194 ❤︎ Bài viết: 45 Tìm chủ đề
Đọc: 1,047 Tìm: 7
Huy Cận là nhà thơ nổi tiếng trong phong trào thơ mới với tập thơ "Lửa thiêng". Ông cũng là nhà thơ tiêu biểu cho nền thơ ca hiện đại Việt Nam. Thơ Huy Cận được chia làm hai giai đoạn: Trước cách mạng, thơ ông thường gắn liền với cảm hứng về thiên nhiên, vũ trụ nhưng đều chất chứa một nỗi buồn. Sau cách mạng, hồn thơ của Huy Cận được hồi sinh, thơ ông mang niềm vui của cuộc sống mới với các tác phẩm vút cao ca ngợi "trời mỗi ngày lại sáng". Tác phẩm được coi là tiêu biểu nhất của ông phải kể đến bài thơ "Đoàn thuyền đánh cá". Bài thơ khắc họa nhiều hình ảnh đẹp, tráng lệ, thể hiện sự hài hòa giữa thiên nhiên và con người lao động, bộc lộ niềm vui, niềm tự hào của nhà thơ trước đất nước, cuộc sống mới.

(Trích thơ)

Bài thơ "Đoàn thuyền đánh cá" được sáng tác năm 1958 khi miền Bắc kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và được giải phóng, đang đi vào công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Sau chuyến đi thực tế dài ngày ở vùng mỏ Quảng Ninh chứng kiến cảnh người dân làng chài ra khơi bắt cá Ông nói lấy đó là niềm cảm hứng, bài thơ được sáng tác trong thời gian này và được in trong tập thơ "Trời mỗi ngày lại sáng". Bài thơ đã miêu tả khung cảnh đoàn thuyền ra khơi đánh bắt cá, công cuộc chinh phục biển khơi của những người dân làng chài và đã miêu tả thành công chuyến đi và thành quả của họ. Đồng thời thể hiện niềm vui, niềm tự hào của tác giả trước đất nước và cuộc sống mới.

Mở đầu bài thơ là cảnh đoàn thuyền đánh cá ra khơi và tâm trạng náo nức của người đi biển. Càng đoàn thuyền đánh cá ra khơi được miêu tả trong một cảnh hoàng hôn tuyệt đẹp:

"Mặt trời xuống biển như hòn lửa

Sóng đã cài then đêm sập cửa"​

Với biện pháp nghệ thuật so sánh: "Mặt trời như hòn lửa" so sánh một cách chính xác, độc đáo, gợi ra một khung cảnh thiên nhiên kỳ vĩ, rực giữa màu sắc và ánh sáng. Hình ảnh "mặt trời" giống như một viên bi khổng lồ đang từ từ lặn sâu xuống đáy đại dương bao la. Đó là hình ảnh tươi tắn, tin tưởng vào cuộc sống mới. Hình ảnh sóng đêm là hình ảnh nhân hóa đặc sắc gợi cho người đọc liên tưởng, tưởng tượng bất ngờ, thú vị: Vũ trụ giống như một ngôi nhà khổng lồ, màn đêm buông xuống là một cánh cửa lớn, những gợn sóng là những chiếc then cài cửa, thiên nhiên không bí ẩn mà gần gũi với con người.

Khi vũ trụ đi vào trạng thái nghỉ ngơi khép lại một ngày thì con người lao động ở vùng biển Quảng Ninh lại bắt đầu một ngày lao động mới

"Đoàn thuyền đánh cá lại ra khơi

Câu hát căng buồm cùng gió khơi"​

Hình ảnh "đoàn thuyền" gợi không khí lao động tập thể tấp nập. Từ "lại" là phó từ nhấn mạnh hoạt động lặp lại thường xuyên, nhịp độ lao động khẩn trương và đều đặn của con người. Hình ảnh "câu hát căng buồm" là hình ảnh ẩn dụ đồng thời là hình ảnh thơ tràn đầy lãng mạn và tưởng tượng câu hát có sức mạnh lớn lao và kỳ diệu. Câu hát mang niềm vui, lạc quan, khi đến lao động hăng say, khát khao chinh phục biển khơi của người ngư dân. Câu hát trở thành sức mạnh cùng với gió biển làm căng cánh buồn đưa con thuyền lướt sóng ra khơi.

Kế tiếp đó là khúc hát ca ngợi sự giàu có của biển cả, đồng thời cũng là lời hát gọi cả vào lưới:

"Hát rằng: Cá bạc biển Đông lặn

Cá thu biển Đông như đoàn thoi"​

Từ "cá bạc" vừa là tên một loài cá vừa gợi màu sắc lấp lánh của thân cá. Từ "bạc" còn là định ngữ chỉ sự phong phú, giàu có của biển cả. Dân gian ta có câu: "Rừng vàng, biển bạc" cho thấy sự ban tặng của thiên nhiên với con người là vô cùng quý giá. Với phép liệt kê: "Cá bạc, cá thu" cho thấy sự đẹp đẽ, phong phú của biển Đông. Hình ảnh so sánh "cá thu như đoàn thoi" diễn tả hình dáng, tốc độ di chuyển, sự đông đúc của đàn cá giúp người đọc liên tưởng đến biển đêm như một tấm lụa lớn mà đoàn thoi đang vun vút qua lại:

"Đêm ngày dệt biển muôn luồng sáng

Đến dệt lưới ta đoàn cá ơi"​

Hình ảnh "dệt biển, dệt lưới" là hình ảnh nhân hóa kết hợp với câu cảm thán "ơi" gợi hình ảnh từng đàn cá đang thêu dệt trên tấm vải khổng lồ là mặt biển những luồng sáng rực rở, kỳ diệu, thể hiện cái nhìn trìu mến, tình yêu với biển cả, niềm tin của con người vào một chuyến ra khơi thắng lợi. Qua đó thể hiện cái nhìn tinh tế, nhạy cảm, tình yêu thiên nhiên và con người lao động của nhà thơ.

Ở khổ thơ thứ ba là cảnh lao động của đoàn thuyền đánh cá giữa không gian biển trời ban đêm. Hình ảnh đoàn thuyền đánh cá lướt sóng ra khơi giữa biển trời ban đêm vừa hùng tráng, vừa thơ mộng:

"Thuyền ta lái gió với buồm trăng

Lướt giữa mây cao với biển bằng"​

Con thuyền và con người lao động được miêu tả trong một không gian rộng lớn. Với bút pháp khoa trương, với những hình ảnh thơ tưởng tượng được mày được tác giả sử dụng trong khổ thơ "một con thuyền kỳ vĩ, gió là bánh lái, trăng là buồm, đi được trong sự vây bọc và nâng đở của thiên nhiên đầy yêu thương, không gian giống như một không gian thần thoại". Động từ "lướt, lái" không chỉ diễn tả hoạt động lao động đánh cá trên biển với tốc độ khẩn trương, chủ động mà nhà thơ còn làm nổi bật lên tư thế, sức mạnh của con người trước thiên nhiên vũ trụ. Đồng thời cũng làm rõ hơn khí thế phơi phới của con người lao động họ làm chủ cuộc sống mới.

"Ra đậu dặm xa dò bụng biển

Dàn đan thế trận lưới vây giăng"​

Hình ảnh "dò bụng biển" là ảnh nhân hóa đặc sắc kết hợp với các động từ "dò, dàn đan thế trận" làm cho hình ảnh con thuyền đánh cá bình thường trở thành một chiếc thuyền trong hành trình chinh phục biển khơi. Hình ảnh "dàn đan thế trận" khiến người ta liên tưởng tới công việc đánh cá của người dân chài như một chiến trận. Những người dân chài là chiến sĩ, con thuyền là mái chèo và lưới là vũ khí. Con người hoàn toàn làm chủ chiến trận, đồng thời cũng giúp cho người đọc thấy được không khí làm ăn tập thể vui tươi, hào hùng, qua đó tác giả làm nổi bật vẻ đẹp và sức mạnh của con người, nâng tầm vóc vị thế của con người giữa thiên nhiên. Vẻ đẹp ấy luôn hòa nhập cùng thiên nhiên, vũ trụ bao la.

Bên cạnh đó nhà thơ còn ca ngợi sự phong phú, giầu có của biển cả quê hương.

"Cá nhụ cá chim cùng cá đé

Cá song lấp lánh đuốc đen hồng."​

Tác giả sử dụng biện pháp liệt kê: "Cá nhụ, cá chim, cá đé, cá song" giúp người đọc cảm nhận rõ hơn sự phong phú của các loài cá, chứng nhận lên đàn đàn, lớp lớp chen nhau lấp lóa ẩn hiện dưới làn nước biển đêm. Biển không những giầu mà còn đẹp và thơ mộng. Vẻ đẹp tráng lệ của biển cả còn hiện lên qua các tính từ chỉ màu sắc: "Đen, hồng.." Đặc biệt, hình ảnh "đuốc đen hồng" là hình ảnh ẩn dụ độc đáo, giàu ý nghĩa, những con cá song như những ngọn đuốc đen hồng đang lao đi trong làn nước dưới ánh trăng lấp lánh. Vây cá tạo nên màu sắc rực rở, lấp lánh, sống động. Qua đó gợi lên hình ảnh những con cá song giống như những nàng vũ công xinh đẹp trong đêm dạ hội.

Cần đăng nhập và nhấn Thích để xem

Tác giả gọi cá là em kết hợp với biện pháp tu từ nhân hóa thể hiện tình cảm thân thương, trìu mến. Hình ảnh "trăng vàng chóe" là hình ảnh đẹp, lãng mạn và nổi bật nhất trong bức tranh nhiều màu sắc, ánh trăng in xuống mặt nước, những con cá quẫy đuôi như quẫy ánh trăng tan ra vàng chóe. Hình ảnh "đêm thở-sao lùa" là hình ảnh nhân hóa kết hợp với tin tưởng, tưởng tượng thú vị, phong phú, bay bổng, dường như thiên nhiên thức dậy hòa nhịp vào không khí lao động khẩn trương, say mê của con người, đồng thời gợi vẻ đẹp lung linh, huyền ảo, lấp lánh sắc màu của biển cả. Biển đêm giống như một sinh vật đại dương sống động, có tâm hồn riêng. Huy Cận khiến cảnh biển đêm trở thành một cảnh tuyệt đẹp, lãng mạn, nên thơ, đầy sức sống và trở nên gần gũi với con người.

Khúc hát của những người dân chài lại tiếp tục vang lên một lần nữa, đó là khúc hát ca ngợi ân tình của biển cả:

"Ta hát bài ca gọi cá vào

Gõ thuyền đã có nhịp trăng cao"​

Công việc đánh bắt cá trên biển vốn là một công việc nặng nhọc, đầy nguy hiểm và nó còn nguy hiểm hơn khi đánh bắt cá vào ban đêm. Con người lao động được đặt trong một không gian rộng lớn của biển trời trăng sao nhưng được nhà thơ tái hiện thật nhẹ nhàng, lãng mạn, nên thơ trong niềm vui phơi phới của người đi đánh cá, say sưa đầy hứng khởi của người lao động trong công cuộc chinh phục thiên nhiên. Hình ảnh "gõ thuyền đã có nhịp trăng cao" gợi cho người đọc một liên tưởng thú vị, độc đáo. Ánh trăng in xuống mặt nước, sóng đánh ánh trăng vỗ vào mạn thuyền như trăng đang gõ vào mạn thuyền. Với hình ảnh thơ bay bổng, lãng mạn, tác giả đã miêu tả công việc đánh bắt cá trở nên nhẹ nhàng thi vị, thiên nhiên như hòa cùng nhịp điệu lao động của con người.

"Biển cho ta cá như lòng mẹ

Nuôi lớn đời ta tự buổi nào."​

Hình ảnh so sánh đẹp: "Biển như lòng mẹ" cùng với giọng thơ ngọt ngào, ấm áp. Vừa làm cho biển khơi hiện lên thật gần gũi, thân thương. Biển thật bao la, ân tình, bao dung yêu thương như lòng mẹ, che chở nuôi dưỡng con người khôn lớn về cả thể xác lẫn tâm hồn, ngày đồng thời thể hiện sự tri ân và tấm lòng biết ơn vô hạn của người dân chài với biển quê hương.

Ở khổ thơ tiếp theo, nhà thơ đã phác họa bức chân dung người lao động và thành quả của họ.

"Sao mờ, kéo lưới kịp trời sáng

Ta kéo xoăn tay chùm cá nặng."​

Hình ảnh "sao mờ" gợi sự vận động của thời gian, đêm đã trôi qua, một ngày mới bắt đầu. Con người khẩn trương, hối hả để bắt kịp với sự vận hành của vũ trụ. Hình ảnh "kéo xoăn tay" là hình ảnh tả thực gợi tả động tác kéo lưới-kéo mạnh, khỏe bằng tất cả sức lực, đồng thời gợi tả tư thế lao động khỏe đẹp, những bắp tay cuồn cuộn, vạm vỡ của người dân chài. Từ hình ảnh đó khiến ta liên tưởng đến người dân chài trong bài thơ "Quê hương" của Tế Hanh:

"Dân chài lưới làn da ngăm rám nắng

Cả thân hình nồng thở vị xa xăm."​

Hình ảnh "chùm cá nặng" gợi những mẻ lưới đầy ắp cá, là thành quả của chuyến ra khơi thắng lợi, là niềm vui của người dân chài. Những con cá được kéo lên từ biển được tác giả miêu tả thật đẹp:

"Vẩy bạc đuôi vàng loé rạng đông

Lưới xếp buồm lên đón nắng hồng."​

Hình ảnh "vẩy bạc đuôi vàng" vừa là định ngữ nghệ thuật, vừa là hình ảnh ẩn dụ chỉ sự phong phú, giàu có của biển cả. Đồng thời giúp người đọc hình dung những con cái kéo lên từ biển ăm ắp đầy các khoang thuyền dưới ánh nắng hồng ban mai, chúng quẫy đạp làm ánh lên những sắc màu rực rở tươi vui. Đó chính là sự tươi đẹp của cuộc sống mới.

Cuối cùng là hình ảnh con thuyền đánh cá trở về bến. Cảnh đón thuyền đánh cá trở về bến được miêu tả trong một buổi bình minh thật đẹp.

"Câu hát căng buồm với gió khơi

Đoàn thuyền chạy đua cùng mặt trời."​

Các hình ảnh "câu hát căng buồm, gió khơi, đoàn thuyền, mặt trời" là những hình ảnh ở khổ thơ đầu được lặp lại ở khổ thơ cuối tạo kết cấu đầu cuối tương ứng, tạo liên kết chặt chẽ cho ý thơ, mạch thơ. Diễn tả trọn vẹn hành trình chuyến ra khơi và khí thế hào hứng, phấn khởi của người lao động khi trở về. Vẫn là hình ảnh "câu hát căng buồm" nhưng đó là câu hát trở về mang niềm vui chiến thắng của con người lao động sau một đêm lao động vất vả, hình ảnh "đoàn thuyền chạy đua" là hình ảnh nhân hóa đặc sắc, con thuyền trở về với một tư thế mạnh mẽ, tích cực, khẩn trương không ngừng, không nghỉ, tranh thủ thời gian để cống hiến xây dựng đất nước. Qua đó tác giả muốn làm nổi bật sức mạnh của con người, nâng tầm vóc của con người lên ngang tầm vũ trụ, đồng thời thể hiện khát vọng chinh phục thiên nhiên của con người.

"Mặt trời đội biển nhô màu mới

Mắt cá huy hoàng muôn dặm phơi."​

Hình ảnh "mặt trời đội biển" là hình ảnh nhân hóa, miêu tả cảnh mặt trời mọc trên biển gợi ra cảnh thiên nhiên kỳ vĩ, chói lọi. Mặt trời lên kết thúc một đêm lao động, đem ánh sáng tới đất trời trong ánh nắng hồng ban mai làm cho thành quả thêm rực rở. Hình ảnh "màu mới" là hình ảnh ẩn dụ có thể hiểu đó là màu của ánh bình minh màu mới.

Khép lại bài thơ là câu thơ với những hình ảnh thật đẹp, thật lãng mạn với nhiều cách hiểu khác nhau:

"Mắt cá huy hoàng muôn dặm phơi."​

Từ "huy hoàng" mang nhiều ý nghĩa. Nghĩa thực từ "huy hoàng" chỉ ánh sáng rực rở, mắt cá phản chiếu ánh mặt trời lung linh. Từ "huy hoàng" còn mang ý nghĩa ẩn dụ cho cuộc đời, tương lai tươi sáng, gợi cuộc sống ấm no, hạnh phúc của người dân chài. Thể hiện niềm tin, niềm lạc quan của con người lao động. Qua đó thể hiện niềm trân trọng, tự hào của nhà thơ về biển cả và con người lao động trước cuộc sống mới.

Với thể thơ bảy chữ, cách gieo vần linh hoạt tạo âm hưởng khỏe chắc, sôi nổi, bay bổng, kết hợp với liên tưởng, tưởng tượng bất ngờ, thú vị. Sử dụng thành công các biện pháp tu từ: So sánh, nhân hóa, ẩn dụ. Bài thơ đã khắc họa nhiều hình ảnh đẹp, tráng lệ thể hiện sự hài hòa giữa thiên nhiên và con người lao động qua đó bộc lộ niềm vui, niềm tự hào của nhà thơ trước đất nước, trước cuộc sống mới.

"Đoàn thuyền đánh cá" là một bài thơ mang đậm cảm hứng thiên nhiên và cảm hứng con người. Nhà thơ Huy Cận đã khắc họa một khung cảnh biển cả rộng lớn, tráng lệ với những con sóng, những vì sao, những ánh trăng và những con người lao động trên biển. Bài thơ là sự ca ngợi về sức sống, sự giàu có của biển cả quê hương; về tinh thần lao động nhiệt huyết, tự tin, chủ động của người dân làng chài; về niềm tin vào tương lai tươi sáng của đất nước sau giải phóng. Bài thơ cũng là sự tỏ lòng yêu quý, kính trọng của nhà thơ dành cho biển cả và con người biển cả. Đó là một bức tranh thiên nhiên và con người đầy sắc màu, sinh động và hào hùng.
 
Last edited by a moderator:
17 ❤︎ Bài viết: 8 Tìm chủ đề

Phân tích bài thơ Đoàn thuyền đánh cá của Huy Cận


Trong nền thơ ca Việt Nam hiện đại, Huy Cận là một nhà thơ có hành trình sáng tác đặc biệt. Nếu trước Cách mạng tháng Tám, thơ ông thường chìm trong nỗi buồn nhân thế, cảm giác cô đơn của con người trước không gian vũ trụ rộng lớn thì sau Cách mạng, hồn thơ ấy đã có một sự chuyển biến mạnh mẽ. Thiên nhiên vẫn rộng lớn, vẫn kỳ vĩ, nhưng trước thiên nhiên không còn là một cái tôi nhỏ bé, lạc lõng mà là con người tràn đầy niềm tin, niềm vui và tư thế làm chủ cuộc sống. "Đoàn thuyền đánh cá" là một trong những bài thơ tiêu biểu nhất cho sự chuyển biến ấy. Được sáng tác năm 1958 trong chuyến đi thực tế của Huy Cận ở vùng biển Quảng Ninh, bài thơ đã dựng lên một bức tranh tuyệt đẹp về biển cả đồng thời khắc họa hình ảnh những người dân chài khỏe khoắn, yêu lao động, làm chủ thiên nhiên và làm chủ cuộc đời.

Nếu "Tràng giang" là dòng sông của nỗi buồn và sự chia lìa thì "Đoàn thuyền đánh cá" lại là biển cả của niềm vui, sức sống và khát vọng. Cả hai tác phẩm đều cho thấy Huy Cận có một tâm hồn đặc biệt nhạy cảm trước thiên nhiên, nhưng cách con người xuất hiện trong hai thế giới thơ ấy đã hoàn toàn khác nhau. Trong "Đoàn thuyền đánh cá", con người không nép mình trước vũ trụ mà hòa nhập với vũ trụ, cùng biển cả cất lên một bản trường ca về lao động.

Cảm hứng bao trùm của bài thơ​


"Đoàn thuyền đánh cá" được viết theo thể thơ bảy chữ, gồm bảy khổ thơ, triển khai theo hành trình của một chuyến ra khơi: Từ lúc hoàng hôn buông xuống, đoàn thuyền bắt đầu ra biển, những người dân chài lao động trong đêm, cho đến khi bình minh lên và đoàn thuyền trở về. Cách tổ chức ấy khiến bài thơ giống như một câu chuyện bằng thơ, trong đó thời gian của thiên nhiên cũng chính là thời gian của hoạt động lao động.

Bao trùm tác phẩm là hai nguồn cảm hứng lớn: Cảm hứng ngợi ca vẻ đẹp giàu có, hùng vĩ của thiên nhiên biển cả và cảm hứng ngợi ca người lao động trong cuộc sống mới. Hai cảm hứng ấy hòa quyện với nhau để tạo thành âm hưởng chủ đạo của bài thơ: Khỏe khoắn, hào hùng, lãng mạn và tràn đầy niềm tin.

Ngay từ những câu thơ đầu tiên, Huy Cận đã đưa người đọc vào một không gian biển cả rộng lớn:

Mặt trời xuống biển như hòn lửa

Sóng đã cài then, đêm sập cửa.


Câu thơ "Mặt trời xuống biển như hòn lửa" tạo nên một hình ảnh vô cùng độc đáo. Mặt trời vốn là một hình cầu khổng lồ của vũ trụ, nhưng dưới con mắt của nhà thơ lại được hình dung như một "hòn lửa" đỏ rực đang từ từ chìm xuống biển. Phép so sánh khiến cảnh hoàng hôn không trở nên tàn lụi mà ngược lại, vẫn giữ được vẻ rực rỡ, mạnh mẽ và tràn đầy sức sống.

Nếu mặt trời là "hòn lửa" thì biển cả và bầu trời lại được hình dung như một ngôi nhà khổng lồ. Những con sóng trở thành "then", còn màn đêm giống như cánh cửa đang khép lại. Hình ảnh "Sóng đã cài then, đêm sập cửa" vừa mang tính nhân hóa vừa thể hiện trí tưởng tượng phong phú của Huy Cận. Thiên nhiên dường như đang vận động theo một quy luật có trật tự: Ngày khép lại, đêm mở ra và cũng chính lúc ấy một hành trình lao động mới bắt đầu.

Điều đặc biệt nằm ở chỗ khi thiên nhiên đi vào trạng thái nghỉ ngơi thì con người lại bắt đầu công việc của mình:

Đoàn thuyền đánh cá lại ra khơi,

Câu hát căng buồm cùng gió khơi.


Từ "lại" có ý nghĩa rất quan trọng. Đó không phải một chuyến đi bất thường mà là công việc quen thuộc, lặp đi lặp lại mỗi ngày của người dân vùng biển. Thế nhưng sự lặp lại ấy không hề gợi cảm giác nhàm chán. Ngược lại, người lao động bước vào công việc bằng tiếng hát.

Hình ảnh "câu hát căng buồm" là một liên tưởng đầy chất lãng mạn. Về thực tế, cánh buồm được căng lên nhờ sức gió, nhưng trong thế giới thơ ca, tiếng hát của con người dường như cũng có sức mạnh làm căng buồm, đưa con thuyền lao về phía biển xa. Con người và thiên nhiên không đối lập mà hòa làm một. Gió khơi, cánh buồm, câu hát và con thuyền cùng tạo thành một chuyển động mạnh mẽ.

Vẻ đẹp giàu có và kỳ vĩ của biển cả​


Sau cảnh ra khơi, Huy Cận đưa người đọc vào một thế giới biển đêm rộng lớn và kỳ thú. Ở đó, biển không còn là một không gian xa xôi, bí hiểm mà trở thành một kho báu khổng lồ đang mở ra trước con người:

Hát rằng: Cá bạc biển Đông lặng,

Cá thu biển Đông như đoàn thoi

Đêm ngày dệt biển muôn luồng sáng.

Đến dệt lưới ta, đoàn cá ơi!


Biển cả trong cảm nhận của người lao động không phải một nơi đáng sợ. Biển là một thế giới giàu có, hào phóng và thân thuộc. Hình ảnh cá bạc, cá thu được miêu tả bằng những liên tưởng hết sức sinh động.

"Cá thu" được ví như "đoàn thoi". Nếu những chiếc thoi trong khung cửi liên tục chuyển động để dệt nên tấm vải thì những đàn cá thu dưới biển cũng lao vun vút, tạo thành "muôn luồng sáng". Hình ảnh ấy biến biển cả thành một khung dệt khổng lồ, trong đó đàn cá là những con thoi đang dệt nên tấm lưới ánh sáng của thiên nhiên.

Động từ "dệt" được lặp lại hai lần: "Dệt biển", "dệt lưới". Điều này tạo ra sự liên kết đặc biệt giữa thiên nhiên và con người. Biển dệt nên những luồng sáng, còn con người dệt lưới để thu về nguồn hải sản phong phú. Thiên nhiên và lao động cùng vận động trong một nhịp điệu hài hòa.

Đặc biệt, tiếng gọi "đoàn cá ơi!" khiến hình ảnh người lao động trở nên gần gũi. Họ không xem biển như một đối tượng xa lạ mà như một người bạn, một nguồn sống thân thiết.

Nếu khổ thơ thứ hai tập trung khắc họa sự giàu có của biển thì những khổ thơ tiếp theo mở rộng bức tranh bằng hàng loạt hình ảnh kỳ thú:

Thuyền ta lái gió với buồm trăng

Lướt giữa mây cao với biển bằng,

Ra đậu dặm xa dò bụng biển,

Dàn đan thế trận lưới vây giăng.


Ở đây, con thuyền thực tế đã được nâng lên thành con thuyền mang tầm vóc sử thi. "Buồm trăng", "mây cao", "biển bằng", "lái gió" tạo nên một không gian khoáng đạt đến vô tận.

Con thuyền không còn nhỏ bé trước biển cả. Nó như đang làm chủ biển trời. "Thuyền ta lái gió với buồm trăng" là một câu thơ giàu sức tưởng tượng. Con người dường như điều khiển cả gió và trăng để phục vụ hành trình lao động của mình.

Đặc biệt, động từ "lướt" tạo nên tốc độ và sức mạnh. Con thuyền không chậm chạp trôi giữa biển mà chủ động "lướt" giữa mây cao và biển bằng. Không gian vũ trụ rộng lớn vì thế trở thành sân khấu cho hoạt động lao động của con người.

Cụm từ "dò bụng biển" lại mang đến một liên tưởng rất thú vị. Biển được hình dung như một cơ thể khổng lồ có "bụng", chứa đựng trong đó nguồn tài nguyên phong phú. Con người không còn là những kẻ bé nhỏ đi tìm kiếm sự sống trong thiên nhiên mà là những người đang khám phá và làm chủ biển cả.

Hình ảnh người lao động trong đêm biển​


Một trong những thành công lớn nhất của "Đoàn thuyền đánh cá" là Huy Cận không chỉ miêu tả cảnh biển mà còn xây dựng được hình tượng tập thể người lao động với tư thế khỏe khoắn, chủ động và đầy niềm tin.

Những người dân chài hiện lên trong sự hòa nhập với biển:

Ta hát bài ca gọi cá vào,

Gõ thuyền đã có nhịp trăng cao.

Biển cho ta cá như lòng mẹ,

Nuôi lớn đời ta tự buổi nào.


Nếu ở phần đầu, tiếng hát là lời ca đưa đoàn thuyền ra khơi thì ở đây tiếng hát trở thành một phần của hoạt động đánh bắt. "Ta hát bài ca gọi cá vào" cho thấy tâm thế lạc quan của người lao động.

Hình ảnh "gõ thuyền" kết hợp với "nhịp trăng cao" tạo nên một nhạc điệu đặc biệt. Trăng không chỉ chiếu sáng biển đêm mà như tham gia trực tiếp vào công việc của con người. Thiên nhiên trở thành người bạn đồng hành cùng người lao động.

Đặc biệt, câu thơ:

Biển cho ta cá như lòng mẹ,

Nuôi lớn đời ta tự buổi nào.


Là một trong những câu thơ giàu tình cảm nhất của tác phẩm.

Phép so sánh "biển như lòng mẹ" khiến hình ảnh biển cả trở nên gần gũi, thân thương. Biển không chỉ cung cấp nguồn hải sản mà còn "nuôi lớn" con người. Với những người dân vùng biển, biển chính là quê hương, là nguồn sống, là người mẹ rộng lượng đã gắn bó với họ từ bao đời.

Cách nhìn ấy cho thấy tình yêu quê hương sâu sắc của Huy Cận. Biển trong bài thơ không chỉ là biển của địa lý mà còn là biển của ký ức, của cuộc sống và của tình cảm con người.

Bức tranh biển đêm lung linh sắc màu​


Sau khi khắc họa sự giàu có của biển, Huy Cận tiếp tục mở ra một thế giới đầy màu sắc:

Sao mờ kéo lưới kịp trời sáng,

Ta kéo xoăn tay chùm cá nặng.


Nhịp thơ ở đây trở nên nhanh và mạnh. Những động từ "kéo", "xoăn", "nặng" gợi cảm giác về sức lực của người lao động.

"Ta kéo xoăn tay" là một hình ảnh giàu tính tạo hình. Đôi tay người dân chài nổi rõ những đường gân vì phải kéo một mẻ lưới đầy cá. Đây là vẻ đẹp khỏe khoắn của con người trong lao động.

Cùng với con người, biển cả cũng hiện lên rực rỡ:

Vẩy bạc đuôi vàng lóe rạng đông.

Những con cá được bắt lên không chỉ là sản vật mà còn giống như những tia sáng đầu tiên báo hiệu bình minh. "Vẩy bạc", "đuôi vàng" tạo thành những điểm sáng lung linh giữa không gian biển cả.

Qua đó, Huy Cận đã biến thành quả lao động thành một vẻ đẹp nghệ thuật. Cá đầy khoang không chỉ biểu hiện sự giàu có của biển mà còn là phần thưởng dành cho những con người đã lao động suốt một đêm dài.

Cảnh đoàn thuyền trở về trong bình minh​


Nếu cảnh ra khơi mở đầu bằng hình ảnh mặt trời lặn thì bài thơ kết thúc bằng hình ảnh mặt trời mọc. Kết cấu đầu cuối tương ứng ấy khiến hành trình của đoàn thuyền trở thành một vòng tròn trọn vẹn:

Câu hát căng buồm với gió khơi,

Đoàn thuyền chạy đua cùng mặt trời.


Đầu bài là "câu hát căng buồm", cuối bài lại là "câu hát căng buồm". Âm thanh ấy tạo nên sự thống nhất cho toàn bộ tác phẩm.

Nhưng ở cuối bài, con thuyền không chỉ ra khơi mà còn "chạy đua cùng mặt trời". Hình ảnh nhân hóa khiến con thuyền trở nên có tầm vóc kỳ vĩ. Con người như đang chạy đua với thiên nhiên, với thời gian, với bình minh.

Đặc biệt:

Mặt trời đội biển nhô màu mới,

Mắt cá huy hoàng muôn dặm phơi.


Nếu ở đầu bài, mặt trời "xuống biển" thì ở cuối bài, mặt trời lại "đội biển" nhô lên. Cách vận động ấy tạo nên một vòng tuần hoàn của ngày và đêm, của ra đi và trở về, của lao động và thành quả.

Hình ảnh "mắt cá huy hoàng" là một sáng tạo giàu chất lãng mạn. Hàng nghìn, hàng vạn con cá với những đôi mắt lấp lánh dưới ánh bình minh tạo thành một không gian rực rỡ. Thành quả lao động không chỉ nằm trong khoang thuyền mà còn lan tỏa thành ánh sáng của một ngày mới.

Bởi vậy, bình minh ở cuối bài không đơn thuần là bình minh của thiên nhiên. Nó còn mang ý nghĩa biểu tượng cho một cuộc sống mới đang mở ra. Nhiều tài liệu nghiên cứu và giảng dạy về tác phẩm cũng nhấn mạnh sự vận động của cảm hứng từ hoàng hôn qua đêm biển đến bình minh, tạo nên sắc thái lạc quan và niềm tin vào tương lai.

Nghệ thuật đặc sắc của bài thơ​


Thành công của "Đoàn thuyền đánh cá" trước hết nằm ở khả năng xây dựng hình ảnh bằng những liên tưởng táo bạo. Huy Cận không miêu tả biển theo cách thông thường mà luôn nâng cảnh vật lên tầm vóc kỳ vĩ: Mặt trời là "hòn lửa", sóng là "then", đêm là "cửa", cá là "đoàn thoi", biển là "lòng mẹ", con thuyền có thể "chạy đua cùng mặt trời".

Nhờ vậy, biển cả trở thành một thế giới vừa thực vừa huyền ảo.

Bài thơ cũng thành công ở việc sử dụng hệ thống động từ mạnh: "Ra khơi", "lái", "lướt", "dò", "dàn", "vây", "gọi", "gõ", "kéo", "chạy đua". Những từ ngữ ấy tạo nên một nhịp thơ khỏe khoắn, phù hợp với không khí lao động khẩn trương.

Bên cạnh đó, hình ảnh "câu hát" xuất hiện ở đầu và cuối tác phẩm tạo thành một kết cấu vòng tròn. Tiếng hát vừa là biểu tượng của niềm vui, vừa là nhịp điệu tinh thần của người lao động. Chính tiếng hát đã khiến công việc nặng nhọc trở thành một bản ca đầy sức sống.

Một nét đặc sắc khác là sự kết hợp giữa bút pháp hiện thực và lãng mạn. Những công việc như kéo lưới, đánh cá, trở về sau một đêm lao động đều rất thực. Nhưng qua trí tưởng tượng của Huy Cận, những hoạt động ấy được nâng lên thành một cuộc chinh phục biển cả mang tầm vóc sử thi.

Những người dân chài không xuất hiện với vẻ nhỏ bé, vất vả mà hiện lên như những người làm chủ biển trời. Đây chính là sắc thái khác biệt quan trọng giữa "Đoàn thuyền đánh cá" và nhiều sáng tác trước Cách mạng của Huy Cận.

Ý nghĩa của hình tượng con người và thiên nhiên​


Điều làm nên sức sống lâu bền của "Đoàn thuyền đánh cá" không chỉ là những bức tranh biển đẹp mà còn nằm ở mối quan hệ hài hòa giữa con người và thiên nhiên.

Thiên nhiên trong bài thơ giàu có, rộng lớn, hùng vĩ. Nhưng con người không bị thiên nhiên lấn át. Trái lại, con người hòa nhập với thiên nhiên và làm chủ thiên nhiên bằng sức lao động.

Đây chính là vẻ đẹp của con người trong thời đại mới mà Huy Cận muốn ngợi ca. Lao động không còn được nhìn như một gánh nặng mà trở thành niềm vui, niềm tự hào. Những người dân chài ra khơi trong tiếng hát, đánh cá trong tiếng hát và trở về cũng trong tiếng hát.

Qua hình tượng đoàn thuyền, nhà thơ còn thể hiện tình yêu quê hương đất nước. Biển cả trong bài thơ là một phần máu thịt của Tổ quốc. Vẻ đẹp và sự giàu có của biển trở thành niềm tự hào của con người Việt Nam.

Kết luận​


"Đoàn thuyền đánh cá" là một trong những bài thơ đặc sắc nhất của Huy Cận sau Cách mạng. Từ một chuyến đi thực tế ở vùng biển Quảng Ninh, nhà thơ đã tạo nên một bức tranh nghệ thuật rộng lớn về biển cả, đồng thời dựng lên hình tượng người lao động đầy sức sống, lạc quan và tự tin.

Đọc bài thơ, người đọc không chỉ nhìn thấy một biển Đông giàu đẹp với những đàn cá bạc, cá thu, cá song, những cánh buồm và ánh trăng mà còn cảm nhận được nhịp sống của con người đang hăng say lao động. Hoàng hôn không phải là sự kết thúc mà là thời điểm một hành trình mới bắt đầu. Đêm không phải là bóng tối đáng sợ mà là không gian để những con người mạnh mẽ chinh phục biển khơi. Và bình minh không chỉ báo hiệu một ngày mới mà còn là biểu tượng cho thành quả, niềm tin và tương lai.

Nếu "Tràng giang" từng cho thấy một Huy Cận cô đơn trước vũ trụ thì "Đoàn thuyền đánh cá" lại cho thấy một Huy Cận tràn đầy niềm vui trước cuộc đời. Vẫn là vũ trụ rộng lớn ấy, vẫn là biển trời mênh mông ấy, nhưng con người giờ đây đã tìm được vị trí của mình: Không nhỏ bé, không lạc lõng mà mạnh mẽ, chủ động và hòa mình vào thiên nhiên. Chính sự thay đổi trong cảm hứng ấy đã làm nên giá trị đặc biệt của bài thơ.

"Đoàn thuyền đánh cá" vì thế không chỉ là bài ca về biển mà còn là bài ca về con người. Đó là tiếng hát của những người dân chài trước biển cả, cũng là tiếng hát của một thời đại đang tràn đầy niềm tin vào lao động, vào cuộc sống và vào tương lai. Qua những câu thơ giàu hình ảnh, âm thanh và nhịp điệu, Huy Cận đã biến một chuyến ra khơi bình dị thành một bản tráng ca đẹp đẽ về thiên nhiên, quê hương và con người Việt Nam.
 
Last edited by a moderator:

Những người đang xem chủ đề này

Xu hướng nội dung

Back