53
0
Đề bài: Anh/chị hãy viết bài văn khoảng 800 chữ phân tích đặc sắc nội dung và nghệ thuật của bài thơ "Những bức tường"
Bài thơ "Những bức tường" ra đời trong dòng chảy sáng tác của Trương Đăng Dũng, qua từng câu chữ, ta nhận ra những rung cảm, suy nghĩ sâu lắng của tác giả được gửi gắm trong thi phẩm. Với mạch cảm xúc nhẹ nhàng mà tinh tế, bài thơ gợi mở những suy tư trong người đọc về mối quan hệ giữa người với người. Thi phẩm có giá trị nội dung và nghệ thuật đặc sắc, thể hiện thực trạng về sự ngăn cách trong mối quan hệ của con người.
Ngay từ những câu thơ đầu, tác giả đã tái hiện hình ảnh bức tường bằng sự tinh tế của ngôn từ, khiến hình ảnh thơ hiện ra giàu sức gợi:
"Những bức tường ta xây và ta phá" là bức tường hữu hình, có thể nhìn thấy, được con người xây nên để ngăn cách không gian. Những bức tường này là vật thể con người xây lên và phá bỏ theo ý mình. Còn "những bức tường ta không xây
Và không nhìn thấy" là bức tường vô hình, tồn tại ngoài ý muốn của con người. Con người không tự tay xây nên những bức tường ấy mà nó tự hình thành trong mối quan hệ giữa con người với con người, giữa con người với cuộc sống xung quanh.
Nhân vật trữ tình "anh" và "em" "đi trên mặt đất này" tồn tại, sinh sống. Tác giả nhắc lại hình ảnh bức tường "ta xây và phá" tuy nhiên khó khăn nhất là con người bị vây quanh bởi những bức tường không thể nhìn thấy. Đó là quy luật thực tế con người phải đối diện với nhiều khoảng cách, rào cản với không ít bức tường vô hình.
Nội dung của bài thơ tiếp tục được thể hiện ở khổ thơ thứ ba:
Những cái bắt tay vốn là biểu hiện của sự đồng ý, đồng tình, gắn kết nhưng điều bất thường ở chỗ giữa những cái bắt tay ấy vẫn tồn tại bức tường vô hình. Bức tường ấy sinh ra khi những cái bắt tay chỉ là hình thức, con người vẫn chưa có sự sẻ chia, thấu hiểu nhau, chưa xóa bỏ đi mặc cảm để bao dung. Ở hai câu thơ
"giữa em và người em thấy trong gương
Có một bức tường,
Giữa hai chiếc gối nằm kề nhau
Có một bức tường.", "giữa em và người em thấy trong gương" là sự phản chiếu chính mình nhưng soi gương không thể thấy hết được. Soi gương mới có thể nhìn thấy dáng vẻ bên ngoài mà không thấy được thế giới tinh thần đầy phức tạp bên trong. Bức tường ngăn cách chính mình ấy cho thấy chính con người đôi lúc cũng chưa thể thấu hiểu bản thân, vẫn có những lúc chênh vênh, hoang mang, lo lắng, có những bế tắc khó lòng giải tỏa và hành trình đi tìm kiếm chính mình vẫn còn gian nan. "Giữa hai chiếc gối nằm kề nhau" là biểu hiện của tình yêu vợ chồng, tình yêu đôi lứa nhưng vẫn có một bức tường ngăn cách, giữa hai người chỉ có sự gần nhau về thể xác mà thiếu đi sự hòa hợp về tâm hồn. Đến đây, ta cũng nhớ đến nhà thơ Xuân Diệu có nói đến bức tường Vạn Lý Trường Thành trong tình yêu đôi lứa khi hai người ngồi sát nhau mà vẫn có hai vũ trụ chứa đầy bí mật.
Trong đoạn thơ thứ tư, hình ảnh bức tường tiếp tục xuất hiện:
Đoạn thơ sử dụng phép điệp cấu trúc "Khi ta.. Đã có những bức tường", lời thơ nhấn mạnh những bức tường vô hình đã định hình và có sẵn như một quy luật tất yếu, khách quan, bao vây con người. Biện pháp tương phản đối lập về không gian "trời xanh, mặt đất, xung quanh ta, những miền xa, phía trước ta", vẽ ra chiều dài, chiều rộng, cái vô tận của cuộc đời nhưng đâu đâu con người cũng phải đối mặt với những bức tường. Hành động "ngước mắt nhìn trời xanh" là tìm kiếm ước mơ, hi vọng, lý tưởng tuy nhiên ngay cả khi con người xây đắp ước mơ thì trên mặt đất đã có sẵn bức tường như chướng ngại vật. Còn hành động "cúi đầu nhìn xuống mặt đất" là trở về với thực tại, có sự lí trí, tỉnh táo nhưng đó cũng là lúc con người nhận ra mình đang ở giữa những bức tường trên mặt đất - những khó khăn, chông gai, thử thách thậm chí là những bất trắc, nghịch cảnh của cuộc đời. "Những miền xa" là khát khao được trải nghiệm lên đường, được khám phá, thay đổi nhưng những bức tường ở phía trước lại cho thấy chẳng có gì là dễ dàng. Con người muốn bứt phá, muốn thay đổi cũng phải vượt qua những bức tường, thậm chí khiến con người phải dừng lại, cam chịu và chấp nhận. Hình ảnh những bức tường trong đoạn thơ mang ý nghĩa ẩn dụ về những thử thách, trắc trở, bất lợi trong cuộc sống mà con người phải đối diện. Những bức tường ấy là thước đo cho lòng dũng cảm, ý chí, sự bền bỉ, kiên trì của con người.
Câu thơ kéo dài lặp lại 3 lần cụm từ những bức tường như nhấn mạnh nỗi ám ảnh của con người vì sự ngăn cách, rào cản ở khắp mọi nơi chia rẽ con người. Phép điệp "trong những lời" kết hợp cùng các tính từ chỉ cảm xúc vui buồn, đoàn tụ, chia tay đã tô đậm nghịch lí những bức tường xuất hiện trong mọi trạng thái tinh thần của con người. Nỗi xót xa tiếc nuối bởi những bức tường cho thấy chẳng có gì tồn tại mãi với thời gian. Tác giả nhắc lại nghịch lí về những bức tường không thể phá, chúng vô hình nhưng lại có sức mạnh vô biên khiến con người muốn phá bỏ cũng đành bất lực. Đó cũng là sự bất lực vì cuộc đời hữu hạn, niềm vui ngắn ngủi gặp gỡ và chia li cũng chỉ là thoáng chốc.
Kết thúc thi phẩm là hai câu thơ "Đêm đêm anh vẫn nghe lũ quạ
Cười nói huyên thuyên trên những bức tường này."
Hai câu thơ cuối có yếu tố tượng trưng và biện pháp nhân hóa ở hình ảnh lũ quạ "cười nói huyên thuyên trên những bức tường này."
Lũ quạ là hình ảnh tượng trưng cho cái chết, ở đâu có xác người chết thì ở đó có bầy quạ kéo đến. Lũ quạ cười nói huyên thuyên bởi chúng được hưởng lợi từ những xác chết bên bức tường. Ý của câu thơ là lời cảnh báo rằng những bức tường vô hình giết chết con người bằng sự cô độc, định kiến, phân biệt, thù hằn. Nếu con người không vượt qua được những bức tường thì sẽ chết dần chết mòn cả về thể xác lẫn tinh thần, con người đau khổ bế tắc mà tạo hóa lại vô tình, hờ hững.
Tóm lại, "Những bức tường" mang dấu ấn của một nhà thơ trẻ trong nỗ lực cách tân thơ ca hiện đại, phá bỏ những quy tắc truyền thống để thơ ca gần gũi với đời thường. Người đọc từ đó nhận ra sự cần thiết và chủ động phá bỏ những bức tường xung quanh mình để thêm trân trọng, những giá trị sống, sống tích cực lạc quan.
Bài làm tham khảo
Bài thơ "Những bức tường" ra đời trong dòng chảy sáng tác của Trương Đăng Dũng, qua từng câu chữ, ta nhận ra những rung cảm, suy nghĩ sâu lắng của tác giả được gửi gắm trong thi phẩm. Với mạch cảm xúc nhẹ nhàng mà tinh tế, bài thơ gợi mở những suy tư trong người đọc về mối quan hệ giữa người với người. Thi phẩm có giá trị nội dung và nghệ thuật đặc sắc, thể hiện thực trạng về sự ngăn cách trong mối quan hệ của con người.
Ngay từ những câu thơ đầu, tác giả đã tái hiện hình ảnh bức tường bằng sự tinh tế của ngôn từ, khiến hình ảnh thơ hiện ra giàu sức gợi:
"Có những bức tường ta xây
Và ta phá,
Có những bức tường ta không xây
Và không nhìn thấy."
Và ta phá,
Có những bức tường ta không xây
Và không nhìn thấy."
"Những bức tường ta xây và ta phá" là bức tường hữu hình, có thể nhìn thấy, được con người xây nên để ngăn cách không gian. Những bức tường này là vật thể con người xây lên và phá bỏ theo ý mình. Còn "những bức tường ta không xây
Và không nhìn thấy" là bức tường vô hình, tồn tại ngoài ý muốn của con người. Con người không tự tay xây nên những bức tường ấy mà nó tự hình thành trong mối quan hệ giữa con người với con người, giữa con người với cuộc sống xung quanh.
Ở đoạn thơ thứ hai, hình ảnh bức tường tiếp tục xuất hiện:
"Anh và em đi trên mặt đất này
Giữa những bức tường ta xây và phá
Nhưng tất cả đều bị bao quanh
Bởi những bức tường không nhìn thấy."
"Anh và em đi trên mặt đất này
Giữa những bức tường ta xây và phá
Nhưng tất cả đều bị bao quanh
Bởi những bức tường không nhìn thấy."
Nhân vật trữ tình "anh" và "em" "đi trên mặt đất này" tồn tại, sinh sống. Tác giả nhắc lại hình ảnh bức tường "ta xây và phá" tuy nhiên khó khăn nhất là con người bị vây quanh bởi những bức tường không thể nhìn thấy. Đó là quy luật thực tế con người phải đối diện với nhiều khoảng cách, rào cản với không ít bức tường vô hình.
Nội dung của bài thơ tiếp tục được thể hiện ở khổ thơ thứ ba:
"Giữa những cái bắt tay
Có một bức tường,
Giữa em và người em thấy trong gương
Có một bức tường,
Giữa hai chiếc gối nằm kề nhau
Có một bức tường."
Có một bức tường,
Giữa em và người em thấy trong gương
Có một bức tường,
Giữa hai chiếc gối nằm kề nhau
Có một bức tường."
Những cái bắt tay vốn là biểu hiện của sự đồng ý, đồng tình, gắn kết nhưng điều bất thường ở chỗ giữa những cái bắt tay ấy vẫn tồn tại bức tường vô hình. Bức tường ấy sinh ra khi những cái bắt tay chỉ là hình thức, con người vẫn chưa có sự sẻ chia, thấu hiểu nhau, chưa xóa bỏ đi mặc cảm để bao dung. Ở hai câu thơ
"giữa em và người em thấy trong gương
Có một bức tường,
Giữa hai chiếc gối nằm kề nhau
Có một bức tường.", "giữa em và người em thấy trong gương" là sự phản chiếu chính mình nhưng soi gương không thể thấy hết được. Soi gương mới có thể nhìn thấy dáng vẻ bên ngoài mà không thấy được thế giới tinh thần đầy phức tạp bên trong. Bức tường ngăn cách chính mình ấy cho thấy chính con người đôi lúc cũng chưa thể thấu hiểu bản thân, vẫn có những lúc chênh vênh, hoang mang, lo lắng, có những bế tắc khó lòng giải tỏa và hành trình đi tìm kiếm chính mình vẫn còn gian nan. "Giữa hai chiếc gối nằm kề nhau" là biểu hiện của tình yêu vợ chồng, tình yêu đôi lứa nhưng vẫn có một bức tường ngăn cách, giữa hai người chỉ có sự gần nhau về thể xác mà thiếu đi sự hòa hợp về tâm hồn. Đến đây, ta cũng nhớ đến nhà thơ Xuân Diệu có nói đến bức tường Vạn Lý Trường Thành trong tình yêu đôi lứa khi hai người ngồi sát nhau mà vẫn có hai vũ trụ chứa đầy bí mật.
Trong đoạn thơ thứ tư, hình ảnh bức tường tiếp tục xuất hiện:
"Khi ta ngước mắt nhìn trời xanh
Trên mặt đất đã có những bức tường,
Khi ta cúi xuống nhìn mặt đất
Xung quanh ta đã có những bức tường
Khi ta nghĩ đến những miền xa
Phía trước ta đã có những bức tường."
Trên mặt đất đã có những bức tường,
Khi ta cúi xuống nhìn mặt đất
Xung quanh ta đã có những bức tường
Khi ta nghĩ đến những miền xa
Phía trước ta đã có những bức tường."
Đoạn thơ sử dụng phép điệp cấu trúc "Khi ta.. Đã có những bức tường", lời thơ nhấn mạnh những bức tường vô hình đã định hình và có sẵn như một quy luật tất yếu, khách quan, bao vây con người. Biện pháp tương phản đối lập về không gian "trời xanh, mặt đất, xung quanh ta, những miền xa, phía trước ta", vẽ ra chiều dài, chiều rộng, cái vô tận của cuộc đời nhưng đâu đâu con người cũng phải đối mặt với những bức tường. Hành động "ngước mắt nhìn trời xanh" là tìm kiếm ước mơ, hi vọng, lý tưởng tuy nhiên ngay cả khi con người xây đắp ước mơ thì trên mặt đất đã có sẵn bức tường như chướng ngại vật. Còn hành động "cúi đầu nhìn xuống mặt đất" là trở về với thực tại, có sự lí trí, tỉnh táo nhưng đó cũng là lúc con người nhận ra mình đang ở giữa những bức tường trên mặt đất - những khó khăn, chông gai, thử thách thậm chí là những bất trắc, nghịch cảnh của cuộc đời. "Những miền xa" là khát khao được trải nghiệm lên đường, được khám phá, thay đổi nhưng những bức tường ở phía trước lại cho thấy chẳng có gì là dễ dàng. Con người muốn bứt phá, muốn thay đổi cũng phải vượt qua những bức tường, thậm chí khiến con người phải dừng lại, cam chịu và chấp nhận. Hình ảnh những bức tường trong đoạn thơ mang ý nghĩa ẩn dụ về những thử thách, trắc trở, bất lợi trong cuộc sống mà con người phải đối diện. Những bức tường ấy là thước đo cho lòng dũng cảm, ý chí, sự bền bỉ, kiên trì của con người.
Đến đoạn thơ thứ năm, tác giả đã khắc họa bức tường tồn tại trong đời sống tinh thần của con người: "Những bức tường, những bức tường, những bức tường
Có mặt khắp nơi,
Trong những lời vui đoàn tụ
Trong những lời buồn chia tay,
Những bức tường ta không xây
Những bức tường không thể phá.."
Có mặt khắp nơi,
Trong những lời vui đoàn tụ
Trong những lời buồn chia tay,
Những bức tường ta không xây
Những bức tường không thể phá.."
Câu thơ kéo dài lặp lại 3 lần cụm từ những bức tường như nhấn mạnh nỗi ám ảnh của con người vì sự ngăn cách, rào cản ở khắp mọi nơi chia rẽ con người. Phép điệp "trong những lời" kết hợp cùng các tính từ chỉ cảm xúc vui buồn, đoàn tụ, chia tay đã tô đậm nghịch lí những bức tường xuất hiện trong mọi trạng thái tinh thần của con người. Nỗi xót xa tiếc nuối bởi những bức tường cho thấy chẳng có gì tồn tại mãi với thời gian. Tác giả nhắc lại nghịch lí về những bức tường không thể phá, chúng vô hình nhưng lại có sức mạnh vô biên khiến con người muốn phá bỏ cũng đành bất lực. Đó cũng là sự bất lực vì cuộc đời hữu hạn, niềm vui ngắn ngủi gặp gỡ và chia li cũng chỉ là thoáng chốc.
Kết thúc thi phẩm là hai câu thơ "Đêm đêm anh vẫn nghe lũ quạ
Cười nói huyên thuyên trên những bức tường này."
Hai câu thơ cuối có yếu tố tượng trưng và biện pháp nhân hóa ở hình ảnh lũ quạ "cười nói huyên thuyên trên những bức tường này."
Lũ quạ là hình ảnh tượng trưng cho cái chết, ở đâu có xác người chết thì ở đó có bầy quạ kéo đến. Lũ quạ cười nói huyên thuyên bởi chúng được hưởng lợi từ những xác chết bên bức tường. Ý của câu thơ là lời cảnh báo rằng những bức tường vô hình giết chết con người bằng sự cô độc, định kiến, phân biệt, thù hằn. Nếu con người không vượt qua được những bức tường thì sẽ chết dần chết mòn cả về thể xác lẫn tinh thần, con người đau khổ bế tắc mà tạo hóa lại vô tình, hờ hững.
Cần đăng nhập và nhấn Thích để xem đoạn này

