phải thân hành đến bản trang, quả là thể diện nhà Mộ Dung được rạng rỡ thêm nhiều. Vừa rồi tiểu sư phụ Hư Trúc đã gửi anh hùng thiếp, bọn tại hạ sẽ nhanh chân bẩm báo lên trên. Vào tiết Trùng Dương mùng chín tháng chín, Mộ Dung công. Tử nhất định sẽ đến quí tự bái Phật, đích thân đa tạ chư vị cao tăng, đồng thời trước mặt anh hùng thiên hạ sẽ đối chất cho rõ những chỗ hiểu lầm."

Huyền Nạn nghĩ thầm: "Ngươi nói là hiểu lầm, chẳng lẽ Huyền Bi sư huynh không phải bị bọn Mộ Dung các ngươi gia hại ư?", Đột nhiên phía sau có tiếng la lên: "Chao ôi! Sư phụ ơi, chính hắn đây rồi." Huyền Nạn quay đầu nhìn lại, thấy một quái nhân đầu sắt đang chỉ vào trong cáng, nói nhỏ gì đó với ông lão tóc bạc.

Du Thản Chi thầm thì vào tai Đinh Xuân Thu: "Nhà sư mập trong cái cáng đó chính là người bắt con băng tằm, không hiểu sao phái Thiếu Lâm lại khiêng y đến."

Đinh Xuân Thu nghe nói nhà sư mập này là chủ nhân con băng tằm, không khỏi mừng thầm, hạ giọng hỏi lại: "Không nhầm đấy chứ?" Du Thản Chi đáp: "Đệ tử không nhầm đâu, chính là Tuệ Tịnh. Sư phụ nhìn xem, cái bụng y tròn vo lù lù một đống thế kia." Đinh Xuân Thu nhìn kỹ người nằm trên cáng, thấy cái bụng y quả thật còn to hơn bụng đàn bà chửa mười tháng, bèn nghĩ: "Bất luận là ai đã nhìn thấy tên trọc bụng to này một lần đều không thể nhầm lẫn được nữa." Lão bèn hỏi Huyền Nạn: "Đại sư! Hòa thượng Tuệ Tịnh này là bạn của tại hạ, không hiểu đã mắc bệnh gì, có nguy hiểm không?"

Huyền Nạn chắp tay đáp: "Không hiểu thí chủ tôn tính đại danh là gì, sao lại quen biết với sư điệt của lão nạp?" Đinh Xuân Thu nghĩ thầm: "Tên Tuệ Tịnh này lại đi cùng với bọn hòa thượng Thiếu Lâm, thêm phiền phức nữa rồi. May mà ta gặp ở đây, chặn đường bắt đi cũng còn dễ hơn xông lên chùa Thiếu Lâm cướp người." Lão nghĩ đến thần hiệu vô song của con băng tằm, hùng khí lại nổi lên, bèn tự xưng: "Tại hạ là Đinh Xuân Thu."

Ba tiếng "Đinh Xuân Thu" vừa thốt ra, cả sáu người Huyền Nạn, Huyền Thống, Đặng Bách Xuyên, Công Dã Càn, Bao Bất Đồng, Phong Ba Ác không hẹn mà cùng la lên một tiếng, mặt biến sắc. Ác danh Tinh Tú Lão Quái Đinh Xuân Thu đã đồn khắp thiên hạ, không ai tin nổi lão lại có phong thái ung dung tự tại như thế, lại càng không hiểu sao lại gặp nhau ở đây. Cả sáu người đều thấy kinh nghi.

Huyền Nạn trấn tĩnh trước tiên, nói: "Thì ra là Đinh lão tiên sinh ở Tinh Tú Hải, lão nạp từ lâu đã ngưỡng mộ đại danh, thật như sấm động bên tai."

Nhà sư già không nói đến những câu khách sáo thông thường như "hân hạnh gặp mặt, may mắn tương phùng" gì gì, trong lòng nghĩ: "Ai mà phải gặp ngươi là coi như kiếp trước tu không khéo rồi."

Đinh Xuân Thu đáp: "Không dám! Môn Tụ Lý Càn Khôn của thủ tòa Đạt Ma Viện chùa Thiếu Lâm mới thật là vang danh thiên hạ, lão phu ngưỡng mộ từ lâu. Tại hạ đi khắp nơi tìm vị Tuệ Tịnh này, tình cờ gặp ở đây thật là hay quá."

Huyền Nạn hơi chau mày, đáp: "Nói ra xấu hổ. Bản tự giáo dục không đến nơi nên tên sư điệt Tuệ Tịnh đây phạm nhiều giới luật, năm trước tự ý trốn khỏi chùa làm nhiều chuyện ác. Phương trượng sư huynh đã cho người đi tìm kiếm khắp nơi, khó khăn lắm mới bắt được để đưa về bản tự. Đinh lão tiên sinh đã gặp hắn ư?" Đinh Xuân Thu nói: "Thì ra y không bị bệnh mà bị người ta đánh ư? Thương tích có trầm trọng không?" Huyền Nạn trầm ngâm một lát mới nói: "Hắn không tuân pháp dự của phương trượng mà quay về, lại dám xuất thủ đả thương người khác." Trong lòng nhà sư nghĩ: "Hắn giao kết với bọn tà ma ngoại đạo như ngươi, lại phạm thêm một giới luật nữa."

Đinh Xuân Thu nói: "Tại hạ lên núi Côn Luân, tốn rất nhiều công sức mới bắt được một con băng tằm. Đó là một món rất hữu dụng, nhưng lại bị tên Tuệ Tịnh sư điệt của đại sư cướp mất. Lần này tại hạ ngàn dặm xa xôi từ Tinh Tú Hải vào Trung Nguyên chỉ vì muốn lấy lại con băng tằm.."

Lão chưa dứt lời, đột nhiên Tuệ Tịnh la lên: "Băng tằm của ta đâu? Này này, ngươi có thấy con băng tằm của ta ở đâu không? Con băng tầm này là ta đã vất vả tìm được trên núi Côn Luân. Chính ngươi.. ngươi ăn cắp của ta phải không?"

Từ lúc Du Thản Chi lộ mặt ra hô hoán, cặp mắt láo liên của Phong Ba Ác cứ ngó chầm chập vào cái đầu sắt của gã không ngớt. Y càng nhìn càng thấy hay hay, lại đi vòng quanh Du Thản Chi ngắm nghía cái đầu kỳ lạ, thấy cái đầu này đúc rất tinh xảo, hàn gắn rất kỹ càng, cứ muốn đưa tay gõ thử mấy cái. Phong Ba Ác nhìn một hồi rồi gọi chuyện: "Huynh đài mạnh giỏi chứ?" Du Thản Chi đáp: "Tại hạ.. tại hạ vẫn thường. Còn huynh đài thế nào?" Gã thấy Phong Ba Ác hình như đang ngứa chân ngứa tay, bèn ngấm ngầm sợ hãi. Phong Ba Ác hỏi: "Cái lồng sắt của huynh đài ai làm mà khéo thế? Phong mỗ đi khắp thiên hạ mà chưa thấy ai có cái mặt nạ giống như vậy." Du Thản Chi ngượng ngùng cúi đầu, khẽ nói: "Tại hạ.. tại hạ không tự chủ lấy thân được, không có cách nào.."

Phong Ba Ác nghe vậy, hỏi lại: "Kẻ nào mà ác độc đến thế? Phong mỗ muốn gặp thử coi." Gã vừa nói vừa nheo mắt nhìn Đinh Xuân Thu, cứ tưởng lão này đã ức hiếp mà chụp lồng sắt vào đầu Du Thản Chi. Du Thản Chi vội nói: "Không.. không phải sư phụ tại hạ đâu." Phong Ba Ác nói: "Vậy thì ai? Chụp lồng sắt vào đầu huynh đài để làm gì? Tại hạ phải tháo bỏ nó đi." Y nói xong, thò tay vào bọc móc lưỡi trủy thủ sáng loáng ra, chỉ nhìn cũng biết là cực kỳ sắc bén.

Phong Ba Ác định dùng lưỡi dao này để tháo cái lồng sắt cho Du Thản Chi.

Du Thản Chi biết cái lồng sắt này đã dính liền vào mặt mũi cùng đầu óc mình, nếu tháo nó ra thì đứt cả da thịt, có thể nguy đến tính mạng. Gã vội ngăn lại: "Không.. không tháo ra được đâu!" Phong Ba Ác nói: "Huynh đài đừng sợ chi hết, cứ để ta tháo ra cho, quyết không tổn thương gì đến da thịt đâu." Du Thản Chi vẫn nằng nặc không chịu, nói: "Không được, không được mà!" Phong Ba Ác hỏi: "Phải chăng huynh đài sợ hãi tên ác nhân đã chụp đầu sắt vào, nên không dám tháo ra? Giả tỉ lần sau hắn có hành hạ huynh đài về tội mất cái mặt sắt, cứ bảo hắn rằng Nhất Trận Phong đè ra mà tháo, không tự chủ được, bảo hắn đến tìm ta mà trả đũa." Phong Ba Ác nói xong, nắm chặt cổ tay trái Du Thản Chi.

Du Thản Chi nhìn thấy lưỡi trủy thủ sáng loáng thì kinh hãi vô cùng, vội la lên: "Sư phụ! Sư phụ!", vừa gọi vừa quay lại Đinh Xuân Thu cầu cứu, nhưng lão đang đứng bên cái cáng thương, chắp tay sau lưng hứng thú nhìn nhà sư Tuệ Tịnh, cũng không hiểu có nghe Du Thản Chi kêu réo hay không. Phong Ba Ác đưa truy thủ lên toan đâm vào cái lồng sắt. Du Thản Chi trong lúc hoang mang, vươn tay phải đập vào vai Phong Ba Ác nghe bộp một tiếng, chỉ toan đẩy gã ra.

Phong Ba Ác đang để hết tinh thần vào việc tháo lồng sắt cho Du Thản Chi, sợ chỉ trệch mũi dao một chút là sứt mặt thủng đầu. Gã không hề đề phòng Du Thản Chi tập kích bất thình lình, mà phát chưởng này kình lực không phải tầm thường, lại trúng vào chỗ hiểm yếu. Phong Ba Ác chỉ kịp rú lên một tiếng rồi ngã chúi ra trước. May mà gã nhanh chân lẹ tay, tay trái vừa chống xuống đất, liền nhảy vọt một cái đứng thẳng người lên. Bỗng nghe "ụa" một cái, miệng Phong Ba Ác hộc máu tươi ra.

Ba người Đặng Bách Xuyên, Công Dã Càn, Bao Bất Đồng thấy Du Thản Chi bất thình lình hạ độc thủ, khiến huynh đệ bị một đòn nặng thì đều giật mình kinh hãi, lại thấy Phong Ba Ác mặt mày nhợt nhạt thì lo lắng vô cùng. Công Dã Càn bắt mạch Phong Ba Ác, thấy mạch cấp bách hỗn loạn dường như bị trúng độc, bèn trỏ vào mặt Du Thản Chi quát mắng: "Thằng lôi con kia! Té ra mi là môn hạ Tinh Tú Lão Quái, hễ ra tay là dùng thủ đoạn thâm độc hại người". Gã móc trong bọc ra một cái bình nhỏ, mở nắp lấy một viên thuốc giải độc nhét vào mồm Phong Ba Ác.

Đặng Bách Xuyên và Bao Bất Đồng lạng người đứng chặn trước mặt Đinh Xuân Thu cùng Du Thản Chi. Bao Bất Đồng vận kình lực vào tay trái, vươn năm ngón tay ra như móng vuốt, toan chụp xuống ngực Du Thản Chi. Đặng Bách Xuyên la lên: "Tam đệ dừng tay!" Bao Bất Đồng bèn thủ thế lùi lại, đưa mắt nhìn đại ca. Đặng Bách Xuyên mở lời chất vấn: "Nhà Mộ Dung chúng ta cùng phái Tinh Tú vốn không thù không oán, tứ đệ lại có lòng tốt muốn tháo bỏ mặt nạ giúp cho, sao môn hạ phái Tinh Tú lại xuất thủ đánh người? Mong lão tiên sinh giải thích chuyện này."

Đinh Xuân Thu thấy gã môn đệ mới nhận chỉ hời hợt đẩy ra đã đánh bại một tên hảo thủ của nhà Cô Tô Mộ Dung, oai phong của phái Tinh Tú hiển nhiên rạng rỡ thêm nhiều. Lão ngấm ngầm đắc ý, nghĩ đến thần hiệu của băng tằm lại càng thèm nhỏ dãi, bèn khẽ cười nói: "Vị Phong tứ gia này tính tình nóng nảy hiếu chiến, hành động lại càng lỗ mãng. Môn nhân phái Tinh Tú thích đội nón đồng hay nón sắt thì không hiểu có phiền hà gì đến nhà họ Mộ Dung không?"

Lúc đó Công Dã Càn đã đỡ Phong Ba Ác ngồi dậy, thấy gã toàn thân run bần bật, hai hàm răng khua lên lách cách, tựa hồ như ngã vào biển băng. Lát sau, sắc mặt Phong Ba Ác dần dần xám xanh lại. Viên thuốc giải độc của Công Dã Càn vốn rất linh nghiệm, nhưng lần này chẳng ăn thua gì.

Công Dã Càn sợ quá, đặt tay lên mũi để nghe hơi thở thì cảm thấy một luồng gió lạnh buốt thấu xương thổi vào lòng bàn tay. Y vội rụt tay lại, la lên: "Nguy rồi! Sao hơi thở lại lạnh đến thế?", nghĩ rằng Phong Ba Ác thở hơi ra lạnh đến thế thì chắc đã trúng phải hàn độc cực kỳ ghê gớm. Tình hình cấp bách, Công Dã Càn không kịp suy nghĩ nhiều, bèn quay lại hỏi Định Xuân Thu; "Phải chăng các hạ là sư phụ gã đầu sắt kia? Huynh đệ của tại hạ trúng phải độc thủ của gã, xin các hạ giải độc giúp cho."

Phong Ba Ác trúng phải chất hàn độc ghê gớm của băng tằm, do thần công Dịch Cân Kinh của Du Thản Chi tống vào. Đinh Xuân Thu không có thuốc giải, mà dù có thì lão cũng chẳng chịu cho. Lão ngửng đầu lên trời cười to, hô một tràng chú ngữ chẳng ai hiểu được, phất tay áo cuộn lên một trận gió. Bọn đệ tử phái Tinh Tú đều co giò chạy lẹ ra khỏi quán lương đình.

Huynh đệ Đặng Bách Xuyên cùng quần tăng Thiếu Lâm đều cảm thấy luồng gió dữ dội này như rắc ớt vào mắt, làm nhức nhối khó chịu, nước mắt trào ra, mắt không mở được. Ai nấy đều la thầm: "Nguy rồi!", biết rằng lão phất tay áo là để phát tán độc phấn giấu bên trong. Ba người Đặng Bách Xuyên, Công Dã Càn, Bao Bất Đồng không hẹn mà cùng xông ra trước Phong Ba Ác, chỉ sợ đối phương hạ độc thủ hại gã. Đặng Bách Xuyên nhắm mắt phóng ra một chưởng, một tiếng "Ầm" vang lên, ngói và cát bụi trên mái rơi xuống lả tả. Phát chưởng của Đặng Bách Xuyên đánh trúng cột quán lương đình, cái cột to đến bảy tấc bị gãy đôi, nửa quán đổ sập xuống. Khi mọi người mở được mắt ra nhìn thì Đinh Xuân Thu cùng Du Thản Chi đã chạy mất rồi, không thấy tông tích đâu nữa.

Một hòa thượng Thiếu Lâm la lên: "Tuệ Tịnh đâu rồi?" Té ra trong lúc hỗn loạn thì Đinh Xuân Thu đã cướp Tuệ Tịnh đi mất, cái cáng thương đang chụp lên đầu một nhà sư khác. Huyền Thống nổi giận la lên: "Đuổi!", rồi phi thân ra khỏi lương đình. Đặng Bách Xuyên cùng Bao Bất Đồng cũng nhảy ra đuổi theo. Huyền Nạn phất tay trái một cái, cũng dẫn bọn sư điệt rượt theo tiếp ứng.

Công Dã Càn ở lại trong lương đình để lo liệu cho Phong Ba Ác. Gã thấy trong mắt cay xè, nước mắt chảy không ngừng, lại thấy mồ hôi trán Phong Ba Ác dần dần đóng thành bằng, trong lòng cực kỳ hoang mang. Bỗng nghe tiếng bước chân, Công Dã Càn ngẩng lên nhìn thấy Đặng Bách Xuyên đang ôm Bao Bất Đồng chạy trở lại, bèn cả kinh la lên: "Đại ca! Tam đệ lại bị thương ư?" Đặng Bách Xuyên đáp: "Lại là độc thủ của gã đầu sắt." Rồi Huyền Nạn cùng quần tăng Thiếu Lâm cũng trở lại lương đình, Huyền Thống đang nằm trên lưng Hư Trúc, rét đến răng khua lách cách. Huyền Nạn cùng Đặng Bách Xuyên, Công Dã Càn nhìn nhau ngơ ngác.

Đặng Bách Xuyên nói: "Gã đầu sắt chỉ đối một chưởng với tam đệ, rồi lại cùng Huyền Thống đại sư đối một chưởng nữa. Không ngờ hàn độc chưởng của phái Tinh Tú lợi hại đến thế."

Huyền Nạn lấy trong bọc ra một cái hộp gỗ nhỏ, nói rằng: "Tệ phái có Lục Dương Chính Khí Đan có công hiệu chữa trị hàn độc." Nhà sư mở nắp hộp, lấy ra ba viên đan dược màu đỏ như máu, trao Đặng Bách Xuyên hai viên, còn một viên cho Huyền Thống uống.

Thời gian chừng ăn xong bữa cơm, hàn độc trong thân thể bọn Huyền Thống ba người đã dịu lại, Bao Bất Đồng mở miệng la lên: "Gã đầu sắt này, con.. con mẹ nó, không hiểu là chưởng lực gì vậy?" Đặng Bách Xuyên nói: "Tam đệ, từ từ rồi hãy mắng cũng chưa muộn, hành công trước đã." Bao Bất Đồng nói: "Sai bét, sai bét! Bây giờ mà không mắng, lát nữa mạng của tiểu đệ ô hô ai tai rồi, lúc đó muốn mắng thì đã muộn." Đặng Bách Xuyên cười nói: "Đừng lo quá, không chết được đâu." Y nói xong liền đưa bàn tay áp vào huyệt Chí Dương ở hậu tâm, dùng nội lực yểm trợ gã khu trừ hàn độc. Công Dã Càn lại giúp Phong Ba Ác, còn Huyền Nạn cũng dùng nội lực yểm trợ cho Huyền Thống trục độc.

Trong số họ thì dĩ nhiên hai vị Huyền Nạn, Huyền Thống nội lực thâm hậu nhất. Một lát sau Huyền Thống thở phào rồi nói: "Tốt rồi! Thật là lợi hại." Huyền Nạn có ý đi giúp Bao Bất Đồng và Phong Ba Ác trục hàn độc, nhưng ngặt ở chỗ đối phương chưa mở lời mà mình tự ý sang giúp thì không khỏi có ý coi thường nội lực của họ, đó là một điều cấm kỵ của võ lâm.

Đột nhiên Huyền Thống lắc lư hai cái, hai hàm răng lại khua lên lách cách, kêu cứu: "Sư.. sư huynh! Hàn.. hàn độc này thật là cổ quái.." Huyền Nạn phải tiếp tục vận công tương trợ. Hàn độc trong mình ba người cứ dịu đi chốc lát rồi lại lên cơn, cứ như thế đến chiều tối thì mỗi người đã uống đến ba viên Lục Dương Chính Khí Đan mà hàn khí vẫn không giảm chút nào. Huyền Nạn mang theo mười viên đan dược, lúc này chỉ còn một viên, liền bỏ ra chia cho ba người uống. Bao Bất Đồng không chịu uống nữa, phều phào nói: "E rằng uống thêm một trăm viên nữa cũng.. cũng.. chưa chắc.."

Huyền Nạn đành bó tay, nói: "Bao thí chủ nói không sai. Lục Dương Chính Khí Đan quả là thuốc không đúng bệnh, mà nội công của chúng ta cũng không thể khu trừ hàn độc này được. Lão nạp nghĩ rằng, chỉ còn cách đến xin Tiết Thần Y chữa trị thôi. Bốn vị thí chủ nghĩ sao?" Đặng Bách Xuyên cả mừng nói: "Tại hạ cũng có nghe Tiết Thần Y ngoại hiệu là Diêm Vương Địch diệu thủ hồi xuân, chứng bệnh nào cũng có thể chữa khỏi. Đại sư có biết thần y ở chỗ nào không?" Huyền Nạn đáp: "Gia đình Tiết Thần Y ở trấn Liễu Tông phía tây Lạc Dương, cách đây cũng không xa lắm. Thần Y cùng lão nạp đã có duyên gặp gỡ mấy lần, nếu qua đó xin chữa trị thì chắc ông ta không từ chối đâu." Nhà sư ngừng một chút lại nói: "Tiết Thần Y trước đây đã từng ngưỡng mộ Cô Tô Mộ Dung lừng danh thiên hạ. Nếu y có dịp kết giao bằng hữu với bốn vị anh hùng, chắc cũng rất vui mừng."

Bao Bất Đồng xen vào nói: "Sai bét, sai bét! Tiết Thần Y mà thấy chúng ta đến trước cửa chưa chắc đã vui mừng. Có điều hết thảy nhân vật võ lâm đều chán ghét môn Gậy Ông Đập Lưng Ông của công tử nhà ta, chỉ có Tiết Thần Y là không sợ mà còn tán dương là khác. Sau này giả tỉ y gặp phải chuyện.. chuyện lôi thôi, chỉ cần đến nhờ công tử gia thi triển môn Gậy Ông Đập Lưng Ông là cái mạng già của y được cứu ngay."

Mọi người phá lên cười, cùng nhau rời khỏi quán lương đình, đến thị trấn phía trước thuê ba cỗ xe lớn để ba người bị thương nằm dưỡng sức. Đặng Bách Xuyên lại xuất ngân lượng mua thêm mấy con ngựa cho quần tăng Thiếu Lâm cưỡi.

Đoàn người cứ đi hai ba giờ lại phải dừng để giúp bọn ba người Huyền Thống hành công trấn áp hàn độc. Về sau Huyền Nạn không tị hiềm nữa, cũng dùng nội công phái Thiếu Lâm để tương trợ cho Bao Bất Đồng cùng Phong Ba Ác. Từ nơi này đến trấn Liễu Tông chỉ cách vài trăm dặm, tuy đường núi gập ghềnh mà đến trưa ngày thứ ba đã đến nơi. Nhà Diêm vương địch Tiết Thần Y ở chốn thâm sơn, cách trấn Liễu Tông hơn ba mươi dặm về phía Bắc. May mà khi ở Tụ Hiền Trang lão đã nói rõ đường lối với Huyền Nạn đại sư, nên đoàn người không phải hỏi gì, đi một mạch đến cửa Tiết gia.

Huyền Nạn cưỡi ngựa đi trước, thấy bên suối có mấy gian nhà tường trắng ngói đen, trước nhà có vườn thuốc. Nhà sư biết là chỗ ở của Tiết Thần Y, liền giục ngựa đến nơi, thấy trước cửa có treo hai chiếc đèn lồng to phất giấy trắng. Huyền Nạn giật mình tự hỏi: "Chẳng lẽ trong nhà Tiết Thần Y có người bệnh chữa không khỏi?" Nhà sư đến gần mấy trượng nữa, thấy rõ trước cửa có treo mấy tấm xô gai, bên cạnh cắm một lá cờ chiêu hồn, quả là có đám tang không còn nghi ngờ gì nữa. Trên đèn lồng có viết hai hàng chữ: "Tiết Công Mộ Hoa chi tang; Hưởng niên ngũ thập ngũ tế" (Đám tang ông Tiết Mộ Hoa, hưởng thọ năm mươi lăm tuổi ). Huyền Nạn lẩm bẩm: "Không hiểu Tiết Mộ Hoa có phải là Tiết Thần Y không, theo độ tuổi thì đúng rồi. Nếu Tiết Thần Y không tự chữa được cho mình mà chết đi, thì thật là tuyệt lộ."

Nhà sư đang dừng ngựa trầm ngâm, Đặng Bách Xuyên và Công Dã Càn cũng thúc ngựa đến nơi. Ba người ngơ ngác nhìn nhau đều lộ vẻ hoài nghi không nhất quyết.

Trong nhà bỗng có tiếng khóc vang lên, thanh âm của phụ nữ: "Lão gia ơi! Lão gia y thuật như thần, ngờ đâu lại bị cấp chứng bỏ bọn tiểu nhân mà đi. Lão gia ngoại hiệu là Diêm Vương Địch, rốt cuộc cũng bị lôi xuống Diêm cung, chắc bị Diêm Vương hành hạ khổ sở!"

Ba cỗ xe lớn và sáu nhà sư chùa Thiếu Lâm cũng vừa đến nơi. Đặng Bách Xuyên, nhảy xuống ngựa, cất tiếng nói to: "Huyền Nạn đại sư chùa Thiếu Lâm dẫn mấy bằng hữu đến, có việc khẩn cầu Tiết Thần Y." Thanh âm y bình thường đã oang oang như tiếng chuông đồng, lúc này vận khí lại càng lớn, vọng đi rất xa. Tiếng khóc trong nhà bỗng im bặt.

Lát sau, một người nô bộc già cùng một nam một nữ từ trong nhà chạy ra, nước mắt nước mũi giàn giụa trông rất thương tâm. Lão bộc đấm ngực nghẹn ngào nói: "Lão gia của bọn tiểu nhân mất từ chiều hôm qua. Các vị.. các vị không gặp được nữa rồi."

Huyền Nạn chắp tay để trước ngực, hỏi: "Tiên sinh mắc bệnh gì mà tạ thế?" Lão bộc đáp: "Đột nhiên lão gia nấc lên mấy cái rồi nghẹt thở, không hiểu là bệnh gì. Lão gia của bọn tiểu nhân vốn thân thể tráng kiện, tuổi cũng chưa cao, thật là không ngờ! Thật là không ngờ!" Huyền Nạn lại hỏi: "Trong nhà Tiết Thần Y còn ai không?" Lão bộc đáp: "Không có ai, không có một người nào hết." Công Dã Càn cùng Đặng Bách Xuyên đưa mắt nhìn nhau, nhận ra lão bộc nói mấy câu này không tự nhiên, có vẻ thiếu thành thật. Huyền Nạn thở dài nói: "Quả là sinh tử hữu mạng chẳng sai. Xin để bọn lão nạp vào lạy một lạy trước linh vị bằng hữu." Lão bộc ấp úng: "Cái đó.. Cái đó.. Vâng, vâng", rồi dẫn mọi người tiến qua cổng lớn vào nhà.

Công Dã Càn lùi lại một bước, khẽ bảo Đặng Bách Xuyên: "Đại ca! Tiểu đệ thấy dường như có gì uẩn khúc. Lão này có vẻ lúng túng, nói chuyện mập mờ." Đặng Bách Xuyên gật đầu, theo lão bộc vào.

Linh đường bài trí rất đơn giản thô sơ, thiếu thốn đủ thứ, rõ ràng sắp đặt một cách vội vàng. Trên bài vị có dòng chữ: "Tiết Công Mộ Hoa chi linh vị", nét bút sắc sảo gân guốc đúng là của một người đọc sách nhiều, lão bộc kia không thể viết được thế này. Công Dã Càn để ý thấy, nhưng không nói gì, theo mọi người tuần tự vào trước linh vị làm lễ điếu tang. Y nhìn ra sân thấy hai cây sào tre, có phơi đến mười mấy bộ quần áo đủ cả nam phụ lão ấu, nghĩ thầm: "Rõ ràng trong nhà Tiết Thần Y có đông đủ gia quyến, thế mà lão bộc nói không có ai."

Huyền Nạn nói: "Bọn lão nạp từ chùa Thiếu Lâm trên núi Tung Sơn tới đây cầu Tiết tiên sinh trị bệnh, không ngờ đến nơi thì Tiết tiên sinh lại quy tiên rồi. Bây giờ đã xế chiều, xin được ngủ lại quý phủ một đêm." Lão bộc ấp úng đáp: "Cái đó.. Cái đó.. được.. được. Xin chư vị đợi trong khách sành một chút, tiểu nhân đi làm cơm." Huyền Nạn nói: "Quản gia bất tất phải bận lòng, cơm hẩm dưa muối cũng được rồi." Lão bộc nói: "Dạ dạ! Xin các vị ngồi chơi một chút." Nói xong, lão dẫn mọi người ra lại sảnh đường rồi xoay mình đi vào trong nhà.

Qua một lúc lâu, chẳng thấy ai mang trà nước ra mời khách chi hết. Huyền Nạn lẩm bẩm: "Lão bộc này gặp lúc chủ nhân qua đời đột ngột, không khỏi thần hồn điên đảo. Hỡi ơi! Huyền Thống sư đệ bị trúng hàn độc, biết làm thế nào bây giờ?" Mọi người chờ đến nửa giờ nữa, vẫn chẳng thấy lão bộc ra. Bao Bất Đồng nóng ruột nói: "Để tại hạ đi tìm nước uống, khát quá rồi!" Hư Trúc nói: "Bao tiên sinh cứ ngồi nghỉ, để tiểu tăng đi giúp ông lão đó nấu nước." Nhà sư nói xong liền đứng dậy đi vào nhà trong. Công Dã Càn muốn xem động tĩnh Tiết gia ra sao, bèn nói: "Để tại hạ đi cùng tiểu sư phụ."

Hai người đi thẳng ra sau, xuống tận nhà bếp. Tiết gia rất nhiều phòng ốc, trước sau có đến năm dãy, mà tuyệt không thấy bóng người, cả đôi nam nữ vừa rồi cũng chẳng thấy đâu nữa.

Công Dã Càn biết là có chuyện khác thường, hấp tấp trở ra sảnh đường, nói: "Tình hình trong nhà này rất khác thường, Tiết Thần Y giả chết cũng nên." Huyền Nạn kinh ngạc đứng bật dậy hỏi: "Sao thế?" Công Dã Càn đáp: "Tại hạ vào xem quan tài thử." Y vào trước linh vị, đưa tay ra toan nhấc nắp quan tài, đột nhiên nghĩ sao lại rút tay về, chạy ra sân lấy một cái áo phơi trên sào quấn vào tay.

Phong Ba Ác hỏi: "Phải chăng nhị ca sợ trên quan tài có chất độc?" Công Dã Càn đáp: "Lòng người nham hiểm khôn lường, không thể không đề phòng." Y vận kình lực nhấc quan tài thử, thì thấy rất nặng, chắc là bên trong không có xác chết, liền nói: "Quả nhiên Tiết Thần Y trá tử!"

Phong Ba Ác rút đơn đao ra đánh soạt một tiếng, nói: "Chúng ta mở nắp quan tài ra xem sẽ rõ." Công Dã Càn nói: "Lão này xưng là Thần Y, tất nhiên dụng độc cao cường, tứ đệ phải cẩn thận!" Phong Ba Ác nói: "Tiểu đệ biết rồi.", đưa mũi đao vào kẽ hở nạy lên, nghe lách cách mấy tiếng, nắp quan tài hé mở. Gã sợ phấn độc trong quan tài bay ra, bèn phong bế hết đường hô hấp.

Bao Bất Đồng lạng người một cái nhảy ra sân, vươn tay ra chụp lấy hai con gà mái đang tìm sâu bọ bên cây quế, ném lướt qua mặt quan tài. Hai con gà kêu quang quác mấy tiếng, rớt xuống rồi chạy vội chạy vàng, nhưng chỉ được mấy bước là ngã lăn ra giẫy đành đạch mấy cái rồi nằm chết cứng. Lúc này dưới hành lang có một cơn gió lạnh thổi qua, lông gà bay tứ tung theo chiều gió. Gà mới chết mà đã rụng hết lông, đủ biết chất độc mãnh liệt chừng nào. Mọi người thấy tình trạng này không khỏi khiếp sợ, không ai dám đến bên quan tài.

Huyền Nạn hỏi Đặng Bách Xuyên: "Đặng thí chủ! Vụ này là thế nào? Chẳng lẽ Tiết Thần Y trá tử thật sao?" Đại sư vừa nói vừa tung mình nhảy lên, tay trái bám lấy xà nhà, nhìn vào quan tài thì thấy bên trong đựng đầy đá tảng, ở giữa có một cái bát lớn chứa đầy nước trong, dĩ nhiên là thuốc độc, Huyền Nạn nhảy xuống, lắc đầu nói: "Giả tỉ Tiết thí chủ chẳng chịu chữa trị cho chúng ta thì thôi, việc gì phải bố trí cơ quan điểm độc hại người? Chùa Thiếu Lâm với y không thù không oán, việc này thật là vô lý. Hay là.. hay là.." Nhà sư dừng lại không nói nữa, nhưng ai cũng biết lão định nói: "Hay là có thâm thù với nhà Cô Tô Mộ Dung?"

Bao Bất Đồng nói: "Đại sư bất tất phải đoán lung tung. Mộ Dung Công Tử cùng Tiết Thần Y chưa hề quen biết, lại không thù oán. Nếu có thì dù bọn tại hạ có đau khổ đến đâu cũng ráng chịu, chẳng thèm quị lụy kẻ thù để xin chữa trị. Đại sư đừng tưởng Bao Bất Đồng này là hàng giá áo túi cơm." Huyền Nạn nói: "Bao thí chủ nói phải lắm, lão tăng đoán sai rồi." Huyền Nạn là một vị cao tăng đắc đạo, cũng đã nghĩ như vậy nên mới dừng lại, không nói nhiều, chỉ nhận lỗi về mình.

Đặng Bách Xuyên nói: "Nơi đây độc khí rất mạnh không nên ở lâu, chúng ta quay ra ngoài thôi." Mọi người trở lại sảnh đường, chẳng ai đoán được vì sao Tiết Thần Y đã trá tử lại còn bố trí cơ quan hại người. Bao Bất Đồng nói: "Lão Tiết Quỉ Y này thật là khả ố, chúng ta nổi lửa đốt quách cái tổ quỉ này đi!" Đặng Bách Xuyên nói: "Không được! Dù sao thì Tiết tiên sinh cũng là hảo hữu của chùa Thiếu Lâm, chúng ta phải nể mặt Huyền Nạn đại sư, không nên hành động lỗ mãng."

Lúc này trời đã tối mịt, trong nhà chẳng có đèn lửa chi hết, mọi người đều bụng đói miệng khát mà không ai dám uống nước ở đây. Huyền Nạn nói: "Chúng ta ra ngoài tìm nhà hàng xóm để kiếm cơm nước, nên chăng?" Đặng Bách Xuyên nói: "Chúng ta đi mười dặm đường rồi hãy tìm thức ăn thức uống. Tiết tiên sinh hẳn là người rất tâm cơ, không phải chỉ bố trí một cái quan tài mà thôi đâu. Nếu xảy ra chuyện gì liên lụy đến các vị đại sư, thì bọn tại hà áy náy vô cùng!" Y cùng Công Dã Càn chưa hiểu nguyên nhân, nhưng cũng đoán rằng đường lối "Gậy ông đập lưng ông" của nhà Mộ Dung đã đồn đại khắp nơi, bị khách giang hồ kết oán vu vơ đã nhiều. Y cho rằng Tiết Thần Y có thân hữu gì bị hại, đem đổ lên đầu Cô Tô Mộ Dung mà đòi nợ máu.

Mọi người đứng dậy đi ra cửa chính, bỗng thấy trên trời sáng rực lên ở phía tây nam, tiếp theo là một vùng những tia lửa bắn lên không trung, từ sắc đỏ chuyển thành xanh biếc, chẳng khác nào một đám mưa hoa, màu sắc biến ảo huy hoàng trông rất đẹp mắt. Phong Ba Ác nói: "Đẹp quá! Không hiểu ai đốt pháo hoa mà đẹp thế?" Lúc này mới đầu mùa thu, chẳng phải là tiết Nguyên Tiêu hay tiết Trung Thu, sao lại có người đốt pháo hoa? Chẳng bao lâu lại có một đóa hoa vàng chói bay vút lên không gian rồi nở ra, y như trăm ngàn sao băng va chạm vào nhau.

Công Dã Càn nói: "Đây không phải là pháo hoa, mà là tín hiệu của bọn đại địch kéo đến bao vây." Phong Ba Ác la lớn: "Tuyệt diệu! Tuyệt diệu! Mình lại được một phen đánh đấm sướng tay!", rồi quay vào đại sảnh. Đặng Bách Xuyên hạ lệnh: "Tam đệ cùng tứ đệ vào trong đại sảnh để ngăn chặn phía trước, nhị đệ chống đỡ phía sau." Đoạn y quay lại nói với Huyền Nạn đại sư: "Vụ này không liên quan đến chùa Thiếu Lâm, xin các vị cứ bàng quan đừng bênh vực bên nào, nhà Mộ Dung xin đa tạ đại đức! "

Huyền Nạn nói: "Sao Đặng thí chủ lại nói thế? Giả tỉ địch nhân có tư thù với chư vị mà kéo đến vây đánh, bên trong có điều gì khuất khúc, bọn bần tăng cũng phải xét đoán theo lẽ công bằng, không thể để họ nhân lúc người ta nguy cấp, cậy đông mà thủ thắng được. Giả tỉ họ là đồng đảng của Tiết Thần Y, bố trí cơ quan độc địa hại người một cách vô lý, thì bọn bần tăng cũng coi họ là kẻ thù chung, lẽ nào lại thõng tay đứng nhìn?" Đoạn Huyền Nạn quay lại hô: "Chuẩn bị đối địch!" Bọn Tuệ Phương, Hư Trúc đồng thanh vâng lời. Huyền Thống nói: "Đặng thí chủ! Bần tăng cùng hai vị huynh đệ của thí chủ đã đồng bệnh tương liên, dĩ nhiên phải liên thủ chống địch."

Đang lúc nói chuyện lại có hai bông hoa vọt lên trời, lần này lại gần hơn. Rồi cách một lúc lại có hai bông hoa xuất hiện, trước sau có đến sáu lần. Hình dáng cùng màu sắc các bông hoa đều khác nhau, có bông tựa như một nhát búa quét ngang bầu trời, có bông lại giống như hoa mẫu đơn. Sau khi sáu bông hoa phóng lên rồi, bầu trời đen kịt không còn tín hiệu gì nữa.

Huyền Nạn hạ lệnh cho bọn đệ tử Thiếu Lâm canh giữ chung quanh đại sảnh, chờ địch nhân đến đánh, nhưng hồi lâu vẫn chẳng thấy động tĩnh gì. Bỗng nghe phía Đông có một giọng nữ ngâm thơ: "Mày liễu bìa ai biếng điểm trang, Khăn hồng ố lệ những mơ màng, Phòng the khắc khoải hồn cô tịch, Châu ngọc khôn khuây nỗi đoạn trường ." Giọng hát đầy vẻ thê lương não nuột.

Huyền Nạn cùng Đặng Bách Xuyên đưa mắt nhìn nhau, trong lòng nghi hoặc. Thanh âm xướng xong giọng đào liền đổi sang vai kép: "Cha chả! Lâu ngày không thấy mặt, lòng trẫm những thương tình. Hộp trân châu ban tặng cho khanh, chẳng biết có vui lòng bạn ngọc?" Lại chuyển sang vai đào: "Chao ôi! Bệ hạ có Dương Phi kề cận, mãi say mê trong cuộc truy hoan. Đem Mai Phi phế bỏ cho xong, đâu có lý thương người mệnh bạc ." Nói xong, lại lên tiếng khóc thút thít.

Các hòa thượng Thiếu Lâm hàng chữ Tuệ cùng Hư Trúc ít hiểu biết việc ngoài đời, nghe người kia nói lúc giọng nam lúc giọng nữ, chẳng biết là trò quỉ quái gì, nhưng trong lòng cũng cảm thấy thê lương. Còn bọn Đặng Bách Xuyên biết người này đang diễn một lớp tuồng cổ, đóng cả vai Mai Phi lẫn vai Đường Minh Hoàng, giọng hát vừa đúng điệu vừa diễn cảm. Nhưng mọi người đang lúc khẩn trương chỉ thấy trong lòng nao núng, không hiểu người hát có dụng ý gì.

Người đó lại lên tiếng: "Thôi, khanh đừng khóc nữa làm gì. Mau bày tiệc yến, rồi thổi sáo cho trẫm hát một khúc mà giải muộn ái phi." Lại chuyển giọng đào nói: "Tiện thiếp lấy lệ mà rửa mặt, những mong được thấy quân vương. Hôm nay đã giáp mặt long nhan, tiện thiếp cam lòng nhắm mắt." Nói xong lại khóc ấm ức.

Bao Bất Đồng bỗng cao giọng xướng lên: "Cô gia An Lộc Sơn chính thị. Bớ Đường dương Lý thị hồ đồ, Dương Ngọc Hoàn trao lại cho cô, Thời tránh khỏi sinh linh đồ thán."

Đặng Bách Xuyên muốn ngăn trở cũng không kịp nữa. Tiếng người vợ khóc bên ngoài im bặt, tựa như giật mình hoảng sợ.

Chỉ trong khoảnh khắc, bốn bề im lặng như tờ.

Comments

0 comments

Trước Tiếp
 
34,431 ❤︎ Bài viết: 2241 Tìm chủ đề
Hồi 30: Cuộc hội ngộ kinh hoàng ở Tiết gia trang

Một lúc sau bỗng có mùi hương thơm ngát thoảng đưa. Huyền Nạn la lên: "Địch nhân phóng hơi độc! Mau mau bế khí, ngửi thuốc giải." Nhưng rồi chẳng việc gì xảy ra, mọi người thậm chí còn thấy đầu óc sáng suốt, dường như mùi hương không có chất độc. Phía ngoài lại có người nói: "Thất tỉ! Thất tỉ đã đến đấy ư? Trong nhà ngũ ca có một quái nhân tự xưng là An Lộc Sơn!" Bỗng nghe thanh âm một phụ nữ: "Chỉ có một mình đại ca chưa đến. Nhị ca, tam ca, tứ ca, lục ca, bát đệ ra mặt đi thôi."

Câu nói vừa dứt, bọn Đặng Bách Xuyên đột nhiên thấy phía trước sáng rực lên loa cả mắt, rồi ở cổng lớn xuất hiện sáu người, năm nam một nữ. Một lão già râu đen mặc áo ngắn lớn tiếng gọi: "Lão ngũ! Sao ngươi chưa ra đây?", tay lão cầm tấm ván vuông tựa như chiếc bàn cờ. Nữ nhân là một thiếu phụ đứng tuổi rất xinh đẹp. Bốn người kia thì hai người ra dáng học trò, một người hình như là thợ mộc trong tay cầm một cây búa, còn người sau cùng mặt xanh răng vẩu, tóc đỏ râu xanh trông rất khủng khiếp, chẳng khác gì một con yêu quái.

Đặng Bách Xuyên chú ý nhìn kỹ thì mặt gã này bôi đầy phấn son như diễn viên trên sân khấu chứ không phải chân tướng kỳ dị, chắc vừa rồi chính y đóng vai Đường Minh Hoàng và Mai Phi. Đặng Bách Xuyên hỏi bọn người mới đến: "Tôn tính đại danh các vị là gì? Tại hạ tên gọi Đặng Bách Xuyên."

Đối phương chưa kịp trả lời thì trong đại sảnh có một bóng đen vọt ra, đao quang lấp loáng, nhằm gã kép hát chém luôn bảy tám đao. Người này chính là Nhất trận phong Phong Ba Ác. Thế tấn công rất mãnh liệt, gã kép hát không kịp đề phòng phải tránh tả né hữu cực kỳ nguy cấp, thế mà vẫn lên giọng hát: "Lực bạt sơn hề khí cái thế, thời bất lợi hề truy bất thệ, truy bất thệ hề .. ." (Lực nhổ núi mà khí cái thế, thời bất lợi mà ngựa không chạy, ngựa không chạy) . Gã đang hát dở dang câu thứ ba thì bị Phong Ba Ác đánh rát quá không hát tiếp được.

Lão râu đen đứng bên cạnh liền quát mắng: "Ngươi thật là vô lý, chưa hỏi cho rõ ràng đã đánh ngay. Nếm một chiêu Đại Thiết Cương của ta đây!" Lão vung tấm bảng hình vuông lên, nhắm đầu Phong Ba Ác đập xuống. Phong Ba Ác nghĩ thầm: "Ta một đời bôn tẩu giang hồ, đánh nhau mấy trăm trận lớn nhỏ mà chưa thấy ai dùng tấm ván gỗ làm binh khí thế này." Y giơ đơn đao lên chém thẳng vào tấm ván, ai ngờ không sứt mẻ chút nào. Thì ra tấm bảng này đúc bằng gang thép, chỉ có mặt ngoài phủ nước sơn trông như ván gỗ mà thôi. Phong Ba Ác lập tức thu đao về để đánh nữa, không ngờ thanh đao dính chặt không giật ra được, dường như tấm ván này có nam châm. Y cả kinh vận hết kình lực giật thật mạnh mới rút được đao ra khỏi tấm ván, bèn quát lên: "Mi là quân tà đạo, dùng nam châm để hút khí giới người ta phải không?"

Người kia cười nói: "Không dám! Đó là cái mâm cơm của lão phu." Phong Ba Ác để ý nhìn, thì ra trên tấm ván có vạch những đường ngang dọc, chính là một bàn vi kỳ. Gã gặp đối thủ càng kỳ lạ càng thích, liền nói: "Thật là khí giới cổ quái, ta đấu chơi với ngươi một lúc nữa." Dứt lời, y múa đao như gió cuốn, càng đánh càng lẹ, nhưng thủy chung không dám để lưỡi đao chạm vào bàn cờ của đối phương.

Gã kép hát thở hồng hộc rồi hát tiếp: "Truy bất thệ hề khả nại hà? Ngu hề, Ngu hề nại nhược hà?" ( Ngựa không chạy thì biết làm sao? Ngu Cơ ơi, làm sao đây? ). Gã lại đổi sang giọng đào: "Xin đại vương bất tất phải phiền hà, Trận Cai Hạ bữa nay tuy bất lợi, thiếp theo đại vương đột phá trùng vây."

Bao Bất Đồng quát lên: "Con mẹ nó! Sở Bá Vương lẫn Ngu Cơ mau mau tự vẫn cho rồi, mỗ danh xưng Hàn Tín." Y sấn lại, vung hai tay dùng thế Cầm Long Thủ chụp xuống vai gã kép hát, Gã này hạ vai xuống tránh khỏi, rồi hát thật to: "Đại Phong khởi hề vân phi dương.. Ta đây Hán Cao Tổ bắt Hàn Tín đem về xử tử", rồi đưa tay trái ra sau lưng rút nhuyễn tiên đánh soạt một tiếng, nhằm Bao Bất Đồng vụt tới. Huyền Nạn thấy đối phương như làm trò hề mà võ công lợi hại, mình lại không biết họ là ai, bèn nhíu mày lên tiếng: "Các vị hãy dừng tay, nói chuyện cho minh bạch rồi hãy đánh nhau cũng chưa muộn."

Nhà sư muốn Phong Ba Ác dừng tay nhưng đâu có được. Phong Ba Ác biết mình đã nhiễm hàn độc, khí lực sút giảm nhiều, vả lại chất độc thất thường không biết bộc phát lúc nào, lại càng nguy hiểm. Vì thế gã múa đơn đao như gió táp mưa sa, chỉ mong nhanh chóng hạ được đối phương.

Bốn người đánh đang hăng thì trong đại sảnh lại thêm một người nhảy ra, cầm hai lưỡi giới đao đập vào nhau loảng xoảng. Người này oai phong lẫm liệt, chính là Huyền Thống đại sư. Nhà sư lớn tiếng nói: "Bọn người chuyên dùng thuốc độc hại người, bữa nay lão nạp phải khai sát giới." Nhà sư đã bị chất độc hành hạ mấy ngày, không có chỗ nào để tiết hận, bèn không hỏi han gì nữa, xông vào hai gã đứng tuổi ra vẻ học trò chém tới. Một gã nho sinh thò tay vào bọc móc ra một cây phán quan bút đấu với Huyền Thống. Còn gã kia lắc đầu lia lịa nói: "Lạ thật! Người tu hành mà lại nổi nóng, không hiểu lão tu theo kinh điển nào?" Gã đưa tay vào bọc vừa sờ vừa nói: "Ôi chao, đâu mất rồi?", rồi hết nắn túi bên này lại vỗ túi bên kia, cứ lẩm bẩm: "Ô hay! Sao tìm hoài không được?"

Hư Trúc nổi tính hiếu kỳ liền hỏi: "Tiên sinh tìm gì vậy?" Gã nho sinh đáp: "Vị hòa thượng kia võ công cao cường, huynh đệ của tại hạ địch không lại. Tại hạ muốn tìm binh khí để xông vào thành thế hai người đánh một, chẳng chột cũng què. Nhưng lạ quá, binh khí của tại hạ lại biến đâu mất." Gã vò đầu vỗ trán ra chiều suy nghĩ. Hư Trúc không nhịn được phải phì cười, nghĩ bụng: "Ra trận mà không biết khí giới để đâu! Gã này thật là buồn cười chưa từng thấy. Hình như gã gàn dở thật chứ không phải giả vờ." Rồi y hỏi: "Tiên sinh dùng loại khí giới gì?" Gã nho sinh đáp: "Đã là quân tử thì phải tiên lễ hậu binh. Khí giới đầu tiên của tại hạ là một pho sách."

Hư Trúc cố nhịn cười hỏi: "Tiên sinh dùng loại sách gì làm binh khí? Là bí quyết võ công hay binh thư đồ trận?" Gã nho sinh đáp: "Không phải! Không phải! Đó là pho Luận Ngữ . Tại hạ muốn đem lời lẽ thánh hiền để cảm hóa đối phương." Bao Bất Đồng cười mũi hỏi: "Tiên sinh đã làu thông kinh sử mà Luận Ngữ còn chưa thuộc, thế thì tiên sinh đọc những sách gì?" Gã nho sinh đáp: "Huynh đài chỉ biết một mà chưa biết hai. Bất luận là Luận Ngữ, Mạnh Tử, Xuân Thu hay Thi, Thư gì gì đi nữa, tại hạ đều thuộc lòng, nhưng vị tất đối phương đã đọc qua nên phải lấy sách đưa cho họ coi mới hết đường chối cãi. Không có sách họ cho là mình bịa đặt, làm sao thuyết phục được? Bởi thế người ta mời nói rằng: Nói có sách mách có chứng." Gã vừa nói vừa lục tìm, sờ soạn khắp người loạn cả lên..

Bao Bất Đồng hô to: "Tiểu sư phụ, mau đánh hắn!" Hư Trúc đáp: "Đợi cho vị thí chủ này tìm thấy binh khí rồi mới động thủ cũng chưa muộn." Nho sinh nói: " Kinh Xuân Thu có chép: Lúc Tống Sở đánh nhau, quân Sở qua sông nửa chừng chưa bày thành trận thế, Tống Mẫn Công nói rằng: Thừa cơ mà đánh thì không phải là quân tử. Cốt cách của vị tiểu sư phụ này cũng quân tử chẳng kém gì Tống Mẫn Công."

Người thợ mộc thấy Huyền Thống sử cặp giới đao như gió táp mưa sa, chiêu thức cực kỳ lợi hại, thêm mấy chiêu nữa thì gã thư sinh sử phán quan bút e rằng khó toàn tánh mạng, liên vung búa xông vào vòng chiến, Công Dã Càn liền phong chưởng ra chặn lại. Y trông ốm o chẳng khác thầy đồ, vậy mà chưởng lực rất thâm hậu, đã từng đối ẩm rồi đối chưởng với Tiêu Phong ở một tửu lâu tại Giang Nam. Tuy y thua nhưng Tiêu Phong vẫn đem lòng kính trọng vì nội lực y không phải tầm thường. Gã thợ mộc né người tránh khỏi chưởng lực của Công Dã Càn rồi vung búa chém tạt ngang.

Tên đồ gàn vẫn chưa tìm ra pho Luận Ngữ, thấy ông bạn sử phán quan bút luống cuống, không địch nổi cặp giới đao của Huyền Thống đại sư. Gã liền nhìn Huyền Thống châm chọc: "Đại hòa thượng! Khổng Tử dạy rằng: Người quân tử không làm điều bất nhân. Đại sư động thủ toan giết tứ đệ tại hạ. Thế là nhân hay bất nhân?"

Hư Trúc khẽ hỏi Tuệ Phương: "Không hiểu vị này gàn dở thật hay là giả vờ?" Tuệ Phương đáp: "Trên chốn giang hồ lòng người giả tra rất nhiều, thi hành đủ thứ ngụy kế, ta nên cẩn thận là hơn."

Bỗng nghe tên đồ gàn nói với Huyền Thống: "Đại hòa thượng! Tử viết: Nhân giả tất dũng, dũng giả tất nhân (Người nhân tất có dũng, người dũng tất có nhân). Đại sư dũng thì có thừa, nhân lại chưa đủ, như v ậy chưa phải là bậc quân tử chân chính. Đức thánh lại dạy rằng: Kỷ sở bất dục, vật thi ư nhân (Điều mình không muốn thì đừng làm cho ai). Chắc hẳn đại hòa thượng chẳng muốn ai giết mình, thì tại sao lại muốn giết người?"

Tên đồ gàn này toàn nói chuyện vớ vẩn khuyên can Huyền Thống mà võ công cũng không kém cỏi. Huyền Thống đâm trước chém sau tới tấp, gã né tả tránh hữu thủy chung vẫn cách xa ba thước. Huyền Thống không khỏi e dè, nghĩ thầm: "Thằng cha này nói nhăng nói cuội cốt để mình phân tâm, võ công còn giỏi hơn gã sử phán quan bút nhiều. Mình phải đề phòng mới được." Nhà sư nghĩ vậy nên đề phòng gã đổ gàn đến sáu phần, chỉ dùng bốn phần công phu để đánh với gã thư sinh cầm phán quan bút, sức tấn công nhẹ hơn nên tình hình cuộc chiến cũng biến chuyển.

Hai bên trao đổi mươi chiêu nữa, Huyền Thống nổi giận quát lên: "Ngươi không tránh ra thì lão tăng không nể mặt đâu!", rồi chuyển thành giới đao sang chém trước ngực tên đồ gàn. Gã né mình tránh khỏi nói: "Khổng Tử có dạy: Những kẻ ngang ngược chết đừng hối hận . Tại hạ thấy đại sư võ công cao cường, cùng tứ đệ hợp lực chưa chắc đã địch nổi, nên kiếm lời lẽ khuyên can để hai bên bãi chiến là hơn."

Huyền Thống cả giận, vừa hoành đao chém ngang vừa mắng: "Ngươi im đi! Bọn ngươi miệng nói đạo đức nhân nghĩa mà lại giấu thuốc độc trong quan tài để hại người. Nếu chúng ta không cẩn thận một chút thì đã mất mạng rồi. Ngươi bảo Kỷ sở bát dục, vật thi ư nhân, vậy ngươi có muốn trúng độc mà chết không?"

Gã đồ gàn lùi lại hai bước nói: "Lạ nhỉ! Quan tài là vật để chứa xác chết, ai lại bỏ thuốc độc vào bao giờ? Nếu để thuốc độc trong quan tài thì ra muốn đầu độc cái thây ma hay sao? Thây ma tất nhiên là đã chết rồi, đầu độc làm gì nữa?"

Bao Bất Đồng xen vào: "Sai bét, sai bét! Trong quan tài của bọn ngươi không có tử thi mà chỉ có thuốc độc. Bọn ta đều là người còn sống nhăn, dĩ nhiên có thể đầu độc được." Gã đồ gàn lắc đầu nói: "Các hạ đem bụng tiểu nhân để đo lòng quân tử rồi. Ở đây đã không có quan tài, lại càng không có thuốc độc." Bao Bất Đồng nói: "Khổng Tử có dạy rằng: Phụ nữ và tiểu nhân thì khó dạy . Ngươi là tiểu nhân, còn thiếu phụ xinh đẹp kia là phụ nữ, bọn ngươi quả nhiên khó dạy. Lời nói của Khổng Tử đâu có thể sai được?" Gã đồ gàn chưng hửng một chút rồi đáp: "Có câu rằng: Vương Cố tả hữu nhi ngôn dã . Câu nói của các hạ thuộc loại không cần lưu ý, cũng không cần đáp lại."

Tên đồ gàn đang bận đối đáp với Bao Bất Đồng, nên Huyền Thống không cần để ý đến gã, múa tít song đao tấn công rất gấp, gã thư sinh sử cây phán quan bút lập tức lâm vào tình thế nguy cấp. Tên đồ gàn liền xoay ra phía sau Huyền Thống cất tiếng hỏi: "Con người mà bất nhân thì không đủ lễ nghĩa. Đại hòa thượng vung đao muốn giết người tức là bất nhân, đã bất nhân thì dù có dũng mãnh cũng chẳng ra gì."

Huyền Thống tức giận nói: "Ta là đệ tử nhà Phật, bọn nho gia gàn dở có nói quanh nói quẹo gì gì đi nữa thì ta cũng chẳng bận tâm." Tên đồ gàn đưa tay gõ gõ lên trán, nói: "Phải rồi! Phải rồi! Tại hạ đọc sách nhiều thành ra lơ đãng, không trách bị tặng cho hai chữ gàn dở. Đại hòa thượng rõ ràng là đệ tử nhà Phật, tại hạ đem thuyết nhân nghĩa của Khổng Mạnh mà lý luận thì chỉ như nước đổ đầu vịt mà thôi!"

Phong Ba Ác đánh với lão sử dụng chiếc bàn cờ thép đã lâu mà không sao thủ thắng được. Y đánh thêm một lúc nữa thì bụng dưới ngấm ngầm đau, dường như chất hàn độc lại bắt đầu phát tác. Còn Bao Bất Đồng tỉ thí với gã kép hát, nhận thấy võ công đối phương không cao cường lắm, nhưng chiêu thức biến hóa luôn luôn. Lúc y đóng vai Tây Thi thì miệng thỏ thẻ thốt ra những lời ỏn thót, nghe mà nao nao lòng dạ, bước chân di chuyển thướt tha, điệu bộ chẳng khác gì giai nhân tuyệt mỹ. Lúc gã giả làm thi tiên Lý Thái Bạch thì ra vẻ say sưa túy lúy, chân này vấp phải chân kia. Tuyệt diệu ở chỗ gã đem áp dụng những điệu bộ này vào võ học, cây nhuyễn tiên trên tay khi thì mềm mại như tay áo mỹ nhân, khi lại văn nhã như quản bút của văn sĩ, khiến cho Bao Bất Đồng vừa buồn cười vừa bực tức, không biết làm thế nào.

Tên đồ gàn tự trách mình một lúc, rồi đột nhiên cất tiếng ngâm vang: "Có phế bỏ thất tình, Mới mong tròn quả phúc . Tâm thần tàn tụ hoài, Chưa thoát vòng trần tục ." Huyền Nạn cùng Huyền Thống đều giật mình lẩm bẩm: "Thằng cha này kiến thức uyên thâm, thuộc cả mấy câu kệ của một vị cao tăng đời Đông Tấn là Cưu Ma La." Gã lại ngâm tiếp: "Thế sự thành không tưởng, Còn vui thú nỗi gì?", rồi hỏi: "Đại hòa thượng: Sau cùng còn hai câu gì nữa, tại hạ quên mất rồi." Huyền Thống đọc tiếp: "Hỏi gì người đắc pháp, Nhân giả phải tinh vi".

Tên đồ gàn cười ha hả nói: "Đúng rồi! Đúng rồi! Đại sư là đệ tử nhà Phật mà cũng vừa nói đến nhân giả là gì? Vậy thì đạo lý trên thiên hạ đều giống nhau hết. Tại hạ khuyên đại sư nên ra khỏi bến mê, quay đầu trở lại, buông đao đồ tể."

Huyền Thống tựa hồ có sét đánh trong lòng, hốt nhiên đại ngộ, thấu triệt lẽ huyền vi, bèn nói: "Phật pháp vô biên! Cho tròn thiện quả!" Nhà sư niệm hai câu rồi buông cặp giới đao xuống đất, trên mặt thấp thoáng một nụ cười rồi nhắm mắt không nói gì nữa.

Gã thư sinh kia đang lúc đánh nhau kịch liệt bỗng thấy biến chuyển đột ngột không khỏi giật mình, cây phán quan bút trong tay cũng dừng phắt lại.

Hư Trúc la gọi: "Sư thúc tổ! Hàn độc lại phát tác rồi sao?" Y giơ tay ra định đỡ thì Huyền Nạn quát lên: "Đứng yên!", rồi để tay lên mũi Huyền Thống xem thử, quả nhiên hơi thở đã tuyệt rồi. Đại sư bèn chắp hai tay trước ngực niệm chú vãng sinh. Mấy nhà sư hàng chữ Tuệ thấy sư thúc viên tịch thì khóc rống lên, rồi rút giới đao cùng thiền trượng ra toan liều mạng với hai gã nho sinh, Huyền Nạn nói: "Không được động thủ! Sư thúc các ngươi giác ngộ chân lý, tu thành chính quả, về nơi cực lạc, nên mừng mới phải."

Mọi người đang đánh nhau, thấy diễn biến ly kỳ đều ngừng tay nhảy ra ngoài vòng chiến. Tên đồ gàn cất tiếng hô hoán: "Lão ngũ! Tiết ngũ đệ! Mau ra đây mà coi! Có người bị ta nói khích một câu bất tỉnh, mau ra cứu mạng! Ôi chao, mãi không thấy lão Tiết Thần Y ra đây cứu người, đáng giận thật!" Đặng Bách Xuyên nói: "Tiết Thần Y không có trong nhà, tiên sinh.." Tên đồ gàn trong lúc cấp bách không nghe thấy lại gân cổ lên mà gào: "Tiết Mộ Hoa! Tiết ngũ lão! Diêm Vương Địch Tiết Thần Y! Mau mau ra cứu người! Tam ca nói khích để người ta chết rồi, người ta không để yên đâu."

Bao Bất Đồng tức giận mắng: "Mi đã giết người lại còn giả vờ nữa ư?". Nói xong y vung chưởng ra, tay trái luồn qua tay phải xuất chiêu Lão Long Thám Châu toan nắm lấy chòm râu đối phương. Phong Ba Ác cùng Công Dã Càn đang chiến đấu tới lúc cao hứng, đều chạy đi tìm đối thủ để đánh tiếp.

Đặng Bách Xuyên quát lên: "Ngã ra đi!", rồi vươn tay trái chụp trúng lưng gã kép hát, thuận tay ném xuống đất. Đặng Bách Xuyên ở Tham Hợp Trang trong Yến Tử Ổ tại Cô Tô, là thuộc hạ số một của nhà Mộ Dung. Y võ công tinh thuần, nội lực thâm hậu, tuy không nổi tiếng trên giang hồ nhưng ai đã biết y đều đem lòng kính trọng. Gã kép hát thân pháp rất mau lẹ, vai trái vừa chấm đất, thân người liền xoay đi nửa vòng, quét ngang chân phải nhằm đá vào đùi Đặng Bách Xuyên. Phát đá mau lẹ phi thường, Đặng Bách Xuyên lại to béo, không được linh hoạt lắm. Y thấy khó mà né khỏi, bèn vận khí vào chân để đón lấy đòn cước. Bỗng nghe đánh rắc một tiếng, rõ ràng trong hai cái chân chạm nhau đã có một cái gãy rồi.

Gã kép hát lăn mấy vòng ra ngoài mấy trượng rồi quát mắng: "Mi là tên gian tặc Mao Diên Thọ mưu hại trung lượng. Chao ôi! Chân ta sao thế này?" Thì ra lúc hai chân chạm vào nhau, gã kép hát không chống lại được sức mạnh của Đặng Bách Xuyên nên bị gãy xương.

Thiếu phụ đứng tuổi xinh đẹp, mặc áo màu hồng nhạt, nãy giờ vẫn nghiêm trang đứng một bên chưa nói câu nào. Bây giờ thì thấy gã kép hát gãy chân, còn đồng bạn đều gặp nguy hiểm, bèn cất tiếng nói: "Thế này là nghĩa lý gì? Các ngươi đã chiếm nhà ngũ ca ta, rồi chẳng hỏi cho minh bạch đã ra tay đả thương người, thật là kỳ quái!" Mụ chất vấn đối phương, mà thanh âm vẫn ra vẻ dịu dàng.

Gã kép hát đang nằm dưới đất, ngẩng mặt lên nhìn cặp đèn lồng treo trên cửa chính, giật mình la lên: "Trời ơi! Sao trên lồng đèn lại viết: Tiết Mộ Hoa chi tang ? Tiết ngũ ca xuống suối vàng rồi ư?".

Gã sử bàn cờ, hai gã thư sinh và cả tên thợ mộc cầm búa cùng thiếu phụ đứng tuổi đều nhìn theo tay gã kép hát, nhưng không thấy rõ vì đèn bên trong đều tắt hết. Bọn này vừa đến đã đánh nhau ngay nên không ai để ý, mãi đến lúc gã kép hát lăn ra đất ngửa mặt lên mới thấy đèn lồng.

Gã kép hát rống lên rồi hát: "Ối ca ca là ca ca? Anh em ta đào liên kết nghĩa, bên Cổ Thành hò hẹn cùng nhau, qua năm ải sáu tướng bay đầu, xiết bao nỗi oai phong lẫm liệt!" Đây là mấy câu khóc Quan Vũ, gã đang xúc động mạnh, hát không đúng điệu lắm. Năm người kia nhao nhao cả lên " Ai đã giết ngũ đệ?" "Ai giết ngũ ca?" "Ngũ ca ơi! Kẻ nào là hung thủ?". Một người lớn tiếng quát: "Hôm nay thế nào cũng phải liều mạng với các ngươi!"

Huyền Nạn cùng Đặng Bách Xuyên nhìn cảnh nhốn nháo này, đều nghĩ thầm: "Trong đám này trừ thiếu phụ thì tên nào cũng có vẻ điên khùng, dường như là huynh đệ kết nghĩa với Tiết Thần Y." Đặng Bách Xuyên lên tiếng trình bày: "Bọn ta có người bị thương, đến đây cầu Tiết Thần Y cứu chữa, nào ngờ..". Thiếu phụ ngắt lời: "Nào ngờ Tiết Thần Y không chịu chữa, các ngươi liền giết y đi, có phải thế không?" Đặng Bách Xuyên nói: "Không phải..", chưa dứt lời thì thiếu phụ đã phất tay áo một cái. Đột nhiên y ngửi thấy một mùi thơm ngát xông vào mũi rồi đầu váng mắt hoa, chân đứng không vững. Thiếu phụ hô lên: "Ngã này!"

Đặng Bách Xuyên cả giận quát mắng: "Đồ yêu phụ!", vừa nói vừa phóng chưởng ra đánh. Thứ hương Bách Ma Hoa Tiên của thiếu phụ dược lực rất mạnh, trước nay đối phương hít phải là ngã ra ngay. Thị thấy Đặng Bách Xuyên đã lảo đảo, không ngờ y công lực thâm hậu còn đủ sức đánh ra một chưởng, toan né tránh thì đã không kịp nữa. Một luồng kinh lực nghiêng non dốc biển xô đến khiến cho thị nghẹt thở, nghe tiếng răng rắc dường như đã gãy mấy cái xương sườn. Thị lập tức bất tỉnh, không tự chủ được, ngã lăn ra. Đặng Bách Xuyên cũng thấy choáng váng rồi ngã xuống.

Mỗi bên đều mất một người, số còn lại vẫn động thủ đánh nhau. Huyền Nạn nghĩ thầm: "Trong vụ này còn có điều rắc rối. Chỉ còn cách bắt hết đối phương thì hai bên mới khỏi có người mất mạng." Nhà sư nghĩ vậy liền gọi đồ đệ phái Thiếu Lâm: "Lấy thiền trượng cho ta!"

Tuệ Kính vội lại bên cửa, cầm cây thiền trượng trao qua. Gã thư sinh sử phán quan bút nhảy xổ đến phóng bút đâm vào ngực Huyền Nạn, nhà sư bàn phóng tả chưởng đánh ra. Tay chưa đến mà chưởng lực đã tới trước, gã thư sinh té ngay xuống đất. Huyền Nạn cười lớn, bước sang bên hai bước, vung trượng đánh vào gã sử bàn cờ.

Gã này thấy thiền trượng chưa đến mà kình phong mãnh liệt đã chụp đến người mình, liền vận hết nội công, cả hai tay đưa bàn cờ lên đỡ. Một tiếng choảng vang lên, lửa tóe ra bốn mặt, gã thấy cánh tay tê nhức, hổ khẩu toạc ra. Huyền Nạn đại sư nhấc mạnh thiền trượng lên, lôi theo cả cái bàn cờ. Nguyên cái bàn cờ này có chất nam châm rất mạnh, trước nay vẫn được sử dụng để hút khí giới địch thủ, ai ngờ hôm nay gặp phải tay kình địch mạnh hơn nhiều, liền bị đoạt mất. Huyền Nạn vung cả thiền trượng lẫn bàn cờ lên, nhắm đầu gã kia chụp xuống. Gã vội kêu: "Tại hạ không đỡ nổi đâu.", vừa nói vừa chuồn nhanh về phía trước.

Huyền Nạn quát lên: "Tên đồ gàn kia, nằm xuống đi thôi!" Nhà sư nói xong, vung thiền trượng quét ngang cực kỳ mãnh liệt! Gã đồ gàn nói: "Đức Phu Tử thành thánh nhân là vì hiểu được thời cơ, gió thổi cỏ phải lướt theo chiều. Nằm xuống thì nằm, có sao đâu?" Câu nói chưa dứt, người gã đã phục xuống đất rồi. Sáu nhà sư Thiếu Lâm hàng chữ Tuệ liền nhảy xổ lên đè xuống bắt lại.

Thủ tòa Đạt Ma Viện chùa Thiếu Lâm quả nhiên võ công phi thường, vừa xuất thủ đã hạ luôn ba cao thủ đối phương, thế là toàn thắng. Gã sử búa đấu với Bao Bất Đồng và Phong Ba Ác, phải chống tả đỡ hữu cũng sắp bại trận đến nơi. Gã sử bàn cờ nói: "Hỏng rồi! Lục đệ ơi, chúng ta dừng tay chịu thua thôi!" Rồi gã quay sang hỏi Huyền Nạn: "Đại hòa thượng! Tại hạ xin hỏi ngũ đệ đã phạm lỗi gì mà bị các vị giết chết? Sao các vị lại lấy lửa hiệu để lừa bọn tại hạ đến đây?" Huyền Nạn đáp: "Đâu có.."

Chưa nói xong, bỗng nghe tiếng đàn tình tang từ đằng xa vọng lại. Hai tiếng đàn này nổi lên, mọi người đều thấy trái tim bị kích động nhảy theo hai cái. Huyền Nạn còn đang kinh ngạc thì hai tiếng đàn nữa lại vang lên, lần này đã gần hơn, trái tim mọi người đập loạn lên. Phong Ba Ác cảm thấy nhức đầu khó chịu, tay phải lỏng ra rồi thanh đơn đao rơi xuống đất đánh keng một tiếng. Nếu Bao Bất Đồng không vội vàng cho đỡ cho thì gã đã bị đối phương đập trúng bả vai rồi, Gã đồ gàn hô to: "Đại ca! Đến mau lên! Không được rồi, sao cứ tà tà như thế, lại còn lo đàn địch. Khổng Tử đã dạy rằng: Lệnh vua đã gọi thì không được chậm trễ."

Tiếng đàn liên tiếp vang lên, một ông già tay áo rộng thùng thình từ từ bước trong rừng ra. Lão này trán cao hầu lộ, nét mặt tươi cười ra vẻ hòa nhã, cốt cách thanh kỳ, tay ôm cây đàn tranh.

Tên đồ gàn cùng cả bọn đồng thanh hô: "Đại ca!". Lão quay về phía Huyền Nạn chắp tay thi lễ, hỏi: "Đại hòa thượng đây chắc là một vị cao tăng chùa Thiếu Lâm, tiểu lão thật là thất lễ!" Huyền Nạn chắp tay trước ngực đáp: "Bần tăng là Huyền Nạn." Lão reo lên: "Trời ơi! Đây là Huyền Nạn đại sư ư? Huyền Khổ đại sư là sư huynh hay sư đệ của đại sư? Tiểu lão cùng người đã có duyên hội ngộ mấy lần, thật là ý hợp tâm đầu. Lâu nay người vẫn mạnh khỏe chứ?" Huyền Nạn buồn rầu nói: "Huyền Khổ là sư huynh bần tăng, chẳng may gặp phải nghịch đồ ám toán nên đã viên tịch rồi."

Lão kia nghe tin, thộn mặt ra một lúc rồi đột nhiên nhảy vọt lên cao hơn một trường, lúc còn lơ lửng trên không đã cất tiếng khóc rống lên nghe rất bi ai. Huyền Nạn cùng bọn Công Dã Càn đều giật mình, không ngờ lão đã già mà lại khóc lóc thảm thiết hệt như trẻ nít. Người lão vừa chấm đất liền ngồi chệch xuống, nắm lấy râu mà giật mạnh, giậm chân xuống đất thình thịch như đánh trống. Lão khóc kể om sòm: "Huyền Khổ lão huynh ơi! Sao lão huynh chẳng dặn dò tiểu đệ một câu nào đã bỏ đi ngay? Khúc Phạn Âm Phổ Tấu của tiểu đệ đã có biết bao nhiêu người nghe mà chẳng ai hiểu gì ráo, chỉ mình lão huynh biết trong khúc đó bao hàm ý tưởng nhà Phật, có thể khiến cho công lực tinh tiến thêm lên, lão huynh nghe đi nghe lại mà không biết chán. Cái ông Huyền Nạn đây chưa chắc đã có ngộ tính được như huynh, tiểu đệ e rằng tấu khúc này cho ông ta nghe thì chẳng khác gì đàn gảy tai trâu! Hỡi ơi! Trâu thì nghe đàn sao được, gảy làm gì cho uổng công? Vận số tiểu đệ sao mà xui xẻo đến nước này?"

Ban đầu Huyền Nạn nghe khóc lóc cũng tưởng lão là người chí tình với Huyền Khổ, vì xót thương mà bật tiếng kêu gào, nhưng nghe một hồi mới rõ là không phải thế. Lão khóc đây là sợ trên đời không có tri âm, sau cùng lại bảo đánh đàn cho mình nghe chẳng khác gì đàn gảy tai trâu. Huyền Nạn là một bậc cao tăng đắc đạo, tuy nghe lão già khóc kể có ý coi thường mình, nhưng không tức giận, mà chỉ mỉm cười nghĩ thầm: "Bọn này ai cũng dở điên dở dại, chẳng nên lý luận với họ làm gì. Nội lực lão này thâm hậu hơn người, song tính khí có lẽ còn gàn dở hơn mấy tên huynh đệ. Chẳng trách người ta thường nói ngưu tầm ngưu mã tầm mã."

Lão kia lại vừa khóc vừa nói: "Huyền Khổ lão huynh ơi! Tiểu đệ đã khổ tâm sáng tác ra khúc nhạc Nhất Vi Ngâm tặng lão huynh để đáp ơn tri ngộ. Khúc nhạc này tuyên dương công đức Đạt Ma Lão Tổ đã thả bè lau qua sông lập nên chùa Thiếu Lâm, Sao sư huynh chẳng sống mà nghe?" Đột nhiên lão quay lại nhìn Huyền Nạn hỏi: "Huyền Khổ lão huynh an táng ở đâu? Đại sư dẫn tại hạ đến đó lẹ lên, càng lẹ càng tốt! Tại hạ sẽ gảy khúc đàn này cho y nghe, không chừng nghe xong có thể khích động tâm thần mà sống lại!"

Huyền Nạn đáp: "Thí chủ sao lại hồ đồ đến thế? Di thể của sư huynh bần tăng đã đem hỏa táng thành nắm tro tàn, làm gì có mộ phần?"

Lão kia đứng thộn mặt ra một lúc rồi đột nhiên vừa nhảy vừa reo mừng, la lên: "Tuyệt diệu! Tuyệt diệu! Đại sư đưa tại hạ đi lấy một nắm tro của Huyền Khổ lão huynh, tại hạ sẽ dùng keo dán vào đáy cây đàn. Từ đây trở đi, mỗi khi tại hạ tấu nhạc là y lại được nghe. Đại sư xem thế có tuyệt diệu không? Ha ha! Sáng kiến của tại hạ thật là tuyệt vời!" Lão càng nói càng cao hứng, rồi vỗ tay cười rộ như người điên, đột nhiên trông thấy thiếu phụ xinh đẹp đang nằm dưới đất thì thất kinh hỏi: "Ôi chao! Thất muội làm sao thế? Ai đã đả thương thất muội?"

Huyền Nạn nói: "Vụ này bên trong có chỗ hiểu lầm, may mà có lão thí chủ đến đây!" Lão kia hỏi: "Hiểu lầm cái gì? Ai hiểu lầm mà đánh thất muội bị thương vẫn là kẻ chẳng ra gì. Chao ôi! Bát đệ cũng bị thương ư? Kẻ đánh bát đệ bị thương tất không phải là người tốt. Ai là thủ phạm hãy báo danh đi, ta lấy lẽ công bằng phân xử thì không kêu ca vào đâu được nữa!"

Tên kép hát lại gọi: "Đại ca! Bọn chúng đã đánh chết ngũ ca rồi, đại ca mau mau ra tay báo thù." Lão cầm đàn biến sắc mặt, la lên: "Chuyện này không hợp lý chút nào. Lão ngũ là Diêm Vương Địch, Diêm Vương còn chưa làm gì được, ai hại y nổi?" Huyền Nạn đáp: "Tiết Thần Y chỉ trá tử thôi. Trong quan tài chỉ có thuốc độc, không có thi thể." Lão cầm đàn và cả bọn cả mừng nhao nhao hỏi lại: "Sao lão ngũ lại giả chết?" "Thi thể hiện để ở đâu?" "Lão ngũ không chết thì sao lại có thi thể?"

Đột nhiên từ xa có tiếng gọi nho nhỏ vọng đến: "Tiết Mộ Hoa! Tiết Mộ Hoa! Sư thúc ngươi đã đến rồi, mau ra đây nghênh tiếp." Thanh âm này như có như không, khoảng cách rất xa mà lại nghe rất rõ, dĩ nhiên phải do người có nội công cực kỳ thâm hậu phát ra.

Tên kép hát, gã đồ gàn, người thợ mộc đồng thanh la lên một tiếng đầy vẻ kinh hãi. Lão cầm đàn cũng hô lớn: "Đại họa! Đại họa!" Lão hốt hoảng nhìn tả nhìn hữu, vẻ mặt cực kỳ sợ hãi, giục luôn miệng: "Phải trốn mau kẻo không kịp! Toàn thể quý vị vào nhà đi! Lẹ lên! Lẹ lên!"

Bao Bất Đồng vốn ưa tranh luận, thấy lão già sợ run cả giọng, liền lớn tiếng hỏi: "Cái gì mà đại họa? Trời sập hay sao?" Lão già vẫn hối hả giục: "Lẹ lên! Lẹ lên! Vào nhà đi!" Bao Bất Đồng nói: "Lão tiên sinh cứ tùy tiện. Bao Bất Đồng này không vào đâu."

Đột nhiên lão già vươn tay ra nắm trúng huyệt đạo trước ngực Bao Bất Đồng. Lão xuất thủ mau lẹ vô cùng, Bao Bất Đồng lại không đề phòng nên bị kiềm chế ngay. Lão nhấc Bao Bất Đồng bổng cả hai chân lên khỏi mặt đất, cứ thế chạy qua cổng lớn vào nhà.

Huyền Nạn cùng Công Dã Càn đều kinh ngạc toan lên tiếng hỏi, thì gã đứng tuổi cầm bàn cờ khẽ nói: "Đại sư phụ cùng mọi người vào nhà lẹ lên, trong chớp mắt lão đại ma đầu cực kỳ lợi hại sẽ đến đây." Huyền Nạn tiếng tăm lừng lẫy giang hồ, trong võ lâm ít có đối thủ, chẳng sợ gì đại ma đầu với tiểu ma đầu, liền hỏi lại: "Đại ma đầu nào vậy? Kiều Phong phải không?" Gã này lắc đầu đáp: "Không phải! Không phải! Lão này còn lợi hại gấp mấy Kiều Phong, chính là Tinh Tú Lão Quái!" Huyền Nạn đáp: "Tưởng ai chứ Tinh Tú Lão Quái thì tốt quá, lão tăng đang muốn tìm y đây!" Gã nói: "Võ công của đại sư cao cường dĩ nhiên chẳng sợ gì y, nhưng mấy người ở đây chắc sẽ bị y ám toán chết hết, chỉ một mình đại sư là sống được. Như vậy mới thật từ bi!"

Gã nói mấy câu châm chọc này quả nhiên có công hiệu, Huyền Nạn nghe liền nghĩ bụng: "Nói có lý lắm!", liền gật đầu: "Được rồi! Vậy thì chúng ta vào nhà thôi."

Lúc này lão cầm đàn đã xách Bao Bất Đồng bỏ vào trong nhà, lại chạy ra giục luôn miệng: "Lẹ lên! Lẹ lên! Còn đợi gì nữa?" Lão đưa mắt nhìn thấy Phong Ba Ác có vẻ bướng bỉnh nhất, liền xoay tay trái quét ngang cổ gã.

Lúc này khi hàn độc trong người Phong Ba Ác lại bắt đầu phát tác, càng khó chống trả. Gã trông thấy tay lão quét tới, vội vàng cúi đầu xuống né tránh, không ngờ bàn tay đột nhiên vòng về bên hữu rồi chụp xuống nắm được gáy mình. Lão xách Phong Ba Ác như xách con gà chạy như bay vào nhà, miệng không ngớt giục: "Lẹ lên! Vào nhà đi!". Công Dã Càn thấy lão này tuy không có ác ý mà chỉ một chiêu đã kiềm chế được hai người huynh đệ của mình, liền kinh hãi la lên toan động thủ, nhưng thân pháp lão già như mây như khói, nháy mắt đã bay tuốt vào nhà. Lúc đó tên thư sinh thì ôm gã kép hát, người thợ mộc thì ôm thiếu phụ xinh đẹp, tất cả chạy hết vào trong.

Huyền Nạn cũng cho rằng mọi việc đều rất kỳ dị, chưa thấy chút manh mối nào. Đại sư không dám manh động làm rối thêm, liền bảo Công Dã Càn: "Công Dã thí chủ! Chúng ta hãy vào nhà rồi sẽ bàn định kế hoạch."

Hư Trúc cùng Tuệ Phương khiêng thi thể Huyền Thống, Công Dã Càn thì ẵm Đặng Bách Xuyên chạy lẹ vào nhà.

Lão cầm đàn lại chạy ra lần nữa để thúc giục, thấy mọi người đã chạy vào hết rồi liền đóng sập cửa lại, toan đóng cổng cài then. Gã sử bàn cờ nói: "Đại ca! Ta cứ để ngỏ cổng hay hơn. Bên địch chưa rõ thực hư, có khi không dám ngang nhiên sấn vào." Lão kia đáp: "Cũng được, ta nghe lời ngươi", giọng nói không có vẻ tự tin chút nào.

Huyền Nạn cùng Công Dã Càn nhìn nhau, đều tự hỏi: "Lão này võ công cao cường mà sao lâm sự lại hoang mang như vậy, chẳng bình tĩnh để xét đoán. Cái cửa mỏng manh này không ngăn được cả bọn đạo tặc tầm thường, đối với lão ma đầu như Tinh Tú Lão Quái, thì đóng cửa có ăn thua gì? Chắc là lão giống như kinh cung chi tiểu, được tin Tinh Tú Lão Quái đến gần là hồn vía bay mất hết."

Bỗng nghe lão gảy đàn giục luôn miệng: "Lục đệ! Lục đệ tính sao đây?"

Huyền Nạn tuy là một vị cao tăng đắc đạo cực kỳ trầm tĩnh, nhưng thấy lão kinh hãi quá cũng không khỏi bực mình, bèn lên tiếng: "Lão thí chủ! Người ta thường nói, nước chảy thì đất lấp, quân đến thì tướng ngăn. Tinh Tú Lão Quái có lợi hại đến đâu, tất cả chúng ta hợp sức lại vị tất đã thua hắn. Sao lão thí chủ lại hoang mang mà.. lo xa đến thế?".

Lúc này trên khách sảnh đã thắp đèn. Huyền Nạn đưa mắt nhìn thì chẳng những lão gảy đàn sợ sệt mà cả đến gã sử bàn cờ, gã đồ gàn, gã cầm phán quan bút cũng run lên bần bật. Huyền Nạn đã mục kích bọn này động thủ, biết bản lĩnh họ không phải tầm thường, mà lại dở điên dở dại, bất luận việc gì cũng có thể cho là trò tiêu khiển. Thế mà lúc này cả bọn hoang mang lo lắng, chẳng khác những người vô dụng tầm thường.

Bỗng nhiên gã thợ mộc gật gật đầu, lấy trong bọc ra một cái thước. Mọi người để ý xem gã làm gì, thì thấy gã đo bốn góc đại sảnh. Gã tung người nhảy lên đo cả xà nhà, rồi lại lắc đầu nhảy xuống. Gã chạy vào nhà trong đến trước cỗ quan tài giả của Tiết Thần Y, đưa mắt nhìn mấy lần rồi nói: "Đáng tiếc! Thực là đáng tiếc!" Lão gảy đàn hỏi: "Không.. không dùng được ư?" Gã sử búa đáp: "Không được rồi, nhất định sư thúc sẽ nhận ra." Lão gảy đàn tức mình nói: "Ngươi.. ngươi còn gọi y là sư thúc ư?" Gã sử búa lắc đầu rồi không nói gì nữa, lại đi ra phía sau nhà.

Công Dã Càn lẩm bẩm: "Thằng cha này lắc đầu mãi, hình như không biết làm gì nữa."

Gã sử búa lại đo góc tường phía sau, rồi vừa đi vừa đếm bước chân, tựa hồ đang tính toán để xây nhà cửa phòng ốc. Gã cầm cây nến ra sân sau, ngưng thần suy nghĩ rồi đi vào dãy hành lang có đặt năm cái cối đá, trầm ngâm một lúc đặt cây nến xuống đất, đến cái cối thứ hai bên trái. Gã lấy một ít trấu và mấy nắm đất bỏ vào trong cối đá, cầm cái chày đá lớn ở bên cạnh mà giã nghe thình thịch. Cái chày đá này rất nặng, mỗi lần giáng xuống sức mạnh vô cùng.

Công Dã Càn khẽ thở dài một tiếng, nghĩ thầm: "Chuyến này mình thật xúi quẩy, gặp phải bọn điên rồ. Lúc này chúng còn đi giã gạo được mới kỳ. Nếu quả trong cối có gạo thì chẳng nói làm chi nhưng mình thấy rõ ràng họ bỏ trấu cùng đất vào cối giã chơi! Hỡi ơi!" Bao Bất Đồng cùng Phong Ba Ác đang lúc hàn độc trong người dịu xuống, cũng chạy ra vườn sau.

Những tiếng chày giã bình bịch vang lên không ngớt. Bao Bất Đồng nói: "Lão huynh đang giã gạo để nấu cơm ăn phải không? Lúc này đâu có gạo để giã? Ta xem chừng trước tiên chúng ta phải đi cày bừa rồi xuống giống, đợi nảy mầm ra mạ rồi mới nhổ đi cấy.." Gã đang hứng chí thao thao bất tuyệt thì đột nhiên cách chừng bảy tám trượng về hướng đông nam bỗng có tiếng lách cách khe khẽ nhưng nghe rất rõ. Bọn Huyền Nạn và Công Dã Càn đưa mắt nhìn, chỉ thấy chỗ đó có trồng bốn cây quế.

Bình bình, gã sử búa giã thêm hai chày nữa. Thật là kỳ lạ, cây quế thứ nhì ở mé đông bỗng lung lay cành lá, hình như bắt đầu nhích ra ngoài. Một lúc nữa mọi người đều nhìn rõ, thì ra cứ mỗi chày nên xuống cối thì cây quế lại xê dịch một tấc hay nửa tấc. Lão cầm đàn cất tiếng hoan hô rồi chạy về phía cây quế, khẽ nói: "Đúng rồi! Đúng rồi!". Mọi người cũng đi theo, thì thấy chỗ cây quế dời đi, lộ ra một phiến đá lớn. Trên phiến đá này có một cái vòng sắt để cầm.

Công Dã Càn vừa kinh ngạc vừa thán phục, tự thấy xấu hổ. Y nói: "Cơ quan ở dưới đất này được an bài tuyệt diệu khó mà lường được. Thế mà vị huynh đài này chỉ trong khoảnh khắc đã phát giác ra, quả là thông minh tài trí chẳng kém gì người đã bố trí ra cơ quan này." Bao Bất Đồng cãi: "Sai bét, sai bét! Sao nhị ca biết không phải là y đã bố trí cơ quan?" Công Dã Càn cười đáp: "Ta nói tài trí của y không kém người bố trí, nếu chính là y bố trí thì tài trí của y không kém chính y, có gì là sai đâu?" Bao Bất Đồng đáp: "Sai bét, sai bét! Không kém tức là có hơn, tài trí của y sao lại hơn cả chính y được?"

Gã sử búa giã thêm mười mấy chày nữa thì cả phiến đá hoàn toàn lộ ra. Lão gảy đàn nắm lấy vòng sắt kéo mạnh lên, nhưng không nhúc nhích được tí nào. Lão toan vận hết nội lực để kéo nữa, bỗng gã sử búa la lên: "Đại ca! Dừng tay!" Gã tung người nhảy đến cạnh một chiếc cối đá khác, vạch quần ra tiểu tiện vào trong, miệng hô lớn: "Các vị mau lại đi tiểu vào đây!" Lão gảy đàn kinh ngạc, vội bỏ ngay vòng sắt ra chạy đến. Trong chớp mắt, gã sử bàn cờ, gã đồ gàn, gã sử phán quan bút cũng theo gương lão gảy đàn cùng gã sử búa tiểu tiện vào trong cối đá.

Nếu ở vào hoàn cảnh khác mà bọn Công Dã Càn thấy năm người này hành động như lũ điên rồ, thì tất nhiên không thể nhịn cười được, nhưng trong khoảnh khắc, mọi người đều ngửi thấy mùi thuốc súng xông lên. Gã sử búa mừng rỡ nói: "Hay lắm! Không có gì nguy hiểm nữa!" Lão gảy đàn tiểu tiện dai hơn cả, mãi vẫn chưa hết nước, miệng vẫn nói lảm nhảm: "Suýt chết! Thế là phá xong một cơ quan. Lục đệ! Nếu lục đệ tính chậm một chút thì hết thảy chúng ta đều bị nổ nát ra như cám."

Bọn Công Dã Càn cũng sợ đến run người. Vừa ngửi thấy mùi thuốc súng khét lẹt, ai cũng hiểu rằng vừa thoát khỏi đại nạn. Hiển nhiên dưới vòng sắt đã bố trí các thứ hỏa đao, hỏa thạch, ngòi nổ cùng thuốc nổ. Ban nãy ngòi đã cháy lên, chỉ chốc lát là thuốc súng sẽ nổ tung. May mà gã sử búa nhanh trí huy động mọi người đi tiểu làm ướt ngòi nổ nên mới thoát khỏi tai kiếp.

Lại thấy gã sử búa đi tới cái cối đá đầu tiên ở bên phải, vận nội lực xoay cái cối sang phải ba vòng. Gã ngẩng mặt nhìn trời, miệng lẩm bẩm tính toán một lúc, rồi xoay chầm chậm cái cối sang trái nửa vòng, bỗng nghe thấy những tiếng lách cách, một tảng đá lớn trụt xuống để lộ ra một cửa động. Lần này lão gảy đàn không dám hấp tấp, nhìn gã sử búa vẫy tay ra hiệu dẫn đường. Gã sử búa quì xuống đất, để ý quan sát cái cối đá ở bên trái.

Đột nhiên trong lòng đất vọng lên tiếng người thóa mạ: "Con mẹ đồ cẩu tặc Tinh Tú Lão Quái! Mi thật là lợi hại mới tìm thấy ta. Mi độc ác đã quen, tất nhiên sẽ có ngày chịu quả báo. Vào đây! Vào đây giết ta đi!"

Huyền Nạn nghe rõ thanh âm Tiết Thần Y thì mừng thầm trong bụng. Bỗng nghe lão gảy đàn gọi: "Ngũ đệ! Chúng ta đến cả rồi!" Thanh âm trong lòng đất ngưng một lát, rồi hỏi lại: "Có thật đại ca đó chăng?" Lão gảy đàn đáp: "Nếu không có lục đệ thì không tài nào mở được cơ quan này."

Bỗng nghe vèo một tiếng, một người nhảy vọt từ trong thạch động ra, chính là Diêm Vương Địch Tiết Thần Y.

Tiết Thần Y không ngờ ngoài lão gảy đàn cùng mấy huynh đệ kết nghĩa lại còn vô số người ngoài, không khỏi giật mình. Lão nhìn Huyền Nạn hỏi: "Đại sư! Đại sư đã đến đấy ư? Mấy vị này là bằng hữu cả đấy chứ?"

Huyền Nạn ngần ngừ một lát rồi đáp: "Phải rồi, là bằng hữu cả." Thật ra chùa Thiếu Lâm vốn nhận định rằng Huyền Bi đại sư chết về tay họ Mộ Dung ở Cô Tô, vậy thì nhà Mộ Dung đều là cừu địch. Nhưng lần này nhà sư đi với bọn Đặng Bách Xuyên đến đây để xin chữa thuốc, dọc đường Đặng Bách Xuyên và Công Dã Càn đã hết sức trần tình rằng Huyền Bi đại sư quyết không phải bị Mộ Dung công tử hạ sát, Huyền Nạn đại sư đã tin đến sáu bảy phần. Hơn nữa, chuyến này bọn họ cùng gặp tai nạn với mình, là bạn cùng hội cùng thuyền, nên nhà sư nhìn nhận bọn Đặng Bách Xuyên cũng là bằng hữu. Công Dã Càn nghe Huyền Nạn nói vậy thì không nói gì, chỉ nhìn nhà sư gật đầu tỏ ý đồng tình.

Tiết Thần Y nói: "Các vị đều là bằng hữu thì tốt rồi, xuống đây cả đi. Mời Huyền Nạn đại sư đi trước!" Tuy nói vậy nhưng y tiến vào trong hầm trước tiên. Nên biết rằng đường hầm tối mò này có vẻ nguy hiểm, người trên chốn giang hồ lại xảo trá khôn lường, chẳng ai tin được ai, chủ nhân tự vào trước mới đúng phép lịch sự.

Tiết Thần Y vào rồi, Huyền Nạn không ngần ngại gì xuống theo, rồi mọi người cũng lục tục theo sau, cả thi hài Huyền Thống đại sư cũng được khiêng xuống hầm. Tiết Thần Y bấm nút cơ quan, phiến đá đóng lại. Y còn chuyển động cơ quan cho mấy cây quế đã dời ra chỗ khác lại chuyển về chỗ cũ ngay trên phiến đá.

Bên trong là một đường hầm mới đào, mọi người phải cúi lom khom mới khỏi đụng đầu. Một lát sau, đường hầm cao lên dần dần rồi tới địa đạo thiên nhiên, chừng hai mươi trượng nữa thì đến một thạch động rộng rãi. Trong góc thạch động đã có hơn hai mươi người ngồi bên ánh lửa, đủ cả nam phụ lão ấu. Những người này nghe tiếng bước chân đều ngoảnh mặt nhìn ra.

Tiết Thần Y giới thiệu: "Đây là gia quyến tại hạ, trong lúc nguy hiểm không ai dám ra ngoài bái kiến. Đại ca! Nhị ca! Các vị đến có việc chi?" Y vẫn giữ bản sắc đại phu, không chờ lão gảy đàn đáp lời, đã lại xem thương thế mọi người. Đầu tiên Tiết Thần Y coi Huyền Thống đại sư rồi nói: "Vị đại sư này giác ngộ mà viên tịch, thật là một việc đáng cung hỉ!" Y xem tới Đặng Bách Xuyên bèn mỉm cười: "Y hít phải phấn hương của Thất muội tại hạ nên say té lăn ra, nhưng chỉ chốc lát là tỉnh lại chứ không có chất độc gì cả." Thiếu phụ xinh đẹp cùng gã kép hát đều bị ngoại thương trầm trọng, nhưng Tiết Thần Y xem xong cũng cho là tầm thường. Y tới bắt mạch Bao Bất Đồng cùng Phong Ba Ác, nhắm mắt lại trầm ngâm suy nghĩ.

Một lúc sau Tiết Thần Y lắc đầu mà nói: "Kỳ lạ thật! Ai đã đả thương hai vị huynh đệ này?" Công Dã Càn đáp: "Đó là một thiếu niên hình dung rất cổ quái." Tiết Thần Y lại lắc đầu nói: "Thiếu niên ư? Võ Công người này kiêm cả sở trường của hai phái chính tà, nội lực lại càng thâm hậu, rèn luyện ba mươi năm chưa chắc đã được thế. Sao lại là thiếu niên được?" Huyền Nạn nói: "Đúng là một thiếu niên, nhưng gã này cực kỳ lợi hại. Huyền Thống sư đệ của lão nạp chỉ đối một chưởng với gã là bại ngay, lại bị hàn độc hành hạ cực kỳ khổ sở. Gã chính là đồ đệ của Tinh Tú Lão Quái."

Tiết Thần Y kinh ngạc nói: "Đồ đệ của Tinh Tú Lão Quái lợi hại đến thế sao?". Lão lắc đầu nói tiếp: "Thật là xấu hổ. Tại hạ thật không biết làm sao chữa trị hàn độc cho hai vị huynh đài này. Hai chữ Thần Y từ nay về sau không dám nhận nữa."

Bỗng một giọng nói vang lên, dội như tiếng chuông: "Tiết tiên sinh! Nếu vậy thì chúng tôi xin cáo từ thôi!" Người nói chính là Đặng Bách Xuyên. Y bị trúng phấn hoa, chỉ mê man một lúc, bây giờ đã tỉnh lại, vừa kịp nghe câu nói sau của Tiết Thần Y. Bao Bất Đồng tiếp lời: "Phải rồi! Chui rúc ở dưới hầm làm quái gì nữa? Đại trượng phu phải coi sinh tử là hữu mạng, sao lại bắt chước loài rùa loài chuột mà nấp trong hang trong hốc?"

Tiết Thần Y cười nhạt nói: "Thí chủ nói chuyện lớn lối quá. Có biết ai đang ở trên kia không?" Phong Ba Ác đáp thay: "Các vị sợ Tinh Tú Lão Quái, chứ tại hạ không sợ lão đâu. Bản lĩnh cao cường như các vị thật là uổng, mới nghe cái tên Tinh Tú Lão Quái đã bay mất cả hồn vía!" Lão cầm đàn nói: "Ngươi đánh còn chưa thắng nổi ta. Tinh Tú Lão Quái là sư thúc ta đó, ngươi nói thử xem lão có lợi hại hay không?"

Huyền Nạn không muốn hai bên cãi nhau làm mất hòa khí, bèn chuyển đề tài, hỏi: "Hôm nay lão nạp được mắt thấy tai nghe nhiều điều chưa hiểu, rất muốn thỉnh giáo."

Tiết Thần Y nói: "Bọn huynh đệ chúng tôi có tám người, gọi đùa là Hàm Cốc Bát Hữu." Y trỏ lão gẩy đàn nói tiếp: "Vị này là đại sư huynh, tại hạ đứng hàng thứ năm nên gọi là lão Ngũ. Còn những điều khác thì câu chuyện quá dài, lại không tiện nói với người ngoài. Mong các vị.."

Y đang nói dở câu, bỗng nhiên có thanh âm rất nhỏ vẳng vào: "Tiết Mộ Hoa! Sao ngươi không ra yết kiến ta?"

Tiếng nói rất nhỏ, thấp thoáng như có như không, nhưng người trong động đều nghe rõ mồn một. Thanh âm này tưởng chừng như một sợi chỉ nhỏ li ti xỏ qua lớp đất dày mười trượng, hoặc luồn theo đường hầm quanh co mà chui vào tai mọi người.

Lão gảy đàn la lên một tiếng: "Ôi chao!" rồi nhảy chồm chồm lên nói: "Đúng là Tinh Tú Lão Quái rồi." Phong Ba Ác cũng đứng phắt dậy lớn tiếng nói: "Đại ca! Nhị ca! Tam ca! Chúng ta quyết một trận tử chiến với hắn đi!" Lão gảy đàn vội can: "Không được! Không được! Ngươi mà xông ra thì toi mạng một tên thất phu cũng chẳng có chi đáng kể, nhưng làm tiết lộ bí mật thạch thất này thì mấy chục người ở đây cũng bị chết lây hay sao?" Bao Bất Đồng cãi lại: "Ngươi đúng là con rùa rút đầu rút cổ. Thanh âm của hắn đã lọt vào được, lẽ nào hắn không biết chỗ này hay sao? Thế nào hắn cũng tìm tới nơi, muốn trốn cũng không được đâu!" Lão gảy đàn nói: "Y có tìm ra thì sau ba khắc hay một giờ chưa chắc đã vào được, Mình lợi dụng thời gian để bày kế hoạch thì hơn."

Gã sử búa im lặng nãy giờ, bây giờ mới lên tiếng: "Tuy sư thúc bản lĩnh cao cường, nhưng muốn khám phá cơ quan dưới hầm này ít ra cũng mất hai giờ, lại phải tìm phương pháp tối ưu mất thêm hai giờ nữa." Lão gảy đàn hỏi: "Theo hiền tệ thì chúng ta còn được bốn giờ nữa phải không?" Gã sử búa đáp: "Còn được bốn giờ rưỡi." Lão gảy đàn lại hỏi: "Nửa giờ ở đâu ra?" Gã sử búa đáp: "Trong vòng bốn giờ, chúng ta bố trí được thêm ba cơ quan, ngăn trở đối phương được nửa giờ nữa."

Lão gảy đàn nói: "Tốt lắm! Huyền Nạn đại sư! Khi lão đại ma đầu tới đây, bọn huynh đệ tại hạ khó lòng thoát khỏi độc thủ, còn các vị là người ngoài thì không lo lắm, vì lão chỉ chuyên tâm đối phó với bọn tại hạ thôi. Các vị có rất nhiều hy vọng trốn được, nên nhớ là đừng có bày đặt anh hùng hảo hán đánh nhau với lão. Ai đã gặp phải Tinh Tú Lão Quái mà toàn mạng trốn thoát, là anh hùng hảo hán lắm rồi!"

Bao Bất Đồng tự nhiên la lên: "Thối quá! Thối quá!" Mọi người đều hít mạnh mà chẳng thấy hôi thối gì, đều lộ vẻ nghi ngờ, nhìn Bao Bất Đồng chòng chọc. Bao Bất Đồng trỏ lão gảy đàn nói: "Lão này rắm thối quá, không ngửi được." Y nghe lão gảy đàn nói, trong lòng rất tức tối. Bản tính y quật cường không biết sợ trời sợ đất là gì, nhưng cũng biết bản lĩnh lão này giỏi hơn nhiều, đánh không lại. Bây giờ y vớ được cơ hội liền chửi đổng.

Gã sử bàn cờ liếc xéo Bao Bất Đồng nói: "Ngươi không thoát khỏi bàn tay đại sư huynh ta, còn nói gì đến chuyện đối phó với sư thúc ta? Bản lĩnh lão còn gấp mười đại sư huynh ta. Vậy thì ai rắm thối?" Bao Bất Đồng đáp ngay: "Sai bét, sai bét: Võ công cao thấp không có liên hệ gì đến rằm thối hay không. Người có võ công cao cường chẳng lẽ lại không đánh rắm? Người không đánh rắm thì đã chắc đâu có võ công cao cường? Khổng Phu Tử không biết võ công, chẳng lẽ lão nhân gia cả đời không đánh rắm hay sao?"

Đặng Bách Xuyên nghĩ thầm: "Người này nói rất có lý, mà Bao tam đệ cứ cãi bướng hoài làm mất thời giờ quý báu." Y liền xen vào: "Bọn tại hạ chưa được nghe qua lai lịch các vị nên vừa rồi có sự hiểu lầm, làm bị thương nương tử đây, tại hạ rất áy náy. Bây giờ chúng ta như người một nhà, lát nữa cường địch vào đây thì bọn thủ hạ Cô Tô Mộ Dung chúng tôi quyết không chịu trốn tránh. Nếu cường địch ghê gớm quá thì mình cùng chết với nhau là xong."

Huyền Nạn gọi: "Tuệ Kính, Hư Trúc! Nếu có cơ hội thì các ngươi phải ráng mà trốn thoát chạy về chùa Thiếu Lâm báo cho phương trượng sư bá, đừng để cho loài yêu quái giết sạch, không có người đưa tin về chùa." Sáu nhà sư chắp tay bẩm: "Bọn tiểu điệt xin tuân pháp chỉ của sư bá." Tiết Mộ Hoa cùng bọn Đặng Bách Xuyên nghe Huyền Nạn nói đều biết nhà sư đã quyết liều chết chống lại Tinh Tú lão ma, còn có chống nổi hay không thì trong lòng không tin tưởng chút nào.

Lão gảy đàn ngẩn ngơ một hồi đột nhiên vỗ tay cười nói: "Mọi người đều muốn chết thì ta còn thương tâm gì nữa? Hỡi ôi! Người ta thường bảo Khang Quảng Lăng là gàn dở. Trước nay ta vẫn bực tức, nhưng bây giờ mới thấy mình gàn dở thật." Bao Bất Đồng nói: "Ngươi đúng là đồ gàn dở, đồ điên khùng, đồ ngu xuẩn!" Lão gảy đàn tức Khang Quảng Lăng cả giận nói: "Ta gàn cũng chưa bằng ngươi." Bao Bất Đồng cãi: "Ngươi gàn gấp mười ta." Khang Quảng Lăng quắc mắt lên nói: "Ngươi gàn gấp vạn ta." Bao Bất Đồng không chịu thua, cũng lớn tiếng: "Ngươi gàn gấp mười vạn lần, trăm vạn lần, ngàn vạn lần, vạn vạn lần ta!"

Tiết Mộ Hoa nói: "Hai vị đừng cãi nhau một cách vô vị nữa. Các vị sư huynh về chùa Thiếu Lâm, giả tỉ phương trượng đại sư có hỏi đến tiền nhân hậu quả thì e rằng không biết trả lời. Việc này là một chuyện xấu xa trong môn phái bọn tại hạ, lẽ ra không nên nói với người ngoài. Nhưng việc trừ diệt đại họa cho võ lâm mà không được các cao tăng chùa Thiếu Lâm chủ trương đại cuộc thì khó bề thành công được. Tại hạ xin nói rõ là rất mong hai vị bẩm vụ này riêng với một mình phương trượng quý tự, đừng tiết lộ cho người khác biết."

Tuệ Kính, Hư Trúc đồng thanh nói: "Những lời Tiết Thần Y đã dặn, bọn tiểu tăng nhất định vâng theo, khi về chùa chỉ bẩm cáo với phương trượng, quyết không nói lộ nửa câu với người khác."

Tiết Mộ Hoa quay sang Khang Quảng Lăng hỏi: "Đại sư huynh! Tiểu đệ xin được phép nói rõ nguyên ủy bên trong mọi chuyện."

Trong đám sư huynh đệ này thì Khang Quảng Lăng là đại sư huynh, võ công cũng vượt xa bọn sư đệ. Nhưng lão là người đầu óc thô sơ, Tiết Mộ Hoa hỏi lão một câu chẳng qua không muốn lão bẽ mặt trước người ngoài mà thôi. Khang Quảng Lăng đáp: "Kỳ lạ chưa! Miệng ngươi dính vào đầu ngươi, ngươi muốn nói gì thì nói chứ hỏi ta làm gì?".

Tiết Mộ Hoa nói: "Huyền Nạn đại sư, Đặng lão huynh! Vị ân sư dạy dỗ bọn tại hạ được bằng hữu giang hồ gọi là Thông Biện tiên sinh!.."

Huyền Nạn cùng Đặng Bách Xuyên sửng sốt, đồng thanh hỏi: "Sao?" Nguyên Thông Biện tiên sinh tức là Lung Ác lão nhân (ông già câm điếc), đồ đệ trong môn phái đều bị lão chọc thủng màng nhĩ cho điếc, cắt đầu lưỡi cho câm. Trên chốn giang hồ ai cũng biết rõ, đệ tử lão không có một người nào là không câm điếc. Thế mà bọn Khang Quảng Lăng đều mắt tinh tai thính, nói năng hoạt bát hơn cả người thường, nên mọi người rất lấy làm kỳ!

Tiết Mộ Hoa nói: "Các đệ tử câm điếc dưới trướng gia sư chỉ mới nhập môn trong ba mươi năm nay thôi, còn trước kia gia sư không điếc mà cũng không câm. Chỉ vì gia sư bị sư đệ người là Tinh Tú lão quái Đinh Xuân Thu khiêu khích mà biến thành câm điếc." Bọn Huyền Nạn cùng "A" lên một tiếng. Tiết Mộ Hoa kể tiếp: "Tổ sư tại hạ vốn thu nạp hai đồ đệ: Đại đệ tử họ Tô tên gọi Tinh Hà, chính là gia sư. Nhị đệ tử là Đinh Xuân Thu. Ban đầu võ công cả hai suýt soát nhau, nhưng về sau thì có kẻ hơn người kém."

Bao Bất Đồng xen vào: "Ha hà! Nhất định lão sư thúc Đinh Xuân Thu của tiên sinh có bản lĩnh giỏi hơn sư phụ tiên sinh rồi, khỏi nói cũng biết." Tiết Mộ Hoa đáp: "Nói đúng ra thì không phải vậy. Chỉ vì sở học của tổ sư tại hạ thật là bao la bát ngát, bao trùm cả trời đất đến nhân gian.." Bao Bất Đồng lại cắt lời: "Không thấy thì làm sao mà tin được?" Tiết Mộ Hoa biết tính Bao Bất Đồng vốn hay bắt bẻ nên lão không dại gì cãi lý với y, cứ việc kể tiếp: "Ban đầu sư phụ tại hạ cùng Đinh Xuân Thu đều học chuyên về võ công. Nhưng về sau sư phụ tại hạ phân tâm học thêm ngón đàn của tổ sư nữa."

Bao Bất Đồng nhìn Khang Quảng Lăng nói: "Ha ha! Té ra tiếng đàn của Khang tiên sinh học được ở quỷ môn tà đạo."

Tiết Mộ Hoa nói: "Giả tỉ sư phụ tại hạ chỉ học thêm âm nhạc thì cũng không đáng ngại lắm. Nhưng tổ sư tại hạ tinh thông đủ thứ cầm kỳ thi họa, y bốc tướng số cùng mọi nghề tạp nhạp, chẳng môn gì không biết, chẳng nghề nào không tinh. Sư phụ tại hạ học đánh đàn chẳng bao lâu lại học thêm đánh cờ, rồi chuyển qua học thư pháp cùng hội họa. Các vị thử nghĩ xem, môn nào mà chẳng hao phí tâm lực cùng thời gian? Đinh Xuân Thu cũng giả vờ học các ngoại môn, nhưng chỉ mười ngày nửa tháng rồi thoái thác là ngu độn không học nổi, chỉ chuyên tâm về võ học mà thôi. Cứ thế tám năm, mười năm, rốt cuộc thời gian càng lâu thì võ công hai vị sư huynh sư đệ càng sai biệt."

Huyền Nạn đại sư gật đầu nói: "Chỉ môn đánh đàn cùng chơi cờ cũng đã hao tổn đến nửa phần tinh lực của con người, thế mà Thông Biện tiên sinh kiêm thông được bấy nhiêu thứ thì quả là hiếm có. Còn Đinh Xuân Thu nhất tâm chuyên học võ thì bản lĩnh giỏi hơn sư huynh cũng chẳng có chi là lạ."

Khang Quảng Lăng nói: "Lão ngũ! Còn có một chuyện quan trọng, sao không kể nốt đi?" Tiết Mộ Hoa kể tiếp: "Đinh Xuân Thu chỉ chuyên học võ thì cũng là chuyện tốt, nhưng.. Hỡi ôi! Chuyện này thật là vạch áo cho người xem lưng, chẳng tốt đẹp gì cho sư môn. Đại khái là Đinh Xuân Thu còn lén học những thủ đoạn đê hèn của mấy môn phái tà đạo bỉ ổi, rồi đột nhiên quay về đánh tổ sư tại hạ đến trọng thương. Lão cố ý sát hại, song tổ sư tại hạ là một bậc kỳ nhân, dù không kịp để phòng nên ở thế hạ phong nhưng Đinh Xuân Thu muốn hạ sát cũng không phải dễ. Tổ sư bị trọng thương, phải vất vả lắm mới chống đỡ được, may mà sư phụ tại hạ đến kịp thời, nhưng bản lĩnh cũng không bằng lão. Ác chiến hồi lâu sư phụ tại hạ cũng bị thương, còn tổ sư lăn xuống vực thẳm không hiểu sống chết thế nào." Tiết Mộ Hoa ngừng một lát nén xúc động, lại nói: "Sư phụ tại hạ chểnh mảng võ công vì ham học nhiều môn, nhưng kể ra học rộng cũng không hoàn toàn vô dụng. Gặp lúc nguy nan, lão nhân gia trổ thuật ngũ hành bát quái cùng kỳ môn độn giáp, bày cát đá làm loạn tai mắt Đinh Xuân Thu rồi trốn thoát được."

Tiết Mộ Hoa ngẫm nghĩ một lát rồi tiếp: "Về sau Đinh Xuân Thu bảo sư phụ tại hạ, nếu không mở miệng nói với ai thì lão sẽ không tìm đến nữa. Hồi đó dưới trướng gia sư có tám người bọn tại hạ là đệ tử chưa thành tài, lão nhân gia bèn viết giấy đuổi chúng tôi ra khỏi môn phái, từ đó giả vờ câm điếc không nghe không nói gì nữa. Về sau hễ gia sư thu nạp đệ tử đều chọc tai cắt lưỡi hết, lập ra một môn phái riêng là Lung Á Môn. Chắc lão nhân gia hối hận đã phân tâm đi học những môn tạp nhạp, đến nỗi võ công không bằng Đinh Xuân Thu. Sau khi câm điếc, dĩ nhiên những môn tạp học đều bỏ hết."

Tiết Mộ Hoa thở dài rồi kể tiếp: "Bọn sư huynh đệ tại hạ tám người, khi còn thụ nghiệp ân sư thì ngoài việc luyện võ đều học thêm một môn khác. Trước khi Đinh Xuân Thu phản thầy, gia sư chưa thấy cái hại phân tâm học nhiều môn. Người đã không ngăn cấm lại còn khuyến khích, chỉ điểm cho đại sư huynh Khang Quảng Lăng học đánh đàn."

Tiết Mộ Hoa lại trỏ gã cầm bàn cờ nói: "Nhị sư huynh là Phạm Bách Linh thì học đánh vi kỳ, và đã trở thành kỳ thủ giỏi nhất thiên hạ." Bao Bất Đồng đảo mắt nhìn Phạm Bách Linh rồi nói: "Chẳng trách tiên sinh dùng bàn cờ làm binh khí, có điều bàn cờ lại đúc bằng thứ thép có chất nam châm chuyên môn hút binh khí của người ta. Như vậy cũng chỉ là khôn vặt, không phải hành vi của bậc chính nhân quân tử." Phạm Bách Linh cãi: "Nghệ thuật đánh cờ có thế trận đường hoàng, binh tướng hẳn hoi, tuyệt diệu ở chỗ kỳ bí, không cấm kỵ mưu kế."

Tiết Mộ Hoa cũng nói giúp: "Phạm nhị ca đúc bàn cờ bằng thép có nam châm, nguyên là để chơi cờ. Bất luận là đang đi đường hay nằm ngồi, đột nhiên y nghĩ đến thế cờ nào là có thể bày quân cờ sắt hút chặt vào bàn cờ có nam châm, dù lắc lư mạnh cũng không xê dịch. Về sau y mới thấy dùng bàn cờ làm binh khí, dùng quân cờ làm ám khí lại càng thuận tiện. Thực ra không phải y cố ý đúc bàn cờ nam châm để đè đầu cưỡi cổ người ta."

Bao Bất Đồng tính tình cổ quái, trong lòng cũng đồng tình nhưng ngoài miệng vẫn bài bác. Y nói: "Thật là biện bác miễn cưỡng, lý lẽ chưa xuôi. Phạm lão nhị bản lĩnh cao cường, nếu dùng bàn cờ gỗ mà ấn quân cờ sắt xuống như khảm sâu vào, thì cũng đâu có rớt ra được?" Tiết Mộ Hoa nói: "Như vậy không tiện bằng bàn nam châm, quân sắt." Rồi lão lại kể tiếp: "Tam sư huynh tại hạ là Cẩu Độc, tính thích đọc sách, bách gia chư tử đều thuộc lòng. Y thật là một vị túc nho học vấn uyên thâm, tưởng các vị cũng đã biết rồi."

Bao Bất Đồng nhớ đến cố sự Gia Cát khẩu chiến quần nho ở Đông Ngô, liền châm chọc: "Cái nho của kẻ tiểu nhân có chi là đáng kể?" Cẩu Độc tức giận hỏi: "Sao? Ngươi bảo ta là nho tiểu nhân, chẳng lẽ tự nhận là nho quân tử ư?" Bao Bất Đồng nói: "Tại hạ không dám, không dám đâu."

Tiết Mộ Hoa sợ hai người này mà cãi lý thì ba ngày ba đêm cũng không xong, liền cắt ngang câu chuyện. Lão trỏ gã sử phán quan bút nói: "Vị này là tứ sư huynh của tại hạ, một tay nho nhã chuyên về hội họa, thích du sơn ngoạn thủy. Y họ Ngô, trước khi nhập môn đã làm đến chức tướng quân tại triều đình Đại Tống, vì vậy mọi người gọi y là Ngô Lãnh Quân."

Bao Bất Đồng nói: "Chỉ sợ Lãnh Quân đánh đâu thua đấy, còn môn hội họa thì vẽ người chẳng ra người, quỷ chẳng ra quỷ!" Ngô Lãnh Quân đáp: "Vẽ hình quỷ là dễ nhất, chẳng có ai biết dung mạo quỷ sứ ra sao mà chê người vẽ không giống." Bao Bất Đồng cười ha hả nói: "Lúc nào lão huynh có hứng, thì cứ lấy cái mặt Bao lão tam ta làm mẫu để vẽ. Chỉ cần thêm thắt một tí thì ra hình quỷ ngay, thật là tuyệt diệu!"

Tiết Mộ Hoa nói: "Bao tiên sinh dung mạo anh tuấn, hà tất phải khiêm nhường như vậy? Tại hạ đứng hàng thứ năm, học về nghề thuốc, kể ra cũng có chút hư danh trên chốn giang hồ nên không bao giờ quên ơn sư phụ đã truyền dạy cho mình."

Bao Bất Đồng lại xen vào: "Cảm mạo phong hàn sơ sơ thì tiên sinh còn chưa được, tại hạ trúng phải hàn độc tiên sinh đành chịu bó tay. Ha ha! Ngoại hiệu Thần Y quả nhiên danh bất hư truyền."

Khang Quảng Lăng vuốt râu, ngước mắt lên nói: "Lão huynh đây tính tình cổ quái, đặc biệt khác người." Bao Bất Đồng cười ha hả nói: "Tại hạ họ Bao tên gọi Bất Đồng, dĩ nhiên không giống người khác." Khang Quảng Lăng cũng cười to hỏi lại: "Tiên sinh có thực tên là Bất Đồng không?" Bao Bất Đồng đáp: "Còn giả được nữa ư? Ái chà! Còn vị lão huynh này chuyên nghề chế tạo cơ quan, chắc hẳn thờ Lỗ Ban làm tiên sư?

Tiết Mộ Hoa nói:" Chính thị! Lục sư đệ tại hạ là Phùng A Tam, xuất thân là thợ mộc, trước khi nhập môn học võ đã là thợ khéo, sau khi theo học gia sư, nghề thợ lại càng khéo thêm. Còn Thất sư muội tại hạ ở họ Thạch, rất tinh vi về hoa cỏ. Bao nhiêu kỳ hoa dị thảo trong thiên hạ nàng đều có thể trồng được tươi tốt. "

Đặng Bách Xuyên nói:" Thạch cô nương dùng được vật làm cho tại hạ té xỉu mà không có chất độc, chắc là lấy ở phấn hoa chứ gì? "Thiếu phụ họ Thạch tên gọi Thanh Lộ rất xinh đẹp, tủm tỉm cười nói:" Mới rồi tiểu nữ đắc tội, mong được Đặng lão gia tha thứ cho. "Đặng Bách Xuyên nói:" Tại hạ là người lỗ mãng, cũng xin cô nương lượng cả bao dung. "

Tiết Mộ Hoa lại trỏ đến tên kép hát mà nói:" Bát đệ tại hạ là Lý Quỷ Lỗi, suốt đời chỉ thích vẽ mặt diễn trò, tính tình dở điên dở dại. Về võ học y không khỏi chểnh mảng. Ôi chao, chỉ trừ bát đệ ra còn bọn sư huynh đệ tại hạ đều được sư phụ dạy cho những môn võ công cả đời luyện cũng không xong, hà tất phải tham lam học rộng những tuyệt chiêu của người khác làm gì. Đến cuối cùng.. hừ.. "

Lý Quỷ Lỗi đang nằm dưới đất đột nhiên lên tiếng:" Kiêu dũng quần hùng khiếp vía, Tôn Úc chính thị cô vương. Chẳng thích giang sơn chỉ thích điên cuồng, cho phỉ chí con người tuấn kiệt.. "

Bao Bất Đồng bắt chước hát theo:" Mỗ đây Tần Thủy Hoàng chính thị, phần thư khanh nho nổi tiếng muôn đời. Các loại nho tiểu nhân để sống làm gì, vào tay trẫm là đem chôn hết. "Gã hát xong, nhìn thư sinh Cẩu Độc cười đắc chí.

Tiết Mộ Hoa nói:" Bọn sư huynh đệ tại hạ tám người tuy bị đuổi khỏi sư môn nhưng không dám quên công ơn sư phụ rèn luyện bấy lâu. Bọn tại hạ tự mệnh danh là Hàm Cốc Bát Hữu để nhớ ngày trước sư phụ truyền nghề tại ải Hàm Cốc. Thiên hạ không biết bọn tại hạ là sư huynh đệ, chỉ cho rằng thanh khí tương cầu, cùng mộ tiếng thơm mà tới. "

Bỗng dưng Bao Bất Đồng hít hít mấy cái rồi la lên:" Thối quá, thối quá! "Cẩu Độc bèn trả đũa gã:" Thiên Hệ Từ trong Kinh Dịch có viết: Lời nói của bạn đồng tâm, dù thối cũng giống như hoa lan (Đồng tâm chi ngôn, kỳ xú như lan) . Mùi thối cũng có thể là thơm, Bao lão huynh chẳng có học vấn chi hết. "Bao Bất Đồng đáp:" Lời nói của Cẩu lão huynh, dù thơm cũng giống như rắm thối. "

Tiết Mộ Hoa mỉm cười rồi nói tiếp:" Bọn tại hạ phải đề phòng Tinh Tú Lão Quái trở lại Trung Nguyên giăng lưới quét sạch, nên cứ năm năm mới tụ hội một lần, còn bình thời mỗi người ở mỗi nơi. "

Bọn Huyền Nạn, Đặng Bách Xuyên nghe Tiết Mộ Hoa thuật xong lai lịch tám anh em, thì lòng ngờ vực đã giảm đi một nửa.

Công Dã Càn hỏi:" Tiết tiên sinh trá tử, rồi bố trí thuốc độc trong quan tài phải chăng là đối phó với Tinh Tú Lão Quái? Sao Tiết tiên sinh biết lão sắp đến đây? "

Tiết Thần Y đáp:" Kể ra thì cũng lạ! Hai hôm trước, tại hạ đang rảnh rỗi đóng cửa ở trong nhà thì có bốn người cưỡi ngựa đến xin trị bệnh. Chữa bệnh cứu người vốn là phận sự của y gia, chỉ lạ ở chỗ một bệnh nhân là hòa thượng béo tròn, bị chưởng lực của phái Thiếu Lâm đánh gãy tám cái xương sườn. Xương gãy đều được nối lại rồi, sau này sẽ tự khỏi không nguy hiểm gì, nhưng trong lục phủ ngũ tạng gã lại có chất hàn độc, không có liên hệ gì đến ngoại thương. Nếu không chữa trị thì chẳng bao lâu hàn độc sẽ phát tác mà chết. "

Huyền Nạn nói:" Hổ thẹn! Hổ thẹn! Đó chính là Tuệ Tịnh hòa thượng chùa Thiếu Lâm. Y không giữ giới luật tu hành, trốn khỏi chùa làm nhiều chuyện bậy bạ. Bản tự cho người đi bắt về để xử lý, nhưng y đã không chịu về mà còn xuất thủ đả thương nhiều người, rốt cuộc bị sư điệt của lão nạp đánh cho bị thương. Thì ra gã còn trúng phải hàn độc, chuyện này không liên quan gì đến tệ phái. Không hiểu là ai đã đưa y đến xin chữa trị? "

Tiết Thần Y đáp:" Y cùng đi với một bệnh nhân còn kỳ dị hơn. Đầu gã đội một cái lồng sắt.. "

Bao Bất Đồng cùng Phong Ba Ác cùng nhảy lên lớn tiếng chửi mắng:" Con mẹ nó! Đúng là thằng lỏi đó rồi! Không hiểu trời xui đất khiến cho gã mắc bệnh gì? "Tiết Thần Y đáp:" Gã muốn tháo cái đầu sắt ra, nhưng tại hạ xem kỹ thì cái lồng này dính chặt vào đầu, không thể lấy ra được. "Bao Bất Đồng vỗ tay nói:" Kỳ tuyệt! Kỳ tuyệt! Chẳng lẽ cái đầu sắt đã có từ lúc gã mới sinh ra? "Tiết Thần Y lắc đầu đáp:" Không phải thế! Lúc người ta chụp cái lồng sắt vào đầu gã đã nung nóng lên, làm da thịt gã nhũn ra. Đến khi máu ngưng chảy, vết thương đã đóng thành sẹo, thì cái lồng dính liền vào đầu óc cùng mặt mũi gã, nếu ráng giật mạnh thì lột luôn cả da mặt, mặt mũi sẽ không ra hình thù gì nữa. "Bao Bất Đồng lạnh lùng hỏi:" Gã muốn tiên sinh tháo lồng sắt, sao tiên sinh không tháo cho gã? Dù ngũ quan cùng mặt mũi gã có bị lột đi hết, gã cũng không trách được tiên sinh kia mà? "

Tiết Thần Y nói:" Tại hạ còn đang ngẫm nghĩ thì hai tên đưa gã đến lại lớn tiếng quát tháo, giục ra tay lập tức. Tiết mỗ bình sinh có tật xấu, ai muốn đến trị bệnh thì phải khẩn cầu tử tế, ai mà cậy thế áp bức thì tại hạ thà chịu chết dưới đao kiếm cũng quyết không chịu chữa. Tại hạ nhớ lại cuộc anh hùng đại hội ở Tụ Hiền Trang, gã Kiều Phong liều mình vạn tử nhất sinh đưa một vị tiểu cô nương đến cầu tại hạ chữa thuốc. Gã thật là dã man, hung hăng đến cực điểm, nhưng cũng khẩn cầu tại hạ rất mực lễ độ, tuyệt không hỗn xược chút nào. "Lão kể tới đây, nhớ lại về sau mắc lừa A Châu để nàng điểm trúng huyệt đạo, cạo sạch râu ria, thật là một cái nhục lớn nhất trong đời, bèn im lặng.

Bao Bất Đồng nói:" Sao tiên sinh phách lối thế? Bao mỗ lại có cái tính kỳ khôi là ai muốn chữa bệnh cho Bao mỗ thì phải khẩn cầu tử tế, Bao mỗ mới để cho chữa. Còn nếu cậy thế áp bức bắt phải chữa trị, thì Bao mỗ thà mang bệnh chết đi cũng quyết không chịu. "

Khang Quảng Lăng cười ha hả nói:" Bao tiên sinh cứ làm như mình quý giá lắm, ai mà mất công trị bệnh cho tiên sinh lại phải năn nỉ, trừ khi.. ". Bao Bất Đồng nói tiếp:" Trừ khi người đó là con ta! "Khang Quảng Lăng tức đến sững người, nhưng lại nghĩ rằng:" Gã nói thế cũng phải. Giả tỉ phụ thân mình mắc bệnh mà gàn dở không chịu uống thuốc, thì mình cũng phải năn nỉ thôi. "Lão chưa chịu thua, liền kiếm lời đáp:" Phải rồi! Nhưng ta không phải con ngươi. "Bao Bất Đồng nói:" Ngươi có phải là con ta hay không, chỉ có má má ngươi mới biết chắc, chứ ngươi biết thế nào được? "Khang Quảng Lăng lại tức run lên, nhưng rồi gật đầu nói:" Quả đúng thế thật! "Bao Bất Đồng vỗ tay cười ha hả, nghĩ thầm:" Lão này thật là ngốc quá! "

Công Dã Càn hỏi Tiết Thần Y:" Tiết tiên sinh! Hai người đó ăn nói vô lễ rồi bị tiên sinh cự tuyệt không chữa phải không? "Tiết Thần Y gật đầu nói:" Đúng thế! Tiết mỗ trả lời họ rằng: Tại hạ y thuật kém cỏi không chữa nổi, các vị phải đi kiếm người nào cao minh hơn. Gã đầu sắt thì rất mực khiêm cung, nói rằng: Tiết tiên sinh Y đạo của tiên sinh đến mức tuyệt vời, được bằng hữu giang hồ tặng cho ngoại hiệu Diêm Vương Địch, ai mà chẳng kính phục? Gia phụ lại cùng tiên sinh có quan hệ sâu xa. Tiểu điệt khẩn cầu tiên sinh từ bi cứu vớt cho đứa con của người bạn cũ. "

Mọi người đều muốn hiểu lai lịch gã đầu sắt Du Thản Chi, nên đồng thanh hỏi:" Phụ thân gã là ai? ".

Lý Quỷ Lỗi thốt nhiên xen vào:" Gã là con ai, chỉ có má má gã mới biết chắc, chứ gã biết thế nào được? "Tên kép hát học lỏm Bao Bất Đồng, đáp lại vừa buồn cười vừa đúng lúc, Bao Bất Đồng cười nói:" Giỏi lắm! Ngươi học theo ta giỏi lắm, e rằng không phải người ngoài mà mà chính ngươi là kẻ thừa kế chân truyền của ta. "

Tiết Thần Y tủm tỉm cười nói:" Bát đệ! Bao tiên sinh tính ưa nói giỡn, chẳng nên để bụng. "Lý Quỷ Lỗi lại cất giọng hát:" Trẫm hiệu xưng Hoàng Đế, Quyền Hoa Hạ trong tay. Muôn dân đội đức cao dày, Trăm họ là con là cháu. "Gã ưa đóng vai cổ nhân, trong bụng nghĩ đến nhân vật nào là hát đúng điệu ngay lập tức.

Tiết Thần Y kể tiếp:" Tại hạ nghe gã đầu sắt tự giới thiệu là con của cố nhân, liền hỏi phụ thân gã là ai thì gã đáp: Tiểu nhân gặp chuyện không may làm nhục đến tiền nhân, không dám nêu tên tuổi phụ thân ra. Nhưng tiên phụ ngày trước quả là có thâm giao với tiên sinh, tiểu nhân không dám đem tiên phụ ra mà lừa gạt. Tại hạ thấy gã rất thành khẩn, quyết không phải chuyện bịa. Có điều tại hạ giao du rất rộng, bạn bè vô số, chỉ biết thân phụ gã đã qua đời, không đoán nổi là ai. "

" Lúc tại hạ còn đang trầm ngâm thì người cùng đi với gã quát tháo: Sư phụ ta đã có pháp chỉ, việc khẩn yếu là phải chữa thương cho Tuệ Tịnh hòa thượng. Còn gã này có tháo lồng sắt hay không cũng chẳng can hệ gì. Tại hạ tức lộn ruột, liền hỏi lại: Sư phụ ngươi là ai? Pháp chỉ của hắn ràng buộc ta thế nào được? Gã liền làm mặt hung dữ mà nói: Ta mà nói tên sư phụ ra thì e rằng ngươi sợ đến vỡ mật. Người dặn ta bảo ngươi chữa trị cho vị hòa thượng này lập tức, nếu ngươi chần chừ làm lỡ việc thì phải cho ngươi xuống gặp Diêm Vương. "

Ngừng một lát, lão tiếp:" Ban đầu tại hạ nghe y ăn nói hỗn xược thì căm giận vô cùng, nhưng sau nghe kỹ thấy thanh âm gã tựa hồ như của người Hồ ở Tây Vực, lại tóc quăn, mắt sâu hoắm không giống người Trung Nguyên. Tại hạ chợt nhớ ra một người, liền hỏi: Phải chăng người ở Tinh Tú Hải đến đây? Gã biến sắc mặt nói: Hừ! Nhãn quang ngươi sắc bén lắm. Đúng ta ở Tinh Tú Hải đến đây, ngươi đã đoán ra thì phải tận tâm chữa mau đi! Tại hạ thấy gã là môn đồ Tinh Tú Lão Quái liền nghĩ thầm: Thâm thù lẽ nào không báo, liền giả bộ khiếp sợ hỏi lại gã: Lâu nay tại hạ vẫn kính ngưỡng thần thông của Đinh Lão Tiên ở Tinh Tú Hải vô cùng. Tại hạ chỉ giận mình vô duyên chưa được bái kiến, chẳng hiểu lão tiên có đến Trung Nguyên không? "

Bao Bất Đồng ngắt lời:" Thật là xấu hổ! Tiên sinh phải kêu lão bằng Tinh Tú Lão Quái hay Tinh Tú Lão Ma mới phải, sao lại hạ mình kêu bằng Lão Tiên? Nhục nhã! Nhục nhã! "Đặng Bách Xuyên vội giảng hòa:" Tam đệ! Đây là Tiết tiên sinh cố ý do thám, tất nhiên phải xưng hô cho chúng vừa lòng mà tìm hiểu tin tức. "Bao Bất Đồng cãi:" Đương nhiên tiểu đệ hiểu rồi! Nhưng giả tỉ tiểu đệ dò la thì phải kêu bằng Lão Yêu hay Lão Tặc để chọc cho gã nổi hung la hét, tất cũng lộ ra. ".

Tiết Thần Y nói:" Bao tiên sinh nói rất có lý. Tại hạ không quên lừa bịp, miệng kêu Lão Tiên mà không giấu được vẻ bất bình. Gã yêu nhân giảo quyệt lắm, sinh nghi liền nắm lấy cổ tay của tại hạ rồi quát hỏi: Ngươi dò la hành tung sư phụ ta để làm gì? Tại hạ thấy bại lộ, liền phóng chỉ điểm vào tử huyệt cho gã chết ngay. Gã yêu nhân thứ hai móc trủy thủ ra đâm tại hạ. Trong tay tại hạ không có khí giới mà võ công gã cũng không vừa, lúc nguy cấp thì gã đầu sắt đột nhiên đoạt lấy lưỡi trủy thủ rồi nói: Sư phụ sai chúng ta đến xin chữa trị chứ có sai đi giết người đâu? Gã yêu nhân tức mình nói: Ngươi không thấy thập nhị sư đệ bị y giết chết rồi sao? Ngươi.. ngươi.. là con của bằng hữu y, bây giờ theo phe người ngoài. Gã đầu sắt lại nói: Ngươi muốn giết Thần Y thì kệ ngươi, nhưng nhà sư mập này không được chữa mà chết thì lấy ai dẫn đường đi tìm băng tằm? "

" Tại hạ thừa lúc hai gã cãi nhau, liền lấy khí giới cầm tay. Gã yêu nhân kia thấy giết tại hạ cũng chẳng dễ gì, lại nghĩ gã đầu sắt nói cũng có lý. Gã liền bảo: Thế thì ngươi bắt tên lang băm này về yết kiến sư phụ. Gã đầu sắt nói: Được lắm! Rồi xoay tay phóng chưởng ra trúng ngực gã kia chết ngay lập tức! "

Mọi người nghe Tiết Thần Y kể đến đây đều sửng sốt la lên một tiếng. Bao Bất Đồng nói:" Có gì lạ đâu? Gã đầu sắt có việc cần đến tiên sinh, nên giết đồng môn để tâng công. "Tiết Mộ Hoa thở dài nói:" Nhất thời tại hạ cũng không hiểu gã muốn tâng công, hay nghĩ đến tình nghĩa của tại hạ với tiên phụ gã. Tại hạ đang định hỏi rõ, thì xa xa có tiếng hú vọng lại. Gã nhớn nhác nói: Sư phụ tiểu nhân giục tiểu nhân về gấp. Tiết bá phụ nên trị cho nhà sư mập này đi. Sư phụ tiểu nhân mà vui lòng, không chừng bỏ qua việc giết hai tên đồ đệ. Tại hạ đáp: Ta cùng Tinh Tú Lão Quái có mối thù sâu tựa bể, nhất định không chữa trị cho người có liên quan đến y. Nếu ngươi có bản lĩnh thì cứ giết ta đi. Gã đầu sắt bèn nói: Tiết bá phụ! Tiểu điệt quyết không dám đắc tội đâu. Dường như gã còn muốn nói gì nữa, nhưng đột nhiên có tiếng sáo hiệu của Tinh Tú lão yêu vọng tới. Gã lật đật đem nhà sư béo chùn béo chụt đi ngay. "

" Tinh Tú lão tặc đã đến Trung Nguyên, lại mất hai tên đệ tử trong nhà tại hạ thì sớm muộn cũng tìm đến đây. Tại hạ phải trá tử và giấu thuốc độc trong quan tài, hy vọng lừa lão vào bẫy. Cả già trẻ lớn bé trong nhà tại hạ nấp trong huyệt động này được hai ngày thì ngẫu nhiên gặp kỳ năm năm họp mặt một lần của tám sư huynh đệ đồng môn. Mọi người còn ở quanh ải Hàm Cốc thì liệt vị đến tệ xá. Tên lão bộc của tại hạ tuy trung thành, nhưng rất ngu ngốc, lại tưởng lầm các vị là bọn đối đầu ghê gớm kia. "

Bao Bất Đồng cười phá lên ngắt lời:" Ha ha! Chắc lão bộc tưởng Huyền Nạn đại sư là Tinh Tú Lão Quái, còn bọn tại hạ là đồ tử đồ tôn lão. Bằng hữu của Bao mỗ tướng mạo cùng tính nết đều kỳ dị, bảo là bọn tiểu yêu phái Tinh Tú còn có lý phần nào, còn Huyền Nạn đại sư thanh nhã hiền hòa mà nhận lầm là Tinh Tú Lão Quái thì hỗn xược quá. "Mọi người nghe nói đều cười ồ.

Tiết Thần Y cũng cười, nói:" Đúng thế, lầm như thế thật đáng đánh đòn. Lão bộc lúc nào cũng lo sợ toàn gia tại hạ mắc phải độc thủ Tinh Tú Lão Quái, hốt hoảng quá bèn đốt ngay lưu tinh hỏa pháo để báo tin cho các bạn đồng môn. Thứ lưu tinh hỏa pháo này do lục sư đệ tại hạ chế tạo rất tinh xảo, đốt lên thì cách mấy dặm cũng nhìn thấy. Bọn huynh đệ tại hạ tám người, dùng hỏa pháo khác nhau đôi chút để dễ phân biệt, cứ trông thấy pháo hiệu là biết ngay ai đến, kể ra thì có lợi mà cũng có hại. Lợi ở chỗ Hàm Cốc Bát Hữu khi gặp nguy biến có thể gọi nhau đến cùng kháng địch. Nhưng trong trường hợp này khiến cho Tinh Tú Lão Quái biết mà quét sạch, thì lại rất tai hại. "

Bao Bất Đồng nói:" Bản lĩnh Tinh Tú Lão Quái dù lợi hại đến đâu cũng chưa chắc hơn được Huyền Nạn đại sư. Lại còn đám quân tôm tép bọn ta đứng ngoài reo hò trợ giúp, sống mái một trận vị tất đã biết ai thắng ai bại. Sao phải.. phải.. "Gã chưa nói hết câu thì run lên cầm cập, hai hàm răng khua lách cách, hàn độc trong người phát tác không nói được nữa.

Lý Quỷ Lỗi lại cất giọng hát tuồng:" Mỗ Kinh Kha chính thị, sang thích khách Tần Hoàng. Gió heo may thổi buốt can trường, kẻ tráng sĩ khôn đường mở miệng . "Bất thình lình một người từ dưới đất bật lên hất đầu vào ngực Lý Quỷ Lỗi, gã rú lên một tiếng" Ôi chao! "Rồi ngã ngửa ra, người kia liền túm lấy đánh đấm túi bụi. Mọi người nhìn lại thì chính là Nhất trận phong Phong Ba Ác vừa tỉnh dậy. Đặng Bách Xuyên vội chạy lại can:" Tứ đệ không được lỗ mãng! ", rồi vươn tay kéo gã ra.

Giữa lúc ấy thanh âm nhỏ li ti lại truyền vào trong sơn động:" Bọn đồ tử đồ tôn Tô Tinh Hà! Mau mau ra đầu hàng mới có thể bảo toàn tính mạng! Nếu còn chần chừ thì đừng trách lão gia không nể tình nghĩa đồng môn. "Khang Quảng Lăng nói:" Ái chà! Lão còn mặt dày nói đến tình nghĩa đồng môn ư? "

Phùng A Tam quay sang hỏi Tiết Mộ Hoa:" Ngũ ca! Tòa động này dường như kiến trúc đã lâu, không biết tay thợ nào mà khéo thế? "Tiết Mộ Hoa đáp:" Sơn động này để làm nơi lánh nạn, là cơ nghiệp tổ tiên truyền lại. Ta cũng không hiểu ai đã xây nên. "

Khang Quảng Lăng nói:" Hay lắm! Lão ngũ đã có cái tổ rùa này mà vẫn giữ được bí mật, không ai thông tỏ đường lối! "Tiết Mộ Hoa ra chiều hổ thẹn nói:" Đại ca lượng thứ cho! Cái hầm này chẳng vẻ vang gì, đừng bàn đến nữa! "

Lão chưa dứt lời bỗng nghe đánh sầm một tiếng, mọi người đều cảm thấy mặt đất dưới chân rung chuyển không ngừng. Phùng A Tam thất sắc nói:" Nguy rồi! Đinh lão quái dùng thuốc nổ phá hầm thì chỉ chốc lát là vào đến đây. "

Khang Quảng Lăng cả giận nói:" Thực là hèn hạ vô sỉ đến cùng cực! Tổ sư cùng sư phụ tại hạ giỏi nghề thổ mộc, những cơ quan biến hóa này là bản lĩnh của bản môn, thế mà Tinh Tú Lão Quái mặt dày đem chất nổ phá vỡ cơ quan. Vậy thì còn gọi là sư thúc bản môn thế nào được? "Bao Bất Đồng nói:" Lão đã sát hại sư tổ, đả thương sư phụ, tiên sinh còn nhìn nhận lão làm sư thúc nữa ư? "Khang Quảng Lăng đáp:" Cái này.. "

Lại nghe một tiếng nổ vang trời, cát bụi bay mịt mù khiến mọi người không mở mắt ra được. Sơn động này kín cửa không có lối thông hơi, không khí bị chấn động quá mạnh làm mọi người cảm thấy màng nhĩ đau nhói.

Huyền Nạn nói:" Lão đã dùng chất nổ phá hầm thì chúng ta ra trước đi còn hơn. "Đặng Bách Xuyên, Công Dã Càn, Bao Bất Đồng, Phong Ba Ác bốn người đều khen phải.

Phạm Bách Linh biết Huyền Nạn là một vị cao tăng Thiếu Lâm mà phải chui rúc dưới hầm để trốn tránh là một việc rất tổn thương đến oai danh môn phái. Đến nước này thì ẩn nấp trong hầm cũng không yên được, lão liền nói:" Phải đó! Chúng ta cùng ra để liều sống chết với lão quái một phen. "Tiết Mộ Hoa nói:" Huyền Nạn đại sư cùng lão quái kia vốn không thù oán, nhưng đã bị lôi cuốn vào vòng hỗn độn chắc cũng không chịu thõng tay đứng nhìn. "

Huyền Nạn nói:" Mọi việc liên quan đến võ lâm Trung Nguyên, phái Thiếu Lâm đều nhúng tay vào, xin các vị miễn trách. Huống hồ Huyền Thống sư đệ của lão nạp cũng do trúng độc thủ của đồ đệ Lão Quái mà viên tịch, phái Thiếu Lâm cùng phái Tinh Tú không thể nói là không có oán thù. "

Phùng A Tam nói:" Đại sư đã có lòng nghĩa hiệp, huynh đệ tại hạ cảm kích vô cùng! Chúng ta cứ theo đường cũ tiến ra, đánh cho lão quái khiếp vía một phen "Mọi người gật đầu khen phải.

Phùng A Tam lại nói:" Gia quyến Tiết ngũ ca cùng hai vị Bao, Phong nên ở lại đây, chắc lão quái không tìm thấy đâu. "Bao Bất Đồng hầm hầm nhìn lão lục nói:" Ngươi ở lại thì tốt hơn. "

Phùng A Tam vội nói:" Tại hạ không dám coi thường, nhưng nhị vị đang bị thương mà phải động thủ e rằng bất tiện. "Bao Bất Đồng nói:" Ta bị thương càng nặng thì đánh nhau càng hăng. "Bọn Phạm Bách Linh đều chau mày, biết Bao Bất Đồng tính tình bướng binh, không thể nói chuyện lý lẽ với gã được.

Phùng A Tam thân thủ cực kỳ mau lẹ, phát động cơ quan, nghe lách cách vài tiếng cửa động đã mở ra một lỗ nhỏ. Gã ném ba quả pháo nổ đùng đùng, khói trắng mù mịt, để đề phòng bọn Tinh Tú Lão Quái đứng rình ngoài cửa động bắt người. Phiến đá từ từ chuyển động, mở ra một đường đủ người đi lọt. Phùng A Tam lại ném ba quả pháo nữa, rồi nhảy ra.

Chân gã chưa chấm đất, trong làn khói trắng mờ mịt đã thấy một người từ sau lưng vọt ra ngoài, la lên:" Tinh Tú Lão Quái là tên nào, cho Phong mỗ gặp mặt. "Người đó chính là Phong Ba Ác.

Gã thấy một hán tử mặc áo vải đứng sừng sững trước mặt liền quát to:" Ngươi không phải Tinh Tú Lão Quái, nhưng cũng nếm một quyền của ta đây. ", rồi xuất thủ nhanh như chớp đấm vào ngực hắn một quyền đánh bịch một tiếng. Hán tử này là đệ tử thứ chín của Tinh Tú Lão Quái, bị đánh bất ngờ nên trúng một quyền khá nặng, nhưng chỉ lạng người đi một cái rồi vung quyền đánh trả, cũng trúng Phong Ba Ác nghe chát một tiếng. Thế rồi quyền qua chưởng lại nghe binh binh, dường như đều trúng vào người đối phương, nhưng không trầm trọng lắm nên chưa đến nỗi chí mạng. Bỗng nghe những tiếng vù vù liên tiếp, Huyền Nạn, Đặng Bách Xuyên, Khang Quảng Lăng, mọi người trong động nhảy ra.

Làn khói trắng vẫn còn mờ mịt, nhưng đã nhìn rõ một lão già cao lớn đứng trong đám cây rậm ở phía tây nam. Bọn đệ tử xếp hàng quanh lão, kẻ cao người thấp không đều, Khang Quảng Lăng la lên:" Đinh lão tặc! Ngươi chưa chết ư? Còn nhận ra ta không? "

Lão già này chính là Tinh Tú lão Quái Đinh Xuân Thu. Lão liếc qua một lượt đã nhìn rõ đối phương, không trả lời Khang Quảng Lăng mà hỏi Tiết Thần Y:" Tiết Mộ Hoa hiền điệt! Mau mau đầu hàng đi, ta tha chết cho. Nhưng ngươi phải gia nhập phái Tinh Tú, rồi trị thương cho nhà sư Thiếu Lâm béo chùn béo chụt kia. "Tinh Tú Lão Quái chỉ mong Tiết Mộ Hoa chữa lành nhà sư Tuệ Tịnh để dẫn lão lên núi Côn Luân kiếm băng tằm.

Tiết Mộ Hoa nghe giọng lưỡi lão này không đếm xỉa gì đến những người khác, tựa hồ như lão muốn họ sống hay chết là được ngay. Y đã biết vị sư thúc này ghê gớm, trong lòng sợ hãi nhưng ngoài miệng vẫn nói cứng:" Đinh lão tặc! Trên đời này ta chỉ nghe lệnh một người mà thôi, người đó bảo ta chữa cho ai là ta chữa ngay. Ngươi giết ta thì dễ như trở bàn tay, nhưng muốn ta trị bệnh cứu người thì phải đến xin người đó bảo ta mới được. "Đinh Xuân Thu nói:" Chắc người chỉ nghe lệnh Tô Tinh Hà, có phải thế không? "

Tiết Mộ Hoa đáp:" Chỉ có loại ác ôn không bằng cầm thú mới phản sư diệt tổ. "Y vừa dứt lời thì từ Khang Quảng Lăng, Phạm Bách Linh đến Lý Quỷ Lỗi đều lớn tiếng hoan hô.

Đinh Xuân Thu nói:" Hay lắm! Hay lắm! Bọn mi đều là đồ đệ Tô Tinh Hà, nhưng lão Tô đã phái người đến báo cho ta hay là trục xuất bọn mi ra khỏi môn phái rồi, không kể là đệ tử nữa. Chẳng lẽ lời nói của lão Tô lại không đáng đếm xỉa, lão còn ngấm ngầm lưu bọn mi làm đồ đệ hay sao? "

Phạm Bách Linh đáp:" Một ngày làm thầy, suốt đời làm cha. Sư phụ bọn ta quả đã đuổi chúng ta ra khỏi môn phái, bao nhiêu năm nay dù bọn ta dốc sức tìm kiếm cũng không được gặp người, nhưng tấm lòng kính ái sư phụ quyết không giảm chút nào. Đinh lão tặc kia! Ta nói cho ngươi biết, sở dĩ bọn ta biến thành cô hồn dã quỷ không có sư môn nương tựa, hoàn toàn là do ngươi cả. "

Đinh Xuân Thu mỉm cười đáp:" Mi nói đúng lắm. Tô Tinh Hà sợ ta thi triển độc thủ giết bọn mi từng tên một, lão đuổi bọn mi ra khỏi môn phái là có ý bảo tồn mấy cái mạng nhỏ xíu, lão lại không nỡ chọc tai cắt lưỡi bọn bay là cũng tình nghĩa lắm rồi. Hà hà! Tình cảm ướt át kiểu đàn bà như vậy thì sao mà làm chuyện đại sự được? Hay lắm! Các ngươi tự nói rõ đi, hiện nay Tô Tinh Hà còn là sư phụ của bọn ngươi nữa không? "

Bọn Khang Quảng Lăng nghe vậy, hiểu rằng nếu mình thừa nhận Tô Tinh Hà là sư phụ, lập tức lão sẽ ra tay giết chết. Nhưng một là không thể vì lâm nguy mà bỏ nghĩa thầy trò, hai là hôm nay mình đã đối đầu với lão quái tàn ác này thì chẳng còn mong sống nữa. Bọn tám người Hàm Cốc Bát Hữu trừ thiếu phụ bị trọng thương nằm lại trong động, còn bảy người đồng thanh hô lên:" Bọn ta bị sư phụ trục xuất, song tình nghĩa thầy trò không hề sứt mẻ. "

Đột nhiên Lý Quỷ Lỗi lớn tiếng nói:" Ta là mẹ của Tinh Tú Lão Quái, năm xưa thông dâm với con chó Hạo Thiên Khuyển của Nhị lang thần Dương Tiễn mà mang thai, đẻ ra tên tiểu súc sinh này. Bây giờ ta phải đập gãy cái đùi chó của ngươi. "Gã bắt chước tiếng nói của một bà già, nói xong lại giả tiếng chó sủa gâu gâu ba tiếng. Bọn Khang Quảng Lăng, Bao Bất Đồng cùng phá lên cười.

Đinh Xuân Thu vốn phong thái ung dung, cũng không khỏi biến sắc mặt, hai mắt chiếu ra những tia sáng kỳ dị. Lão phất tay áo bên trái một cái, đột nhiên một tia lửa xanh lè vọt ra như sao băng, bắn vào Lý Quỷ Lỗi. Gã né tránh không kịp, quần áo bốc cháy ngay, vội nằm lăn xuống đất nhưng càng lăn lộn thì lửa càng bốc to. Phạm Bách Linh dùng cả hai tay bới đất cát hất lên mình gã.

Lúc ấy Đinh Xuân Thu lại phất tay áo năm cái, năm tia lửa bắn về phía năm người bọn Khang Quảng Lăng, chỉ chừa Tiết Mộ Hoa ra. Khang Quảng Lăng phóng song chưởng ra đẩy ngọn lửa trở lại, nhưng chỉ làm ngọn lửa lung lay một chút, Huyền Nạn đại sư cũng phất tay áo hất hai ngọn lửa tạt ra chỗ khác. Còn Phùng A Tam và Phạm Bách Linh thì đã bị lửa bắn vào mình. Chỉ trong khoảnh khắc, bọn Lý Quỷ Lỗi ba gã kêu gào thảm khốc!

Bọn đệ tử Đinh Xuân Thu thấy vậy thi nhau tang bốc sư phụ:" Sư phụ mới hiển lộ một chút công phu đã biến bọn chúng thành heo quay, không hiểu sao chúng chưa chịu quì xuống đầu hàng?" "Sư phụ tài năng nghiêng trời lệch đất, tiền vô cổ nhân hậu vô lai giả, xuất quỷ nhập thần, vô tiền khoáng hậu. Hôm nay bọn chó lợn Trung Nguyên nếm mùi thủ đoạn phái Tinh Tú." "Sư phụ đã thần thông quảng đại như thế thì đánh đâu mà chẳng được? Anh hùng hảo hán bốn phương Đông Tây Nam Bắc đều phải quy thuận như gió theo chiều."

Bao Bất Đồng hét lên: "Thúi lắm! Thúi lắm! Chao ôi! Da thịt ta tê rồi. Đinh lão tặc, da mặt ngươi thật là dày!" Bao Bất Đồng chưa dứt lời bỗng thấy hai tia lửa bắn tới rất lẹ, Đặng Bách Xuyên cùng Công Dã Càn đã vận kình lực sẵn, đều phóng chưởng ra. Cả hai phát chưởng đều đánh vào một chỗ, bật hai tia lửa đi, nhưng hai người ruột đau như dao cắt, rú lên thất thanh rồi lùi lại ba bước. Nguyên Đinh Xuân Thu dùng nội lực rất thâm hậu để phóng lân hỏa, chỉ có nội lực của Huyền Nạn đại sư là đánh bật được ra ngoài mà không bị tổn thương gì. Còn Đặng Bách Xuyên và Công Dã Càn thì nội lực còn kém xa Tinh Tú Lão Quái, nên hai người cảm thấy đau đớn không chịu nổi.

Huyền Nạn đại sư tiến đến trước Lý Quỷ Lỗi phóng ra một chưởng. Chưởng phong đi là là lướt qua mình Lý Quỷ Lỗi, quạt tắt ngấm vùng lửa xanh lè đồng thời xé rách áo gã ra.

Một tên đệ tử Tinh Tú Lão Quái nói: "Chưởng lực lão trọc kia khá đấy, có thể bằng một phần mười sư phụ ta." Một tên khác nói: "Ối chà! Chỉ bằng một phần trăm chưởng lực sư phụ ta là cùng."

Huyền Nạn lại phóng ra hai chưởng dập tắt lân hỏa trên mình Phạm Bách Linh và Phùng A Tam. Lúc đó Đặng Bách Xuyên, Công Dã Càn, Khang Quảng Lăng đều xông ra chiến đấu với bọn đệ tử phái Tinh Tú.

Đinh Xuân Thu vuốt chòm râu dài nói: "Cao tăng Thiếu Lâm quả nhiên công lực phi thường, hôm nay lão phu xin được lãnh giáo." Nói xong lão từ từ bước tới rồi đột ngột phóng chưởng ra đánh Huyền Nạn.

Huyền Nạn đại sư chưa từng giao đấu với phái Tinh Tú, nhưng cũng biết Hóa Công Đại Pháp của Đinh Xuân Thu lợi hại vô cùng. Nhà sư còn nghe đồn Tinh Tú Lão Quái có thể dùng tà thuật làm đối phương tiêu tan công lực một cách vô hình, nên lại càng thận trọng. Huyền Nạn đề tụ chân khí phóng song chưởng ra đánh tới tấp vào Đinh Xuân Thu một lúc mười tám chiêu liên hoàn, tay trái chưa thu về, tay phải đã phóng ra mau lẹ dị thường. Đinh Xuân Thu thấy chưởng lực đối phương liên tiếp đánh tới, không được rảnh tay dùng tà pháp để phá công lực đối phương. Khoái chưởng của phái Thiếu Lâm cực kỳ lợi hại, Huyền Nạn phóng ra mười tám chưởng liên hoàn, Đinh Xuân Thu phải lùi lại mười tám bước để tránh. Huyền Nạn đánh xong mười tám chưởng liền phóng Uyên Ương cước nhanh như gió đá một lúc ba mươi sáu cước. Cước ảnh mịt mờ, đứng ngoài không phân biệt được chân phải hay chân trái đá ra. Đinh Xuân Thu thi triển thân pháp cực kỳ mau lẹ, nhưng vừa tránh xong ba mươi sáu cước bỗng nghe hai tiếng chát chát, bả vai lão đã bị Huyền Nạn đánh trúng hai quyền. Thì ra trong liên hoàn tam thập lục cước, hai cước sau cùng có kèm cả quyền đánh ra, Đinh Xuân Thu chỉ tránh được cước mà không tránh được quyền. Lão bèn la lên: "Thật là lợi hại!", lảo đảo người hai cái.

Nhưng Huyền Nạn cảm thấy đầu óc hơi choáng váng, dường như bị mất thứ gì, liền biết là không ổn rồi. Thì ra trên áo của Đinh Xuân Thu có chất kịch độc, vừa rồi lão tăng đánh trúng lão hai quyền đã mắc phải ám toán. Huyền Nạn liền thở ra một hơi dài để chân khí luân chuyển, tay trái phóng quyền ra đánh.

Đinh Xuân Thu liền đưa hữu chưởng ra đỡ phát quyền, còn tả chưởng vận kình phản công. Huyền Nạn sau khi trúng độc đã kém phần linh hoạt, khó mà tránh né, đành đưa tay phải ra đỡ, hai tay cao thủ đã thành thế tỉ thí nội lực, Huyền Nạn cả kinh lẩm bẩm: "Ta không nên tỉ thí chân lực với gã!", tuy nghĩ như thế nhưng không vận động chân lực mà đỡ thì chân lực đối phương đánh tới phủ tạng mình tan nát mất. Thế là đại sư đành phải vận kình, cảm thấy chân khí cuồn cuộn tuôn ra ngoài không ngớt, muốn ngưng tụ lại cũng không được nữa.

Thời gian chừng uống cạn tuần tra, Đinh Xuân Thu cười ha hả, nhún vai một cái, Huyền Nạn lập tức ngã ra, chân khí trong người đã thoát đi hết. Nhà sư cố gượng ngồi dậy cũng không được nữa.

Đinh Xuân Thu đánh ngã Huyền Nạn rồi đảo mắt nhìn chung quanh, thấy Công Dã Càn nằm dưới đất run lên bần bật vì trúng phải hàn độc chưởng của Du Thản Chi, chỉ còn Đặng Bách Xuyên, Tiết Mộ Hoa đang đánh nhau ác liệt với bọn đồ đệ mình. Bên phái Tinh Tú cũng có người bị thương nằm đó.

Đinh Xuân Thu nổi lên một tràng cười, phất tay áo một cái nhảy xổ tới sau lưng Đặng Bách Xuyên phóng chưởng đánh ra, rồi thuận chân đá Bao Bất Đồng một cước. Đặng Bách Xuyên cũng phóng chưởng ra đỡ, nhưng tựa hồ đã mắc trọng bệnh, toan ngưng thần điều dưỡng thì Đinh Xuân Thu lại phóng ra một chưởng nữa. Đặng Bách Xuyên bất đắc dĩ phải phóng chưởng ra cản, bàn tay y lập tức thấy mát lạnh rồi khí lực trong người tiêu tán, trước mắt chỉ thấy một màn sương trắng. Một tên đệ tử phái Tinh Tú chạy tới giơ tay ra gạt, Đặng Bách Xuyên liền ngã lăn ra.

Thế là bọn thủ hạ nhà Mộ Dung, quần tăng Thiếu Lâm do Huyền Nạn thống lĩnh, cùng Hàm Cốc Bát Hữu do Khang Quảng Lăng cầm đầu đều bị Đinh Xuân Thu cùng Du Thản Chi chia nhau đánh ngã. Du Thản Chi nội lực thâm hậu nhưng võ nghệ tầm thường. Mấy bữa nay gã được Đinh Xuân Thu dạy cho cách vận chưởng phóng quyền đã tiến bộ rất nhiều, nhưng vẫn chưa được thuần thục. Bọn Công Dã Càn đánh nhau với gã, chưởng pháp thì tinh diệu hơn nhiều, song chỉ một lúc là bị gã phát huy chất hàn độc của băng tằm đánh ngã lăn ra.

Bên này chỉ còn một mình Tiết Mộ Hoa lành mạnh. Tiên sinh cũng tả xung hữu đột, nhưng bọn đệ tử Tinh Tú đều mỉm cười né tránh chứ không trả đòn. Đinh Xuân Thu cười nói: "Tiết hiền điệt! Thì ra võ công của ngươi cao hơn bọn sư huynh đệ nhiều. Ngươi có muốn tỉ thí với sư thúc không?"

Tiết Mộ Hoa thấy huynh đệ đồng môn đều nằm lăn dưới đất, chỉ có mỗi mình là chưa việc gì, hiểu rằng thủ hạ Đinh Xuân Thu cố ý để mình chữa thuốc cho nhà sư béo kia. Tiên sinh thở dài đáp: "Đinh lão tặc! Ngươi muốn bức bách ta trị bệnh cứu người, nhưng không ăn thua gì đâu."

Đinh Xuân Thu vẫy tay nói: "Tiết hiền điệt! Lại đây!" Tiết Mộ Hoa đáp: "Muốn giết thì cứ giết, ngươi nói bất luận điều gì ta cũng không nghe đâu." Lý Quỷ Lỗi reo lên: "Tiết ngũ có nghĩa khí ngất trời xanh, Như Tô Vũ chăn dê thuở nọ, Ở nước Hồ mười chín năm đằng đẵng, vẫn bảo toàn danh tiết Trung Nguyên ."

Đinh Xuân Thu cười khẩy, bước đến cạnh Tiết Mộ Hoa. Lão nhè nhẹ đặt tay lên vai y, tủm tỉm cười hỏi: "Tiết hiền điệt! Hiền điệt luyện võ đã bao lâu?" Tiết Mộ Hoa đáp thõng: "Bốn mươi lăm năm." Đinh Xuân Thu thở dài nói: "Công trình vất vả bốn mươi lăm năm trời không phải là ít! Ta nghe nói hiền điệt dùng y thuật chữa bệnh cho người để đổi lấy võ công, nên hiền điệt biết rất nhiều tuyệt nghệ của các môn phái, có đúng thế không?" Tiết Mộ Hoa đáp: "Chẳng có chi đáng kể, nhất là đối với ngươi lại càng không ăn thua gì."

Đinh Xuân Thu lắc đầu nói: "Không phải thế! Nhưng người luyện võ phải lấy nội lực làm căn bản, chiêu thức làm ngọn ngành. Thành thực mà nói, nội lực Tiết hiền điệt hơi kém, nên chiêu thức dù tinh diệu đến đâu cũng không phát huy được. Hiền điệt đã hiểu nhiều tuyệt nghệ, giá tỉ qui đầu làm môn hạ phái Tinh Tú thì ta sẽ dạy cho bí pháp luyện thần công, khi nội lực đã thâm hậu thì chẳng khác gì hổ thêm cánh, tung hoành Trung Nguyên dễ như trở bàn tay."

Tiết Mộ Hoa phẫn nộ quát lên: "Ta đã có sư phụ, thà đập đầu vào tường cho chết còn hơn làm môn hạ của mi." Đinh Xuân Thu vẫn mỉm cười, nói tiếp: "Nếu muốn đập đầu cho chết thì cũng phải có sức lực mới đập được. Giả tỉ nội lực Tiết hiện điệt bị tiêu hủy hết sạch thì biến thành phế nhân, bước một bước cũng đã khó, còn nói gì đến chuyện đập đầu?"

Tiết Mộ Hoa toát mồ hôi trán, thấy bàn tay lão đặt trên vai mình từ từ phát ra nhiệt khí, giả tỉ lão vận dụng Hóa Công Đại Pháp thì công trình rèn luyện vất vả bốn mươi lăm năm trời của mình tan thành mây khói. Y nghiến răng đáp: "Ngươi là đồ mặt người dạ thú dám hạ sát cả sư huynh, thì bây giờ sát hại tám sư huynh đệ ta có chi là đáng kể? Công trình bốn mươi lăm năm vất vả bị tiêu tan dĩ nhiên đáng tiếc, nhưng tính mạng còn chẳng giữ được thì còn kể gì đến công phu?"

Bao Bất Đồng đang nằm dưới đất cũng reo lên: "Tiết tiên sinh nói mấy câu này thật là có khí phách. Phái Tinh Tú làm sao có được nhân vật anh hùng như thế?"

Đinh Xuân Thu nói: "Tiết hiền điệt! Ta không giết hiền điệt, chỉ hỏi tám câu: Hiền điệt có chữa cho nhà sư béo kia không." Ngừng một lát lão nói tiếp: "Câu thứ nhất hiền điệt trả lời không chữa thì ta lập tức hạ sát đại sư huynh của hiền điệt là Khang Quảng Lăng. Câu thứ hai hiền điệt trả lời không chữa thì ta giết nhị sư huynh hiền điệt là Phạm Bách Linh. Cứ thế, đến câu thứ bảy thì ta giết bát sư đệ hiền điệt là Lý Quỷ Lỗi." Lão tủm tỉm cười hỏi tiếp: "Đến câu thứ tám hiền liệt vẫn không chịu chữa thì có biết ta sẽ làm gì không?"

Tiết Mộ Hoa nghe đến thủ đoạn thảm khốc như vậy, sắc mặt xám ngắt đáp: "Bấy giờ ngươi sẽ giết ta, có gì quan trọng đâu?" Đinh Xuân Thu cười hề hề nói: "Ta không vội giết hiền điệt như vậy. Tới câu thứ tám mà hiền điệt vẫn trả lời không chữa, ta sẽ đi hạ sát một người tự xưng là Thông Biện tiên sinh, tên gọi Tô Tinh Hà!"

Tiết Mộ Hoa gầm lên: "Đinh lão tặc! Ngươi dám động đến sư phụ ta ư?" Đinh Xuân Thu lạnh lùng đáp: "Có gì mà không dám? Trước nay Tinh Tú Lão Tiên làm việc gì đều tự ý mình, không biết sợ ai. Lời ta nói bữa nay, sáng mai ta lại quên cũng không sao. Ta đã hứa với Tô Tinh Hà là nếu y câm miệng lại không nói gì nữa thì ta tha chết, nhưng hiền điệt mà chọc giận ta thì mũi không phải lái chịu đòn. Ta muốn giết y là ta giết, thiên hạ có ai làm gì nổi ta?"

Tiết Mộ Hoa ruột rối như tơ vò, biết rõ lão sư thúc này việc tàn ác đến đâu cũng làm được, nếu mình không chữa cho Tuệ Tịnh thì sư phụ mình là Thông Biện tiên sinh tất chết về tay lão. Nhưng tiên sinh lại e rằng dụng ý của lão còn hiểm độc gấp mười, mình chữa cho nhà sư kia là giúp cho kẻ ác làm điều tàn bạo. Tiết Mộ Hoa trầm ngâm một lúc rồi nói: "Nếu ta chữa cho vị hòa thượng đó rồi, ngươi không được làm khó dễ các bằng hữu ở đây cũng như sư phụ và sư huynh đệ ta."

Đinh Xuân Thu cả mừng đáp: "Được lắm! Ta tha mấy cái mạng kiến ruồi của chúng." Đặng Bách Xuyên nói: "Ai cần ngươi tha mạng? Đại trượng phu chẳng may trúng phải gian kế thì đành chết có sao? Nhưng ta tin chắc ngươi sẽ gặp báo ứng tàn khốc hơn nhiều."

Thanh âm Đặng Bách Xuyên vốn oang oang như chuông đồng, song lúc này chân khí bị tiêu tan nên tuy luận điệu khẳng khái mà giọng nói phều phào.

Bao Bất Đồng nói: "Mẹ kiếp! Tiết tiên sinh chớ có mắc bẫy. Không thể tin tưởng thằng chó chết này được đâu." Tiết Mộ Hoa nói: "Phải lắm!"

Đinh Xuân Thu nói: "Tiết hiền điệt! Ta hỏi câu thứ nhất: Hiền điệt có chịu chữa cho nhà sư béo không?" Lão vừa nói vừa đưa chân phải nhằm vào huyệt thái dương Khang Quảng Lăng, tựa hồ Tiết Mộ Hoa chỉ nói nửa tiếng không, là lão phóng chân đá chết Khang Quảng Lăng lập tức. Trống ngực ai nấy đang đánh thình thình thì nghe tiếng la lớn: "Không chữa!" Người la lên không phải Tiết Mộ Hoa mà là Khang Quảng Lăng.

Đinh Xuân Thu cười nhạt nói: "Ngươi tưởng chỉ nói vậy là ta đá chết ngay ư? Không dễ thế đâu." Lão quay lại nhìn Tiết Mộ Hoa hỏi tiếp: "Phải chăng hiền diệt muốn mượn chân ta để giết chết đại sư huynh?" Tiết Mộ Hoa thở dài nói: "Thôi, ta đành ưng thuận chữa cho nhà sư kia là xong!" Khang Quảng Lăng liền mắng Tiết Thần Y: "Tiết lão ngũ! Ngươi thật chẳng ra gì. Đinh lão tặc là đại thù của sư môn ta, mà ngươi tham sinh úy tử chịu khuất phục lão ư?"

Tiết Mộ Hoa đáp: "Lão giết bọn sư huynh đệ chúng ta thì chẳng có chi quan hệ. Nhưng đại ca không nghe lão dọa xúc phạm tới sư phụ hay sao?". Bọn Khang Quảng Lăng nghĩ đến sư phụ liền không dám nói gì nữa.

Bao Bất Đồng lên tiếng: "Bọn ngươi toàn là.." Gã định mắng: ".. toàn là đồ hèn nhát.", nhưng nói dở câu thì bị Đặng Bách Xuyên đưa tay bịt miệng lại. Bao Bất Đồng vẫn đem lòng kính nể đại huynh, đành nuốt giận không mắng nữa.

Tiết Mộ Hoa nói: "Lão họ Đinh kia! Ta đã theo lời ngươi, hứa chữa cho nhà sư béo. Vậy ngươi phải đối đãi với bằng hữu ta cho lịch sự." Đinh Xuân Thu nói: "Cứ theo lời ngươi."

Lão tặc bèn sai đệ tử khiêng Tuệ Tịnh vào. Tiết Mộ Hoa hỏi nhà sư mập: "Ngươi bị hàn độc xâm nhập vào lục phủ ngũ tạng, thế thì trước đây đã tiếp xúc với loại độc vật gì?" Tuệ Tịnh đáp: "Đó là băng tằm trên núi Côn Luân." Tiết Mộ Hoa lắc đầu không hỏi thêm nữa, dùng kim châm cứu rồi lấy hai viên thuốc màu đỏ cho y uống. Sau đó Thần Y bắt đầu cứu chữa các bệnh nhân khác, nào là nối xương, nào là trị độc, bận rộn cho đến trời sáng mới xong. Những người bị thương đều có chỗ riêng biệt, kẻ thì nằm giường, kẻ nằm trên cánh cửa nghỉ ngơi điều dưỡng. Gia nhân nhà họ Tiết làm thức ăn cho mọi người điểm tâm.

Đinh Xuân Thu ăn hai bát miến rồi quay lại nhìn Tiết Thần Y cười hì hì: "Hiền điệt quả là thức thời, không bỏ thuốc độc vào thức ăn." Tiết Mộ Hoa nói: "Dụng độc thì khắp thiên hạ chẳng ai bằng ngươi. Ta có muốn thế cũng chỉ múa rìu qua mắt thợ."

Đinh Xuân Thu cười ha hả nói: "Hiền điệt kêu gia nhân đi kiếm cho ta mười cỗ xe lừa." Tiết Mộ Hoa nói: "Ngươi dùng làm gì?" Đinh Xuân Thu trợn mắt lên nói: "Sao hiền điệt lại hỏi việc của ta? Hiền điệt quen biết nhiều người, thuê mười cỗ xe lừa có khó khăn gì?" Tiết Mộ Hoa không nói gì được, đành kêu người nhà đi thuê xe.

Vào giờ ngọ, mười cỗ xe lừa lục tục kéo đến. Đinh Xuân Thu nói: "Giết hết phu xe đi!" Tiết Mộ Hoa cả kinh hỏi: "Sao?", bỗng thấy bọn đệ tử phái Tinh Tú phóng chưởng ra một loạt, cả mười tên phu xe lăn ra chết ngổn ngang dưới đất. Tiết Mộ Hoa cả giận nói: "Đinh lão tặc! Bọn phu xe có tội lỗi gì mà ngươi giết họ? Ngươi.. ngươi.. thật là độc ác!"

Đinh Xuân Thu nói: "Phái Tinh Tú giết mấy mạng người chẳng cần tính chuyện phải quấy, bàn đến lý lẽ chi hết. Bọn ngươi lên xe cả đi, không lưu lại một người nào!" Lão lại giục Tiết Thần Y: "Tiết hiền điệt! Hiền điệt dọn hết sách vở thuốc men cùng những đồ tùy thân đem đi! Ta sắp đốt nhà đây!"

Tiết Thần Y lại càng kinh hoàng, nhưng tiên sinh biết lão này tàn ác vô kể, nói nhiều cũng vô ích. Bao nhiêu sách thuốc tiên sinh đã thuộc lòng hết, không cần đem đi nữa, nhưng những thứ cao đơn hoàn tán quí giá đã tốn công điều chế đều phải gói ghém lại. Tiên sinh tức quá mà không làm gì được, vừa rủa thầm tên độc ác, vừa thu nhặt dược liệu. Sau đó bọn đệ tử phái Tinh Tú bèn phóng hỏa đốt nhà.

Bọn Tuệ Kính, Hư Trúc sáu hòa thượng Thiếu Lâm vốn đã nhận lệnh của Huyền Nạn cố trốn về chùa báo tin, nào ngờ Đinh Xuân Thu đã bố trí chặt chẽ, chạy không xa đã bị bắt lại hết. Thế là bảy vị tăng Thiếu Lâm đứng đầu là Huyền Nạn, bốn thủ hạ của nhà Mộ Dung Cô Tô, cùng với tám sư huynh đệ Hàm Cốc Bát Hữu, tổng số mười chín người, chỉ sót một mình Tiết Mộ Hoa không sứt mẻ gì, còn lại mười tám người đều không động đậy được. Người thì bị hóa tán nội công, người bị chưởng lực của Đinh Xuân Thu đả thương, người trúng hàn độc băng tằm của Du Thản Chi, người lại trúng kịch độc của bọn đệ tử phái Tinh Tú. Thêm vào đó còn gia quyến của Tiết Mộ Hoa, tổng số mấy chục nhân mạng bị chia ra nhét vào mười cỗ xe.

Mấy tên đệ tử phái Tinh Tú thân hành ngồi đánh xe, số còn lại đều cưỡi ngựa đi theo áp tải. Bọn chúng buông rèm kín mít lại dùng dây buộc chặt, nên trong xe tối thui, mà cũng không thấy được cảnh vật bên ngoài.

Trong lòng bọn Huyền Nạn nghi ngờ khôn xiết, đều tự hỏi: "Tên lão tặc này dẫn bọn ta đi đâu?" Nhưng ai cũng hiểu mình có hỏi thì cũng chẳng ai trả lời, chỉ tổ bị mắng nhiếc nhục nhã, đành nghĩ thầm: "Đành phải nhẫn nại, đến nơi sẽ biết."

Comments

0 comments

Trước Tiếp
 
34,431 ❤︎ Bài viết: 2241 Tìm chủ đề
Hồi 31: Nát óc tính cờ đành tự tử, vô tâm đi ẩu được thần công

Đoàn xe lừa lọc cọc suốt ngày đêm, buông rèm kín mít. Bọn Huyền Nạn, Đặng Bách Xuyên, Khang Quảng Lăng đều là những hào kiệt đương thời, nhưng hiện giờ võ công đã mất hết, biến thành tù nhân để mặc người xử trí. Mọi người chỉ phỏng đoán được là mình đang đi về phía Đông Nam.

Đi như vậy tám ngày, đến ngày thứ chín, đoàn xe bắt đầu tiến vào vùng núi, đường sá gập ghềnh. Đến giờ ngọ đường lên núi mỗi lúc một dốc thêm, sau cùng đến một nơi xe không leo lên nổi, đám đồ đệ phái Tinh Tú đành bảo bọn Huyền Nạn xuống xe. Nơi này là rừng trúc âm u, phong cảnh rất tịch mịch. Bên đường người ta đã dựng lên một cái quán lương đình bằng những cây trúc lớn, kiến trúc rất tinh xảo. Phùng A Tam nhìn mà thán phục vô cùng. Gã xem xét kỹ hồi lâu, trong lòng liền nảy mối nghi ngờ.

Mọi người vào quán ngồi nhìn ra, thấy bốn người trên đỉnh núi chạy xuống, hai tên đi đầu là đệ tử của Đinh Xuân Thu. Hẳn là trước khi đoàn xe dừng lại, chúng đã chạy lên núi để dò đường hoặc để báo tin. Hai người đi sau là hán tử ăn mặc theo kiểu nông thôn, chạy đến trước mặt Đinh Xuân Thu thi lễ rồi trình thư lên. Đinh Xuân Thu mở thư ra đọc rồi cười khẩy nói: "Hay lắm! Ngươi chưa chịu thua, còn muốn quyết một trận sinh tử thì đương nhiên ta phải bồi tiếp."

Hán tử hơi biến sắc, lấy trong bọc ra một cái pháo lệnh, châm lửa đốt. Pháp lệnh vọt lên không trung nổ liên tiếp ba tiếng đoàng đoàng, tiếng sau lớn hơn tiếng trước. Pháp lệnh thông thường chỉ nổ một tiếng, Phùng A Tam không nghi ngờ gì nữa, nhìn Khang Quảng Lăng khẽ nói: "Đại ca! Thứ pháp lệnh này chính là của bản môn chế tạo."

Chẳng mấy chốc có hơn ba mươi người đều ăn mặc theo kiểu nông thôn từ trên đỉnh núi đi xuống, tay cầm binh khí dài. Khi bọn họ xuống gần, mọi người mới nhìn rõ thì thấy trên tay họ không phải binh khí mà là những đòn khiêng bằng trúc. Giữa hai cái đòn trúc có buộc võng, người có thể ngồi được.

Đinh Xuân Thu mỉm cười nói: "Chủ nhân đã mời, quý vị chẳng nên khách khí, ngồi vào võng đi!" Bọn Huyền Nạn đều lên võng ngồi, cứ hai hán tử khiêng một người, nhanh nhẹn leo dốc lên núi. Đinh Xuân Thu đi trước, tay áo rộng thùng thình phất phơ trong gió. Lão không có vẻ gì hấp tấp nhưng chân cứ lướt đi tựa hồ không chấm đất, chỉ trong khoảnh khắc đã mất hút vào khu rừng trúc phía trước.

Đặng Bách Xuyên bị trúng Hóa Công Đại Pháp, vẫn cho rằng mình mắc phải tà pháp, chứ không phải kém sức. Bây giờ thấy khinh công của lão tuyệt diệu như vậy, mới biết rằng bản lĩnh lão cũng rất khủng khiếp, bất giác khâm phục nghĩ thầm: "Giả tỉ lão không dùng yêu thuật thì mình cũng không địch nổi." Phong Ba Ác thẳng thắn khen luôn: "Khinh công lão yêu này thật là tuyệt diệu, Phong mỗ bội phục!"

Gã vừa mở miệng khen thì bọn đệ tử phái Tinh Tú đi áp giải cũng tranh nhau lên tiếng tán tụng sư phụ. Chúng cho rằng võ công Đinh Xuân Thu hiện nay vô địch thiên hạ, cả những bậc võ học đại sư tiền bối như Đạt Ma lão tổ gì gì đi nữa cũng không bằng được, thật là một kiểu nịnh bợ ai nghe cũng ngứa lỗ tai.

Bao Bất Đồng nói: "Các vị lão huynh! Phái Tinh Tú quả là có những tuyệt nghệ độc đáo, không tiền khoáng hậu, chưa có môn phái nào bì kịp." Bọn đệ tử khoái chí hỏi lại: "Theo hảo hán thì môn nào lợi hại nhất trong võ công của bản phái?" Bao Bất Đồng đáp: "Không chỉ một môn mà ít ra là ba môn." Bọn đệ tử lại càng cao hứng, hỏi: "Ba môn là những môn gì?"

Bao Bất Đồng nói: "Môn thứ nhất là Mã Thí Công (công phu rắm ngựa). Không khí trong quý phái hôi thối quá, nếu không luyện tinh thục môn này thì không thở nổi. Môn thứ hai là Pháp Loa Công (công phu thổi phồng), nếu không ra sức tán tụng thì chẳng những bị sư phụ ghét, mà giữa bạn đồng môn cũng tiêu diệt nhau không còn đất đứng. Còn môn thứ ba là Hậu Nhan Công (công phu mặt dày) . Nếu không luyện môn này tới mức không biết liêm sỉ là gì, thì không thể luyện nổi hai kỳ công là Mã Thí Công và Pháp Loa Công."

Bao Bất Đồng chưa nói ra đã yên trí là sẽ bị bọn đệ tử phái Tinh Tú nổi trận lôi đình nện cho tơi tả, nhưng khổ nỗi mấy câu này tựa như cục xương mắc trong cổ họng, không nói ra không được. Ai ngờ bọn chúng đều lẳng lặng gật đầu. Có tên nói: "Lão huynh thật là thông minh, hiểu thấu được kỳ công của bản phái. Ba loại thần công Mã Thí, Pháp Loa và Hậu Nhan rất khó luyện, người có kiến thức mới biết được cái hay của nó, còn số đông đều cho là tệ hại. Khi luyện Hậu Nhan Công tới mức coi thường được mọi điều thiện ác thị phi thì mới đủ hỏa hầu, gặp những lúc khó khăn mới khỏi thất bại."

Bao Bất Đồng mở miệng châm chọc, gã không tưởng tượng nổi bọn này lại không hề cảm thấy bị xúc phạm, nên rất lấy làm kinh dị. Gã cười nói tiếp: "Thần công của quý phái vi diệu khôn lường. Tại hạ ngưỡng mộ vô cùng, muốn xin đại tiên mở lối chỉ dẫn thêm cho."

Tên kia nghe Bao Bất Đồng gọi mình là đại tiên thì trong lòng phơi phới, nói: "Lão huynh không phải là người bản phái thì những chỗ ảo diệu trong thần công không thể đem truyền thụ cho lão huynh được, nhưng những đạo lý thô sơ thì nói cho lão huynh nghe cũng không sao. Quan hệ nhất là phải coi sư phụ như một vị thần minh, nếu lão gia phóng ra một phát rắm.."

Bao Bất Đồng cướp lời: "Đương nhiên phải coi là thơm. Lại còn phải ráng mà hít cho thấm sâu vào phế phủ, rồi tán dương cho thật mùi," Người kia gật đầu nói: "Đúng lắm! Tư chất lão huynh rất tốt, xứng đáng đứng vào hàng ngũ bản phái, đáng tiếc là đã lầm đường theo đuổi bọn bàng môn tả đạo. Tuyệt nghệ của bản môn biến hóa thiên hình vạn trạng, nhưng bí quyết căn bản không phức tạp lắm, chỉ cần nhớ bốn chữ Mạt Sát Lương Tâm là đủ."

Bao Bất Đồng gật đầu lia lịa nói: "Nghe đại tiên nói một lúc còn hơn đọc sách mười năm. Chả trách người xưa có câu: Sáng được nghe lời đạo đức, tối chết cũng không đáng tiếc. Tại hạ hâm mộ quí phái vô cùng, chỉ giận mình chưa được nhập môn. Chẳng hay đại tiên có tiến dẫn được chăng?" Người kia đáp: "Gia nhập bản phái không phải là chuyện dễ. Ta xem chừng lão huynh không chịu nổi những thử thách cực kỳ gian khổ." Một tên đệ tử khác nói: "Nơi này có nhiều tai mắt, không nên nói chuyện nhiều. Gã họ Bao kia! Nếu người thực tâm muốn quy đầu bản phái, phải chờ tới lúc sư phụ vui vẻ, ta sẽ vì ngươi mà bẩm với sư phụ. Bản phái thu đồ đệ rất đông, ta xem ngươi gân cốt cũng không đến nỗi tệ, nếu được sư phụ ta phát lòng từ bi thu nhận thì về sau ắt có thành tựu." Bao Bất Đồng trả lời một cách nghiêm trang: "Đa tạ, đa tạ! Bao mỗ tới lúc già rụng hết răng cũng chưa quên được ân đức của đại tiên."

Bọn Đặng Bách Xuyên, Công Dã Càn nghe Bao Bất Đồng chọc ghẹo bọn đệ tử phái Tinh Tú thì không khỏi vừa tức mình vừa buồn cười, nghĩ thầm trong bụng: "Hạng người nịnh bợ vô liêm sỉ đến thế này e rằng trên đời hiếm có."

Trong khi nói chuyện, đoàn người đã tiến vào một khe núi mọc toàn cây thông, gió thổi thông reo rào rạt tựa như tiếng sóng vỗ bờ. Đoàn người tiến sâu vào rừng thông một đoạn nữa thì đến trước ba gian nhà gỗ. Trước cửa, dưới một gốc cây lớn có hai người ngồi đối điện, phía sau người ngồi mé tả có ba người đang đứng.

Khi tiến vào gần đến nơi, Bao Bất Đồng thốt nhiên nghe thấy Lý Quỷ Lỗi ngồi ở chiếc võng sau mình hắng giọng lấy hơi dường như sắp lên tiếng, nhưng rồi lại thôi. Bao Bất Đồng quay lại nhìn thì thấy sắc mặt gã nhợt nhạt, vẻ cực kỳ sợ hãi, bèn hỏi: "Ngươi lại đóng vai gì vậy? Phải chăng là vở tuồng có ma quỉ nhát người?" Lý Quỷ Lỗi không nói không rằng, tựa như không nghe gã nói gì.

Đến nơi thì thấy giữa hai người đang ngồi có một phiến đá lớn, trên đó có vẽ bàn cờ. Bên phải là một ông lão vừa gầy vừa thấp, bên trái là một thanh niên ra dáng công tử. Bao Bất Đồng vừa nhìn đã nhận ra ngay Đoàn Dự, trong lòng cũng không thoải mái lắm, nghĩ thầm: "Gã tiểu tử này trước nay vốn đã vô lễ, hôm nay nhìn thấy lão gia đang xúi quẩy thế này, chắc hẳn sẽ buông lời chế giễu."

Bàn cờ đục trên một phiến đá xanh lớn, những quân cờ trắng đen đều sáng bóng, lấp loáng dưới ánh mặt trời, hai bên đã đi hơn trăm nước cờ. Đinh Xuân Thu tiến lại nhìn, thấy ông lão gầy gò vừa hạ một quân cờ đen, nhíu mày như đang tính toán nước cờ biến hóa. Đoàn Dự đang cầm một quân cờ trắng do dự chưa đặt xuống. Bao Bất Đồng kêu to: "Này này, Đoàn tiểu tử! Ngươi thua rồi, lại đây chịu chung hoạn nạn với huynh đệ Bao mỗ đi." Ba người đứng phía sau Đoàn Dự cùng quay đầu lại nhìn ra vẻ khó chịu, đó chính là bọn đại hộ vệ Chu Đan Thần.

Lúc đó đột nhiên nhóm Hàm Cốc bát hữu Khang Quảng Lăng, Phạm Bách Linh đều hấp tấp nhảy xuống võng, đến quì bên ông lão đang chơi cờ.

Bao Bất Đồng kinh ngạc hỏi: "Các ngươi làm trò quỉ gì thế?" Nhưng gã vừa hỏi xong đã tỉnh ngộ ngay, biết lão già gầy khẳng kheo kia là Lung Á lão nhân Thông Biện tiên sinh, tức là sư phụ của Hàm Cốc bát hữu. Nhưng gã lấy làm kỳ ở chỗ lão đang chạm trán đại địch là Tinh Tú Lão Quái Đinh Xuân Thu mà sao còn nhàn hạ đánh cờ được, hơn nữa đối thủ lại không phải là người quan trọng gì, chỉ là một tên đồ gàn không hiểu võ công.

Khang Quảng Lăng lên tiếng: "Lão nhân gia tráng kiện tỉnh táo, tám huynh đệ tiểu bối thật vui mừng khôn xiết." Vì Hàm Cốc bát hữu đã bị Thông Biện tiên sinh Tô Tinh Hà trục xuất khỏi môn phái, nên họ không dám dùng danh phận sư đồ để xưng hô. Phạm Bách Linh nói: "Huyền Nạn đại sư chùa Thiếu Lâm cũng đến thăm lão nhân gia đây."

Tô Tinh Hà đứng dậy nhìn mọi người xá dài rồi nói: "Huyền Nạn đại sư giá lâm mà lão phu không ra xa nghênh tiếp, thật là đắc tội!" Lão chỉ nhìn qua một cái, lại vội quay vào bàn cờ.

Mọi người thấy Lung Á lão nhân chẳng những thính tai mà miệng vẫn nói như thường, chẳng câm chẳng điếc chi hết, ai nấy đều kinh ngạc.

Huyền Nạn đáp lễ nói: "Không dám, không dám!" Nhà sư thấy Tô Tinh Hà để hết tinh thần vào ván cờ thì nghĩ bụng: "Lão này ôm đồm đủ thứ, cầm, kỳ, thị, họa chẳng món nào là không giỏi. Chả trách võ công lão thua kém sư đệ."

Giữa lúc im lặng, thốt nhiên Đoàn Dự lên tiếng: "Được lắm, cứ đi thế này!" rồi đặt một quân cờ trắng xuống bàn. Tô Tinh Hà có vẻ hoan hỉ, gật gật đầu rồi hạ một quân cờ đen ngay. Hai bên đi thêm mười mấy nước nữa, Đoàn Dự bỗng thở dài, lắc đầu nói: "Thế cờ Trân Lung biến ảo tinh diệu vô cùng, vãn bối không phá nổi."

Vậy là Tô Tinh Hà thắng cuộc, thế mà lão lại tỏ vẻ buồn rầu nói: "Nước cờ của công tử vừa sâu sắc vừa nghiêm mật, mười mấy nước trước đã đến cảnh giới đăng phong tạo cực. Chỉ vì công tử không chịu nghĩ kỹ hơn một chút.. Đáng tiếc, đáng tiếc! Hỡi ơi! Thật là đáng tiếc!" Lão than tiếc mấy lần liền, tỏ vẻ rất chân thành. Đoàn Dự lượm mười mấy quân cờ trắng lên bỏ vào hộp gỗ, Tô Tinh Hà cũng lượm mười mấy quân cờ đen dưới bàn cờ lên. Trên bàn cờ còn lại trận thế ban đầu.

Đoàn Dự lùi lại một bước, nhìn chằm chằm vào bàn cờ, nghĩ thầm: "Trận Trân Lung này chính là cuộc cờ ta đã thấy trong thạch động núi Vô Lượng. Không lẽ Thông Biện tiên sinh này có liên quan gì đến Thần Tiên tỉ tỉ ư? Lát nữa ta sẽ hỏi lại cho rõ ràng, nhưng không thể cho người khác nghe được, nếu không thì mọi người đều đến ngắm Thần Tiên tỉ tỉ, thật là xúc phạm đến nàng."

Nhị đệ tử trong Hàm Cốc bát hữu là Phạm Bách Linh cũng là tay mê cờ. Gã quỳ ở đằng xa, thấy cuộc cờ này không phải là ván đấu chơi giữa sư phụ và vị công tử kia, mà là một thế Trân Lung do sư phụ mình bày ra để công tử kia phá giải, nhưng chàng không phá nổi. Hắn đang quỳ xuống đất nên nhìn không rõ, cứ phải nghển cổ lên. Tô Tinh Hà gọi: "Các ngươi lại cả đây! Bách Linh! Thế Trân Lung này quan hệ phi thường! Ngươi lại đây để coi cho rõ, nếu ngươi phá được thì thật là tốt." Phạm Bách Linh mừng quá dạ một tiếng, rồi đứng dậy tiến lại bên bàn cờ chú ý nhìn.

Đặng Bách Xuyên khẽ hỏi: "Nhị đệ! Trân Lung là cái gì thế?" Công Dã Càn đáp: "Trong môn cờ vây thì Trân Lung là một loại thế cờ rất khó tính toán, cố ý sắp đặt ra để thách người khác phá giải." Thông thường thế Trân Lung ít thì mười mấy con mà nhiều thì tới bốn năm chục con, nhưng ở đây có đến hơn hai trăm con, sinh hay kiếp đều khó mà lường được. Bàn cờ đã sắp đến tàn cục rồi, Công Dã Cần hiểu biết có hạn, gã nhìn bàn cờ một lúc mà không tính toán được gì bèn thôi không cố gắng nữa.

Phạm Bách Linh đã nghiên cứu vi kỳ đến mấy chục năm và đã thành một tay kỳ thủ nổi tiếng bậc nhất. Gã vừa trông vào bàn cờ đã thấy trong sinh có kiếp, lại có những nước cờ trường sinh, phản phục, phức tạp vô cùng. Gã cố trấn tĩnh, mới tính toán một nơi sống chết của đám cờ trắng góc phải, đã thấy khí huyết sôi lên. Gã định thần lại, phát giác ra ban nãy mình tính đám cờ trắng góc này thuộc về tử, mà thực ra nếu giết được một số cờ đen quanh đó thì vẫn còn đường vào chỗ sinh, nhưng liên quan rất nhiều. Gã suy nghĩ một lúc nữa thì thấy trước mắt tối sầm lại, hộc lên một tiếng rồi thổ máu tươi ra.

Tô Tinh Hà lạnh lùng nhìn Phạm Bách Linh, nói: "Thế cờ Trân Lung cực kỳ khó phá. Ta biết rằng tư chất ngươi có hạn, tuy rằng kỳ lực không yếu nhưng cũng khó mà giải được. Lúc này lại có lão tặc Đinh Xuân Thu bên cạnh, không chừng lão thi triển tà thuật làm mê hoặc tâm trí thì lại càng nguy hiểm. Vậy ngươi có thử phá giải không, hay là thôi?" Phạm Bách Linh đáp: "Sinh tử hữu mạng, đệ.. đệ.. vãn bối quyết tận tâm tận lực." Tô Tinh Hà gật gật đầu nói: "Ngươi cứ từ từ mà suy nghĩ." Phạm Bách Linh nhìn thế cờ hồi lâu rồi người lảo đảo, lại hộc máu tươi ra.

Đinh Xuân Thu cười nhạt nói: "Gã này chết mất, làm chi mà khổ thế? Lão tặc kia bày ra cạm bẫy này chỉ cốt để hành hạ rồi giết chết người ta thôi. Ngươi tự chui vào lưới rồi."

Tô Tinh Hà đưa mắt lườm Đinh Xuân Thu hỏi: "Ngươi kêu sư phụ bằng gì?" Đinh Xuân Thu đáp: "Y là một tên lão tặc, ta kêu y bằng lão tặc chứ sao?" Tô Tinh Hà nói: "Lung Á lão nhân bữa nay không câm không tiếc nữa, chắc ngươi phải biết lý do tại sao chứ?" Đinh Xuân Thu nói: "Hay lắm! Người nói lời rồi lại nuốt lời. Đó là tự ngươi tìm lấy cái chết, đừng có trách ta tàn ác."

Tô Tinh Hà thuận tay nhấc một phiến đá lớn bên mình đặt cạnh Huyền Nạn, cất tiếng: "Xin mời đại sư ngồi xuống đây."

Huyền Nạn thấy Tô Tinh Hà vừa già vừa gầy khẳng gầy kheo, thân hình chưa chắc đã tới tám chục cân, thế mà lão nhấc phiến đá nặng ít ra cũng hai trăm cân dễ như chơi, tuyệt không cố gắng chút nào. Nhà sư nghĩ thầm: "Cứ nhìn cũng đủ biết công lực lão thâm hậu vô cùng. Chính mình lúc chưa bị mất võ công muốn nhấc tảng đá này lên cũng phải chật vật, đâu có được ung dung như lão." Nhà sư chắp tay nói: "Đa tạ lão tiên sinh!"

Tô Tinh Hà lại nói: "Thế Trân Lung này do tiên sư của lão phu bày ra. Lão nhân gia đã mất ba năm tâm huyết mới sáng tác ra được thế cờ này, rất mong trên đời có người tri kỷ phá giải được. Tại hạ khổ công nghiên cứu trong ba mươi năm trời cũng chưa thành công." Nói tới đây lão đảo mắt nhìn bọn Huyền Nạn, Đoàn Dự, Phạm Bách Linh một lượt rồi nói tiếp: "Huyền Nạn đại sư tinh thông thiền lý, chắc đã nghiệm ra, có người tốn công khổ luyện võ công bao nhiêu năm trời mà chưa chắc đã thấu triệt bằng người chỉ mất rất ít thời gian. Về kỳ lý cũng vậy, có khi đứa nhỏ chừng tám chín tuổi lại thắng được tay cao thủ. Tại hạ tuy rằng bất lực, nhưng những bậc anh tài trong thiên hạ rất nhiều, biết đâu lại có người phá được thế cờ này. Tiên sư qua đời, chỉ còn chút tâm nguyện này. Giả tỉ có người phá được thế cờ, hoàn thành tâm nguyện cho tiên sư thì lão nhân gia ở dưới suối vàng cũng mỉm cười khoan khoái."

Huyền Nạn nghĩ thầm: "Thầy trò Thông Biện tiên sinh dạy nhau các môn cầm kỳ thi họa cùng tạp học, môn nào cũng đến chỗ tinh diệu. Họ dồn hết thông minh tài trí vào những nghề chơi, đến nỗi Đinh Xuân Thu hoành hành không còn úy kỵ gì nữa, vì không còn ai cấm đoán nổi. Như vậy thật là đáng buồn!".

Bỗng lại nghe Tô Tinh Hà nói: "Vị sư đệ tại hạ đây.." Lão trỏ Đinh Xuân Thu nói tiếp: "Ngày trước y phản bội sư môn, hạ sát tiên sư và đánh tại hạ không sao trả đòn được. Lẽ ra tại hạ phải chết theo thầy cho trọn nghĩa, nhưng chưa hoàn thành được tâm nguyện của sư phụ, tìm được người giải phá thế Trân Lung thì có xuống suối vàng cũng chẳng dám nhìn mặt lão nhân gia. Vì lẽ đó mà tại hạ phải nhẫn nhục sống trên đời cho đến ngày nay. Mấy năm gần đây, tại hạ phải lập thệ với Đinh sư đệ là không nói không nghe gì nữa. Chẳng những một mình tại hạ biến thành Lung Á lão nhân, mà các đồ đệ mới thu nạp sau này cũng bị cưỡng bức cắt lưỡi chọc tai cho thành câm điếc. Hỡi ôi! Ròng rã ba mươi năm trời vẫn chưa được gì, thế Trân Lung của tiên sư để lại vẫn chưa có ai phá nổi. Vị công tử này phong tư tiêu sái.."

Bao Bất Đồng xen vào: "Gã này chưa chắc đã là anh tuấn, huống chi con người đẹp hay xấu thì đâu có liên quan gì đến chuyện đánh cờ? Sai bét, sai bét!" Tô Tinh Hà đáp: "Bên trong có mối quan hệ lớn lao." Bao Bất Đồng nói: "Lão tiên sinh cũng đâu có phong lưu anh tuấn gì cho cam?" Tô Tinh Hà nhìn gã không nói gì, chỉ mỉm cười. Bao Bất Đồng nói: "Chắc lão tiên sinh cho rằng Bao mỗ còn xấu xa hơn nhiều phải chăng?"

Tô Tinh Hà không lý gì đến gã nữa, nói tiếp: "Đoàn công tử hạ được mười mấy quân đầu, đều là những nước cực kỳ tinh diệu. Tại hạ đang hy vọng tràn trề, ngờ đâu đi sai một nước đến nỗi bị thua."

Đoàn Dự có vẻ thẹn thùng nói: "Tại hạ tư chất ngu độn đã phụ lòng kỳ vọng của lão trượng, thật xấu hổ vô cùng.."

Chưa đứt lời, bỗng nghe Phạm Bách Linh kêu to, miệng phun máu tươi ra như suối rồi ngã ngửa ra. Tô Tinh Hà khẽ nghiêng người, búng ba con cờ ra vèo vèo đánh trúng vào huyệt đạo trước ngực Bách Linh, gã thôi thổ huyết ngay.

Mọi người còn đang kinh ngạc, bỗng nghe đánh "cách" một tiếng, từ trên không bay xuống một vật trắng trúng vào bàn cờ.

Tô Tinh Hà nhìn lại, thì ra là một miếng gỗ cây tùng, rớt đúng vào điểm bát cửu ở vị khứ (tức là góc bên phải bàn cờ), rõ ràng đây là một nước đi. Lão ngẩng đầu lên nhìn xem thì thấy trên cây tùng ở cách năm trượng về bên trái có một mảnh trường bào lộ ra, rõ ràng có người nấp trên đó.

Tô Tinh Hà vừa kinh hãi vừa mừng thầm, nói: "Lại có một vị cao nhân gia lâm, lão phu vui sướng vô cùng" Lão đang cầm một quân cờ đen toan hạ xuống thì bỗng có tiếng vo vo nhè nhẹ, một vật màu đen bay từ sau lưng tới, rơi xuống điểm bát bát ở vị khứ, chính là chỗ Tô Tinh Hà muốn đặt cờ xuống.

Mọi người đều la lên một tiếng kinh ngạc, quay đầu nhìn ra thì không thấy ai hết. Cây tùng ở mé hữu không cao mấy, nếu có ai nấp ở đó thì trông thấy ngay, không hiểu người này nấp chỗ nào. Tô Tinh Hà nhìn lại thì thấy hạt đen này là một mẫu vỏ cây tùng vừa mới cạy ra, vị trí rất chuẩn, trong lòng thầm kinh hãi. Vật đen vừa rơi xuống thì từ cây tùng mé tả lại bắn xuống một hạt trắng, rớt vào điểm ngũ lục ở vị khứ.

Bỗng nghe tiếng vù vù vang lên, một hạt tròn màu đen bay trên không gian, rồi vừa xoáy vừa rớt xuống bàn cờ, trúng vào điểm tứ ngũ ở vị khứ. Vật này bay xoáy thành hình trôn ốc, khó mà biết phát ra từ đâu. Xem nó bay vòng vèo từ trên không mà rơi xuống rất chính xác thì đủ biết người đi nước cờ này có công phu phóng ám khí thật là khủng khiếp. Mọi người chung quanh đều khâm phục vô cùng, hoan hô rầm rộ.

Tiếng hoan hô chưa dứt, từ trên cây tùng vọng ra một âm thanh sang sảng: "Tuyệt kỹ phóng ám khí của Mộ Dung công tử quả nhiên thiên hạ vô song, thật đáng bội phục." Đột nhiên có tiếng gió nhẹ rồi bên bàn cờ xuất hiện thêm một nhà sư đứng tuổi mặc tăng bào sắc xám, mắt sáng như sao, tướng mạo nghiêm trang, hé cười nửa miệng. Không ai nhìn rõ nhà sư này ở trên cây thông nhảy xuống lúc nào.

Đoàn Dự vừa nhìn thấy nhà sư thì giật mình kinh hãi, nghĩ thầm: "Lão ma đầu Cưu Ma Trí lại đến rồi!" Chàng lại nghĩ: "Chẳng lẽ người đi quân cờ trắng vừa rồi là Mộ Dung công tử sao? Thế là cuối cùng ta cũng gặp y."

Cưu Ma Trí chắp tay trước ngực thi lễ với Tô Tinh Hà, Đinh Xuân Thu, Huyền Nạn đại sư, rồi nói: "Dọc đường tiểu tăng có nhận được thiệp mời đến kỳ hội của Thông Biện tiên sinh, không tự lượng sức mà đến đây để gặp cao thủ thiên hạ." Lão lại hô lên: "Mộ Dung công tử! Hiện thân ra đi chứ!"

Sau một cây thông bỗng có tiếng cười nói vang lên, rồi hai người bước ra. Đoàn Dự mới nhìn thấy một người, trước mắt đã như tối sầm lại, bên tai vang lên những tiếng ù ù, miệng đắng nghét, toàn thân nóng bừng. Người này yểu điệu nhu mì, khoan thai bước tới, là con người chàng ngày đêm tưởng nhớ không lúc nào quên, chính thị Vương Ngữ Yên.

Ánh mắt nàng đầy vẻ ngưỡng mộ si mê, đang nhìn chăm chăm chàng thanh niên công tử kế bên. Đoàn Dự nhìn theo, thấy người đó trạc hai mươi bảy hai mươi tám tuổi, mặc áo sắc vàng nhạt, lưng đeo trường kiếm, phong tư tuấn nhã.

Đoàn Dự mới được thấy dung mạo Mộ Dung Phục lần đầu lòng chàng bỗng nhiên nguội lạnh, lẩm bẩm: "Người ta thường nói Mộ Dung công tử là rồng phượng trong loài người, quả nhiên danh bất hư truyền. Vương cô nương mến phục chàng là phải. Ôi thôi! Thế là ta đành đau khổ suốt đời." Chàng tự trách, tự than, rồi lại tự thương mình, thẫn thờ không muốn nhìn Vương Ngữ Yên nữa, nhưng rồi không nhịn được lại liếc trộm nàng một cái, thấy dung nhan khuynh quốc khuynh thành đang hớn hở tươi cười, tựa hồ khoan khoái hoan hỉ vô cùng. Từ khi biết nàng, chưa bao giờ chàng thấy nàng vui vẻ như hôm nay. Bất giác chàng tự nhủ: "Trong mắt nàng chẳng hề có ta, chỉ đem lòng say mê biểu huynh. Bây giờ nàng thấy gã, trách nào chẳng cao hứng."

Bốn người Đặng Bách Xuyên, Công Dã Càn, Bao Bất Đồng, Phong Ba Ác đều đứng lên nghênh tiếp. Công Dã Càn nói nhỏ với Mộ Dung Phục về lai lịch ba người Tô Tinh Hà, Đinh Xuân Thu, Huyền Nạn. Bao Bất Đồng lại nói: "Gã đồ gàn họ Đoàn kia không biết võ công, khi nãy mới đánh cờ nhưng đã thua rồi."

Mộ Dung Phục thi lễ với từng người một, ăn nói rất khiêm nhường. Mọi người đều không nghĩ Mộ Dung Cô Tô vang danh thiên hạ lại là một chàng thanh niên tuấn tú đến thế, đều rất ngưỡng mộ, ngay cả Đinh Xuân Thu cũng nói mấy câu khách sáo.

Sau cùng Mộ Dung Phục mới quay sang Đoàn Dự, gật đầu nói: "Đoàn huynh, khỏe chứ?" Vẻ mặt Đoàn Dự đang rất thảm hại, chàng lắc đầu đáp: "Chỉ có huynh mới khỏe, còn tại hạ.. tại hạ chẳng khỏe chút nào." Vương Ngữ Yên "A" lên một tiếng, gọi: "Đoàn công tử! Huynh cũng ở đây ư?" Đoàn Dự đáp: "Vâng. Tại hạ.. tại hạ..".

Mộ Dung Phục trừng mắt nhìn chàng rồi không để ý nữa, đến bên bàn cờ cầm một quân cờ trắng đặt xuống bàn đá. Cưu Ma Trí khẽ cười, nói: "Mộ Dung công tử! Võ công của công tử cao cường thật, nhưng kỳ thuật chắc chỉ tầm thường thôi." Lão nói xong, đặt một quân cờ đen xuống. Mộ Dung Phục đáp: "Chưa chắc tại hạ đã chịu thua đại sư." Chàng nói xong, cũng cầm một quân cờ trắng đặt xuống bàn. Cưu Ma Trí lập tức hạ xuống một quân.

Nãy giờ Mộ Dung Phục tính toán thế Trân Lung này, tự tin có thể phá giải. Nào ngờ đối phương chỉ đi một quân ngoài dự liệu là bao nhiêu nước y tính toán sẵn đều hóa ra công cốc. Qua một lúc lâu y mới đi được một quân. Cưu Ma Trí lại lập tức đi một quân. Hai người một nhanh một chậm, đi hơn hai mươi nước nữa, bỗng Cưu Ma Trí cười ha hả rồi nói: "Mộ Dung công tử ơi, không ăn thua rồi!" Mộ Dung Phục tức mình nói: "Đại sư chớ vội mừng, chính mình cũng có phá được đâu?" Cưu Ma Trí vẫn cười, đáp: "Thế Trân Lung này không thể phá giải được, người ta bày ra chỉ cốt để trêu ghẹo nhau thôi. Tiểu tăng tự biết mình, không muốn hao phí tâm lực vào chuyện vô ích. Mộ Dung công tử! Công tử cùng tiểu tăng mới loay hoay ở một góc biên cương còn chưa thoát ra được, nghĩ làm chi đến chuyện đuổi hươu ở Trung Nguyên?"

Mộ Dung Phục nghe mấy câu này bao hàm nhiều ẩn ý sâu xa, không khỏi giật mình, trong tâm trí chàng nảy ra bao nhiêu suy nghĩ. Bên tai cứ vang đi vang lại mấy câu: "Công tử cùng tiểu tăng mới loay hoay ở một góc biên cương còn chưa thoát ra được, nghĩ làm chi đến chuyện đuổi hươu ở Trung Nguyên?"

Cảnh vật trước mắt chàng dần dần mờ đi; những quân cờ đen, trắng trên bàn tựa hồ biến thành quân lính thật. Phía Đông một đoàn người ngựa, phía Tây một khu doanh trại, địch vây khốn ta, ta cũng vây lại địch thành một thế trận, chém giết lung tung không phân thắng bại. Mộ Dung Phục tưởng như binh mã Đại Yên đang bị địch bao vây, mình tả xung hữu đột đến kiệt lực cũng không có cách nào dẫn binh mã thoát ra khỏi gọng kìm của địch. Chàng càng nghĩ càng nóng ruột, rồi đột nhiên la hoảng: "Vận mệnh nhà Mộ Dung đã hết rồi, khó lòng phục quốc được! Bao nhiêu tâm cơ hao tổn đã mấy đời, rốt cuộc biến thành một trường ảo mộng. Ôi chao! Đó là số mệnh, còn biết làm gì nữa?" Bất ngờ chàng thét lên một tiếng, rút kiếm đâm vào cổ toan tự vận.

Mọi người ai nấy đều bất ngờ. Bọn Đặng Bách Xuyên nhất tề nhảy lại, song công lực đã mất hết, nên chậm mất một bước.

Đoàn Dự vừa hốt hoảng kêu lên: "Đừng làm thế!" vừa chĩa ngón tay trỏ ra điểm. Chỉ nghe "véo" một tiếng, thanh trường kiếm trong tay Mộ Dung Phục đã rớt xuống đất. Cưu Ma Trí cười nói: "Đoàn công tử! Lục Mạch Thần Kiếm quả là tuyệt diệu!"

Mộ Dung Phục thấy thanh trường kiếm văng khỏi tay thì giật nảy mình như người đang mơ chợt tỉnh. Vương Ngữ Yên nắm lấy tay gã, vừa khóc vừa nói: "Biểu huynh! Phá giải được hay không thế Trân Lung này đâu có gì quan hệ? Sao biểu huynh phải khổ sở đến thế?"

Mộ Dung Phục mơ hồ hỏi: "Ta làm sao vậy?" Vương Ngữ Yên nói: "May mà Đoàn công tử đánh rớt được thanh trường kiếm trong tay biểu huynh, nếu không thì.. không thì.." Công Dã Càn nói: "Thế Trân Lung này mê hoặc lòng người, dường như có tà thuật bên trong. Công tử đừng nghĩ tới làm gì nữa!" Mộ Dung Phục quay lại nhìn Đoàn Dự hỏi: "Phải chăng chiêu vừa rồi đúng là một kiếm chiêu trong Lục Mạch Thần Kiếm? Đáng tiếc là tại hạ chưa trông rõ, các hạ có thể thi triển lại cho tại hạ được mở rộng tầm mắt chăng?"

Đoàn Dự chăm chăm nhìn Cưu Ma Trí, cứ sợ lão thấy mình xuất chiêu Lục Mạch Thần Kiếm lại nảy ra ý định bắt đi. Lộ kiếm pháp này lúc sinh nghiệm lúc không, nếu lão xuất thủ thì chàng không chống nổi. Chàng kinh hãi trong lòng, bèn bước sang trái ba bước cho xa Cưu Ma Trí, ở giữa lại có bọn ba người Chu Đan Thần, rồi mới đáp: "Tại hạ hốt hoảng trong lòng nên may mắn mà vận kình xuất chiêu được, muốn thử lại thì khó lắm. Vừa rồi công tử không trông thấy ư?"

Mộ Dung Phục bẽn lẽn đáp: "Lúc nãy tại hạ mê man, dường như có ma quỷ gì ám ảnh nên không biết gì hết."

Bao Bất Đồng la lên một tiếng rồi nói: "Phải rồi! Đúng là Tinh Tú Lão Quái đứng bên thi triển tà pháp! Công tử phải cẩn thận mới được!"

Mộ Dung Phục liếc xéo Đinh Xuân Thu một cái, rồi quay sang Đoàn Dự tạ ơn: "Tại hạ trúng phải tà thuật, may mà được huynh đài cứu, cảm kích không sao nói hết. Đoàn huynh thân mang tuyệt kỹ Lục Mạch Thần Kiếm, có phải là nhân vật họ Đoàn ở Đại Lý hay không?" Bỗng nghe âm thanh lảnh lót từ xa vọng đến: "Đoàn gia Đại Lý có ai đến đấy, có phải Đoàn Chính Thuần không?". Đó chính là giọng của Ác quán mãn doanh Đoàn Diên Khánh.

Chu Đan Thần lập tức mặt biến sắc. Chỉ nghe những tiếng kim khí va vào nhau loảng xoảng, rồi có giọng la lên: "Lão đại của chúng ta mới chính hiệu là Đại Lý Đoàn thị, còn bao nhiêu là hàng giả hết." Đoàn Dự mỉm cười nói: "Té ra đồ đệ của ta cũng đã đến rồi."

Tiếng kêu của Nam Hải Ngạc Thần chưa hết vang vọng, từ trên núi bỗng có một người phi thân xuống nhanh như chớp, chính là Vân Trung Hạc. Lão hô to: "Tứ Đại Ác Nhân bái phỏng Thông Biện tiên sinh, đồng thời xin tham dự kỳ hội này." Tô Tinh Hà đáp: "Hoan nghênh chư vị đến đây." Lão nói vừa xong, Vân Trung Hạc đã xẹt đến trước mặt mọi người.

Một lúc sau, ba người Đoàn Diên Khánh, Diệp Nhị Nương, Nam Hải Ngạc Thần cùng đến nơi, Nam Hải Ngạc Thần quát lớn: "Lão đại chúng ta nhận được thiệp mời liền rất hoan hỉ, tạm gác mọi chuyện để đến đây đánh cờ. Võ công của lão là thiên hạ vô địch, so với Nhạc lão nhị ta còn lợi hại hơn nhiều. Ai không phục có thể lên đây cũng lão đối ba chiêu. Các ngươi muốn đơn đả độc đấu hay xông lên đánh loạn ẩu, sao không rút binh khí ra đi?" Diệp Nhị Nương nói: "Lão tam, ngươi nói bậy rồi. Đây là đấu cờ chứ không phải đấu võ, rút binh khí làm gì?" Nam Hải Ngạc Thần vặn lại: "Ngươi mới là nói bậy. Nếu không phải là động thủ đánh nhau thì lão đại đến đây để làm gì?" Đoàn Diên Khánh mắt vẫn nhìn bàn cờ không chớp. Lão ngưng thần suy nghĩ rất lâu rồi mới thò cây thiết trượng bên tay trái vào hộp cờ. Đầu gậy của lão tựa hồ như có sức hút, nhặt một quân cờ trắng đặt lên bàn. Huyền Nạn khen: "Võ công họ Đoàn nước Đại Lý quả là độc đáo cõi Thiên Nam, tiếng đồn không sai."

Khi xưa Đoàn Dự đã được xem thái tử Diên Khánh đấu cờ với Huỳnh Mi Tăng, biết lão nội công đã thâm hậu mà lại rất cao cờ, không chừng có thể phá được thế Trân Lung này cũng nên. Chu Đan Thần kề tai chàng nói nhỏ: "Công tử! Chúng ta lẻn đi thôi." Nhưng Đoàn Dự vừa muốn xem Đoàn Diên Khánh đánh cờ, lại vừa muốn ngắm nghía Vương Ngữ Yên cho thỏa niềm thương nhớ bấy lâu, chỉ "ừ, ừ" mấy tiếng, lại bước đến gần bàn cờ hơn.

Tô Tinh Hà đã nghiên cứu thế Trân Lung thiên biến vạn hóa này đến mức thuộc lòng mọi nước đi, nên vừa thấy thái tử Diên Khánh hạ cờ xuống, lập tức lão lấy một quân cờ đen đi luôn. Đoàn Diên Khánh lại nghĩ một lúc lâu mới đi thêm một nước. Tô Tinh Hà cất tiếng khen: "Nước cờ này của các hạ thật là cao minh. Để xem những nước sau có phá được quan ải, tìm ra lối thoát chăng?" Nói xong, lão đặt một con cờ đen xuống để cản phá, Đoàn Diên Khánh lại hạ một quân trắng xuống.

Nhà sư trẻ tuổi chùa Thiếu Lâm là Hư Trúc bỗng kêu lên: "Không đi nước này được đâu!" Vừa rồi gã thấy Mộ Dung Phục đi đúng như nước này rồi sau cùng rút kiểm tự sát, nên sợ Đoàn Diên Khánh cũng theo vết xe đổ. Gã không yên lòng, bèn lên tiếng nhắc nhở.

Nam Hải Ngạc Thần cả giận quát: "Tên hòa thượng nhóc con này dám nói đại ca của lão gia đi nước đó không được ư?" Lão nắm lấy lưng nhà sư nhấc lên. Đoàn Dự nói ngay: "Đồ đệ ơi, đừng hại vị tiểu sư phụ đó!" Từ lúc mới đến, Nam Hải Ngạc Thần đã nhìn thấy Đoàn Dự, trong lòng hổ thẹn, đã định bụng không nói gì với chàng là tốt nhất. Lão nghe chàng gọi, tức mình nhưng không biết làm sao, đành hậm hực đáp: "Không hại thì thôi, có gì quan trọng đâu?"

Mọi người thấy Nam Hải Ngạc Thần không những tuân lời Đoàn Dự, mà nghe chàng gọi y là đồ đệ cũng không cãi lại, thì đều rất ngạc nhiên. Chỉ có bọn Chu Đan Thần là hiểu chuyện, không khỏi cười thầm.

Hư Trúc ngồi dưới đất, trong lòng suy nghĩ lung tung: "Sư phụ ta đã dạy, Phật tổ truyền lại ba phương pháp tu tập là Giới, Định, Tuệ. Trong kinh Lăng Nghiêm có nói: Nhiếp tâm là giới, từ giới sinh ra định, từ định chuyển thành tuệ. Bọn ta là người trần tục ngu độn, vì thế Đạt Ma tổ sư đã dạy cho những phương pháp học võ để nhiếp tâm, thế thì cũng có thể học đánh cờ để nhiếp tâm. Đấu võ tất có thắng bại, đấu cờ cũng có thắng bại, đều là chuyện trái ngược với thiên lý, nên bất luận học võ hay chơi cờ đều phải có tâm không phân biệt thắng bại. Những chuyện như tụng kinh, ăn uống, đi dạo, không có tâm thắng bại thì dễ, nhưng thí võ đấu cờ mà bỏ được tâm thắng bại thì khó vô cùng. Nếu trong lúc thí võ đấu cờ mà không có tâm thắng bại thì đã gần đạt đạo lắm rồi. Trong kinh Pháp Cú có nói: Thắng thì sinh thù oán, bại thì sinh tự ti, nếu không có tâm thắng bại thì tự nhiên thanh tịnh an ổn. May mà võ công của ta không giỏi, kỳ thuật lại thấp kém, khi cùng sư huynh đệ thí võ đấu cờ lúc nào cũng thắng ít bại nhiều, thường được sư phụ khen là vô sân vô oán, biết coi nhẹ chuyện hơn thua. Sao hôm nay ta mới thấy một nước cờ của Đoàn thí chủ đã sợ lão bị thua mà mở miệng chỉ điểm? Huống chi ta chẳng phải đệ nhất kỳ thủ, làm sao chỉ điểm người khác được? Nước cờ này của lão thì giống Mộ Dung công tử, nhưng biết đâu sau này lại biến hóa khác biệt, ta làm sao biết chắc mà khuyên ngăn? Thế là ta phạm vào điều tự cao tự mãn rồi."

Đoàn Diên Khánh đi mỗi nước cờ lại phải suy nghĩ một lúc, càng về sau càng lâu, khi lão đi được hơn hai mươi nước thì mặt trời đã ngả về tây. Đột nhiên Huyền Nạn cất tiếng nói: "Đoàn thí chủ! Mười nước đầu thí chủ đi theo đường chính, nhưng từ nước thứ mười một trở đi lại rẽ sang đường tà, càng về sau càng sai lệch, không còn cách nào cứu vãn được nữa!" Vẻ mặt của Đoàn Diên Khánh cứ trơ trơ như xác chết, không để lộ tí cảm xúc nào, nhưng trong cổ họng phát ra thanh âm: "Phái Thiếu Lâm của đại sư là chính phái, vậy theo tôn ý thì có thể phá giải được thế Trân Lung này bằng đường chính đạo không?" Huyền Nạn thở dài nói: "Thế cờ này chính không phải chính, tà chẳng phải tà, dùng chính đạo phá không xong, mà theo tà đạo cũng không phá được!"

Đầu thiết trượng của Đoàn Diên Khánh dừng lại trên không, người lão run lên, nghĩ mãi không đi được. Hồi lâu lão lên tiếng: "Trước không có đường đi, sau đó quân truy sát. Đi đường chính không được, theo nẻo tà chẳng xong, thật là đau khổ!" Lão vốn thuộc chính tông họ Đoàn nước Đại Lý, nhưng về sau đi vào tà đạo, câu nói của Huyền Nạn vô tình khiến lão xúc động mãnh liệt. Hoàn cảnh lão cũng tương tự như Mộ Dung công tử, dần dần nhập vào ma chướng.

Thế cờ Trân Lung biến ảo trăm chiều, tùy theo bản ngã của con người mà thay đổi. Kẻ tham tài thì vì lòng tham mà sai lầm, người hay phẫn nộ thì lại vì nóng giận mà lỡ nước. Đoàn Dự thua cuộc là vì lòng nhân từ quá nặng biến thành nhu nhược, không nỡ thí quân. Mộ Dung Phục thất thủ là vì tham quyền vị bất chấp mọi thứ, nhất quyết không chịu lép vế, thí quân liều lĩnh. Còn nỗi hận suốt đời của Đoàn Diên Khánh là sau khi thành người tàn phế, không thể không bỏ võ học gia truyền chính tông, đành phải học pháp thuật bàng môn tả đạo. Mỗi khi lão phải để hết tâm trí vào việc gì thì ngoại ma xâm nhập khiến cho đầu óc hoang mang hỗn loạn.

Đinh Xuân Thu cười khẩy nói: "Đúng thế! Người ta lạc bước từ chính sang tà thì dễ, chứ cải tà qui chính thì khó vô cùng. Than ôi! Cuộc đời của ngươi hỏng rồi, hỏng rồi, thật là đáng tiếc! Lỡ bước thành thiên cổ hận, quay đầu trở lại không xong!" Lão nói mấy câu này đầy vẻ thương xót, nhưng Huyền Nạn cùng những tay cao thủ đều biết rõ Tinh Tú lão quái chẳng tử tế gì, nhân lúc cháy nhà mà cướp của, chỉ muốn Đoàn Diên Khánh tẩu hỏa nhập ma để trừ khử một đối thủ lợi hại.

Quả nhiên Đoàn Diên Khánh ngồi thừ mặt ra, nói bằng một giọng thê thảm: "Lão phu đang ở ngôi thái tử Đại Lý, thế mà nay lạc lõng giang hồ đến nỗi thân tàn ma dại, thật là xấu hổ với tiền nhân."

Đinh Xuân Thu lại đổ thêm dầu vào lửa: "Các hạ chết xuống cứu tuyền cũng chẳng mặt mũi nào trông thấy tiền nhân họ Đoàn, nếu biết liêm sỉ thì tự tử cho rồi, cũng còn chút xíu anh hùng hào kiệt. Ôi! Các hạ tự tử đi thôi, tự tử đi thôi!" Lão nói bằng một âm điệu uyển chuyển khiến người nghe phải mềm lòng, người nào công lực tầm thường thì ắt phải mê man.

Đoàn Diên Khánh lẩm bẩm: "Ôi! Tự tử đi thôi!". Vừa nói vừa từ từ giơ thiết trượng lên điểm vào ngực mình. Nhưng công lực lão rất thâm hậu, còn ngấm ngầm kháng cự, tựa hổ trong thâm tâm lão có tiếng cãi lại: "Không được! Không được! Điểm mạnh vào thì hỏng bét!" Nhưng cây tả trượng cứ dần dần tiến vào từng tấc một.

Lúc này chung quanh Đoàn Diên Khánh có rất nhiều cao thủ, Huyền Nạn lấy đạo từ bị làm gốc, muốn cảnh tỉnh lão, nhưng công lực đã bị mất hết không làm gì được, mở miệng nhắc nhở đã vô ích mà còn tai hại thêm. Tô Tinh Hà vì lề luật của sư phụ mà không dám cứu viện, Mộ Dung Phục biết Đoàn Diên Khánh không phải là người tốt, nếu lão chết đi thì thiên hạ bớt được mối hại lớn, lại càng hay. Cưu Ma Trí là con người ưa gieo tai rắc họa, lão chỉ cười khẩy ngồi nhìn. Đoàn Dự cùng Du Thản Chi tuy công lực thâm hậu nhưng lại không hiểu gì chuyện trước mắt. Vương Ngữ Yên tuy biết nhiều những môn võ công các phái, song chẳng hiểu gì về bàng môn tả đạo. Diệp Nhị Nương nghĩ rằng Đoàn Diên Khánh đã đè đầu mình mấy chục năm, nhiều khi vô cớ cũng nóng giận quát tháo, bây giờ thấy lão sắp tự sát cũng không thèm ra tay tương trợ. Bọn Đặng Bách Xuyên, Khang Quảng Lăng đã mất hết công lực, mà cũng chẳng muốn dây vào chuyện giữa Tinh Tú Lão Quái với Đệ Nhất Ác Nhân làm gì.

Chỉ còn Nam Hải Ngạc Thần là sốt sắng. Lão thấy đầu trượng Đoàn Diên Khánh chỉ còn cách ngực vài tấc, nếu chần chừ giây lát để đầu gậy điểm vào tử huyệt là hết đời. Lão bèn la lên: "Lão đại! Hãy đón lấy nhà sư này!", rồi xách Hư Trúc liệng tới trước mặt Đoàn Diên Khánh.

Đinh Xuân Thu la lên: "Cút đi! Đừng xen vào phá quấy!" rồi phóng chưởng ra. Nam Hải Ngạc Thần đã dùng hết sức để liệng Hư Trúc, nhưng vẫn bị phát chưởng ôn nhu của Đinh Xuân Thu hất ngược trở lại. Lão đưa hai tay đón lấy Hư Trúc, toan liệng tới Đoàn Diên Khánh lần nữa. Lão không ngờ chưởng lực của Đinh Xuân Thu hùng hậu vô cùng, chứa đựng đến ba luồng kình lực. Tay lão vừa nắm lấy Hư Trúc thì hai mắt lão trợn lên, loạng choạng lùi lại ba bước, vừa sắp đứng vững thì luồng kình lực thứ hai ùa đến khiến hai đầu gối lão nhũn ra, ngồi phệt xuống đất. Nam Hải Ngạc Thần đã tưởng đến đây là hết, không ngờ lại còn luồng kinh lực thứ ba ập tới khiến lão ngồi không vững, lại bị hất lộn ngược ra sau một vòng. Hư Trúc đang bị hai tay lão nắm lấy, lúc này lại bị lão đè lên người cơ hồ ngạt thở. Nam Hải Ngạc Thần vừa ngồi vững lại được, sợ Đinh lão quái còn luồng hậu kình thứ tư, liền nắm lấy Hư Trúc giơ lên đón đỡ. Nhưng mãi không thấy luồng kình lực thứ tư, Nam Hải Ngạc Thần bèn quắc mắt lên thóa mạ: "Con mẹ nó!", rồi để Hư Trúc xuống đất.

Lúc Đinh Xuân Thu phân tâm phóng chưởng, áp lực thôi miên giảm xuống, cây trượng của Đoàn Diên Khánh tạm thời ngừng lại, chỉ còn cách ngực hai tấc. Đinh Xuân Thu lại nói: "Không kịp rồi! Không kịp rồi! Đoàn Diên Khánh, ngươi tự tử đi thôi, tự tử đi thôi, đừng chần chờ nữa!" Đoàn Diên Khánh nói: "Phải rồi! Ta sống trên đời cũng chẳng ích gì, tự tử đi thôi!" Lão nói câu này thì đầu trượng lại từ từ đâm vào.

Hư Trúc nổi dạ từ bi, chỉ mong cứu mạng người. Y biết muốn giải trừ ma chướng ám ảnh Đoàn Diên Khánh thì phải bắt đầu từ cuộc cờ này, nhưng kỳ nghệ của mình thô thiển, thật không dám nghĩ tới chuyện giải phá thế Trân Lung cực kỳ phức tạp. Y thấy hai mắt Đoàn Diên Khánh trơ ra nhìn vào cuộc cờ, nguy cơ trong khoảnh khắc, đột nhiên trong lòng chợt động, nghĩ thầm: "Ta không phá được thế cờ thì cũng phải đi loạn lên một lúc để cho lão phân tâm, tỉnh lại là sống được." Hư Trúc liền nói: "Vãn bối lại phá thế cờ đây!" Y lại bên Tô Tinh Hà, thò tay vào hộp lấy một quân cờ trắng, nhắm mắt đặt xuống bàn rồi cười ha hả.

Hư Trúc chưa mở mắt ra đã nghe Tô Tinh Hà giận dữ quát lên: "Bậy bạ! Ngươi chỉ vào đây phá quấy! Làm gì có lối chơi cờ tự sát kiểu này?" Y mở mắt ra, không khỏi tự thẹn, mặt đỏ bừng lên.

Thì ra y nhắm mắt hạ cờ lại đúng vào chỗ quân đen đang bao vây, bên cờ trắng chỉ còn duy nhất một điểm đó để làm chỗ thở. Phép đánh cờ vây là phải tranh giành đất sống, thế mà Hư Trúc lại tự đặt quân trắng xuống để chẹn họng không khác gì tự sát. Bên cờ đen lại sắp được đi một quân nữa, thắng bại đã rõ ràng.

Bọn Cưu Ma Trí, Mộ Dung Phục, Đoàn Dự đều nổi lên cười ha hả. Huyền Nạn thì lắc đầu quầy quậy. Phạm Bách Linh tuy đang suy nhược cũng không nhịn được, reo lên: "Nước đi thế này thì không cười sao được?"

Tô Tinh Hà nói: "Tiên sư của lão phu đã có di mệnh: Thế Trân Lung này bất luận là ai cũng có thể tham gia phá giải. Nước đi của tiểu sự phụ tuy khác với lề lối thông thường, nhưng vẫn là một nước cờ không phạm luật." Lão vừa nói vừa nhặt những quân cờ trắng mà Hư Trúc đã tự giết đem bỏ ra ngoài, rồi lại đi một quân đen xuống.

Đoàn Diên Khánh la lên một tiếng thật to, rồi như người đang mơ mộng choàng tỉnh giấc. Lão đưa mắt nhìn Đinh Xuân Thu nói: "Tinh Tú Lão Quái! Người thừa lúc ta gặp nguy mà ngầm thi độc kế. Việc này không thể bỏ qua được."

Đinh Xuân Thu quay lại nhìn Hư Trúc bằng con mắt đầy căm tức, mắng thầm: "Thằng trọc con chết đâm này!".

Đoàn Diên Khánh nhìn thế cờ thấy đã có biến hóa, lão tự biết mình sống sót là nhờ Hư Trúc cứu viện, trong lòng đâm ra có thiện cảm. Lão nghĩ thế nào Đinh Xuân Thu cũng hằn học báo thù Hư Trúc, bèn lăng lẽ ngồi bên để chiếu cố cho nhà sư. Lão nghĩ thầm: "Cao tặng Huyền Nạn có mặt tại đây, chắc Tinh Tú Lão Quái cũng không làm gì nổi môn hạ phái Thiếu Lâm. Nhưng giả tỉ Huyền Nạn cũng bị hôn mê không che chở được thì ta phải ra tay cứu viện, không thể để y uổng mạng vì ta."

Bỗng nghe Tô Tinh Hà quay lại hỏi Hư Trúc "Tiểu sư phụ! Tiếu sư phụ đã tự giết một đám quân cờ của mình, bây giờ bên đen lại áp bức thêm một bước nữa, đối phó thế nào đây?" Hư Trúc mỉm cười đáp: "Tiểu tăng chơi cờ rất kém, chỉ đi bừa một nước cốt để cứu người. Bây giờ tiểu tăng không biết đi thế nào nữa, xin lão tiền bối lượng thứ cho."

Tô Tinh Hà sa sầm nét mặt nói: "Tiên sư ta bày ra thế Trân Lung này để mời cao thủ khắp thiên hạ đến phá giải, phá giải không được cũng không sao, ai lỡ mang họa vào thân là lỗi tự mình. Ngươi đến đây phá quấy là khinh mạn tiên sư. Bất kể phái Thiếu Lâm nhà ngươi người nhiều thế mạnh đến đâu, lão phu tuy vừa cầm vừa điếc cũng liều chết để bảo vệ danh dự tiên sư." Lão đang cãi nhau mà tự xưng là vừa cầm vừa điếc nghe thật buồn cười, nhưng râu lão đang vểnh lên, thanh âm sát phạt như lệnh vỡ, vẻ mặt cực kỳ hung dữ, nên chẳng ai dám cười ra tiếng. Hư Trúc chắp tay trước ngực thi lễ nói: "Lão tiền bối.."

Tô Tinh Hà quát lớn: "Hạ quân xuống đi, nói nhiều vô ích! Tâm huyết của tiên sư không thể để người khác đến giỡn chơi được." Lão vung tay phải phóng ra một chưởng đánh "sầm" một tiếng, cát bụi bay mù, trước mặt Hư Trúc xuất hiện một cái hố sâu đến mấy thước. Chương lực mãnh liệt phi thường, nếu lão đánh nhích lên một thước thì xương cốt Hư Trúc sẽ nát ra như cám.

Hư Trúc sợ quá, trống ngực đập thình thình, giương mắt nhìn Huyền Nạn, chỉ còn biết mong sư bá tổ cứu nguy. Huyền Nạn chơi cờ chẳng giỏi gì, võ công lại mất hết, tuyệt chẳng có cách nào cứu được y. Lão tăng đã toan muối mặt năn nỉ Tô Tinh Hà, bỗng thấy Hư Trúc thò tay vào hộp lấy ra một con cờ trắng đặt xuống bàn, vào khoảng trống phía sau những con cờ trắng đã bị bắt.

Con cờ này đi rất đúng phép tắc. Suốt ba mươi năm trời Tô Tinh Hà đã nghiên cứu thế Trân Lung này rất kỹ, từng đặt ra hàng ngàn hàng vạn thế biến, nên bất cứ diễn biến ra sao, hậu quả đến đâu, lão thuộc lòng hết. Nhưng lão chưa bao giờ nghĩ tới nước cờ tự sát kỳ cục như của Hư Trúc vừa rồi. Dù là người mới học đánh cờ cũng không đi ngớ ngẩn đến thế, chẳng khác gì người học võ cầm kiếm đâm vào cổ mình. Thế mà không ngờ bên trắng tự sát cả một đám quân rồi cục diện biến thành sáng sủa hơn. Bên đen dĩ nhiên vẫn có ưu thế, nhưng bên trắng cũng rộng đường xoay xở không giống như trước, giữ được chỗ nọ bỏ mất chỗ kia. Cục diện quái lạ này thì Tô Tinh Hà có nằm mơ cũng không thấy. Nét mặt đầy vẻ kinh ngạc, lão suy tính hồi lâu mới hạ một quân cờ đen xuống.

Thì ra lúc Hư Trúc thấy Tô Tinh Hà phong chưởng dọa mà sư bá tổ chẳng nói chẳng rằng, y đang luống cuống, bỗng một thanh âm nhỏ xíu lọt vào tai: "Đặt cờ xuống điểm tam cửu ở vị bình (góc dưới trái). " Hư Trúc chẳng hiểu ai mách nước, cũng chẳng biết là đúng hay sai, cứ cầm quân cờ trắng đặt xuống điểm tam cửu ở vị bình. Tô Tinh Hà hạ cờ đen rồi, thanh âm nhỏ nhẹ lại lọt vào tai Hư Trúc: "Điểm nhị bát ở vị bình." Hư Trúc lại đặt cờ theo đúng lời mách bảo.

Quân cờ này vừa đặt xuống, bọn Cưu Ma Trí, Mộ Dung Phục, Đoàn Dự đều reo lên một tiếng kinh ngạc: "Úi chà!" Hư Trúc ngẩng đầu lên thì thấy người nào cũng ra chiều khâm phục mình, biết ngay đó là một nước cờ tuyệt diệu. Chính Tô Tinh Hà cũng tỏ vẻ vừa hoan hỉ vừa lo lắng. Cặp lông mày của lão nhíu lại.

Hư Trúc sinh nghi tự hỏi: "Sao lão lại có vẻ thích thú? Hay là ta đi nước này sai mất rồi?" Nhưng rồi y lại nghĩ: "Bất luận ta đi trúng hay trật, thì cũng ráng đánh thêm mười nước nữa, để tỏ ra không phải ta cố ý phá quấy làm nhục tiên sư lão, thì lão không trách mình vào đâu được nữa." Tô Tinh Hà ngẫm nghĩ hồi lâu mới đặt con cờ đen xuống, Hư Trúc lại nghe thanh âm mách bảo, liền tuân theo mà hạ quân cờ trắng, vừa đi cờ vừa để ý quan sát sư bá tổ xem có phải người đã ngấm ngầm giúp mình không. Nhưng y thấy Huyền Nạn thủy chung vẫn không mở miệng, sắc mặt vẫn bồn chồn.

Thanh âm lọt vào tai Hư Trúc rõ ràng là phép Truyền Âm Nhập Mật của người có võ công thượng thừa, muốn nói với ai thì chỉ mình người đó nghe thấy, còn người khác tuy ngồi ngay bên cạnh cũng không nghe được. Nhưng bất luận là nói to hay nói nhỏ thì cũng phải có mở miệng nói, nhưng Hư Trúc chủ ý mãi vẫn chẳng thấy ai máy môi. Y vẫn nghe tiếng mách nước: "Điểm ngũ lục ở vị khứ", liền tuân theo rồi tự nhủ: "Chắc là sư bá tổ rồi. Ngoài sư bá tổ ra, chẳng ai quen biết ta từ trước, thì họ giúp ta để làm gì? Mà chỉ có mình sư bá tổ là chưa nhập cuộc, còn ai nấy đều đã thất bại hết. Sư bá tổ mình thần công thật là phi thường, thi triển phép Truyền Âm Nhập Mật mà không cần mở miệng máy môi. Không biết đến bao giờ mình mới luyện được đến mức này."

Hư Trúc không biết rằng người mách cho mình chính là Thiên hạ đệ nhất ác nhân Ác quán mãn doanh Đoàn Diên Khánh. Vừa rồi lão vì mải mê nghĩ thế cờ nên bị Đinh Xuân Thu giở trò làm rối loạn tâm thần suýt nữa tự sát, may nhờ Hư Trúc đi ẩu một nước mới cứu được mạng lão. Đoàn Diên Khánh thấy Tô Tinh Hà trách mắng Hư Trúc, bèn ngấm ngầm nhắc cho để kéo dài thêm mấy nước, đặng y có đường rút lui. Lão vốn giỏi thuật nói tiếng bụng, nói năng không cần máy miệng, lại dùng nội công thâm hậu để thi triển phép Truyền Âm Nhập Mật khiến hết thảy cao thủ bên cạnh đều không phát giác được.

Thế Trân Lung đã biến đổi rất nhiều, thì ra chỗ bí mật là bên trắng phải tự giết đi một số lớn quân mới có chỗ mà đi tiếp những nước kỳ diệu. Có điều dù là những kỳ thủ siêu việt cũng chưa ai dám nghĩ tới việc phải tự sát như vậy. Số quân trắng bị vây hãm quá nghiêm trọng, ngàn người như một đều phải cố gắng tìm cách thoát vây để xông ra, chẳng ai nghĩ đến việc đi vào tử lộ. Giả tỉ Hư Trúc không nhắm mắt hạ bừa một quân cờ thì e rằng đến ngàn năm sau cũng không một ai phá nổi thế Trân Lung đó.

Đoàn Diên Khánh vốn là một kỳ thủ đệ nhất thiên hạ, năm trước Huỳnh Mi Tăng ở nước Đại Lý thi đấu với lão bị thua xiểng liểng. Nhưng cuộc cờ ngày đó là hai bên đặt quân cờ xuống dần dần, không giống như thế cờ lần này, quân trắng chỗ nào cũng bị vây hãm.

Bọn Cưu Ma Trí, Mộ Dung Phục, Đoàn Dự không biết Đoàn Diên Khánh ngấm ngầm mách nước, chỉ thấy Hư Trúc đi những nước tuyệt diệu ăn luôn hai đám quân đen thì không nhịn được, reo lên khen ngợi.

Huyền Nạn lẩm bẩm: "Cuộc cờ này vốn dĩ ở trong tình trạng được mất thắng bại không rõ ràng, cho nên không có cách phá giải. Nước cờ của Hư Trúc đã hạ đúng chỗ sinh tử, lại không quan trọng chuyện thắng thua, nên mới phá giải được thế Trân Lung sinh tử này." Lão tăng nhân đó tựa hồ như giác ngộ, nhớ lại suốt cuộc đời mình đắm chìm trong võ học, đối với công phu thiền định có bề khiếm khuyết. Huyền Nạn đột nhiên nghĩ thầm: "Ta vẫn chê cười Lung Á tiên sinh và Hàm Cốc bát hữu đi vào đường lệch, ôm đồm tạp học nên võ công không bằng Đinh Xuân Thu. Nhưng suốt đời ta chuyên luyện võ công, không chịu khó tham thiền, không gấp rút chứng nghiệm sinh tử, chẳng lẽ không phải đi vào đường lệch hay sao?" Nghĩ đến đây, cả người lão tăng toát mồ hôi đầm đìa.

Ban đầu Đoàn Dự còn chú ý đến cuộc cờ, về sau chỉ nhìn Vương Ngữ Yên chằm chặp, càng nhìn càng đau lòng vì Vương Ngữ Yên thủy chung chỉ để ý đến Mộ Dung Phục. Đoàn Dự than thầm: "Về đi thôi! Nếu còn ngồi nữa chỉ rước đau khổ vào mình, không chừng hộc máu ra mất." Nhưng chàng than thì than vậy, vẫn không dứt khỏi Vương Ngữ Yên mà đi được. Chàng lẩm bẩm: "Ta phải đợi đến khi Vương cô nương quay lại để nói một câu:" Vương cô nương! Cô nương đã tìm thấy biểu huynh rồi, tại hạ cáo từ. "Nếu nàng nói:" Vâng, công tử cứ tùy tiện "thì ta sẽ ra đi. Nếu nàng nói:" Khoan đã, ta còn có chuyện muốn nói với công tử "thì ta phải đợi xem nàng dặn dò gì.

Thực ra Đoàn Dự cũng biết Vương Ngữ Yên chẳng thèm quay lại nhìn chàng một cái, thì làm gì còn có chuyện muốn nói với chàng? Đột nhiên, mớ tóc mềm mại sau gáy Vương Ngữ Yên hơi động đậy, trống ngực Đoàn Dự đập thình thình, Chàng lẩm bẩm:" Nàng sắp quay lại rồi! "Nhưng chỉ nghe thấy Vương Ngữ Yên thở dài, khẽ gọi:" Biểu huynh! "

Mộ Dung Phục chú ý nhìn bàn cờ, thấy bên trắng đã có vẻ thắng thế, dần dần dồn bên đen vào thế bí. Y lẩm bẩm:" Mấy nước sau này, ta cũng có thể nghĩ ra. Nhưng vạn sự khởi đầu nan, nước cờ đầu tiên thật là cổ quái, ta nghĩ đến suốt đời cũng không ra được. "Vương Ngữ Yên khẽ gọi, y không hề nghe thấy.

Vương Ngữ Yên lại thở dài, từ từ ngoảnh đầu lại. Đoàn Dự thấy vậy, tim đập loạn lên, kêu thầm:" Nàng quay đầu lại! Nàng quay đầu lại! "Quả nhiên khuôn mặt mỹ lệ của Vương Ngữ Yên quay lại. Đoàn Dự thấy mặt nàng thoáng gợn nỗi sầu, khóe mắt tựa hồ có vẻ oán hờn. Lúc nàng đến cùng Mộ Dung Phục thì hoan hỉ vô cùng, sao đột nhiên lại mất cả hứng thú? Đoàn Dự còn đang ngẫm nghĩ, bỗng thấy Vương Ngữ Yên đảo mắt nhìn sang, chạm vào ánh mắt của chàng. Đoàn Dự tiến lên một bước toan hỏi:" Vương cô nương! Cô nương muốn bảo tại hạ điều gì? "Nhưng Vương Ngữ Yên lại từ từ đưa mắt qua phía khác, lơ đãng nhìn xa xa một hồi, lại quay nhìn Mộ Dung Phục.

Trái tim Đoàn Dự chùng hẳn xuống, đau buồn không nói hết! Chàng tự nhủ:" Nàng không phải là không ngó tới ta, nhưng thà nàng không ngó còn hơn. Nàng nhìn ta mà dường như không thấy. Thủy chung tâm trí nàng vẫn để ý vào biểu huynh, có nghĩ gì đến Đoàn Dự đâu? Hỡi ôi! Về đi thôi, về đi thôi! "

Bên này Hư Trúc vẫn nghe Đoàn Diên Khánh chỉ điểm để đi cờ. Cuộc cờ đã gần đến lúc kết thúc, bất luận bên đen đối phó cách nào cũng không bảo toàn được quân số, còn nếu muốn trốn thì bên trắng lại xông ra khỏi vòng vây, thật khó mà gắng gượng nữa.

Tô Tinh Hà ngẫm nghĩ hồi lâu rồi cười hì hì, đi một nước nữa. Đoàn Diên Khánh lại truyền âm nói:" Điểm thất bát ở góc trên bên trái. "Hư Trúc hạ cờ xuống đúng vào điểm đó. Tuy y chơi cờ rất kém, nhưng cũng hiểu rằng như vậy là phá xong, liền vỗ tay cười nói:" Như vậy đã xong chưa? ".

Tô Tinh Hà hoan hỉ chắp tay nói:" Tiểu thần tăng tài năng thiên phú, thật là đáng mừng! "Hư Trúc vội đáp lễ nói:" Không dám! Không dám! Không phải tiểu tăng.. "Nhà sư toan nói mình được sư bá tổ chỉ điểm thì tiếng Truyền Âm Nhập Mật lại vào tai:" Bí mật này phải giữ thật kín, nhất định không được tiết lộ. Nguy hiểm chưa hết đâu, ngươi phải cẩn thận lắm mới được. "Hư Trúc tưởng là Huyền Nạn chỉ đạo cho mình, liền cúi đầu đáp:" Vâng, vâng! "

Tô Tinh Hà đứng lên nói:" Tiên sư bày ra thế cờ này đã mấy chục năm không ai phá được, tiểu thần tăng nay đã phá xong, lão phu cảm phục vô cùng! "Hư Trúc không hiểu nguyên do thế nào, chỉ khiêm tốn nói:" Tiểu tăng đi bừa may mà gặp nước, hoàn toàn nhờ các vị tiền bối thương yêu. Lão tiền bối quá khen, khiến tiểu tăng hổ thẹn vô cùng. "

Tô Tinh Hà đi tới trước ba gian nhà gỗ, giơ tay mời khách:" Xin mời tiểu thần tăng tiến vào. "Hư Trúc thấy ba gian nhà gỗ này thiết kế thật là cổ quái, không có cửa nẻo gì hết, y không biết vào lối nào và vào để làm gì? Hư Trúc đứng ngây người ra, bỗng nghe tiếng truyền âm lại lọt vào tai:" Thế cờ không có lối thoát, phải phá một đường trí mạng để thoát. Căn nhà gỗ này không có cửa, ngươi phải dùng võ công Thiếu Lâm phá ra mà vào. "Hư Trúc liền nói:" Tiểu tăng vô lễ! ", rồi đứng thành cung tiễn bộ chân trước chân sau, giơ tay phải lên đánh một chưởng vào ván gỗ.

Chưởng lực của y rất tầm thường, tới mức Tô Tinh Hà phải tưởng nội công của y đã bị Đinh Xuân Thu hóa giải mất. May mà ván gỗ không chắc chắn gì, Hư Trúc cũng đánh nứt ra được một khe. Y phải đánh thêm hai chưởng nữa mới phá được tấm ván ra, bàn tay đã thấy ngâm ngẩm đau.

Nam Hải Ngạc Thần cười ha hả nói:" Võ công tuyệt học phái Thiếu Lâm sao lại tầm thường đến thế? "Hư Trúc quay mặt lại đáp:" Tiểu tăng là đồ đệ hạng bét trong phái Thiếu Lâm, nên bản lĩnh chẳng ra gì, đó không phải là tuyệt học bản môn. "Y bỗng nghe tiếng truyền âm nói:" Ngươi vào ngay đi, nhớ đừng quay đầu lại, cũng đừng tranh luận với ai. "Hư Trúc nói:" Vâng! "Rồi cất bước tiến vào.

Bỗng nhiên Đinh Xuân Thu lên tiếng gọi:" Đó là cửa nẻo của phái ta, sao tiểu hòa thượng kia dám tự tiện đi vào? ", tiếp theo vang lên hai tiếng ầm ầm. Hư Trúc cảm thấy một luồng kình phong kéo mình trở ra, rồi lại thấy hai đạo kình lực khác đẩy tới sau lưng. Nhà sư không tự chủ được, lăn vào trong nhà.

Vừa rồi Đinh Xuân Thu ngấm ngầm tập kích định đánh chết Hư Trúc, còn Cưu Ma Trí thi triển Khống Hạc Công muốn kéo y ra. Nhưng Đoàn Diên Khánh vận ám kình vào đầu gậy, tiêu trừ chưởng lực của Đinh Xuân Thu, Tô Tinh Hà ở gần Cưu Ma Trí liền phóng luôn hai chưởng để giải khai Khống Hạc Công, đẩy Hư Trúc vào.

Hai phát chướng này mạnh quá, Hư Trúc đứng không vững bị hất ra sau, trán y đập đánh binh một tiếng vào một tấm ván khác, tối tăm mặt mũi suýt ngất đi, một lát mới đứng vững được. Nhà sư sờ lên trán đã thấy một cục u, định thần nhìn lại thì thấy mình đang đứng trong một căn nhà trống rỗng không có đồ đạc gì, cũng chẳng có cửa nẻo chi hết, chỉ có một lỗ thủng trên ván do mình vừa phá vỡ ra để vào. Y đứng thộn mặt ra, nhìn quanh quẩn một hồi, lại muốn chui qua lỗ trống ra ngoài.

Hư Trúc vừa xoay mình thì nghe bên kia tấm ván phía sau có thanh âm già nua cất tiếng hỏi:" Ngươi đã vào đây, sao lại muốn ra? "Hư Trúc vội quay lại nói:" Xin tiền bối chỉ bảo cho đường lối. "Thanh âm đó lại nói:" Đường lối là do tự ngươi tìm ra, không ai chỉ bảo được. Thế cờ ta bày ra đã ba mươi năm không ai phá nổi, thế mà hôm nay ngươi đã tìm ra đường lối rồi. Sao còn không lại đây? "

Hư Trúc nghe đến bốn chữ" thế cờ ta bày "bất giác sởn gai ốc, kinh hãi nói:" Tiền bối.. Tiền bối.. "Lúc nãy Tô Tinh Hà nhắc đi nhắc lại thế cờ đó do tiên sư lão bày ra, thế thì thanh âm này là của người hay của ma? Bỗng nghe tiếng người già đáp lại:" Thời cơ đã đến, không nắm bắt lấy thì sẽ trôi qua! Ta chờ đây đã ba mươi năm, không thể chờ lâu hơn được nữa. Chú nhỏ kia, lại đây mau! "

Hư Trúc nghe thanh âm có vẻ ôn hòa từ ái, liền không nghĩ gì nữa, kê vai vào tấm vách đẩy mạnh. Vách gỗ đã mục nát, liền bể ra một chỗ. Hư Trúc thò đầu nhìn vào trong, cũng chỉ thấy một căn phòng trống rỗng. Y nhìn lại bất giác giật mình, thấy một người lơ lửng trên không. Nhà sư ngỡ là ma quỷ, sợ quá toan xoay mình chạy trốn, thì lại nghe người đó nói:" Ôi! Thì ra là một tiểu hòa thượng. Ôi! Lại là một tiểu hòa thượng mặt mũi xấu xa nữa. Trời ơi! Khó quá, khó quá, khó quá.. "

Hư Trúc nghe lão thở dài ba tiếng, kêu" khó quá "sáu lần. Y định thần nhìn kỹ mới thấy lão bị treo lên xà nhà bằng một sợi dây đen. Vì vách ván phía sau lão cũng màu đen, tiệp màu với sợi dây nên nhìn thoáng qua thì không thấy sợi dây, cứ tưởng là lão tự lơ lửng trên không.

Tướng mạo Hư Trúc quả thật rất xấu xa: Mày rậm, mắt to, mũi hếch lên trời, hai tai vểnh ra đón gió, môi dài như môi lợn. Vừa rồi trán y đập vào vách ván sưng lên một cục, lại càng khó coi. Hư Trúc bị bỏ rơi từ thuở nhỏ, được một nhà sư chùa Thiếu Lâm lòng dạ từ bi nhặt về chùa nuôi. Các nhà sư chùa Thiếu Lâm lúc không chuyên tâm tu hành thì lại lo luyện võ công, chẳng ai để ý tướng mạo Hư Trúc đẹp hay xấu làm gì. Nhà Phật đã dạy: Thể xác con người chỉ là một cái túi da dơ dáy, đẹp hay xấu cũng chẳng có gì đáng bận lòng, ai để ý đến cái túi da này nhiều tức là bị tà ma cám dỗ.

Hư Trúc ngẩng đầu lên nhìn kỹ lão già thì thấy râu lão dài tới ba thước mà sợi nào cũng đen nhánh, tuyệt không lẫn một sợi bạc. Mặt lão đẹp như ngọc, da dẻ mịn màng không có một nếp nhăn. Tuy lão đã già mà vẻ mặt vẫn tươi tắn, phong độ nhàn nhã. Hư Trúc ngắm nghía xong, trong bụng thấy hổ thẹn nghĩ thầm:" Về tướng mạo thì mình so với lão quả là một trời một vực. "Bây giờ nhà sư đã hết sợ hãi, cúi mình thi lễ nói:" Tiểu tăng là Hư Trúc xin bái kiến lão tiền bối! "

Lão kia gật đầu hỏi:" Tên họ ngươi là gì? "Hư Trúc sững sờ đáp:" Tiếu tăng đã xuất gia, không cần biết đến tên họ nữa. "Lão kia hỏi lại:" Trước khi xuất gia, tên họ ngươi là gì? ". Hư Trúc đáp:" Tiểu tăng xuất gia từ nhỏ, thật sự không rõ tên họ. "

Lão kia nhìn Hư Trúc rồi thở dài nói:" Ngươi đã phá được thế cờ của ta thì tài trí không phải tầm thường. Nhưng tướng mạo ngươi xấu thế thì không được rồi! Khó quá, trời ơi, thật là khó quá! Thế này thì uổng công của ta rồi, mà lại uổng cả tính mạng của ngươi nữa. Nhà sư nhỏ tuổi kia! Ta cho một chút lễ vật để nhà sư mang về thôi! "

Hư Trúc nghe lão nói đi nói lại câu" khó quá "thì hào khí nổi lên, liền nói:" Tiểu tăng chơi cờ còn kém lắm, thế cờ của lão tiền bối cũng không phải tiểu tăng tự mình phá được. Nhưng lão tiền bối có việc gì khó khăn cần phải giải quyết, thì dù tiểu tăng bản lĩnh hèn kém cũng cố gắng mà làm. Còn lão tiền bối ban cho lễ vật thì tiểu tăng không dám nhận. "

Lão già nói:" Ngươi có lòng dạ hào hiệp như vậy thì tốt lắm, dù kỳ thuật nông cạn hay võ nghệ hèn kém cũng chẳng can gì. Ngươi đã vào tới đây tức là có tiền duyên với ta. Có điều tướng mạo ngươi.. khó coi quá. "

Hư Trúc mỉm cười nói:" Tướng mạo xấu hay đẹp là tại trời sinh, chẳng những mình không tự chủ, mà cả song thân cũng không thể can thiệp vào được. Tiểu tăng xấu xí làm phiền lòng tiền bối, thì xin cáo từ vậy. "Nói xong y lùi lại hai bước.

Hư Trúc toan quay lưng đi thì lão già nói:" Khoan đã! ", rồi phất nhẹ tay áo một cái vào vai phải y. Tay áo là vật mềm mại, thế mà đè lên vai Hư Trúc khiến người y phải dần dần hạ thấp xuống. Lão già cười nói:" Ngươi còn trẻ mà đã cao ngạo như vậy là hay lắm! "Hư Trúc nói:" Tiểu tăng thực không dám kiêu ngạo, chỉ vì sợ tiền bối phiền lòng nên xin rút lui là hơn. "

Lão già gật đầu, hỏi:" Hôm nay còn có ai đến phá thế cờ nữa không? "Hư Trúc kể hết mọi người, lão già trầm ngâm một lúc rồi nói:" Thế thì cao thủ thiên hạ mười phần có đến sáu bảy tụ tập ở đây rồi. Không hiểu Khô Vinh đại sư chùa Thiên Long nước Đại Lý có đến không? "Hư Trúc đáp:" Trừ sư sãi tệ tự, không thấy một vị tăng lữ nào khác. "

Lão già thở dài lẩm bẩm một mình:" Ta đã chờ mấy mươi năm, dù có chờ thêm nữa cũng chưa chắc gặp được người tốt đẹp cả bề trong lẫn bề ngoài. Việc đời nhiều phần không được như ý thì cũng đành chịu chứ biết làm sao? "Dường như lão già đã quyết định, chỉ hỏi thêm:" Ngươi nói thế cờ này không phải tự ngươi phá giải được ư? Thế thì sao Tô Tinh Hà lại đưa ngươi vào đây? "

Hư Trúc đáp:" Con cờ đầu tiên là tiểu tăng nhắm mắt đặt liều xuống. Còn những nước về sau thì tiểu tăng được sư bá tổ là Huyền Nạn đại sư dùng thuật Truyền Âm Nhập Mật ngấm ngầm chỉ điểm cho. "Rồi nhà sư đem tình hình phá giải thế nào kể hết một lượt. Lão già nói:" Quả là ý trời! Quả là ý trời! "

Đột nhiên nét mặt của lão tươi tỉnh lên, rồi cười nói:" Đó là ý trời muốn vậy, nên người mới nhắm mắt đặt liều mà đúng vào chỗ phá được thế cờ của ta. Thế thì phúc duyên ngươi rất thâm hậu, có thể làm được việc lớn cho ta cũng chưa biết chừng. Hay lắm! Hay lắm! Hài tử, ngươi quỳ xuống lạy ta đi. "

Ở chùa Thiếu Lâm, Hư Trúc gọi những người lớn tuổi đều là sư phụ, sư bá, sư thúc, thậm chí là sư bá tổ, sư thúc tổ. Còn người ngang hàng, thì hoặc là hơn tuổi hoặc là bản lĩnh cao hơn, y đều phải gọi bằng sư huynh, vì thế mà tính khí đã quen phục tùng từ thuở nhỏ. Bây giờ y chưa hiểu chuyện gì, nhưng nghĩ rằng lão này là một bậc tiền bối trong võ lâm, thì có dập đầu lạy mấy lạy cũng là lẽ thường. Hư Trúc nghĩ vậy nên chẳng đắn đo gì nữa, quỳ hai chân xuống rồi dập đầu binh binh lạy luôn bốn lạy. Nhà sư toan đứng lên thì lão già cười nói:" Ngươi phải lạy thêm năm lạy nữa mới đủ, đó là lề luật của bản phái. "Hư Trúc chỉ" vâng "một tiếng rồi lại thêm năm lạy nữa.

Lão già khen:" Hảo hài tử Ngươi lại đây! "Hư Trúc đứng dậy, tiến đến trước mặt lão già.

Lão già nắm lấy cổ tay y, ngắm nghía thân hình một lát. Đột nhiên Hư Trúc cảm thấy mạch môn nóng ran, một luồng nội lực xông vào tâm mạch y, nội công của phái Thiếu Lâm liền theo phản xạ nổi lên chống lại, nội lực lão già vừa đụng phải liền rút về ngay. Hư Trúc không thấy khó chịu gì hết, biết lão chỉ muốn xem nội lực mình nhiều ít ra sao. Bất giác y then đỏ mặt, gượng cười nói:" Ngày thường tiểu tăng chỉ chuyên đọc kinh Phật, lúc còn nhỏ tính ưa đùa giỡn nên không để ý đến việc rèn luyện nội công, đến nỗi tiền bối phải chê cười. "

Không ngờ lão già lại hoan hỉ cười nói:" Hay lắm! Ngươi luyện nội công Thiếu Lâm càng ít, ta lại càng đỡ tốn công. "Lúc lão nói như vậy, Hư Trúc cảm thấy toàn thân mềm nhũn, tưởng chừng như đang ngồi trong một bồn nước nóng. Từ những lỗ chân lông dường như tiết ra một luồng nhiệt khí, y cảm thấy dễ chịu vô cùng.

Sau một lúc, lão già buông cổ tay Hư Trúc ra cười nói:" Xong rồi! Ta đã dùng Hóa Công Đại Pháp của bản môn trừ bỏ hết nội lực của phái Thiếu Lâm trong mình ngươi. "

Hư Trúc cả kinh la lên:" Tiền bối.. nói sao? "Y nhảy lên một cái, lúc hai chân vừa chấm đất, đầu gối liền nhũn ra ngồi phệt xuống đất. Y cảm thấy toàn thân không còn chút khí lực nào, đầu óc hôn mê, tưởng chừng như trời đất quay cuồng. Y biết rằng lão nói vậy là chuyện thực, bất giác nước mắt tuôn rơi, vừa khóc vừa nói:" Tiểu tăng.. cùng tiền bối.. đã không thù oán lại không đắc tội gì. Sao tiền bối lại hại tiểu tăng đến thế này? "

Lão kia cười nói:" Sao ngươi ăn nói kỳ quặc thế? Ngươi không kêu ta bằng sư phụ, tự xưng là đệ tử, mà lại kêu ta bằng tiền bối rồi tự xưng là tiểu tăng, thì còn ra thể thống gì nữa? "Hư Trúc cả kinh nói:" Sao? Tiền bối có phải là sư phụ tiểu tăng đâu? "Lão kia đáp:" Ngươi vừa dập đầu lạy ta chín lạy, đó chính là nghi lễ bái sư. "Hư Trúc vội đáp:" Không! Không! Tiểu tăng là đệ tử phái Thiếu Lâm, không thể thờ người khác làm thầy. Tiền bối lại có tà thuật hại người, tiểu tăng nhất quyết không học. "

Lão kia cười hỏi:" Có thực ngươi không học chăng? "Nói xong lão phất hai tay áo để lên vai Hư Trúc, Hư Trúc tưởng chừng như vai mình có một hòn núi nhỏ đè lên, y không đứng vững được nữa, hai chân nhũn ra, ngồi phệt xuống đất. Nhưng miệng y vẫn không ngớt la:" Tiền bối có đánh chết thì tiểu tăng cũng không học. "

Lão kia cười ha hả, đột nhiên tung người lên lộn nửa vòng, đè đúng lên người Hư Trúc, chiếc khăn đội trên đầu lão rơi vào góc nhà. Chân trái lão móc vào xà nhà, lộn ngược đầu xuống đặt trên đỉnh đầu nhà sư.

Hư Trúc cả kinh hỏi:" Tiền bối.. làm cái gì thế? ", rồi cố đảo người để gỡ đầu mình ra. Nhưng đầu lão kia đã dính chặt vào đầu y, tựa như có dán keo. Đầu Hư Trúc đảo sang trái thì người lão cũng xiêu qua trái, Hư Trúc đảo qua phải thì người lão lại xiêu qua phải. Người lão cứ thế mà đu đưa tựa như cây liễu trước gió.

Hư Trúc kinh ngạc vô cùng, đưa hai tay lên cố lôi kéo người lão xuống. Nhưng nhà sư cảm thấy tay mình mềm xèo không còn chút khí lực nào, thì bồn chồn nghĩ thầm:" Mình trúng phải tà thuật Hóa Công Đại Pháp, võ công đã mất hết mà cũng không còn đủ sức để mặc áo nhai cơm nữa. Từ đây mình sẽ thành người tàn tật, biết làm thế nào đây? Đột nhiên Hư Trúc thấy huyệt Bách Hội trên đỉnh đầu bị những tia nhiệt khí xông vào trong óc. Nhà sư kêu thầm: "Nguy rồi! Đời ta đến đây là hết!", cảm thấy đầu óc mỗi lúc mỗi nóng thêm, rồi chỉ trong chốc lát là mắt hoa đầu váng, tưởng chừng như đầu mình sắp vỡ tung. Luông nhiệt khí này lại từ trên đầu chạy xuống thân thể, chỉ trong khoảnh khắc, y không chịu nổi nữa, ngất đi.

Tuy Hư Trúc ngất đi, nhưng trong đầu vẫn hiện ra vô số ảo ảnh, lúc tưởng như bay trên trời, lúc tưởng như lặn dưới biển, có lúc lại tưởng mình đang tụng kinh ở chùa Thiếu Lâm, có lúc tưởng như đang ra sức luyện một môn võ công gì đó mà không thành tựu nổi. Lúc Hư Trúc tỉnh lại, y không biết mình ngất đi đã bao lâu, chỉ thấy hình như trời đang mưa.

Hư Trúc mở mắt ra, thì thấy vô số giọt nước đang lăn trên mặt mình, nhưng không phải là nước mưa mà chính là mồ hôi lão già kia. Hư Trúc nhìn lão già thì thấy đầy mồ hôi đang nhỏ xuống tong tỏng, khắp mặt mũi, đầu tóc, tay chân lão, chỗ nào cũng tuôn mồ hôi ra. Lúc này y mới nhận ra mình đang nằm dưới đất, còn lão già ngồi bên cạnh, hai cái đầu đã rời nhau từ lúc nào không biết.

Hư Trúc ngồi nhỏm dậy, ngơ ngác hỏi: "Tiền bối!.." Y bất giác giật mình không nói tiếp được, vì phát giác ra lão già tựa như đã biến thành một người khác. Bộ mặt đẹp như ngọc bây giờ đầy nét nhăn nheo, mái tóc vừa rậm vừa đen nhánh thì đã rụng hết, còn cái đầu trọc lóc. Bộ râu dài đen nhánh của lão cũng đã bạc phơ. Hư Trúc kinh ngạc vô cùng, tự hỏi: "Mình ngất đi bao lâu rồi? Ba chục năm hay năm chục năm rồi ư? Sao lão này bây giờ lại già đến thế, không tới trăm hai chục tuổi thì cũng phải trăm tuổi chứ không ít.".

Cặp mắt lão già lờ đờ như mất hết sinh khí, trên bộ mặt nhăn nheo thoáng hiện một nụ cười. Lão nói: "Hoàn thành công việc rồi! Hài nhi, phúc trạch của ngươi còn thâm hậu hơn cả ta kỳ vọng. Ngươi thử phóng chưởng vào vách ván mà coi!".

Hư Trúc chẳng hiểu tí gì, nhưng cũng vâng lời phóng chưởng ra chỗ không. Bỗng nghe mấy tiếng lắc cắc, nửa bức vách ván lập tức gãy ra. Giả tỉ nhà sư dùng toàn lực phóng chưởng thì còn ghê gớm hơn nhiều, Hư Trúc ngẩn người ra hỏi: "Thế này là sao?"

Lão già tỏ vẻ cực kỳ hoan hỉ, cười nói: "Ngươi hỏi chuyện gì?" Hư Trúc hỏi: "Tại sao.. đột nhiên công lực tiểu tăng lại mạnh đến thế?" Lão già mỉm cười đáp: "Nếu người tự tập lấy thì suốt đời cũng chưa được một phần. Nội lực của sư phụ ngươi khổ luyện bảy chục năm trời há phải chuyện tầm thường?"

Hư Trúc biết là hỏng bét rồi, kêu lên: "Tiền bối.. nói cái gì bảy mươi năm khổ luyện?" Lão già mỉm cười nói: "Ngươi còn chưa hiểu ư? Có thật ngươi chưa hiểu không?"

Hư Trúc đã hiểu ý lão già, có điều diễn biến quá đột ngột khiến y bàng hoàng, ấp úng hỏi lại: "Lão tiền bối đã truyền cho tiểu tăng một môn thần công gì đó phải không?"

Lão già cười hỏi: "Ngươi vẫn không kêu ta bằng sư phụ ư?" Hư Trúc cúi đầu đáp: "Tiểu tăng là đệ tử phái Thiếu Lâm, không dám phản bội sư môn qui đầu phái khác." Lão già nói: "Trong thân thể ngươi không còn chút công lực Thiếu Lâm nào thì sao gọi là đệ tử phái Thiếu Lâm được? Nội thể ngươi đã súc tích bảy mươi năm thần công của phái Tiêu Dao thì sao lại không phải là đệ tử bản phái?" Hư Trúc chưa từng nghe nói đến phái Tiêu Dao, buột miệng hỏi lại: "Phái Tiêu Dao.." Lão già mỉm cười ngắt lời đáp: "Theo chính đạo của trời đất, phân rõ lục khí của vũ trụ, ngao du đến chỗ vô cùng, đó chính là Tiêu Dao. Ngươi nhảy lên một cái thử xem."

Hư Trúc nổi tính hiếu kỳ, nhún chân đạp mạnh xuống đất, nhẹ nhàng nhảy lên. Đột nhiên nghe binh một tiếng, đầu nhà sư xuyên thủng mái nhà, rồi trước mắt sáng lòa. Y không hiểu mình sẽ bay lên cao tới đâu, bèn đưa tay ra giữ chặt lấy mái nhà cho khỏi lên cao nữa, rồi mới từ từ hạ mình xuống đất. Y tưởng như mình biết bay, nhất thời chưa thấy vui sướng gì mà chỉ thấy kinh hãi.

Lão già hỏi: "Ngươi thấy thế nào? Hư Trúc đáp:" Tiểu tăng.. đã đi vào con đường ma quỷ gì đây? "Lão già nói:" Ngươi ngồi xuống đây, ta nói rõ cho mà nghe. Không còn nhiều thời giờ để nói rườm rà, phải đi ngay vào chuyện chính. Ngươi muốn giữ nguyên môn phái, không chịu bái ta làm sư phụ thì ta cũng không ép. "Nói tới đây lão đổi giọng năn nỉ:" Tiểu sư phụ ơi! Ta thỉnh cầu tiểu sư phụ giúp ta một việc khẩn cấp, tiểu sư phụ có nhận lời chăng? ".

Bản tính Hư Trúc đã thích giúp đỡ người, y lại thấm nhuần giới luật của nhà Phật coi trọng việc bố thí, thấy người gặp nạn thì phải xả thân giúp đỡ. Y bèn nói:" Tiền bối đã gặp nguy, thì tiểu tăng phải cố gắng cứu trợ. "Y vừa nói ra khỏi miệng, lại nghĩ công phu của lão này có mấy phần bàng môn tả đạo, bèn giao hẹn:" Nếu tiền bối sai bảo tiểu tăng làm việc mờ ám thì không thể tuân mệnh được. "

Lão già nhăn nhó cười hỏi:" Việc như thế nào là mờ ám? "Hư Trúc chưng hửng đáp:" Tiểu tăng là đệ tử nhà Phật. Việc gì có hại cho người khác thì tiểu tăng nhất định không làm. "Lão già nói:" Có kẻ tàn ác, vô duyên vô cớ giết nhiều người vô tội. Giả tỉ ta nhờ ngươi trừ diệt hắn đi thì ngươi có thuận chăng? "Hư Trúc khẳng khái đáp:" Trước tiên là tiểu tăng cố tìm lời khuyên giải hắn sửa đổi lỗi lầm, quay về nẻo thiện. "Lão kia hỏi lại:" Nếu hắn ngoan cố không chịu tỉnh ngộ thì sao? "Hư Trúc đứng thẳng người lên nói:" Hàng phục ma quái để trừ hại cho đời là việc phải làm. Chỉ sợ tiểu tăng bản lĩnh tầm thường không làm nổi mà thôi. "

Lão già hỏi:" Vậy ngươi ưng chịu lời ta rồi chứ? "Hư Trúc gật đầu đáp:" Tiểu tăng ưng chịu rồi! "Lão già tỏ vẻ vui mừng nói:" Hay lắm! Ta nhờ ngươi đi giết một tên đại ác, chính là đệ tử ta tên gọi Đinh Xuân Thu. Hiện nay võ lâm gọi hắn là Tinh Tú Lão Quái. "

Hư Trúc thở phào một cái như trút được gánh nặng trong lòng. Y đã biết Tinh Tú Lão Quái nổi tiếng độc ác, nhiều lần các bậc trưởng bối ở chùa Thiếu Lâm cũng đã đề cập đến lão quái này. Y liền nói:" Việc trừ diệt Tinh Tú Lão Quái thì bất cứ ai trong võ lâm cũng nên làm. Chỉ sợ tiểu tăng bản lĩnh tầm thường, không làm nổi. "Nói tới đây ngẩng lên nhìn lão già, bỗng thấy trên mặt lão có vẻ trào lộng. Nhà sư hiểu ngay bốn chữ" bản lĩnh tầm thường "bây giờ nghe không ổn nữa.

Lão già nói:" Bản lĩnh người bây giờ chẳng kém gì Tinh Tú Lão Quái, nhưng muốn trừ diệt hắn thì quả là chưa đủ. Nhưng ngươi khỏi lo, ta đã có kế hoạch xếp đặt mọi sự. "

Hư Trúc nói:" Tiểu tăng đã từng nghe Tiết Mộ Hoa thí chủ kể đến chuyện ác của Đinh.. Đinh thí chủ ở Tinh Tú Hải. Tiểu tăng vẫn tưởng lão thí chủ đã chết rồi, không ngờ còn ở nhân gian, vậy thì tốt quá. "

Lão già thở dài nói:" Mấy năm trước bỗng dưng nghịch đồ Đinh Xuân Thu sinh sự đánh ta rớt xuống vực thẳm, lão phu suýt chết dưới tay hắn. Cũng may đại đồ đệ Tô Tinh Hà giả câm giả điếc, giấu giếm được tai mắt của nghịch đồ nên lão phu mới sống thêm được ba mươi năm nay. Tư chất của Tô Tinh Hà cũng không tệ, chỉ tiếc rằng ta dẫn dắt nhầm đường, hắn chỉ say mê học những môn tạp học cầm kỳ thi họa, nhất quyết không chịu học võ công thượng thừa. Ba mươi năm nay ta chỉ mong mỏi tìm được một đồ đệ hợp ý để truyền thụ võ công một đời, rồi bảo hắn đi diệt Đinh Xuân Thu. Nhưng cơ duyên không phải là dễ gặp. Chỉ thông minh mà không lương thiện cũng chưa chắc là tốt, không chừng đi đến chỗ nuôi hổ trong nhà. Còn phần lớn những người bản tính lương thiện thì lại không đủ ngộ tính. Gần đây ta tự biết mạng mình sắp tận rồi, không thể đợi được nữa, nên mới công bố thế cờ Trân Lung ra thiên hạ để tìm một thiếu niên vừa thông minh vừa tuấn tú về truyền thụ võ công. "

Hư Trúc nghe lão nói đến người thông minh tuấn tú thì nghĩ thầm:" Mình cũng không ngu dốt gì lắm, nhưng hai chữ tuấn tú thì thật không đương nổi. "Y bèn cúi đầu xuống nói:" Trên thế gian chẳng thiếu gì người tuấn nhã. Ngay ngoài kia cũng có hai người là Mộ Dung công tử và Đoàn công tử. Tiểu tăng đưa họ vào để tiền bối xem thử, có được chăng? ".

Lão già cười ha hả nói:" Nay lão phu đã đem Bắc Minh Thần Công tu luyện bảy mươi năm trời truyền vào thân thể ngươi, làm sao truyền cho người thứ hai được nữa? "Hư Trúc kinh hãi đáp:" Tiền bối.. tiền bối đã đem công phu rèn luyện suốt đời truyền hết cho tiểu tăng ư? Tiểu tăng.. tiểu tăng làm sao báo đáp nổi ơn đức đó? "

Lão già nói:" Việc này đối với ngươi là họa hay là phúc, bây giờ khó mà nói được. Võ công cao cường chưa hẳn đã phúc. Ngươi nghĩ mà xem, vô số người trên thế gian chẳng biết chút võ công nào, thì lại không phải bận tâm lo nghĩ gì, tránh hết cạnh tranh cùng phiền não. Giả tỉ hồi trước ta chỉ học cầm, học kỳ, học thi, học họa, không theo đuổi võ học, thì chắc là đời ta sung sướng hơn nhiều. "Lão nói đến đây, thở dài một tiếng rồi ngẩng đầu lên nhìn mông lung qua cái lỗ trên nóc mà đầu Hư Trúc vừa đâm thủng, tựa như đang nhớ lại không ít chuyện quá khứ. Hồi lâu lão mới nói tiếp:" Hài tử! Đinh Xuân Thu tin rằng ta chết dưới tay hắn lâu rồi, nên hắn hành sự càn rỡ không kiêng nể ai nữa. Đây là một bức tranh, vẽ lại nơi ta đã hưởng phúc thanh nhàn nhiều năm trước, ở trong Vô Lượng Sơn nước Đại Lý. Ngươi đến đó mà tìm những kinh thư võ học ta cất giấu, theo đó mà tu tập võ công, chắc chắn sẽ giỏi bằng Đinh Xuân Thu. Nhưng tư chất của ngươi không phù hợp với võ công bản môn lắm, e rằng tập luyện nhiều trở ngại, không chừng còn bị nguy hiểm nữa. Bởi vậy ngươi phải vào trong thạch động của Vô Lượng Sơn, tìm vị nữ tiền bối trong đó mà nhờ chỉ điểm. Nàng thấy người tướng mạo xấu xa, chắc là không chịu dạy đâu, ngươi phải cầu xin nàng nể mặt ta mới được. "Lão nói đến đây, nổi lên ho liên tục, rồi ngồi thở hổn hển. Một lát sau, lão lấy trong bọc ra một cuộn tranh nhét vào tay Hư Trúc.

Hư Trúc thấy khó nghĩ, bèn nói:" Tiểu tăng học võ chưa tới đâu, lần này chỉ là vâng lệnh sư phụ xuống núi, đưa tin xong lập tức phải về chùa. Việc gì mà phương trượng bản tự cùng sư phụ không cho phép, thì tiểu tăng không tuân theo lời dặn của tiền bối được. "

Lão già nhăn nhó cười nói:" Nếu ý trời muốn để ác nhân làm càn thì ta cũng đành chịu, chẳng biết làm sao nữa. Ngươi.. Ngươi.. "Lão đang nói dở câu, đột nhiên toàn thân run bắn lên, từ từ quị xuống, phải chống tay xuống đất, rõ ràng đã sức cùng lực kiệt!

Hư Trúc cả kinh, vội đưa tay ra đỡ lão dậy, nói:" Lão.. lão tiền bối! Tiền bối làm sao vậy? "Lão già đáp:" Ta đã chịu đau khổ ba mươi năm trời, nội công bảy mươi năm khổ luyện cũng truyền hết cho ngươi rồi, hôm nay mệnh trời đã hết. Hài tử! Ngươi không chịu kêu ta một tiếng sư phụ hay sao? "Mấy câu này lão nói nhát gừng, hơi thở không liên tục được nữa.

Hư Trúc nhìn thấy đôi mắt lão già tỏ vẻ khẩn cầu trông rất tội nghiệp, bất giác y mềm lòng, buột miệng gọi lên hai tiếng:" Sư phụ! ".

Lão già cả mừng, ráng sức rút chiếc nhẫn bằng bảo thạch màu đen bên tay trái ra, toan đeo vào tay Hư Trúc, nhưng ngươi chẳng còn một chút sức lực, tay run run nắm không chặt, Hư Trúc lại gọi:" Sư phụ! ", rồi cầm lấy cái nhẫn tự đeo vào tay mình.

Lão già nói:" Hay! Hay lắm!.. Hài tử.. ngươi là đệ tử thứ ba của ta.. Ngươi.. ngươi kêu Tô Tinh Hà bằng đại sư ca!.. Ngươi họ gì? "Hư Trúc đáp:" Thật sự đệ tử không biết. "Lão già nói:" Tướng mạo ngươi có chỗ khó coi, tất còn bị nhiều phen hoạn nạn. Thôi thì đành phó mặc cho trời! Đáng tiếc.. thật là đáng tiếc! "Thanh âm lão mỗi lúc một yếu đi, đến cuối câu thì nghe không rõ nữa. Đột nhiên người lão gục ra trước, trán dập xuống đất đánh binh một tiếng, rồi không nhúc nhích gì nữa.

Hư Trúc gấp rút đặt tay lên mũi lão, thì thấy hơi thở đã tuyệt rồi. Y bèn chắp tay tụng niệm:" Nam Mô A Di Đà Phật! Nam Mô A Di Đà Phật! Cầu A Di Đà Phật, Quan Thế Âm Bồ Tát, Đại Thế Chí Bồ Tát, tiếp dẫn hương hồn lão tiên sinh về cõi tây phương cực lạc. "

Hư Trúc chỉ mới ở bên lão chưa tới một giờ, kể ra cũng chưa có tình nghĩa gì sâu sắc cho lắm. Nhưng y nghĩ tới lão đối với mình như ruột thịt, mình lại đã thừa hưởng bảy mươi năm thần công của lão, tựa hồ một bộ phận của lão đã hòa nhập vào nội thể của mình. Lúc này lão chết đi, nhà sư không khỏi xúc động trong lòng, liền khóc rống lên.

Hư Trúc khóc một hồi rồi quì xuống đất, hướng về di thể lão già lạy mấy lạy, lâm râm khấn vái:" Lão tiền bối! Lúc nãy tiểu tăng gọi lão tiền bối bằng sư phụ, là chuyện giả chứ không phải thật. Lão tiền bối có linh thiêng xin đừng trách tiểu tăng!"Khấn xong y quay người đi ra, chui qua lỗ thủng trên hai lần vách ván ra ngoài, thân thể nhẹ nhàng khác hẳn lúc vào, tựa như đã qua một lần đầu thai chuyển kiếp.

Comments

0 comments

Trước Tiếp
 
34,431 ❤︎ Bài viết: 2241 Tìm chủ đề
Hồi 32: Người câm trổ tài hùng biện, nhà sư lãnh phái Tiêu Dao

Hư Trúc ra khỏi căn nhà gỗ bỗng giật mình, thấy giữa bãi đất trống có một đám lửa lớn, dưới đất có bảy tám thân cây tùng bị đánh gãy nằm ngổn ngang. Y không ngờ mình mới vào căn nhà gỗ chưa bao lâu mà bên ngoài đã xảy ra những biến cố trời long đất lở. Chắc những cây tùng này đã đổ xuống lúc Hư Trúc ngất đi nên y chẳng hay biết gì.

Mọi người bên ngoài đã chia thành hai phe. Lung Á lão nhân Tô Tinh Hà ngồi ở đầu bên phải, bọn Huyền Nạn, Khang Quảng Lăng, Tiết Mộ Hoa.. đứng đằng sau lão. Tinh Tú lão quái Đinh Xuân Thu ngồi đầu bên trái, sau lưng lão có tên đầu sắt Du Thản Chi cùng bọn đệ tử phái Tinh Tú. Còn bọn Mộ Dung Phục, Vương Ngữ Yên, Đoàn Dự, Cưu Ma Trí, Đoàn Diên Khánh, Nam Hải Ngạc Thần thì đứng ở xa xa mà xem.

Giữa Tô Tinh Hà và Đinh Xuân Thu đang có một cây cột lửa cháy rực trời, hai lão đều vận chưởng lực để đẩy sang đối phương. Lúc này cây cột lửa đang từ từ lấn sang phải, rõ ràng Đinh Xuân Thu đang chiếm thượng phong.

Không ai để ý đến Hư Trúc từ trong nhà đi ra, vì mọi người đều chăm chú nhìn cây cột lửa. Đương nhiên Vương Ngữ Yên chỉ quan tâm đến biểu huynh là Mộ Dung Phục, còn Đoàn Dự thì để hết tâm trí vào Vương Ngữ Yên. Hai người này chẳng thèm đưa mắt nhìn Hư Trúc lần nào, mà hình như cả cây cột lửa đang cháy rực trời họ cũng không nhìn thấy.

Hư Trúc đi vòng sau lưng mọi người qua bên phải, đứng bên sư bá tổ Huyền Nạn. Y thấy cây cột lửa cứ nhích dần sang phải. Tô Tinh Hà đang vận động chân khí, áo lão phồng lên trông như cánh buồm căng gió, hai tay không ngớt phóng chưởng đẩy ra.

Bên kia Đinh Xuân Thu vẫn cười nói tự nhiên, tay áo phất phơ nhẹ nhàng như đang ngồi hóng mát. Bọn đệ tử phái Tinh Tú đang thi nhau tâng bốc sư phụ. Nào là: "Tinh Tú Lão Tiên nhắc vật nặng cũng nhẹ như không, thần thông trên đời có một. Bữa nay các ngươi sẽ được mở rộng tầm mắt." "Sư phụ ta còn muốn giáo huấn nên chỉ từ từ thúc đẩy thần công, khi nào lão nhân gia quyết định tru diệt lão họ Tô thì chỉ đẩy mạnh một cái là xong." "Kẻ nào chưa chịu khuất phục thì cứ lấy một chọi một nếm thử thần công của phái Tinh Tú." "Thiên thư đã ghi rõ phái Tinh Tú là thiên hạ vô địch. Kẻ nào lớn mật giở trò châu chấu đá xe thì cũng như tự sát mà thôi."

Giả tỉ bọn Cưu Ma Trí, Mộ Dung Phục, Đoàn Diên Khánh nghe chúng khoác lác mà ngứa tai xuất thủ tấn công Đinh Xuân Thu thì Tinh Tú Lão Quái bản lĩnh tới đâu cũng không chống nổi. Song bọn Cưu Ma Trí cũng chẳng có thiện cảm gì với Lung Á lão nhân Tô Tinh Hà, nên chẳng giải nguy cho lão làm gì, vả lại ai cũng sợ người khác nhân lúc mình sơ hở mà hạ thủ. Vì vậy mà mặc kệ bọn đệ tử phái Tinh Tú bốc thơm sư phụ chúng lên tới mây xanh, bọn Cưu Ma Trí chỉ tủm tỉm cười chứ không nói gì.

Đột nhiên cây cột lửa lướt tới, lửa liếm vào người Tô Tinh Hà, mấy chòm râu dài của lão bị cháy bay mùi khét lẹt. Tô Tinh Hà phải cố gắng lắm mới đẩy được cây cột lửa ra cách người lão không đầy hai thước. Hư Trúc kinh hãi nghĩ thầm: "Ta không nhìn nhận lão họ Tô kia là sư huynh, nhưng ít nhiều cũng có liên hệ. Bây giờ lão sắp bị đốt chết, ta biết làm thế nào cho phải?".

Bỗng nghe tiếng "tùng tùng beng beng" nổi lên ầm ĩ, thì ra bọn đệ tử phái Tinh Tú lôi ra nào trống, nào thanh la não bạt, khua lên để tán dương oai phong của sư phụ. Lại còn mấy gã phất cờ xanh vàng đỏ tím đủ màu, lớn tiếng reo hò. Trước nay cao thủ đấu nội lực, chưa có ai đem trống chiêng cờ xí để trợ oai bao giờ, việc này thật là hi hữu trong võ lâm. Cưu Ma Trí cười ha hả nói: "Tinh Tú Lão Quái thật là mặt dày cổ kim hiếm thấy!"

Giữa những tiếng chiêng trống om sòm, một tên đệ tử phái Tinh Tú lấy ra một tờ giấy, lớn tiếng xướng lên một đoạn văn biền ngẫu để ca ngợi Tinh Tú Lão Tiên dương oai ở Trung Nguyên. Không hiểu tên đồ gàn nào đã soạn ra bài này để tán tụng công đức của Tinh Tú Lão Quái, thật là vừa huênh hoang vừa ngu xuẩn, nếu Hứa Do cùng Sào Phủ nghe xong mà tại chưa điếc thì phải dẫn nhau ra biển rửa mới sạch nổi.

Chẳng hiểu Tinh Tú Lão Quái có cần đến những lời tán dương vô sỉ đó không, nhưng nội lực của lão quả là dạt dào như sóng cồn. Giữa tiếng chiêng trống pha lẫn những lời nịnh hót vang lừng, cây cột lửa lại tiến lên nửa thước.

Đột nhiên có tiếng bước chân, rồi hơn hai chục đại hán từ sau nhà chạy ra đứng chắn trước mặt Tô Tinh Hà, Đây là những gã câm điếc đệ tử của lão, mới đây đã khiêng bọn Huyền Nạn lên núi. Đinh Xuân Thu vận thêm kình lực, đẩy cây cột lửa tới đốt bọn đại hán đó, lập tức da thịt cháy xèo xèo mà hơn hai mươi người vẫn đứng yên không nhúc nhích, mặc cho lửa cháy. Họ lại bị câm, không lên tiếng kêu réo gì, thành ra tấn kịch lại càng bi tráng. Ai nhìn thảm cảnh này cũng không khởi động lòng. Chỉ trong khoảnh khắc, cây cột lửa đã đốt một số gã câm điếc cháy thành than.

Đoàn Dự la lên: "Không được tàn nhẫn như thế!" Chàng vung tay phải ra toan dùng Lục Mạch Thần Kiếm để đánh Đinh Xuân Thu, nhưng nội lực đầy rẫy mà chỉ chuyển qua chuyển lại chứ không theo đầu ngón tay phóng ra ngoài được. Đoàn Dự trán toát mồ hôi, cất tiếng gọi lớn: "Mộ Dung huynh! Huynh mau xuất thủ cứu bọn kia đi!" Mộ Dung Phục đáp: "Có Đoàn huynh ở đây, tiểu đệ không dám múa rìu qua mắt thợ. Đoàn huynh thi triển Lục Mạch Thần Kiếm đi!"

Đoàn Diên Khánh đến sau, không nhìn thấy Đoàn Dự phóng Lục Mạch Thần Kiếm. Lão vừa nghe Mộ Dung Phục nói bất giác run lên, liếc mắt nhìn Đoàn Dự để xem chàng có hiểu môn thần công đó của họ Đoàn Đại Lý thật không, nhưng chỉ thấy chàng đưa ngón trỏ bên phải ra điểm điểm vạch vạch rất có phương pháp, mà nội lực không phát huy được chút nào. Lão không hiểu Đoàn Dự không có căn bản võ công nên không sử dụng theo ý muốn được, bèn lẩm bẩm: "Có Lục Mạch Thần Kiếm quái gì đâu mà mình phải sợ? Chắc thắng lỏi này chỉ hư trương thanh thế dọa người. Họ Đoàn ta tuy có môn Lục Mạch Thần Kiếm thật, nhưng đã có ai luyện được đâu?"

Mộ Dung Phục thấy Đoàn Dự không chịu xuất thủ, lại nghĩ rằng chàng có ý giấu giếm. Y là người tâm cơ sâu sắc, không chịu hành động khinh suất, bèn đứng yên để xem diễn biến.

Sau một lúc nữa, hơn hai chục tên đại hán câm điếc đã bị cây cột lửa đốt cháy thành than đến một nửa, một nửa còn lại đều bị trọng thương. Bỗng nghe chiêng trống khua vang lên, Đinh Xuân Thu phất tay áo bào hai cái, cây cột lửa vượt qua đám đại hán câm điếc, tiến đến sát Tô Tinh Hà.

Tiết Mộ Hoa hô to: "Chớ hại sư phụ ta!", rồi tung mình nhảy đến trước cây cột lửa. Tô Tinh Hà tay phóng một chưởng đẩy gã ra, miệng bảo: "Đừng chết vô ích", rồi vận hết toàn lực vào tay trái đánh tới cây cột lửa. Nhưng lúc này nội lực của lão đã hao tổn rất nhiều, phát chưởng này chỉ ngăn cản được một chút, toàn thân liền nóng bỏng, trước mắt ngọn lửa cháy đỏ rực. Khi xưa lão phát thệ giả câm giả điếc để được sống thêm ba mươi năm, công lực của lão đã tiến triển rất nhiều, song Đinh Xuân Thu càng tiến bộ mau lẹ hơn, so với ba mươi năm trước thì võ công sư huynh sư đệ lại càng chênh lệch. Lúc này Tô Tinh Hà chẳng khác nào ngọn đèn hết dầu, chắc chắn không thoát khỏi độc thủ của Đinh lão quái. Tô Tinh Hà lại nghĩ đến Đinh Xuân Thu giết xong mình rồi sẽ sấn vào nhà giết nốt sư phụ. Dường như trong lòng lão lại còn nóng bỏng hơn cả da thịt bên ngoài đang bị cây cột lửa táp tới gần.

Hư Trúc thấy tình hình cực kỳ nguy cấp mà Tô Tinh Hà vẫn đứng nguyên tại chỗ không lùi nửa bước. Y không nhịn được nữa, tiến lại nắm lấy lưng Tô Tinh Hà gọi: "Chết cũng vô ích, tránh đi cho mau!" Thật là đúng lúc, Tô Tinh Hà đang phóng chưởng ra nhưng chưởng lực rất suy yếu chẳng còn công hiệu gì, bỗng dưng lão cảm thấy sau lưng có luồng nội lực hùng hậu vô cùng truyền vào, mà lại đúng hệt như nội lực trong người lão. Thế là kình lực của phát chưởng tăng gia không biết mấy lần, những tiếng vù vù vang lên, cây cột lửa chạy ngược trở lại Đinh Xuân Thu, bọn đệ tử phái Tinh Tú đứng bên cũng bị lửa táp vào người.

Lúc này tiếng chiêng trống loạn xạ cả lên, mất cả nhịp nhàng. Những câu chúc tụng "Phái Tinh Tú uy chấn Trung Nguyên" "Tinh Tú Lão Tiên thiên hạ vô địch" bỗng bị trộn lẫn với những tiếng chửi bới tục tằn, tiếng gọi nhau kêu cứu.

Đinh Xuân Thu giật bắn người. Thực ra thì nội lực Hư Trúc hợp với chưởng phong của Tô Tinh Hà cũng chưa chắc đã thắng nổi, nhưng Tinh Tú Lão Quái đang nắm vững phần thắng thì bị phản kích bất ngờ nên mới sợ hãi bủn rủn chân tay. Đồng thời lão quái phát giác ra chưởng phong của đối phương bao hàm nội lực mãnh liệt hơn của sư huynh Tô Tinh Hà nhiều, mà hiển nhiên là công phu bản phái. Lão tự hỏi: "Sư phụ hiển linh nhập vào sư huynh để đòi nợ mình chăng?" Thế là thần hồn nát thần tính, lão run lẩy bẩy, không ngưng tụ nội lực được nữa, cây cột lửa đã tới sát bên mình mà không còn sức đẩy ra.

Hòa trong tiếng hoan hô cùng tiếng kêu cứu của bọn đệ tử Tinh Tú, lại thêm tiếng Đinh Xuân Thu la lên: "Thiết diện đồ nhi! Xuất thủ mau lên!"

Du Thản Chi không suy nghĩ gì nữa, vội tung mình nhảy ra, phóng cả song chưởng đẩy vào cây cột lửa. Những tiếng xèo xèo vang lên, luồng khí âm hàn cực độ dập cây cột lửa tắt ngấm lập tức, cả luồng khói xanh cũng tiêu tan rất mau. Dưới đất chỉ còn lại những khúc gỗ thông to lớn đã cháy thành than.

Râu cùng lông mày Đinh Xuân Thu bị cháy mất một nửa, y phục cũng thủng lỗ chỗ, vẻ mặt cực kỳ hoảng hốt. Trong lòng lão vẫn đang sợ âm hồn sư phụ hiển linh báo phục, bèn cất tiếng gọi: "Đi thôi!". Lão lạng người một cái đã ra xa đến bảy tám trượng.

Bọn đệ tử phái Tinh Tú cũng cúp đuôi chạy theo thầy, không kịp lượm nào trống, nào chiêng, thanh la, não bạt ngổn ngang dưới đất. Bài văn phú lục ca tụng phái Tinh Tú oai chấn Trung Nguyên chưa đọc xong đã bị cháy một miếng lớn, mảnh còn lại bay qua bay lại trên mặt đất, tựa hồ như chế nhạo công cuộc dương oai của Tinh Tú Lão Quái là chuyện đầu voi đuôi chuột.

Bỗng nghe xa xa có một tiếng rú lên thảm khốc, một tên đệ tử phái Tinh Tú bay vọt lên không rồi rớt xuống bất động. Mọi người nhìn nhau, cùng đoán Tinh Tú Lão Quái đại bại nên giận cá chém thớt, tên đồ đệ này chắc là vỗ mông ngựa không khéo nên bị ngựa đá, nịnh bợ khó nghe nên bị lão đánh chết rồi.

Bọn Huyền Nạn, Đoàn Diên Khánh, Cưu Ma Trí đều nghĩ rằng Lung Á lão nhân Tô Tinh Hà dùng khổ nhục kế, nhử cho Đinh Xuân Thu hao tổn công lực để đốt cháy bọn đồ đệ câm điếc của mình, rồi bất thình lình đánh ra một đòn như sấm sét khiến đối phương không kịp đề phòng, cúp đuôi chạy mất. Lung Á lão nhân là tay bản lĩnh phi thường, lắm mưu nhiều trí, nổi danh lừng lẫy trên chốn giang hồ. Vừa rồi lão khai diễn cuộc ác đấu cùng Tinh Tú Lão Quái đã đánh bật gốc một cây tùng rất lớn đường kính đến hơn một thước, mọi người đều kinh hồn động phách. Vì thế mà quần hùng yên trí rằng lão thi triển thần công đuổi Tinh Tú Lão Quái chạy dài, cũng không lấy chi làm lạ.

Huyền Nạn nói: "Tô tiên sinh công lực thâm hậu, đuổi được lão quái chạy dài. Chắc là từ đây lão phải táng đởm kinh hồn không dám vào Trung Nguyên một bước. Chuyến này tiên sinh tạo phúc cho võ lâm không phải là ít!"

Tô Tinh Hà liếc mắt thấy chiếc nhẫn đá đen của sư phụ đang đeo ở ngón tay Hư Trúc, hiểu rõ mọi việc ngay, vừa đau khổ lại vừa hoan hỉ. Lão nhìn lại thấy đệ tử của mình chết cháy đến tám chín phần, còn lại đều bị trọng thương, trong lòng đau đớn vô kể. Tô Tinh Hà nghĩ ngay đến sự an nguy của sư phụ, quay lại nói với bọn Huyền Nạn, Mộ Dung Phục mấy câu khách sáo, rồi nắm tay Hư Trúc nói: "Tiểu sư phụ! Xin mời đi theo lão phu vào trong này!"

Hư Trúc đưa mắt nhìn Huyền Nạn hỏi ý kiến. Huyền Nạn nói: "Tô tiền bối là cao nhân trong võ lâm, người dạy bảo điều gì ngươi đều phải nhất nhất tuân theo!" Hư Trúc "Vâng" một tiếng, rồi theo Tô Tinh Hà chui qua lỗ trên vách ván đi vào. Tô Tinh Hà thuận tay kéo tấm ván gãy chắn ngang lỗ vách.

Bên ngoài đều là những người lịch duyệt giang hồ, thấy thế biết ngay Tô Tinh Hà không muốn người ngoài thám thính, nên đều giữ ý không tò mò đến việc của lão. Người ít kiến văn nhất trong đám này là Đoàn Dự, thì lại dồn hết tâm trí vào Vương Ngữ Yên, không hề biết Tô Tinh Hà cùng Hư Trúc vào trong nhà lúc nào nữa.

Tô Tinh Hà dắt Hư Trúc vào trong, chui qua hai lần lỗ vách. Vào tới nơi thì thấy lão già nằm dưới đất, Tô Tinh Hà đưa tay đặt lên mũi sư phụ thì thấy lão chết rồi. Họ Tô đã đoán trước tám chín phần mười, mà cũng không dằn nổi mối bi ai tận đáy lòng, bèn phục xuống dập đầu trước thi hài sư phụ, vừa khóc vừa nói: "Sư phụ, sư phụ! Thế là đệ tử không còn được nghe sư phụ giáo huấn nữa rồi."

Hư Trúc nghĩ thầm: "Quả nhiên lão già này đúng là sư phụ Tô tiền bối." Tô Tinh Hà gạt nước mắt đứng dậy, đặt thi thể sư phụ ngồi ngay ngắn, tựa vào vách ván, rồi lại dắt Hư Trúc đến ngồi bên cạnh.

Hư Trúc cả kinh nghĩ thầm: "Tô tiền bối đặt mình ngồi ngang thi thể sư phụ y để làm gì? Chẳng lẽ.. lão bắt ta phải chết theo?" Y thấy nổi da gà, muốn đứng dậy nhưng không dám. Một là y vẫn kính nể Tô Tinh Hà, hai là sư bá tổ Huyền Nạn đã dặn y nhất nhất tuân theo mệnh lệnh của họ Tô.

Tô Tinh Hà kéo ngay ngắn lại cái vạt áo đã bị đốt cháy mất một nửa, rồi đột nhiên quỳ xuống trước mặt Hư Trúc, dập đầu lạy, nói: "Đệ tử bất tiếu phái Tiêu Dao là Tô Tinh Hà xin làm lễ bái kiến chưởng môn bản phái!" Hư Trúc sợ đến luống cuống chân tay, lẩm bấm một mình: "Lão này điên mất rồi! Lão này điên mất rồi!" Y vội vã quỳ xuống dập đầu lạy trả Tô Tinh Hà, vừa lạy vừa nói: "Lão tiền bối thi hành đại lễ thế này, tiểu tăng tổn thọ mất!".

Tô Tinh Hà nghiêm mặt nói: "Sư đệ! Sư đệ đã được sư phụ ta thu nạp làm đệ tử kế nghiệp, tức là chưởng môn của bản phái. Ta tuy là sư huynh, nhưng dĩ nhiên cũng phải dập đầu trước chưởng môn sư đệ!" Hư Trúc ấp úng: "Việc này.. việc này.." Bây giờ y biết không phải Tô Tinh Hà phát điên, nhưng như vậy lại càng khó xử hơn.

Tô Tinh Hà nói: "Sư đệ! Vừa rồi sư đệ cứu được mạng ta, chắc chắn sư phụ đã thành toàn cho sư đệ rồi, vậy sư đệ nhận mấy lạy của ta là đáng lắm. Phải chăng sư phụ đã bảo sư đệ khấu đầu chín cái làm lễ bái sư? Sư đệ đã dập đầu chưa?" Hư Trúc đáp: "Tiểu tăng dập đầu rồi, nhưng lúc ấy chưa biết là lễ bái sư. Tiểu tăng đã là đệ tử Thiếu Lâm, không thể gia nhập phái khác được." Tô Tinh Hà nói: "Dĩ nhiên sư phụ hiểu sư đệ là môn đệ Thiếu Lâm, nhất định người hóa giải võ công của sư đệ trước, rồi mới truyền võ công bản phái sau. Phải chăng sư phụ đã trút hết một thân công lực của người vào nội thể sư đệ?" Hư Trúc gật đầu nói: "Đúng thế!" Tô Tinh Hà lại nói: "Cái nhẫn đá đen kia là biểu tượng của chưởng môn bản phái. Phải chăng sư phụ đã đeo vào ngón tay cho sư đệ?" Hư Trúc đáp: "Chính thế! Có. Điều.. tiểu tăng không hiểu đó là biểu tượng gì gì hết!"

Tô Tinh Hà ngồi xuống đất nói: "Sư đệ! Phúc trạch sư đệ cực kỳ thâm hậu! Ta cùng Đinh Xuân Thu mong mỏi cái nhẫn đá đen đó mấy chục năm trời, thủy chung vẫn không được! Vậy mà sư đệ mới gần gũi sư phụ một giờ đã được trao nhẫn cho". Hư Trúc vội nói: "Thế thì tiền bối cứ lấy đi, cái nhẫn này tiểu tăng không dùng làm gì được!" Tô Tinh Hà nghiêm mặt nói: "Sư đệ! Chắc hẳn sư đệ đã nhận lời ủy thác của sư phụ lúc lâm tử, cố lý đâu lại chạy trốn trách nhiệm? Phải chăng sư phụ đã dặn sự đệ phải trừ diệt Đinh Xuân Thu?" Hư Trúc nói: "Chính thế! Nhưng tiểu tăng đạo hạnh thô thiển, làm sao đương nổi trọng trách đó?"

Tô Tinh Hà thở dài, nhìn cái nhẫn trên ngón tay Hư Trúc mà nói: "Sư đệ! Trong vụ này còn nhiều điểm sư đệ chưa biết, để ta nói cho nghe. Phái Tiêu Dao trước đây đã có lệ: Khi chưởng môn qui tiên thì không nhất định là đại đệ tử kế vị, mà đệ tử có võ công cao cường nhất trong bản phái sẽ nhận chức chưởng môn."

Hư Trúc mừng quá nói ngay: "Vâng, vâng! Tiểu tăng võ công thấp kém.." Tô Tinh Hà không lý gì đến y, cứ nói tiếp: "Trước kia sư phụ chỉ nhận hai đồ đệ là ta và Đinh Xuân Thu. Nhưng sở học của sư phụ rất phức tạp nên có qui định ai muốn làm chưởng môn thì phải giỏi hết mọi môn, không những tỉ võ mà phải đi thí cả cầm kỳ thi họa nữa. Đinh Xuân Thu ngoài võ công ra thì chẳng biết gì hết, y tự biết không có hy vọng giành được chức chưởng môn, bèn hạ thủ trước, đánh sư phụ rơi xuống vực thẳm, lại đánh ta bị trọng thương!"

Hư Trúc từ lúc ở dưới địa động trong nhà Tiết Mộ Hoa đã nghe chuyện này. Y vẫn chưa hiểu một chuyện, bèn hỏi: "Sao Đinh Xuân Thu lại không giết tiền bối đi?" Tô Tinh Hà đáp: "Sư đệ đừng tưởng y để ta sống vì lòng nhân nghĩa. Một là nhất thời hắn không phá được trận thế kỳ môn độn giáp do ta dùng ngũ hành bát quái sắp đặt. Hai là ta có nói với hắn:" Đinh Xuân Thu! Ngươi ám toán sư phụ, đánh thắng sư huynh, nhưng còn nhiều môn võ công uyên thâm của phái Tiêu Dao ngươi chưa biết tí gì. Kinh sách Bắc Minh Thần Công ngươi có muốn xem không? Khinh công Lăng Ba Vi Bộ ngươi có muốn học không? Còn Thiên Sơn Lục Dương Chưởng, Thiên Sơn Chiết Mai Thủ thì sao? Tiểu Vô Tướng Công thì sao? "

" Đó là những môn võ công thượng thừa của bản phái, ngay cả sư phụ của ta vì phân tâm theo đuổi nhiều môn tạp học, nên cũng chưa luyện tới nơi. Đinh Xuân Thu nghe vậy thì thèm đến run người, liền bảo ta: "Ngươi giao sách ra đây, ta sẽ tha mạng cho ngươi." Ta đáp: "Ta đâu có giữ mấy pho sách này mà đưa ra, cũng chưa chắc biết nơi sư phụ cất giấu. Ngươi muốn giết ta thì cứ việc hạ thủ!". Đinh Xuân Thu lại nói: "Dĩ nhiên bí kíp cất giấu ở Tinh Tú Hải, sao ta lại không biết?" Ta nói: "Đúng thế. Bí kíp ở Tinh Tú Hải, ngươi có giỏi thì tự đi mà tìm lấy!". Hắn tính toán một lúc, biết rằng chu vi Tinh Tú Hải rộng đến mấy trăm dặm, tìm mấy pho sách nhỏ xíu không phải chuyện dễ dàng, liền bảo: "Được rồi! Hôm nay ta không giết ngươi, nhưng từ đây trở đi ngươi phải giả câm giả điếc, không tiết lộ bí mật bản phái ra ngoài."

"Hắn mà không muốn giết ta ư? Hắn lưu mạng ta lại để bắt phải cung khai, biết rằng sau khi ta chết thì khắp thiên hạ không ai tìm được bí kíp cho hắn nữa. Thực ra những bí kíp này không ở Tinh Tú Hải, mà ba vị sư bá, sư phụ, sư thúc chia nhau ra giữ. Mấy chục năm nay Đinh Xuân Thu ở Tinh Tú Hải, chắc là y đã lột hết từng cục đá lên mà cũng không thấy tờ kinh sách nào. Mấy lần y đến đây, đều bị ta bày cơ quan thổ mộc và dàn trận kỳ môn độn giáp thoát khỏi. Lần này chắc là hắn tuyệt vọng rồi, muốn giết ta cho hả dạ."

Hư Trúc nói: "May mà tiền bối.." Tô Tinh Hà ngắt lời: "Sư đệ là chưởng môn của bản phái, sao lại gọi ta là tiền bối, gọi là sư ca mới phải chứ!" Hư Trúc nghĩ thầm: "Chuyện này thật là rắc rối, ta chưa thể nói huỵch toẹt ra được." Y nghĩ vậy liền đáp: "Tiền bối có phải sư huynh tiểu tăng hay không, chưa bàn đến vội. Giả tỉ tiền bối là sư huynh thì cũng có thể gọi là tiền bối chứ sao?" Tô Tinh Hà gật đầu nói: "Sư đệ nói cũng có lý. Vừa rồi sư đệ định nói may mà cái gì?" Hư Trúc nói: "May mà tiền bối giấu được công lực tinh nhuệ của mình, chờ đến lúc tối hậu mới đột nhiên xuất kỳ chiêu trả đòn, khiến Tinh Tú Lão Quái thua liểng xiểng phải bỏ chạy."

Tô Tinh Hà xua tay lia lịa nói: "Sư đệ! Đó là kỳ công của sư đệ mà! Rõ ràng sư đệ truyền thần công của sư phụ vào giúp sức, cứu được tính mạng cho ta, sao còn khiêm tốn không chịu nhận? Ta tuy là sư huynh, song ngôi chưởng môn đã định rồi, ta phải tôn kính chưởng môn nhân. Huống chi sư phụ đã mượn bàn tay sư đệ cứu mạng ta, từ đây sư đệ đừng coi ta như người ngoài nữa."

Hư Trúc lấy làm lạ hỏi: "Tiểu tăng đã giúp tiền bối gì đâu? Việc cứu mạng gì gì đó không nên nói đến nữa." Tô Tinh Hà ngẫm nghĩ một lát rồi nói: "Cũng có thể là sư đệ vô tâm, nhưng nhờ sư đệ đặt tay lên lưng ta nên thần công của bản môn mới truyền vào được, ta mới chuyển bại thành thắng." HưTrúc nói: "Thế ư? Nếu vậy thì tiền bối được lệnh sư cứu mạng, chứ không phải tiểu tăng đâu." Tô Tinh Hà nói: "Thì ta cũng nói sư phụ đã mượn bàn tay sư đệ cứu mạng ta mà, sư đệ chịu rồi chứ?" Hư Trúc không cãi được, gật đầu nói: "Tiền bối nói vậy là hợp lý, tiểu tăng không chịu cũng không được."

Tô Tinh Hà lại nói: "Vừa rồi thần công của sư đệ đánh cho Đinh Xuân Thu kinh sợ chạy đi, chỉ là nhờ xuất kỳ bất ý thôi. Thật ra hai sư huynh đệ chúng ta hợp lực chưa chắc đã địch nổi hắn, nếu không thì sư phụ đã giúp ta thu thập tên phản đồ này từ lâu rồi, hà tất phải khổ sở đến thế. Ba mươi năm nay ta đã thử nhiều phương pháp, rốt cuộc vẫn không tìm thấy ai đủ tư cách kế thừa võ công của sư phụ. Sư phụ thì ngày càng già yếu, người thừa kế lại ngày càng khó tìm, không những phải có ngộ tính cực cao, còn phải là thiếu niên anh tuấn.."

Hư Trúc lại nghe Tô Tinh Hà nói mấy chữ "thiếu niên anh tuấn", không khỏi chau mày tự hỏi: "Luyện võ công thì cần gì đến bộ mặt đẹp hay xấu? Hai thầy trò lão này cứ ráng tìm người anh tuấn để truyền võ công là tại vì sao?" Bỗng y thấy Tô Tinh Hà liếc mắt nhìn mình thở dài, bèn nói: "Tiểu tăng mặt mũi xấu xí, không đủ tư cách làm truyền nhân của tôn sư. Vậy lão tiền bối đi tìm một vị thiếu niên phong lưu anh tuấn về đây, tiểu tăng sẽ chuyển giao lại thần công cho chàng, thế là yên chuyện."

Tô Tinh Hà sửng sốt nói: "Thần công bản phái có liên quan đến khí huyết cùng tim mạch. Thần Công còn thì người còn, thần công mất thì người chết. Sư phụ truyền thần công cho sư đệ rồi quy tiên ngay, chẳng lẽ sư đệ không thấy sao?"

Hư Trúc dậm chân liên tiếp, rồi nói: "Trời ơi! Biết làm thế nào đây? Tiểu tăng làm lỡ đại sự của lệnh sư cùng tiền bối mất rồi!"

Tô Tinh Hà nói: "Sư đệ! Trách nhiệm đã trút lên vai sư đệ rồi. Sư phụ đặt ra thế cờ Trân Lung là cốt để kiểm tra ngộ tính của những người đến phá giải. Thế cờ đó khó vô cùng, ta khổ sở mấy chục năm trời mà không sao phá giải được, chỉ có mình sư đệ giải khai được mà thôi. Vậy thì ngộ tính của sư đệ cực cao, là hợp thức rồi."

Hư Trúc nhăn nhó cười nói: "Thực ra thì không hợp thức đâu, thế cờ đó không phải tiểu tăng phá được." Rồi y thuật lại mọi việc sư bá tổ Huyền Nạn dùng phép Truyền Âm Nhập Mật ngấm ngầm chỉ điểm.

Tô Tinh Hà nửa tin nửa ngờ nói: "Huyền Nạn đại sư mắc phải độc thủ của Đinh Xuân Thu, mất hết công lực toàn thân thì làm sao thi triển được phép Truyền Âm Nhập Mật nữa?" Lão ngừng một lát rồi nói tiếp: "Nhưng phái Thiếu Lâm là một phái võ chính tông đứng đầu thiên hạ, không chừng Huyền Nạn đại sư chỉ giả vờ mất công lực, ta chỉ là ếch ngồi đáy giếng không hiểu được. Sư đệ ơi, ta đã khổ công mời mọc bao nhiêu nhân vật đến đây phá thế cờ. Mộ Dung công tử ở Cô Tô mặt đẹp như ngọc, lại hiểu hết tuyệt kỹ võ công trên thiên hạ. Y chính là nhân vật đủ tư cách nhất trong chuyện này, nhưng khốn nỗi lại không phá được thế Trân Lung."

Hư Trúc nói: "Đúng rồi! Mộ Dung công tử quả là đẹp trai gấp trăm lần tiểu tăng. Lại còn vị Đoàn công tử nước Đại Lý cũng là tay phong lưu tuyệt thế."

Tô Tinh Hà nói: "Ôi chao, gã này không nên đề cập đến. Ta từng nghe Trấn Nam Vương nước Đại Lý là Đoàn Chính Thuần rất tinh thâm về thần kĩ Nhất Dương Chỉ, lại là người phong lưu trên đời hiếm có. Bất luận là khuê nữ hay thiếu phụ trong võ lâm mà gặp phải y là thần hồn điên đảo, không sao tự chủ được nữa. Ta cũng đã sai đệ tử đi mời y đến đây, nói cho y biết Cô Tô Mộ Dung muốn phá phép Nhất Dương Chỉ của Đoàn gia, ngờ đâu y chẳng đến mà chỉ có cậu con trai ngớ ngẩn đến thôi."

Hư Trúc mỉm cười nói: "Dường như cặp mắt của Đoàn công tử lúc nào cũng đăm đăm chiêm ngưỡng Vương cô nương!"

Tô Tinh Hà lắc đầu nói: "Tội nghiệp, tội nghiệp! Phụ thân gã là Đoàn Chính Thuần thì nổi danh là tay phong lưu đệ nhất võ lâm, lại có cậu con chẳng giống cha chút nào, làm mất cả mặt. Gã cố sống cố chết theo đuổi Vương cô nương, mà Vương cô nương lại không thèm để ý gì đến gã, thật là tức cười chết đi được!" Hư Trúc nói: "Đoàn công tử là kẻ thâm tình, thì tư cách chàng còn hơn bọn phong lưu. Sao tiền bối lại chê trách chàng?" Tô Tinh Hà đáp: "Gã là một tên ngờ nghệch không biết tán gái, chúng ta không thể dùng gã được." Hư Trúc đáp: "Vâng." Nhà sư mừng thầm nghĩ bụng: "Té ra bọn này muốn kiếm một chàng thiếu niên anh tuấn là để đối phó với nữ nhân. Nếu vậy thì tuyệt diệu, nhất định họ không dùng đến kẻ trọc đầu xấu xí như ta!"

Tô Tinh Hà lại hỏi: "Sư đệ! Sư phụ có dặn sư đệ đi kiếm người nào không?" Hư Trúc sửng sốt, biết rằng chuyện này rắc rối, đã toan nói dối. Những nhà sư đã được các vị cao tăng chùa Thiếu Lâm dạy dỗ từ nhỏ, kẻ xuất gia không được nói dối, nên ngượng nghịu không dối được. Y ấp úng đáp: "Cái đó.. cái đó.."

Tô Tinh Hà đáp: "Sư đệ là chưởng môn bản phái, hỏi gì thì ta phải trả lời, nếu không thì sư đệ có thể dùng quyền chưởng môn mà xử tử ta. Còn ta hỏi sư đệ điều gì, sư đệ muốn trả lời thì tốt, còn không muốn trả lời thì có thể cấm ta không được hỏi nhiều."

Tô Tinh Hà nói vậy, song Hư Trúc không dám hỗn láo, liền khoát tay nói: "Tiểu tăng không dám ngông cuồng tự đại. Tiền bối, lệnh sư đã giao cái này cho tiểu tăng." Nói xong, y lấy cuốn trục trong bọc ra, chỉ thấy vẻ mặt Tô Tinh Hà cực kỳ cung kính, lão không dám đưa tay đụng tới cuốn trục. Nhà sư liền tự tay chầm chậm mở ra. Cuốn trục vừa mở, cả hai cùng ngẩn người, la lên một tiếng kinh ngạc. Thì ra cuốn trục này không vẽ bản đồ mà cũng không vẽ phong cảnh chi hết, chỉ vẽ một thiếu nữ ăn mặc kiểu cung phi, nhan sắc tuyệt vời. Hư Trúc nói: "Đây chính là Vương cô nương ở ngoài kia."

Cuốn trục này bằng lụa đã vàng ố, nét vẽ cũng đã phai màu, ít ra cũng đến ba bốn chục năm, rõ ràng là một bức vẽ nhân vật đời trước. Chẳng lẽ họa sĩ mấy chục hay mấy trăm năm trước đã tưởng tượng mà vẽ ra dung mạo Vương cô nương hiện nay, thật là không thể tin được. Nét vẽ trong đồ hình linh hoạt phi thường, người trong bức vẽ sinh động như thật, tựa như Vương Ngữ Yên co nhỏ người lại rồi chui vào bức tranh.

Hư Trúc kinh hãi, nhìn qua Tô Tinh Hà thì thấy lão đang thò ngón tay ra vẽ vẽ vạch vạch, dường như cố bắt chước nét vẽ trong bức họa. Lão vừa vẽ vừa tấm tắc khen ngợi hồi lâu, rồi đột nhiên như người đang mơ chợt tỉnh, cất tiếng nói: "Sư đệ đừng ngạc nhiên mà cũng đừng trách tiểu ca. Chẳng qua tiểu ca nhìn nét đan thanh tuyệt diệu của sư phụ, bất giác lại ngứa nghề, xuất thần muốn học vẽ một phen. Ôi! Bá nghệ bá tri vị chi bá láp, cái gì ta cũng muốn học nên không học được gì đến nơi đến chốn, mới bị Đinh Xuân Thu đánh cho thảm hại." Lão vừa nói vừa vội vã cuộn cuốn trục lại, chỉ sợ coi nữa sẽ lại bị nét bút quyến rũ làm cho mê mẩn. Tô Tinh Hà nhắm mắt dưỡng thần, lại lắc lắc đầu tựa như để xua đuổi những nét vẽ trong đồ hình ra khỏi tâm trí. Hồi lâu lão mới mở mắt ra hỏi: "Lúc sư phụ trao cuốn trục này cho sư đệ, người đã dặn gì?"

Hư Trúc đáp: "Lệnh sư nói là hiện giờ công phu của tiểu tăng chưa đủ trừ diệt Đinh Xuân Thu, phải theo cuốn trục này đi đến núi Vô Lượng ở Đại Lý, tìm kiếm kinh thư võ học để luyện thêm. Lệnh sư còn nói đồ hình này vẽ nơi người đã hưởng phúc thanh nhàn khi trước. Tiểu tăng cứ tưởng trong đồ hình phải vẽ một nơi non thanh thủy tú, hoặc một phong cảnh thanh tịch u nhã, ngờ đâu lại là hình ảnh Vương cô nương. Hay là lệnh sư đưa nhầm cuốn trục?"

Tô Tinh Hà nói: "Hành động của sư phụ khó mà lường được. Ngộ tính của sư đệ rất cao, chắc là lúc gặp việc tự nhiên sẽ hiểu. Sư đệ phải cố mà tuân lệnh sư phụ, kiếm sách học thêm để trừ diệt Đinh Xuân Thu." Hư Trúc ấp úng: "Việc này.. việc này.. Tiểu tăng là đệ tử Thiếu Lâm, bây giờ phải trở về phục mệnh ngay. Khi đã về chùa rồi thì không biết còn ra lại nữa không."

Tô Tinh Hà giật mình la lên một tiếng, rồi buông tiếng khóc ròng. Lão sụp xuống trước mặt Hư Trúc, vừa lạy như tế sao vừa khẩn cầu: "Chưởng môn! Trời ơi! Chưởng môn không tuân theo đi huấn, thế ra sư phụ tự sát chết oan chứ còn gì nữa?"

Hư Trúc cũng quì xuống vừa lạy trả vừa nói: "Tiểu tăng đã vào cửa Không, một lòng giới sân giới sát. Trước đây tiểu tăng đã chịu lời tôn sư đi trừ diệt Đinh Xuân Thu, lúc này nghĩ lại hối hận vô cùng. Qui củ bản phái nghiêm minh, dù sao thì tiểu tăng cũng không dám qui đầu phái khác, làm điều càn rỡ." Bất luận Tô Tinh Hà khóc lóc van vỉ, dỗ ngon dỗ ngọt, hay uy hiếp cưỡng bách, Hư Trúc vẫn một mực không chịu. Lão không biết làm thế nào được, vừa thương tâm vừa tuyệt vọng, nhìn thi thể sư phụ vừa khóc vừa nói "Sư phụ ơi! Chưởng môn sư đệ không chịu tuân theo di mệnh, tiểu đồ kém cỏi không làm gì được, đành đi theo sư phụ thôi!" Lão nói xong nhảy vọt lên, hai chân đưa lên trời, trở đầu toan đập xuống thềm đá.

Hư Trúc hốt hoảng la lên: "Không được!", rồi nhảy tới ôm chặt lấy Tô Tinh Hà. Hiện giờ nội lực y thâm hậu, chân tay mau lẹ hơn trước nhiều. Tô Tinh Hà bị Hư Trúc ôm chặt không nhúc nhích được. Lão hỏi: "Sao sư đệ không cho tiểu huynh tự tận?" Hư Trúc đáp: "Người xuất gia lấy từ bi làm gốc, dĩ nhiên tiểu tăng không nỡ thấy tiền bối hủy mình." Tô Tinh Hà nói: "Sư đệ buông ta ra. Tiểu huynh nhất quyết không muốn sống nữa!" Hư Trúc nói: "Tiểu tăng nhất định không buông." Tô Tinh Hà nói: "Sư đệ ôm ta thế này mãi được chăng?" Hư Trúc thấy lão nói đúng, liền đảo người lão lại cho đầu lên trên chân xuống dưới rồi buông ra nói: "Được rồi! Tiểu tăng buông tiền bối, nhưng nhất quyết không chịu để tiền bối tự tận".

Tô Tinh Hà trong lòng chợt động, nói ngay: "Sư đệ không cho tiểu huynh tự tận ư? Dĩ nhiên tiểu huynh phải tuân lệnh của chưởng môn. Hay lắm! Chưởng môn ơi, thế là chưởng môn đã chịu làm chưởng môn bản phái rồi!" Hư Trúc lắc đầu quầy quậy: "Không đâu! Tiểu tăng chịu làm chưởng môn hồi nào?" Tô Tinh Hà cười ha hả nói: "Chưởng môn! Bây giờ chưởng môn lại muốn cãi thì không kịp nữa rồi! Chưởng môn đã ra lệnh, tại hạ đã tuân theo, từ giờ không dám tự tận nữa. Thông Biện tiên sinh Tô Tinh Hà này là hạng người nào? Trừ chưởng môn bản phái, ngoài ra chẳng ai dám ra lệnh cho ta nữa. Chưởng môn không tin thì cứ hỏi Huyền Nạn đại sư phái Thiếu Lâm xem có đúng thế không? Ngay cả phương trượng chùa Thiếu Lâm cũng không dám ra lệnh cho ta."

Hư Trúc cũng biết Lung Á lão nhân oai danh lừng lẫy giang hồ, lão nói không ai dám ra lệnh cho lão là đúng sự thực. Nhà sư nói: "Tiểu tăng không dám ra lệnh cho tiền bối. Tiểu tăng nói vậy là để khuyên tiền bối giữ gìn tính mệnh không nên hủy hoại, đó chỉ là hảo ý mà thôi."

Tô Tinh Hà đáp: "Ta không đủ tư cách xem xét ý kiến của chưởng môn là hảo ý hay ác ý. Chưởng môn bảo ta chết thì ta phải chết, chưởng môn bảo ta không được chết thì ta không dám chết nữa. Chuyện sống hay chết là chuyện lớn nhất ở đời, giả tỉ sư đệ không phải là chưởng môn thì không có quyền bắt tiểu huynh phải sống."

Hư Trúc đuối lý bèn xuống giọng năn nỉ: "Thì ra tiểu tăng đã lỡ lời, xin rút lại câu nói đó vậy." Tô Tinh Hà nói: "Được lắm! Chưởng môn đã rút lệnh không cho ta tự tận, tức là ngầm bảo ta phải tự tận đi. Tiểu huynh xin tuân lệnh, lập tức tự tận ngay." Cách tự sát của lão thật là cổ quái, lại nhảy giơ chân lên trời, đầu chúc xuống toan đập vào thềm đá.

Hư Trúc lại giơ tay ra ôm lấy, nói: "Không được, không được! Tiểu tăng có bảo tiền bối tự tận đâu!" Tô Tinh Hà lại nói: "Vâng! Chưởng môn đã không cho tự tận, tại hạ kính cẩn tuân lệnh chưởng môn!" Hư Trúc hạ người Tô Tinh Hà xuống, không biết nói sao, cứ vò đầu bứt tai mãi, giả tỉ cái đầu của y còn sợi tóc nào thì e rằng cũng rụng hết.

Tô Tinh Hà có ngoại hiệu là Thông Biện tiên sinh vì lão biện bác rất giỏi. Suốt ba mươi năm trời lão phải giả câm giả điếc, hôm nay mới được múa lưỡi lý luận như thông reo nước chảy. Hư Trúc đã nhỏ tuổi lại kém mồm miệng, thì tranh luận với lão thế nào được? Thực ra Hư Trúc không cho lão tự tận thì không thể qui ra là bắt lão tự tận, nhưng Tô Tinh Hà biện luận hùng hồn nói đâu ra đấy, y không biết nói sao đành đứng ngẩn ra. Hồi lâu Hư Trúc mới thở dài nói: "Tiền bối! Tiểu tăng không cãi nổi, nhưng dù sao cũng không thể tuân mệnh tiền bối mà gia nhập quý phái."

Tô Tinh Hà lại vặn hỏi: "Lúc chúng ta vào đây, Huyền Nạn đại sư đã dặn sư đệ điều gì? Lời nói của Huyền Nạn đại sư thì sư đệ có tuân mệnh hay không?" Hư Trúc ấp úng đáp: "Sư bá tổ đã dặn tiểu tăng.. phải.. nghe lời.. lão tiền bối."

Tô Tinh Hà đắc ý cười ha hả nói: "Phải rồi! Huyền Nạn đại sư bảo sư đệ phải nghe lời tiểu huynh, mà tiểu huynh đã khuyên sư đệ tuân theo di mệnh của sư phụ mà làm chưởng môn bản phái. Thế thì nếu sư đệ tuân lời của Huyền Nạn đại sư thì phải làm chưởng môn phái Tiêu Dao. Giả tỉ sư đệ không tuân lời Huyền Nạn đại sư cũng vẫn hợp lý, vì chưởng môn phái Tiêu Dao bất tất phải nghe lệnh của Huyền Nạn đại sư." Tô Tinh Hà đưa ra lý luận nào Hư Trúc nghe cũng có lý, nhà sư lúng túng không biết nói gì nữa.

Tô Tinh Hà lại tiếp: "Sư đệ! Huyền Nạn đại sư cùng mấy vị cao tăng của chùa Thiếu Lâm đã trúng phải độc thủ của Đinh Xuân Thu, nếu không tìm cách cứu chữa thì tính mạng nguy trong chốc lát, mà hiện nay trên thế gian chỉ có một mình sư đệ là cứu được. Ta nói vậy thôi, còn cứu hay không là tùy ý sư đệ." Hư Trúc cả kinh hỏi: "Sư bá tổ của tiểu tăng trúng phải độc thủ của Đinh Xuân Thu, tiền bối bảo tiểu tăng có thể.. có thể cứu được ư? Vậy phải làm thế nào mới cứu được họ?"

Tô Tinh Hà mỉm cười nói: "Sư đệ! Bản phái không chỉ sở trường về võ học mà bất luận môn gì, y bốc tướng số hay cầm kỳ thi họa đều bao quát hết. Sư đệ có một tên sư điệt là Tiết Mộ Hoa, gã học y thuật, chưa đến đâu mà người trên chốn giang hồ đều gọi gã là Tiết Thần Y, lại còn được thiên hạ tặng cho cái ngoại hiệu là Diêm Vương Địch, thật là buồn cười đến nẻ ruột. Huyền Nạn đại sư trúng phải Hóa Công Đại Pháp của Đinh Xuân Thu, vị sư phụ mặt vuông thì bị gã đầu sắt dùng Băng Tằm Chưởng đánh bị thương, còn vị sư phụ cao cao gầy gầy thì bị Đinh Xuân Thu đá vào cạnh sườn bên tả cách ba tấc, làm tổn thương kinh mạch."

Tô Tinh Hà cứ thao thao bất tuyệt kể rõ nguyên do và thương thế từng người. Hư Trúc vừa kinh ngạc vừa bội phục, nói: "Tiền bối! Tiểu tăng tưởng tiền bối chỉ chuyên tâm về kỳ thuật, không ngờ cũng hiểu rõ chuyện chẩn mạch chữa thương đến như vậy."

Tô Tinh Hà đáp: "Nhân vật võ lâm bị thương do đánh nhau thì chỉ trông qua là biết, nếu đã biết thì chữa trị chẳng có gì là khó. Những bệnh thiên nhiên như suy nhược, phong tà hay thương hàn, còn khó đoán hơn nhiều. Trong mình sư đệ đã có bảy mươi năm thần công phái Tiêu Dao của sư phụ truyền cho, nếu đem ra trị bệnh thì rất hiệu quả. Muốn khôi phục lại công lực cho Huyền Nạn đại sư thì không phải là chuyện dễ, nhưng muốn chữa thương bảo toàn sinh mạng cho đại sư thì chỉ giơ tay một cái là xong." Tô Tinh Hà nói xong bèn dạy cho Hư Trúc cách vận khí thúc vào huyệt đạo, cùng phép tiêu trừ hàn độc. Mỗi người bị thương khác nhau đều phải dùng thủ pháp khác nhau để chữa trị, rất là phức tạp.

Hư Trúc ráng học đến thuộc lòng những thủ pháp mà Tô Tinh Hà dạy cho, nhưng chỉ biết cách chữa mà không hiểu gì đạo lý bên trong. Tô Tinh Hà thấy Hư Trúc diễn lại vài lần đã thuần thục, liền khen rằng: "Quả nhiên chưởng môn sư đệ ngộ tính hơn người, vừa học đã nhớ ngay." Lão vừa nói vừa cười cười đầy vẻ bí hiểm.

Hư Trúc thấy Tô Tinh Hà cười có vẻ cổ quái, dường như có ẩn ý không hay, bất giác sinh nghi hỏi: "Sao tiền bối lại cười?" Tô Tinh Hà không cười nữa, giữ vẻ mặt nghiêm trang nói: "Tiểu huynh vô lễ, xin chưởng môn tha tội!" Hư Trúc nóng lòng trị thương cho mọi người, không để ý đến nữa, liền bảo: "Chúng ta ra ngoài đi." Tô Tinh Hà "Vâng" một tiếng rồi cùng Hư Trúc ra khỏi căn nhà bí mật. Mọi người bị thương đều ngồi xếp bằng dưới đất, nhắm mắt dưỡng thần. Mộ Dung Phục vận dụng nội lực để tiếp sức cho Bao Bất Đồng và Phong Ba Ác đỡ đau khổ, Vương Ngữ Yên thì săn sóc cho Công Dã Càn. Tiết Mộ Hoa mồ hôi đầy mặt, chạy tới chạy lui, thấy ai nguy khốn nhất thì chạy đến cấp cứu, nhưng người này hơi khỏe thì người khác lại la gọi rồi. Y thấy Tô Tinh Hà trở ra thì trong lòng cảm thấy vững tin, liền chạy tới gọi: "Sư phụ! Lão nhân gia mau mau tìm cách chữa trị cho bọn họ."

Hư Trúc đến bên Huyền Nạn, thấy đại sư đang nhắm mắt vận công, liên thõng tay đứng chờ, không dám mở miệng. Huyền Nạn từ từ mở mắt ra, khẽ thở dài một tiếng rồi nói: "Sư bá tổ ngươi bất tài, trúng độc thủ của Đinh Xuân Thu làm tổn thương uy danh bản phái, thật là xấu hổ. Ngươi về bẩm với phương trượng rằng ta.. ta cùng sư thúc tổ ngươi là Huyền Thống.. không còn mặt mũi nào trở về chùa nữa!"

Hư Trúc trước nay thấy sư bá tổ lúc nào cũng trang nghiêm, không giận mà uy, chưa dám nhìn thẳng mặt bao giờ, thế mà bây giờ lão tăng mặt mày thảm đạm, đầy vẻ thê lương như anh hùng đến bước đường cùng, giọng nói lại đầy vẻ chán nản tựa hồ có ý tự sát. Y bèn nói: "Sư bá tổ! Lão nhân gia đừng quá lo buồn. Những người học võ như chúng ta, không nên để tâm vào việc giận dữ, hơn thua, thắng bại hay được mất.." Mấy câu này là trước đây sư phụ dạy cho, y đã thuộc nằm lòng, bây giờ thuận miệng xổ ra trước mặt sư bá tổ, đến khi thấy mình nói không đúng chỗ, gấp rút ngưng lại thì đã lỡ tuôn ra một tràng rồi.

Huyền Nạn mỉm cười, đáp lại: "Ngươi nói không sai, nhưng nội lực của sư bá tổ đã mất, sức để thiền định cũng không còn nữa." Hư Trúc nói: "Vâng, vâng. Đồ tôn không biết nặng nhẹ, ăn nói thật là bừa bãi." Y đang muốn ra tay trị thương, bỗng nhớ đến cái cười đầy vẻ xảo trá trên mặt Tô Tinh Hà, trong lòng không khỏi kinh nghi tự hỏi: "Lão dạy ta phóng chưởng đánh vào yếu huyệt trên đỉnh đầu sư bá tổ, là có ý hại người hay chăng? Sư bá tổ đã mất hết công lực, giả tỉ ta đánh chết người thì biết làm thế nào?"

Huyền Nạn nói: "Ngươi về bẩm với phương trượng là bản tự sắp có đại nạn, cần phải gia tăng cảnh giới. Đi đường phải chú ý đề phòng. Ngươi thiên tính thuần phác, hai mặt Trì Giới và Thiền Định thì không phải lo gì, nhưng sau này phải dụng tâm nghiên cứu bốn quyển Kinh Lăng Già để thêm phần chữ Tuệ. Ái chà! Tiếc rằng sư bá tổ không thể ở bên mà chỉ điểm cho ngươi được."

Hư Trúc "Dạ, dạ" rồi chợt nghĩ ra điều gì, lại nói: "Sư bá tổ! Bản tự sắp gặp đại nạn, thì lão nhân gia lại càng phải bảo trọng lấy thân, về chùa hiệp lực với phương trượng để ngăn đại địch!" Huyền Nạn nhăn nhó, cười nói: "Ta.. ta trúng phải Hóa Công Đại Pháp của Đinh Xuân Thu đã thành phế nhân rồi, nói gì đến chuyện hiệp lực với phương trượng để chống địch nữa?" Hư Trúc bèn đáp: "Sư bá tổ! Thông Biện tiên sinh có dạy cho đệ tử mấy phép chữa thương, đệ tử không tự lượng sức mình, muốn thử chữa cho Tuệ Phương sư bá. Sư bá tổ xem có nên chăng?"

Huyền Nạn cũng không ngạc nhiên lắm, lão tăng vốn biết Lung Á lão nhân Tô Tinh Hà là sư phụ của Diêm Vương Địch Tiết Thần Y, tất nhiên y thuật phải cao minh, chỉ không hiểu sao lão không tự ra tay, hay bảo Tiết Mộ Hoa động thủ. Đại sư liền bảo Hư Trúc: "Những phương pháp Thông Biện tiên sinh truyền thụ cho ngươi tất nhiên phải rất cao minh." Huyền Nạn lại liếc nhìn Tô Tinh Hà một cái, bảo Hư Trúc: "Ngươi cứ theo đó mà chữa thử." Hư Trúc chạy tới bên Tuệ Phương khom lưng nói: "Sư bá! Đệ tử vâng lệnh của sư bá tổ đến chữa thương cho sư bá đây." Tuệ Phương mỉm cười gật đầu một cái. Hư Trúc bước xéo sang trái một bước, xoay tay phóng ngược lại một chưởng, trúng vào sườn bên tả Tuệ Phương.

Tuệ Phương kêu "Ối" lên một tiếng, lảo đảo người, thấy cạnh sườn mình bị đục thủng một lỗ, máu tươi cuồn cuộn chảy ra, tuy thấy trong người suy nhược, nhưng cái đau khổ do Hàn Băng Độc Chưởng của Du Thản Chi bỗng tiêu tan trong khoảnh khắc. Thì ra phép trị thương của Hư Trúc không phải dùng nội lực bản thân để khu trừ hàn độc trong người bị thương, mà lại dùng thần công bảy mươi năm của phái Tiêu Dao đánh thủng người để mở đường tiết khí hàn độc ra ngoài. Phương pháp này cũng giống như khoét chỗ bị thương của người bị rắn cắn để nặn chất độc ra. Có điều so với dùng dao cắt thì phóng chưởng đục thủng thân thể khó hơn nhiều, bộ vị phải chính xác tuyệt đối thì chất độc mới tiết ra được. Hơn nữa, giả tỉ người chữa không đủ nội lực để đánh thấu vào kinh mạch, thì khí độc không tiết ra mà lại dồn ngược vào phủ tạng, bệnh nhân sẽ chết ngay lập tức.

Hư Trúc tuy quyết tâm phóng chưởng ra, nhưng trong lòng vẫn kinh sợ không yên tâm chút nào. Y chăm chú nhìn thấy Tuệ Phương chỉ lảo đảo một cái rồi ngồi thẳng lại, chỉ chau mày đau khổ một chút rồi vẻ mặt lại biến thành khoan khoái dễ chịu. Biến chuyển này chỉ trong khoảnh khắc, mà Hư Trúc tưởng như lâu đến mấy giờ. Sau một lúc nữa, Tuệ Phương thở phào một cái, tủm tỉm cười nói: "Hảo sư điệt, phát chưởng vừa rồi của ngươi thật là công hiệu phi thường."

Hư Trúc cả mừng nói: "Đệ tử không dám!", rồi quay sang hỏi Huyền Nạn: "Sư bá tổ! Đệ tử lại xin phép trị liệu cho mấy vị sư bá sư thúc nữa, được chăng?" Huyền Nạn nhìn sang mấy tên thủ hạ của nhà Mộ Dung, lắc đầu đáp: "Không được! Ngươi phải chữa trị cho người ngoài trước, trị cho người nhà sau."

Hư Trúc rùng mình đáp: "Vâng!", nghĩ thầm: "Lo cho người trước, lo cho mình sau mới đúng là bản sắc đại từ đại bi của nhà Phật." Y thấy Bao Bất Đồng đang run rẩy toàn thân, răng khua lập cập, liền đến gọi: "Bao tam tiên sinh! Thông Biện tiên sinh dạy cho tiểu tăng phương pháp trị chứng hàn độc, tiểu tăng mới học, chưa được thông suốt mà cả gan dám thử, nếu có gì sai trái thì xin Bao tam tiên sinh lượng thứ cho." Y nói xong liền áp tay vào ngực Bao Bất Đồng.

Bao Bất Đồng cười hỏi: "Ngươi làm cái trò gì thế?" Hư Trúc đưa hữu chưởng lên, đánh "binh" một phát vào trước ngực gã, Bao Bất Đồng tức quá liền mở miệng thóa mạ: "Hòa thượng.." Còn chữ "thúi" chưa kịp nói ra miệng, đột nhiên y thấy hàn độc lưu cữu trong mình đã lâu ngày bỗng theo vết thương trên ngực tuôn ra ào ào. Thế là y ngậm miệng lại không mắng tiếp, đúng là nuốt "thúi" vào bụng.

Hư Trúc đánh cho mọi người tiết hàn độc ra hết, rồi lại cứu trị cho những người bị độc thủ của Đinh Xuân Thu. Bọn này bị thương không giống nhau, người bị Hóa Công Đại Pháp làm tiêu tan nội lực thì Hư Trúc phóng chưởng vào huyệt Bách Hội trên đỉnh đầu hoặc vào huyệt Linh Đài ở trước ngực để giữ vững nguyên khí. Người nào bị thương về độc công phái Tinh Tú thì Hư Trúc dùng ngón tay đâm vào để hóa giải chất độc. Hư Trúc quả là nhớ dai, Tô Tinh Hà vừa chỉ điểm thương thế mỗi người ra sao, trị bằng cách nào, y nhớ rành mạch hết. Trong khoảng thời gian chừng ăn xong bữa cơm, mọi người đang đau đớn khổ sở đều được Hư Trúc giải trừ. Lung Á lão nhân là sư phụ của Tiết Thần Y, quả nhiên y thuật không phải tầm thường.

Sau cùng Hư Trúc đến trước mặt Huyền Nạn nghiêng người nói: "Sư bá tổ! Đệ tử lớn mật, xin phóng chưởng đánh vào huyệt Bách Hội trên đỉnh đầu sư bá tổ." Huyền Nạn đại sư mỉm cười nói: "Ngươi lọt vào mắt xanh Thông Biện tiên sinh, được người dạy cho phương pháp trị thương tuyệt diệu thế này, phúc trạch thật là thâm hậu. Ngươi cứ phóng chưởng vào huyệt Bách Hội trên đầu ta đi."

Hư Trúc khom lưng nói: "Thế này thì đệ tử càn rỡ quá!" Lúc y ở chùa Thiếu Lâm, mỗi lần muốn thấy Huyền Nạn đều phải đứng xa xa nhìn vào. Những lúc Huyền Nạn hội họp tăng chúng để giảng giải tâm pháp võ công, Hư Trúc cũng phải đứng sau các vị khác, chứ chưa được đứng gần lão tăng bao giờ. Lần này nhà sư trẻ phóng chưởng đánh vào đầu sư bá tổ, tuy là để chữa thương, nhưng không khỏi hồi hộp trong lòng. Y trấn tĩnh lại rồi nói thêm: "Đệ tử mạo phạm, xin sư bá tổ tha tội", rồi mới tiến lên một bước, nhắm huyệt Bách Hội trên đỉnh đầu Huyền Nạn từ từ phóng chưởng ra, không nhanh không chậm mà cũng không nhẹ không nặng, thật là vừa cẩn thận vừa chính xác vô cùng.

Phát chưởng của Hư Trúc vừa chạm vào đầu Huyền Nạn, đột nhiên trên mặt đại sư hiện ra một nụ cười cổ quái, la lên một tiếng "Ôi chao!", rồi gục xuống đất, cựa quậy mấy cái rồi nằm yên không nhúc nhích nữa.

Mọi người đều kinh hoảng la lên, Hư Trúc sợ hãi quá, tim đập ầm ầm, cứ nghĩ mình quá tay đánh chết sư bá tổ. Tuệ Phương cũng chạy vội đến, thấy miệng Huyền Nạn vẫn hiện một nụ cười quái dị, tuyệt khí chết rồi. Hư Trúc hốt hoảng la gọi: "Sư bá tổ!.. Sư bá tổ làm sao vậy?"

Bỗng nghe tiếng Tô Tinh Hà la lên: "Chuyện gì thế? Ra sao rồi?". Lão từ hướng Đông Nam nhảy vọt tới, nét mặt lộ vẻ sợ hãi nói: "Có người ở phía sau ám toán. Thân pháp y mau lẹ phi thường, không nhìn rõ là ai." Tô Tinh Hà cầm tay Huyền Nạn xem mạch, rồi chau mày nói: "Huyền Nạn đại sư bị ám toán, lại đã mất hết công lực không còn sức để chống đỡ, nên viên tịch rồi!"

Hư Trúc đau lòng muốn ngất đi, khóc rống lên: "Sư bá tổ! Sư bá tổ.. làm sao vậy?" Y bỗng nhớ lại lúc còn ở trong căn nhà gỗ, Tô Tinh Hà đã cười rất quái dị, bèn tức giận hỏi: "Thông Biện tiên sinh? Tại sao sư bá tổ lại chết? Phải chăng là tiên sinh cố ý hãm hại, mau nói thực đi!"

Tô Tinh Hà quì hai gối xuống đất nói: "Thưa chưởng môn, Tô Tinh Hà này không dám để chưởng môn làm chuyện bất nghĩa đâu. Huyền Nạn đại sư bị người ám toán nên mới viên tịch một cách đột ngột." Hư Trúc hỏi: "Thế thì lúc ở trong nhà gỗ, tại sao tiên sinh lại cười một cách kỳ cục?" Tô Tinh Hà cả kinh hỏi lại: "Tiểu ca đã cười ư? Chưởng môn phải cẩn thận, có người.." Lão chưa nói dứt câu đột nhiên ngừng lại, khóe miệng lại lộ ra một nụ cười khó hiểu.

Tiết Mộ Hoa la lớn: "Sư phụ!", rồi vội móc trong bọc ra một bình thuốc giải độc, mở nắp lấy ba viên nhét vào miệng Tô Tinh Hà. Nhưng Lung Á tiên sinh đã vĩnh viễn câm điếc thật rồi, mấy viên thuốc nghẹn trong miệng không nuốt xuống được nữa. Tiết Mộ Hoa khóc rống lên nói: "Sư phụ bị Đinh Xuân Thu hạ độc chết rồi. Lão tặc Đinh Xuân Thu!" Lão khóc nấc lên, nghẹn ngào không nói tiếp được.

Khang Quảng Lăng nhảy chồm lại toan ôm lấy Tô Tinh Hà. Tiết Mộ Hoa vội nắm lấy sau lưng đại sư huynh kéo lại, vừa khóc vừa nói: "Đừng có.. đụng vào người sư phụ!" Phạm Bách Linh, Cẩu Độc, Ngô Lãnh Quân, Phùng A Tam, Thạch Thanh Lộ, Lý Quỷ Lỗi đều nhất tề quì xuống trước di thể sư phụ, nét mặt vừa đau thương vừa giận dữ.

Khang Quảng Lăng theo Tô Tinh Hà đã lâu ngày nên biết rõ lề luật bản môn hơn. Lúc lão thấy sư phụ mình quì xuống trước mặt Hư Trúc gọi bằng chưởng môn, thì mười phần đã đoán ra đến tám chín, bây giờ lại chú ý nhìn vào tay Hư Trúc, quả nhiên thấy cái nhẫn bảo thạch màu đen liền nói: "Các vị sư đệ, mau theo ta lại tham kiến chưởng môn sư thúc của bản phái." Nói xong y quì xuống trước mặt Hư Trúc, dập đầu lạy. Bọn Phạm Bách Linh đều hiểu ra, liền quì xuống lạy theo.

Hư Trúc ruột rối như tơ vò, cất tiếng nói: "Đinh.. Đinh Xuân Thu thật là độc ác, đã gia hại sư bá tổ ta, lại làm chết cả sư phụ các vị!" Khang Quảng Lăng nói: "Việc trừ diệt kẻ gian ác để báo cừu tiết hận, hoàn toàn trông vào chưởng môn sư thúc chủ trương đại cuộc."

Hư Trúc chỉ là một nhà sư trẻ chưa hiểu việc đời, tuy về kiến thức, võ công cùng danh vọng trên giang hồ thì bọn này ai cũng hơn y xa, nhưng lúc này y chẳng để ý gì nữa. Trong đầu y chỉ còn một ý niệm duy nhất: "Không báo thù cho sư bá tổ không được. Không báo thù cho Thông Biện tiên sinh không được. Không báo thù cho lão tiền bối trong căn nhà gỗ cũng không được." Hư Trúc bất giác lớn tiếng la lên: "Không giết chết Đinh Xuân Thu.. ác nhân Đinh Xuân Thu.. ác tặc Đinh Xuân Thu không được."

Khang Quảng Lăng lại dập đầu nói: "Chưởng môn sư thúc đã nhận lời báo thù cho sư phụ, bọn sư điệt cảm tạ đại ân đại đức vô cùng." Bọn Phạm Bác Linh, Tiết Mộ Hoa đều dập đầu lạy theo. Hư Trúc vội quỳ xuống đáp lễ nói: "Không dám, không dám! Xin các vị đứng dậy." Khang Quảng Lăng nói: "Thưa sư thúc! Tiểu điệt có việc muốn bẩm, nhưng ở đây đông người không tiện, mời sư thúc vào trong kia để tiểu điệt trình bày." Hư Trúc nói: "Được!" rồi đứng dậy, mọi người cũng đứng dậy theo.

Hư Trúc cùng Khang Quảng Lăng vừa định đi vào trong căn nhà gỗ, Phạm Bách Linh vội nói: "Khoan đã! Sư phụ vừa bị độc thủ của Đinh lão tặc trong nhà, chưởng môn sư thúc cùng đại sư huynh chớ nên vào đó. Tên lão tặc này rất nhiều quỷ kế, nhất định phải đề phòng." Khang Quảng Lăng gật đầu nói: "Ngươi nói đúng lắm! Chưởng môn sư thúc là bậc yếu nhân, không thể để bị nguy hiểm được." Tiết Mộ Hoa nói: "Hai vị nói phải lắm. Để bọn tiểu đệ đi xem xét bốn mặt, đề phòng Đinh lão tặc lại giở ngụy kế gì nữa chăng?" Nói xong y chạy đi luôn, bọn Phùng A Tam, Lý Quỷ Lỗi cũng ra xa đến ngoài mười trượng. Nghĩ mà tội nghiệp, bọn huynh đệ này chỉ còn sót Tiết Mộ Hoa là vô sự, còn lại thì không mất hết công lực cũng bị trọng thương. Mang tiếng là đi cảnh giới, nhưng giả tỉ Đinh Xuân Thu quay lại tập kích thật, họ chỉ còn cách hô hoán chứ không còn sức kháng cự nữa.

Bọn Mộ Dung Phục, Đặng Bách Xuyên, thấy bọn họ lùi ra xa cũng đều lảng đi chỗ khác. Bọn Cưu Ma Trí, Đoàn Diên Khánh tuy thấy sự tình cổ quái nhưng không phải chuyện của mình, cũng rời đi mỗi người một hướng.

Khang Quảng Lăng lại nói: "Sư thúc!.." Hư Trúc ngắt lời: "Ta không phải là sư thúc của các vị, mà cũng chẳng phải chưởng môn gì gì hết. Ta chỉ là một hòa thượng Thiếu Lâm, không có liên can gì đến phái Tiêu Dao của các vị." Khang Quảng Lăng lại hỏi: "Sư thúc! Sao sư thúc lại không chịu nhận? Theo lề luật bản môn thì ba chữ Phái Tiêu Dao, người ngoài môn phái quyết không được nghe. Giả tỉ có ai vô tình hay hữu ý nghe thấy thì phải hạ sát ngay, dù phải đuổi theo đến góc biển chân trời cũng giết cho kỳ được để bịt miệng." Hư Trúc sợ run lên, nghĩ thầm: "Qui củ như vậy thì không phải là chính phái. Nếu ta không chịu gia nhập phái này thì họ phải giết ta ư?"

Khang Quảng Lăng lại nói: "Thủ pháp mà sư thúc vừa trị thương cho mọi người chính là nội công chính thống của bản phái. Nếu sư thúc không gia nhập bản phái thì khi nào sư tổ lại truyền thụ môn đó? Mà tiểu điệt không dám hỏi nhiều, không chừng gia sư đã thay mặt sư tổ để thu đồ đệ, truyền chức chưởng môn cũng nên. Dù sao, chiếc nhẫn Tiêu Dao Thần Tiên Hoàn đã đeo ở trên ngón tay của sư thúc, gia sư lúc lâm tử lại gọi sư thúc bằng chưởng môn, thì sư thúc đừng chối làm gì nữa."

Hư Trúc nhìn sang trái thấy bọn Tuệ Phương đã khiêng thi thể Huyền Nạn đặt qua một bên, lại thấy xác Tô Tinh Hà vẫn quỳ dưới đất, khóe miệng vẫn còn một nụ cười bí mật, thì chua xót trong lòng, nói: "Chuyện này nhất thời không thể nói rõ được. Hiện giờ, cấp bách nhất là phải làm sao biết Đinh Xuân Thu để báo thù cho sư phụ các vị và sư bá tổ ta, đồng thời trừ hại cho võ lâm, Lão tiền bối.."

Khang Quảng Lăng lập tức quì xuống nói: "Sư thúc xưng hô như vậy thì giết tiểu điệt đi còn hơn." Hư Trúc chau mày nói: "Thôi được! Đứng dậy đi!" Khang Quảng Lăng vâng lời đứng dậy. Hư Trúc nghĩ sao lại buột miệng nói: "Lão tiền bối!.." Ba chữ này vừa ra khỏi miệng, Khang Quảng Lăng lại quỳ mọp xuống đất. Hư Trúc nói: "Ta quên mất, không được xưng hô thế nữa. Đứng dậy đi!" Hư Trúc lấy cuốn trục của Tiêu Dao lão nhân, mở ra nói: "Sư phụ ngươi bảo ta theo cuốn trục này để tìm cách học võ công, mới trừ diệt được Đinh Xuân Thu."

Khang Quảng Lăng thấy cuốn trục vẽ hình một mỹ nữ cung trang thì lắc đầu nói: "Tiểu điệt không hiểu được bức vẽ này, sư thúc hãy cất đi đừng để cho người ngoài trông thấy. Lúc gia sư còn sống đã nói gì, xin sư thúc cứ theo lời người mà hành động. Tiểu điệt xin nói rõ, chất độc gia sư trúng phải gọi là Tam Tiếu Tiêu Dao Tán, vô hình vô sắc. Người trúng độc không hay biết gì hết, chỉ có nét mặt tựa như mỉm cười một cách cổ quái, cười đến lần thứ ba là tắt thở chết."

Hư Trúc cúi đầu nói: "Thật là xấu hổ. Lúc lệnh sư trúng độc, quả là có cười một cách khó hiểu. Ta lại đem bụng dạ tiểu nhân mà đoán càn, nghi lệnh sư có ý nghĩ không tốt. Nếu lúc ấy mà hỏi ngay, thì chắc còn cứu kịp, không đến nỗi thảm tử."

Khang Quảng Lăng lắc đầu nói: "Ai đã trúng phải Tam Tiếu Tiêu Dao Tán thì khó mà cứu được, Đinh lão tặc hoành hành trong võ lâm, nhờ vào Tam Tiếu Tiêu Dao Tán mà chẳng sợ ai. Hóa Công Đại Pháp thì nổi tiếng hơn, vì người trúng Hóa Công Đại Pháp mất hết công lực nhưng không chết. Còn ai trúng phải Tam Tiếu Tiêu Dao Tán thì đừng hòng sống sót, dĩ nhiên không kể cho người khác nghe được."

Hư Trúc gật đầu nói: "Quả là kịch độc! Lúc đó ta đứng cạnh tôn sư mà không phát giác được Đinh lão tặc đã hạ độc cách nào. Mà sao Đinh lão tặc không hạ độc thủ giết nốt ta, còn dung tha cái mạng nhỏ bé này làm gì?" Khang Quảng Lăng đáp: "Chắc lão thấy võ công sư thúc tầm thường, không cần hạ độc. Chưởng môn sư thúc, theo tiểu điệt thì sư thúc còn nhỏ tuổi, bản lĩnh chưa có gì cao thâm. Sư thúc được sư phụ truyền thụ cho phép trị thương kỳ diệu, nhưng bản lĩnh so với Đinh Xuân Thu thì chưa thấm gì. Có lẽ vì thế mà Đinh lão quái không để ý gia hại sư thúc." Đột nhiên y nghĩ ra mình ăn nói vô lễ, vội vàng nhận lỗi: "Chưởng môn sư thúc! Tiểu điệt quen nói thật tình, sư thúc trách phạt thì tiểu điệt cũng xin chịu. Sự thực võ công sư thúc chưa được cao cường lắm."

Hư Trúc nói: "Ngươi nói không sai chút nào, võ công ta quả là thấp kém. Đinh lão tặc.. Ôi chao, tội lỗi, tội lỗi! Tiểu tăng xưng hô khinh bạc, phạm vào ác khẩu giới, thật không đáng làm đệ tử nhà Phật. Đinh Xuân Thu thí chủ quả là không muốn giết tiểu tăng."

Hư Trúc thì bụng dạ chất phác, Khang Quảng Lăng thì không hiểu nội tình, đều không nghĩ ra được lúc Đinh Xuân Thu đột nhập vào nhà gỗ, nghe thấy Tô Tinh Hà đang truyền pháp môn trị hàn độc cho Hư Trúc, không phải không muốn ám toán Hư Trúc, cũng không phải cho rằng y võ công thấp kém mà không đáng giết. Lý do chỉ vì Tam Tiếu Tiêu Dao Tán là loại thuốc độc phải dùng nội lực đẩy vào thân thể của đối phương. Đinh Xuân Thu trong nhà gỗ đã phát xạ Tam Tiếu Tiêu Dao Tán vào Tô Tinh Hà và Hư Trúc, ra ngoài lại ám toán Huyền Nạn. Tô Tinh Hà thì sau trận ác chiến đã kiệt lực, Huyền Nạn thì đã mất hết nội lực, nên trước sau đều trúng độc. Còn Hư Trúc vừa nhận được bảy mươi năm thần công, nội lực kèm chất độc của Đinh Xuân Thu nhắm vào y đều bị hất ra ngoài, vô tình lại chuyển sang thân của Tô Tinh Hà, còn Hư Trúc không trúng mảy may. Bởi thế mà trước nay Đinh Xuân Thu cùng người chiến đấu, không dám sử dụng Tam Tiếu Tiêu Dao Tán trước mặt vì sợ đối phương nội lực cao cường hất trở lại mình.

Khang Quảng Lăng nói: "Sư thúc nói không đúng rồi. Phái Tiêu Dao không phải Phật mà cũng chẳng phải Đạo, muốn đi đâu thì đi, muốn đến đâu thì đến, có phải tiêu dao tự tại biết chừng nào không? Sư thúc là chưởng môn bản phái, chẳng phải nghe lời ai cả, nên sớm bỏ áo cà sa, để tóc dài, lấy cô vợ mười bảy mười tám, mặc kệ Phật môn hay chẳng Phật môn, ác khẩu giới thiện khẩu giới chi chi hết."

Y cứ nói một câu là Hư Trúc niệm một tiếng "A Di Đà Phật!". Y dứt lời, Hư Trúc bèn nói: "Trước mặt ta, ngươi đừng nói những câu phỉ báng Phật môn nữa. Người còn điều chi muốn nói nữa không?" Khang Quảng Lăng la lên: "Hỏng bét! Tiểu điệt thật là đáng chết, nói lăng nhăng hàng nửa ngày vẫn chưa đi vào chính đề. Thưa chưởng môn sư thúc, tiểu điệt thỉnh cầu sư thúc một việc lớn, xin sư thúc gia ơn phê chuẩn cho."

Hư Trúc đáp: "Sao lại kêu ta phê chuẩn, ta không dám đâu!" Khang Quảng Lăng nói: "Ôi! Đại sự trong bản môn mà không cầu chưởng môn phê chuẩn thì còn biết cầu ai nữa? Bọn sư huynh sư đệ tiểu điệt cả thảy tám người, trước kia đã bị sư phụ đuổi ra khỏi môn phái. Không phải là bọn tiểu điệt phạm lỗi gì, chỉ vì sư phụ sợ Đinh lão tặc gia hại đến bọn tiểu điệt, lại không nỡ chọc màng tai, cắt đầu lưỡi cho bọn tiểu điệt thành câm điếc, nên phải dùng đến hạ sách này. Bây giờ sư phụ đã thu hồi mệnh lệnh, cho bọn tiểu điệt gia nhập trở lại sư môn, nhưng chưa bẩm lên chưởng môn để thi hành đại lễ, như thế vẫn chưa được kể là đệ tử chính thức. Vậy bọn tiểu điệt thỉnh cầu chưởng môn chuẩn y thu nhận. Nếu không, tám người bọn sư điệt vẫn là vô môn vô phái, chẳng khác gì bọn cô hồn dã quỷ vật vờ trên chốn giang hồ, thật là đau khổ."

Hư Trúc nghĩ thầm: "Nếu mình quyết không nhận làm chưởng môn phái Tiêu Dao, thì lão già này còn quấy rầy mãi không chịu thôi. Thôi thì ta cứ vờ vịt cho xong chuyện rồi tính sau." Y liền nói: "Lệnh sư đã bằng lòng thì các ngươi tự nhiên lại là đệ tử trong môn phái, còn thắc mắc gì nữa?"

Khang Quảng Lăng cả mừng quay lại hô to: "Các vị sư đệ, sư muội! Chưởng môn sư thúc đã ưng thuận cho bọn ta quay lại bản môn rồi!" Bảy người còn lại trong Hàm Cốc Bát Hữu đều hoan hô ầm ĩ! Lão nhị mê cờ là Phạm Bách Linh, lão tam đồ gàn là Cẩu Độc, lão tứ vẽ giỏi là Ngô Lãnh Quân, lão ngũ là Diêm Vương Địch Tiết Mộ Hoa, lão lục thợ khéo là Phùng A Tam, lão thất là thiếu phụ Thạch Thanh Lộ, lão bát kép hát là Lý Quỷ Lỗi, cả bọn đều đến khấu đầu lạy tạ chưởng môn sư thúc đã gia ơn cho trở về bản phái.

Hư Trúc lại càng băn khoăn, thấy mỗi việc xảy ra lại kéo mình vào danh vị chưởng môn sư thúc sâu thêm một nấc. Mình là đệ tử danh môn chính phái, là hòa thượng Thiếu Lâm mà lại đi chấp chưởng một tà môn ngoại đạo thì còn ra gì nữa? Nhưng y thấy bọn Phạm Bách Linh đang mừng rỡ đến chảy nước mắt, nếu mình lại từ chối danh vị chưởng môn thì thật là quá tàn nhẫn. Y không biết làm thế nào cho phải, đành lắc đầu nở một nụ cười đau khổ. Hư Trúc ngoảnh đầu lại, nhưng mọi người Mộ Dung Phục, Đoàn Diên Khánh, Đoàn Dự, Vương Ngữ Yên, sáu nhà sư chữ Tuệ, đến cả thi thể Huyền Nạn đều không thấy đâu nữa, trong rừng tùng chỉ còn lại chín người phái Tiêu Dao mà thôi.

Hư Trúc ngạc nhiên hỏi: "Ôi chao! Mọi người đi đâu hết rồi?" Ngô Lãnh Quân đáp: "Mộ Dung công tử cùng các vị cao tăng phái Thiếu Lâm thấy chúng ta bàn luận lâu quá, đều đi cả rồi." Hư Trúc la lên: "Trời ơi!", rồi nhún chân nhảy vọt đi, định bụng đuổi theo bọn Tuệ Phương để cùng về chùa Thiếu Lâm, hỏi ý sư phụ xem có nên đi nữa không. Trong lòng y nóng nảy, không nghe cả những tiếng hô hoán của bọn sư điệt phía sau.

Hư Trúc chạy như bay chừng nửa giờ, càng về sau càng nhanh hơn mà vẫn không thấy sáu vị sư bá sư thúc hàng chữ Tuệ đâu. Y không ngờ nhờ vào thần công bảy mươi năm của Tiêu Dao lão nhân truyền cho, nên khinh công mau lẹ phi thường, vượt xa sáu nhà sư hàng chữ Tuệ. Y hốt hoảng rượt theo, ngờ đâu trong lúc băng qua một thung lũng, y chỉ nhô lên hụp xuống mấy cái đã bỏ sáu nhà sư lại phía sau mà không hay biết.

Hư Trúc chạy một mạch đến chiều tối vẫn chẳng thấy sáu nhà sư đâu, trong lòng rất kinh ngạc, tưởng là mình chạy lạc đường. Y liền quay đầu chạy ngược lại chừng hai mươi dặm, vừa chạy vừa hỏi thăm những người qua đường, nhưng chẳng ai biết. Đến lúc trời tối y chạy tới một thị trấn, bụng đã đói meo liền tìm vào phạn điếm, bảo nhà hàng nấu hai bát miến chay.

Hư Trúc ngồi đợi nấu miến mà lòng dạ bồn chồn, không ngớt đưa mắt nhìn ra ngoài, hết ngó đông lại ngò tây. Đột nhiên y nghe một thanh âm vừa trong trẻo vừa dõng dạc hỏi: "Phải chăng hòa thượng đang muốn kiếm ai?" Hư Trúc ngoảnh lại nhìn thì thấy ở hướng tây có một chàng thiếu niên mặc áo xanh ngồi bên cửa sổ, mày thanh mắt sáng, nước da trắng mịn, tướng mạo tuấn nhã đang cười hì hì nhìn mình. Gã này mới chừng mười bảy mười tám tuổi. Hư Trúc nói: "Đúng thế! Tiểu tướng công có thấy sáu hòa thượng qua đây không?" Thiếu niên đáp: "Sáu hòa thượng thì không thấy, chỉ thấy một thôi!" Hư Trúc hỏi: "Thế ư? Tướng công thấy vị hòa thượng đó ở đâu?" Thiếu niên đáp: "Ở trong phạn điếm này."

Hư Trúc nghĩ thầm: "Một hòa thượng thì chắc là không phải, bọn Tuệ Phương sư bá cùng đi chứ đâu phải một người? Nhưng ta cứ thử hỏi xem, may ra có được tin tức gì chăng?" Y liền hỏi: "Không hiểu vị hòa thượng đó trông thế nào, độ bao nhiêu tuổi và đi hướng nào, tiểu tướng công có để ý không?" Chàng thiếu niên mỉm cười đáp: "Hòa thượng đó trán dô tai vểnh, miệng rộng môi dày, lỗ mũi huếch lên trời, độ chừng hai mươi ba hai mươi bốn tuổi. Nhà sư đó đang trong phạn điếm để chờ ăn hai bát miến, chưa biết sẽ đi hướng nào!"

Hư Trúc phì cười đáp: "Té ra tiểu tướng công đang nói đến bần tăng." Chàng thiếu niên nói: "Tướng công là tướng công, sao lại còn tiểu vào đấy? Ta vẫn gọi là hòa thượng, có gọi tiểu hòa thượng đâu?" Giọng nói của gã vừa trong trẻo vừa uyển chuyển, nghe rất êm tai. Hư Trúc cười nói: "Phải rồi! Gọi bằng tướng công thì đúng hơn!"

Hai người đang nói chuyện thì tiểu nhị bưng miến lên. Hư Trúc cười nói: "Tướng công! Bần tăng ăn miến đây." Thiếu niên nói: "Ăn chay không có chút dầu mỡ nào thì sao nuốt nổi? Hòa thượng lại đây dùng thịt béo gà quay với ta." Hư Trúc nói: "Tội lỗi! Tội lỗi! Suốt đời bần tăng không đụng đến thịt cá, xin tướng công cứ tùy tiện." Nói xong, nhà sư cúi xuống ăn miến, thấy chàng thiếu niên ăn thịt nên không muốn nhìn lâu.

Nhà sư đang đói meo, nuốt hết nửa bát miến trong nháy mắt. Bỗng nghe thiếu niên la lên: "Ôi chao! Cái gì thế này?" Hư Trúc ngoảnh lại xem thì thấy gã cầm thìa canh chưa đưa vào miệng, vẻ mặt kinh ngạc như đột nhiên trông thấy một vật kỳ dị. Gã thò tay trái ra nhặt lấy vật gì đó trên bàn rồi đứng dậy, một tay vẫn cầm thìa canh, một tay cầm vật kia đến bên Hư Trúc hỏi: "Hòa thượng! Hòa thượng coi con sâu này có kỳ lạ không?"

Hư Trúc nhìn kỹ vật trên tay gã, thì ra chỉ là một con bọ nhỏ màu đen rất thông thường, ở đâu cũng có. Y bèn hỏi: "Không hiểu nó kỳ dị ở chỗ nào?" Chàng thiếu niên đáp: "Hòa thượng nhìn kỹ mà xem, vỏ nó đen sì mà sáng bóng, tựa như có bôi dầu." Hư Trúc nói: "Ôi chà, đó chỉ là con bọ thôi, con nào cũng vậy." Thiếu niên nói: "Thế ư?", rồi vứt con bọ xuống đất, lấy chân dẫm chết, xong trở lại bàn mình. Hư Trúc thở dài nói: "Tội nghiệp! Tội nghiệp!", rồi lại cúi xuống ăn miến.

Cả ngày nay nhà sư chưa có gì vào bụng nên ăn có vẻ rất ngon lành, húp cạn cả nước, chỉ còn lại bát không. Hư Trúc lại bưng bát miến thứ hai lên cầm đũa toan gắp ăn, đột nhiên gã thiếu niên cười ha hả nói: "Hòa thượng! Ta thấy người bề ngoài nghiêm cẩn, cứ tưởng là hòa thượng tốt, ngờ đâu cũng là hạng khẩu thị tâm phi, giả bộ tu hành!" Hư Trúc hỏi lại: "Bần tăng khẩu thị tâm phi ở chỗ nào?" Thiếu niên đáp: "Hòa thượng nói suốt đời không đụng tới thịt cá, thế mà húp sạch bát thang gà một cách ngon lành!" Hư Trúc nói: "Tướng công nói giỡn rồi. Rõ ràng là một bát miến chay chỉ có rau, sao lại bảo là thang gà? Bần tăng đã dặn chủ quán đừng cho giọt dầu mỡ nào."

Thiếu niên mỉm cười nói: "Hòa thượng nói là không biết ăn thịt cá, thế mà húp nguyên bát thang gà cũng chẳng thấy gì. Để ta lại múc một thìa mỡ gà đổ vào bát miến cho hòa thượng ăn nữa nhé!" Gã nói xong, múc một thìa mỡ trong đĩa gà quay rồi đứng lên.

Hư Trúc cả kinh nói: "Tướng công! Vừa rồi.. vừa rồi.." Thiếu niên cười đáp: "Phải rồi! Lúc nãy ta múc một thìa mỡ gà cho vào bát miến, chẳng lẽ hòa thượng không thấy hay sao? Ái chà chà! Chắc chắn là hòa thượng nhắm mắt vờ như không biết ta cho mỡ gà vào, như thế vừa được ăn ngon vừa không phải tự mình ra tay. Không hiểu Phật tổ có trách phạt hòa thượng không?"

Hư Trúc vừa kinh hãi vừa tức giận, bấy giờ y mới hiểu ban nãy gã thiếu niên gạt mình nhìn vào con sâu là để thừa cơ đổ thìa mỡ gà vào bát miến của mình. Nhà sư nghĩ lại lúc ăn bát canh miến quả thấy thơm ngon hơn, chỉ vì suốt đời chưa từng nếm qua nên không nhận được mùi vị, Hư Trúc không hiểu đã lỡ nuốt mỡ gà vào bụng rồi thì phải làm thế nào, có nên nôn ra không. Y ngẩn ra hồi lâu, chưa biết tính sao.

Gã thiếu niên lại hỏi: "Phải chăng hòa thượng đang tìm sáu nhà sư? Có phải mấy vị đang đi ngoài kia không?"

Hư Trúc cả mừng bước ra cửa, ngó qua ngó lại cũng chẳng thấy bóng người nào. Y biết là lại bị lừa gạt thì bực bội trong lòng, nhưng là người xuất gia thì không nên oán giận, bèn cố nhịn không nói năng gì, lại quay vào ăn miến.

Hư Trúc nghĩ thầm: "Tiểu tướng công này còn nhỏ tuổi mà tính tình tinh nghịch, thích chọc ghẹo người khác." Y lại cầm đũa ăn như rồng cuốn đến hơn nửa bát. Đột nhiên lưỡi nhà sư chạm phải vật gì trơn trơn, nhưng vì ăn lẹ quá nên không hãm kịp, nuốt luôn vào bụng. Hư Trúc giật mình nhìn vào bát miến, thấy một miếng thịt lớn, biết ngay vừa rồi mình đã nuốt một miếng thịt rồi. Y vứt đũa xuống bàn, than thở: "Khổ rồi! Khổ rồi!"

Gã thiếu niên cười nói: "Hòa thượng! Ăn miếng thịt ngon lành thế kia mà lại còn kêu khổ ư?" Hư Trúc tức giận nói: "Thì ra ngươi lừa ta chạy ra cửa để bỏ thịt vào bát miến của ta. Ta.. ta đã hai mươi ba tuổi, chưa ăn một chút đồ tanh nào.. Ta bị hại vì tay ngươi rồi!"

Chàng thiếu niên mỉm cười hỏi lại: "Miếng thịt béo đó mà không ngon gấp mười rau xanh đậu hũ ư? Trước nay hòa thượng không chịu ăn cá thịt thì thật là ngu ngốc." Hư Trúc cau mày đầy vẻ đau khổ, đưa tay lên gãi đầu, nhất thời chưa biết làm thế nào cho phải, bỗng nghe ngoài cửa có tiếng nhốn nháo, một đám đông người đang tiến vào phạn điếm.

Y nhìn ra, thì chính là bọn đệ tử phái Tinh Tú, kinh hãi than thầm: "Ôi chao, nguy rồi! Bọn chúng mà bắt được ta thì còn chi là sinh mạng?" Hư Trúc vội vàng chạy ra sau để tìm chỗ trốn, ngờ đâu vừa đẩy cửa tiến vào, thì đây là một buồng ngủ. Phạn điếm này nhỏ quá, phòng ngủ của nhà chủ liền với phòng khách ngồi. Hư Trúc toan trở ra, bỗng nghe có tiếng gọi: "Chủ quản! Mau mau đem rượu thịt ra đây!" Bọn đệ tử phái Tinh Tú đã vào đến phòng khách.

Hư Trúc không dám ra ngoài nữa, đứng trong phòng khép cửa lại. Bỗng nghe một người nói: "Kiếm chỗ cho nhà sư mập nằm!" Thanh âm đó rất quen thuộc, chính là của Đinh Xuân Thu. Một tên đệ tử phái Tinh Tú đáp: "Vâng!", rồi có tiếng chân bước nặng chịch đi lại phía phòng ngủ. Hư Trúc cả kinh, bèn cúi xuống chui vào gầm giường. Đột nhiên y đụng phải vật gì đó rồi có tiếng kêu khẽ, thì ra đã có một người nằm ẩn dưới gầm giường. Hư Trúc giật mình, đang muốn chui ra thì một tên đệ tử phái Tinh Tú đã bồng nhà sư Tuệ Tịnh tiến vào buồng ngủ, đặt lên giường rồi trở ra ngoài.

Hư Trúc lại nghe người nằm bên cạnh mình hỏi nhỏ: "Hòa thượng! Lúc nãy ăn thịt có ngon không? Hòa thượng sợ quái gì?" Hư Trúc nghĩ thầm: "Gã này chân tay mau lẹ, chui vào nấp dưới gầm giường trước cả mình.", bèn nói: "Ngoài kia có một bọn ác nhân, tướng công chớ có lên tiếng." Thiếu niên hỏi: "Sao hòa thượng biết bọn chúng là ác nhân?" Hư Trúc đáp: "Bần tăng có gặp qua bọn này, chúng vô cớ giết người không hề chớp mắt."

Chàng thiếu niên đang định bảo Hư Trúc nói nhỏ lại, thì đột nhiên Tuệ Tịnh nằm trên giường la lên: "Gầm giường có người! Gầm giường có người!" Hư Trúc cùng gã thiếu niên cả kinh, đồng thời chui ra. Đinh Xuân Thu đang đứng sừng sững trước cửa phòng cười nhạt, vẻ mặt lão vừa đắc ý vừa ác độc.

Gã thiếu niên mặt mày tái mét cắt không ra máu, quì ngay xuống đất, hô lớn: "Sư phụ!" Đinh Xuân Thu cười nói: "Hay lắm, hay lắm! Đưa đây!" Thiếu niên đáp: "Đệ tử không để bên mình." Đinh Xuân Thu hỏi: "Để ở đâu?" Thiếu niên đáp: "Đệ tử cất ở Nam Kinh, nước Liêu." Đinh Xuân Thu mắt lộ hung quang, gằn giọng nói: "Mi còn dám lừa gạt ta ư? Ta sẽ để mi muốn sống không sống được, mà muốn chết cũng không chết được!" Thiếu niên đáp: "Đệ tử không dám lừa gạt sư phụ!" Đinh Xuân Thu đảo mắt nhìn Hư Trúc, rồi hỏi thiếu niên: "Sao mi lại ở với hắn một nơi?" Thiếu niên đáp: "Đệ tử mới gặp y trong phạn điếm này." Đinh Xuân Thu hừ một tiếng, quát: "Mi nói láo!" Hai mắt lão hầm hầm nhìn hai người, rồi quay trở ra. Bốn tên đệ tử phái Tinh Tú bèn tiến lại gần vây lấy hai người.

Hư Trúc vừa kinh hãi vừa hối hận, nói: "Té ra ngươi cũng là đệ tử phái Tinh Tú!"

Gã thiếu niên hằn học đáp: "Chỉ tại ngươi mà lộ chuyện, còn trách ta nữa ư?" Một tên đệ tử phái Tinh Tú hỏi: "Đại sư tỉ! Lâu nay vẫn bình yên chứ?" Giọng nói của gã ra chiều mai mỉa, bộ mặt đầy vẻ khoái chí khi thấy người khác gặp tai họa.

Hư Trúc kinh ngạc hỏi: "Cái gì? Ngươi.. ngươi.." Gã thiếu niên mắng luôn: "Tên trọc ngu ngốc này, tên trọc thối tha này! Dĩ nhiên ta là nữ nhân, chẳng lẽ ngươi không nhận ra hay sao?"

Thiếu niên này chính là A Tử cải trang. Nàng ở trong thành Nam Kinh nước Liêu, tuy vinh hoa phú quý hưởng không hết được, nhưng bản tính hiếu động, lâu ngày đâm chán. Tiêu Phong thì công việc bận rộn, không thể ngày nào cũng đưa nàng đi săn bắn du ngoạn được. Một hôm nàng thấy trong lòng buồn bã, liền một mình ra ngoài chơi, lúc đầu nghĩ là đến tối sẽ trở về, không ngờ gặp chuyện hứng chí, đuổi theo một người càng lúc càng xa, đến lúc giết được người đó thì đã xa Nam Kinh quá rồi. Nhân đó nàng bèn xuống Trung Nguyên du ngoạn khắp nơi, hôm nay ma dẫn lối quỷ đưa đường thế nào lại gặp cả Hư Trúc cùng Đinh Xuân Thu. A Tử gạt Hư Trúc ăn mặn phá giới, chỉ là để đùa chơi. Hễ thấy người ta bối rối phiền não là nàng khoái chí, thật ra không có ý tứ sâu xa gì.

A Tử tưởng sư phụ nàng cứ ở Tinh Tú Hải đến hết tuổi già, không bước chân tới Trung Nguyên nữa, nào ngờ trong phạn điếm nhỏ xíu nơi thị trấn này lại oan gia gặp mặt trong ngõ hẻm. Ngoài mặt A Tử tỏ ra thản nhiên vô sự, nhưng nàng đã sợ đến xiêu hồn bạt vía, to tiếng mạt sát Hư Trúc chỉ là để tự trấn an mình. Giọng nói của nàng cũng bắt đầu run rẩy, cố gượng trấn tĩnh nhưng không được nữa. A Tử bèn ngồi xuống mép giường, tính kế thoát thân. Nàng nghĩ thầm: "Chỉ có tỉ phu may ra mới có thể cứu được mình, còn bất luận ai khác cũng không địch nổi sư phụ. Bây giờ chỉ còn đường sống duy nhất là gạt sư phụ đến Nam Kinh, mượn tay tỉ phu giết phắt lão đi. Cũng may mà mình để Thần Mộc Vương Đỉnh lại Nam Kinh, chắc sư phụ không bỏ bảo vật đó được."

Nàng đã thấy hơi hơi yên lòng, nhưng lại nghĩ tiếp: "Giả tỉ sư phụ tra khảo hành hạ mình, phế hết võ công rồi mới giải đến Nam Kinh, thì còn đau khổ gấp mười lần bị giết chết ngay." Nghĩ vậy nàng sợ quá, mặt không còn chút huyết sắc.

Lúc ấy, một tên đệ tử phái Tinh Tú đi tới cửa phòng cười hì hì gọi: "Đại sư tỉ ơi, sư phụ mời ra nói chuyện." A Tử chẳng khác gì chuột nghe mèo gọi, xương cốt mềm nhũn ra, hồn phi phách tán, chỉ còn biết theo chân tên này ra phòng khách.

Chỉ một mình Đinh Xuân Thu ngồi, trên bàn đã bày sẵn rượu thịt. Bọn đệ tử đều thõng tay đứng xa xa, thái độ cực kỳ cung kính, không ai dám thở mạnh. A Tử bước đến gọi: "Sư phụ!", rồi quỳ mọp xuống. Đinh Xuân Thu hỏi: "Thực sự mi để ở đâu?" A Tử đáp: "Đệ tử không dám lừa gạt sư phụ. Vật đó đang ở trong thành Nam Kinh nước Liêu." Đinh Xuân Thu lại hỏi: "Chỗ nào trong thành Nam Kinh?" A Tử đáp: "Trong vương phủ của Nam Viện Đại Vương nước Liêu." Đinh Xuân Thu chau mày hỏi: "Tại sao lại để lọt vào tay bọn chó má Khất Đan đó?" A Tử đáp: "Không lọt vào tay chúng đâu. Đệ tử lên miền bắc, vừa sợ làm thất lạc bảo bối của sư phụ, vừa sợ lỡ tay đánh rơi làm xây xát, liền vào vườn hoa phía sau vương phủ Tiêu đại vương đào lỗ chôn giấu. Nơi đó rất là hẻo lánh, hoa viên của Tiêu đại vương lại rộng đến sáu ngàn mẫu, trừ đệ tử ra thì không còn ai tìm thấy vương đỉnh được nữa. Xin sư phụ cứ yên tâm."

Đinh Xuân Thu lạnh lẽo cười nói: "Hừ! Chỉ có mi mới tìm được phải không? Ái chà, con này đáo để thật. Mi tưởng ta sợ tìm không ra vương đỉnh mà không dám giết mi ư?" A Tử toàn thân run rẩy, ấp úng nói: "Giả tỉ sư phụ không chịu dung tha cho đứa đệ tử ngu xuẩn này, mà đem phế bỏ công lực, cắt gân bứt mạch, hoặc chặt chân tay, thì đệ tử thà chết còn hơn, nhất quyết không nói ra vương đỉnh.. vương đỉnh hiện đang giấu ở đâu." Nàng sợ đến đứt hơi, mấy chữ cuối nói không ra tiếng.

Đinh Xuân Thu mỉm cười nói: "Con lỏi này lớn mật dám mặc cả với ta! Trong phái Tinh Tú thì mi là lợi hại nhất, chỉ vì ta không để ý phòng bị mà mi qua mặt được Tinh Tủ lão tiên!"

Một tên đệ tử đột nhiên lớn tiếng nói: "Tinh Tú lão tiên nhìn xa vạn dặm, người biết rõ số kiếp của Thần Mộc Vương Đỉnh phải trải qua mấy cuộc nguy nan, nên mới mượn tay A Tử để giũa mài thêm cho bảo bối." Một tên đệ tử khác nói: "Thần toán của lão tiên bao trùm thiên hạ, lời nói lại khiêm nhường, bọn đệ tử thật không thể nào theo kịp." Một tên khác lại nói: "Bữa nay Tinh Tú lão tiên mới thi triển một chút công phu đã hạ sát được tên Huyền Nạn là cao thủ Thiếu Lâm, đồng thời tru diệt luôn mười mấy tên đệ tử của Lung Á lão nhân, quả là đệ nhất thiên hạ từ cổ chí kim, Đại La Kim Tiên cũng chưa bằng được!" "Con lỏi A Tử kia! Mi xảo quyệt thế nào cũng không ra khỏi vòng trù tính của lão tiên được đâu! Dù mi van xin hay kháng cự, cũng vô ích như nhau." Tiếng gã này dõng dạc, Đinh Xuân Thu ngồi gật đầu mỉm cười, vuốt vuốt chòm râu ra vẻ thích thú.

Hư Trúc đứng trong phòng ngủ nghe rõ hết, nghĩ thầm: "Quả nhiên sư bá tổ cùng Thông Biện tiên sinh đều bị lão sát hại. Hỡi ôi! Nói chi đến chuyện báo cừu tiết hận? Ngay cả cái mạng nhỏ nhoi của ta cũng khó mà giữ nổi."

Bọn đệ tử phái Tinh Tú thi nhau khuyến cáo A Tử mau mau thành thật cung xưng, giọng điệu vừa sợ hãi, vừa tán dương oai đức của Tinh Tú lão tiên. Cả những câu tưởng chỉ nói cho A Tử nghe cũng đều ngụ ý xu nịnh Đinh Xuân Thu.

Bình sinh Đinh Xuân Thu có tật thích nghe nịnh bợ, ai càng nịnh khéo thì lão lại càng thích. Bọn đồ đệ này đã tán dương lão mấy chục năm trời, lão nghe quen tai, yên trí rằng chúng nói thật lòng, tên nào không biết ca tụng thì lại bị lão nghi ngờ là không trung thành. Đối với kẻ ác độc như Đinh Xuân Thu, tên nào lỡ làm mất lòng sư phụ thì không thể bảo toàn tính mạng được. Bọn đệ tử đều biết thế, nên cứ gặp cơ hội là chúng chụp ngay lấy để tán dương. Nói thật tình thì không phải hết thảy đệ tử phái Tinh Tú đều mặt dày vô sỉ, nhưng một là vì tình thế bắt buộc phải nịnh bợ sư phụ để tồn tại, hai là chúng đi theo sư phụ lâu ngày, những câu nịnh bợ nghe đã quen tai, rồi cứ thuận miệng xì ra, chẳng thấy gì là đáng xấu hổ nữa.

Đinh Xuân Thu ngồi nghe bọn đệ tử ca tụng, mỉm cười vuốt râu, hai mắt híp lại, khoái chí vô cùng. Bộ râu dài của lão lúc tỉ thí nội công cùng sư huynh là Lung Á lão nhân Tô Tinh Hà đã bị cháy mất một mảng lớn, nhưng chỗ còn lại cũng đủ để vuốt chơi. Về sau lão đã ngấm ngầm tung Tam Tiếu Tiêu Dao Tán ra lấy mạng Tô Tinh Hà, thế là thắng trận chung kết, thua mất một ít râu ở vòng trước cũng chẳng đáng nhớ tới nữa.

Lão tính toán trong bụng: "Con nha đầu A Tử hôm nay có mọc cánh cũng không thoát khỏi tay của lão tiên, còn tên tiểu hòa thượng ở phòng trong thì phải cẩn thận hơn. Rõ ràng Tam Tiếu Tiêu Dao Tán không giết được hắn, nhưng một lát nữa ta sẽ tìm cơ hội để thi triển Hủ Thi Độc hay Hóa Công Đại Pháp là ăn chắc, Tiêu Dao Thần Tiên Hoàn của chưởng môn bản phái nhất định vào tay ta rồi. Thật là đáng mừng!"

Sau thời gian chừng ăn xong bữa cơm, bọn đệ tử phái Tinh Tú im lặng dần. Còn mấy gã đang thao thao tràng giang đại hải thì chuyện cũng đã nhạt thếch, Đinh Xuân Thu bèn giơ tay ra hiệu bảo im đi. Bọn đệ tử lại đồng thành hô: "Công đức sư phụ rộng lớn như trời biển. Bọn đệ tử ngu dốt, vạn phần không nói lên được một", rồi mới im lặng hết. Đinh Xuân Thu lại gật đầu mỉm cười, quay sang A Tử hỏi: "A Tử! Mi còn điều gì muốn nói nữa không?" A Tử động tâm nghĩ thầm: "Trước kia sư phụ thương mình nhất cũng chỉ vì mình khéo ca tụng lão, đưa ra những lời tán dương mới lạ, còn bọn kia kém thông minh, chỉ nhai đi nhai lại những câu cũ mèm." Nàng bèn lên tiếng: "Sư phụ! Đệ tử lấy cắp Thần Mộc Vương Đỉnh cũng là có lý do riêng."

Cặp mắt Đinh Xuân Thu long lên sòng sọc, hỏi: "Lý do gì?" A Tử thưa: "Thời kỳ sư phụ còn ít tuổi, công lực chưa đến tột đỉnh mới cần Thần Mộc Vương Đỉnh để giúp luyện công. Nhưng hai năm nay, ai chưa mù mắt đều thấy thần thông sư phụ lệch đất nghiêng trời, thần sầu quỷ khốc. Thần Mộc Vương Đỉnh chỉ có khả năng kêu gọi trùng độc, so với thủ pháp của sư phụ thì nó chẳng đáng vào đâu. Trời đất còn biến chuyển thì pháp thuật của sư phụ còn tiến triển vô bờ bến, chuyện năm xửa năm xưa nhắc đến làm gì. Sư phụ có luyến tiếc cũng chỉ vì coi cái đỉnh đó như vật kỷ niệm mà thôi. Thế mà các vị sư huynh không biết gì lại đi hoảng hốt, tưởng chừng sư phụ không có cái đỉnh đó không xong, mất cái đỉnh là việc vô cùng trọng đại. Thế thì các vị thật là ngu xuẩn hết chỗ nói, lại còn có ý coi rẻ thần thông của sư phụ."

Đinh Xuân Thu gật đầu lia lịa khen: "Ừ! Ừ! Nói có lý! Nói có lý!".

A Tử lại nói tiếp: "Đệ tử còn nghĩ rằng võ công phái Tinh Tú chúng ta cao cường nhất thiên hạ, mà sư phụ là bậc đại nhân đại lượng không thèm tranh hơi với bọn võ lâm Trung Nguyên, vì bản lĩnh thấp kém của chúng chẳng đáng để sư phụ bận tâm. Cũng vì thế mà bọn người ngu xuẩn cứ ngồi ở đáy giếng, tưởng trời to bằng nắp vung, rồi đâm ra tự tôn tự đại. Họ biết sư phụ không thèm lý gì đến, lại càng làm già, gọi nhau nào là võ học danh gia, nào là đương thế cao nhân, thật là mặt dày vô sỉ hết chỗ nói. Bọn chúng chỉ giỏi diễu võ dương oai ở Trung Nguyên, chẳng tên nào dám bén mảng đến phái Tinh Tú mà lĩnh giáo mấy chiêu. Kể ra thì chúng cũng thừa biết võ công sư phụ cao thâm, nhưng chẳng biết cao đến mức độ nào. Thế rồi nhà Mộ Dung ở Cô Tô lên mặt, phái Thiếu Lâm ở Hà Nam cũng tự xưng là Thái Sơn Bắc Đẩu, rồi nào là Lung Á tiên sinh, nào họ Đoàn nước Đại Lý đều tự coi mình là những nhân vật phi thường. Sư phụ nghĩ xem có đáng buồn cười không?"

Thanh âm nàng đã trong trẻo, uyển chuyển dễ nghe, mà ý tứ lại thông minh, gãi đúng chỗ ngứa của Đinh Xuân Thu, so với kiểu đồng thanh hộ khẩu hiệu của bọn đệ tử kia thì siêu hơn nhiều. Bộ mặt Đinh Xuân Thu càng lúc càng tươi tỉnh, lão khoan khoái đến lờ đờ như người say thuốc.

A Tử lại tiếp: "Đệ tử vẫn còn trẻ con, bèn nảy ra ý nghĩ muốn mời sư phụ xuống Trung Nguyên để thi triển tuyệt kỹ thần thông cho bọn chúng mở rộng tầm mắt, cho bọn chúng biết rằng phía trên mặt đất còn có bầu trời, phía trên bọn võ lâm cao thủ bình thường còn có những vị lão tiên mà chúng không mơ thấy nổi. Nhưng nếu mời sư phụ một cách bình thường thì không phải lẽ, địa vị của sư phụ là vô tiền khoáng hậu khác với người thường thì dĩ nhiên cách cung thỉnh sư phụ cũng phải đặc biệt. Vì thế mà đệ tử lấy chiếc Thần Mộc Vương Đỉnh là cố ý rước đại gia sư phụ đến Trung Nguyên".

Đinh Xuân Thu cười ha há rồi nói: "Như thế thì ngươi lấy vương đỉnh cũng chỉ vì tấm lòng hiếu thuận ư?" A Tử đáp: "Chuyện đó thì không phải nói nữa, nhưng ngoài tấm lòng hiếu thuận cũng có một chút tư tâm" Đinh Xuân Thu chau mày hỏi: "Lại còn tư tâm gì nữa?"

A Tử mỉm cười đáp: "Xin sư phụ tha thứ. Con là đệ tử phái Tinh Tú, rất mong muốn cái danh bản phái vang lừng thiên hạ, để con đi đâu cũng được mọi người kính nể. Tư tâm nhỏ mọn của đệ tử là ở chỗ đó." Đinh Xuân Thu cười ha hả khen: "Nói hay lắm, nói hay lắm! Trong môn phái ta rất nhiều đệ tử, mà chẳng ai có tâm cơ linh mẫn như ngươi. Té ra ngươi lấy cắp Thần Mộc Vương Đỉnh là để làm nổi danh cho ta. Ha ha! Ngươi thật là thông minh sáng tạo, giết đi kể cũng đáng tiếc, bên mình ta sẽ thiếu mất một đứa nói chuyện có duyên để giải buồn. Nhưng giả tỉ ta bỏ qua việc này không xét tới nữa.." A Tử vội ngắt lời: "Nếu thế thì sư phụ thật là khoan hồng với đệ tử, bản môn từ trên xuống dưới ai nấy đều cảm kích tấm lòng đại lượng của sư phụ, càng tận tâm tận lực phụng sự sư môn, tan xương nát thịt cũng cam lòng."

Đinh Xuân Thu nói: "Ngươi có thể đánh lừa người khác, nhưng đối với ta thì vô ích. Ta đâu có hồ đồ đến thế? Hừ! Ngươi đã nói giả tỉ ta phế bỏ công lực ngươi, cắt gân bứt mạch ngươi.."

Chưa biết lão muốn nói gì, bỗng nghe một thanh âm dõng dạc vang lên: "Điếm gia! Dọn chỗ ngồi cho ta!" Đinh Xuân Thu đảo mắt nhìn qua thì thấy một chàng thanh niên công tử mình mặc hoàng bào, lưng đeo trường kiếm, ngồi ngay bàn bên cạnh, không biết vào đây từ lúc nào, chính là Mộ Dung Phục mà lão đã gặp nơi kỳ hội, võ thuật gia truyền lừng danh võ lâm. Đinh Xuân Thu đang mải nghe A Tử tán dương, để chàng đột nhiên vào ngồi cạnh mà không để ý, quả là sơ hở rất lớn. Giả tỉ Mộ Dung Phục ra tay ám toán thì chắc lão phải khốn đốn rồi. Đinh Xuân Thu giật mình một cái, hơi biến sắc mặt, nhưng lại trấn tĩnh được ngay.

Comments

0 comments

Trước Tiếp
 
34,431 ❤︎ Bài viết: 2241 Tìm chủ đề
Hồi 33: Đẩu Chuyển Tinh Di, trấn áp hồ quần cẩu đảng

Mộ Dung Phục đưa tay vẫy Đinh Xuân Thu, lên tiếng: "Tiền bối! Thì ra cõi nhân sinh chẳng rộng lớn gì. Chúng ta vừa mới chia tay, bây giờ lại gặp nhau rồi." Đinh Xuân Thu cười đáp: "Lão phu thật là có duyên với công tử." Lão lại nghĩ: "Ta đã đả thương mấy tên đại tướng dưới tay hắn, hôm nay trong kỳ hội lại suýt lấy được cái mạng nhỏ xíu của hắn, làm sao hắn bỏ qua ta được? Nghe đồn võ công nhà Mộ Dung ở Cô Tô uyên bác siêu quần, võ lâm không ngớt ca tụng môn Gậy ông đập lưng ông của nhà gã rất nhiều, chắc không phải là vô lý. Lúc hắn ném quân cờ đã thi triển công phu ném ám khí đến mức tuyệt diệu. Nhưng lúc hắn ngẩn ra nhìn cuộc cờ, người khác mà không kịp cứu thì ta đã thừa cơ trừ khử rồi. Thế thì thằng lỏi này võ công tuy cao, nhưng chưa chắc đã hiểu các pháp thuật khác." Lão quay sang bảo A Tử: "Ngươi bảo giả tỉ ta phế bỏ công lực, cắt gân bứt mạch, hoặc chặt chân tay của ngươi, thì ngươi thà chết lập tức chứ không cũng chịu nói ra cái đó ở đâu. Có phải thế không?"

A Tử sợ tái mặt, run run đáp: "Sư phụ đại lượng, chẳng nên, chẳng nên lưu tâm mấy câu hồ đồ loạn ngữ của đệ tử làm gì." Mộ Dung Phục cười nói: "Đinh tiên sinh! Niên kỷ tiên sinh cũng đã cao rồi, chấp nhặt với đứa con nít làm chi? Lại đây, lại đây, chúng ta cạn ba chén rượu rồi đàm văn luận võ có phải hơn không? Trước mặt người ngoài mà đem việc trong môn hộ ra thanh toán, thì coi sao tiện?".

Đinh Xuân Thu chưa trả lời, một tên đệ tử phái Tinh Tú đã nổi giận quát lên: "Thằng lỏi này không biết trên biết dưới. Sư phụ ta là bậc võ lâm chí tôn, sao lại thèm đàm văn luận võ với tiểu tử hậu sinh như ngươi được? Ngươi có tư cách gì mà đòi đàm luận với sư phụ của ta?".

Lại có tên hùa theo: "Nếu ngươi muốn thỉnh giáo sư phụ ta thì phải biết kính cẩn dập đầu, may ra Tinh Tú lão tiên thương yêu kẻ hậu bối mà chỉ điểm cho một hai điều. Mi dám mở miệng đòi đàm văn luận võ với Tinh Tú Lão Tiên thì người ta phải cười mi đến trẹo quai hàm. Ha ha!" Gã cười hai tiếng, vẻ mặt đột nhiên hơi sương lại, sau một lúc gã lại cười mấy tiếng khô khan, rồi há hốc miệng ra mà không nói gì nữa, nhưng vẻ mặt vẫn cười cợt một cách bí hiểm.

Bọn đệ tử phái Tinh Tú biết bạn đồng môn trúng phải Tam Tiếu Tiêu Dao Tán tắt hơi rồi, đều không khỏi kinh sợ mà im bặt, cúi đầu xuống không dám nhìn sư phụ nữa. Bọn chúng tự hỏi: "Không hiểu gã này lỡ miệng xúc phạm chỗ nào mà sư phụ bực tức đến mức hạ thủ giết y?"

Còn Đinh Xuân Thu thì vừa tức giận vừa sợ hãi. Lão vừa đối thoại với A Tử vừa khẽ phẩy tay áo, ngấm ngầm vận nội lực tung Tam Tiếu Tiêu Dao Tán vào Mộ Dung Phục. Thứ phấn độc này không hương không sắc, lại cực kỳ mịn hạt không tài nào nhìn rõ được, lão tin chắc võ công Mộ Dung Phục cao đến đâu cũng không thể phát giác ra. Nào ngờ Mộ Dung Phục dùng thủ đoạn gì không hiểu, hất Tam Tiếu Tiêu Dao Tán vào người gã kia, chết mất một gã đệ tử chẳng có gì đáng tiếc, nhưng Mộ Dung Phục đang cười cười nói nói, chẳng giơ tay nhấc chân gì mà hất được phấn độc qua người khác, thì công lực này quả là phi thường quá sức tưởng tượng. Đinh Xuân Thu là người kiến văn quảng bác, nhớ ngay đến thủ pháp "gây ông đập lưng ông" vốn là sở trường của Mộ Dung Phục. Thủ pháp này tương tự như thủ pháp chụp ám khí để phóng lại, bây giờ gã lại đón lấy phấn độc để tung ra. Nhưng phấn độc nhỏ li ti vô hình vô sắc mà sao không có chút nào dính vào người, lại bị gã hất hết ra ngoài được?

Đinh Xuân Thu lại nghĩ: "Tam Tiếu Tiêu Dao Tán do mình phóng ra, sao gã dùng thủ pháp gây ông đập lưng ông mà không hất trở về mình? Hừ! Chắc là thằng lỏi con này úy kỵ lão tiên nên không dám vuốt râu hùm." Lão nghĩ đến ba chữ "vuốt râu hùm", bèn đưa tay lên vuốt thì chỉ thấy bảy tám sợi râu bị cháy dở chỉ còn ngắn chùn ngũn. Trong lòng lão không lấy thế làm buồn mà lại mừng thầm, lẩm bẩm: "Tô Tinh Hà cùng với tên sư già Huyền Nạn nội lực cao thâm khó lường, rút cục vẫn chết về tay lão tiên, thì thằng lỏi Mộ Dung Phục miệng còn hôi sữa có chi đáng kể?" Đinh Xuân Thu bèn nói: "Mộ Dung công tử, chúng ta thật là có duyên với nhau. Lại đây, lại đây! Để ta mời công tử chén rượu." Nói xong lão búng ngón tay một cái, chén rượu trước mặt lão bay sang bàn Mộ Dung Phục, không rớt ra ngoài nửa giọt.

Bình thời thì bọn đệ tử đã thi nhau tán tụng, nhưng vừa rồi một gã đồng môn mới nói mấy câu đã bị thảm tử, nên chúng sợ hãi quá, chẳng ai dám mở miệng nói nhiều để lộ chỗ sơ hở. Song ít ra cũng phải reo lên một tiếng tán thưởng, nếu không tất bị sư phụ hành hạ thảm khốc, Chén rượu vừa đáp xuống trước mặt Mộ Dung Phục, bọn đệ tử đồng thanh hô một tiếng: "Tuyệt diệu!" như sấm vang. Trong bọn đệ tử có ba tên đặc biệt nhát gan không dám hoan hô, khi thấy bọn đồng môn reo hò, mới sực nhớ ra mình chưa lên tiếng. Ba tên này vội kêu lên "tuyệt diệu!" nhưng đã chậm mất một chút, nghe có vẻ không nghiêm chỉnh, chúng thấy bọn đồng môn liếc mắt quở trách thì vừa hổ thẹn vừa sợ hãi vô cùng.

Mộ Dung Phục nói: "Chén rượu này của Đinh tiên sinh, vãn bối xin chuyển sang mời lệnh cao đồ!" Nói xong gã thổi phù một cái, chén rượu lại bay đến trước mặt một tên đệ tử phái Tinh Tú ngồi bên trái.

Một bên búng ngón tay vào chén rượu, một bên lấy hơi thổi chén rượu bay đi, thật ra cũng chưa thể phân biệt được nội lực hơn kém. Nhưng nhìn qua thì ai cũng có cảm tưởng như thủ pháp của Mộ Dung Phục xảo diệu hơn, mà nội lực cũng mạnh hơn Đinh Xuân Thu.

Gã đệ tử phái Tinh Tú thấy chén rượu bay đến trước mặt, hốt hoảng không kịp suy nghĩ, bất giác đưa tay trái ra đón lấy mà nói: "Sư phụ mời công tử mà!" Gã định dùng chưởng lực đẩy chén rượu lại Mộ Dung Phục, thì đột nhiên rú lên một tiếng thê thảm, ngã ngửa ra sau rồi không nhúc nhích gì nữa. Bọn đệ tử hiểu ngay lúc sư phụ búng chén rượu đã để thuốc kịch độc bám quanh cái chén. Mộ Dung Phục bất tất phải uống rượu, chỉ cần cầm đến chén cũng đủ mất mạng như gã đệ tử này rồi.

Đinh Xuân Thu biến sắc mặt, căm giận vô cùng. Lão biết rằng lần này không che mắt được bọn đệ tử, chúng đều biết mình dùng phấn độc ám hại Mộ Dung Phục, lại bị gã trả miếng làm mất mạng đệ tử phái Tinh Tú. Lão dùng cả hai tay nâng một chén rượu khác, từ từ đứng lên nói: "Mộ Dung công tử! Lão phu mời công tử một chén, đừng từ chối mà bẽ mặt lão phu!" Lão vừa nói vừa đi tới phía Mộ Dung Phục.

Mộ Dung Phục thấy trong chén rượu trắng có ẩn sắc xanh, rõ ràng có pha thuốc kịch độc. Đinh Xuân Thu đi tới chỉ còn cách một cái bàn, Mộ Dung Phục liền vận nội công hít mạnh một hơi. Rượu trong chén Đinh Xuân Thu đang cầm đột nhiên bay lên thành một sợi dây nước xanh lè.

Đinh Xuân Thu kêu thầm: "Lợi hại quá!", biết đối phương hít mạnh cho rượu vọt lên, rồi sẽ thổi ra để rượu bắn về phía mình. Tuy lão không sợ rượu độc, nhưng để khắp người rượu ướt đầm đìa thì thật khó coi, bèn vận nội lực nhắm vào dây rượu thổi mạnh trước. Tia rượu bay đến cách mũi Mộ Dung Phục nửa thước, đột nhiên chuyển hướng sang trái, lượn vòng qua sau gáy y rồi bay vào đến miệng một tên đệ tử phái Tinh Tú.

Gã này đang há miệng sắp hoan hô, chữ "Tuyệt diệu" chưa kịp thốt ra thì tia rượu độc đã bắn vào miệng gã rồi chui xuống bụng. Đầu óc gã còn chậm chạp hơn tia rượu, không kịp nghị vẫn hô: "Tuyệt diệu!", rồi mới giật mình kêu lên: "Chết rồi!" Gã ngã gục ngay xuống đất, trong chớp mắt mặt đã sạm đen lại, mất mạng tức khắc. Mộ Dung Phục thấy thuốc độc ghê gớm như vậy không khỏi rùng mình nghĩ thầm: "Ta bôn tẩu giang hồ bấy lâu, chưa thấy chất độc nào ghê gớm đến thế."

Hai người tỉ đấu chưa xong, nhưng phái Tinh Tú đã chết mất ba tên đệ tử, như vậy rõ ràng Đinh Xuân Thu lép vế.

Đinh Xuân Thu cả giận, đặt chén rượu xuống bàn rồi phóng chưởng ra. Mộ Dung Phục từng nghe tiếng Hóa Công Đại Pháp, gia tâm đề phòng rất cẩn thận. Đinh Xuân Thu phóng veo véo luôn ba chưởng, Mộ Dung Phục đều dùng thân pháp để né tránh, không để cho tay lão chạm vào.

Trong phạn điếm nhỏ bé bàn ghế ngổn ngang, lối đi chật hẹp, mà hai người tiến thoái không một tiếng động. Hai bên xuất chiêu nhanh như chớp nhưng quyền chưởng không hề chạm nhau, bàn ghế cũng không bị xô đẩy chút nào.

Bọn đệ tử phái Tinh Tú chỉ biết sợ hãi đứng sát vào tường, không ai dám trốn ra ngoài vì sợ phạm tội đại bất trung, sau này tất bị sư phụ nghiêm trị. Chúng biết rõ tình thế nguy hiểm vô cùng, chỉ chạm phải một chút chưởng phong là có thể nguy hại đến tính mạng, tên nào cũng cố ép người mỏng như tờ giấy dán vào tường. Mộ Dung Phục thủ nhiều công ít, tuy chưởng pháp tinh thục nhưng không dám đối chưởng với Đinh Xuân Thu, thành ra bị trói chân trói tay ở thế hạ phong.

Tinh Tú Lão Quái vừa trao đổi mấy chiêu, thấy Mộ Dung Phục không dám đối chưởng, biết ngay gã sợ Hóa Công Đại Pháp, lão liền nảy ra ý định tỉ thí nội lực. Nhưng Mộ Dung Phục thân pháp kỳ ảo, chiêu thức vừa mau lẹ vừa khó đoán được phương hướng, lão muốn đối chưởng cũng không phải chuyện dễ. Một lúc sau Đinh Xuân Thu nảy ra một kế, dùng hữu chưởng đánh như gió bão để uy hiếp đối phương, giả vờ sử dụng tay trái không được tinh nhuệ, lại còn cố ý giấu giếm sợ đối phương khám phá ra.

Nhãn quan Mộ Dung Phục sắc bén vô cùng, nhìn ra ngay đối phương có nhược điểm. Gã lạng người đi nửa vòng, rồi đột nhiên phóng hai chưởng mãnh liệt nhằm đánh vào sườn trái Đinh Xuân Thu. Đinh Xuân Thu khẽ kêu lên một tiếng, lùi lại tránh né, tựa như không dám đưa tay trái ra đón đồ. Mộ Dung Phục cả mừng nghĩ thầm: "Chắc hẳn lão quái này đã bị nội thương gì ở nửa người bên trái." Gã bèn giả vờ tấn công dữ dội vào bên phải, chờ bên trái đối phương lộ sơ hở mới dùng hết sức đánh một chiêu.

Hai bên đấu hơn hai chục chiêu nữa, Đinh Xuân Thu rút tay trái về giấu trong tay áo, hữu chưởng biến thành trảo chụp xuống Mộ Dung Phục. Gã bèn nghiêng người lách qua, phóng quyền đánh thẳng vào sườn trái. Đinh Xuân Thu chỉ chờ có vậy, bèn phất tay áo bên trái nghe vù vù để cuốn lấy tay phải đối phương.

Mộ Dung Phục nghĩ thầm: "Tụ phong của ngươi có lợi hại gấp mười cũng đừng hòng đả thương nổi ta." Gã không chịu thu quyền về, lại vận thêm kình lực vào cánh tay để đón lấy tụ phong của đối phương. Nghe "soạt" một tiếng, tay áo bên phải Mộ Dung Phục bị rách toạc một miếng, gã giật mình, lại gia tăng kình lực cho phát quyền hung hãn hơn, đột nhiên đầu quyền bị bàn tay Đinh Xuân Thu nắm lấy.

Chiêu thức này vượt ngoài dự liệu của Mộ Dung Phục. Y kinh hãi nghĩ thầm: "Thì ra lão quái này giả vờ bị thương nửa người bên trái là kế dụ địch, ta mắc bẫy rồi." Rồi gã hối hận nghĩ: "Mình tự cao quá, coi Tinh Tủ Lão Quái vang danh thiên hạ không vào đâu. Quân tử báo thù mười năm chưa muộn, hà tất ta phải căm giận nhất thời, chưa tính toán kỹ đã mạo hiểm khiêu chiến với lão." Mộ Dung Phục không còn đường rút lui nữa, liền huy động nội lực toàn thân phóng ra đầu quyền. Nhưng nội kình gã xuất ra chỉ như cục đá chìm xuống biển, không hiểu mất đi đâu hết. Mộ Dung Phục kêu thầm một tiếng: "Ôi chao!" Lúc gã đến gây sự với Đinh Xuân Thu đã định bụng không để Hóa Công Đại Pháp của lão chạm được vào mình, nhưng cuối cùng lại không tránh khỏi. Lúc này Mộ Dung Phục tiến thoái lưỡng nan, nếu tiếp tục vận nội kình để kháng cự, thì nội lực cứ bị hóa tán dần đi, chỉ trong khoảnh khắc là mất hết công lực biến thành phế nhân. Gã cũng không dám dùng thủ pháp Bảo Nguyên Thủ Nhất rút nội lực về, vì Đinh Xuân Thu nổi tiếng dụng độc ghê gớm, không chừng thuốc độc của lão có thể theo đường chân khí rút về mà chui vào nội thể, rồi xâm nhập đến tạng phủ.

Lúc này Mộ Dung Phục nghĩ không ra phương kế gì nữa, tình trạng vô cùng nguy ngập. Bỗng sau lưng gã có người lớn tiếng nói: "Sư phụ bày mưu xảo diệu vô cùng, hãm tên tiểu tử này vào tuyệt địa." Mộ Dung Phục lùi lại hai bước, không quay đầu lại, chỉ nghe tiếng nói mà xoay tay trái nắm trúng ngực tên đệ tử phái Tinh Tú đang ngoác mồm nịnh hót.

Nhà Cô Tô Mộ Dung có phép cầm nã tuyệt diệu gọi là Đẩu Chuyển Tinh Di, cũng là một kỹ thuật mượn sức người để đánh người. Người ngoài không biết rõ, cứ tưởng nhà Mộ Dung hiểu biết sâu xa tuyệt kỹ của các môn phái khắp thiên hạ, không sót một môn nào, do đó mới có chủ trương "Gậy ông đập lưng ông", muốn hạ sát ai thì dùng chính môn tuyệt kỹ thành danh của người đó. Thực ra trong võ lâm có tới hàng ngàn hàng vạn môn tuyệt kỹ, cho dù nhà Mộ Dung có thông minh đến đâu cũng không học hết được, mà đã gọi là tuyệt kỹ thì cũng không phải luyện trong một sớm một chiều mà thành. Đúng ra nhà Mộ Dung chỉ có thuật Đẩu Chuyển Tinh Di là xảo diệu, chuyển phương hướng chiêu thức của đối phương phản kích vào chính người đã ra chiêu.

Người quen dùng Tỏa Hầu Thương, thì nhân vật nhà Mộ Dung sẽ dùng thuật Đẩu Chuyển Tinh Di kéo mũi thương quay trở lại tự đâm vào cổ. Người nào giỏi về Đoạn Tí Đao thì đi đến kết quả tự chém đứt cánh tay mình. Chưa ai tận mắt trông thấy nhà Mộ Dung thi triển môn Đẩu Chuyển Tinh Di, chỉ thấy cũng binh khí ấy, cũng chiêu thức ấy, nên không đoán được là chính người đó mất mạng về chiêu thức của mình, thực ra là tự sát. Người nào võ công càng cao thâm, thì cái chết lại càng ly kỳ. Trước nay nhà Mộ Dung ở Cô Tô nếu không lấy một chọi một, hay không chắc thắng đối phương cả trăm phần trăm thì không bao giờ dùng đến thuật Đẩu Chuyển Tinh Di, nên tiếng tăm vang lừng khắp giang hồ mà không ai hiểu được đạo lý bên trong.

Dùng thuật Đẩu Chuyển Tinh Di để di chuyển phương hướng những vật hữu hình như khí giới quyền cước thì còn dễ, chứ di chuyển những thứ vô hình như nội lực, khí công thì khó vô cùng. Mộ Dung Phục luyện thuật này chưa đạt đến mức tinh vi, gặp phải Đinh Xuân Thu là cao thủ bậc nhất, gã tự biết không thể dùng phép Đẩu Chuyển Tinh Di để lại chính đối phương được. Vì thế mấy lần chàng thi triển thuật Đẩu Chuyển Tinh Di chỉ di chuyển sang người thứ ba, kẻ lãnh nạn là đệ tử phái Tinh Tú. Đinh Xuân Thu dùng Tam Tiếu Tiêu Dao Tán, quăng chén để rải phấn độc và thổi tia rượu độc, Mộ Dung Phục đều kiếm được kẻ chết thay cho mình một cách dễ dàng.

Bây giờ Đinh Xuân Thu dùng Hóa Công Đại Pháp, Mộ Dung Phục không biết làm gì nữa, nghe thấy một tên đệ tử phái Tinh Tú há miệng tung hô sư phụ ở ngay sau lưng, trong lúc cấp bách gã cũng không nghĩ kỹ, liền nắm ngay lấy tên này để thay thế cho mình, không ngờ cuộc mạo hiểm này hiệu quả vô cùng. Bản ý Tinh Tú Lão Quái là hóa giải công lực của Mộ Dung Phục, ngờ đâu đệ tử bản môn lãnh nạn.

Mộ Dung Phục thí nghiệm thành công, chẳng khác nào được cải tử hoàn sinh. Y quyết không để Đinh Xuân Thu kịp suy nghĩ, liền đẩy tên đệ tử này cho chạm vào người một tên đệ tử khác. Tên đệ tử thứ hai cũng bị Hóa Công Đại Pháp của Đinh Xuân Thu hóa giải mất công lực.

Đinh Xuân Thu thấy Mộ Dung Phục mượn gió bẻ măng, làm hại đệ tử của mình thì căm hận vô cùng. Nhưng lão lại nghĩ: "Nếu mình muốn giữ mạng cho mấy tên đệ tử vô dụng này mà thả hắn ra thì không biết bao giờ mới gặp được cơ hội. Thằng lỏi này mà chạy thoát thì mình mất năm tên đệ tử để chỉ xé được nửa cái tay áo của hắn, thế là phái Tinh Tú đại bại rồi. Tinh Tú Lão Tiên còn mặt mũi nào mà diễu võ dương oai ở Trung Nguyên nữa?" Lão bèn quyết định không buông đầu quyền của Mộ Dung Phục ra.

Mộ Dung Phục lại lùi mấy bước, dính tên đệ tử này vào tên đệ tử khác cho Đinh Xuân Thu hóa giải công lực. Chỉ trong khoảnh khắc ba tên đệ tử phái Tinh Tú đã kiệt quệ chân khí như bị ma cà rồng hút máu, thân thể khô kiệt dính vào với nhau không sao gỡ ra được. Đám đệ tử còn lại cả kinh, thấy Mộ Dung Phục lùi dần về phía mình, đều thất thanh la hoảng.

Mộ Dung Phục rung tay một cái, chuỗi ba tên đệ tử phái Tinh Tú bị hất tung lên, lại trúng vào một tên khác. Tên này đang hô hoán chưa kịp ngậm miệng lại thì người đã mềm nhũn ra. Thế là bốn người dính liền nhau như một xâu cá.

Bọn đệ tử phái Tinh Tú chưa bị dính vào đều chỉ mong Đinh Xuân Thu buông tha Mộ Dung Phục. Đinh Xuân Thu thi triển Hóa Công Đại Pháp thần kinh quỷ khốc, đều bị gã mượn sức người để hại người, hóa tán công lực của đệ tử phái Tinh Tú. Những tên còn ở ngoài chỉ lo đến lượt mình dính vào, nhưng chúng không dám phóng ra cửa, chỉ chạy lui chạy tới quanh quẩn bên trong phạn điếm, cố né tránh để khỏi mắc độc thủ.

Căn phạn điếm này nhỏ hẹp, Mộ Dung Phục cứ vung tay một cái là lại chạm vào một tên đệ tử phái Tinh Tú, trong chớp mắt đã câu được thêm bốn tên, thế là xâu chuỗi dài tới tám người. Bây giờ gã cầm cây "bát tiết côn" vừa lớn vừa dài như vậy, muốn tìm kẻ chết thay cho mình thật dễ như chơi. Lúc này rõ ràng Mộ Dung Phục đang chiếm thượng phong, nhưng y vẫn lo sợ, vì bọn đệ tử phái Tinh Tú tuy nhiều nhưng dùng mãi cũng phải hết, đến lúc Đinh Xuân Thu hóa giải công lực hết thảy bọn chúng rồi, thì tất phải đến lượt mình. Y nghĩ vậy nên lúc nào cũng cố tìm cơ hội thoát khỏi tay Đinh Xuân Thu.

Đinh Xuân Thu thấy bọn môn đồ mình cứ từng tên một dính mãi vào, chẳng khác gì một cành liễu xâu đàn cá. Bấy giờ bọn còn ở ngoài vòng chỉ lo tìm đường né tránh, chẳng tên nào hoan hô Đinh Xuân Thu nữa. Lão vừa thẹn vừa tức, nhất quyết nắm giữ đầu quyền Mộ Dung Phục không buông, nghĩ thầm: "Mất hết lũ đệ tử vô dụng này cũng không sao, rốt cuộc ta hủy được công lực của Mộ Dung Phục là Tinh Tú Lão Tiên thắng Cô Tô Mộ Dung, vụ này sẽ chấn động thiên hạ." Lão bèn không giận dữ nữa, lại ra vẻ ung dung.

Bọn đệ tử phái Tinh Tú chỉ mong sư phụ ném chuột sợ vỡ đồ, buông tha Mộ Dung Phục để mình khỏi chết oan, bây giờ thấy Đinh Xuân Thu trở lại bộ mặt tiên phong đạo cốt thì biết rằng hết hy vọng rồi. Gã nào cũng la ó rầm trời, nhưng chưa dám chạy trốn, cũng chưa có tên nào dám mở miệng van xin Đinh Xuân Thu thả Mộ Dung Phục ra.

Đinh Xuân Thu liếc mắt nhìn quanh thì trong đám đệ tử chỉ có hai người không lẩn tránh. Một người là Du Thản Chi, đang ngồi ủ rũ trong góc nhà, hai tay ôm lấy cái đầu sắt, nửa như sợ hãi vô cùng, nửa như chán đời không thèm trốn tránh. Còn người kia là A Tử, mặt mày tái mét, ngồi co ro trong góc nhà đối diện.

Đinh Xuân Thu gọi to: "A Tử!" A Tử đang ngơ ngẩn xuất thần, đột nhiên nghe tiếng sư phụ gọi, bèn giật mình nói: "Sư phụ! Sư phụ đại triển thần oai.." Nàng chỉ nói được nửa câu rồi ngượng nghịu gượng cười. Đúng là Đinh Xuân Thu đang thi triển thần oai, nhưng hại toàn là đệ tử mình. A Tử thông minh lanh lợi nhưng lúc này cũng nghĩ không ra lời ca tụng nào cho hợp lý.

Đinh Xuân Thu không làm gì được Mộ Dung Phục đã bực lắm rồi, lại thấy giọng cười của A Tử có vẻ trào phúng, lão nổi điên lên, phất tay áo bên trái cuốn hai chiếc đũa trên bàn phóng vọt tới cặp mắt của A Tử.

A Tử la lên: "Trời ơi!", vội vàng đưa tay lên gạt đôi đũa nhưng đã chậm một chút, đầu đũa đã trúng vào trong mắt. Nàng thấy vừa tê vừa ngứa, vội lấy tay áo dụi mắt, lúc mở mắt ra chỉ thấy những đốm trắng nhảy múa. Chốc lát thì những đốm trắng này cũng biến mất, trước mắt nàng chỉ còn một tấm màn đen kịt.

Hồn vía A Tử bay mất hết, bất giác la lên: "Ta.. Mắt của ta.. Ta không thấy gì hết." Bỗng nhiên nàng cảm nhận có một làn gió lạnh buốt thổi qua, rồi một cánh tay choàng ngang hông, có người kéo mình chạy đi. A Tử vẫn kêu gào: "Mắt của ta..", đột nhiên nghe một tiếng "Bình, sau lưng có hai người đối chưởng. Rồi nàng thấy thân thể bay lên như đằng vân giá vũ, mơ hồ còn nghe tiếng Mộ Dung Phục kêu to:" Thôi thôi, ta đi trước đây! Tinh Tú Lão Quái! Sau này.. "

A Tử thấy lạnh buốt tới xương, bên tai nghe tiếng gió vù vù, một người lạnh như băng đang ôm nàng chạy nhanh. Hai hàm răng nàng khua lách cách, rên rỉ:" Lạnh quá.. Mắt của ta.. Lạnh, lạnh quá! "Người kia nói:" Phải, phải! Chúng ta chạy đến bên kia rừng, Tinh Tú Lão Quái không tìm được đâu. "Miệng gã nói mà chân vẫn chạy không chậm lại chút nào. Một lúc sau A Tử cảm thấy gã dừng lại rồi để nàng xuống, dưới chân có tiếng xào xạc tựa như một đám lá khô. Người đó hỏi:" Cô nương! Mắt của cô ra sao rồi? "

A Tử chỉ thấy hai mắt đau buốt, cố gắng trợn đến rách khóe ra mà vẫn không thấy gì, cả trời đất vũ trụ chỉ như một khối màu đen. Nàng hiểu rằng đôi mắt của mình đã bị độc dược của Đinh Xuân Thu làm cho đui mù, đột nhiên khóc òa lên, vừa khóc vừa la:" Ta.. Mắt của ta mù rồi! Ta mù rồi! "

Người kia dịu dàng an ủi:" Không chừng sẽ chữa khỏi. "A Tử cả giận đáp:" Độc dược của Đinh lão quái lợi hại vô cùng, làm sao mà trị được? Ngươi gạt ta! Mắt ta mù rồi! Mắt ta mù rồi! "Nàng càng khóc lớn tiếng. Người kia lại nói:" Bên kia có một khe suối nhỏ, chúng ta qua đó thử xem, không chừng rửa sạch được chất độc dính trong mắt cô nương. "Gã nói xong liền nhẹ nhàng nắm tay A Tử, kéo nàng đứng dậy.

A Tử thấy tay người đó lạnh buốt, bất giác rụt tay lại, gã liền buông ra. A Tử bước được hai bước, vấp một cái suýt ngã. Gã khẽ la lên:" Cẩn thận! ", rồi lại nắm lấy tay nàng. A Tử không rút về nữa, để gã nắm tay dẫn đi. Gã nói:" Cô nương đừng sợ, đến cạnh khe suối rồi đó. "

A Tử quì xuống, dùng hai tay vốc nước lên rửa mặt. Nước suối mát rượi, nàng thấy cơn đau mắt từ từ dịu đi, nhưng trời đất vẫn tối đen, trước mắt không thấy chút ánh sáng nào. Nàng vừa tuyệt vọng, vừa thương tâm, vừa phẫn nộ, vừa không thấy ai giúp mình được. Rất nhiều cảm giác cùng ùa đến, nàng ngồi bệt xuống đất, khóc òa, giẫm chân liên hồi, nấc lên:" Ngươi gạt ta! Ngươi gạt ta! Mắt ta mù rồi! Mắt ta mù rồi! "

Người kia nói:" Cô nương đừng đau buồn quá. Tại hạ không rời cô nương đâu, cô nương cứ yên tâm đi. "A Tử cảm thấy được an ủi, bèn hỏi:" Ngươi.. ngươi là ai? "Người đó đáp:" Tại hạ.. tại hạ là.. "A Tử lại nói:" Thật là không phải, xin lỗi nhé. Đa tạ các hạ đã ra tay cứu mạng, xin hỏi tôn tính đại danh là gì? "Người đó ấp úng đáp:" Tại hạ.. Tại hạ.. Cô nương không biết tại hạ đâu. "A Tử đáp:" Ngay cả tên họ ngươi cũng không nói ra, lại còn nói dối là không rời ta nữa ư? Mắt của ta mù rồi, ta.. ta chết đi còn hơn. "Rồi nàng lại thút thít khóc.

Người đó cuống quít kêu lên:" Cô nương nhất định không được chết. Tại hạ.. tại hạ nhất định vĩnh viễn không rời xa cô nương, chỉ cần cô nương đồng ý cho tại hạ ở bên mình là được. "A Tử la lên:" Ta không tin! Ngươi gạt ta, ngươi lừa gạt không cho ta chết, ta lại càng muốn chết. Mắt ta mù rồi, làm người thế nào được nữa? "Người đó nói:" Tại hạ không lừa dối cô nương. Nếu tại hạ bỏ cô nương mà đi thì sẽ không được chết yên lành. "Giọng nói của gã nghe vừa lo lắng vừa chân thành. A Tử hỏi lại:" Thế thì ngươi là ai? "Người đó nói:" Tại hạ.. tại hạ ở Tụ Hiền Trang.. không phải, không phải, ta ở họ Trang, tên là Trang Tụ Hiền. "

Người cứu A Tử chính là thiếu trang chủ Du Thản Chi của Tụ Hiền Trang.

A Tử đáp:" Thì ra là Trang.. Trang tiền bối. Tiểu nữ đa tạ tiền bối đã cứu mạng. "Du Thản Chi vội đáp:" Ta cứu được cô thoát khỏi độc thủ của Tinh Tú Lão Tiên là mừng lắm rồi, không cần cô phải đa tạ. Ta cũng không phải là tiền bối chi hết, chỉ lớn hơn cô mấy tuổi thôi. "A Tử bèn nói:" Ồ, thế thì ta phải gọi huynh là Trang đại ca mới phải. "Du Thản Chi vui sướng vô hạn, run giọng đáp:" Chuyện này.. thật là không dám. "

A Tử nói:" Trang đại ca, ta muốn cầu xin huynh một việc. "Du Thản Chi đáp:" Cô nương đừng nói tới hai chữ cầu xin. Cô nương sai bảo việc gì thì cứ nói, ta sẽ xả thân tận lực mà làm cho bằng được. "A Tử mỉm cười hỏi lại:" Chúng ta chưa từng quen biết, sao huynh lại tốt với ta như thế? "Du Thản Chi đáp:" Đúng.. đúng là chưa quen biết. Ta chưa từng gặp cô nương, cô nương cũng chưa từng thấy ta. Hôm nay chúng ta mới gặp mặt lần đầu. "A Tử khẽ nói:" Không phải là ta chưa từng thấy huynh, phải nói là ta vĩnh viễn không thể thấy huynh mới đúng. "Nàng nói rồi, không kìm lòng được lại tuôn nước mắt ra.

Du Thản Chi vội nói:" Không sao đâu. Cô nương không nhìn thấy ta thì lại càng tốt. "A Tử hỏi:" Sao lại thế? "Du Thản Chi đáp:" Ta.. tướng mạo ta rất khó coi, nếu cô nương thấy ta nhất định sẽ không vui. "A Tử cười nói:" Huynh lại gạt ta nữa rồi. Người nào càng cổ quái, ta lại càng thích nhìn. Trước kia ta có một tên đầy tớ bị chụp một cái mặt nạ sắt không tháo ra được. Hắn mới là khó coi nhất trong thiên hạ. Nếu huynh nhìn thấy hắn, chắc chắn phải cười đến ba ngày ba đêm mới nín được. Huynh có muốn xem hắn không? "Du Thản Chi run rẩy đáp:" Không, không! Ta không muốn xem. "Gã nói xong, bất giác lui lại hai bước.

A Tử nói:" Lúc nãy huynh ôm ta chạy nhanh như bay, võ công thật là tuyệt diệu, giống hệt tỉ phu của ta. Thế mà lá gan của huynh lại nhỏ xíu, không dám nhìn cả người đầu sắt. Gã đầu sắt ấy thật là ngoan ngoãn, ta sẽ kêu hắn nhào lộn nhảy múa cho huynh xem. Ta đã kêu hắn đút cái đầu sắt vào chuông cho sư tử cắn thử, lại còn kêu thuộc hạ cột dây vào người hắn đem thả cho bay lên như diều, chuyện đó mới là thú nhất. "

Du Thản Chi bất giác run rẩy, nói:" Ta không muốn xem, thật tình ta không muốn xem. "A Tử than thở:" Thôi được. Vừa rồi huynh nói, bất kể ta muốn huynh làm chuyện gì, huynh cũng xả thân làm cho được, thì ra toàn là chuyện lừa gạt. "Du Thản Chi đáp:" Không, không! Ta quyết không lừa dối cô nương. Cô nương muốn ta làm chuyện gì? "A Tử bảo:" Ta muốn về với tỉ phu, hiện ở Nam Kinh nước Liêu. Trang đại ca! Huynh đưa ta đi nhé. "

Du Thản Chi thấy đầu óc rối như mớ bòng bong, trong giây lát không nói được tiếng nào. A Tử lại hỏi:" Thế nào? Huynh không muốn hay sao? "Du Thản Chi lắp bắp cố đáp:" Không.. không phải. Ta.. ta không phải.. không.. muốn đi Nam Kinh nước Liêu. "A Tử nói:" Ta muốn huynh đi xem tên hề đầu sắt cho vui, huynh không chịu đi. Ta nhờ huynh dẫn ta về gặp tỉ phu, huynh cũng không dẫn. Để ta đi một mình vậy. "Nàng nói xong, chầm chậm đứng dậy, rồi đưa hai tay ra trước quờ quạng tìm đường bước đi.

Du Thản Chi la lên:" Ta đưa cô nương đi! Cô nương đi một mình.. thế nào được? "Thế là Du Thản Chi nắm lấy bàn tay mềm mại của A Tử, dẫn nàng ra khỏi rừng, trong lòng nghĩ:" Giả tỉ ta cứ được nắm tay nàng đi chầm chậm thế này, dẫu là đi xuống mười tám tầng địa ngục cũng thấy hoan hỉ vô hạn. "

Vừa ra tới đường lớn, gã bỗng thấy phía trước có một đám ăn mày. Gã nhận ra người đi đầu thân thể cao lớn, tướng mạo thanh tú, chính là Toàn Quan Thanh, đà chủ của Đại Trí phân đà trong Cái Bang, bèn nghĩ thầm:" Hôm trước người này bị sư phụ ta đả thương, thế mà chưa chết. "Gã không muốn đối mặt bọn này, liền nắm tay A Tử rời khỏi đường lớn, đi vào một bãi đất trống. A Tử cảm thấy dưới chân không bằng phẳng, liền hỏi:" Chuyện gì thế? "Du Thản Chi chưa trả lời, Toàn Quan Thanh đã thấy hai người bèn chạy tới ngăn lại, quát hỏi:" Các ngươi lén lén lút lút làm cái gì thế? Ngươi.. ngươi đội cái gì kỳ vậy? "

Du Thản Chi cả kinh nghĩ thầm:" Hắn mà nói ra hai chữ Đầu Sắt là A Tử cô nương lập tức biết ta là ai, nhất định sẽ không thân cận với ta nữa. Cho dù nàng có sai ta đưa về Nam Kinh, cũng nhất định không cho ta nắm tay nàng ", không tự chủ được, đột ngột quì xuống sụp lạy, rồi đưa tay cố ra hiệu cho Toàn Quan Thanh hiểu rằng không nên nói ra chân tướng của mình.

Toàn Quan Thanh không hiểu nổi y đưa tay ra hiệu cái gì, bèn hỏi:" Ngươi làm gì vậy? "Du Thản Chi chỉ A Tử, xua tay, rồi chỉ mặt mình, xua tay, rồi lại lạy mấy lạy. Toàn Quan Thanh nhìn lại thấy A Tử mù cả hai mắt, cũng hơi hơi hiểu rằng gã đầu sắt này muốn mình đừng nói lộ chuyện. Trong lúc đó bọn đệ tử Cái Bang đều đã đến gần.

Một tên chỉ vào đầu Du Thản Chi, cười ha hả rồi nói:" Thật là kỳ quái, gã đầu.. "Du Thản Chi tức khắc nhảy vọt lên đánh ra một chưởng. Gã Cái Bang đưa tay ra đỡ, nhưng chỉ nghe răng rắc vài tiếng rồi gãy cả xương tay lẫn xương sườn, thân thể bay vọt ra sau mấy thước, rơi tới đất thì đã chết rồi.

Bon đệ tử Cái Bang vừa cả kinh vừa phẫn nộ, năm người cùng xông lên công kích. Hai tay Du Thản Chi múa lên loạn xạ, chưởng pháp thật là tệ hại, so với đệ tử Cái Bang hạng bét cũng còn thua xa, nhưng chưởng phong đi tới đâu thì ở đó vang lên những tiếng:" Lắc cắc "," binh binh "," Ái chà "," Trời ơi ", rồi cả năm tên Cái Bang đều văng ra mấy trượng mất mạng. Những người còn lại đều sợ hãi, chia nhau bao vây Du Thản Chi và A Tử, nhưng không dám bước lên xuất thủ nữa.

Đột nhiên Du Thản Chi lại quì xuống trước mặt Toàn Quan Thanh, lại đưa tay ra dấu, chỉ A Tử rồi lại chỉ đầu mình, xua tay không ngớt.

Toàn Quan Thanh thấy gã này chỉ cất tay đã đánh chết sáu tên Cái Bang, công lực ghê gớm trên đời hiếm thấy. Tại sao hắn không tiếp tục xuất thủ giết người bịt miệng mà lại quỳ lạy mình, thì thật không hiểu nổi. Y cũng ra dấu, chỉ A Tử, chỉ cái đầu sắt của gã, rồi lại chỉ mình, lắc lắc đầu. Du Thản Chi cả mừng, gật đầu lia lịa. Toàn Quan Thanh nghĩ:" Võ công của người này vừa cao thâm vừa cổ quái, trong lòng lại nơm nớp sợ ta làm lộ bí mật của hắn. Không chừng ta có thể nhận việc này để kìm chế hắn mà sử dụng. ", bèn quay lại ra lệnh cho bọn Cái Bang:" Các người đừng nói gì hết, không ai được mở miệng. "Du Thản Chi trong lòng cảm kích vô cùng, lại lạy hắn mấy cái nữa.

A Tử hỏi:" Trang đại ca, bọn họ là ai vậy? Huynh đã đánh chết mấy người rồi phải không? "Du Thản Chi đáp:" Họ là mấy vị bằng hữu Cái Bang, vừa rồi chúng ta có chút hiểu lầm. Vị này là đà chủ Đại Trí phân đà, nhân nghĩa hơn người, là một đại hảo nhân ta vốn rất khâm phục. Ta.. ta sơ ý đả thương mấy vị huynh đệ của ông ta, thật là có lỗi. "Gã nói xong bèn chắp tay thi lễ với bọn Cái Bang.

A Tử nói:" Trong Cái Bang mà lại có hảo nhân ư? Trang đại ca! Võ công của huynh cao cường đến thế, sao không giết sạch chúng để rửa bớt hận cho tỉ phu ta? "Du Thản Chi vội đáp:" Không, không! Đó chẳng qua là chuyện hiểu lầm, ta với vị Toàn đà chủ đây vốn là hảo bằng hữu. Cô nương ở đây đợi ta một chút, để ta cùng Toàn là chủ nói cho rõ những chuyện hiểu lầm. "Gã nói xong liền quay lại Toàn Quan Thanh vẫy vẫy tay.

Toàn Quan Thanh nghe gã nói là biết mình cũng thấy ngạc nhiên, nhưng xem chừng không có ác ý, liền cùng hắn đi ra xa mười mấy trượng.

Du Thản Chi thấy đã đi đủ xa để A Tử không nghe chuyện được, lại sợ đi xa hơn nữa thì bọn Cái Bang thừa cơ khinh khi nàng, liền dừng lại chắp tay nói:" Toàn đà chủ! Được đà chủ giấu giếm cho, tại hạ không dám quên đại ân đại đức. "

Toàn Quan Thanh đáp:" Tại hạ không biết tí gì nguyên ủy bên trong. Tôn tính đại danh của huynh là gì? "Du Thản Chi đáp:" Tại hạ họ Trang, tên gọi là Tụ Hiền, bất hạnh bị người ta chụp cái thứ quỉ quái này lên đầu, nhưng không thể để cô nương đó biết được. "Toàn Quan Thanh thấy gã vừa nói vừa chăm chăm nhìn A Tử đầy vẻ chiêm ngưỡng, trong lòng đã đoán ra đến bảy tám phần:" Cô nương này thanh tú mỹ lệ, nhất định gã đầu sắt này ái mộ nàng, nhưng rất sợ nàng biết chân tướng kỳ dị của gã. "Hắn bèn hỏi:" Sao Trang huynh biết tại hạ? "Du Thản Chi đáp:" Hôm trước Đại Trí phân đà của quí bang hội họp về chuyện đề cử bang chủ, tại hạ may mắn ở cạnh đó nên nghe người ta gọi đến danh hiệu Toàn đà chủ. Hôm nay tại hạ sơ ý đả thương mấy vị huynh đệ quí bang, thật là có lỗi, mong Toàn đà chủ lượng thứ cho. "

Toàn Quan Thanh đáp:" Chỉ là chuyện hiểu lầm, huynh đừng để tâm. Trang huynh! Cái vật trên đầu huynh, tại hạ nhất định không nói ra, lát nữa cũng sẽ dặn dò thuộc hạ không để lộ đâu. "Du Thản Chi cảm kích đến rơi lệ, chắp tay không ngừng nói:" Đa tạ, đa tạ! ". Toàn Quan Thanh lại nói:" Nhưng Trang huynh cùng vị cô nương đó dắt tay nhau đi trên đường lớn sẽ gặp nhiều người, thế nào cũng có người thấy lạ mà hô hoán. Trang huynh muốn giết họ cũng không kịp đâu. "

Du Thản Chi đáp:" Phải lắm, phải lắm! "Từ lúc gã cứu được A Tử đến nay, thần hồn điên đảo, chưa hề nghĩ đến việc này. Bây giờ nghe Toàn Quan Thanh nhắc nhở, gã mất hết chủ ý, do dự nói:" Tại hạ.. tại hạ chỉ còn cách.. đưa nàng vào chỗ thâm sơn cùng cốc mà tránh người ta. "

Toàn Quan Thanh mỉm cười nói:" Như vậy chỉ sợ cô nương đó nghi ngờ. Hơn nữa, sau khi hai vị kết thành phu phụ, cô nàng sớm muộn gì cũng phát giác ra thôi. "Du Thản Chi nóng cả người, đáp lại:" Kết thành phu.. phu phụ thì tại hạ không dám nghĩ đến, chắc không được đâu. Tại hạ.. tại hạ sao dám thế? Chuyện đó.. thật là khó hơn lên trời. "

Toàn Quan Thanh nói:" Trang huynh, lúc nãy huynh có gọi tại hạ là hảo bằng hữu. Đã là hảo bằng hữu thì có chuyện khó xử dĩ nhiên phải giúp nhau giải quyết. Thôi thì thế này nhé, chúng ta cùng đến thị trấn phía trước thuê một cỗ xe lớn, huynh cùng với cô nương đó ngồi trong xe thì không ai thấy được nữa. "Du Thản Chi cả mừng, nghĩ đến lúc được ngồi cùng A Tử trong xe, thật là thần tiên cũng không bằng. Gã vội đáp:" Vâng, vâng! Toàn đà chủ thật là cao kiến. "

Toàn Quan Thanh đáp:" Sau đó chúng ta mới tìm cách tháo bỏ cái chụp sắt trên đầu Trang huynh. Toàn mỗ vỗ ngực đảm bảo vĩnh viễn vị cô nương đó không biết được cái chuyện làm Trang huynh khó chịu. Huynh nghĩ xem có được không? "

Nghe phịch một tiếng, Du Thản Chi đã quì mọp xuống đất, dập đầu lạy Toàn Quan Thanh lia lịa, cái đầu sắt gõ xuống đất vang lên những tiếng boong boong.

Toàn Quan Thanh cũng quì xuống trả lễ, đáp lời:" Trang huynh dùng tới đại lễ như vậy, tại hạ thật không dám nhận. Trang huynh đã không chê bỏ, thì hai chúng ta kết nghĩa kim lan, huynh nghĩ thế nào? "

Du Thản Chi cả mừng đáp:" Thật là tuyệt diệu. Đệ thì chuyện gì cũng không hiểu, bây giờ có một vị nghĩa huynh túc trí đa mưu chỉ điểm cho, thật là cầu còn chưa được. "Toàn Quan Thanh cười ha hả nói:" Chắc ta lớn hơn mấy tuổi, thôi thì không khách sáo nữa, ta làm ca ca của hiền đệ vậy. "

* * *

Trong lúc Đinh Xuân Thu cùng Tô Tinh Hà đánh nhau đến trời sầu đất thảm, ánh mắt si tình của Đoàn Dự trước sau vẫn không rời khỏi Vương Ngữ Yên, còn ánh mắt ngưỡng mộ của Vương Ngữ Yên thì lại không rời biểu huynh Mộ Dung Phục chút nào. Vì thế hai luồng nhãn quang của chàng và nàng không hề gặp nhau.

Đến khi Đinh Xuân Thu thua trận chạy trốn, Hư Trúc bàn chuyện với môn hạ phái Tiêu Dao, bọn Mộ Dung Phục bỏ đi, Đoàn Dự không hiểu sao vẫn lẽo đẽo theo sau Vương Ngữ Yên.

Sau khi xuống núi, Mộ Dung Phục quay lại Đoàn Dự chắp tay nói:" Đoàn huynh! Hôm nay chúng ta may mắn gặp nhau, bây giờ xin tạm biệt, sau này còn có khi gặp lại. "Đoàn Dự đáp:" Vâng, vâng! Hôm nay chúng ta may mắn gặp nhau, bây giờ xin tạm biệt, sau này còn có khi gặp lại. "Mắt chàng vẫn chăm chăm ngắm nhìn Vương Ngữ Yên, Mộ Dung Phục lộ vẻ bất bình, hừ một tiếng rồi quay lưng bỏ đi ngay. Đoàn Dự vẫn luyến tiếc nhìn theo.

Bao Bất Đồng cũng chắp tay tiến đến chỗ Đoàn Dự, lên tiếng:" Đoàn công tử! Hôm nay công tử ra tay tương trợ Mộ Dung công tử nhà ta, Bao mỗ xin đa tạ. "Đoàn Dự đáp:" Không cần khách sáo. "Bao Bất Đồng lại nói:" Chuyện đó đã cảm ơn rồi là xong, bây giờ chúng ta không ai nợ ai nữa. Nhưng mắt của ngươi cứ trợn lên nhìn vào Vương cô nương, thật là vô lễ. Tới bây giờ vẫn còn ráng nhìn theo, lại càng vô lễ hơn. Ngươi đã là người đọc sách, có biết thế nào là Phi lễ vật thị, phi lễ vật hành ( không đúng lễ không nhìn, không đúng lễ không làm) không? Lúc này Bao mỗ mất hết khí lực, trong đầu còn nhiều câu mắng người rất hay ho, nhưng không đủ sức nói ra. "Đoàn Dự thở dài một tiếng rồi đáp:" Đã vậy thì Bao huynh không đúng lễ không nói, còn ta không đúng lễ thì không theo, như thế là xong. "Bao Bất Đồng cười ha hả đáp:" Vậy thì hay lắm! ", rồi quay lưng, đi theo Mộ Dung Phục.

Đoàn Dự nhìn theo Vương Ngữ Yên đến khi nàng đi khuất vào rừng cây, rồi đứng đó ngơ ngẩn xuất thần. Chu Đan Thần tiến lại nói:" Công tử! Chúng ta đi thôi. "Đoàn Dự đáp:" Phải lắm, chúng ta đi thôi. "Nhưng nói thì nói vậy, chân vẫn không nhúc nhích, đến khi Chu Đan Thần giục đến lần thứ ba, chàng mới chậm chạp leo lên con ngựa do Cổ Đốc Thành mang tới, Đoàn Dự ngồi trên lưng ngựa rồi, ánh mắt vẫn dõi theo con đường Vương Ngữ Yên vừa ra đi.

Thì ra sau khi Đoàn Dự đưa thư cho Toàn Quan Thanh, chàng lập tức đi bái kiến Đoàn Chính Thuần. Phụ tử xa nhau lâu ngày, nay được trùng phùng mừng vui khôn xiết. Nguyễn Tinh Trúc đối với tiểu vương tử lại càng chiều chuộng lấy lòng. A Tử đã không từ biệt mà đi, nên huynh muội không được gặp nhau. Đoàn Chính Thuần và Nguyễn Tinh Trúc nghĩ rằng chuyện A Châu, A Tử nói ra thêm ngượng, nên cũng không kể cho chàng nghe.

Được mười mấy ngày, Thôi Bách Tuyền cùng Quá Ngạn Chi cũng đến gặp mặt. Hai người sư thúc sư điệt này đã mất liên lạc với Đoàn Dự từ Cầm Vận Tiểu Trúc ở Tô Châu, đi khắp nơi tìm kiếm cũng không thấy tung tích chàng đầu. Sau này họ về núi Phục Ngưu ở Hà Nam, nghe người trong bản môn cho biết Trấn Nam Vương nước Đại Lý cũng đến Hà Nam, liền đến bái kiến thì thấy Đoàn Dự bình yên vô sự, lúc đó mới yên lòng.

Đoàn Dự trải qua bao nhiêu nguy hiểm, hưởng thú đoàn tụ gia đình ở bên phụ thân thật là vui sướng, nhưng lòng nhớ nhung Vương Ngữ Yên mỗi ngày lại tăng lên. Sắp đến ngày kỳ hội, chàng liền xin phép phụ thân, dẫn theo bọn Cổ Đốc Thành đi dự. Quả nhiên hoàng thiên không phụ lòng người, chàng đã gặp mặt ý trung nhân, nhưng phen này gặp xong lại càng thêm sầu não. Gặp hay là không gặp thì tốt hơn, đến bây giờ chính chàng vẫn không hiểu được.

Đoàn người đi được hơn hai mươi dặm thì thấy trước mặt có một đám bụi lớn đang cuộn tới, rồi mười mấy con ngựa chạy đến. Đó chính là tam công Phạm Hoa, Hoa Hách Cấn, Ba Thiên Thạch nước Đại Lý cùng một số quân sĩ, chạy đến nơi liền xuống ngựa thi lễ với Đoàn Dự. Thì ra họ phụng mệnh Đoàn Chính Thuần đến đây tiếp ứng, e rằng trong kỳ hội này có hung hiểm gì chăng. Mọi người nghe kể trong kỳ hội có cả Đoàn Diên Khánh đến dự thì lo ngay ngáy, thấy lão không động tới Đoàn Dự, đều cho là phen này may mắn vô cùng.

Chu Đan Thần khẽ kể cho bọn ba người Phạm Hoa biết chuyện Đoàn Dự trong kỳ hội đã gặp cô nương mỹ lệ của nhà Mộ Dung Cô Tô, ngắm nhìn cô ta không nháy mắt, ngẩn ngơ đi theo, cũng may mà bị người ta đuổi về. Bọn Phạm Hoa nhìn nhau cười thầm, trong lòng đều nghĩ:" Tiểu vương tử phong lưu thành tính, thật là gia học uyên nguyên. Nếu chàng nhờ chuyện này mà quên đi mối tương tư với cô em ruột Mộc Uyển Thanh thì thật đáng mừng vô cùng. "

Đến hoàng hôn, đoàn người ghé vào phạn điếm ăn cơm. Phạm Hoa đang kể về chuyến đi Giang Nam, bỗng dưng lại nói:" Công tử! Nhà Mộ Dung có nhiều chuyện kỳ bí, sau này nếu gặp họ thì phải để ý đề phòng. "Đoàn Dự hỏi lại:" Chuyện như thế nào? "Phạm Hoa kể:" Ba người bọn thuộc hạ vâng lệnh vương gia đi đến Yến Tử Ổ nhà Mộ Dung ở Tô Châu, xem có dấu tích gì về việc Huyền Bi đại sư của phái Thiếu Lâm bị họ sát hại không? "Thôi Bách Tuyền cùng Quá Ngạn Chi đều hết sức chú ý, vội hỏi:" Ba vị có hỏi ra được chuyện gì không? "Phạm Hoa đáp:" Ba người chúng ta không công khai cầu kiến, chỉ ngấm ngầm điều tra. Nhà Mộ Dung không có nam nữ chủ nhân ở nhà, chỉ có mấy tên tì bộc. Một tiểu cô nương tên là A Bích đảm đương hết công chuyện cả mấy tòa trang viện. "Đoàn Dự gật đầu nói:" Ô, A Bích cô nương là người tốt. Ba vị không đả thương cô ấy chứ? "Phạm Hoa mỉm cười nói:" Không đâu. Bọn thuộc hạ dò xét mấy đêm liền, lục hết trang viên nhà Mộ Dung từ trước ra sau cũng không thấy chút manh mối nào. Ba huynh đột nhiên nhớ đến chuyện tên Phiên tăng Cư Ma Trí bắt công tử từ Đại Lý đi Giang Nam, nói là đem tế điện trước mộ phần Mộ Dung tiên sinh.. "

Thôi Bách Tuyền ngắt lời:" Chính thế. Cũng may mấy ả nha đầu trong nhà Mộ Dung nhất định không chịu đưa tên mọi trọc đầu đó đi tế mộ, nhờ vậy mà công tử mới thoát khỏi độc thủ. "

Đoàn Dự lại gật đầu nói:" Hai vị cô nương A Châu, A Bích đối với ta rất tốt. Không biết hiện nay họ ra sao? "Ba Thiên Thạch cười cười đáp:" Bọn thuộc hạ điều tra ba đêm đều có nhìn vào cửa sổ, chỉ thấy A Bích cô nương đang may một cái áo bào của nam nhân, luôn miệng than thở: Không hiểu công tử ở bên ngoài có lạnh không? Khi nào chàng mới về đây? Có phải nàng may cái áo đó cho công tử không? "Đoàn Dự vội nói:" Không phải đâu. Đó là nàng may áo cho Mộ Dung công tử. "Ba Thiên Thạch nói:" Phải đấy. Thuộc hạ xem chừng cô tiểu a đầu này thần hồn điên đảo về công tử của nàng. Ba người bọn thuộc hạ đi tới đi lui, cô ả cũng chẳng biết gì. "Gã nói vậy, hiển nhiên muốn nhắc nhở Đoàn Dự đừng học theo phụ thân mà đi đến đâu để nợ tình đến đó, trong lòng A Bích chỉ có Mộ Dung công tử chứ không hề có Đoàn công tử đâu.

Đoàn Dự thở dài một tiếng rồi đáp:" Mộ Dung công tử tuấn tú trên đời có một, khó mà trách được nàng. Huống hồ họ là biểu huynh biểu muội, lại có tình thanh mai trúc mã từ bé với nhau. "Phạm Hoa cùng Ba Thiên Thạch ngơ ngác nhìn nhau, cùng nghĩ:" Tiểu a đầu đó với công tử của thị mà có tình thanh mai trúc mã thì cũng hợp lý, nhưng sao lại là biểu huynh biểu muội được? "Thì ra Đoàn Dự bỗng dưng chuyển qua nói về Vương Ngữ Yên.

Thôi Bách Tuyền hỏi lại:" Phạm tư mã, Ba tư không! Hai vị nghĩ tên Phiên tăng đó đòi đi tế mộ Mộ Dung tiên sinh là có ý gì? Chuyện đó có liên quan gì đến cái chết của tệ sư huynh không? "Phạm Hoa đáp:" Đúng là tại hạ đang muốn nhờ mọi người bàn cho rõ chuyện này. Hoa huynh nghe tới chữ mộ là ngứa tay liền, liền đoán rằng trong mộ của lão này có điều cổ quái, cần phải đào vào thám thính. Tại hạ cùng Ba huynh không tán thành lắm, dòng họ Mộ Dung Cô Tô danh vang thiên hạ, Đoàn gia chúng ta mà đào mả của chúng thì thật là khó giải thích. Hoa huynh lại cho rằng lén lút đào, thần không hay, quỉ không biết thì không việc gì mà sợ. Bên tại hạ cãi không lại, đành phải nghe theo. Một phần đó an táng phía sau trang viện, ở chỗ vừa thanh tĩnh vừa bí hiểm, thật là khó tìm. Ba người bọn tại hạ đào vào trong mộ, cạy nắp quan tài ra. Thôi huynh biết có gì trong đó không? "Thôi Bách Tuyền cùng Quá Ngạn Chi cùng đứng bật dậy, hỏi dồn:" Có cái gì? "Phạm Hoa đáp:" Quan tài trống rỗng, không có xác chết. "

Hai người Thôi Quá cùng há hốc miệng ra không ngậm lại được. Qua một lúc lâu, Thôi Bách Tuyền mới vỗ đùi đánh bép rồi nói:" Cái lão Mộ Dung Bác này chưa chết đâu. Lão sai thằng con xuất hiện dương oai khắp nơi ở Trung Nguyên để bày nghi trận, còn mình thì lén lút ra ngoài ngàn dặm giết người. Sư huynh ta.. sư huynh ta nhất định là bị lão ác tặc Mộ Dung Bác này sát hại. "

Phạm Hoa lắc đầu phản đối:" Thôi huynh nói vậy, có chỗ không hợp lý. Lão Mộ Dung Bác võ công cao thâm khôn lường, thiếu gì thủ đoạn giết người, hà tất phải dùng tới công phu Gậy ông đập lưng ông cho thiên hạ nghi ngờ nhà Mộ Dung Cô Tô? Còn nếu lão muốn nổi tiếng võ lâm thì phải giả chết làm gì? "Thôi Bách Tuyền lại ngồi xuống, vò đầu bứt tai mãi mà cũng chẳng nghĩ ra được cái gì.

Đoàn Dự nói:" Trong thiên hạ có cả ngàn cả vạn môn phái, muốn biết rành được hết thì khó như lên trời. Thế mà nàng hiểu rõ như trong lòng bàn tay, thật là.. "

Thôi Bách Tuyền la lên:" Đúng rồi! Tuyệt chiêu Thiên Linh Thiên Liệt của sư huynh ta là độc môn bí truyền của phái Phục Ngưu, rất ít người biết, chắc là cô gái đó giết sư huynh ta chứ còn ai nữa? "Đoàn Dự lắc đầu cãi lại:" Sức nàng không trói nổi con gà, tuy là hiểu hết võ công các nhà các phái, nhưng cũng không thể ra tay giết người được. "

Mọi người ngồi nhìn nhau mãi, cũng chẳng ai đưa ra được ý kiến gì nữa.

* * *

Đinh Xuân Thu đánh mù mắt A Tử, không ngờ Du Thản Chi lại liều mạng cướp nàng chạy trốn. Lúc đó lão quái không khỏi phân tâm, kình lực ở ngón tay giảm sút, Mộ Dung Phục bèn nhân cơ hội xuất tuyệt chiêu Đẩu Chuyển Tinh Di. Nghe một tiếng" phập ", năm ngón tay của Đinh Xuân Thu bỗng chuyển qua nắm cổ tay một tên đệ tử. Mộ Dung Phục đánh bừa một quyền rồi phóng vọt đi, cười ha hả hô lớn:" Thôi thôi, ta đi trước đây. Tinh Tủ Lão Quái! Sau này còn có dịp gặp nhau. "Y vừa hô vừa vận khinh công chạy thẳng, không quay lại nhìn cái nào nữa.

Chuyến này Mộ Dung Phục coi như toàn thắng. Một mình y đả thương hơn hai chục tên đệ tử phái Tinh Tú, chọc Đinh Xuân Thu tức điên lên, lại còn thoát thân không mất một sợi tóc, thật là may mắn vô cùng. Trên đường chạy về, y nhớ lại trận chiến vừa qua mà bủn rủn cả người, Mộ Dung Phục cùng với Vương Ngữ Yên và bọn Đặng Bách Xuyên tìm một khách điếm ở lì bên trong để bọn Đặng Bách Xuyên dưỡng thương:

Được mấy ngày thì Bao Bất Đồng, Phong Ba Ác hồi phục trước, rồi dần dần Đặng Bách Xuyên cùng Công Dã Càn cũng khỏe mạnh trở lại. Sáu người bàn đến chuyện A Châu hiện không biết ở đâu, bèn quyết định đi Lạc Dương thám thính tin tức của nàng.

Đến Lạc Dương không tìm được gì, họ lại sang phía tây để điều tra. Một hôm, sáu người đi gấp nên lỡ độ đường, đến tối mịt vẫn còn trong vùng núi, chung quanh không một bóng người. Phong Ba Ác lên tiếng:" Hình như bọn mình đi lạc rồi, nãy giờ cứ quanh qua quẹo lại chẳng có vẻ gì là đúng đường cả. "Đặng Bách Xuyên đáp:" Thôi thì chúng ta tìm một hang động hay miếu hoang gì đó để trú tạm vậy. "

Phong Ba Ác rảo bước đi lên trước tìm chỗ nghỉ chân, nhưng thấy đường càng lúc càng khó đi, chung quanh toàn là đá tảng ngổn ngang. Gã thì nằm đâu cũng ngáy o o được, nhưng tìm chỗ cho Vương Ngữ Yên thì thật là khó khăn. Lúc đi vòng qua một sườn núi, bỗng thấy phía hữu có ánh đèn le lói, Phong Ba Ác mừng quá quay lại gọi to:" Bên này có nhà! "

Bọn Mộ Dung Phục nghe tiếng chạy đến, Công Dã Càn hoan hỉ nói:" Chắc đây chỉ là lều của thợ săn, nhưng cũng đủ chỗ cho Vương cô nương nghỉ một đêm. "Sáu người hướng về phía có ánh đèn mà đi khá lâu, vẫn chỉ thấy ánh đèn le lói chứ không thấy nhà đâu. Phong Ba Ác lẩm bẩm thóa mạ:" Con mẹ nó! Cái đèn kia coi bộ tà môn. "Đột nhiên Đặng Bách Xuyên khẽ gọi:" Dừng lại đã! Công tử nhìn xem, ảnh lửa kia kỳ quá! "Mộ Dung Phục ngưng thần nhìn kỹ, quả nhiên ngọn đèn đó phát ra ánh sáng xanh biếc khác thường. Cả bọn đều gia tăng cước lực đi về phía ngọn đèn, một lúc nữa thì trông đã rõ. Bao Bất Đồng kêu lên:" Thì ra bọn tà ma ngoại đạo tụ tập ở đây! "

Kể ra thì năm người này võ công cơ trí tuyệt cao, gặp phải bang phái nào trên giang hồ cũng không sợ hại gì. Nhưng họ nghĩ hôm nay cùng đi với Vương Ngữ Yên nên đừng dây dưa gây sự là hơn. Bao Bất Đồng cùng Phong Ba Ác lâu rồi không động thủ với ai, tuy ngứa chân ngứa tay nhưng cũng tự kiềm chế. Phong Ba Ác nói:" Đi suốt ngày mệt quá. Chỗ này xem chừng không tốt, bọn ta quay lại là hơn. "Mộ Dung Phục mỉm cười nghĩ thầm:" Phong tứ ca đổi tính, thật là hay quá! "Y liền nói:" Biểu muội! Chỗ đó không yên tĩnh đâu, chúng ta quay lại thôi. "Vương Ngữ Yên chẳng hiểu gì hết, nhưng cũng vui vẻ nghe theo lời biểu huynh.

Sáu người bèn quay trở lại, mới được mấy bước, đã nghe tiếng người văng vẳng:" Các ngươi đã biết đây là chỗ ngoại đạo tà ma tụ hội, đã thành yêu ma quỷ quái chưa, sao không vào đây hội họp cho vui? "Thanh âm này chợt cao chợt thấp, lúc liền lúc đứt rất khó chịu, nhưng mọi người đều nghe rõ.

Mộ Dung Phục bất giác kêu lên một tiếng, biết rằng lời của Bao Bất Đồng vừa nói đã lọt vào tai chúng. Nghe thanh âm cũng biết người vừa nói có nội lực thâm hậu, nhưng chưa hẳn là cao thủ bậc nhất. Mộ Dung Phục phất tay áo một cái nói:" Chúng ta không rảnh mà dính vào. Họ nói gì cũng mặc kệ, ta đi thôi! "

Thanh âm vừa rồi lại vang lên:" Tiểu súc sinh! Miệng thì nói giọng ngông cuồng, bây giờ lại cúp đuôi chạy trốn. Bọn mi muốn trốn thì phải quỳ xuống lạy lão tổ tôn ba trăm lạy trước đã. "

Phong Ba Ác không nhịn được nữa, dừng bước lại hạ giọng nói:" Công tử! Bọn này khinh mình quá lắm. "Mộ Dung Phục lắc đầu nói:" Họ chưa biết mình là ai đâu, cứ mặc kệ. "Phong Ba Ác đành đáp:" Vâng. "

Sáu người đi được hơn chục bước nữa thì thanh âm kia lại nói:" Bọn đàn ông đã muốn trốn thì lão tổ tôn tha cho, nhưng phải để con điếm non kia lại cho lão tổ tôn tiêu khiển! "

Năm người thấy đối phương dám xúc phạm Vương Ngữ Yên thì giận tái mặt, dừng bước rồi quay lại. Thanh âm kia lại nói:" Thế nào? Các ngươi ngoan ngoãn để con nhỏ đó lại thì lão tổ tôn.. "

Y vừa nói đến chữ" tôn "thì Đặng Bách Xuyên đã đề khí từ đan điền quát lên:" Tôn.. ôn.. ôn "hòa vào chữ" tôn "của đối phương vang rền cả hang núi. Tai mọi người ù cả lên, nhưng cũng nghe thấy một tiếng rú thê thảm ở chỗ ngọn đèn xanh vọng ra. Giữa đêm khuya, tiếng rú này lẫn trong dư âm tiếng quát của Đặng Bách Xuyên nghe thật là dễ sợ.

Vừa rồi Đặng Bách Xuyên vận nội lực tuyệt cao quát lên làm chấn động đối phương, cứ nghe tiếng rú thì biết gã bị thương khá nặng, không chừng mất mạng cũng nên. Tiếng rú chưa dứt, bỗng nghe" vèo "một tiếng, một mũi tên bắn lên không rồi nổ ra, ánh lửa xanh là chiếu sáng đến nửa vòm trời.

Phong Ba Ác nói:" Một vừa hai phải thôi, muốn nhịn cũng không được. Chúng ta quét sạch sào huyệt bọn yêu quái này rồi nói chuyện sau. "Mộ Dung Phục gật gật đầu nói:" Chúng ta tưởng là nhường họ một chút cho yên, bây giờ đã làm thì phải làm đến nơi đến chốn. "Sáu người chạy thẳng đến chỗ có ánh lửa xanh.

Mộ Dung Phục sợ Vương Ngữ Yên kinh hãi quá, bèn chậm bước lại đi song song với nàng. Bỗng nghe tiếng la ó om sòm, Phong Ba Ác cùng Bao Bất Đồng đã cùng người động thủ. Dưới ánh sáng lờ mờ thấy ba bóng đen vụt tới, phóng ra ba chưởng đập vào vách núi nghe ầm ầm, rõ ràng không trúng hai gã Bao, Phong.

Lúc Mộ Dung Phục tới chỗ ngọn đèn, đã thấy Đặng Bách Xuyên cùng Công Dã Càn đứng trên một cái đỉnh đồng xanh rất lớn, vẻ mặt cực kỳ nghiệm trọng. Từ đỉnh đồng có một luồng khói bốc thắng lên không, nhỏ như sợi dây mà nhanh như tên bắn. Vương Ngữ Yên nói:" Đây là phái Tang Thổ Công, động Bích Lân ở Xuyên Tây. "Đặng Bách Xuyên gật đầu nói:" Cô nương quả nhiên biết nhiều hiểu rộng. "Bao Bất Đồng quay người lại cãi:" Sao đại ca biết? Kiểu đốt khói này là cách báo tin đã có cả ngàn năm, chưa chắc đã là phái Tang Thổ Công động Bích Lân ở Xuyên Tây.. "Gã chưa nói xong, Công Dã Càn đã trỏ vào một cái chân đỉnh đồng, có ý bảo gã tự xem lấy.

Bao Bất Đồng cúi xuống thắp lửa lên nhìn kỹ thì thấy chân đỉnh có chữ" Tang ", nét khắc ngoằn ngoèo như hình mấy con rắn nhỏ xếp thành, đồng đã teng xanh lại, đúng là một cái đỉnh rất cổ. Gã biết Vương Ngữ Yên nói đúng rồi, nhưng vẫn cãi bướng chơi:" Giả tỉ đây là đỉnh đồng của phái Tang Thổ Công ở Xuyên Tây thật đi nữa, thì cũng có thể là chúng mượn về đây. Huống chi mười chiếc đỉnh cổ thì có đến chín chiếc là giả. "

Mộ Dung Phục tự hỏi:" Nơi đây cách Xuyên Tây rất xa, chẳng lẽ địa giới phái Tang Thổ Công rộng lớn đến thế? "Gã có nghe nói phải Tang Thổ Công động Bích Lân ở Xuyên Tây là một giống rợ Miêu, chuyên về ám khí độc, hành vi khác hẳn với nhân sĩ võ lâm ở Trung Nguyên. Cũng may là bọn họ không tranh chấp với ai, miễn là đừng ai xâm nhập địa giới núi Dao Sơn đất Xuyên Tây của họ thì thôi. Mộ Dung Phục, Đặng Bách Xuyên dĩ nhiên chẳng sợ phái Tang Thổ Công, nhưng họ nghĩ rằng mình vốn không thù không oán thì tránh đi là hơn, thắng bọn tà môn ngoại đạo cũng chẳng vẻ vang gì, mà dây dưa đến họ lại thêm phiền phức.

Mộ Dung Phục trầm ngâm một lát rồi quyết định:" Chỗ này lắm chuyện thị phi, ta mau mau rời đi là hơn. "Y nhìn thấy một lão già còn thoi thóp thở nằm bên đỉnh đồng, mình mặc áo ngắn, lưng thắt dây cỏ, mắt mở trừng trừng nhìn mọi người, dĩ nhiên là người vừa hỗn láo lúc nãy. Mộ Dung Phục nhìn Bao Bất Đồng gật gật đầu, rồi liếc lão già đó một cái. Bao Bất Đồng hiểu ý, bẻ lấy cành trúc có buộc chiếc đèn sáng xanh, đập cả trúc lẫn đèn vào ngực lão già đánh chát một tiếng, ngọn đèn xanh liền tắt phụt. Vương Ngữ Yên kinh ngạc la lên một tiếng. Công Dã Càn nói:" Lượng nhỏ không phải quân tử, ít độc bất thành trượng phu! Phải giết người bịt miệng để khỏi lo về sau. "Y nói xong liền phóng chân ra đá đổ cái đỉnh đồng. Mộ Dung Phục kéo tay Vương Ngữ Yên chạy về phía bên trái.

Mới chạy được hơn mười trượng thì trong bóng tối bỗng nghe tiếng binh khí rít lên vù vù, một đao một kiếm từ trong bụi cỏ vung ra. Mộ Dung Phục phất tay áo một cái, mượn sức đánh sức, đao bên trái chém vào đầu người bên phải, còn kiếm bên phải đâm trúng ngực người bên trái. Chỉ chớp mắt là Mộ Dung Phục đã hạ xong hai tên đánh lén, chân vẫn bước đi. Công Dã Càn tán dương:" Công tử! Hảo công phu! "

Mộ Dung Phục chỉ mỉm cười, vượt lên phía trước phóng chưởng đánh ra trúng một địch nhân đang xông tới, gã này lăn xuống sườn núi. Tay trái Mộ Dung Phục lại phóng ra một chưởng, một tên khác đưa song chưởng lên đỡ, bỗng la lên một tiếng" úi chao "rồi phun máu tươi ra. Đột nhiên có mùi tanh hôi theo chiều gió bay đến, Mộ Dung Phục vội phóng chưởng đánh bật thứ ám khí quái lạ đó ra. Lại nghe một tiếng rú, rõ ràng địch thủ đã trúng phải ám khí kịch độc của chính mình.

Trong đêm tối đen, mọi người bị vây hãm mà không biết địch nhân nhiều hay ít. Mộ Dung Phục thuận tay giết đến người thứ sáu, ngấm ngầm kinh hãi nghĩ bụng:" Ba người đầu thuộc phái Tang Thổ Công ở Xuyên Tây, còn võ công ba người sau rõ ràng thuộc ba phái khác nhau. Kẻ thù càng lúc càng nhiều, thật là bất lợi. "

Đặng Bách Xuyên hô lên:" Chúng ta cùng nhau đi về hướng Thính Hương Thủy Tạ. "Thính Hương Thủy Tạ là một cái trại ở hướng Tây trong Yến Tử Ổ của nhà Mộ Dung, trước kia A Châu ở đó. Đặng Bách Xuyên muốn gọi mọi người chạy qua hướng Tây, nhưng không muốn địch nhân biết mà ngăn trở.

Mộ Dung Phục nghe là hiểu ngay, nhưng lúc đó trời không trăng không sao, khó mà phân biệt phương hướng, không hiểu hướng Tây ở chỗ nào. Y ngưng thần một chút, nghe thấy ở bên phải có tiếng hai phát chưởng của Đặng Bách Xuyên, liền kéo Vương Ngữ Yên lùi lại ba bước để đi gần lại Đặng Bách Xuyên. Hai tiếng véo véo lại vang lên, Đặng Bách Xuyên lại đánh ra hai chưởng, cứ nghe cũng biết địch nhân không phải tay vừa. Đặng Bách Xuyên ngưng tụ chân khí quát lên một tiếng, Mộ Dung Phục biết ngay là y ra chiêu Thạch Phá Thiên Kinh, chắc đối phương khó lòng tránh nổi. Quả nhiên người kia rú lên một tiếng kinh hồn, tiếng rú dần dần xuống thấp tựa như người đang rơi xuống, rồi lại nghe một tảng đá lớn lăn xuống đè cành cây gãy răng rắc, Mộ Dung Phục cả kinh nghĩ thầm:" Người này sẩy chân rơi xuống vực sâu rồi! Nãy giờ ta có thấy hang động gì đâu, may mà Đặng Bách Xuyên đánh một người rơi xuống, không thì trong lúc tối đen thế này bọn mình rất dễ quờ quạng mà rớt xuống vực. "

Lúc đó phía bên trái có tiếng người hỏi:" Cao nhân phương nào đến phá quấy Vạn Tiên đại hội? Không xem ba mươi sáu động chúa và bảy mươi hai đảo chúa ra gì ư? "

Bọn Mộ Dung Phục đều la lên kinh ngạc. Họ đã nghe tiếng ba mươi sáu động chúa và bảy mươi hai đảo chúa, nhưng đã là động chúa, đảo chúa thì không thuộc môn phái nào mà cũng không đi hội họp với ai bao giờ. Bọn người này võ công có kẻ hơn người kém, nhân phẩm cũng có kẻ lành người dữ, giao kết không thân thiện được nên đi đâu hay hành động gì cũng chỉ có một mình. Nhân sĩ giang hồ trước nay chẳng trọng vọng gì bọn này, chỉ biết họ ở tản mác ngoài đảo ở Đông Hải, Hoàng Hải, hoặc trong dãy Côn Luân. Lâu nay họ vẫn mai danh ẩn tích nên chẳng ai để ý đến làm gì, ngờ đâu hôm nay họ tụ tập tại đây.

Mộ Dung Phục dõng dạc lên tiếng:" Bọn tại hạ sáu người, không biết các vị tụ hội nên đi lạc vào đây. Trong đêm tối đã có hiểu lầm, mạo phạm quá nhiều, mong các vị miễn thứ mà cho bọn tại hạ lên đường. "Y nói mấy câu thật là vừa phải, không gây sự, cũng không hạ mình, lại không để lộ tông tích. Đối với việc đã ngộ sát mấy người của đối phương, y đành phải xin lỗi mấy câu.

Đột nhiên bốn mặt nổi lên những chuỗi cười ha hả, khanh khách, hô hố.. Tiếng cười mỗi lúc một nhiều, thoạt đầu chỉ độ mười mấy người, rồi sau nổi lên liên tiếp khắp bốn mặt tám phương, chắc phải đến năm sáu trăm người, từ ở ngay bên cạnh đến xa ngoài mấy dặm.

Mộ Dung Phục thấy thanh thế đối phương rất lớn, lại nghe bốn chữ Vạn Tiên đại hội thì nghĩ thầm:" Xem chừng đêm nay phải có đánh nhau. Mình bước nhầm vào chỗ tụ họp của bọn bàng môn tả đạo thật là rầy rà. May mà ta chưa để lộ tên tuổi, bỏ đi là hay hơn để bớt chuyện lôi thôi. Huống chi mình ít họ nhiều, sáu người làm sao địch nổi mấy trăm người. "

Giữa lúc tiếng cười còn đang râm ran, bỗng nghe trên sườn núi cao có tiếng nói:" Ngươi ăn nói hồ đồ, việc đã đến thế này mà đám hờ hững coi chẳng vào đâu. Bọn ngươi sáu người đã ra tay đánh chết mấy vị bằng hữu của chúng ta. Nếu quần tiên trong Vạn Tiên đại hội này mà tha cho bọn ngươi đi thì ba mươi sáu động cùng bảy mươi hai đảo còn mặt mũi nào trên giang hồ nữa? ".

Mộ Dung Phục trấn tĩnh lại, nhìn quanh thì thấy bóng người trùng trùng điệp điệp khắp bốn hướng tiền hậu tả hữu, trên đỉnh núi, dưới thung lũng, chỗ nào cũng thấy. Người thì tay áo rộng thùng thình, người thì mặc áo chẽn, có ông già râu dài phất phơ, lại có cô gái búi tóc ngược lên đỉnh đầu, chẳng biết họ ở đâu mà chui ra lắm thế. Bốn người Đặng Bách Xuyên, Công Dã Càn, Phong Ba Ác, Bao Bất Đồng đứng vây quanh Mộ Dung Phục cùng Vương Ngữ Yên để hộ vệ, nhưng so với mấy trăm người vây quanh thì chẳng khác gì một con thuyền nhỏ giữa biển cả.

Mộ Dung Phục cùng bọn Đặng Bách Xuyên tuy đã từng trải vô số nguy hiểm mà lúc này cũng không khỏi kinh sợ, nghĩ thầm:" Giả tỉ bọn người cổ quái này chỉ có mươi tên thì không đáng sợ, nhưng đông đến mấy trăm thì thật khó đối phó. "

Mộ Dung Phục đề tụ chân khí vào đan điền lớn tiếng nói:" Người ta thường nói: Không biết là không có tội. Tại hạ từng nghe đại danh ba mươi sáu động chúa và bảy mươi hai đảo chúa, nhất định không dám cố ý phạm lỗi. Tang Thổ Công động Bích Lân ở Xuyên Tây, Huỳnh Long tử động Câu Long bên Tây Tạng, Chương Chu Phu tiên sinh đảo chúa đảo Huyền Minh ở Bắc Hải, chắc mấy vị tiền bối này cũng có mặt tại đây. Tại hạ vô tình phạm tội, xin các vị miễn thứ cho. "

Bỗng nghe một tràng cười ha hả, rồi có tiếng người nói:" Ngươi tưởng nhắc đến danh hiệu chúng ta là được thả ra một cách dễ dàng chăng? Ha ha!.. "

Mộ Dung Phục bắt đầu khó chịu, liền nói:" Tại hạ thấy các vị là bậc trưởng bối nên phải tiên lễ hậu binh nói năng lịch sự mà thôi. Mộ Dung Phục này há sợ gì ai? "

Rất nhiều người vừa nghe thấy ba chữ" Mộ Dung Phục "liền la lên" Ái chà! ". Thanh âm khô khan lại hỏi:" Phải chăng ngươi là Cô Tô Mộ Dung chuyên môn chơi trò Gậy ông đập lưng ông? "Mộ Dung Phục đáp:" Không dám! Chính là tại hạ. "Người kia nói:" Cô Tô Mộ Dung thì không thể chỉ thấy lờ mờ. Thắp đèn lên, để mọi người được nhìn rõ mặt y. "

Gã vừa nói xong, một ngọn đèn vàng thắp lên ở hướng Đông Nam, tiếp theo hướng Tây và Tây Bắc kéo đèn đỏ. Chỉ trong chớp mắt, bốn phương tám hướng đều sáng bừng lên, chỗ thì đèn lồng hay đuốc, chỗ lại đốt củi khô, nhựa thông. Mỗi động, mỗi đảo đều dùng đèn lửa khác nhau, có nơi còn hủ lậu thô sơ, có nơi đã rất tinh vi. Ánh lửa soi rõ mặt mọi người, thật là muôn hình muôn vẻ.

Bọn này có nam, có nữ, có đẹp, có xấu, có tăng nhân, có đạo sĩ, có người tay áo phất phơ, có người áo chẽn sát mình. Có những ông già râu dài quá rốn, lại có những cô gái búi tóc cao, phục sức đều rất kỳ lạ, không giống người ở Trung Thổ chút nào. Quá nửa bọn này đều tay cầm binh khí, mà nhiều thứ binh khí hình thù quái dị không biết gọi tên là gì. Mộ Dung Phục quay qua quay lại vái chào cả bốn phía, dõng dạc lên tiếng:" Tại hạ là Mộ Dung Phục ở Cô Tô, kính cẩn thi lễ cùng các vị ". Bốn bề đều có tiếng đáp lễ, nhưng cũng có nhiều người không thèm lý gì tới y.

Ở hướng tây có người nói:" Nhà Mộ Dung Cô Tô muốn diễu võ dương oai ở Trung Nguyên thì còn được, nhưng vào Vạn Tiên đại hội mà càn rỡ không coi chúng ta vào đâu, thì quả là lớn mật! Ngươi chuyên nghề Gậy ông đập lưng ông, vậy ta hỏi: Ngươi lấy gì mà đập vào lưng ta? "

Mộ Dung Phục nhìn về phía tiếng nói, thì thấy một lão già đầu trọc lóc, không tóc cũng không râu, mặt đỏ như máu, ngồi xếp bằng trên một tảng đá lớn. Nhìn xa xa, đầu lão vừa to vừa tròn, y như một quả huyết cầu, Mộ Dung Phục ôm quyền thi lễ nói:" Không rõ tôn tính đại danh các hạ là gì? "

Người kia ôm bụng cười nói:" Lão phu chỉ muốn coi thử chân tài thực học của nhà Mộ Dung ở Cô Tô, thì ra cũng chỉ có hư danh. Ta vừa hỏi ngươi làm cách nào dùng gậy ta đập vào lưng ta, ngươi đã hỏi lại ta rồi. Thôi thôi! Người khác thì ta không biết, còn ta chẳng muốn làm khó dễ gì ngươi nữa, muốn đi đâu thì đi! "

Mộ Dung Phục xem chừng cục diện hôm nay không thể nói cho xuôi được, tất phải động quyền động cước. Y liền nói:" Đã vậy thì tại hạ xin lãnh giáo mấy chiêu, mời tiền bối ra tay trước! "

Lão kia lại ôm bụng cười ha hả đáp:" Ta muốn khảo nghiệm ngươi chứ không phải muốn ngươi khảo nghiệm ta. Nếu ngươi không giữ được năm chữ Gậy ông đập lưng ông, thì cứ đi đi! "

Mộ Dung Phục nhíu mày nghĩ thầm:" Lão cứ ngồi không nhúc nhích, mình chẳng hiểu môn phái lại không biết họ tên lão, thì làm sao biết được lão sở trường môn gì, làm sao đập vào lưng lão được? ".

Y còn đang ngẫm nghĩ thì lão già kia cười khẩy nói:" Bọn ta ở tản mát ba mươi sáu động, bảy mươi hai đảo khắp chân trời góc bể, ít hiểu việc ở Trung Nguyên, bây giờ mới biết trong đám đui mù kẻ chột làm vua. Một thằng lỏi miệng còn hôi sữa như ngươi đã dám tự xưng Nam Mộ Dung, Bắc Kiều Phong gì gì thật là nghe muốn điếc cả lỗ tai! Ha ha! Thật là tức cười, thật là hèn mạt! Này này ta bảo, bữa nay mi muốn thoát thân cũng chẳng khó đâu. Tất cả có ba mươi sáu động chúa và bảy mươi hai đảo chúa, ngươi phải dập, đầu lạy mỗi vị mười lạy, tổng cộng một ngàn lẻ tám chục cái lạy, là bọn ta tha cho đi ngay. "

Bao Bất Đồng ráng nhịn đã lâu, bây giờ tức đến cành hông, dõng dạc lên tiếng:" Ngươi muốn công tử ta đem tuyệt kỹ của ngươi đập vào lưng ngươi, rồi lại bảo dập đầu lạy, thì ra nghề ruột của ngươi là dập đầu lạy người. Tuyệt kỹ đó thì công tử ta học không vào. Ha ha! Thật là tức cười, thật là hèn mạt! "Gã ngưng một chút rồi quay về phía lão đầu to, lặp lại câu của lão mười lần.

Lão kia quát lên một tiếng, khạc ra một cục đờm rồi phun vào mặt Bao Bất Đồng. Bao Bất Đồng nghiêng người tránh, bất ngờ cục đờm đang lơ lửng bỗng chuyển hướng bay vòng sang trái, bắn ngay trán Bao Bất Đồng đánh" tách "một tiếng. Cục đờm đó kình lực rất mạnh, lại bắn trúng huyệt Dương Bạch trên mí mắt khiến Bao Bất Đồng đau điếng, lảo đảo suýt ngất đi. Mộ Dung Phục cả kinh nghĩ thầm:" Kình lực trong cục đờm thì chẳng đáng gì, chỉ lạ ở chỗ cục đờm của lão lại chuyển hướng giữa chừng được. "

Lão đầu to cười ha hả nói:" Mộ Dung Phục! Không cần ngươi biểu diễn, chỉ cần ngươi nói rõ được lai lịch cục đờm đó là lão phu phục lắm rồi. "

Mộ Dung Phục nghe lão hỏi về lai lịch cục đờm, nghĩ mãi chẳng được gì, không biết nói sao. Đột nhiên thanh âm trong trẻo của Vương Ngữ Yên cất lên:" Đoan Mộc đảo chúa! Các hạ luyện thành Ngũ Đẩu Mễ Thần Công chắc không phải dễ dàng, đã phải tàn sát bao nhiêu sinh mạng rồi? Công tử của ta có nhã ý tránh cho các hạ khỏi bị đồng đạo thù ghét mà không muốn nói huỵch toẹt ra, lẽ nào lại dùng công phu đó để đối phó với các hạ? "

Mộ Dung Phục vừa kinh ngạc vừa mừng thầm, mấy chữ Ngũ Đẩu Mễ Thần Công quả là mình chưa từng nghe nói đến mà biểu muội lại biết, nhưng chưa hiểu nàng nói có đúng hay không.

Lão già đầu to giật mình, chỉ trong nháy mắt là khuôn mặt đỏ như máu biến thành trắng bệch không chút huyết sắc. Lão nói:" Con lỏi kia chỉ ăn nói hồ đồ, không hiểu biết chi hết. Ngũ Đẩu Mễ Thần Công là môn hại nhân lợi kỷ, nham hiểm độc ác vô cùng, ta luyện làm chi? Nhưng mi đã gọi đúng được họ của ta thì cũng không phải hạng tầm thường. "

Vương Ngữ Yên nghe vậy biết là mình đoán trúng rồi, nhưng lão không chịu thừa nhận môn võ vì sợ người ta khinh bỉ thôi. Nàng bèn nói:" Đoan Mộc động chúa ở động Xích Diệm trên núi Ngũ Chỉ tại đảo Hải Nam, trên giang hồ còn ai không biết, tiểu nữ đoán được có chi là lạ? Tuyệt kỹ vừa rồi của Đoan Mộc động chúa đã không phải là Ngũ Đẩu Mễ Thần Công, thì hẳn là một môn thần diệu do động chúa chế biến từ Địa Hỏa Công ra! "

Địa Hỏa Công vốn là tuyệt nghệ của Xích Diệm Động, các động chúa của động này đều ở họ Đoan Mộc, lão đầu to này tên gọi Đoan Mộc Nguyên. Lão nghe Vương Ngữ Yên nói rõ lai lịch mình, đã đem lòng khâm phục, lại thấy nàng giấu cho mình cái môn Ngũ Đẩu Mễ Thần Công chẳng tốt đẹp gì, đâm ra có cảm tình với nàng. Huống chi động Xích Diệm vốn chẳng có tiếng tăm gì, cái môn phái nhỏ bé của lão cũng chẳng mấy ai biết, thế mà nàng lại nói là" trên giang hồ còn ai không biết "khiến cho lão càng hoàn hỉ. Lão cười nói:" Phải rồi! Phải rồi! Đó chỉ là Địa Hỏa Công biến hóa đi một chút, chẳng có chi đáng kể. Lão phu nói trước rồi, ngươi đã gọi ra đúng môn phái thì lão phu không làm khó dễ nữa đâu. "

Đột nhiên ở tảng đá đối diện có tiếng khóc thút thít rất nhỏ, nghẹn ngào như có như không. Người đó vừa khóc vừa nói:" Đoan Mộc Nguyên! Lang quân ta cùng mấy vị huynh đệ có phải đều chết về tay ngươi không? Ngươi luyện cái môn Ngũ Đẩu Mễ Thần Công trời đánh ấy để sát hại bọn họ chứ gì? "Người đó nấp sau tảng đá không trông rõ tướng mạo, chỉ thoáng thấy mụ mặc áo đen, người cao, tay áo rộng thùng thình.

Đoan Mộc Nguyên cười ha hả đáp:" Nương tử là ai thế? Lão phu chẳng biết cái môn Ngũ Đẩu Mễ Thân Công đó là cái gì. Nương tử đừng nghe tiểu cô nương kia nói lung tung! "

Người đàn bà quay sang Vương Ngữ Yên vẫy tay gọi:" Tiểu cô nương qua đây chơi, ta muốn hỏi cô một điều. "Tay mụ cầm một cái cần trúc dài ba thước, ở đầu cần có gắn thiết trảo. Mụ vừa vẫy tay, cái bàn tay sắt đó đã móc đúng vào thắt lưng Vương Ngữ Yên, kéo người nàng bước tới một bước. Nàng cố gượng đứng vững, nhưng mụ kia lại vẫy tay nữa.

Vương Ngữ Yên lại bị kéo tới hai bước, sợ quá la lên một tiếng. Mộ Dung Phục liền phất tay áo một cái, thi triển công phu Đẩu Chuyển Tinh Di, khiến cho kình lực đang kéo Vương Ngữ Yên xoay lại kéo mụ kia.

Mụ kia"... "

Lên một tiếng, chân đứng không vững, loạng choạng rồi bước ra ngoài khe đá, đến trước mặt Mộ Dung Phục chừng hơn một trượng thì kình lực mới tiêu tan, không bị kéo tới nữa. Mụ cả kinh thất sắc, sợ Mộ Dung Phục xuất thủ hại mình liền buông cần trúc, ráng sức nhảy ngược lại phía sau một trượng.

Vương Ngữ Yên gỡ thiết trảo dính trong thắt lưng của mình ra, đưa cái cần cho Mộ Dung Phục. Y bèn phất tay trái, cái cần trúc từ từ bay về phía mụ. Mụ đưa tay định đón lấy, nhưng cái cần lại đột ngột rơi xuống, cắm trên mặt đất cách mụ ba thước.

Vương Ngữ Yên nói:" Thì ra là Lê phu nhân tại đảo Na Hoa biển Nam Hải. Thái Yến Công của phu nhân thật là tuyệt diệu, tiểu nữ khâm phục vô cùng! "Thiếu phụ kia biến sắc hỏi lại:" Tiểu cô nương! Sao cô nương.. lại biết họ của ta? Lại biết cả Thái Yến Công của ta? "Vương Ngữ Yên đáp:" Phu nhân vừa thi triển công phu thần diệu bắt vật ở trên không, chính là Thái Yến Công lừng danh thiên hạ của đảo Na Hoa chứ còn gì nữa. "Nguyên đảo Na Hoa ở miền Nam Hải, trên đảo này có nhiều chim én làm tổ ở những hốc núi đá vừa cao vừa hiểm hóc, việc lấy tổ yến không phải dễ dàng. Nhà họ Lê ở đảo này đã mấy trăm năm, do công việc dùng cần trúc gắn móc để gỡ yến sào mà luyện thành tuyệt kỹ Thái Yến Công độc đáo của riêng mình. Tuyệt kỹ này chính là một môn chuyên bắt lấy vật trên không, về khinh công, bộ pháp cũng có chỗ đặc biệt. Vương Ngữ Yên vừa thấy thân pháp Lê phu nhân nhảy ngược ra sau rất giống như cánh én bị gió biển thổi bạt đi, nên nàng không nghi ngờ gì nữa, nói rõ ra.

Lê phu nhân thấy Mộ Dung Phục phất tay áo một cái đã lôi được mình đi thì đã kinh hãi trong lòng, bây giờ lại nghe Vương Ngữ Yên gọi ra lai lịch võ công nhà mình, bèn cho là đối phương đã biết hết sở trường của mụ. Mụ không dám ngang ngược nữa, quay lại nói với Đoan Mộc Nguyên:" Đoan Mộc lão nhi! Hảo hán thì phải dám làm dám chịu. Lang quân ta cùng mấy vị huynh đệ phải chăng đã bị hại về tay ngươi? "

Đoan Mộc Nguyên cười ha hả đáp:" Lê phu nhân là đảo chủ đảo Na Hoa ở Nam Hải, vậy cũng là hàng xóm mà lão phu không biết, thật là thất kính. Lão phu chưa gặp trượng phu của phu nhân lần nào, đừng nói đến chuyện gia hại! "

Lê phu nhân có vẻ không tin, nói:" Sau này sẽ biết rõ, chỉ mong ngươi không phải là hung thủ. "Mụ nói xong, lại ẩn vào trong khe đá.

Lê phu nhân vừa rút lui, đột nhiên từ trên ngọn cây tùng có một vật nặng rớt xuống, đụng vào một tảng đá đánh choang một tiếng. Vật đó là một chiếc đỉnh đồng rất lớn đã teng xanh lại. Mộ Dung Phục ngẩng đầu nhìn lên ngọn cây tùng để xem ai nấp trên đó, tự hỏi:" Không biết ai đã mang một vật nặng đến mấy trăm cân lên ngọn cây, rồi lại thả xuống làm gì? Cái đỉnh này trông giống như cái đỉnh đồng của động Bích Lân mà Công Dã Càn vừa đá lăn ra lúc này, nhưng lớn hơn nhiều. Chẳng lẽ Tang Thổ Công lại nấp trên ngọn cây? Gã quan sát ngọn cây thật kỹ, nhưng chẳng thấy ai.

Bỗng nghe mấy tiếng vo vo nhỏ xíu lẫn trong tiếng gió, Mộ Dung Phục tâm cơ linh mẫn vô cùng, lập tức phóng chưởng đánh ra, lúc đó mới nhìn thấy ánh sáng lập lòe, mấy nghìn mũi kim nhỏ như lông trâu bắn tung tóe ra bốn phía, Mộ Dung Phục kêu thầm: "Nguy rồi!", vội chụp lấy lưng Vương Ngữ Yên, tung mình nhảy lên không. Công Dã Càn, Phong Ba Ác cùng mọi người xung quanh đều nhao nhao kêu lên: "Nguy rồi!" "Trời ơi, trúng phải độc châm rồi!" "Con mẹ nó! Ám khí này độc lắm đây!" "Úi chao! Ngứa đến chết người."

Mộ Dung Phục đang lơ lửng trên không, nhìn xuống thấy nắp chiếc đỉnh đồng lớn kia nhúc nhích, rồi trong đỉnh có vô số vật nhỏ tung ra. Y không suy nghĩ gì nhiều, đặt Vương Ngữ Yên lên ngọn cây rồi nói: "Biểu muội ngồi yên!", rồi hạ mình xuống, dùng phép Thiên Cân Trụy đạp hai chân lên nắp đỉnh, đè chặt lấy.

Mộ Dung Phục nhảy lên rồi hạ xuống, chỉ trong chớp mắt đã giữ được nắp đỉnh lại. Những tiếng la gọi vang lên tứ phía: "Mau lấy thuốc giải độc!" "Đây là Ngưu Mao Châm của động Bích Lân, chỉ trong một giờ là nghẹt thở, độc chất công thẳng vào tâm tạng rất nguy hiểm." "Thằng giặc thối tha Tang Thổ Công ở đâu, phải tóm lấy mà đòi thuốc giải" "Thằng cha này phóng Ngưu Mao Châm bừa bãi, cả ta đây là lão bằng hữu cũng bị thương rồi!" "Lấy thuốc giải mau! Tang Thổ Công đâu?"

Những tiếng gọi tìm Tang Thổ Công, gọi lấy thuốc giải nhốn nháo cả lên. Có người trúng độc châm phải nhảy loạn lên, có người lại ôm gốc tùng mà kêu rống. Ngưu Mao Châm quả là lợi hại vô cùng, khiến người trúng phải không sao chịu nổi.

Công Dã Càn tay trái xoa ngực, tay phải ôm bụng, đang ngưng thần vận khí. Phong Ba Ác thì hai chân nhảy loạn lên quát mắng om sòm. Mộ Dung Phục biết hai gã này đã trúng ám khí, trong lòng vừa lo lắng, vừa nghi ngờ, lại vừa căm hận. Rõ ràng trong đỉnh đồng phải có người vận động cơ quan thì mới phóng độc châm ra vừa nhanh vừa nhiều đến thế. Rủi ro ở chỗ cái đỉnh rớt xuống đánh choang một tiếng, khiến mọi người phải ngửng đầu nhìn lên ngọn cây, người ngồi trong đỉnh mới thừa cơ hội phóng độc châm ra.

Giả tỉ Mộ Dung Phục không ứng biến mau lẹ, hoặc chưởng phong không mãnh liệt thì đã bị hàng ngàn hàng vạn mũi độc châm bắn vào da thịt rồi. Kẻ ngồi trong đỉnh phóng trộm ám khí lại được chiếc đỉnh che kín, những mũi độc châm bị Mộ Dung Phục vận nội kình hất ra đều bắn vào người xung quanh hoặc bắn vào đỉnh, không thể trúng gã được.

Bỗng nghe một giọng nói bán nam bán nữ lên tiếng: "Mộ Dung Phục! Ngươi không trách ai được. Ngươi quen lấy gậy ông đập lưng ông, bây giờ hất độc châm ra làm bằng hữu nhà ngươi bị nạn là đúng nghề rồi." Tên này đứng xa, lại ẩn sau một tảng đá lớn nên không trúng phải độc châm, bèn châm biếm chơi.

Mộ Dung Phục không lý gì đến gã, nghĩ bụng: "Muốn giải được độc châm này, dĩ nhiên cần đến người ngồi trong đỉnh đã vận động cơ quan phóng độc châm ra." Chiếc nắp đỉnh dưới chân Mộ Dung Phục không ngớt rung động, chắc hẳn người ngồi trong đỉnh toan hất nắp đỉnh để xông ra. Nhưng ba ngón tay Mộ Dung Phục đang bám vào cây tùng lớn, nắp đỉnh chẳng khác gì đã liền vào gốc cây, sức đè xuống nặng đến vạn cân. Cây tùng lớn cứ lắc đi lắc lại vang lên những tiếng kẽo kẹt, những rễ nhỏ bị đứt mất nhiều, nhưng đẩy bật gốc cây lên đâu phải chuyện dễ dàng? Người ngồi trong đỉnh muốn thoát ra chỉ có cách dùng bảo đao bảo kiếm chém vỡ đỉnh, còn cố đội nắp đỉnh lên thì không ăn thua gì.

Mộ Dung Phục định bụng chờ một lát nữa rồi sẽ đột nhiên nới tay cho đối phương vọt ra, thế nào gã cũng liệng ra một nắm độc châm để hộ thân, khi đó sẽ vung chưởng hất độc châm bắn trở lại trúng vào người hắn. Dĩ nhiên hắn phải lấy thuốc giải ra để tự cứu, lúc đó sẽ cướp lấy, dễ hơn nhiều so với việc năn nỉ gã xin thuốc giải.

Nắp đỉnh bị đẩy hai lần nữa, rồi đột nhiên không thấy động tĩnh gì. Mộ Dung Phục nghĩ rằng người ngồi trong đỉnh đang vận hết nội lực để đột ngột phóng ra một lần chót. Y định bụng lần này sẽ nới tay cho hắn ra, cũng vận nội lực sẵn sàng phóng chưởng. Ngờ đâu một lúc lâu mà người trong đỉnh vẫn không nhúc nhích, tựa như đã chết ngạt trong đó rồi.

Tiếng kêu gào chung quanh mỗi lúc một thê thảm hơn. Có người ngứa quá không nhịn được phải lăn lộn dưới đất, lại có kẻ đập đầu vào đá, hay tự đấm ngực thình thình, xem thật là dễ sợ. Bảy tám giọng cùng la lối: "Mau mau lôi gã Tang Thổ Công ra đây, bắt hắn lấy thuốc giải độc!" Giữa những tiếng la ó, mười mấy người mắt đỏ ngầu đồng thời xông về phía Mộ Dung Phục.

Mộ Dung Phục điểm chân trái xuống nắp đỉnh, nhẹ nhàng nhảy vọt lên không. Y toan đáp xuống một cành tùng đâm ngang ra, đột nhiên nghe những tiếng vo vo, hàng trăm hàng ngàn mũi kim sáng chói bắn xéo lên.

Diễn biến thật là đột ngột. Người bắn độc châm là Tang Thổ Công hãy còn ngồi trong đỉnh, thế mà nắm độc châm này phóng ra rất mãnh liệt, rõ ràng đã được phát xạ bằng máy móc. Chẳng lẽ Tang Thổ Công còn có đồng đảng nấp gần đây để hạ độc thủ nữa chăng?

Lúc này Mộ Dung Phục đang lơ lửng trên không, khó mà tránh được. Nếu dùng chưởng lực hất xuống thì bốn người bọn Đặng Bách Xuyên đang ngồi dưới gốc cây lại bị trúng châm, như thế là làm hại đến huynh đệ. Mộ Dung Phục phất tay áo bên trái cho phồng lên như cánh buồm, mượn đà lượn trên không sang bên trái ba thước né tránh, đồng thời vung tay áo bên phải phát ra một luồng nội lực hất hàng ngàn mũi độc châm phóng lên trời. Sau đó người gã mới nhẹ nhàng hạ dần xuống.

Lúc này trên trời không có trăng sao, nhưng đèn đuốc bốn mặt chiếu sáng tỏ. Mọi người nhìn thấy thân pháp Mộ Dung Phục nhẹ nhàng như người biết cưỡi gió mà đi, đều không khỏi kinh hãi. Người thì la ó quát mắng, người thì hoan hô tán thưởng, át hẳn những tiếng rên la thê thảm.

Mộ Dụng Phục lúc còn lơ lửng trên không đã để mắt chú ý nhìn xem đám độc châm đó từ đâu bắn lên, lúc rớt xuống còn cách mặt đất hơn một trượng, chân trái liền đạp một cành cây mọc ngang để mượn đà nhảy sang mé hữu. Y đang hạ xuống từ từ, bỗng vọt đi lẹ như chim ưng, hai chân nhắm đạp xuống đầu một người vừa thấp lùn vừa béo trùng trục ngồi cạnh một phiến đá. Thì ra lúc Mộ Dung Phục đảo mắt nhìn quanh đã thấy người này ôm một cái đỉnh như đang thủ thế.

Gã lùn xoay người đi tránh ra ba thước, trông như một quả cầu lăn tròn dưới đất cực kỳ mau lẹ. Mộ Dung Phục đáp xuống chỗ trống, phóng chưởng ra đánh binh một tiếng vào lưng đối phương. Gã lùn đang muốn đứng dậy thì trúng chưởng lại ngã ra, liền mượn thế lăn luôn bảy tám trượng rồi mới đứng lên. Nhưng phát chưởng này cực kỳ mãnh liệt, gã vừa đứng lên đã lảo đảo mấy cái, hai chân nhũn ra, lại ngồi phệt xuống.

Tứ phía kia có mười mấy người cùng la lên: "Tang Thổ Công! Lấy thuốc giải ra!" rồi nhảy xổ lại. Đặng Bách Xuyên và Bao Bất Đồng đều nghĩ: "Gã lùn này là Tang Thổ Công." Hai người muốn bắt gã để lấy thuốc giải trị thương cho huynh đệ, vội vàng vừa quát vừa nhảy vọt tới.

Tang Thổ Công chống tay trái xuống đất toan đứng lên, nhưng không đủ sức. Bao Bất Đồng nhảy tới trước tiên, thò tay ra chụp lấy vai gã, ngờ đâu đòn trảo vừa trúng đích thì bàn tay đau nhức không chịu được phải rút về, xoay bàn tay lên coi thấy máu chảy đầm đìa. Thì ra trên áo Tang Thổ Công giắt đầy kim nhọn chẳng khác gì con nhím, mà những mũi châm này đều tẩm thuốc độc. Chỉ trong chốc lát, Bao Bất Đồng thấy vừa ngứa ngáy vừa đau ghê gớm, chỉ muốn chặt đứt bàn tay mà vứt đi. Bao Bất Đồng vừa sợ vừa tức liền phóng chân trái ra, xuất chiêu Kim Câu Phá Băng đá vào mông Tang Thổ Công. Gã này đang nằm quằn quại dưới đất, rõ ràng thế nào cũng bị đá trúng.

Bàn chân chỉ còn cách mông Tang Thổ Công mấy tấc, đột nhiên Bao Bất Động tỉnh ngộ: "Hỏng bét, nếu mông hắn cũng gắn độc châm thì mình lại hỏng thêm một chân, thật là ngu xuẩn." Nhưng gã sợ rút chân về đột ngột sẽ tổn thương đến gân cốt, bèn tức tốc phóng tả chưởng xuống đất, mượn đà lộn người đi.

Bao Bất Đồng biến thế rất mau lẹ, bàn chân chỉ lướt khẽ qua quần Tang Thổ Công, cũng chẳng hiểu mông của y có gắn châm độc hay không.

Lúc ấy Đặng Bách Xuyên cùng mọi người đã nhảy tới, thấy Bao Bất Đồng. Rõ ràng đã chụp được Tang Thổ Công, mà không hiểu sao lại bị thương. Bởi vậy Tang Thổ Công nằm phục dưới đất không nhúc nhích mà chẳng ai dám mạo hiểm động thủ. Chỉ có Bao Bất Đồng tính tình cố chấp, nhất định không chịu thua. Gã nhấc một khối đá nặng đến hơn hai trăm cân, quát lên: "Tránh ra! Tiểu đệ phải đập chết con rùa đen này!"

Có người vội la lên: "Không được! Đập chết gã thì lấy đâu ra thuốc giải độc? Có người lại kêu:" Thuốc giải ở trong mình hắn, cứ đập chết là lấy được. "Xem chừng bọn này tụ họp với nhau mà mỗi người vẫn có ý kiến riêng, chẳng đồng tâm hiệp lực chi hết. Bao Bất Đồng muốn đập chết Tang Thổ Công, có người phản đối lại có người đồng tình, mỗi người một phách.

Giữa lúc lộn xộn, Bao Bất Đồng xách một tảng đá lớn bước tới, quát lên:" Ta phải đập nát bét con rùa đen mình đầy độc châm này. "Lúc đó lòng bàn tay gã càng ngứa ran lên không chịu nổi, bèn giơ thẳng hai tay đập mạnh tảng đá xuống lưng Tang Thổ Công. Chỉ nghe một tiếng binh vang lên, cát bụi bay mù mịt.

Mọi người đều giật mình kinh hãi. Tảng đá đó mà trúng lưng Tang Thổ Công thì tất nhiên hắn phải rú lên thê thảm, da thịt phải tan nát, không thể có cát bụi bay mù như thế được. Ai nấy định thần nhìn lại thì lại càng ngạc nhiên hơn, chỉ thấy khối đá nằm trơ dưới đất, Tang Thổ Công đã biến đi đâu mất.

Bao Bất Đồng phóng chân hất khối đá lăn sang một bên, dưới đất hiện ra một cái hang. Trong tên Tang Thổ Công đã có chữ" Thổ ", thuật địa hành của hắn rất mực tinh thông. Lúc nãy Mộ Dung Phục đè chặt nắp đỉnh, Tang Thổ Công không có cách nào hất nắp đỉnh lên để thoát ra, hắn phải đạp dưới đáy đỉnh vận động cả chân tay đào một cái hang chui xuống đất để thoát thân. Bao Bất Đồng ngẩn ngơ, nhìn cả bốn phương tám hướng xem Tang Thổ Công ở đâu. Gã nghĩ thầm:" Thằng cha này không phải là con Xuyên sơn giáp, thì dù hắn có chui xuống đất cũng đào được mấy thước là cùng, chẳng lẽ hắn biết thuật độn thổ mà trốn được ngay? "

Bỗng nhiên Mộ Dung Phục la lên:" Hắn đây rồi! "Rồi vung tay áo bên phải quét vào tảng đá một cái. Tang Thổ Công thật là một con người cổ quái, có đủ ngón che mắt bịp người, nếu nhãn lực Mộ Dung Phục không đủ tinh vi thì không thể phát giác ra tảng đá này chính là lưng gã.

Tang Thổ Công như một trái bóng thịt, bị tụ phong mãnh liệt tung lên trên không. Lúc nãy hắn trúng chưởng của Mộ Dung Phục đã bị thương khá nặng, không còn sức kháng cự, vội cất tiếng la lên:" Đừng hạ độc thủ, để tại hạ lấy thuốc giải cho! "

Mộ Dung Phục chỉ mỉm cười, lại vung tay trái, phát ra một luồng kình phong vừa tiêu trừ tụ phong bên tay phải, vừa giữ thân thể Tang Thổ Công lại cho hạ từ từ xuống.

Xa xa phía trước có tiếng hoan hô:" Cô Tô Mộ Dung, danh bất hư truyền! "Mộ Dung Phục xua tay đáp:" Chẳng đáng làm trò cười, nghĩ mà hổ thẹn. "Lúc ấy một luồng kim quang, một luồng ngân quang vụt tới bên trái đầu y nhanh như chớp, tiếng rít lên nghe rất ghê sợ. Mộ Dung Phục không dám chần chờ, vận nội lực vào hai tay áo để đón lấy. Một tiếng" ầm "vang lên, tụ phong dội ngược lại, hai luồng ánh sáng cũng lui lại ba thước. Bấy giờ Mộ Dung Phục mới nhìn rõ, đó là hai cái đai vừa dài vừa rộng, một là đai vàng, một là đai bạc.

Hai người cầm đai đều đã già, lão sử đai vàng thì mặc áo bào bạc, lão sử đai bạc lại mặc áo bào vàng. Cả áo lẫn đai đều chiếu hào quang rực rỡ, cực kỳ diễm lệ. Loại áo bào vàng bạc này tựa như phục trang trên sân khấu, không phải để mặc lúc bình thường. Lão mặc áo bạc lên tiếng:" Bái phục, bái phục! Hãy tiếp thêm một chiêu của huynh đệ ta! "Hào quang lấp loáng, đai vàng vọt thẳng tới bên trái, còn đai bạc thì vung lên không rồi chụp xuống thượng bộ Mộ Dung Phục.

Mộ Dung Phục nói:" Hai vị tiền bối.. ", mới được bốn chữ thì nghe mấy tiếng veo véo, phía dưới lại có ba thanh trường đao chém tới. Ba người này đều sử dụng Địa Đường Đao Pháp, chia nhau tấn công vào hạ bàn Mộ Dung Phục. Thế là Mộ Dung Phục bị ba mặt giáp công. Y nghĩ thầm:" Đối phương đã tự xưng là ba mươi sáu động chúa và bảy mươi hai đảo chúa, người nhiều thế mạnh, nếu hỗn chiến thì nguy hiểm khôn lường. Ta phải đánh phủ đầu, khủng bố tinh thần họ trước. "Ba lưỡi đao quét tới nơi, Mộ Dung Phục mắt lẹ chân nhanh, phóng luôn ba cước, đều trúng vào cổ tay địch nhân. Ba thanh đao đều bị đá tung lên không, bạch quang lấp loáng. Mộ Dung Phục lạng người sang bên, thi triển công phu Đẩu Chuyển Tinh Di gạt vào đầu cái đai vàng, nghe đánh chát một tiếng, đai vàng và đai bạc đã cuốn vào nhau.

Lúc này ba người sử đao đã lăn vào khoảng giữa Mộ Dung Phục và Tang Thổ Công. Bọn chúng đã mất đơn đao mà không chịu lùi lại, la lối om sòm, cứ định vồ lấy chân Mộ Dung Phục. Y không dám để chúng lấn quất bên mình, lại phóng cước nhanh như gió đá trúng huyệt đạo trước ngực cả ba. Đột nhiên xuất hiện một người mặc áo đen, chân tay dài như vượn, vượt qua mọi người rồi xòe bàn tay lớn bằng chiếc quạt nắm lấy Tang Thổ Công xách đi. Không hiểu trời sinh tên này có da bàn tay dày như da voi, hay là có đeo bao tay sắt, mà y không sợ độc châm trên người Tang Thổ Công. Y nắm được Tang Thổ Công rồi nhảy lùi lại xa hơn một trượng.

Mộ Dung Phục thấy mỗi cái giơ tay cất chân của người này đều ghê gớm, rõ ràng võ công hắn cao thâm hơn bọn kia nhiều. Y kinh hãi nghĩ thầm:" Tang Thổ Công mà bị tên này xách đi thì khó lòng kiếm được thuốc giải. Tâm niệm vừa động, Mộ Dung Phục liền vọt người lên, vượt qua ba tên nằm dưới đất, phóng chưởng đánh tới người áo đen. Gã kia cười lạnh lẽo, hoành đao trước ngực, thanh quang lấp loáng.

Đó là một lưỡi quỉ đầu đao sống dày lưỡi mỏng, sắc nhọn dị thường, đao quang xanh lè. Mộ Dung Phục thấy lưỡi đao của đối phương đã đón sẵn mà vẫn đánh xuống, tưởng chừng bàn tay y sắp đập vào lưỡi đao mà đứt lìa ra. Nhưng bàn tay y còn cách lưỡi đao chừng hai tấc thì đột nhiên xoay ngang ra, quét dọc theo lưỡi đao để hớt vào tay của người áo đen.

Cườm tay của Mộ Dung Phục đã vận chân lực vào, lợi hại chẳng kém gì lưỡi quỷ đầu đao, nếu chém trúng cũng chặt đứt được tay đối phương. Gã áo đen giật mình la lên một tiếng, buông rơi thanh đạo rồi xoay tay lại đỡ. Hai người đối chưởng nghe ầm một tiếng, gã áo đen lại la lên một tiếng nữa, rồi nhảy lùi lại xa hơn một trượng. Nhưng tay trái gã vẫn nắm chặt lấy Tang Thổ Công, nhất định không chịu buông ra. Mộ Dung Phục xoay tay lại nắm lấy thanh quỷ đầu đạo đang rơi xuống, bỗng ngửi thấy một mùi tanh tưởi, biết ngay lưỡi đao này có bôi thuốc độc tà môn.

Mộ Dung Phục tuy mới xuất một chiêu đã đoạt được khí giới của đối phương, song y thấy bảy tám người bên địch đã đưa binh khí ra chắn trước mặt người áo đen, thì khó mà xông vào cướp Tang Thổ Công lại được. Y lại vừa đối chưởng với người áo đen, biết rằng công lực hắn kém mình, nhưng bên trong lại có chỗ quái dị, giả tỉ được lấy một chọi một cũng không thể thủ thắng trong chốc lát được.

Tiếng người vẫn huyên náo không ngừng: "Tang Thổ Công! Mau lấy thuốc giải ra!" "Con mẹ nó! Thứ độc châm này mà không trị thì chỉ một giờ là mất mạng." "Ô Lão Đại! Mau mau kêu hắn lấy thuốc giải ra, ta không chịu được nữa!" Dưới ánh đèn lửa, vô số bóng người chen lấn nhau chạy tới chỗ gã áo đen Ô Lão Đại để xin gã lấy thuốc giải cho.

Lão Đại nói: "Được rồi! Lão họ Tang béo phì này, móc thuốc giải ra đi!" Tang Thổ Công đáp: "Ngươi phải buông ta ra chứ!" Ô Lão Đại nói: "Ta mà buông tay thì địch nhân lại bắt ngươi mất, buông ra thế nào được? Lấy thuốc giải ra đi!" Những người đứng cạnh đều quát lên: "Phải rồi! Lấy thuốc giải ra đi." Có người lớn tiếng thóa mạ: "Thằng rợ Miêu này! Ngươi còn chần chờ nữa là lão gia cho một mớ lửa đốt rụi cái động Bích Lân, họ hàng nhà rùa đen cháy không còn một cái móng chân!"

Tang Thổ Công ấp úng đáp: "Ta để thuốc giải dưới đất, phải buông ra thì ta mới đi lấy được." Mọi người đều chưng hửng, biết hắn nói thật tình. Tang Thổ Công vốn thích ở trong sơn động âm u không có bóng mặt trời, hắn giấu thuốc dưới đất là hợp lý.

Mộ Dung Phục không nghe Công Dã Càn cùng Phong Ba Ác rên la, nhưng y thấy mọi người đang ngứa ngáy quằn quại, thì nhị ca cùng tứ ca tất cũng chẳng khác gì. Y quyết định trước mắt phải dùng toàn lực để cướp lại Tang Thổ Công rồi sẽ tính tiếp, bèn quát lên một tiếng, múa tít thanh quỷ đầu đao xông vào giữa đám đông như con hổ đói xông vào giữa đàn dê, mọi người đều dạt sang hai bên. Đặng Bách Xuyên và Bao Bất Đồng thì đang phải hộ vệ cho Công Dã Càn cùng Phong Ba Ác, không dám rời xa nửa bước vì sợ địch nhân ám hại.

Ô Lão Đại thấy Mộ Dung Phục hung hãn quá không dám chống đối, xách Tang Thổ Công lui ra xa. Bỗng có người kêu lên: "Các vị phải cẩn thận! Gã đang cầm Lục Ba Hương Lộ Đao, đừng để chém trúng." Người khác lại kêu: "Trời ơi! Sao Ô Lão Đại lại để y đoạt được Lục Ba Hương Lộ Đao? Thế thì nguy to rồi!"

Mộ Dung Phục vung đao tiến vào, gặp đủ loại người. Hòa thượng cùng đạo sĩ, hán tử xấu xa cùng nữ nhân mỹ lệ, mặt ai cũng có vẻ khiếp sợ, hối hả tránh ra. Rõ ràng thanh quỷ đầu đao này có nhiều lai lịch, nhưng tanh tưởi khó ngửi mà lại gọi là Hương Lộ Đao, thật tức cười! Mộ Dung Phục nghĩ: "Ta múa thanh độc đao này chém chết mươi tên động chúa, đảo chúa gì gì đó cũng chẳng khó khăn gì, nhưng mình với bọn họ vốn không thù oán, thì giết người làm chi? Giả tỉ chúng liều chết không chịu cho thuốc giải, thì chất độc trong người nhị ca cùng tứ ca không hiểu sẽ phát tác thế nào." Y nghĩ vậy nên tuy vung đao xông vào đám đông mà không hạ sát thủ chém chết mạng nào, chỉ điểm huyệt mấy người thôi.

Bọn người kia lúc đầu còn khiếp sợ, về sau thấy uy lực thế đạo của y không hung hãn lắm, đều trấn tĩnh lại. Chỉ trong khoảnh khắc trường kiếm, đoản đao, nhuyễn tiên.. từ bốn phía tới tấp phóng ra nhằm vào người y. Mộ Dung Phục võ công cao cường, nhưng bị mười mấy người bao vây, tả xung hữu đột một lúc đã bắt đầu luống cuống. Y thấy bên ngoài vòng chiến còn ba bốn trăm người trùng trùng điệp điệp, không khỏi kinh hãi.

Mộ Dung Phục chống đỡ một lát nữa rồi nghĩ thầm: "Không hạ độc thủ thì biết đến bao giờ mới kết liễu tình thế này?" Y múa tít thanh đao, nghe hai tiếng "binh binh", sống đao đã đánh trúng hai người bất tỉnh ngay. Bỗng nghe Đặng Bách Xuyên lớn tiếng quát: "Bọn đê tiện kia! Không được động đến cô nương!" Mộ Dung Phục liếc qua, thấy hai người đang tung mình nhảy lên ngọn cây có Vương Ngữ Yên ngồi trên, Đặng Bách Xuyên đang vừa chạy như bay tới, vừa tới tấp phóng chưởng ra ngăn trở. Mộ Dung Phục cực kỳ bối rối, lại thấy thêm ba người nữa chạy tới chỗ cây tùng đó. Y hiểu rõ ngay chủ ý bọn này, không hạ nổi mình nên nhảy lên bắt biểu muội để uy hiếp, thật là vô sỉ. Mộ Dung Phục bị vô số người bao vây, không có cách nào phân thân để chạy lại cứu Vương Ngữ Yên được, chỉ chốc lát đã thấy hai cô gái nắm tay Vương Ngữ Yên nhảy từ trên cây xuống. Một tên đầu đà tóc dài đội vòng vàng cầm giới đao kê vào cổ Vương Ngữ Yên quát lên: "Mộ Dung tiểu tử! Mi mà không chịu đầu hàng thì ta cắt đầu con bé này!"

Mộ Dung Phục ngẩn người ra, nghĩ bụng: "Bọn yêu ma này tàn ác vô cùng, chẳng kiêng nể cái gì, không chừng dám sát hại biểu muội ta thật. Biết làm thế nào đây? Tiếng tăm nhà Mộ Dung ở Cô Tô lừng lẫy võ lâm, sao lại đầu hàng được? Bây giờ mà mình mở miệng đầu hàng, thì sau này còn làm người được chăng?" Trong lòng y rối loạn mà tay chân không chậm lại chút nào, phóng ra hai chưởng vù vù, hất hai tên địch bay ra ngoài một trượng.

Gã đầu đà lại quát lớn: "Mi không đầu hàng là ta cắt cái đầu đẹp như hoa như ngọc này rớt xuống lập tức!". Thanh giới đao vung lên, đao quang xanh lè rung động không ngớt.

Comments

0 comments

Trước Tiếp
 
34,431 ❤︎ Bài viết: 2241 Tìm chủ đề
Hồi 34: Núi Phiêu Diểu mây dồn gió giật

Đột nhiên từ phía sau núi có tiếng người la lên: "Không được! Nhất định không được đụng đến Vương cô nương! Ta chịu đầu hàng các ngươi là xong." Một bóng người áo xám chạy như bay tới, bộ pháp vừa nhẹ nhàng vừa phiêu hốt như ma quỉ. Phía ngoài vòng vây có mấy người vừa quát mắng om sòm vừa xông ra ngăn lại, nhưng bóng xám đó né đông tránh tây lướt thẳng vào trong. Dưới ánh đèn lửa, mọi người đều thấy rõ, thì ra chính là Đoàn Dự.

Chàng la lên: "Muốn ta đầu hàng thì đâu phải dễ? Nhưng vì Vương cô nương thì ta chịu đầu hàng một ngàn lần, một vạn lần." Chàng nhảy xổ đến trước mặt gã đầu đà, kêu lên: "Trời ơi! Buông tay ra đi! Các ngươi bắt Vương cô nương làm chi?"

Vương Ngữ Yên thấy chàng không hiểu võ công mà dám liều mạng xông vào cứu mình thì cảm kích vô cùng, nhẹ giọng hỏi: "Đoàn.. Đoàn công tử! Là công tử đấy ư?" Đoàn Dự cả mừng đáp: "Chính là tại hạ."

Gã đầu đà quát mắng: "Mi.. mi là cái thứ gì?" Đoàn Dự đáp: "Ta là người, chứ còn là cái thứ gì nữa?" Gã đầu đà xoay tay trái phóng quyền đánh "bốp" một cái trúng quai hàm Đoàn Dự. Chàng đứng không vững, loạng choạng rồi ngã lăn ra, trán đập vào một cục đá, máu chảy đầm đìa.

Gã đầu đà nhìn chàng khinh công chạy đến, vẫn tưởng võ công chàng không phải hạng tầm thường. Thoi quyền đó chỉ là hư chiêu, gã yên trí là không trúng, sau đó phóng ra ba chiêu giới đao bên tay phải mới là sát thủ thực sự. Gã không ngờ mới đánh dứ một chiêu đã xong, không khỏi ngẩn người ra, rồi nhìn qua thấy Mộ Dung Phục vẫn đang tả xung hữu đột không ngớt, bèn la lên: "Mộ Dung tiểu tử! Mi mà không dừng tay đầu hàng, ta chém đầu con bé này thật đấy. Lão phật gia nói một là một, nói hai là hai, không biết lừa dối là gì. Một, hai, ba! Mi có hàng hay không?"

Mộ Dung Phục không biết tính sao. Nghĩ đến tình biểu huynh biểu muội thì y không thể nhẫn tâm để Vương Ngữ Yên mất mạng, nhưng bốn chữ "Cô Tô Mộ Dung" còn quan trọng hơn nhiều, giả tỉ để người uy hiếp phải đầu hàng thì thật là sỉ nhục, tên tuổi vĩnh viễn bị chôn vùi trên chốn giang hồ. Y bèn thét lên: "Tên đầu đà hổ mang kia! Ngươi muốn ta đầu hàng thì khó lắm. Ngươi đụng đến một sợi tóc của cô nương đó, mà ta không băm vằm ngươi ra muôn đoạn, thì thề chẳng làm người nữa." Mộ Dung Phục vừa nói vừa cố xông về phía Vương Ngữ Yên, nhưng hơn hai chục người vung khí giới đâm tả chém hữu, ngăn trước đánh sau, làm sao xông tới được ngay?

Gã đầu đà tức giận quát lên: "Ta thử cắt đầu con nhỏ này, xem mi có băm vằm được lão phật gia không?" Gã bèn chụp lấy tay Vương Ngữ Yên. Hai cô gái đang nắm giữ nàng thấy vậy sợ vạ lây, liền buông tay nhảy tránh ra xa.

Đoàn Dự nhịn đau lồm cồm bò dậy, đưa tay trái lên trán xoa xoa vết thương, vẻ mặt đang bần thần, thì thấy gã đầu đà vung đao chém xuống mà Vương Ngữ Yên vẫn đứng ngây ra, hình như đã bị điểm huyệt nên không kháng cự, né tránh chi hết. Chàng hốt hoảng đến cực điểm, chân khí trong người nổi lên đầy dẫy, bèn giơ ngón tay ra thi triển công phu Lục Mạch Thần Kiếm. Mấy tiếng veo véo vang lên, rồi nghe đánh "chát" một cái. Tay phải gã đầu đà bị đứt lìa, bàn tay cùng thanh giới đao đều rớt xuống đất.

Đoàn Dự nhảy vọt tới, ôm ngang hông Vương Ngữ Yên đặt lên lưng cõng chạy, miệng la lớn: "Phải chạy trốn cho khỏi mất mạng."

Gã đầu đà bị chặt đứt cánh tay phải, đau muốn ngất đi. Nhưng gã vốn đã hung hãn nay lại càng điên tiết, thò tay trái xuống lượm cánh tay phải, gầm lên một tiếng thật to, nhắm Đoàn Dự liệng tới. Bàn tay phải vẫn còn nắm chặt lưỡi giới đao, cả tay lẫn đao bay vèo về phía Đoàn Dự, cực kỳ nguy hiểm. Đoàn Dự lại giơ một ngón tay lên phóng "véo" ra một tiếng, chiêu Thiếu Dương Kiếm bắn đúng vào lưỡi giới đao.

Lưỡi đao bật ra rớt xuống đất, nhưng cánh tay vẫn bay tới đập vào má Đoàn Dự một cái.

Đoàn Dự bị đánh trúng phát này, mắt hoa lên, đầu nhức như búa bổ. Chàng bước loạng choạng mà miệng vẫn la lên: "Thật là lợi hại, cánh tay gãy cũng tát được người." Chàng chỉ tâm niệm một điều là phải cứu cho được Vương Ngữ Yên ra ngoài, liền thi triển Lăng Ba Vi Bộ vượt khỏi trùng vây.

Mọi người hô hoán xúm lại ngăn cản, nhưng Đoàn Dự né tả tránh hữu, chân bước vòng vèo ra ngoài. Binh khí cùng quyền chưởng của bọn động chúa, đảo chúa nhằm vào người chàng phóng đến tới tấp, nhưng bộ pháp của chàng chẳng khác gì ma quỉ hiện hình, né tránh được hết.

Mấy ngày nay, lúc chàng thức thì nghĩ đến Vương Ngữ Yên, lúc chàng ngủ cũng mơ thấy Vương Ngữ Yên. Đêm đó chàng nói chuyện cùng Phạm Hoa, Ba Thiên Thạch một lúc trong khách điếm thì mọi người đi ngủ, nhưng chàng trằn trọc mãi không sao ngủ được. Đến nửa đêm, chàng lẻn ra ngoài, đuổi theo hướng bọn Mộ Dung Phục đã đi. May mà sau khi Mộ Dung Phục kịch đấu với Đinh Xuân Thu, hắn phải trọ trong khách điếm để bọn Đặng Bách Xuyên dưỡng thương, nên Đoàn Dự không tốn chút sức nào cũng đuổi theo kịp. Chàng cũng thuê một phòng phía sau, không ra khỏi cửa một bước, chỉ cần cảm thấy mình ở cách Vương Ngữ Yên vài trượng là đã khoan khoái vô cùng. Đến khi bọn Mộ Dung Phục cùng Vương Ngữ Yên lên đường, chàng cũng đi theo, giữ khoảng cách xa xa.

Dọc đường chàng cứ tự trách mình không biết bao nhiêu lần: "Ta cứ theo sau nàng thế này, thật là không nên không phải. Đoàn Dự hỡi Đoàn Dự, ngươi chỉ tự làm khổ mình thôi. Vướng vào lưới tình càng sâu càng khó rút chân ra, thật là uổng cho công phu đọc sách thánh hiền. Ngươi phi ngựa đến bên vực thẳm thì phải biết dừng, ngươi đang ngụp dưới biển sâu thì phải biết hướng quay vào bờ chứ? Ngươi phải dùng Tuệ kiếm để chặt đứt tơ tình, không thì cuộc đời còn gì để sống? Ngươi phải hiểu rằng con người mỹ lệ đến đâu thì cũng là một cái túi da đựng đầy máu mủ tanh hôi, trăm năm sau chỉ còn xương trắng. Sắc là vô thường, phải biết chán ghét mà rời xa, không lạc vào vô thường mới mong được giải thoát."

Đoàn Dự hiểu rằng nhan sắc của Vương Ngữ Yên cũng là vô thường, nhưng làm sao chán ghét mà rời xa được đây? Nghĩ thì nghĩ vậy, chân vẫn bước nhanh, chàng cứ đi theo xa xa, không hề bị bọn Mộ Dung Phục, Bao Bất Đồng phát giác. Tình hình Vương Ngữ Yên ngồi trên cây, Mộ Dung Phục nghênh địch, chàng đều thấy cả. Đến lúc gã đầu đà toan chặt đầu nàng, Đoàn Dự bèn liều mình xông vào đầu hàng thay cho Mộ Dung Phục. Đối phương ngoan cố không chịu cho chàng đầu hàng, kết quả lại đứt lìa một cánh tay.

Chỉ trong khoảnh khắc, Đoàn Dự đã cõng Vương Ngữ Yên thoát khỏi trùng vây. Chàng sợ có người rượt theo, nên chạy một mạch mấy trăm trượng nữa mới dừng bước rồi thở phào nhẹ nhõm, toan đặt Vương Ngữ Yên xuống. Vương Ngữ Yên đỏ mặt lên nói: "Không, không! Đoàn công tử! Ta bị chúng điểm huyệt không đứng vững được đâu!" Đoàn Dự đỡ lấy vai nàng đáp: "Vâng! Cô nương bị điểm huyệt nào, để tại hạ giải huyệt cho." Vương Ngữ Yên nói: "Không, không cần! Chỉ qua một giờ ba khắc là huyệt đạo tự nhiên giải khai, công tử bất tất phải giải huyệt cho ta!" Nàng bị điểm vào huyệt Thần Phong ở ngay trên ngực, sờ vào chỗ đó mà giải huyệt thì có điều bất tiện.

Đoàn Dự không hiểu lý do, lại nói: "Chỗ này nguy hiểm, không thể ở lâu được. Để tại hạ giải khai huyệt đạo cho cô nương, rồi sẽ tìm kế thoát thân." Vương Ngữ Yên đỏ mặt lên nói: "Không được đâu!" Nàng bỗng nghĩ tới bọn Mộ Dung Phục, Đặng Bách Xuyên đang xung sát giữa trùng vây, lo lắng cho biểu huynh liền bảo: "Đoàn công tử! Biểu huynh ta đang bị bao vây, chúng ta phải tìm cách cứu chàng ra."

Đoàn Dự chua xót trong lòng, biết Vương Ngữ Yên chỉ nghĩ tới Mộ Dung Phục mà thôi. Chàng cụt hứng than thầm: "Một trường tương tư đành là ảo mộng. Đoàn Dự này quyết ý hoàn thành tâm nguyện của nàng, dù phải chết vì Mộ Dung Phục cũng cam lòng." Chàng bèn nói: "Được lắm! Cô nương ở đây, để tại hạ xông vào cứu lệnh biểu huynh."

Vương Ngữ Yên nói: "Không, không được! Công tử không hiểu võ công, làm sao cứu người được?"

Đoàn Dự mỉm cười nói: "Lúc nãy tại hạ xông vào cứu được cô nương ra thì sao?" Vương Ngữ Yên biết Lục Mạch Thần Kiếm của chàng lúc linh nghiệm lúc không, không thể điều khiển như ý được, bèn nói: "Vừa rồi công tử vận khí rất giỏi, là vì.. vì lo lắng đến ta. Nhưng công tử đối với biểu huynh ta chưa chắc đã tha thiết được như vậy, e rằng.." Đoàn Dự nói: "Cô nương đừng nghĩ thế. Tại hạ đối với cô nương thế nào thì đối với lệnh biểu huynh cũng vậy." Vương Ngữ Yên lắc đầu nói: "Như thế thì công tử mạo hiểm quá. Không được đâu!" Đoàn Dự ưỡn ngực ra nói: "Vương cô nương! Chỉ cần cô có lòng tin cậy, tại hạ dù muốn thác cũng không chối từ." Vương Ngữ Yên đỏ mặt lên khẽ nói: "Công tử tốt với ta như vậy, ta không dám nhận đâu!" Đoàn Dự hỏi lại: "Sao cô nương lại không dám? Cứ dám đi chứ?" Chàng liền quay người, hiên ngang tiến vào trong trận.

Vương Ngữ Yên vội la lên: "Đoàn công tử! Ta không nhúc nhích được, công tử đi rồi không còn ai trông nom. Nếu có người đến ám toán thì ta.." Đoàn Dự quay lại gãi đầu nói: "Cái này.. cái này.." Bản ý Vương Ngữ Yên là muốn Đoàn Dự lại cõng mình lên lưng để đi cứu Mộ Dung Phục, nhưng xấu hổ không tiện nói ra. Nàng chỉ mong Đoàn Dự tự hiểu mình, song chàng lại không hiểu, chỉ gãi đầu dậm chân, ra chiều khó nghĩ.

Những tiếng ầm ầm, binh binh, tiếng quát tháo cùng tiếng binh khí chạm nhau loảng xoảng cứ vang đến, Mộ Dung Phục cùng đối phương chiến đấu mỗi lúc một khẩn cấp. Vương Ngữ Yên biết tình hình nguy hiểm, nàng nóng nảy vô cùng, đành thẹn thùng nói: "Đoàn công tử! Phiền công tử cõng ta lên lưng xông vào trận để cứu biểu huynh thì tiện hơn." Đoàn Dự tỉnh ngộ nói: "Phải lắm! Phải lắm! Thế mà tại hạ ngu muội không nghĩ ra." Chàng liền cúi xuống, lại đặt Vương Ngữ Yên lên lưng cõng chạy đi.

Lúc nãy Đoàn Dự đã cõng Vương Ngữ Yên, nhưng chàng dồn hết tâm trí vào việc cứu nàng thoát hiểm, không để ý gì khác. Bây giờ chàng cảm thấy người nàng vừa mềm mại vừa ấm áp tựa trên lưng mình, hai tay chàng vòng ra sau ôm lấy chân nàng, tuy cách mấy lần xiêm áo cũng cảm thấy da thịt nàng mịn màng không có gì so sánh được. Bất giác người chàng nóng lên, nhưng tự trách ngay: "Đoàn Dự hỡi Đoàn Dự! Trong lòng ngươi có ý niệm càn rỡ thì thật không bằng cầm thú! Nàng là một vị cô nương băng thanh ngọc khiết cực kỳ tôn quý, chỉ một ý nghĩ bất lương nhỏ xíu cũng là tiết mạn đến nàng rồi. Đáng đánh đòn, thật là đáng đánh đòn" Chàng nghĩ đến đấy liền giơ tay lên tự tát vào mặt mình hai cái cực mạnh, đồng thời tăng gia cước lực chạy vọt đi.

Vương Ngữ Yên ngạc nhiên hỏi: "Đoàn công tử! Công tử làm gì vậy?" Đoàn Dự bản tính thành thật, đối với vị thiên tiên Vương Ngữ Yên lại càng không dám dối trá, liền đáp: "Trong lòng tại hạ phát sinh ý nghĩ lại bất kính đối với cô nương. Thật là hổ thẹn, đáng đánh đòn!" Vương Ngữ Yên hiểu được ý nghĩ của chàng liền thẹn đỏ mặt lên.

Giữa lúc ấy, một đạo sĩ cầm trường kiếm chạy như bay tới quát mắng: "Con mẹ nó! Thằng lỏi này lại vào quấy rối!" Hắn vừa thóa mạ vừa ra chiêu Độc Long Xuất Động đâm tới Đoàn Dự. Chàng bước xéo đi đúng phép Lăng Ba Vi Bộ tránh khỏi. Vương Ngữ Yên khẽ nói: "Hắn sắp ra chiêu thứ hai đâm vào bên trái, công tử hãy bước sang phải phóng chưởng đánh vào huyệt Thiên Tôn hắn."

Quả nhiên tên đạo sĩ đâm một kiếm không trúng, liền ra chiêu thứ hai "Thanh Khiết Mai Hoa" đâm vào ngực trái Đoàn Dự. Đoàn Dự cứ y theo lời Vương Ngữ Yên, vòng qua bên phải đưa tay vỗ đúng ngay huyệt Thiên Tôn. Đây chính là yếu huyệt của hắn, tuy phát chưởng của Đoàn Dự hời hợt không có bao nhiêu kình lực, nhưng hắn lập tức hộc máu tươi ra, rồi lăn xuống đất.

Tên đạo sĩ vừa ngã xuống thì lại có một hán tử nhảy xổ vào. Vương Ngữ Yên kiến thức bao la, võ công khắp thiên hạ môn nào cũng biết, cứ thì thầm vào tai Đoàn Dự, chỉ điểm cho chàng phương pháp động thủ, đánh gục đại hán này tức khắc. Đoàn Dự thấy thắng địch một cách dễ dàng, Vương Ngữ Yên lại kề tại thủ thỉ, hương lan thoang thoảng xông vào mũi, người ngọc ấm áp tựa trên lưng. Tuy chàng đang phải liều mạng đánh nhau mà vẫn cảm thấy sung sướng vô hạn, thực là bình sinh chưa dám nghĩ tới hạnh phúc thế này.

Đoàn Dự đánh ngã hai người rồi thì chỉ còn cách Mộ Dung Phục không đầy hai trượng. Bất thình lình nghe tiếng gió rít lên, hai bóng xanh vọt tới, hai cây nhuyễn tiên cùng đánh vào Đoàn Dự. Chàng lại bước xéo đi tránh khỏi, bỗng một cây nhuyễn tiên đang lơ lửng trên không chợt quay đầu lại chồm xuống trước mặt nhanh như chớp. Vương Ngữ Yên cùng Đoàn Dự la hoảng: "Trời ơi!" Thì ra đây không phải là binh khí mà là hai con rắn. Đoàn Dự tăng gia cước bộ muốn lướt qua mặt hai người áo xanh, không ngờ chúng thân hình bé nhỏ mà bộ pháp mau lẹ dị thường, cản được chàng luôn mấy lần. Đoàn Dự vội hỏi: "Vương cô nương! Làm thế nào đây?"

Những chiêu thức quyền cước và binh khí các môn phái khắp thiên hạ, rất ít môn Vương Ngữ Yên không biết tới, nhưng rắn cắn người thì không theo chiêu thức võ công gì hết, khó mà biết được chúng sắp mổ vào phía nào. Còn hai tên áo xanh thì nhô lên hụp xuống trông rất vụng về, nhưng lại cực kỳ mau lẹ, hình như chúng chưa hề luyện khinh công, chỉ nhanh nhẹn tự nhiên như các loài dã thú mà thôi.

Đoàn Dự phải né tránh vô cùng vất vả, lúc nào cũng thấy nguy hiểm. Vương Ngữ Yên nghĩ thầm: "Loài rắn đớp người dĩ nhiên không theo chiêu số để mình đoán được, phải đánh vào chủ nó." Nhưng thân pháp của chủ nhân hai con rắn độc này lại rất kỳ dị, cất tay nhấc chân đều chẳng theo quy củ, chiêu thức nào hết, giống như người không biết võ công, Vương Ngữ Yên không tài nào đoán trước họ sắp bước về phía nào hoặc sắp ra chiêu đánh vào đâu. Nàng đã mấy lần bảo Đoàn Dự đánh vào huyệt Kỳ Môn hoặc điểm huyệt Khúc Toàn đối phương, nhưng chúng tự nhiên né tránh cực kỳ linh động, không sao đánh trúng được. Tâm cơ linh mẫn cùng cử động mau lẹ của chúng hoàn toàn là tự nhiên, không theo lề lối gì hết.

Vương Ngữ Yên vừa nghĩ kế phá địch vừa lưu tâm đến chỗ biểu huynh, tai lại nghe đầy tiếng rên la kêu cứu của mấy mươi người bị trúng độc châm. Chất độc trong độc châm của Tang Thổ Công đã đến lúc phát tác, không còn ai đứng vững, đều lăn lộn quằn quại trên mặt đất.

Ô Lão Đại vẫn nắm tay Tang Thổ Công đòi lấy thuốc giải ngay, nhưng thuốc giải lại chôn ở dưới đất gần chỗ Mộ Dung Phục đứng. Ô Lão Đại sợ Mộ Dung Phục như sợ cọp, không dám tiến lại, chỉ la hét thúc giục đồng bọn đánh gấp vào, phải hạ xong Mộ Dung Phục thì mới lấy thuốc giải cứu người được. Nhưng hạ Mộ Dung Phục đâu phải chuyện dễ dàng?

Ô Lão Đại bỗng hô lên ra lệnh. Trong đám người vây quanh Mộ Dung Phục có ba gã lùi ra để cho ba người khác xông vào thay thế. Ba gã sau này đều là cao thủ, có một tên thấp lùn mà thần lực ghê gớm. Gã múa tít hai quả đồng chùy, bình phong rít lên kinh khủng, uy thế mãnh liệt vô cùng. Mộ Dung Phục vung thanh Hương Lộ Đao lên đỡ cặp chùy, chỉ một chiêu đã cảm thấy cánh tay tê nhức. Y không khỏi giật mình kinh hãi, hễ thấy cặp chùy đánh tới liền né tránh chứ không dám công nhiên đón đỡ nữa.

Giữa lúc hai bên đánh nhau loạn xạ, Vương Ngữ Yên đột nhiên hô lớn: "Biểu huynh! Ngân Đặng Vạn Trản, Phi Khâm Đương Phong." Mộ Dung Phục biết về võ học thì biểu muội hiểu rộng hơn mình nhiều, liền không suy nghĩ gì nữa, tay mặt khoa đao lên ba vòng tròn, đao quang lấp loáng phát
 
34,431 ❤︎ Bài viết: 2241 Tìm chủ đề
Hồi 35: Cứu Đồng Mỗ tiểu tăng phạm giới

Ô Lão Đại biến sắc mặt, vừa toan lên tiếng thì Bất Bình đạo nhân đưa mắt ra hiệu, rồi mỉm cười nói: "Đoàn huynh đã nói là đứng bàng quan, không giúp bên nào thì không góp ý kiến cũng là chuyện đương nhiên. Ô Lão Đại! Chúng ta muốn tiến đánh núi Phiêu Diểu thì cần nhất là phải biết rõ thực hư trong cung Linh Thứu. Bọn Ô huynh chín người đã lên núi thám thính, vậy sau khi mụ ác tặc rời khỏi cung Linh Thứu thì trong cung còn lại bao nhiêu tay cao thủ, cách bố trí thế nào? Ô huynh tuy không biết hết nhưng chắc cũng tìm hiểu được mấy phần, xin nói ra để mọi người cùng bàn định."

Ô Lão Đại đáp: "Nói ra xấu hổ, bọn tại hạ đến dò xét cung Linh Thứu mà chẳng ai dám vào thám thính. Cả chín người chỉ lo ẩn nấp, sợ gặp phải nhân vật lợi hại nào thì nguy to. Tại hạ nấp ở vườn hoa phía sau cung, bị một đứa bé gái bắt gặp, ăn mặc theo kiểu a hoàn. Tại hạ tránh không kịp, bị nhìn rõ mặt, liền nhảy xổ tới thi triển phép cầm nã bắt nó lại, thật là bí quá phải làm liều, không kể gì đến tính mạng nữa. Nhân vật trong cung Linh Thứu không phải tầm thường, dù nó chỉ là một đứa trẻ nít, nhưng biết đâu võ công thần diệu? Lúc đó tại hạ biết phen này mình mười phần chết chín.."

Giọng y run lên, chứng tỏ nhớ đến tình trạng nguy hiểm khi đó, vẫn còn sợ hãi vô cùng. Mọi người lẳng lặng ngồi nghe Ô Lão Đại kể chuyện, thấy hắn vẫn đang bình yên vô sự, rõ ràng dù có gặp nguy hiểm thì cũng đã thoát khỏi. Nhưng bọn này hễ nghĩ đến Thiên Sơn Đồng Mỗ là người cứ run bắn lên, thế mà Ô Lão Đại dám lên tận núi Phiêu Diểu bắt người, dẫu vì tình trạng bắt buộc mà phải mạo hiểm thì cũng lớn mật vô cùng, nếu là hạng người tầm thường thì đành bó tay chịu chết. Ai cũng sinh lòng bội phục hắn.

Ô Lão Đại kể tiếp: "Tại hạ xông vào, vận dụng toàn lực thi triển Hổ Trảo Công. Lúc đó tại hạ định bụng nếu một chiêu mà không bắt được con nhỏ, để nó kịp la lên cho người ta đến cứu, thì mình nhất quyết nhảy từ núi cao trăm trượng xuống chết cho sướng thân, nhất định không để lọt vào tay mụ ác tặc để bị hành hạ dã man. Ngờ đâu, tay trái tại hạ chụp xuống vai con nhỏ, tay phải nắm chặt được cánh tay nó, mà nó tuyệt không kháng cự chi hết, ngã lăn ra ngay, tựa như người không có võ công. Lúc đó tại hạ mừng vô kể, đến nỗi bủn rủn cả chân tay. Nói ra chỉ sợ các vị cười, con nhỏ đó lăn ra rồi thì cái tên Ô Lão Đại nhát gan này cũng suýt ngã theo."

Mọi người nghe đến đây đều cười ồ lên, đầu óc cảm thấy khoan khoái, hết cả lo lắng hoang mang. Tuy Ô Lão Đại tự cười mình nhát gan, nhưng ai nấy đều cho rằng hắn dũng cảm phi thường, dám lên tận núi Phiêu Diểu bắt người thì thật là kinh thiên động địa.

Ô Lão Đại giơ tay ra vẫy, một tên thủ hạ liền xách một cái túi vải đen chạy ra, đặt xuống trước mặt Ô Lão Đại. Ô Lão Đại cởi dây cột, kéo miệng túi xuống, để lộ ra một người. Ai nấy đều ồ lên một tiếng, người trong túi là một đứa bé gái thân hình bé nhỏ.

Ô Lão Đại dương dương đắc ý nói: "Con nhỏ này là do Ô mỗ bắt ở trên núi Phiêu Diểu đem về." Mọi người hoan hô vang dội: "Ô Lão Đại bất hủ!" "Ô Lão Đại đáng mặt anh hùng hảo hán!" "Quần tiên ba mươi sáu động, bảy mươi hai đảo xin tôn Ô Lão Đại lên làm thủ lĩnh!"

Tiếng hoan hô của mọi người xen lẫn với tiếng khóc hu hu của cô bé. Nó đang ôm mặt khóc nức nở.

Ô Lão Đại nói: "Bọn tại hạ bắt được con nhỏ này rồi, vẫn sợ có người phát giác rượt theo, hấp tấp chạy xuống núi liền. Lúc tra hỏi con nhỏ này không khai thác được chút gì, đáng tiếc là nó bị câm điếc. Ban đầu bọn tại hạ tưởng nó giả vờ, đã nghĩ ra vô số biện pháp để thử thách, có lúc lại bất thình lình quát sau lưng nó một tiếng thật to thử xem nó có giật mình không. Nhưng thử gì thì thử, cũng thấy nó câm điếc thật."

Mọi người nghe tiếng cô bé khóc thì biết nó câm thật. Giữa đám đông có người cất tiếng hỏi: "Ô Lão Đại! Nó không nghe được, thì sao không viết chữ xem nó có hiểu không?" Ô Lão Đại đáp: "Nó chẳng hiểu chi hết. Bọn ta đã dùng đủ cách, dìm xuống nước lạnh, nhúng vào nước nóng, bắt nhịn đói, chẳng còn thiếu cách gì mà xem ra nó không phải là đứa ngoan cố, chỉ là một đứa nhỏ vừa câm điếc vừa ngu ngốc."

Đoàn Dự không nhịn được, cười hăng hắc nói: "Dùng thủ đoạn đê hèn để hành hạ một cô bé, thế mà không biết nhục ư?" Ô Lão Đại nói: "Bọn ta bị mụ Thiên Sơn Đồng Mỗ hành hạ còn thảm khốc gấp mười, mình trả oán một chút, có gì là nhục?" Đoàn Dự nói: "Các vị có báo thù rửa hận thì phải đối phó với chính mụ Thiên Sơn Đồng Mỗ mới hợp lý. Đi bắt nạt đứa con nít thì có ích gì đâu?"

Ô Lão Đại đáp: "Dĩ nhiên là có ích." Rồi hắn lớn tiếng gọi: "Các vị huynh đệ! Hôm nay chúng ta đồng tâm hiệp lực phản lại núi Phiêu Diểu, từ giờ phút này thì phúc cùng hưởng, họa cùng chịu. Vậy chúng ta phải uống máu ăn thề, mưu đồ đại sự. Có vị nào không đồng ý thì xin cho biết."

Lão Đại hỏi hai lần vẫn không thấy ai đáp lại. Hắn hỏi đến lần thứ ba thì một đại hán cao lớn đứng lên, lặng lẽ chạy về phía tây. Ô Lão Đại lớn tiếng gọi: "Khu đảo chúa đảo Kiếm Ngư! Ngươi đi đâu thế?" Đại hán không trả lời, cứ cắm đầu chạy như bay, chớp mắt đã vượt qua một thung lũng. Mọi người la lên: "Thằng cha này nhát gan, chưa lâm trận đã bỏ chạy. Mau chặn hắn lại!" Mười mấy người lập tức rượt theo, đều là những tay giỏi khinh công, nhưng Khu đảo chúa đã chạy xa rồi, chẳng hiểu họ có đuổi kịp hay không.

Bất thình lình một tiếng rú thê thảm từ sau núi vọng lại, mọi người đều kinh ngạc nhìn nhau, cả mười mấy người đuổi theo Khu đảo chúa cũng dừng lại. Bỗng nghe một luồng gió rít lên vù vù, một vật hình tròn như quả bóng từ sau núi bay vù tới, rớt vào giữa đám đông.

Ô Lão Đại nhảy vọt lên, giơ tay ra chụp được quả bóng đó, soi vào ánh đèn thì ra một cái đầu lâu, máu thịt bầy nhầy. Mọi người nhìn kỹ bộ mặt thủ cấp này thì thấy râu đâm tua tủa, hai mắt tròn xoe, chính là Khu đảo chúa vừa chạy trốn. Ô Lão Đại run sợ la lên: "Khu đảo chúa.." Nhất thời hắn nghĩ không ra, tại sao Khu đảo chúa vừa trốn đi đã mất mạng mau đến thế, rồi bỗng nảy ra một ý nghĩ cực kỳ khủng khiếp: "Chẳng lẽ Thiên Sơn Đồng Mỗ đã đến đây rồi?"

Bất Bình đạo nhân cất tiếng cười ha hả rồi nói: "Kiếm Thần thần kiếm quả nhiên danh bất hư truyền! Huynh canh gác thật là nghiêm mật!" Phía sau thung lũng có một thanh âm vọng lại nghe rất rõ: "Kẻ nào lâm trận mà bỏ trốn thì ai cũng có quyền giết chết. Xin các vị động chúa, đảo chúa miễn trách cho ta."

Mọi người đang sợ hãi, bấy giờ mới hoàn hồn đồng thanh nói: "May mà được Kiếm Thần trừ diệt quân phản nghịch để đại sự của chúng ta không bị phá hoại."

Mộ Dung Phục cùng bọn Đặng Bách Xuyên đều nghĩ bụng: "Gã này tự xưng là Kiếm Thần, thật là ngông cuồng tự đại. Dù kiếm pháp y có giỏi đến đâu chăng nữa thì cũng không nên tự xưng là thần. Trên giang hồ chưa có nhân vật nào mang biệt hiệu chối tai như vậy, không hiểu kiếm pháp gã này cao đến mức độ nào?"

Ô Lão Đại tự thấy xấu hổ vì mình nhát gan nhìn thần thấy quỉ. Hắn lớn tiếng nói: "Các vị huynh đệ hãy lấy khí giới ra, mỗi người đâm chém một nhát vào con tiểu quỷ này! Tuy nó câm điếc, nhưng cũng là nhân vật ở trong núi Phiêu Diểu, mũi đao dính máu ả tức là từ nay cùng núi Phiêu Diểu đối đầu một mất một còn. Chúng ta làm như vậy thì kẻ nào ăn ở hai lòng cũng không thể lùi bước được nữa." Ô Lão Đại nói xong, liền rút soạt lưỡi quỷ đầu đao ra.

Mọi người đều hoan hô: "Đúng lắm, phải làm như thế mới được! Đao kiếm chúng ta đã dính máu kẻ thù thì chỉ có tiến chứ không có thoái."

Đoàn Dự hốt hoảng la lên: "Làm thế không được, muôn ngàn lần không được! Mộ Dung huynh! Huynh nên ra tay ngăn cản, đừng để họ hành động bất nhân như vậy." Mộ Dung Phục lắc đầu nói: "Đoàn huynh! Tính mạng của họ đều ràng buộc vào hành động này, chúng ta là người ngoài chẳng nên can thiệp vào việc không phải của mình." Đoàn Dự động lòng nghĩa hiệp, tức giận nói: "Đã là bậc đại trượng phu, thì giữa đường gặp chuyện bất bình không thể nhắm mắt bỏ qua. Vương cô nương! Cô nương có trách mắng thì cũng đành chịu, tại hạ không thể không cứu cô bé kia được. Nhưng.. nhưng sức tại hạ không trói nổi con gà, khó lòng mà cứu cô ta. Trời ơi! Đặng huynh, Công Dã huynh, sao nhị vị không động thủ đi? Bao huynh, Phong huynh, nhị vị tiếp ứng cho tiểu đệ xông vào cứu người được không?" Bọn Đặng Bách Xuyên bốn người bao giờ cũng hành động theo ý Mộ Dung Phục, thấy y không muốn can thiệp đành nhìn Đoàn Dự lắc đầu, nhưng gã nào cũng tỏ vẻ bần thần.

Ô Lão Đại thấy Đoàn Dự kêu cứu lung tung, nghĩ rằng chàng công lực rất cao thâm, nếu sinh sự thì lắm rắc rối, mình không thể chần chờ, phải động thủ lẹ cho rồi. Hắn vung lưỡi quỷ đầu đao lên, hô to: "Ô Lão Đại động thủ trước tiên!", rồi bổ lưỡi đao xuống cô bé đứng trong túi vải.

Đoàn Dự la lên: "Hỏng bét!" Chàng vung ngón tay ra chiêu Trung Xung Kiếm phóng vào quỷ đầu đao của Ô Lão Đại. Nhưng chàng không thu phát Lục Mạch Thần Kiếm theo ý muốn được, có lúc hiệu nghiệm, có lúc không. Có khi chân khí đầy dẫy, uy lực mãnh liệt; có khi lại không huy động được một chút nội lực nào. Lúc này chàng chỉ trỏ lung tung, nhưng chân khí chỉ ra đến bàn tay rồi ngừng lại, không phát ra kiếm khí được.

Lưỡi đao của Ô Lão Đại chém xuống gần đến mình cô bé, đột nhiên một bóng đen từ phía sau một tảng đá lớn vọt ra. Bóng đen giơ tay trái lên gạt phắt lưỡi đao của Ô Lão Đại, tay phải chộp lấy túi vải đặt lên lưng, cõng cả cô bé lẫn cái túi chạy thẳng về hướng tây bắc.

Mọi người nhốn nháo, vừa la ó vừa rượt theo. Nhưng bóng đen cước lực thần tốc, chạy nhanh như biến không thể đuổi kịp. Mấy tên động chúa đảo chúa phóng ám khí theo vù vù, nhưng cũng không kịp, ám khí chưa đến đích đều hết đà rơi lả tả xuống đất.

Đoàn Dự cả mừng, mắt chàng sáng rực lên, nhận ra bóng đen là một người mình đã gặp ở kỳ hội của Tô Tinh Hà. Chàng lớn tiếng la lên: "Té ra là Hư Trúc hòa thượng chùa Thiếu Lâm, Hư Trúc sư huynh, Đoàn mỗ xin chắp tay thi lễ. Chùa Thiếu Lâm của sư huynh là Thái Sơn Bắc Đẩu của võ lâm, quả nhiên danh bất hư truyền!"

Cả bọn thấy người kia phóng một chưởng đẩy bật Ô Lão Đại ra, chân bước nhẹ nhàng, võ công thật là lợi hại; lại nghe Đoàn Dự hoan hô vang dội, gọi hắn là hòa thượng Thiếu Lâm. Danh tiếng phái Thiếu Lâm lừng lẫy xưa nay, ai cũng có ý nể sợ. Chỉ vì việc này liên quan trọng đại, cô bé đã bị cứu đi, nếu không giết nhà sư đó để diệt khẩu thì không chừng mưu đồ bị tiết lộ, đại họa tới ngay tức khắc. Mọi người láo nháo đuổi theo.

Hư Trúc chạy thẳng lên núi. Đỉnh núi này tuyết phủ trắng xóa, ẩn hiện trong mây, không phải cao thủ khinh công mà trèo lên đỉnh thì phải mất bốn năm ngày. Bất Bình đạo nhân la lên: "Đừng sợ. Hòa thượng này leo lên núi là tự vào tuyệt lộ, không lẽ hắn bay lên trời hay sao? Chúng ta chỉ cần giữ chặt các đường xuống núi là hắn không thoát được." Mọi người nghe vậy mới yên tâm trở lại. Ô Lão Đại bèn phân chia đệ tử các phái giữ chặt các đường xuống núi ở cả bốn phía. Y sợ nhà sư Thiếu Lâm đột phá được trùng vây, nên mỗi ngả đường đều đặt đến ba chặng gác, chặng đầu giữ không được thì còn chặng giữa, chặng giữa giữ không được đã có chặng sau, ít nhất cũng đủ thì giờ hô hoán gọi tiếp ứng. Y lại sắp xếp mười mấy cao thủ tuần tra bốn mặt, sau đó Ô Lão Đại mới cùng Bất Bình đạo nhân, An động chúa, Tang Thổ Công, Hoắc động chúa, Khâm đảo chúa, cả thảy mấy chục người lên núi tìm kiếm nhà sư này để trừ khử cho dứt hậu hoạn.

Bọn Mộ Dung Phục được phân công canh giữ mặt phía đông. Phía này không hề có đường xuống núi, bề ngoài là mời giúp canh phòng, thật sự là bọn Ô Lão Đại không muốn họ tham gia. Mộ Dung Phục hiểu Ô Lão Đại còn nghi kỵ mình, chỉ khẽ cười rồi dẫn bọn Đặng Bách Xuyên qua mặt phía đông trấn thủ. Đoàn Dự chẳng sợ gì ai, không ngớt mở miệng ca tụng Hư Trúc là anh hùng hảo hán.

* * *

Người cướp túi vải đựng cô bé đúng là Hư Trúc. Hôm đó Đinh Xuân Thu cùng Mộ Dung Phục ác đấu kinh hồn trong phạn điếm, về sau Du Thản Chi cứu A Tử chạy đi, Đinh Xuân Thu phân tâm để Mộ Dung Phục thừa cơ giật được tay ra trốn thoát. Lúc đó Hư Trúc cũng nhân lúc lộn xộn chui từ phòng trong ra rồi cướp đường chạy trối chết. Y chạy ra khỏi phạn điếm, rồi toan đi tìm bọn Tuệ Phương sư bá sư thúc để xin chỉ thị. Từ lúc Hư Trúc phóng chưởng đánh chết sư bá tổ Huyền Nạn, y kinh hãi vô cùng, mất cả chủ ý. Y chưa có kinh nghiệm giang hồ, lại không thuộc đường lối, không dám gặp nhiều người mà cũng không dám vào quán trọ, chỉ tìm những nơi hẻo lánh mà đi.

Lúc đó ba mươi sáu động chúa và bảy mươi hai đảo chúa hẹn nhau đến hội họp tại hang núi, mỗi người đều dắt theo đệ tử nên nhân số rất đông. Hư Trúc dọc đường đã gặp bọn này, thấy nhiều nhân vật giang hồ bèn đi theo, hy vọng gặp bọn Tuệ Phương. Nhưng y thấy họ hình dung cổ quái, hành tung kỳ bí nên cũng sợ hãi, chỉ bí mật theo dõi. Hư Trúc chẳng hiểu gì về những chuyện ân oán giang hồ, nhưng bản tính nghĩa hiệp, sẵn dạ từ bi. Y thấy Ô Lão Đại vung quỷ đầu đao lên toan chém một bé gái câm điếc tuyệt không có khả năng kháng cự, liền thấy bất nhẫn vô cùng. Hư Trúc cũng chẳng hiểu ai phải ai trái, chỉ quyết cứu mạng cô bé, liền từ sau tảng đá lớn nhảy vọt ra, cướp lấy cái túi vải cõng lên lưng chạy trốn.

Hư Trúc đề khí chạy lên núi, thấy càng lên cao rừng cây càng rậm rạp. Phía sau vẫn nghe tiếng người huyên náo rượt theo nhưng mỗi lúc một xa dần. Lúc nhà sư ra tay cứu người chỉ vì lòng nghĩa hiệp nhất thời, bây giờ mới nghĩ đến bọn người này rất đông. Võ công đã ghê gớm mà thủ đoạn cũng vô cùng độc ác. Chỉ một tên trong đối phương ra tay là mình đã không địch nổi, huống chi họ đông người như thế. Nhà sư đâm ra sợ hãi, nghĩ thầm: "Bây giờ phải tìm một nơi kín đáo mà ẩn núp để họ không tìm thấy, thì tính mạng mình cùng cô bé này mới giữ được an toàn." Lúc này y đi không cần tìm đường, cứ lựa chỗ nào cây cối rậm rạp nhất là xông vào.

Cũng may mà y đã nhận được bảy mươi năm công lực của vị lão nhân, chạy gần hai giờ mà chẳng thấy mệt nhọc chút nào. Nhà sư lại chạy một lúc nữa, trời bắt đầu sáng rõ. Mặt đất dưới chân y phủ đầy tuyết, thì ra chỗ này âm u lạnh lẽo, tuyết phủ quanh năm. Hư Trúc định thần nhìn xung quanh một lượt, tim vẫn đập thình thịch. Y tự hỏi: "Không biết mình phải chạy trốn đến chỗ nào mới yên?".

Đột nhiên sau lưng y có tiếng quát: "Tên tiểu quỷ xấu xa kia, ngươi tưởng trốn được ư? Ta tưởng ngươi phải hổ thẹn mà chết." Hư Trúc giật mình la hoảng: "Úi chao!", rồi co giò chạy lên đỉnh núi như phát điên. Y chạy được mấy dặm mới dám dừng chân ngoảnh đầu lại, thì không thấy ai đuổi theo. Y yên tâm, tự nói: "Hay quá! Không có người đuổi theo."

Y vừa dứt lời thì sau lưng lại có tiếng chế giễu: "Nam tử hán đại trượng phu gì mà nhát gan đến thế? Thật là đồ chuột nhắt mật nhỏ xíu!" Hư Trúc lại sợ cuống cuồng, cất bước chạy như bay, vẫn nghe thanh âm kia nheo nhéo ở đằng sau: "Đồ nhát gan, đồ ngu ngốc, chẳng được tích sự gì!" Dường như giọng nói chỉ cách chừng hai ba thước, người nói có thể với tay một cái là tóm được.

Hư Trúc nghĩ thầm: "Hỏng bét, hỏng bét! Võ công người này cao cường đến thế, mình nhất định không thoát khỏi độc thủ của hắn rồi!" Y nghĩ thế, nhưng vẫn gia tăng cước lực đến tột độ, mỗi lúc chạy một mau hơn. Thanh âm kia lại cất lên: "Nhát gan đến thế thì còn ra vẻ anh hùng cứu người làm chi? Ngươi định chạy trốn tới đâu?"

Lần này Hư Trúc nhận ra tiếng nói ngay sát bên tai, y sợ quá, hai chân nhũn ra suýt nữa té xuống, lảo đảo mấy bước rồi quay đầu lại nhìn. Lúc này trời đã sáng bạch, ánh mặt trời chiếu rõ cả khu rừng rậm rạp mà tuyệt không thấy bóng người. Hư Trúc nghĩ chắc người này ẩn nấp gần đấy, liền cung kính nói: "Tiểu tăng thấy người ta toan sát hại một cô bé nhỏ tuổi, nên không tự lượng sức mà xuất thủ cứu người, không dám tự nghĩ là có bụng anh hùng."

Thanh âm kia cười nhạt rồi nói: "Ngươi hành động mà không biết tự lượng sức, thì chỉ chuốc khổ vào thân mà thôi!"

Thanh âm này tựa như ngay ở bên tai, Hư Trúc lại càng kinh hãi, hốt hoảng quay đầu nhìn lại mà phía sau nào thấy ai đâu? Nhà sư nghĩ bụng: "Thân pháp người này xuất quỷ nhập thần đến mức mình không trông thấy được, võ công y chắc chắn cao hơn mình mấy chục lần. Nếu y cố hại thì chỉ giơ tay lên một cái là lấy xong mười mạng Hư Trúc chứ đừng nói một. Nhưng nghe giọng điệu thì y chỉ trách mình bất tài nhát gan, dường như y không cùng phe với Ô Lão Đại." Nghĩ vậy, Hư Trúc định thần lại rồi nói: "Tiểu tăng bất tài, dám xin tiền bối chỉ điểm cho."

Người kia lại cười nhạt, nói: "Ngươi có phải là đồ tử đồ tôn gì của ta đâu mà ta phải chỉ điểm cho ngươi?" Hư Trúc đáp: "Dạ, dạ! Tiểu tăng ăn nói càn rỡ mong tiền bối tha tội cho. Bên địch rất đông người, tiểu tăng không phải là đối thủ, tiểu tăng muốn kiếm đường tẩu thoát." Y nói xong, lại đề khí tiếp tục chạy lên đỉnh núi.

Thanh âm sau lưng lại vang lên: "Ngọn núi này là tuyệt lộ, bọn chúng canh giữ dưới chân núi cả rồi. Ngươi định chạy đi đâu cho thoát?" Hư Trúc hoang mang dừng bước, đứng ngẩn ra ấp úng: "Tiểu tăng.. không biết làm thế nào, mà cũng không rõ đường đi. Xin tiền bối mở lòng từ bi chỉ điểm cho một lối thoát." Giọng ở sau lưng lại cười hăng hắc, rồi hững hờ nói: "Hiện giờ chỉ có hai cách, một là ngươi chạy theo đường cũ xuống núi, xông vào trùng vây của địch mà giết sạch bọn yêu ma quỷ quái đó đi." Hư Trúc đáp: "Một là tiểu tăng không đủ tài năng, hai là tiểu tăng không muốn giết người." Thanh âm kia nói: "Vậy phải theo cách thứ hai, ngươi tung mình nhảy xuống vực sâu muôn trượng cho nát ra như cám, thì cả trăm điều cũng giải quyết xong hết!"

Hư Trúc ngập ngừng: "Cái đó.." Y quay đầu nhìn lại, trên mặt đất phủ tuyết chỉ thấy có vết chân mình, không thấy vết chân người thứ hai nào nữa. Y nghĩ thầm: "Người này đi trên tuyết mà không lộ vết chân, võ công tuyệt diệu không thể tưởng tượng được." Thanh âm kia lại hỏi: "Ngươi tính thế nào?" Hư Trúc đáp: "Tiểu tăng nhảy xuống vực thẳm mà chết thì cũng đành, nhưng lẽ nào để bé gái mà tiểu tăng đang cõng cũng phải chết theo. Như thế là cứu người mà lại hóa ra hại người, thật là không nỡ."

Thanh âm kia lại hỏi: "Ngươi có liên quan gì với núi Phiêu Diểu không? Sao không tìm cách thoát thân mà còn mạo hiểm cứu người làm chi?" Hư Trúc vừa chạy tiếp lên đỉnh núi vừa cất tiếng đáp: "Núi Phiêu Diểu hay cung Linh Thứu gì gì đi nữa thì tiểu tăng cũng mới nghe thấy hôm nay, chẳng quen biết ai trên đó cả. Tiểu tăng là đệ tử phái Thiếu Lâm, chuyến này mới vâng mệnh sư phụ xuống núi lần đầu. Bất luận là môn phái nào trên giang hồ, tiểu tăng cũng không có liên quan chi hết." Thanh âm kia cười nhạt đáp: "Như vậy thì ngươi là một vị tiểu hòa thượng chùa Thiếu Lâm, thấy việc nghĩa mà làm phải không?" Hư Trúc đáp: "Là tiểu hòa thượng thì đúng, còn thấy việc nghĩa mà làm thì không dám nói. Tiểu tăng chẳng có kiến thức gì, nên hành động bừa bãi, hiện giờ trong lòng còn vô số vấn đề nan giải, không biết phải làm thế nào."

Thanh âm kia nói: "Nội lực của ngươi thâm hậu hiếm có, nhưng hoàn toàn không phải nội lực phái Thiếu Lâm là nghĩa làm sao?" Hư Trúc đáp: "Chuyện này nói ra dài lắm, chính là một vấn đề đã làm tiểu tăng rối trí." Thanh âm kia giục: "Dài ngắn cái gì? Ta không cho phép người nói lăng nhăng để bưng bít, mau mau nói thật đi!" Giọng nói đó đầy vẻ uy nghiêm, khó mà không tuân theo được. Nhưng Hư Trúc nhớ lại Tô Tinh Hà đã dặn: Ba chữ Tiêu Dao Phái là bí mật, chỉ có người bản phái mới được biết, nên tuy nhà sư biết người phía sau mình là một bậc tiền bối bản lĩnh cao thâm, nhưng đến mặt mũi còn chưa trông thấy, thì không dám đem chuyện bí mật trọng đại như vậy ra kể với y. Hư Trúc nghĩ vậy liền đáp: "Xin tiền bối lượng thứ, thực tình tiểu tăng có nhiều nỗi khổ tâm không thể trình bày được."

Thanh âm kia nói: "Được lắm! Đã thế thì ngươi đặt ta xuống thôi!" Hư Trúc giật bắn người lên, lắp bắp hỏi: "Cái.. cái gì?" Thanh âm kia nhắc lại: "Ngươi đặt ta xuống đi, đừng hỏi lằng nhằng nữa."

Hư Trúc không phân biệt rõ thanh âm này là nam hay nữ, chỉ biết là giọng nói của người già cả. Y không hiểu nổi tại sao người bí mật này lại bảo mình đặt y xuống, thực ra là ý gì. Nhà sư liền dừng bước quay đầu nhìn lại thì phía sau vẫn chẳng thấy bóng một ai, còn đang ngơ ngẩn thì thanh âm kia cất tiếng mắng: "Xú hòa thượng, mau đặt ta xuống. Ta ngồi trong cái túi vải trên lưng ngươi chứ ở đâu? Ngươi tưởng ta là ai?"

Hư Trúc hồn vía lên mây, kinh hãi quá bèn buông tay ra. Chiếc túi vải rớt xuống đất đánh "huỵch" một tiếng, người trong túi la lên: "Úi chao!" Tiếng kêu đau này cũng nghe rất già nua. Hư Trúc la lên một tiếng "Trời ơi!" rồi hỏi: "Tiểu cô nương! Là cô đấy à? Sao giọng nói của cô nghe già thế?" Y bèn cúi xuống, cởi miệng túi vải rồi đỡ cô bé dậy.

Cô này thân hình nhỏ bé, chỉ khoảng tám chín tuổi, nhưng hai mắt sáng như điện rất có thần khí, đang quắc lên nhìn Hư Trúc trông rất oai nghiêm. Y há hốc miệng ra hồi lâu, không nói nên lời. Cô bé cất tiếng: "Ngươi thấy bậc trưởng bối mà không thi lễ, thì còn ra nghĩa lý gì?" Thanh âm cô ra vẻ người già mà vẻ mặt cũng rất nghiêm nghị. Hư Trúc ngập ngừng: "Tiểu.. cô nương.." Cô bé vội gắt lên: "Tiểu cô nương với đại cô nương cái gì? Ta là Mỗ Mỗ đây!" Hư Trúc mỉm cười nói: "Hiện giờ chúng ta đang bị hãm nơi tuyệt địa, cô nương chẳng nên nói giỡn. Lại đây, chui vào trong túi đi, để tiêu tăng cõng lên lưng mà trèo núi. Chỉ trong chốc lát là địch nhân đuổi đến nơi!".

Cô bé đảo mắt nhìn Hư Trúc từ trên xuống dưới, đột nhiên thấy trên ngón tay y có đeo một cái nhẫn bảo thạch đen thì giật mình hỏi: "Ngươi.. ngươi đeo cái gì thế kia? Đưa ta coi thử!" Thật ra Hư Trúc cũng không muốn đeo cái nhẫn này trên ngón tay, nhưng y biết đó là một vật rất trọng yếu không dám bỏ trong bọc, sợ sơ ý rớt mất. Nhà sư nghe cô bé hỏi tới cái nhẫn liền cười đáp: "Cái nhẫn đó không đẹp đâu."

Cô bé đột nhiên vung tay ra, nắm lấy cổ tay trái Hư Trúc, để ý nhìn rất kỹ cái nhẫn. Cô nắm bàn tay Hư Trúc lật qua lật lại nhìn một hồi lâu. Hư Trúc cảm thấy bàn tay cô run rẩy không ngớt, bèn quay đầu lại nhìn, thấy đôi mắt vừa to vừa trong trẻo của cô đầy nước mắt. Một hồi lâu, cô bé mới buông tay y ra.

Cô bé lên tiếng hỏi: "Ngươi ăn cắp cái nhẫn này của ai?" Thanh âm cô cực kỳ nghiêm khắc, tựa như đang thẩm vấn đạo tặc. Hư Trúc có ý không bằng lòng, nói: "Kẻ xuất gia phải giữ nghiêm giới luật, sao lại trộm cắp được? Đây là vật của người ta cho tiểu tăng, sao cô lại bảo là đồ ăn cắp?" Cô bé nói: "Nói chuyện hồ đồ! Ngươi là đệ tử Thiếu Lâm thì sao người ta lại cho ngươi cái nhẫn này được? Ngươi mà không nói rõ đầu đuôi, thì bữa nay ta phải lột da róc xương để người biết thế nào là đau khổ."

Hư Trúc bất giác bật cười, nghĩ bụng: "Nếu mình không nhìn thấy người, chỉ nghe thanh âm thì chắc phải bị cô bé này dọa cho bở vía." Y đáp: "Tiểu cô nương!.." Ba tiếng này vừa ra khỏi miệng, đột nhiên nghe đánh "bốp" một cái, má bên trái nhà sư đã bị một cái tát, may mà cô bé yếu sức nên tát không đau lắm. Hư Trúc tức giận hỏi: "Sao cô xuất thủ đánh người? Còn bé mà đã dã man vô lễ như thế ư?"

Cô bé nói: "Pháp danh ngươi là Hư Trúc! Hừ! Linh, Huyền, Tuệ, Hư.. ngươi là đệ tử đời thứ ba mươi bảy phái Thiếu Lâm. Có phải ngươi kêu bọn tiểu hòa thượng Huyền Bi, Huyền Từ, Huyền Thống, Huyền Nạn bằng sư tổ không?"

Hư Trúc giật mình kinh hãi, lùi lại một bước. Tại sao cô bé này mới tám chín tuổi đã biết lai lịch các bậc trưởng bối phái mình, lại dám gọi các vị sư bá tổ, sư thúc tổ mình là Huyền Từ, Huyền Bi bằng tiểu hòa thượng? Cô ta nói chuyện đâu có giống như trẻ nít? Y nghĩ thầm: "Người ta vẫn đồn rằng trên đời có chuyện hồn người chết mượn xác. Hay là.. có linh hồn một vị tiền bối nào nhập vào người cô bé này?"

Cô bé lại giục: "Ta hỏi ngươi, phải thì nói rằng phải, không thì nói rằng không, sao lại không đáp?" Hư Trúc liền đáp: "Cô nương nói không sai, nhưng cô gọi phương trượng đại sư bản tự bằng tiểu hòa thượng thì thái quá!" Cô bé nói: "Y chả là tiểu hòa thượng thì là gì? Ta ngang hàng với Linh Môn đại sư là sư phụ y, mỗi lần Huyền Từ gặp ta đều phải kính cẩn kêu bằng tiền bối. Ta kêu y bằng tiểu hòa thượng đã mười mấy năm nay rồi, có gì mà thái quá?" Hư Trúc lại càng kinh hãi. Linh Môn thiền sư là sư phụ Huyền Từ và là đệ tử đời thứ ba mươi tư chùa Thiếu Lâm. Những vị cao tăng nổi tiếng chùa Thiếu Lâm, Hư Trúc đều biết cả. Y càng nghe càng tin có linh hồn bậc trưởng bối nào đang nhập trong người cô này, liền hỏi: "Thế thì.. thế thì cô là ai?".

Cô bé giận dữ nói: "Ban đầu ngươi cứ mở miệng là gọi ta bằng tiền bối, ta tưởng ngươi là kẻ cung kính biết lễ. Sao bây giờ ngươi dám kêu ta bằng cô? Nếu mỗ mỗ không nghĩ đến ngươi đã có công cứu mạng thì đã phóng chưởng đánh chết tươi rồi!" Hư Trúc nghe thấy cô bé tự xưng là mỗ mỗ thì hoảng hồn đổi giọng nói: "Mỗ mỗ! Tiểu tăng không dám hỏi đến tôn tính đại danh nữa!" Cô bé hài lòng nói: "Thế mới là phải. Ta hỏi ngươi, cái nhẫn bảo thạch ngươi đeo trên ngón tay ở đâu ra?" Hư Trúc đáp: "Tiểu tăng nói thực, đó là của một vị tiên sinh đã cho tiểu tăng. Thực ra tiểu tăng cũng không muốn nhận, vì mình là đệ tử phái Thiếu Lâm không được phép lãnh cái nhẫn này. Nhưng vị lão tiên sinh đó đến lúc lâm nguy không cho tiểu tăng phân giải.."

Cô bé đột nhiên lại thò tay ra nắm lấy cổ tay Hư Trúc, run run hỏi: "Ngươi nói.. vị tiên sinh đó đến lúc.. lâm nguy à? Y chết rồi ư? Không! Không! Ngươi nói đi, tướng mạo vị tiên sinh đó như thế nào?" Hư Trúc đáp: "Lão tiên sinh đó râu dài ba thước, mặt đẹp như ngọc, phong độ cực kỳ tuấn nhã." Cô bé càng run rẩy hơn, hỏi: "Làm sao y lại lâm nguy? Bản lĩnh của y.." Đột nhiên cô tức giận, quát mắng: "Thằng trọc thối tha này! Vô Nhai Tử bản lĩnh phi thường, chưa tán công thì làm sao chết được? Người như y đâu có chết dễ dàng như vậy?" Hư Trúc gật đầu đáp: "Dạ, dạ!" Cô bé tuy còn nhỏ tuổi nhưng cái thế khiếp người, Hư Trúc vừa kính cẩn vừa sợ hãi, nên mặc dầu chẳng hiểu gì hết vẫn không dám cãi lý, mà cũng không dám hỏi lại. Y tự hỏi: "Tán công là thế nào? Người ta chết dễ như không, sao cô này lại bảo là khó?"

Cô bé lại hỏi: "Ngươi gặp Vô Nhai Tử ở đâu?" Hư Trúc hỏi lại: "Phải chăng tiền bối hỏi về lão tiên sinh mặt mũi khôi ngô, sư phụ của Thông Biện tiên sinh Tô Tinh Hà?" Cô bé đáp: "Dĩ nhiên là ta hỏi y. Hừ! Ngươi không biết cả tên tuổi y, rõ ràng ngươi bảo y đã cho ngươi cái nhẫn này là nói dối. Ngươi không những mặt dày vô sỉ mà còn to gan lớn mật nữa."

Hư Trúc hỏi: "Tiền bối có quen biết Vô Nhai Tử lão tiên sinh ư?" Cô bé tức mình quát lên: "Ta hỏi mi chứ có phải mi hỏi ta đâu? Mi gặp Vô Nhai Tử ở đâu? Nói mau" Hư Trúc đáp: "Tiểu tăng gặp lão tiên sinh đó trên một ngọn núi. Sở dĩ có cuộc gặp gỡ này là vì tiểu tăng ngẫu nhiên phá được thế cờ Trân Lung kỳ bí mà ra."

Cô bé vung tay toan tát y, nhưng lại rụt tay về, chỉ quát mắng: "Mi ăn nói hồ đồ. Thế cờ đó bày ra đã mấy chục năm, bao nhiêu kẻ sĩ tài trí còn chưa phá được. Gã thầy chùa ngu dốt như mi mà đòi phá giải ư? Mi còn nói láo thì ta không lịch sự nữa đâu!"

Hư Trúc nói: "Tiểu tăng không có bản lĩnh phá thế Trân Lung đó đâu, chỉ vì khi đó ở vào thế cưỡi cọp, Thông Biện tiên sinh bức bách tiểu tăng phải đi một nước cờ, tiểu tăng đành nhắm mắt lại, cầm quân cờ đặt bừa xuống bàn. Ngờ đâu quân cờ đó chẹn họng chết hết một đám quân trắng bên mình, nhưng thế cờ thành trống trải rồi sau cùng phá giải được, chỉ là may mắn mà thôi. Vì tiểu tăng liều lĩnh đi một nước cờ mà rồi sau vướng phải tội lỗi không ít. Thật là tội nghiệt! Hỡi ôi! A di đà Phật! A di đà Phật!" Y chắp tay trước ngực, niệm Phật một hồi.

Cô bé bán tín bán nghi nói: "Mi nói như vậy thì cũng hơi có lý.." Chưa dứt lời thì đột nhiên dưới sườn núi có tiếng gọi nhau văng vẳng, rồi tiếng chân người nhộn nhịp. Hư Trúc la hoảng: "Ôi chao!" Y hấp tấp bỏ cô bé vào lại túi vải rồi đặt lên lưng, co giò chạy lên núi như kẻ phát điên.

Nhà sư chạy được một lúc thì tiếng la ó nghe đã xa xa. Y quay đầu lại, thấy vết chân mình in trên tuyết rõ mồn một, bất giác la hoảng lên: "Nguy rồi!" Cô bé hỏi: "Việc gì mà nguy?" Hư Trúc đáp: "Tiểu tăng lưu vết chân lại trên mặt tuyết thì dù có chạy xa đến đâu, họ cũng theo dấu vết đuổi đến nơi được." Cô bé nói: "Phi thân đi trên ngọn cây thì không để lại vết chân. Đáng tiếc là võ công ngươi kém cỏi quá, có cái thuật khinh công nhỏ mọn mà cũng không biết. Tiểu hòa thượng! Xem chừng nội lực ngươi cũng khá, nhảy lên thử xem."

Hư Trúc nói: "Dạ! Để tiểu tăng thử." Rồi y tung mình nhảy lên cao quá ngọn cây, nhưng lúc hạ xuống đáp vào cành cây thì nặng nề quá, cành cây gãy răng rắc rồi cả người lẫn cành rớt xuống. Đáng lẽ y té ngửa đè lên cái túi, nhưng tâm địa nhân từ, sợ mình đè cô bé bị thương, bèn cố lật mình té sấp xuống. "Binh" một tiếng, trán y đập vào một tảng đá rách da chảy máu, bèn la rầm lên: "Ôi chao! Ôi chao!" Rồi Hư Trúc lồm cồm gượng đứng lên, xấu hổ nói: "Tiểu tăng.. ngu dốt quá, không nhảy được!"

Cô bé nói: "Ngươi chịu bị thương chứ không đè lên ta, thế là biết cung kính mỗ mỗ. Mỗ mỗ một là muốn lợi dụng, hai là muốn thưởng công, bây giờ ta dạy cho ngươi cách phi thân. Nghe cho rõ đây: Lúc tung người lên thì phải co hai đầu gối lại, đề tụ chân khí vào huyệt Đan Điền, lúc chân khí đưa người lên rồi thì thả lỏng thân thể, phong bế huyệt Ngọc Chẩm.." Cô bé giải thích từ từ, rồi lại dạy cho Hư Trúc chuyển hướng lúc người đang ở trên không, tạt ngang hay vượt lên cao hơn nữa phải làm thế nào. Cô bé dạy xong rồi nói: "Ngươi hãy theo phương pháp của ta lại nhảy lên đi!"

Hư Trúc nói: "Dạ! Để tiểu tăng thử nhảy một mình xem sao đã, sợ lúc té xuống làm đau tiền bối." Nhà sư nói xong toan đặt cái túi trên lưng xuống. Cô bé tức giận quát lên: "Mỗ mỗ đã đem bản lĩnh dạy ngươi chẳng lẽ còn sai lầm ư? Thử làm cái quái gì? Nếu lần này ngươi lại té nữa thì mỗ mỗ lập tức giết chết ngươi đó."

Hư Trúc sợ hãi vô cùng, bất giác nghĩ mình đang cõng một hồn ma nhập vào xác người, thì mồ hôi toát ra như tắm, toan quăng cái túi vải ra xa nhưng lại không dám. Rồi y nghiến răng vận khí theo đúng phép của cô bé vừa truyền thụ, co hai chân tung mình nhảy lên. Lần này nhà sư vận khí theo đúng lời dạy của cô bé, bế huyệt Ngọc Chẩm, nên lúc nhảy, người y từ từ đưa lên trên không.

Dù y đang lơ lửng trong không gian mà chuyển hưởng theo ý muốn cũng rất dễ dàng. Nhà sư mừng quá, la lên: "Được rồi! Được rồi!" Không ngờ y vừa mở miệng, chân khí tiết ra ngoài, người lại rớt xuống. May mà lần này rớt thẳng, hai chân đụng mạnh xuống đất chỉ thấy hơi đau, không đến nỗi ngã lăn ra.

Cô bé lớn tiếng mắng: "Đồ ngốc! Giả tỉ ngươi muốn mở miệng ra nói thì phải biết điều hòa hô hấp đã. Bước thứ nhất chưa xong đã muốn đến bước thứ năm, thứ sáu rồi!" Hư Trúc nói: "Dạ dạ! Tiểu tăng ngu ngốc!" Nhà sư lại đề khí nhảy lên, rồi nhẹ nhàng đáp xuống một cành cây. Lần này cành cây chỉ rung chứ không gãy rời.

Hư Trúc mừng thầm, nhưng không dám mở miệng hoan hô. Y theo lời của cô bé nhảy xa hơn một trượng đáp xuống cành cây thứ hai, rồi lại chuyển sang cành cây thứ ba. Càng lúc y vận khí càng thuận tiện, thân mình nhẹ nhõm, sức lực sung túc, càng nhảy càng xa. Về sau nhà sư nhảy một cái là vượt qua hai cành cây, rồi vọt từ cây nọ sang cây kia nhanh thoăn thoắt, lơ lửng trên không chẳng khác gì cưỡi gió mà đi. Y không khỏi vừa kinh hãi vừa mừng thầm. Đỉnh núi đầy tuyết phủ, cây mọc dày chi chít, nhà sư nhảy chuyền từ ngọn cây này sang ngọn cây kia thì người đi dưới đất không biết dấu vết đâu mà truy tìm. Chẳng bao lâu nhà sư đã vào đến giữa khu rừng sâu thẳm.

Cô bé nói: "Được rồi! Thôi xuống đi!" Hư Trúc đáp ngay: "Vâng!", rồi từ từ nhảy xuống, đỡ cô bé ra khỏi túi vải.

Cô bé thấy mặt nhà sư lộ vẻ vui mừng không giấu được, thì lại cất tiếng mắng: "Tên tiểu hòa thượng này chẳng ra gì, mới học được một chút công phu thô thiển mà đã vui mừng tự mãn." Hư Trúc nói: "Dạ dạ! Tiểu tăng nhãn giới rất thiển cận. Tuyệt nghệ mỗ mỗ dạy cho tiểu tăng thật là hữu dụng.." Cô bé nói: "Ngươi mới học một lượt đã hiểu ngay, mỗ mỗ nhìn ngươi quả đã không lầm. Nhưng nội lực của ngươi không phải thuộc phái Thiếu Lâm. Vậy ngươi đã học võ công của ai? Sao ngươi còn nhỏ tuổi mà nội công đã thâm hậu đến thế?"

Hư Trúc cảm thấy trong lòng chua xót, cặp mắt bất giác đỏ hoe, đáp: "Đó là Vô Nhai Tử lão tiên sinh lúc lâm chung đã đem nội lực bảy mươi năm tu luyện truyền vào trong thân thể tiểu tăng. Thực tình tiểu tăng không dám phản bội phái Thiếu Lâm để đi theo phái khác. Nhưng khi đó Vô Nhai Tử lão tiên sinh chẳng đợi tiểu tăng nói năng gì, hóa giải ngay công lực Thiếu Lâm của tiểu tăng, rồi truyền công phu của mình sang. Tiểu tăng chẳng biết đó là phúc hay là họa. Hỡi ôi! Nhất định sau này tiểu tăng phải về lại chùa Thiếu Lâm, nhất định.. nhất định.." Nhà sư cứ "nhất định" một hồi, mà chẳng biết nhất định phải làm gì.

Cô bé ngơ ngẩn không nói gì, cầm túi vải trải lên tảng đá, ngồi trầm tư một lúc rồi nhẹ nhàng hỏi: "Vậy thì Vô Nhai Tử đã truyền chức chưởng môn phái Tiêu Dao cho ngươi ư?" Hư Trúc nói: "Thì ra.. thì ra mỗ mỗ cũng biết đến phái Tiêu Dao?" Y từng nghe Tô Tinh Hà nói, người ngoài phái mà nhắc đến ba chữ "phái Tiêu Dao" thì quyết không để sống, bây giờ y thấy cô bé chính miệng nói ra mới dám nói theo. Y lại càng tin chắc cô bé này là một vị tiền bối nào mượn xác để hoàn hồn, là ma quỷ chứ không phải người. Dù có muốn giết cô này cũng không biết giết phải ai?

Cô bé tức giận nói: "Ta mà lại không biết phái Tiêu Dao ư? Ta biết phái Tiêu Dao trước cả Vô Nhai Tử là khác." Hư Trúc "Dạ dạ!", nghĩ thầm: "Chắc bà này là hồn ma đã mấy trăm năm về trước, dĩ nhiên già hơn Vô Nhai Tử lão tiên sinh nhiều."

Bỗng thấy cô bé lượm một cành khô vạch xuống mặt đất đầy tuyết phủ thành một bàn cờ vây, ngang mười chín hàng, dọc mười chín hàng. Hư Trúc ngấm ngầm kinh hãi nghĩ thầm: "Cô này lại bắt mình đánh cờ thì hỏng bét." Y thấy cô bé vẽ xong bàn cờ, lại vẽ quân cờ, khuyên tròn trống ở giữa là quân trắng, khuyên tròn có một chấm ở giữa là quân đen. Bàn cờ chi chít những quân, đến lúc cô bé vẽ xong một nửa, Hư Trúc đã nhận ra đó là thế Trân Lung bí hiểm của Vô Nhai Tử trước kia. Y nghĩ thầm: "Té ra cô này cũng biết thế cờ kỳ bí đó." Rồi y tự hỏi: "Phải chăng ngày trước cô không phá nổi thế cờ này nên tức quá mà chết?" Y nghĩ đến đây thì ớn lạnh cả xương sống.

Cô bé vẽ thế cờ xong, cất tiếng nói: "Ngươi bảo đã giải được thế cờ này, vậy đầu tiên đi thế nào, ngươi thử diễn lại cho ta coi!" Hư Trúc đáp: "Dạ!", rồi vẽ một con cờ vít chết một đống quân của mình. Cục diện bàn cờ lập tức cởi mở, rồi y tiếp tục diễn lại những nước được Đoàn Diên Khánh truyền âm chỉ thị, phản kích lại quân đen. Bất giác mồ hôi cô bé toát ra ướt cả trán, miệng lẩm bẩm: "Ý trời, thật là ý trời! Trong thiên hạ làm gì có ai nghĩ ra phương pháp phải tự sát trước rồi mới giết người sau?".

Cô bé đợi Hư Trúc diễn lại xong cách phá thế Trân Lung, trầm ngâm một lúc rồi nói: "Xem ra tiểu hòa thượng là người thành thực chứ không phải ăn nói hồ đồ. Còn Vô Nhai Tử truyền cái nhẫn thất bảo này lại cho ngươi như thế nào, ngươi kể hết lại cho ta nghe. Ngươi phải nói cho thật đúng, chỉ sai nửa câu là mất mạng."

Hư Trúc đáp: "Vâng", rồi nhà sư kể lại từ đầu, mình được sư phụ sai xuống núi, lý do phá thế cờ bí hiểm, Vô Nhai Tử truyền công trao nhẫn, Đinh Xuân Thu ám hại Tô Tinh Hà cùng Huyền Nạn đại sư, rồi mình đi kiếm bọn sư bá Tuệ Phương. Y từ từ kể lại cho cô bé không sót mảy may.

Cô bé không nói một câu, chăm chú nghe xong mới lên tiếng: "Vậy thì Vô Nhai Tử rõ ràng là sư phụ ngươi. Thế mà ngươi không kêu y bằng sư phụ, lại kêu bằng lão tiên sinh, là nghĩa làm sao?" Hư Trúc bẽn lẽn đáp: "Tiểu tăng vốn là hòa thượng chùa Thiếu Lâm, nhất định không thể quy đầu môn phái nào khác." Cô bé lại hỏi: "Ngươi không muốn làm chưởng môn phái Tiêu Dao ư?" Hư Trúc lắc đầu lia lịa, đáp: "Ngàn vạn lần không muốn." Cô bé liền nói: "Vậy thì dễ lắm, ngươi trao cái nhẫn thất bảo đó lại cho ta. Ta thay ngươi làm chưởng môn phái Tiêu Dao, có được không?" Hư Trúc cả mừng đáp: "Chuyện đó tiểu tăng cầu còn chưa được." Nói xong nhà sư tháo chiếc nhẫn bảo thạch ở ngón tay ra, trao lại cho cô bé.

Cô bé thần sắc bất định, nửa như vui nửa như buồn, đón lấy chiếc nhẫn. Ngờ đâu ngón tay cô nhỏ quá, ngón giữa và ngón vô danh không thể đeo vừa, cô đành gắng gượng đeo vào ngón cái, dường như không vừa ý. Cô bé lại hỏi: "Ngươi còn nói Vô Nhai Tử trao cho một tấm đồ hình, dặn ngươi đến Vô Lượng Sơn ở Đại Lý tìm người để học Bắc Minh Thần Công. Tấm đồ hình ấy đâu?"

Hư Trúc thò tay vào bọc lấy đồ hình ra. Cô bé mở ra xem, vừa thấy mỹ nữ cung trang trong bức đồ hình, đột nhiên cô sa sầm nét mặt, cất tiếng mắng: "Lão.. lão bảo ngươi đi tìm con tiện tì này để học võ công! Thì ra lão chết đến nơi mà vẫn không quên được con tiện tì, vẽ chân dung nó đẹp đến thế này!" Mặt cô đầy vẻ oán hận, liệng bức vẽ xuống đất, giẫm chân lên.

Hư Trúc kêu: "Trời ơi!", rồi vội cúi xuống nhặt lên. Cô bé tức tối hỏi: "Mi tiếc ư? Hư Trúc đáp:" Bức tranh đẹp như thế, dĩ nhiên đáng tiếc. "Cô bé hỏi:" Con tiện tì đó là ai, tên tiểu tặc Vô Nhai Tử có bảo ngươi không? "Hư Trúc lắc đầu đáp:" Không! "Y nghĩ thầm:" Không hiểu sao Vô Nhai Tử lão tiên sinh đã biến thành tên tiểu tặc Vô Nhai Tử rồi? "

Cô bé vẫn hầm hầm tức giận nói:" Hừ! Tên tiểu tặc này si mê quá, đừng nói bây giờ mà ngay mấy chục năm về trước, dung mạo con tiện nhân kia cũng không xinh đẹp đến thế này. "Cô càng nói càng tức, thò tay ra toan giựt lấy bức họa, Hư Trúc vội cất ngay vào bọc. Cô bé không cướp được mỹ nhân đồ, tức quá thở lên hồng hộc, chửi mắng không tiếc lời:" Tên tiểu tặc vô lương tâm! Con tiện tì vô liêm sỉ! "Hư Trúc đứng ngẩn người ra, không hiểu vì lý do gì mà cô bé lại nổi giận. Y đoán là quỉ hồn đang nhập vào cô bé có quen biết mỹ nhân trong bức họa, hai người này có mối thù oán gì đó, nên bây giờ vừa thấy hình người trên bức vẽ là tức giận không nhịn được.

Cô bé còn đang vừa thóa mạ vừa nguyền rủa, thì bụng Hư Trúc đột nhiên kêu òng ọc một hồi. Suốt đêm qua cho tới sáng nay y mãi lo chạy trốn, chưa được hạt cơm nào vào ruột, nên đói đến sôi bụng.

Cô bé hỏi:" Ngươi đói lắm phải không? "Hư Trúc đáp:" Đúng thế! Trên ngọn núi đầy tuyết phủ này, chẳng có thứ gì ăn được. "Cô bé nói:" Sao lại không có? Trên núi này có gà rừng, có hươu nai, lại có cả sơn dương. Bây giờ ta dạy cho ngươi cách chạy nhanh dưới đất, để ngươi đi bắt gà rừng cùng hươu nai cầy cáo.. "Hư Trúc không chờ cô bé nói hết vội xua tay ngắt lời:" Kẻ tu hành không thể sát sinh được! Tiểu tăng thà chịu chết đói, quyết không ăn mặn. "Cô bé tức mình mắng:" Tặc hòa thượng! Chẳng lẽ suốt đời ngươi không ăn mặn sao? "

Hư Trúc nhớ lại hôm vào quán cơm đã bị một cô gái giả trai đánh lừa ăn một miếng thịt béo và húp nửa bát thang gà, nhăn nhó đáp:" Có một lần tiểu tăng bị người ta lừa gạt ăn phải đồ mặn, nhưng đó chỉ là vô tâm không biết, chắc đức Phật không bắt tội. Còn bảo tiểu tăng tự tay sát sinh thì nhất quyết không thể được. "

Cô bé nói:" Ngươi không dám giết gà giết hươu, thế mà giết người thì còn đại ác hơn nhiều ". Hư Trúc kinh ngạc hỏi lại:" Tiểu tăng mà giết người ư? A di đà Phật! Tội lỗi, tội lỗi. "Cô bé nói:" Ngươi còn niệm Phật thì thật là buồn cười. Ngươi không đi bắt gà rừng cho ta ăn thì chỉ trong hai giờ nữa là ta phải chết, thế là ngươi giết ta đó! "Hư Trúc gãi đầu gãi tai nói:" Trên núi này chắc có rau thơm, có măng tre, để tiểu tăng đi kiếm về cho tiền bối dùng. "Cô bé sầm mặt lại, chỉ tay lên trời nói:" Lúc mặt trời lên tới đỉnh đầu mà ta không được ăn đồ huyết thực, nhất định là phải chết. "Hư Trúc cực kỳ kinh hãi, nói:" Sao tiền bối lại phải ăn đồ huyết thực? "Y nghĩ ngay tới loài quỷ hút máu, sợ đến lạnh xương sống.

Cô bé lại nói tiếp:" Ta mắc một chứng bệnh kỳ quái là hàng ngày cứ đúng giờ ngọ không được ăn đồ huyết thực thì chân khí trong người tôi lên sùng sục, phát điên lên mà chết, e rằng nguy hiểm cho ngươi. "Hư Trúc vẫn lắc đầu quây quậy nói:" Đành chịu thôi. Đệ tử nhà Phật thì phải nghiêm thủ thành quy giới luật. Tự mình dĩ nhiên không được sát sinh, mà thấy người ta có ý định sát sinh cũng phải hết sức ngăn cản. "

Cô bé quắc mắt lên nhìn, thấy y tuy ra chiều sợ hãi song rất kiên quyết, không chịu khuất phục mình. Cô liền đổi giọng cười hì hì rồi hỏi:" Ngươi tự xưng là đệ tử nhà Phật, nghiêm thủ thanh quy giới luật. Vậy có những giới luật gì? "Hư Trúc đáp:" Giới luật nhà Phật chia làm giới căn bản và giới đại thừa, hai thứ riêng biệt. "Cô bé cười khẩy hỏi:" Rắc rối nhỉ? Giới căn bản, giới đại thừa là những gì? "Hư Trúc đáp:" Giới căn bản tương đối dễ hơn và chia ra làm bốn bậc, một là ngũ giới, hai là bát giới, ba là thập giới và bốn là cụ túc giới tức là hai trăm năm mươi giới. Cư sĩ tu tại gia phải giữ gìn ngũ giới, đầu tiên là không sát sinh, thứ hai là không trộm cắp, thứ ba là không dâm tà, thứ tư là không nói dối, thứ năm là không uống rượu. Tỳ kheo xuất gia thì trước hết phải giữ bát giới rồi sang đến thập giới và cuối cùng rộng ra đến cụ túc hai trăm năm mươi giới, còn nghiêm mật hơn nhiều. Nói sao thì nói, không được sát sinh là giới cấm quan trọng nhất của đệ tử nhà Phật. ".

Cô bé trầm ngâm một lúc rồi hỏi:" Ta nghe nói những bậc cao tăng cửa Phật nếu muốn thành chánh quả thì phải giữ Thượng thừa giới và còn kêu bằng Thập nhân, có đúng thế không? "Hư Trúc kinh hãi đáp:" Đúng thế! Giới đại thừa phải xả thân cứu người, hành xử theo thập nhân. "Cô bé hỏi:" Thập nhân là những gì? "

Võ công Hư Trúc tầm thường, nhưng y thuộc kinh Phật làu làu, bèn đáp ngay:" Trong thập nhân thì một là cắt thịt nuôi chim ưng, hai là cúng thần cho hổ đói, ba là chặt đầu tạ cho trời, bốn là bẻ xương xuất tủy, năm là đem thân đốt thiên đăng, sau là móc mắt ra bố thí, bảy là lột da để chép kinh, tám là đâm vào tim để thề thốt, chín là đốt thân thể cúng Phật, mười là lấy máu tưới cho đất. "

Y kể một điều, cô bé cười khẩy một tiếng. Y kể xong, cô bé cười hỏi:" Cắt thịt nuôi chim ưng là thế nào? "Hư Trúc đáp:" Tiền kiếp đức Phật Thích Ca Mâu Ni thấy con chim ưng đói toan vồ con bồ câu, trong lòng bất nhẫn, liền giấu con bồ câu vào trong lòng. Con chim ưng đòi hỏi: "Ngài cứu tính mạng con bồ câu mà để ta chết đói, há chẳng phải hại mạng ta sao?" Đức Phật liền xẻo thịt mình cho con chim ưng ăn. "Cô bé lại hỏi:" Thế thì cái tích cúng thân cho hổ đói đại khái cũng thế thôi chứ gì? "Hư Trúc đáp:" Đúng thế! "

Cô bé lại nói:" Xem thế thì biết thanh quy giới luật của nhà Phật vừa thâm sâu vừa quảng đại, há chỉ ba chữ Không Sát Sinh mà thôi. Giả tỉ ngươi không đi bắt gà rừng cùng hươu nai cho ta ăn, thì cũng nên bắt chước Thích Ca Mâu Ni, tự lấy máu thịt trong người để cúng dường cho ta ăn uống, không làm thế thì không phải đệ tử Phật môn. "Cô bé vừa nói vừa túm lấy tay Hư Trúc, vén cao tay áo lên để lộ da thịt, rồi cười nói:" Ta ăn cánh tay này của ngươi, cũng sống được một ngày. "

Hư Trúc thấy cô bé nhe hai hàm răng trắng nhởn, tựa như muốn há miệng cắn vào cánh tay mình thì không khỏi rùng mình. Chính ra cô này chỉ mới tám chín tuổi, sức lực chả có gì đáng sợ, nhưng trong lòng Hư Trúc vẫn yên trí đó là nữ quỉ mượn xác hoàn hồn, thấy cô có ý nghĩ bất chính, bất giác hoảng hốt, la lên một tiếng thật to rồi hất tay cô bé ra, rảo bước chạy lên đỉnh núi.

Trong lúc hốt hoảng, y hét vang động một góc rừng.. Bỗng thấy trên sườn núi phía xa xa có tiếng người hô hoán:" Đây rồi! Các vị mau mau qua bên này. "Tiếng hô vừa vang dội vừa dõng dạc, chính là thành âm của Bất Bình đạo nhân

Hư Trúc lẩm bẩm:" Nguy rồi! Mình hét to quá nên tiết lộ hành tung, bây giờ biết làm thế nào? "Y cũng chưa dám quay về chỗ cũ để cõng cô bé chạy, còn bỏ cô ta lại để chạy một mình thì không nỡ, liền dừng bước đứng trên sườn núi, trong lòng do dự. Y nhìn xuống thì thấy bốn năm cái chấm đen đang bò lên, tuy còn xa nhưng rồi cũng có lúc đến nơi. Cô bé kia lọt vào tay họ thì dĩ nhiên khó lòng thoát chết.

Nhà sư lại chạy xuống mấy bước gọi:" Tiền bối! Nếu tiền bối phát thệ không cắn tiểu tăng thì tiểu tăng sẽ cõng tiền bối chạy trốn. "Cô bé cười ha hả đáp:" Ngươi trở lại đây, ta nói cho mà nghe. Năm người đang trèo lên thì người đi đầu là Bất Bình đạo nhân, thứ hai là Ô Lão Đại, thứ ba là gã họ An, còn hai người nữa thì một họ La và một họ Lợi. Trước hết ta phải dạy cho ngươi mấy chiêu để đánh ngã lão Bất Bình đạo nhân. "Ngừng một lát, cô lại mỉm cười nói tiếp:" Ngươi chỉ đánh cho lão ngã ra, không hại mạng mà cũng không đả thương, như vậy không thể gọi là sát sinh hay phá giới được. "Hư Trúc đáp:" Vì cứu người mà đánh ngã cường đồ, tất nhiên là việc phải làm. Nhưng Bất Bình đạo nhân cùng Ô Lão Đại võ công phi phàm, tiểu tăng làm sao đánh ngã họ? Bản lĩnh của tiền bối tuy cao thâm nhưng trong khoảnh khắc thì tiểu tăng không thể học kịp ".

Cô bé mắng:" Đồ ngu! Vô Nhai Tử là sư phụ Tô Tinh Hà cùng Đinh Xuân Thu. Võ công hai gã Tô, Đinh thế nào ngươi cũng đã biết rõ rồi, đồ đệ đến mức đó thì bản lĩnh sư phụ có thể nghĩ ra mà biết rõ được. Y đã đem cả công lực tu luyện bảy mươi năm truyền cho ngươi, thì bọn Bất Bình đạo nhân, Ô Lão Đại bì với ngươi thế nào được? Chỉ vì ngươi ngu ngốc quá nên không biết vận dụng nội lực mà thôi. Ngươi cầm túi vải lại đây, hít mạnh một hơi, vận chân khí vào cánh tay phải rồi mở miệng túi ra. Còn tay trái thì đập vào sau lưng địch nhân.. "Hư Trúc học theo cô bé, nhưng y vẫn không tin mấy thủ pháp này lại hạ được những tay cao thủ võ lâm kia.

Bỗng nghe cô bé nói tiếp:" Sau đó ngươi lấy ngón tay trỏ bên trái điểm vào những bộ vị này của địch nhân. Phải vận khí theo đúng cách thức, điểm vào bộ vị bên địch không được sai trệch chút nào, sai một ly thì đi một dặm. Lúc lâm địch, nếu không hạ được địch nhân là có thể mất mạng như chơi. "

Hư Trúc ráng nhớ thật kỹ những lời cô bé chỉ dẫn. Có điều mấy thủ pháp đó mau lẹ quá, tuy chỉ có năm sáu chiêu thức, nhưng mỗi chiêu thức lại kèm theo những thân pháp, bộ pháp, chưởng pháp đặc biệt kỳ diệu. Nào là hạ bàn phải đứng vững, thượng bàn phải chếch đi.. thực là phức tạp vô cùng. Hư Trúc luyện một hồi lâu mà vẫn chưa đúng cách. May mà trí nhớ y rất tốt, cô bé dạy những gì y đều nhớ không sót một câu. Nhưng khi diễn lại tất cả các chiêu thức thì lần nào y cũng lầm lẫn, sai trật.

Cô bé dạy tới dạy lui mấy lần vẫn chưa được như ý, tức quá cất tiếng mắng:" Đồ ngu! Vô Nhai Tử chọn ngươi làm truyền nhân thì chắc là y đui mắt rồi. Giả tỉ ngươi là một gã thiếu niên tuấn tú thì còn hiểu được, đằng này ngươi lại là một thằng trọc con vừa ngu dốt vừa xấu xí. Ta không hiểu sao Vô Nhai Tử coi ngươi vừa mắt ở chỗ nào. "

Hư Trúc nói:" Vô Nhai Tử lão tiên sinh cũng kể với tiểu tăng là đã cố tìm một thiếu niên phong lưu tuấn nhã để làm truyền nhân. Lề luật của phái Tiêu Dao thật là kỳ quái. Từ đây trở đi, tiền bối giữ lấy chức chưởng môn phái Tiêu Dao.. "Rồi y không nói nữa, trong lòng nghĩ:" Tiền bối chỉ là một con quỷ già nhập vào các vị tiểu cô nương, cũng chẳng phải là thiếu niên tuấn tú gì. "

Hư Trúc luyện thêm hai lần nữa, nhưng một lần thì tay phải đưa ra lẹ quá, một lần thì ngón tay điểm lệch đi một chút. Y rất kiên nhẫn, toan luyện lại nữa, thì bỗng nghe tiếng bước chân vang lên. Bất Bình đạo nhân chạy như bay, đã đuổi lên tới nơi. Lão cười nói:" Tiểu hòa thượng! Ngươi chạy lẹ quá chừng, làm ta đuổi mệt quá! "Lão điểm ngón chân xuống đất, nhảy xổ đến.

Hư Trúc tự biết mình không địch nổi, toan xoay mình chạy trốn thì cô bé lại quát lên:" Theo đúng thủ pháp mà đối phó, không được sai lầm. "Hư Trúc không suy nghĩ gì nữa, mở miệng cái túi vải ra, vận chân khí vào cánh tay rồi nhắm tới Bất Bình đạo nhân đánh ra một chưởng.

Bất Bình đạo nhân mở miệng thóa mạ:" Thằng lỏi con! Ngươi dám ngang nhiên động thủ với đạo gia ư? "Rồi lão vung chưởng lên đánh. Hư Trúc không chờ phát chưởng tới nơi, đã đưa chân ra móc, Bất Bình đạo nhân liền loạng choạng trượt về phía trước. Hư Trúc lại vòng tay trái, vận chân khí vỗ vào lưng lão. Lạ thay! Bất Bình đạo nhân là tay bản lĩnh phi thường, coi ba mươi sáu đảo chúa cùng bảy mươi hai động chúa không vào đâu, mà không chịu nổi một chưởng này của Hư Trúc, người lão lạng đi rồi chui tọt vào miệng cái túi vải. Hư Trúc cả mừng toan phóng chỉ điểm vào huyệt Ý Xá trên xương sống của lão. Hư Trúc chưa học công phu điểm huyệt, lại trong lúc vội vàng nên điểm trệch đi một chút, trúng vào huyệt Dương Võng ở phía trên huyệt Ý Xá một chút.

Bất Bình đạo nhân rú lên một tiếng, chui được ra ngoài cái túi vải, lùi lại mấy bước rồi lăn người xuống sườn núi.

Cô bé than thở liên hồi:" Đáng tiếc! Thật là đáng tiếc! "Rồi cô quay lại mắng Hư Trúc:" Đồ ngu! Ta biểu ngươi điểm vào huyệt Ý Xá cho y hết đường cục cựa, ngươi lại điểm huyệt Dương Võng làm chi? "

Hư Trúc vừa kinh hãi vừa mừng thầm nói:" Thủ pháp của tiền bối thật là tuyệt diệu! Tuy tiểu tăng điểm trật chỗ cũng đủ làm cho lão một phen bở vía, sung sướng lắm rồi. "Lúc đó Ô Lão Đại đã nhảy tới nơi, Hư Trúc lại giương miệng túi ra nói:" Ngươi lại đây thử xem. "

Ô Lão Đại thấy Bất Bình đạo nhân mới đánh một chiêu đã rớt xuống núi thì trong lòng nao núng. Lão giơ thanh Lục Ba Hương Lộ Đao lên, xuất chiêu Vân Nhiễu Vu Sơn chém xéo vào người Hư Trúc. Hư Trúc kinh hãi la lên:" Ôi chao, nguy rồi! Y dùng đao thì tiểu tăng không đối phó được, tiền bối chưa dạy tiểu tăng phương pháp. Bây giờ có dạy cũng không kịp nữa.. "

Cô bé cũng la lên:" Ngươi lại đây ôm ta nhảy lên ngọn cây. "Lúc này Ô Lão Đại đã chém liền ba đao, may mà hắn còn sợ chưa dám sấn vào, ba nhát đao đó chỉ chém hờ bên ngoài. Thế mà Hư Trúc đã ôm đầu chạy như chuột, tình thế rất là nguy cấp. Nhà sư nghe tiếng cô bé gọi thì mừng rỡ nghĩ thầm:" Phương pháp nhảy lên ngọn cây để chạy trốn thì mình đã học được rồi. "Nhà sư đang định chạy lại ôm cô bé thì Ô Lão Đại phóng liên hoàn đao chém tới nhanh như gió bão, nhằm vào yếu huyệt đối phương. Hư Trúc hốt hoảng la lên:" Không xong rồi! ", đề khí nhảy vọt lên rồi đáp xuống một cành lớn trên ngọn cây tùng.

Cây tùng này cao đến ba trượng, thế mà Hư Trúc nhảy lên như người biết bay, khiến cho Ô Lão Đại phải kinh hãi vô cùng. Võ công hắn tuy rất tinh thâm, nhưng khinh công tầm thường, không tài nào nhảy lên được cây tùng cao như vậy. Vả lại hắn chỉ muốn bắt cô bé kia, nên cứ đứng dưới chửi đổng:" Hòa thượng chết đâm kia! Ngươi có giỏi thì cứ ngồi trên ngọn cây đó, vĩnh viễn đừng xuống nữa. "Ô Lão Đại nói xong chạy lại chỗ cô bé, thò tay ra nắm lấy sau gáy cô. Hắn muốn bắt cô bé để đồng bọn mỗi người chém một đao, lấy huyết ăn thề, khiến không ai dám sinh lòng phản phúc nữa.

Hư Trúc thấy cô bé lại bị bắt thì trong lòng nóng nảy nghĩ thầm:" Mụ bảo mình ôm mụ nhảy lên cây, mà mình lại nhảy trước. Môn khinh công này là do mụ truyền thụ, bây giờ mình bỏ mặc mụ thì thật là vong ân bội nghĩa. "Nghĩ vậy, nhà sư lại từ ngọn cây nhảy xuống, cầm chiếc túi vải trong tay. Lúc nhảy xuống y đã giương miệng túi ra sẵn, muốn chụp lấy cô bé để cứu cô thoát nạn, nhưng chụp thế nào lại trúng đầu Ô Lão Đại. Hư Trúc cả mừng, bèn giơ ngón tay trái ra điểm xuống lưng lão. Y điểm phát này cũng không đúng như cô bé đã dạy, chệch xuống huyệt Vị Thương, dưới huyệt Ý Xá chừng một tấc.

Ô Lão Đại chỉ thấy trên đỉnh đầu có một luồng gió chụp xuống rồi trước mắt tối sầm, chẳng nhìn thấy gì. Hắn kinh hãi quá giơ đao chém bừa ra, nhưng chẳng trúng ai, rồi lại bị điểm vào huyệt Vị Thương. Ô Lão Đại tuy không nhủn người ra nhưng cũng tê bại hai cánh tay, thanh Lục Ba Hương Lộ Đao rớt xuống đất đánh choang một tiếng, còn tay kia nắm gáy cô bé cũng buông ra. Ô Lão Đại hốt hoảng vừa gỡ cái túi chụp trên đầu, vừa cố lăn mình ra xa.

Hư Trúc ôm lấy cô bé, lại nhảy lên ngọn cây, vừa nhảy vừa nói:" Nguy quá! Nguy quá! "Cô bé sắc mặt nhợt nhạt, tức mình mắng:" Ngươi đúng là đồ bỏ đi! Mỗ mỗ đã dạy ngươi thủ pháp kỳ diệu, thế mà điểm trật cả hai lần! "Hư Trúc hổ thẹn đáp:" Dạ dạ! Tại hạ vụng về, điểm không trúng huyệt đạo. "Cô bé lại nói:" Ngươi coi kìa, bọn chúng lại đến đó! "Hư Trúc nhìn xuống thì quả nhiên thấy Bất Bình đạo nhân cùng Ô Lão Đại đã trèo lên đến chỗ cũ. Ngoài ra còn ba người nữa đang đứng đằng xa chỉ chỏ nhưng không dám đến gần.

Bỗng một gã béo tròn quay mà thấp lủn thủn quát lên một tiếng rồi nhảy tới. Gã múa tít đôi búa ngắn thành một làn sáng bạc bao phủ toàn thân, rồi hai tiếng" chát chát "vang lên, hai cây búa chém vào thân cây. Sức gã rất mạnh mà lưỡi búa lại sắc bén, xem chừng hắn chém chưa tới mười nhát thì cây tùng phải đổ xuống rồi.

Hư Trúc cả kinh hỏi:" Bây giờ biết làm thế nào? "Cô bé lạnh lùng đáp:" Sư phụ ngươi đã chỉ ngươi đi kiếm con tiện tỳ vẽ trên họa đồ để học võ công. Vậy ngươi đi mà kiếm nó. Con tiện tỳ đó sẽ dạy ngươi phương pháp hạ được năm tên heo chó này! "Hư Trúc kêu lên:" Trời ơi! ", nghĩ thầm:" Lúc nguy cấp này mà mụ còn ráng tranh hơi với cô gái trong họa đồ." "Chát chát" hai tiếng nữa, gã lùn lại chém vào cây tùng hai nhát búa. Cây tùng lung lay không ngớt, cành lá rớt xuống lả tả.

Cô bé bảo: "Ngươi đề tụ chân khí vào Đan Điền rồi vận nội lực ra bả vai, chuyển xuống huyệt Kiên Tỉnh ở khuỷu tay, xuống ba huyệt Dương Khoát, Dương Cốc, Dương Tì ở cổ tay, sau cùng vận đến huyệt Quan Xung ở ngón tay vô danh." Cô vừa nói vừa đưa ngón tay trỏ vào các huyệt đạo trên mình Hư Trúc, biết rằng y không nhận rõ được những huyệt đạo trong người. Nếu chỉ gọi tên huyệt đạo ra thì nhất định y phải hoang mang, nên cô phải trỏ tay vào chỉ.

Hư Trúc từ khi được Vô Nhai Tử truyền công lực cho, chân khí đầy rẫy trong thân thể, y vận tới đâu là được tới đó, không phải ngưng trệ chút nào. Y nghe cô bé bảo sao liền vận khí đúng như vậy. Giữa lúc ấy lại hai tiếng "chát chát" nữa vang lên, cây tùng lắc qua lắc lại. Nhà sư kinh hãi đáp: "Vận xong rồi." Cô bé lại nói: "Ngươi hái mấy trái tùng, ném vào đầu gã thấp lùn kia, không trúng đầu thì trúng vào ngực cũng được. Ngươi dùng chân lực ở ngón tay vô danh mà búng ra." Hư Trúc "Vâng!", rồi hái trái tùng, để vào đầu ngón tay vô danh.

Cô bé giục: "Bắn xuống đi!" Hư Trúc bật ngón tay cái, trái tùng ở đầu ngón tay vô danh bắn xuống đánh véo một tiếng cực kỳ cương mãnh. Nhưng Hư Trúc chưa học cách phóng ám khí, nên trái tùng trúng xuống đất, cách gã lùn đến ba thước. Gã lùn giật mình kinh hãi, nhưng chỉ chốc lát lại vung búa lên chém tiếp.

Cô bé tức mình mắng Hư Trúc: "Đồ ngu! Ngươi lại búng thử xem!" Hư Trúc rất xấu hổ, lại vận khí búng xuống một trái khác. Lần này y đang run tay nên lại càng tệ hơn, trật đến năm thước.

Cô bé lắc đầu, nói: "Cây tùng bên trái xa quá, ngươi mà cõng ta thì nhảy không tới được. Tình thế nguy cấp quá rồi, ngươi chạy trốn một mình đi thôi." Hư Trúc đáp: "Sao tiền bối lại nói vậy? Tiểu tăng đâu phải kẻ tham sống sợ chết? Nguy hiểm đến đâu cũng mặc, tiểu tăng hết sức cứu tiền bối, nếu không cứu được thì cũng phải chết chung mới phải." Cô bé lại mắng: "Hòa thượng ngốc! Ta với ngươi vốn không thân thích lại không quen biết, sao ngươi vì ta mà liều mạng làm chi? Hừ! Bọn chúng muốn giết hết cả hai người chúng ta, nhưng không phải chuyện dễ đâu. Bây giờ ngươi hái mười hai trái tùng, mỗi tay cầm sáu trái và phải vận chân khí như thế này.." Cô vừa nói vừa dạy nhà sư cách vận khí.

Hư Trúc ghi nhớ vào lòng, nhưng chưa vận khí xong thì cây tùng lung lay dữ dội như đưa võng, rồi có mấy tiếng "rắc rắc" vang lên, thân cây xiêu hơn về hướng đông bắc sắp đổ xuống. Bất Bình đạo nhân, Ô Lão Đại, gã lùn và hai người khác lớn tiếng reo hò rồi nhảy cả lại.

Cô bé quát lên: "Liệng nắm trái tùng đó ra!" Lúc này chân khí trong lòng bàn tay Hư Trúc đang chạy vùn vụt chỉ muốn thoát ra ngoài. Nhà sư vừa giơ hai tay lên, mười hai trái tùng đã vọt ra, nghe chát chát mấy tiếng. Bên địch có bốn người ngã lăn ra, còn sót gã lùn tuy không trúng phải nhưng cũng la lên: "Ôi mẹ ơi!", rồi quăng đôi búa chạy nhanh xuống núi. Trong năm người này thì võ công gã lùn kém nhất, sở dĩ không bị thương là vì người gã thấp, trái tùng bay qua đầu. Hư Trúc liệng mười hai trái tùng ra mau lẹ quá, không ai có thể tránh kịp. Trên mặt tuyết có những vết loang lổ đỏ tươi, chính là máu từ vết thương bốn người kia chảy ra.

Hư Trúc liệng nắm trái tung ra rồi, sợ cô bé bị ngã liền ôm chặt lấy lưng cô, nhẹ nhàng nhảy xuống đất. Đột nhiên y trông thấy bốn người kia bị thương nặng như vậy, thì không khỏi ngẩn người ra.

Cô bé cất tiếng hoan hô, nhảy vọt đến bên cạnh Bất Bình đạo nhân, ghé miệng vào vết thương lão hút máu tươi, Hư Trúc cả kinh kêu lên: "Tiền bối làm gì vậy?" Rồi y nắm lấy lưng cô nhấc bổng lên. Cô bé hỏi lại: "Dù sao y cũng bị ngươi đánh chết rồi, mỗ mỗ hút máu để chữa bệnh thì có gì mà không được?"

Hư Trúc thấy mặt cô bé vấy đầy máu, khi mở miệng ra nói chuyện trông lại càng kinh hãi. Y hỏi: "Tiểu tăng đánh.. đánh chết lão rồi ư?" Cô bé đáp: "Ta nói dối làm gì?" Cô nói xong lại cúi xuống hút máu.

Hư Trúc thấy trên trán Bất Bình đạo nhân thủng một lỗ to bằng quả trứng gà thì sợ quá la hoảng: "Ối chao! Ta liệng trái tùng lọt vào óc y rồi chăng? Trái tùng vừa nhẹ vừa mềm, làm sao lại đánh gãy xương xuyên vào trong óc được?" Y lại coi ba người kia thì một người bị hai trái tùng ném trúng ngực, một người trúng vào sống mũi, đều tắt thở cả rồi. Chỉ có Ô Lão Đại bị thương ở ngoài da nên chưa chết, nhưng miệng hắn không ngớt rên la.

Hư Trúc đến bên Ô Lão Đại lạy phục xuống đất nói: "Ô tiên sinh! Tiểu tăng lỡ tay làm tiên sinh bị thương, thật không phải cố ý. Nhưng thế là tội nặng lắm rồi, tiểu tăng áy náy vô cùng." Ô Lão Đại tức mình thóa mạ: "Ngươi, lại còn muốn.. nói giỡn nữa sao? Ngươi.. cầm đao chém chết ta cho rồi!.. Con bà ngươi." Hư Trúc nói: "Tiểu tăng đâu dám nói giỡn với tiên sinh. Nhưng.. nhưng.." Đột nhiên nhà sư sực nghĩ ra mình vừa giết chết ba mạng người, xem chừng Ô Lão Đại cũng khó lòng thoát chết. Thế là mình đã phạm vào tội sát sinh, một tội nặng nhất của nhà Phật. Y vừa đau lòng vừa kinh hãi, toàn thân run lên, nước mắt trào ra.

Cô bé uống no máu tươi rồi từ từ đứng lên, quay lại nhìn thấy Hư Trúc đang cuống quít thoa bóp vết thương cho Ô Lão Đại. Ô Lão Đại không nhúc nhích được mà miệng vẫn lớn tiếng mắng chửi không ngớt. Hắn nguyền rủa cực kỳ ác độc, mắng nhiếc xối xả vào mặt Hư Trúc. Hư Trúc tuyệt không cáu giận, chỉ ăn năn xin lỗi: "Không sai! Không sai! Quả là tiểu tăng tội lỗi không thể nói hết được. Nhưng tiểu tăng là kẻ côi cút, không biết cha mẹ là ai, thì tiên sinh mắng nhiếc cha mẹ tiểu tăng cũng vô ích mà thôi! Ô tiên sinh! Chỗ da bụng tiên sinh chắc là đau lắm, dĩ nhiên tiên sinh phải nổi nóng, tiểu tăng không dám trách đâu. Tiểu tăng chỉ thuận tay liệng ra một cái, không ngờ mấy trái tùng này ác nghiệt đến thế! Hỡi ôi! Mấy trái tùng này đúng là của tà môn, nếu không thì cũng là loại tùng bá đạo đặc biệt chứ không phải hạng tùng thông thường."

Ô Lão Đại nguyền rủa: "Mẹ kiếp! Trái tùng này lại không giống những trái tùng khác ư? Thằng trọc thối tha kia! Sau này mi chết đi sẽ bị quẳng lên núi đao, nhúng vào vạc dầu sôi, đời đời ở dưới mười tám tầng địa ngục. Hừ! Nội lực mi cao cường thì cứ đánh chết Ô Lão Đại này, võ công Ô mỗ không bằng ngươi, dù chết cũng chẳng oán hận. Thôi mi đừng bày trò nữa. Trái tùng sao lại tà môn bá đạo? Chính Bắc Minh Chân Khí của mi mới là tà môn bá đạo.." Hắn không còn hơi sức để nói tiếp nữa, nổi lên ho sù sụ.

Hư Trúc lấy làm lạ hỏi: "Cái gì là Bắc.. Bắc?" Cô bé cười đáp: "Hôm nay là mỗ mỗ đã giúp cho tiểu hòa thượng. Thần công Bắc Minh Chân Khí của ta chính ra không truyền thụ cho ai, chỉ vì ngươi hết dạ trung thành, vì mỗ mỗ mà liều mạng, đáng được mỗ mỗ truyền tuyệt nghệ cho. Vả lại trong lúc nguy cấp cần người, không dạy ngươi thì còn ai giúp ta nữa? Ô Lão Đại! Nhãn lực ngươi khá đấy, nhận ra công phu vừa rồi của tiểu hòa thượng."

Ô Lão Đại giương mắt lên tròn xoe, kinh hãi ngẩn người ra một lúc rồi hỏi cô bé: "Mi là ai? Mi câm kia mà? Sao bây giờ mi nói được?" Cô bé cười nhạt nói: "Thứ mi mà dám hỏi ta là ai ư?" Rồi cô móc trong bọc ra một cái bình, lấy hai viên thuốc vàng đưa cho Hư Trúc nói: "Ngươi cho hắn uống đi." Hư Trúc đáp: "Vâng!", nghĩ thầm: "Giả tỉ đây là thuốc chữa thương thì hay lắm, còn nếu là thuốc độc thì Ô Lão Đại còn chết lẹ hơn." Y thấy Ô Lão Đại đang đau đớn quá, cho hắn chết lẹ lại càng dễ chịu, nên không nói gì nữa, cầm thuốc đưa vào trước miệng Ô Lão Đại.

Ô Lão Đại ngửi thấy mùi thuốc cay xè mãnh liệt, hắt hơi luôn mấy cái, trong bụng vừa kinh hãi vừa mừng thầm cất tiếng hỏi: "Phải chăng.. đây là Cửu Chuyển.. Cửu Chuyển Hùng Xà Hoàn?" Cô bé gật đầu đáp: "Phải rồi! Quả nhiên ngươi biết nhiều hiểu rộng, đáng mặt đàn anh trong ba mươi sáu động và bảy mươi hai đảo." Ô Lão Đại dịu giọng hỏi: "Sao ngươi lại muốn cứu mạng ta?" Nhưng hắn sợ bỏ qua cơ hội nên không đợi cô bé trả lời, há miệng đớp luôn cả hai viên thuốc nuốt vào bụng. Cô bé đáp: "Một là ta cám ơn ngươi đã giúp đỡ ta, hai là về sau ta còn có chỗ dùng ngươi." Ô Lão Đại lại càng không hiểu hỏi: "Ta có giúp đỡ ngươi bao giờ đâu? Ô mỗ lúc nào cũng chỉ mong giết ngươi cho xong, mỗi khi nghĩ đến ngươi là ta chẳng yên tâm chút nào!"

Cô bé cười nói: "Mi quả là quang minh lỗi lạc, nghĩ thế nào nói thế đấy không thèm úp mở, không uổng danh một tay hảo hán." Cô ngẩng lên nhìn, thấy mặt trời đã lên đến đỉnh đầu, bèn ngó Hư Trúc nói: "Cửu Chuyển Hùng Xà Hoàn chuyên trị nội thương, có thể cải tử hoàn sinh linh nghiệm vô cùng. Tiểu hòa thượng! Đã đến giờ ta phải luyện công, ngươi đứng đây hộ vệ cho ta. Nếu bất luận là ai đến quấy rầy thì ngươi lập tức thi triển Bắc Minh Chân Khí mà ta vừa truyền thụ, lấy một cục đất hay một viên đá bắn ra là xong."

Hư Trúc lắc đầu đáp: "Nếu lại đánh chết người thì sao? Tiểu tăng không.. không dám làm đâu."

Cô bé chạy ra nhìn xuống sườn núi rồi nói: "Bây giờ chưa có tên nào lên hết, ngươi không làm thì thôi." Cô nói xong, ngồi xếp bằng ngón trỏ bên phải chỉ lên trời, ngón trỏ bên trái chỉ xuống đất. Miệng cô khạc một tiếng, lỗ mũi phun ra hai dây khói trắng lợt.

Ô Lão Đại cả kinh la lên: "Úi chà! Đây là công phu Bát Hoang Lục Hạp Duy Ngã Độc Tôn." Hư Trúc hỏi: "Ô tiên sinh, uống thuốc xong có bớt đau không?" Ô Lão Đại vẫn còn căm giận, lớn tiếng mắng: "Thằng trọc thối tha xỏ lá kia! Ta có bớt đau hay không thì việc gì đến mi? Đừng nói dài dòng nữa." Hắn mắng thì mắng vậy, nhưng thấy vết thương ở bụng đã bớt đau thì nghĩ thầm: "Cửu Chuyển Hàng Xà Hoàn là linh dược trị thương hiệu nghiệm như thần của cung Linh Thứu trên ngọn Phiêu Diểu núi Thiên Sơn. Thuốc này có công hiệu cải tử hoàn sinh, như vậy thì mạng ta chưa chết." Nhưng hắn thấy cô bé luyện công thì trong lòng trăm mối nghi ngờ, từng nghe nói Bát Hoang Lục Hạp Duy Ngã Độc Tôn là môn nội công cao nhất của cung Linh Thứu, ai chưa có mấy chục năm căn bản nội công thì không thể luyện được. Cô bé này tuy là người ở cung Linh Thứu nhưng cũng chỉ là trẻ nít, sao lại có nội công thượng thừa? Ô Lão Đại lại nghĩ là mình lầm, công phu cô bé đang luyện không phải môn Bát Hoang Lục Hạp Duy Ngã Độc Tôn.

Làn bạch khí trong mũi cô bé bốc ra bao phủ lấy đầu cô, quanh quẩn mãi không tan và mỗi lúc một dày đặc thêm, thành một đám mù trắng che kín cả mặt không trông rõ nữa. Lát sau những khớp xương trong toàn thân cô kêu răng rắc như bắp rang. Hư Trúc cùng Ô Lão Đại ngẩn người ra, đưa mắt nhìn nhau chẳng hiểu ra sao. Ô Lão Đại cũng chỉ nghe đồn về công phu Bát Hoang Lục Hạp Duy Ngã Độc Tôn, chẳng hiểu thực tế thế nào. Tiếng răng rắc trong khớp xương cô bé mỗi lúc một thưa, đám mù trắng cũng nhạt dần đi, sau chỉ còn lại một luồng bạch khí, cô lại hít vào trong mũi. Cô bé hít hết luồng bạch khí rồi mở mắt ra, từ từ đứng dậy.

Hư Trúc cùng Ô Lão Đại đồng thời dụi mắt, tưởng mình không trông rõ, vì sau khi cô bé luyện công xong hình như ra chiều khác lạ, nhưng không nói ra được chỗ khác lạ đó như thế nào. Cô bé nheo mắt nhìn Ô Lão Đại rồi nói: "Ngươi quả nhiên có kiến thức, biết cả môn Bát Hoang Lục Hạp Duy Ngã Độc Tôn của ta." Ô Lão Đại hỏi: "Cô.. thật tình cô là ai? Có phải là đệ tử của Đồng Mỗ không?"

Cô bé đáp: "Hừ! Mật của ngươi cũng không nhỏ." Cô không trả lời Ô Lão Đại, lại quay sang bảo Hư Trúc: "Tay trái ngươi ẵm ta, còn tay phải nắm lấy lưng Ô Lão Đại. Ngươi vận khí theo cách ta truyền thụ để nhảy lên ngọn cây, rồi cứ chuyền cành nhảy lên đỉnh núi, phải lên cao một trăm trượng nữa."

Hư Trúc nói: "Chỉ sợ tiểu tăng chưa đủ nội lực." Tuy nói thế nhưng y vẫn theo lời, tay trái ẵm cô bé, tay phải xách lưng Ô Lão Đại, hết sức cố gắng mà không sao nhảy lên ngọn cây được. Cô bé tức giận hỏi: "Sao ngươi không vận khí?" Hư Trúc gượng cười đáp: "Dạ dạ! Tiểu tăng trong lúc hoang mang, quên mất." Rồi nhà sư vận chân khí theo lối cô bé truyền thụ, lập tức người Ô Lão Đại chỉ còn nhẹ bằng một mớ bông, mà cô gái thì tựa hồ như không trọng lượng. Hư Trúc vừa nhảy tung lên đã tới ngọn cây, rồi cứ thế khoa chân bước từ cây nọ sang cây kia cách nhau hơn một trượng, tựa hồ như đi trên đất bằng chẳng khó khăn gì. Y thấy mình lướt trên ngọn cây nhẹ nhàng như vậy, trong lòng bất giác kinh hãi, vì thế mà chân khi quay về đan điền, chân bỗng nặng trịch rồi rơi người xuống. Nhưng tay y vẫn ẵm cô bé và nắm lưng Ô Lão Đại không chịu buông ra, chân vừa chấm đất lại nhảy vọt lên. Y sợ cô bé trách mắng nên không nói gì, lại băng băng chạy lên núi.

Ban đầu Hư Trúc đề khí chưa được linh động, có lúc chân bước chậm trễ, nhưng về sau chân khí trong người y chuyển vận nhẹ nhàng tựa như đang thở bình thường, trong bụng rất khoan khoái. Y không nghĩ ngợi gì nữa, tự nhiên chân khí lưu thông càng mau, đang trèo núi mà tựa như xuống dốc, muốn dừng lại cũng khó. Cô bé nói: "Ngươi mới luyện Bắc Minh Chân Khí, không nên sử dụng thái quá. Nếu muốn giữ mạng thì dừng lại nghỉ đi" Hư Trúc "Vâng", phóng thêm mấy trượng nữa rồi mới nhảy từ trên cây xuống đất.

Ô Lão Đại vừa kinh hãi vừa thán phục, quay lại nói với cô bé: "Cô mới dạy Bắc Minh Chân Khí cho y mới một ngày mà đã ghê gớm đến thế ư? Võ công ở cung Linh Thứu núi Phiêu Diểu quả nhiên sâu như biển cả. Cô còn là đứa trẻ nít mà bản lĩnh đã cao cường đến như vậy thì ghê thật!"

Cô bé thấy bốn mặt đều là cây cối um tùm, cười nói: "Bọn chuột nhắt các ngươi đi tìm ba ngày nữa chưa chắc đã đến được đây." Ô Lão Đại buồn rầu nói: "Dĩ nhiên là bọn ta thua xiểng liểng rồi. Gã tiểu hòa thượng này mà đem Bắc Minh Chân Khí ra hộ vệ cho ngươi, thì dù cả bọn ta có tìm đến đây cũng không làm gì được." Cô bé cười nhạt không nói gì, tựa lưng vào gốc cây nhắm mắt ngủ.

Hư Trúc sau khi chạy nhảy một hồi, trong bụng lại thấy đói meo. Y hết nhìn cô bé lại nhìn Ô Lão Đại, nói: "Tiểu tăng muốn đi tìm chút gì ăn, chỉ sợ tiên sinh còn đem lòng đen tối gia hại cô bé này, thật chẳng yên lòng chút nào. Chi bằng tiểu tăng đem cả tiên sinh đi là yên." Hư Trúc nói xong, lại nắm lấy lưng Ô Lão Đại toan xách đi.

Cô bé trừng mắt nói: "Đồ ngu! Ta đã dạy ngươi cách điểm huyệt, chẳng lẽ bây giờ hắn nằm không nhúc nhích mà ngươi cũng điểm không trúng ư?" Hư Trúc đáp: "Tiểu tăng sợ mình vụng về điểm không trúng huyệt, y vẫn cử động được." Cô bé nói: "Ta giữ Sinh Tử Phù, nắm mạng hắn trong tay thì sao hắn dám làm càn?"

Ô Lão Đại vừa nghe đến ba chữ Sinh Tử Phù thì thất thanh la hoảng: "Ngươi.. ngươi.. ngươi.." Cô bé hỏi: "Vừa rồi ngươi nuốt mấy viên thuốc của ta?" Ô Lão Đại đáp: "Hai viên." Cô bé hỏi: "Cửu Chuyển Hùng Xà Hoàn là thánh dược của cung Linh Thứu. Giống súc vật như ngươi lại uống những hai viên linh đan ư?" Ô Lão Đại trán toát mồ hôi, run rẩy nói: "Còn.. một viên là.. là.." Cô bé lại hỏi: "Huyệt Thiên Trì của ngươi ra sao?"

Ô Lão Đại hai tay run lẩy bẩy cởi áo ra, quả nhiên huyệt Thiên Trì ở ngực trái đã nổi lên một cái chấm đỏ như máu. Hắn kêu lên: "Trời ơi!" rồi suýt ngất đi. Hồi lâu hắn mới ấp úng: "Ngươi.. ngươi là ai? Sao ngươi lại biết chỗ sinh tử của ta? Phải chăng người đã cho ta uống Đoạn Cân Hủ Cốt Hoàn?" Cô bé mỉm cười rồi đáp: "Ta còn có việc sai bảo, chưa thúc đẩy cho chất độc phát tác ngay đâu, ngươi đừng lo." Nhưng hai mắt Ô Lão Đại lồi ra, vẻ mặt khủng khiếp không thể nào diễn tả được.

Hư Trúc đã thấy Ô Lão Đại kinh hãi nhiều lần, nhưng chưa bao giờ khủng khiếp như lần này. Nhà sư thấy tội nghiệp, buột miệng hỏi: "Đoạn Cân Hủ Cốt Hoàn là gì? Phải chăng là một thứ thuốc kịch độc?" Ô Lão Đại da mặt co rúm lại, hồi lâu không thốt ra lời. Đột nhiên, hắn trỏ vào mặt Hư Trúc chửi mắng thậm tệ: "Thằng trọc thối tha kia! Gã thầy chùa ôn vật kia! Từ ông tổ tám mươi đời nhà mi trở xuống, đàn ông đều là đồ rùa đen bỉ ổi, đàn bà toàn là hạng kỹ nữ ti tiện. Đến đời mi là tuyệt chủng, không còn mống nào thừa tự. Nếu mi mà sinh con thì con trai phải thiếu hậu môn, con gái phải ba chân bốn tay.." Ô Lão Đại chửi rủa đến sùi bọt mép, một lát sau vết thương nổi cơn đau không chịu nổi mới im miệng.

Hư Trúc thở dài rồi nói: "Tiểu tăng là người tu hành dĩ nhiên không sinh con đẻ cháu, làm gì còn có con trai con gái nữa?" Ô Lão Đại lại nổi giận mắng tiếp: "Thằng ôn vật kia! Mi tưởng chỉ bị tuyệt tự mà thôi ư? Đâu có dễ dàng thế được? Mi còn phải sinh mười tám đứa con trai, mười tám đứa con gái, mà đứa nào cũng phải uống Đoạn Cân Hủ Cốt Hoàn. Chúng đau đớn ngồi trước mặt mi mà rên xiết kêu gào đến chín mươi chín ngày, chết chẳng chết được, sống chẳng sống cho. Rồi sau cùng chính mi cũng phải uống Đoạn Cân Hủ Cốt Hoàn để nếm mùi đau khổ.." Hư Trúc giật mình hỏi: "Đoạn Cân Hủ Cốt Hoàn độc địa đến thế ư?" Ô Lão Đại đáp: "Gân cốt toàn thân đều đứt hết, muốn mở miệng, muốn uốn lưỡi cũng không được. Thế rồi.. thế rồi!" Hắn nghĩ đến mình đã uống phải thứ thuốc độc ác nhất thiên hạ, không nói gì nữa, cảm thấy ghê rợn hãi hùng, chỉ muốn đập đầu vào gốc cây tùng mà chết cho xong.

Cô bé mỉm cười nói: "Chỉ cần ngươi ngoan ngoãn nghe lời là ta không thúc đẩy cho chất độc phát tác. Thứ thuốc này có thể giữ đến mười năm không phát động, ngươi bất tất phải sợ hãi cuống cuồng đến thế. Tiểu hòa thượng! Ngươi điểm huyệt hắn đi, cho hắn khỏi nổi điên đập đầu vào gốc cây mà tự tận."

Hư Trúc gật đầu nói: "Đúng thế!", rồi vòng ra phía sau Ô Lão Đại, thò tay sờ vào huyệt Ý Xá trên lưng hắn, xem xét cẩn thận cho thật đúng rồi mới điểm vào. Ô Lão Đại rên lên một tiếng rồi ngất đi. Thật ra Hư Trúc đã luyện được Bắc Minh Chân Khí rồi, y bất tất phải nhìn nhận kỹ càng, điểm vào bất luận huyệt đạo nào cũng có thể làm cho đối phương trọng thương hay ngất xỉu. Hư Trúc thấy Ô Lão Đại nằm chết giấc thì sợ hãi chân tay luống cuống, hết vuốt mũi lại xoa ngực cho hắn, hồi lâu mới cứu tỉnh lại được. Ô Lão Đại đã suy nhược đến cực điểm, chỉ còn thoi thóp thở, không còn chút khí lực nào.

Hư Trúc thấy Ô Lão Đại hội tỉnh rồi, mới đi tìm thức ăn. Trong rừng cây này chẳng thiếu gì hươu nai cầy cáo cùng dê rừng thỏ núi, nhưng làm sao y chịu sát sinh? Hư Trúc tìm kiếm hồi lâu mà chẳng thấy thứ gì ăn được, đành nhảy lên cây tùng hái quả. Nhân của trái tùng mùi vị thơm ngon, có thể ăn cho đỡ đói, nhưng nhỏ quá, y ăn hết hai ba trăm quả mà vẫn chưa no. Hư Trúc thấy mình đã đỡ đói, liền không ăn nữa, hái đầy hai túi rồi đem xuống mời bé gái và Ô Lão Đại ăn.

Cô bé nói: "Cám ơn ngươi, nhưng trong vòng ba tháng ta không thể ăn chay được. Ngươi giải huyệt cho Ô Lão Đại đi." Rồi cô truyền phép giải huyệt cho Hư Trúc. Hư Trúc nói: "Phải đó chắc Ô Lão Đại cũng đói lắm rồi." Y liền giải khai huyệt đạo cho Ô Lão Đại, rồi lấy một nắm trái tùng đưa cho hắn nói: "Ô tiên sinh! Tiên sinh ăn tạm mấy trái tùng này!" Ô Lão Đại hầm hầm trợn mắt lên, đón lấy bóc ăn, cứ ăn xong một trái là mắng một câu: "Thằng lỏi chết đâm chết chém này!" "Gã thầy chùa ôn vật kia!" Hư Trúc không hề tức giận, nghĩ thầm: "Mình đánh lão bị thương trầm trọng đến chết đi sống lại, lão căm tức là phải." Cô bé nói: "Ngươi không được nói gì nữa, ăn xong trái tùng rồi ngủ đi." Ô Lão Đại đáp: "Vâng!" Hắn không dám nhìn cô bé nữa, ăn hết chỗ trái tùng rồi ngoẹo đầu xuống ngủ.

Hư Trúc cũng ngồi xuống cạnh cô bé. Y mệt nhọc suốt ngày nên chẳng mấy chốc cũng ngủ say luôn. Sáng sớm hôm sau, nhà sư tỉnh dậy thấy trời đầy mây đen u ám, tựa như sắp có mưa giông. Cô bé nói: "Ô Lão Đại! Ngươi đi kiếm một con hươu sao hoặc một con dê rừng cũng được. Ta hẹn cho ngươi, đến giờ thìn phải đem về đây." Ô Lão Đại đáp: "Vâng!" Hắn gượng đứng lên, nhặt một cành cây khô làm gậy chống đi, người hắn vẫn còn lảo đảo. Hư Trúc muốn lại đỡ Ô Lão Đại, nhưng nghĩ tới hắn đang đi bắt thú rừng thì luôn miệng niệm: "A di đà Phật! A di đà Phật!", rồi lại nói: "Hươu dê thỏ gà, các loại chúng sinh, mau mau trốn xa đừng để Ô Lão Đại bắt được." Cô bé bĩu môi cười nhạt nhưng không nói gì.

Ngờ đâu đạo cao một thước mà ma cao tới một trượng. Nhà sư cứ việc niệm kinh, còn Ô Lão Đại đang bị trọng thương mà không biết hắn có phù phép gì, chưa đến giờ thìn đã bắt được một con hươu nhỏ đem về. Hư Trúc lại càng niệm Phật không ngớt miệng.

Ô Lão Đại nói: "Tiểu hòa thượng! Mau đốt lửa lên để nướng thịt hươu ăn." Hư Trúc nói: "Tội lỗi, tội lỗi! Tiểu tăng nhất quyết không làm chuyện tội lỗi này!" Ô Lão Đại xoay tay móc trong ống giày ra một lưỡi truy thủ sáng loáng để giết hươu. Cô bé nói: "Khoan hãy động thủ!" Ô Lão Đại đáp: "Vâng!", rồi buông dao xuống. Hư Trúc cả mừng nói: "Hay lắm, hay lắm! Tiểu cô nương tâm địa nhân từ, sau này tất được hưởng phúc." Cô bé chỉ cười nhạt một tiếng chứ không nói gì. Con hươu cứ tác lên không ngớt, rõ ràng đang đói. Hư Trúc chỉ muốn thả nó ra nhưng không dám.

Trời u ám nên bóng cây chỉ lờ mờ khó mà trông rõ, nhưng cũng thấy mỗi lúc một ngắn lại. Lát sau cô bé nói: "Đến giờ ngọ rồi!". Cô giữ lấy đầu con hươu nhỏ, há miệng ra cắn vào cổ họng nó. Con hươu đau quá kêu ầm lên, cố sức giãy giụa, nhưng cô bé giữ nó thật chặt, miệng hút máu nghe ồng ộc. Hư Trúc cả kinh kêu lên: "Trời ơi! Trời ơi! Tiền bối tàn nhẫn quá!" Cô bé không lý gì đến y, vẫn ráng sức hút máu. Con hươu giãy giụa yếu dần, lát sau nó run lên bần bật rồi duỗi ra chết.

Cô bé hút máu no rồi, quăng con hươu chết xuống, một tay trỏ lên trời một tay trỏ xuống đất. Cô lại luyện môn Bát Hoang Lục Hạp Duy Ngã Độc Tôn, luồng khói trắng từ mũi phun ra quyện chung quanh đầu cô. Hồi lâu mới thấy cô bé thu làn khói trắng lại, đứng lên nói: "Ô Lão Đại! Ngươi nướng thịt hươu ăn đi."

Hư Trúc trong lòng đau xót, lên tiếng: "Tiền bối đã có Ô Lão Đại hầu hạ. Lão hết lòng phục vụ, quyết không dám gia hại tiền bối đâu. Vậy tiểu tăng xin cáo biệt." Cô bé nói: "Ta không cho ngươi đi!" Hư Trúc nói: "Tiểu tăng phải tìm các vị sư bá sư thúc, nếu không tìm thấy thì phải về chùa Thiếu Lâm phục mệnh, không thể chần chờ được." Cô bé lạnh lùng hỏi: "Ngươi không theo lời ta, muốn tự mình bỏ đi, phải không?" Hư Trúc đáp: "Tiểu tăng đã nghĩ ra một kế là lấy tăng bào nhét đầy cỏ khô cùng lá cây vào, giả làm một cái túi lớn đeo lên lưng mà trốn đi. Bọn người ở dưới chân núi mà trông thấy thế, tất là họ tưởng tiền bối nằm trong túi mà đuổi theo tiểu tăng. Thế là tiểu tăng có thể dẫn dụ họ đi thật xa, khi đó tiền bối cùng Ô Lão Đại nhân cơ hội để về núi Phiêu Diểu!" Cô bé nói: "Kế đó cũng không dở. Cảm ơn ngươi đã lo lắng, nhưng ta không muốn chạy trốn." Hư Trúc đáp: "Thế cũng được! Tiền bối cứ nấp ở chỗ này. Nơi đây rừng rậm tuyết dày, bọn họ không tìm thấy được đâu. Họ có bao vây thì cũng mười ngày là phải rút đi. Tiền bối chờ họ đi rồi hãy xuống núi."

Cô bé nói: "Mười ngày nữa thì công lực ta sẽ khôi phục lại như hồi mười tám, mười chín tuổi. Khi nào ta còn để cho chúng chạy thoát." Hư Trúc kinh ngạc hỏi: "Sao?" Cô bé đáp: "Ngươi nhìn kỹ lại coi, ta hiện giờ so với ba hôm trước có gì khác không?" Hư Trúc ngưng thần nhìn kỹ, thấy thần sắc cô dường như lớn thêm mấy tuổi, hiện giờ cô trông như đứa nhỏ mười một, mười hai tuổi, chứ không giống đứa trẻ tám chín tuổi nữa. Nhà sư ấp úng nói: "Tiền bối.. tiền bối.. Hai ngày nay hình như tiền bối đã lớn thêm ba tuổi, nhưng thân hình tiền bối không cao lớn hơn trước chút nào."

Cô bé hoan hỉ nói: "Hà hà! Nhãn lực ngươi cũng khá đấy, nhận ra ta đã lớn thêm mấy tuổi. Nhưng ngươi ngu dốt lắm. Thiên Sơn Đồng Mỗ vĩnh viễn là một nữ đồng, dĩ nhiên thân thể không bao giờ cao lớn thêm được." Hư Trúc cùng Ô Lão Đại giật nảy mình lên, đồng thanh hỏi: "Thiên Sơn Đồng Mỗ! Cô là Thiên Sơn Đồng Mỗ ư?" Cô bé kiêu hãnh đáp: "Các ngươi tưởng ta là ai? Mỗ mỗ lúc nào cũng như một cô bé, mắt các ngươi đui rồi hay sao mà không trông thấy?"

Ô Lão Đại giương cặp mắt tròn xoe nhìn chòng chọc vào cô bé hồi lâu, miệng hắn mấp máy mà không thốt ra lời được. Một lúc sau, đột nhiên lão lăn ra tuyết kêu rên: "Ta.. đáng lẽ ta phải biết sớm hơn!.. Ta quả là ngu ngốc nhất thiên hạ. Ta.. tưởng ngươi chỉ là một con tiểu a đầu tầm thường trong cung Linh Thứu, ngờ đâu.. ngờ đâu ngươi chính là Thiên Sơn Đồng Mỗ!"

Cô bé nhìn Hư Trúc hỏi: "Còn ngươi tưởng ta là người như thế nào?" Hư Trúc đáp: "Tiểu tăng tưởng tiền bối là một lão nữ quỷ nhập vào xác đứa nhỏ này để hoàn hồn." Thiên Sơn Đồng Mỗ sa sầm nét mặt nói: "Ăn nói hồ đồ! Cái gì mà lão nữ quỉ mượn xác hoàn hồn?" Hư Trúc đáp: "Nữ thí chủ trông như một cô bé gái, mà tâm trí cùng thanh âm thì lại như bà lão, lại tự xưng là mỗ mỗ. Nếu không phải quỉ hồn một bà già nhập vào đứa trẻ nít thì sao lại như vậy?" Đồng Mỗ cười khanh khách nói: "Tiểu hòa thượng suy nghĩ thật là cổ quái."

Rồi mụ quay sang hỏi Ô Lão Đại: "Hôm ấy ta lọt vào tay ngươi, ngươi không hạ sát ngay, chắc bây giờ hối hận lắm phải không?" Ô Lão Đại trở mình ngồi thẳng dậy đáp: "Đúng thế! Tại hạ đã lên núi Phiêu Diểu ba lần, và đã được nghe thanh âm tiền bối. Nhưng tiền bối bắt tại hạ phải bịt mặt, nên tại hạ chưa được nhìn rõ tướng mạo. Ô Lão Đại này có mắt không tròng, lại tưởng tiền bối là.. là một cô bé vừa câm vừa điếc."

Cô bé nói: "Chẳng những một mình ngươi mà trong bọn yêu quái ba mươi sáu động, bảy mươi hai đảo còn nhiều kẻ khác đã được nghe thanh âm ta. Nếu mỗ mỗ không giả câm thì tất bại lộ hành tung, nguy hiểm vô cùng!" Ô Lão Đại thở dài sườn sượt hỏi: "Võ công của tiền bối đã đến mực thần thông, giết người không phải dùng đến hai chiêu. Thế sao lúc bị tại hạ bắt, tiền bối lại không chống cự?"

Cô bé cười sằng sặc nói: "Ta đã cám ơn ngươi ra tay giúp đỡ, chính là vì thế. Hôm ấy cường địch sắp đến, mỗ mỗ lại thân thể bất an, khó lòng chống cự. May sao ta được ngươi dùng túi vải chụp lấy rồi cõng xuống núi, thế là tránh khỏi một kiếp nạn. Thế có phải là ta nên cám ơn ngươi không?" Cô nói tới đây, đột nhiên mắt lộ rung quang, nói tiếp: "Nhưng sau khi mi bắt được, lại bảo mỗ mỗ giả câm, rồi dùng bao nhiêu thủ đoạn vô lễ để đối phó với mỗ mỗ thì thực là tội ác ngập đầu. Nếu không như thế thì ta có thể tha mạng cho ngươi được."

Lão Đại giật bắn người rồi quì hai gối xuống nói: "Mỗ mỗ! Người ta thường nói, không biết là không có tội. Nếu lúc ấy mà Ô Lão Đại này biết mỗ mỗ thì tất nhiên một lòng kính sợ, dù lớn mật đến đâu cũng không dám khinh mạn mỗ mỗ." Cô bé cười nhạt nói: "Sợ ta thì có, kính ta thì chưa chắc. Ngươi tổ chức đại hội tụ tập bọn yêu ma ba mươi sáu động bảy mươi hai đảo, quyết tâm phản nghịch, bây giờ còn nói gì nữa?" Ô Lão Đại trán toát mồ hôi đầm đìa, dập đầu xuống đá núi lạy lấy lại để mười mấy lạy, máu tươi trên trán chảy ra đầm đìa.

Hư Trúc nghĩ thầm: "Té ra vị tiểu cô nương này là Thiên Sơn Đồng Mỗ. Đồng Mỗ! Đồng Mỗ! Mình cứ tưởng mụ họ Đồng tên Mỗ. Ngờ đâu chữ Đồng nghĩa là trẻ con, Đồng Mỗ tức là bà cụ non. Võ công cụ đã cao thâm, lại có bao nhiêu mưu thần chước quỷ nên ai cũng sợ mụ như cọp. Thế mà mấy bữa nay mình tận lực giúp đỡ, không chừng mụ cười thầm mình không biết tự lượng sức. Ha ha! Hư Trúc ơi là Hư Trúc, ngươi đúng là một tên hòa thượng ngu xuẩn." Y thấy Ô Lão Đại dập đầu không ngớt, không nói tiếng nào, quay người toan bỏ đi.

Thiên Sơn Đồng Mỗ quát to: "Ngươi định đi đâu? Hãy đứng lại đã!" Hư Trúc quay lại chắp tay trước ngực nói: "Ba ngày nay tiểu tăng đã làm vô số việc ngu ngốc, bây giờ xin cáo từ thôi!" Đồng Mỗ hỏi: "Những việc gì ngu ngốc?" Hư Trúc đáp: "Nữ thí chủ võ công thần diệu, oai danh vang lừng thiên hạ. Hư Trúc này có mắt mà không thấy núi Thái Sơn, lại dám ra tay giúp đỡ, nữ thí chủ có cười vào mặt thì cũng đáng. Tiểu tăng càng nghĩ bao nhiêu càng hổ thẹn bấy nhiêu, thật không còn đất dung thân nữa."

Đồng Mỗ tiến đến bên Hư Trúc, rồi quay lại nhìn Lão Đại nói: "Ta có việc cần nói riêng với tiểu hòa thượng. Người hãy lui ra xa." Ô Lão Đại dạ dạ mấy tiếng rồi đứng lên, bước thấp bước cao đi về hướng đông bắc, khuất sau một cây tùng.

Đồng Mỗ nhìn Hư Trúc nói: "Tiểu hòa thượng! Ba ngày nay đúng là ngươi đã cứu mạng ta, có làm gì ngu ngốc đâu? Thiên Sơn Đồng Mỗ bình sinh chưa cảm ơn ai, nhưng ngươi đã cứu mạng ta thì sau này dĩ nhiên ta phải đền đáp." Hư Trúc xua tay đáp: "Võ công nữ thí chủ cao cường như thế, cần gì tiểu tăng giúp sức? Rõ ràng thí chủ chế giễu mà thôi." Cô bé sầm mặt nói: "Ta nói ngươi cứu mạng ta, tức là ngươi đã cứu mạng ta thật. Ta nói thật mà ngươi lại còn ra giọng khích bác ư? Ta đã luyện thành công phu Bát Hoang Lục Hạp Duy Ngã Độc Tôn, uy lực ghê gớm vô cùng. Nhưng công phu này có một điều đại bất lợi là cứ ba mươi năm phải một lần phản lão hoàn đồng." Hư Trúc lấy làm lạ, hỏi: "Đang già mà trẻ lại ư? Thế thì càng tốt chứ sao?"

Thiên Sơn Đồng Mỗ thở dài đáp: "Ngươi là một tên tiểu hòa thượng bản tính thực thà, lại có ơn cứu mạng cho ta, vậy ta nói cho ngươi nghe cũng chẳng hề chi. Ta luyện môn công phu này từ hồi sáu tuổi, đến ba mươi sáu tuổi trở lại thành trẻ nít, lần đó phải mất ba mươi ngày mới luyện lại được. Đến năm sáu mươi sáu tuổi thì luyện lại mất sáu mươi ngày. Lần này ta đã chín mươi sáu tuổi thì phải mất đến chín mươi ngày mới phục hồi được công lực." Hư Trúc cả kinh trợn mắt lên hỏi: "Sao? Thí chủ.. năm nay đã chín mươi sáu tuổi rồi?"

Đồng Mỗ đáp: "Ta là sư tỉ của Vô Nhai Tử sư phụ ngươi. Nếu Vô Nhai Tử chưa chết thì năm nay y chín mươi ba tuổi. Ta lớn hơn y ba tuổi, chẳng phải chín mươi sáu là gì?".

Hư Trúc giương cặp mắt thao láo nhìn chằm chặp vào sắc diện cùng thân thể mụ, chẳng thấy chỗ nào giống bà cụ chín mươi sáu tuổi cả.

Thiên Sơn Đồng Mỗ nói: "Công phu Bát Hoang Lục Hạp Duy Ngã Độc Tôn là một môn nội công kỳ diệu vô song, chỉ vì ta luyện môn này sớm quá. Lúc lên sáu ta đã bắt đầu luyện, mấy năm sau thì uy lực đã tiến bộ lắm rồi. Nhưng thân thể ta không lớn lên được nữa, vĩnh viễn chỉ bằng đứa trẻ nít tám chín tuổi."

Hư Trúc gật đầu nói: "Thì ra là thế!". Y từng nghe sư phụ nói, trên thế gian có những đứa nhỏ bảy tám tuổi đã cao bằng người lớn, cũng có những người đã mấy chục tuổi mà cao chưa tới ba thước, đó là do tam tiêu không hòa hợp mà ra. Nếu họ kịp thời luyện tập nội công thượng thừa thì cũng có hy vọng chữa khỏi. Y bèn hỏi: "Không hiểu phép luyện nội công của tiền bối có luyện tới Thủ Thiếu Dương Tam Tiêu Kinh không?"

Đồng Mỗ ngẩn người, gật đầu đáp: "Không sai. Một hòa thượng nhỏ của phái Thiếu Lâm mà đã có kiến thức như vậy, võ lâm cho rằng phái Thiếu Lâm đứng đầu thiên hạ, quả là có lý."

Hư Trúc đáp: "Tiểu tăng chỉ được nghe sư phụ nói qua một ít về đạo lý của Thủ Thiếu Dương Tam Tiêu Kinh, hiểu biết còn thô thiển, chỉ là buột miệng đoán bừa mà thôi." Y lại hỏi: "Năm nay tiền bối phản lão hoàn đồng như thế nào?"

Thiên Sơn Đồng Mỗ đáp: "Lúc bắt đầu phản lão hoàn đồng thì công lực hoàn toàn mất hết. Sau một ngày tu luyện thì phục hồi lại được công lực bằng đứa nhỏ bảy tuổi: Đến ngày thứ hai công lực bằng hồi tám tuổi, ngày thứ ba bằng hồi chín tuổi.. mỗi một ngày luyện tập là kéo lại một năm công lực, ngày nào đúng ngọ cũng phải uống máu tươi mới luyện công được. Hôm Ô Lão Đại lên núi Phiêu Diểu để thám thính, ta mới luyện được ba ngày. Ngươi thử nghĩ coi lúc đó ta mới có công lực bằng đứa nhỏ chín tuổi thì làm thế nào kháng cự được bọn Ô Lão Đại, An động chúa.. mỗi tên có ba bốn chục năm công phu? Mấy ngày sau đó ta không được uống máu tươi, nên vẫn giữ nguyên mức đứa nhỏ tám chín tuổi. Công cuộc phản lão hoàn đồng cũng như rắn già lột da, mỗi lần thoát xác là một lần lớn lên, nhưng diễn biến đang dở dang mà bị người bắt được thì nguy hiểm vô cùng. Giả tỉ ta không được uống máu tươi thêm mấy ngày nữa, thì không tài nào luyện nội công được, chân khí trong người bành trướng lên rồi phát tác ra, điên khùng mà chết. Ta nói là ngươi đã cứu sống ta, chẳng phải là nói ngoa đâu."

Hư Trúc lại hỏi: "Hiện giờ thí chủ đã phục hồi công lực lại bằng người mười một tuổi. Như vậy, muốn tới mức chín mươi sáu tuổi thì còn đến tám mươi lăm ngày nữa, vậy phải giết tám mươi lăm con hươu hay dê nữa hay sao?"

Thiên Sơn Đồng Mô mỉm cười đáp: "Tiểu hòa Thượng đã biết tính toán, thông minh hơn một chút. Tám mươi lăm ngày sắp tới, ta còn phải trải qua bao nhiêu gian nguy. Bọn Bất Bình đạo nhân, Ô Lão Đại chỉ là hàng chuột nhắt chẳng có chi đáng kể. Nhưng nếu đại địch biết tin này mà đến đây thì một mình ta khó lòng chống nổi, phải có ngươi hộ vệ mới được."

Hư Trúc nói: "Võ công tiểu tăng kém cỏi, không bõ làm trò cười cho tiền bối. Tiền bối còn chưa đối phó được cường địch thì dĩ nhiên tiểu tăng chả làm gì được. Theo tiểu tăng thì tiền bối nên lánh xa đi, trốn được tám mươi lăm ngày thì công lực hoàn toàn phục hồi như cũ, chẳng phải sợ gì ai nữa."

Thiên Sơn Đồng Mỗ nói: "Võ công ngươi tuy thấp kém, nhưng được Vô Nhai Tử đem công lực toàn thân trút sang, nội lực hiếm có trên đời. Nếu ngươi biết cách phát huy ra để vận dụng thì có thể đối phó được với cừu nhân của ta. Bây giờ chúng ta phải hợp lực giúp nhau, ta truyền cho ngươi những môn võ công tinh vi ảo diệu, người dùng võ công đó chống địch hộ vệ cho ta. Thế là hai bên cùng có lợi." Mụ không chờ Hư Trúc ưng thuận, đã nói tiếp: "Ngươi tỉ như con nhà đại tài chủ, được tổ tiên để lại cho gia tài kếch sù, tiền bạc thừa thãi. Bây giờ ngươi không cần phải góp nhặt tiền tài mà chỉ cần đem ra xài phí. Tích tụ tiền tài mới là việc khó, còn vung tiền ra tiêu xài thì dễ ợt. Ngươi chỉ luyện một tháng là khá, luyện hai tháng thì có thể tạm chống đối được với cừu nhân của ta. Đầu tiên thì người phải học thuộc khẩu quyết. Câu đầu là: Pháp thiên thuận tự nhiên.."

Hư Trúc xua tay lia lịa nói: "Tiền bối! Tiểu tăng là đệ tử chùa Thiếu Lâm. Công phu của tiền bối tuy thần diệu vô song, nhưng tiểu tăng quyết không thể học được. Xin tiền bối miễn thứ cho." Thiên Sơn Đồng Mỗ nổi giận nói: "Công phu phái Thiếu Lâm của ngươi đã bị Vô Nhai Tử hóa giải hết còn đâu, sao ngươi cứ nói hoài là đệ tử phái Thiếu Lâm?" Hư Trúc nói: "Tiểu tăng sẽ quay về phái Thiếu Lâm luyện lại từ đầu." Thiên Sơn Đồng Mỗ tức giận nói: "Ngươi khinh ta là bàng môn tả đạo nên không thèm học phải không?" Hư Trúc đáp: "Đệ tử nhà Phật lấy từ bi làm căn bản, lấy phổ độ chúng sinh làm tâm nguyện, cốt sao cho minh tri kiến tính. Còn luyện võ công được cao thâm thì cũng là hay, mà luyện chẳng tới đâu thì cũng không trở ngại gì đến việc tu thành chánh quả. Kẻ tu hành không thể chuyên tâm luyện võ mà xao lãng việc chính yếu là tu tâm dưỡng tính."

Đồng Mỗ thấy mắt nhà sư nhìn xuống đất, nghiễm nhiên có khí tượng một vị cao tăng bé nhỏ thì nghĩ rằng y thật là cứng cổ, không biết phải làm sao. Mụ trầm ngâm giây lát, rồi nghĩ ra một kế, lớn tiếng gọi: "Ô Lão Đại! Ngươi lập tức đi bắt hai con hươu đem về đây, để ta ăn thịt."

Lão Đại đang ở ngoài xa mà công lực Đồng Mỗ chưa đủ, thanh âm mụ không truyền ra xa được. Mụ gọi tới ba lần mà Ô Lão Đại vẫn chưa nghe thấy.

Hư Trúc thất kinh nói: "Sao lại phải giết hươu? Hôm nay tiền bối uống máu tươi rồi mà?" Đồng Mỗ cười đáp: "Đây là ngươi bức bách ta phải sát sinh, sao lại còn hỏi nhiều?" Hư Trúc lấy làm lạ hỏi: "Tiểu tăng.. tiểu tăng bức bách tiền bối sát sinh bao giờ?" Đồng Mỗ đáp: "Ngươi không chịu giúp ta kháng cự cường địch, ắt ta phải bị hành hạ cho đến chết. Ngươi thử nghĩ coi trong lòng ta phiền não hay không?" Hư Trúc gật đầu nói: "Tiền bối nói cũng có lý. Oán Tăng Hội là một trong bảy nỗi khổ của kiếp người, tiền bối muốn thoát khỏi thì phải bỏ hết sân si." Đồng Mỗ cười khẩy: "Hừ hừ, ngươi lại muốn giảng đạo cho ta ư? Bây giờ thì không kịp rồi. Nỗi oán hận này không biết phát tiết vào đâu, ta đành giết dê giết hươu, sát sinh cho hả dạ." Hư Trúc chắp tay để trước ngực nói: "A Di Đà Phật! Tội lỗi, tội lỗi! Tiền bối ơi! Những con hươu con dê đó thật là tội nghiệp, tiền bối nên tha mạng cho chúng mới phải."

Đồng Mỗ cười nhạt đáp: "Chính mạng ta cũng sắp nguy đến nơi, chẳng cần nghĩ gì đến sinh vật nữa." Rồi mụ lại cố cao giọng hô lên: "Ô Lão Đại! Ngươi mau đi bắt hươu sao về cho ta!" Lần này Ô Lão Đại lên tiếng trả lời.

Hư Trúc hoảng hốt, không biết phải làm sao. Nếu y bỏ đi thì mang tiếng là áp bức mụ phải sát sinh, không biết còn bao nhiêu hươu nai sẽ bị chết oan uổng vào tay Đồng Mỗ. Nếu y lưu lại học võ công của mụ thì cũng không ổn chút nào.

Bản lãnh bắt hươu nai của Ô Lão Đại thật ít người bì kịp, chẳng mấy chốc hắn đã nắm sừng lôi một con hươu về. Thiên Sơn Đồng Mỗ lạnh lùng nói: "Hôm nay ta đã uống máu hươu rồi, ngươi cầm dao chém chết con hươu này đi rồi quẳng xuống núi." Hư Trúc vội nói: "Khoan đã! Khoan đã!.." Thiên Sơn Đồng Mỗ ngắt lời: "Nếu ngươi tuân lời ta thì ta không giết con hươu này. Nếu ngươi bỏ ta mà đi thì mỗi ngày ta phải giết chục con. Giết nhiều giết ít là tùy ở ngươi. Phật tổ vì phổ độ chúng sinh đã tuyên bố:" Nếu ta không vào địa ngục thì còn ai vào nữa? "Ngươi phục vụ ta mấy ngày, kể ra cũng chưa khổ đến mức vào địa ngục, thế mà ngươi nhẫn tâm khiến cho đàn hươu phải chết oan. Như vậy thì còn đâu là lòng dạ từ bi của đệ tử nhà Phật?" Nhà sư run rẩy đáp: "Tiền bối nói đúng lắm! Xin buông tha con hươu này, Hư Trúc xin tuân lời tiền bối." Đồng Mỗ cả mừng quay lại bảo Ô Lão Đại: "Ngươi thả con hươu đó, rồi biến ra xa di."

Đồng Mỗ chờ cho Ô Lão Đại đi xa, rồi bắt đầu truyền khẩu quyết về phép vận dụng chân khí trong người. Mụ là sư tỉ Vô Nhai Tử, đường lối võ công giống hệt. Về nội lực thì Hư Trúc cũng là đồng môn của mụ nên tiến bộ rất mau.

Hôm sau đến giờ Ngọ, Đồng Mỗ lại luyện môn Bát Hoang Lục Hạp Duy Ngã Độc Tôn, cũng cắn cổ hươu để hút máu tươi. Nhưng lần này mụ lấy thuốc xịt vào vết thương cho nó, rồi thả cho đi. Đoạn mụ quay lại bảo Ô Lão Đại: "Vị tiểu sư phụ đây không muốn thấy người ta sát sinh. Vậy từ nay trở đi, mỗ mỗ không cho ngươi ăn thịt hươu nữa, phải dùng trái tùng làm bữa. Nếu ngươi còn ăn thịt hươu, thịt dê, hừ, mỗ mỗ sẽ giết ngươi để báo thù cho chúng."

Lão Đại vâng dạ luôn mồm, nhưng rủa thầm đến ông tổ mười chín hai mươi đời nhà Hư Trúc. Hắn thấy Đồng Mỗ có vẻ lịch sự với Hư Trúc, nên nghĩ tới cái đau khổ vì Đoạn Cân Hủ Cốt Hoàn mà không dám vô lễ ra miệng với nhà sư nữa.

Lại thêm mấy ngày, Hư Trúc thấy Đồng Mỗ không giết hại hươu dê mà Ô Lão Đại cũng không ăn nói hỗn láo như trước, thì mừng thầm nghĩ: "Người ta thủ tín với mình, có lý đâu mình chẳng tận tâm tận lực với người ta?" Bởi thế mà nhà sư ráng sức tập luyện võ công, không dám chểnh mảng chút nào. Dung mạo Thiên Sơn Đồng Mỗ mỗi ngày một biến đổi, mới trong bốn năm ngày đã từ cô bé mười một mười hai biến thành thiếu nữ mười sáu mười bảy tuổi. Có điều thân hình mụ vẫn thấp bé y nguyên. Một hôm sau giờ ngọ, Đồng Mỗ luyện xong môn Bát Hoang Lục Hạp Duy Ngã Độc Tôn rồi quay lại bảo Hư Trúc cùng Ô Lão Đại: "Chúng ta ở chỗ này đã lâu rồi, chắc là bọn yêu ma sắp tìm đến nơi. Tiểu hòa thượng! Ngươi cõng ta lên đỉnh núi, xách cả Ô Lão Đại đi theo, đừng để dấu vết gì trên mặt tuyết."

Hư Trúc "Vâng" một tiếng, đưa tay toan ẵm Đồng Mỗ thì bỗng thấy mụ dung nhan xinh đẹp, khóe mắt long lanh, thực là một vị cô nương nguyệt thẹn hoa nhường. Nhà sư kinh hãi vội rút tay về, ấp úng nói: "Tiểu.. tiểu tăng không dám mạo phạm." Đồng Mỗ ngạc nhiên hỏi: "Ngươi nói mạo phạm cái gì?" Hư Trúc đáp: "Tiền bối đã trở thành một vị đại cô nương đang độ xuân thì, không phải là tiểu cô nương nữa. Nam.. nam nữ thọ thọ bất thân, người xuất gia lại càng phải giữ gìn."

Đồng Mỗ cười hì hì, vẻ mặt xinh tươi, hai má đỏ bừng, liếc mắt mỉm cười nói: "Tiểu hòa thượng lại nói chuyện hồ đồ rồi! Mỗ mỗ là một bà cụ chín mươi sáu tuổi, ngươi có cõng lên lưng cũng chẳng can hệ gì." Mụ nói xong, toan nằm phục trên lưng Hư Trúc. Hư Trúc cả kinh nói: "Không được! Không được!", rồi co cẳng chạy liền. Đồng Mỗ thi triển khinh công đuổi theo.

Lúc này Hư Trúc đã luyện Bắc Minh Chân Khí đến ba bốn thành, còn Đồng Mỗ mới phục hồi công lực bằng hồi mười tám tuổi, nên khinh công còn kém xa y. Hư Trúc mới vọt đi mấy cái đã bỏ mụ khá xa. Đồng Mỗ la lên: "Quay lại đã!" Hư Trúc dừng chân nói: "Để tiểu tăng nắm tay tiền bối nhảy lên ngọn cây!" Đồng Mỗ tức mình nói: "Ngươi cực kỳ hủ lậu, chẳng linh mẫn chút nào! Kiếp này ngươi tập luyện võ công thượng thừa khó mà thành được, khó mà thành được!"

Hư Trúc chưng hửng, nghĩ thầm: "Kinh Kim Cang có nói: Cái gì có tướng, tức là hư vọng. Tiểu cô nương hay đại cô nương thì cũng là hư vọng. Như Lai có nói: Thân người khi lớn lên, tuy không phải là thân lớn, nhưng gọi là thân lớn. Nếu vậy thì có thể nói: Đại cô nương cũng không phải là đại cô nương, chỉ là gọi bằng đại cô nương mà thôi.". Y cứ nghĩ tới nghĩ lui không dứt khoát.

Đột nhiên mắt Hư Trúc hoa lên, một bóng trắng như có như không, từ đâu vọt lại trước mặt Đồng Mỗ. Thì ra đó là một người toàn thân mặc y phục trắng, lẫn vào màu tuyết thành ra chỉ thấy lờ mờ không rõ.

Comments

0 comments

Trước Tiếp
 
34,431 ❤︎ Bài viết: 2241 Tìm chủ đề
Hồi 36: Bóng hồng đã khép cửa thiền

Hư Trúc cả kinh tiến lên hai bước, Đồng Mỗ cũng vừa hô hoán vừa tiến về phía y. Bóng trắng khẽ cất tiếng hỏi: "Sư tỉ ở đây có mạnh giỏi chăng?", thanh âm nữ nhân êm ái uyển chuyển rất dễ nghe. Hư Trúc lại tiến thêm hai bước, thấy nữ nhân áo trắng thân hình tha thướt, nhưng mặt được che bằng tấm lụa trắng nên không trông rõ tướng mạo. Hư Trúc nghe bà ta gọi Đồng Mỗ bằng sư tỉ, liền nghĩ rằng Đồng Mỗ đã có người nhà đến hộ vệ, sẽ không bắt mình ở lại nữa. Nhà sư mừng thầm, nhưng nhìn qua Đồng Mỗ thì thấy vẻ mặt mụ ta rất kỳ quái, nửa như kinh hãi nửa như căm hận, rõ ràng không hoan hỉ chút nào.

Đồng Mỗ lạng người đến bên Hư Trúc la hoảng: "Cõng ta lên núi cho mau!" Hư Trúc vẫn ngập ngừng: "Cái đó.. tiểu tăng đã nói là không tiện mà!.." Đồng Mỗ cả giận, tát một phát vào mặt nhà sư rồi la lên: "Con tiện nhân đã đuổi tới nơi định làm hại ta. Ngươi không trông thấy hay sao?" Mụ ra tay không nhẹ, Hư Trúc mắt nổ đom đóm rồi nửa mặt sưng vù.

Người áo trắng nói: "Sư tỉ già rồi mà vẫn còn hay giận dữ ư? Người ta đã không muốn mà sư tỉ cứ ép buộc, nào đánh nào mắng là nghĩa lý gì? Tiểu muội khuyên sư tỉ, đối xử với người ta nên tử tế là hơn." Hư Trúc xiết bao cảm kích, nghĩ thầm: "Bà này đồng môn cùng Đồng Mỗ và Vô Nhai Tử, mà sao tính tình chẳng giống Đồng Mỗ chút nào, nhã nhặn ôn hòa, thấu tình đạt lý."

Đồng Mỗ vẫn không ngớt giục Hư Trúc: "Mau mau cõng ta chạy đi, trốn khỏi con tiện nhân này càng xa càng tốt. Ta nhất định không quên lòng tốt của ngươi, sẽ có ngày báo đáp."

Nữ nhân áo trắng vẫn nhàn nhã bình thản, đứng yên một bên. Làn gió nhẹ nhàng lay động xiêm áo, trông bà phiêu diêu như một vị tiên. Hư Trúc tự hỏi: "Vị này hiền hòa văn nhã là thế, mà sao Đồng Mỗ lại có vẻ chán ghét sợ hãi?" Nữ nhân áo trắng lại hỏi: "Sư tỉ! Tỉ muội ta đã mấy chục năm trời chưa được gặp nhau, hôm nay mới được tái ngộ. Sư tỉ chẳng hân hoan, lại còn hốt hoảng bỏ đi là nghĩa làm sao? Tiểu muội tính ra mấy bữa nay là dịp sư tỉ phản lão hoàn đồng, trong lòng chỉ sợ bọn yêu ma quỷ quái thủ hạ của sư tỉ nhân cơ hội này làm phản, bèn đến cung Linh Thứu núi Phiêu Diểu tìm sư tỉ để giúp một tay, nhưng lại không thấy sư tỉ ở đó."

Đồng Mỗ thấy Hư Trúc không chịu cõng mình chạy trốn thì chẳng biết làm thế nào, hằn học đáp: "Ngươi tính đúng vào thời kỳ ta phải tán công mà tìm đến núi Phiêu Diểu có phải vì lòng tốt đâu? Phải chăng là để trả mối hận ngày trước? Nhưng ngươi không tính đến chuyện ông trời xui khiến cho có người đem ta xuống núi. Ngươi một phen uổng công, lại cố truy tìm đến đây phải chăng? Lý Thu Thủy! Hôm nay ngươi đến đây thì đã chậm mất mấy ngày. Tuy ta không địch lại ngươi, nhưng ngươi đừng tưởng là không mất hơi sức mà hại được thần công một đời của ta."

Nữ nhân áo trắng đáp: "Sao sư tỉ lại nói thế? Tiểu muội lúc nào cũng nhớ sư tỉ, ngày nào cũng muốn đến cung Linh Thứu để vấn an. Nhưng mấy chục năm trước kia sư tỉ hiểu lầm tiểu muội rồi sinh dạ hoài nghi, lần nào gặp nhau sư tỉ cũng chưa kịp hỏi gì đã buông lời trách mắng. Tiểu muội một là sợ sư tỉ nổi nóng, hai là sợ sư tỉ đánh đập, nên chần chờ không dám đến thăm. Nếu sư tỉ cho rằng tiểu muội có ý bất lương, thì thật là quá đa nghi rồi." Bà nói năng vừa giữ lễ vừa thân mật.

Hư Trúc Vốn biết tính tình Đồng Mỗ ngang ngược, bèn nghĩ rằng hai bà này một thiện một ác, chuyện hiềm khích năm xưa rõ ràng Đồng Mỗ là người sai trái.

Đồng Mỗ tức giận nói: "Lý Thu Thủy! Sự tình đã đến thế này, bữa nay ngươi đến đây hoa ngôn xảo ngữ châm chọc ta cũng chẳng ích gì! Ngươi hãy xem cái gì đây?" Nói xong mụ giơ tay trái lên, chìa cái nhẫn bảo thạch ra. Nữ nhân áo trắng tức là Lý Thu Thủy bỗng run lên, lạc giọng hỏi: "Đây là cái nhẫn thất bảo của chưởng môn.. Sư tỉ lấy ở đâu ra?" Đồng Mỗ lại cười đáp: "Dĩ nhiên là chưởng môn trao lại cho ta.. Ngươi đã biết rồi, còn hỏi làm gì?" Lý Thu Thủy chưng hửng một lát rồi hỏi: "Hừ! Y.. y sao lại giao nhẫn cho sư tỉ? Nếu sư tỉ không ăn cắp, thì hẳn là cướp giật của y."

Đồng Mỗ lớn tiếng nói: "Lý Thu Thủy! Chưởng môn phái Tiêu Dao truyền cho ngươi phải quì xuống nghe lệnh."

Lý Thu Thủy nói: "Sư tỉ tự phong cho mình chức chưởng môn hay sao? Chắc là.. chắc là sư tỉ đã ám hại y để cướp nhẫn thất bảo rồi." Bà vốn là người hòa nhã, nhưng từ lúc trông thấy cái nhẫn thất bảo, không khỏi xúc động, lời nói đã ra chiều nóng nảy.

Đồng Mỗ nghiêm giọng hỏi: "Ngươi không chịu tuân theo mệnh lệnh của chưởng môn, muốn phản nghịch sư môn, có phải thế không?"

Đột nhiên một làn bạch quang lóe lên, thân hình Đồng Mỗ tung lên không rồi văng đi xa. Hư Trúc thất kinh hỏi: "Sao vậy?", rồi bỗng thấy trên mặt tuyết có vết máu loang, một ngón tay của Đồng Mỗ bị chặt rớt xuống, cái nhẫn đã bị Lý Thu Thủy lấy được cầm trong tay. Thì ra Lý Thu Thủy dùng thủ pháp mau lẹ tuyệt luân chặt đứt ngón tay của Đồng Mỗ để đoạt chiếc nhẫn, rồi lại phóng chưởng hất mụ ra xa. Bà dùng thứ khí giới gì để chặt ngón tay Đồng Mỗ thì Hư Trúc không nhìn rõ được vì bà ra tay lẹ quá!

Bỗng nghe Lý Thu Thủy nói: "Sư tỉ đã ám hại y cách nào, nói thật cho tiểu muội nghe đi! Tiểu muội đối với sư tỉ tình nghĩa thâm trọng, quyết không làm khó sư tỉ đâu." Bây giờ Lý Thu Thủy lấy được chiếc nhẫn bảo thạch rồi, giọng nói của bà ta trở lại ôn tồn.

Hư Trúc thấy bất nhẫn, lên tiếng nói: "Lý thí chủ! Hai vị là sư tỉ muội đồng môn, sao lại ra tay ác độc đến thế? Vô Nhai Tử lão tiên sinh không phải bị Đồng Mỗ gia hại đâu. Người xuất gia không biết nói dối, tiểu tăng không gạt thí chủ đâu."

Lý Thu Thủy quay sang hỏi Hư Trúc: "Xin hỏi tiểu sư phụ pháp hiệu là gì? Xuất gia ở bảo tự nào? Tại sao lại biết danh hiệu sư huynh của ta?" Hư Trúc đáp: "Tiểu tăng pháp danh là Hư Trúc, đệ tử chùa Thiếu Lâm. Vô Nhai Tử lão tiên sinh là.. Ôi, chuyện này nói ra dài quá.." Đột nhiên Lý Thu Thủy phất tay áo một cái, hai đầu gối nhà sư chùn lại rồi cảm thấy tê nhức, khí huyết bỗng chạy ngược đường. Nhà sư ngã lăn ra kêu lên: "Ôi chao! Thí chủ làm gì thế? Tiểu tăng có làm gì đắc tội với thí chủ đâu, sao lại đả thương tiểu tăng?"

Lý Thu Thủy mỉm cười đáp: "Tiểu sư phụ đã là cao tăng phái Thiếu Lâm, tại hạ chỉ muốn thử công lực một chút mà thôi! Ôi! Tiếng tăm phái Thiếu Lâm lừng lẫy là thế, mà võ công phái này chỉ có thế thôi ư?"

Hư Trúc nằm dưới đất nhìn lên, thấy dung mạo Lý Thu Thủy sau tấm mạng che mặt tựa như một thiếu phụ ngoài bốn mươi tuổi, đôi mày rất xinh đẹp, nhưng trên má dường như có mấy ngấn máu, lại hình như có mấy vết sẹo to. Nhà sư sợ hãi đáp: "Tiểu tăng chỉ là một hòa thượng hạng bét tại chùa Thiếu Lâm. Tiền bối chẳng nên vì tiểu tăng bất tài mà mạt sát cả tệ phái."

Lý Thu Thủy không lý gì đến y nữa, từ từ đến bên Đồng Mỗ, dịu dàng nói: "Sư tỉ ơi! Mấy năm nay tiểu muội nhớ sư tỉ biết chừng nào, may mà ông trời còn có mắt, tỉ muội ta còn được gặp nhau. Trước kia sư tỉ đối đãi cực kỳ tử tế, tiểu muội vẫn ghi nhớ ngày đêm.."

Đột nhiên một làn bạch quang lóe ra, Đồng Mỗ rú lên một tiếng bi thảm. Máu chảy thành vũng trên mặt tuyết, chân trái Đồng Mỗ đã bị chặt đứt lìa ra. Hư Trúc kinh hãi không sao nói hết, giận dữ quát hỏi: "Tỉ muội đồng môn mà thí chủ hạ thủ nhẫn tâm đến thế ư? Thí chủ.. thí thủ thật là dã man không bằng cầm thú."

Lý Thu Thủy từ từ quay đầu lại, kéo tấm khăn lên, để lộ bộ mặt trái xoan trắng nõn nà. Hư Trúc vừa nhìn thấy đã la lên một tiếng kinh ngạc, mặt bà bị kiếm rạch hai nét ngang hai nét dọc thành hình chữ "Tĩnh". Vết thương đã làm cho mắt bên phải bà lồi ra ngoài, miệng méo xệch sang bên trái, bộ mặt xinh đẹp biến thành xấu xa khủng khiếp. Lý Thu Thủy nói: "Nhiều năm trước, có kẻ đã dùng mũi kiếm vạch vào mặt ta đến thế này. Tiểu sư phụ chùa Thiếu Lâm thử nghĩ xem có nên trả thù hay không?" Mụ nói xong lại từ từ kéo khăn xuống che mặt, Hư Trúc hỏi lại: "Là.. là Đồng Mỗ đã hại thí chủ ư?" Lý Thu Thủy đáp: "Tiểu sư phụ hỏi y thử xem."

Đồng Mỗ tuy máu chảy ra như suối mà vẫn không ngất xỉu, lên tiếng đáp: "Đúng rồi! Chính ta đã vạch vào mặt nó. Năm ta hai mươi sáu tuổi, luyện công sắp đến ngày thành tựu, thân thể có thể phát triển như một thiếu nữ bình thường. Nhưng lúc đó nó hại ta tẩu hóa nhập ma, thân thể vĩnh viễn thế này. Theo ngươi thì mối thù này có nên báo hay không?"

Hư Trúc ngước lên nhìn Lý Thu Thủy, nghĩ thầm: "Nếu Đồng Mỗ nói đúng sự thực, thì Lý Thu Thủy là người gây ác nghiệt trước."

Đồng Mỗ lại nói: "Hôm nay ta đã lọt vào tay mi, nói nhiều cũng vô ích. Còn vị tiểu hòa thượng này là bạn vong niên với Vô Nhai Tử, mi không được động đến một sợi tóc. Nếu mi càn rỡ thì y không tha mi đâu." Mụ nói xong, nhắm nghiền mắt lại, mặc cho địch nhân muốn giết muốn mổ thế nào cũng được.

Lý Thu Thủy thở dài đáp: "Sư tỉ đã lớn tuổi hơn mà cũng thông minh hơn, nhưng hôm nay muốn gạt tiểu muội thì không phải là chuyện dễ đâu. Sư tỉ đã nói y.. y hiện nay hãy còn trên thế gian thì cái nhẫn thất bảo này sao lại lọt vào tay sư tỉ được? Vị tiểu sư phụ này với tiểu muội không thù không oán, vả lại tiểu muội vốn nhát gan, chẳng dám gây thù với phái Thiếu Lâm là núi Thái Sơn là sao Bắc Đẩu trong võ lâm. Tiểu muội không đả thương y đâu, sư tỉ đừng ngại gì hết. Tiểu muội có mang theo hai viên Cửu Chuyển Hùng Xà Hoàn, xin sư tỉ uống vào cho vết thương đừng chảy máu nữa."

Hư Trúc nghe bà gọi một điều tỉ tỉ, hai điều tỉ tỉ, giọng nói cực kỳ thân thiết, nhưng nhớ lại lúc nãy Đồng Mỗ cũng bắt Ô Lão Đại uống hai viên Cửu Chuyển Hàng Xà Hoàn, bất giác trên lưng toát mồ hôi lạnh.

Đồng Mỗ nổi giận nói: "Ngươi muốn giết ta thì cứ việc động thủ, còn muốn ép ta uống Đoạn Cân Hủ Cốt Hoàn để hành hạ sỉ nhục thì đừng có nằm mơ." Lý Thu Thủy dịu dàng đáp: "Tiểu muội một lòng kính ái mà tỉ tỉ cứ hiểu lầm hoài. Vết thương trên chân tỉ tỉ chảy máu nhiều quá xem chừng bất ổn, tỉ tỉ uống hai viên thuốc này là hơn." Hư Trúc nhìn tay bà ta, những ngón tay tháp bút trắng như ngọc đang cầm hai viên thuốc màu vàng, giống hệt như thuốc mà Ô Lão Đại uống lúc trước. Nhà sư nghĩ thầm: "Đồng Mỗ vừa tác ác, nghiệp báo đã nhỡn tiền thật là mau lẹ."

Đồng Mỗ la lên: "Tiểu hòa thượng! Ngươi phóng chưởng đánh vào đỉnh đầu cho ta chết đi, đừng để con tiện nhân này bắt ta phải chịu đau đớn nhục nhã nữa." Lý Thu Thủy cười nói: "Tiểu sư phụ mệt lắm rồi, bây giờ phải nằm nghỉ một chút." Đồng Mỗ tức quá, trong ngực đau nhói lên, thổ ra một búng máu. Lý Thu Thủy lại nói: "Sư tỉ chân dài chân ngắn, nếu để y trông thấy thì thật khó coi. Một vị mỹ nhân như sư tỉ mà bên cao bên thấp thì hóa ra lệch lạc, tất y không khỏi chán ghét. Để tiểu muội giúp sư tỉ cân đối cho hai chân bằng nhau." Bà vừa dứt lời, ánh bạch quang lóe lên, trong tay đã cầm khí giới.

Lần này Hư Trúc nhìn rõ bà ta cầm một lưỡi trủy thủ trong suốt, dường như chế bằng thủy tinh, Lý Thu Thủy cố kéo dài cuộc hành hạ Đồng Mỗ cho thêm khủng khiếp bõ ghét, nên không ra tay mau lẹ, cứ cầm lưỡi trủy thủ nhắp lên nhắp xuống trước chân phải Đồng Mỗ.

Hư Trúc cả giận nghĩ thầm: "Mụ này thật là tàn nhẫn." Trong lòng y khích động mãnh liệt, Bắc Minh Chân Khí trong thân thể cuồn cuộn xông lên, lập tức y cảm thấy hai chân mình tự giải khai huyệt đạo, hành động không bị trở ngại gì nữa. Hư Trúc không nghĩ gì nhiều, xông lại ẵm Đồng Mỗ lên, hướng về phía đỉnh núi mà chạy.

Lúc Lý Thu Thủy dùng kỹ thuật Hàn Tụ Phất Huyệt hất ngã Hư Trúc, bà đã biết võ công nhà sư rất tầm thường nên chẳng coi vào đâu, rồi bỏ mặc nhà sư nằm đó để quay lại hành hạ Đồng Mỗ. Lý Thu Thủy cho rằng có thêm người chứng kiến thì sự hành hạ của mình lại thêm mấy phần hứng thú, định bụng chờ đến sau cùng mới hạ sát nhà sư để diệt khẩu. Ngờ đâu nhà sư tự giải khai được huyệt đạo, bất thình lình ôm Đồng Mỗ, chạy xa tới năm sáu trượng. Lý Thu Thủy rảo bước đuổi theo, cười nói: "Tiểu sư phụ đã bị sư tỉ của ta làm cho mê mẩn tâm thần rồi chăng? Sư tỉ của ta tuy là nguyệt thẹn hoa nhường, nhưng đã chín mươi sáu tuổi rồi, không phải là một vị cô nương mười bảy mười tám đâu nhé!" Bà ỷ mình có bản lĩnh cao cường, cho là chỉ trong khoảnh khắc sẽ đuổi kịp. Bà ta vừa đuổi vừa nghĩ: "Thằng trọc con này mà có luyện công từ lúc còn trong bụng mẹ, thì cũng có hơn hai chục năm công lực là cùng." Ngờ đâu khoảng cách chỉ chừng năm sáu trượng mà Lý Thu Thủy đuổi mãi vẫn không kịp. Bà vừa kinh ngạc vừa tức giận gọi: "Tiểu sư phụ! Nếu tiểu sư phụ không chịu dừng lại thì ta sẽ phóng chưởng đánh cho bị thương."

Đồng Mỗ biết sư muội mình võ công biến ảo khôn lường, chỉ phóng vài phát chưởng là lấy mạng Hư Trúc ngay, rồi mình cũng lọt vào tay hắn. Mụ liền nói: "Tiểu sư phụ! Đa tạ ngươi có lòng tốt cứu ta, nhưng chúng ta không địch nổi con tiện nhân kia đâu. Ngươi quẳng ta xuống núi cho rồi, không chừng hắn không sát hại ngươi nữa."

Hư Trúc đáp: "Không.. thể nào thế được." Nhà sư chỉ nói mấy tiếng mà chân khí đã tiết ra, chạy chậm lại một chút, nên Lý Thu Thủy đuổi đến nơi. Đột nhiên nhà sư thấy từ sau lưng thổi tới một luồng gió lạnh buốt như một khối băng áp vào da thịt, rồi lao đi không gượng được, thân thể rớt xuống khe núi. Y biết mình đã bị Lý Thu Thủy dùng chưởng lực âm hàn đánh trúng, nhưng hai tay vẫn ôm chặt Đồng Mỗ, để người rớt xuống, nghĩ thầm: "Rớt xuống đây thì xương thịt sẽ tan nát ra như một đống bùn."

Hư Trúc còn văng vẳng nghe tiếng Lý Thu Thủy vọng từ trên núi xuống: "Chao ôi! Ta xuất thủ nặng quá, thế là khoan hồng cho mụ mất rồi." Thì ra ngọn núi này có một cái khe, nhưng tuyết phủ lấp nên không nhìn thấy. Lý Thu Thủy chỉ dự định phóng chưởng cho Hư Trúc ngã ra, rồi bắt lấy Đồng Mỗ, dùng những phương pháp cực kỳ tàn ác để hành hạ. Không ngờ Hư Trúc trượt chân trên mặt tuyết, rồi cùng Đồng Mỗ rớt xuống khe núi.

Hư Trúc chỉ thấy người mình chơi vơi, không tự chủ được, đành để cho rơi thẳng xuống, bên tai nghe tiếng gió vù vù. Tuy khoảng thời gian này chỉ trong chớp nhoáng mà nhà sư tưởng chừng như dài vô tận, vĩnh viễn không tới nơi. Trước mắt y chỉ thấy làn tuyết trắng xóa trên sườn núi như vù vù xô tới mình nhanh đến chóng mặt, nhưng mắt y bỗng hoa lên, thấy trong đám tuyết có mấy chấm đen đang chuyển động. Nhà sư chưa kịp nhìn kỹ thì đã rơi gần đến đất.

Bất thình lình có tiếng người hỏi: "Ai đó?", rồi một đạo kình lực chạm vào lưng Hư Trúc, đẩy ngang ra. Hư Trúc chưa chạm đất đã bắn chênh chếch ra, giật mình liếc thấy người vừa ra tay đẩy mình là Mộ Dung Phục. Hư Trúc cả mừng, toan liệng Đồng Mỗ ra cho Mộ Dung Phục nhận lấy, cứu được một mạng.

Thì ra Mộ Dung Phục thấy hai người từ trên ngọn núi té nhào xuống không biết là ai, liền xuất tuyệt kỹ gia truyền Đẩu Chuyển Tinh Di, đổi chiều đà rớt xuỗng thành tạt ngang ra. Chiêu Đẩu Chuyển Tinh Di này y vẫn chưa hết kình lực, mà lực đạo của hai người rơi xuống lại quá mãnh liệt, Mộ Dung Phục tức thì choáng váng hoa mắt, muốn ngồi thụp xuống.

Hư Trúc tuy muốn tung Đồng Mỗ ra, nhưng bị lực đạo quá mạnh đè ép nên không thể tung ra được, bay ra mười mấy trượng rồi lại rớt xuống. Đột nhiên chân nhà sư đáp vào một vật gì vừa mềm nhũn vừa đàn hồi nghe "bịch" một tiếng, thân thể lại bắn lên không. Trong nháy mắt, y nhìn thấy một người thấp lủn thủn mà béo tròn như quả bóng nằm lăn ra đó, rõ ràng là Tang Thổ Công. Chuyện ngẫu nhiên này thật là kỳ lạ! Hư Trúc lúc rớt xuống đáp hai chân vào bụng y, y lập tức vỡ bụng lòi ruột chết liền, nhưng cũng nhờ thế mà hai chân Hư Trúc không đến nỗi bị gãy nát. Hư Trúc bị hất văng ra không tự chủ được, bay ngang đi, xông vào một người lờ mờ trông như Đoàn Dự. Hư Trúc la lên: "Đoàn tướng công! Mau mau tránh ra, tiểu tăng đang bay tới đó."

Đoàn Dự thấy Hư Trúc bay tới rất gấp, chắc mình không đỡ nổi, nhưng cũng la lên: "Để ta đỡ ngươi" rồi quay lưng lại hứng lấy, đồng thời chuyển thân sử dụng phép Lăng Ba Vi Bộ chạy về phía trước. Trong giây lát, Đoàn Dự cảm thấy trên lưng bị đè ép cơ hồ nghẹt thở, nhưng mỗi lần cất bước chân, luồng lực đạo trên lưng lại giảm bớt đi một chút, bèn cứ thế chạy hơn ba chục bước. Hư Trúc từ trên lưng Đoàn Dự nhẹ nhàng tuột xuống.

Hai người từ trên cao mấy trăm trượng rớt xuống, đầu tiên được Mộ Dung Phục ra chiêu Đẩu Chuyển Tinh Di lái chếch đi đã giảm sức mạnh được một phần, kế đó được da bụng Tang Thổ Công hất lên, cuối cùng được Đoàn Dự cõng trên lưng chạy vòng vèo, qua ba lần chuyển tiếp mới hạ xuống đất nên chẳng bị thương chút nào. Hư Trúc đứng thẳng người lên nói: "A Di Đà Phật! Đa tạ các vị đã cứu cho!" Y không biết mình vừa đạp chết Tang Thổ Công, nếu không chắc sẽ áy náy vô cùng. Bỗng thấy có tiếng la từ trên sườn núi vọng xuống. Đồng Mỗ từ lúc bị chặt chân, tuy mất máu nhiều, nhưng thần trí vẫn tỉnh táo, kinh hãi nói: "Nguy rồi! Con tiện nhân lại đuổi tới nơi. Chạy mau đi! Chạy mau đi!" Hư Trúc nghĩ đến Lý Thu Thủy lòng dạ độc ác, thủ đoạn tàn nhẫn, thì bất giác rùng mình, vội ôm xốc Đồng Mỗ lên chạy vào trong rừng.

Lý Thu Thủy theo sườn núi chạy xuống, dù khinh công bà mau lẹ vô cùng, nhưng so với Hư Trúc rớt thẳng xuống thì dĩ nhiên không bằng được. Thực ra bà còn cách rất xa, nhưng Hư Trúc sợ hãi quá, chạy như bay như biến không dám dừng lại chút nào. Chạy hơn một trăm dặm nữa, Đồng Mỗ đột nhiên lên tiếng: "Ngươi buông ta xuống, xé áo buộc vết thương lại, dừng để vết máu cho địch nhân biết đường mà đuổi. Ngươi lại điểm vào hai huyệt đạo Hoàn Khiêu và Thừa Môn cho máu ngưng chảy." Hư Trúc đáp: "Vâng", rồi làm theo lời mụ, vẫn nơm nớp lắng tai nghe xem Lý Thu Thủy có động tĩnh gì không. Đồng Mỗ móc trong bọc ra một viên thuốc sắc vàng uống ngay rồi nói: "Con tiện nhân kia đối với ta có một mối thù sâu tựa bể, thể nào hắn cũng không chịu buông tha đâu. Ta còn phải bảy mươi chín ngày nữa mới hoàn nguyên được, lúc đó thì không sợ gì hắn. Nhưng trong bảy mươi chín ngày này, ta trốn đâu cho được bây giờ?".

Hư Trúc cũng gãi đầu, nghĩ: "Biết trốn ở đâu được bảy mươi chín ngày?" Bỗng nhiên Đồng Mỗ lẩm bẩm: "Chùa Thiếu Lâm là nơi ẩn náu tuyệt diệu hơn hết." Hư Trúc nghe vậy sợ quá, giật bắn người lên. Đồng Mô tức giận nói: "Gã hòa thượng chết đâm này, sao ngươi phải sợ đến thế? Từ đây đến chùa Thiếu Lâm đường xa ngàn dặm, làm sao tới đó được?" Rồi mụ nghiêng đầu đi nói: "Từ đây đi thẳng về phía Tây, chỉ hơn trăm dặm nữa là đến nước Tây Hạ. Con tiện nhân kia có mối quan hệ sâu xa với nước này, nếu hắn quay về ra lệnh cho bọn cao thủ trong Nhất Phẩm Đường chia nhau đi lùng bọn ta, thì khó mà tránh khỏi độc thủ của chúng. Tiểu hòa thượng! Ngươi tính chúng ta trốn đi đâu cho phải?" Hư Trúc đáp: "Chúng ta tìm những sơn động nơi rừng sâu núi thẳm mà trốn thì trong vòng bảy tám chục ngày vị tất lệnh sư muội đã tìm được đến nơi." Đồng Mỗ nói: "Ngươi chẳng có kiến thức chút nào. Con tiện nhân đó mà không tìm được chúng ta, nhất định quay về Tây Hạ gọi đàn chó săn, hơn bảy ngàn con chó ngao thính mũi vô cùng, bất luận chúng ta nấp ở đâu thì chúng cũng tìm được lôi về." Hư Trúc nói: "Vậy thì chúng ta chạy về hướng Đông Nam, càng xa nước Tây Hạ chừng nào càng tốt chừng ấy."

Đồng Mỗ hắng giọng nói: "Con tiện nhân kia rất nhiều tai mắt. Hướng Đông Nam chắc thị đã bố trí vô số nhân mã." Mụ trầm ngâm một chút, đột nhiên vỗ tay nói tiếp: "Được rồi! Thế Trân Lung bí hiểm bữa trước ngươi phá được đó, nước đầu tiên tuyệt diệu ở chỗ nào?" Hư Trúc đang gặp lúc vô cùng nguy ngập, còn đầu óc nào mà nghĩ đến cách bình luận thế cờ. Nhà sư liền đáp: "Tiểu tăng nhắm mắt đặt liều con cờ xuống, lấp mất lối thoát của bên mình, tự giết mất một số lớn quân."

Đồng Mỗ cả mừng nói: "Phải rồi! Mấy chục năm nay biết bao nhiêu bậc thông minh tài trí gấp trăm ngươi mà chẳng ai phá nổi thế cờ bí hiểm, chỉ vì chẳng ai dám lẩn vào đường chết. Tiểu hòa thượng! Ngươi cõng ta nhảy lên ngọn cây; mau mau chạy về phía Tây, thế là tuyệt diệu." Hư Trúc hỏi: "Tiền bối định chạy tới đâu?" Đồng Mỗ đáp: "Chúng ta đi đến nơi cực kỳ nguy hiểm mà không ai ngờ tới. Phải đặt mình vào tuyệt địa thì mới sống được, cần phải mạo hiểm một phen."

Hư Trúc nhìn chân mụ, buông một tiếng thở dài rồi lẩm bẩm: "Mụ đã không đi được nữa, mình chẳng mạo hiểm thì cũng không còn cách nào khác." Nhà sư thấy Đồng Mỗ bị trọng thương, nên chẳng nghĩ gì đến "nam nữ thọ thọ bất thân" nữa, bèn cõng mụ nhắm hướng Tây mà chạy.

Nhà sư chạy một hơi mười dặm, chợt nghe có thanh âm uyển chuyển từ xa vọng lại: "Tiểu hòa thượng! Tiểu hòa thượng ngã xuống đã chết chưa? Sư tỉ ơi! Sư tỉ ở chỗ nào? Tiểu muội nhớ sư tỉ vô cùng! Mau mau ra đây với tiểu muội!" Hư Trúc nhận ra thanh âm Lý Thu Thủy thì sợ hãi quá, hai chân nhũn ra, suýt nữa từ trên ngọn cây té xuống.

Đồng Mỗ cất tiếng mắng: "Thằng trọc ngu ngốc vô dụng này, có gì đáng sợ đâu? Ngươi phải nghe thấy tiếng con tiện nhân mỗi lúc một xa, như vậy có phải hắn đang rượt về phía Đông mà mình đang chạy về phía Tây không?"

Hư Trúc để ý nghe kỹ, quả nhiên tiếng gọi của Lý Thu Thủy mỗi lúc một xa dần, lại càng bội phục Đồng Mỗ là người khôn ngoan tinh tế. Y ngập ngừng hỏi: "Bà ấy.. sao bà ấy biết chúng ta trên sườn núi cao rớt xuống vực thẳm sâu hàng trăm trượng mà chưa chết?" Đồng Mỗ đáp: "Dĩ nhiên là hắn hỏi những người ở đó." Mụ ngẫm nghĩ một lát rồi nói tiếp: "Mấy chục năm nay, mỗ mỗ chỉ ở trên núi Phiêu Diểu, không hạ sơn lần nào, thành ra không biết võ học trên đời ngày nay tiến triển mau lẹ đến thế? Gã thanh niên công tử kia biết cách hóa giải thế mạnh của chúng ta từ trên cao rớt xuống, dùng phép tá lực đả lực phóng chưởng ra mượn sức người để hất đi, đã đến độ xuất thần nhập hóa. Thế rồi lại còn một thằng lỏi nữa không hiểu là ai mà lại biết phép Lăng Ba Vi Bộ.." Mụ tự hỏi mình, chứ không hỏi gì đến Hư Trúc. Hư Trúc cũng sợ Lý Thu Thủy đuổi kịp, nên chỉ đề khí cắm đầu cắm cổ chạy, chẳng buồn để lọt tai những lời bình luận của Đồng Mỗ.

Hư Trúc đã chạy dưới đất rồi, nhưng vẫn phải tìm những lối đi nhỏ hẹp. Đêm đến hai người chui vào bụi rậm mà ngủ, sáng hôm sau lại đi sớm. Đồng Mỗ vẫn chỉ về phía Tây mà chạy. Hư Trúc chợt nhớ ra, hỏi: "Tiền bối! Mình cứ chạy về phía Tây, chẳng bao lâu nữa sẽ chạy vào địa phận nước Tây Hạ thì làm thế nào? Tiểu tăng nghĩ rằng chúng ta đừng chạy về phía Tây nữa." Đồng Mỗ cười nhạt hỏi: "Tại sao chúng ta không nên chạy về phía Tây?" Hư Trúc đáp: "Chẳng may mình chạy vào địa phận nước Tây Hạ, chẳng phải là tự chui đầu vào bẫy hay sao? Đồng Mỗ nói:" Chỗ ngươi đang chạy đây cũng là bờ cõi nước Tây Hạ rồi đó.. "

Hư Trúc thất kinh la hoảng:" Sao? Chỗ này là đất Tây Hạ rồi ư? Tiền bối đã.. đã nói lệnh sư muội có thế lực rất lớn ở nước Tây Hạ kia mà? "Đồng Mỗ cười đáp:" Phải rồi! Tây Hạ là nơi con tiện nhân đó mặc sức hoành hành, muốn làm mưa làm gió thế nào cũng được. Chúng ta xông thẳng vào nơi trọng địa của hắn mới là diệu kế. Không khi nào hắn đoán ra được mình ngồi yên ổn trong sào huyệt của hắn để tu luyện, hắn cứ việc đi khắp nơi mà tìm mà kiếm. "Mụ lấy làm đắc ý, bật lên một tràng cười khanh khách, rồi nói tiếp:" Tiểu hòa thượng! Đây là ta đã học được ngươi, một nước cờ ngu ngốc chẳng hợp lý chút nào mà lại thành ra nước cờ tuyệt diệu. "

Hư Trúc trong lòng bội phục, cất tiếng khen:" Tiền bối liệu việc như thần, quả nhiên không ai biết đâu mà lường được. Có điều.. "Đồng Mỗ hỏi:" Có điều làm sao? "Hư Trúc đáp:" Nơi trong địa của Lý Thu Thủy chỉ sợ còn nhiều người khác. Nếu bọn họ khám phá ra hành tung của mình thì.. "Đồng Mỗ đằng hắng ngắt lời:" Hừ! Nếu là chỗ không có ai thì sao gọi là mạo hiểm được? Có dấn thân vào chỗ cực kỳ nguy hiểm mới đáng mặt anh hùng hảo hán. "Hư Trúc lẩm bẩm:" Giả tỉ vì việc cứu nhân độ thế thì có dấn thân vào nơi nguy hiểm cũng chẳng sao. Nhưng mụ này cùng Lý Thu Thủy kẻ tám lạng người nửa cân, chẳng ai là người tốt. Mình mạo hiểm vì mụ thì thật là phí công vô ích! ".

Đồng Mỗ thấy vẻ mặt Hư Trúc phân vân dường như có ý hối tiếc, đoán ra ý nghĩ của y liền nói:" Ta bảo ngươi mạo hiểm cho ta, thì sẽ đền bồi cho ngươi, không để ngươi khó nhọc vô ích đâu. Ta sẽ dạy cho ngươi ba đường chưởng pháp, ba đường cầm nã thủ pháp. Hai lộ công phu này gọi chung là Thiên Sơn Chiết Mai Thủ. "

Hư Trúc nói:" Tiền bối trọng thương chưa khỏi, chẳng nên phí sức nhọc lòng, hãy nghỉ ngơi ít lâu là hơn. "Đồng Mỗ đảo mắt nhìn nhà sư rồi nói:" Ngươi chê bai công phu của ta thuộc bàng môn tả đạo nên không muốn học phải chăng? "Hư Trúc ấp úng đáp:" Cái đó.. cái đó.. tiểu tăng không có ý nghĩ như vậy đâu. Tiền bối đừng hiểu lầm! "Đồng Mỗ nói:" Ngươi là người đích truyền của phái Tiêu Dao, Thiên Sơn Chiết Mai Thủ là võ công thượng thừa của bản môn, sao ngươi không học? "Hư Trúc đáp:" Vãn bối là đệ tử Thiếu Lâm, không có can hệ gì đến phái Tiêu Dao hết. "

Đồng Mỗ nói:" Hừ! Nội lực trong người ngươi là của phái Tiêu Dao, còn nói là không liên can gì ư? Thật là ăn nói hồ đồ. Thiên Sơn Đồng Mỗ từ xưa đến nay không làm những việc lợi cho người mà không lợi cho mình. Ta dạy võ công cho ngươi là vì muốn mượn tay ngươi kháng cự cường địch. Ngươi mà không học sáu chiêu Thiên Sơn Chiết Mai Thủ thì chắc chắn bỏ mạng ở Tây Hạ ". Hư Trúc đáp:" Vâng. "Y thấy mụ này tuy chẳng lương thiện gì, nhưng quang minh lỗi lạc có sao nói vậy, có thể nói là chân tiểu nhân.

Đồng Mỗ bèn đem khẩu quyết của chiêu đầu tiên trong Thiên Sơn Chiết Mai Thủ ra dạy cho Hư Trúc. Khẩu quyết này có mười hai câu, mỗi câu bảy chữ, tổng cộng là tám mươi tư chữ. Hư Trúc có trí nhớ rất tốt, Đồng Mỗ chỉ đọc ba lượt là y đã nhớ hết. Nhưng tám mươi tư chữ này âm vận rất khó đọc, bảy chữ bình thanh lại kế đến bảy chữ trắc thanh, tựa như những bài vè để đố nhau đọc nhanh. May mà Hư Trúc đã quen đọc những câu đại loại như" Thích Bản đa, bát đản la "," Kiết đế, kiết đế, ma ha táng kiết đế "trơn như cháo chảy nên cũng thuận lợi phần nào.

Đồng Mỗ nói:" Ngươi cõng ta nhằm phía Tây mà chạy, vừa chạy vừa đọc lại khấu quyết. "Hư Trúc làm theo lời mụ, không ngờ chỉ đọc được ba chữ đầu, đến chữ thứ tư là chữ" Phù "thì không sao thốt ra, phải dừng bước lấy hơi mới đọc lên được. Đồng Mỗ giơ tay lên vỗ vào đỉnh đầu y rồi mắng:" Hòa thượng nhóc vô dụng! Mới câu đầu mà đã đọc không ra. "Mụ vỗ không mạnh lắm nhưng trúng ngay huyệt Bách Hội, Hư Trúc lạng người đi một cái, đầu óc choáng váng. Y đọc lại khẩu quyết, lại đến chữ thứ tư thì bị vấp. Đồng Mỗ lại đập nhà sư một chưởng nữa.

Hư Trúc kinh ngạc tự hỏi:" Sao mình cứ đọc đến chữ Phù là bị vấp không nói ra được? "Y đề tụ chân khí đầy đủ, lại đọc lần thứ ba, chữ" Phù "bật ra khỏi miệng. Đồng Mỗ cười nói:" Tốt lắm! Qua được một cửa rồi! "Thì ra bài khẩu quyết này gồm toàn những cấu trúc trắc khó đọc, không nhịp nhàng theo sự hô hấp bình thường. Ngay lúc ngồi yên đã khó đọc lên, huống chi nhà sư vừa chạy vừa đọc nên càng khó phát âm hơn nữa. Học bài khẩu quyết này cũng là một phương pháp để điều hòa chân khí.

Đến giờ ngọ, Đồng Mỗ bảo Hư Trúc đặt mụ xuống. Mụ nhặt một viên đá nhỏ, bật ngón tay trỏ đánh véo một cái, bắn lên không trung trúng một con quạ rớt xuống. Mụ bắt lấy, hút máu tươi, rồi ngồi luyện môn Bát Hoang Lục Hạp Duy Ngã Độc Tôn. Đồng Mỗ lúc này đã khôi phục công lực bằng lúc mười bảy tuổi, so với Lý Thu Thủy thì chưa vào đâu, nhưng đã đủ sức bật ngón tay bắn con quạ rơi xuống một cách dễ dàng.

Đồng Mỗ luyện công xong, lại bảo Hư Trúc cõng mình lên đọc khẩu quyết. Lúc y đọc được trôi chảy rồi, mụ bảo y đọc ngược lại. Bài khẩu quyết này đọc xuôi vốn đã khó khăn, đọc ngược lại càng không phải chuyện dễ dàng. Nhưng Hư Trúc là người nghị lực có thừa, học chưa đến tối đã xong, đọc bài khẩu quyết này bất luận xuôi hay ngược đều rõ ràng minh bạch.

Đồng Mỗ cả mừng nói:" Tiểu hòa thượng! Thế là được rồi.. "Đột nhiên giọng mụ lạc đi, hai tay túm chặt lấy đầu Hư Trúc vừa lắc vừa đánh, miệng quát mắng om sòm:" Thằng giặc vô lương tâm này! Ngươi.. ngươi.. đã làm trò đồi bại với con tiện nhân kia rồi. Quân tiểu tặc còn định che mắt ta, lừa gạt ta ư? "

Hư Trúc cả kinh vội buông mụ xuống hỏi:" Tiền bối! Tiền bối.. bảo sao? "Mặt Đồng Mỗ tím bầm lại, hét lên:" Mi đã tư thông với con tiện nhân Lý Thu Thủy rồi phải không? Mi còn cãi nữa thôi? Mi đã chịu thừa nhận chưa? Nếu không thế thì sao nó lại đem Tiểu Vô Tướng Công truyền cho mi? Đồ tiểu tặc! Mi.. mi làm cho ta đau khổ biết chừng nào. "Hư Trúc không hiểu gì hết, xoa đầu hỏi lại:" Tiền bối! Tiểu Vô Tướng Công là cái gì? "Đồng Mỗ thộn mặt ra rồi định thần lại, lau ráo nước mắt, thở dài nói:" Không có gì. Sư phụ ngươi đối với ta không tốt. "

Thì ra Hư Trúc đọc bài khẩu quyết khó khăn này lưu loát khác thường, lúc tập đọc ngược lại càng trôi chảy. Đồng Mỗ bất giác tưởng y đã luyện môn Tiểu Vô Tướng Công. Tuy mụ cùng Vô Nhai Tử và Lý Thu Thủy ba người cùng học một thầy, nhưng mỗi người có một tuyệt nghệ riêng, sở học có nhiều điểm không giống nhau. Sư phụ chỉ truyền môn Tiểu Vô Tướng Công cho một mình Lý Thu Thủy. Đó là một môn thần công lợi hại vô cùng, Đồng Mỗ đã mấy lần ám hại, nhưng Lý Thu Thủy nhờ môn Tiểu Vô Tướng Công mà giữ được mạng. Đồng Mỗ tuy không hiểu môn này, nhưng chỗ diệu dụng của nó thế nào mụ đã biết hết. Bây giờ mụ phát giác ra trong người Hư Trúc chẳng những có thần công này mà công lực lại rất thâm hậu, bèn tưởng Hư Trúc là Vô Nhai Tử đã phản bội mình, tư thông với Lý Thu Thủy nên mới biết Tiểu Vô Tướng Công, bèn đánh mắng y một chặp. Lúc Đồng Mỗ tỉnh ra thì vừa căm giận, vừa tự thương thân mình.

Đêm hôm ấy Đồng Mỗ nặng lời thóa mạ Vô Nhai Tử và Lý Thu Thủy suốt đêm. Hư Trúc tuy nghe mụ chửi rủa độc mồm độc miệng, nhưng y thấy tình cảnh của mụ cũng vô cùng thống khổ nên rất thông cảm, lại đâm ra thương hại. Hư Trúc bèn kiếm lời khuyên can Đồng Mỗ:" Tiền bối! Nhân sinh vô thường, vô thường thị khổ. Người ta chịu khổ phần nhiều là do ba cái độc tham, sân, si mà ra. Giả tỉ tiền bối cố gắng tự tiêu trừ ba cái độc này, đừng nhớ đừng hận sư đệ sư muội của tiền bối nữa, thì trong lòng sẽ thấy dễ chịu hơn. "Đồng Mỗ cả giận mắng:" Ta phải nhớ đến tên sư phụ vô lương tâm của ngươi, phải hận đến tên sư thúc ti tiện không biết xấu hổ của ngươi. Ta càng nhớ càng hận thì càng phiền não, càng thấy nhẹ lòng hơn. "Hư Trúc lắc đầu, không dám nói thêm nữa.

Hôm sau Thiên Sơn Đồng Mỗ lại truyền thụ cho Hư Trúc khẩu quyết về chưởng pháp thứ hai. Đến buổi chiều ngày thứ năm, hai người bỗng thấy phía trước có một tòa thành lớn. Đồng Mỗ nói:" Đây là Linh Châu, thành đô nước Tây Hạ. Ngươi còn mấy khẩu quyết về phép cầm nã chưa thuộc hết. Đêm nay chúng ta phải tạm trú ngoài cửa Tây thành Linh Châu, sáng mai đi tiếp hai trăm dặm nữa rồi mới quay lại thành. "Hư Trúc ngạc nhiên hỏi:" Sao chúng ta phải quay lại Linh Châu? "Đồng Mỗ đáp:" Đương nhiên phải đến Linh Châu, không thì sao gọi là vào nơi hiểm địa được? "

Lại một ngày nữa, Hư Trúc đã thuộc hết khẩu quyết về sáu chiêu Thiên Sơn Chiết Mai Thủ. Đồng Mỗ nhân lúc ở ngoài cánh đồng rộng, lại dạy cho y cách áp dụng những khẩu quyết đó, vì mụ bị đứt một chân nên phải ngồi bệt xuống đất để chỉ điểm. Thiên Sơn Chiết Mai Thủ tuy chỉ có sáu chiêu nhưng bao hàm hết tinh túy về võ học của phái Tiêu Dao. Trong chưởng pháp và cầm nã thủ lại bao gồm cách phá giải những tuyệt chiêu về kiếm pháp, đao pháp, tiên pháp, chưởng pháp, trảo pháp, cùng những binh khí khác. Vì môn này biến hóa thâm diệu rất là phức tạp nên Hư Trúc không thể trong một lúc mà học quá nhiều. Thiên Sơn Đồng Mỗ nói:" Vĩnh viễn không có ai học được hoàn toàn môn Thiên Sơn Chiết Mai Thủ của ta. Sau này nội công ngươi càng cao thì hiểu biết càng rộng, bất luận là những chiêu thức võ công nào trong thiên hạ, ngươi chỉ dùng sáu chiêu Chiết Mai Thủ là hóa giải được hết. Khẩu quyết thì ngươi đã thuộc lòng cả rồi. Từ nay trở đi, đạt tới trình độ nào là tùy ở ngươi. "

Hư Trúc đáp:" Sở dĩ vãn bối học mấy chiêu Thiên Sơn Chiết Mai Thủ là vì lý do bảo vệ cho tiền bối mà thôi. Đến khi tiền bối phục hồi toàn bộ võ công, vãn bối sẽ quay về chùa, cố gắng quên hết võ công của tiền bối dạy cho, tập luyện võ công Thiếu Lâm lại từ đầu. "

Thiên Sơn Đồng Mỗ ngó qua ngó lại khuôn mặt Hư Trúc, tựa hồ như đang thấy một quái vật gì hiếm thấy trên đời, nét mặt ra chiều kinh dị. Hồi lâu mụ mới thở dài nói:" Thiên Sơn Chiết Mai Thủ của ta so với võ công phái Thiếu Lâm còn cao thâm ảo diệu hơn nhiều. Ngươi cố gắng ghi nhớ những khẩu quyết mà ta đã dạy, sau này sẽ luyện thành vô địch thiên hạ, còn cứ khư khư giữ lấy phái Thiếu Lâm thì chẳng khác gì bỏ ngọc quý để giữ lấy một mảnh ngói tầm thường, thật là ngu dốt hết chỗ nói! Ngươi quả không phải là một tên tiểu hòa thượng vong bản, dễ dàng quên nguồn gốc. Bây giờ hãy nhắm mắt nghỉ ngơi một chút, chờ tối hẳn sẽ vào thành Linh Châu. "

Vào khoảng canh hai đêm ấy, Đồng Mỗ bảo Hư Trúc cõng mình lên vai, chạy thẳng tới thành Linh Châu. Đến nơi, nhà sư liền nhảy lên tường thành, từ từ hạ mình xuống. Trong ngoài thành đều phòng bị rất nghiêm mật, từng đội kỵ binh thiết giáp cầm đuốc đi lại tuần tiễu. Quân đội nước Tây Hạ binh cường mã tráng, uy thế cực thịnh. Chuyến này Hư Trúc ra khỏi chùa xuống núi, dọc đường đã gặp quân Tống nhan nhản, nhưng so với quân đội Tây Hạ thì thấy còn kém xa.

Đồng Mỗ thì thầm chỉ điểm, bảo y nhắm hướng tây bắc mà đi sát vào chân tường. Hư Trúc đi chừng được hơn ba dặm, bỗng thấy lầu viện cao ngất trời, nhà cửa san sát, kiến trúc cực kỳ hùng vĩ. Trên nóc nhà lợp bằng ngói lưu ly, ánh sáng chói lọi. Hư Trúc thấy những tòa nhà này cũng tương tự như những lầu viện trong chùa Thiếu Lâm nhưng rực rỡ xa hoa hơn nhiều. Y khẽ nói:" A di đà Phật! Thì ra nơi đây cũng có một ngôi chùa lớn. "Đồng Mỗ không nhịn được, bật cười nói:" Tiểu hòa thượng thật không có kiến thức chi hết. Đây là hoàng cung nước Tây Hạ, chùa ở đâu ra? "Hư Trúc giật mình hỏi lại:" Đây là hoàng cung ư? Chúng ta vào đây làm chi? "

Đồng Mỗ đáp:" Để nhờ Hoàng đế che chở cho. Lý Thu Thủy không tìm thấy thi thể ta, biết ta chưa chết, chắc sẽ tìm kiếm khắp nơi. Trong vòng hai ngàn dặm vuông, chỉ có một nơi hắn không sục đến, chính là nhà hắn. "Hư Trúc nói:" Tiền bối thật là thông minh cao kiến. Chúng ta trốn được một ngày là công lực tiền bối lại tăng thêm được một năm. Vậy chúng ta cứ tìm nhà Lý Thu Thủy mà ẩn. "Đồng Mỗ đáp:" Đây chính là nhà y.. Cẩn thận, có người tới! "

Hư Trúc rút người lại, nấp vào góc tường, bỗng thấy bốn bóng người từ hướng đông đi tới, rồi hướng tây cũng có bốn người. Lúc tám người gặp nhau, họ khẽ vỗ tay một cái rồi quay trở lại, thân pháp rất mau lẹ, chắc chắn võ công không phải tầm thường. Đồng Mỗ nói:" Bọn ngự tiền thị vệ đi khỏi rồi, ngươi mau mau nhảy vào phía trong bức tường này. Lát nữa lại có bọn khác đến tuần tiễu ngay. "Hư Trúc thấy thanh thế quá lớn thì bất giác khiếp sợ, run giọng nói:" Trong hoàng cung có rất nhiều cao thủ, không chừng họ đã phát giác ra chúng ta vào đây rồi. Thật là nguy hiểm! Chúng ta mau tìm nhà Lý Thu Thủy để trốn đi thôi. "Đồng Mỗ tức giận nói:" Ta đã nói rồi, đây chính là nhà Lý Thu Thủy. "Hư Trúc hỏi:" Sao lúc nãy tiền bối lại bảo đây là hoàng cung? "

Đồng Mỗ mắng:" Hòa thượng ngu dốt! Con tiện nhân đó là Hoàng thái phi, nhà hắn chính là hoàng cung này chứ còn ở đâu nữa? "Chuyện này thật là ra ngoài dự liệu của Hư Trúc, y còn đang ngơ ngẩn thì lại thấy bốn bóng người từ phía Bắc đi tới. Hư Trúc chờ cho bọn này đi qua, liền nói:" Tiền.. ", mới được một chữ thì Đồng Mỗ đã giơ tay ra bịt miệng y. Nhà sư còn đang ngơ ngác, bỗng thấy sau bức tường cao lại có bốn bóng người lặng lẽ đi tới, xuất hiện một cách đột ngột, tựa như đã nấp trong bóng tối từ lâu. Bốn người đi khỏi rồi, Đồng Mỗ vỗ lưng Hư Trúc nói:" Đi vào con đường nhỏ này! "

Hư Trúc thấy mười sáu người đi tuần vừa rồi, thì biết rằng mình đang ở chỗ cực kỳ nguy hiểm, nếu không có Đồng Mỗ chỉ điểm thì đã bị phát giác ra rối. Bây giờ nhà sư không nghĩ ngợi gì nữa, nhất nhất tuân theo lời Đồng Mỗ, cõng mụ đi vào đường hẻm. Hai bên đường hẻm này đều có tường cao, thực ra đây chỉ là khoảng trống giữa hai tòa lâu đài.

Hai người đi hết con đường nhỏ hẹp thì đến một khóm mẫu đơn, liền nấp một lúc chờ tám tên ngự tiền thị vệ đi khỏi, rồi lập tức băng qua một tòa giả sơn lớn. Tòa giả sơn này có lối đi quanh co khuất khúc dẫn về phía Bắc, dài đến năm sáu chục trượng. Hư Trúc nghe lời Đồng Mỗ chỉ điểm, mỗi lần chỉ đi mấy trượng rồi dừng bước chờ một lúc. Kỳ lạ thay, mỗi lần y dừng lại đều thấy bọn ngự tiền thị vệ đi tuần qua đó, tựa hồ như do Đồng Mỗ chỉ huy vậy. Chúng đi tuần những đâu, vào giờ nào mụ đều biết hết, không sai chút nào. Hư Trúc lúc ẩn lúc hiện đi chừng độ nửa giờ thì đến một khu toàn những gian nhà thấp bé sơ sài. Chỗ này không có bọn thị vệ tuần tiễu nữa.

Đồng Mỗ chỉ một căn nhà lớn ở bên trái phía trước, nói:" Vào đây! "Hư Trúc thấy trước căn nhà này có một khoảng đất trống khá rộng, trăng chiếu sáng tỏ, chung quanh chẳng có chỗ nào ấn núp được. Y liền hít mạnh một hơi chân khí rồi tung người nhảy về phía trước, thì thấy tòa nhà này xây bằng những phiến đá vuông đến năm thước, rất dày. Cửa tòa thạch thất này là tám cây tùng đều vuông vắn, ráp khít vào nhau. Đồng Mỗ nói:" Mau mau kéo cửa, vào trong đó đi! "Hư Trúc ngập ngừng hỏi:" Lệnh.. lệnh sư muội ở đây ư? "Đồng Mỗ đáp:" Không phải! Kéo cửa vào đi! "

Hư Trúc nắm lấy cái vòng sắt đóng vào cửa kéo chệch ra một bên. Cửa mở ra, bên trong lại còn một tầng cửa nữa, hơi lạnh căm căm từ bên trong toát ra. Lúc này đã tháng ba, chỉ có đỉnh núi cao là còn tuyết đọng, dưới đất thì tuyết đã tan hết, trăm hoa đua nở trông tựa gấm thêu. Thế mà tầng cửa trong này vẫn còn đóng những mảng băng lớn. Đồng Mỗ nói:" Đẩy cửa vào trong! "Hư Trúc đưa tay đẩy. Cánh cửa từ từ mở ra, mới hở chừng một thước thì khí lạnh đã xông thẳng vào mặt hai người. Hư Trúc đẩy cánh cửa mở rộng thêm ra thì thấy bên trong chất đầy những bao vải cao đến nóc, tựa như một kho lương thực. Bên trái có lối đi vào.

Nhà sư ngạc nhiên hỏi:" Sao kho lương này lại lạnh đến thế? "Đồng Mỗ cười nói:" Đóng cửa lại đi. Chúng ta vào được trong kho nước đá này là yên ổn rồi! "Hư Trúc ngạc nhiên hỏi:" Đây là kho nước đá chứ không phải kho lương ư? "Y vừa hỏi vừa đóng hai cánh cửa lại. Đồng Mỗ vui vẻ mỉm cười nói:" Ngươi vào mà coi! "

Cánh cửa đóng lại rồi, trong kho tối mù mịt, giơ bàn tay không trông rõ ngón. Hư Trúc mò mẫm đi về bên trái, càng vào sâu khí lạnh lại càng ghê gớm. Tay trái Hư Trúc đưa ra chạm vào một khối đá lạnh ngắt, biết ngay là một phiến băng. Lúc đó Đồng Mỗ bật lửa lên, thật là một cảnh tượng chưa từng thấy. Bốn phía toàn là những khối nước đá lớn vuông vắn như những viên gạch to, ánh lửa lập lòe phản chiếu lại lúc xanh lúc vàng, trông thật là kỳ ảo.

Đồng Mỗ nói:" Chúng ta phải xuống dưới. "Mụ lấy tay vịn vào những tảng nước đá, nhảy lò cò bằng chân phải, đi trước dẫn đường, đến một góc nhà có một cửa động lớn thông xuống đường hầm. Hư Trúc đi theo mụ, thấy sau cửa động có bậc đá để đi xuống. Đi hết bậc đá thì tới một gian nhà lớn cũng chứa nước đá. Đồng Mỗ nói:" Kho nước đá này chắc còn một tầng nữa. "Quả nhiên bên dưới tầng thứ hai lại còn một tầng hầm lớn nữa, cũng chứa đầy những khối nước đá.

Đồng Mỗ thổi tắt lửa, ngồi xuống nói:" Chúng ta đã vào tới tầng hầm thứ ba này thì con tiện nhân kia có ranh ma quỷ quái đến đâu cũng chưa chắc đã tìm đến nơi được. "Nói xong mụ thở phào một cái. Mấy bữa nay tuy ngoài mặt mụ vẫn trấn tĩnh như thường mà trong lòng rất nao núng, ráng tránh tai mắt của bọn cao thủ đông như kiến ở nước Tây Hạ, nên lúc nào cũng phải vận khí đề phòng, đầu óc căng thẳng, đến lúc này mới hơi yên lòng.

Hư Trúc thở dài nói:" Lạ thật! Lạ thật! "Đồng Mỗ hỏi:" Có chi mà lạ? "Hư Trúc đáp:" Trong hoàng cung nước Tây Hạ chứa làm gì những khối nước đá vô giá trị này? "Đồng Mỗ cười đáp:" Những khối nước đá này về mùa đông thì chẳng đáng gì, nhưng đến mùa nóng thì quý lắm. Ngươi thử nghĩ mà coi, những khi nóng bức mồ hôi đầm đìa, nếu có một vài tảng nước đá để bên mình sẽ sung sướng biết bao! Thế rồi trà sen, chè đậu hay nước bạc hà, bách hợp mà bỏ mấy viên nước đá vào, mùi vị sẽ thơm ngon biết mấy. "Hư Trúc hiểu ra, nói:" Tuyệt diệu! Tuyệt diệu! Nhưng đem những tảng nước đá lớn thế này vào trong kho thì tốn công không ít. Chuyện này có đáng không? "Đồng Mỗ bật cười đáp:" Hoàng đế nhất hô bách ứng thì muốn làm gì mà chẳng được, tính toán làm gì đến chuyện hao phí nhân lực? "

Hư Trúc gật đầu đáp:" Làm hoàng đế sướng thật, nhưng càng sung sướng lại càng tổn âm đức, Tiền bối đã vào đây bao giờ chưa? Mỗi khi bọn ngự tiền thị vệ tuần tra đến khu vực nào thì tiền bối đều biết hết phải không? "Đồng Mỗ đáp:" Ta tìm con tiện nhân đó để rửa hận, dĩ nhiên đã tới hoàng cung này nhiều lần chứ không phải một. Còn bọn thị vệ, thì còn cách xa mười trượng ta đã nghe rõ hơi thở của chúng rồi, có chi là lạ? "Hư Trúc đáp:" Té ra là thế! Tiền bối được trời cho một đôi thần nhĩ, người thường không thể bì kịp. "Đồng Mỗ nói:" Có phải trời cho gì đâu? Đó là do công phu luyện tập mà ra. "

Hư Trúc nghe mụ nói đến mấy chữ" công phu luyện tập ", chợt nghĩ đến trong kho nước đá này chẳng có chim muông chi hết thì lấy đâu ra máu tươi cho mụ uống mà luyện công? Y lại nghĩ dù ngoài kia có nhiều lương thực, nhưng ở trong kho băng này không có cách nào đốt lửa nấu chín được, chẳng lẽ đành ăn gạo sống?

Đồng Mỗ thấy nhà sư im lặng hồi lâu, liền hỏi:" Ngươi nghĩ gì vậy? "Hư Trúc trả lời xong, Đồng Mỗ bật cười nói:" Ngươi tưởng trong những bao tải kia là lương thực ư? Không phải đâu, đó toàn là bông gòn để giữ hơi lạnh mà thôi. Ha ha! Ngươi có thể ăn bông gòn mà sống được không? "Hư Trúc nói:" Vậy thì chúng ta phải ra ngoài tìm kiếm thức ăn ư? "Đồng Mỗ đáp:" Trong nhà bếp thiếu gì gà vịt? Có điều máu gà vịt dê lợn không được tốt bằng máu dê rừng và hươu nai trên núi tuyết mà thôi. Vậy chúng ta phải vào ngự hoa viên để bắt chim hạc, chim công hay uyên ương, anh vũ, ta hút máu, ngươi ăn thịt, thế là được rồi. "

Hư Trúc vội nói:" Không được! Không được! Tiểu tăng nào dám sát sinh hay ăn mặn, "Y nghĩ rằng Đồng Mỗ đã đến chỗ an toàn rồi, chắc chẳng cần mình hộ vệ nữa, liền nói:" Tiền bối! Tiểu tăng là đệ tử nhà Phật, không thể nhìn tiền bối sát sinh được. Vậy tiểu tăng xin cáo từ. "Đồng Mỗ hỏi:" Ngươi định đi đâu? "Hư Trúc đáp:" Tiểu tăng về chùa Thiếu Lâm. "Đồng Mỗ cả giận nói:" Ngươi không được đi mà phải ở lại đây giúp ta. Khi nào ta luyện thần công xong, giết được con tiện nhân đó rồi, bấy giờ ta sẽ cho ngươi đi. "

Hư Trúc nghe mụ dự định luyện công để giết Lý Thu Thủy, lại càng không muốn ở gần mụ cho thêm tội nghiệt, liền đứng dậy nói:" Tiền bối! Tiểu tăng muốn khuyên tiền bối nhưng tiền bối nhất định không chịu nghe. Tiểu tăng kiến thức hẹp hòi, miệng lưỡi vụng về, chẳng có cách gì khuyên giải, chỉ nghĩ rằng oán thù nên cởi không nên buộc, lúc nào tha được thì phải tha ngay. "Y vừa nói vừa đi về phía những bậc dá.

Đồng Mỗ quát lên:" Ngươi đứng lại! Ta không cho phép ngươi đi! "Hư Trúc nói:" Tiểu tăng đi thôi.. ", toan nói thêm:" Chúc tiền bối sớm luyện xong thần công ". Nhưng y lại nghĩ, khi mụ luyện thần công xong thì dĩ nhiên Lý Thu Thủy khó toàn tính mạng, mà cả bọn Ô Lão Đại ba mươi sáu động chúa, bảy mươi hai đảo chúa, cùng bọn Mộ Dung Phục, Đoàn Dự cũng khó thoát tai kiếp. Hư Trúc càng nghĩ càng lo sợ, không nói gì nữa, bước lên bậc đá.

Đột nhiên hai gối y nhũn ra, ngã lăn xuống đất không nhúc nhích được. Hư Trúc biết mình đã bị Đồng Mỗ điểm huyệt. Trong hầm tối mù mịt, mụ chỉ giơ tay lên không mà điểm trúng huyệt đạo. Hư Trúc biết rằng đứng trước những tay cao thủ như mụ thì mình đành chịu cho người ta an bài, chứ không tài nào kháng cự được. Y bình tĩnh trở lại, miệng đọc kinh:" Tu đạo cực khổ, Phải nghĩ kiếp trước, Bỏ gốc theo ngọn, Sinh lòng yêu ghét, Kiếp này không lỗi, Nhưng lỗi kiếp trước, Sao thì phải vậy, không nên oán trách, Gặp khổ chẳng buồn, Mới là đạt đạo. "

Đồng Mỗ cất tiếng hỏi:" Ngươi đọc kinh thổ tả gì thế? "Hư Trúc đáp:" A di đà Phật! Đó là Nhập Đạo Tứ Hành Kinh của đức Đạt Ma tổ sư. "Đồng Mỗ nói:" Đạt Ma là tổ sư phái Thiếu Lâm. Ta cứ tưởng y có tài thông thiên triệt địa, té ra chỉ là một nhà sư thối tha, tư cách đàn bà nông cạn. "Hư Trúc nói:" A di đà Phật! A di đà Phật! Tiền bối chớ nên nói càn mà mang thêm tội nghiệt vào thân. "

Đồng Mỗ đáp:" Theo cái kinh ma quỉ của ngươi vừa đọc đó, thì khi người ta chịu khổ đều là do tội ở kiếp trước, phải cam tâm chịu đựng không được oán trách. Thế thì ta có hành hạ ngươi thế nào, ngươi cũng cam tâm chịu đựng chứ chẳng oán trách phải không? "Hư Trúc đáp:" Tiểu tăng Phật pháp hãy còn nông cạn, ngoại ma xâm lấn, nội ma cũng muốn bành trướng, chỉ lo mình không kháng cự nổi. "Đồng Mỗ nói:" Hiện nay trong mình ngươi đã mất sạch công phu Thiếu Lâm, chỉ còn một chút võ học của phái Tiêu Dao mà thôi. Thế là cái cũ mất đi, mới chưa đủ. Ngươi hãy nghe lời ta, tu luyện thần công của phái Tiêu Dao để trở thành thiên hạ vô địch, há chẳng vinh quang ư? "

Hư Trúc chắp tay trước ngực, lại niệm kinh:" Chúng sinh vô ngã, Khổ sướng tùy duyên, Nếu hưởng vinh quang, Là nhờ kiếp trước, Hết duyên lại mất, Chẳng đáng mừng gì. Vậy dù ta được vinh quang hay chịu khổ sở, cũng phải tĩnh tâm mà tùy theo duyên kiếp. "

Đồng Mỗ quát lên:" Toàn là chuyện hồ đồ bậy bạ! Võ công thấp kém thì đi đâu cũng bị khinh khi. Ngươi yếu hơn ta nên bị ta phong tỏa huyệt đạo, ta muốn đánh muốn chửi thì ngươi cũng không chống lại được. Vì thần công ta chưa luyện xong, nên phải trốn tránh trong này, để cho con tiện nhân Lý Thu Thủy ở ngoài làm mưa làm gió. Sư phụ ngươi bảo ngươi mang bức họa đồ đi tìm người để học võ công, cũng chỉ để đối phó với tên tiểu quỷ Đinh Xuân Thu. Trên đời thì kẻ mạnh áp bức, kẻ yếu chịu nhục. Ngươi muốn được an lạc, không luyện thành bản lĩnh thiên hạ vô địch thì không được. "

Hư Trúc lại niệm kinh:" Người trên thế nhân, Thường xuyên mê muội, Không bỏ tham lam, Cầu danh cầu lợi, Thiền sư giác ngộ, khác xa phàm nhân, An tịnh cõi lòng, Cảnh tùy tâm chuyển. Tam giới đều khổ, Chẳng ai được an. Kinh sách đã dạy rằng: Còn cầu cạnh thì còn khổ não, hết cầu cạnh mới được yên vui. "

Hư Trúc không có tài hùng biện, nhưng pho Nhập Đạo Tứ Hành Kinh của Huyện Lâm thiền sư chép ra thì y đọc trơn như cháo chảy. Huyện Lâm là đệ tử của Đạt Ma sư tổ, từ Nam Thiên Trúc đến. Kinh này là do Đạt Ma sư tổ dùng vi ngôn pháp ngữ đọc ra, chỉ có vài trăm chữ, tăng nhân ở chùa Thiếu Lâm ai cũng phải học. Bây giờ y thuận miệng đọc ra câu nào cũng bao hàm ý nghĩa phản bác lời nói của Đồng Mỗ.

Trời sinh Đồng Mỗ có tính ngang ngạnh hiếu thắng. Mấy chục năm nay, mụ đã mở miệng câu nào là ai cũng phải nghe, không một người nào đám cãi lại. Trong ba mươi sáu động, bảy mươi hai đảo đầy dẫy kỳ nhân dị sĩ, thiếu gì tay ngang ngược kiêu ngạo, mà ai cũng coi mụ như một vị thiên thần. Thế mà hôm nay mụ bị một tên tiểu hòa thượng cãi lý cho cứng họng không biết nói sao. Mụ tức quá, giơ tay phải lên nhằm đánh vào huyệt Bách Hội trên đỉnh đầu Hư Trúc. Nhưng tay mụ chưa đập tới nơi, đột nhiên lại nghĩ thầm:" Ta mà đập chết tên tiểu hòa thượng này, y chết đi cũng cho ta là thiếu lý lẽ. Ta phải làm cho y đuối lý mới được. "Mụ liền rút tay về, ngồi yên điều dưỡng công lực.

Một lúc sau, mụ bước lên bậc đá, đẩy cửa đi ra, bẻ một cành cây làm gậy chống rồi đi thẳng vào ngự viên. Hiện nay công lực Đồng Mỗ đã tiến bộ lắm rồi, tuy cụt một chân mà thân pháp vẫn nhẹ như chiếc lá, bọn ngự tiền thị vệ chẳng hề hay biết. Đồng Mỗ vào ngự viên bắt hai con hạc và hai con công, quay về kho chứa nước đá. Hư Trúc nghe rõ bước chân mụ ra đi, lúc mụ quay về lại có tiếng chim kêu. Hư Trúc không biết làm thế nào, chỉ niệm mấy câu A di đà Phật, rồi mặc kệ.

Trong kho nước đá tối om ngày cũng như đêm, nhưng lúc Đồng Mỗ thấy chân khí nhộn nhạo thì biết tới giờ luyện công, cắn cổ một con bạch hạc để hút máu. Mụ luyện xong, lại toan cắn cổ nốt con hạc kia. Hư Trúc nghe tiếng hạc kêu, liền cất tiếng:" Tiền bối! Để lại con chim này mai sẽ dùng, hà tất phải giết nhiều sinh mạng? "Đồng Mỗ cười đáp:" Ta có lòng tốt, muốn giết cho ngươi ăn. "Hư Trúc cả kinh nói:" Không, không! Tiểu tăng nhất quyết không ăn thịt. "Đồng Mỗ mặc kệ, giơ tay trái ra nắm lấy cằm y, Hư Trúc không kháng cự được đành phải há miệng ra, mụ liền dốc ngược con hạc lên cho máu chảy hết vào miệng y. Hư Trúc thấy một dòng máu nóng tuôn vào cổ mình, cố gắng không nuốt, nhưng đã bị điểm huyệt không làm gì được. Nhà sư vừa căm tức vừa bồn chồn, hai dòng lệ nóng hổi trào ra khóe mắt.

Đồng Mỗ dốc hết máu hạc vào miệng Hư Trúc rồi, liền để tay lên huyệt Linh Đài sau lưng nhà sư để giúp y vận chuyển chân khí. Mụ lại điểm hai huyệt Quan Nguyên và Thiên Đột để nhà sư không nôn ra được nữa. Mụ cười hì hì nói:" Tiểu hòa thượng! Giới luật của nhà Phật không được ăn mặn, thế là ngươi phá giới rồi phải không? Đã phá một giới rồi, thì phá luôn hai ba giới nữa cũng chẳng hề chi. Hừ! Trên đời ai đã chống lại ta, thì ta đối phó cho đến cùng. Ta quyết không cho nhà ngươi trở lại làm hòa thượng. "Hư Trúc vừa căm tức vừa đau khổ không nói lên lời.

Đồng Mỗ lại cười nói:" Kinh sách đã dạy rằng: Còn cầu cạnh thì còn khổ não, hết cầu cạnh mới được yên vui. Ngươi một lòng cố giữ Phật giới, thế là có cầu cạnh rồi đó, dĩ nhiên trong lòng đau khổ. Ngươi nên yên tâm mà chịu đựng tình thế xoay chiều, Phật giới theo được thì theo, không theo được thì thôi. Thế mới là tới chỗ vô cầu. Ha ha, ha ha! "

Lại hơn hai tháng đã trôi qua, Đồng Mỗ đã khôi phục lại được công lực như hồi năm chục tuổi, bây giờ mụ từ kho nước đá ra vào ngự hoa viên tựa hồ ma quỷ biến hình. Nếu mụ không còn úy kỵ Lý Thu Thủy thì đã rời khỏi hoàng cung nước Tây Hạ rồi. Hàng ngày, khi mụ hút máu luyện công xong đều điểm huyệt Hư Trúc, lấy thịt sống cùng màu tươi nhét vào miệng nhà sư, chờ hai giờ cho những thức đó tiêu hóa đi không nôn ra được nữa, mới giải khai huyệt đạo cho y. Hư Trúc ở trong kho nước đá tối thui bị Đồng Mỗ bức bách ăn thịt uống máu, trải qua bao nhiêu ngày không nhìn thấy mặt trời, nhà sư đau khổ đến cùng cực, miệng chỉ niệm kinh đọc kệ để cố tự an ủi.

Một hôm Đồng Mỗ nghe thấy Hư Trúc lẩm nhẩm niệm những là" Tu đạo khổ hạnh, Phải nghĩ kiếp trước "rồi" Cam tâm chịu đựng, Không nên oán trách "gì gì, mụ cười nhạt hỏi:" Ngươi đã ăn đủ thứ thịt, nào thỏ, nào hươu, nào hạc, nào công thì còn thành hòa thượng thế nào được nữa, niệm kinh hoài làm chi? "Hư Trúc đáp:" Tiểu tăng bị tiền bối bức bách chứ không phải tự ý mình, không thể gọi là phá giới. "Đồng Mỗ cười nhạt hỏi vặn:" Nếu ta không bức bách, ngươi quyết không phá giới phải chăng? "Hư Trúc đáp:" Tiểu tăng quyết giữ mình cho trong sạch, không vi phạm giới luật của Phật môn. "Đồng Mỗ nói:" Được lắm, để ta thử xem. "Hôm ấy mụ không bức bách Hư Trúc uống máu ăn thịt, y cả mừng, cảm tạ luôn miệng.

Hôm sau Đồng Mỗ vẫn không cưỡng ép nhà sư uống máu ăn thịt. Hư Trúc đói quá, liền nói:" Tiền bối! Thần công tiền bối đã luyện thành rồi, chẳng cần tiểu tăng chầu chực nữa. Tiểu tăng xin cáo từ thôi. "Đồng Mỗ đáp:" Ta không cho ngươi đi! "Hư Trúc lại nói:" Tiểu tăng đói quá rồi, xin phiền tiền bối kiếm cho ít rau xanh để lót dạ. "Đồng Mỗ nói:" Chuyện đó thì được! "Mụ nói xong, liền điểm huyệt cho nhà sư không đào tẩu được, rồi vọt mình đi. Chẳng bao lâu mụ đã quay về kho nước đá.

Hư Trúc bỗng ngửi thấy mùi thơm sực nức. Bụng y lại đang đói meo, bất giác nước bọt tiết ra đầy miệng. Mấy tiếng lách cách vang lên, Đồng Mỗ đặt xuống trước mặt Hư Trúc ba cái bát lớn rồi nói:" Đây là một bát thịt quay, một bát canh gà và một bát cá chép hầm. Ngươi ăn đi! "Hư Trúc cả kinh đáp:" A di đà Phật! Tiểu tăng thà chết chứ không ăn! "Mùi thơm trong ba bát thịt cá không ngớt xông vào mũi Hư Trúc, nhưng y vẫn cố nhịn được. Đến sáng hôm sau, Đồng Mỗ gắp thịt cá ăn trước mặt y, lại còn luôn miệng khen ngon, Hư Trúc vẫn lâm râm niệm Phật không nói gì.

Sang ngày thứ ba, Đồng Mỗ lại đi lấy về mấy đĩa hải sâm, tay gấu, vịt quay.. mùi thơm lại càng ngào ngạt. Hư Trúc đã đói đến lả người, nhưng thủy chung vẫn không chịu ăn. Đồng Mỗ nghĩ thầm:" Chắc thằng trọc con này thấy mình ngồi đấy mà nổi lòng hiếu thắng, không chịu ăn gì. "Mụ bèn bỏ đi hàng nửa ngày không trở về, chắc mẩm thế nào Hư Trúc cũng ăn vụng rồi. Ngờ đâu, mụ bật lửa lên coi thì một giọt nước canh nhà sư cũng không đụng tới.

Cứ thế đến ngày thứ chín, Hư Trúc chỉ niệm kinh rồi nhấp chút nước đá cho khỏi khát, nhất định không chịu đụng tới thịt cá ê hề trước mặt. Đồng Mỗ tức quá, túm lấy ngực y, nhét thịt vào miệng. Nhưng mụ biết rằng mình bắt ép nhà sư ăn mặn là chịu thua rồi, tức quá vung tay tát luôn ba bốn phát rồi quát mắng:" Thằng trọc chó chết này! Mi muốn đối phó với ta chăng? Mi phải biết Đồng Mỗ là tay lợi hại nhất thế gian, đừng ngoan cố với ta vô ích. "Hư Trúc không bực tức mà cũng không cãi lại, chỉ lâm râm niệm Phật. Mấy hôm sau đó, trừ những lúc bị Đồng Mỗ bắt nuốt mấy bát cá thịt, Hư Trúc chỉ niệm kinh rồi ngủ.

Một hôm Hư Trúc đang ngủ, thốt nhiên ngửi thấy mùi thơm ngào ngạt, không phải là mùi hương trước tượng Phật, cũng không phải là mùi thơm cá thịt, lại làm cho y thấy khoan khoái không sao tả xiết! Trong lúc Hư Trúc đang mơ màng, lại cảm thấy một vật gì mềm nhũn tựa vào ngực mình. Nhà sư giật mình chợt tỉnh, đưa tay sờ lên ngực thì thấy vật đó vừa êm dịu vừa mịn màng, đúng là thân thể một người không mặc quần áo, Hư Trúc thất kinh la lên:" Tiền bối!.. Tiền bối làm gì thế này? "

Người đó hỏi lại:" Ta.. ta đang ở đâu đây? Sao lại lạnh thế này? "Thanh âm thỏ thẻ, rõ ràng đây là một thiếu nữ chứ không phải Đồng Mỗ. Hư Trúc kinh hãi đến ngẩn người, lúng túng hỏi:" Cô, cô là ai? "Thiếu nữ đáp:" Ta.. ta.. lạnh quá, còn ngươi là ai? "Cô vừa nói vừa tựa sát thêm vào người Hư Trúc.

Hư Trúc rút người lại tránh, nhưng thiếu nữ miệng vẫn ú ở như đang mơ ngủ, thân cứ áp lại gần thêm. Tâm ý nhà sư thì muốn đứng lên chạy trốn, mà tay trái bất giác lại nắm lấy vai thiếu nữ, tay phải quàng ra sau ôm lấy tấm lưng thon mềm mại. Năm nay Hư Trúc đã hai mươi bốn tuổi, trong đời chỉ mới nói chuyện với ba nữ nhân là A Tử, Đồng Mỗ và Lý Thu Thủy.

Hai mươi bốn năm nay, nhà sư chỉ ở trong chùa Thiếu Lâm gõ mõ tụng kinh. Trời sinh ra con người, ai lại không thích cảnh đẹp cùng sắc đẹp? Tuy Hư Trúc nghiêm giữ thanh quy giới luật, nhưng mỗi năm khi xuân sang trăm hoa đua nở, nhà sư trẻ tuổi cũng không khỏi cảm thấy cõi lòng rào rạt, nghĩ đến tình yêu nam nữ. Nhưng y chưa biết nữ nhân ra sao, đôi khi tưởng tượng ra những cảnh quái đản ly kỳ, nhưng chẳng bao giờ dám hé miệng tâm sự cùng sư huynh sự đệ. Lúc này hai tay nhà sư chạm vào da thịt mịn màng của người thiếu nữ, trái tim y đập mạnh tựa như muốn văng lên tới miệng rồi rớt ra ngoài, thật là khó buông tay.

Thiếu nữ rên lên mấy tiếng ư ử, lại nhích vào sát thêm, hai tay ôm choàng lấy cổ nhà sư. Hư Trúc nghe hơi thở ai thơm như hoa lan, hòa vào mùi hương son phấn đưa lên từng đợt, tưởng chừng như trời đất quay cuồng, toàn thân run rẩy, miệng ấp ủng:" Cô.. cô.. "Thiếu nữ khe khẽ kêu lên:" Ta lạnh quá, mà sao trong lòng lại nóng bỏng. "Hư Trúc khó mà tự chủ, hai tay ôm ghì thiếu nữ vào lòng. Thiếu nữ ú ớ mấy tiếng rồi hé mở đôi môi, cả hai như lạc vào biển mộng.

Nội công phái Thiếu Lâm của Hư Trúc đã bị Vô Nhai Tử hóa giải sạch, định lực y hoàn toàn mất hết. Y là một chàng trai chưa hiểu sự đời, đây là lần thứ nhất gặp cảnh mê ly, thật là vô phương kháng cự. Lúc đó thiếu nữ ôm siết y càng chặt, tâm trí y tựa hồ như bốc hơi hết, cũng chẳng thèm biết thân xác mình đang ở xứ nào. Lửa tình thiếu nữ mỗi giây phút lại thêm nồng nhiệt, thiêu đốt luôn Hư Trúc theo mình.

Không biết bao nhiêu thời khắc trôi qua, lửa dục của Hư Trúc dần dần hạ xuống. Y kêu lên một tiếng:" Trời ơi! ", rồi toan nhảy vọt lên. Nhưng thiếu nữ vẫn siết chặt y vào lòng, nũng nịu nói:" Đừng.. đừng bỏ tiểu muội mà đi! "Thần trí Hư Trúc chỉ quay về được một chút, rồi lại vụt đi. Y lại chìm vào cơn mê, ôm thiếu nữ vào lòng vuốt ve trìu mến.

Hai người quấn quít lấy nhau đến hơn nửa giờ nữa, thiếu nữ mới khẽ hỏi:" Hảo ca ca! Huynh là ai vậy? "Mỗi tiếng nàng gọi đều êm dịu ngọt ngào, nhưng vào tai Hư Trúc lại tựa như sấm nổ. Thức tỉnh, run lên nói:" Ta.. ta lầm lỗi mất rồi! "Thiếu nữ hỏi lại:" Huynh lầm lỗi chuyện gì? "

Hư Trúc ấp úng không biết đáp sao, chỉ nói:" Ta.. ta.. "Đột nhiên bên hông y tê chồn như bị người điểm huyệt, rồi một tấm chăn vứt lên người y. Thiếu nữ khỏa thân đã rời khỏi lòng nhà sư, Hư Trúc bỗng la lên:" Muội.. muội đừng đi, đừng đi! "Trong bóng tối bỗng vang lên một tràng cười khanh khách, chính là tiếng Đồng Mỗ. Hư Trúc kinh hãi như muốn ngất đi, thân thể nhũn ra, đầu óc trống rỗng. Nhưng tai y vẫn nghe rõ tiếng chân Đồng Mỗ ôm thiếu nữ chạy ra ngoài kho nước đá.

Lát sau mụ trở về, cười hỏi:" Tiểu hòa thượng! Ta đã cho ngươi hưởng hết diễm phúc nhân gian, sao ngươi không cám ơn ta? "Hư Trúc ấp úng:" Tại hạ.. tại hạ.. "Nhà sư ruột rối tựa tơ vò, miệng thốt không nên lời. Đồng Mỗ giải huyệt cho y rồi hỏi:" Đệ tử nhà Phật có phải giữ sắc giới hay không? Vừa rồi là ngươi tự phạm giới, hay cũng tại mỗ mỗ bức bách? Ngươi thật là một gã tiểu hòa thượng phong lưu hiếu sắc, khẩu thị tâm phi. Bây giờ mỗ mỗ hỏi ngươi: Ngươi thắng hay là ta thắng? Ha ha! "Giọng cười của mụ đầy vẻ đắc ý.

Dĩ nhiên Hư Trúc đã hiểu Đồng Mỗ giận mình ngoan cố thà chết chứ không chịu ăn mặn, nên đi bắt thiếu nữ về cho mình tự phạm vào sắc giới. Nhà sư vừa hối hận vừa hổ thẹn, liền đứng phắt dậy đập đầu vào một tảng nước đá đánh" binh "một tiếng rồi lăn ra đất.

Đồng Mỗ cả kinh, không ngờ nhà sư trẻ tuổi này lại cương cường đến thế, vừa tỉnh cơn xuân mộng đã toan tự tận. Mụ liền nâng y dậy, để tay lên mũi thì thấy hãy còn hơi thở thoi thóp, nhưng đầu thủng một lỗ máu chảy đầm đìa. Đồng Mỗ vội buộc vết thương, rồi cho y uống Cửu Chuyển Hùng Xà Hoàn. Đoạn mụ cất tiếng mắng:" Ngươi phát điên rồi ư? Nếu trong nội thể ngươi không có Bắc Minh chân khí thì chỉ đập đầu một cái như vậy là toi mất cái mạng nhỏ xíu. "Hư Trúc sa lệ nói:" Tiểu tăng tội nghiệt thâm trọng, hại người hại mình, còn làm người thế nào được nữa? "Đồng Mỗ nói:" Ha ha! Nếu tên hòa thượng nào phạm giới cũng tự sát, thì trong thiên hạ còn được mấy nhà sư nữa? "

Hư Trúc giật mình chợt nghĩ ra, nếu mình tự hủy hoại tính mệnh thì lại phạm vào một đại giới của Phật môn, mà nổi cơn tức giận cũng là phạm giới rồi.

Y ngồi lên một khối nước đá, không còn chú ý gì nữa, trong lòng vừa tự trách mình vừa lan man nghĩ tới thiếu nữ kia, cùng bao nhiêu cảm giác êm đềm khoan khoái. Đột nhiên nhà sư hỏi:" Vị.. vị cô nương đó là ai? "

Đồng Mỗ ha hả cười đáp:" Cô nương đó năm nay mới mười bảy tuổi, thật là giai nhân tuyệt sắc thiên hạ vô song. "

Vừa rồi trong bóng tối đen, Hư Trúc không nhìn rõ mặt thiếu nữ, nhưng tay chạm đến da thịt mịn màng, tai nghe thanh âm uyển chuyển, y cũng chắc nàng là một tiểu mỹ nhân. Y nghe Đồng Mỗ nói nàng là một trang giai nhân tuyệt sắc thiên hạ vô song, bất giác buông tiếng thở dài. Đồng Mỗ tủm tỉm cười hỏi:" Ngươi có nhớ nàng không? "Hư Trúc không dám nói dối mà cũng không tiện thừa nhận, chỉ cúi đầu nhắm mắt thở dài.

Suốt mấy giờ sau đó, tâm trí Hư Trúc cứ mơ mơ hồ hồ. Lúc Đồng Mỗ đem vịt gà cá thịt vào bày đầy trước mặt, Hư Trúc đang tự thống trách:" Ta đã trở nên một tội nhân của Phật môn, đã gia nhập môn phái khác lại còn phạm phải sát giới, sắc giới, sao đáng là Phật môn đệ tử nữa? "Y nghĩ vậy, liền bưng thịt cá lên ăn, nhưng miệng đắng ngắt chẳng biết mùi vị chi hết, nước mắt đầm đìa trên mặt. Đồng Mỗ cười nói:" Hành động khoáng đạt như thế mới là người lớn, nếu không thì chỉ là đồ trẻ nít. "

Hai giờ sau, Đồng Mỗ lại quấn thiếu nữ khỏa thân trong chăn, đem đặt vào lòng Hư Trúc, rồi mụ bỏ lên tầng hầm thứ hai, để mặc hai người biến tầng hầm thứ ba thành đỉnh Vu sơn.

Bỗng thiếu nữ buông tiếng thở dài rồi nói:" Thật là một cơn ác mộng, khiến ta cực kỳ kinh hãi, mà lại.. mà lại.. ", Hư Trúc hỏi:" Mà lại làm sao? "Thiếu nữ ôm choàng lấy vai y, dịu dàng nói:" Mà lại sung sướng. "Nàng nói xong lại tựa cằm lên cổ y. Hư Trúc thấy máu dồn lên mặt nóng ran, bất giác lại động tình đưa tay ra ôm lấy lưng nàng. Thiếu nữ gọi:" Hảo ca ca? Có phải tiểu muội đang nằm mơ hay chăng? Nếu là nằm mơ thì sao tiểu muội lại biết đang được ca ca ôm trong lòng, lại sờ thấy má, thấy ngực, thấy chân tay ca ca? "Nàng nói tới đây, đưa tay sờ vào ngực Hư Trúc rồi nói tiếp:" Còn nếu không phải nằm mơ thì sao lúc nãy tiểu muội đang nằm trên giường, đột nhiên.. đột nhiên lại mất sạch áo xiêm, chui vào nơi lạnh lẽo đen tối này? Mà sao nơi lạnh lẽo đen tối này lại có ca ca đang chờ đợi ta, thương yêu ta, làm ta sung sướng không sao nói hết? "

Hư Trúc nghĩ thầm:" Thì ra nàng bị Đồng Mỗ điểm huyệt bắt về đây, thần trí vẫn mơ hồ nửa tỉnh nửa mê ". Bỗng nhiên thiếu nữ lại nói:" Thường ngày, ta chỉ nghe thanh âm một chàng trai lạ nào là nổi giận ngay, thế mà sao lúc này ta lại mê mẩn tâm thần, không tự chủ được nữa? Hỡi ôi! Bảo mộng thì không mộng, mà bảo là thực cũng không phải thực. Đêm qua ta đã thấy một giấc mơ ly kỳ, chẳng lẽ bây giờ lại chìm vào giấc mơ đó lại? Hay là muội cùng ca ca có duyên nợ kiếp trước chi đây? Ca ca ơi! Ca ca là ai vậy? "Hư Trúc mất cả hồn vía, ấp úng:" Ta.. ta là.. "Y không tài nào thốt nổi bốn chữ" Ta là hòa thượng "ra khỏi miệng.

Thiếu nữ đột nhiên giơ tay ra bịt miệng nhà sư, khẽ nói:" Ca ca đừng nói nữa. Muội, muội sợ lắm! "Hư Trúc lại ôm chặt lấy người nàng, vuốt ve rồi hỏi:" Nàng sợ cái gì? "Thiếu nữ đáp:" Muội sợ lời đáp của ca ca sẽ làm cho mình vỡ mộng! Ca ca là tình lang của muội trong giấc mộng, vậy muội kêu ca ca là Mộng Lang. Mộng Lang! Mộng Lang! Chàng có thích cái tên đó không? "Bàn tay thiếu nữ đang bịt miệng Hư Trúc liền đưa lên sờ mũi sờ mặt, dường như vuốt ve trìu mến, lại dường như dùng tay thay mắt để tìm hiểu tướng mạo nhà sư. Bàn tay nhỏ nhắn mềm mại sờ dần dần lên lông mày, lên trán, rồi lên đến đầu.

Hư Trúc cả kinh nghĩ thầm:" Hỏng bét! Nàng sờ đến cái đầu trọc của mình rồi! "Không ngờ thiếu nữ sờ đến tóc của Hư Trúc, không phát hiện ra mình đang sờ đầu một tiểu hòa thượng. Thì ra Hư Trúc ở trong hầm nước đá đã hơn hai tháng, tóc trên đầu đã mọc dài được ba tấc. Thiếu nữ ngọt ngào hỏi:" Mộng Lang! Sao tim chàng đập mạnh thế? Sao chàng chẳng nói năng gì? "

Hư Trúc đáp:" Ta.. ta cũng như nàng, vừa khoan khoái vừa sợ hãi. Ta đã làm bẩn tấm thân trong sạch của nàng, có chết đến ngàn lần cũng không đủ đền bù tội lỗi. "Thiếu nữ nói:" Mộng Lang! Chàng đừng nói vậy. Chúng ta chỉ đang nằm mộng thôi, chàng đừng sợ. Chàng kêu ta bằng gì? "Hư Trúc đáp:" Nàng là một cô tiên trong giấc mộng của ta. Vậy ta gọi nàng là Mộng Cô có được chăng? "Thiếu nữ vỗ tay nói:" Hay lắm! Hay lắm! Chàng là Mộng Lang của thiếp, thiếp là Mộng Cô của chàng. Ước gì đôi ta cứ vĩnh viễn nằm mộng như thế này, không bao giờ tỉnh lại. "Nói đến chỗ tình ái mặn nồng, hai người lại chìm đắm vào cơn say tình ái, chẳng hiểu là trong đời hay trong mộng, là ở trên trời hay ở cõi nhân gian?

Qua giấc mê ly, Đồng Mỗ lại dùng tấm chăn chiên bọc thiếu nữ đem ra. Hôm sau, Đồng Mỗ lại đưa thiếu nữ vào chỗ Hư Trúc. Hai người gặp nhau ba ngày, thần trí đã bớt hồ đồ, những gì ngại ngùng e thẹn cũng giảm đi. Hai người tận hưởng những cuộc mây mưa hoan lạc tuyệt trần, nhưng Hư Trúc vẫn không dám thổ lộ chân tướng. Thiếu nữ vẫn nghĩ là mình đang nằm mộng, cũng tuyệt không đả động gì đến những việc ngoài đời thực.

Ba ngày ân ái triền miên đủ khiến cho Hư Trúc cảm thấy thế giới cực lạc chính là hầm nước đá tối tăm lạnh lẽo này, hà tất phải quy y đầu Phật, cầu giải thoát để làm gì nữa? Đến ngày thứ tư, Đồng Mỗ lại đem cho nhà sư ăn tay gấu, thịt hươu, toàn những món cao lương mỹ vị. Ăn xong rồi, Hư Trúc tưởng mụ lại sắp đem thiếu nữ đến gặp mình, không ngờ y chờ mãi mà Đồng Mỗ vẫn ngồi yên một chỗ không nhúc nhích. Hư Trúc nóng nảy như con kiến bị rang trong chảo, ngồi đứng không yên. Đã ba lần y muốn lên tiếng hỏi, nhưng lại không dám.

Hai giờ trôi qua, Đồng Mỗ dĩ nhiên đã thấy Hư Trúc nóng nảy sốt ruột, song mụ vẫn lờ đi như không biết gì. Cuối cùng Hư Trúc không nhẫn nại được nữa, cất tiếng hỏi:" Tiền bối! Vị cô nương đó là.. là cung nữ trong triều phải không? "Đồng Mỗ chỉ hừ một tiếng chứ không trả lời. Hư Trúc nghĩ thầm:" Ngươi không thèm đáp thì ta cũng không thèm hỏi nữa. "Nghĩ thì nghĩ vậy, nhưng mỗi lần y nhớ tới thiếu nữ ôn nhu đằm thắm thì người cứ ngơ ngẩn bần thần. Nhà sư miễn cưỡng kìm hãm, nhưng rồi cũng không nhịn nổi, đành lên tiếng năn nỉ:" Tiền bối! Xin tiền bối mở lòng nhân đức nói chuyện với vãn bối. "Đồng Mỗ đáp:" Hôm nay ngươi đừng nói gì với ta, để đến mai sẽ hỏi. "Hư Trúc ruột nóng như thiêu, nhưng không dám hỏi nữa.

Cố nén một ngày, hôm sau vừa ăn cơm xong là Hư Trúc lại lên tiếng:" Tiền bối!.. "Đồng Mỗ hỏi lại:" Ngươi muốn biết cô nương kia là ai, thì có khó gì? Giả tỉ ngươi muốn đoàn tụ với nàng suốt ngày suốt đêm, vĩnh viễn không rời một bước, thì cũng là chuyện dễ.. "Hư Trúc cả mừng, chưa biết nói sao thì Đồng Mỗ lại hỏi:" Ngươi có muốn như vậy không? "Hư Trúc không dám trả lời thẳng, chỉ ấp úng đáp:" Vãn bối không biết lấy gì để báo đáp. "

Đồng Mỗ nói:" Ta chẳng cần người báo đáp chi hết. Nhưng môn Bát Hoang Lục Hạp Duy Ngã Độc Tôn của ta còn mấy ngày nữa mới luyện xong. Mấy ngày này rất quan hệ, tình thế vô cùng nghiêm trọng, ta không thể lơ đãng một giây một phút nào. Ta không thể ra ngoài nên đã phải chuẩn bị thức ăn, đem vào hầm sẵn cả rồi. Giả tỉ ngươi muốn tái ngộ vị cô nương mỹ lệ đó, thì cũng ráng chờ cho đại công của ta thành tựu rồi mới được. "

Hư Trúc tuy thất vọng nhưng biết là mụ nói thực, cũng may là chỉ có mấy ngày, đành để cho bệnh tương tư hành hạ. Y liền đáp:" Vâng, cứ theo lời tiền bối. "Đồng Mỗ lại nói:" Ta luyện xong thần công thì phải lập tức đi tìm con tiện nhân Lý Thu Thủy để trả hận, một giây một phút cũng không thể hoãn được. Lúc đó thì lẽ ra con tiện nhân kia không tài nào địch nổi, nhưng chẳng may ta bị chặt đứt một chân, khí lực tổn thương rất nhiều. Mối thù này báo được hay không, ta vẫn chưa nắm chắc. Giả tỉ ta bị chết về tay hắn, thì không còn cách nào đem cô nương để lại cho ngươi nữa. Ý trời đã vậy thì đành chịu chứ biết làm sao? Trừ phi.. trừ phi.. "Hư Trúc nghe tim mình đập loạn lên, hỏi lại:" Trừ phi thế nào? "Đồng Mỗ đáp:" Trừ phi ngươi giúp ta một tay. "Hư Trúc hỏi:" Vãn bối võ công thấp kém, làm sao mà giúp được? "

Đồng Mỗ đáp:" Lúc ta cùng con tiện nhân kia quyết đấu thì thắng bại chỉ cách nhau một giây. Hắn muốn hại ta dĩ nhiên là việc khó, mà ta muốn giết hắn cũng chẳng dễ gì. Bắt đầu từ hôm nay, ta dạy cho ngươi môn Thiên Sơn Lục Dương Chưởng, ngươi cố mà luyện. Nếu ta gặp nguy cấp, ngươi chỉ cần ấn vào người con tiện nhân một cái là lập tức chân khí hắn thất tán hết, nhất định hắn phải thất bại. "

HưTrúc thấy khó xử, nghĩ thầm:" Tuy ta đã phạm nhiều giới luật, không đáng thành đệ tử nhà Phật, nhưng giúp mụ giết người là chuyện đại ác trái với lương tâm, ta quyết không thể làm được. "Y liền nói:" Giả tỉ vãn bối giúp tiền bối giết được cừu nhân thì tội nghiệt càng thêm nghiêm trọng, sau này sẽ bị chìm đắm vào bể trầm luân, muôn kiếp không được siêu sinh. "

Đồng Mỗ tức giận nói:" Hừ! Nhà sư chết đâm kia! Ngươi đã phá hết giới luật mà còn ráng giữ bụng dạ của hòa thượng làm cái quái gì? Lý Thu Thủy là kẻ tàn ác, giết hắn thì có tội lỗi gì đâu? "Hư Trúc đáp:" Dù là người đại gian đại ác thì cũng phải tìm cách cảm hóa mà giác ngộ, không nên giết càn. "Đồng Mỗ lại càng giận dữ, cao giọng nói:" Ngươi không nghe lời ta, thì quên chuyện gặp lại cô nương kia đi. Tùy ý ngươi, nghĩ sao thì cứ làm vậy. "HưTrúc buồn rầu không nói gì, âm thầm niệm Phật.

Đồng Mỗ chờ một lúc không thấy Hư Trúc cãi lại, mừng thầm hỏi:" Phải chăng ngươi đang nhớ đến cô nương xinh đẹp đó? "Hư Trúc đáp:" Vãn bối không thể giết người chỉ vì nỗi hoan lạc của riêng mình. Giả tỉ suốt đời vãn bối không được gặp lại vị cô nương đó, thì cũng là do nhân quả tiền định, túc duyên đã hết thì chẳng nên miễn cưỡng làm gì. Miễn cưỡng còn chẳng nên, huống chi làm chuyện ác để cầu cạnh? "Y nói xong, rồi lại tụng kinh:" Việc đời được mất, Chỉ tùy duyên số, Cố mà miễn cưỡng. Cũng chẳng ích gì. "Miệng thì tụng niệm, nhưng trong đầu lại nghĩ rằng từ đây không còn gặp thiếu nữ kia nữa, y không khỏi buồn phiền.

Đồng Mỗ nói:" Ta hỏi một lần nữa, ngươi có chịu luyện môn Thiên Sơn Lục Dương Chưởng hay không? "Hư Trúc đáp:" Vãn bối không thể tuân lệnh, xin tiền bối lượng thứ cho. "Đồng Mỗ tức giận nói:" Vậy ngươi cút đi, xa chừng nào tốt chừng nấy! "Hư Trúc đứng dậy khom lưng, lễ phép nói:" Xin tiền bối bảo trọng. "Lúc này Hư Trúc nhớ lại thời gian vừa rồi, tuy bị Đồng Mỗ dùng kế bắt mình phá giới không thể làm hòa thượng được nữa, nhưng nhờ đó mà y gặp Mộng Cô, nên trong thâm tâm thấy mụ có ơn với mình hơn là có oán. Hư Trúc không khỏi bịn rịn, lại nói:" Tiền bối cố gắng bảo trọng, vãn bối không thể phục dịch được nữa. "Rồi y quay người bước lên bậc đá.

Hư Trúc sợ Đồng Mỗ lại ra tay điểm huyệt ngăn trở, nên vừa đặt chân lên bậc đá, y liền lập tức đề tụ Bắc Minh Chân Khí phi thân nhảy vọt lên, chỉ trong chớp mắt đã lên đến tầng thứ hai của kho nước đá, rồi lại lên đến tầng thứ nhất, đưa tay toàn đẩy cửa ra. Hư Trúc vừa chạm vào cánh cửa gỗ, bỗng thấy hai vai đau nhói, biết ngay mình bị Đồng Mỗ ám toán. Y chỉ la được một tiếng" Úi chao! "Đã lảo đảo, hai chân nhũn ra, rồi ngã lăn xuống đất.

Đồng Mỗ cất giọng âm hiểm hỏi:" Ngươi trúng ám khí của ta rồi, có biết không? "Hư Trúc thấy chỗ bị thương tê nhức, ngứa ngáy tựa như muôn ngàn con kiến đang bâu vào đốt, liền đáp:" Dĩ nhiên là biết. "Đồng Mỗ cười nhạt hỏi:" Ngươi có biết đó là ám khí gì không? Chính là Sinh Tử Phù. "

Hư Trúc nghe như sét đánh bên tai. Y đã biết Ô Lão Đại cùng hàng ngàn người khác đã sợ Sinh Tử Phù đến mất cả bản sắc anh hùng. Trước nay Hư Trúc vẫn tưởng Sinh Tử Phù là một loại bùa chú có ma lực, ngờ đâu lại là một thứ ám khí. Bọn Ô Lão Đại hung hãn tàn độc mà cũng bị Sinh Tử Phù kiềm chế đến nhũn như chi chi, thế thì loại ám khí này lợi hại ngoài sức tưởng tượng!

Đồng Mỗ lại nói:" Sinh Tử Phù đã xâm nhập vào thân thể rồi thì vĩnh viễn không có thuốc nào giải được. Bọn súc sinh Ô Lão Đại ở núi Phiêu Diểu sinh lòng phản trắc, không cam tâm chịu ta vĩnh viễn kiềm chế, bàn nhau đến cung Linh Thứu cướp lấy phép phá giải Sinh Tử Phù. Nhưng bọn cẩu tặc ngu ngốc đó cũng chỉ ảo vọng mà thôi. Sinh Tử Phù của mỗ mỗ há để kẻ khác phá giải được ư? "

Hư Trúc cảm thấy vết thương mỗi lúc một ngứa ngày hơn, về sau ngứa lan cả vào nội thể. Thời gian chừng uống cạn tuần trà, Hư Trúc thấy lục phủ ngũ tạng đều ngứa ran lên không chịu được, chỉ muốn đập đầu vào tường chết quách đi còn hơn. Y không nhịn được nữa, nên buột miệng lớn tiếng rên la.

Đồng Mỗ hỏi:" Trong Sinh Tử Phù thì hai chữ Sinh Tử nghĩa là gì, ngươi đã hiểu chưa? Hư Trúc nghĩ thầm: "Hiểu rồi, hiểu rồi! Muốn sinh không được, muốn tử không xong." Y nghĩ như vậy nhưng chỉ rên la, không còn đủ khí lực để mở miệng trả lời nữa. Đồng Mỗ không thấy Hư Trúc trả lời, lại nói tiếp: "Ngươi là một thằng lỏi bất lương, vừa rồi dám bỏ ra đi. Thế mà ta không ngờ ngươi lại hai lần ân cần dặn ta bảo trọng thân thể, ra chiều quan tâm thân thiết. Huống chi ngươi đã cứu mạng ta, mà mỗ mỗ là người ân oán phân minh, thưởng phạt hợp lý, coi ngươi khác hẳn với bọn Ô Lão Đại. Vừa rồi ta gieo Sinh Tử Phù vào mình ngươi là phạt ngươi, nhưng ta sẽ truyền cho ngươi phép giải trừ Sinh Tử Phù để thưởng công ngươi đã cứu ta.

Hư Trúc vừa rên vừa nói:" Vãn bối nói trước, giả tỉ tiền bối dùng cách này để kiềm chế, bắt vãn bối làm những việc thương luân bại lý, thì thà văn bối.. chịu chết, quyết không.. "Y định nói" chịu chết, quyết không khuất phục "nhưng không sao nói ra miệng.

Đồng Mỗ cười nhạt:" Hừ! Ngươi quả là ngang bướng. Nhưng sao ngươi cứ ấp úng mãi mà không nói ra? Ngươi có biết tại sao tên An động chúa kia lại nói lắp không? "Hư Trúc đáp:" Ngày trước chắc y bị trúng.. Sinh Tử Phù của tiền bối.. đau khổ qua rồi miệng.. miệng.. "Đồng Mỗ ngắt lời:" Ngươi biết vậy là tốt. Sinh Tử Phù một khi đã phát tác thì mỗi ngày một tệ hại hơn. Lần đầu phải ngứa ngáy đau đớn hết chín lần chín là tám mươi mốt ngày, rồi giảm dần đi. Lại sau tám mươi mốt ngày thì lại bắt đầu đau đớn ngứa ngáy, còn khó hơn lần trước. Chu kỳ tám mươi mốt ngày tuần hoàn quanh đi quẩn lại không bao giờ hết. Mỗi năm ta đều phái người đến các đảo các động để phát thuốc ngăn ngừa đau đớn và ngứa ngáy, mỗi lần uống thuốc lại kiềm hãm Sinh Tử Phù được một năm không phát tác. "

Bây giờ Hư Trúc mới hiểu ra, bọn động chúa, đảo chúa phải kinh sợ Đồng Mỗ như bậc thần linh, chịu đánh đập hành hạ còn lấy làm sung sướng mở tiệc ăn mừng, là để được mụ phát thuốc ngăn ngừa Sinh Tử Phù phát tác trong một năm. Thế này thì mình cũng bị mụ kiềm chế suốt đời, cũng đem thân làm trâu làm ngựa cho mụ như bọn Ô Lão Đại hay sao?

Đồng Mỗ đã sống với Hư Trúc ba tháng, hiểu tính khí y bất khuất quật cường, liền nói:" Ta đã nói là không coi ngươi như bọn súc sinh Ô Lão Đại, không bắt người mỗi năm phải uống thuốc trấn áp Sinh Tử Phù. Ngươi đừng lo lắng thái quá mà ăn ngủ không yên. Ta đã gieo tới chín cái Sinh Tử Phù trong mình ngươi, nhưng chỉ cần phẩy tay một cái là trừ khử tận gốc, vĩnh viễn không để hại về sau. "

Hư Trúc lắp bắp:" Thế thì vãn bối.. đa.. đa.. "Y không sao nói nốt được chữ" tạ ". Đồng Mỗ cho Hư Trúc uống một viên thuốc, chỉ một lúc là hết đau đớn ngứa ngáy. Mụ lại nói:" Muốn trừ khử tận gốc Sinh Tử Phù thì phải dùng nội lực phóng chưởng. Nhưng ta còn phải luyện thần công mấy ngày nữa, lúc này không thể vì ngươi mà tiêu hao nguyên khí được. Vậy ta dạy ngươi cách vận công phát chưởng để ngươi tự hóa giải lấy. "Hư Trúc đáp:" Vâng! "

Đồng Mỗ liền truyền cho Hư Trúc cách vận Bắc Cư, Thiên Khu, Thái Ất, Long Môn, Thần Phong, Thần Tàng, rồi qua những huyệt Khúc Trì, Đại Lăng, Dương Khoái, cuối cùng ra đến lòng bàn tay. Mụ lại dạy các phép thu phát chân khí, Hư Trúc luyện trong hai ngày là thành thục hết.

Đồng Mỗ nói:" Bọn súc sinh Ô Lão Đại tuy phẩm hạnh chẳng ra gì, song võ công không phải tầm thường. Bọn hồ quần cẩu đảng giao kết với y nội lực đều khá tinh thâm, nhưng không tên nào dùng nội lực để hóa giải Sinh Tử Phù của ta được. Ngươi có biết vì sao không? "Mụ ngừng một lát, biết Hư Trúc không thể trả lời được, liền nói tiếp:" Ta gieo vào thân thể mỗi tên những đạo Sinh Tử Phù khác nhau, thủ pháp cũng không giống nhau. Giả tỉ tên nào toan dùng kình lực dương cương để hóa giải một đạo Sinh Tử Phù, thì những đạo phù chưa bị giải ở các kinh mạch Thái Dương, Thiếu Dương, Dương Minh lập tức bị lực đạo dương cương đó kích thích mà nhộn nhạo lên, xông vào đan điền rồi thâm nhập tạng phủ, lúc đó không thể cứu được nữa. Giả tỉ tên nào dùng kình lực âm nhu để hóa giải thì Sinh Tử Phù ở các mạch Thái Âm, Thiếu Âm, Khiết Âm lại phát tác. Lại còn những đạo Sinh Tử Phù có pha trộn thủ pháp âm dương phức tạp, làm sao người khác có thể hóa giải được? Chín đạo Sinh Tử Phù trong mình ngươi cũng phải có chín thủ pháp khác nhau mới hóa giải được. "Rồi mụ bèn truyền cho Hư Trúc một thứ thủ pháp, đợi y học thuộc rồi mới phân tích từng chiêu để Hư Trúc biết đường ứng phó với thứ thủ pháp phức tạp, âm độc và xảo quyệt này.

Đồng Mỗ lại dặn:" Sinh Tử Phù của núi Phiêu Diểu biến hóa vô cùng, lúc ngươi giải trừ cũng phải tùy cơ ứng biến, chỉ sai lầm một chút là lập tức bế khí mà chết, nếu may mắn thì cũng phải tàn tật suốt đời. Ngươi phải coi Sinh Tử Phù như đại dịch mà đem toàn lực ra đối phó, không thể coi thường được. "

Hư Trúc khổ công luyện tập, nhận ra pháp môn của Đồng Mỗ xảo diệu vô cùng. Bất luận thủ pháp thâm độc nào tấn công tới, pháp môn này cũng có thể biến hóa để không những giải trừ mà còn phản kích lại đối phương. Y càng luyện càng thêm bội phục, bây giờ mới hiểu Sinh Tử Phù đáng cho ba mươi sáu động chúa và bảy mươi hai đảo chúa phải kinh hồn táng đởm, quả nhiên có uy lực vô cùng. Nếu không được Đồng Mỗ đích thân truyền dạy thì trong thiên hạ chẳng ai tưởng tượng ra phép hóa giải thần diệu đến thế.

Hư Trúc luyện bốn ngày liền, cuối cùng đã thuộc hết chín pháp môn của mụ. Đồng Mỗ cả mừng nói:" Tiểu tử! Ngươi không ngu ngốc lắm đâu? Binh pháp có câu: Biết người biết ta, trăm trận trăm thắng. Ngươi muốn chế phục được Sinh Tử Phù, thì cũng cần biết cách gieo Sinh Tử Phù. Ngươi đã hiểu Sinh Tử Phù là gì chưa? "Hư Trúc ngẩn ra đáp:" Đó là một thứ ám khí. "Đồng Mỗ nói:" Là ám khí thì dĩ nhiên rồi, nhưng ám khí gì mới được? Nó tròn như thiết liên tử, hay nhọn như phi tiêu? "Hư Trúc nghĩ thầm:" Ta trúng tới chín mũi ám khí, tuy đau nhức ngứa ngáy vô cùng mà sờ lên thì chẳng thấy gì, cũng không hiểu hình dạng nó ra sao. "

Đồng Mỗ nói:" Đây là một mũi Sinh Tử Phù, ngươi cầm lấy mà coi cho kỹ. "Nhà sư nghĩ đây là thứ ám khí tàn độc nhất thiên hạ, rón rén đưa tay ra đón lấy thì thấy nó lạnh buốt. Y nhìn kỹ, thứ ám khí này tròn trĩnh mà nhẹ như không, chỉ nhỏ bằng đầu ngón tay, mỏng như giấy, cạnh sắc bén dị thường. Lòng bàn tay lạnh buốt, thoáng cái Sinh Tử Phù đã biến mất. Y không hề thấy Đồng Mỗ đưa tay ra lấy lại, bất giác cả kinh, không hiểu món ám khí đó đã đi đâu? Bất thần Hư Trúc nghĩ ra một chuyện ngoài sức tưởng tượng, la lên:" Trời ơi! "Y nghĩ thầm:" Hỏng bét! Chiếc Sinh Tử Phù này tự chui vào lòng bàn tay mình rồi. "

Đồng Mỗ hỏi:" Ngươi đã hiểu chưa? "Hư Trúc ấp úng:" Vãn bối.. "Đồng Mỗ nói:" Sinh Tử Phù của ta chỉ là một miếng băng mỏng hình tròn, "Hư Trúc hiểu ra," Ồ "lên một tiếng. Thì ra miếng băng mỏng này bị hơi ấm của lòng bàn tay làm tan ra nước. Vừa rồi Hư Trúc sợ quá nên vô tình vận nội lực vào bàn tay nóng như lửa, chút xíu nước kia cũng lập tức bốc hơi mất nên y không biết.

Đồng Mỗ nói:" Muốn học phép hóa giải Sinh Tử Phù thì cần phải biết cách phóng ra, muốn biết phóng ra thì phải học cách chế tạo trước. Chế ra miếng băng nhỏ xíu, mỏng như giấy mà xuyên thủng qua y phục chui vào nội thể người ta, không phải dễ dàng đâu. Ngươi đổ một chút nước vào lòng bàn tay, rồi vận nội lực cho phát ra hơi lạnh, làm đông cứng mấy giọt nước đó thành băng. "Rồi mụ dạy cho Hư Trúc cách vận khí ngược chiều để dương cương chuyển thành âm nhu. May mà Vô Nhai Tử đã truyền Bắc Minh chân khí cho y có cả âm lẫn dương. Trước nay Hư Trúc chỉ luyện theo hướng dương cương, nhưng bây giờ y chỉ vận chân khí theo chiều ngược lại thì thành âm nhu ngay, chẳng khó khăn gì.

Sinh Tử Phù đã chế luyện được rồi, Đồng Mỗ lại dạy cách vận thủ kình để phát xạ cho trúng huyệt đạo. Đồng Mỗ còn dạy cách pha trộn nội lực mấy phần dương cương, mấy phần âm nhu, tùy theo ý muốn của mình mà phóng ra những loại Sinh Tử Phù khác nhau. Hư Trúc lại mất thêm ba ngày mới học xong. Đồng Mỗ mở lời khen ngợi:" Ngộ tính ngươi rất tốt. Phép chế luyện và phát xạ Sinh Tử Phù của ta cực kỳ phức tạp mà ngươi học được dễ dàng như vậy. Sau này chỉ cần tập luyện thêm, để chế biến tinh vi hơn, nhận huyệt chuẩn xác hơn là được. "

Đến ngày thứ tư, Đồng Mỗ bảo Hư Trúc điều dưỡng nội lực, ngưng tụ chân lực vào hai tay, rồi nói:" Đầu gối của ngươi trúng một miếng Sinh Tử Phù ngay chỗ huyệt Âm Lăng Tuyền. Ngươi vận nội lực dương cương vào hữu chưởng, dùng thủ pháp thứ hai vỗ nhanh ba cái. Sau đó lại vận nội lực âm nhu vào tả chưởng, dùng thủ pháp thứ bảy từ từ hút ra ba lần. Như thế có thể cùng lúc hóa giải được cả hàn độc lẫn nhiệt độc trong Sinh Tử Phù. "Hư Trúc cứ thế mà làm, quả nhiên hóa giải được chỗ bế tắc ở huyệt Âm Lăng Tuyền, khoan khoái vô cùng.

Đồng Mỗ cứ tiếp tục chỉ điểm, Hư Trúc cứ theo lời mụ mà hóa giải. Khi y hóa giải xong hết chín chiếc Sinh Tử Phù, cảm thấy hoan hỉ khôn xiết. Đồng Mỗ thở dài nói:" Đến giờ ngọ ngày mai thì thần công của ta luyện thành. Nhưng luyện công thì lúc tối hậu là nguy hiểm nhất. Hôm nay ta phải định thần tĩnh dưỡng, ngươi đừng mở miệng nói chuyện với ta nữa. "Hư Trúc" Vâng "một tiếng, nghĩ thầm:" Thời gian trôi vùn vụt, thật không ngờ nổi mình đã ở với mụ tới ba tháng rồi. "

Ngay lúc đó, Hư Trúc bỗng nghe thấy một thanh âm tựa như tiếng muỗi vo ve:" Sư tỉ! Sư tỉ! Sư tỉ ở đâu? Tiểu muội nhớ sư tỉ quá. Sao sư tỉ đã đến chơi nhà tiểu muội mà không cho gặp mặt? Sư tỉ xem tiểu muội như người ngoài ư?".

Thanh âm nhỏ xíu, nhưng tiếng nào cũng lọt vào tai rất rõ ràng. Người nói chẳng phải Lý Thu Thủy thì còn ai nữa?

Comments

0 comments

Trước Tiếp
 
34,431 ❤︎ Bài viết: 2241 Tìm chủ đề
Hồi 37: Cùng cười ha hả một trang, cuối đường yêu hận rõ ràng là không

Hư Trúc kinh hãi la lên: "Ôi chao! Không xong rồi! Y.. Y.." Đồng Mỗ quát lên: "Sao ngươi nhát gan đến thế?" Hư Trúc hạ giọng đáp: "Y.. y tìm đến đây rồi!" Đồng Mỗ nói: "Hắn chưa biết chắc ta vào hoàng cung, cũng không biết nấp ở đâu. Trong hoàng cung có cả trăm cả ngàn phòng, hắn mà kiếm từng phòng thì mười ngày nửa tháng chưa chắc đã tìm thấy." Hư Trúc hơi yên tâm, thở ra một hơi rồi nói: "Chỉ cần đến giờ ngọ ngày mai là chúng ta không sợ y nữa." Quả nhiên thanh âm Lý Thu Thủy lại xa dần, rồi không nghe thấy nữa.

Chừng nửa giờ sau, Hư Trúc lại nghe thấy tiếng vo ve: "Hảo tỉ tỉ! Sư tỉ còn nhớ Vô Nhai Tử sư huynh không? Hiện y đang ở trong cung tiểu muội, muốn gặp sư tỉ để nói mấy câu."

Hư Trúc khẽ nói: "Ăn nói hồ đồ! Vô Nhai Tử tiên sinh đã quy tiên lâu rồi. Tiền bối.. đừng trúng kế của y." Đồng Mỗ nói: "Chúng ta ở trong này, có gào thét lên hắn cũng không nghe thấy. Hiện hắn đang ở rất xa, cố vận Truyền Âm Siêu Hồn Đại Pháp để ép ta ra mặt. Hắn đề cập đến Vô Nhai Tử gì gì đó chẳng qua là cốt làm cho ta rối trí, khi nào ta lại mắc vào cạm bẫy của hắn?".

Lý Thu Thủy vẫn tiếp tục nói không biết mệt hết giờ này sang giờ khác, kể lể những chuyện cùng học võ ngày xưa. Lúc thì mụ nhắc tới những lời Vô Nhai Tử cùng mụ thề thốt yêu đương, lúc lại ngoác miệng ra mà thóa mạ Đồng Mỗ là con quỷ ác độc, con tiện nhân tàn ác vô liêm sỉ nhất thiên hạ.

Hư Trúc ráng lấy hai tay bịt tai lại mà thanh âm kia vẫn chui vào nghe rất khó chịu. Y tức tối vô cùng, la lên: "Nói láo! Nói láo! Ta không tin!", rồi xẻ vạt áo cuộn nhỏ lại nút kín lỗ tai. Đồng Mỗ khuyên y: "Con tiện nhân kia vận nội lực cao thâm để phát ra thanh âm, ngươi không ngăn trở cho khỏi lọt vào tai được đâu. Chúng ta đang ở dưới tầng hầm thứ ba này, thanh âm bị ngăn trở rất nhiều mà còn lọt vào được, thế thì nút giẻ có ăn thua gì? Ngươi cứ bình tâm tĩnh trí đừng thèm để ý, coi lời nói của con tiện nhân như tiếng chó sủa bò rống là không sao hết." Hư Trúc vâng lời, lẩm nhẩm: "Nhìn không vào mắt, nghe chẳng vào tai". Nhưng công phu Thiếu Lâm của y đã mất hết, định lực của y giảm sút rất nhiều. Lát sau y nghe Lý Thu Thủy kể tội Đồng Mỗ thì không thể làm ngơ được, rồi trong lòng y sinh ra bán tín bán nghi không hiểu những chuyện mụ nói là thật hay giả.

Một lúc sau, đột nhiên Hư Trúc nghĩ ra một chuyện, liền nói: "Tiền bối! Giờ luyện công sắp đến rồi, lần này là thần công viên mãn. Thế là mụ kia đã chọn đúng lúc để quấy nhiễu, làm cho tiền bối phải phân tán tâm trí, cuộc luyện công hôm nay nguy hiểm vô cùng." Đồng Mỗ nhăn nhó cười đáp: "Bây giờ ngươi mới biết ư? Con tiện nhân đó biết rằng thần công ta luyện xong thì hắn không địch nổi, nên lúc này y dùng hết sức lực để ngăn trở." Hư Trúc hỏi: "Vậy có nên tạm gác việc luyện công lại chăng? Tiền bối luyện công vào lúc bị ngoại ma quấy nhiễu thì có thể.. xảy ra nguy hiểm." Đồng Mỗ nói: "Ngươi thà chết chứ không chịu giúp ta đối phó với con tiện nhân này kia mà? Sao ngươi vẫn quan tâm đến sự an nguy của ta làm gì?" Hư Trúc ngẩn ra đáp: "Vãn bối không thể giúp tiền bối hại người, nhưng cũng không thể để kẻ khác gia hại tiền bối."

Đồng Mỗ nói: "Tâm địa ngươi rất tốt! Ta đã nghĩ kỹ lắm rồi, con tiện nhân kia vừa dùng Truyền Âm Siêu Hồn Đại Pháp nhiễu loạn tâm thần ta, vừa xua chó ngao đi tìm kiếm. Chắc chắn hắn đã bố trí bốn mặt hoàng cung này nghiêm mật như tường đồng vách sắt, không tài nào trốn ra được, mà ẩn núp thêm một ngày là nguy hiểm thêm một ngày. Hừ! May mà chúng ta vào sâu hiểm địa ngay trong nhà hắn, không thì e rằng hắn đã phát giác ra từ hai tháng trước rồi, ngày ấy công lực ta còn thấp kém, không kháng cự được chút nào. Giả tỉ vì Truyền Âm Siêu Hồn Đại Pháp của hắn mà chúng ta hốt hoảng chạy đi thì khác nào giơ tay chịu trói. Gã ngốc kia! Đến giờ ngọ rồi, mỗ mỗ bắt đầu luyện công đây!" Đồng Mỗ nói xong, cắn cổ con bạch hạc cuối cùng để hút máu tươi rồi ngồi xếp bằng vận khí luyện công.

Hư Trúc nghe tiếng Lý Thu Thủy kêu gào mỗi lúc một thêm rùng rợn, thì biết đây là lúc quyết định chuyện sinh tử tồn vong của hai vị sư tỉ sư muội này. Đột nhiên Lý Thu Thủy biến đổi giọng nói thành ôn nhu ấm áp: "Hảo sư ca! Ôm chặt lấy muội đi! Ôi.. ôi! Siết muội chặt thêm chút nữa đi!" Hư Trúc ngơ ngẩn tự hỏi: "Sao mụ lại nói như vậy?"

Bỗng y nghe Đồng Mỗ "hừ" một tiếng rồi mắng: "Đồ tiện nhân!" Hư Trúc giật mình kinh hãi, giờ phút này Đồng Mỗ đang luyện công tới lúc quan hệ vô cùng, giả tỉ mụ xúc động hay căm phẫn thì nguy hiểm không sao nói hết, chỉ sai một ly là có thể mất mạng hay tàn phế. Tiếng Lý Thu Thủy vẫn ngọt ngào quyến rũ, thốt ra toàn những câu ân ái nồng nàn với Vô Nhai Tử. Ngay Hư Trúc cũng không nhịn được, bất giác nhớ lại tình trạng mê ly hoan lạc cùng thiếu nữ kia, lửa dục bốc lên ngùn ngụt, huyết mạch chạy rần rần cả thân thể làm nóng bỏng cả da thịt.

Đồng Mỗ vừa thở hổn hển vừa mắng nhiếc: "Con tiện nhân vô sỉ kia! Sư đệ có thật sự thích mi đâu? Mi cứ mặt dày mà khêu gợi quyến rũ y, thật là khốn kiếp!" Hư Trúc kinh hãi nói: "Tiền bối! Mụ.. mụ cố ý chọc giận, tiền bối đừng cho đó là chuyện thực."

Đồng Mỗ vẫn thóa mạ: "Con tiện nhân vô sỉ! Nếu y thực lòng với mi thì sao đến lúc sắp chết còn lần mò lên núi Phiêu Diểu, đem cái nhẫn thất bảo của bản môn truyền lại cho ta? Sư đệ còn đưa cho ta coi tấm hình do chính tay y vẽ ta hồi mười tám tuổi, còn nói rằng hơn sáu mươi năm nay y bầu bạn với tấm hình đó suốt ngày đêm, một bước không rời. Hừ! Mi nghe thế có khó chịu không..".

Đồng Mỗ huyên thuyên không ngớt, Hư Trúc cứ thộn mặt ra mà nghe. Không biết mụ nói những chuyện đó để làm gì? Hay là bà bị tẩu hỏa nhập ma, thần trí mê loạn mất rồi?

Bỗng nghe đánh "sầm" một tiếng, cửa lớn của hầm nước đá đã bị đẩy ra. Sau đó là tiếng của ngách mở kèn kẹt, rồi cửa lớn cửa ngách đều đóng sập lại. Tiếng quát tháo của Lý Thu Thủy vang lên: "Mi nói láo! Mi nói láo! Sư ca chỉ yêu một mình ta thôi. Y vẽ hình con quỷ lùn để làm cái quái gì? Con tiện nhân kia! Mi chỉ quen đặt điều bịa chuyện!.."

Sau đó, trên tầng thứ nhất hầm nước đá có mười mấy tiếng ầm ầm vang lên như sấm nổ, Hư Trúc kinh hãi vô cùng. Đồng Mỗ lại cười ha hả, la lên: "Con tiện nhân kia! Mi tưởng sư đệ chỉ yêu mình mi thì thật là ngu muội. Tuy ta thấp bé thật, nhưng khuôn mặt ta mỹ lệ, dáng dấp ta yểu điệu. Mấy chục năm trước đây sư đệ đã biết hết rồi, mi là một đứa dâm đãng, thích dẫn dụ bọn thiếu niên anh tuấn về bày chuyện trăng hoa.." Thanh âm của mụ đang ở tầng thứ nhất nhà hầm, Hư Trúc cũng không biết Đồng Mỗ đã từ tầng thứ ba lên tới đó từ lúc nào. Đồng Mỗ lại cười, nói tiếp: "Tỉ muội ta mấy chục năm không gặp nhau, bây giờ phải thân mật với nhau một lúc. Ta đóng cửa hầm lại để người khác khỏi vào quấy nhiễu. Ha ha! Giả tỉ mi muốn kêu bọn thị vệ đến đây, ỷ đông người để thủ thắng, thì mau ra mở cửa ra cho họ vào. Tuy mi hiện ở trong này, nhưng có thể truyền âm ra ngoài được đó."

Trong giây lát, Hư Trúc nghĩ tới rất nhiều điều. Đồng Mỗ chọc được Lý Thu Thủy giận nhảy vào hầm, rồi liệng những khối nước đá lớn chặn cửa lại, quyết một trận tử sinh. Như vậy tuy thế lực của Lý Thu Thủy ở hoàng cung Tây Hạ rất lớn, nhưng cũng không thể gọi thị vệ vào tiếp tay được. Nhưng tại sao Lý Thu Thủy không phá cửa thoát ra lại? Tại sao không kêu người đến tiếp tay như Đồng Mỗ vừa nói? Chắc là vì mụ muốn phá cửa hay dùng phép truyền âm cũng phải vận nội lực, sợ Đồng Mỗ mai phục ngay bên cạnh, chờ sơ hở là đánh một đòn chí mạng. Nếu không đúng thế, thì Lý Thu Thủy kiêu ngạo không thèm mượn sức người ngoài, muốn đích thân thanh toán tình địch. Hư Trúc lại nghĩ: "Những ngày trước, lúc Đồng Mỗ luyện công thì không nói năng mà cũng không nhúc nhích, tựa như không biết chút nào những việc bên ngoài. Hôm nay bà tức không chịu nổi, phải lên tiếng cãi nhau với Lý Thu Thủy, việc luyện công chậm lại một ngày, không biết có hại gì không? Trận chiến hôm nay cũng chưa rõ ai thắng ai thua, nhưng nếu Đồng Mỗ thắng mà thoát khỏi hoàng cung, ngày mai sẽ luyện bù thì có được không?".

Hư Trúc đang nghĩ ngợi, bỗng nghe những tiếng ầm ầm như sấm nổ, chắc là Đồng Mỗ cùng Lý Thu Thủy đang dùng nội lực ném những khối nước đá vào nhau. Hư Trúc đã ở với Đồng Mỗ ba tháng, tuy bà ta vui giận bất thường, hành động độc đoán khiến y đau khổ không ít, nhưng hôm sớm có nhau cũng nảy tình thân cận. Lúc này y chỉ sợ Đồng Mỗ bị độc thủ của Lý Thu Thủy, bất giác bước lên trên.

Y vừa lên tới tầng thứ hai đã nghe Lý Thu Thủy quát: "Ai đó?", những tiếng ầm ầm cũng ngừng lại. Hư Trúc nín thở không dám lên tiếng. Đồng Mỗ bỗng nói: "Y là một thiếu niên phong lưu lãng tử nhất trong võ lâm Trung Nguyên, có ngoại hiệu là Phấn Diện Lang Quân Võ Phan An. Mi có muốn thấy mặt y không?" Hư Trúc nghĩ bụng: "Kẻ xấu xí như mình thì làm gì có ngoại hiệu Phấn Diện Lang Quân Võ Phan An? Hỡi ơi! Tiền bối lại đem mình ra làm trò cười!"

Lý Thu Thủy đáp: "Mi đừng nói hồ đồ. Ta đã thành bà lão mấy chục năm nay, còn muốn coi mặt bọn thiếu niên làm gì? Cái tên Phấn Diện La Sát Võ Phan An gì gì đó, nhiều phần chắc là tên tiểu hòa thượng hình dung cổ quái cõng mi chạy trốn tới trốn lui." Rồi mụ lớn tiếng gọi: "Tiểu hòa thượng! Có phải ngươi đó không?" Hư Trúc trống ngực đánh ầm ầm, chẳng biết nên thừa nhận hay không. Đồng Mỗ lên tiếng: "Mộng Lang! Ngươi là tiểu hòa thượng ư? Ha ha! Người ta kêu chàng thiếu niên anh tuấn như ngươi là tiểu hòa thượng, thật buồn cười đến chết được!"

Hai tiếng Mộng Lang vừa lọt vào tai, Hư Trúc hổ thẹn vô cùng, đỏ mặt lên nghĩ thầm: "Hỏng bét! Hỏng bét! Sao Đồng Mỗ lại biết vị cô nương kia gọi ta như thế? Những chuyện này đâu thể để cho người khác biết được? Trời ơi! Ta tâm tình với cô nương kia, chắc là.. chắc là.. Đồng Mỗ nghe rõ hết rồi."

Đồng Mỗ lại giục: "Mộng Lang, ngươi có phải là tiểu hòa thượng không? Mau mau trả lời đi." Hư Trúc đáp: "Không phải." Tuy nhà sư chỉ nói lí nhí, nhưng Đồng Mỗ và Lý Thu Thủy cùng nghe rõ.

Đồng Mỗ lại cười khanh khách: "Mộng Lang! Ngươi không việc gì phải nóng nảy, chẳng mấy chốc sẽ được cùng Mộng Cô tương kiến. Mấy bữa nay nàng tương tư ngươi đến phát điên, ăn không ngon ngủ không yên. Ngươi nói thật đi, ngươi có nhớ nàng không?"

Hư Trúc đã yêu thương thiếu nữ kia thật lòng. Mấy ngày nay tuy y phải chú tâm vào luyện cách phát xạ và hóa giải Sinh Tử Phù, nhưng lúc nào cũng nhớ nàng đến điên đảo thần hồn. Bây giờ nghe Đồng Mỗ đột ngột hỏi, y bất giác đáp luôn: "Có nhớ!"

Lý Thu Thủy chậm rãi nói: "Mộng Lang, Mộng Lang! Thì ra ngươi quả là một thiếu niên đa tình. Lại đây, để ta xem vị thiếu niên phong lưu lãng tử nhất trong võ lâm Trung Nguyên là nhân vật thế nào?"

Lý Thu Thủy tuy trẻ hơn Đồng Mỗ và Vô Nhai Tử, nhưng cũng đã đến bảy tám chục tuổi. Thế mà mụ nói câu này cực kỳ ôn nhu uyển chuyển, khiến cho trống ngực Hư Trúc đánh thình thịch, tưởng chừng trong chớp nhoáng đã biến thành tay phong lưu lãng tử đệ nhất Trung Nguyên thật. Nhưng y lập tức lại nghĩ đến chân tướng mình: "Ta thật là xấu xí, thô bỉ, vụng về, mà bảo là một chàng phong lưu lãng tử thì thật buồn cười đến chết người." Y lại tự hỏi: "Đồng Mỗ đang có đại địch trước mắt, sao lại đem mình ra nói giỡn chơi? Chắc hẳn bà có thâm ý gì đây. À phải rồi, ngày trước Vô Nhai Tử tiền bối tìm người để truyền ngôi chưởng môn phái Tiêu Dao, đã mấy lần chê ta tướng mạo xấu xí. Sau Tô Tinh Hà tiền bối lại nói: Muốn khắc chế được Đinh Xuân Thu phải tìm cho được một thiếu niên phong tư anh tuấn, ngộ tính cao. Khi đó ta không hiểu tại sao, bây giờ xem ra thì việc chọn người này tất có liên quan đến Lý Thu Thủy. Vô Nhai Tử tiền bối bảo ta đi tìm một người để xin chỉ điểm võ công, là tìm bà ta hay sao? Tô Tinh Hà tiền bối cũng từng nói là người này rất thích những thiếu niên anh tuấn."

Y còn đang ngẫm nghĩ thì đột nhiên thấy hào quang lấp lánh, trên tầng hầm thứ nhất lóe lên một tia sáng như sao sa, tiếp theo là những tiếng vù vù ghê rợn. Hư Trúc bước lên bậc đá thì nhìn thấy một chấm trắng và một chấm đen bay lượn rất nhanh, lúc nhập lại lúc tách ra, lại nghe những tiếng lách tách như pháo liên châu. Hiển nhiên Đồng Mỗ cùng Lý Thu Thủy đang chiến đấu kịch liệt. Trên những khối băng có một bó đuốc nhỏ, chiếu sáng yếu ớt. Hư Trúc chỉ thấy hai bóng người quay cuồng quanh nhau, nhanh không thể tưởng tượng được, không phân biệt nổi đâu là Đồng Mỗ, đâu là Lý Thu Thủy.

Bó đuốc nhỏ xíu, trong chốc lát đã cháy hết, nghe một tiếng "xèo" rồi trong hầm nước đá lại tối đen như mực, chỉ còn nghe tiếng chưởng phong veo véo rít lên không ngớt. Hư Trúc xao xuyến nghĩ thầm: "Đồng Mỗ đã cụt một chân, đánh lâu tất là bất lợi, ta nên tìm cách giúp bà một tay. Nhưng Đồng Mỗ là người tàn nhẫn, nếu chiếm được thượng phong thì Lý Thu Thủy tất không toàn tính mạng, ta cũng không muốn thế. Mà hai người này võ công tuyệt cao, ta nhúng tay vào thế nào được?"

Hư Trúc bỗng nghe một tiếng "chát" rồi Đồng Mỗ kêu to lên một tiếng "úi chao!", rõ ràng đã bị thương rồi. Lý Thu Thủy cười ha hả: "Sư tỉ! Chiêu đó của tiểu muội hay dở thế nào, xin sư tỉ chỉ điểm cho." Đột nhiên mụ quát lên: "Đừng hòng chạy thoát!"

Hư Trúc thấy một luồng gió lạnh lướt qua mình, Đồng Mỗ vừa chạy vừa khẽ bảo: "Chiêu thứ hai, phóng chưởng." Hư Trúc không hiểu, vừa toan hỏi lại thì thấy một luồng chưởng lực âm hàn tạt tới mặt. Y không kịp nghĩ gì nữa, liền thi triển thủ pháp thứ hai để phá giải Sinh Tử Phù mà Đồng Mỗ đã truyền cho. Trong bóng tối, chưởng lực chạm nhau, Hư Trúc run người lên, khí huyết nhộn nhạo rất là khó chịu, liền dùng thủ pháp thứ bảy để giải khai.

Lý Thu Thủy "Hừ" một tiếng rồi quát hỏi: "Ngươi là ai? Sao lại biết Thiên Sơn Lục Dương Chưởng? Ai dạy cho ngươi?" Hư Trúc ngạc nhiên hỏi lại: "Thiên Sơn Lục Dương Chưởng là cái gì?" Lý Thu Thủy đáp: "Ngươi không chịu nhận ư? Chiêu thứ hai Dương Xuân Bạch Tuyết và chiêu thứ bảy Dương Quan Tam Điệp là những tuyệt chiêu bí truyền của bản môn, sao ngươi lại học được?" Hư Trúc lại càng ngơ ngác, hỏi lại: "Dương Xuân Bạch Tuyết với Dương Quan Tam Điệp là cái gì?" Y chẳng hiểu gì, mơ hồ nhận ra mình đã mắc mẹo Đồng Mỗ gì đó.

Đồng Mỗ đứng sau lưng Hư Trúc, cười khẩy nói: "Vị Mộng Lang này đã nổi tiếng là tay phong lưu lãng tử nhất trong võ lâm Trung Nguyên, dĩ nhiên các môn cầm kỳ thi họa, y bốc tinh tướng, môn gì y cũng hiểu đến chỗ tinh vi. Vì thế y mới lọt vào mắt xanh của Vô Nhai Tử sư đệ, được thu làm đệ tử truyền nhân, giao cho trọng trách tiêu diệt tên phản đồ Đinh Xuân Thu để thanh lý môn hộ."

Lý Thu Thủy dịu dàng hỏi lại: "Mộng Lang! Có đúng thế không?" Hư Trúc nghe hai người cùng kêu mình bằng Mộng Lang, thẹn mặt đỏ ra đến mang tai. Câu Đồng Mỗ vừa nói thì đoạn trên là giả, đoạn dưới lại là thực, nên Hư Trúc không thể nói "đúng", mà cũng không thể nói "sai" được. Nhưng mấy chiêu vừa rồi, rõ ràng là thủ pháp Đồng Mỗ truyền thụ cho y để giải trừ Sinh Tử Phù, thế mà Lý Thu Thủy lại bảo là Thiên Sơn Lục Dương Chưởng. Hư Trúc nhớ lại Đồng Mỗ từng yêu cầu mình học Thiên Sơn Lục Dương Chưởng để đối phó với Lý Thu Thủy mà không được, liền tự hỏi: "Chẳng lẽ mấy thủ pháp này chính là Thiên Sơn Lục Dương Chưởng ư?".

Lý Thu Thủy nghiêm giọng hỏi: "Sao sư thúc hỏi mà ngươi lại làm thinh?" Rồi mụ đột nhiên đưa tay ra chụp xuống vai y. Nhưng Hư Trúc đã được Đồng Mỗ dạy cho cách hóa giải, dù ở trong bóng tối cũng có thể nghe tiếng gió để phân biệt phương hướng mà đối phó. Y cảm thấy Lý Thu Thủy giơ tay lên toan chụp xuống với mình, liền hạ thấp vai, xoay người chéo đi để tránh, rồi xoay tay lại bắt cổ tay đối phương. Lý Thu Thủy vội rụt tay về cất tiếng khen: "Giỏi lắm! Chiêu Dương Ca Điếu Thiên này nội lực thâm hậu, sử kình thuần thục. Có phải Vô Nhai Tử sư huynh đã đem hết công phu truyền cho ngươi rồi không?" Hư Trúc ngập ngừng đáp: "Quả Vô Nhai Tử.. tiền bối đã.. đem truyền hết công lực cho tại hạ."

Chính ra thì Vô Nhai Tử đem hết công lực của lão truyền cho Hư Trúc chứ không phải công phu. Công lực với công phu chỉ khác nhau một chữ mà nghĩa lại sai biệt rất nhiều, nhưng Lý Thu Thủy đang xúc động nên không phát hiện ra chỗ sai biệt đó. Mụ lại hỏi: "Sư huynh ta đã thu ngươi làm đệ tử, sao ngươi không kêu ta bằng sư thúc?" Hư Trúc liền gọi: "Sư bá! Sư thúc! Hai vị đã là người một nhà, sao lại không cởi mối oan cừu, cứ tranh đấu mãi? Mọi việc đã qua hãy bỏ hết đi là hơn."

Lý Thu Thủy nói: "Mộng Lang! Ngươi còn nhỏ tuổi, không hiểu được dụng tâm của mụ già này hiểm ác vô cùng! Ngươi tránh ra một bên.." Mụ chưa dứt lời, đột nhiên la lên một tiếng "Úi chao!", thì ra Đồng Mỗ nấp sau lưng Hư Trúc đột nhiên ám toán. Bà vận kình lực âm nhu, phát chưởng không một tiếng động. Hai người đứng gần nhau quá, Lý Thu Thủy phát giác ra, chưa kịp phản kích thì chưởng lực Đồng Mỗ đã đập trúng ngực. Mụ vội lùi lại phía sau nhưng cũng đã chậm rồi, ngực đau đến nghẹn thở, tựa như kinh mạch đã bị tổn thương. Đồng Mỗ cười cười hỏi lại: "Sư muội! Chiêu đó của tỉ tỉ hay dở thế nào, xin sư muội chỉ điểm cho!" Lý Thu Thủy lo vận khí ngăn ngừa thương thế, không dám mở miệng trả lời.

Đồng Mỗ đánh lén thành công, dĩ nhiên không để đối phương hồi phục. Cái chân còn lại của mụ nhảy tung lên, phóng chưởng đánh tới veo véo. Hư Trúc la lên: "Tiền bối! Đừng hạ độc thủ!" Rồi y dùng thủ pháp của Đồng Mỗ đã truyền thụ, hóa giải ba phát chưởng của mụ đánh tới Lý Thu Thủy. Đồng Mỗ cả giận quát mắng: "Quân tiểu tặc! Mi dùng công phu đó để đánh ta ư?" Thì ra trước kia Hư Trúc nhất quyết không chịu luyện môn Thiên Sơn Lục Dương Chưởng, nhưng Đồng Mỗ biết mai sau còn nhiều đại nạn, cần có trợ thủ đắc lực. Mụ bèn gieo Sinh Tử Phù vào người Hư Trúc rồi dạy y phép hóa giải, kỳ thực đó chính là Thiên Sơn Lục Dương Chưởng. Mụ lại cùng Hư Trúc chiết giải nhiều lần để đem những chỗ biến hóa tinh diệu truyền thụ cho kỳ hết. Lúc này Đồng Mỗ chiếm được thượng phong, làm sao mụ ngờ nổi Hư Trúc áp dụng võ công của mình để chống đỡ cho Lý Thu Thủy? Hư Trúc nói: "Tiền bối! Vãn bối khuyên tiền bối niệm tình đồng môn mà hạ thủ nhẹ tay một chút." Đồng Mỗ lại thét lên: "Cút đi! Cút đi!"

Lý Thu Thủy được Hư Trúc xuất thủ đỡ giúp ba chiêu của Đồng Mỗ, rảnh tay điều hòa hơi thở được một lát. Mụ nói: "Mộng Lang! Ta không sao đâu, ngươi tránh ra đi!". Tả chưởng mụ đánh ra, hữu chưởng phòng hờ để dẫn kình lực bên tay trái vòng qua người Hư Trúc, nhằm đánh Đồng Mỗ. Đồng Mỗ ngấm ngầm kinh hãi nghĩ thầm: "Con tiện nhân này đã luyện được Bạch Hồng Chưởng Lực, đánh thẳng hay đánh cong tùy ý, thật là ghê gớm!" Rồi bà liền vung chưởng ra nghinh địch.

Hư Trúc biết rằng bản lĩnh mình còn kém, không đủ sức để can ngăn hai bà, liền thở dài một tiếng rồi lùi ra xa.

Hai người chiến đấu hồi lâu, những luồng kinh phong sắc bén tạt vào mặt Hư Trúc rát như dao cắt. Y thấy đứng đó không yên, toan lùi về tầng hầm thứ ba. Bỗng nghe đánh "sầm" một tiếng, rồi Đồng Mỗ rú lên, đã bị Lý Thu Thủy phóng chưởng đánh văng vào một khối nước đá cứng rắn. Hư Trúc la lên: "Dừng tay! Dừng tay!", rồi lập tức phóng ra hai chiêu "Lục Dương Chưởng" để hóa giải mấy chiêu đánh bồi của Lý Thu Thủy, Đồng Mỗ nhân cơ hội nhảy xuống tầng hầm thứ ba, đột nhiên rú lên một tiếng thê thảm, rồi lăn long lóc xuống bậc đá.

Hư Trúc hỏi dồn: "Tiền bối! Tiền bối! Làm sao thế?" Y vội chạy tới nơi, đưa tay toan nâng bà ta dậy, thì cảm thấy thân thể bà đã lạnh như băng, lại sờ lên mũi thì không thấy hơi thở nữa. Hư Trúc vừa kinh hãi vừa đau thương, la to: "Sư thúc! Sư thúc đánh chết sư bá rồi! Sư thúc tàn ác quá!" Rồi y không nhịn được, khóc òa lên.

Lý Thu Thủy nói: "Không chừng có chuyện gian trá. Một chưởng đó làm sao đánh chết hắn được?" Hư Trúc vừa khóc vừa nói: "Còn nói là chưa chết ư? Sư bá đã tắt thở rồi, tiền bối lại còn.. Sư bá ơi! Tiểu điệt đã khuyên sư bá đừng mãi thù hận.." Lý Thu Thủy lấy trong bọc ra một cây nến nhỏ, thắp lên soi thì thấy dưới thềm đầy máu tươi. Đồng Mỗ nằm sóng sượt trên bậc đá, trước ngực vấy máu.

Mỗi khi luyện môn Bát Hoang Lục Hạp Duy Ngã Độc Tôn, Đồng Mỗ đều phải uống máu tươi. Mụ chỉ cần thổ huyết ra một chút cũng đủ chết. Lúc này trên thềm nhà và bực đá lại đầy những máu, ít ra cũng đến mấy bát lớn, Lý Thu Thủy biết rằng mối thù mấy chục năm nay đã trả xong, thế mà không thấy vui mừng, lại không khỏi bâng khuâng tịch mịch.

Hồi lâu, Lý Thu Thủy cầm cây nến trong tay, vừa đi xuống bậc đá vừa buồn bã hỏi: "Sư tỉ! Sư tỉ chết thật rồi ư? Tiểu muội chưa yên tâm đâu!" Mụ đi tới còn cách Đồng Mỗ năm thước, ánh nến thấp thoáng chiếu tới bộ mặt nhăn nheo của Đồng Mỗ, soi rõ những vết nhăn ở khóe miệng đều đọng máu tươi, trông rất ghê sợ. Lý Thu Thủy dịu dàng nói: "Sư tỉ! Một đời tiểu muội bị khổ về tay sư tỉ đã nhiều. Sư tỉ đừng giả vờ chết để lừa gạt tiểu muội." Mụ nói xong, nhẹ nhàng vung tay trái lên nhằm đánh vào trước ngực Đồng Mỗ. Nghe mấy tiếng "rắc rắc", dường như Đồng Mỗ gãy thêm mấy cái xương sườn.

Hư Trúc cả giận quát hỏi: "Sư bá đã chết về tay sư thúc rồi, sao còn nhẫn tâm tàn hại di thể của người?" Y thấy Lý Thu Thủy lại toan đánh tiếp, liền vung chưởng ra ngăn lại. Lý Thu Thủy liếc mắt nhìn Hư Trúc thì thấy con người được Đồng Mỗ gọi là "Trung Nguyên võ lâm đệ nhất phong lưu lãng tử" mắt to, mũi hếch, tai lớn, mồm rộng, mày rậm, nói chung tướng mạo thật là quê mùa xấu xí, biết ngay mình đã mắc lừa Đồng Mỗ. Mụ liền đưa tay phải ra nắm lấy vai Hư Trúc. Y nghiêng mình né tránh, nói: "Tiểu điệt không đánh nhau với sư thúc đâu, chỉ khuyên sư thúc đừng động đến di thể sư bá nữa."

Lý Thu Thủy xuất bốn chiêu liền, không ngờ Hư Trúc dùng Thiên Sơn Lục Dương Chưởng đỡ gạt hết, bên trong lại ngấm ngầm có uy lực phản công. Lý Thu Thủy trỏ phía sau lưng Hư Trúc hỏi: "Hừ! Ai đứng sau lưng ngươi đó?" Hư Trúc không có kinh nghiệm chiến đấu, giật mình quay đầu lại thì tức thì trước ngực đau nhói lên, đã bị Lý Thu Thủy điểm trúng huyệt đạo, rồi lại bị điểm tiếp những huyệt đạo ở vai và chân, lập tức người nhũn ra, ngã lăn xuống phía dưới chân Đồng Mỗ. Hư Trúc vừa kinh hãi vừa tức giận la lên: "Sư thúc là bậc tiền bối, sao lại gạt người?"

Lý Thu Thủy cười khanh khách nói: "Binh bất yếm trá. Hôm nay ta dạy cho ngươi một bài học." Mụ chỉ mặt Hư Trúc, vừa cười vừa hỏi lại: "Một tên tiểu hòa thượng xấu xí như ngươi mà cũng tự xưng là Trung Nguyên võ lâm đệ nhất phong lưu lãng tử gì gì đấy thôi."

Đột nhiên nghe một tiếng "ầm", Lý Thu Thủy chưa kịp la lên đã thấy huyệt Chí Dương sau lưng trúng một chưởng trầm trọng, chính là Đồng Mỗ tập kích. Rồi huyệt Đản Trung trước ngực mụ cũng trúng một quyền. Một chưởng, một quyền phóng ra quá bất ngờ, đừng nói Lý Thu Thủy không kịp chống đỡ hay né tránh, ngay cả vận khí để chịu đựng cũng không kịp. Người mụ bị phát quyền đánh văng lên nằm trên bậc đá, cây đuốc trong tay cũng văng đi.

Đồng Mỗ chuẩn bị đã lâu, dồn sức đánh một đòn, nên uy thế mãnh liệt dị thường. Cây đuốc từ tầng hầm thứ ba, bay qua tầng hầm thứ hai, lên đến tầng hầm thứ nhất mới rớt xuống. Trong tầng hầm thứ ba tối đen như mực, chỉ còn nghe thấy tiếng cười khanh khách của Đồng Mỗ, Hư Trúc vừa sợ vừa mừng, vội hỏi: "Tiền bối! Tiền bối chưa chết ư? Thế thì hay lắm!".

Thì ra Đồng Mỗ luyện thần công chưa xong, mà khi trên đỉnh núi tuyết đã bị Lý Thu Thủy chém đứt một chân, công lực tổn thất rất nhiều. Trận quyết đấu sinh tử hôm nay đã kéo dài đến hơn hai trăm chiêu, Đồng Mỗ tự biết mình phải bại chứ không thắng được, đến lúc bà trúng một chưởng của Lý Thu Thủy thì thế kém lại càng rõ rệt. Hư Trúc lại không chịu giúp đỡ, tuy y cũng cản trở Lý Thu Thủy không cho thừa thắng truy kích, nhưng không chịu thi hành ngụy kế của bà. Đồng Mỗ biết chỉ một lúc nữa là thảm bại, liền nghiến răng chịu đau cho Lý Thu Thủy đánh một chưởng, cứ nằm giả chết. Lúc nãy máu tươi trên bậc đá cùng trước ngực bà chính là máu hươu mà bà đã chuẩn bị từ trước để dụ địch. Không ngờ Lý Thu Thủy cũng cực kỳ lợi hại, thấy Đồng Mỗ tắt hơi rồi mà vẫn phóng thêm một chưởng vào trước ngực. Mụ đã cố một thì phải cố hai, nằm yên chịu gãy thêm mấy cái xương sườn. Nếu không có Hư Trúc ngăn trở thì không chừng Lý Thu Thủy đánh bà đến nát bét ra, dĩ nhiên không còn cách nào thực hiện âm mưu. May mà một là Hư Trúc vì lòng nhân hậu đã ra tay cản trở, hai là Lý Thu Thủy trông thấy chân tướng vị "Trung Nguyên võ lâm đệ nhất phong lưu lãng tử" đang mải cười mà mất cảnh giác, ba là tuy Lý Thu Thủy biết Đồng Mỗ giảo quyệt nham hiểm, nhưng không ngờ nổi mụ nhẫn nại được đến thế.

Lý Thu Thủy bị trọng thương cả trước ngực lẫn sau lưng, nội lực tiềm tàng mấy chục năm trời đột nhiên cuồn cuộn tuôn ra như nước vỡ bờ, không kìm hãm lại được. Nội lực của phái Tiêu Dao đứng vào bậc nhất trong thiên hạ, nhưng nếu không kiềm chế được thì nó chạy nhộn nhạo trong người rồi phát tiết ra ngoài, nỗi đau khổ không thể tưởng tượng được, chỉ có người trong cảnh ngộ mới biết. Chỉ trong khoảnh khắc, Lý Thu Thủy thấy huyệt đạo toàn thân tựa như có trăm ngàn con ong độc châm đốt. Mụ hiểu rằng mình không thể chịu nổi, bèn la gọi: "Mộng Lang! Ngươi có lòng tốt thì mau mau chóng chưởng đánh vào huyệt Bách Hội trên đầu ta."

Lý Thu Thủy giật tấm khăn che mặt xuống, lấy móng tay cào mặt cho chảy máu đầm đìa, quả là đau đớn không chịu được nữa, lại kêu gào: "Mộng Lang!.. Mau vung quyền đánh chết ta đi." Đồng Mỗ cười nhạt nói: "Mi điểm huyệt y rồi, còn kêu y giúp đỡ làm sao được? Ha ha! Đúng là mình làm mình chịu." Lý Thu Thủy cố gượng đứng lên để giải huyệt cho Hư Trúc, nhưng toàn thân bà tê nhức, nhúc nhích một ngón tay cũng không được, còn nói gì đến chuyện đứng lên.

Hư Trúc đưa mắt nhìn Lý Thu Thủy rồi lại nhìn Đồng Mỗ, thấy mụ cũng bị thương cực kỳ trầm trọng, nằm lăn trên bậc đá, bắt đầu không nhịn nổi phải kêu rên. Lúc này cảnh vật trong hầm nước đá mỗi lúc một rõ hơn, tựa hồ được chiếu sáng dần dần, Hư Trúc lấy làm lạ, quay đầu nhìn về phía phát ra ánh sáng, bỗng thấy trên tầng thứ nhất có ánh lửa. Y cả mừng reo lên: "May quá! Có người vào đây."

Nhưng Đồng Mỗ thì kinh hãi nghĩ thầm: "Có người vào thì chắc chắn là thủ hạ của con tiện nhân kia." Bà gượng hít một hơi chân khí, muốn đứng dậy nhưng không được, vừa nhổm người lên thì chân đã nhũn ra, té nhào xuống đất. Bà đưa hai tay ra, cố sức từ từ kéo Lý Thu Thủy lại, định bụng nhân lúc cứu binh của kẻ thù chưa đến, phải ra tay hạ sát trước.

Bỗng mụ nghe những tiếng tí tách rất nhỏ, dường như nước từ trên bậc đá đang chảy xuống. Lý Thu Thủy cùng Hư Trúc cũng nghe tiếng nước chảy, liền quay lại nhìn thì quả nhiên thấy trên bậc đá có nước chảy xuống. Cả ba người cùng ngạc nhiên tự hỏi: "Nước đâu mà chảy xuống đây?"

Trong hầm mỗi lúc một sáng hơn, nước không nhỏ giọt nữa mà đã chảy thành dòng, tràn qua bậc đá. Hư Trúc nhìn lên tầng hầm thứ nhất thì không thấy ai, chỉ thấy lửa cháy mỗi lúc một lớn. Lý Thu Thủy "hừ" một tiếng rồi nói: "Cháy rồi! Cháy những túi bông rồi!.." Thì ra ngoài cửa hầm nước đá có xếp đầy những bao chứa bông để cách nhiệt, giữ cho nước đá lâu tan. Lúc nãy Lý Thu Thủy bị Đồng Mỗ đánh một quyền, cây đuốc trong tay văng lên tầng thứ nhất rớt vào đống bao tải chứa bông. Lập tức bông cháy lên, sức nóng làm cho nước đá tan ra chảy xuống.

Thế lửa mỗi lúc một to, băng tan mỗi lúc một nhanh, nước chảy xuống đã nghe ào ào. Chẳng bao lâu tầng hầm thứ ba đã ngập hơn một tấc và nước từ bậc đá vẫn tiếp tục chảy xuống. Mực nước mỗi lúc một cao, dần dần ngập đến thắt lưng ba người.

Lý Thu Thủy thở dài nói: "Sư tỉ! Hôm nay tỉ muội ta cùng chết tại đây. Sư tỉ hãy giải huyệt cho Mộng Lang để gã thoát ra đi." Mọi người đều hiểu rõ, chẳng bao lâu nữa nước sẽ ngập lên tới đầu, cả ba đều chết đuối.

Đồng Mỗ cười nhạt nói: "Tự mi gây chuyện, bây giờ còn nói nhiều nữa ư? Ta đang muốn giải huyệt cho gã, nhưng mi lại làm bộ nhân đức nói vậy, ta không giải khai nữa. Tiểu hòa thượng! Thế là ngươi chết về câu nói của con tiện nhân, ngươi có biết không?" Đồng Mỗ xoay mình quay lại phía bậc đá, cố trườn lên để tạm thời khỏi bị ngập. Tuy chính bà cũng khó tránh được cái chết, nhưng được thấy Lý Thu Thủy chết trước mình thì cũng coi như đã trả được mối thù mấy mươi năm.

Lý Thu Thủy mắt thấy Đồng Mỗ nhoai dần lên, còn mình đã bị nước đá lạnh thấu xương tràn lên lấp xấp tới ngực. Chân khí trong người lại đang nhộn nhạo đau đớn vô cùng, lúc này mụ chỉ mong cho nước mau ngập đến miệng đến mũi để chết quách đi, đỡ phải chịu những cơn đau nhức như ong đốt kim châm khắp thân thể.

Bỗng nghe Đồng Mỗ la lên một tiếng, lại lăn tõm xuống nước. Thì ra mụ đang bị trọng thương, tay chân mất hết sức lực, lúc bò lên tới bậc thứ bảy thì một cục băng to bằng nắm tay trôi xuống chạm vào đầu gối. Mụ không tự chủ được, lại trượt xuống đúng vào người Hư Trúc, rồi lăn sang bên trái y, còn bên hữu y là Lý Thu Thủy. Thế là ba người nằm cạnh nhau trong vũng nước.

Đồng Mỗ thân thể nhỏ bé hơn Hư Trúc và Lý Thu Thủy nhiều, dĩ nhiên sẽ bị ngập nước đầu tiên. Lúc này bà đau khổ vô cùng, nhưng cũng có nghĩ: "Bất luận thế nào, con tiện nhân kia cũng phải chết trước ta." Bà muốn ra tay hại Lý Thu Thủy nhưng lại bị Hư Trúc nằm chắn giữa. Tuy trong người bà nội lực tràn trề, nhưng lúc này muốn nhúc nhích cánh tay cũng không được. Bà thấy vai Hư Trúc kề vai Lý Thu Thủy, chợt nghĩ ra một cách, liền nói: "Tiểu hòa thượng! Ngươi nhất định đừng vận công chống cự, nếu không thì coi như tự sát." Không đợi Hư Trúc trả lời, bà vận nội lực truyền sang vai y. Hành động này của Đồng Mỗ mới thực là tự sát, lúc này mụ không vận khí được, nội lực không được bổ sung mà phải tiêu hao, tất càng chóng chết. Nhưng bà vẫn liều đánh một đòn tối hậu không cần biết hậu quả, vì nếu cứ để cho nước dâng lên thì đương nhiên sẽ chết trước kẻ thù.

Lý Thu Thủy lập tức rung chuyển, phát giác ra Đồng Mỗ dùng nội lực đánh sang, liền cố gắng vận công chống lại.

Hư Trúc nằm giữa hai người, vừa thấy một luồng nhiệt khí truyền vào vai trái, lập tức lại thấy vai phải cũng có một luồng nhiệt khí dương thúc sang, chỉ trong chớp mắt là hai luồng kình khí xung đột trong người y một cách mãnh liệt. Công lực Đồng Mỗ và Lý Thu Thủy vốn ngang nhau, sau khi hai người cùng bị trọng thương vẫn kẻ tám lạng người nửa cân như cũ. Vì thế mà nội lực hai người đều dừng lại chống đối nhau trong người Hư Trúc, không ai đẩy được sang tới thân thể đối phương. Hóa ra Hư Trúc lại bị tả hữu giáp công cực kỳ đau khổ, may mà Hư Trúc đã được bảy mươi năm công lực của Vô Nhai Tử truyền cho, lại chưa bị thương. Vì thế mà nếu cục diện ba người đồng môn cầm cự kéo dài, thì Hư Trúc cũng không đến nỗi mất mạng vì hai tay đại cao thủ giáp công.

Đồng Mỗ thấy mực nước lên cao dần, tới cổ, tới cằm, rồi lên đến miệng, bèn cố thôi thúc nội lực để đánh một đòn tối hậu mong hạ sát tình địch. Nhưng nội lực Lý Thu Thủy cũng còn đầy rẫy, không phải một giờ hay mấy khắc mà hao tán hết được. Tiếng nước chảy róc rách vẫn không ngừng, rồi Đồng Mỗ thấy trong miệng lạnh buốt, nước đã tràn vào. Bà kinh hãi, bất giác cố nhổm lên, nhưng không ngồi vững được, ngã ra nổi lềnh bềnh trên mặt nước. Thì ra bà mất một chân nên người nhẹ đi, dễ nổi hơn người thường, thật là tìm thấy cái sống trong chỗ chết. Đồng Mỗ thả mình nằm ngửa trên mặt nước chỉ lộ mũi miệng ra để thở, trong lòng bình tĩnh nghĩ thầm: "Nước lên cao thì người mình cũng nổi cao lên. Không ngờ ở dưới nước thì mình bị mất một chân lại là lợi điểm." Nội lực từ tay bà vẫn phóng ra không ngớt.

Hư Trúc vừa rên la vừa gọi: "Ôi chao! Sư bá! Sư thúc! Hai vị có tỉ đấu bao lâu thì cũng chẳng ai hơn ai kém, chỉ có tiểu điệt ở giữa chịu chết mà thôi." Nhưng Đồng Mỗ cùng Lý Thu Thủy đang tỉ thí nội lực cực kỳ nguy hiểm, ai ngưng lại trước là phải táng mạng. Trường hợp này hai bên nội lực xấp xỉ nhau thì bất luận kẻ thắng người bại đều mất mạng cả, chỉ còn phân biệt được ai tắt hơi trước mà thôi. Hai bà này đều cao ngạo ghê gớm, chẳng ai chịu thua ai, hôm nay có cơ hội giải quyết xong mối cừu hận mấy chục năm trời, làm sao mà dàn xếp được nữa? Hơn nữa nội lực cả hai đang nhộn nhạo trong người không kiềm chế được, bây giờ có chỗ phát tiết ra ngoài, tuy có hại nhưng đỡ đau khổ được ít nhiều.

Thời gian chừng ăn xong bữa cơm, nước lạnh đã ngập đến miệng Lý Thu Thủy. Mụ không biết bơi nên không dám bắt chước Đồng Mỗ thả người nổi lên mặt nước, liền phong tỏa đường hô hấp theo phép Quy Tức Công để chiến đấu với địch nhân. Nước dần dần ngập đến mắt, đến mày, rồi ngập cả đầu bà, nhưng nội lực hùng hậu vẫn phát ra không ngớt.

Nước lạnh tràn vào miệng Hư Trúc ừng ực luôn ba ngụm, y la lên: "Ôi chao! Tiểu điệt.. sặc nước.." Đang lúc kinh hoàng, đột nhiên hai mắt y tối sầm lại không nhìn thấy gì nữa. Hư Trúc vội ngậm chặt miệng lại, thở bằng mũi, nhưng lúc hít không khí vào, trong ngực cũng thấy khó chịu. Thì ra nhà hầm nước đá này bốn mặt kín mít, không có chỗ thông hơi. Những bao bông gòn đã cháy hàng mấy giờ, bao nhiêu dưỡng khí trong nhà đều biến thành thán khí hết, lúc này lửa không còn dưỡng khí nên tự tắt đi. Hư Trúc cùng Đồng Mỗ cảm thấy khó thở, còn Lý Thu Thủy đang vận Quy Tức Công, bế khí không hít thở nên không hay biết gì.

Lửa tắt rồi, dưới hầm lại tối đen, nhưng nước vẫn còn chảy xuống không ngớt. Hư Trúc cảm thấy nước băng đã tràn khỏi miệng, dần dần đến lỗ mũi, nghĩ thầm: "Ta sắp chết rồi! Ta sắp chết rồi!" Lúc này Đồng Mỗ cùng Lý Thu Thủy vẫn tiếp tục thúc đẩy nội lực công kích nhau.

Chân khí trong người Hư Trúc nhộn nhạo đến mức lục phủ ngũ tạng y tựa như đổi chỗ lộn tùng phèo cả lên. Đồng thời mực nước chỉ còn cách lỗ mũi một chút, nước dâng thêm một phần nữa thì không còn cách gì thở được. Hư Trúc bị phong tỏa mấy chỗ huyệt đạo, muốn ngước lên một chút cũng không được. Nhưng lạ thay, một lúc lâu sau, nước băng không dâng thêm chút nào nữa, chỉ giữ nguyên mực đó. Thì ra từ lúc những bao bông tắt rồi, nước đá không tan ra nữa. Lại một lúc sau, Hư Trúc bắt đầu thấy đau đớn trong người, cơn đau phát xuất từ dưới lưng, dần dần đến nách, rồi lên đến ngực. Tầng hầm thứ ba chất đầy nước đá, cực kỳ giá lạnh, nước từ trên chảy xuống đã dần dần đóng lại thành băng. Sau cùng, cả ba người đều bị đông cứng lại trong nước đá.

Khi băng đã đóng chắc rồi, nội lực của Đồng Mỗ và Lý Thu Thủy bị cách riêng ra, không truyền qua người Hư Trúc được nữa. Nhưng hết chín phần mười nội lực của hai bà đã truyền vào trong người Hư Trúc, xung đột nhau ở đó mỗi lúc một ghê gớm hơn. Hư Trúc tưởng chừng như mình sắp nổ tung, tuy đông giữa khối băng, mà khí nóng thiêu đốt trong người bứt rứt rất khó chịu.

Không biết tình trạng này kéo dài đã bao lâu, đột nhiên toàn thân y giật bắn lên một cái. Hai luồng nhiệt khí hòa với chân khí bản thân, chạy tứ tung khắp các huyệt đạo trong người như bầy ngựa phi không dừng vó. Thì ra chân khí của Đồng Mỗ và Lý Thu Thủy trút vào cùng với chân lực của Vô Nhai Tử truyền cho từ trước cũng là nội lực cùng một môn phái, bây giờ đã điều hòa được với nhau. Nội lực của ba người hợp vào làm một, vô cùng mạnh mẽ không có gì chế ngự được, chạy đến đâu là huyệt đạo được đả thông tới đó.

Hư Trúc cảm thấy thân thể tự do, mới khẽ rung hai tay một cái thì khối băng bọc quanh người y đã vỡ tan. Y nghĩ thầm: "Không hiểu sư bá và sư thúc ra sao rồi? Ta hãy đưa cả hai người ra ngoài trước đã." Hư Trúc đưa tay ra sờ thì chỉ thấy vừa lạnh vừa cứng, thì ra hai người đã biến thành hai khối băng rắn chắc. Hư Trúc kinh hãi vô cùng, không suy nghĩ gì nữa, liền ôm mỗi tay một khối, đi lên tầng hầm thứ nhất. Y mở xong hai lớp cửa gỗ thì thấy không khí trong lành tràn vào mũi, bèn hít một hơi dài, cảm thấy sung sướng không sao tả xiết. Ngoài cửa, trăng sáng vằng vặc trên trời, bóng hoa lay động dưới đất, thì ra đêm đã khuya rồi.

Hư Trúc cả mừng nghĩ thầm: "Ban đêm thì mình trốn ra khỏi hoàng cung lại càng dễ hơn." Y liền ôm hai khối băng chạy thẳng tới chân tường, vừa đề khí nhảy một cái thì đột nhiên thấy người lơ lửng bốc lên cao khỏi mặt tường chừng một trượng, dường như còn lên cao nữa. Hư Trúc cũng không hiểu sao cú nhảy của mình lại tuyệt diệu đến thế, sợ lên cao quá, bất giác buột miệng la lên.

Bốn tên ngự tiền thị vệ đang đi tuần trong cung, chợt nghe tiếng người la liền chạy lại xem, thì thấy một vật xam xám có hai cái cánh sáng choang như hai khối thủy tinh lớn đang từ từ bay vượt qua tường. Chúng không hiểu là quái vật gì, sợ đến miệng há hốc ra không ngậm lại được nữa, mắt thấy quái vật đã bay vào rừng cây ngoài cung. Chúng la ó kêu người rượt theo, nhưng chẳng thấy tông tích đâu nữa. Bốn gã cãi nhau không ngớt, gã nghĩ là thần, gã cho là quỷ, gã tưởng là thần núi, gã bảo là ma cây.

Hư Trúc bay ra khỏi hoàng cung, hạ xuống chạy bộ. Dưới chân y là đường lát đá xanh, hai bên đường nhà cửa san sát. Y không dám dừng bước, cứ cắm đầu chạy về phía tây. Được một lúc lại đến chân tường thành, y liền đề khí nhảy lên mặt thành. Bọn lính canh võ nghệ tầm thường, chỉ thấy mắt hoa lên một cái rồi mất hút, không hiểu là vật gì.

Hư Trúc chạy hơn mười dặm nữa thì đến một nơi hoang dã, bốn phía đều không có nhà cửa. Lúc đó y mới dám dừng chân lại đặt hai khối băng xuống, nghĩ thầm: "Bây giờ phải lấy hai người ra khỏi khối băng." Y tìm đến một khe suối, ngâm hai khối băng xuống nước. Ánh trăng soi rõ miệng mũi Đồng Mỗ đã hở ra ngoài, song hai mắt nhắm nghiền, không hiểu còn sống hay đã chết. Băng vỡ dần ra rồi trôi đi, Hư Trúc gỡ hết những miếng băng cứng còn sót quanh người Đồng Mỗ và Lý Thu Thủy rồi ôm hai người lên. Y sờ trán hai bà đều thấy còn hơi nóng, liền đem để ra xa nhau, chỉ sợ hai bà vừa tỉnh dậy là tiếp tục động thủ.

Y vất vả hết nửa đêm, trời đã mờ mờ sáng, bèn dựa lưng vào một gốc cây ngồi nghỉ. Chim đang hót véo von, bỗng nghe dưới gốc cây phía bắc, Đồng Mỗ "Hừ" một tiếng, gốc cây phía nam Lý Thu Thủy cũng "A" một tiếng, cả hai hồi tỉnh cùng lúc.

Hư Trúc cả mừng nhảy đến đứng giữa hai bà, chắp tay thi lễ nói: "Sư bá! Sư thúc! Ba người chúng ta may mà thoát chết, xin hai vị ngưng đánh nhau đi thôi." Đồng Mỗ nói: "Không được! Con tiện nhân kia chưa chết, ta chưa chịu dừng tay." Lý Thu Thủy cũng nói: "Thù sâu tựa bể, chưa chết chưa thôi." Hư Trúc xua tay loạn lên nói: "Ngàn lần không được, vạn lần không được!"

Lý Thu Thủy chống tay xuống đất toan nhảy xổ lại, Đồng Mỗ cũng vung tay lên chuẩn bị phòng chưởng nghênh địch. Ngờ đâu Lý Thu Thủy vừa đứng thẳng dậy, bỗng la lên một tiếng rồi lại nhũn ra té nhào xuống đất. Bên kia Đồng Mỗ vung tay lên, nhưng muốn khoanh tròn một cái cũng không được, lại tựa vào gốc cây thở hồng hộc.

Hư Trúc thấy hai bà không còn sức để đánh nhau thì cả mừng nói: "Hay lắm! Hai vị ngồi nghỉ một lúc, vẫn bối đi kiếm thứ gì ăn được. Bỗng thấy Đồng Mỗ cùng Lý Thu Thủy đều ngồi xếp bằng, lòng bàn chân lòng bàn tay hướng cả lên trời y hệt như nhau. Hư Trúc biết hai vị sư tỉ sư muội đồng môn đang đem toàn lực vận công, người nào ngưng tụ được chút ít khí lực để xuất chiêu ra trước là đối thủ không sao chống nổi. Hư Trúc bèn không dám bỏ đi, chỉ sợ lúc mình trở về thì đã thấy một hay hai xác chết nằm lăn ra đó. Y nhìn Đồng Mỗ rồi lại nhìn Lý Thu Thủy, thấy cả hai bà nét mặt nhăn nheo, dung nhan tiều tụy, liền nghĩ:" Sư bá đã chín mươi sáu tuổi rồi, sư thúc trẻ lắm cũng ngoài tám mươi. Cả hai đã già rồi mà vẫn còn nóng tính đến thế. "

Hư Trúc vừa giũ áo một cái, nghe bịch một tiếng, bức đồ hình của Vô Nhai Tử bị rớt xuống đất. Bức họa này bằng lụa tốt, ngâm nước lâu mà vẫn chưa rách, Hư Trúc liền đem trải ra phơi trên một hòn đá.

Lý Thu Thủy nghe tiếng rơi, mở hé mắt ra, thấy bức họa thì thét lên:" Đem cho ta xem! Ta không tin sư huynh lại vẽ chân dung con tiện tỳ kia. "

Đồng Mỗ cũng la lớn:" Đừng cho hắn coi! Ta phải giết chết hắn. Lỡ hắn xem xong tức uất lên mà chết, hóa ra nhẹ nhàng quá ư? "

Lý Thu Thủy cười ha hả nói:" Ta không cần xem nữa. Mi sợ ta xem bức họa, chắc chắn người trong tranh không phải là mi. Khi nào sư ca lại đem nét đan thanh tuyệt diệu để vẽ một con lùn nửa người nửa quỉ? Sư huynh vốn không thích vẽ bùa trừ quỉ, thì vẽ mi làm gì? "

Chuyện thương tâm nhất trong đời Đồng Mỗ là bà luyện công bị sai, vĩnh viễn không thành người lớn. Đó là kiệt tác của Lý Thu Thủy, ngày xưa nhằm lúc Đồng Mỗ luyện công sắp thành bất ngờ thét lên một tiếng, khiến mụ phân tâm mà chân khí chạy ngược đường, không thể nào phục nguyên được nữa. Lúc này Lý Thu Thủy lại chọc vào vết thương lòng của bà. Uất khí Đồng Mỗ bất giác nổi lên, bà lớn tiếng quát:" Đồ tiện nhân! Ta.. ta.. "Bà nghẹn thở, trong cổ họng phát ra những tiếng òng ọc rồi thở ra một búng máu, xây xẩm như sắp ngất xỉu. Lý Thu Thủy lạnh lùng cười hỏi:" Mi chịu thua chưa? Có cần tỉ đấu nữa không? "Rồi mụ cũng ho lên sù sụ, không nói tiếp được. Hư Trúc thấy hai người đều kiệt sức, liền khuyên giải:" Sư bá, sư thúc! Hai vị nghỉ ngơi một lát, bồi bổ thần khí lại đã. "Đồng Mỗ nổi giận nói:" Không được! "

Lúc ấy ở hướng tây nam đột nhiên có tiếng leng keng vọng lại, tựa như tiếng chuông lạc đà, Đồng Mỗ nghe thấy lập tức phấn khởi, móc trong bọc ra một cái ống ngắn màu đen, nói:" Ngươi tung cái ống này lên trời. "Còn Lý Thu Thủy nghe tiếng leng keng lại càng ho kịch liệt hơn. Hư Trúc chẳng hiểu ra sao, cầm cái ống sắt nhỏ đặt vào ngón tay giữa rồi búng lên không, bỗng nghe một hồi còi lanh lảnh từ trong ống phát ra. Lúc này chỉ lực của Hư Trúc đã đến mức phi thường, cái ống nhỏ bay lẫn vào những đám mây, vẫn nổi lên những tiếng vi vu không ngớt. Hư Trúc kinh hãi nghĩ thầm:" Nguy rồi! Chắc cái ống sáo nhỏ này là tín hiệu của sư bá gọi người đến để đối phó với Lý sư thúc. "Y bèn chạy lại trước mặt Lý Thu Thủy khẽ nói:" Sư thúc! Quân tiếp viện của sư bá sắp tới nơi, để tiểu điệt cõng sư thúc chạy trốn. "

Chỉ thấy Lý Thu Thủy nhắm mắt cúi đầu, không ho mà cũng không nhúc nhích nữa. Hư Trúc cả kinh, đưa tay sờ mũi bà không thấy thở nữa thì kinh hãi la gọi:" Sư thúc! Sư thúc! "Y gọi chán lại lay vai Lý Thu Thủy, nhưng vừa chạm vào thì bà ngã lăn ra. Thì ra bà đã chết rồi!

Đồng Mỗ cười ha hả nói:" Hay lắm! Hay lắm! Con tiện nhân kinh hãi mà chết rồi! Ha ha! Đại thù đã báo, con tiện nhân cuối cùng phải chết trước ta. "Mụ kích động đến mức nghẹn thở; phun ra một ngụm máu tươi.

Tiếng vo vo trên không trung dần dần hạ thấp, Hư Trúc giơ tay ra đón lấy ống sáo đen đang rơi xuống. Y đang toan lại gần Đồng Mỗ xem sao, bỗng nghe tiếng vó dồn dập lẫn tiếng leng keng như nhạc ngựa, mấy chục con lạc đà từ phía tây nam chạy rất nhanh, chốc lát đã đến nơi. Hư Trúc quay đầu nhìn lại, thấy đoàn lạc đà này toàn là nữ nhân cưỡi, người nào cũng mặc áo xanh nhạt, trước ngực áo thêu một con chim thứu màu đen trông rất hung dữ. Đám người này trông xa xa tựa như một đám mây xanh lơ lửng bay đến, rồi những thanh âm thiếu nữ vang lên:" Giáo chủ! Bọn thuộc hạ đến chậm, tội đáng muôn thác! "

Mấy chục người cưỡi lạc đà vừa trông thấy Đồng Mỗ, còn ngoài xa đã lập tức nhảy xuống, chạy đến trước bà ta lạy rạp xuống sát đất. Hư Trúc thấy người đi đầu là một mụ già chừng năm sáu chục tuổi, còn ngoài ra lớn có nhỏ có, từ bốn mươi đến khoảng mười bảy, mười tám tuổi. Bọn này có vẻ rất khiếp sợ Đồng Mỗ, nằm phục xuống đất không dám ngửng lên nhìn.

Đồng Mỗ hừ một tiếng rồi tức giận hỏi:" Các ngươi tưởng là ta chết rồi phải không? Thế là các ngươi tha hồ thảnh thơi vui thú, không sợ ai quản thúc nữa phải không? "Mụ già nhất đám người kia dập đầu luôn mấy cái đáp:" Không dám. "Đồng Mỗ hỏi:" Sao lại không dám? Nếu thực tình các ngươi còn nghĩ đến ta thì sao lại chỉ có chừng này người đến đây? "Mụ già đáp:" Giáo chủ! Từ hôm giáo chủ rời cung, bọn thuộc hạ đều băn khoăn lo lắng.. "Đồng Mỗ tức giận ngắt lời:" Thúi lắm, thúi lắm! "Mụ già chỉ biết:" Dạ, dạ! "Đồng Mỗ lại càng căm tức, quát to:" Ngươi đã biết là thúi, sao còn dám giở giọng thúi tha đó ra trước mặt ta? "Mụ già không dám nói gì nữa, dập đầu xuống lạy lia lạy lịa.

Đồng Mỗ nói:" Các ngươi băn khoăn lo lắng suông thì được cái gì? Sao không mau mau xuống núi tìm ta? "Mụ già đáp:" Dạ! Bọn thuộc hạ cùng nhau thương nghị, lập tức xuống núi phân nhau thám thính tin giáo chủ. Thuộc hạ dẫn bộ Hiệu Thiên đi về phương Đông, còn bộ Dương Thiên đi về phía Đông Nam, bộ Xích Thiên đi về phía chính Nam, bộ Chu Thiên đi về phía Tây Nam, bộ Thành Thiên đi về phía chính Tây, bộ U Thiên đi về phía Tây Bắc, bộ Loan Thiên đi về phía Đông Bắc, bộ Quân Thiên ở lại canh giữ bản cung. Thuộc hạ bất tài nên nghênh giá chậm trễ, thật là đáng chết, đáng chết. "Mụ nói xong lại dập đầu lia lịa.

Đồng Mỗ nói:" Các ngươi đều áo xiêm rách rưới, chắc trong ba tháng qua đã gặp nhiều gian khổ. "Mụ già thấy Đồng Mỗ có ý khen thưởng công lao bọn mình thì lộ vẻ vui mừng đáp:" Bọn thuộc hạ chỉ biết vì giáo chủ mà tận tâm tận lực, dù phải nhảy vào lửa cũng không từ nan. Chút công lao nhỏ mọn này chỉ là bổn phận mà thôi. "Đồng Mỗ nói:" Ta luyện công chưa xong thì gặp cường địch bắt đi, rồi bị con tiện nhân kia chặt cụt một chân, suýt nữa mất mạng, may được sư diệt ta là Hư Trúc cứu thoát. Những chuyện gian khổ nguy hiểm không thể nói mấy câu mà hết. "

Bọn nữ nhân áo xanh vội quay lại tạ ơn Hư Trúc:" Ơn đức trời biển của tiên sinh, bọn tiện nữ dù tan xương nát thịt cũng chưa thể báo đền trong muôn một. Hư Trúc đột nhiên thấy rất nhiều nữ nhân lạy tạ mình, vội xua tay loạn lên nói: "Không dám! Không dám!", rồi vội vàng quì xuống đáp lễ. Đồng Mỗ quát lên: "Hư Trúc đứng dậy! Bọn chúng đều là nô tì của ta, ngươi làm thế là mất cả phẩm giá." Hư Trúc cố nói mấy câu "không dám" nữa rồi mới đứng dậy.

Đồng Mỗ nhìn Hư Trúc nói: "Chiếc nhẫn bảo thạch của chúng ta đã bị con tiện nhân kia đoạt mất. Ngươi qua đó lấy về." Hư Trúc "Vâng" rồi chạy đến bên Lý Thu Thủy; rút chiếc nhẫn bảo thạch trong ngón tay bà ra. Chiếc nhẫn này vốn là của Vô Nhai Tử giao cho Hư Trúc, y lấy lại từ Lý Thu Thủy, trong lòng không ngại ngùng gì.

Đồng Mỗ nói: "Ngươi là chưởng môn phái Tiêu Dao. Ta lại đã truyền thụ cho ngươi các môn tuyệt học Sinh Tử Phù, Thiên Sơn Chiết Mai Thủ, Thiên Sơn Lục Dương Chưởng. Kể từ hôm nay, ngươi là chủ nhân cung Linh Thứu núi Phiêu Diểu. Nô tỳ chín bộ trong cung Linh Thứu đều do ngươi cầm quyền sinh sát, ngươi muốn cho ai sống hay chết đều tùy ý." Hư Trúc cả kinh nói: "Sư bá! Sư bá! Việc này không được đâu." Đồng Mỗ tức giận hỏi: "Sao lại không được? Bọn nô tỳ chín bộ này phục vụ bất lực, không kịp nghênh giá, để ta phải nhục nhã chui vào túi vải, bị bọn hồ quần cẩu đảng Ô Lão Đại ngược đãi khinh nhờn, sau cùng phải chịu cụt chân, mất mạng.."

Quần nữ đều run lên bần bật, năn nỉ: "Bọn nô tỳ đáng chết, chỉ mong giáo chủ khai ân." Đồng Mỗ nhìn Hư Trúc nói: "Bọn nô tỳ bộ Hiệu Thiên này đã tìm được ta, có thể giảm tội một chút, còn nô tỳ tám bộ kia đều phải chặt chân tay. Việc này giao cho ngươi xử trí." Bọn nữ nhân đều dập đầu nói: "Đa tạ giáo chủ!" Đồng Mỗ lại quát: "Sao bọn mi không lạy tạ tân giáo chủ?" Chúng lại quay sang khấu đầu bái tạ Hư Trúc. Y lại xua tay lia lịa nói: "Thôi đi, thôi đi! Ta làm chủ nhân các vị thế nào được?"

Đồng Mỗ nói: "Ta chỉ còn sống trong khoảnh khắc, nhưng được tận mắt thấy con tiện nhân chết trước, lại tìm được truyền nhân để truyền thụ sở học của mình, thật là chết được nhắm mắt. Ngươi không chịu vâng lời ư?" Hư Trúc ấp úng đáp: "Chuyện này.. vãn bối không làm được." Đồng Mỗ cười ha hả hỏi: "Trong mộng ngươi đã gặp một vị cô nương, còn muốn gặp lại nàng không? Có chịu nhận lời ta làm chủ nhân cung Linh Thứu không?" Hư Trúc vừa nghe Đồng Mỗ nhắc đến cô nương trong mộng thì toàn thân run bắn lên, mặt mũi đỏ bừng, gật đầu luôn mấy cái. Đồng Mỗ cười nói: "Hay lắm! Ngươi lấy bức họa ra để ta xé đi, khi đó ta không còn lo gì nữa, có thể chỉ cho ngươi đi tìm vị cô nương trong mộng."

Hư Trúc lấy bức họa ra, Đồng Mỗ giơ tay đón lấy, đưa lên ánh mặt trời coi, rồi bất giác "ồ" lên một tiếng, vừa kinh hãi vừa vui mừng. Bà xem kỹ lại lần nữa rồi cười ha hả, reo lên: "Không phải hắn, không phải hắn? Ha ha! Ha ha!" Trong tiếng cười rộ, hai hàng nước mắt chảy xuống gò má, rồi ngoẹo đầu ra không nói gì nữa.

Hư Trúc cả kinh giơ tay ra đỡ lấy, thì thấy xương cốt toàn thân bà mềm như bông, co rúm lại thành một đống, đã chết thật rồi.

Bọn nữ nhân áo xanh chạy ùa tới vây quanh, khóc rống lên nghe rất thương tâm. Bọn này đều từng lâm vào cảnh nguy nan, được Đồng Mỗ ra tay cứu vớt, nên tuy bà cai quản rất nghiêm khắc mà họ vẫn cảm kích, không oán hận chút nào. Hư Trúc nghĩ đến mình đã ở với Đồng Mỗ ba tháng trời không dời nửa bước, được bà truyền thụ võ công. Bây giờ thấy bà ta cười rộ lên rồi chết, y khó mà nhịn được, cũng phục xuống khóc rống lên.

Bỗng nhiên phía sau có tiếng khàn khàn cười nói: "Ha ha! Tỉ tỉ ơi, cuối cùng tỉ tỉ lại chết trước tiểu muội. Vậy thì tỉ tỉ thắng hay là tiểu muội thắng?" Hư Trúc nghe đúng là thanh âm Lý Thu Thủy thì giật mình kinh hãi, tự hỏi: "Sao người chết rồi mà còn sống lại được?" Y nhảy nhỏm lên, xoay người nhìn lại thì thấy Lý Thu Thủy đang ngồi tựa lưng vào gốc cây, nói: "Hiền điệt! Ngươi đưa bức tranh cho ta coi. Sao sư tỉ ta lại vừa khóc vừa cười rồi đột ngột từ trần?"

Hư Trúc nhẹ nhàng gỡ tay Đồng Mỗ, lấy bức họa ra. Bức họa đã bị ướt rồi được phơi khô, nét bút có nhiều chỗ lờ mờ, nhưng người trong tranh vẫn là mỹ nữ cung trang, diện mạo giống Vương Ngữ Yên như đúc, nét cười dịu dàng mỹ lệ khó tả. Hư Trúc chợt nhận ra diện mạo của mỹ nữ này có nhiều chỗ giống sư thúc, nhưng cũng cầm bức họa lại đưa cho Lý Thu Thủy.

Lý Thu Thủy đón lấy bức họa xem, bỗng dưng cười nhạt nói: "Giáo chủ các ngươi đã ác đấu với ta, cuối cùng cũng chết trước. Các ngươi như bầy đom đóm mà dám tranh sáng cùng mặt trăng mặt trời ư?"

Hư Trúc quay lại nhìn thì thấy bọn phụ nữ áo xanh đang chống kiếm, sắc mặt người nào cũng đầy vẻ bi phẫn, chỉ muốn xông vào giết Lý Thu Thủy báo thù cho Đồng Mỗ, vì chưa được lệnh của tân chủ nhân nên không dám động thủ mà thôi.

Hư Trúc nói: "Sư thúc! Người.. người.." Lý Thu Thủy nói: "Võ công sư bá ngươi tuy rất cao thâm, nhưng còn nhiều chỗ sơ hở. Cứu binh của y đã đến, dĩ nhiên là ta không kháng cự nổi nên phải giả chết. Ha ha! Rút cục y phải chết trước ta. Gân cốt trong toàn thân y đã gãy nhừ, công lực tiêu tan, nhất định không phải giả chết nữa." Hư Trúc nói: "Lúc ác chiến trong hầm nước đá, sư bá đã trá tử lừa được sư thúc một phen. Thế thì sư bá cùng sư thúc kẻ tám lạng người nửa cân, không phân cao thấp."

Lý Thu Thủy thở dài nói: "Trong lòng ngươi vẫn thiên về sư bá nhiều hơn." Mụ vừa nói vừa mở bức họa ra coi, thần sắc đột nhiên biến đổi, hai tay run bần bật, cả bức họa cũng rung lên. Mụ khẽ nói: "Đúng là nó, đúng là nó. Ha ha! Ha ha!" Trong tiếng cười chứa đầy nỗi đau khổ bi thương.

Hư Trúc bất giác không cầm lòng được, lên tiếng hỏi: "Sư thúc làm sao vậy?" Y nghĩ thầm: "Một bà bảo" không phải hắn ", một bà lại bảo" đúng là nó ", không hiểu người trong bức hình là ai."

Lý Thu Thủy nhìn mỹ nhân trong bức họa hồi lâu rồi nói: "Ngươi xem đây! Người này má lúm đồng tiền, mắt bên phải có nốt ruồi đen, đúng không?" Hư Trúc nhìn lại mỹ nhân trong bức họa rồi gật đầu đáp: "Đúng!" Lý Thu Thủy buồn rầu nói: "Đó là muội tử ta." Hư Trúc lại càng ngạc nhiên, hỏi: "Là em gái sư thúc ư?" Lý Thu Thủy đáp: "Dung mạo muội tử rất giống ta, nhưng mà có lúm đồng tiền, cạnh mắt bên phải có nốt ruồi đen, còn ta không có." Hư Trúc "ủa" lên một tiếng. Lý Thu Thủy lại nói: "Sư tỉ gạt là sư ca họa chân dung y, sớm tối chẳng rời, dĩ nhiên ta không tin. Nhưng.. nhưng ta không ngờ lại là chân dung tiểu muội ta. Hiền điệt.. bức họa này ở đâu ra".

Hư Trúc liền đem tình hình Vô Nhai Tử lúc lâm chung trao lại bức họa cho mình và dặn đến núi Thiên Sơn tìm người truyền thụ võ nghệ, tình hình lúc Đồng Mỗ nhìn thấy bức họa rồi nổi cơn tức giận, nhất nhất thuật lại hết.

Lý Thu Thủy thở dài nói: "Lúc đầu sư tỉ nhìn thấy bức họa này cứ ngỡ là ta, một là vì tướng mạo ta rất giống, hai là sư ca quý mến ta hơn! Huống chi, hồi sư tỉ cùng ta tranh đấu, thì muội tử ta mới mười một tuổi lại không hiểu võ công, nên sư tỉ ta không ngờ là nó. Lúc nóng nảy y không nhìn kỹ, đến lúc lâm tử nhận ra người trong bức họa má lúm đồng tiền và có một nốt ruồi cạnh mắt, mới nói ba chữ:" Không phải hắn "rồi cười rộ mà chết. Ôi! Tiểu muội ơi! Ngươi thật là tốt phước!" Trên hai má Lý Thu Thủy lệ chảy đầm đìa.

Hư Trúc nghĩ thầm: "Thì ra sư bá cùng sư thúc đều có mối thâm tình với sư phụ mình, mà trong lòng lão nhân gia lại có kẻ khác. Không hiểu muội tử của sư thúc còn ở nhân gian không? Sư phụ bảo mình theo bức họa đồ này đi tìm thầy học nghệ, không lẽ vị muội tử này đang ở Vô Lượng Sơn nước Đại Lý ư?" Y bèn hỏi: "Sư thúc! Lệnh muội có phải đang ở Vô Lượng Sơn nước Đại Lý không?"

Lý Thu Thủy lắc đầu, mắt nhìn xa xa, tựa như đang xuất thần nhìn lại những tháng ngày trong quá khứ. Một lúc lâu bà mới lên tiếng: "Những năm đó ta cùng sư phụ ngươi ở trong một thạch động cạnh Kiếm Hồ trên Vô Lượng Sơn, tiêu diêu khoái lạc hơn cả thần tiên. Ta đã sinh cho lão một đứa con gái rất khả ái. Hai người chúng ta đã thu thập bí kíp võ công các môn các phái trong võ lâm, nuôi mộng sáng tác ra một môn võ công kỳ ảo bao trùm thiên hạ. Nhưng có một ngày, chúng ta tìm thấy trong núi một khối ngọc thạch rất lớn, lão bèn lấy ta làm mẫu mà điêu khắc thành một pho tượng. Từ lúc khắc xong, lão cứ cả ngày ngồi nhìn ngọc tượng đến xuất thần, không đếm xỉa đến ta nữa. Ta cố nói chuyện với lão, lão cứ ậm ừ cho qua chuyện, có khi lại chẳng thèm nghe, tâm tư đặt hết vào pho tượng. Sư phụ của ngươi điêu khắc rất tinh xảo, ngọc tượng thật là đẹp đẽ, nhưng cũng là tử vật mà thôi. Huống chi tượng lại điêu khắc giống ta, rõ ràng ta đang kề cận bên mình, sao lão không để ý đến ta mà lại đem lòng yêu thương pho tượng không dứt ra được? Đó là vì sao, vì sao?" Bà cứ tự kể rồi tự hỏi, dường như quên mất cả Hư Trúc đang ngồi cạnh.

Qua một lúc Lý Thu Thủy nhẹ nhàng nói tiếp: "Sư ca! Huynh thông minh tuyệt đỉnh mà si ngốc cũng cực kỳ. Sao huynh lại yêu pho ngọc tượng do mình điêu khắc? Sao huynh lại không yêu cô sư muội biết nói, biết cười, biết cử động, biết yêu huynh? Trong lòng huynh đã coi ngọc tượng này như tiểu muội của ta, có phải vậy không? Ta vì ghen với pho ngọc tượng này mà trở mặt với huynh, ra ngoài tìm bắt những thiếu niên tuấn tú về thân ái trước mặt huynh, từ đó huynh phẫn nộ bỏ đi, không quay lại nữa. Sư ca! Huynh đừng giận lâu, những thiếu niên tuấn tú đó đều bị ta tự tay giết chết, thả xuống Kiếm Hồ cả rồi. Huynh có biết không?"

Bà đưa bức tranh lên nhìn một lúc nữa, lại gọi: "Sư ca! Bức tranh này huynh vẽ từ lúc nào? Huynh vẽ ta nên mới kêu đồ đệ đem tranh đến Vô Lượng Sơn tìm ta, nhưng trong lúc vô tình huynh lại vẽ thành tiểu muội của ta, huynh có tự biết không? Trong lòng huynh thật sự chỉ có nó mà thôi. Khi xưa huynh si tình pho tượng là vì sao, bây giờ ta đã hiểu rồi."

Hư Trúc nghĩ thầm: "Phật tổ đã dạy, cuộc sống trên đời khó mà tránh khỏi ba thứ độc là tham, sân, si. Sư bá, sư phụ, sư thúc ba vị đều là những nhân vật xuất phàm, mà cũng bị quay cuồng trong tam độc, dù võ công tuyệt thế mà trong tâm vẫn phiền não như bọn phàm phu tục tử tầm thường."

Lý Thu Thủy quay lại nhìn Hư Trúc nói: "Hiền điệt! Ta cùng sư phụ của ngươi có một đứa con gái, nay đã gả cho nhà họ Vương ở Tô Châu. Khi nào có rảnh.." Đột nhiên bà lắc đầu, thở dài nói: "Thôi, không cần nữa. Chẳng hiểu nó còn sống trên thế gian không, mà mỗi người đều có cuộc sống riêng.." Đột nhiên bà thét lên: "Sư tỉ! Chị em ta đều là loài sâu bọ đáng thương, đều bị con người vô lương tâm đó lừa gạt! Ha ha? Ha ha!" Lý Thu Thủy cười lớn mấy tiếng, rồi ngã ngừa về đằng sau tắt hơi.

Hư Trúc cúi xuống nhìn thì thấy mũi và miệng bà ứa máu ra, đã ngừng thở mà chết. Chuyến này y vừa thấy hai vụ giả chết, cũng phải cảnh giác, nhưng hình như lần này bà chết thật rồi. Hư Trúc nhìn hai xác chết không biết làm thế nào.

Mụ già cầm đầu bộ Hiệu Thiên nói: "Chủ nhân! Chúng ta có cần đưa di thể giáo chủ về cung Linh Thứu để an táng cho long trọng không? Xin chủ nhân chỉ thị." Hư Trúc đáp: "Như thế là phải." Y lại trở thi thể Lý Thu Thủy nói: "Vị này.. là sư muội của giáo chủ các ngươi. Tuy trước kia có oán thù với giáo chủ, nhưng.. người chết rồi thì oan cừu coi như hết. Theo ta thì nên đưa cả hai vị về an táng, các ngươi nghĩ sao?" Mụ già khom lưng đáp: "Xin vâng." Hư Trúc thấy trong lòng thoải mái, chỉ sợ bọn đàn bà áo xanh này thù hằn Lý Thu Thủy, không chịu an táng thi hài mụ mà còn muốn đập tan xác cho hả giận, ý không ngờ họ ngoan ngoãn vâng lời, không phản đối chút nào. Thật ra bọn nữ nhân dưới trướng Đồng Mỗ kính sợ chủ nhân vô kể, tuyệt không dám trái ý. Bây giờ Hư Trúc là tân chủ nhân của chúng, y chỉ nói một lời là ai nấy răm rắp làm theo.

Mụ già chỉ huy quần nữ dùng chăn chiên bọc hai xác chết lại cẩn thận, để lên lưng lạc đà, rồi kính cẩn mời Hư Trúc cưỡi lạc đà đi trước. Hư Trúc khiêm tốn mấy câu, nghĩ rằng việc đã đến thế này, thôi thì mình cũng an táng hai vị Đồng, Lý đàng hoàng rồi sẽ trở về chùa Thiếu Lâm chịu tội. Y hỏi danh tính mụ già thì mụ đáp: "Phu quân của nô tỳ họ Dư, nên cố giáo chủ kêu bằng Tiểu Dư. Chủ nhân muốn gọi thế nào cũng được." Đồng Mỗ đã ngoại cửu tuần, gọi mụ này bằng "Tiểu Dư" là phải. Hư Trúc không dám gọi thế, liền nói: "Dư bà! Pháp hiệu tại hạ là Hư Trúc. Chúng ta nên xưng hô ngang hàng, nếu cứ gọi là chủ nhân mãi thì tại hạ phải tổn thọ mất."

Dư bà phục xuống đất, tuôn nước mắt nói: "Chủ nhân khai ân! Chủ nhân muốn giết muốn đánh thế nào, nô tì cũng cam tâm, chỉ khẩn cầu chủ nhân đừng đuổi nô tì khỏi cung Linh Thứu." Hư Trúc kinh ngạc hỏi: "Làm gì có chuyện đó, tại hạ đánh người, giết người để làm chi?" Rồi y đưa tay ra đỡ mụ dậy. Cả đám nữ nhân thấy thế liền quì xuống năn nỉ: "Chủ nhân khai ân!" Thì ra Đồng Mỗ trước kia lúc nào tức giận thì mới ăn nói lịch sự, sau đó sẽ dùng thảm hình khổ sở. Bọn động chúa, đảo chúa Ô Lão Đại nếu được Đồng Mỗ phái người đến nhục mạ đánh đập thì mở tiệc ăn mừng, coi như thoát khỏi đại nạn. Bây giờ bọn nô tỳ thấy Hư Trúc lịch sự với Dư bà thì tưởng là sắp có họa lớn, nên quỳ cả xuống năn nỉ. Hư Trúc hỏi rõ nguyên do rồi an ủi mấy lần, nhưng quần nữ vẫn không yên tâm.

Hư Trúc leo lên lưng lạc đà, rồi bảo quần nữ cũng cưỡi lạc đà mà đi, nhưng chúng nhất định không dám, chỉ dắt lạc đà đi theo. Hư Trúc nói: "Chúng ta phải mau về đến cung Linh Thứu, không thì thời tiết đang nóng bức, chỉ sợ.. chỉ sợ di thể giáo chủ có biến." Bấy giờ bọn họ mới dám cưỡi lạc đà, nhưng đi theo sau cách một quãng xa. Hư Trúc muốn hỏi cho biết tình hình trong cung Linh Thứu, nhưng không tiện nên lại thôi.

Đoàn người nhắm hướng Tây mà đi gấp, được năm ngày thì gặp người đưa tin của bộ Chu Thiên. Dư bà phóng tín hiệu lên, người đưa tin liền quay về báo cáo. Chẳng mấy chốc bọn nữ nhân bộ Chu Thiên cưỡi lạc đà chạy như bay tới nơi, toàn thể bọn này đều mặc áo tía. Chúng sụp lạy trước thi thể Đồng Mỗ, rồi ra mắt tân chủ nhân. Thủ lãnh bọn Chu Thiên họ Thạch, mới ngoài ba mươi tuổi, Hư Trúc gọi bằng Thạch tẩu. Y sợ bọn nữ nhân kia sinh nghi mà sợ hãi, không dám nói chuyện lễ phép, chỉ an ủi sơ sơ, úy lạo bọn chúng dọc đường vất vả. Quần nữ bộ Chu Thiên đều cả mừng lạy tạ. Hư Trúc không dám xưng hô ngang hàng, chỉ bảo họ đừng gọi mình là "giáo chủ", gọi là "chủ nhân" được rồi. Quần nữ đều cung kính tuân theo.

Đoàn người lại đi về hướng Tây mấy ngày nữa. Bộ Hiệu Thiên và bộ Chu Thiên phái người đi liên lạc với năm bộ Xích Thiên, Dương Thiên, Huyền Thiên, U Thiên, Thành Thiên, triệu tập đến đông đủ. Chỉ có bộ Loan Thiên là đi tìm Đồng Mỗ ở phía chính Tây, khoảng cách rất xa nên chưa liên lạc được. Cung Linh Thứu không có một nam nhân nào, một mình Hư Trúc ở với mấy trăm phụ nữ nên cực kỳ bẽn lẽn. May mà quần nữ đối với y cực kỳ cung kính, y không hỏi thì chẳng ai dám lên tiếng, thành ra cũng đỡ được nhiều điều phiền phức.

Một hôm đoàn người đang đi thì một nữ nhân áo xanh cưỡi lạc đà như bay chạy tới, chính là một thám tử của bộ Huyền Thiên đi trước dò đường. Thị cầm cây cờ xanh phất loạn lên, ra hiệu phía trước có biến cố, chạy gấp về phi báo với thủ lĩnh bản bộ.

Thủ lĩnh bộ Huyền Thiên là một cô nương chừng hai mươi tuổi, tên là Phù Mẫn Nghi. Cô được tin báo, hấp tập nhảy xuống lạc đà chạy đến trước mặt Hư Trúc nói: "Khải bẩm chủ nhân! Thám tử của nô tì báo cáo bọn thuộc hạ ba mươi sáu động, bảy mươi hai đảo của bản cung, nhân lúc giáo chủ bị nạn, cả gan nổi lên làm phản, tiến đánh núi Phiêu Diểu. Bộ Quân Thiên phòng thủ nghiêm mật các ngả đường lên núi, bọn tà ma kia chưa làm gì được. Nhưng mấy vị tỉ muội của bộ Quân Thiên chạy xuống núi để cầu cứu đã bị chúng giết chết."

Hư Trúc đã biết chuyện bọn động chúa, đảo chúa tạo phản. Nhưng y tưởng bọn kia không giết được Đồng Mỗ, Bất Bình đạo nhân mất mạng, Ô Lão Đại trọng thương, cứ yên chí bọn họ thấy khó khăn mà giải tán rồi. Không ngờ đã bốn tháng nay, mà họ vẫn đang kéo nhau vây đánh núi Phiêu Diểu. Hư Trúc từ bé vẫn ở chùa Thiếu Lâm, ít hiểu nhân tình thế thái, gặp việc không biết phải đối phó ra sao. Y ngẩn ra một lúc rồi ấp úng: "Việc này.. việc này.."

Lại nghe tiếng vó ngựa dồn dập, hai người nữa phóng ngựa đến. Một người bộ Huyền Thiên đi trước, theo sau là một nữ nhân áo vàng nằm trên lưng ngựa, mình vấy đầy máu, tay trái bị chặt cụt. Phù Mẫn Nghi vẻ mặt bi phẫn nói: "Chủ nhân! Đây là Trình tỉ tỉ, phó thủ lĩnh bộ Quân Thiên, e rằng khó mà qua khỏi." Thiếu nữ họ Trình đã ngất xỉu, quần nữ bèn xúm lại tìm cách cầm máu, nhưng hơi thở chỉ còn thoi thóp, dường như sắp chết đến nơi.

Hư Trúc thấy người trọng thương, bỗng nhớ tới phép trị thương mà Thông Biện tiên sinh Tô Tinh Hà đã dạy cho. Y giục lạc đà đến gần, đưa ngón tay giữa bên trái ra búng veo véo lên không năm cái để phong tỏa mấy huyệt đạo gần chỗ cánh tay bị chặt đứt, lập tức máu ngưng chảy. Hư Trúc lại sử chiêu Tinh Hoàn Khiêu Trịch của Đồng Mỗ, búng một cái thứ sáu. Một luồng Bắc Minh chân khí hùng hậu thúc vào huyệt Trung Phủ trên cánh tay của thiếu nữ bị thương. Thị bỗng "Ôi chao" một tiếng, tỉnh lại nói ngay: "Các vị tỉ muội! Mau.. mau.. lên núi Phiêu Diểu tiếp ứng! Bọn ta.. bọn ta.. không chống cự nổi."

Hư Trúc điểm cách không, chẳng phải là muốn phô trương tuyệt kỹ, mà vì người bị thương là một thiếu nữ. Y đã không phải là hòa thượng nữa, song đệ tử nhà Phật giới sắc đã quen, không tiện đụng chạm vào thân thể nữ nhân. Không ngờ mấy cái búng tay hời hợt của y hiệu nghiệm như thần. Trong người Hư Trúc đã chứa gần hết nội lực của ba tay đại cao thủ là Vô Nhai Tử, Thiên Sơn Đồng Mỗ và Lý Thu Thủy, dĩ nhiên không phải tầm thường.

Quần nữ các bộ vì tuân theo di mệnh của Đồng Mỗ mà coi Hư Trúc như tân chủ nhân, thấy y còn trẻ, nói năng hành động nhiều chỗ ngốc nghếch, chưa thành tâm kính phục. Huống chi đa số nữ nhân ở cung Linh Thứu đã bị nam nhân tàn hại đến người chết nhà tan, lại được Đồng Mẫu giáo huấn cho thù hận nam nhân như độc xà mãnh thú. Lúc này họ thấy Hư Trúc xuất thủ theo đúng công phu của cung Linh Thứu mà nội lực lại cao thâm tột độ, đều vừa kinh hãi vừa sung sướng, hoan hô ầm ĩ. Quần nữ đều lạy rạp xuống đất, kính phục Hư Trúc như một vị thiên thần. Hư Trúc thất kinh gọi: "Làm gì thế? Mau mau đứng dậy đi!"

Đã có người báo cho thiếu nữ họ Trình biết việc giáo chủ quy tiên, thanh niên này vừa là ân nhân vừa là truyền nhân của giáo chủ, là tân chủ nhân của bản cung. Thiếu nữ họ Trình tên gọi Trình Thanh Sương sáng leo xuống ngựa, đến thi lễ với Hư Trúc: "Đa tạ chủ nhân cứu mạng. Xin.. xin chủ nhân đến cứu ngay các tỉ muội trên núi. Bốn tháng nay bọn nô tì cố sức chống cự, nhưng ít người không địch lại số đông, tình trạng cực kỳ nguy hiểm." Nàng nói xong, lại phủ phục xuống đất, không ngẩng đầu lên nữa.

Hư Trúc vội nói: "Thạch tẩu, ngươi đỡ y dậy đi! Dư bà, bây giờ tính thế nào đây?" Dư bà cùng đi với tân chủ nhân mười ngày, đã biết y thực thà trung hậu ít hiểu việc đời, liền đáp: "Khải bẩm chủ nhân! Núi Phiêu Diểu còn cách đến hai ngày đường. Tốt nhất là chủ nhân hãy lệnh cho nô tỳ dẫn thuộc hạ bản bộ lập tức chạy về cứu cấp, chủ nhân thống lĩnh mọi người đi sau. Chủ nhân về đến nơi thì bọn yêu ma kia lập tức phải tan tành, không đáng lo nữa." Hư Trúc gật đầu, nhưng lại nghĩ có điều gì không ổn, nhất thời chưa quyết định.

Dư bà quay lại bảo Phù Mẫn Nghi: "Phù muội! Chủ nhân vừa mới kế vị, chưa kịp thay đổi y phục uy nghi để hàng phục yêu ma. Muội là Châm Thần của bản cung, phải lập tức may một bộ y phục cho chủ nhân." Phù Mẫn Nghi đáp: "Phải lắm! Tiểu muội cũng đang nghĩ thế."

Hư Trúc sửng sốt, không hiểu vì sao đang lúc nguy ngập mà họ còn nghĩ đến việc may quần áo, thật là tính khí nữ nhân.

Quần nữ đều nhìn Hư Trúc để chờ y ra lệnh. Hư Trúc cúi đầu xuống, bỗng nhận ra mình bốn tháng áo không thay, bốn tháng không giặt giũ, tăng bào vừa rách nát vừa bẩn thỉu, chính mình cũng ngửi thấy mùi hôi nồng nặc. Giữa đám nữ nhân phục sức hoa lệ, y không khỏi hổ thẹn, huống chi mình không phải là hòa thượng nữa thì cũng không nên mặc tăng bào. Thực ra, quần nữ đã coi Hư Trúc là chủ nhân, khi nào lại quan tâm đến quần áo đẹp hay xấu? Họ chăm chú nhìn y là để chờ lệnh, nhưng Hư Trúc tự thấy mình ăn mặc rách rưới dơ bẩn, nên ra chiều ngượng nghịu.

Dư bà chờ một lúc, lại hỏi: "Chủ nhân! Nô tì đi trước được chăng?"

Hư Trúc đáp: "Chúng ta cùng đi với nhau, cứu người là gấp. Y phục của ta tuy dơ bẩn, nhưng sau sẽ giặt cũng được, không quan hệ lắm." Y liền thúc lạc đà chạy đi, quần nữ cũng lên ngựa chạy theo rất gấp. Lạc đà rất dai sức mà chạy cũng nhanh không kém gì ngựa. Đoàn người chạy mấy chục dặm đường mới tìm chỗ nghỉ ngơi để thổi cơm.

Dư bà chỉ ngọn núi phía Tây Bắc giữa đám mây mù, nói với Hư Trúc: "Chủ nhân, đó chính là núi Phiêu Diểu. Ngọn núi này quanh năm tuyết phủ, nhìn xa xa như có như không, nên mới gọi là Phiêu Diểu."

Hư Trúc nói: "Xem ra còn xa lắm! Chúng ta phải đến càng sớm càng tốt, ăn uống xong phải lên đường lập tức." Quần nữ đồng thanh đáp: "Vâng! Đa tạ chủ nhân lo lắng đến tỉ muội bộ Quân Thiên." Cơm nước xong, đoàn người lại lên đường. Cả bọn gấp rút đi suốt ngày đêm, dọc đường chết không ít lạc đà. Lúc đến chân núi Phiêu Diểu, mới là sáng sớm ngày thứ hai.

Phù Mẫn Nghi nâng một vật màu sắc rực rỡ, khom lưng trao cho Hư Trúc, nói: "Nô tỳ may vá vụng về, xin chủ nhân mặc thử." Hư Trúc ngạc nhiên hỏi: "Cái gì thế?", rồi đón lấy mở ra xem, thì ra một tấm trường bào. Cái áo này may bằng gấm đoạn rất tốt, đủ màu sắc cân đối nhau, đường kim mũi chỉ khéo léo tuyệt vời. Thì ra Phù Mẫn Nghi cắt nhiều mảnh vải trên y phục của quần nữ để khâu thành tấm trường bào này.

Hư Trúc vừa kinh ngạc vừa mừng rỡ nói: "Phù cô nương có ngoại hiệu Châm Thần là rất đúng, đang cưỡi lạc đà chạy nhanh mà vẫn may được cái áo đẹp thế này." Y bèn cởi áo thầy tu, thay đổi y phục. Tấm trường bào này rất vừa vặn, viền bằng da báo lại càng thêm phần sang trọng. Chỗ da viền này cũng cắt từ áo của bọn nữ nhân ra. Hư Trúc mặc bộ áo hoa lệ này vào, tướng mạo cũng bớt mấy phần xấu xí.

Lúc này đoàn người đã đến đầu đường lên núi. Dọc đường Trình Thanh Sương đã báo cáo, cường địch đã đánh lên đến ngọn Đoạn Hồn. Núi Phiêu Diểu có tất cả mười tám ngọn hiểm trở, thì mười ba ngọn đã bị chiếm đóng. Quần nữ bộ Quân Thiên đã tử thương quá nửa, tình thế cực kỳ nguy hiểm.

Thạch tẩu vung đao hô lớn: "Núi Phiêu Diểu có chín bộ thì tám bộ đã hạ sơn, chỉ còn một bộ thủ thành. Địch nhân thừa lúc vắng người đến tập kích, thật là vô sỉ. Xin chủ nhân hạ lệnh cho toàn thể bọn thuộc hạ tấn công lên núi, quyết tử chiến với loài đạo tặc." Dư bà nói: "Thạch muội đừng nóng nảy. Thế địch quá lớn, bộ Quân Thiên dựa vào địa thế hiểm trở mới chống giữ được hơn trăm ngày. Bây giờ chúng ta chân núi lại bị bất lợi. Địch nhân ở thế phản khách vi chủ, từ trên cao đánh xuống.." Thạch tẩu nói: "Thế thì phải làm thế nào?" Dư bà đáp: "Chúng ta âm thầm lên núi, địch nhân biết càng chậm càng hay."

Hư Trúc gật đầu nói: "Dư bà nói đúng lắm." Y đã lên tiếng, không ai dị nghị gì nữa. Quần nữ tám bộ chia thành từng đội, tiến lên núi không một tiếng động. Lúc trèo núi rất dễ phân biệt khinh công hay dở thế nào. Hư Trúc thấy mấy vị thủ lĩnh Dư bà, Thạch tẩu, Phù Mẫn Nghi, tuy phận nữ nhi mà thân pháp mau lẹ dị thường thì nghĩ bụng: "Dưới trướng tướng giỏi không có quân hèn, thuộc hạ của sư bá quả nhiên bản lãnh không vừa."

Mỗi nơi hiểm yếu đều vương vãi đầy binh khí gãy cùng đá vỡ ra, rõ ràng lúc địch nhân tiến đánh đã xảy ra trận chiến đấu khủng khiếp. Đi qua ngọn Đoạn Hồn, đỉnh Thất Túc, khe Bách Trượng, thì tới Tiếp Thiên Kiều. Cây cầu này vốn chỉ là một sợi xích sắt treo giữa hai vách núi cao chót vót, bây giờ đã bị địch nhân dùng bảo đao chặt đứt đôi. Hai vách núi cách nhau đến năm trượng, khó mà nhảy qua được.

Quần nữ nhìn nhau kinh hãi nghĩ thầm: "Không chừng tỉ muội bộ Quân Thiên đã bị quân phản loạn giết hết rồi." Họ đều biết Tiếp Thiên Kiều là cửa ải hiểm yếu cuối cùng. Dưới Tiếp Thiên Kiều là vực sâu muôn trượng, toàn đá tai mèo lởm chởm. Những người được đến cung Linh Thứu đều có bản lĩnh cao siêu, khinh công thượng thặng, muốn nhảy qua bên kia thì chỉ đáp chân vào dây sắt là lướt qua chẳng khó khăn gì. Lúc Trình Thanh Sương xuống núi thì địch nhân mới tấn công tới Đoạn Hồn Nhai, còn cách Tiếp Thiên Kiều khá xa. Dĩ nhiên tỉ muội bộ Quân Thiên đã phái người canh giữ cây cầu này rất nghiêm ngặt, hễ địch tiến đánh là mở khóa cho dây xích sắt tách rời làm hai đoạn, rớt xuống hai bên. Khe núi này cũng không rộng lắm, chỉ chừng năm trượng, nhưng nếu không có dây xích giăng ngang để làm điểm dừng chân thì dù bản lĩnh nghiêng trời cũng không nhảy qua nổi. Lúc này sợi dây xích đã bị chặt đứt, rõ ràng là bị phá hoại, chắc địch nhân tấn công quá đột ngột nên bộ Quân Thiên không kịp mở khóa.

Thạch tẩu vung thanh liễu diệp đao rít lên veo véo, kêu gọi: "Dư bà! Mau mau nghĩ cách vượt qua khe núi này!" Tính mụ rất nóng nảy, khi gặp chuyện nạn giải thì không bình tĩnh được, chỉ la hoảng càng thêm rối. Dư bà đáp: "Hừ! Biết làm thế nào được? Thật là khó giải quyết."

Mụ chưa dứt lời, phía sau núi đã nổi lên tiếng rú thê thảm, đúng là thanh âm nữ nhân. Quần nữ máu nóng như sôi, biết là mấy tỉ muội bộ Quân Thiên vừa trúng độc thủ, chỉ hận mình không có cánh để bay qua khe núi về cung Linh Thứu, cùng địch nhân một phen tử chiến. Mọi người lớn tiếng mắng chửi ồn ào, nhưng chẳng nghĩ ra cách nào để vượt qua khe núi cực kỳ hiểm trở này.

Comments

0 comments

Trước Tiếp
 
34,431 ❤︎ Bài viết: 2241 Tìm chủ đề
Hồi 38: Chén chú chén anh, đồng bệnh si tình thành huynh đệ

Hư Trúc nhìn xuống vực sâu, thấy không có cách nào trèo xuống được. Y nhìn bọn nữ nhân đang lo lắng, nghĩ thầm: "Bọn họ gọi ta là chủ nhân, mà gặp chuyện khó giải quyết ta lại không có kế sách gì, thì nói chuyện sao được? Kinh Phật có dạy: Lục độ của Bồ Tát thì bố thí là đầu, ta còn sợ cái gì mà không xả thân giúp người?" Y bèn cởi áo bào của Phù Mẫn Nghi vừa may tặng, cất tiếng gọi: "Thạch tẩu! Cho ta mượn binh khí." Thạch tẩu "Vâng" một tiếng, trở chuôi kính cẩn trao thanh Liễu diệp đao sang.

Hư Trúc đón lấy, vận Bắc Minh chân khí truyền vào thanh Liễu diệp đao, rung cổ tay một cái. Một tiếng "chát" vang lên, đầu xích sắt gắn vào vách núi phía bên này đã bị chặt đứt. Liễu diệp đao vừa mỏng vừa nhỏ, tuy sắc bén nhưng không phải là một thanh bảo đao, thế mà Hư Trúc vận chân khí vào lại chặt xích sắt dễ như chặt tre. Hư Trúc trả đao cho Thạch tẩu, rồi cầm lấy đoạn xích sắt đề khí nhảy vọt ra vực thẳm.

Quần nữ cất tiếng la hoảng. Dư bà, Thạch tẩu, Phù Mẫn Nghi cùng kêu lên: "Chủ nhân! Đừng mạo hiểm!" Tiếng hô chưa dứt thì Hư Trúc đã nhảy đến giữa khe núi, vận động chân khí trong người, đang lơ lửng trên không chợt lộn người một cái, bay qua gần đến bờ bên kia. Thân thể y hạ thấp xuống, xem ra không khỏi rơi xuống vực nát xương. Nhưng trong lúc đang hạ xuống, Hư Trúc liền vung đoạn dây sắt ra chiêu Tần Liễu Xuân Yến, quấn được vào nửa đoạn dây xích đang treo ở vách núi bên kia, rồi y mượn đà vọt người lên một vòng, đứng vững bên kia bờ vực thẳm, Hư Trúc quay lại nói: "Mọi người đợi ở đây, để ta đi xem tình hình ra sao đã."

Bọn Dư bà vừa sợ hãi vừa kính phục, đồng thanh đáp: "Xin chủ nhân cẩn thận."

Hư Trúc chạy ra sau núi, tìm chỗ vừa có tiếng rú. Y chạy đến một quãng đường hẹp thì thấy xác hai nữ nhân nằm lăn ra đất, đầu lìa khỏi cổ, máu tươi vẫn còn đang chảy. Hư Trúc chắp tay nói: "A di đà Phật! Tội nghiệp! Tội nghiệp!", rồi quì bên hai xác chết niệm một bài Vãng Sinh Chú, sau đó mới theo đường mòn chạy lên đỉnh núi. Càng lên cao sương trắng càng dày đặc che khuất cả lối đi, nhưng y chạy rất nhanh, không đầy nửa giờ đã đến đỉnh núi Phiêu Diểu. Hư Trúc cố nhìn xuyên qua đám mây mù, chỉ thấy những cây tùng to lớn, tuyệt không một tiếng người. Y ngẩn ra tự hỏi: "Quần nữ bộ Quân Thiên bị giết sạch rồi ư? Thật là oan nghiệt!" Y liền hái mấy trái tùng nhét vào trong bọc, nghĩ thầm: "Trái tùng ném ra cũng có thể chết người. Ta phải hết sức nhẹ tay, cốt để địch nhân hoảng sợ mà chạy trốn, nhất định không vô ý giết ai."

Đường ở chỗ này lót đá xanh thật là ngay ngắn, phiến nào cũng dài tám thước, rộng ba thước. Đây là vùng núi đá, dĩ nhiên thừa thãi vật liệu, nhưng đẽo gọt cho thành một đại lộ nhẵn nhụi thì thật là công trình vĩ đại, xem chừng không phải do quần nữ thuộc hạ Đồng Mỗ làm ra. Con đường lớn lát đá xanh này dài chừng hai dặm, cuối đường có một tòa lâu đài to lớn xây bằng đá. Hai cánh cổng có khắc hai con chim thứu cao đến ba trượng, mỏ nhọn vuốt sắc trông oai phong lẫm liệt. Cánh cổng chỉ khép hờ, vẫn không thấy một bóng người.

Hư Trúc từ từ tiến vào, vượt qua hai gian đình viện, bỗng nghe tiếng người quát hỏi: "Con giặc cái cất giấu bảo vật ở đâu? Bọn mi có chịu cung khai không?" Một thanh âm phụ nữ mắng lại: "Quân cẩu tặc! Việc đã đến thế này, chúng ta còn ham sống nữa ư? Bọn mi chỉ nằm mơ thôi." Lại có tiếng nam nhân nói: "Vân đảo chúa! Chúng ta cứ ôn tồn nói chuyện, phải nóng nảy làm gì? Vân đảo chúa đối xử với nữ nhân như vậy, không khỏi có điều thái quá."

Hư Trúc nhận ra lời khuyên giải đó là thanh âm của Đoàn công tử nước Đại Lý. Lúc Ô Lão Đại toan loạn đao phân thây Đồng Mỗ, cũng chỉ có vị Đoàn công tử này dùng lời chính trực khuyên can. Hư Trúc nghĩ thầm: "Vị công tử này dường như không biết võ công, song khí phách anh hùng, đầy lòng nghĩa hiệp, hơn những tay cao thủ võ học nhiều. Thật khiến cho người ta phải bội phục."

Vân đảo chúa lại nói: "Chà chà! Bọn nha đầu quỷ sứ này muốn chết thì dễ lắm, nhưng trong thiên hạ đâu có chuyện chết dễ dàng thế được? Đảo Bích Thạch của ta có mười bảy thứ hình phạt kỳ dị, để ta cho bọn mi nếm từng thứ một. Nghe nói động Hắc Thạch đảo Phục Sa cũng có nhiều hình phạt lạ lùng, còn lợi hại hơn đảo Bích Thạch của ta. Quý động cũng nên biểu diễn cho anh em được mở rộng tầm mắt." Cả bọn hoan hô rầm trời, có người lại đề nghị: "Bây giờ chúng ta mở cuộc thi, xem đảo nào, động nào có những hình phạt hiệu nghiệm nhất."

Chỉ nghe tiếng náo động cũng đủ biết bọn này đông đến mấy trăm người, tiếng la ó reo hò muốn chọc thủng cả màng nhĩ. Hư Trúc muốn tìm khe hở để nhìn vào, nhưng tòa đại sảnh này xây dày khít bằng những tảng đá lớn, không một kẽ hở. Y ngẫm nghĩ một lát, rồi bốc đất bùn trát lên mặt, ngang nhiên tiến vào sảnh đường.

Hết thảy bàn ghế trong đại sảnh đều có người ngồi la liệt, còn đến quá nửa không có chỗ phải ngồi dưới đất, lại còn nhiều người đi qua đi lại, cười cười nói nói. Giữa sảnh đường có hơn hai chục nữ nhân áo vàng ngồi dưới đất không nhúc nhích, rõ ràng đã bị điểm huyệt. Quá nửa bọn nữ nhân mình đầy vết máu, bị thương rất nặng, chắc chắn là thuộc hạ bộ Quân Thiên. Trong sinh đang nhốn nháo, lúc Hư Trúc bước vào cũng có mấy người đưa mắt nhìn y, nhưng thấy y không phải đàn bà thì biết ngay không phải là nhân vật cung Linh Thứu. Ai cũng tưởng y là đệ tử của động chúa hay đảo chúa nào đó, chẳng thèm để ý.

Hư Trúc ngồi xuống ngưỡng cửa, nhìn bốn phía thì thấy Ô Lão Đại đang ngồi trên cái ghế lớn nhất ở hướng Tây, vẻ mặt tiều tụy nhưng cặp mắt vẫn lộ hung quang. Một hán tử to lớn cầm roi da đứng bên bọn nữ nhân, không ngớt quát mắng để bức bách bọn này cung khai nơi cất giấu bảo vật của Đồng Mỗ, nhưng quần nữ thà chết không chịu nói.

Ô Lão Đại lên tiếng: "Bọn nha đầu này đã chết đến gáy mà còn lì lợm. Ta nói cho mà biết, Đồng Mỗ đã bị sư muội hắn là Lý Thu Thủy giết chết rồi, chính mắt ta trông thấy. Bọn mi sớm ngoan ngoãn đầu hàng là hơn, chúng ta không giết làm gì."

Một nữ nhân áo vàng đứng tuổi thét lên: "Chỉ ăn nói hồ đồ! Giáo chủ ta võ công tuyệt thế, đã luyện thành Kim Cương Bất Hoại, còn ai làm hại lão nhân gia được nữa? Bọn mi muốn tìm bí quyết hóa giải Sinh Tử Phù, e rằng chỉ là chuyện nằm mơ. Chắc hẳn giáo chủ vẫn bình yên vô sự, trong chốc lát sẽ quay về trừng trị bọn phản nghịch. Giả tỉ người đã qui tiên, thì bọn mi cũng không cách nào hóa giải Sinh Tử Phù, trong vòng một năm sẽ đau khổ rên la cho đến chết."

Ô Lão Đại lạnh lùng đáp: "Được lắm! Mi chưa tin, để ta cho mi xem một vật." Hắn lấy một cái bọc nhỏ, mở ra, bên trong rõ ràng là một cái chân người. Cả Hư Trúc lẫn bọn nữ nhân cùng nhận ra cái chân và chiếc giày của Đồng Mỗ, bất giác la lên một tiếng. Ô Lão Đại nói: "Lý Thu Thủy đem Đồng Mỗ chặt làm tám khúc, quăng tứ tung dưới khe núi. Ô mỗ tiện tay lượm một khúc chân đem về chơi. Bọn người nhìn kỹ xem, có phải hàng giả không?"

Quần nữ bộ Quân Thiên sớm tối không rời Đồng Mỗ, dĩ nhiên nhận được đó là chân trái của bà. Họ biết Ô Lão Đại không nói dối, bất giác đều khóc rống lên.

Bọn động chúa, đảo chúa sung sướng nhảy lên reo hò: "Con giặc già đó chết rồi, thật là tuyệt diệu!" "Từ nay trời cao trong sáng, bốn bể yên vui, chúng ta được sống tự do nhàn hạ." "Ô Lão Đại! Ngươi thật là láo lếu, chuyện hay như thế mà không cho chúng ta biết. Nhất định phải phạt ngươi ba bát rượu lớn!" Bỗng có người la lên đầy vẻ thê lương: "Mụ chết rồi ư? Hỡi ôi! Thế thì Sinh Tử Phù trong người chúng ta không ai phá giải được nữa."

Đột nhiên trong đám đông có tiếng thét cực kỳ khủng khiếp, vừa giống hổ gầm vừa giống sói tru, mọi người đều cả kinh im bặt. Trong đại sảnh, trừ tiếng kêu gào của mãnh thú bị thương, tuyệt không có tiếng động nào khác. Một người béo tròn béo trục đang lăn lộn dưới đất, hết cào lên mặt lại xé áo để hở đám lông ngực đen sì, hai tay cào cấu tựa hồ muốn móc ruột gan ra. Tay gã, mặt gã, ngực gã đều chảy máu đỏ lòm, mà mỗi lúc lại cào mạnh hơn, tiếng gào thét càng về sau càng thêm ghê rợn, tưởng chừng như đang bị ma quỉ đòi mạng. Có người khẽ nói: "Sinh Tử Phù sắp lấy mạng y rồi!"

Hư Trúc từng trúng tới chín cái Sinh Tử Phù, nhưng chẳng bao lâu đã được Đồng Mỗ truyền phép hóa giải, nên chưa đau khổ mấy. Bây giờ y thấy gã béo mập muốn tự moi gan ruột ra, không khỏi kinh tâm động phách. Bọn động chúa đảo chúa bị Đồng Mỗ gieo Sinh Tử Phù vào người, khiếp hãi đến thế cũng là dễ hiểu.

Trong khoảnh khắc, quần áo gã béo ỵ đã rách mướp, da thịt chỗ nào cũng có dấu móng tay cho tới chảy máu đầm đìa. Trong đám đông bỗng có tiếng nói: "Ca ca! Ráng bình tĩnh lại một chút." Một người vừa chạy ra vừa nói tiếp: "Để tiểu đệ điểm huyệt đã, rồi sẽ tìm phương điều trị." Tướng mạo gã này tương tự như gã béo, nhưng nhỏ tuổi hơn, người cũng không mập bằng, chỉ nhìn cũng biết là anh em ruột. Mặt đầy vẻ sợ hãi, gã thận trọng đến gần gã béo, còn cách chừng ba thước thì đột nhiên phóng chỉ điểm vào huyệt Kiên Tỉnh. Gã béo né người đi tránh được, lại xoay tay lại ôm chặt lấy gã kia, há miệng ra cắn vào mặt. Gã kia la lên ầm ĩ: "Ca ca! Buông tay ra! Đệ đây mà!" Nhưng gã béo đã mê man, cắn loạn lên như người điên. Gã kia cố giãy giụa mà không thoát nổi, đã bị ca ca cắn đứt mấy miếng thịt trên mặt, máu chảy đầm đìa, kêu gào thảm thiết.

Đoàn Dự quay lại nói với Vương Ngữ Yên: "Vương cô nương! Phải nghĩ cách cứu họ đi chứ?" Vương Ngữ Yên nhíu cặp mày thanh tú, đáp: "Người đó phát điên rồi, sức mạnh vô cùng, lại không theo lề lối võ công chi hết, ta không có cách nào." Đoàn Dự quay sang năn nỉ Mộ Dung Phục: "Mộ Dung huynh! Nhà Mộ Dung có thần kỹ Gậy ông đập lưng ông, có thể dùng cái bệnh của y để chữa cho y được không?" Mộ Dung Phục không đáp, mặt đầy vẻ vô tình. Bao Bất Đồng hung hăng lên tiếng: "Ngươi dám kêu công tử ta học cái chiêu Cẩu Xực Xí Quách mà tới cắn hắn một miếng ư?" Đoàn Dự băn khoăn đáp: "Đúng là đệ ăn nói bừa bãi, xin Bao huynh đừng trách". Chàng đến gần gã béo, lên tiếng nói: "Tôn huynh! Người này là em ruột tôn huynh, mau buông ra đi!" Gã béo lại càng ghì chặt, hai anh em cùng gầm rú như đôi mãnh thú.

Vân đảo chúa túm lấy một cô gái áo vàng, hỏi: "Quá nửa số người trong đại sảnh đã trúng Sinh Tử Phù của mụ quỉ lùn, chẳng mấy chốc ai nấy đều nổi cơn điên, mấy trăm cái miệng sẽ cắn bọn mi nát ra. Mi có sợ không?" Cô gái liếc nhìn gã béo, vẻ mặt cực kỳ sợ hãi. Vân đảo chúa lại nói: "Bây giờ Đồng Mỗ đã chết rồi, mi hãy cho bọn ta biết chỗ cất giấu bí lục để cứu chữa cho mọi người. Dĩ nhiên ai cũng da tạ, không làm khó dễ bọn mi nữa." Cô gái đáp: "Không phải là ta không chịu nói, thực tình.. thực tình chẳng ai được biết. Giáo chủ hành sự không bao giờ để bọn nô tỳ chúng ta trông thấy."

Sở dĩ Mộ Dung Phục theo bọn Ô Lão Đại lên núi, giúp họ một tay là vì muốn thu phục bọn kỳ nhân dị sĩ này, ngày sau có chỗ dùng. Y thấy Đồng Mỗ chết rồi, Sinh Tử Phù trong người bọn này không giải trừ được, lại tưởng Sinh Tử Phù là một loại kịch độc không thể dùng võ công để hóa tán, giả tỉ bọn chúng chết sạch thì cuộc mưu đồ đại sự lần này sẽ biến thành một giấc mơ xuân. Y cùng Đặng Bách Xuyên, Công Dã Càn nhìn nhau lắc đầu, vô kế khả thi.

Vân đảo chúa biết cô gái áo vàng nói thực, lại bắt đầu cảm thấy huyệt đạo trong người ngấm ngầm tê nhức, tựa như triệu chứng Sinh Tử Phù sắp phát tác. Gã giận dữ quát lên: "Hay lắm, quả nhiên mi không nói. Ta đập chết con nha đầu này rồi sẽ tính tiếp." Gã vung cây roi dài lên veo véo, quật xuống đầu thiếu nữ. Chiêu này lực đạo cực kỳ mãnh liệt, nếu đập trúng thì dĩ nhiên đầu óc cô gái kia nát bét.

Bỗng nghe "vù" một tiếng, một vật gì đó từ ngoài cửa bắn vào bức tường đá đối diện, đập vào tường rồi văng ngược lại trúng vào lưng thiếu nữ, đẩy cô ta văng ra hơn một trượng. Cây roi dài của gã họ Vân đập xuống phiến đá xanh đánh "sầm" một tiếng, vụn đá bay tứ tung. Biến cố này chỉ trong chớp mắt, chẳng ai nhìn rõ người nào phóng ám khí, chỉ thấy dưới đất có một vật tròn tròn sắc vàng đang lăn long lóc, nhìn kỹ thì ra một trái tùng. Ai nấy cả sợ kêu lên: "Dùng một trái tùng nhỏ xíu mà đẩy được cô gái ra xa hơn trượng, nội lực thật là ghê gớm, không hiểu là ai?".

Ô Lão Đại bỗng nghĩ ra một chuyện, la hoảng: "Đồng Mỗ! Chính là Đồng Mỗ!".

Lúc Lý Thu Thủy chém đứt chân trái Đồng Mỗ, Ô Lão Đại nấp ở sau tảng đá lớn, chính mắt trông thấy Hư Trúc cùng mụ bị đánh rớt xuống vực thẳm trăm trượng, Ô Lão Đại liền nhặt khúc chân của Đồng Mỗ gói vào tấm vải dầu dem về, đoán là Đồng Mỗ chết rồi, nhưng không tận mắt trông thấy mụ chết ra sao nên vẫn còn băn khoăn. Hôm đó Hư Trúc dùng thủ pháp của Đồng Mỗ ném trái tùng trúng bụng y, Ô Lão Đại đã bị nếm mùi đau khổ. Bây giờ hắn thấy trái tùng trong nhà đại sảnh, cứ tưởng Đồng Mỗ chưa chết trở về, hồn vía lên mây.

Mọi người nghe Ô Lão Đại la "Đồng Mỗ" đều quay ra ngoài nhìn, trong đại sảnh vang lên những tiếng "sột soạt", "choang choảng", "leng keng". Mấy trăm món binh khí đồng thời rút ra, âm thanh thật là ghê rợn. Tuy ai cũng cảm binh khí trong tay, nhưng đều lùi lại.

Mộ Dung Phục lại hiên ngang tiến lên hai bước ra gần cửa để xem Đồng Mỗ là nhân vật thế nào. Thực ra hôm trước Hư Trúc cõng Đồng Mỗ rơi từ đỉnh núi xuống, y đã dùng công phu Đẩu Chuyển Tinh Di hóa giải lực rơi, từng thấy mặt mụ rồi. Nhưng y không ngờ được cô gái thân hình bé nhỏ, khuôn mặt độ mười tám mười chín tuổi, đẹp tựa hoa xuân đó chính là Thiên Sơn Đồng Mỗ mà bọn ma đầu nghĩ tới phải khiếp vía kinh hồn.

Đoàn Dự lạng người ra đứng chắn trước mặt Vương Ngữ Yên, chỉ sợ nàng bị người ta đánh nhầm. Còn Vương Ngữ Yên lại kêu: "Biểu huynh! Cẩn thận!"

Mọi người chăm chăm nhìn mãi ra ngoài cửa, hồi lâu vẫn chẳng thấy động tĩnh gì. Bao Bất Đồng hô lớn: "Đồng Mỗ! Nếu mụ chê bọn khách chúng ta là bất lịch sự thì hãy xuất hiện đánh đi." Ngoài cửa vẫn im lặng, không có tiếng đáp. Phong Ba Ác cũng nói: "Phải lắm! Để Phong mỗ lĩnh giáo Đồng Mỗ chiêu tuyệt học đầu tiên. Biết đánh không lại cũng phải đánh chơi, Phong mỗ hiếu chiến đã quen, chết cũng không chịu bỏ." Gã nói xong bèn múa tít đơn đao che trước mặt, rồi lạng người xông ra cửa. Phong Ba Ác tuy tính tình hiếu chiến, kinh nghiệm rất nhiều, nhưng bản lĩnh chưa vào hạng nhất. Đặng Bách Xuyên, Công Dã Càn, Bao Bất Đồng coi gã như ruột thịt, biết gã không phải là đối thủ của Đồng Mỗ, cũng nhất tề xông ra tiếp tay.

Bọn động chúa đảo chúa có kẻ khen bốn gã kiêu dũng hơn người, có kẻ lại cười thầm: "Bọn ngươi chưa biết Đồng Mỗ lợi hại thế nào nên mới ngông cuồng như vậy, lát nữa được nếm mùi thì hối hận cũng muộn rồi." Phong Ba Ác và Bao Bất Đồng đứng ngoài cửa, một gã giọng lanh lảnh, một gã giọng ồm ồm cứ kêu réo Đồng Mỗ khiêu chiến, nhưng trước sau vẫn không có ai đáp lại.

Người vừa ném trái tùng cứu thiếu nữ áo vàng chính là Hư Trúc. Bản tính y vốn trung thực, thấy mọi người sợ hãi hoảng loạn liền lên tiếng: "Không phải đâu, là ta đây. Đồng Mỗ đã qua đời thật rồi, các vị không cần phải nghi ngờ mà kinh hãi." Hư Trúc thấy gã béo vẫn đang cắn xé em trai bèn chạy đến, giơ tay ra vỗ vào lưng gã. Cái vỗ này chính là một chiêu Thiên Sơn Lục Dương Chưởng, một luồng khí ấm áp ôn hòa thấm vào trong người gã béo, lập tức Sinh Tử Phù trong người gã tiêu tan.

Gã béo há miệng, buông tay, ngồi dậy thở hổn hển, vẻ mặt buồn rầu nói: "Hiền đệ làm sao vậy? Ai đả thương hiền đệ tàn nhẫn đến thế? Mau mau nói đi, ca ca quyết báo thù rửa hận cho hiền đệ." Gã kia thấy anh tỉnh táo thì cả mừng, quên hết đau đớn, lớn tiếng reo: "Ca ca khỏi rồi! Ca ca khỏi rồi!"

Hư Trúc lại đưa tay vỗ vào vai bọn nữ nhân áo vàng, hỏi: "Phải chăng các vị ở bộ Quân Thiên? Các tỉ muội bộ Dương Thiên, Chu Thiên, Hiệu Thiên.. đã về tới, chỉ vì xích sắt bị đứt nên nhất thời chưa đến đây được. Các vị mau mau đi tìm xích sắt hay dây lớn cũng được, chúng ta ra đó làm cầu đón họ về đã." Bắc Minh chân khí đầy dẫy trong bàn tay Hư Trúc, bất luận bọn nữ nhân bộ Quân Thiên bị phong tỏa huyệt đạo nào, y cũng vỗ một cái là giải khai được hết.

Quần nữ vừa ngạc nhiên vừa hoan hỉ, lục tục đứng dậy nói: "Đa tạ tôn giá cứu mạng, chưa dám thỉnh giáo quý tính đại danh." Mấy cô còn trẻ tính tình nóng nảy, chạy ra cửa hô to: "Chúng ta mau mau đi tiếp ứng cho các vị tỉ muội, rồi sẽ quay về quyết tử chiến cùng bọn phản tặc này." Họ vừa hô vừa quay lại vẫy tay tạ ơn Hư Trúc.

Hư Trúc chắp tay nói: "Không dám! Không dám! Tại hạ chẳng có tài đức gì, không dám nghe các vị tạ ơn. Người đáng tạ ơn là một vị cao nhân khác, lão nhân gia chỉ mượn tay tại hạ mà thôi." Ý Hư Trúc muốn nói nội lực cùng võ công của y đã được ba vị sư trưởng truyền thụ, chính là Đồng Mỗ đã cứu bọn này.

Quần nào thấy y chỉ giơ tay một cái là giải huyệt cho quần nữ xong xuôi, thật là thủ pháp kỳ diệu chưa được mắt thấy tai nghe bao giờ. Chúng nhìn Hư Trúc thấy tướng mạo tầm thường mà tuổi lại còn trẻ, nhất định không thể có công lực cao thâm đến thế. Chúng nghe nói là có cao nhân khác mượn tay để cứu bọn kia, tin chắc là Đồng Mỗ đã về tới cung Linh Thứu.

Ô Lão Đại đã ở cùng Hư Trúc mấy ngày trên đỉnh núi tuyết, bây giờ tuy nhà sư đã để tóc dài, phục sức kiểu khác, nhưng vừa mở miệng nói là hắn nhận ra ngay. Hắn nhảy xổ đến cạnh Hư Trúc, nắm lấy mạch môn bên tay phải, quát hỏi: "Tiểu hòa thượng! Đồng.. Đồng Mỗ đã về tới đây rồi ư?".

Hư Trúc đáp: "Ô tiên sinh! Bụng tiên sinh bị thương đã khỏi chưa? Tại hạ.. tại hạ không phải là đệ tử nhà Phật nữa. Hỡi ơi! Những chuyện đã qua.. nghĩ lại thật là xấu hổ." Hư Trúc nói đến đây bất giác thẹn đỏ mặt lên, may mà y đã trát bùn lem luốc nên người ngoài không trông thấy.

Ô Lão Đại đã nắm được mạch môn Hư Trúc, nghĩ rằng y không có cách nào phản kháng, liền vận thêm hai thành nội lực. Hắn vừa muốn giữ Hư Trúc làm con tin vừa muốn buộc Hư Trúc mở miệng van xin, hy vọng rằng Đồng Mỗ quí trọng gã tiểu hòa thượng này, nếu muốn giết mình thì cũng phải ném chuột sợ vỡ đồ. Ngờ đâu Hư Trúc vẫn thản nhiên như không, nội lực của hắn phóng ra mất hút như hòn đá ném xuống biển. Ô Lão Đại hoảng sợ bèn không dám thúc đẩy nội lực nữa, nhưng vẫn chưa chịu buông tay.

Quần hào thấy Ô Lão Đại kiềm chế được mạch môn đối phương, đều cho rằng dù bản lĩnh Hư Trúc cao hơn Ô Lão Đại nhiều thì cũng không tài nào kháng cự được nữa. Họ lại nghĩ: "Nếu tiểu tử này đúng là cao thủ thì nhất quyết không để bị kiềm chế dễ dàng như thế." Cả đám nhốn nháo bâu vào hỏi: "Thằng lỏi kia! Mi là ai? Ở đâu đến đấy?" "Tên họ mi là gì? Sư trưởng mi là ai?" "Ai phái mi đến đây? Có phải Đồng Mỗ không? Mụ ta còn sống hay chết rồi

Hư Trúc trả lời từng câu một, vẻ mặt rất khiêm cung:" Tại hạ đạo hiệu là Hư Trúc Tử. Đồng Mỗ đã qua đời rồi. Di thể lão nhân gia đã đem về bên kia Tiếp Thiên Kiều. Tại hạ vốn ở phái.. Hỡi ôi!.. Nói ra xấu hổ, tại hạ đã lầm lỡ mất rồi, không tiện trình bày. Giả tỉ các vị không tin, thì xin chờ lát nữa sẽ cùng hành lễ trước di hài của Đồng Mỗ lão nhân gia, tại hạ đến đây là để tham gia an táng. Phần lớn các vị vốn là thuộc hạ của lão nhân gia, tại hạ chỉ mong các vị quên đi chuyện cũ, phục lạy trước linh vị người để xóa bỏ những thù hận xưa kia thì thật là hay lắm. "Giọng điệu của y lúc thì hổ thẹn, lúc thì thương cảm, câu nọ chẳng dính với câu kia, sau cùng là mấy câu năn nỉ.

Quần hào thấy Hư Trúc nói lung tung, tựa như tâm trí không tỉnh táo, nên bớt sợ hãi, tính cuồng ngạo lại nổi lên. Chúng ngoác miệng ra mà thóa mạ:" Thằng lỏi con! Mi là cái thá gì mà dám bảo bọn ta cúi đầu lạy trước linh vị con quỷ lùn?" "Mẹ kiếp! Mụ ác tặc đó chết như thế nào? Cái chân chó này có phải của hắn không?"

Hư Trúc đáp: "Các vị vốn có thâm cừu với Đồng Mỗ, nhưng lão nhân gia đã tạ thế rồi, xin đừng ôm hận làm chi, cũng đừng thóa mạ người quá cố. Ô tiên sinh nói đúng, Đồng Mỗ đã chết dưới tay sư muội là Lý Thu Thủy. Khúc chân này đúng là di thể lão nhân gia. Hỡi ôi! Đời người như giấc mộng phải có lúc tỉnh, như hạt sương mai có lúc bay hơi. Lão nhân gia dù bản lĩnh nghiêng trời, rốt cuộc cũng công tán khí tuyệt, hóa thành bụi đất. Nam mô A Di Đà Phật, Nam mô Quan Thế Âm bồ tát, Nam mô Đại Thế Chí Bồ tát, xin tiếp dẫn Đồng Mỗ sớm trở về thế giới Tây phương cực lạc!"

Quần hào nghe Hư Trúc ăn nói trôi chảy, biết rằng Đồng Mỗ đã chết thật rồi. Bỗng có người hỏi: "Lúc Đồng Mỗ lâm tử, mi có ở bên cạnh mụ không?" Hư Trúc đáp: "Có. Tại hạ phục dịch bên mình lão nhân gia đã mấy tháng nay." Quần hào đưa mắt nhìn nhau, cùng nghĩ một điều: "Dứt khoát bí quyết phá giải Sinh Tử Phù phải ở trong mình thằng lỏi này."

Bóng xanh thấp thoáng, một người vọt đến cạnh Hư Trúc, túm lấy mạch môn ở tay trái y. Ô Lão Đại cũng thấy sau gáy mát rượi, đã bị kiếm kề vào cổ. Có người lên giọng dõng dạc nói: "Ô Lão Đại! Thả y ra ngay!"

Lúc Ô Lão Đại thấy có người nắm tay trái Hư Trúc, lão tưởng rằng bằng hữu đến giúp mình. Đến khi hắn phát giác ra có người uy hiếp mình, toan phóng chưởng chống đỡ thì đã chậm mất rồi, kiếm đã kề cổ, hắn chỉ còn chờ chết. Người đứng phía sau gằn giọng nói: "Ngươi không thả y ra, thì lập tức ta cắt cái đầu ngươi xuống." Ô Lão Đại hốt hoảng buông tay Hư Trúc ra, nhảy vọt tới mấy bước rồi mới quay lại nói: "Châu Nhai Song Quái! Ô mỗ không quên chuyện này đâu!".

Hán tử cầm kiếm uy hiếp y nhe răng cười nói: "Ô Lão Đại! Bất luận ngươi muốn sao cũng được, Châu Nhai Song Nghĩa xin đón tiếp." Giang hồ đặt ngoại hiệu cho hai gã này là Châu Nhai Song Quái, nhưng chúng lại tự xưng là Châu Nhai Song Nghĩa. Đại quái nắm mạch môn Hư Trúc, còn nhị quái thọc tay vào túi áo y. Hư Trúc nghĩ thầm: "Chẳng hiểu các ngươi tìm cái chi, trong người ta chẳng có gì đáng giá hết." Nhị quái lôi ra vật đầu tiên là bức họa của Vô Nhai Tử, liền mở ra coi.

Cả mấy trăm con mắt trong đại sảnh đều đổ dồn vào nhìn! Bức họa tuy đã bị Đông Mỗ đạp lên, lại bị ướt ở trong hầm nước đã song mỹ nữ trong tranh vẫn tươi đẹp linh động khác thường, tựa như sắp từ trong bức họa bước ra. Nét đan thanh thật đã đến mức xuất thần nhập hóa. Mọi người vừa nhìn vào bức họa, lập tức lại ngó, sang Vương Ngữ Yên. Những tiếng nói: "Ồ!", "Ái chà!", "Hừ!" vang lên không ngớt, người thì ngạc nhiên, người thì khinh miệt.

Quần hào cứ tưởng đây là một tranh sơn thủy, hoặc bản đồ chỉ đường đi tìm bí quyết hay linh dược phá giải Sinh Tử, ngờ đâu chỉ là chân dung Vương Ngữ Yên, tất cả đều thất vọng. Vương Ngữ Yên, Đoàn Dự cùng Mộ Dung Phục cũng "Ái chà!", nhưng cảm tưởng lại khác nhau. Vương Ngữ Yên thấy Hư Trúc cất trong người bức chân dung của mình thì vừa kinh ngạc vừa thẹn thùng, mặt đỏ đến tận mang tai. Nàng tự hỏi: "Chẳng lẽ.. chẳng lẽ.. người này mới gặp ta một lần ở kỳ hội mà cũng để ý ghi nhớ vào tâm khảm, giống như Đoàn công tử? Nếu không thì sao y lại vẽ hình mình mà giấu trong người?" Đoàn Dự nghĩ: "Vương cô nương là tiên nữ hóa thân, dung mạo tuyệt thế. Vị tiểu sư phụ này điên đảo thần hồn cũng chẳng có chi là lạ. Hỡi ôi! Đáng tiếc là mình không có nét bút linh hoạt như y, nếu không thì cũng vẽ một bức chân dung Vương cô nương, để sau khi chia tay được sớm hôm chiêm ngưỡng, mối tương tư giảm bớt phần nào." Mộ Dung Phục lại nghĩ: "Té ra tên tiểu hòa thượng này cũng là một con cóc ghẻ muốn sánh cùng thiên nga."

Nhị quái liệng bức họa xuống đất rồi lại lục lọi trong người Hư Trúc. Chúng lôi ra được tờ điệp văn của chùa Thiếu Lâm cấp cho y trong lễ thế phát, một ít bạc vụn, mấy nắm lương khô, một đôi tất vải, chẳng có gì dính líu đến Sinh Tử Phù cả.

Quần hào đều sợ hai gã tìm được bí quyết hoặc linh đan sẽ chiếm làm của riêng, nên ai cũng chằm chằm nhìn chúng. Giả tỉ họ thấy hai người tìm được vật gì khác lạ là lập tức nhảy xổ lại cướp giật, chắc chắn xảy ra hỗn chiến.

Châu Nhai Đại Quái thóa mạ: "Thằng giặc thối tha này! Lúc con mụ ác tặc kia sắp chết đã nói với mi những gì?" Hư Trúc đáp: "Tiên sinh hỏi Đồng Mỗ lúc sắp chết đã nói gì với tại hạ ư? Hừ! Lão nhân gia chỉ nói:" Không phải hắn! Không phải hắn? Ha ha! ", sau đó cười ba tiếng rồi tắt thở." Quần nào chẳng hiểu "Không phải hắn! Ha ha" là nghĩa làm sao, mấy người nóng tính mắng nhiếc om sòm.

Đại quái nói: "Con mẹ nó! Không phải hắn là sao? Mụ ác tặc còn nói gì nữa không?" Hư Trúc đáp: "Tiên sinh khi nhắc tới Đồng Mỗ lão nhân gia thì nên kính cẩn một chút, đừng thóa mạ người quá cố như vậy?" Đại quái nổi giận đùng đùng, vừa giơ tay trái lên đập xuống đỉnh đầu y vừa quát mắng: "Thằng giặc thối tha này! Ta thích thóa mạ mụ ác tặc thì đã làm sao?"

Ánh hàn quang lấp loáng, một thanh trường kiếm bỗng chĩa ngang ra trên đỉnh đầu Hư Trúc, lưỡi kiếm quay ngược lên. Giả tỉ Châu Nhai Đại Quái tiếp tục tập xuống thì bàn tay hắn phải đứt lìa chứ không trúng vào đầu HưTrúc, hắn kinh hãi vội thu chưởng về. Đà thu vội quá, người hắn bật ngửa ra sau, buông cổ tay Hư Trúc, lùi lại luôn ba bước. Nhưng hắn vẫn thấy lòng bàn tay trái hơi rát, giơ lên coi thì thấy một vệt rướm máu, nếu rút tay về chỉ chậm nửa cái nháy mắt là đứt mất bàn tay rồi! Hắn vừa kinh hãi vừa tức giận, trừng mắt nhìn xem ai phóng kiếm ra, thì thấy một lão già tuổi trạc ngũ tuần, mình mặc áo xanh, râu dài phất phơ, mặt mũi thanh tú, chính là Kiếm thần Trác Bất Phàm. Chiêu kiếm vừa rồi mau lẹ phi thường lại đúng phương vị, đủ biết kiếm thuật lão đã đến mức siêu quần. Châu Nhai Đại Quái nhớ lại hôm trước, Khu đảo chúa đảo Kiếm Ngư toan chạy trốn, chỉ trong khoảnh khắc đã bị lão Kiếm Thần này chặt đầu, nên tuy hắn nóng nảy mà không dám gây chuyện với vị cao thủ này. Hắn hỏi: "Các hạ ra tay đả thương tại hạ là có ý gì?"

Trác Bất Phàm mỉm cười đáp: "Mọi người chỉ trông vào gã nói ra cách hóa giải Sinh Tử Phù. Lão huynh nóng tính đem giết gã đi, khi Sinh Tử Phù trong mình các huynh đệ phát tác thì sao?" Châu Nhai Đại Quái cứng lưỡi, chỉ ấp úng: "Cái đó.. Cái đó." Lúc Kiếm Thần bức bách Đại Quái lùi lại, khuỷu tay cũng không biết vô tình hay hữu ý đã thúc vào bả vai Nhị Quái. Nhị Quái đứng không vững, loạng choạng lùi lại bốn bước, trong người khí huyết nhộn nhạo cả lên. Gã gượng đứng vững lại được, nhưng cũng không dám lên tiếng gây gổ.

Trác Bất Phàm nhìn Hư Trúc ôn tồn hỏi: "Tiểu huynh đệ! Lúc Đồng Mỗ lâm tử, ngoài câu" Không phải hắn! Ha ha! ", còn nói gì nữa không?"

Hư Trúc đột nhiên đỏ mặt lên, hổ thẹn cúi đầu xuống, vẻ mặt sượng sùng như đang ăn vụng bị bắt quả tang. Thì ra y nghĩ tới câu nói của Đồng Mỗ: "Ngươi lấy bức họa ra để ta xé đi, khi đó ta không còn lo gì nữa, có thể chỉ cho ngươi đi tìm vị cô nương trong mộng." Không ngờ khi Đồng Mỗ nhìn kỹ, phát giác ra mỹ nhân trong tranh không phải là Lý Thu Thủy, bà vừa sung sướng lại vừa đau khổ, rồi nhắm mắt lại không nói nữa. Hư Trúc nghĩ rằng: "Đồng Mỗ qua đời đột ngột, khắp thiên hạ chẳng còn ai biết tông tích và cô nương trong mộng kia, kiếp này ta không thể gặp lại nàng." Y nghĩ tới đó, không khỏi ngẩn ngơ như mất cả hồn vía.

Trác Bất Phàm thấy Hư Trúc có vẻ khác lạ, đoán rằng y đang cố giữ bí mật gì đó, liền dịu giọng nói: "Tiểu huynh đệ! Đồng Mỗ đã nói điều chi, cứ nói ra cho anh em biết. Trác mỗ không làm khó dễ gì, lại tìm cách giúp tiểu huynh đệ giải quyết khó khăn." Hư Trúc đỏ mặt lên, lắc đầu nói: "Chuyện này tại hạ không thể.. không thể nói ra." Trác Bất Phàm lại hỏi: "Sao tiểu huynh đệ không nói được? Hư Trúc đáp:" Việc này nói ra.. Ôi chao! Tại hạ không nói được, dù tiên sinh có giết cũng chịu, nhất định không thể nói. "Trác Bất Phàm, cố gắng:" Tiểu huynh đệ không nói thật ư? "Hư Trúc đáp gọn:" Không nói! "

Trác Bất Phàm chăm chú nhìn Hư Trúc, thấy vẻ mặt y rất cương quyết. Soạt một tiếng, trường kiếm ra khỏi vỏ, hào quang lấp loáng, kiếm phong veo véo, chặt chiếc bàn bát tiên thành chín mảnh theo hình chữ Tỉnh. Vạch chữ Tỉnh thì chẳng có gì khó, chỉ lạ ở chỗ cái bàn bị chặt thành chín miếng vuông vắn bằng nhau không lớn không nhỏ, tựa như đã lấy thước đo rồi mới cắt. Trong đại sảnh vang lên tiếng hoan hô như sấm động.

Vương Ngữ Yên nhẹ nhàng nói:" Tuyệt kỹ Chu Công Kiếm này là của Nhất Tư Tuệ Kiếm Môn ở Kiến Dương tỉnh Phúc Kiến. Lão tiền bối họ Trác, ngoại hiệu Kiếm Thần, thì chắc đại danh là Trác Bất Phàm, chưởng môn phái Nhất Tự Tuệ Kiếm. "Nàng nói rất rành mạch, quần hào đang reo hò mà cũng nghe rõ, liền quay lại chăm chú nhìn Kiếm Thần. Trong đại sảnh lại yên lặng như tờ.

Trác Bất Phàm cười ha hả nói:" Nhãn lực cô nương thật là ghê gớm, chẳng những biết rõ môn phái mà còn gọi ra được kiêm chiêu cùng danh tự của lão phu. "Quần hào nghĩ thầm:" Trước nay chưa nghe nói đến phái Nhất Tự Tuệ Kiếm ở Phúc Kiến. Lão này kiếm thuật tinh diệu, lẽ ra môn phái lão tiếng tăm lừng lẫy mới phải, thế mà sao không ai biết? "Bỗng Trác Bất Phàm thở dài nói:" Môn phái của lão phu chỉ có chưởng môn chứ không có đệ tử! Cả ba đời phái Nhất Tự Tuệ Kiếm tổng cộng được sáu mươi hai người, ba mươi ba năm trước đã bị Thiên Sơn Đồng Mỗ giết sạch. "Mọi người đều kinh hãi nghĩ thầm:" Té ra lão này đến cung Linh Thứu để báo đại thù của sư môn. "

Bỗng Trác Bất Phàm rung thanh trường kiếm, nhìn Hư Trúc nói:" Tiểu huynh đệ! Mấy chiêu kiếm pháp này ta muốn truyền cho tiểu huynh đệ. Tiểu huynh đệ tính sao? "

Hắn vừa nói xong, quần hùng đều lộ vẻ kinh ngạc. Người học võ nếu gặp cơ duyên, được cao nhân thương yêu truyền cho một vài tuyệt chiêu thì có thể suốt đời tiếng tăm lừng lẫy, tính mạng được bảo đảm. Nhưng trên giang hồ, những kẻ hiểm độc, lừa thầy phản bạn cũng không phải là ít, nên tìm được người dạy võ công chẳng phải dễ dàng. Ai ai cũng thấy kiếm thuật Trác Bất Phàm đã đến chỗ xuất quỷ nhập thần, thế mà lão chịu truyền thụ cho Hư Trúc, chắc cũng vì lời di ngôn của Đồng Mỗ có liên quan đến Sinh Tử Phù.

Hư Trúc chưa kịp trả lời, đột nhiên có thanh âm lạnh lùng hỏi:" Trác tiên sinh! Tiên sinh cũng bị trúng Sinh Tử Phù chăng? "Trác Bất Phàm quay nhìn, thì ra là một đạo cô trung niên, liền hỏi lại:" Sao tiên cô lại hỏi vậy? "

Đoàn Dự nhận ra vị đạo cô này chính là động chủ Tân Song Thanh của Vô Lượng Động, vốn là chưởng môn Tây Tông của Vô Lượng Kiếm, từng bị thuộc hạ của Đồng Mỗ thu phục, đổi cả danh hiệu. Chàng nhớ lại những chuyện cũ, không dám giáp mặt Tân Song Thanh cùng thuộc hạ của bà là lão Tả Tử Mục, chỉ sợ họ lôi nợ cũ ra tính sổ, bèn vội vã nấp sau lưng Bao Bất Đồng.

Tân Song Thanh đáp:" Trác tiên sinh không trúng Sinh Tử Phù thì phải dùng thiên phương bách kế để tìm cách phá giải thứ bùa đó làm gì? Giả tỉ Trác tiên sinh lại muốn kiềm chế chúng ta thì các huynh đệ ba mươi sáu động, bảy mươi hai đảo vừa thoát khỏi hang sư tử lại chui vào hang cọp, e rằng chẳng ai chịu cam tâm. Trác tiên sinh tuy kiếm pháp thông thần, nhưng nếu muốn dồn chúng ta vào thế cùng, thì hết thảy chúng ta phải quyết một trận sinh tử với tiên sinh! "Lời lẽ của đạo cô tuy không cao ngạo nhưng cũng chẳng thấp hèn, nói huỵch toẹt ra dụng ý của Trác Bất Phàm, thật là sắc bén vô cùng.

Trong quần hào lập tức có mấy chục người lên tiếng:" Tân động chúa nói đúng lắm." "Tiểu tử! Đồng Mỗ có di ngôn gì ngươi hãy nói mau, không thì lập tức bị bọn ta loạn đao phân thây!" Trác Bất Phàm vung trường kiếm lên veo véo rồi nói: "Tiểu huynh đệ bất tất phải sợ. Ngươi cứ ở cạnh lão phu, xem có ai động đến được lông chân của ngươi không? Di ngôn của Đồng Mỗ, tiểu huynh đệ chỉ được nói với một mình lão phu, nếu người thứ ba nghe được thì lão phu không truyền kiếm pháp cho tiểu huynh đệ nữa."

Hư Trúc lắc đầu đáp: "Di ngôn của Đồng Mỗ chỉ liên quan đến một mình tại hạ, các vị có biết cũng chẳng ích gì. Hơn nữa, dù sao tại hạ cũng không thể nói ra. Kiếm pháp của các hạ tuyệt diệu đến đâu, tại hạ cũng không muốn học."

Quần hào hoan hô vang dội: "Hay lắm! Hay lắm! Hảo tiểu tử, ngươi thật là có cốt khí. Ngươi học kiếm pháp của lão để làm gì?" "Kiếm pháp của lão chẳng có chi kỳ dị, một tiểu cô nương xinh đẹp tha thướt cũng nói huỵch toẹt ra được!". Lại có người nói: "Cô nương kia đã biết lai lịch kiếm pháp, chắc cũng có cách phá giải. Tiểu huynh đệ đã cất kỹ hình ảnh của cô nương trong người, ha ha, phải bái cô nương đó làm sư phụ mới đúng."

Lúc Trác Bất Phàm nghe Vương Ngữ Yên nói toạc môn phái của mình đã lấy làm căm giận, bây giờ nghe bọn này gièm pha thì không chịu được nữa. Lão liếc nhìn Vương Ngữ Yên, chỉ thấy nàng nhìn Mộ Dung Phục đến xuất thần, chẳng thèm để ý đến ai. Lão bèn nghĩ: "Người ta bảo nàng biết cách phá giải kiếm pháp của mình, nàng không lập tức phủ nhận ngay, thế thì tự coi là biết phá giải thật." Kỳ thực Vương Ngữ Yên đang để hết tâm hồn vào Mộ Dung Phục. Thấy chàng có vẻ thẫn thờ, nàng tự hỏi: "Sao biểu huynh lại buồn phiền? Chàng bực bội vì ta chăng? Ta đắc tội với chàng chỗ nào? Không lẽ.. không lẽ vì vị tiểu sư phụ kia đã vẽ chân dung ta cất giấu trong mình, nên chàng lấy làm tức giận?". Mọi người bàn tán lao xao, nàng tuy có nghe nhưng không hiểu chi hết.

Trác Bất Phàm thấy Vương Ngữ Yên không nói gì, căm tức đến cực điểm. Đột nhiên lão nhìn đến bức họa, nghĩ thầm: "Thằng hỏi này vẽ chân dung con ranh kia cất giấu trong người, dĩ nhiên có tình ý tha thiết với thị. Ta muốn bắt gã nói ra di ngôn của Đồng Mỗ, phải bắt lấy con nhãi kia để uy hiếp mới xong." Lão cuộn tấm đồ hình nhét trả vào bọc Hư Trúc, cười ha hả: "Tiểu huynh đệ! Tâm sự của tiểu huynh đệ lão phu đã biết cả rồi. Ha ha! Trai tài gái sắc, ông trời đã ghép sẵn thành đôi! Nhưng có người phá đám, tiểu huynh đệ muốn được như nguyện cũng không phải chuyện dễ. Thôi thôi, bây giờ lão phu nhất quyết đứng ra tác thành hảo sự, để cô nương kia kết duyên cùng tiểu huynh đệ, lập tức bái thiên địa rồi động phòng tại cung Linh Thứu này ngay đêm nay, Tiểu huynh đệ tính sao?" Lão vừa nói vừa cười ha hả, trỏ vào Vương Ngữ Yên.

Khi phái Nhất Tự Tuệ Kiếm bị Đồng Mỗ giết sạch, Trác Bất Phàm không ở Phúc Kiến nên mới thoát nạn. Lão trốn lên vùng núi Trường Bạch hoang vu lạnh lẽo để nghiên cứu kiếm pháp, một hôm vô tình tìm được một bộ kiếm phổ của cao thủ đời trước để lại. Lão luyện tập ba mươi năm mới thành tựu, đã tự tin kiếm pháp mình thiên hạ vô địch. Kỳ này lão vừa xuống núi đã giết được mấy tay cao thủ hắc đạo lừng lẫy tiếng tăm ở Hà Bắc, liền sinh cuồng vọng làm bá chủ võ lâm. Lão tưởng rằng kiếm pháp của mình đủ khuất phục tất cả anh hùng thiên hạ, nói ra một câu là ai cũng phải theo.

Hư Trúc thẹn đỏ mặt lên, vội đáp: "Không, không! Tiên sinh hiểu lầm rồi!" Trác Bất Phàm nói: "Trai lớn lấy vợ, gái lớn gả chồng là chuyện thường tình, sao tiểu huynh đệ lại hổ thẹn?" Hư Trúc lại càng ngượng ngùng, ấp úng đáp: "Cái đó.. cái đó.. không phải.."

Trác Bất Phàm lại rung trường kiếm, xuất một lúc hai chiêu Thiên Như Cùng Lư và Bạch Vu Mang Mang, toan vây Vương Ngữ Yên vào trong vòng kiếm quang, bắt nàng để uy hiếp, buộc Hư Trúc phải lộ bí mật.

Vương Ngữ Yên vừa thấy Trác Bất Phàm thi triển hai chiêu kiếm liền nghĩ: "Thiên Như Cùng Lư phối hợp với Bạch Vu Mang Mang thì đến chín phần hư, chỉ có một phần thực. Chỉ cần xông thẳng vào lão là lão phải hoang mang thu chiêu về lập tức, không phải đánh cũng phá được thế kiếm." Nhưng nàng chỉ biết lý thuyết về kiếm pháp, không rèn luyện thân pháp thủ pháp để thực hành, thấy kiếm quang lấp loáng chụp xuống đầu chỉ biết kinh hoàng la lên một tiếng.

Mộ Dung Phục nhận ra hai chiêu kiếm của Trác Bất Phàm không có ý đả thương Vương Ngữ Yên thì nghĩ thầm: "Ta đừng vội xuất thủ, thử xem lão mũi trâu này định giở trò gì. Không chừng thằng trọc con kia vì say mê biểu muội ta mà phải khai ra bí mật."

Nhưng Đoàn Dự thấy Trác Bất Phàm xuất chiêu tấn công Vương Ngữ Yên liền cả kinh, hoảng hốt thi triển Lăng Ba Vi Bộ xông tới chặn trước mặt Vương Ngữ Yên, lấy thân che chở cho nàng. Kiếm chiêu của Trác Bất Phàm tuy mau lẹ, nhưng bộ pháp của Đoàn Dự cực kỳ tinh diệu, còn nhanh hơn một chút. Không hiểu Trác Bất Phàm không muốn hay không kịp thu chiêu về, chỉ thấy kiếm quang lóe lên, kiếm phong rít lên một tiếng, từ cổ đến bụng Đoàn Dự đã bị rạch một đường dài hơn một thước không những rách áo mà còn trầy da nữa. May mà Trác Bất Phàm chỉ muốn bức bách Hư Trúc khai ra bí mật, không có ý giết người gây oán, nên chiêu kiếm này lão phóng nhẹ tay. Mũi kiếm chỉ sượt vào da Đoàn Dự chừng một hai ly, vết thương tuy dài nhưng không nguy hiểm chút nào. Thế mà Đoàn Dự kinh hãi ngẩn người ra, rồi cúi xuống nhìn ngực mình thì thấy máu chảy đầm đìa. Chàng tưởng mũi kiếm đã rạch vào đến ruột, sắp chết đến nơi, bèn vội la lên: "Vương cô nương! Cô nương.. lánh mau đi để tại hạ cố ngăn trở y."

Trác Bất Phàm lạnh lẽo cười: "Mạng ngươi còn chưa tự giữ được, thế mà còn đòi bảo vệ cho người khác, thật là không biết lượng sức mình." Lão quay nhìn Hư Trúc nói: "Tiểu huynh đệ! Xem chừng cô nương này có nhiều người theo đuổi. Để lão phu hạ thủ giết bớt một tên tình địch cho tiểu huynh đệ." Trường kiếm trong tay lão chỉ cách ngực Đoàn Dự chừng một tấc, mũi kiếm rung lên không ngớt, chỉ cần phóng thêm một chút nữa là đâm thủng trái tim.

Hư Trúc cả kinh la lớn: "Không được! Nhất định không được!" Y sợ Trác Bất Phàm giết Đoàn Dự, liền vươn tay ra dùng ngón tay út điểm nhẹ vào huyệt Thái Uyên ở cổ tay phải Trác Bất Phàm. Lão liền thấy cổ tay tê buốt, năm ngón tay nắm chuôi kiếm không chặt phải buông ra, Hư Trúc tiện tay liền đoạt lấy kiếm. Đây là một chiêu thức tuyệt cao trong Thiên Sơn Chiết Mai Thủ, trông thì tầm thường chẳng có chi kỳ dị, thực ra ngón tay út đã vận Tiểu Vô Tướng Công phóng ra cực kỳ mãnh liệt. Trác Bất Phàm đã có ba bốn chục năm công lực mà vẫn bị đoạt kiếm dễ dàng mau lẹ không ngờ. Hư Trúc nói: "Trác tiên sinh! Đoàn công tử là người tốt, đừng hại mạng chàng." Rồi y nhét lại trường kiếm vào tay Trác Bất Phàm, cúi xuống xem vết thương Đoàn Dự.

Đoàn Dự thở dài nói: "Vương cô nương! Tại hạ sắp chết rồi, chỉ còn mong cô nương cùng Mộ Dung huynh cử án tề mi, bách niên giai lão. Gia gia, má má ơi! Con.." Thực ra vết thương chàng chẳng có chi trầm trọng, nhưng chàng cứ nghĩ mình đã lòi ruột, không sống được nữa, bèn thở hắt ra, ngã ngửa về phía sau.

Vương Ngữ Yên vội đỡ lấy chàng, sa lệ nói: "Đoàn công tử! Huynh chỉ vì ta mà.." Hư Trúc đã được Lung Á lão nhân Tô Tinh Hà dạy phép trị thương, tuy y xuất thủ không thuần thục bằng Tiết Thần Y, nhưng chớp nhoáng đã điểm vào huyệt đạo phía trái vết thương của Đoàn Dự. Y ngó lại vết thương rồi yên tâm cười nói: "Đoàn công tử! Vết kiếm thương không nặng, chỉ ba bốn ngày là khỏi."

Đoàn Dự được Vương Ngữ Yên nâng đỡ, lại thấy nàng khóc vì mình, bất giác thần hồn bay mất, sung sướng tột cùng, lên tiếng nói: "Vương cô nương! Cô nương.. khóc vì tại hạ ư?" Vương Ngữ Yên gật đầu, nước mắt lại lăn từng giọt xuống đôi má ngọc. Đoàn Dự nói: "Đoàn mỗ có được ngày nay, thì dù bị chém mấy chục nhát kiến, chết đến mấy trăm lần cũng thấy vui lòng." Hư Trúc nói gì, chàng hoàn toàn không nghe thấy. Vương Ngữ Yên trong lòng vô cùng cảm kích, khó mà tự chủ. Còn Đoàn Dự thấy ý trung nhân sa lệ vì mình, thì chàng chẳng coi cái chết của mình vào đâu nữa.

Hư Trúc đoạt kiếm rồi trả kiếm chỉ trong nháy mắt. Trừ Mộ Dung Phục trông thấy rõ ràng, và chính Trác Bất Phàm tự biết, còn ai nấy đều cho là Trác Bất Phàm hạ thủ lưu tình không giết Đoàn Dự. Trác Bất Phàm vừa kinh hãi vừa căm hận không thể hình dung nổi. Lão nghĩ thầm: "Mình may mắn nhặt được kiếm kinh của cao thủ tiền bối ở núi Trường Bạch, khổ công luyện tập ba chục năm trời, cứ tưởng trên đời không ai địch nổi, ngờ đâu sơ ý để thằng lỏi này điểm trúng huyệt Thái Uyên. Hay đó chỉ là chuyện ngẫu nhiên? Giả tỉ gã cố ý đoạt kiếm của mình thì sao phải trả lại? Thằng lỏi này mới sống mấy năm, bản lĩnh bao nhiêu mà đoạt được trường kiếm trong tay Trác mỗ?" Lão nghĩ tới đây, hào khí lại phát sinh, bèn nói: "Tiểu tử! Ngươi thật là lắm chuyện!" Rồi lão đưa mũi kiếm kề vào sau lưng áo Hư Trúc, định đâm rách áo và ấn sâu thêm một chút vào lớp da y, giống như đâm Đoàn Dự.

Ngờ đâu Bắc Minh chân khí đang chuyển vận trong người Hư Trúc, mũi kiếm của Trác Bất Phàm vừa đâm tới liền bị chân khí đẩy lại làm quằn cả mũi kiếm, trượt qua bên mình y. Trác Bất Phàm giật mình, biến chiêu cực kỳ mau lẹ, lập tức thu kiếm về quét ngang ra, chém vào sườn Hư Trúc. Đây là chiêu Ngọc Đới Vi Yêu, tấn công chí mạng vào ba phía trước, sau và bên phải. Lão đã biết Hư Trúc võ công cao cường ngoài dự liệu, không dùng toàn lực tấn công thì không được.

Hư Trúc "Ái chà" một tiếng, lạng người né tránh, không hiểu tại sao Trác Bất Phàm vừa ăn nói ngọt ngào lại đột nhiên dùng sát thủ? "Soạt" một tiếng, mũi kiếm sượt qua dưới nách Hư Trúc, đâm rách cái áo mới một miếng to. Trác Bất Phàm xuất chiêu thứ hai vẫn không trúng, thì năm phần kinh ngạc, năm phần sợ sệt. Lão bèn đảo người đi nửa vòng, dựng thanh kiếm lên, đột nhiên mũi kiếm lóe ra ánh sáng xanh lè. Trong quần hào có mấy chục người kinh hãi la lên: "Kiếm Mang! Kiếm Mang!" Thanh kiếm lúc này rất giống một con rắn dài duỗi ra co lại. Trác Bất Phàm cười một cách hung dữ, hít một hơi chân khí vào đan điền, vận toàn lực vào thanh kiếm. Kiếm quang xanh lè lại càng chiếu sáng hơn, mũi kiếm nhằm thẳng ngực Hư Trúc đâm vào.

Hư Trúc chưa thấy ai vận nội lực vào binh khí để phát thanh quang, lại nghe quần hào la hoảng, thì biết ngay đây là một môn võ công rất lợi hại. Y sợ mình không đối phó nổi, liền thi triển bộ pháp né tránh. Trác Bất Phàm đã dùng toàn lực phóng chiêu này, không thể biến thế nửa chừng được. Nghe một tiếng "chát", mũi kiếm đã đâm vào cột đá, cây cột này làm bằng đá hoa cương rất cứng rắn, thế mà thanh trường kiếm mềm mại kia đâm sâu vào được đến một thước, đủ biết Trác Bất Phàm đã vận nội lực vào lưỡi kiếm đến mức phi thường. Quần hào lại không nhịn được, bật lên tiếng reo hò.

Trác Bất Phàm vận kình lực vào tay để giật kiếm ra, lại vung kiếm lên đuổi theo Hư Trúc, quát hỏi: "Tiểu huynh đệ! Ngươi chạy đi đâu?" Hư Trúc trong lòng kinh hãi, chỉ còn biết né tránh.

Đột nhiên bên trái có tiếng người cười khanh khách rồi nói: "Tiểu hòa thượng, nằm xuống đi!" Thanh âm này là của nữ nhân. Sau đó hai luồng bạch quang lấp loáng, hai mũi phi đao bay vèo tới Hư Trúc, Hư Trúc đã được Đồng Mỗ truyền dạy khinh công, bây giờ nội lực trong mình y có thể nói là đệ nhất thiên hạ, dĩ nhiên khinh công nhanh nhẹn khôn lường. Phi đao lao đến rất nhanh mà Hư Trúc vẫn né được nhẹ nhàng. Lúc đó y mới thấy một thiếu phụ xinh đẹp mặc áo hồng nhạt, hai tay điều khiển hai lưỡi phi đao. Lòng bàn tay thiếu phụ dường như có sức hút, phi đao đã phóng ra cũng có thể hút trở về.

Trác Bất Phàm khen ngợi: "Thần kỹ phóng phi đao của Phù Dung Tiên Tử thật khiến cho Trác mỗ được mở rộng tầm mắt."

Hư Trúc chợt nhớ lại cái hôm bọn này bàn chuyện tấn công núi Phiêu Diểu, Kiếm Thần và Phù Dung Tiên Tử cùng đi với Bất Bình đạo nhân. Y đã lấy trái tùng ném chết Bất Bình đạo nhân trên đỉnh núi tuyết, nghĩ bụng lúc này Phù Dung Tiên Tử đến đây là để giết mình, báo thù cho đồng bọn. Hư Trúc liền hối hận, dừng chân quay lại, chắp tay xá Phù Dung Tiên Tử rồi nói: "Tại hạ đã phạm lỗi rất lớn, thật là đáng chết. Lúc đó tại hạ vô tình chứ không cố ý, hỡi ơi, dù sao cũng không còn cách nào cứu vãn được nữa. Bây giờ hai vị muốn đánh muốn mắng thế nào, tại hạ.. tại hạ cũng không dám trốn tránh."

Trác Bất Phàm cùng Phù Dung Tiên Tử Thôi Lộc Hoa đưa mắt nhìn nhau nghĩ thầm: "Thằng lỏi này sợ rồi!" Thực ra hai người này không biết Bất Bình đạo nhân đã chết về tay Hư Trúc, mà dù có biết thì cũng không phải đến đây để giết y báo thù. Hai người tiến lại gần Hư Trúc, mỗi người nắm lấy một bên cổ tay y.

Hư Trúc nghĩ tới Bất Bình đạo nhân chết thảm, trong lòng hối hận vô cùng, không ngớt năn nỉ: "Tại hạ đã phạm lỗi, hết sức ăn năn. Xin hai vị cứ trách phạt nặng nề, tại hạ cam tâm chịu tội, dù có bị giết để đền mạng thì cũng không dám trái ý."

Trác Bất Phàm nói: "Ngươi muốn ta không giết cùng chẳng khó gì, chỉ cần thuật lại di ngôn của Đồng Mỗ lúc lâm tử, ta sẽ tha cho." Phù Dung Tiên Tử Thôi Lộc Hoa mỉm cười hỏi: "Trác tiên sinh! Tiểu muội có thể nghe được không?" Trác Bất Phàm đáp: "Chúng ta chỉ cần tìm được cách hóa giải Sinh Tử Phù là mọi bằng hữu ở đây đều được hưởng lợi, không phải một mình tại hạ." Hắn không nói rõ là cho Thôi Lộc Hoa cùng nghe hay không, nhưng hiển nhiên có ẩn ý độc chiếm thành quả.

Phù Dung Tiên Tử Thôi Lộc Hoa mỉm cười nói: "Tiểu muội không tốt bụng như thế đâu. Thằng lỏi này coi chẳng thuận mắt chút nào." Tay trái mụ xiết chặt cổ Hư Trúc, tay phải vung lên toan đâm hai ngọn phi đao vào trước ngực y.

Đồng Mỗ đã chết rồi, Trác Bất Phàm coi như đã báo thù xong, chỉ còn âm mưu lấy được bí quyết phá giải Sinh Tử Phù, để khống chế quần hào làm oai làm phước. Còn dụng ý của Thôi Lộc Hoa thì lại khác hẳn. Huynh trưởng nàng bị ba tên động chúa liên thủ hạ sát, nàng quyết báo thù, chỉ mong bọn động chúa này vĩnh viễn không bao giờ hóa giải được Sinh Tử Phù. Muốn vậy cần phải giết chết Hư Trúc để chẳng còn ai nghe được di ngôn của Đồng Mỗ nữa, vì thế nàng đột ngột hạ độc thủ. Thôi Lộc Hoa xuất thủ cực kỳ mau lẹ trong lúc Trác Bất Phàm đã tra kiếm vào vỏ rồi, lão rút kiếm ra thì đã chậm mất một giây.

Hư Trúc kinh hãi không nghĩ gì nhiều, theo phản xạ vung cả hai tay lên. Nội lực y đẩy Trác Bất Phàm cùng Thôi Lộc Hoa ra mấy bước.

Thôi Lộc Hoa quát lên một tiếng, phi đao đã phóng ra. Mụ đã phải lùi mấy bước, nhưng tuyệt kỹ phóng ám khí chẳng ảnh hưởng gì. Trác Bất Phàm sợ Hư Trúc chết, liền vung kiếm lên gạt phi đao đỡ cho Hư Trúc, nhưng Thôi Lộc Hoa đã dự định trước rồi. Mụ vừa phóng ra hai ngọn phi đao, lại phóng thêm mười ngọn nữa, trong đó có ba ngọn phóng vào Trác Bất Phàm để bắt lão tự cứu mình, còn bảy ngọn kia thì nhắm vào Hư Trúc. Trước mặt, yết hầu, ngực bụng Hư Trúc đều bị phi đao vây phủ.

Hư Trúc vung hai tay loạn lên, thi triển tuyệt kỹ Thiên Sơn Chiết Mai Thủ để bắt phi đao. Mụ ném đến đâu y bắt đến đó, ném xuống đất vang lên những tiếng leng keng. Chốc lát đã có mười ba món binh khí rơi dưới chân Hư Trúc, gồm mười hai ngọn phi đao của Thôi Lộc Hoa và một thanh trường kiếm của Trác Bất Phàm. Hư Trúc chẳng cần biết đối thủ là ai, cứ thấy binh khí tới gần là thi triển Chiết Mai Thủ bắt lấy, thuận tay đoạt luôn cả trường kiếm của Trác Bất Phàm.

Y đoạt hết mười ba món binh khí mới quay ra nhìn thì thấy Trác Bất Phàm sắc mặt nhợt nhạt. Y lại ngoảnh đầu nhìn Thôi Lộc Hoa thì thấy mụ cũng hoảng sợ đến mất cả hồn vía. Y nghĩ thầm: "Hỏng bét! Hỏng bét! Mình lại phạm lỗi với họ rồi!" Y liền xin lỗi: "Xin hai vị miễn thứ, tại hạ hành động thật là lỗ mãng." Hư Trúc nói xong, ôm cả mười ba món khí giới đưa đến trước mặt Thôi, Trác hai người. Thôi Lộc Hoa tưởng Hư Trúc chế giễu mình, bèn vận nội lực lên sóng chưởng đánh vào ngực Hư Trúc. Hai tiếng chát chát nổi lên, phản lực cực kỳ mãnh liệt hất Thôi Lộc Hoa văng ra sau, đập lưng vào tường đánh huych một tiếng. Mụ la lên một tiếng rồi thổ ra hai búng máu tươi.

Ba người Trác Bất Phàm, Bất Bình đạo nhân, Thôi Lộc Hoa thường ấn chứng võ công với nhau, nội lực Trác Bất Phàm chỉ hơn hai người kia một chút. Lúc này lão thấy Hư Trúc hai tay đang ôm binh khí, mà nội lực tự nhiên phản kích hất Thôi Lộc Hoa văng ra trọng thương, thì biết mình còn kém y xa lắm, nhất định không phải là đối thủ. Lão bèn tìm cách lấy lòng, chắp tay nói: "Bội phục, bội phục! Sau này mong ngày tái hội."

Hư Trúc đáp: "Tiền bối nhận lại kiếm đi. Tại hạ chỉ vô ý mạo phạm, xin tiền bối đừng để bụng. Tiền bối muốn rửa hận cho Bất Bình đạo trưởng thì cứ việc, đánh mắng thế nào tại hạ cũng quyết không phản kháng."

Mấy câu thành thực của Hư Trúc lọt vào tai Trác Bất Phàm lại biến thành những lời mai mỉa. Mặt lão cắt không còn giọt máu, rảo bước đi khỏi sảnh đường. Bỗng có thanh âm phụ nữ lạnh lùng nói: "Đứng lại! Cung Linh Thứu không phải là nơi muốn vào thì vào muốn ra thì ra thoải mái như vậy." Trác Bất Phàm giật mình, đưa tay toan rút kiếm nhưng không thấy, lúc đó mới nhớ ra thanh kiếm của mình đã bị Hư Trúc đoạt mất. Lão quay lại xem ai nói, nhưng chẳng thấy người nào, chỉ thấy cửa lớn đã bị chắn bằng một tảng đá hoa cương rất lớn, cao hai trượng rộng một trượng. Không hiểu phiến đá này đã ở đó từ lúc nào mà không phát ra một tiếng động.

Quần hào thấy vậy, biết ngay mình đã bị hãm vào tuyệt địa trong cung Linh Thứu. Lúc chúng tấn công, hễ thấy nữ nhân áo vàng là giết hoặc bắt hết, khi tiến vào đại sảnh cũng đã để ý quan sát, tuyệt không thấy quân mai phục. Nhưng sau đó có người bị Sinh Tử Phù phát tác, ai nấy đều mất vía, rồi lại bao nhiêu biến cố tiếp diễn, chẳng còn ai nghĩ đến việc mình đang ở nơi nguy hiểm. Bây giờ thấy cửa lớn đã bị tảng đá bít chặt, ai cũng kinh hãi nghĩ thầm: "Hôm nay sống sót ra khỏi cung Linh Thứu, thật không phải là việc dễ."

Trên trời lại có thanh âm nữ nhân: "Bốn nữ tì hầu cận Đồng Mỗ xin tham kiến Hư Trúc tiên sinh." Hư Trúc ngẩng đầu nhìn lên, thấy gần nóc đại sảnh có chín tảng đá lồi ra, tựa như chín cái bình đài nhỏ, trên bốn tảng đá có bốn thiếu nữ mười tám mười chín tuổi đang thi lễ với mình. Mấy cái bình đài đó cao đến bốn trượng, thế mà bốn thiếu nữ nhảy xuống, tay cầm trường kiếm lướt đi trông như tiên nữ giáng trần. Mọi người nhìn thân pháp bốn thiếu nữ đã đến mực phi thường, ai nấy không khỏi ngấm ngầm kinh hãi. Bốn thiếu nữ này, một áo hồng, một áo trắng, một áo xanh và một áo vàng, đồng thời hạ xuống đất, chạy tới quì trước mặt Hư Trúc nói: "Nô tỳ nghênh giá chậm trễ, xin chủ nhân thứ tội." Hư Trúc trả lễ, đáp: "Bốn vị tỉ tỉ bất tất phải đa lễ."

Bốn thiếu nữ ngửng đầu lên, mọi người lại một phen kinh ngạc, dáng vóc cùng tướng mạo cả bốn đều giống hệt nhau. Cô nào cũng mặt trái xoan, mắt đen láy, dung nhan thanh tú, chỉ khác nhau màu áo. Thiếu nữ áo hồng đáp: "Bốn nô tì là tỉ muội sinh tư. Đồng Mỗ đặt tên cho tiểu tì là Mai Kiếm, còn ba muội tử là Lan Kiếm, Trúc Kiếm và Cúc Kiếm. Vừa rồi bọn nô tì đã gặp các tỉ muội ở bộ Hiệu Thiên, Chu Thiên, đã biết mọi việc. Bây giờ bọn nô tì đã đóng cổng đại sảnh lại rồi, chúng ta nên xử lý bọn nô tài kia ra sao, xin chủ nhân phát lạc."

Quần hào biết bốn cô này là tỉ muội sinh tư, mới hiểu tại sao cả bốn tướng mạo tầm vóc giống nhau. Mấy cô này dung nhan mỹ lệ, giọng nói thanh tao khiến ai cũng có cảm tình, nhưng Mai Kiếm hỏi Hư Trúc nên xử lý bọn nô tài kia ra sao thì thật là khinh người thái quá. Hai hán tử sấn lại, một người sử đơn đao, một người sử phán quan bút, đồng thanh quát lên: "Mấy con nhãi ranh chưa ráo máu đầu mà đã.."

Thanh quang lấp lánh, Lan Kiếm và Trúc Kiếm đã vung trường kiếm lên. Nghe "phập phập" hai tiếng, cổ tay hai hán tử bị chặt đứt, cả bàn tay lẫn binh khí đều rớt xuống đất. Kiếm pháp của hai nàng mau lẹ tuyệt luân, hai hán tử không phản ứng kịp vẫn mắng tiếp: ".. ngang ngược! Trời ơi!" Lúc đó chúng mới nhảy lùi lại, máu đã đầy mặt đất.

Hai cô gái vừa xuất thủ đã chặt đứt hai cái cổ tay. Trong đại sảnh dĩ nhiên có nhiều người võ công cao hơn hai hán tử kia, nhưng không ai dám thử. Huống chi bốn vách đại sảnh này đều bằng đá hoa cương kiên cố, không chừng còn ẩn chứa những cơ quan lợi hại, nên mọi người ngơ ngác nhìn nhau, không ai lên tiếng.

Tình hình đang khẩn trương, đột nhiên trong đám đông lại có tiếng gầm rú khủng khiếp. Sinh Tử Phù lại phát tác đòi mạng một người.

Quần hào thất sắc, thấy một đại hán nhảy ra, hai mắt đỏ ngầu, xé ngực áo rách tứ tung. Mấy người hốt hoảng la lên: "Cát Đại Bá, đảo chúa đảo Thiết Ngao." Cát Đại Bá gầm thét như mãnh hổ bị thương, vung cánh tay cứng như côn sắt đập xuống đánh "sầm" một tiếng, một chiếc kỷ trà lập tức vỡ tan. Y lại nhảy xổ vào Cúc Kiếm.

Cô nàng thấy hắn trông như thú dữ bất giác khiếp đảm, quên cả kiếm pháp mình cao cường, rú lên một tiếng rồi rúc ngay vào lòng Hư Trúc. Cát Đại Bá lại giơ bàn tay to như chiếc quạt, chụp tới Mai Kiếm. Bốn cô gái sinh tư này tâm ý tương thông, Cúc Kiếm run sợ thì Mai Kiếm cũng sợ run. Nàng thấy Cát Đại Bá nhảy xổ đến, liền la lên một tiếng kinh hoàng rồi chui ra trốn sau lưng Hư Trúc.

Cát Đại Bá chụp không trúng ai, liền xoay lại tự móc mắt mình. Quần hào đều kinh hồn, biết hắn cực kỳ đau đớn không chịu được nữa, sinh ra mê loạn. Hư Trúc la lên: "Đừng làm vậy!" Rồi y phất tay áo một cái, Cát Đại Bá thõng ngay tay xuống. Hư Trúc lại nói: "Sinh Tử Phù trong thân thể huynh đài đang phát tác, để tại hạ phá giải giúp cho." Y bèn ra chiêu Dương Ca Thiên Điếu trong Thiên Sơn Lục Dương Chưởng vỗ vào huyệt Linh Đài ở sau lưng, Cát Đại Bá run lên một cái, nhũn người ra ngồi phệt xuống đất.

Thanh quang lấp loáng, Lan Kiếm, Trúc Kiếm cùng phóng trường kiếm đâm tới Cát Đại Bá. Hư Trúc la lên: "Không được!", rồi vươn tay ra đoạt lấy song kiếm. Miệng y lẩm bẩm: "Hỏng bét, hỏng bét! Không hiểu y trúng Sinh Tử Phù ở chỗ nào?" Hư Trúc tuy biết phép phá giải, song kiến thức hãy còn nông cạn nên nhìn không ra Sinh Tử Phù đã cấy vào chỗ nào trong mình Cát Đại Bá. Chiêu Dương Ca Thiên Điểu vừa rồi y phóng ra quá mạnh, Cát Đại Bá tuy tỉnh lại nhưng không tự chủ được phải ngã lăn xuống đất.

Cát Đại Bá vội đáp: "Trúng.. trúng ở huyệt Huyền Khu, Khí.. Hải.. Hư Không Trúc.." Hư Trúc ca mừng nói: "Huynh đài biết vị trí Sinh Tử Phù thì hay lắm." Y vận chân khí thuần dương, chiếu theo phép phá giải của Đồng Mỗ đã truyền thụ, dùng Thiên Sơn Lục Dương Chưởng vỗ vào ba huyệt Huyền Khu, Khí Hải và Hư Không Trúc. Ba đạo Sinh Tử Phù lạnh như băng trong người Cát Đại Bá liền tiêu tan trong chớp mắt.

Cát Đại Bá đứng dậy múa may, mừng rỡ đến phát cuồng, đột nhiên phục xuống đất dập đầu lạy Hư Trúc, nói: "Ân công! Tính mạng Cát Đại Bá này là do lão nhân gia đã ban cho. Từ đây về sau, ân công có điều gì sai khiến, Cát Đại Bá có phải nhảy vào đống lửa cũng không ngần ngừ một chút." Hư Trúc bản tính khiêm cung, thấy Cát Đại Bá hành đại lễ, cũng vội vàng dập đầu lạy trả rồi nói: "Tại hạ không dám nhận trọng lễ, huynh đài còn lạy nữa thì tại hạ cũng còn phải khấu đầu." Cát Đại Bá lớn tiếng nói: "Ân công mau mau đứng lên, nếu làm như vậy thì tiểu nhân phải tổn thọ." Y cảm kích quá, lại dập đầu thêm mấy cái nữa, Hư Trúc cũng dập đầu đáp lễ.

Hai người phục dưới đất lạy nhau mãi chưa thôi. Đột nhiên mấy trăm người la lên: "Giải Sinh Tử Phù cho ta." Quần hào trúng Sinh Tử Phù đổ xô lại như ong vỡ tổ, vây lấy hai người. Một lão già túm lấy vai Cát Đại Bá nói: "Thôi đừng dập đầu nữa, để bọn ta xin ân công giải độc cứu mạng."

Hư Trúc thấy Cát Đại Bá ngừng lạy, mới dám đứng lên nói: "Các vị đừng nóng nảy, để tại hạ nói một câu." Lập tức đại sảnh yên lặng như tờ. Hư Trúc nói: "Muốn phá giải Sinh Tử Phù cần phải biết chính xác vị trí. Vậy các vị có biết không?"

Mọi người lại náo loạn cả lên. Người nói: "Tại hạ biết." Có người nói: "Tại hạ trúng ở huyệt Ủy Trung và huyệt Nội Đình." Lại có người nói: "Tại hạ bị đau mỗi tháng một chỗ khác, dường như Sinh Tử Phù chạy loạn khắp trong cơ thể."

Đột nhiên có người lớn tiếng quát lên: "Mọi người phải yên lặng. Ai cũng la hét thì Hư Trúc Tử tiên sinh còn nghe được cái gì?" Người quát lên chính là thủ lãnh quần hào Ô Lão Đại. Mọi người đều bình tĩnh trở lại.

Hư Trúc nói: "Tại hạ đã được Đồng Mỗ dạy cho phép phá giải Sinh Tử Phù.." Bảy tám người nghe tới đó không nhịn được lại reo lên: "Tuyệt diệu! Tuyệt diệu!" "Vậy là ta thoát chết rồi." Hư Trúc lại tiếp: ".. nhưng hãy còn nông cạn, chưa nhận xét được Sinh Tử Phù đã gieo vào bộ vị nào. Nếu vị nào không biết rõ thì chúng ta sẽ cố gắng tìm kiếm. Trong quý vị nếu có vị nào tinh thông về y thuật, hãy hợp sức cùng tại hạ nghiên cứu, nhất định phải chữa cho bằng được."

Quần hào lại nổi lên tiếng hoan hô, vang rền cả đại sảnh. Sau một lúc lâu tiếng hoan hô mới dần dần nhỏ đi rồi tất cả rơi vào im lặng.

Mai Kiếm đột nhiên cất tiếng lạnh lẽo nói: "Chủ nhân ta từ bi quảng đại, ưng thuận phá giải Sinh Tử Phù cho các ngươi. Nhưng bọn mi dám cả gan làm phản, buộc Đồng Mỗ rời cung xuống núi, đến phải quy tiên. Bọn mi lại tiến đánh núi Phiêu Diểu, sát hại vô số tỉ muội bộ Quân Thiên. Bọn mi định trả món nợ đó như thế nào?"

Nàng dứt lời, quần hào ngơ ngác nhìn nhau, trong lòng sợ hãi vô cùng. Rõ ràng Mai Kiếm nói đúng sự thực, Hư Trúc là truyền nhân của Đồng Mỗ thì dĩ nhiên y không thể bỏ qua những trọng tội của họ. Có người muốn khẩn cầu, nhưng nghĩ kỹ lại tội bắt Đồng Mỗ rời cung mà chết, và tội làm phản kéo nhau đến đánh cung Linh Thứu đều cực kỳ thâm trọng, lẽ nào chỉ nói mấy cầu năn nỉ mà xong? Vì thế chẳng ai dám lên tiếng.

Ô Lão Đại nói: "Cô nương trách thật là chí lý. Bọn tại hạ đã phạm trong tội, cam chịu để Hư Trúc Tử tiên sinh định đoạt." Hắn biết Hư Trúc là người trung hậu lại không tàn ác như Đồng Mỗ. Nếu để Mai Lan Cúc Trúc tứ kiếm phán xử thì hậu quả không thể lường được. Hắn bèn quay sang Hư Trúc khẩn cầu.

Quần hào nghe Ô Lão Đại nói, lại nhao nhao lên: "Không sai! Bọn ta đã gây tội nghiệt, Hư Trúc Tử tiên sinh trách phạt thế nào cũng xin cam chịu." Có nhiều người chứng kiến Sinh Tử Phù đòi mạng cực kỳ ghê gớm, sợ đến mất cả chủ ý, không biết làm gì liền quỳ gối xuống lạy như tế sao.

Hư Trúc cũng chẳng biết phải làm gì, quay sang hỏi Mai Kiếm: "Mai Kiếm tỉ tỉ, bây giờ phải xử thế nào?" Mai Kiếm đáp: "Bọn này không phải người tốt, đã tàn hại rất nhiều tỉ muội ở bộ Quân Thiên, không bắt chúng đền mạng không được."

Phó động chúa Vô Lượng Động là Tả Tử Mục xá Mai Kiếm một cái rồi nói: "Cô nương! Bọn tại hạ trúng Sinh Tử Phù, thảm khổ không biết đến đâu mà nói. Khi được tin Đồng Mỗ lão nhân gia không ở trên núi thì bọn tại hạ đều hoang mang, cũng vì sự sống mà gây nên tội lỗi, hối hận không kịp. Chỉ xin cô nương đại nhân đại nghĩa, xin giúp Hư Trúc Tử tiên sinh!"

Mai Kiếm nghĩ một chút rồi đáp: "Các ngươi phạm tội giết người, tự chặt cánh tay mặt là phạt nhẹ lắm rồi!" Nàng vừa nói ra, biết ngay mình ra lệnh là không đúng lễ, liền quay lại hỏi Hư Trúc: "Chủ nhân, như vậy được chăng?" Hư Trúc cảm thấy phạt như vậy là nặng quá, nhưng không muốn trái ý Mai Kiếm, nên ngập ngừng đáp: "Như thế.. Như thế..".

Bỗng có một người rẽ đám đông đi ra, chính là vương tử nước Đại Lý, tên gọi Đoàn Dự. Tính chàng ưa can thiệp việc người, thích bàn chuyện đúng sai, bây giờ nhìn Hư Trúc chắp tay cười nói: "Nhân huynh! Lúc các vị bằng hữu tiến đánh núi Phiêu Diểu, tiểu đệ đã không tán thành, nhưng nói rát cổ cũng chẳng ai nghe. Bây giờ họ gây đại họa, nhân huynh trách phạt là phải lắm. Xin nhân huynh giao cho tiểu đệ trách phạt chư vị bằng hữu được chăng?"

Hư Trúc cũng biết hôm trước quần hào toan giết Đồng Mỗ để uống máu ăn thề, Đoàn Dự đã hết sức ngăn cản. Y biết vị công tử này bác ái nghĩa hiệp, vẫn đem lòng kính trọng. Khi y cõng Đồng Mỗ bị Lý Thu Thủy đánh rớt từ núi cao ngàn trượng xuống mà sống sót được, một phần cũng nhờ công sức của chàng. Lúc này y đang lúng túng chưa biết phải xử lý ra sao, nghe chàng nói vậy liền chắp tay nói: "Tại hạ kiến thức hẹp hòi, không quen xử sự. Được Đoàn công tử đứng ra xử lý, tại hạ cảm kích vô cùng."

Quần hào nghe Đoàn Dự kể tội, lại đòi trách phạt họ thì làm sao nhịn được? Có người nóng nảy đã toan cất tiếng thóa mạ. Nhưng lúc nghe Hư Trúc chấp thuận, họ vội rụt lưỡi lại không dám nói nữa.

Đoàn Dự đáp: "Vậy thì hay lắm!" Chàng quay người lại nhìn quần hào, lớn tiếng nói: "Các vị đã phạm lỗi lầm nghiêm trọng, dĩ nhiên không thể phạt nhẹ. Hư Trúc Tử tiên sinh đã giao cho tại hạ xử lý, các vị đều phải nghe theo, nếu ai phản kháng thì e rằng tiên sinh không giải Sinh Tử Phù nữa. Ha ha! Điều thứ nhất, các vị phải đến trước vong linh Đồng Mỗ kính cẩn dập đầu tám lạy, mặc niệm hối lỗi. Lúc hành lễ, ai ngấm ngầm mạo phạm Đồng Mỗ sẽ bị phạt nặng thêm một bậc."

Hư Trúc cả mừng khen: "Phải lắm, phải lắm! Hình phạt trong điều thứ nhất rất tốt!"

Quần hào chưa hiểu tên đồ gàn này còn đưa ra những hình phạt cổ quái gì nữa, ai cũng chưa yên tâm. Nhưng họ nghe y bắt cúi đầu lạy trước vong linh Đồng Mỗ thì nghĩ thầm: "Người chết phải tôn trọng, dập đầu lạy trước linh vị có chi là lạ? Mà giả tỉ mình oán hận Đồng Mỗ, vừa lạy vừa âm thầm thóa mạ thì làm sao gã biết được?" Mọi người đồng thanh ưng thuận.

Đoàn Dự thấy mình tuyên bố điều thứ nhất mọi người đều đồng ý thì tinh thần phấn chấn, dõng dạc tuyên bố tiếp: "Điều thứ hai, Chư vị phải cúi đầu hành lễ trước những vị tỉ muội bộ Quân Thiên đã tử nạn. Vị nào đã giết người thì phải dập đầu lạy và mặc niệm sám hối, lúc hành lễ phải chít khăn trắng, mặc tang phục. Vị nào không giết người thì chỉ xá dài hành lễ là đủ, sau đó sẽ được Hư Trúc Tử nhân huynh giải độc cho."

Phần lớn quần bào lên núi Phiêu Diểu không tự tay giết người, ưng thuận ngay lập tức. Còn những người đã hạ sát thủ thấy việc phải đội khăn tang dập đầu hành lễ còn nhẹ gấp trăm lần so với hình phạt chặt tay của Mai Kiếm, dĩ nhiên cũng không phản đối.

Đoàn Dự lại tuyên bố: "Điều thứ ba, các vị phải vĩnh viễn phục tùng Linh Thứu cung, không được phản trắc. Hư Trúc Tử tiên sinh đã ra lệnh thì ai nấy đều phải tuân theo. Chẳng những phải cung kính Hư Trúc Tử tiên sinh, còn phải kính nể các vị tỉ muội Mai Lan Cúc Trúc, đổi thù ra bạn, không được động đao thương. Còn vị nào không phục thì cứ bước ra tỉ đấu với Hư Trúc Tử tiên sinh ba chiêu hai thức, xem thử ai hơn ai kém."

Quần hào nghe Đoàn Dự nói xong đều hoan hô rầm rộ: "Phải lắm! Phải lắm!" Có người cẩn thận hỏi lại: "Công tử phạt nhẹ như vậy, không hiểu còn có điều chi dạy bảo nữa không?"

Đoàn Dự xoa tay đáp: "Chỉ có thế!" Rồi chàng quay lại hỏi Hư Trúc: "Tiểu đệ quy định ba điều như vậy đã được chưa?" Hư Trúc chắp tay đáp: "Đa tạ! Đa tạ! Thế là được lắm rồi." Rồi y lại quay sang nhìn bọn Mai Kiếm, nét mặt ra vẻ băn khoăn. Lan Kiếm đáp: "Chủ nhân là chúa tể cung Linh Thứu, bất luận chủ nhân nói gì bọn nô tì đều phải vâng theo. Chủ nhân khoan hồng đại lượng tha thứ cho bọn phản loạn, bất tất phải băn khoăn làm chi." Hư Trúc cười nói: "Không dám! Ồ! Còn việc này.. tại hạ muốn nói.. chẳng biết.. chẳng biết có nên không?".

Ô Lão Đại lên tiếng: "Ba mươi sáu động, bảy mươi hai đảo đều là thuộc hạ núi Phiêu Diểu. Giáo chủ dạy bảo điều gì cũng không ai dám kháng cự. Nếu ba điều hình phạt của Đoàn công tử là quá khoan hồng, giáo chủ muốn bổ sung thì bọn thuộc hạ cũng cam tâm lãnh chịu."

Hư Trúc nói: "Tại hạ nhỏ tuổi ít học, bất quá được Đồng Mỗ chỉ điểm cho mấy môn võ công, nghe gọi là giáo chủ gì gì đó, thực lấy làm hổ thẹn, xin các vị tiền bối nghĩ lại. Tại hạ còn hai điều muốn nói, không biết có nên.. có nên.." Hư Trúc từ nhỏ đến lớn chỉ quen nghe sai khiến, chưa bao giờ phải tự mình quyết định chủ ý. Bây giờ đứng trước đông người y không khỏi lúng túng, giọng nói vừa ấp úng vừa khiêm tốn quá mức. Bốn cô Mai Lan Cúc Trúc nghĩ thầm: "Không hiểu sao chủ nhân đối với bọn nô tài kia lại khách khí như vậy."

Ô Lão Đại đáp: "Giáo chủ đại lượng khiêm hòa như vậy, bọn thuộc hạ có phải gan óc lầy đất cũng không đủ báo đền trong muôn một. Giáo chủ có mệnh lệnh gì xin cứ ban ra!"

Hư Trúc nói: "Phải, phải! Tại hạ nói xong xin các vị đừng cười, chỉ muốn xin hai việc. Việc thứ nhất có vẻ tư tâm. Tại hạ.. tại hạ xuất thân là một tiểu hòa thượng chùa Thiếu Lâm, xin từ đây khi các vị bôn tẩu giang hồ đừng làm khó dễ đệ tử phái Thiếu Lâm, bất luận là tăng hay tục. Đây chỉ là ý muốn của tại hạ, không dám nói là mệnh lệnh."

Ô Lão Đại lớn tiếng hô: "Giáo chủ có lệnh, từ đây trở đi, các huynh đệ đi lại giang hồ nếu gặp đại sư, hòa thượng hay bằng hữu tục gia thuộc phái Thiếu Lâm đều phải cung kính, nếu thất lễ sẽ bị nghiêm trị." Quần hào đồng thanh đáp: "Tuân lệnh!"

Hư Trúc thấy mọi người đều ưng thuận, y mạnh dạn hơn, chắp tay nói: "Đa tạ, đa tạ! Việc thứ hai là xin các vị vì lòng hiếu sinh của trời đất mà đừng giết người bừa bãi. Tốt nhất là đừng giết mọi sinh vật, dù nhỏ như ong kiến. Các vị cũng không nên ăn những đồ huyết thực, nhưng.. nhưng chuyện đó khó quá, vì chính tại hạ cũng đã ăn mặn mất rồi. Mà tại hạ khuyên các vị đừng giết người cũng thấy tự xấu hổ, vì tại hạ cũng đã.. đã.. giết người. Nhưng.. nhưng.. các vị cũng cố tránh giết.. giết.."

Ô Lão Đại lớn tiếng hô: "Giáo chủ có lệnh, các huynh đệ dưới trướng cung Linh Thứu từ nay không được giết người vô tội, không được sát sinh một cách bừa bãi, nếu bất tuân sẽ bị nghiêm trị." Quần hào lại đồng thanh đáp: "Tuân lệnh!"

Hư Trúc xoa tay nói: "Tại hạ.. tại hạ được nghe như vậy, thật thấy an ủi vô cùng. Từ nay các vị bỏ ác làm thiện, thật là công đức vô lượng." Rồi y quay sang Ô Lão Đại cười nói: "Ô tiên sinh! Tiên sinh tuyên bố thật là rõ ràng, tại hạ thực không thể sánh bằng. Tiên sinh.. trúng Sinh Tử Phù ở chỗ nào, để tại hạ giải trừ cho."

Sở dĩ Ô Lão Đại mạo hiểm cầm đầu mưu phản cũng chỉ vì mối lo canh cánh Sinh Tử Phù ở trong người. Bây giờ lão nghe Hư Trúc chịu phá giải, vừa mừng rỡ vừa cực kỳ cảm kích, quì mọi ngay xuống để lạy tạ. Hư Trúc cũng quì xuống trả lễ, rồi hỏi: "Ô tiên sinh, tiên sinh bị trái tùng đả thương ở bụng đã khỏi chưa? Tiên sinh lại đã uống Đoạn Trường Hủ Cốt Hoàn của Đồng Mỗ, từ từ chúng ta sẽ tìm cách hóa giải chất độc."

Lúc này bốn chị em Mai Kiếm đã chuyển động cơ quan, mở cổng cho nữ nhân chín bộ tiến vào đại sảnh.

Phong Ba Ác, Bao Bất Đồng lớn tiếng hô hoán, cùng Đặng Bách Xuyên, Công Dã Càn cũng tiến vào đại sảnh. Lúc nãy bọn này chạy ra tìm Đồng Mỗ để tỉ đấu, nhưng gặp phải quần nữ tám bộ đưa di thể Đồng Mỗ về đến ngoài cung Linh Thứu. Bao Bất Đồng ăn nói lỗ mãng, còn Phong Ba Ác bản tính hiếu chiến, hai bên cãi nhau rồi động thủ, một lát sau Đặng Bách Xuyên và Công Dã Càn cũng đến giúp. Bản lãnh bốn người này cao cường, nhưng không thể chống nổi số đông, vừa đánh vừa chạy, bị thương khắp chỗ. Nếu cửa mở chậm một khắc, và Mai Lan Trúc Cúc không lên tiếng can ngăn, thì bốn gã này không mất mạng cũng bị bắt.

Mộ Dung Phục thấy mình vô duyên liền dẫn bọn Đặng Bách Xuyên cáo từ xuống núi. Trác Bất Phàm cùng Phù Dung Tiên Tử Thôi Lộc Hoa cũng không lời từ biệt bỏ đi.

Hư Trúc thấy bọn Mộ Dung Phục muốn đi bèn toan giữ lại. Mộ Dung Phục nói: "Tại hạ đã đắc tội với núi Phiêu Diểu, tự thấy bẽ bàng. May mà được huynh đài bỏ qua không trị tội, khi nào còn dám quấy rầy?" Hư Trúc đáp: "Không dám, không dám! Hai vị công tử văn võ kiêm toàn, anh hùng xuất chúng, tại hạ vô cùng ngưỡng mộ, muốn.. được hai vị công tử chỉ giáo. Tại hạ.. tại hạ thật tình, không biết phải nói sao?"

Bao Bất Đồng cùng quần nữ giao chiến đã bị thương mấy chỗ, đang bực bội trong người. Gã nghe Hư Trúc nói chuyện ấp úng thì nhớ đến trong người y có chân dung Vương Ngữ Yên, liền rủa thầm: "Thằng trọc này giả nhân giả nghĩa, đã là đệ tử nhà Phật mà còn sinh lòng ám muội với biểu muội của công tử. Hiển nhiên y là một gã dâm tăng, không giữ giới luật thanh tu." Gã liền nói: "Tiểu sư phụ ngưỡng mộ anh hùng chỉ là giả, ngưỡng mộ mỹ nhân mới là thực. Sao không nói trắng ra là muốn lưu Vương cô nương ở lại núi Phiêu Diểu."

Hư Trúc ngạc nhiên hỏi lại: "Tiên sinh.. nói sao? Tại hạ muốn lưu mỹ nhân nào?" Bao Bất Đồng đáp: "Tiểu hòa thượng còn ráng giấu giếm, chẳng lẽ nhà Mộ Dung ở Cô Tô đều si ngốc cả ư? Thật là tức cười!" Hư Trúc đáp: "Tại hạ thật sự không hiểu tiên sinh muốn nói gì. Có chi tức cười đâu?"

Bao Bất Đồng đang ở chỗ dầm rồng hang cọp, nhưng khí tức đã nổi lên, chẳng coi sống chết vào đâu nữa, lớn tiếng nói: "Thằng trọc con kia! Mi là hòa thượng phái Thiếu Lâm lừng danh thiên hạ, sao còn gia nhập tà phái, cấu kết với bọn yêu ma quỷ quái? Mỗi lần ta nhìn thấy ngươi lại phải bực mình. Ngươi là hòa thượng, đã bức bách mấy trăm phụ nữ về làm vợ lớn vợ bé, còn chưa đủ hay sao mà lại để ý đến Vương cô nương nhà ta? Ta cho ngươi hay, Vương cô nương là người nhà Mộ Dung công tử, ngươi chỉ là con cóc ghẻ muốn sánh đôi với thiên nga, phải dẹp ngay ý nghĩ mờ ám đó càng sớm càng tốt!" Bao Bất Đồng lửa bốc đến đỉnh đầu, khoa chân múa tay, chỉ trỏ vào mặt Hư Trúc thóa mạ không tiếc lời.

Hư Trúc chẳng hiểu gì, cứ ấp úng: "Tại hạ.. Tại hạ.." Bỗng hai tiếng veo véo rít lên, Ô Lão Đại vung thanh Lục Ba Hương Lộ quỉ đầu đao, còn Cát Đại Bá vung ngọn thiết chùy nặng hơn sáu mươi cân, hai người vừa quát lớn vừa nhảy xổ lại tấn công Bao Bất Đồng.

Mộ Dung Phục biết rằng Hư Trúc đã nhận lời giải Sinh Tử Phù, tất nhiên quần hào liều chết vì y, nếu hỗn chiến thì nguy hiểm vô cùng. Y vừa thấy Ổ Lão Đại cùng Cát Đại Bi nhảy tới, liền xông ra thi triển công phu Đẩu Chuyển Tinh Di cho quỷ đầu đạo chém tới Cát Đại Bá, thiết chùy đập sang Ô Lão Đại. Hai món binh khí chạm nhau đánh choang một tiếng, tóe lửa ra bốn phía. Mộ Dung Phục lại xoay, tay nắm lấy vai Bao Bất Đồng, kéo lùi ra xa hơn trượng rồi quay lại nhìn Hư Trúc chắp tay nói: "Xin thứ lỗi, tại hạ xin cáo biệt." Y lạng người đi một cái, gấp rút vọt ra khỏi cửa đại sảnh, chỉ sợ quần nữ lại vận động cơ quan cho phiến đá lớn nổi lên cản đường.

Hư Trúc vội nói: "Công tử đừng chạy nữa. Tại hạ.. không có ý gì.. Tại hạ.." Mộ Dung Phục nhíu mày quay lại, lớn tiếng hỏi: "Phải chăng các hạ tự coi là thiên hạ vô địch, muốn chỉ giáo mấy chiêu?" Hư Trúc xua tay lia lịa nói: "Không.. không dám.." Mộ Dung Phục hỏi: "Tại hạ vô cớ đến đây, các hạ nhất định muốn bắt lại để trị tội chăng?" Hư Trúc lắc đầu đáp: "Không.. không phải.. Ôi!".

Mộ Dung Phục đứng ngay cửa, ngạo nghễ nhìn quần hào ba mươi sáu động bảy mươi hai đảo, lại nhìn sang Mai Lan Cúc Trúc tứ kiếm và quần nữ chín bộ Cửu Thiên. Mọi người thấy y oai phong lẫm liệt, không ai dám tiến lại. Mộ Dung Phục phất tay áo một cái, nói: "Đi thôi!" Rồi y ngang nhiên ra khỏi cửa lớn, Vương Ngữ Yên cùng bọn Đặng Bách Xuyên cũng đi ra.

Ô Lão Đại cả giận nói: "Giáo chủ! Nếu để gã sống sót mà xuống núi Phiêu Diểu thì bọn ta còn làm người thế nào được? Xin giáo chủ hạ lệnh bắt chúng lại." Hư Trúc lắc đầu nói: "Thôi! Tại hạ.. tại hạ không hiểu vì sao mà y nổi cơn thịnh nộ. Hỡi ôi! Thật là khó hiểu!.." Ô Lão Đại lại nói: "Xin để bọn thuộc hạ đi mời vị Vương cô nương kia trở lại." Hư Trúc vội nói: "Không được, không được!".

Vương Ngữ Yên thấy Đoàn Dự chưa ra khỏi tòa đại sảnh thì quay lại nói: "Đoàn công tử! Tái kiến" Đoàn Dự giật mình, trong lòng chua xót, miễn cưỡng đáp: "Vâng. Tái.. tái kiến.. Tại hạ không đi theo cô nương nữa." Chàng đứng nhìn Vương Ngữ Yên đi mỗi lúc một xa, bên tai cứ văng vẳng câu nói của Bao Bất Đồng, nghĩ thầm: "Vương cô nương là người nhà Mộ Dung công tử, phen này thật sự lòng ta đã chết, mình chỉ như con cóc ghẻ đòi sánh cùng thiên nga. Mộ Dung công tử vừa đứng trước cửa đại sảnh, oai phong lẫm liệt, anh hùng khí khái, chỉ giơ tay một cái là đả bại hai cao thủ, bản lĩnh cao thâm không kể xiết. Sức lực ngươi không trói nổi con gà thì lọt vào mắt xanh của nàng thế nào được? Lúc này Vương cô nương nhìn biểu huynh nàng đầy tình tứ, vừa ngưỡng mộ vừa thương yêu. Đoàn Dự này quả nhiên chỉ là con cóc ghẻ mà thôi!"

Một lúc sau, trong đại sảnh chỉ còn lại hai chàng thanh niên. Hư Trúc thì bâng khuâng ngồi cúi đầu như ngây như dại, còn Đoàn Dự thì đau xót buồn rầu như kẻ mất hồn. Hai người ngơ ngẩn nhìn nhau như hai chàng ngốc.

Hồi lâu, Hư Trúc buông một tiếng thở dài. Đoàn Dự cũng thở dài theo, rồi nói: "Nhân huynh cùng tiểu đệ đồng bệnh tương lân, nỗi tương tư chôn tận đáy lòng, biết làm sao phai nhạt?". Hư Trúc bất giác thẹn đỏ mặt, tưởng Đoàn Dự đã biết vị cô nương trong mộng của mình, ấp úng hỏi: "Đoàn.. Đoàn công tử! Sao huynh lại biết?"

Đoàn Dự đáp: "Ai không thấy Tử Đô đẹp thì người đó không có mắt. Ai không thấy nàng đẹp thì không phải là con người nữa. Lòng yêu cái đẹp, ai ai cũng có. Nhân huynh cùng tiểu đệ cũng một loại người, không cần nói cũng hiểu nhau". Rồi chàng lại buông tiếng thở dài. Thì ra Đoàn Dự thấy trong bọc Hư Trúc Có chân dung Vương Ngữ Yên nên tưởng y cũng yêu nàng như mình, mà vừa rồi y xích mích cùng Mộ Dung Phục dĩ nhiên cũng chỉ vì Vương Ngữ Yên mà ra. Đoàn Dự lại nói: "Nhân huynh võ công tuyệt đỉnh, nhưng cơ duyên không hợp thì bất luận làm sao cũng không được."

Hư Trúc lẩm bẩm: "Phải lắm! Cơ duyên không hợp.. Cơ duyên phải tự nhiên mà gặp.. đâu phải cầu mà được? Phải lắm! Một khi từ biệt, trời đất mênh mông, biết đâu mà tìm nàng được?" Hư Trúc nói về cô nương trong mộng, nhưng Đoàn Dự tưởng y nói về Vương Ngữ Yên. Hai chàng ngốc nghếch, không hiểu việc đời, mỗi lúc càng ý hợp tâm đầu.

Quần nữ cung Linh Thứu đặt tiệc mừng, Hư Trúc cùng Đoàn Dự nắm tay nhau cùng ngồi. Bọn động chúa đảo chúa đều là thuộc hạ cung Linh Thứu, dĩ nhiên không ai dám ngồi cùng bàn với Hư Trúc. Hư Trúc không hiểu gì về việc tiếp khách, thấy ai cũng chẳng thèm chào hỏi, cứ mải chuyện trò với Đoàn Dự.

Đoàn Dự vì Vương Ngữ Yên mà điên đảo thần hồn, khen nàng không tiếc lời, nào là tính nết dịu dàng, nào là dung mạo thoát tục. Hư Trúc tưởng chàng khen cô nương trong mộng của mình, lại không dám hỏi sao chàng lại biết nàng, mà cũng không dám hỏi đến lai lịch của nàng. Trái tim y đập loạn lên, trong bụng nghĩ thầm: "Mình cứ tưởng Đồng Mỗ chết rồi, thiên hạ không còn ai biết Mộng Cô ở nơi đâu. Thế mà Đoàn công tử lại biết nàng, quả là ông trời có mắt. Khốn nỗi Đoàn công tử cũng đem lòng ái mộ nàng. Nếu mình kể lại đoạn ân tình dưới hầm nước đá, dĩ nhiên chàng nổi cơn thịnh nộ, bỏ tiệc ra đi thì mình không được nghe ai nói về nàng nữa." Hư Trúc thấy Đoàn Dự trầm trồ khen ngợi cô nương đó, cũng phụ họa bằng cả tấm lòng thành thực.

Hai người cùng nói về tình nhân của mình mà chẳng ai nói rõ, thành ra hai vị tình lang cứ tưởng mình cùng yêu một vị cô nương. Hư Trúc nói: "Nhân huynh! Nhà Phật đã dạy mọi việc đều từ chữ" duyên "mà ra. Đạt Ma tổ sư có nói:" Chúng sinh vô ngã; Không tự biết mình; Đau khổ vui mừng; Đều do duyên kiếp ". Con người vui vẻ hay buồn phiền cũng là duyên nợ ở kiếp trước, khi duyên phận hết rồi thì vui vẻ hay buồn phiền cũng trở thành không, chẳng có gì đáng mừng hay đáng tủi." Đoàn Dự đáp: "Phải lắm! Những chuyện được mất đều tùy ở cơ duyên, không nên vì được vì mất mà thay lòng đổi dạ."

Phật học tại nước Đại Lý rất hưng thịnh, Đoàn Dự từ nhỏ đã đọc kinh Phật. Người này dẫn một câu trong kinh Kim Cương, người kia lại nêu một câu trong kinh Pháp Hoa, rồi cùng nhau than thở cho bớt nỗi tương tư. Bốn nàng Mai Lan Cúc Trúc rót rượu mời, Đoàn Dự uống một chén thì Hư Trúc cũng uống một chén, cứ thế đến nửa đêm. Quần hào đứng dậy cáo từ, được quần nữ cung Linh Thứu hướng dẫn đến một khu riêng biệt để ngủ. Hư Trúc cùng Đoàn Dự mười phần đã say đến chín, mà vẫn vừa uống vừa nói chuyện không chịu nghỉ.

Hôm trước Đoàn Dự đấu tửu với Tiêu Phong ngoài thành Vô Tích, đã vận nội công đẩy rượu ra đầu ngón tay nên chàng không say. Đêm nay chàng uống thực sự nên đã say khướt, bèn nói: "Nhân huynh! Tiểu đệ có một vị huynh trưởng kết nghĩa kim lan họ Kiều tên Phong, thật là đại anh hùng, đại hào kiệt. Võ công cũng như tửu lượng của y thật là có một không hai, nếu nhân huynh gặp y tất cũng đem lòng ái mộ. Giá mà y có ở đây, ba chúng ta kết nghĩa đệ huynh thì thật là thỏa chí bình sinh."

Hư Trúc trước nay chưa từng uống rượu, nhưng nội công tinh thâm nên vẫn chưa say, tuy cũng thấy hơi mơ mơ hồ hồ, nói năng mạnh dạn hơn, không rụt rè cố chấp như lúc tỉnh. Y cảm thấy hào khí bồng bột liền đáp: "Đoàn công tử mà không.. không chê tiểu đệ ngu ngốc thì hai ta kết nghĩa huynh đệ trước, sau này tìm được Kiều đại ca sẽ kết bái lần nữa là xong" Đoàn Dự cả mừng nói: "Tuyệt diệu! Tuyệt diệu! Huynh trưởng bao nhiêu tuổi?"

Hai người so tuổi, Hư Trúc lớn hơn ba tuổi, Đoàn Dự liền hô: "Nhị ca! Xin nhận của tiểu đệ một lạy!" Rồi chàng bước ra khỏi bàn, lạy phục xuống đất. Hư Trúc vội vàng đáp lễ nhưng chân mềm như bún, té bịch xuống đất.

Đoàn Dự thấy Hư Trúc ngã, vội vàng đưa tay đỡ dậy. Lúc này Đoàn Dự cũng đã say khướt, chân đứng không vững, đột nhiên hai người ôm chặt lấy nhau nằm lăn ra đất, cùng nổi lên một tràng cười, Đoàn Dự nói: "Nhị ca! Tiểu đệ chưa say đâu, hai ta lại ngồi uống thêm trăm chén nữa." Hư Trúc đáp: "Tiểu huynh dĩ nhiên phải bồi tiếp tam đệ uống đến say mèm." Đoàn Dự nói: "Nhân sinh đắc ý tu tận hoan, Mạc tử kim tôn không đối nguyệt (Lúc đắc ý phải say cho thỏa, Chén vàng chớ để rỗng dưới trăng). Ha ha! Chúng ta phải cạn thêm ba trăm chén nữa!" Hai người càng nói càng mơ hồ, rồi ngủ thiếp đi lúc nào không biết.

Comments

0 comments

Trước Tiếp
 

Những người đang xem chủ đề này

Xu hướng nội dung

Back