james99

No bio yet!
230 ❤︎ Bài viết: 49 Tìm chủ đề
920 5
Thương vợ - Trần Tế Xương

Quanh năm buôn bán ở mom sông,

Nuôi đủ năm con với một chồng.

Lặn lội thân cò khi quãng vắng,

Eo sèo mặt nước buổi đò đông.

Một duyên hai nợ, âu đành phận,

Năm nắng mười mưa, dám quản công.

Cha mẹ thói đời ăn ở bạc:

Có chồng hờ hững cũng như không!

I. Đôi nét về tác giả Trần Tế Xương

- Tú Xương (1890 - 1907) tên thật là Trần Tế Xương, tự Mặc Trai, hiệu Mộng Tích, Tử Thịnh.

- Quê ở làng Vị Xuyên, huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định (trước đây là phố Hàng Nâu, hiện nay là phố Minh Khai, phường Vị Xuyên, TP. Nam Định).

- Là người rất cá tính, ưa sống phóng túng, không thích khuôn sáo gò bó. Có lẽ vì vậy mà ông không thành công trên con đường khoa bảng

- Tú Xương sinh ra và lớn lên trong buổi đầu của chế độ thực dân nửa phong kiến, Nam Định- quê hương ông là bức tranh điển hình cho xã hội Việt Nam lúc giao thời, xuất hiện nhiều cảnh nhố nhăng, ô hợp

- Các tác phẩm chính:

+Sáng tác của Tế Xương gồm hai mảng trào phúng và trữ tình

+ Hiện còn khoảng 100 bài chủ yếu là thơ Nôm, văn tế và câu đối

- Phong cách sáng tác:

+ Gồm hai mảng trữ tình và trào phúng nhưng trữ tình là cái gốc rễ còn trào phúng chỉ là cành lá

+ Thơ bắt nguồn từ tâm huyết với dân, với nước, với đời

+ Tú Xương cũng đã Việt hóa sâu sắc thể thơ Nôm Đường luật, hình ảnh ngôn từ bình dị, đậm sắc thái dân gian và nóng hổi hơi thở đời sống

II. Đôi nét về tác phẩm Thương vợ -Trần Tế Xương

1. Xuất xứ


- Thương vợ là bài thơ cảm động nhất trong chùm thơ văn câu đối về đề tài bà Tú

2. Bố cục

- Thất ngôn bát cú

Gồm 2 phần:

- Phần 1 (4 câu đầu) : Hình ảnh bà Tú hiện lên với nét tần tảo, chịu thương chịu khó.

- Phần 2 (4 câu sau) : Tình cảm, thái độ của nhà thơ trước hình ảnh người vợ của mình.

3. Giá trị nội dung

- Với tình cảm thương yêu quý trọng, tác giả đã ghi lại một cách chân thực xúc động hình ảnh người vợ tàn tảo, giàu đức hi sinh

4. Giá trị nghệ thuật

- Cảm xúc chân thành, lời thơ giản dị sâu sắc

III. Dàn ý phân tích Thương vợ (Trần Tế Xương)

1. Hình ảnh bà Tú qua nỗi lòng thương vợ của ông Tú

a. Nỗi vất vả gian truân của bà Tú

- Nỗi vất vả gian truân của bà Tú được gợi lên qua không gian, thời gian của cuộc mưu sinh buôn bán ngược xuôi:

+ Thời gian: Là quanh năm, là khi quãng vắng

• Quanh năm là không ngừng không nghỉ

• Ba từ khi quãng vắng đã gói trọn khôn gian heo hút, rợn ngợp chứa đầy lo âu, nguy hiểm

+ Không gian: Là mom sông, bãi chợ buổi đò đông

• Mom sông là dẻo đất nhô ra ba bề là nước, chênh vênh, cheo leo vô cùng nguy hiểm

• Buổi đò đông gợi cảnh chợ bon chen đông đúc cũng nguy hiểm trùng trùng khác nào khi quãng vắng

- Nguy hiểm là thế vất vả là vậy bà Tú vẫn lăn xả nơi đó nuôi đủ năm con với một chồng

- Nỗi vất vả gian truân của bà Tú còn được gợi lên qua hình ảnh Lặn lội thân cò khi quãng vắng:

+ Nghệ thuật đảo ngữ cùng các từ láy đã khắc họa rõ ràng chân thực dáng vẻ và công việc nhọc nhằn của bà Tú

+ Sáng tạo hình ảnh thân cò từ ca dao khiến tình thương vợ của nhà thơ thấm thía hơn

b. Hình ảnh bà Tú với những đức tính cao đẹp

- Bà Tú là một người đảm đang tháo vát chu đáo với chồng con

- Bà Tú là người giàu đức hi sinh:

Một duyên hai nợ âu đành phận

Năm nắng mười mưa dám quản công

⇒ Hình ảnh bà Tú mang vẻ đẹp điển hình của người phụ nữ Việt truyền thống

2. Thái độ tình cảm của ông Tú

- Đằng sau những lời tự trào là cả một tấm lòng yêu thương quý trọng, tri ân vợ:

+ Thấu hiểu những vất vả, nhọc nhằn của vợ, thương vợ

+ Không chỉ thương mà còn biết ơn vợ

- Là con người có nhân cách

+ Ông không dựa vào duyên số để trút bỏ trách nhiệm. Tú Xương tự coi mình là cái nợ đời của bà Tú, ông cất tiếng chửi thói đời bạc bẽo nhưng vận nhận lấy trách nhiệm hững hờ của mình

+ Ở thời đại mà tư tưởng phong kiến vẫn đeo bám nặng nề một người đàn ông tự nhận là kẻ ăn bám vợ con quả là một nhân cách cao đẹp, một tư tưởng tiến bộ

+ Câu thơ kết bài là tiếng chửi thói đời bạc bẽo đanh thép của Tú Xương, ông đang lên tiếng thay cho những số phận hoàn cảnh như mình và vợ mình

3. Nghệ thuật

- Sử dụng sáng tạo các thành ngữ: Một nắng hai sương, năm nắng mười mưa

- Vận dụng sáng tạo hình ảnh thân cò trong ca dao

- Từ ngữ trong sáng giản dị, mộc mạc mà giàu sức gợi hình biểu cảm
 
1,574 ❤︎ Bài viết: 1459 Tìm chủ đề

Soạn bài: Thương vợ – Trần Tế Xương (Ngữ văn 11)​


Thương vợ là một trong những bài thơ đặc sắc nhất của Trần Tế Xương viết về người vợ tảo tần của mình. Qua giọng thơ vừa chân thành vừa tự trào, nhà thơ đã khắc họa hình ảnh người phụ nữ Việt Nam giàu đức hi sinh, đồng thời bộc lộ nhân cách đáng trân trọng của chính bản thân ông.

I. Đôi nét về tác giả Trần Tế Xương​


Trần Tế Xương, thường gọi là Tú Xương, sinh năm 1870 và mất năm 1907. Ông tên thật là Trần Tế Xương, quê ở làng Vị Xuyên, huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định. Tú Xương sống trong giai đoạn xã hội Việt Nam chuyển mình từ chế độ phong kiến sang thực dân nửa phong kiến, khi những giá trị cũ đang lung lay và nhiều cảnh nhố nhăng, đảo lộn xuất hiện trong đời sống xã hội.

Tú Xương là người có cá tính mạnh, sống phóng khoáng, không chịu gò bó trong khuôn phép cứng nhắc của khoa cử phong kiến. Ông thi nhiều lần nhưng không đỗ cao, cuộc sống gặp nhiều khó khăn, phần lớn gánh nặng gia đình dồn lên vai người vợ. Chính hoàn cảnh đó đã góp phần hình thành giọng thơ vừa trào phúng sắc sảo, vừa trữ tình sâu lắng của ông.

Sáng tác của Tú Xương gồm hai mảng lớn là trào phúng và trữ tình. Tuy vậy, trữ tình vẫn là cốt lõi, còn trào phúng như một phương tiện để bộc lộ thái độ trước cuộc đời. Thơ ông mang đậm hơi thở đời sống, sử dụng ngôn ngữ Nôm giản dị, giàu sắc thái dân gian và giàu cảm xúc chân thật.

II. Đôi nét về tác phẩm Thương vợ​


Bài thơ Thương vợ thuộc chùm thơ viết về bà Tú, được xem là bài thơ cảm động nhất khi nói về người vợ của Trần Tế Xương. Tác phẩm được viết theo thể thất ngôn bát cú Đường luật, nhưng giọng điệu và hình ảnh lại rất đời thường, gần gũi.

Bốn câu thơ đầu tập trung khắc họa hình ảnh bà Tú với cuộc đời buôn bán vất vả, lam lũ. Bốn câu thơ sau là tiếng lòng của nhà thơ, thể hiện tình thương, sự biết ơn và cả nỗi day dứt, tự trách bản thân trước sự hi sinh thầm lặng của vợ.

Về nội dung, bài thơ là lời tri ân sâu sắc dành cho người phụ nữ tảo tần, đồng thời phản ánh một cách chân thực thân phận người phụ nữ trong xã hội cũ. Về nghệ thuật, bài thơ gây ấn tượng bởi cảm xúc chân thành, cách dùng hình ảnh dân gian quen thuộc và ngôn ngữ mộc mạc mà giàu sức gợi.

III. Dàn ý phân tích bài thơ Thương vợ​


Hình ảnh bà Tú hiện lên trước hết qua nỗi vất vả, gian truân của cuộc mưu sinh. Không gian và thời gian trong thơ đều gợi sự nhọc nhằn kéo dài triền miên. "Quanh năm" cho thấy công việc buôn bán không có lúc nghỉ ngơi, còn "mom sông" là một vị trí chênh vênh, nguy hiểm, nơi người phụ nữ phải đối mặt với sóng nước và bất trắc. Khi thì "quãng vắng" heo hút, khi lại là "buổi đò đông" chen chúc, cả hai đều tiềm ẩn hiểm nguy nhưng bà Tú vẫn phải lặn lội vì miếng cơm manh áo.

Hình ảnh "thân cò" được Tú Xương vận dụng từ ca dao dân gian đã khắc sâu hơn dáng vẻ nhỏ bé, lam lũ của người vợ. Cách đảo ngữ và dùng từ láy khiến nhịp thơ chậm lại, gợi bước đi nhọc nhằn, đơn độc của bà Tú trên con đường mưu sinh.

Không chỉ vất vả, bà Tú còn hiện lên với những phẩm chất đáng quý của người phụ nữ truyền thống. Bà là người đảm đang, tháo vát, gánh vác cả gia đình và chấp nhận hi sinh hạnh phúc riêng. Những câu thơ nói về duyên nợ, về nắng mưa không chỉ thể hiện sự cam chịu mà còn cho thấy sức chịu đựng bền bỉ, âm thầm của người vợ.

Ẩn sau hình ảnh bà Tú là thái độ và tình cảm sâu sắc của Trần Tế Xương. Nhà thơ không né tránh trách nhiệm mà tự nhận mình là một "cái nợ" của vợ. Tiếng chửi "thói đời" ở cuối bài vừa là sự phẫn uất trước xã hội bất công, vừa là lời tự trách của một người chồng không tròn bổn phận. Trong bối cảnh tư tưởng phong kiến còn nặng nề, việc một người đàn ông dám thừa nhận sự hờ hững, bất lực của mình là điều hiếm thấy, cho thấy nhân cách và tư tưởng tiến bộ của Tú Xương.

Về nghệ thuật, bài thơ sử dụng linh hoạt các thành ngữ quen thuộc trong đời sống, kết hợp hình ảnh dân gian giàu sức gợi. Ngôn ngữ thơ giản dị, tự nhiên nhưng chứa đựng cảm xúc sâu lắng, khiến bài thơ vừa chân thật vừa cảm động.

IV. Tổng kết​


Thương vợ không chỉ là bài thơ viết về một người phụ nữ cụ thể mà còn là khúc ca ngợi ca vẻ đẹp chung của người phụ nữ Việt Nam trong xã hội xưa. Qua đó, Trần Tế Xương đã để lại một dấu ấn đặc biệt trong văn học dân tộc bằng tấm lòng nhân hậu, chân thành và đầy trách nhiệm của mình.
 
Từ khóa: Sửa

Những người đang xem chủ đề này

Xu hướng nội dung

Back