Bạn thích nhân vật nào trong Tĩnh Hải Loạn Lạc?

  • Hạo Thiên

  • Trương Siêu

  • Tử Trọng

  • Bá Hầu

  • Lê Hầu

  • Lê Cung

  • Lý Sử

  • Trần Lượng

  • Ông lão bí ẩn

  • Hạo Vũ

  • Quách Tuấn

  • Nguyễn Lương, Nguyễn Sơn


Results are only viewable after voting.
643 ❤︎ Bài viết: 0 Tìm chủ đề
Chương 80: Nhạc Tiến xuất hiện, Vệ tấn công Đinh

nhac-tien-png.12615


Tại kinh thành nước Yên, có một cầm sư kỳ dị nổi danh khắp thiên hạ, tên Nhạc Tiến, là con trai của một Thượng thư trong triều. Từ thuở niên thiếu, y đã đem toàn bộ tâm huyết gửi gắm vào âm luật, xem tiếng nhạc như đạo lý cao thâm của đất trời. Cổ cầm, tỳ bà, tranh, sắt, tiêu, sáo, hồ cầm hay bất kỳ nhạc khí nào lọt vào tay Nhạc Tiến, chỉ cần vài ngày nghiên cứu liền có thể tấu lên những khúc nhạc tinh diệu khiến người nghe mê mẩn. Nhưng điều khiến người đời kinh ngạc hơn cả không phải tài nghệ xuất thần ấy, mà là niềm say mê gần như cuồng nhiệt đối với âm thanh của thế gian.

Nhạc Tiến tin rằng vạn vật đều có tiếng nói riêng, tiếng gió lùa qua khe núi, tiếng mưa rơi trên mái ngói, tiếng sóng vỗ bờ xa, tiếng vó ngựa xung trận, tiếng trẻ thơ cười đùa, thậm chí cả tiếng lá khô vỡ vụn dưới chân người qua đường, tất cả đều là những nốt nhạc mà thiên địa đã tạo ra. Vì lẽ đó, Nhạc Tiến thường một mình ngao du tứ phương, băng qua rừng sâu, vượt núi cao, rong ruổi nơi biên ải hay dừng chân giữa chốn phồn hoa, chỉ để lắng nghe những thanh âm khác biệt mà người thường chẳng mấy khi để ý.

Có người nói Nhạc Tiến không chỉ học nhạc, mà đang truy cầu một thứ còn lớn hơn cả âm nhạc. Y muốn nghe hết mọi âm thanh tồn tại dưới bầu trời này, muốn hiểu quy luật ẩn giấu trong từng nhịp điệu của vạn vật, muốn gom góp tất cả thanh âm của thế gian để hoàn thiện bản nhạc vô song trong lòng mình. Đối với Nhạc Tiến, âm luật không đơn thuần là thú vui tao nhã của văn nhân mặc khách, mà là cánh cửa dẫn đến chân lý của trời đất. Sau hai mươi năm rong ruổi theo nhạc, ngọn lửa đam mê trong Nhạc Tiến vẫn chưa từng lụi tàn, ngày đêm miệt mài lắng nghe, nghiên cứu và truy tìm những thanh âm chưa ai từng được nghe thấy.

Đối với Nhạc Tiến, âm thanh chưa bao giờ chỉ là những thanh âm vô tri lọt qua tai rồi tan biến trong gió. Trong mỗi tiếng động của thế gian, Nhạc Tiến đều nghe thấy một câu chuyện đang được kể lại. Tiếng chuông chùa vang vọng nơi núi xa là lời tự sự của một vị lão tăng đã dành cả đời tìm kiếm sự giác ngộ. Tiếng vó ngựa dồn dập trên quan đạo là khúc ca bi tráng của những binh sĩ sắp bước vào chiến trận. Tiếng mái chèo khua nước trong đêm khuya lại là nỗi nhớ nhà của người lữ khách tha hương. Mỗi thanh âm đều mang theo ký ức, cảm xúc và số phận của những con người đã tạo nên nó. Đối với Nhạc Tiến, bất cứ giai điệu nào mà y từng nghe, đều có thể nhớ lại câu chuyện năm đó, chuyện vui, buồn, tốt, xấu. Mỗi một âm thanh trong bối cảnh khác nhau đều có thể mang ý nghĩa rất khác,

Bởi vậy, Nhạc Tiến không chỉ nghiên cứu âm luật trong nhạc khí, mà còn tìm kiếm âm luật trong chính cuộc đời. Y tin rằng mỗi con người đều là một bản nhạc riêng biệt. Có người tựa khúc nhạc hùng tráng như trống trận vang trời, có người lại giống tiếng tiêu cô tịch giữa đêm thu, có người như dòng nước chảy êm đềm, cũng có người như sóng dữ cuộn trào không ngớt. Những cuộc gặp gỡ, những mối duyên phận, những cuộc chia ly hay tranh đấu của thế nhân, trong mắt y đều là sự hòa quyện của vô số giai điệu đang đan xen vào nhau, tạo thành một bản trường ca rộng lớn mang tên nhân thế.

Gia tộc của Nhạc Tiến vốn là danh môn vọng tộc, nhiều đời làm quan trong triều. Cha y giữ chức Thượng Thư, quyền cao chức trọng, danh vọng lẫy lừng, bởi vậy từ khi còn nhỏ, ai nấy đều mặc nhiên cho rằng y rồi cũng sẽ theo con đường khoa cử, bước chân vào quan trường để kế thừa thanh danh tổ tiên. Thế nhưng Nhạc Tiến lại chẳng màng công danh phú quý, ngày ngày chỉ ôm đàn, nghiên cứu âm luật, rong ruổi khắp nơi để lắng nghe những thanh âm của nhân gian. Điều ấy khiến họ hàng thân thích vô cùng bất mãn, họ thường chỉ trỏ sau lưng, chê cười rằng Nhạc Tiến bỏ ngọc lấy đá, bỏ đại đạo để theo đuổi thứ tiêu khiển vô dụng của văn nhân. Có người mỉa mai: "Phụ thân là Thượng thư, chỉ cần chịu khó vài năm là có thể làm quan hiển quý, cớ sao lại đi làm một kẻ gảy đàn mua vui cho thiên hạ?". Người khác lại lắc đầu than thở rằng tài năng của Nhạc Tiến đã bị lãng phí vào những chuyện hão huyền. Trong mắt phần lớn người trong gia tộc, những chuyến du hành để nghe tiếng gió, tiếng mưa hay những lời bàn luận về âm luật của Nhạc Tiến đều là những việc vô nghĩa, chẳng thể đổi lấy chức tước, quyền lực hay lợi ích thực tế nào. Chỉ có Nhạc Tiến vẫn lặng lẽ mỉm cười, bởi những người ấy nhìn thấy con đường làm quan rộng mở trước mắt, còn hắn lại nghe thấy một khúc nhạc vĩ đại đang vang vọng từ nơi sâu thẳm của thiên địa, thứ mà cả đời họ cũng không thể nào cảm nhận được.

Nhạc Tiến không sống dựa vào cha, mà tự lực rong ruổi giang hồ, y dùng nhạc để kiếm tiền trang trải cuộc sống. Cứ đi tới đâu, Nhạc Tiến lại được mở mang khám phá, quen biết nhiều người mới, mà họ lại rất quý mến Nhạc Tiến. Nhạc Tiến coi những người dân chất phác, đối xử với y còn tốt hơn ruột thịt gấp nhiều lần. Chuyện Nhạc Tiến được thưởng lớn không phải là hiếm, những vị thương nhân giàu có, những đại thần trong triều đều muốn mời Nhạc Tiến chơi đàn trong những ngày trọng đại và trả rất hậu.

Tiếng đàn của Nhạc Tiến mang một vẻ đẹp rất khó gọi tên, nó không phải thứ âm nhạc chỉ dành cho bậc danh sĩ ngồi luận đạo trong lầu cao, cũng chẳng phải những khúc nhạc đơn thuần mua vui nơi tửu quán. Trong từng thanh âm của y vừa có sự uyên thâm của âm luật hàn lâm, vừa có hơi thở chân thực của cuộc sống thường nhật. Người nông phu nghe đàn có thể cảm nhận được mùi bùn đất trên thửa ruộng sau cơn mưa đầu hạ, người lữ khách lại nghe thấy tiếng gió thổi dọc con đường thiên lý, còn bậc học giả có thể từ những nốt nhạc ấy mà suy ngẫm về lẽ hưng vong của quốc gia, về quy luật biến đổi của trời đất và nhân tâm.

Nhạc Tiến không bao giờ đòi tiền công cao, chỉ cần vài lạng bạc để mướn y chơi nhạc, tuy vậy muốn mời Nhạc Tiến đến không phải điều dễ. Những ai Nhạc Tiến cảm thấy quý mến, trong lòng thoải mái thì y mới nhận lời. Có những người quyền cao chức trọng, nhưng hành xử xấu như kiêu ngạo, tham lam, hống hách Nhạc Tiến đều từ chối. Ngược lại, có những người dân lành ở những nơi Nhạc Tiến đi qua, lại được y chơi đàn cho nghe, không mất xu nào. Từ người già đến trẻ nhỏ, thương nhân hay làm mướn, đều quý mến cái tài nhạc và chính con người Nhạc Tiến.

Họ muốn mời Nhạc Tiến có lẽ không chỉ vì y chơi nhạc hay, mà việc gặp gỡ, trò chuyện cùng y rất thú vị. Y là nhạc công nổi tiếng, lại am hiểu về âm luật, có thể thao thao bất tuyệt nói về nhạc với những người xa lạ. Vì Nhạc Tiến đam mê nên y rất thích chia sẻ với người khác, người ta nghe y nói cảm thấy rất tâm đắc và thán phục. Họ thán phục cái sự đam mê vô tận của y, còn là đức tính chính trực, khảng khái, không màng tiền tài danh vọng, đối xử công bằng với tất cả mọi người, không phân cao thấp.

Đúng thời điểm Vệ Vương ở nước Yên, Nhạc Tiến muốn vào cung gặp vua xin nghiên cứu âm luật, y muốn cảm nhận rõ nét nơi quyền lực nhất của đất nước, xem diễn biến chính sự xảy ra thế nào, để tạo nên một bản nhạc hùng hồn, hoành tráng nhất.

Yên Chiêu Vương từ ngày lên ngôi, rất chăm chút việc chính sự, y đọc và duyệt mọi tấu sớ của các quan, dù là quan nhỏ nhất. Những người dân thường hay binh lính nơi sa trường nếu gửi thư riêng cho Chiêu Vương, sẽ được để trong một chiếc rương lớn, vua không thể đọc được hết, nhưng khi có cơ hội thì sẽ mở vài xấp ra đọc trong lúc rảnh rỗi. Đối với Chiêu Vương, việc trò chuyện, lắng nghe và gần gũi dân là việc tốt, y khiến người dân cảm thấy vua là người để tâm đến họ. Hơn nữa, những lá thư tưởng chừng thừa thãi ấy đôi lúc giúp Chiêu Vương phát hiện ra sự việc ở thôn xóm, quan lại địa phương có ức hiếp, đối xử bất công với dân lành không.

Chỉ cần nghe thấy sự bất công, Chiêu Vương nói Nhất Phong bổ nhiệm sự việc cho quan thích hợp để điều tra, xác minh sự việc rồi xử lý cho dân. Nhờ vậy mà phát hiện được nhiều tham quan, thương nhân độc ác, bị Hình bộ điều tra và xử phạt rất nghiêm minh. Chính vì điều ấy nên số người lộng hành, ức hiếp dân chúng giữa thanh thiên bạch nhật ngày càng giảm đi. Người dân khen Chiêu Vương tài giỏi, biết lấy cái cần cù của mình để đổi lấy sự yên bình cho thiên hạ. Các quan lấy đó làm gương, hạn chế sai phạm, tránh đến tai vua có ngày cách chức như chơi.

Thời gian Vệ Vương ở nước Yên, đã nhiều lần cùng bàn việc chính sự cùng Chiêu Vương. Chiêu Vương muốn một góc nhiên của vị vương nước khác, biết đâu lại học hỏi, mở mang thêm nhiều thứ. Vệ Vương khen Chiêu Vương là kẻ cầu thị, luôn tìm tới cái mới để học hỏi.

Hai người hay chơi một trò chơi cùng nhau đọc thư của bách tính nước Yên, xem hai người sẽ xử trí thế nào. Kết quả, Vệ Vương và Chiêu Vương có quan điểm rất tương đồng, đều chọn giải pháp nhân văn, tránh nhục hình mà vẫn giải quyết ổn thỏa sự việc, giữ nguyên tính răn đe với kẻ có tội.

Yên Chiêu Vương khi biết một nhạc công tài giỏi muốn yết kiến, lập tức cho truyền vào. Chiêu Vương mời Vệ Vương cùng gặp người đó, Vệ Vương vui vẻ nhận lời.

Nhạc Tiến vào cung, được yết kiến cả hai vị vua Vệ, Yên, trong làm cảm thấy rất tự hào. Y vốn ngưỡng mộ họ vì họ là người hiền đức, lo lắng cho thiên hạ giống như y. Chỉ có điều, họ bận xử lý trăm công ngàn việc, toàn là việc đại sự của đất nước, còn y thì chỉ gửi gắm tiếng lòng qua tiếng nhạc.

Nhạc Tiến bái kiến hai vị vương:

- Thảo dân Nhạc Tiến, xin bái kiến Chiêu Vương và Vệ Vương!

Yên Chiêu Vương hỏi:

- Ta nghe nói ngươi là kẻ có tài về nhạc, nổi tiếng khắp kinh kỳ, nay được gặp mặt, quả là đáng quý. Vậy ngươi gặp ta muốn tâu chuyện gì?

Nhạc Tiến đáp:

- Thảo dân là kẻ đam mê âm luật, hành tẩu khắp bốn bể để nghe được những âm thanh mới, nay có một nơi chưa từng được nghe, cả gan xin Chiêu Vương ban cho một ân huệ!

Chiêu Vương hỏi:

- Ấy là việc gì, chỉ cần không trái luân thường đạo lý hay lợi ích đất nước, ta nhất định sẽ giúp!

Nhạc Tiến thưa:

- Thảo dân xin được tham quan trong cung để lắng nghe những âm thanh nơi đây, nơi mọi người cai quản cả một đất nước.

Chiêu Vương đáp:

- Chuyện đó không có gì khó, phàm việc bí mật đại sự ngươi không được biết, còn việc đi lại trong cung xem như tùy ý.

Vệ Vương hỏi:

- Ngươi đã ra chiến trường chưa?

Nhạc Tiến thưa:

- Thảo dân chưa có cơ hội!

Vệ Vương nói:

- Nhận thấy cái đam mê cuồng nhiệt của ngươi, ta cũng muốn giúp một chút. Ta sắp khởi binh đánh Đinh, nếu ngươi đi theo để có trải nghiệm khác về nhạc lý thì ta đồng ý dẫn ngươi theo, đảm bảo sẽ được bảo vệ, không nguy hại đến tính mạng.

Nhạc Tiến mừng:

- Được vậy thì quá tốt, tạ Vệ Vương!

Vệ Vương nói với Chiêu Vương:

- Nhạc Tiến là nhân tài nước Yên, ta hoàn toàn không có ý chiêu mộ hắn, xong chiến sự sẽ lập tức đưa hắn về Yên.

Chiêu Vương nói:

- Vệ Vương quá lời, Nhạc Tiến muốn theo ai, đó là quyền của hắn, ta không thể miễn cưỡng ép hắn được! Nếu Nhạc Tiến muốn theo Vệ Vương, ấy cũng là lẽ thường tình, ta vui vẻ ủng hộ!

Nhạc Tiến nói:

- Tạ Chiêu Vương!

Tử Trọng nói với Nhạc Tiến:

- Ngươi là kẻ giỏi trong việc liên kết các sự kiện với âm luật, đó là cái tài không phải ai cũng có. Ta thấy ngươi đi tìm âm thanh mới để thỏa sự tò mò của mình là rất tốt, nhưng ta nghĩ ra một chức quan giúp ngươi chuyển hóa những tài năng đó thành lợi ích cho quốc gia, lưu danh sử sách.

Nhạc Tiến bất ngờ, hỏi Tử Trọng:

- Thảo dân chỉ là một nhạc công, cớ sao làm được những điều lớn lao như ngài nói!

Tử Trọng cười, hỏi:

- Ngươi đã nghĩ đến việc làm một sử thần chưa?

Nhạc Tiến nói:

- Chưa bao giờ nghĩ tới, nhưng tôi thường hay chép lại những sự việc quan trọng hoặc đáng nhớ khi đi chu du bốn phương.

Tử Trọng nói:

- Đó chính là công việc của một sử thần, ngươi là kẻ hoàn toàn thích hợp. Việc ghi chép lịch sử hay các sự tích rất quan trọng, chẳng thua kém gì việc quốc gia đại sự khác. Nhờ có những sử thần, hậu thế sau này mới biết và hiểu được sự việc đã xảy ra trong quá khứ, từ đó là tấm gương để noi theo và rút kinh nghiệm.

Nhạc Tiến hào hứng, hỏi:

- Liệu tôi có làm được điều ấy không?

Vệ Vương nói:

- Nghe rất hợp lý, nếu ngươi làm được việc ấy, ta tất sẽ không để ngươi thiệt!

Nhạc Tiến mừng lắm, lạy tạ ba người rồi xin lui.

Mùa hạ năm 881, nước Vệ cử mười vạn binh mã hợp cùng hai vạn quân Yên kéo đến ải Hoành Sơn khiêu chiến nước Đinh. Đinh Vương cử Mã Sinh làm Nguyên soái, Lê Cung làm mưu sĩ, lãnh tám vạn quân chống Vệ. Song song đó, Đinh Vương cử sứ thần sang gặp Chiêm Thành cầu cứu trợ giúp.

Toàn bộ hàng ngũ đại thần nước Vệ đều tham gia chiến sự lần này, cùng với Vệ Vương, thể hiện một tinh thần quyết tâm và cứng rắn trong việc đánh Đinh. Nhờ tài cầm quân kiệt xuất của Hàn Toại, cùng sự tham mưu của Thừa tướng Tử Trọng và Quốc sư Trần Lượng, nước Vệ nhanh chóng chiếm được ưu thế lớn trong chiến trường.

Hàn Toại nghĩ ra cách dùng Nhạc Tiến đánh đàn cổ vũ sĩ khí binh lính, quả nhiên phát huy tác dụng. Binh lính ai cũng hăng say, liều chết xông lên chém địch.

Đầu ngón tay Nhạc Tiến vừa chạm vào dây đàn, một âm thanh trầm hùng lập tức lan ra khắp chiến địa. Tiếng đàn không còn là những khúc nhạc tao nhã nơi thư phòng, mà hóa thành tiếng trống của núi sông, tiếng gầm của sóng lớn, tiếng bước chân của tổ tiên từ ngàn năm trước đang trở về cùng con cháu. Từng giai điệu dâng lên như thủy triều, cuốn theo nhiệt huyết trong lồng ngực binh sĩ. Những người lính vốn đã mệt mỏi sau nhiều giờ giao chiến bỗng cảm thấy máu nóng sôi trào, cánh tay cầm giáo như có thêm sức mạnh. Trong tiếng đàn ấy, họ nghe thấy quê hương phía sau lưng, nghe thấy cha mẹ đang mong ngóng, nghe thấy tiếng trẻ thơ cười đùa nơi thôn xóm thanh bình mà họ đang liều mạng bảo vệ.

Âm luật của Nhạc Tiến khi thì hào sảng như thiên quân vạn mã cùng xuất trận, khi lại bi tráng như lời tiễn biệt của những anh hùng biết rõ có thể không trở về. Chính sự đan xen ấy khiến binh sĩ hiểu rằng chiến đấu không chỉ vì mệnh lệnh của chủ soái, mà còn vì những điều quý giá nhất trong cuộc đời mình. Tiếng hô xung phong từ hàng ngũ ngày càng vang dội. Những đôi mắt vốn nhuốm vẻ lo âu giờ đây sáng rực như có lửa cháy bên trong.

Trên chiến trường hôm ấy, có người nói tiếng đàn của Nhạc Tiến còn mạnh hơn ngàn lời hiệu triệu. Khi khúc nhạc lên đến cao trào, hàng vạn binh sĩ đồng loạt giương cao binh khí, tiếng hò reo vang động cả đất trời. Từ xa nhìn lại, người ta khó lòng phân biệt đâu là tiếng đàn, đâu là tiếng quân sĩ, bởi tất cả đã hòa làm một bản hùng ca của chiến tranh và ý chí con người.

Mã Sinh một lần nữa chạm trán Hàn Toại, nhưng tuyệt nhiên y hoàn toàn không phải đối thủ ngang tầm. Lê Cung sau khi dùng nhiều độc kế, tới nay đã tỏ ra lộ bài, hoàn toàn không làm khó được nước Vệ. Hàn Toại cho binh mã công thành rất rát bất kể đêm ngày, khiến Đinh vất vả chống đỡ, không biết cầm cự được bao lâu.

Một tuần trôi qua, khi tình thế nước Đinh ngày càng nguy cấp, để mất hai thành trì vào tay Vệ, Đinh Vương sốt sắng bàn với các tướng lĩnh:

- Các ngươi đánh trận kiểu gì vậy, Vệ đánh càng lúc càng hăng, dần áp đảo hoàn toàn binh mã nước Đinh, là cớ làm sao?

Mã Sinh tâu:

- Bẩm chúa công, thế quân của Vệ và Yên mạnh như thác lũ, không sao cản được. Thần vô năng, đều bị cái tên Hàn Toại qua mặt, lòng thấy hổ thẹn lắm!

Lê Cung nói:

- Không chỉ là Hàn Toại, đứng sau hắn còn có Tử Trọng tham mưu, chúa công hẳn đã biết cái tài của lão.

Đinh Vương nói:

- Phải, phải. Vậy bây giờ chúng ta phải làm thế nào? Không lẽ giơ tay xin hàng?

Lê Cung thưa:

- Xin chúa công bớt lo, nước Chiêm đã đồng ý mang quân sang giúp chúng ta chống Vệ. Xưa nay người Chiêm đánh trận rất giỏi, nhiều năm nay được thống lĩnh bởi Ma Ha Bôn trăm trận trăm thắng, đủ sức đối chọi với Vệ.

Đinh Vương hỏi:

- Vậy vua Chiêm muốn thế nào?

Lê Cung đáp:

- Vua Chiêm muốn ta cắt hai thành ở phía nam của nước Đinh nếu Chiêm đánh được Vệ ra khỏi bờ cõi, thậm chí còn đem quân sang giúp trong tương lai.

Đinh Vương cau mày, nói:

- Vua Chiêm quả là tham lam, đòi những hai thành, nhưng tình thế bây giờ không làm khác được, thà là vậy còn hơn để mất nước vào tay giặc!

Lê Cung nói:

- Trong khi chờ viện binh tới, thần nghĩ ra một cách có thể thử, biết đâu lại giúp kìm được chân quân Vệ.

Đinh Vương tò mò:

- Cách ấy thế nào?

Lê Cung trình bày:

- Phía bắc có Ngô Vương mới được vua Đường phong cho Kinh lược sứ, mới lên tất sẽ muốn dương oai với thiên hạ, hòng tăng vị thế nước Ngô. Nay nước Đinh ta xuống nước xin gia nhập liên minh, viện cớ nước Vệ tham lam, đánh chiếm lãnh thổ, xin Ngô Vương đứng ra giúp, hứa sau này sẽ cống nạp cho nước Ngô. Điều này khiến các nước khác nhìn vào nước Ngô lại càng thêm vị thế, quả là một món lợi không thể chối từ.

Đinh Vương khen:

- Cách ấy rất hay, ta sẽ viết thư gửi cho Ngô Vương.
 
643 ❤︎ Bài viết: 0 Tìm chủ đề
Chương 81: Ngô Vương mời Cừ Vương, Trịnh Vương tới Giang Trạch họp khẩn, lập Tam Vương hội

ngo-khoi-cu-vuong-trinh-vuong-png.12651


Đinh Vương lập tức viết thư tay, rồi sai sứ thần mang thư tới nước Ngô.

Ngô Vương nhận được lá thư của Đinh Vương, tò mò mở ra đọc, nội dung như sau:

"Trần Thọ kính cẩn dâng thư lên ngài Kinh lược sứ,

Từ lâu thiên hạ đều biết Ngô quốc là nước có uy tín ở phương Bắc, lễ nghĩa hưng thịnh, binh uy lẫy lừng, chư hầu xa gần đều kính phục. Uy danh của ngài Kinh lược sứ vang khắp bốn phương bởi lòng nhân nghĩa, trọng chữ tín, lấy công đạo làm gốc để đối đãi với các nước láng giềng.

Nay Đinh quốc gặp cơn nguy biến, Vệ quốc lấy cớ vô căn, đem đại quân áp sát biên cương, nhiều thành trì đã bị uy hiếp. Dân chúng hoang mang, xã tắc nghiêng ngả. Bản vương ngày đêm lo nghĩ, chỉ e cơ nghiệp tổ tông gây dựng bao đời sẽ rơi vào tay kẻ khác. Thiên hạ hiện nay, người có đủ danh vọng để đứng ra phân giải việc này không nhiều, nhưng nếu luận về uy tín cùng đức vọng, thì ngoài Ngô Vương ra, e khó tìm được người thứ hai. Chỉ cần Ngô Vương lên tiếng, lấy công đạo mà xét, lấy đại nghĩa mà khuyên giải, tất thiên hạ đều phải suy ngẫm, Vệ quốc cũng không thể không kiêng dè vài phần.

Nghĩ lại trước đây, khi quý quốc từng ngỏ ý kết giao sâu rộng, bản vương vì còn nhiều điều do dự nên chưa thể thuận theo. Nay hồi tưởng, mới biết tầm nhìn của ngài đã vượt xa kẻ tầm thường. Việc ấy khiến quan hệ hai nước chưa được gắn bó như mong muốn, bản vương thực lấy làm hổ thẹn, mong ngài rộng lòng lượng thứ.

Bởi vậy, hôm nay bản vương đặc biệt sai sứ mang thư này đến nước Ngô, thành tâm xin được gia nhập liên minh do Ngô quốc đứng đầu. Đinh quốc nguyện cùng Ngô quốc kết giao bền chặt, chia sẻ hoạn nạn, hỗ trợ lẫn nhau, cùng giữ gìn trật tự thiên hạ, ngăn chặn những cuộc chinh phạt vô nghĩa khiến sinh linh đồ thán.

Nếu lần này nhận được sự che chở và giúp đỡ của ngài Kinh lược sứ, Đinh quốc từ trên xuống dưới đều khắc ghi ân nghĩa. Tình hữu nghị giữa hai nước cũng sẽ được đời đời gìn giữ, không dám quên.

Kính mong ngài vì đại nghĩa thiên hạ, vì muôn dân nước Đinh đang chịu cảnh binh đao, mà dang tay cứu giúp.

Bái thư."

Ngô Vương đang lúc muốn gia tăng vị thế nước Ngô ở Tĩnh Hải quân, đọc được thư này như cơn mưa sau hạn hán, liền truyền Quách Tuấn, Mộc Kỳ, hỏi rằng:

- Nước Vệ lộng hành, hết đánh Yên rồi đánh Đinh, nay Đinh Vương viết thư cầu cứu như vậy, há có nên trợ giúp chăng?

Quách Tuấn nói:

- Thần cho rằng việc này đối với Ngô quốc là cơ hội hiếm có, không nên bỏ lỡ!

Ngô Vương hỏi tiếp:

- Khanh nói kỹ xem!

Quách Tuấn đáp:

- Nước Đinh hiện đang lâm nguy, chủ động hạ mình cầu viện. Nếu chúa công ra tay tương trợ, dù chỉ là gửi thư điều đình hay tuyên bố bảo hộ, thiên hạ cũng sẽ nhìn thấy rằng khi gặp hoạn nạn, các nước đều tìm đến Ngô quốc trước tiên. Đó chính là uy tín mà binh đao nhiều năm chưa chắc đã gây dựng được. Từ khi thiên hạ chia cắt đến nay, các nước mạnh ai nấy lo, kẻ lớn hiếp kẻ nhỏ, lòng người bất an. Nếu lần này Ngô quốc đứng ra ngăn cản cuộc chiến thôn tính của nước Vệ, chư hầu sẽ xem chúa công như người giữ gìn trật tự của Tĩnh Hải quân. Danh nghĩa ấy quý hơn vài thành trì, vài vạn quân lính rất nhiều. Một khi các nước nhỏ tin rằng nước Ngô có thể bảo vệ họ trước cường quyền, họ sẽ tự nhiên nghiêng về phía chúng ta. Đến lúc đó, dù không cần xuất binh chinh phạt, ảnh hưởng của nước Ngô cũng sẽ lan khắp nơi, kẻ muốn kết giao sẽ ngày một nhiều, kẻ muốn đối địch sẽ ngày một ít.

Mộc Kỳ đồng quan điểm với Quách Tuấn, nói:

- Nước Vệ những năm gần đây liên tục mở rộng thế lực, nếu để họ thuận lợi nuốt chửng nước Đinh, thanh thế tất tăng mạnh. Hôm trước lấy Yên, hôm sau lấy Đinh, về sau tất sẽ ngấp nghé các nước khác. Đợi đến khi thế lực Vệ quốc lớn mạnh vượt khỏi tầm kiểm soát, muốn ngăn cản e rằng đã muộn. Ngược lại, nếu chúa công đứng ra can thiệp, vừa có thể giữ được nước Đinh làm vùng đệm ở phía Nam, vừa khiến nước Vệ hiểu rằng thiên hạ không phải nơi để mặc sức tung hoành, đây là việc một lần mà được nhiều lợi ích. Thần cho rằng, giúp Đinh quốc không chỉ là cứu một nước đang gặp nạn, đó còn là cơ hội để Ngô quốc dựng nên danh nghĩa đại cuộc, khiến chư hầu kính phục, khiến dân chúng quy tâm, khiến thiên hạ biết rằng muốn giữ yên xã tắc Tĩnh Hải quân thì phải nhìn về nước Ngô.

Ngô Vương nói:

- Ta nghĩ ra một cách, các khanh xem thế nào. Nay đất Bắc có nước Cừ và nước Trịnh hùng mạnh, lại có thiện cảm với nước Ngô. Nhân việc cứu Đinh, ta sẽ mời hai vị Cừ Vương và Trịnh Vương tới địa điểm trung gian, bàn việc đại sự. Nhờ thế, ta vừa mượn được cái uy của hai nước Cừ và Trịnh, vừa khiến nước nhỏ phải dõi theo, nghĩ rằng nước Ngô đang hành động như một minh chủ.

Quách Tuấn khen:

- Chúa công suy tính ngày một sắc bén, như vậy quả rất hợp tình!

Ngô Vương sai Hoài Liêm, Châu Viễn tới hai nước Cừ và Trịnh, chuyển lời hẹn gặp nhau tại Giang Trạch sau hai ngày để bàn về chiến sự Vệ Đinh.

Cừ Vương, Trịnh Vương đều tôn trọng Ngô Vương nên nhận lời đồng ý. Hai ngày sau, ba vị vương đã tới Giang Trạch, Ngô Vương mở lời:

- Trước khi bàn về chiến sự nước Đinh, ta có một ý rất hay, thử nói cho hai vị xem thế nào?

Trịnh Vương đồng tình:

- Ngô Vương xưa nay là người sáng tạo, nghĩ ra nhiều việc chính sự sáng suốt, liên kết được các nước trong Tĩnh Hải quân. Ý của Ngô Vương thế nào cứ nói!

Ngô Vương đáp:

- Xét trong vùng phía bắc, ba nước Ngô, Cừ, Trịnh là lớn mạnh và có tầm ảnh hưởng nhất. Ta muốn cùng hai vị thành lập liên minh ba nước, gọi là Tam Vương hội, đại diện cho miền bắc, có vai trò đứng ra bảo vệ trật tự Tĩnh Hải quân.

Ngô Vương đem thư cầu cứu của nước Đinh cho hai vị vương đọc. Ngô Vương nói tiếp:

- Ví dụ như chiến sự hai nước phía nam lần này, nếu chúng ta dùng cái uy cùng biện pháp ngoại giao mà bảo được nước Vệ ngừng tấn công ĐInh, thì hội Tam Vương tất sẽ được Tĩnh Hải quân hướng tới. Tới thời điểm hiện tại, các nước đã giao thương với nhau rất nhiều, ba nước chúng ta lại nhập rất nhiều hàng từ các nước, gián tiếp nuôi nhiều ngành nghề của các nước nhỏ. Sau này chẳng cần động binh đao, cứ dọa về đường tiền tài, đánh thuế thật cao, ắt các nước sợ nghèo mà phải theo.

Cừ Vương tâm đắc:

- Đây quả là một ý tưởng xuất chúng, người đời nói rằng, không động binh mà quản được việc thiên hạ, ấy mới là cách làm của bậc hiền quân vậy.

Trịnh Vương nói:

- Ta đồng tình việc đó, có điều đã là hội ba nước, tất phải có hội trưởng đứng đầu!

Ngô Vương đáp:

- Chuyện ấy không khó, Cừ Vương nhiều tuổi và có uy tín nhất, nên làm trưởng là hơn!

Trịnh Vương nghe thế vẻ mặt cũng không đồng tình, tuy ông đã giảng hòa với nước Cừ, nhưng chưa thật sự hòa hợp được, tất sẽ không phục nước Cừ làm chủ. Cừ Vương nhìn nét mặt của Trịnh Vương cũng đoán được ý, bèn nói:

- Hay là Ngô Vương nghĩ ra ý tưởng này, làm hội trưởng là hợp lẽ nhất, dù sao ngài cũng là Kinh lược sứ được thiên tử sắc phong, lời nói tất sẽ có uy tín hơn bọn ta.

Trịnh Vương đồng tình:

- Phải lắm, theo dàn xếp của Ngô Vương!

Ngô Vương cười:

- Nếu hai vị vương đã nói như vậy, ta xin nhận phần trách nhiệm này.

Cừ Vương hỏi:

- Lập hội đã xong, vậy ta nên bàn việc nước Đinh chứ hả?

Ngô Vương nói:

- Nước Vệ gần đây lộng hành, cậy thế nước lớn, đánh hết nước Yên rồi đến nước Đinh. Ngoài mặt thì dùng chính nghĩa, nhưng âm thầm thôn tính, mở rộng lãnh thổ và chư hầu. Trước đây vì hai nước Yên và Đinh không gia nhập liên minh chung, nhưng nay nước Đinh gửi thư cầu cứu, muốn gia nhập liên minh, chúng ta tất phải ra tay tương trợ.

Trịnh Vương nói:

- Không ngờ nước Vệ sau khi lớn mạnh thì hành xử giống như nước Soái, quả không lường trước được!

Cừ Vương nói:

- Muốn làm khó Vệ thì dễ thôi, ngân khố là huyết mạch của quốc gia, Vệ giao thương rất nhiều hàng hóa với các nước phương bắc. Nay Cừ và Trịnh là hai nước nhập hàng Vệ nhiều nhất, ra mặt đánh thế nước Vệ, rồi Ngô Vương kêu gọi các nước khác cùng đánh thuế các mặt hàng từ Vệ. Lúc này con buôn lẫn dân chúng nước Vệ thu hoạch bao nhiêu hàng hóa, nếu không bán được sẽ sinh oán thán, chê trách triều đình nước Vệ gây chiến làm ảnh hưởng túi tiền bách tính.

Ngô Vương khen:

- Kế của Cừ Vương rất cao, cứ thế mà tiến hành!

Trịnh Vương hỏi:

- Ai đi sứ được?

Ngô Vương nói:

- Sứ thần của ta, tên Hoài Liêm đủ tài để vừa răn đe, vừa thuyết phục được Vệ Vương. Y đã từng đi sứ nước Cừ và nước Đường đều thành công cả!

Cừ Vương nói:

- Hoài Liêm rất thích hợp, trông cậy cả vào Ngô Vương.

Sau cuộc hội ngộ nơi Giang Trạch, Ngô Vương cử Hoài Liêm đem theo tùy tùng, lập tức lên đường tới doanh trại nước Vệ tại tiền tuyến.

Nói về chiến sự nước Đinh, đà tiến của quân Vệ dần chậm lại. Đinh Vương ban bố chiếu lệnh xuống các binh sĩ thủ thành, rằng:

"Từ hôm nay, thành còn thì quốc còn, thành mất thì quốc mất. Phàm binh sĩ thủ thành, người nào lập công chém được một địch tướng, thưởng trăm lạng vàng. Người nào giữ được đoạn tường thành được giao cho đến hết trận chiến, thưởng ruộng đất cùng nhà cửa. Người nào tử trận vì nước, con cháu ba đời được triều đình nuôi dưỡng, miễn thuế miễn dịch. Nếu thành này giữ được đến ngày viện binh kéo tới, toàn quân đều được thăng thưởng gấp ba lệ thường.

Gia quyến của toàn quân đều được triều đình chăm sóc, nếu có người tử trận, vợ con sẽ được cấp cái ăn suốt đời."

Binh sĩ nước Đinh nghe bố cáo như vậy thì đều dốc mạng thủ thành, thế như kim quy vậy. Nước Vệ đối mặt với sĩ khí tăng cao của nước Đinh, dần chậm lại trong việc công thành.

Năm ngày sau, Hoài Liêm đã tới khu vực chiến sự nước Đinh, xin vào yết kiến Vệ Vương, Vệ Vương thuận cho, truyền vào.

Hoài Liêm bước vào, hành lễ:

- Tại hạ Hoài Liêm, xin bái kiến Vệ Vương!

Vệ Vương nói:

- Vệ Ngô hai nước xa nhau, nay cử sứ giả tới ắt có việc hệ trọng.

Hoài Liêm nói:

- Phải, ấy là việc liên quan đến chiến sự Vệ Đinh.

Vệ Vương hỏi:

- Chiến sự Vệ Đinh có liên quan tới nước Ngô sao?

Hoài Liêm liền đưa thư của Ngô Vương cho Vệ Vương đọc, trong thư có viết:

"Gửi Vệ Vương,

Từ khi thiên hạ phân lập đến nay, các nước tuy mạnh yếu khác nhau nhưng đều cùng sinh tồn dưới bầu trời Tĩnh Hải, lấy tín nghĩa làm gốc, lấy hòa hiếu làm đầu. Chư hầu sở dĩ có thể chung sống, thương nhân sở dĩ có thể qua lại, dân chúng sở dĩ được an cư, đều nhờ các nước cùng biết tôn trọng ranh giới và cơ nghiệp của nhau.

Thế nhưng năm gần đây, nước Vệ liên tiếp đem quân can dự vào việc của các nước láng giềng, lấy binh uy ép người, lấy cường lực đoạt đất, chư hầu. Nay lại xuất quân xâm phạm lãnh thổ nước Đinh, khiến dân chúng ly tán, thành quách tan hoang, sinh linh chịu cảnh đao binh.

Người đời thường nói, một nước mạnh không đáng quý ở chỗ có bao nhiêu binh mã, mà đáng quý ở chỗ biết dùng sức mạnh vào việc gì. Dùng sức mạnh để bảo vệ quốc gia là chính nghĩa, dùng sức mạnh để giữ gìn trật tự là đại nghĩa, nhưng dùng sức mạnh để thôn tính nước khác thì thiên hạ khó lòng thuận phục.

Hôm nay nước Vệ có thể thu phục Yên làm chư hầu, ngày mai có thể lấy nước Đinh. Nếu việc ấy được xem là lẽ thường, vậy ngày sau liệu còn nước nào dám yên tâm kết giao với nước Vệ? Liệu còn ai dám tin vào những minh ước và lời hứa mà nước Vệ từng lập?

Ta thân là Kinh lược sứ, không muốn nhìn thấy thiên hạ chìm trong vòng tranh đoạt vô tận. Các nước phương Bắc cũng không mong thấy tiền lệ dùng binh lực để tùy ý thay đổi cương vực được tiếp diễn. Bởi vậy, bản vương thay mặt các nước hữu hảo, chính thức khuyên Vệ Vương lập tức đình chỉ việc xâm phạm lãnh thổ nước Đinh, mở đường cho việc nghị hòa, trả lại sự yên ổn cho muôn dân. Đó không phải là sự nhượng bộ của Vệ quốc, đó là biểu hiện của một vị quân vương biết đặt đại cục lên trên tham vọng nhất thời.

Tuy nhiên, nếu Vệ quốc vẫn cố chấp tiến quân, bất chấp công lý và tiếng nói của chư hầu, thì các nước phương Bắc cũng buộc phải có hành động tương xứng. Toàn bộ thương đoàn mang cờ hiệu nước Vệ sẽ bị áp dụng thuế khóa đặc biệt tại các cửa khẩu và bến cảng của các nước đồng minh, các hiệp ước giao thương ưu đãi sẽ bị đình chỉ, các minh ước hữu hảo sẽ bị xem xét lại, các cuộc hội minh và giao hảo giữa nước Vệ với chư hầu sẽ đồng loạt chấm dứt. Khi đó, dù nước Vệ có thêm vài tòa thành hay vài dặm đất, e rằng cái giá phải trả sẽ là sự cô lập của cả thiên hạ.

Bản vương tin rằng Vệ Vương là người hiểu rõ lợi hại, đất đai chiếm được bằng binh đao có thể giữ một thời, nhưng lòng người mất đi bởi tham vọng thì khó mà lấy lại. Nước Ngô vẫn mong nhìn thấy Vệ quốc trở thành một cường quốc được người người kính phục, chứ không phải một nước khiến thiên hạ phải e sợ và xa lánh. Mong Vệ Vương suy xét thấu đáo.

Ngô Khởi kính bút."

Vệ Vương đọc xong lá thư, đập bàn một tiếng lớn, quát:

- Ngô Khởi quá lắm, toàn nói những lời bịa đặt, đã thế còn lôi kéo các nước dọa nước Vệ. Nước Ngô dù sao cũng chỉ mượn bóng Cừ và Trinh để ra oai, giờ chỉ bảo ta phải thế này thế kia, thật quá quắt!

Tử Trọng thấy Vệ Vương nổi giận, nói khéo để Hoài Liêm về trạm nghỉ, lúc khác lên gặp.

Tử Trọng nói với Vệ Vương:

- Chúa công dù tức giận cũng không nên biểu lộ ra ngoài cho sứ Ngô thấy.

Vệ Vương đáp:

- Cái tên Ngô Khởi ấy quả đúng là một tên ngụy quân tử, lúc mời vào liên minh tay bắt mặt mừng, nay lại trở mặt rồi đóng giả làm kẻ giữ gìn hòa bình, thật chẳng ra thể thống gì cả!

Tử Trọng nói:

- Đúng là Ngô Khởi gian hùng, thế nhưng kế này của hắn rất cao tay, chúng ta không được khinh suất.

Dương Minh nói:

- Ngô Khởi là Kinh lược sứ, sau hội chư hầu ở Trì Lăng, uy tín của Ngô Khởi tăng tiến vượt bậc. Khả năng mà hắn nhắc tới, rằng kêu gọi các nước đánh thuế hàng hóa Vệ, nếu việc này xảy ra, thương nhân nước ta sẽ chịu tổn thất vô cùng lớn, chúa công nên suy tính cẩn trọng.

Tử Trọng đồng tình:

- Vệ là nước mạnh vì có ngân khố dồi dào, nếu bị các nước đóng cửa giao thương, sẽ ảnh hưởng tới tất thảy lĩnh vực trong nước. Bách tính sẽ nghèo tiền tài, binh mã lương thực thiếu thốn, binh khí, vật dụng sẽ sơ sài hơn trước, Tuy vậy nếu thỏa hiệp với nước Ngô cũng không phải thượng sách, nếu Vệ nhún nhường lần này, ắt mai sau Ngô Vương sẽ làm tới, cần phải nghĩ ra biện pháp phù hợp.

Vệ Vương quả quyết:

- Ta nhất định sẽ không dừng chiến sự với Đinh, thù diệt tộc sau ngần ấy năm mới có cơ hội báo, ta quyết sẽ không để lỡ!

Tử Trọng suy nghĩ:

"Chúa công quá coi trọng việc trả thù mà quên đi mất đại cuộc, quả đáng lo ngại. Ý chúa công đã quyết như vậy, ta đành dốc sức mà phò tá".

Tử Trọng nói:

- Nếu chúa công chọn tiếp tục đánh Đinh, thần đã nghĩ ra chiến lược.

Vệ Vương mừng:

- Khanh nói ta nghe!

Tử Trọng đáp:

- Nước Ngô muốn dùng danh nghĩa chư hầu để cô lập nước Vệ, muốn khiến các nước cùng đánh thuế thương nhân của chúng ta, cắt đứt giao thương, làm cho quốc khố hao hụt, lòng dân dao động. Nhưng Ngô Vương đã quên một điều, thương nhân không sống vì nghĩa khí, thương nhân sống vì lợi ích, chư hầu cũng vậy.

Tử Trọng bước đến trước bản đồ, chỉ vào các tuyến đường thương mại:

- Nếu các nước phương Bắc tăng thuế hàng hóa Vệ quốc, vậy chúng ta cũng tăng thuế hàng hóa của họ, chúng ta có Yên và Tấn là đồng minh, nếu đánh thêm được Đinh, liên minh bốn nước đủ sức làm đối trọng. Nếu họ đóng cửa một cổng thành, chúng ta đóng hai cổng thành, nếu họ cấm thương nhân Vệ quốc buôn bán, chúng ta cũng cấm thương nhân của họ vận chuyển sang phía nam. Các nước vốn cần nhiều hàng hóa mà chỉ phương nam mới có, thần dám khẳng định, chưa đầy nửa năm, tiếng oán than của thương nhân sẽ vang lên trước điện các nước ấy.

Vệ Vương khen:

- Nói rất hay!

Tử Trọng nói tiếp:

- Đó mới chỉ là bước đầu, bước thứ hai, chúng ta chủ động giảm thuế cho các nước giữ thái độ trung lập. Nước nào không tham gia lệnh trừng phạt của nước Ngô, thương nhân nước ấy được hưởng ưu đãi tại Vệ quốc, hàng hóa của họ được miễn thuế, thương đoàn của họ được bảo hộ trên mọi tuyến đường. Đến lúc ấy, các nước sẽ tự hỏi, tại sao phải hy sinh lợi ích của mình để phục vụ tham vọng của Ngô Vương? Chỉ cần các nước bắt đầu nghi ngờ cái giá họ phải trả, liên minh ấy sẽ tự xuất hiện vết nứt.

Vệ Vương nghe sách lược của Tử Trọng tâu, trong đầu đã có quyết định cuối cùng.
 
Chỉnh sửa cuối:
643 ❤︎ Bài viết: 0 Tìm chủ đề
Chương 82: Vệ Vương tuyên bố đối địch nước Ngô, Ma Ha Bôn xuất trận

ma-ha-bon-png.12692


Vệ Vương cho truyền Hoài Liêm để nói rõ quyết định.

Hoài Liêm vào trướng, tâu:

- Bẩm Vệ Vương, ngài đã có quyết định về chiến sự với nước Đinh chưa ạ?

Vệ Vương nói:

- Những lời Ngô Vương cáo buộc ta là sai sự thật, chuyển lời với Ngô Vương nước Vệ không làm theo được!

Hoài Liêm nói:

- Vệ Vương cho hỏi chuyện gì sai sự thật chăng?

Vệ Vương đáp:

- Thứ nhất, ta hưng binh đánh Yên là để giúp công tử Sóc đòi lại ngôi vị chính danh. Thứ hai, ta đánh Đinh vì mối thù diệt tộc năm xưa, ngươi nói xem, nếu là ngươi, ngươi có thể quên mối thù này không?

Hoài Liêm nói:

- Nếu là tại hạ, ngày đêm nghĩ cách báo thù, quyết đòi lại công đạo cho gia tộc tổ tiên!

Vệ Vương bật cười, khen Hoài Liêm:

- Ngươi là sứ giả nước Ngô nhưng nói chuyện rất khảng khái!

Hoài Liêm thưa:

- Bẩm Vệ Vương, Hoài Liêm xưa nay nghĩ gì nói nấy, nếu là điều hợp đạo lý tất sẽ đồng tình.

Vệ Vương nói:

- Tốt, tốt lắm! Ngô Vương có người tài như ngươi, quả thực rất đáng gờm!

Hoài Liêm hỏi:

- Nếu là Hoài Liêm thì vậy, nhưng đứng trên cương vị vua một nước, tất phải nghĩ đến đại cuộc. Tuy Vệ Vương đánh Đinh vì trả thù diệt tộc là hợp tình, nhưng xâm chiếm, gây binh đao thống khổ cho nước khác là không hợp lý. Chúa tôi vì muốn tránh cảnh ấy, nên mới thương thảo cùng Vệ Vương, xin Vệ Vương suy xét lại!

Vệ Vương hoàn toàn thấu hiểu những lời của Hoài Liêm, trong lòng nghĩ đến bách tính nước Đinh vì chiến sự mà phải chịu khổ. Vệ Vương nói:

- Lời ngươi nói rất phải, binh đao là chuyện không ai muốn, có điều nếu ngươi nói về lý, thì để ta nói cho ngươi nghe!

Hoài Liêm thưa:

- Xin Vệ Vương chỉ giáo!

Vệ Vương nói:

- Ngươi có biết, bách tính nước Đinh dưới sự cai quản của Đinh Vương đói khổ thế nào không? Nước ấy từ vua đến quan đều tham lam vô độ, chỉ biết vơ vét của dân để thỏa mãn dục vọng. Sưu cao thuế nặng, lao dịch triền miên, hình luật hà khắc khiến người người sống trong sợ hãi. Ruộng đồng bỏ hoang, nhà cửa xác xơ, tiếng khóc oán than vang khắp châu huyện.

Hoài Liêm sững sờ, đáp:

- Nếu thực có chuyện ấy, thì Vệ Vương đại diện cho chính nghĩa!

Vệ Vương nói:

- Tính ta cũng cương trực như ngươi vậy, nghĩ gì làm nấy, cho nên khi đọc những lời của Ngô Vương cảm thấy rất tức giận, không phải vì giận Ngô Vương, mà vì đó là những lời không đúng sự thật.

Hoài Liêm nói:

- Lời Vệ Vương nói tại hạ đã hiểu, xin phép về Ngô báo tin cho chúa công ạ!

Vệ Vương rất mến cái tài của Hoài Liêm, mời ở lại làm khách thêm vài ngày nhưng Hoài Liêm từ chối. Vệ Vương bèn đem vàng lụa thưởng cho Hoài Liêm rất hậu, sai binh sĩ hộ tống ra biên ải.

Sau khi sứ giả trở về, Tử Trọng nói với Vệ Vương:

- Thần đã gặp Thừa tướng nước Ngô, nay là sứ giả, quả thực đều là người tài hiếm gặp. Nước Ngô nội trong mười năm, tất lớn mạnh nhất vùng phía bắc.

Vệ Vương nói:

- Cái tên Hoài Liêm ấy tính tình thẳng thắn, lòng rất cương trực, yêu cái thiện, đúng là một nhân tài. Ngô Vương được một người như thế phò tá, ắt không phải kẻ tầm thường.

Tử Trọng nói:

- Đối đầu với nước Ngô không hề dễ dàng, chúa công đã quyết định như vậy thì chúng ta phải có đối sách cẩn trọng.

Vệ Vương nói:

- Sau chiến sự nước Đinh, nhất định ta sẽ ngồi lại bàn bạc cùng với Chiêu Vương và Tấn Vương!

Tử Trọng đáp:

- Chúa công tính rất phải!

Sau nhiều ngày thủ thành co cụm, quân Đinh dần bộc lộ những sơ hở. Quân lính không còn hăng hái như trước, ấy là vì Hàn Toại đã dùng kế ly gián, phao tin rằng Đinh Vương chỉ hứa suông, ngày thường thì vơ vét của cải, cớ gì lại ban thưởng hậu cho binh sĩ, e rằng sau khi xong chiến sự, truy lĩnh thưởng sẽ chẳng được bao nhiêu. Quân Vệ dần chiếm lĩnh ưu thế, đánh hạ được nhiều cổng thành. Đinh mất thêm hai thành trì, đúng lúc ngặt nghèo nhất thì tiếp viện từ Chiêm Thành tới, Ma Ha Bôn thống lãnh năm vạn quân sang cứu Đinh.

Vị tướng quân Chiêm Thành này nổi danh là mãnh tướng kiêm thống soái, dũng lực hơn người nhưng càng đáng sợ hơn bởi tài thao lược. Ma Ha Bôn không chuộng những trận đánh cầm cự, mà luôn chủ trương đánh như sấm sét, công như cuồng phong, lấy tốc độ và sự tàn khốc để bẻ gãy ý chí đối phương ngay từ đầu. Mỗi lần xuất quân, đại quân Chiêm đều tiến như nước lũ vỡ đê, liên tục thay đổi đội hình, nghi binh, tập kích ban đêm, chia cắt viện quân rồi bao vây tiêu diệt từng cánh quân địch.

Bôn tinh thông binh pháp, am hiểu địa hình sông núi và chiến thuật hỏa công, phục kích, tập hậu. Tuy nhiên, khác với nhiều danh tướng trọng lòng nhân, vị tướng này tin rằng chiến tranh càng kéo dài càng hao tổn quốc lực, nên thường dùng những đòn đánh quyết liệt đến tàn bạo để buộc đối phương nhanh chóng khuất phục. Thành trì chống cự sẽ bị công phá không ngừng nghỉ ngày đêm, quân địch ngoan cố sẽ bị truy kích đến cùng, khiến tên tuổi của Bôn trở thành nỗi khiếp đảm trên mọi chiến trường.

Đinh Vương thấy quân Chiêm Thành tới, lòng mừng như mở hội, tiếp đón Ma Ha Bôn rất trọng thị. Ngược lại với sự niềm nở đó, Bôn tỏ ra lạnh lùng, vẫn cưỡi ngựa, nói năng cộc lốc với Đinh Vương:

- Ta nhận lệnh từ chúa công, bao giờ viết xong khế ước giao hai thành Quế Lâm và Địa Lộc cho Chiêm Thành, lúc ấy mới xuất trận.

Đinh Vương cau mày, hỏi lại:

- Sao lại vội vàng như vậy, dẹp xong nước Vệ viết sau cũng không muộn!

Bôn đáp:

- Lỡ như ngài nuốt lời rồi không trao thì Chiêm Thành làm thế nào đây? Nếu như không làm được, ta lập tức dẫn binh trở về!

Đinh Vương tức Bôn lắm nhưng vì tình thế lâm nguy, đành cắn răng chịu đựng. Đinh Vương viết khế ước rồi cùng Ma Ha Bôn ký tên điểm chỉ, nội dung như sau:

"Ta, Đinh Vương Trần Thọ, bởi quốc gia lâm vào cơn nguy biến, cường địch áp sát, binh lực hao mòn, khó lòng tự giữ xã tắc. Hôm nay, trước mặt Đại tướng quân Chiêm Thành, ta tự nguyện lập khế ước này để làm bằng chứng, tuyệt không đổi ý về sau.

Kể từ giờ phút này, hai thành Quế Lâm và Địa Lộc, cùng toàn bộ thành quách, dân cư, ruộng đất, sông núi và mọi quyền cai trị trong địa giới ấy, xin vĩnh viễn nhượng cho Chiêm Thành.

Ngay khi đại quân Chiêm Thành xuất binh cứu viện, khế ước này lập tức có hiệu lực. Sau khi chiến sự kết thúc, nước Đinh sẽ lập tức bàn giao hai thành nói trên, không được viện bất kỳ lý do nào để trì hoãn hay bội ước.

Đổi lại, Đại Tướng quân Chiêm Thành cam kết thống lĩnh đại quân tinh nhuệ tiến vào lãnh thổ nước Đinh, dốc toàn lực đánh lui quân địch, bảo vệ vương đô và xã tắc nước Đinh cho đến khi chiến sự kết thúc.

Nếu nước Đinh nuốt lời, không chịu giao thành đúng như khế ước, thì Chiêm Thành có quyền tự mình tiếp quản hai thành bằng binh lực, thiên hạ cũng không thể xem đó là thất tín.

Khế ước này được lập ngay trước mặt hai bên, đóng quốc ấn và ký tên, từ nay về sau không được hủy bỏ hay sửa đổi".

Ma Ha Bôn tới tiền tuyến nước Đinh, bước vào đại bản doanh, y chễm chệ ngồi vào ghế thống lĩnh. Mã Sinh thấy vậy nhưng cũng không dám hó hé gì, đành ngồi dưới trướng.

Mã Sinh thuật lại toàn bộ diễn biến chiến sự, cùng thông tin quân Vệ cho Ma Ha Bôn. Bôn nói:

- Cái tên Hàn Toại ấy cũng có chút tài đó!

Mã Sinh nói:

- Tình hình thành Sĩ Nguyên rất nguy cấp, phải điều quân tiếp viện đi cứu!

Bôn đập bàn một tiếng lớn, các tướng lĩnh đều giật mình, Bôn nói:

- Từ nay ta tiếp quản ở đây, mọi mệnh lệnh phải tuân theo, cấm được tự ý quyết định!

Cái uy của Bôn hoàn toàn áp đảo Mã Sinh, Mã Sinh bèn nghe theo lệnh của hắn.

Bôn cùng các tướng lĩnh họp bàn kế đánh Vệ. Bôn cúi đầu nhìn bản đồ, nói:

- Hàn Toại giỏi bày trận, càng cho hắn thời gian, trận pháp của hắn càng kín như thành sắt. Muốn thắng loại người ấy, chỉ có một chữ.. Nhanh.

Ngay trong đêm, Ma Ha Bôn chia đại quân thành nhiều đội tinh nhuệ, thay nhau tập kích doanh trại, kho lương, bến nước và các toán trinh sát của nước Vệ. Ban ngày thì khiêu chiến, ban đêm lại quấy nhiễu, tiếng trống, tiếng tù, ánh lửa cháy rực khắp bốn phía khiến quân Vệ không đêm nào được ngủ yên.

Đến ngày thứ tư, khi Hàn Toại còn đang điều chỉnh trận thế, Ma Ha Bôn bất ngờ tập trung toàn bộ chủ lực đánh thẳng vào một cánh quân yếu nhất. Y chỉ đạo binh sĩ rằng:

- Đừng chia sức, đừng ham thắng khắp nơi. Hãy dồn mười phần binh lực nghiền nát một điểm. Khi một cánh đã vỡ, cả trận sẽ tự loạn.

Tượng binh mở đường, trọng bộ binh theo sát, cung thủ bắn áp chế từ hai cánh. Quân Chiêm không dừng lại để thu chiến lợi phẩm, cũng không truy kích quân tan rã, mà lập tức xoay mũi nhọn đánh tiếp vào cánh quân kế bên, liên tục như sóng biển nối nhau xô bờ.

Đến khi Hàn Toại kịp điều quân cứu viện, hai cánh quân đã tan tác, đội hình trung quân bị cô lập. Ma Ha Bôn lập tức tung đội kỵ binh dự bị đánh thẳng vào trung quân, khiến quân Vệ gần như vỡ trận.

Các tướng lĩnh nước Đinh đều cho là Bôn tài giỏi, Bôn chỉ nói:

- Hàn Toại thích thắng bằng tính toán, ta thắng bằng việc không cho hắn đủ thời gian để tính.

Đó chính là binh pháp của Ma Ha Bôn, lấy tốc độ phá mưu kế, lấy tinh nhuệ phá đội hình, lấy sự quyết liệt áp đảo ý chí, biến một cuộc chiến tiêu hao thành trận quyết chiến chớp nhoáng trước khi đối phương kịp phát huy toàn bộ tài thao lược.

Nhận ra tình hình chiến trận thay đổi chóng mặt, Vệ Vương cho truyền toàn bộ tướng lĩnh vào, hỏi rằng:

- Chiêm Thành đã cử quân tiếp viện tới, kẻ này có lối đánh rất thô bạo, lấy sức và tốc độ để ép quân ta. Nếu cứ đà này tiếp diễn, e rằng binh sĩ sẽ thiệt mạng rất nhiều, cần phải đổi sách lược!

Trương Siêu nói:

- Cái tên thất phu ấy chỉ nhất thời thắng được một trận, chưa có gì phải sợ!

Nguyễn Lương nói:

- Ma Ha Bôn là đại tướng tiếng tăm của Chiêm Thành, tuyệt đối không nên khinh suất!

Hoàng Trí nói:

- Phải lắm, người này có cách dùng binh rất dữ dội, chúng ta không thể đứng yên chịu trận được.

Dương Minh nói:

- Chiêm Thành đã tiếp thêm năm vạn binh mã, hung hăng thô bạo, quân ta giao chiến lâu ngày e rằng dù có thắng được cũng tổn hại nguyên khí rất nhiều. Người Chiêm là dân man di, tham lam vô độ, thần nghĩ nên dùng kế ly gián sẽ tốt hơn!

Trương Ngũ nói:

- Thần xin đi sứ, dùng ba tấc lưỡi thuyết phục được Ma Ha Bôn phản Đinh!

Hàn Toại nghe không thuận tai, nói:

- Càng là man di, càng không nên thương thuyết. Ma Ha Bôn không phải hạng hữu dũng vô mưu, hắn hiểu binh pháp, nhưng quá tin vào hai thứ, tốc độ và khí thế. Hắn cho rằng chỉ cần đánh đủ nhanh, đủ mạnh thì mọi mưu kế đều không kịp thi triển. Đó vừa là sở trường, cũng là điểm yếu của hắn.

Vệ Vương hỏi:

- Vậy khanh tính thế nào?

Hàn Toại đáp:

- Ma Ha Bôn sẽ liên tục tập kích để ép ta rối loạn, khiến ta phải đưa quân ứng cứu khắp nơi. Khi thấy một cánh quân có vẻ yếu, hắn sẽ dốc toàn bộ chủ lực đánh thẳng vào đó, mong phá trận trong một đòn quyết định, vậy thì ta sẽ cho hắn thấy một cánh quân yếu!

Dương Minh nói:

- Nếu dùng kế sách mà được việc, cớ sao phải nhọc công đánh trận?

Hàn Toại nói:

- Chưa đánh đã ngại, vậy sau này còn ai sợ uy nước Vệ được nữa?

Trương Siêu đồng tình với Hàn Toại:

- Với giặc như thế thì phải đánh, đánh cho chúng đến khi chịu khuất phục thì thôi!

Hàn Toại tâu với Vệ Vương:

- Bẩm chúa công, thần sẽ dùng trận này phá tan quân Chiêm, nếu không thành chúa công tính kế thương thuyết cũng chưa muộn!

Vệ Vương gật đầu:

- Thôi được, y lời Nguyên soái!

Các tướng lĩnh vâng mệnh rồi trở ra.

Tử Trọng ban nãy không nói lời nào, Dương Minh thắc mắc đi theo Tử Trọng, hỏi:

- Thừa tướng ban nãy đồng tình với Hàn Toại sao?

Tử Trọng đáp:

- Không hẳn!

Dương Minh hỏi:

- Cớ sao Thừa tướng không can chúa công?

Tử Trọng đáp:

- Chúa công quyết vậy là phải, cớ sao phải can?

Dương Minh lại hỏi:

- Lần này tướng địch dũng mãnh, hạ quan nghĩ rằng nên ưu tiên chọn cách ít tổn hại nhất mới là thượng sách!

Tử Trọng đáp:

- Ngươi nói cũng đúng, nhưng chưa đủ!

Dương Minh hỏi:

- Xin Thừa tướng chỉ giáo!

Tử Trọng nói:

- Hàn Toại có cái tôi rất cao, Ma Ha Bôn còn là đối thủ ngang tầm hắn, đương nhiên hắn sẽ không chịu thua thiệt chút nào!

Dương Minh gật gù:

- Cũng phải!

Tử Trọng nói tiếp:

- Hàn Toại là kẻ có tài, là rường cột của nước Vệ, lời hắn nói tất phải có trọng lượng. Chúa công hiểu điều ấy, nên thuận cho là vì không muốn Hàn Toại buồn bực, sinh oán thán trong lòng, ảnh hưởng tới đại quân. Nếu hắn thắng, càng tốt, nếu hắn bại, sẽ tự lấy đó mà xấu hổ, đây vốn cũng là điều tốt sau này.

Dương Minh chắp tay, nói:

- Thừa tướng hiểu nhân tâm như vậy, hạ quan xin lĩnh hội!

Hàn Toại ra lệnh:

- Ban đêm quân Chiêm quấy nhiễu, cứ để chúng quấy. Quân ta thay phiên nghỉ ngơi trong doanh trại kiên cố, không vì vài tiếng trống mà tự phá hàng ngũ.

Đồng thời, Hàn Toại tăng cường trinh sát, bảo vệ kho lương và nguồn nước, khiến những cuộc tập kích của quân Chiêm chỉ gây tổn thất nhỏ mà không làm rối loạn toàn quân.

Hàn Toại dùng kế Dĩ nhược dụ cường, lấy yếu như mạnh. Y cố ý bố trí cánh trái mỏng hơn bình thường, để lộ nhiều sơ hở, khiến trinh sát Chiêm tin rằng đây là điểm đột phá. Nhưng phía sau đó là ba tầng chuẩn bị, tầng thứ nhất, quân tiên phong vừa đánh vừa lui theo kế hoạch, kéo chủ lực Chiêm tiến sâu vào chiến trường đã định. Tầng thứ hai, cung nỏ và máy bắn đá bố trí trên gò cao đồng loạt bắn xuống, làm đội hình xung kích mất đà. Tầng thứ ba, hai cánh phục binh bất ngờ khép lại, cắt đứt đường tiếp viện và đường rút của quân Chiêm. Hàn Toại không đối chọi với sức mạnh quân Chiêm, y muốn Ma Ha Bôn lao vào nơi mình đã chọn.
 

Những người đang xem chủ đề này

Xu hướng nội dung

Back