62
0
Đề bài: Nhà thơ Nguyễn Quang Thiều từng nói lên suy nghĩ của mình về giá trị thơ ca:" "Có những câu thơ, bài thơ vang lên dẫn chúng ta trở về quá khứ, chạm tới tương lai và phá vỡ những biên giới tưởng không bao giờ có thể thay đổi trong sâu thẳm con người mình." Không chỉ riêng thơ ca mà văn chương nói chung cũng giúp con người vượt qua những biên giới của thời gian và biên giới bên trong mình.
Hãy viết bài văn bình luận về ý kiến trên.
Bài viết:
Dường như sự tồn tại của văn chương luôn bị hoài nghi, chất vấn về ý nghĩa. Từ thế kỉ 18, Nguyễn Du cất lời than thở: "Văn chương quang diễm thành hà dụng?". Nhà văn Nguyễn Huy Thiệp sau này cũng đau đáu với câu hỏi: "Có nghĩa lý gì khi xây lâu đài cát trên bờ biển xanh?". Càng tha thiết với văn chương, người ta mới càng trăn trở về giá trị của nó, giữa một thế giới rạn vỡ, đầy bất an. Gắn bó với thơ ca, Nguyễn Quang Thiều lại đặt niềm tin vào nó: "Có những câu thơ, bài thơ vang lên dẫn chúng ta trở về quá khứ, chạm tới tương lai và phá vỡ những biên giới tưởng không bao giờ có thể thay đổi trong sâu thẳm con người mình." Theo nhận định ấy, thơ ca nói riêng và văn chương nói chung, bằng chất liệu ngôn từ, có khả năng giải phóng con người ra khỏi những giới hạn của thời gian và những biên giới cố hữu trong thế giới tinh thần.
Những đặc điểm mang tính hình thức khu biệt thể loại thơ và thể loại truyện, nhưng giá trị văn chương và vẻ đẹp ngôn từ nối kết các thể loại lại với nhau. Nghĩ về giá trị và sức sống của thơ cũng là nghĩ về sức sống của truyện kể, của văn chương nói chung. Trong cách nói của Nguyễn Quang Thiều, khi bài thơ "vang lên" nghĩa là nó tái sinh trong tâm trí độc giả, giá trị của tác phẩm chỉ phát lộ khi nó tương tác đối thoại với tâm hồn người đọc. Nhà văn là người đọc đầu tiên của tác phẩm mình viết, và dù đã từng tận tác phẩm do chính mình tạo ra, người vẫn sẽ đối diện với nó bằng tâm thế mới, tâm thế của một kẻ khác đi tìm lại phần đời đã qua. Chúng ta là người đọc cá thể, cũng là một cộng đồng diễn giải. Đọc văn chương, ta trở về quá khứ và chạm tới tương lai, nghĩa là tìm lại những sự thật lịch sử, sự thật tâm hồn và hướng đến những ước ao, hy vọng. Văn Chương phá vỡ những biên giới trong sâu thẳm con người: Giới hạn của nhận thức, sự hẹp hòi trong tình cảm, sự cạn cợt trong việc cảm nhận cái đẹp, rồi từ đó hướng con người đến sự hoàn thiện. Ta biết văn chương không phải cái toàn năng, cái siêu việt nhất trong đời sống con người, nhưng qua nhận định của Nguyễn Quang Thiều, ta hiểu văn chương không bao giờ là một thứ ráo cạn về giá trị, nó vẫn xứng đáng để con người đặt niềm tin.
Văn chương là nơi bảo lưu ký ức và giúp con người tìm lại ký ức. Những ký ức không được hồi tưởng lại hay đặt vào bối cảnh mới sẽ trở thành những dữ kiện chết, sẽ bị lãng quên. Mà một nhân loại không có lịch sử là nhân loại trống rỗng, nghèo nàn. Một con người không có ký ức là con người phi nhân tính, phi bản sắc. Viết văn là một cách con người bảo lưu quá khứ và phục sinh quá khứ. Nó không hẳn là vì sứ mệnh thời đại hay vì một mục đích rõ ràng như lịch sử. Mà văn chương đơn thuần là sự chiêm nghiệm về cái đã qua, là sự ưu tư về cuộc sống con người. Con người lại luôn sống trong hoàn cảnh lịch sử cụ thể. Ngôn ngữ văn chương lưu giữ cả nỗi đau và cái đẹp của những năm tháng mà con người đi qua, chứ không chỉ ướp xác sự kiện để trưng bày. Vì vậy mà bao giờ nó cũng giúp ta tìm lại dấu vết của một thời đã qua và dấu vết của tâm hồn con người. Hai điều ấy luôn song hành hòa quyện lẫn nhau.
Trong văn chương, không gian sống, bối cảnh, sự kiện trong quá khứ được phục dựng. Những nhà nghiên cứu lịch sử, văn hóa thường nghiên cứu văn học để hình dung rõ nét hơn về bức tranh thời đại của quá khứ. Hiện thực được trình bày qua cái nhìn của các nhà văn luôn tỉ mỉ sinh động hơn những ghi chép lịch sử. Chúng ta biết được trình độ phát triển hàng hải của người Hy Lạp cổ đại qua hành trình chinh phục biển cả của Odyssey. Ta thấy được sự khốc liệt của những cuộc Thập tự chinh thế kỷ 11 qua câu chuyện của chàng Roland vì kiên quyết chống cự với người Hồi Giáo mà hy sinh trong Trường ca Roland của Pháp. Ta thấy một bức tranh xã hội hỗn loạn nơi đức tin tôn giáo bị lợi dụng và con người chịu cảnh lầm than vì dịch hạch trong tác phẩm Mười Ngày của Boccacio. Hay trong Kinh thi, đời sống của nhân dân Trung Hoa thời Tây Chu- Xuân Thu hiện lên cụ thể, sinh động qua các hoạt động đời thường:
"Cát chi đàm hề
Dị vô trung cốc
Duy diệp mịch mịch
Thị ngải thị hoạch
Vi si vi khích
Phục chi vô dịch" (Cát đàm)
Văn chương đã lưu giữ những nét đời nhỏ nhặt mà con người, trong hành trình vội vã tới tương lai, đã bỏ quên. Những tiếng nói tâm tình thầm thì vốn không có chỗ trong đời sống xã hội huyên náo được ký thác vào thơ văn. Một câu "phục chi vô dịch" hé lộ một nét tâm lý của con người: Người ta thường trân quý những gì mình nhọc công làm nên. Đó là một nét rất mờ nhạt, mong manh trong tâm hồn mà con người rất dễ quên đi. Văn chương không nô lệ lịch sử mà qua việc phản ánh lịch sử thời đại, nó lưu giữ những tiếng nói tâm hồn con người. Đọc văn chương ta được gợi nhớ lại những ký ức, cảm xúc ngỡ đã lãng quên, những tâm sự riêng tư không được lịch sử thừa nhận. Lịch sử chỉ ghi lại những cuộc khởi nghĩa nông dân thất bại một cách hời hợt, làm phông nền cho những cuộc cách mạng mang tính bước ngoặt. Nhưng thơ văn không bỏ rơi con người trong chính những cơn biến loạn lịch sử đó. Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc của Nguyễn Đình Chiểu không chỉ là khúc tráng ca cho một thời kỳ lịch sử đau thương nhưng vĩ đại của dân tộc, mà còn là khúc bi ca về những con người sẵn sàng trả giá máu để sống và chết như một con người:
"Những lăm lòng nghĩa lâu dùng;
Đâu biết xác phàm vội bỏ.
Một chắc sa trường rằng chữ hạnh,
Nào hay da ngựa bọc thây;
Trăm năm âm phủ ấy chữ quy,
Nào đợi gươm hùm treo mộ."
Cái nghĩa khí của những người lính nông dân ấy là dẫu biết đấu tranh là tìm đến cái chết, là phải rơi vào cảnh "da ngựa bọc thẩy", để lại "mẹ già ngồi khóc trẻ", "vợ yếu chạy tìm chồng", nhưng họ vẫn đấu tranh để sống không hổ thẹn, không cam phận sống chung với giặc mà quên đi cảnh đọa đày, nô lệ- "Thà thác mà đặng câu địch khái, về theo tổ phụ cũng vinh". Tinh thần đấu tranh ấy khác với những người lính thôn quê trong nghĩa quân Nhạc Thiên Nghĩa mà Lý Nhuệ nhắc đến trong Ngân Thành Cố Sự. Nhạc Thiên Nghĩa muốn lật đổ nhà Thanh đang trên bờ vực suy tàn để giành lấy thiên hạ, để đổi lại cảnh khốn quẫn ông đã phải chịu trong quá khứ. Một bên đấu tranh vì lòng nghĩa, một bên lại được thúc đẩy bởi tham vọng, nhưng tất cả đều trở thành những nạn nhân trong guồng quay nghiệt ngã của lịch sử, đều là những phận người mỏng manh trước sự uy hiếp của súng đạn, gươm dao. Văn học không phải bao giờ cũng là khúc khải hoàn của chiến thắng, mà còn nói lên những thất bại, mất mát, những nỗi đau thầm kín nhưng không thể nào nguôi trong con người. Lịch sử cắt qua phận người những nhát dao lạnh lẽo, nó đẩy A Quy vào cái chết mà chính hắn cũng không hiểu (A Quy chính truyện, Lỗ Tấn), nó cướp đi mối tình đầu trong sáng của cuộc đời Kiên (Nỗi buồn chiến tranh, Bảo Ninh), nó cắt lìa con người khỏi quê hương mình trong những cuộc ra đi đâyf chết chóc (Thuyền, Nguyễn Đức Tùng). Văn học lưu giữ những cảm xúc mong manh, những nỗi đau không cất thành tiếng, những giọt nước mắt âm thầm cũng là đang giữ lại những gì nhân văn, nhân bản muôn thuở trong con người. Thơ văn có thể không hữu dụng với đời sống thực tế nhưng chính vì vậy nó mới bảo vệ cho những điều không thể bị lợi dụng- tính người trong con người. Nguyễn Tiến Thịnh từng tuyên ngôn về sự viết của mình: "Tôi viết để làm chứng cho những gì không ai hỏi tới, cho những điều không ai ghi chép, cho một phần bản thể không ai nhớ hộ." Và chính vì vậy thơ văn là "lịch sử thơ nhân thể" (Chế Lan Viên), là "biên niên sử của nỗi đau" (Nguyễn Khoa Điềm), của tâm hồn con người.
Văn chương là nghệ thuật dệt nên giấc mơ bằng ngôn ngữ. Giá trị nhân đạo của tác phẩm văn học không chỉ nằm ở sự phê phán cái ác, ngợi ca cái thiện, mà còn nằm ở những giấc mơ mà người viết gửi gắm, cũng chính là niềm tin vào chiến thắng chung cuộc của những điều tốt đẹp, dù thiện ác cứ tương tranh mãi. Dù quá khứ và hiện tại có hạnh phúc hay đáng cay, con người vẫn khao khát được sống. "Khao khát ấy khiến con người trở nên hèn mạt, nhưng chính những ai nghĩ con người hèn mạt cũng là những kẻ hèn mạt!" (Dostoevsky). Sống không chỉ là tồn tại vật chất mà còn gắn với nhận thức, tình cảm, sự tự do, niềm tin vào những giá trị tốt đẹp. Tương lai mà văn học giúp ta chạm tới là tương lai trong tưởng tượng, một điềm báo, một dự phóng, một ước mơ. Tương lai đó không phải bao giờ cũng tốt đẹp, nhưng thái độ của nhà văn vẫn là hy vọng. Aitmatov đã cho ta thấy viễn cảnh tương lai khi con người đã phát triển tột bực về công nghệ vũ trụ và tìm thấy sự tồn tại của sự sống bên ngoài trái đất, trong tác phẩm Và một ngày dài hơn thế kỷ. Trong viễn cảnh ấy, những con tàu chở nhiên liệu sẽ hoạt động liên tục, phá vỡ sự thinh lặng của một thung lũng rộng lớn, nghĩa trang lòng mẹ bị san phẳng, các giá trị tinh thần sụp đổ. Lá thư mà người phi hành gia ở hành tinh Ngực Rừng gửi về như lời cảnh tỉnh của tương lai đối với hiện tại: "Tôi không biết làm thế nào chúng ta có thể bắt tay với hành tinh khác khi mà chính chúng ta còn chia rẽ, đày ải lẫn nhau." Những nhà văn lớn đồng thời cũng là nhà tư tưởng lớn, tư tưởng của họ đối thoại với quá khứ, tác động đến tương lai một cách sâu sắc. Trước khi Zarathoustra của Nietzsche xuất hiện và tuyên bố "Thượng đế đã chết, hãy tự mình trịnh đoạt", thì Raskolnikov trong Tội ác và trừng phạt của Dostoevsky đã muốn làm một con người siêu nhân, phán xét loài người thay cho Thượng đế. Theo lý lẽ của anh, một con người vĩ đại có thể giết chết một người khác vì lợi ích chung của nhân loại và tự do là thoát khỏi mọi ràng buộc đạo đức. Những lý lẽ đáng sợ ấy rút cạn sự day dứt của lương tri bên trong con người. Nó khiến người ta sẵn sàng hãm hại người khác và rồi ném chính họ vào ngục tù tội ác. Nhà văn đã gióng lên một hồi chuông cảnh tỉnh, đã nói với những con người trong thời đại của chủ nghĩa hư vô đạo đức về vẻ đẹp bất diệt của tình yêu, sự cứu rỗi của đức tin và sự sám hối. Nhưng rồi chưa đầy một thế kỷ sau, Phát xít Đức đã lợi dụng những lời nói của Zarathustra để cổ suý cho Chủ nghĩa Quốc xã, thực hiện những cuộc diệt chủng kinh hoàng trong lịch sử nhân loại. Phải chăng văn chương luôn bất lực trong việc hãm lại bánh xe điên cuồng của lịch sử? Hay chính vì thời đại luôn phớt lờ những ước vọng tốt đẹp của con người, tham vọng luôn cố gắng gạt bỏ những nỗi đau của phận người, mà văn học càng trở thành tiếng nói thiết tha cho những mộng ước, chiêu tuyết cho số phận bị những lời dối trá làm cho chết ngạt. Văn học là lời cầu nguyện thì thầm cho hạnh phúc, cái đẹp và tình người. Giữa cơn diên cuồng của chiến tranh, thảm họa, ta chỉ chờ một câu thơ, một lời văn khẽ vang lên:
"Ngày mai trọn phận người dân nước
Vó ngựa xin dừng trước mái tranh
Để ngắm ai xưa ngồi dệt lụa
Má đào còn thắm tóc đương xanh" (Ngân Giang)
Văn chương luôn hướng ta đến một ngày mai tươi đẹp, nhưng đó là một tương lai mơ hồ, một bến bờ không biết ngày nào đến. Tương lai khi đó trở thành một ảo ảnh đã mất, một sự ngóng vọng thuộc về quá khứ. "Thơ luôn nhuốm màu hoài niệm, mất mát, bất khả vãn hồi" (Bataille). Tác phẩm văn học là điểm gặp gỡ giữa quá khứ và tương lai, bởi một mặt, ký ức được kéo về hiện tại, mang tính cập thời- quá khứ được phục sinh, mặt khác nó biến khoảng cách xa vời giữa hiện tại và cái đẹp tuyệt đích trong tương lai trở thành khoảng cách của khoái cảm thẩm mỹ- tương lai được hiện diện trong thực tại. Như vậy, văn chương vang lên trong trải nghiệm đọc của ta ở hiện thời, nhưng gắn chặt vào mảnh đất quá khứ, đồng thời hướng ta đến khung trời tương lai khoáng đạt. Nó không khiến ta quên, cũng không để ta thoát ly khỏi cuộc đời. Vì vậy, nó giữ ta ở lại với cuộc chơi làm người. Ta có một cội nguồn để nhớ, một tương lai để vun trồng.
Con người luôn tồn tại trong những giới hạn. Giới hạn bên ngoài là không gian, thời gian sống- những giới hạn tất yếu mang tính bản chất của sự sống. Nhưng đa số những tù hãm là do con người tự vạch ra biên giới cho mình- những biên giới trong thế giới tinh thần tưởng chừng không bao giờ có thể thay đổi. Văn chương giúp ta phá vỡ những thiên kiến nhận thức bằng cách khám phá đời sống và tâm hồn con người "ở những tầng mức và chiều sau đáng kinh ngạc" (Thanh Thảo). Nó không chỉ cho ta lĩnh hội những cái biết thông thường mà buộc ta phải dừng lại để cảm nhận, tư duy về đời sống. Bằng cách xây dựng hình tượng, phục dựng đời sống sinh động bằng ngôn ngữ, văn học "khám phá chân lý trong hình thức cảm tính" (Hegel), tức là sự hiểu đã đi qua những trăn trở của tâm hồn. Tiểu thuyết Đời nhẹ khôn kham của Milan Kendera không chỉ đơn thuần kể lại những biến loạn trong lịch sử cộng hòa Czech khi bị Liên Xô chiếm giữ sau sự kiện Mùa xuân Praha 1968 mà trung tâm của câu chuyện diễn ra trong bối cảnh lịch sử ấy là những suy ngẫm về yếu tính của một dân tộc, về ý nghĩa của những cuộc diễu hành giả tạo, về cái nặng và nhẹ của lịch sử, của đời người. Nhà văn ngẫm nghĩ về hiện thực: "Lịch sử nhẹ như đời sống cá nhân con người, nhẹ khôn kham, nhẹ như lông hồng, nhẹ như hạt bụi, cuốn lên không trung, như cái gì ngày mai không tồn tại." Tất cả những gì thuộc về con người đều trở thành hư vô, nhưng ngay trong thực tại lại là điều hệ trọng mà con người có trách nhiệm mang vác. Một nhận thức lớn lao hơn chính lịch sử được gợi lên từ câu hỏi: Nếu có người không chịu gánh nặng của sự hữu hạn của một đời sống không thể tái sinh, liệu lịch sử có bớt bất hạnh hơn không? Nhận thức ấy cũng phá vỡ tính thiêng liêng và quan niệm về sự tất yếu của lịch sử. Nhận thức mà văn học mang lại cho ta là sự nhìn nhận lại những điều đã bị thói quen, làm cho lu mờ. Ta vượt qua những định kiến hẹp hòi để đối diện với bản chất người. Đọc văn là lắng nghe thế giới để rồi tìm lại chính mình, tự quan sát, lý giải những tiến trình tinh thần phức tạp trong mình. Người ta gọi tên thủ pháp miêu tả tâm lý đặc trưng của Tolstoy là "phép biện chứng tâm hồn", nghĩa là những ý nghĩ, tình cảm trong tâm hồn nhân vật được miêu tả trong dòng chảy liền mạch, đan bện, tác động lẫn nhau, khởi sinh và biến mất theo quy luật tâm lý con người. Anna Karenina đau xót khi không được gặp lại con trai, chợt nhận ra mình đã hy sinh quá nhiều cho tình yêu với Vronxki, càng nhận ra sự hy sinh nàng càng ghen tuông đau khổ, càng ghen tuông nàng càng muốn chết để được mong nhớ, yêu thương. Người đọc hòa vào dòng tâm trạng của nhân vật, hóa thân vào nhân vật để rồi thấy rõ những nghịch lý bên trong mình, nguyên cớ của sự tự hành hạ. Những rào cản trong nhận thức chiến ta "thấy núi không là núi, sông không là sông", nhưng khi đã soi mình trong tác phẩm, thấy mình trong nhân vật, ta lại nhận ra "núi là núi, sông là sông". Văn học đã hóa giải những mâu thuẫn bên trong để ta trở về với bản thể nguyên nguyên của mình.
Văn chương không chỉ là chiếc gương để ta tự nhận thức mình mà còn bắc cầu cho ta gặp gỡ và thấu cảm với tâm hồn kẻ khác. Nó cơi nới buồng tim con người, rót vào đó những tình cảm đẹp, nguyện cầu cho tình yêu, sự bao dung. Thần thoại kể rằng Prometheus đã giấu trái tim con người sâu trong lồng ngực, khiến việc nhìn thấu tâm tình kẻ khác thành điều bất khả. Nếu không có văn chương, ta chỉ vui buồn cho những điều quanh quẩn trong cuộc sống cá nhân mình. Ta thấy mình lẻ loi và cô độc. Ngôn ngữ văn chương có khả năng biểu đạt trực giác mong manh mơ hồ nhất, diễn tả những trạng thái tâm lý phức tạp nhất. Để rồi khi đọc văn, ta buồn vui với cuộc đời người khác, ta khóc cười cho một nhân loại rộng lớn hơn ta và ở bên trong ta. Ta thấy vui chung, nỗi lưu đầy giữa thế gian:
"Ai mơ mà nhặt câu thề
Khói nhang có hẹn mai về cố hương
Một ngàn sóng tóc yêu thương
Làm sao cho ấm tình thương lạc loài" (Hoài Khanh)
Ta thấy ta trong nỗi niềm và ước mơ chung của phận người gian khổ:
"Tôi không mong làm người nữa đâu
Mà xin làm bầu rượu
Cho lòng chan chứa
Sake nhiệm mầu" (Tabito)
Ta thấy ta trong sự tồn tại của vạn vật, trong sự ngóng vọng về nguồn:
"Tôi là áng mây trôi
Nhớ nguồn xưa dưới núi
Tôi là một con suối
Nhớ nguồn xưa bên trời" (Nhật Chiêu)
Ta chợt thoát khỏi vòng luẩn quẩn của những lo toan thường nhật, những tình cảm nhỏ nhoi để chìm vào những rung cảm sâu xa, mãnh liệt, khó nói thành lời. Trong thế giới của văn chương, không còn hận thù, ganh ghét, chỉ có một nỗi buồn im lặng và thiêng liêng dường như nối kết tất cả chúng ta lại với nhau. Văn chương khiến "người gần người hơn". Khả năng giáo dục đạo đức, phẩm chất của văn học không nằm ở những lời hùng biện, răn đe mà bắt nguồn từ sự kết nối sâu xa với tính người và con người. Một tình yêu chân thành, quảng đại sẽ xóa bỏ mọi biên giới của địch và ta, ác và thiện. Chỉ trong văn chương, một tên tội đồ không thể được tha thứ của nạn nhiệt chủng mới được lắng nghe trong tư cách con người: "Ta đau đớn. Một thanh gươm buốt giá đang rạch từ tim đến gan ruột ta, máu ta lai láng, vậy mà không ai nhận ra điều đó ư? Không ai nhìn thấy nỗi bất hạnh đang đèn nặng lên ta ư?". Lời độc thoại ấy của nhân vật Adolf Hitler trong Nửa kia của Hitler của tác giả Erich Schmitt đã nhìn lại cái ác trong cội nguồn và chuỗi diễn biến đầy dằn vặt của nó, cho thấy tình thế khó khăn vô cùng của tồn tại người. Văn chương là hành trình suy nghiệm bên kia thiện ác, vượt ngoài sự phân định cố hữu trong tâm trí con người.
Nghệ thuật phá bỏ những biên giới về khả năng thưởng thức cái đẹp của con người. Văn chương là nghệ thuật ngôn từ và nó có khả năng nuôi dưỡng những cảm xúc thẩm mỹ, nâng cao năng lực, thị hiếu thẩm mỹ của người tiếp nhận. Nguyễn Quân cho rằng nghệ thuật là sự dư thừa của cảm xúc ngũ quan, tức là các giác quan được huy động cho nghệ thuật không phục vụ cho mục đích sinh tồn cụ thể trước mắt. Nghệ thuật đẩy lùi tính mục đích của đời sống và cuốn con người vào niềm vui hồn nhiên của khoảnh khắc thực tại. Những ai còn giữ được niềm vui hồn nhiên trước cái đẹp, thì còn giữ được nỗi lo âu và cả lòng ham sống của một phận người hữu hạn. Những đường biên của quan niệm thẩm mỹ cũng không ngừng bị sáng tạo nghệ thuật phá vỡ, cùng với đó là những quy chuẩn cũ kỹ khắt khe trong đời sống tinh thần cũng bị xóa bỏ. Đọc thầm một câu ca dao, ta cũng thấy lòng mình chợt trở nên trìu mến:
"Giữa đường nhặt cánh hoa rơi
Hai tay nâng lấy của người mới ta"
Lặng lẽ nằm yên trong một góc tâm hồn, nhưng một lúc nào đó câu ca dao nhắc nhở ta dừng lại và nâng niu một vẻ đẹp mong manh là giữa đường đời gió bụi. Thơ ca phủ lên cảnh sắc cuộc đời màu sắc mới mẻ của tình cảm, của sự tưởng tượng để rồi ta biết rung cảm, xao xuyến với chính cuộc đời ấy:
"Mây đi vắng, trời xanh buồn rộng rãi
Sông im dòng, đọng nắng đứng không trôi" (Anh Thơ)
Nghệ thuật không chỉ phát hiện, phản ánh mà còn điển hình hóa, khái quát hóa vẻ đẹp đời sống, biến vẻ đẹp ấy trở thành bất tử. Ngôn từ nghệ thuật trong văn chương tạo nên những tác động thẩm mỹ kép, vừa tạo nên khoái cảm của giác quan nhờ thanh âm, vừa tạo nên sự hân hoan trong tưởng tượng, trong đời sống cảm xúc nhờ khả năng gợi hình và biểu cảm của nó. Cái đẹp trong đời sống tồn tại một cách khách quan và tự thân, nhưng dường như cái đẹp trong nghệ thuật luôn cộng hưởng với tiếng lòng con người, nảy sinh trong mối quan hệ với con người. Trong truyện Những người thợ xẻ, câu văn trò chuyện với hoa ban xuất hiện nhiều lần như một lời thơ da diết, thể hiện nỗi buồn miên man của Nguyễn Huy Thiệp về sự tàn phai của cái đẹp: "Bạt ngàn là hoa ban trắng, một màu trắng đến nao lòng. Này hoa ban, một ngàn năm sau nữa thì ngươi có còn trắng đến thế không?". Sắc trắng tinh khiết đến nao lòng ấy cũng hiện hiện ở nhân vật Diệu Nương trong truyện ngắn Gió dại của Bảo Ninh- một "giọng ca tuyệt vời, thảng thốt" bị vùi dập trong lửa đạn chiến tranh, chỉ vì những bài ca cô hát được gắn nhãn là ca khúc ngụy. Tuấn và Diệu Nương, hai con người muốn chạy trốn khỏi trật tự chiến tranh để tìm đến những bài ca tự do và hạnh phúc đã bị xả súng dã mang. "Tôi", một người lính Bắc Việt đã kể lại trong sự ăn năn sám hối: "Chúng tôi đã bắn chết những người báo trước hòa bình, vậy mà hòa bình vẫn đến." Văn chương không chỉ lôi cuốn con người vào sự thưởng ngoạn cái đẹp, mà còn buộc họ phải trăn trở về sự tồn vong của nó. Người không chỉ thụ hưởng cái đẹp, mà còn nhận ra trách nhiệm của chính mình với nó, cũng như với nhân tính, lương tri bên trong mình. Văn chương nghệ thuật cũng không ngừng tạo ra cái mới trong hình thức, đề xuất những cái lạ thường, độc sáng để tạo nên những ấn tượng thẩm mỹ mới cho người đọc. Khả năng phá vỡ và xác lập khuôn mẫu, quan điểm thẩm mỹ không chỉ là sự vận động tự thân của văn học, mà còn giải phóng tiếng nói tâm tình của con người ra khỏi những "gò bó lỗi thời và phi nhân tính" (Lê Đạt). Maiakovsky đã khai sinh hình thức thơ bậc thang ở Nga:
"Máu ta đỏ
Không pha nước lã
Chúng ta đi
Đạn sủa sau lưng
Để khi chết
Chúng ta sẽ hóa
Thành những con tàu
Thành những bài thơ
Hoặc thành những gì gì khác nữa.." (Trần Dần dịch)
Hình thức thơ ấy không chỉ tạo ấn tượng thị giác, quy định nhịp điệu thơ mà còn có tác dụng nhấn mạnh các từ, cụm từ, tạo ấn tượng về điểm rơi tâm trạng, sự phân mảnh, rạc rời, ngổn ngang của dòng ý nghĩ. Trước đó, Baudelaire đã từng táo bạo miêu tả cận cảnh một xác người:
"Ruồi nhặng vo ve quanh cái xác người thối nát
Nhung nhúc những đoàn quân tối đen
Giòi bọ chảy như một dòng nước đặc
Quanh đống thịt da rách tã, nát băm" (Vũ Đình Liên dịch)
Miêu tả như thế để thấy sự trụi trần của cái chết, thấy sự thật rằng rồi đây thân xác ai cũng sẽ rữa nát, thối tha. Nhưng chính vì thế mà tình yêu thân xác ấy để lại thế gian càng là tinh hoa, thiêng liêng, huyền ảo. Ta bắt gặp ý tưởng ấy trong một câu thơ của Nguyễn Duy:
"Rồi em sẽ già như bà vũ sư kia
Còn lại muôn đời là điệu múa
Cái đẹp giương cao ngọn cờ bất diệt"
Văn chương dẫn ta đi qua biên giới của những quy phạn, chuẩn mực cộng đồng đã thành thói quen, thị hiếu tiếp nhận của chính ta, chỉ cho ta thấy những sáng tạo mới mẻ, độc đáo tưởng như không thể chấp nhận được. Nhưng sau đó nó giúp ta nhận ra tất cả là sự cựa mình đấu tranh của mỗi nhà văn và của chính văn học nhằm thoát khỏi những giới hạn nội tại, cũng như những quy định ngặt nghèo của xã hội, khiến con người thỏa hiệp với sự tù túng, dễ dãi, nô lệ. Sự phát triển về năng lực, thị hiếu thẩm mỹ cũng là sự phát triển về trình độ văn hóa, năng lực tưởng tượng và sáng tạo. Từ đó con người ý thức rõ hơn những cảnh huống đời sống đang vây lấy chính mình và người khác, những bó buộc tầm thường trong đời sống và có ước mơ tạo nên một tương lai khác, nơi con người được tự do và cái đẹp đích thực được sống mà không phải đi đêm trong lịch sử.
Nhà thơ Lê Đạt từng chia sẻ: "Đọc một câu thơ hay, ta thường có cảm giác đứng trước một bến đò gió nổi, một khao khát sang sông, một thúc đẩy lên đường hướng thiện, tới vùng trời tốt đẹp hơn, nhân tính hơn." Trải nghiệm văn chương dường như có cái gì nhiệm màu đẹp đẽ. Trong một khoảnh khắc ta vừa trở về cội nguồn quá khứ, ta vừa hướng đến những ước mong tương lai, vừa nhận thức mình, vừa hiểu hơn về người khác và vượt qua những giới hạn của chính mình trong việc cảm thụ cái đẹp. Tất cả những điều ấy không diễn ra tức thời, hoành tráng như một màn ảo thuật đầy lừa mị, mà chậm rãi, im lặng, dường như không thể ý thức được và có cái gì xót xa, đau đớn trong hành trình đơn độc của việc đọc, hành trình dần thấu sốt những chân lý giản dị mà nghiệt ngã của cuộc đời. Văn học nghệ thuật không thể giúp ta có được cuộc sống sung túc, ấm no, nhưng giúp ta biết trân trọng hơn mỗi khoảnh khắc được vui hưởng ân huệ của cái đẹp và tình yêu, nâng đỡ và cổ vũ ta tiếp tục lựa chọn sự sống. Văn học không giúp ta vượt qua cái chết, nhưng giúp ta sống trọn vẹn là mình, cho ta ước mơ về những giá trị vĩnh cữu để không vội vàng bán rẻ lương tâm. Có khi văn dương giúp ta có thể khảng khái lựa chọn: "Để bảo vệ sự sống, tôi chọn cái chết" (Văn Cao). Nhà thơ Henrik Heine nở nụ cười như đứa trẻ và nói: "Nếu chúng ta bất tử thì chán biết bao!". Nếu không có cái chết, chẳng còn suy tư, chẳng còn nghệ thuật nữa. Con người nương tựa vào nghệ thuật để sống, và nghệ thuật cũng nương tựa vào chúng ta để hiện diện trong cuộc đời.
Văn chương có khả năng giúp người đọc phá vỡ những giới hạn khi và chỉ khi người sáng tạo ra nó đã vượt qua những giới hạn. Viết văn không quan trọng là chuyện viết được bao nhiêu, bán được bao nhiêu cuốn sách, mà trước hết công việc sáng tạo ấy phải hệ trọng đến mức khiến người viết "sung sướng trong tan nát" (Nguyễn Huy Thiệp). Nhà văn phải trung thực khi nói về thời đại mình, trung thực khi nói ra những nỗi đau và sự sợ hãi bị đè nén trong con người, mà để nói thật, nhiều khi người ta cần có bản lĩnh, sự can đảm. Nếu nhà văn chưa cởi trói cho chính mình khỏi cái nhìn hạn hẹp đầy định kiến về đời sống và con người, thì cũng không thể mong cởi trói cho ai khác. Có những nhà văn chạy theo trào lưu viết về tính dục, cho rằng đó là mới, là hay, là giải phóng con người khỏi những ràng buộc đạo đức. Nhưng nếu không có tầm tư tưởng và khả năng tạo dựng hình thức nghệ thuật giàu tính thẩm mỹ, sự miêu tả dục tính chỉ làm thấp đi nhân vị, phẩm giá con người, ném con người vào bản năng thú vật thuần tuý. Tự do bản năng theo Kant chưa bao giờ là thứ tự do đích thực, đôi khi phải có một số gò bó nhất định, con người mới thật là người. Hành trình tìm tòi sáng tạo nghệ thuật cũng là hành trình mỏi mỏi và dằn vặt, "càng đi càng khát những chân trời" (Vũ Quần Phương). Nhưng những biên giới vẫn còn ở đó mãi, những đường biên trong sâu thẳm tâm thức con người và những giới hạn của tồn tại người vừa là động lực vừa tạo nên ý nghĩa cho văn chương nghệ thuật.
Mỗi chúng ta là những người bộ hành trong bức tranh Chiếc xe thồ cỏ của Bosch. Chúng ta ngoảnh nhìn lại đoạn đường ta đã đi qua, nhìn lại những dãy núi xanh thẳm yên bình mà từ đó ta đã ra đi. Nhưng đôi chân ta vẫn hướng về phía trước, dù phía trước ta là một chiếc cầu nhỏ hẹp chênh vênh. Văn chương, nghệ thuật có thể là chiếc gậy gỗ trong tay kẻ bộ hành đơn độc ấy, không can dự đến đói no, sống chết của số phận, nhưng nâng đỡ người trong những lúc mỏi chân yếu lòng. Mấy mươi năm sau khi Nguyễn Nguy Thiệp trăn trở, hàng trăm năm sau khi Nguyễn Du khóc thương, ta thấy văn chương vẫn còn sống dù kiêu hùng hay gian khổ, nhọc nhằn.
*
Một vài điều bài viết cần cải thiện:
- Các luận điểm được triển khai tốt về mặt nội dung và triết lý, nhưng đôi khi chưa đủ sâu về mặt nghệ thuật.
- Do bài viết rất dài và chứa nhiều ý tưởng, một số đoạn trở nên quá tải. Các câu chuyển ý hoặc câu chủ đề (topic sentences) ở đầu đoạn cần mạnh mẽ và rõ ràng hơn để dẫn dắt người đọc, giúp bài viết có tính "bản đồ" (map) rõ rệt hơn.
- Hệ thống lớn (bố cục 3 phần: Quá khứ, Tương lai, Phá vỡ giới hạn) có, nhưng hệ thống nhỏ (logic chuyển đoạn) chưa chặt chẽ, dẫn đến sự chồng chéo ý. Cần tăng cường câu chủ đề: Mỗi đoạn cần có một câu đầu tiên tổng quát hóa và tách biệt hoàn toàn ý chính của đoạn đó với các đoạn khác. Nên bắt đầu mỗi đoạn bằng một câu ngắn gọn, rõ ràng, giới thiệu ý chính. Bên cạnh đó nên giảm mật độ dẫn chứng.
- Cần củng cố kỹ năng kiểm soát cấu trúc: Sắp xếp các tài liệu, ý tưởng thành hệ thống chặt chẽ hơn, tránh lỗi về bố cục.
- Mục tiêu của nghị luận là thuyết phục bằng sự rõ ràng, không phải gây choáng ngợp bằng sự phức tạp. Phải chọn lọc những dẫn chứng sắc bén nhất và dùng một ngôn ngữ phân tích tỉnh táo, khách quan hơn để làm nổi bật logic.
Ví dụ một đoạn chặt chẽ, có logic hơn:
Văn chương chạm tới tương lai bằng cách đưa ra những lời cảnh báo về sự sụp đổ của các giá trị đạo đức, qua đó bảo vệ niềm tin vào tính người. Tiêu biểu, tiểu thuyết Tội ác và Trừng phạt của Dostoevsky đã tiên tri về chủ nghĩa hư vô bằng nhân vật Raskolnikov. Anh ta tự cho mình là "người siêu nhân" có quyền vượt qua mọi rào cản đạo đức, bao gồm cả quyền sát nhân, vì lợi ích lớn hơn. Lý thuyết đáng sợ này đã gióng lên hồi chuông cảnh tỉnh về một tương lai mà sự tự do bị tách rời khỏi lương tri. Sự kiện lịch sử sau này chứng minh những tư tưởng tương tự (như sự diễn giải sai lệch về Nietzsche) có thể bị lợi dụng cho mục đích hủy diệt (Chủ nghĩa Quốc xã). Do đó, vai trò của văn chương không phải là ngăn cản hành động lịch sử, mà là đưa ra lời cảnh báo sớm về hệ quả của sự tha hóa tinh thần, và thiết tha bảo vệ những giá trị nhân bản cơ bản nhất.
- Bài viết của Thuỷ Tô-
Hãy viết bài văn bình luận về ý kiến trên.
Bài viết:
Dường như sự tồn tại của văn chương luôn bị hoài nghi, chất vấn về ý nghĩa. Từ thế kỉ 18, Nguyễn Du cất lời than thở: "Văn chương quang diễm thành hà dụng?". Nhà văn Nguyễn Huy Thiệp sau này cũng đau đáu với câu hỏi: "Có nghĩa lý gì khi xây lâu đài cát trên bờ biển xanh?". Càng tha thiết với văn chương, người ta mới càng trăn trở về giá trị của nó, giữa một thế giới rạn vỡ, đầy bất an. Gắn bó với thơ ca, Nguyễn Quang Thiều lại đặt niềm tin vào nó: "Có những câu thơ, bài thơ vang lên dẫn chúng ta trở về quá khứ, chạm tới tương lai và phá vỡ những biên giới tưởng không bao giờ có thể thay đổi trong sâu thẳm con người mình." Theo nhận định ấy, thơ ca nói riêng và văn chương nói chung, bằng chất liệu ngôn từ, có khả năng giải phóng con người ra khỏi những giới hạn của thời gian và những biên giới cố hữu trong thế giới tinh thần.
Những đặc điểm mang tính hình thức khu biệt thể loại thơ và thể loại truyện, nhưng giá trị văn chương và vẻ đẹp ngôn từ nối kết các thể loại lại với nhau. Nghĩ về giá trị và sức sống của thơ cũng là nghĩ về sức sống của truyện kể, của văn chương nói chung. Trong cách nói của Nguyễn Quang Thiều, khi bài thơ "vang lên" nghĩa là nó tái sinh trong tâm trí độc giả, giá trị của tác phẩm chỉ phát lộ khi nó tương tác đối thoại với tâm hồn người đọc. Nhà văn là người đọc đầu tiên của tác phẩm mình viết, và dù đã từng tận tác phẩm do chính mình tạo ra, người vẫn sẽ đối diện với nó bằng tâm thế mới, tâm thế của một kẻ khác đi tìm lại phần đời đã qua. Chúng ta là người đọc cá thể, cũng là một cộng đồng diễn giải. Đọc văn chương, ta trở về quá khứ và chạm tới tương lai, nghĩa là tìm lại những sự thật lịch sử, sự thật tâm hồn và hướng đến những ước ao, hy vọng. Văn Chương phá vỡ những biên giới trong sâu thẳm con người: Giới hạn của nhận thức, sự hẹp hòi trong tình cảm, sự cạn cợt trong việc cảm nhận cái đẹp, rồi từ đó hướng con người đến sự hoàn thiện. Ta biết văn chương không phải cái toàn năng, cái siêu việt nhất trong đời sống con người, nhưng qua nhận định của Nguyễn Quang Thiều, ta hiểu văn chương không bao giờ là một thứ ráo cạn về giá trị, nó vẫn xứng đáng để con người đặt niềm tin.
Văn chương là nơi bảo lưu ký ức và giúp con người tìm lại ký ức. Những ký ức không được hồi tưởng lại hay đặt vào bối cảnh mới sẽ trở thành những dữ kiện chết, sẽ bị lãng quên. Mà một nhân loại không có lịch sử là nhân loại trống rỗng, nghèo nàn. Một con người không có ký ức là con người phi nhân tính, phi bản sắc. Viết văn là một cách con người bảo lưu quá khứ và phục sinh quá khứ. Nó không hẳn là vì sứ mệnh thời đại hay vì một mục đích rõ ràng như lịch sử. Mà văn chương đơn thuần là sự chiêm nghiệm về cái đã qua, là sự ưu tư về cuộc sống con người. Con người lại luôn sống trong hoàn cảnh lịch sử cụ thể. Ngôn ngữ văn chương lưu giữ cả nỗi đau và cái đẹp của những năm tháng mà con người đi qua, chứ không chỉ ướp xác sự kiện để trưng bày. Vì vậy mà bao giờ nó cũng giúp ta tìm lại dấu vết của một thời đã qua và dấu vết của tâm hồn con người. Hai điều ấy luôn song hành hòa quyện lẫn nhau.
Trong văn chương, không gian sống, bối cảnh, sự kiện trong quá khứ được phục dựng. Những nhà nghiên cứu lịch sử, văn hóa thường nghiên cứu văn học để hình dung rõ nét hơn về bức tranh thời đại của quá khứ. Hiện thực được trình bày qua cái nhìn của các nhà văn luôn tỉ mỉ sinh động hơn những ghi chép lịch sử. Chúng ta biết được trình độ phát triển hàng hải của người Hy Lạp cổ đại qua hành trình chinh phục biển cả của Odyssey. Ta thấy được sự khốc liệt của những cuộc Thập tự chinh thế kỷ 11 qua câu chuyện của chàng Roland vì kiên quyết chống cự với người Hồi Giáo mà hy sinh trong Trường ca Roland của Pháp. Ta thấy một bức tranh xã hội hỗn loạn nơi đức tin tôn giáo bị lợi dụng và con người chịu cảnh lầm than vì dịch hạch trong tác phẩm Mười Ngày của Boccacio. Hay trong Kinh thi, đời sống của nhân dân Trung Hoa thời Tây Chu- Xuân Thu hiện lên cụ thể, sinh động qua các hoạt động đời thường:
"Cát chi đàm hề
Dị vô trung cốc
Duy diệp mịch mịch
Thị ngải thị hoạch
Vi si vi khích
Phục chi vô dịch" (Cát đàm)
Văn chương đã lưu giữ những nét đời nhỏ nhặt mà con người, trong hành trình vội vã tới tương lai, đã bỏ quên. Những tiếng nói tâm tình thầm thì vốn không có chỗ trong đời sống xã hội huyên náo được ký thác vào thơ văn. Một câu "phục chi vô dịch" hé lộ một nét tâm lý của con người: Người ta thường trân quý những gì mình nhọc công làm nên. Đó là một nét rất mờ nhạt, mong manh trong tâm hồn mà con người rất dễ quên đi. Văn chương không nô lệ lịch sử mà qua việc phản ánh lịch sử thời đại, nó lưu giữ những tiếng nói tâm hồn con người. Đọc văn chương ta được gợi nhớ lại những ký ức, cảm xúc ngỡ đã lãng quên, những tâm sự riêng tư không được lịch sử thừa nhận. Lịch sử chỉ ghi lại những cuộc khởi nghĩa nông dân thất bại một cách hời hợt, làm phông nền cho những cuộc cách mạng mang tính bước ngoặt. Nhưng thơ văn không bỏ rơi con người trong chính những cơn biến loạn lịch sử đó. Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc của Nguyễn Đình Chiểu không chỉ là khúc tráng ca cho một thời kỳ lịch sử đau thương nhưng vĩ đại của dân tộc, mà còn là khúc bi ca về những con người sẵn sàng trả giá máu để sống và chết như một con người:
"Những lăm lòng nghĩa lâu dùng;
Đâu biết xác phàm vội bỏ.
Một chắc sa trường rằng chữ hạnh,
Nào hay da ngựa bọc thây;
Trăm năm âm phủ ấy chữ quy,
Nào đợi gươm hùm treo mộ."
Cái nghĩa khí của những người lính nông dân ấy là dẫu biết đấu tranh là tìm đến cái chết, là phải rơi vào cảnh "da ngựa bọc thẩy", để lại "mẹ già ngồi khóc trẻ", "vợ yếu chạy tìm chồng", nhưng họ vẫn đấu tranh để sống không hổ thẹn, không cam phận sống chung với giặc mà quên đi cảnh đọa đày, nô lệ- "Thà thác mà đặng câu địch khái, về theo tổ phụ cũng vinh". Tinh thần đấu tranh ấy khác với những người lính thôn quê trong nghĩa quân Nhạc Thiên Nghĩa mà Lý Nhuệ nhắc đến trong Ngân Thành Cố Sự. Nhạc Thiên Nghĩa muốn lật đổ nhà Thanh đang trên bờ vực suy tàn để giành lấy thiên hạ, để đổi lại cảnh khốn quẫn ông đã phải chịu trong quá khứ. Một bên đấu tranh vì lòng nghĩa, một bên lại được thúc đẩy bởi tham vọng, nhưng tất cả đều trở thành những nạn nhân trong guồng quay nghiệt ngã của lịch sử, đều là những phận người mỏng manh trước sự uy hiếp của súng đạn, gươm dao. Văn học không phải bao giờ cũng là khúc khải hoàn của chiến thắng, mà còn nói lên những thất bại, mất mát, những nỗi đau thầm kín nhưng không thể nào nguôi trong con người. Lịch sử cắt qua phận người những nhát dao lạnh lẽo, nó đẩy A Quy vào cái chết mà chính hắn cũng không hiểu (A Quy chính truyện, Lỗ Tấn), nó cướp đi mối tình đầu trong sáng của cuộc đời Kiên (Nỗi buồn chiến tranh, Bảo Ninh), nó cắt lìa con người khỏi quê hương mình trong những cuộc ra đi đâyf chết chóc (Thuyền, Nguyễn Đức Tùng). Văn học lưu giữ những cảm xúc mong manh, những nỗi đau không cất thành tiếng, những giọt nước mắt âm thầm cũng là đang giữ lại những gì nhân văn, nhân bản muôn thuở trong con người. Thơ văn có thể không hữu dụng với đời sống thực tế nhưng chính vì vậy nó mới bảo vệ cho những điều không thể bị lợi dụng- tính người trong con người. Nguyễn Tiến Thịnh từng tuyên ngôn về sự viết của mình: "Tôi viết để làm chứng cho những gì không ai hỏi tới, cho những điều không ai ghi chép, cho một phần bản thể không ai nhớ hộ." Và chính vì vậy thơ văn là "lịch sử thơ nhân thể" (Chế Lan Viên), là "biên niên sử của nỗi đau" (Nguyễn Khoa Điềm), của tâm hồn con người.
Văn chương là nghệ thuật dệt nên giấc mơ bằng ngôn ngữ. Giá trị nhân đạo của tác phẩm văn học không chỉ nằm ở sự phê phán cái ác, ngợi ca cái thiện, mà còn nằm ở những giấc mơ mà người viết gửi gắm, cũng chính là niềm tin vào chiến thắng chung cuộc của những điều tốt đẹp, dù thiện ác cứ tương tranh mãi. Dù quá khứ và hiện tại có hạnh phúc hay đáng cay, con người vẫn khao khát được sống. "Khao khát ấy khiến con người trở nên hèn mạt, nhưng chính những ai nghĩ con người hèn mạt cũng là những kẻ hèn mạt!" (Dostoevsky). Sống không chỉ là tồn tại vật chất mà còn gắn với nhận thức, tình cảm, sự tự do, niềm tin vào những giá trị tốt đẹp. Tương lai mà văn học giúp ta chạm tới là tương lai trong tưởng tượng, một điềm báo, một dự phóng, một ước mơ. Tương lai đó không phải bao giờ cũng tốt đẹp, nhưng thái độ của nhà văn vẫn là hy vọng. Aitmatov đã cho ta thấy viễn cảnh tương lai khi con người đã phát triển tột bực về công nghệ vũ trụ và tìm thấy sự tồn tại của sự sống bên ngoài trái đất, trong tác phẩm Và một ngày dài hơn thế kỷ. Trong viễn cảnh ấy, những con tàu chở nhiên liệu sẽ hoạt động liên tục, phá vỡ sự thinh lặng của một thung lũng rộng lớn, nghĩa trang lòng mẹ bị san phẳng, các giá trị tinh thần sụp đổ. Lá thư mà người phi hành gia ở hành tinh Ngực Rừng gửi về như lời cảnh tỉnh của tương lai đối với hiện tại: "Tôi không biết làm thế nào chúng ta có thể bắt tay với hành tinh khác khi mà chính chúng ta còn chia rẽ, đày ải lẫn nhau." Những nhà văn lớn đồng thời cũng là nhà tư tưởng lớn, tư tưởng của họ đối thoại với quá khứ, tác động đến tương lai một cách sâu sắc. Trước khi Zarathoustra của Nietzsche xuất hiện và tuyên bố "Thượng đế đã chết, hãy tự mình trịnh đoạt", thì Raskolnikov trong Tội ác và trừng phạt của Dostoevsky đã muốn làm một con người siêu nhân, phán xét loài người thay cho Thượng đế. Theo lý lẽ của anh, một con người vĩ đại có thể giết chết một người khác vì lợi ích chung của nhân loại và tự do là thoát khỏi mọi ràng buộc đạo đức. Những lý lẽ đáng sợ ấy rút cạn sự day dứt của lương tri bên trong con người. Nó khiến người ta sẵn sàng hãm hại người khác và rồi ném chính họ vào ngục tù tội ác. Nhà văn đã gióng lên một hồi chuông cảnh tỉnh, đã nói với những con người trong thời đại của chủ nghĩa hư vô đạo đức về vẻ đẹp bất diệt của tình yêu, sự cứu rỗi của đức tin và sự sám hối. Nhưng rồi chưa đầy một thế kỷ sau, Phát xít Đức đã lợi dụng những lời nói của Zarathustra để cổ suý cho Chủ nghĩa Quốc xã, thực hiện những cuộc diệt chủng kinh hoàng trong lịch sử nhân loại. Phải chăng văn chương luôn bất lực trong việc hãm lại bánh xe điên cuồng của lịch sử? Hay chính vì thời đại luôn phớt lờ những ước vọng tốt đẹp của con người, tham vọng luôn cố gắng gạt bỏ những nỗi đau của phận người, mà văn học càng trở thành tiếng nói thiết tha cho những mộng ước, chiêu tuyết cho số phận bị những lời dối trá làm cho chết ngạt. Văn học là lời cầu nguyện thì thầm cho hạnh phúc, cái đẹp và tình người. Giữa cơn diên cuồng của chiến tranh, thảm họa, ta chỉ chờ một câu thơ, một lời văn khẽ vang lên:
"Ngày mai trọn phận người dân nước
Vó ngựa xin dừng trước mái tranh
Để ngắm ai xưa ngồi dệt lụa
Má đào còn thắm tóc đương xanh" (Ngân Giang)
Văn chương luôn hướng ta đến một ngày mai tươi đẹp, nhưng đó là một tương lai mơ hồ, một bến bờ không biết ngày nào đến. Tương lai khi đó trở thành một ảo ảnh đã mất, một sự ngóng vọng thuộc về quá khứ. "Thơ luôn nhuốm màu hoài niệm, mất mát, bất khả vãn hồi" (Bataille). Tác phẩm văn học là điểm gặp gỡ giữa quá khứ và tương lai, bởi một mặt, ký ức được kéo về hiện tại, mang tính cập thời- quá khứ được phục sinh, mặt khác nó biến khoảng cách xa vời giữa hiện tại và cái đẹp tuyệt đích trong tương lai trở thành khoảng cách của khoái cảm thẩm mỹ- tương lai được hiện diện trong thực tại. Như vậy, văn chương vang lên trong trải nghiệm đọc của ta ở hiện thời, nhưng gắn chặt vào mảnh đất quá khứ, đồng thời hướng ta đến khung trời tương lai khoáng đạt. Nó không khiến ta quên, cũng không để ta thoát ly khỏi cuộc đời. Vì vậy, nó giữ ta ở lại với cuộc chơi làm người. Ta có một cội nguồn để nhớ, một tương lai để vun trồng.
Con người luôn tồn tại trong những giới hạn. Giới hạn bên ngoài là không gian, thời gian sống- những giới hạn tất yếu mang tính bản chất của sự sống. Nhưng đa số những tù hãm là do con người tự vạch ra biên giới cho mình- những biên giới trong thế giới tinh thần tưởng chừng không bao giờ có thể thay đổi. Văn chương giúp ta phá vỡ những thiên kiến nhận thức bằng cách khám phá đời sống và tâm hồn con người "ở những tầng mức và chiều sau đáng kinh ngạc" (Thanh Thảo). Nó không chỉ cho ta lĩnh hội những cái biết thông thường mà buộc ta phải dừng lại để cảm nhận, tư duy về đời sống. Bằng cách xây dựng hình tượng, phục dựng đời sống sinh động bằng ngôn ngữ, văn học "khám phá chân lý trong hình thức cảm tính" (Hegel), tức là sự hiểu đã đi qua những trăn trở của tâm hồn. Tiểu thuyết Đời nhẹ khôn kham của Milan Kendera không chỉ đơn thuần kể lại những biến loạn trong lịch sử cộng hòa Czech khi bị Liên Xô chiếm giữ sau sự kiện Mùa xuân Praha 1968 mà trung tâm của câu chuyện diễn ra trong bối cảnh lịch sử ấy là những suy ngẫm về yếu tính của một dân tộc, về ý nghĩa của những cuộc diễu hành giả tạo, về cái nặng và nhẹ của lịch sử, của đời người. Nhà văn ngẫm nghĩ về hiện thực: "Lịch sử nhẹ như đời sống cá nhân con người, nhẹ khôn kham, nhẹ như lông hồng, nhẹ như hạt bụi, cuốn lên không trung, như cái gì ngày mai không tồn tại." Tất cả những gì thuộc về con người đều trở thành hư vô, nhưng ngay trong thực tại lại là điều hệ trọng mà con người có trách nhiệm mang vác. Một nhận thức lớn lao hơn chính lịch sử được gợi lên từ câu hỏi: Nếu có người không chịu gánh nặng của sự hữu hạn của một đời sống không thể tái sinh, liệu lịch sử có bớt bất hạnh hơn không? Nhận thức ấy cũng phá vỡ tính thiêng liêng và quan niệm về sự tất yếu của lịch sử. Nhận thức mà văn học mang lại cho ta là sự nhìn nhận lại những điều đã bị thói quen, làm cho lu mờ. Ta vượt qua những định kiến hẹp hòi để đối diện với bản chất người. Đọc văn là lắng nghe thế giới để rồi tìm lại chính mình, tự quan sát, lý giải những tiến trình tinh thần phức tạp trong mình. Người ta gọi tên thủ pháp miêu tả tâm lý đặc trưng của Tolstoy là "phép biện chứng tâm hồn", nghĩa là những ý nghĩ, tình cảm trong tâm hồn nhân vật được miêu tả trong dòng chảy liền mạch, đan bện, tác động lẫn nhau, khởi sinh và biến mất theo quy luật tâm lý con người. Anna Karenina đau xót khi không được gặp lại con trai, chợt nhận ra mình đã hy sinh quá nhiều cho tình yêu với Vronxki, càng nhận ra sự hy sinh nàng càng ghen tuông đau khổ, càng ghen tuông nàng càng muốn chết để được mong nhớ, yêu thương. Người đọc hòa vào dòng tâm trạng của nhân vật, hóa thân vào nhân vật để rồi thấy rõ những nghịch lý bên trong mình, nguyên cớ của sự tự hành hạ. Những rào cản trong nhận thức chiến ta "thấy núi không là núi, sông không là sông", nhưng khi đã soi mình trong tác phẩm, thấy mình trong nhân vật, ta lại nhận ra "núi là núi, sông là sông". Văn học đã hóa giải những mâu thuẫn bên trong để ta trở về với bản thể nguyên nguyên của mình.
Văn chương không chỉ là chiếc gương để ta tự nhận thức mình mà còn bắc cầu cho ta gặp gỡ và thấu cảm với tâm hồn kẻ khác. Nó cơi nới buồng tim con người, rót vào đó những tình cảm đẹp, nguyện cầu cho tình yêu, sự bao dung. Thần thoại kể rằng Prometheus đã giấu trái tim con người sâu trong lồng ngực, khiến việc nhìn thấu tâm tình kẻ khác thành điều bất khả. Nếu không có văn chương, ta chỉ vui buồn cho những điều quanh quẩn trong cuộc sống cá nhân mình. Ta thấy mình lẻ loi và cô độc. Ngôn ngữ văn chương có khả năng biểu đạt trực giác mong manh mơ hồ nhất, diễn tả những trạng thái tâm lý phức tạp nhất. Để rồi khi đọc văn, ta buồn vui với cuộc đời người khác, ta khóc cười cho một nhân loại rộng lớn hơn ta và ở bên trong ta. Ta thấy vui chung, nỗi lưu đầy giữa thế gian:
"Ai mơ mà nhặt câu thề
Khói nhang có hẹn mai về cố hương
Một ngàn sóng tóc yêu thương
Làm sao cho ấm tình thương lạc loài" (Hoài Khanh)
Ta thấy ta trong nỗi niềm và ước mơ chung của phận người gian khổ:
"Tôi không mong làm người nữa đâu
Mà xin làm bầu rượu
Cho lòng chan chứa
Sake nhiệm mầu" (Tabito)
Ta thấy ta trong sự tồn tại của vạn vật, trong sự ngóng vọng về nguồn:
"Tôi là áng mây trôi
Nhớ nguồn xưa dưới núi
Tôi là một con suối
Nhớ nguồn xưa bên trời" (Nhật Chiêu)
Ta chợt thoát khỏi vòng luẩn quẩn của những lo toan thường nhật, những tình cảm nhỏ nhoi để chìm vào những rung cảm sâu xa, mãnh liệt, khó nói thành lời. Trong thế giới của văn chương, không còn hận thù, ganh ghét, chỉ có một nỗi buồn im lặng và thiêng liêng dường như nối kết tất cả chúng ta lại với nhau. Văn chương khiến "người gần người hơn". Khả năng giáo dục đạo đức, phẩm chất của văn học không nằm ở những lời hùng biện, răn đe mà bắt nguồn từ sự kết nối sâu xa với tính người và con người. Một tình yêu chân thành, quảng đại sẽ xóa bỏ mọi biên giới của địch và ta, ác và thiện. Chỉ trong văn chương, một tên tội đồ không thể được tha thứ của nạn nhiệt chủng mới được lắng nghe trong tư cách con người: "Ta đau đớn. Một thanh gươm buốt giá đang rạch từ tim đến gan ruột ta, máu ta lai láng, vậy mà không ai nhận ra điều đó ư? Không ai nhìn thấy nỗi bất hạnh đang đèn nặng lên ta ư?". Lời độc thoại ấy của nhân vật Adolf Hitler trong Nửa kia của Hitler của tác giả Erich Schmitt đã nhìn lại cái ác trong cội nguồn và chuỗi diễn biến đầy dằn vặt của nó, cho thấy tình thế khó khăn vô cùng của tồn tại người. Văn chương là hành trình suy nghiệm bên kia thiện ác, vượt ngoài sự phân định cố hữu trong tâm trí con người.
Nghệ thuật phá bỏ những biên giới về khả năng thưởng thức cái đẹp của con người. Văn chương là nghệ thuật ngôn từ và nó có khả năng nuôi dưỡng những cảm xúc thẩm mỹ, nâng cao năng lực, thị hiếu thẩm mỹ của người tiếp nhận. Nguyễn Quân cho rằng nghệ thuật là sự dư thừa của cảm xúc ngũ quan, tức là các giác quan được huy động cho nghệ thuật không phục vụ cho mục đích sinh tồn cụ thể trước mắt. Nghệ thuật đẩy lùi tính mục đích của đời sống và cuốn con người vào niềm vui hồn nhiên của khoảnh khắc thực tại. Những ai còn giữ được niềm vui hồn nhiên trước cái đẹp, thì còn giữ được nỗi lo âu và cả lòng ham sống của một phận người hữu hạn. Những đường biên của quan niệm thẩm mỹ cũng không ngừng bị sáng tạo nghệ thuật phá vỡ, cùng với đó là những quy chuẩn cũ kỹ khắt khe trong đời sống tinh thần cũng bị xóa bỏ. Đọc thầm một câu ca dao, ta cũng thấy lòng mình chợt trở nên trìu mến:
"Giữa đường nhặt cánh hoa rơi
Hai tay nâng lấy của người mới ta"
Lặng lẽ nằm yên trong một góc tâm hồn, nhưng một lúc nào đó câu ca dao nhắc nhở ta dừng lại và nâng niu một vẻ đẹp mong manh là giữa đường đời gió bụi. Thơ ca phủ lên cảnh sắc cuộc đời màu sắc mới mẻ của tình cảm, của sự tưởng tượng để rồi ta biết rung cảm, xao xuyến với chính cuộc đời ấy:
"Mây đi vắng, trời xanh buồn rộng rãi
Sông im dòng, đọng nắng đứng không trôi" (Anh Thơ)
Nghệ thuật không chỉ phát hiện, phản ánh mà còn điển hình hóa, khái quát hóa vẻ đẹp đời sống, biến vẻ đẹp ấy trở thành bất tử. Ngôn từ nghệ thuật trong văn chương tạo nên những tác động thẩm mỹ kép, vừa tạo nên khoái cảm của giác quan nhờ thanh âm, vừa tạo nên sự hân hoan trong tưởng tượng, trong đời sống cảm xúc nhờ khả năng gợi hình và biểu cảm của nó. Cái đẹp trong đời sống tồn tại một cách khách quan và tự thân, nhưng dường như cái đẹp trong nghệ thuật luôn cộng hưởng với tiếng lòng con người, nảy sinh trong mối quan hệ với con người. Trong truyện Những người thợ xẻ, câu văn trò chuyện với hoa ban xuất hiện nhiều lần như một lời thơ da diết, thể hiện nỗi buồn miên man của Nguyễn Huy Thiệp về sự tàn phai của cái đẹp: "Bạt ngàn là hoa ban trắng, một màu trắng đến nao lòng. Này hoa ban, một ngàn năm sau nữa thì ngươi có còn trắng đến thế không?". Sắc trắng tinh khiết đến nao lòng ấy cũng hiện hiện ở nhân vật Diệu Nương trong truyện ngắn Gió dại của Bảo Ninh- một "giọng ca tuyệt vời, thảng thốt" bị vùi dập trong lửa đạn chiến tranh, chỉ vì những bài ca cô hát được gắn nhãn là ca khúc ngụy. Tuấn và Diệu Nương, hai con người muốn chạy trốn khỏi trật tự chiến tranh để tìm đến những bài ca tự do và hạnh phúc đã bị xả súng dã mang. "Tôi", một người lính Bắc Việt đã kể lại trong sự ăn năn sám hối: "Chúng tôi đã bắn chết những người báo trước hòa bình, vậy mà hòa bình vẫn đến." Văn chương không chỉ lôi cuốn con người vào sự thưởng ngoạn cái đẹp, mà còn buộc họ phải trăn trở về sự tồn vong của nó. Người không chỉ thụ hưởng cái đẹp, mà còn nhận ra trách nhiệm của chính mình với nó, cũng như với nhân tính, lương tri bên trong mình. Văn chương nghệ thuật cũng không ngừng tạo ra cái mới trong hình thức, đề xuất những cái lạ thường, độc sáng để tạo nên những ấn tượng thẩm mỹ mới cho người đọc. Khả năng phá vỡ và xác lập khuôn mẫu, quan điểm thẩm mỹ không chỉ là sự vận động tự thân của văn học, mà còn giải phóng tiếng nói tâm tình của con người ra khỏi những "gò bó lỗi thời và phi nhân tính" (Lê Đạt). Maiakovsky đã khai sinh hình thức thơ bậc thang ở Nga:
"Máu ta đỏ
Không pha nước lã
Chúng ta đi
Đạn sủa sau lưng
Để khi chết
Chúng ta sẽ hóa
Thành những con tàu
Thành những bài thơ
Hoặc thành những gì gì khác nữa.." (Trần Dần dịch)
Hình thức thơ ấy không chỉ tạo ấn tượng thị giác, quy định nhịp điệu thơ mà còn có tác dụng nhấn mạnh các từ, cụm từ, tạo ấn tượng về điểm rơi tâm trạng, sự phân mảnh, rạc rời, ngổn ngang của dòng ý nghĩ. Trước đó, Baudelaire đã từng táo bạo miêu tả cận cảnh một xác người:
"Ruồi nhặng vo ve quanh cái xác người thối nát
Nhung nhúc những đoàn quân tối đen
Giòi bọ chảy như một dòng nước đặc
Quanh đống thịt da rách tã, nát băm" (Vũ Đình Liên dịch)
Miêu tả như thế để thấy sự trụi trần của cái chết, thấy sự thật rằng rồi đây thân xác ai cũng sẽ rữa nát, thối tha. Nhưng chính vì thế mà tình yêu thân xác ấy để lại thế gian càng là tinh hoa, thiêng liêng, huyền ảo. Ta bắt gặp ý tưởng ấy trong một câu thơ của Nguyễn Duy:
"Rồi em sẽ già như bà vũ sư kia
Còn lại muôn đời là điệu múa
Cái đẹp giương cao ngọn cờ bất diệt"
Văn chương dẫn ta đi qua biên giới của những quy phạn, chuẩn mực cộng đồng đã thành thói quen, thị hiếu tiếp nhận của chính ta, chỉ cho ta thấy những sáng tạo mới mẻ, độc đáo tưởng như không thể chấp nhận được. Nhưng sau đó nó giúp ta nhận ra tất cả là sự cựa mình đấu tranh của mỗi nhà văn và của chính văn học nhằm thoát khỏi những giới hạn nội tại, cũng như những quy định ngặt nghèo của xã hội, khiến con người thỏa hiệp với sự tù túng, dễ dãi, nô lệ. Sự phát triển về năng lực, thị hiếu thẩm mỹ cũng là sự phát triển về trình độ văn hóa, năng lực tưởng tượng và sáng tạo. Từ đó con người ý thức rõ hơn những cảnh huống đời sống đang vây lấy chính mình và người khác, những bó buộc tầm thường trong đời sống và có ước mơ tạo nên một tương lai khác, nơi con người được tự do và cái đẹp đích thực được sống mà không phải đi đêm trong lịch sử.
Nhà thơ Lê Đạt từng chia sẻ: "Đọc một câu thơ hay, ta thường có cảm giác đứng trước một bến đò gió nổi, một khao khát sang sông, một thúc đẩy lên đường hướng thiện, tới vùng trời tốt đẹp hơn, nhân tính hơn." Trải nghiệm văn chương dường như có cái gì nhiệm màu đẹp đẽ. Trong một khoảnh khắc ta vừa trở về cội nguồn quá khứ, ta vừa hướng đến những ước mong tương lai, vừa nhận thức mình, vừa hiểu hơn về người khác và vượt qua những giới hạn của chính mình trong việc cảm thụ cái đẹp. Tất cả những điều ấy không diễn ra tức thời, hoành tráng như một màn ảo thuật đầy lừa mị, mà chậm rãi, im lặng, dường như không thể ý thức được và có cái gì xót xa, đau đớn trong hành trình đơn độc của việc đọc, hành trình dần thấu sốt những chân lý giản dị mà nghiệt ngã của cuộc đời. Văn học nghệ thuật không thể giúp ta có được cuộc sống sung túc, ấm no, nhưng giúp ta biết trân trọng hơn mỗi khoảnh khắc được vui hưởng ân huệ của cái đẹp và tình yêu, nâng đỡ và cổ vũ ta tiếp tục lựa chọn sự sống. Văn học không giúp ta vượt qua cái chết, nhưng giúp ta sống trọn vẹn là mình, cho ta ước mơ về những giá trị vĩnh cữu để không vội vàng bán rẻ lương tâm. Có khi văn dương giúp ta có thể khảng khái lựa chọn: "Để bảo vệ sự sống, tôi chọn cái chết" (Văn Cao). Nhà thơ Henrik Heine nở nụ cười như đứa trẻ và nói: "Nếu chúng ta bất tử thì chán biết bao!". Nếu không có cái chết, chẳng còn suy tư, chẳng còn nghệ thuật nữa. Con người nương tựa vào nghệ thuật để sống, và nghệ thuật cũng nương tựa vào chúng ta để hiện diện trong cuộc đời.
Văn chương có khả năng giúp người đọc phá vỡ những giới hạn khi và chỉ khi người sáng tạo ra nó đã vượt qua những giới hạn. Viết văn không quan trọng là chuyện viết được bao nhiêu, bán được bao nhiêu cuốn sách, mà trước hết công việc sáng tạo ấy phải hệ trọng đến mức khiến người viết "sung sướng trong tan nát" (Nguyễn Huy Thiệp). Nhà văn phải trung thực khi nói về thời đại mình, trung thực khi nói ra những nỗi đau và sự sợ hãi bị đè nén trong con người, mà để nói thật, nhiều khi người ta cần có bản lĩnh, sự can đảm. Nếu nhà văn chưa cởi trói cho chính mình khỏi cái nhìn hạn hẹp đầy định kiến về đời sống và con người, thì cũng không thể mong cởi trói cho ai khác. Có những nhà văn chạy theo trào lưu viết về tính dục, cho rằng đó là mới, là hay, là giải phóng con người khỏi những ràng buộc đạo đức. Nhưng nếu không có tầm tư tưởng và khả năng tạo dựng hình thức nghệ thuật giàu tính thẩm mỹ, sự miêu tả dục tính chỉ làm thấp đi nhân vị, phẩm giá con người, ném con người vào bản năng thú vật thuần tuý. Tự do bản năng theo Kant chưa bao giờ là thứ tự do đích thực, đôi khi phải có một số gò bó nhất định, con người mới thật là người. Hành trình tìm tòi sáng tạo nghệ thuật cũng là hành trình mỏi mỏi và dằn vặt, "càng đi càng khát những chân trời" (Vũ Quần Phương). Nhưng những biên giới vẫn còn ở đó mãi, những đường biên trong sâu thẳm tâm thức con người và những giới hạn của tồn tại người vừa là động lực vừa tạo nên ý nghĩa cho văn chương nghệ thuật.
Mỗi chúng ta là những người bộ hành trong bức tranh Chiếc xe thồ cỏ của Bosch. Chúng ta ngoảnh nhìn lại đoạn đường ta đã đi qua, nhìn lại những dãy núi xanh thẳm yên bình mà từ đó ta đã ra đi. Nhưng đôi chân ta vẫn hướng về phía trước, dù phía trước ta là một chiếc cầu nhỏ hẹp chênh vênh. Văn chương, nghệ thuật có thể là chiếc gậy gỗ trong tay kẻ bộ hành đơn độc ấy, không can dự đến đói no, sống chết của số phận, nhưng nâng đỡ người trong những lúc mỏi chân yếu lòng. Mấy mươi năm sau khi Nguyễn Nguy Thiệp trăn trở, hàng trăm năm sau khi Nguyễn Du khóc thương, ta thấy văn chương vẫn còn sống dù kiêu hùng hay gian khổ, nhọc nhằn.
*
Một vài điều bài viết cần cải thiện:
- Các luận điểm được triển khai tốt về mặt nội dung và triết lý, nhưng đôi khi chưa đủ sâu về mặt nghệ thuật.
- Do bài viết rất dài và chứa nhiều ý tưởng, một số đoạn trở nên quá tải. Các câu chuyển ý hoặc câu chủ đề (topic sentences) ở đầu đoạn cần mạnh mẽ và rõ ràng hơn để dẫn dắt người đọc, giúp bài viết có tính "bản đồ" (map) rõ rệt hơn.
- Hệ thống lớn (bố cục 3 phần: Quá khứ, Tương lai, Phá vỡ giới hạn) có, nhưng hệ thống nhỏ (logic chuyển đoạn) chưa chặt chẽ, dẫn đến sự chồng chéo ý. Cần tăng cường câu chủ đề: Mỗi đoạn cần có một câu đầu tiên tổng quát hóa và tách biệt hoàn toàn ý chính của đoạn đó với các đoạn khác. Nên bắt đầu mỗi đoạn bằng một câu ngắn gọn, rõ ràng, giới thiệu ý chính. Bên cạnh đó nên giảm mật độ dẫn chứng.
- Cần củng cố kỹ năng kiểm soát cấu trúc: Sắp xếp các tài liệu, ý tưởng thành hệ thống chặt chẽ hơn, tránh lỗi về bố cục.
- Mục tiêu của nghị luận là thuyết phục bằng sự rõ ràng, không phải gây choáng ngợp bằng sự phức tạp. Phải chọn lọc những dẫn chứng sắc bén nhất và dùng một ngôn ngữ phân tích tỉnh táo, khách quan hơn để làm nổi bật logic.
Ví dụ một đoạn chặt chẽ, có logic hơn:
Văn chương chạm tới tương lai bằng cách đưa ra những lời cảnh báo về sự sụp đổ của các giá trị đạo đức, qua đó bảo vệ niềm tin vào tính người. Tiêu biểu, tiểu thuyết Tội ác và Trừng phạt của Dostoevsky đã tiên tri về chủ nghĩa hư vô bằng nhân vật Raskolnikov. Anh ta tự cho mình là "người siêu nhân" có quyền vượt qua mọi rào cản đạo đức, bao gồm cả quyền sát nhân, vì lợi ích lớn hơn. Lý thuyết đáng sợ này đã gióng lên hồi chuông cảnh tỉnh về một tương lai mà sự tự do bị tách rời khỏi lương tri. Sự kiện lịch sử sau này chứng minh những tư tưởng tương tự (như sự diễn giải sai lệch về Nietzsche) có thể bị lợi dụng cho mục đích hủy diệt (Chủ nghĩa Quốc xã). Do đó, vai trò của văn chương không phải là ngăn cản hành động lịch sử, mà là đưa ra lời cảnh báo sớm về hệ quả của sự tha hóa tinh thần, và thiết tha bảo vệ những giá trị nhân bản cơ bản nhất.
- Bài viết của Thuỷ Tô-

