Một Chiều Trên Bến Hương Giang
Một chiều trên bến Hương Giang
Ngó em tôi bước xuống nhầm "thuyền ni"
Em cười "Sao hỉ?" mà chi
"Rứa răng" gửi lại còn gì hồn tôi!
Bây chừ mây trắng xa xôi
Thuyền sang bến nớ biết nơi mô tìm?
Biệt Khúc (Khóc bạn thơ Nguyệt Thảo)
Tạm biệt nhé
Vành trăng ngoan của cỏ
Áo mỏng em bay tha thướt về trời
Ta ở lại với nỗi buồn của gió
Mãi lang thang tìm từng mảnh sao rơi.
Mong manh thế?
Những vần thơ nạm ngọc
Bỗng vỡ tan trong bão táp vô thường
Thiên thần hát
Hay thiên thần bật khóc?
Cung đàn trầm lấp lánh những hạt sương.
Em đi mãi
Với nụ cười trong mắt
Dẫu nhánh cỏ thơm sớm gãy vụn xa lìa
Bóng nguyệt ấy sáng nay vừa lặn tắt
Sẽ lại sáng bừng
Nửa quả đất
Phía bên kia...
2008
(Tập thơ Giọt lệ trăng - NXB Văn nghệ 2010)
Thanh Trắc Nguyễn Văn
Lời tác giả: Biệt khúc là khúc hát để diễn tả cảnh chia tay, từ biệt.
Bài thơ viết tặng bạn thơ Nguyệt Thảo, tuổi còn rất trẻ không may mất sớm.
Một người tuy đã mất nhưng vẫn sống trong nỗi nhớ của bạn bè.
Nụ Tầm Xuân Trèo lên cây bưởi hái hoa Bước xuống vườn cà hái nụ tầm xuân (Ca dao)
Người về tìm nụ tầm xuân
Thương màu hoa bưởi trắng ngần chợt tan
Mây buồn từ dạo lang thang
Vườn cà thuở ấy cũng hoang phế sầu.
Hỏi gì khi cá cắn câu
Khi chim xanh đã nhốt vào lồng son
Tiếc câu thề biển hẹn non
Nước chưa chảy, đá đã mòn. Ly tan.
Người ta cau bạc trầu vàng
Nên tơ chỉ thắm để nàng sang sông
Trầu tôi một mớ ba đồng
Ngẩn ngơ đem thả ngược dòng ca dao.
Lời tác giả: Cây tầm xuân mọc thành bụi, hoặc có gai giúp chúng leo lên các cây khác. Cây có thể cao 1 - 5m. Toàn cây có nhiều gai. Cây có cành màu nâu sẫm.
Tầm xuân mọc thành chùm ở đầu cành. Hoa 5 cánh, đường kính khoảng 4 - 6cm. Cánh hoa rộng 1 x 1,5cm. Những bông hoa rất thơm. Màu hoa chuyển từ hồng nhạt sang hồng đậm và cuối cùng là trắng.
Bài thơ viết sau khi tác giả nghe một bài hát có nhắc đến "nụ tầm xuân"
Bài thơ viết tặng thầy Chí, giáo viên văn Võ Thị Sáu đã nghỉ hưu.
Rạch Miễu
Anh phải về
Đành giã biệt quê em
Giã biệt dòng phù sa đỏ ngầu mùa nước nổi
Cô gái xứ dừa chợt cúi đầu bối rối
Nghe gió sông Tiền lồng lộng những hàng cây...
Rạch Miễu xa rồi bàng bạc bóng mây bay
Em vẫy nón nhìn theo cánh chim trời rong ruổi
Ăn miếng bưởi quê em nghe mát lòng vị bưởi
Uống nước dừa xiêm sao thương da diết hương dừa?
Thì thôi em về kẻo phương ấy trời mưa
Cho anh hát bài Lý Qua Cầu qua rạch nhỏ
Một mai về lại bên sông Hồng nước đỏ
Con sóng bỗng thì thầm:
Rạch Miễu
em ơi!
Bến Tre 1996
(Tuyển tập thơThơ tìm người thơ – NXB Văn hóa Dân tộc 2001)
Thanh Trắc Nguyễn Văn
Lời tác giả: Rạch Miễu là một thị tứ ở bờ phía Bến Tre. Phà Rạch Miễu là một tuyến phà nằm trên quốc lộ 60 nối liền 2 tỉnh Tiền Giang và Bến Tre, với bờ phía Tiền Giang đặt tại phường 6, thành phố Mỹ Tho, và bờ phía Bến Tre đặt tại xã Tân Thạch, huyện Châu Thành.
Thủy trình qua sông Tiền của phà Rạch Miễu dài khoảng 3,2 km, đi vòng qua cồn Phụng và cồn Thới Sơn. Thời gian vượt sông của phà loại 100 tấn khoảng 25-30 phút, phà tốc hành 50 tấn khoảng 13-14 phút và phà 60 tấn gần 20 phút.
Khi cầu Rạch Miễu đưa vào sử dụng vào ngày 19 tháng 1 năm 2009, bến phà Rạch Miễu chính thức ngừng hoạt động.
Bài thơ viết tặng một cô gái tên Nguyên nhà ở Rạch Miễu. Cô gái này ở Sài Gòn mướn nhà trọ của thầy Tùng, giáo viên lý trường Võ Thị Sáu.
Ngày Xưa Nhớ Tuổi Học Trò
Ngày xưa nhớ tuổi học trò
Những chiều tan học thập thò đợi nhau
Nhớ gì trong gió lao xao
Em cười trong mắt mà sao thẹn thùng.
Sau em, tôi cũng ngượng ngùng
Từng màu hoa phượng ngập ngừng rụng rơi
Bài thơ đã viết hết lời
Muốn trao lại ngại, ngại rồi không... trao!
Để mùa hạ ấy qua mau
Để chiều kỷ niệm đi vào tháng năm
Để giờ em đã xa xăm
Còn đây trong gió tiếng thầm thì xưa...
1994
(Tập thơ Hoa sứ trắng - NXB Đà Nẵng 1997)
Thanh Trắc Nguyễn Văn
Lời tác giả: Sau năm 1975, nữ sinh không còn mặc nhiều áo dài như trước. Niên khóa 1983-1984, lần đầu tiên chiếc áo dài trở thành đồng phục nữ sinh của Trường Hồ Thị Kỷ (Cà Mau). Sau đó chiếc áo dài dần được khôi phục lại tại các trường học trong nước.
Một phiên bản khác của bài thơ Ngày xưa nhớ tuổi học trò đã đăng trên báo Áo trắng:
Ngày xưa nhớ tuổi học trò
Những chiều tan mình chờ đợi nhau
Nhớ gì trong gió lao xao
Em cười trong mắt mà sao ngượng ngùng.
Sau em, tôi cũng ngập ngừng
Từng màu hoa phượng thẹn thùng rụng rơi
Bài thơ đã viết hết lời
Muốn trao lại ngại, ngại rồi không trao!
Để mùa hạ ấy qua mau
Để rồi kỷ niệm đi vào tháng năm
Để giờ em đã xa xăm
Còn đây trong gió tiếng thầm thì xưa...
Bài thơ viết tặng các em học sinh lớp 12, lớp tác giả chủ nhiệm.
Lời tác giả: Tình yêu là gì? Tình yêu là cảm xúc mà mỗi con người đều có nhưng rất khó định nghĩa. Trong thơ văn đã có rất nhiều định nghĩa về tình yêu...
"Văn chương vỉa hè" đã từng có câu:
Yêu là khổ
Không yêu thì lỗ
Thà chịu khổ chứ không chịu lỗ...
Bài thơ viết tặng cho một cô bạn sau khi cùng nhau tranh luận về chủ đề "yêu".
Bài thơ viết tặng cho một cô bạn sau khi cùng nhau tranh luận về chủ đề "yêu".
Làm Quen
Người ta tan học có đôi
Sao bé tan học mồ côi một mình?
Ta chào bé cứ làm thinh
Ta cười bé giận mắt nhìn đâu đâu...
Hỏi tên, bé bỗng lắc đầu
Hỏi nhà, bé chỉ mây cao... trên trời!
Xe ta sao bé chẳng ngồi?
Ta buồn lẽo đẽo...
Mồ côi hai mình!
Lời tác giả: Tình yêu tuổi học trò đứng giữa hai giai đoạn, đồng thời còn là trẻ con và cũng đã là người lớn, tạo nên một loại tình yêu trong trẻo và tuyệt vời.
Chuyện tóc ngắn và tóc dài khi tan trường:
- Mình làm quen nha em?
- Em bà nội mầy, chứ em!
Vậy mà có ai ngờ sau này họ vẫn quen nhau...
Bài thơ viết từ câu chuyện kể của một em nữ sinh lớp 12, lớp tác giả chủ nhiệm.
Mưa Phố Huế
Trời mưa ướt áo trời mưa
Chiều nay tan học ai đưa em về
Sao em cắt ngắn tóc thề
Để buồn giọt nắng, dầm dề giọt mưa?
Huế 1994
(Tập thơHạ nhớ - NXB Tổng hợp Đồng Nai 1999)
Thanh Trắc Nguyễn Văn
Lời tác giả: Thừa Thiên - Huế là vùng có lượng mưa trong năm cao nhất (2.700-4.000mm), số ngày mưa cũng kéo dài nhất (200-220 ngày) và tất nhiên độ ẩm cao nhất nước (83-87%).
Ai đó đã nói rất đúng rằng, đến Huế mà chưa được thăm lăng tẩm Hoàng cung thì coi như chưa đến Huế. Tôi vẫn muốn nói thêm, đến Huế mà chưa được rong ruổi trên các con đường để tắm mình trong những cơn mưa rả rích, dìu dịu, lâm thâm... thì cũng coi như chưa một lần đến Huế.
Bài thơ viết từ một buổi chiều mưa đợi bạn trước cổng trường Quốc Học - Huế.
Tặng Minh Thu
Là nhớ gì không nhỏ?
Ngày ấy em rời trường
Nắng chiều vương trong mắt
Ngập ngừng và mông lung.
Ta ngẩn ngơ lặng ngắm
Cánh phượng hồng rụng rơi
Sân trường mùa hạ thắm
Bóng em xa, xa rồi...
Là thấy gì không nhỏ?
Sao vội vàng quay lưng
Đầu cành ve nức nở
Chiếc lá sầu rưng rưng.
Bước giày em thầm lặng
Bỗng chốc hóa xa vời
Ta về qua cửa lớp
Bụi phấn còn rơi rơi.
Là xa rồi đấy nhỏ
Kỷ niệm những ngày thơ
Người em xưa áo trắng
Hình bóng giờ trong mơ.
Trời xanh kia thăm thẳm
Mùa hạ biết còn không
Mùa thu sao đến chậm
Để buồn ta mênh mông?
1994
(Tập thơ Hạ nhớ - NXB Tổng hợp Đồng Nai 1999)
Thanh Trắc Nguyễn Văn
Lời tác giả: Mùa hạ là mùa kết thúc một niên học của các em học sinh và cũng là mùa hạ cuối cùng, từ giã mái trường của các em học sinh.
Mùa hè của năm học lớp 12 được những học trò cuối cấp gọi là mùa hè cuối cùng. Đây là mùa hè có nhiều cảm xúc nhất, những cảm xúc khó nói thành lời, lòng bồi hồi không nỡ rời xa những năm tháng học trò.
Bài thơ viết tặng cho một nữ sinh của trường THPT Võ Thị Sáu tên Minh Thu sau khi tốt nghiệp lớp 12 và ra trường.
Lời tác giả: Mùa nước nổi, còn gọi là mùa lũ sông Cửu Long, là hiện tượng lũ lụt tự nhiên ở Đồng bằng sông Cửu Long Việt Nam, thường bắt đầu từ tháng 7 âm lịch đến tháng 10 âm lịch hàng năm, cao nhất là vào nửa cuối tháng 8 và đầu tháng 9 dương lịch.
Nước lũ ở miền Tây Nam Bộ không dâng đột ngột mà con nước lên chầm chậm, từ từ tràn vào đồng ruộng, vào những dòng sông, kênh rạch, xóm làng... tạo thành một vùng nước bao la theo phù sa và nguồn lợi thuỷ sản dồi dào.
Bài thơ viết tặng một người bạn tại tỉnh An Giang.
Lời tác giả: Mùa thu Đà Lạt là những buổi sớm se lạnh, là khung cảnh phủ đầy sương mù mờ ảo, là những đồi hoa dã quỳ nở vàng rực rỡ hay khung cảnh hoàng hôn đầy bình yên.
Đà Lạt từng có được những biệt danh: Thành phố mộng mơ; Thành phố ngàn hoa; Thành phố ngàn thông; Tiểu Paris phương Đông; Xứ Hoa Anh Đào
Lời tác giả:Ly hôn luôn là một bi kịch khủng khiếp của những đứa trẻ.
Sau khi ly hôn, những đứa trẻ chỉ có thể chọn sống chung với cha hoặc chọn sống chung cùng mẹ, dù chọn lựa nào thế nào thì cũng là một mất mát rất lớn đối với chúng.
Thiên Sứ (Khóc Thuý Nga)
Một chiều qua xóm Đạo
Chân nhói kỷ niệm xưa
Tượng Chúa trên thánh giá
Cô đơn màu nắng mưa
Ngọn gió đông gầy guộc
Lạnh tim ta cuối mùa.
Đâu sân trường Thiên Phước
Đâu lầu trường Đức Minh
Chuông nhà thờ chầm chậm
Vọng tiếng buồn tâm linh?
Chuông vang lời sương khói
Ta về tìm đức tin.
Em về đeo thánh giá
Dắt ta kẻ tội đồ
Sáng danh là Thiên Chúa
Tội danh là... làm thơ!
Bờ vai em tròn nhỏ
Đưa ta đến dại khờ!
Em bông hồng Thiên sứ
Xuống từ miền trăng sao
Bầu má đỏ hồng đào
Tà áo dài hồng phấn
Để hồn ta lận đận
Để tình ta lao đao.
Ta tín đồ ngoại đạo
Ngàn năm chỉ biết yêu
Theo em Thiên sứ nhỏ
Tóc xõa dáng yêu kiều
Câu kinh em truyền đọc
Ta nghe toàn rong rêu.
Em thiên thần hờn dỗi
Nụ cười hồng xinh xinh
Ta trái tim nông nổi
Lệ nửa đời phiêu linh
Trước em xin sám hối
Ngơ ngẩn một u tình.
Tìm trao lời vô tội
Nẻo nào nghẹn tương tư?
Bàn chân em bối rối
Bàn chân ta chần chừ
Nỗi đau dài không nói
Câu thơ hằn đá sỏi.
Em giờ mờ sương khói
Cành hồng vội gãy đôi
Tình ta màu bão táp
Hồn ta màu tuyết rơi
Mảnh trăng xưa vỡ khuyết
Thổn thức cuối chân trời.
Thiên sứ ơi, Thiên sứ
Ta còn em nơi đâu?
Lang thang chiều xóm Đạo
Bước chân buồn bể dâu
Chúa trên trời cũng khóc
Mưa pha lê xám màu.
2003
(Tuyển tập thơ Mưa pha lê - NXB Văn hoá Dân tộc 2003)
Thanh Trắc Nguyễn Văn
Lời tác giả: Thúy Nga là hoa khôi của lớp tôi ngày xưa. Là một nữ sinh trường Đạo trước năm 1975, Thúy Nga luôn xinh đẹp và dịu dàng nhất lớp. Không may cô mất rất sớm khi chưa được 30 tuổi trong một tai nạn giao thông để lại niềm thương tiếc khôn nguôi trong lòng của bè bạn..
Trường Thiên Phước (trường Đạo của nữ sinh) sau 1975 đổi tên là trường Hai Bà Trưng. Trường Lasan Đức Minh (trường Đạo của nam sinh) sau 1975 đổi tên là trường Trần Quốc Tuấn và bây giờ có tên là Đại Học Tại Chức Tp. HCM. Cả hai trường đều ở gần nhà thờ Tân Định.
Đại Đế Và Nhỏ Phù Thủy
Ta Đại Đế về thăm vương quốc cũ
Thăm cánh đồng xưa mây trắng lưng đồi
Thuở chăn trâu chơi lội sông đánh giặc
Ta đủ tài thành Đại Đế lên ngôi.
Lấy tre lá dựng lâu đài tráng lệ
Lấy cờ lau làm hiệu lệnh vương quyền
Bao tướng lãnh, bao thần dân thần phục
Trâu theo bầy theo Đại Đế uy nghiêm.
Nhưng Nhỏ Phù Thủy môi hồng dễ ghét
Cùng bọn nữ yêu đỏng đảnh tóc dài
Thích chọi phá, thích leo trèo la hét
Khiêu khích ta đạp ngã những lầu đài.
Ta giận dữ đòi yêu ma quyết chiến
Đại Đế ra quân đội ngũ trùng trùng
Chỉ một trận giặc thù thua khiếp vía
Vứt gậy chạy dài nhốn nháo bến sông.
Nhỏ Phù Thủy biết quân mình sức kiệt
Đem bọn yêu lẩn trốn tận rừng sâu
Ta thừa thắng xua đại quân đuổi đánh
Bỗng phục binh, bị đá ném lỗ đầu!
Vết sẹo nhỏ hóa đôi bờ ngăn cách
Chẳng nhìn ai như hận oán nghìn đời
Ta lên tỉnh tháng năm dài biệt xứ
Vẫn nhớ thầm một vương quốc xa xôi...
Nhỏ Phù Thủy ai ngờ thành cô giáo!
Mắt xinh xinh e lệ dưới mây chiều
Ta Đại Đế giờ cúi hàng quy phục
Khẩn xin nàng ban tặng trái tim yêu!...
Lời tác giả: Khoảng năm 1994, tôi có hướng dẫn một cô giáo sinh tên là Liên, quê ở Tánh Linh tỉnh Bình Thuận. Cô giáo sinh này tính tình như con trai: biết võ thuật, biết đá banh, biết bơi lội, biết dùng ná bắn chim... Cô kể có lần chơi trò chơi đánh giặc với lũ con trai cô đã vô tình ném đá vỡ đầu một thằng bạn, làm nó phải khóc thét vì máu chảy đầy mặt! Tôi đã viết bài thơ này để tặng cho cô giáo sinh.
Bài thơ này bị nhiều tờ báo từ chối đăng vì có chứa ít nhiều nội dung "bạo lực".
Bài thơ viết tặng cô giáo sinh thực tập trường Võ Thị Sáu, tên Liên.
Ghen
Giận em đập nát câu thề
Nắng hồng rơi vỡ dầm dề mưa tuôn
Bão dông giăng kín mây buồn
Gió tan tác nhớ, sóng cuồn cuộn đau...
Bây giờ người ấy trầu cau
Dửng dưng qua bến sông sâu, xuống đò
Lơ ngơ tôi đứng trên bờ
Lời thương hóa đá... Hết chờ, hết mong!
Lội đò tiễn sáo sang sông
Câu thơ xưa thả bềnh bồng hoàng hôn
Vung tay bỏng lửa ghen hờn
Dở dang giờ nhặt cô đơn bốn mùa...
1997
(Tuyển tập thơ Thơ Nhà giáo TP. HCM - NXB Trẻ 1997)
Thanh Trắc Nguyễn Văn
Lời tác giả: Bài thơ viết lại từ một câu chuyện kể ở Tiền Giang.
Ghen thường đề cập đến những suy nghĩ hoặc cảm giác bất an, sợ hãi và lo lắng về sự thiếu thốn tương đối về tình cảm trong một mối quan hệ lãng mạn do đó, trong bối cảnh này được hiểu như là ghen tuông (Jealousy).
Trong lịch sử văn học Việt, Hoạn Thư (trong Truyện Kiều) là nhân vật ghen tuông nhất, trở thành biểu tượng của sự ghen tuông tàn nhẫn, độc ác, nham hiểm đậm chất đàn bà.
Lời tác giả: Hoa vông vang thường có màu vàng là hoa của một loài cây dại. Cây vông vang thường mọc lẫn với các loại cây cỏ thấp ở nương rẫy, ven đồi, bãi hoang hay ven đường đi.
Bài thơ được viết từ một câu chuyện kể của một cô gái xinh đẹp quê ở An Giang, sống ở Cà Mau. Cô cho biết ngày xưa chồng của cô là một anh chàng công tử con nhà giàu, luôn nghĩ trong đầu có tiền thì mua tiên cũng được.
Có lần, khi mới quen nhau, chàng công tử hỏi cô thích hoa gì anh sẽ mua tặng. Cô đã trả lời cô thích nhất là hoa vông vang...