282 ❤︎ Bài viết: 1159 Tìm chủ đề

Chương hai - 3​


20261004-092537-ee7af87c5f.png


Chương hai - 3

Chiều thứ bẩy nào tay thợ chụp ảnh cũng đợi em ngoài cổng trường. Hắn thay chiếc xe Môkích mầu đỏ bằng một chiếc Công pho trắng sứ lịch lãm. Khoác chiếc áo dài chấm khoeo màu xám, đội mũ phớt mềm, đi giày mõm nhái, miệng thổi khói viết thành chữ o thật khéo.

Em thích tay thợ chụp ảnh vì hắn biết nói lời nịnh đầm; biết gu con gái hay ăn quà vặt để dúi vào tay một gói ô mai hay phong kẹo cao su. Ngày Quốc tế phụ nữ ngoài quà tặng còn kèm thêm lời chúc lịch lãm.

Quả thực có những đêm em đã nghĩ để rồi mơ về hắn. Mái tóc xù và khuôn mặt quắt thoạt đầu nhìn khó coi, sau nhìn quen dần. Hắn viết thư gửi đều đều, mặc dù chiều thứ bẩy nào hai đứa cũng gặp nhau. Hắn bảo:

- Viết thư cho em để thỏa mãn nỗi bức xúc của người đang yêu.

Hắn nói như thi sĩ đọc thơ, đối xử với em như đã được em chấp nhận.

Rủ lên thị xã xem ca nhạc, hắn khoe:

Các anh ở phòng văn hóa thị xã ưu tiên anh lắm mới cho hai vé. Hôm nay có Thu Hiền và Trưng Kiên hát.

(Không hiểu vì sao hắn hiểu cả ca sỹ mà em mê)

Xem xong, hắn rủ đi ăn. Bụng đói, em đồng ý. Vả lại em thích ăn phở Phúc An. Hồi còn học cấp ba, em và bọn bạn hôm nào đi học có tiền chỉ rình trốn cơm nguội để ăn phở.

Hàng phở bán đêm nằm ở cuối phố, gần ngã tư. Ánh điện đỏ quạch, khói than mù trời, mặt đường lồi lõm, ngồi đằng sau, em giữ ý không ôm eo, xe bị xóc làm em mất thăng bằng, mông nẩy lên nẩy xuống, ngực nhấp nhổm va vào lưng tay thợ chụp ảnh.

- Thế này cũng mang tiếng thị xã, nghèo như chị Dậu.

Em bật cười vì cách ví von của hắn.

Ăn xong, hắn rủ:

- Tụi mình lên bờ sông Cà Lồ hóng mát đi?

Em từ chối:

- Khuya rồi, em về ngủ, ngày mai còn phải học.

- Nghỉ một buổi đã sao? - Hắn gạ.

Em kiên quyết không đồng ý. Trên đường về hắn im lặng. Đồ chừng hắn giận. Em hỏi:

- Anh giận em à?

- Không giận nhưng buồn. - Giọng hắn thành thật. Nghe, em mủi lòng, nghĩ tới sự nhiệt tình, nhớ tới buổi ca nhạc, nhớ tới bát phở gà bốc hơi nghi ngút. Lúc qua đôi Thanh Tước, gần đến lối rẽ về làng, sát bãi cỏ hồi bé đi chăn trâu, em buột miệng:

- Ta vào trong kia ngồi một lát. Nói xong, lòng xuất hiện cảm giác ân hận, em nói thêm - Ngồi một lúc thôi, rồi anh chở em về trường. Bác bảo vệ nghiêm lắm!

Hắn cho xe men theo sườn núi, em chỉ đường xuống bãi. Dựng xe, hắn mở yên lấy chiếc áo vải mưa (hắn đã có ý chuẩn bị trước) trải lên mặt cỏ, vuốt mép vải:

- Em ngồi xuống đi.

Ngồi, em ý tứ giữ khoảng cách, khoan khoái duỗi hai chân trên thảm cỏ dày, tay bứt cọng cỏ đưa lên mồm nhấm nhấm. Móc túi lấy bao thuốc, hắn hỏi:

- Mé kia là làng em phải không?

- Vâng, ở chỗ ông trăng treo trên mấy lùm tre kia kia - Em chỉ tay.

- Có lần tụi anh đã đến làng em xem phim rồi.

Quả thực hồi ấy ở làng em, một tháng đôi lần có đoàn chiếu phim lưu động đến. Nhưng em vẫn nguýt:

- Anh nói phét! Làm gì có chiếu phim?

- Em về hỏi bố xem! Này, anh còn biết cả tên tục cũ của làng em đấy nhé! - Giọng hắn vơ vào.

- Anh nói xem? - Em cố chấp.

- Làng em ngày xưa gọi là Kẻ Đống, còn làng bên kia gọi là Kẻ Gò. Mãi đến hòa bình mới đổi thành Quyết Thắng và Quyết Chiến.

- Anh đến sao em không biết? - Em thừa nhận.

- Chắc lúc ấy em còn thò lò mũi xanh, ai thèm để ý! - Ánh lửa lóe sáng, soi rõ nụ cười ranh mãnh nở trên đôi môi thâm xì trước khi bập vào cán điếu thuốc.

- Lớn bằng ai mà ra dáng? - Em bĩu môi.

- Không bằng ai cũng hơn đằng ấy.

Em không trả lời.

Trăng lên quá tầm ngọn tre, sao trời thưa thớt, ánh bạc phủ trắng màn đêm, sương rơi ướt đầm; hơi lạnh thấm qua làn áo mỏng, em xo vai. Hắn hỏi:

- Em lạnh phải không? - Hắn nhích về phía em.

Thoáng một chút hơi nóng phả vào sườn, em giật mình dịch ra. Hắn mở đầu:

- Em có thích nghề ảnh không?

Em trả lời: - Nhà nước đào tạo em làm nông nghiệp, có thích cũng chẳng được. Mà có muốn thì nhà em nghèo lấy tiền đâu mua máy?

- Sao em không chọn ngành khác? Học nông nghiệp thì thà rằng ở nhà làm ruộng còn hơn.

- Nói như anh mà cũng nói! Cũng là làm ruộng nhưng có học vẫn hơn chứ!

- Hơn gì! - Em cảm tưởng môi hắn trề ra - Anh nói thật đấy! Học về có khác gì đám "nông tồ" suốt ngày "bán mặt cho đất, bán lưng cho trời". Em không chê nghề ảnh anh sẽ giúp!

Sau câu nói, hắn đặt một tay lên vai. Em đẩy tay hắn ra, nói:

- Thôi, ta về đi,

- Anh tưởng.. - Hắn búng mẩu thuốc bay lên cao, tàn thuốc bung ra vẽ thành bông hoa lửa.

- Anh tưởng gì? - Em hỏi.

- Ààààà - Hắn ngập ngừng - Ngồi một lúc nữa em! - Hắn nài.

Em đứng đậy vươn vai: - Về thôi, muộn rồi, dễ bây giờ có đến mười hai giờ đêm?

Xong câu nói, em bước đi. Hắn nhỏm dậy, rất nhanh, cầm lấy tay em kéo ngoắt lại, ôm choàng lấy người em, khuôn mặt hắn lộ rõ dưới ánh trăng, cái miệng hôi xịt mùi thuốc lá gí sát mặt: - Anh yêu em.. Anh yêu em.. - Hắn lảm nhảm như bị ma ám. Em đẩy hắn ra: - Ơ, cái anh này? - Câu nói bị cái mồm người đàn ông bịt chặt. Em giãy giụa, tay đẩy, chân đạp nhưng không thoát nổi bàn tay nồng nhiệt, ham hố. Em cong lưng, ưỡn ra đằng sau để thở, tránh mùi hôi nồng nặc phả vào tận cổ họng. Không ngờ, hắn lấy một chân đưa ra đằng sau như đô vật ngáng địch thủ. Em ngã uỵch xuống tấm ni lông, cả thân hắn đè lên người em, một tay hắn luồn dưới tấm áo, miệng thì thào - Em chiều anh, chiều anh đi.. - Trong người em xuất hiện cảm giác lâng lâng, đê mê, dễ chịu. Hình ảnh mấy đứa trẻ chăn trâu chơi trò vợ vợ chồng chồng hiện về. Em lả người, mềm nhũn khuất phục. Nhưng khi cái vật nóng hổi giữa háng hắn chạm vào đùi, thì em bừng tỉnh. Một phản ứng tự vệ đột ngột trỗi dậy. Gần như vô thức, em co gối, đạp thật mạnh, cái đạp làm hắn bật ngửa về phía sau. Kèm vào đấy là tiếng rú đau đớn từ miệng hắn thốc ra: - Ối giời ơi, đau quá! Đau quá ối giời ơi. - Sau tiếng kêu, hắn lịm đi.

Tưởng hắn chết, em nhổm dậy, xốc lại áo quần.. Chạy. Như hồi bé chăn trâu ở bãi, chiều nào về muộn, đánh trâu chạy tắt cánh đồng, tránh bãi tha ma, men theo bờ đầm Vực về làng.

Bình thường, rất ít kẻ đám đi qua đầm Vực vào nửa đêm. Người làng thường đồn ở dưới đầm có con Nam Nam, nó hay hóa thành người con gái xõa tóc ngồi bên bờ đầm hát nỉ non.

Mặc kệ! Việc vừa xảy ra ở bãi chăn trâu còn đáng sợ hơn nhiều. Em chạy một mạch về nhà. Con chó vàng nhẩy cỡn quay tít cái đuôi như phất cờ. Em đẩy cửa, cửa cài then. Em tần ngần đứng trước cửa lưỡng lự không biết có nên gọi hay không?

Trong nhà, trên bàn, ngọn đèn đầu xanh lét. Tiếng ngáy nhè nhẹ từ trong giường vọng ra. Đang mải nghĩ thì con chó vàng quẩn cạnh chân cứ chồm lên người mừng. Bực mình, quên cả giữ ý, em quát: "Vàng, im". Tiếng ngáy trong nhà im bặt, giọng bố vang lên phá tan sự yên tĩnh;

- Ai đấy? Nếu là trộm thì nhà nay không có gì đâu!

Em không kìm nổi nữa: - Bố ơi, con đây, Linh đây, bố mở cửa cho con.

Bố vùng dậy, vặn bấc đèn, ánh sáng tỏa rộng. Bố mở cửa hỏi:

- Sao con về muộn thế này? Ai đưa con về?

Mồm em lắp bắp: - Con.. Con, con sợ quá bố ơi! - Em, ôm chặt bố. Từ trong giường mẹ hỏi:

- Con Linh ở trường về hả bố nó?

- Mình dậy lấy cho tôi lọ dầu gió. - Bố dìu em đi vào giường - Hình như nó phải cảm?

Mẹ vắt màn, đỡ em nằm xuống giường, vạch lưng, vạch bụng xoa dầu, miệng xuýt xoa:

- Có chuyện gì nói cho bố mẹ nghe. Con bị đuổi học à?

- Em cố lấy bình tĩnh kể cho bố mẹ nghe chuyện vừa xảy ra. Nghe xong, bố im lặng đi đến bàn thờ, châm hương, chắp tay khấn khứa. Quay lại bố nói.

- Hai mẹ con ở nhà, bố ra xem người ta sống, chết ra sao? Dẫu thế nào vẫn phải giữ tình con người.

Mẹ làu bàu: - Đồ khốn nạn! Nó mà hại một đời con gái của con Linh tôi sẽ giết nó!

Thế mới biết phẩm giá của con gái đối với mẹ là vô giá.

Bố đi, ở nhà mẹ và em khắc khoải chờ. Em tưởng tượng: Chốc nữa bố vác cái xác tay thợ ảnh không còn hồn để nằm sóng soài dưới sân; em mường tượng ra khuôn mặt xệch xạc bê bết máu, mái tóc bồng bềnh phủ lên đôi mắt mỗi khi cười, trông như sợi chỉ căng ngang.

Có tiếng động ngoài sân, em nép vào lòng mẹ. Một tâm hồn già nua, bủng beo ôm ấp, che, chở cho một tâm hồn non nớt, thơ dại, lần đầu tiên phạm tội. Tội ấy thật khủng khiếp: Tội giết người.

Bố bước vào, mẹ chồm dậy:

- Nó đâu? Sao không đưa nó về?

- Chẳng thấy ai cả! - Bố thủng thẳng đáp - Xe máy cũng không thấy đâu. Chắc chỉ bị ngất thôi, tỉnh dậy lại đi được.

Em lảo đảo đảo ngã vật xuống nước mắt chảy đầm đìa, cổ nghẹn nấc, người giật đùng đùng, cơn sốt bất chợt kéo về, toàn thân nóng hầm hập. Lát sau, một cơn sốt lạnh kéo đến toát dọc xương sống, toàn thân giá buốt. Mẹ đắp lên người ba cái chăn mà em vẫn lạnh. Trong cơn hoảng loạn mê man, em lơ mơ nhìn hương cháy trên ban thờ sáng như đôi mắt bà ngoại nhìn. Bà bước xuống, dang tay đón, ghì chặt em vào lòng, cất tiếng hát ầu ơ. Em nhoẻn cười, hơi ấm từ da thịt bà tỏa ra, em ngả đầu, áp ngực bà tin tưởng. Những sợi tóc bạc phơ, mềm mại, mơn man lên hai má đỏ như bồ quân của em.

Chương hai - 4
 
282 ❤︎ Bài viết: 1159 Tìm chủ đề

Chương hai - 4​


20261004-092732-4b563a3cb7.png


Chương hai - 4

Tôi rất khó chịu lúc đang ngủ bị đánh thức. Chính vì thế, khi người bị chao như đưa võng, xóc như xóc ốc, tôi làu bàu.

Có tiếng ai quở: - Thằng này ngủ như lợn! Tây đuổi đến nơi vẫn ngáy pho pho!

Thì đúng rồi! Tôi chẳng đẻ năm Hợi, cầm tinh con lợn đấy thôi! Còn Tây? Đấy là chuyện của người lớn, đâu phải chuyện của lũ trẻ ranh. Nói thế mà cũng nói! - Nghĩ vậy, tôi định tiếp tục ngủ như không có gì xẩy ra thì bỗng nhiên, có cái gì đập rất mạnh vào lưng khiến tôi bừng mắt. Trời tối om, những ngôi sao tít trên cao nhấp nha nhấp nháy. Xung quanh lờ mờ những bóng người tay xách, nách cầm, gánh, gồng, khuân, vác.. Thậm chí có người đầu còn đội các thứ hối hả chạy. Tôi nhận ra mình đang nằm trong thúng và được dì quẩy. Vì chân thọt, nên mỗi khi dì bước, cái thúng nhâng lên, thụt xuống như giã gạo. Thi thoảng, lưng của tôi bị những mô đất cao hỏi thăm đau ơi là đau.

À, ra là dân Phúc An chạy tản cư. Sau khi phá nhà, chặt cây, đào đường thực hiện khẩu hiệu "Vườn không nhà trống" xong, theo hiệu lệnh của Ủy ban Kháng chiến dân thường, đàn bà, trẻ con tản cư vào An toàn khu Châu Lam.

Mẹ đội một cái đẫy vải to chạy vượt lên:

- Dì mệt chưa? Chị đổi cho một tý!

- Em còn đi được! - Dì trả lời rồi hỏi - Từ đây vào đấy còn xa không chị?

- Thấy bà Đỡ bảo phải vào hang Dơi, nếu cần phải vượt đèo Nhe, sang tỉnh Thái Nguyên.

Hang Dơi, đèo Nhe! Những cái tên nghe buồn cười thật! Tôi nghĩ đến cái tên, còn cố tình ra vẻ không để ý có bà Đỡ đi cùng. - Dẫu bà có công đỡ tôi! Thậm chí trong gia đình ai cũng nói: - Không có bà Đỡ thì lấy đâu ra cu Thừa.

Nói bậy! - Tôi cãi thầm - Tôi do mẹ đẻ, cái tên Thừa bố đặt, chứ có phải do bà đỡ đâu! Bà ta không đỡ đã có người khác! Nói của đáng tội, hôm mẹ đẻ, không vì cả nhà sợ tôi chết thì còn lâu tôi mới ra. Tôi mà không ra thì lấy đâu chuyện để bà kể công?

"Bụp.. Bụp" lưng tôi đập liền vào hai mô đất cao như bị đánh, đau quá tôi khóc ré lên. Dì suýt xoa:

- Nín đi cu Thừa. Dì xin lỗi. Đừng khóc! Khóc Tây nó nghe thấy thì chết.

Tôi nín bặt. Anh trai có lần nói: - Bọn Tây ác lắm! Ác hơn cả ông Ác trong chùa Thập Phương. Ông Ác ở chùa chỉ bắt những kẻ nào đến nghịch ngợm thôi, chứ bọn Tây bắt được, không có tội nó cũng giết. Tôi biết, anh trai nói phét, chứ thực ra, anh cũng đã biết thằng Tây mặt ngang, mũi đọc thế nào đâu.

Trời sáng dần. Đã nhìn rõ dòng người tản cư. Nét mặt ai cũng lộ vẻ căng thẳng, lo lắng. Đi cùng tốp với gia đình tôi là những gia đình ở cùng phố. Vô tư nhất là lũ choai choai, hợp thành một nhóm, vừa đi vừa nhảy lò cò, thi thoảng thò tay ngắt nụ sim, hoa mua và hoa đơn mọc hai ven đường. Những đứa trạc tuổi anh trai tôi được cõng, còn lũ oắt bọn tôi đều được gánh được địu sau lưng.

Có tiếng súng nổ vọng lại. Bố nói:

- Tây vào tới Phúc An rồi đấy!

Một người hàng phố góp chuyện:

- Không biết Việt Minh giữ được bao lâu?

Một người nữa:

- Nghe nói bọn Tây tràn từ Vĩnh Yên xuống; lính khố xanh nống từ Bắc Ninh sang. Người đồn mặt trận Thủ đô vỡ, Cụ Hồ và Chính phủ Việt Nam rút khỏi Hà Nội rồi.

Có tiếng thở dài, cả đoàn người im lặng, chỉ còn nghe thấy tiếng bước chân rậm rịch.

Dì đổi gánh cho mẹ. Mẹ gánh khéo hơn, lưng tôi không bị va vào những mô đất cao nữa.

Đoàn người đi dưới chân một dãy núi thấp như núi Thanh Tước, nhưng dài hơn nhiều. Chị nhớn bảo:

- Đến núi Thằn Lằn rồi.

Nhìn kỹ, dãy núi chạy dài hệt như con rắn thằn lằn đang rình mồi. Lấp ló trong rừng cây là con đường mòn ngoằn ngoèo dẫn lên núi. Trên mỏm núi nhô cao như đầu rắn, có hai cái nhà tròn trông như mắt rắn, lồi ra nhìn xuống đoàn người đi.

Bà Đỡ lên tiếng:

- Lô cốt của tụi Tây đấy!

Có tiếng người hỏi:

- Xây giỏi nhỉ?

- Chuyện! - bà Đỡ ra vẻ hiểu biết - Bắt phu phen khuân vác, phục dịch xây dựng chứ bọn nó làm gì được.

Thêm một câu hỏi:

- Bây giờ ai ở?

Vẫn là bà Đỡ trả lời:

- Đang xây dở thì bị quân ta đến. Bọn Tây bỏ của chạy lấy người - Câu cuối bà nói giọng tự hào.

Bố bắt chuyện:

- Bây giờ việt Minh chạy, nay mai Tây về chiếm lại thể nào nó chả xây tiếp?

Không biết nói sao, bà Đỡ tảng lờ như không nghe thấy, nhưng ánh mắt nhìn bố như trách: "Ông mang tiếng người có học mà hỏi rõ ngớ ngẩn".

Mẹ càu nhàu:

- Chuyện đại sự, mình biết gì mà tham gia.

Mẹ ý nhị gàn, sợ có người để bụng không nói nhưng chấp lời bố. Thời buổi nhiễu nhương, biết ai tốt hay xấu mà lường.

Đúng lúc bụng tôi đói, thì tất cả được lệnh dừng lại nghỉ. Người ra lệnh là bà Đỡ. Không hiểu sao ai cũng nghe bà ấy nhỉ? Tôi chợt nhớ mẹ kể: Ngay những ngày đầu giải phóng tỉnh lỵ Phúc An, bà Đỡ đã theo hẳn Việt Minh, được Ủy ban khởi nghĩa cho làm cán bộ y tế, cán bộ quyên góp tiền của cho Việt Minh. Bây giờ bà được phân công giúp dân Phúc An chạy tản cư ra khỏi vùng tự do. Chắc vậy nên ai cũng phải nghe.

Bà Đỡ đứng giữa mọi người, xốc lại chiếc bị đeo trên vai, thắt lại bao tượng bằng nhiễu tằm tơ, hắng giọng:

- Tất cả bà con nghỉ một lúc, tranh thủ ăn cơm xong ta lại lên đường. Từ đây vào tới khu căn cứ còn xa, mà chửa biết chừng còn phải vượt đèo Nhe sang Thái Nguyên.

Có tiếng hỏi:

- Ở những nơi ấy có chợ để chúng tôi làm ăn buôn bán không?

- Việc này không thấy các đồng chí Ủy ban Cách mạng nói - Bà Đỡ lúng túng trả lời - Tôi chỉ biết được lệnh dẫn bà con chạy vào núi tránh Tây, còn thế nào tôi không biết!

- Đem con bỏ chợ! - Một lời trách cứ.

- Nếu ông không muốn đi, ông có thể dẫn gia đình quay về! Cách mạng chỉ vận động chứ không ép buộc - Bà Đỡ nhìn thẳng vào mặt người vừa nói, trả lời.

- Lang vườn, mụ Đỡ mà ra dáng phết. - Có tiếng mỉa mai.

Bà Đỡ lặng im không đáp, giục mọi người: - Khẩn trương để còn đi. Nếu không, bọn Tây đuổi theo, bắt được sẽ giết hết.

Mọi người mở túi lấy cơm nắm cắt thành từng lát bầy vào nón, hái lá cây thay đĩa xẻ muối vừng ra chấm. Mấy đứa trẻ chưa ăn quen, u oa khóc. Những cái mồm người lớn uể oải nhai. Chẳng ai muốn ăn vì lo lắng không biết ngày mai cơ sự sẽ ra sao?

Dì lấy cơm nhá, bụm miệng mớm cho tôi. Bà Đỡ đến chỗ hai dì cháu, vuốt má tôi, khen:

- Cu Thừa ăn ngoan hỉ! - Bà mở tã sờ xem tôi có tè dầm không, lấy tay vân vê đầu "chim" - Lớn lắm rồi, bao giờ lấy vợ nhớ cho cô ăn cỗ.

Tôi cong người giãy nảy không đồng ý. Bà cười:

- Đáo để, đáo để! Nó còn bực tôi từ hồi mới đẻ đấy mà. Nói cho con biết nha! - Tay bà dí vào trán tôi - Sống được nhờ ba cái phát ấy đấy con ạ!

Mẹ đưa cho bà xắt cơm: - Ăn một miếng đi.

Bà Đỡ tay cầm, mắt nhìn bụng mẹ: - Thời loạn lạc đẻ ít thôi!

Mẹ liếc bố cười tủm.

Chương hai - 5
 
282 ❤︎ Bài viết: 1159 Tìm chủ đề

Chương hai - 5​


20261004-092905-a9b1b15583.png


Chương hai - 5

Đêm hôm ấy, thấy thiếu em, mọi người trong trường nhốn nháo. Phòng Giáo vụ cho người tỏa ra khắp các ngõ đi tìm. Phân công người mò ở ao, chuôm, hồ, nơi em hay mang sách ra ngồi ôn bài.

Các cán bộ lớp được triệu tập khẩn trương. Thầy Hiệu trưởng đề xuất:

- Báo cho công an biết.

Tổ trưởng là người duy nhất biết em đi với ai, phát biểu:

- Báo cáo với các thầy, lúc chiều tan học, em thấy người nhà bạn Linh đến đón. Chắc gia đình có chuyện? Em nghĩ xong việc bạn ấy sẽ về trường nên không báo. Đề nghị nhà trường cho em về quê bạn ấy xem tình hình cụ thể.

(Câu chuyện trên về sau em được nghe kể lại. Nhờ đó mà em không bị kỷ luật vô tổ chức).

Mờ sáng, nghe tiếng gọi, bố ra mở cổng, Tổ trưởng trình bầy lý do. Bố nói:

- Có! Đêm qua, em nó về muộn, không kịp về trường. Tôi định hôm nay đến trường báo cáo xin các thầy cho em nghỉ mấy hôm. Khổ, con bé sốt xình xịch suốt đêm.

Nghe bố trình bày, em nằm giả vờ ốm ghê lắm. Tổ trưởng ngồi cạnh giường gọi:

- Linh.. Linh.. Linh mệt lắm phải không? - Bàn tay Tổ trưởng mát rượi áp lên trán em. Một luồng điện tự cảm xuất hiện, chạy dọc thân thể, ngưng lại nơi con tim, làm cho nó phập phồng, thổn thức.

Mắt nhắm, nhưng lòng em tràn xúc động, nước mắt ứa ra, toàn thân run run.. Ngón tay thanh mảnh của Tổ trưởng nhẹ nhàng gạt những sợi tóc vương trên mặt, lấy khăn mùi xoa chấm cho em những giọt nước mắt. Chỉ những hành động nhỏ nhoi ấy mà làm cho trái tim em bừng tỉnh. Khoảng xa cách giữa em và Tổ trưởng như thấy thật gần, thật gần.

Chợt Tổ trưởng nói:

- Mình phải về để báo cho nhà trường biết. Linh cứ nghỉ ngơi cho khỏe, đừng lo lắng gì cả. Bài vở mình sẽ chép cho. Chiều nay, bạn bè trong tổ sẽ đến thăm.

Bàn tay mát rượi nhấc lên, khoảnh khắc chia xa nhen vào lòng em hụt hẫng. Nếu có thể, chắc lúc đó em sẽ ghì chặt bàn tay ấy, để mãi mãi truyền sang em một niềm tin, bù những nỗi sợ hãi mà đêm qua em gặp phải.

Bố, mẹ tiễn Tổ trưởng ra ngoài sân, em nghiêng đầu, hé mắt nhìn theo. Hình ảnh ấy, con người ấy, không ngờ là định mệnh theo suốt những năm tháng còn lại của đời em.

Ép em uống cốc sữa xong, mẹ bảo:

- Con lớn rồi, lựa người mà chơi. Mình là con gái nhà lành, hoàn cảnh nghèo, không với được những nơi cao xa đâu.

Bố ngồi dưới cuối giường, lật tấm chăn mỏng, xoa xoa vào mu bàn chân em, giọng trầm ấm, nhẹ nhàng:

- Bố mẹ có mỗi mình con, có mệnh hệ nào, bố mẹ nương vào ai? Con có thương bố, thương mẹ thì cố gắng học hành. Nay mai ra trường, công việc ổn định, ai thương yêu mình chân thật thì lấy. Đừng "khôn ba năm dại một giờ" con ạ.

Em nằm yên, lòng trào dâng một nỗi xót xa ân hận. Có những lúc như thế này mới cảm thấy tình thương yêu của cha mẹ vô bờ, vô bến. Em thấy mình sao vô tình. Nếu đêm qua, sự việc xảy ra khác, em sẽ ăn nói thế nào với những người thân?

Đồng lõa với ánh trăng là màn sương bạc, là bàn tay ma quái chờn vờn khêu gợi, thân thể hừng hực đầy đam mê cám dỗ.. Chỉ một giây phút tự quên trong khát thèm nữa thôi, bờ vực thẳm khôn cùng sẽ nhấn chìm một đời con gái. Em rùng mình, cố xua đi những hình ảnh đã qua. Dọc đốt sống, một luồng điện lạnh buốt, hãi hùng chạy suốt..

Mãi cho tới khi khuôn mặt của Tổ trưởng hiện lên, em mới xóa đi được những nỗi khiếp đảm vương vấn trong lòng. Người con trai hiền lành, ham học, lúc nào cũng để mắt đến em, chăm sóc em với sự nhút nhát, e dè. Những lần em cố tình ngang bướng cãi lại, Tổ trưởng chỉ nhìn em thầm trách móc, tuyệt nhiên không một lời nặng nhẹ.

Biết thóp Tổ trưởng thích mình, em lấy điều đó để trêu chọc lại. Bởi vì, trước Tổ trưởng, trái tim em không cảm thấy rung động. Như mách bảo đó là sự kiêu kỳ của người con gái được kẻ khác si mê. Muốn dằn vặt để người con trai hạ mình. Cùng với quan điểm của các bạn đồng giới, em dựa vào sắc đẹp trời phú, thay mảnh nam châm hút hồn các chàng trai. Hành động quá đà của tay thợ chụp ảnh là bài học "chơi dao có ngày đứt tay" cảnh cáo em. Nhờ đó, hình ảnh Tổ trưởng nổi lên như một trang nam tử có ý nghĩa. Em nhớ lại những buổi học thêm, nhớ vị ngọt bùi và mùi khét của bắp ngô nướng qua than; nhớ chùm hoa phượng và tiếng ve râm ran giữa sân trường; nhớ ngọn lửa cả lớp đi cắm trại bên bờ hồ Đại Ngọc.

Em lật tấm chăn ngồi dậy đi ra cửa. Nắng vàng yếu ớt lọt qua lớp mành cửa. Đã cuối thu, gió nhẹ đu ngọn tre, tiếng sáo diều trên tít tầng không "Uuuuu.." vọng về. Sao mà em nhớ trường, nhớ lớp thế không biết! Mới chưa đầy một ngày mà em tưởng như đã xa hàng tuần. Em ngồi bậu cửa mong các bạn tới. Không biết Tổ trưởng có giữ lời hứa đến thăm không? Có xa mới thấy những người quanh mình thân thiết làm sao!

Chợt em có cảm giác hình như có người nhìn từ phía sau.. Em rờn rợn, tóc gáy dựng đứng, tim đập gấp.. Em quay phắt lại. Không! Chẳng có ai, ngoài tấm hình bà ngoại. Đôi mắt Người nhìn em như trách móc sự nông nổi. Em tránh không dám nhìn lại, trong lòng cảm thấy mình như người có lỗi.

Bà ơi, giữa cuộc đời, cháu mảnh mai yếu ớt làm sao! Chắc bà sợ cháu của bà sẽ làm ô uế thanh danh? Không đâu bà ơi, đấy chỉ là sự lầm lỡ của tuổi trẻ. Bà đừng giận cháu bà nhé! Bà hãy phù hộ cháu. Hãy cho đôi chân của cháu cứng cáp bước trên đường đời đầy chông gai và gian khó.

- Linh làm gì đấy con? Đỡ mệt chưa mà đã dậy? Tiếng mẹ hỏi làm em giật mình.

- Mẹ ơi, mẹ kể về bà ngoại cho con nghe đi.

Tay mẹ cầm rổ ổi, những trái ổi da mỡ màng, nhìn thấy đã ứa nước miếng:

- Mẹ hái sẵn chốc nữa bạn con đến cho chúng ăn - Mẹ chọn cho em một quả. Quả này ở cành dưới gốc đây con, quả hái dưới gốc bao giờ cũng ngon hơn.

- Vâng! - Em đón trái ổi, nhắc lại câu hỏi - Mẹ còn nhớ gì về bà ngoại không?

- Thực ra, - Mẹ nói - những chuyện hoạt động Cách mạng của bà là do những người cùng thời với bà kể. Bản thân họ cũng chỉ được nghe rồi nói lại. Chẳng biết có thật không? Nhưng dẫu gì thì gì, bà ngoại con là người thoát ly theo Cách mạng rất sớm. Chỉ tiếc những người công tác với bà đều hy sinh cả nên không có ai xác nhận công lao của bà để làm thủ tục công nhận bà là liệt sĩ, được cấp bằng chứng nhận gia đình có công với Chính phủ.

- Thế bức truyền thần kia, ai vẽ cho bà hả mẹ? - Em hói:

- Sau khi bà ngoại bị Tây bắn chết một thời gian, có người cầm bức truyền thần này đem về cho nhà. Mẹ chỉ nhớ ông ta cao, to, mắt bị chột đến nhà đưa cho. Lúc ấy cụ ngoại ôm mẹ, nhìn ảnh khóc nhiều lắm.

- Bà bị Tây bắn ở đâu hả mẹ?

- Họ nói ở đồi Thông, mé gần bệnh viện Phúc An. Bắn xong, bọn Pháp ra lệnh phơi xác bà mấy ngày, nhưng ngay đêm hôm ấy xác bà bị mất tích. Người thì bảo chúng bắn bà chỉ bị thương nên bà trốn thoát được. Người thì bảo Việt Minh có phép tàng hình vào cõng bà đi. - Mắt mẹ rơm rớm.

- Thế còn ông ngoại? Không có tin tức gì hả mẹ? - Mẹ cũng chỉ được nghe nói thôi! Đâu như ông bị bắt rồi bị đày ra Côn Đảo rồi chết ở đấy! Nếu không, ông đã về. Sau ngày giải phóng miền Nam, bố mẹ bàn với nhau: Lấy ngày bà mất làm ngày giỗ ông ngoại luôn cả thể.

Em nghe rõ tiếng thở dài của mẹ.

Thêm một điều hôm ấy em mới biết: Không chỉ có ông bà nội có giỗ chung, mà ông bà ngoại cũng vậy.

Ngoài ngõ có tiếng xe đạp, em hồi hộp nhìn ra, quên bẵng chuyện đang nói với mẹ. Điều em mong là sự thật. Trước tiên, khuôn mặt Tổ trưởng hiện ra, sau, lố nhố các bạn cùng lớp. Nước mắt em trào ra ràn rụa, cố kìm lại, nhưng không được. Em òa lên khóc nức nở. Các bạn ùa vào xúm quanh; có ai đấy ôm lấy em, ghì chặt như sợ em biến mất. Mắt em nhòe nhoẹt, lòng em thổn thức.

Trong suối nước mắt của em hôm ấy, có hai dòng hòa lẫn: Tủi hổ và xúc động.

Chương hai - 6
 
282 ❤︎ Bài viết: 1159 Tìm chủ đề

Chương hai - 6​


20261004-093039-dbfc4956ce.png


Chương hai - 6

Càng đi sâu vào rừng, đường càng khó đi. Núi Thằn Lằn lùi lại phía sau và nó trở nên thấp bé khi trước mặt chúng tôi là dãy núi Tam Đảo hùng vĩ mướt mát một mầu xanh. Dòng người tản cư dãn dần thành từng nhóm. Gia đình tôi tụt lại gần tốp cuối. Bà Đỡ bảo:

- Đi cố, không đến tối không đến được địa điểm tập kết.

Ở rừng trời mau tối lắm, đoàn người len lỏi theo đường mòn dẫn vào một bản nhỏ. Truớc khi vào bản phải đi qua con suối cạn. Bà Đỡ nói ra về hiểu biết:

- Đây là con suối từ trên dãy núi Tam Đảo chảy về. Bây giờ nó ít nước trông hiền lành thế thôi, chứ vào mùa mưa, lũ tràn về khéo chạy không kịp.

Nghe bà nói, tôi nhớ cơn lũ năm bốn nhăm trong chuyện anh trai kể. Trong khi đó bà vẫn liến láu:

- Đây là vùng bà con người dân tộc Sán Dìu. Tuy họ ít học, xa thành thị, nhưng tấm lòng của bà con ở đây tốt lắm. Các đồng chí trong Ủy ban dặn tôi: Vùng Châu Lam là cái nôi của cách mạng tỉnh ta. Hồi hoạt động bí mật, chuẩn bị lực lượng cướp chính quyền, bà con người dân tộc nuôi giấu cán bộ, tích lũy lương thực, tinh thần Cách mạng cao lắm!

Tôi ngạc nhiên nghe bà nói. Mới tham gia hoạt động cho chính quyền được vài năm mà bà Đỡ nói như diễn thuyết, hiểu biết như người có học, ra dáng cán bộ.

Có tiếng hỏi:

- Nghe nói vùng này nhiều cọp lắm phải không?

- Hôm nọ - Bà kể - họp cán bộ, có đồng chí người dân tộc vùng này ra kể: Cọp Tam Đảo về, ban ngày mà bắt mất hai con trâu thả trên nương.

Nghe thấy vậy, mọi người không ai bảo ai đi sát vào nhau. Chị nhớn cõng anh trai đi gần vào dì, tóm lấy cổ tay, mắt nhớn nhác nhìn sang hai bên rừng cây rậm rạp. Còn tôi nghe hãi són cả nước đái. Dì ca cẩm:

- Kể chuyện gì không kể, lại kể chuyện cọp với ma làm tụi trẻ sợ.

Bà Đỡ chừng như biết lỡ lờ liền bảo:

- Mọi người cứ yên tâm. Bà con người dân tộc thiểu số ở đây sống quây quần theo làng như dưới xuôi ta, xung quanh làng có rào chống thú dữ.

Gọi là làng nhưng chỉ có vài chục nóc nhà lụp xụp, tum hủm, nhỉnh hơn mấy cái quán ở chợ Phúc An một tẹo. Chẳng thấy một người nào ra đón. Chiều sậm sùi, hơi nước bốc lên từ con suối cạn, cây cối im lìm. Nếu thi thoảng không có tiếng súng từ xa vọng lại thì có cảm tưởng đây là vùng đất chết.

Mọi người dừng lại trước hàng rào.

Gọi là rào chứ thực tế chỉ là nhũng cây tre gai vòng gác lên nhau trông sơ sài. Cổng ra vào là một tấm phên đan bằng tre, thưa huếch thưa hoác, lớn như bố tôi còn chui lọt, thế mà bà đỡ nói phét là thú dữ không vào được. Giá con chó vàng của nhà tôi chưa bị thịt mà đi theo thì một phát nhún là nó qua ngay.

Một người nhanh nhảu định đẩy cánh cổng. Bà Đỡ quát:

- Muốn ăn tên hay mác hả? Đứng đây chờ.

Quả thật, được một lúc, chừng như những người trong làng đã nhận ra chúng tôi, có ba người đi ra, mặc quần áo nhuộm nâu, vai khoác nỏ, lưng đeo ống tên, tay cầm dao cán dài, mũi cong, lưỡi mài sáng loáng. Người cỡ tuổi bố lên tiếng:

- Có phải dân Phúc An không vớ?

Bà Đỡ nhanh nhảu:

- Đúng rồi vớ. Cán bộ Cách mạng dặn cứ vào đến làng Đồng Câu sẽ có người dẫn đi. Có phải đây là làng Đồng Câu không?

- Đúng rồi! Làm mình chờ mỏi cả mắt. - Ông nói - Tối rồi, sáng mai con gà rừng có gáy thì đi vớ!

Ông phân vài gia đình vào một nhà. Nhà tôi và hai gia đình nữa vào một căn nhà một gian hai chái. Trông ngoài nhỏ mà vào trong rộng rãi ra trò. Mái nhà lợp cỏ gianh, tường trát đất vách, cột bằng gỗ mầu nâu, bóng nhẫy như bôi mỡ. Bố bảo:

- Cái nhà này làm toàn bằng gỗ quý.

Trong nhà không có đồ đạc, giường đóng bằng tre, kê sát nhau thành dãy dài. Trên tường bàn thờ còn nguyên, phía sau bát hương là những lá bùa giấy màu vàng viết chữ nho màu đen. Dì chọn một góc nhà đặt các thứ xuống như xí chỗ. Những gia đình khác cũng vậy. Tuy là nền đất nhưng được nện chặt, mặt phẳng lỳ. Anh trai nói:

- Được nền này chơi đáo hay bắn bi sướng nhất.

Chị nhớn lườm:

- Nặng như cối đá lỗ ấy! Ngồi trên lưng người ta còn nhong nhong.

- Em là lão Tàu ô, chị là con ngựa cho em cưỡi.

Chị hai, chị ba thấy dì rải chiếu nằm ềnh ra thở.

Mẹ nhấc tôi ra khỏi thúng, vạch vú nhét vào miệng:

- Khát lắm hả con? Chốc nữa, mẹ bảo dì chắt nước cơm cho con uống thêm.

Bố nói đúng: Phàm đứa nào cầm tinh con gì đều có đặc tính con ấy. Như tôi chẳng hạn, phàm ăn, vớ cái gì cũng ngậm vào mồm. Chưa bú đủ là làu nhàu, thậm chí còn lấy mấy cái răng sữa nhay đầu vú mẹ.

Bà Đỡ lăng xăng, đến hết chỗ này lại chỗ khác. Khi đến gia đình tôi, bà bảo:

- Dì nấu cho tôi ăn với. Nhưng tôi dặn này: Người dân tộc Sán Dìu coi trọng chuyện bếp núc lắm! Củi đun phải róc mấu sạch sẽ, khi nấu cho gốc vào trước. Ý nói: Có gốc mới có ngọn, có trước mới có sau. Mặc dù bà con không có ở đây, mình vẫn phải giữ phong tục tập quán của đồng bào. Tôi dặn để mọi người giữ gìn. Còn bây giờ tôi sang phổ biến cho các gia đình khác.

Ối dào, vẽ chuyện! - Tôi thầm nghĩ.

Mẹ hỏi:

- Thế chưa đến nơi ư bà?

- Còn ốm! - Bà Đỡ trễ dài môi - Đây mới đến Đồng Câu. Còn mướt mới đến hang Dơi. Nếu cần phải trèo qua đèo Nhe chứ chả chơi. - Câu cuối bà nói như dọa.

Mọi người nhìn nhau, nỗi lo lắng hiện lên mặt. Nhưng dẫu sao vẫn phải ăn cái đã. Bếp chật, bố ra sân chọn ba hòn đá kê thành bếp. Dì lấy trong thúng ra cái nồi đồng điếu, dốc gạo ở trong bao tượng vào rồi đi ra suối. Dì bảo:

- Đứa nào đi với dì lấy nước về đun nước uống. Không chốc nữa tối mịt không lấy được.

Chị hai hỏi:

- Dì ơi, đựng nước vào đâu?

- Chậu thau dì để dưới đáy thúng ấy.

Những người đàn bà bắt chước đi làm theo. Đám đàn ông xúm lại một chỗ giở điếu ra hút thuốc lào.

Chị nhớn chừng như đã quên chuyện cưới xin, mặt bớt buồn rầu. Chị vào bếp bê từng đon củi được bó cẩn thận ra nhóm. Bố dặn:

- Nhớ cho đằng gốc vào truớc, bếp kê bằng đá tảng, đun nấu cẩn thận không mất ăn.

Ông già người dân tộc Sán Dìu đi qua nhìn chị nhớn đun, gật đầu tỏ vẻ hài lòng.

Anh trai nhặt que vạch xuống đất một vạch ngắn một vạch dài, cách nhau độ vài bước chân, mở túi lấy mấy đồng xu ra gạ mấy đứa cùng phố đến chơi. Một lúc đã thấy tiếng ồn ào, cãi cọ của lũ trẻ con.

Vài ba ngọn nến được thắp lên, dì cẩn thận đem theo chiếc đèn dầu, dì bảo:

- Nhà mình thắp đèn, khi nào hết dầu mới dùng tới nến. Quả thực dì là người chu đáo. Ngay trong công việc ở nhà, nếu không có dì là mẹ tôi thấy bấn bó vô cùng. Trên đường chạy tản cư, hầu như mọi việc đều một tay dì quán xuyến.

Nhà tôi dọn ăn sau cùng. Mẹ nói:

- Chờ bà Đỡ về cùng ăn. Người đâu mà tốt nết! - Mẹ khen - Thế mà lận đận vì đường tình duyên, nếu không đã chẳng mấy mặt con rồi đấy bố nó nhỉ?

Bố ngồi tựa vào vách, thơ dại.

- Con người ta có số rồi, ai cưỡng được.

Chị nhớn buông đũa thẫn thờ, trời tối nên không ai nhìn thấy mặt chị ra sao, nhưng cứ nghe tiếng thở dài là biết chị buồn khổ lắm. Câu chuyện bố, mẹ nói về tình duyên của bà Đỡ làm chị không khỏi chạnh lòng.

Dì xới cơm cho chị hai, chị ba và anh trai ăn trước. Mẹ lấy đường hòa nước cơm chắt bón cho tôi. Nước cháo ngậy, tôi nuốt lấy nuốt để. Ngoài trời mịt mùng, gió bắt đầu thổi mạnh dần, xa xa vọng vào tiếng vượn kêu, nai tác, có cả tiếng hổ gầm. Mọi người ngồi nép vào nhau, những đứa trẻ sợ hãi hơn cả. Chúng nằm ngủ mang theo nỗi hãi hùng vào trong giấc ngủ.

Tôi giật mình choàng tỉnh vì có tiếng nói:

- Chờ gì tôi? Cứ ăn trước đi kẻo đói. - Đó là tiếng bà Đỡ - Cho bọn trẻ ăn rồi chứ? Tình hình gay lắm! - Bà chuyển sang nói với mọi người đến tập trung nghe bà phổ biến - Thưa bà con, Phúc An, Vĩnh Yên, Phủ Lỗ, Hương Canh mất sạch rồi. Bọn Tây đông quân lắm. Theo kế hoạch, ngày mai ta cứ lên hang Dơi đã. Nếu phải vượt đèo Nhe sang Thái Nguyên tính sau! Tôi chưa đi bao giờ. Nhưng nghe các đồng chí địa phương nói: Từ đây sang đấy toàn đường mòn, xuyên rừng, vượt núi, đi phải mất dăm ngày. Đấy là nói tới người khỏe, chứ bầu đoàn thê tử thế này dễ còn hơn chưa biết chừng?

- Thế bây giờ làm thế nào? Sao ở đây chẳng có một ai cả? - Mẹ hỏi.

- Bà con dân tộc ở đây đi từ hôm qua rồi. Ở đâu quen đấy! Họ coi rừng núi là nhà. Trên núi nhiều hang động lắm. Chỉ có ông Trưởng làng với hai du kích ở lại làm nhiệm vụ đón chúng ta thôi.

Bố hỏi:

- Bây giờ họ đâu rồi?

- Họ đi rồi, họ có trách nhiệm đi tiền trạm, đánh dấu lối đi. Ngày mai đường nào hai bên cây có dấu dao phát là ta theo lối ấy! Mọi người nhớ đấy! - Bà Đỡ dặn.

- Bộ đội với tự vệ đâu cả? - Bố lại hỏi.

- Họ có nhiệm vụ của họ tôi làm sao biết được?

Có tiếng xì xào, rồi tiếng người chửi đổng:

- Mẹ cha nhà nó, kêu gọi đưa nhau vào đây rồi bỏ của chạy lấy người.

Bà Đỡ giơ cây đuốc nứa lên, ánh sáng bập bùng, bóng bà cao lồng lộng, mắt sáng quắc, nét mặt đanh lại:

- Ai chửi đấy? Có giỏi chường mặt ra đây. Muốn theo Tây cứ về. Đây khổ vì mất của, mất nhà, mất độc lập, tự do nên chỉ đi theo cách mạng thôi. Có khó khăn mới cần phải nhờ nhân dân giúp đỡ. Mai này cách mạng thành công hỏi rằng ai hưởng? Có nhớ những ngày vừa qua không? Có ai bị Chính quyền đàn áp không? Có bị nộp sưu cao, thuế nặng không? Có nhớ mọi người nô nức họp mét tinh, đi bỏ phiếu bầu cử không? Sao mà chóng quên thế? - Bà Đỡ nói xơi xơi, hướng mặt về góc tối có kẻ vừa nói những lời kia.

Bố gàn:

- Thôi, mời mọi người về ngủ để mai lấy sức còn đi. Còn mời bà - Bố nói với bà Đỡ - Bà ăn cơm đi.

Chừng như vẫn bực bà nói:

- Tôi đề nghị: Gia đình nào muốn về, ngày mai cứ quay lại, Cách mạng không cần nhũng con người không chịu được gian khổ. Cụ Hồ và Chính phủ còn phải lên ở trên rừng nữa là nhân dân. Đấy! Tôi nói với bà con như vậy. Nếu ai đi, mai chúng ta dậy sớm đi tiếp. Nhưng tôi nói trước: Sẽ gian khổ và khó khăn đấy! Còn ai không chịu được trở về là tùy.

Bà đột ngột dừng lời, không một lời đáp lại, mọi người lục tục đứng dậy, có tiếng nuốt tiếng thở dài vào bụng. Bà Đỡ ngồi xuống, đón bát cơm từ tay dì trao ăn ngon lành. Hình như bà đã nói được những lời mình muốn nói, cũng như lời không muốn nói phải nói ra. Bà trút nỗi niềm vào những hạt cơm nóng hổi, chan nước suối đun thay canh, húp xoàm xoạp.

Chương hai - 7
 
282 ❤︎ Bài viết: 1159 Tìm chủ đề

Chương hai - 7​


20261004-093211-88b94e9fe9.png


Chương hai - 7

Tổ trưởng không bao giờ nhắc hay hỏi chuyện xảy ra giữa em và tay thợ chụp ảnh. Điều đó không mang lại cho em sự thanh thoát trong lòng, mà chỉ thừa nhận sự bao che, khỏa lấp dư luận chứ không là sự bao dung, độ lượng.

Bảo em lúc ấy có yêu Tổ trưởng không? Có thể nói là: Có! Và cũng có thể nói là: Không!

- Có! Vì sau cái đêm hãi hùng ấy, không hiểu sao hàng ngày, không gặp nhau một lần, chào nhau một câu là em thấy như mình còn quên việc gì không rõ, cứ canh cánh trong lòng. Kẻng báo ăn cơm, em ra khỏi phòng muộn hơn mọi người. Tay cầm bát, đũa, mắt ngó sang dãy nhà bọn con trai có ý chờ. Hình như Tổ trưởng cũng vậy. Thấy em ra, Tổ trưởng lúi húi đóng cửa, rồi lững thững đi xuống nhà ăn. Không hẹn, nhưng lúc nào hai đứa cũng gặp nhau đúng cửa ra vào. Hành động có vẻ vô tình, trái tim lại biểu hiện như cố ý.

- Không! Bởi Tổ trưởng thiếu hẳn cá tính mạnh của người con trai buộc người con gái khuất phục; biết cách chiều chuộng, quan tâm tới sở thích, tán tụng, trang điểm cho sắc đẹp, những hương vị rất lãng mạn nhưng cũng rất cụ thể. Ở bên Tổ trưởng, em tin tưởng, không một chút mảy may, nghi ngờ. Như người bị vấp ngã, được kẻ khác đỡ dậy, người ta thấy mình được che chở, được đùm bọc. Sự thánh thiện trong tấm lòng Tổ trưởng truyền sang trái tim, em không rung động vì ái tình mà cảm động vì lòng biết ơn.

Nhưng trong đời, nhiều khi trái tim chỉ là trái tim của mộng mơ, của hoài vọng.. Còn lý trí lại là một lẽ khác. Không có sự tuyệt đối đồng hành cho trái tim và lý trí. Bởi vậy, sự hàm ơn của lý trí, buộc con tim em chấp nhận chừa một góc cỏn con dành cho người gia ơn.

- Có phải lúc nào người ta yêu cũng vì ái tình cả đâu, phải không anh?

Hết chuột chạy, mèo gào và bây giờ là tiếng gà gáy "ò.. Ó o.. O". Hải Linh dừng lời, ngả lưng vào tấm mền chăn. Đôi mắt nhắm, vầng trán nhăn lại, ánh sáng đèn hắt sang đá kẻ, chia khuôn mặt thành hai khoảng sáng tối. Chìm vào những kỷ niệm xa xăm.

Nguyễn Thừa đứng dậy, anh ra bàn lấy cốc, rót nước đem vào:

- Em uống một chút.

- Cảm ơn anh. - Bàn tay cô chạm vào tay anh khi cầm cốc, một tia điện cảm ứng xuất hiện làm Hải Linh thảng thốt, nhưng sau đó là cảm giác ấm dịu. Hải Linh ngước nhìn Nguyễn Thừa. "Giá chi lúc này anh ôm em vào lòng, thì chắc em sẽ bão hòa, tan biến.. Môi em sẽ ìmôi anh cho thỏa nỗi khát thèm cháy bỏng bao lâu. Em sẽ không giữ nữa! Đời là gì nếu không có những giây phút si mê cuồng nhiệt? Người ta có sống lại được sau khi chết đâu? Mà nếu có được hồi sinh sang kiếp khác, thì chắc gì ta sẽ được gặp nhau? Giá chi, anh lá nửa của nỗi khát thèm, bạo liệt, man dại, vần vã. Cộng với một nửa kia của si mê, dại khờ, chân thành, nhút nhát. Hai cái đấy, em đều khao khát. Em muốn có, muốn cùng anh làm tròn. Cho anh, cho em: Của tình yêu và dục vọng..".

- Em đang nghĩ gì đấy? - Nguyễn Thừa ngồi xuống chiếc ghế đối diện, hỏi.

Luồng suy tư, nỗi khát khao trong lòng Hải Linh ngắt bởi câu hỏi. Cô nhìn khoảng cách giữa cái ghế ngồi của Nguyễn Thửa và nơi mình ngồi, buông tiếng thở dài, mệt mỏi đưa cốc lên miệng nhấp một ngụm nước:

- Em đang nghĩ về em.

Đó là một thời gian đáng nhớ - Hải Linh kể tiếp - Kể từ khi xảy ra chuyện giữa em và tay thợ chụp ảnh, Tổ trưởng luôn tìm cách gần em. Từ việc học tập, đến những chiều thứ bảy Tổ trưởng lai em về nhà bằng xe đạp. Bọn bạn cùng lớp coi đó như là chuyện tất nhiên. Vả, tụi nó biết Tổ trưởng thầm yêu em, nên đồng lòng gán ghép, ủng hộ.

Nhiều lúc đi bên Tổ trưởng, thoáng những con mắt nhìn theo tiếc nuối, và những lời thầm thì bàn tán của cánh con trai trong trường, em thấy vui vui. Ai ngờ, dần dần mối quan hệ ấy lún sâu, ràng buộc em với Tổ trưởng như một điều tất nhiên, mang nặng danh dự hơn là tình yêu của chính trái tim.

Chiều thứ bảy, như thường lệ, Tổ trưởng dắt xe đạp đứng đợi em ở trước khu nhà tập thể. Các lớp học cửa khép kín, sân trường vắng lặng, những chùm hoa phượng sót lại trên tán cành đỏ rực dưới ánh nắng chiều hôm. Em kéo lại quai dây của chiếc mũ nan rộng vành:

- Đi thôi, Tổ trưởng.

Vừa nói, em nhẩy lên xe, rồi lại vội nhảy xuống:

- Bánh sau non quá! - Em kêu.

Tổ trưởng nhìn bánh xe, lẩm bẩm:

- Vừa mới thay săm hôm qua, - Đưa tay nắn lốp xe - Linh đi dần ra cổng, mình nào lấy bơm, bơm thêm.

Em bỏ mũ, cầm ở tay, lững thững đi ra cổng thì gặp tay thợ chụp ảnh. Hắn ta đứng đấy từ bao giờ. Vẫn vậy:

Mớ tóc xù, lượn từng gấp, thả dài, ôm khuôn mặt, áo màu lòng tôm bó eo ếch trong đai quần màu tàn thuốc, chiếc máy ảnh trễ hông, xe máy màu trắng sứ dựng mé bên kia đường. Sự đối mặt đột ngột làm em lúng túng. Em chợt nhận ra trên mặt hắn có một vết sẹo nhỏ mầu son. Hắn chủ động.

- Tôi viết thư, sao Linh không trả lời?

Mặt em đanh lại, đôi mắt căm hờn nhìn hắn.

Không để ý tới thái độ của em, hắn trâng tráo:

- Anh biết, anh làm thế là sai, nhưng bởi vì anh yêu em!

Em phản ứng:

- Thế mà là yêu à? Có là anh định hại một đời tôi thì có!

- Anh yêu em thật mà.. Anh van em, em đừng xa lánh anh. - Hắn van vỉ.

- Tôi không yêu anh! Anh về đi.

- Em nói dối! Anh biết vì em giận nên em nói thế. - Hắn nói như một điều khẳng định.

Em nổi giận:

- Ai yêu anh bao giờ?

- Có! Đã có lúc em có cảm tình với anh. Nhưng vì anh không kìm được, có hành động thô lỗ nên em giận.

Em im lặng, vì điều này thì hắn nói đúng! Trong đầu em, vài hình ảnh kỷ niệm đẹp hiện về. Mắt em liếc nhanh, nét mặt hắn thất vọng thực sự, thành khẩn. Khuôn mặt ẩn sâu trong mớ tóc lòa xòa, sầu muộn, đượm dáng một kẻ thất tình. Bỗng em có cảm giác lòng mình mềm lại, nỗi hờn giận nhường cho niềm thương hại.

Vừa lúc đó, Tổ trưởng đạp xe ra. Hắn và Tổ trưởng nhìn nhau trong giây lát. Một giây lát thôi, nhưng tinh mắt của kẻ nào cũng bừng bừng.

Tổ trưởng đạp xe lướt qua cạnh hắn, nói với em giọng thật ngọt:

- Linh, lên xe đi.

Em nhảy lên poóc pa ga, hất chiếc mũ ra phía sau, tay bám eo, áp má vào lưng Tổ trưởng (Hành động mà chưa bao giờ em làm cả). Không nhìn lại, nhưng gáy em nóng ran như phải bỏng.

Đi được một quãng, nghe tiếng xe máy. Em giả vờ không để ý. Tay thợ chụp ảnh cho xe tằng tằng đi sát gần, nói:

- Em sẽ không bao giờ thoát khỏi tôi đâu! - Câu nói lạnh tanh, âm thanh sắc lẹm, rồi lao vút đi, để lại khói và ùxăng sống, xông vào khứu giác như nhắn bảo cho em một lời hẹn gặp.

Tổ trưởng hỏi:

- Tay ta nói gì với Linh?

- Kệ hắn! - Em nói lảng.

- Có phải hắn vẫn viết thư cho Linh?

- Có! - Em thừa nhận - Nhưng Linh không đọc, nhận được là đốt. - Câu này em nói dối.

Tổ trưởng đồng tình:

- Đốt là phải! Quan hệ với loại người ấy làm gì.

Em im lặng. Tiếng bánh xe vo vo, thi thoảng có tiếng xích va vào hộp "quẹt.. Quẹt..". Tổ trưởng càu nhàu:

- Xích vừa căng hôm nọ xong.

Nói chưa dứt lời, chân Tổ trưởng hụt chúi về phía trước. Chiếc xe loạng choạng, chuệch choạc lao xuống mương nước. Em nhảy vội, chân trượt guốc, cả người khuỵu, mất thăng bằng, ngã lăn ra bãi cỏ ven đường. Ngoảnh lại, Tổ trưởng ngã ngồi trên đường, chiếc xe đạp trôi tuột xuống sát bờ mương, đổ nghiêng, cái bánh sau quay tít.

Tổ trưởng nhổm dậy hỏi:

- Việc gì không Linh?

Em không trả lời, mồm méo vẹo, đau ứa nước mắt. Tổ trưởng vục dậy, chạy tới nâng em lên, vạch ống quần xem xét chỗ tím ở ống chân, tay xoa, mồm kêu xót xa như chính mình bị đau vậy.

Xoa, bóp một lúc lâu chân mới đỡ, bấy giờ em mới để ý thấy ống quần Tổ trưởng toạc một miếng, da nhiều chỗ xây xát, nhướm máu. Em hỏi.

- Có đau không anh?

Đôi mắt hiền lành chớp chớp.

- Ran rát đôi chút! Có điều bây giờ hai đứa phải dắt bộ, vì không có gì để tháo hộp xích.

Đường xa ngái, tít tắp mới thấy rặng tre quanh làng. Nắng tắt dụi. Xa xa, trên đỉnh đồi Thanh Tước, màn trời chuyển màu sẫm, đôi ba ngôi sao mọc sớm nhấp nháy, tiếng: "Ơ.. Uôm.. Ơ.. Uôm" của ễnh ương từ bờ chuôm dưới đồng vọng tới, tấu theo là dàn nhạc côn trùng nỉ non rên khóc.

- Linh ngồi lên xe, mình dắt - Tổ trưởng nói.

- Không! Em đi được - Em chối từ, cố gượng bước.

- Không! Linh cứ ngồi lên, mình biết chân Linh bị đau lắm! - Tổ trưởng dừng xe lại kiên quyết.

Đường vắng, thi thoảng mới có chiếc xe ô tô chạy qua. Có gã lái xe, cho xe đi từ từ, thò cổ ra khỏi buồng lái trêu:

- Có dám cho vợ lên ca bin không? Tớ đỡ một quãng?

- "Bao giờ cho đến tháng mười" nhá! - Tổ trưởng dùng tên một bộ phim đối lại.

Bánh xe ô tô lăn đi, tiếng cười khanh khách của người lái xe để lại. Ngồi trên poóc pa ga, em cười mỉm.

Trời tối hẳn thì về đến ngã ba. Tổ trưởng bảo:

- Hôm nay về làng anh trước! (Tổ trưởng xưng "anh" lần đầu tiên) Chữa hộp xích xong, anh lai Linh về?

- Nhưng.. - Em ngần ngừ - Nhỡ làng anh phát hiện ra em, họ đuổi đánh thì sao?

- Sao lại đánh? - Tổ trưởng quả quyết - Không ai dám đánh người yêu anh cả - Tổ trưởng buông một câu rất bạo.

- Yêu nhau bao giờ mà anh vơ vào?

- Thì anh cứ nói đi là vừa - Câu trả lời rất bài bây

Tổ trưởng dẫn em nào một nhà ngay đầu làng. Em đứng ngoài cổng, không vào. Chủ nhà xách đèn bão đi ra, mời:

- Mời cô vào nhà nghỉ chân, uống nước.

- Xin phép bác, cháu đợi ngoài này cũng được. - Em từ chối.

Rất may, ông ta không nhận ra em là người làng Quyết Chiến. Ông đi vào, em nghe tiếng ông hỏi Tổ trưởng;

- Người yêu cậu đấy à?

- Dạ, là bạn! - Tổ trưởng trả lời.

- Chắc còn xấu hổ? Người quê đâu ta? Tôi nghe giọng như quanh vùng ta?

Không thấy tiếng Tổ trưởng trả lời. Em chắc Tổ trưởng không dám nói. Cách đây ít ngày, về nhà, mẹ kể: Chuyện tranh giành khu đầm Vực căng lắm. Nghe nói, cán bộ trên tỉnh về giải quyết còn bị dân bắt trói, nhốt nửa ngày mới thả ra.

Được một lúc, Tổ trưởng dắt xe ra, tiếng líp xe nảy tanh tách. Người đàn ông tiễn chân ra cổng chào:

- Cậu với cô lại nhà.

Em ngượng, lí nhí chào lại. Chiếc xe đạp bon chạy, ánh sáng từ chiếc đèn tỏa rộng, soi rõ từng viên sỏi ruồi, lẫn trong cát, lạo xạo dưới bánh xe. Thấy đi đường lạ, em hỏi:

- Anh đưa em đi đâu thế này?

Tổ trưởng nói:

- Anh muốn Linh đi với anh đến một chỗ?

- Chỗ nào?

- Đến em sẽ biết! Anh có chuyện muốn nói với em.

- Chuyện gì anh nói ngay ở đây không được à? Sao cứ phải đi đâu? - Nói xong, em nhảy xuống xe.

Tổ trưởng phanh xe, miệng nằn nì:

- Còn sớm, về làm gì vội? Em và anh, chúng ta sắp xa nhau rồi.

- Sao lại xa nhau? Anh đi đâu? Lấy vợ à?

- Không! - Tổ trưởng nói vội - Ý anh nói, tốt nghiệp rồi, nay mai mỗi đứa đi một nơi, không có điều kiện gặp nhau.

À! Tự nhiên em thấy lòng mình se thắt. Chẳng gì cũng gần ba năm trời học hành với nhau. Bao kỷ niệm cùng nhau dưới mái trường. Em hỏi:

- Anh bảo đảm Linh đi với anh không xảy ra việc gì chứ?

- Lấy danh dự anh xin thề! - Giọng Tổ trưởng chân thành.

Đêm hôm ấy không có trăng, nhưng trời sáng. Những chòm sao dày đặc tít mãi trên cao, dải ngân hà trải rộng. Lưng ông Thần nông cong như chiếc cần câu thả xuống sông. Cạnh đấy là con vịt bơi, mắt nhấp nháy, lấp lánh. Những ngôi sao bồng bềnh trong mây, lúc lúc lại ngó ra, ẩn nấp như chơi trò ú tim.

Nơi Tổ trưởng đưa em đến là đằng sau ngôi chùa ven làng Quyết Thắng. Mẹ bảo:

- Ngày mẹ còn nhỏ, hai làng chưa xích mích, vào hội, mẹ hay sang xem diễn tích chèo, xem vật, chơi đu. Hội làng bên ấy giống như hội bên mình, hệt nhau, cùng thờ Đức Thánh Trần. Thế mà không hiểu tại sao hai làng sinh ra thù oán?

Chọn một bãi cỏ dày, êm Tổ trưởng nói:

- Em ngồi xuống đi. (Câu nói giống hệt câu của tay thợ chụp ảnh).

Em ngồi xuống, Tổ trưởng cũng ngồi xuống. Nhưng lần này, người giữ khoảng cách là Tổ trưởng chứ không phải em. Em bứt cọng cỏ đưa lên mồm nhấm. Tổ trưởng mở trong cặp ra một gói bánh, đưa cho em:

- Linh bóc cho anh.

Đấy là gói bánh quy mặn, loại em thích ăn. Em hỏi:

- Anh mua bao giờ? Sao em không biết?

- Nếu để biết thì còn gì là bất ngờ nữa?

- Còn gì bất ngờ nữa không? - Em hỏi.

- Còn! - Tổ trưởng trả lời - Chốc nữa em sẽ biết!

Em bầy hộp bánh lên mặt chiếc cặp. Tổ trưởng rút trong túi áo ngực ra hai cây nến kẹp trên cái giá gỗ nhỏ, bật lửa châm. Tiếng lách tách từ ngọn nến phát ra, ánh sáng tỏ dần. Đột nhiên, Tổ trưởng quỳ xuống trước mặt em, giọng tha thiết:

- Anh không biết bắt đầu nói với em như thế nào? Nhưng tự trong trái tim, anh đã thề sẽ phải yêu được em. Linh ơi, còn vài ngày nữa chúng ta đã xa nhau rồi. Nếu hôm nay, anh không nói được với em lời này, anh sẽ không bao giờ đủ can đảm để nói nữa. Và, như vậy, suốt cuộc đời trái tim anh sẽ héo mòn vì cằn khô. Xin em đừng nói lời từ chối. Xin em đừng tàn nhẫn với anh. Linh ơi! - Sau lời gọi da diết, kẻ tỏ tình, rút từ túi ngực ra hai chiếc hộp nhỏ. Một chiếc hình trái tim, một chiếc hình chữ nhật. Giơ lên, đưa về phía em, giọng như gần khóc. - Em là người hoặc ban ơn tình yêu, hoặc là ban cái chết cho anh. Nếu Linh chấp nhận, Linh hãy nhận chiếc hộp hình trái tim, và coi đấy là lời cầu hôn của anh. Còn nếu khước từ, em hãy trao cho anh chiếc hộp hình quan tài, mà anh hứa không một lời trách cứ.

Em như kẻ chết đứng. Hoang mang, bàng hoàng trước lời tỏ tình si mê đến cuồng dại. Em không nghĩ rằng sự việc lại đến như vậy. Em cấu vào tay xem là thực hay là mơ. Nào em đã có kinh nghiệm gì về tình yêu đâu để mà tĩnh trí, xử sự?

Em thực sự run sợ trước lời cầu hôn của Tổ trưởng. Giọng người con trai một nửa như ru, nửa kia như hăm dọa. Em mất hết nhuệ khí, chút nhuệ khí tri thức vừa được bôi lên cho kẻ học đời muốn làm người am hiểu. Em hiện nguyên hình là đứa con gái nông thôn, thuần phác, vào đời còn mang hẳn cả cánh đồng lúa trên vai, mang cả nỗi đau khổ, nghèo hèn của quê hương, nỗi nhọc nhằn và sự đau đớn của cha, mẹ.

Ngơ ngác, bần thần trước sự van xin, trước hành động thái quá, em lẩm bẩm:

- Anh.. Đừng.. Đừng.. Đừng làm thế! Đừng làm thế anh..

Giọng kẻ si tình vẫn thiết tha:

- Không! Em hãy trả lời anh, hãy là người trao cho anh niềm hạnh phúc. Còn nếu không, anh xin được chết bên em.

Anh ta nhắc tới cái chết làm em sợ. Em nghĩ tới những vụ án báo chí đăng, vì thất tình mà nhiều đôi ôm nhau nhảy xuống sông, hồ tự vẫn; cùng nhau uống thuốc độc, hoặc treo cổ quên đời. Hình ảnh ấy chập chờn hiện lên, nỗi kinh hoàng làm em khiếp đảm. Mà em thì không muốn chết. Đột nhiên, như có kẻ xui khiến, em nhổm dậy, quỳ xuống, miệng lắp bắp:

- Đừng dại dột nghe anh. Em chấp nhận.. Em chấp nhận.

Sau câu em nói, cùng một lúc, cả hai đứa ngã nhào vào nhau. Lửa nến vụt tắt, bãi cỏ là đệm êm, bầu trời là màn, gió mơn man da thịt như quạt. Người em như tan loãng, không còn trời, không còn đất. Cả hai thân xác quằn quại, mang theo hai tâm hồn, bềnh bồng trôi lên ngàn lớp sóng, lạc vào cõi hư vô. Sự cảm nhận hòa quyện, hưng phấn bản năng vươn tới tột cùng của bạo liệt, dâng hiến, khát thèm trao, nhận. Một cảm giác đau nhói ở thể xác làm cho em bừng tỉnh. Nhưng sau đau xé và bừng tỉnh là cơn mê đắm, sự khoái cảm dâng lên, dâng lên đến tột cùng.

Chương hai - 8
 
282 ❤︎ Bài viết: 1159 Tìm chủ đề

Chương hai - 8​


20261004-093344-667db345d8.png


Chương hai - 8

Dự định sáng sớm đoàn người sẽ lên đường, ai ngờ, mệt quá. Khi ánh nắng le lói chiếu vào cửa mọi người mới bừng tỉnh. Bà Đỡ chồm dậy, người vặn vẹo, miệng ngáp dài:

- Xin nhận khuyết điểm. Mệt quá nên tôi ngủ quên.

Chẳng ai nỡ trách, lục tục gấp chăn màn chuẩn bị lên đường. Suy cho cùng, bà Đỡ không gia đình, không con cái ràng buộc, chẳng qua bà được chính quyền phân công theo giúp đỡ mọi người mà thôi. Ở Phúc An này, nhà nào ít nhiều chẳng mang ơn bà? Dân Phúc An nghèo, gặp lúc ốm đau, bệnh tật chẳng đến nhờ bà còn nhờ ai?

Vào nằm viện, lấy đâu ra tiền? Các ngài Đốc tờ Tây khinh người Việt ra mặt. Kẻ nào có tiền mới được nằm, được chữa bệnh. Còn không tiến. A lê hấp! Về! Thế là phải đến nhà bà Lang, nhờ bà xem bệnh, bốc thuốc. Bà Lang nhận hết! Bệnh nào bà cũng chữa. Như đã nói ở phần đầu: Bà chữa bệnh bằng mọi thứ lá, nhưng chủ yếu bằng lá ngải cứu. Bà bảo:

- Cây thuốc nam của ta mọc khắp nơi. Đặc biệt là cây ngải cứu. Dễ trồng, dễ hái. Đối với người bị hỏa "nó" hạ nhiệt, người bị nhiệt hàn "nó" điều tiết trung hòa. Người nào bệnh cấp, hoặc sắp chết dùng ngải cứu còn có thể cứu sống.

Phần nữa cần nói là: Mỗi tờ giấy điểm chỉ của bà, chứng nhận một sinh mạng ra đời. Nói ngay cả thời trước Cách mạng tháng Tám cũng vậy. Tỉnh Phúc An cũ, ông Hội Lệ làm cho Tây, thay mặt người Việt cấp giấy khai sinh, còn phải căn cứ vào ngón tay cái của bà Đỡ điểm chỉ mới dám viết chữ quốc ngữ vào cạnh phần Pháp ngữ.

Trở lại buổi sáng hôm ấy. Khi bình tĩnh, bà lướt nhìn tất cả mọi người, rồi lẩm bẩm:

- Thiếu năm gia đình. Chắc là các vị không chịu được khổ, quay về đêm qua rồi. Thôi, kệ họ! Ai theo bên nào không ai bắt buộc. - Nói rồi bà nhìn khắp lượt mọi người - Còn tất cả, tôi nhắc lại, cứ căn cứ vào dấu dao chặt - khấc hai bên mà ai.

Đến lúc bà nói, mọi người nhìn nhau mới phát hiện ra: Đó là năm gia đình giàu có ở thị xã bỏ về trong đêm. Nghe mọi người xôn xao, bà Đỡ nói:

- Cách mạng cần những con người một lòng, một dạ theo Kháng chiến. Cụ Hồ dạy: Muốn đánh đuổi được bọn Tây là phải trường kỳ.

Có tiếng người hỏi:

- Bà Đỡ ơi, Kháng chiến trường kỳ là gì?

Bà Đỡ ớ ra không giải thích nổi. Thấy vậy, một người đi cùng đỡ lời:

- Không nên móc máy nhau. Đã ở hoàn cảnh này phải chụm nhau lại mà giải quyết. Đây không phải là lúc bất bẻ.

Bà Đỡ nhìn người đó cảm ơn, rồi nói:

- Tôi là người ít chữ, cấp trên bảo thế nào, nhập tâm nói lại thế. Nếu ai biết xin giảng giải cho tôi và mọi người cùng nghe.

Bố thủng thẳng giảng giải:

- Chữ kháng đồng nghĩa với đối kháng, kháng cự. Còn chữ chiến, đồng nghĩa với chiến đấu, chiến trận, chiến tranh. Còn như hai chữ trường kỳ, là Cụ Hồ dạy ta: Tuy đã giành được Độc lập, nhưng nay quân Pháp còn mạnh, muốn đánh thắng được bọn giặc, ta phải xác định thời gian Kháng chiến lâu dài. Không tính năm, tính tháng. Đến bao giờ quân ta mạnh, đủ sức sẽ chiến đấu. Chiến đấu đến bao giờ thắng lợi như hồi năm bốn nhăm thì thôi.

Nằm trong thúng, tôi nghe chẳng hiểu gì, mà chỉ thấy mọi người im lặng nghe. Có vài ba người gật gật ra điều đã hiểu. Riêng bà Đỡ gật đầu theo nhịp bố nói, mặt rạng rỡ trong ánh nắng mặt trời.

Trong khi đó, dì buộc lại quang thúng, chị nhớn gấp chiếu, thu dọn đồ đạc, chị hai, chị ba ngồi ngáp, có ý còn muốn ngủ nữa, mẹ vét chút ít cơm nguội còn lại trong nồi từ hôm qua chia cho anh trai một bát, còn lại bốc, nhá, nhét vào miệng tôi. Cơm có mùi ôi ôi, nhưng vì sữa mẹ ít, tôi bú không no, nên dẫu thiu, lưỡi tôi vẫn nhận ra vị ngọt của bột cơm ngon, ngọt hơn bao giờ hết.

Dì rút kinh nghiệm, hôm nay buộc quang cao, nên mông đít tôi không bị va vào những mô đất nữa. Tôi thấy mình gần với trời và ngọn cây hơn. Giơ chân tay, tôi đùa với hoa nắng xuyên qua cành lá hai bên đường. Thi thoảng anh trai ngồi trên lưng chị nhớn cõng, tay tóm vai như cầm cương ngựa, mồm líu lo:

- Nhong nhong nhong/ ngựa ông đã về / cắt cỏ bồ đề / cho ngựa ông ăn.

Chị nhớn càu nhàu: - Chị không phải ngựa cho em cưỡi đâu nhá!

Đúng là trẻ con, dù ở hoàn cảnh nào vẫn vô tư như chẳng có gì mà lo lắng, chẳng có gì phải phiền muộn.

Đường đi càng lên cao, dốc dài như vô tận, những vết dao chém vào thân cây, khắc dấu hướng đoàn người đi, ứa nhựa thâm đen, như một vết thương rỉ máu. Bà Đỡ nói:

- Đến đường rẽ vào hang Dơi ta nghỉ giải lao. Từ đấy lên hang Dơi phải lội theo đường suối mà vào. Mà đằng nào cũng phải chờ ở đấy để nhận tiếp tế gạo và muối.

Nhưng biết đến lúc nào mới đến hang Dơi? Mọi người lặng lẽ bước, cái nóng bức bối, đàn ruồi vàng vo ve bay theo, nhiều con bu vào mặt, vào gáy, chân tay. Dì vừa gánh, vừa lấy cành cây xua. Bố nhặt được cái đòn xóc của ai vứt bên đường, buộc túm tó các thứ lại gồng vào vai. Mồ hôi bố chảy ra, ướt dẫm như tắm. Mẹ cõng chị ba, dắt chị hai miệng thở dốc.

Nằm trong thúng, tôi ngóc đầu nhìn các gia đình khác: Nhà nào cũng vậy. Còn riêng bà Đỡ, lúc đi vượt lên đầu đoàn, lúc tụt lại sau, luôn mồm:

- Cố gắng lên! Nay mai Cách mạng thành công tha hồ sướng.

Nghe vậy biết vậy. Cứ thế này thì biết bao giờ mới được như bà nói?

Lên đến gần đỉnh núi, cây cối thưa, mặt đường phẳng dần. Khi sắp tới đường rẽ vào hang Dơi bỗng nghe có tiếng máy bay "dẹtdẹtdẹtdẹt.." trên đầu. Bà Đỡ quát:

- Tất cả nằm xuống! Đề phòng máy bay địch bỏ bom!

Mọi người vừa tản ra núp vào hai bên đường thì hai chiếc máy bay màu bạc óng ánh, thân hình như cánh phản lao xuống. Có tiếng kêu:

- Tàu bay khu trục đấy! Coi chừng nó bắn!

Lời chưa dứt, hàng loạt đạn nổ, đinh tai, nhức óc. Khi hai chiếc máy bay vọt lên, từ đuôi, mấy quả bom đen chùi chũi rơi xuống. Dì lao đến bế thốc tôi ra khỏi thúng, lấy hai tay ghì chặt tôi vào lòng, chạy tới, núp cạnh một cồ đá to cạnh đường đi, hai chân quỳ, mông chổng lên trời. Tôi lắc đầu không chịu, lách sang một bên sườn, ngó đầu ra nhìn: Sau ba, bốn tiếng nổ rền vang, những cụm khói dựng đứng đen ngòm mỏm núi phía xa, cây cối bị cắt ngang đổ như ngả rạ - May, không có quả bom nào rơi ở chỗ đoàn người Phúc An đi tản cư.

Cắt bom xong, hai chiếc máy bay vút lên cao. Tiếng ầm ì xa dần. Mọi người lồm cồm bò dậy. Phía sườn núi có bom rơi, những cụm lửa bốc cao, cháy rừng rực. Bà Đỡ giảng giải:

- Nó bắn ở hang Dơi, vì đấy là nơi có bộ đội. Còn lửa dễ bắt cháy vì đấy là rừng thông.

Khói đen dựng thành cột, loang rộng, sém vàng lan tỏa cả một vùng. Tiếng cây cháy gặp lửa nổ lép bép, mùi nhựa thông vừa thơm nồng vừa khó ngửi.

Đoàn người tản cư tiếp tục lên đường, khuôn mặt từng người hiện rõ vẻ lo âu vì không hiểu rồi con đường này sẽ dẫn mình đi tới đâu? Sau loạt bom ấy, có thêm vài gia đình cố ý đi tụt lại phía sau. Bà Đỡ biết, nhưng cố tình lờ đi. Bà tự hiểu, mình chỉ là mụ lang vườn không hơn không kém. Ai tin bà? Nhiều người sợ mà phải đi, chẳng qua ngại bà "tâu, hót" lại với cán bộ Việt Minh, sẽ bị trả thù. Bà mặc, ai hiểu sao ra thế. Bà sống với mọi người bằng tấm lòng. Cái gì tốt bà theo. Mà đã theo, bà sẽ theo đến tận cùng, nhưng chuyện nhân tình thế thái, bà rõ lắm. Tiếng trú ngụ ở chùa Nhuế, nhưng thực ra, nghiệp làm phúc bà mang bao trùm khắp tỉnh. Nhà nào thế nào sao bà chẳng biết! Nhưng trời cho mỗi gia đình một nhà, cho mỗi người một tính, biết sao mà lường. Thôi, mình cứ sống cho hết lòng - Bà nhủ vậy.

Dân tiểu thị ở Phúc An vốn tứ xứ quần cư, tinh ranh vặt vãnh. Cùng với sự giao lưu buôn bán nhỏ, manh mún cho họ tầm nhìn quẩn quanh. Bên cạnh đó, sự đổi thay của thời thế, làm cho người ta không biết thế nào mà lần. Không dám đặt lòng tin nhiều vào ai. Đối với họ, chính trị là chuyện động trời, động đất. Đùng một cái, Tây, Nhật đánh nhau; đoàng một cái, Việt Minh cướp chính quyền. Độc lập tự do được vài năm lại phải bỏ nơi chôn nhau cắt rốn để lên rừng. Kẻ nói:

- Tưởng Việt Minh mạnh lắm? Ai ngờ bây giờ phải bỏ chạy.

Người bàn:

- Tình thế này chưa biết ra sao? Không biết theo ai sẽ được yên thân? Tây, Nhật súng ống, xe cộ rầm rầm mà còn chẳng ăn ai, huống chi mấy ông đội mũ ca lô, mặc áo trấn thủ, năm người có một súng, còn lại lấy đòn càn để chống với xe tăng, tàu bò?

Bố nói:

- Chỉ mong bình yên để buôn bán làm ăn, nuôi dạy con cái..

Mẹ thở dài:

- Loạn mãi thế này biết chạy đâu cho yên?

Bà Đỡ nghe mọi người câu ra, câu vào, bà cũng chẳng biết thế nào. Những điều phổ biến của cấp trên bà phổ biến hết rồi, còn những điều dân tản cư phàn nàn thắc mắc thì bà không giải thích nổi. Đưa họ đi thì được, nhưng nếu không đến nơi, đến chốn, không kiếm ăn được, khổ, họ chửi cho mục mả. Nghĩ vậy, chờ mọi người tập trung nghỉ ở lối mòn rẽ vào hang Dơi, bà nói:

- Thưa bà con, chúng ta đi hôm nay là ngày thứ ba rồi. Tôi vừa được cấp trên chỉ thị: Dẫn bà con vượt đèo Nhe sang Thái Nguyên. Ta phải vượt qua đỉnh núi kia - Bà chỉ về phía có dãy núi cao gần chạm trời, nói tiếp - Sẽ rất gian khổ, vất vả. Đến đây, tôi cũng không biết nói thế nào với bà con. Vậy nên.. - Bà ngập ngừng một chút rồi quả quyết - Dù ở đâu ta cũng phải một lòng theo Cách mạng, phải nhớ những ngày được tự do vừa qua. Còn bây giờ, chẳng qua vì tình thế bắt buộc, Việt Minh phải tạm lánh vào rừng, nhưng rồi sẽ có ngày quay trở lại.

- Chuyện ấy nói mãi rồi, có gì nói toẹt ra lại còn.. - Có tiếng nói trong đám đông.

Bà Lang nói tiếp như không để ý: - Lương thực để ăn thì không ngại, đã có bà con người dân tộc giúp đỡ. Nhưng còn chuyện nếu sang đến Thái Nguyên, chuyện làm ăn, buôn bán tôi cũng không biết thế nào? Vậy tùy bà con, ai theo được thì theo.

Sau thời gian nghỉ giải lao. Khi tiếp tục lên đường, lại thêm mấy gia đình cố tình tụt lại phía sau. Họ ngại nói ra, còn bà Đỡ và mọi người lờ đi như không biết. Bà Đỡ nói rồi mà: Ai theo được thì theo, tùy tâm!

Tôi bỗng thấy dưới rốn đau quặn, có tiếng kêu "ọc.. Ọc.. Ọc" sau lớp da bụng. Từ đít, cứt cứ chảy ra. Tôi oằn người. Dì hạ gánh cạnh vệ đường, đưa tay sờ, bỗng dì rụt tay, miệng kêu:

- Ỉa đùn rồi! Đồ "chó con"! - Dì mắng, lật nghiêng người tôi, lấy mấy tờ giấy bản lau vội vàng vì tôi giãy lên như phải bỏng.

Người tôi cong ngược lên như cầu vồng chống trả lại con đau. Không hiểu sao mà đau thế? Trong bụng như có hàng trăm ngăn mũi kim đâm, hàng ngàn mối dây xoắn ruột mà vò, mà xé, mà co, mà kéo. Tôi gào, ngặt nghèo vì đau. Mẹ chạy lại hỏi:

- Cháu sao thế? Dì đưa nó cho tôi. - Mẹ ấn đầu vú vào miệng tôi - Con bú đi.

Tôi lấy tay đẩy ngược, gào, khóc, lắc đầu không thèm ngậm. Cơn đau quằn quại tưởng như không dứt. Cả nhà thấy vậy đều quay lại, xúm xít quây thành vòng nhìn tôi. Qua làn nước mắt, bóng hình người thân của tôi nhòe nhoẹt. Tôi loáng thoáng nhận ra những gương mặt lo âu của mọi người. Nhưng khác hẳn với lòng kiêu hãnh lúc sắp được sinh, tôi không trêu đùa được nữa. Miệng thì khát, nước cứt ở đít tự động chảy ra, lổn nhổn vừa hòn vừa nước. Những cơn vò xé từng đợt hành hạ. Tôi nghe tiếng mẹ:

- Không biết nó làm sao? Bố nó chạy lên tìm bà Đỡ.

- Bà Lang chứ! - Bố cãi.

- Ối giời ơi! - Mẹ cau có cằn nhằn quát bố - bà Lang hay bã Đỡ vẫn là một lại còn phải nói! Đi mau, không thằng bé chết đến nơi rồi kia kìa.

Bố chạy vội xuống dốc, vượt lên phía trước tìm bà Lang.

Nghe mẹ nói tới cái chết, thằng "tên" thò cổ ra bảo tôi:

- Cậu chết thì chết! Chứ tớ chưa muốn chết.

Nghe thằng "tên" nói, tôi cố nén cơn đau đáp trả:

- Cậu là thằng tôi. Bố đặt tên để gắn liền cậu với cuộc đời tớ. Sống chết phải cùng nhau, ai ngờ cậu hèn vậy?

Thằng "tên" cười khẩy: - Không ai muốn chết ở cái tuổi mới biết bò cả. Cậu là người, muốn sống phải giữ gìn, ăn uống bậy bạ cho thỏa cái miệng, không biết giữ chừng mực, điều độ, bây giờ bị đau đớn sướng chửa?

Tôi lập tức cãi: - Người ta đói thì phải ăn, khát thì phải uống! Không ai như cậu: Chỉ là một cái tên, không cần ăn, chẳng cần uống vẫn sống. Ngoài chức danh Nguyễn Văn Thừa để gọi, cậu chẳng biết gì sất! - Tôi cay cú nhiếc móc.

Thằng "tên" phản công lại: - Nếu không có tớ ai người ta gọi cậu? Ừ! Bố ghép tớ vào cậu đấy! Nhưng cậu phải biết có tớ ở trên đời song hành chứ! Cậu làm gì phải hỏi tớ một câu, một tiếng. Đằng này, cậu bơ đi như không, bây giờ sắp chết cậu lại còn để liên lụy đến tớ phải không?

Tôi đang định chửi lại thằng "tên" một trận thì cơn đau đột ngột kéo đến hất ngã bổ chửng tôi lên trên hai bàn tay mẹ. Mẹ ghì chặt lấy tôi cho khỏi ngã, lấy tay xoa xoa rốn tôi. Tôi ưỡn ẹo, ngược bụng lên cố nén, nhưng từ trong bụng, nước cứ ồng ộc tuôn chảy như tháo cống, hậu môn của tôi thông thống không ghìm lại được nên cái gì ở trong bụng cũng muốn ồ ạt tuôn ra. Mùi khắm khẳn, tanh tưởi tỏa ra.

Thoảng trong mũi hôi, thoáng trong cơn đau dữ dằn, tôi thấy mũi thằng "tên" chun lại ra điều ghê tởm và miệng hắn nở nụ cười khinh khi. Tôi cáu, định chửi cho hắn một trận, nhưng cái bụng liên tục thúc dồn dập, cơn đau dồn đến, như muốn bóp nát bụng tôi ra từng mảnh. Từ lúc ấy, đối với thằng "tên", tôi ghi "hận" trong lòng.

Và, đối với "hai chúng tôi", đấy cũng là lần "mâu thuẫn", là trận "đấu khẩu" đầu tiên trong đời, kể từ khi mẹ sinh tôi và bố lấy cái tên Nguyễn Văn Thừa ràng buộc hai đứa vào nhau. Trận "đấu khẩu" ngầm, mở màn cho những tranh luận, những bất đồng, không thỏa hiệp giữa nó và tôi trong cuộc sống trên đường đời sau này.

Chương hai - 9
 
282 ❤︎ Bài viết: 1159 Tìm chủ đề

Chương hai - 9​


20261004-093540-ba9e5382a8.png


Chương hai - 9

Phải chờ đến gần mười một giờ trưa em mới được tiếp

Ông Trưởng phòng Nông nghiệp huyện giương đôi mắt kính lấp loáng những đường vòng thủy tinh quan sát, rồi hất hàm:

- Bao lâu rồi?

- Dạ.. Thưa bác, cháu được điều về tăng cường ở xã ấy được ba năm rồi ạ! Nhưng vì..

Không cho em nói hết câu, ông Trưởng phòng ngắt lời:

- Tôi hỏi cái kia cơ!

Bấy giờ em mới chú ý tới ánh mắt sau vầng thủy tinh như dán chặt vào cái bụng nhô cao, khuy áo tuột để hở ra mảng bụng trắng ngần. Em vội lấy tay khép lại. Ông trưởng phòng nói:

- Gái sắp hai con rồi còn gì mà xấu hổ? Nói cho phòng biết để còn bố trí nơi công tác.

- Dạ, thưa bác.. - Mặt em đỏ rần vì ngượng, lời nói ấp úng - Được.. Được ba tháng.. Ạ.

- Hay! - Từ "hay" ngân như tiếng chuông. - Bỏ nhau ba tháng, chửa ba tháng. Đêm hôm trước còn ngủ với nhau, hôm sau ra tòa li dị. Sao chửa thế này mà còn bỏ nhau? Hay! (Lại một tiếng chuông nữa). Các vị cũng văn minh gớm nhỉ? Biết "cấy giống lúa ngắn ngày" - Ông cười khềnh khệch.

Không dám trả lời, mặt em cúi gằm, mắt đăm đăm nhìn tờ đơn cầm trên tay, gáy nóng ran, hình như sức nóng từ hai thấu kính của ông Trưởng phòng truyền sang?

Lúc sau, ông lên tiếng:

- Đưa đơn tôi xem.

Em ngẩng mặt lên, không khí ùa vào làm dịu phần gáy:

- Thưa bác - Hai tay em nâng tờ giấy - Cháu mong các bác giúp đỡ..

- Bác cháu mãi! - Tay cầm tờ đơn đặt lên bàn, đôi thấu kính truyền thêm nhiệt lên mặt em - Bác cháu nào giúp được?

Sau câu hỏi, đôi thấu kính lượn sang hai bên rồi phóng ra ngoài cửa. Không thấy ai, quay lại ông nói tiếp:

- Quyết Chiến và Quyết Thắng kỳ này tách tỉnh xong sẽ hợp nhất thành một xã rồi! Nhưng mà lực lượng cán bộ Nông nghiệp tăng cường chúng tôi đã bố trí xong cả. Bây giờ chỉ còn vùng sâu vùng xa thôi.

Em rụt rè:

- Trăm sự cháu nhờ các bác.

- Nhờ thế nào? Chẳng nhẽ tôi đuổi người ta đi cho cô vào thế chỗ à?

- Dạ.. Không phải ý cháu thế đâu ạ! Em thanh minh.

Không đáp lại, ông nghiêng đầu, một tay đỡ cằm, ngón trỏ bàn tay bên kia gõ từng nhịp lên mặt túi hồ sơ đặt trên bàn làm việc. Tiếng chém gió của chiếc quạt trần quay "ù, ù" như cối xay lúa.

Ngoài trời nắng chan chan, đã lập thu rồi mà thời tiết như độ giữa hè. Cơ quan Nông nghiệp ở trên tầng hai khu nhà ba tầng nằm giữa trung tâm huyện lỵ. Phòng làm việc của Trưởng phòng ở đầu hồi, thêm được diện tích của phần trần hiên. Phía ngoài kê bàn làm việc, chiếc tủ đựng hồ sơ đứng sừng sững thay màn gió che phần bên trong. Một phần đầu giường cá nhân thò ra có ý nói rằng đây là nơi nghỉ trưa hoặc trực đêm của chủ nhân căn phòng.

- Em đi lên đây bằng gì? - Trưởng phòng hỏi.

Em đáp:

- Dạ, thưa bác, cháu đi bằng xe đạp.

- Trưa rồi! - Ông chuyển tư thế ngồi - Đằng nào cũng phải chờ đến chiều tôi còn hội ý với bộ phận chuyên môn. Tiện thể em ở đây ăn trưa với tôi.

- Thưa bác, thôi ạ, để cháu ra phố chơi một lúc, đầu giờ chiều cháu quay lại.

- Bác cháu gì mãi thế? Em giúp tôi lấy cái bếp dầu để ở trong gầm giường mang ra ngoài hiên.

Bất đắc dĩ, em chiều ý bê chiếc bếp dầu ra ngoài. Ông Trưởng phòng cầm trên tay cái bật lửa vỏ nhôm và cái đóm:

- Em vào trong buồng lấy cái xoong và xách xô nước ra đây, để bếp đấy tôi nhóm.

Em kỳ cọ chiếc xoong bóng loáng rồi hỏi:

- Thưa bác, gạo ở đâu ạ?

- Cơm nước gì cho mất thời gian. - Ông nói - Nấu mỗi người bát mì, đập trứng vào là xong. Thôi, em để đấy cho tôi.

- Bác để cháu nấu. - Em nói.

Ông mang ra cho em mấy gói mì kèm theo bốn quả trứng gà:

- Ăn cái này nhẹ bụng, mà lại có chất hơn.

Em đập vào bát ông ba quả trứng cộng với hai phần mì. Ông cởi áo ngoài, hai chân ngồi chồm hỗm trên ghế vừa thổi vừa húp xoàm xoạp. Nghe tiếng húp, em không nghĩ ông là Kỹ sư, Trưởng phòng Nông nghiệp huyện, mà liên tưởng tới mấy ông thợ cày dưới quê.

Trong lúc dọn dẹp, ông khoác cái áo lên vai nói:

- Xong việc, em vào giường nằm nghỉ, bụng mang dạ chửa đi đâu giữa trưa này? Cứ tự nhiên, tôi xuống dưới chỗ trực hút điếu thuốc lào, tán gẫu với cậu bảo vệ.

Nằm trên giường, em cảm động vì sự quan tâm của ông Trưởng phòng, mừng vì thấy công việc có chiều suôn sẻ.

Bây giờ thì ổn rồi. - Em nghĩ - Nếu cứ như lúc ban đầu thì gay! Em không hiểu sao thái độ của ông Trưởng phòng lại đột ngột thay đổi vậy? Nhìn ra khoảng trời ngoài cửa sổ: Da trời mới đẹp làm sao, thi thoảng từng đụn mây nhiều hình thù màu xám bạc bay ngang qua rồi khuất sau khuôn cửa, trả lại nền trời một màu toàn bích. Lơ mơ em thiếp đi lúc nào không biết, mang theo cả bầu trời xanh rực rỡ cùng niềm hy vọng tràn trề vào trong sự tĩnh lặng của tâm hồn.

Em chợt giật mình, mắt mở bừng: Một bóng người lù lù như đổ ập xuống người, theo phản xạ, em lấy tay ôm bụng che đỡ cái sinh linh nhỏ bé đang hình thành. Màu thiên thanh biến mất, cánh cửa sổ đã đóng, ánh sáng lọt qua khe chiếu thẳng rồi gãy khúc trên hai thấu kính, phản lại, từng tia khúc xạ lấp loáng, lấp loáng.

Em chồm dậy nhưng không được. Cánh tay của Thần dâm đỡ dưới gáy co đầu em lên gần sát đôi mắt kính, hơi thở nồng nồng phả vào da mặt. Em giãy giụa, nhưng sợ cái mầm sống bị đau, em ú ớ.

- Đừng.. Đừng.. Đứng làm thế thưa bác.

- Cho anh đi.. - Tiếng thở hổn hển xen lẫn những lời nói ham hố khẩn thiết kêu nài - cho anh đi em.. Rồi muốn chuyển về xã nào, thôn nào anh sẽ..

Cuống quýt, em đưa ra lý do cuối cùng: - Cháu đang có chửa.. Bác.. Bác.. Bác.. Bác đừng..

Thần dâm áp đôi môi cuồng khát vào môi em, em lắc đầu, cái môi cùng cái mặt trượt xuống bên tai, cạnh gọng kính xiết kéo mấy sợi tóc mai làm em đau. Giọng Thần loạn nhịp:

- "Được cái l.. Chửa sướng nửa đời người" em ơi.. Em cho tôi nửa cái đời người ấy nhé..

Em loay hoay không biết làm thế nào để gỡ ra. Trong lúc gay go, bỗng quên phắt mình có chửa, em gồng người, co gối chống lại bàn tay thô bạo. Buông đôi tay đang bảo vệ hài nhi, em lấy một tay đỡ cổ đẩy lên, còn tay kia đấm thẳng vào mặt, cái kính văng ra, tung lên không rồi rơi "cạch" xuống nền nhà. Thần dâm bị hất ngược, bật dậy hiện nguyên hình là ông Trưởng phòng.

- Aaaaa.. Cô.. Cô.. Cô dám đánh tôi phải không? Được! Rồi cô sẽ biết tay.

Em không còn nghe ông ta nói gì nữa, nhổm dậy, hẩy ông ta đang đứng ngã ngồi xuống giường lấy lối ra mở then cài cửa chạy ra ngoài, quên cả dép và nón đội.

Chương hai - 10
 
282 ❤︎ Bài viết: 1159 Tìm chủ đề

Chương hai - 10​


20261004-093729-d2be42071b.png


Chương hai - 10

Đi được một lúc lâu, khi quay về, bố buông một câu cụt lủn:

- Bà Lang đi mất rồi!

- Sao lại đi mất? - Mẹ hỏi.

Bố trả lời: - Tôi cũng như mình, biết đâu đuợc!

Dì ca cẩm: - Hay biết tin Tây đuổi theo, nên bỏ mọi người chạy trước?

- Không nhẽ thế? - Mẹ lẩm bẩm.

Lơ mơ, nửa tỉnh, nửa mê, nhưng tôi vẫn nghe thủng câu chuyện, nhếch mép cười khẩy, nghĩ: Cả nhà chẳng tin mãi bà ấy đi. Bây giờ mói rõ nhé! - Trong cái óc non nớt của tôi xuất hiện hình ảnh bà Lang kiêm mụ Đỡ. Và tôi, lấy tất cả sự coi thường, khinh bỉ trùm lên bà.

Thằng "tên" thấy thái độ của tối như vậy nó phản đối:

- Tờ không bao giờ tin bà ấy là kẻ phản bội.

- Thì đấy! - Tôi vặc lại - Cậu đã hưởng mùi hôi và vị đắng của lá ngải cứu đâu? Cậu đã được nếm những cái phát vào mông như trời giáng của bà ta đâu mà cậu chẳng bênh.

- Cậu là thằng không biết điều! - Thằng "tên" cao giọng xỉ vả - Nếu không có bà ấy biết xoay thai, cậu chẳng chết ngóm rồi à?

- Bà ấy không đỡ tớ, đã có người khác! - Tôi cãi bừa.

Thằng "tên" im lặng, vẻ coi thường. Tôi mệt quá, bụng lại réo òng ọc nên chẳng thèm nói nữa. Hai đứa tạm thời ngưng chiến.

Bố dọn chỗ dưới bóng mát một bụi cây để cả nhà nghỉ. Dì cùng chị nhớn bê nồi vào hẻm núi lấy nước; anh trai cùng hai chị nằm co ro dưới nền đất trải lá cây. Không ai nói một lời, lặng lẽ như chờ đợi những giây phút cuối cùng của đời tôi. Mẹ ngồi cạnh, mặt buồn bã, hai giọt nước từ khóe mắt ngưng lại trên gò má xanh rớt.

Lúc này, tôi không còn đủ sức gào nữa. Cơn đau không quặn thắt, nhưng cả người tôi mềm oặt, chân tay duỗi dài bất động. Miệng thi thoảng há, ngáp như cá thiếu nước, đôi mắt ốc nhồi bình thường đã trắng, nay trắng rã rượi, đồng tử con ngươi lờ đờ, thi thoảng mới động đậy. Từ lỗ đít, nước phân vẫn ri rỉ, mùi thối khẳn. Mẹ đã phải xé cả vạt áo ngoài đang mặc làm đồ lót mà vẫn không đủ, đành phải để tôi cởi truồng, kệ cho nước chảy ra, kệ cho gió lạnh căm căm dày vò. Bố ngao ngán, giọng rầu rầu:

- Thằng này số khổ. Hưởng hòa bình chưa được là bao thì lại gặp giặc giã. Bệnh tật thế này, bơ vơ giữa rừng núi thế này, biết có qua khỏi không?

Dì bê nồi nước, khập khiễng từ hẻm núi đi ra, nghe vậy, đai lại anh rể: - Anh chỉ được cái nói gở. Trẻ con đái, ỉa, sài đẹn là thường chứ có gì.

Tôi biết dì tự an ủi mình đấy thôi. Chứ thực ra, dì lo lắm! Trong số tất cả anh chị em, dì gần gũi với tôi hơn cả. Ngay khi tôi mới lọt lòng, dì đã là người đón tay. Bây giờ nhỡ tôi chết đi, dì chẳng khổ tâm, ân hận lắm à?

Chị nhớn nói:

- Chờ cơm sôi, lấy bọt nước cho em ăn, may ra khỏi mẹ ạ.

- Ừ, - Mẹ đáp - Chẳng gì cũng phải cho em ăn một bữa no con ạ!

Mẹ không muốn tôi phải làm ma đói.

Cả nhà cứ ngỡ sau khi ăn cơm xong là tôi "đi". Bố đã bàn tới chuyện đào hố chôn tôi ở đâu, và nhắc mẹ nhớ ngày để hàng năm còn cúng cơm. Nhưng đến lúc nắng ngả sang chiều, tôi vẫn nằm thở thoi thóp. Thấy vậy, bố bàn:

- Cũng chưa biết thế nào? Nhưng nghe chừng trời dễ mưa? Bây giờ mà đi tiếp, không biết đến đâu mới có chỗ nghỉ? Còn chờ bà lang? Biết đến bao giờ. Tôi tính thế này: Cả nhà quay về làng Đồng Câu nghỉ, mai tính tiếp. Còn ở lại đây đêm nay, sợ có thú dữ tới.

Bố không nói hết câu, nhưng cả nhà đã hiểu. Dì đặt tôi vào một bên thúng, cái thúng như rộng ra, mọi lần tôi nằm, chân thừa, gác lên cả miệng thúng. Hôm nay, lọt thỏm, dì xót xa:

- Mới tá hỏa có một ngày mà người đã như tàu lá chuối héo thế này cháu ơi..

Chị nhớn cõng anh trai, bố cõng chị ba, mẹ cõng chị hai. Cả nhà lùi lũi quay lại. Trời ập tối rất nhanh, đường rừng vắng lặng, hơi nước từ thung lũng bốc lên bay là là trên tán cây, ngang sườn núi. Nằm ngửa mặt, tôi thấy mình bồng bềnh như bay trong mây, màu xanh lam nhường dần cho màu xám xịt. Xuống dưới chân dốc, gió bớt mạnh. Bố kiếm cây khô, bó, đốt đuốc; ánh lửa chập chờn, yếu ớt, lọt thỏm giữa núi rừng âm u.

Không thấy ai kêu khổ nữa. Chắc tất cả những vất vả, mệt nhọc, đói khát không sánh bằng những gì đang xẩy ra, trong đó có sự chia ly tử biệt. Cái thúng, nơi chứa đựng một sinh linh thoi thóp - là tôi, đang đi gần đến huyệt đạo của chính mình. Từ xa trong bóng tối im lìm, tôi thấy Thần Chết đang tiến đến gần.

Thần Chết, tôi tưởng tượng là một quái nhân, mặt dài hơn mặt khỉ trong gánh xiếc biểu diễn rong ở chợ Phúc An. Còn tay, chân dài ngoẵng như rắn leo cây, mồm oạc ra như rắn hổ mang bành, vằn vện khoang đen, khoang vàng như rắn cạp nong. Nó múa may, chờn vờn quanh tôi.

Tôi không sợ chết! Nhưng tôi sợ, vì chết mà không được chơi với anh trai, với các chị nữa. Tôi sẽ không được nghe dì kể những câu chuyện cổ tích: Có cô Tấm bước ra từ quả thị; có con nhái, sau khi lột da, trở thành hoàng tử; có thằng Lý Thông tranh công, cướp nàng công chúa xinh đẹp của chàng Thạch Sanh nghèo khổ.

Nghĩ vậy, tôi ứa nước mắt. Nào tôi đã sống được bao nhiêu đâu mà nỡ bắt tôi phải chết? Sao bây giờ tôi ước ao có bà tiên từ trên trời bay xuống, cho tôi quả bầu tiên đựng nước cải tử hoàn sinh? Tôi sẽ trở lại như xưa, để được chập chững trên đôi chân hồng hào bụ bẫm, u ơ tập tiếng gọi cha, gọi mẹ đầu đời; tôi sẽ cùng dì lạc vào thế giới của những miền cổ tích xa xôi.

Thấy tôi mơ mộng, thằng "tên" giễu cợt: - Sắp chết đến nơi rồi mà còn mơ mộng.

Tôi nhìn nó căm hờn: - Rồi mày sẽ được tao giải thoát! Tao rất tiếc không được sống để mày hiểu, tao là người thế nào?

Thằng "tên" nhâng nháo: - Cậu thế nào thì ngay từ ngày bố ghép tớ vào với cậu, tớ đã hiểu rồi. Ăn thì tục, uống thì phàm, lười vận động, ba tháng trốn bò, sáu tháng không lết nổi một mét. Đi đâu chơi, nếu không có các chị bế ẵm thì làm tớ phải ở nhà cùng.

Nó còn nói dài lắm, tôi mệt, không cãi nổi cái mồm lu loa của nó! Nhưng suy cho hết nhẽ, có cái nó chửi tôi cũng đúng. Ví như chuyện đái dầm chẳng hạn. Rõ ràng đi ngủ, mẹ xi rồi. Gần sáng tôi vẫn "tương" ra một bãi trôi cả chiếu. Hoặc như chuyện ăn uống chẳng hạn, bất cứ cầm được cái gì là tôi đưa lên miệng.

Ừ, có thể tôi có nhiều tính xấu. Nhưng dẫu sao tôi và nó vẫn là một: Có tôi mới có nó, có nó mới có tôi. Hai đứa tuy hai mà một. Thế mà bây giờ, lúc tôi sắp chết, khi phút chia ly, tử biệt đã điểm, nó vẫn không dành cho tôi một phút tình cảm nào, dù chỉ là lòng thương hại. Thôi, cũng đành! Quyền yêu, ghét là của mỗi người, nào ai bắt được ai.

Phải tối sẫm cả nhà tôi mới về đến làng Đồng Câu. Chị nhớn kiếm đâu ra hàng đống cỏ lông lợn đem vào nhà đốt lên, căn nhà ấm hẳn. Dì đặt quang gánh xuống, giục anh rể:

- Anh lấy cỏ lót xuống dưới, rồi trải túi cói lên cho chị và các cháu nằm. Em xuống suối vò chỗ quần áo bẩn, hơ cho khô, sáng mai còn lấy cái cho cháu mặc.

Bố bảo chị nhớn:

- Con cầm đuốc soi cho dì. Đêm tối, hai đi vẫn hơn.

Chị nhớn theo dì đi ra. Mẹ nằm xuống, ôm tôi, hơi ấm từ nơi mẹ truyền sang. Tôi cảm nhận được nỗi xót đau của lòng mẹ. Mẹ ơi! - Tôi thầm gọi - Con không muốn chết! Con muốn được ở với bố mẹ và cả nhà mình suốt đời.. Hình như mẹ cảm nhận được nỗi lòng của tôi. Mẹ lấy tay vuốt mái tóc khô xác trên đầu, rồi đưa tay rờ rẫm khắp cái thân thể còn trơ da bọc xuong của tôi. Chợt mẹ giật mình nhổm dậy:

- Bố nó ơi! Sao bụng thằng Thừa chướng to thế này?

Ánh sáng soi rõ cái bụng tôi phềnh to, kềnh càng như tang trống hội chùa Báo Ân trên đồi Cấm. Bố tôi ngửa tay gõ thử, cái bụng tôi trả lời: "Bung, bung". Bố bảo:

- Thế này, chẳng được bao lâu nữa.

Anh trai cầm lấy bàn tay bé xíu của tôi:

- Em tỉnh ngủ, hôm nào về, anh cho ra Bãi Tập chơi.

Anh trai hứa bao nhiêu lần cho tôi ra Bãi Tập, nhưng chưa bao giờ tôi được ra. Chắc vì tôi chưa biết đi? Có lần chị hai nói:

- Bãi Tập là khu đầm lầy giáp chợ Phúc An. (Khu chợ mà anh trai đã kể ở phần trên). Sau khi Việt Minh giành chính quyền, lấy đất san lấp làm Bãi Tập để bộ đội, tự vệ tập quân sự, đánh trận giả, luyện võ đánh Tây. Bọn trẻ con trong phố ra đấy chơi đủ các trò.

Tôi ước mơ được ra đấy chơi mà chưa bao giờ được. Bây giờ, ước mơ ấy lại càng xa xôi.

Dì bê quần áo lên, đặt vội xuống, nhào vào:

- Cháu nó sao rồi anh, chị?

Mẹ nước mắt lưng tròng:

- Chắc cháu không qua được.

Bố thở dài:

- Âu là cái số.

Chị nhớn quay mặt đi, lấy tay chấm nước mắt. Chị hai, chị ba vuốt ve chân tôi, hơi nóng từ bàn tay các chị truyền sang, cảm giác trìu mến, thân yêu như muốn níu tôi lại.

Gió ngoài trời mạnh dần, kèm vào đấy là từng đợt mưa rừng ào tới. Nước mưa xối xả trên mái, tiếng mưa lộp bộp trên tán cây rừng, lúc ào ào, lúc ắng lặng.. Gió lùa qua khe cửa thốc tháo vào nhà. Ngọn gió đùa giỡn lưỡi lửa, ánh sáng chập chờn, quất lên những sinh linh nhỏ nhoi, rét mướt, quất vào những tâm hồn bơ vơ, đơn lạnh.

Dì chắp tay hướng lên trời, chị nhớn quỳ bên cạnh; bố cời vầng than đỏ như muốn cho trời bớt lạnh, mưa bớt rơi, gió bớt thổi; chị hai, chị ba, anh trai co ro, lấy cỏ phủ lên đôi chân giá buốt; mẹ vạch vú, cố vắt trong bầu vú nhão nhoét, kiệt khô, một chút nước màu trắng, thấm thấm lên môi đứa con mình.

Trên cao, trời vẫn ầm ầm giận dữ; mặt đất, mưa gió vẫn giơ ra bộ dạng hoang dại, dữ dằn.

Tôi nghe mung lung nhịp điệu của vũ trụ xoay vần, của mưa gió hãi hùng.. Thần Chết uốn éo, múa điệu múa biệt ly, rền rĩ hát lời hát bi ai. Huyệt mộ há hốc mồm dọa nuốt tôi. Tôi cố vươn về nơi sống, Thần Chết lôi tôi về phía mồ.

Bỗng, thằng "tên" gào lên thất thanh:

- Bố mẹ ơi, cả nhà ơi, có người đến.

Nghe tiếng Thằng "tên" reo: Gió ngừng thổi, mưa ngừng rơi, Thần Chết dừng vũ điệu biệt ly, ngừng lời ca bi ai; miệng huyệt mộ khép lại. Cả nhà tôi bừng tỉnh:

Từ ngoài sân, có ba người đội mưa gió ào vào. Nổi bật là con người mà gia đình tôi quý trọng, thân thiết như người ruột thịt: Đó là bà Lang.

Đi cùng với bà là ông Trưởng làng và một người đàn ông ăn mặc kỳ dị.

Mắt tôi nhòa đi, niềm hy vọng được sống ùa đến, bất giác tôi liếc mắt nhìn Thằng "tên". Nó thò mồm vào tai tôi thì thầm:

- Thừa ơi, sống rồi!

Đời là vậy đó! Khi biết tôi có thể được cứu sống nó lại gắn cái tên nó vào với tôi. Nhưng thôi, thường khi con người có niềm vui dễ quên đi hờn giận, dễ mủi lòng tha thứ. Tôi cũng vậy!

Bà Lang không nói không rằng, vạch áo bụng tôi lên, áp tai xuống nghe. Nghe xong, bà lấy tay quệt phân, giơ lên trước ánh đuốc xem, rồi đưa lên mũi ngửi. Tôi thoáng thấy mọi người ngồi quanh nhăn mặt lại.

Bà tháo cái bị luôn đeo trên người xuống, mồm hỏi:

- Dì xem còn nến không?

Dì đáp: - Còn! Lấy mấy cây để tôi lấy?

- Bà Lang bảo: - Đưa cho tôi hai cây, còn lại đưa cho ông kia, - Bà chỉ tay sang ông có lối ăn mặc lạ kỳ.

Dì lấy nến đưa cho bà, còn lại trao hết cho ông.

Bà Lang trải tấm vải xuống nền nhà, lấy từ trong bị cói ra: Một tập bìa cứng cuộn trông như một cái sâu kèn; một con dao mỏng; một củ gừng; một cái que sắt, đầu nhọn như gai bưởi; một bó hương; một tệp giấy bản; một hộp đựng ngải cứu đã cắt thành sợi, phơi khô.

Bà dùng ba ngón tay nhúp ngải, vê thành từng viên như viên thuốc lào bố hút. Vê xong, bà lấy giấy bản trải rộng, đặt nén hương vào giữa, xếp viên ngải vào. Bà lẩm bẩm:

- Cu Thừa con trai bẩy vía, làm bẩy ngải. - Xong, bà cuộn vào trông như điếu thuốc lá xì gà một lần ông ký đem mời bố và khoe được xếp ga người Tây cho.

Bà dùng kim, châm lên thân củ gừng nhiều nhát, dùng dao thái từng lát, như mẹ xắt khoai lang để hấp cơm.

Chuẩn bị xong, bà bảo mẹ:

- Bế ngửa nó lên cho tôi.

Bà dùng ngón tay đo, rồi đặt một miếng gừng lên chỗ định, đưa điếu ngải châm vào ngọn nến, khi điếu ngải bắt lửa, bà chụm môi, thổi hơi nóng vào miếng gừng. Bà dặn mẹ:

- Bà để tay sát đấy, nếu thấy nóng, dùng ngón ra hiệu cho tôi, kẻo bỏng thằng bé!

Tôi nhớ, lúc đó tôi thấy da bụng nóng, thi thoảng hơi nóng phả rát bỏng. Mỗi lần như vậy, mẹ lấy ngón tay ra hiệu. Bà Lang lại kéo xa điếu ngải ra một chút và ngừng thổi. Miếng gừng này khô, Bà Lang thay miếng khác.

Hết ngửa bụng lại đến nằm sấp. Mỗi lần thay miếng gừng mới, Bà Lang lại lấy ngón tay đo, tính. Bố nói ra vẻ thông hiểu:

- Bà ấy tìm huyệt đạo.

Trong lúc Bà Lang dùng điếu ngải chữa cho tôi, thì ngay gần đấy, ông Thầy Mo (về sau tôi mới biết ông là Thầy Mo) người dân tộc Sán Dìu, bạn của Thần núi, Thần rừng, Thần mưa, Thần gió.. Người chuyên trị quỷ, trừ tà, cai quản ma lai, ma xó xứ Châu Lam, chuẩn bị bầy bàn cúng lễ. Bao nhiêu nến của dì đưa cho, ông đốt hết, cắm thành vòng, quây xung quanh một hình nhân đẽo bằng gỗ. Ông lấy trong túi ra đôi xập xoèng bằng đồng, vừa co chẳng nhảy cù đớ, hai tay ông vung ra xa, rồi đập vào nhau, tiếng thanh khí vang lên "Choeng, choeng, choeng, choeng.. Choeng", theo nhịp ngũ liên. Cẩ người ông uốn éo, dẻo như kẹo kéo bán rong đi qua phố tôi. Chiếc mũ cắm lông chim sặc sỡ lấp loáng trong ánh lửa bập bùng. Đôi chân trần, đen đúa chuyển điệu. Dù ông ta chỉ sử dụng một loại nhạc cụ, nhưng sau nhịp năm, là những vũ điệu lạ kỳ, giàu tiết tấu. Lúc mang sự huyền bí, linh thiêng gần với thần thánh; lúc kinh dị, man dại, gần với ma quái.

Ông vươn rộng cánh tay, như thần điểu bay lượn giữa không gian, rồi sà xuống, xòe hai cánh khổng lồ phủ lên tượng hình nhân bé nhỏ. Trông như chim lớn bảo vệ, chở che cho chim non yếu ớt. Có vũ điệu như người mẹ ru con, mười đầu ngón tay mơn man, ve vuốt; miệng hát những câu lạ lùng, nhưng âm hưởng dịu dàng, âu yếm. Lúc lại bỏ xập xoèng, cầm con dao quắm to bản, múa một bài quyền thuật, chém tới, chém lui. Mỗi nhát chém, ông hét lên man dại, như vừa hạ sát một đối thủ vô hình mà chỉ riêng ông nhìn thấy. Rồi lại đột nhiên vung dao lên, gí thẳng vào bụng, vào đầu, vào chân, tay bức tượng gỗ..

Có thể bây giờ tôi nói, độc giả cho là phét lác, nhưng lúc ấy tôi được cả Bà Lang và ông Thầy Mo truyền công lực vào. Mùi điếu ngải cháy, bay, vương vào khứu giác, thơm lạ lùng, miệng tôi hà hít luồng sinh khí, da mặt tôi hồng hào dần, nước hôi từ hậu môn ngừng chảy. Tôi xấu hổ khi nghe tiếng rắm "bum bủm" phọt ra, cố ghìm mà không được. Còn mỗi khi nghe tiếng thầy mo hét, chân, tay tôi co, duỗi; con tim trong lồng ngực tràn đầy huyết khí; mắt tôi vẽ vòng theo cái bóng của ông nhập nhòa, chập chờn in trên vách nứa.

Thằng "tên" ghé vào tai tôi thì thầm:

- Cậu không chết được nữa rồi!

Tôi không thèm nói với nó. Thực tế đã trả lời.

Bà Lang đốt hết bảy điếu ngải; ông Thầy Mo múa hơn hai canh giờ, tàn chục bó đuốc. Người tôi tỉnh, chướng khí tan đi đâu cả, da bụng giáp da lưng, miệng ứa nước miếng thèm ăn. Bà Lang nhắc mẹ:

- Ai mắc bệnh này phải kiêng. Cho ăn vội, cho uống vội, đứt ruột mà chết. Bà nghe tôi, thi thoảng vắt tí sữa, bôi lên môi cho nó đỡ khô môi, khô cổ. Nhịn không chết, cho ăn là tắc tử! - Nói xong, bà nằm kềnh ra nền đất ngủ, ngáy vo vo.

Mẹ bảo:

- Khổ, lo hết việc nước lại đến việc đời.

Bố cởi áo của mình bảo dì:

- Dì đắp cho bà ấy khỏi lạnh.

Ông Thầy Mo, nằm cạnh cửa, đầu gác lên túi đựng đồ cúng, chân dang rộng, mồm há, thở như kéo bễ, dãi miệng chảy dề dề. Dì cầm cái bao cói, che kín cho ông chỗ phần đóng khố.

Ngoài trời sáng bạch, mưa ngừng rơi, gió ngừng thổi. Cây rừng đẫm nước, muôn lá khoe mầu xanh mượt, những giọt nước đọng lại trên tàu chuối trong veo. Có muôn ngàn tia nắng xuyên qua kẽ lá, như hào quang rực rỡ vẽ ở những bức tranh trong nhà thờ. Tiếng chim hót vang lừng, rộn ràng. Cảnh vật như chia vui với niềm vui của gia đình tôi.

Đối với cả nhà, hôm ấy là một ngày đáng nhớ. Tôi như được sinh ra lần thứ hai. Bố, mẹ, chị nhớn, chị hai, chị ba, anh trai, và người dì thân yêu của tôi nữa, tất cả xúm quanh, nhìn tôi, ánh mắt vui như lời nói chúc mừng. Dì đón tôi từ tay mẹ, như đón tôi thuở mới lọt lòng. Trùm, ủ lên người tôi chiếc váy nồng mùi oi khói và ấm hơi lửa, miệng à ơi, ru nựng:

Ngẫm hay muôn sự tại trời

Trời kia đã bắt làm người có thân

Bắt phong trần, phải phong trần

Cho thanh cao mới được phần thanh cao

- Đúng thật! - Bà Lang trở mình, ngáp dài, rồi đọc - Bắt phong trần, phải phong trần - Cho thanh cao mới được phần thanh cao. - Bà nói tiếp - Câu thơ khéo đáo để! Trời mà không cho cu Thừa được làm người, thì hai Bà Lang như tôi, bốn ông Thầy Mo người Sán Dìu cũng chẳng cứu được.

Chị nhớn bưng mời bà bát nước, bà bụm miệng súc, nhổ đánh "toẹt" xuống đất. Bà lấy trong túi áo ra một miếng trầu, bỏ toẹt vào mồm, nhai bỏm bẻm:

- Ông Trưởng làng đi gặp thượng cấp, không biết thế nào?

Bố hỏi: - Tình hình thế nào hả bà?

Bà Lang tưởng bố hỏi chuyện hôm qua, liền kể: - Hôm qua, tôi đến địa điểm nhận chỉ thị. Đợi lâu quá, tối đêm mới gặp liên lạc đến. Bàn giao xong, quay ra mới biết tình hình nhà mình. Tôi phải vượt sang chân đèo bên kia mới tìm được ông Trưởng làng. May quá, lúc ấy có cả Thầy Mo ở đấy, tôi mời đi luôn. Bụng tính: Có thờ có thiêng, có kiêng có lành. Thôi, thế là mừng rồi.

Mẹ nói: - Bây giờ tôi và cháu nấu cơm. Cả nhà chắc đói rồi.

Nói xong mẹ cùng chị nhớn đi nhóm bếp.

Bà Lang dặn: - Đặt lấy nồi cháo vừa cho cu Thừa vừa cho Thày Mo. - Bà giải thích - Phong tục ăn uống của bà con ở đây đơn giản, nhưng có điều nấu một nồi cơm phải nấu cùng một nồi cháo. Vừa ăn cơm vừa húp cháo.

Bố nói: - Trông họ thế mà tốt và hiền nhỉ?

Bà Lang nói: - May mà có các bà con người dân tộc chứ không chết ráo! Hôm qua, cán bộ người Tày bên Thái Nguyên sang đón bà con Phúc An tản cư về An toàn khu rồi. Thế là tôi hoàn thành nhiệm vụ với Ủy ban tỉnh Phúc An. Còn bây giờ đến việc nhà mình. - Bà vươn vai đứng dậy - Đằng nào cũng phải chờ ông Trưởng làng. Vả lại, mọi người cũng cần phải nghỉ, sáng mai đi cũng được.

Mặt trời lên cao bằng mái nhà thì chị nhớn nấu xong cơm. Trong khi đợi cơm chín, dì lấy bọt cơm bón cho tôi. Bà Lang vạch quần tôi, nói:

- Săn lắm rồi - Bà giải thích - Muốn biết trẻ con yếu, khỏe, chỉ cần xem dái nó săn hay chảy là biết ngay! Thằng này nhanh lại sức. Nhưng cho ăn ít thôi, phòng đứt ruột. - Dặn dì xong, bà đi đến chỗ Thầy Mo ngủ, đánh thức ông bằng thứ tiếng dân tộc. (Không biết bà học nói từ bao giờ mà giỏi thế). Ông Thầy Mo nhổm dậy ngơ ngác:

- Gọi mình dậy làm gì?

Bà Lang trả lời: - Sực phàn (Ăn cơm).

Rất khó đoán tuổi Thày Mo. Nhìn mặt, có lẽ phải đến sáu mươi? Nhưng nhìn mái tóc xanh, chưa đến năm mươi! Ông không mời, dùng tay bốc cơm ăn rất tự nhiên. Bố gắp mời ông miếng cá mắm. Ông xua tay từ chối, mặt nhăn, mũi chun lại ra vẻ khó ngửi. Bà Lang giải thích:

- Người dân tộc Sán Dìu không ăn cá mắm, không ăn mắm tôm.

Ăn xong, Thầy Mo đứng dậy nói:

- Mình đi đây! - Ông rảo bước đi thẳng ra cửa.

Bố rút trong tay nải ra một chiếc áo, chạy vội theo đưa cho ông. Ông lắc đầu, nói:

- Mình làm phúc thôi mà. Lấy cái gì, con ma nó khinh. Lần sau cúng nó không sợ mà - Ông nhe hàm răng đen nhẻm cười; hai tay chắp, đầu gật có ý chào cả nhà. Đi được một quãng đột nhiên ông quay lại. Bố tưởng ông ta đổi ý đồng ý lấy áo liền chìa ra. Ông ta cười, móc trong túi ra một túi thuốc bột:

- Lấy cái này xát vào chân tay cho khỏi con vắt, con muỗi đốt à. - Nói xong ông quay ngoắt người đi thẳng.

Bà Lang cầm túi thuốc, mắt nhìn theo, chép miệng: - Họ nói một là một, không lấy là không lấy. Đâu như người Kinh ta, khách sáo, giả tạo bỏ mẹ.

- Sao ông ta không chờ Trưởng làng? - Bố hỏi.

Bà Lang trả lời:

- Đêm nay ông ta còn phải cúng tuần cho một người trong làng mới chết chôn ở trên núi.

- Ông ta có vợ con gì không? - Mẹ hỏi.

- Có! Nhưng sống với nhau được một thời gian, người vợ mắc bệnh hủi, bị dân làng chôn sống, đứa con trai mới ba tuổi bị chôn theo. Cả hai mẹ con bị vùi vào vôi bột. Sau khi mất vợ con, ông ta phát tiết, đi lang thang trong rừng hàng năm trời. Nghe Trưởng làng kể: Thần rừng hợp, nhập hồn vào cho ông làm Thày Mo. Dân làng tin ông ta lắm, nói gì cũng nghe. Ngoài chuyện cúng bái, ông ta còn rất giỏi chữa bệnh bằng lá cây trong rừng.

Cả nhà tròn mắt, vểnh tai nghe chuyện Bà Lang kể.

Dì hỏi:

- Có phải người thiểu số biết chài không?

- Nghe nói vậy, chứ đã thấy ai bị chài mà biết? - Bà Lang trả lời - Trai gái yêu nhau quá, thất tình, rồ dại là chuyện thường. Ở tỉnh Phúc An mình thi thoảng chẳng có đàn bà, con gái điên điên, dại dại, đầu cài hoa, miệng hát véo von là gì.

- Cũng tùy người thôi. - Dì nói, nhưng mắt liếc về phía chị nhớn. - Chẳng tội gì phải thế! Ai lấy ai là do duyên số trời se.

Bỗng có tiếng người hú, âm thanh dội vào núi ngàn vang vọng, ngân nga. Bà Lang đứng phắt dậy:

- Tiếng hú báo nguy của Thày Mo. Chắc có chuyện?

- Nói xong bà bảo cả nhà - Gói ghém các thứ. Nhanh lên!

Trao tôi cho mẹ, dì vơ các thứ nhét vội vào thúng. Ba tiếng hú nữa vang lên. Bà Lang thét:

- Tây đến! Ba tiếng hú là báo hiệu có Tây. Bỏ tất cả đấy! - Bà quát - Theo tôi vào rừng.

Đáp lại lời bà là tiếng súng nổ. Tiếng nổ đập vào vách đá vọng lại, nghe như hàng trăm tiếng nổ. Bà Lang vọt ra lối cửa sau.

Không còn kịp thu dọn nữa, cả nhà nháo nhào chạy theo. Lúc bế xốc tôi lên, mẹ đánh rơi tay nải, dì vơ vội, khoác vào vai, giục chị nhớn:

- Cháu dắt hai em chạy theo sau mẹ!

Bố cõng anh trai, dì ôm quàng mấy thứ chân thấp chân cao chạy cuối. Đường rừng gập ghềnh, hẹp, lại vừa qua mưa, mặt đường rất khó đi, nhưng Bà Lạng chạy rất nhanh. Cả nhà thục mạng chạy theo. Chạy được một lúc, gặp con suối chắn ngang, mặt nước mênh mông dâng cao, cuồn cuộn xiết chảy, từng đợt sóng liếm vào cây cối mọc hai bên bờ. Bà Lang nói:

- Vừa mới hôm qua còn lội, nước chưa tới đầu gối, vậy mà..

Chần chừ bên bờ suối một lúc, bà bảo:

- Đành phải tìm đường khác thôi. Chờ nước rút phải mất cả đêm nay.

Bà dẫn cả nhà tôi men theo bờ suối rẽ ngược lên một con dốc rất cao. Dì lấy áo buộc thành địu, địu tôi sau lưng. Khi nhận lại tay nải dì đưa, mẹ bảo:

- May quá! Toàn bộ gia sản của nhà nằm trong này đấy!

Leo tới đỉnh dốc, chân dốc bên này đất thoải, từng bụi cây sim và cây mua mọc xen kẽ. Tựa cằm lên vai dì, tôi nhìn thấy khu lặng cả nhà vừa ở đấy chạy ra ở ngay sườn núi đối diện. Bà Lang ra hiệu cho mọi người dừng lại, rồi thầm thì:

- Mọi người ngồi ở đây, tôi phải đi xem binh tình thế nào. - Rảo được mấy bước bà quay lại dặn - Nhớ lời tôi, không được đi đâu đấy!

Tôi không nghĩ đó lại là lời trăng trối cuối cùng của bà.

Bà Lang thận trọng đi về phía làng. Lúc bà ẩn mình sau bụi cây nghe ngóng. Khi còn cách rìa làng một quãng bà dừng lại. Không thấy động tĩnh bà đứng dậy đi tiếp. Bỗng như từ trên trời rơi xuống, một toán tính Tây lố nhố xuất hiện. Trên tay cầm súng lăm lăm đón đầu bà. Bọn chúng hô hét, xì xồ náo loạn.

Bà Lang chững lại vì đột ngột. Rồi chợt như hiểu, bà quay ngoắt lại chạy về phía gia đình tôi. Bọn Tây đuổi theo, một thằng giơ khẩu súng lên trời bắn một loạt. Tiếng súng nổ vang cả núi rừng. Có tiếng hô nửa tiếng Tây nửa tiếng ta:

- Ố là la.. Bố cu Việt Minh tàn pà.. Tàn pá tứng nại.. Tứng nại.. Tialaphơ.. (- Ố la la.. Bố cu Việt Minh đàn bàn.. Đàn bà đứng lại.. Đứng lại.. Bắn.. Bắn)

Một giọng khác vang lên:

- No! No! Tàn pà.. Pắt xống tàn pà Việt Minh.. No Tialaphơ.. No.. No.. (- Không! Không! Đàn bà.. Bắt sống đàn bà Việt Minh.. Không bắn.. Không.. Không)

Đang chạy về phía chỗ cả nhà tôi nấp, đột ngột bà rẽ ngang chạy sang cánh rừng bên kia. Giữa hai cánh rừng là một trảng đất toàn cỏ lông lợn mọc. Mùa đông, từng cụm cỏ úa vàng, xõa xượi như tóc đàn bà bị rối. Bà Lang chạy rất nhanh, khoảng cách giữa bà và bọn chúng xa dần. Bố thì thào:

- Sắp qua được rồi.

Mẹ đồng ý:

- Vào được rừng là thoát.

Nhung bỗng bà Lang bị ngã. Cả nhà không hiểu tại sao lại thế? Vì không nghe tiếng súng nổ. Bà nhoai người chồm lên, nhưng không đứng lên được, bà ra sức nhoai.. Trông từ xa bà giống như con nhái quờ quờ bơi hai chân trước. Bà bơi bơi rất nhiều mà sao không tiến lên được một chút nào. Hình như có ai dưới đất nắm chân kéo bà xuống?

Bố kêu lên thảng thốt:

- Thôi chết! Bà Lang bị thụt bùn rồi.

Trong lúc đó, khoảng cách giữa bọn Tây và bà rút ngắn lại. Khi chúng đến gần thì người bà chỉ còn hở ra từ nách đến đầu. Tôi thấy bọn chúng loay hoay nhưng không sao đến chỗ bà được. Mấy thằng Tây xì xì, xồ xồ, tay chỉ trỏ loạn xạ. Bọn chúng tháo dây súng nối lại với nhau quăng cho bà để kéo lên. Nhưng bà thà chịu chết chìm trong bùn chứ nhất quyết không cầm.

Mẹ thở dài:

- Người đâu đến là gan!

Lúc này hình như bọn Tây đang tìm cách khác lôi bà ra khỏi đám lầy. Chúng chụm đầu lại bàn bạc. Rồi có ba thằng quay lại phía làng. Lúc trở ra mỗi thằng vác theo một tấm ván.

Bà Lang vùng vẫy không chịu để chúng bắt. Nhưng sức lực có hạn, bà bị chúng cầm tay kéo lên bờ. Hai thằng, mỗi thằng nắm một tay, bùn trơn, chúng tóm váy, nhấc ngược người bà mà lôi.

Dì xót xa:

- Thế thì còn gì là người nữa.

Chúng đưa bà đến chỗ lấy nước dẫn bằng ống bương của người dân tộc Sán Dìu. Bọn giặc hè nhau lột trần rồi đẩy bà vào dòng nước. Bà không kháng cự, gạt tay chúng ra, đàng hoàng như người đi tắm. Dòng nước chảy xối xả, lớp bùn đất dính trên người bà tan trôi. Làn da người đàn bà lộ dần, trắng nõn nà.

Tất cả lũ giặc ngỡ ngàng, những hành động điên cuồng ngừng lại.

Như bông hoa chưa một lần chạm gió, đường nét con gái trên cơ thể người đàn bà còn trinh nguyên hiện ra. Suối tóc dài đen nhánh phủ trên tấm lưng trần thon thả; hai núm vú xinh xinh, cong vươn trên vầng ngực đầy đặn, tròn trĩnh, hồng hào. Có ai ngờ, sau lớp màn trần tục che đậy, bưng bít là bức tranh với những nét chấm phá ngợi ca sự ngây thơ, khờ dại về một thuở hồng hoang; là bức phù điêu với những nét chạm khắc do tạo hóa vần vũ cấu thành, tạc y lên cho nhân gian chiêm ngưỡng.

Bà hiện thân là nữ Thủy thần trong truyện dân gian của người Sán Dìu mà dì đã kể cho tôi nghe: Nữ Thủy thần là con gái của vua Thủy Tề. Một lần du ngoạn qua xứ Châu Lam, thấy phong cảnh hữu tình, nữ Thủy thần tháo viên ngọc xanh cài trên đầu ném xuống và đọc một lời nguyền:

- Ai tìm thấy viên ngọc xanh sẽ tìm thấy hạnh phúc đời đời.

Từ bấy đến nay, qua bao nhiêu mùa cây thay lá, đất Châu Lam trải mấy mươi đời, dòng suối Đồng Câu hết đục lại trong, nhưng chưa một ai tìm thấy cả.

Bà đứng đấy, như pho tượng hiển linh. Mặc cho nước nguồn ve vuốt, cho gió ngàn mơn man, cho ánh nắng rực rỡ e ấp phủ trên da thịt.

Phút ái ân, giao hòa giữa thiên nhiên với nữ Thủy thần.

Chương hai - 11
 
282 ❤︎ Bài viết: 1159 Tìm chủ đề

Chương hai - 11​


20261004-093913-93c55e495c.png


Chương hai - 11

Ông cựu Chủ nhiệm kiêm Xã đội trưởng bây giờ xuống làm nhân viên tạp dịch cho văn phòng Ủy ban, đến nhà đưa cho em bì thư bị xé. Ông nói, cái sẹo trên trán giật giật liên hồi:

- Bác tưởng lại là giấy Tòa án gọi cháu, hóa ra giấy của Phòng Nông nghiệp huyện. Sướng nhé! Được về làm ở gần nhà có ngang người ta cho của. Con cái đã có bố trông, đẻ đái đã có mẹ lo.

Tin vui làm em quên nỗi bực bội vì ông tọc mạch "vi phạm bí mật thư tín". Ông về, em mở quyết định ra xem và ngỡ mình nằm mơ. Sau sự việc xảy ra ở Phòng Nông nghiệp huyện, em nghĩ thể nào ông Trưởng phòng sẽ trả thù, điều em đến một xã xa. Ai ngờ, tờ quyết định chuyển em về ngay xã nhà. Em cầm tờ giấy thơm phức mùi mực dấu, áp vào bụng, chỗ vồng lên cao nhất như nói với con em rằng: "Con ơi, dẫu sao đời mẹ con mình cũng còn gặp may". Lòng khinh bỉ và những ý nghĩ xấu về ông Trưởng phòng Nông nghiệp bỗng vợi bớt.

Em đem chuyện tâm sự với người bạn gái. Bạn bảo:

"Chẳng phải ân hận vì hành động mà ông ta có lòng tốt thế đâu! Chẳng qua sợ cậu bức xúc đem chuyện đi kể, mất chức Phó Sở Nông nghiệp tương lai nên ông ấy ký quyết định để xoa dịu cậu đấy thôi! Vả lại, nghe đâu Quốc hội họp lại chuẩn bị cắt trả vùng mình về Vĩnh Phú. Cậu không thấy bao nhiêu người" chạy "về Hà Nội à? Binh tình này cơ quan nào chẳng thiếu cán bộ, nhất là cán bộ tăng cường cho cơ sở? Ôi dào! Người đời ít có kẻ ban không lòng tốt cho ai!".

- Sao hay tách tỉnh thế nhỉ? - Em hỏi.

- Chuyện, - Bạn chép miệng - Các ông Nghị mà lại! Thích thế nào thì xoay ra thế! Tớ là Nhà văn ấy à - khối chuyện để viết! Nghe đâu trường Đại học Tài chính, rồi trường Sư phạm II đòi Bộ Giáo dục chuyển vào nội thành. Mấy ngàn sinh viên mà chuyển đi ấy à, thị xã Phúc An có vắng như chùa Bà Đanh!

Mặc kệ! Em chẳng cần! Chuyện tách tỉnh, tách huyện là của Chính phủ. Đâu cũng giời đất này. Giờ đây em chỉ làm sao để được gần nhà. Như kẻ sắp chết, vượt qua khỏi nấm mồ hoang lạnh, mịt mờ, đầy rẫy yêu ma, quỷ quái, được hồi sinh sau khi trái tim nhận quá nhiều đau khổ, tràn ngập sự dối trá, đảo điên, lừa lọc, giả tạo, phù phiếm.. Sự tan nát đã trở nên chai sạn. Em hoàn nguyên thành đứa trẻ thơ dại lúc thèm ăn, khát uống khóc đòi bố mẹ. Được gần với bố mẹ lúc này là điều cần nhất với em, với những đứa con em sinh ra. Chúng nó cần có một mái ấm gia đình, cần được nhận - ít nhất là những năm tháng đầu đời - sự yêu thương đùm bọc, chở che cho tâm hồn non nớt. Và em nữa! Em muốn trong những đau khổ được gục vào lòng mẹ mà thổn thức, khi cô đơn, bải hoải được vỗ ề an ủi.. Em thề với lòng mình không bao giờ lấy chồng, không bao giờ nghĩ tới đàn ông nữa.

Mới có vài năm trời mà em cảm thấy cuộc đời đã trải mấy mươi năm.

Quá khứ trong em hiện về rõ mồn một:

Khi nhận được tin em báo có thai, Tổ trưởng mặt cắt không còn hạt máu. Hồi lâu Tổ trưởng nói:

- Anh mới dạm qua sự quan hệ của chúng mình mà bố anh đã gầm lên: "Tao không bao giờ bước sang cái làng ấy! Không thông gia với bất cứ thằng nào, con nào ở Quyết Chiến! Đấy là lời thề độc của cả làng, cả dòng họ rồi, mày biết không?". Rồi ông dọa sẽ từ anh..

Em hỏi:

- Thế bây giờ anh định thế nào?

Tổ trưởng cúi đầu tránh ánh mắt em, giọng rụt rè:

- Anh.. Anh.. Anh sợ bố anh lắm. Vả lại, chú anh đang xin cho anh về Ủy ban huyện. Nếu..

Em gặng:

- Em cần ý kiến của anh về chuyện của chúng mình?

Tổ trưởng lần lữa:

- Để anh xem thế nào!..

Cái "xem thế nào" của Tổ trưởng là sự im lặng và sự tránh né không gặp lại em. Sau đó là một bức thư xin tha thứ. Em cầm trong tay lá thư như cầm một liều thuốc độc. Nói dối bố mẹ lên trường, nhưng thực ra em lang thang ra đầm Vực để tự tử. Đêm ấy, gió thổi lồng lộng, những bụi cỏ lác ở Bãi Giữa xõa tóc đu đưa như kẻ nhập đồng. Em mộng du lần theo lối quanh bờ đầm. Trăng cuối tháng lên muộn, mặt nước lập loáng, lóng lánh theo nhịp sóng ì oạp đập vào bờ. Em bước xuống bậc, bước lần theo men bờ. Chân vừa chạm nước, bỗng giật thột người vì một con chim từ bụi rậm vỗ cánh bay lên. Tiếng vỗ cánh đột ngột làm em choàng tỉnh. Hình ảnh bố mẹ thất thần vì đau khổ hiện ra; từ trong cơ thể, sự sống cụng cựa mơ hồ mách bảo em đừng rắp tâm làm kẻ giết người. Em bàng hoàng quay ngoắt chạy lên bờ.

Cánh chim đêm vô tình đã cứu em thoát chết.

Hoảng hốt như bị ma đuổi, em cứ chạy mà không biết chạy về đâu? Không mục đích, không địa chỉ. Ngẩng mặt lên nhìn thấy quầng sáng phía trước. Em hướng mình chạy về nơi đó. Gần sáng, em nhận ra mình ở đầu cửa ô thị xã Phúc An. Một số nhà đã dậy mở cửa, dọn hàng. Em lang thang, vẩn vơ đi qua các quầy. Một bà thật béo hỏi:

- Sáng sớm, em mua gì? Mở hàng cho chị.

Em ngước đôi mắt vô vọng hỏi lại:

- Bà hỏi gì?

Nhìn mắt em, bà ta chột dạ. Chờ em đi qua, bà văng theo một câu:

- Rõ thối thây! Đồ rồ tình!

Cứ thế em đi, bất kể thời gian, mặc cho nắng chiếu vào đầu, xiên vào cổ. Lang thang hết phố này đến phố khác, chân vẩn vơ, mắt lơ đễnh, có lúc đứng hàng giờ ngắm những vật trưng bày trong tủ kính, dưới sạp hàng. Ai mời mua, em im lặng sợ người ta lại bảo mình là rồ tình. Bỗng em nhìn thấy rất nhiều người trong tủ. Một cô thiếu nữ có khuôn mặt thật quen nhìn em, miệng nở môi cười. Em cố nhớ xem là ai mà không tài nào nhớ nổi. Em chau mày nghĩ: "Ai mà trông quen thế?" bước đến gần đầu em va phải tấm kính chắn đằng trước đau điếng. Có tiếng mắng:

- Cái cô này sao lại đi đứng như thế? Vỡ kính phải đền đấy!

Nghe tiếng, em quay lại, bất chợt người đó kêu lên:

- Linh phải không? Em đi đâu đấy?

Cái đau làm em bừng tỉnh; câu hỏi giật giọng cho em nhận ra người hỏi là tay thợ chụp ảnh. Và, đồng thời cũng nhận ra người con gái kia là ảnh của em được trưng bày làm mẫu trong tủ kính.

Tay thợ chụp ảnh dẫn em vào nhà, lấy nước và bàn chải răng hối em rửa mặt. Nước lạnh cho em sự tỉnh táo, nhắc em từ sáng chưa có gì vào bụng. Tay thợ chụp ảnh bê bát phở vào:

- Em ăn rồi nghỉ ngơi cho lại sức.

Lúc ấy em mới thấy mình đói nghiến ngấu. Ăn xong, mọi mệt nhọc như tan biến. Trong lúc tay thợ chụp ảnh bận tiếp khách, em ngả người xuống giường ngủ một giấc thật say.

Chiều tối em tỉnh dậy; tay thợ chụp ảnh giục:

- Em vào buồng vệ sinh tắm rửa. Quần áo anh để trong đó rồi. Anh mua đại, không biết có vừa không?

Em bước ra khỏi phòng tắm. Tay thợ chụp ảnh cố giương hai mi mắt chạy dài như một đường chỉ:

- Đẹp! Đẹp thật.

Không hiểu hắn khen em hay khen bộ áo quần hắn mua? Em bẽn lẽn:

- Anh rõ khéo mua. Em cảm ơn anh.

Tay thợ chụp ảnh dắt chiếc xe màu trắng sứ ra:

- Tụi mình đi lòng vòng một lát đi em.

Em ngần ngừ một chút, nhưng rồi ý nghĩ: "Thân xác mình còn gì nữa đâu" xuất hiện. Em trèo lên, vòng tay ôm eo người đèo, lòng tự nhủ: "Kệ! Đến đâu thì đến".

Tay thợ chụp ảnh cho xe lượn qua mấy dãy phố, gặp ai quen cũng gật đầu ra vẻ tự hào, coi em như vật trang sức đắt tiền đeo trên người để phô điễn. Thi thoảng lại "vù" ga rõ to như báo với thiên hạ rằng: - Mình đang lai "người đẹp". Một số người hàng phố nhìn theo, tay chỉ trỏ.

Đưa em vào quán cơm, tay thợ chụp ảnh nói nhỏ với người chủ quán. Chủ quán đưa hai đứa vào phòng ăn. Tiếng hát từ máy Cátxét rên rỉ:

".. Đây quán bên hồ.. Nghe lòng nức nở.. Thôi thôi hết rồi.. Đời em như sóng xanh giữa hồ, gió mưa đập vùi.."

Nâng cốc bia hắn nói:

- Uống cho "duyên kỳ ngộ", uống cho "ngày tái hợp". Anh không nghĩ lại có ngày được gặp em. - Hắn bắt em uống một nửa cốc, nửa cốc còn lại hắn uống. - Em "quay về" với anh là anh mãn nguyện lắm rồi.

Em định đính chính câu "quay về" của hắn, bởi vì em có "ra đi" với hắn đâu mà để bây giờ "quay về"? Nhưng rồi em im lặng vẻ đồng ý.

Hôm ấy tay thợ chụp ảnh uống nhiều. Hắn ép, cứ một cốc chia đôi, em nửa, hắn nửa. Em thấy người mình lâng lâng như cùng với hắn bay về nơi không có đích, hắn lảm nhảm nhắc lại những kỷ niệm của hai đứa. Chợt hắn đăm đăm nhìn em:

- Nếu không có sự phản ứng của em đêm hôm đó, chắc anh sẽ không yêu em nhiều đến thế này. Anh đâu phải kẻ còn ngây ngô, non yếu trong sự đụng chạm xác thịt. Nhưng người con gái dám phản ứng anh như vậy chắc chỉ có em. Linh ơi (giọng hắn lạc đi) cái đó chỉ để cho anh ngày đêm nhớ đến em. Anh đã hứa: Kiếp này không có được em, anh sẽ chết..

Em giật mình. Sao lời thề của lũ đàn ông giống nhau thế? Thằng cha Tổ trưởng lúc quỳ mọp dưới chân em cũng tha thiết nói lời thề "sẽ chết". Bây giờ, trong cơn tột cùng của mê đắm, tay thợ chụp ảnh nhắc lại một câu thề y hệt.

Em đứng phắt dậy, định nhổ một bãi nước bọt vào lũ đàn ông hèn mạt và giả đối kia mà đi. Nhưng hoàn cảnh kéo em về thực tại với điều kiện của chính mình. Trong một phút, em trở nên khôn ngoan. Cô nữ sinh vừa tốt nghiệp ra trường đổi lốt thành một kẻ dối trá lọc lõi:

- Anh có yêu em bao giờ đâu! - Em ngồi xuống, mắt đong đưa nhìn hắn.

Câu hờn trách và con mắt đong đưa là mồi thuốc nổ được châm ngòi. Tuy thợ chụp ảnh sụp xuống, úp mặt vào hai gối em thổn thức.

- Đàn bà qua tay anh đã nhiều, nhưng em là người duy nhất anh tôn thờ.

Em giương miệng cài bẫy:

- Lấy điều gì để chứng minh điều anh nói là thực?

- Trời ơi là trời! - Hắn kêu lên - Em muốn anh thế nào nữa đây? Vừa gặp lại em, anh đã thề phải giữ em cho bằng được. Bây giờ em muốn gì anh cũng chiều.

- Anh nói thật chứ? - Em giương miệng cái bẫy cao hơn một chút cho con mồi dễ lọt.

- Anh nói thật! - Con mồi đã sẵn sàng nhảy.

- Em muốn anh cưới em! Anh đồng ý chứ? - Miệng bẫy được em dăng há hoác.

- Sao vội thế? - Con mồi chùng người lại vẻ đắn đo.

Em cười phá lên sằng sặc:

- Thế mà anh nói là yêu?

Con mồi chồm tới:

- Được! Cưới thì cưới.

Con mồi tọt nào lồng, cửa bẫy sập.

Em đưa tay xoa cái bụng vừa tắt được nửa vòng kinh: "Con ơi, dẫu danh dự chẳng là gì, nhưng mẹ vẫn cần có để làm chỗ dựa".

Đêm hôm ấy em ngủ ở hiệu ảnh. Có một chiếc giường, hắn nhường cho em. Còn hắn, nằm trên chiếc phông vẽ dưới phòng chụp. Trước khi đi ngủ, hắn ngồi cạnh em. Tuyệt nhiên không có ý bờm xơm. Chắc hẳn vẫn nhớ "cú đạp" của em ở bãi chăn trâu? Vả, em kiên quyết giữ khoảng cách, điều duy nhất em cho phép hắn làm là cầm tay. Hắn nâng bàn tay em lên ve vuốt, âu yếm, đặt đôi môi thâm xịt hôn nồng nàn vào mu, vào lòng bàn tay em.

- Mãi về sau này khi nhớ lại em gọi đó là "Khoảng cách ma giáo".

Hải Linh nói với Nguyễn Thừa rồi vươn hai tay ưỡn người, đầu cô ngửa trên thành giường, đăm đăm nhìn vào lỗ thủng trên tấm cót trần nhà; vầng ngực vươn cao, cơ thịt đầy, tròn chuyển động sau làn áo mỏng, cặp đùi săn, lẳn, lẩn dưới ống quần bò gin bó, duỗi dài trên mặt ga đệm.

Nguyễn Thừa đặt tay lên bàn chân của Hải Linh xoa nhẹ, hơi ấm khác giới truyền lan, xúc giác của người đàn ông thức dậy. Sự cụng cựa vô ý làm cho mặt anh ngứa và nóng ran. Cố ghìm lại sự thèm khát, cơn khát thèm càng trỗi dậy. Anh nhìn thân thể người đàn bà khuất sau vật che đậy bằng con mắt của dục vọng, của si mê. Tưởng tượng thực thể phơi bày dáng nguyên sơ, trần tục, khêu gợi; lòng dâng lên cảm xúc thèm muốn được mơn trớn, xoa nắn, được bão hòa, thỏa mãn. Mắt Nguyễn Thừa dừng lại ở khoảng giữa hai đùi khép kín; nét hằn kẻ vệt phân thành đường cong khêu gợi trên mặt vải, căng mọng.. Cùng khoảng bụng trắng phau hớ hếch: Vô tình đẩy dục vọng cuồng khát lên đỉnh điểm. Giống đực cựa quậy, trỗi dậy, đưa bản năng lấp đầy lý trí. Nguyễn Thừa đưa lưỡi liếm môi khô khốc; mắt lờ đờ man dại.. Hai tay chầm chậm giơ lên như bị nam châm hút cuốn về nơi ham muốn.

Bỗng tiếng chuông điện thoại réo. Đột ngột phá tan sự tĩnh lặng, nhấn chìm cơn sóng tình đang đâng, con thuyền đi sắp cặp bờ bỗng bị dòng nước cuốn phăng ra xa; mũi tên biểu đồ thị đang vọt cao đột ngột tụt lút. Nguyễn Thừa thấy tâm hồn mình hụt hẫng, trạng thái đang nghiêng về điểm dương, nay trở về điểm âm.

Chờ tới lần chuông điện thoại đổ lần thứ hai Hải Linh mới nhỏm người lên, co tay xem đồng hồ phàn nàn:

- Ai gọi điện thoại mà sớm thế nhỉ? Mới có năm giờ sáng.

Nguyễn Thừa đứng dậy né người cho Hải Linh đi qua, mùi đàn bà theo hơi nóng thoảng vào mũi, nhưng cảm giác thèm muốn của người đàn ông đã trôi qua.

Hải Linh quay lại nói với anh:

- Họ nhầm số máy! Thôi, đậy chuẩn bị lên đường nghe anh!

Chương ba - 1
 
Chỉnh sửa cuối:
282 ❤︎ Bài viết: 1159 Tìm chủ đề

Chương ba - 1​


20261004-130817-9902e8f747.png


Chương ba – l

- Chìa tay ra! - Giọng ông giáo dứt khoát, lạnh lùng - Trò Thừa! Chìa tay ra!

Tôi rụt rè chìa bàn tay nhỏ xíu nhưng vết tím mực loang trên lòng bàn tay trông có vẻ như to hơn. Thấy tôi nửa xòe nửa nắm, ông giáo giơ cao chiếc thước vuông làm bằng nhôm, trừng mắt:

- Xòe hẳn ra! Không xòe ba thước thành sáu!

Phép tính nhân đơn giản buộc bàn tay phải nghe lời. Sau mỗi lần chiếc thước vụt xuống tôi lại xuýt xoa vì đau. Đến cái thứ ba thì mắt nảy đom đóm, mồm méo vẹo chực khóc. Tôi cố mím môi chịu. Tiếng thầy sang sảng:

- Các trò nhìn đấy mà làm gương! Học dốt lại nghịch! - Thầy quay lại phía tôi - Trò Thừa về chỗ! - Thầy nói theo - Lần sau còn thế thầy cho quỳ gai mít.

Tôi không chối tội, học như thế, nghịch như vậy bị đánh là đúng. Nhưng quả thực cái thước nhôm của ông giáo quá nặng. Về tới nhà, dì lấy dầu cao "Con Hổ" nắn bóp cho tôi hồi lâu mà vẫn để lại ba vết tím ngắt chồng chéo lên nhau giữa bàn tay. Dì xuýt xoa:

- Ai lại đánh thằng bé đến thế này không biết? Cũng vừa vừa phai phải thôi chứ! Dẫu sao nó vẫn là trẻ con. Ngồi khoanh tròn trên phản đọc sách, bố ngẩng lên, kính thầy đồ trễ xuống tận mũi, ngước nhìn đứa con năm tuổi bằng con mắt không kính:

- "Nhân bất học bất tri lý". Thằng này không trị không được. Không dạy nay mai làm tướng cướp.

Dì sợ bố rút roi dâu cài trên nóc tủ liền kéo tay tôi bảo:

- Xuống bếp dì lấy cơm cho mà ăn.

- Mẹ cháu đâu hả gì? - Chân nhẩy lò cò, tay bám chiếc bao thắt lưng dì, tôi hỏi.

- Đấy! Bị đau thế mà lại nghịch được ngay! - Dì ca cẩm rồi trả lời - Mẹ mang rắn về quê, tối mới theo tàu ngược lên. Về đến ga Phúc An chắc đêm?

Từ hồi về tề, nhà tôi không còn ở phố cũ nữa. Bọn Tây dồn những người theo Việt Minh quay về vào một nơi, chia đất theo ô, lập thành một phố Mới để dễ quản. Nơi ở mới không thuận cho việc mở cửa hàng. Vả lại, có bao nhiêu của nả tích cóp được bố mẹ đem ra mua gỗ, ngói làm nhà. Không có tiền dựng lại xưởng làm xe kéo tay, bố rèn moóc, đánh thuổng, chẻ tre đan giỏ bồng trở lại nghề bắt rắn.

Đồn bốt mọc nhan nhản khắp nơi, thợ bắt rắn các làng đi xa sợ bị Tây nghi là du kích bắt bỏ tù nên chỉ dám quanh quẩn ở đồng nhà. Mẹ mua cóp nhặt được vài chục con, chọn ngày dưng theo tàu hỏa Phúc An - Gia Lâm về quê nội bán cho ông bác họ chuyên mổ rắn ngâm rượu xuất cho những cửa hiệu ở Hà Nội. Còn vào chính chợ phiên Phúc An, mẹ ngồi bán nón.

Chuyện cưới xin của chị nhớn bị lỡ dở vì gia đình ông Quảng Đức Lợi dưới Hải Phòng lánh sang Hồng Kông từ dạo xảy ra chiến sự cuối năm bốn bảy (1947) mãi chẳng thấy tin tức gì. Thương chị, mẹ mua bát họ non lấy tiền sắm cho chị gánh hàng sắt đi bán ở các chợ xung quanh tỉnh.

Chị hai và chị ba vào học ở trường nữ sinh do Pháp mở. Anh trai học ở trường học dành cho nam sinh. Mỗi lần thấy các chị và anh mặc đồng phục đi học tôi thèm lắm, nhưng không hiểu vì sao tôi học dốt thế không biết? Tôi đổ lỗi cho thằng "tên" :

- Tại cậu hám danh đòi đi học sớm nên tớ bị dốt đấy mà.

- Bố nghĩ cậu dốt nên năm tuổi đã phải cho cậu học trước, để lúc đủ tuổi vào trường Quốc lập đỡ hổ danh cái tên của tớ.

Như vậy kiểu gì thằng "tên" cũng nói được! Lúc nào đấu khẩu nó cũng là kẻ thắng tôi. Chính vì không đua được mồm nó, tôi đành dùng hành động để chống lại.

Mẹ mua cho cái túi vải màu xanh để đựng sách học, tôi lộn trái ra rồi mới cho sách vở vào. Lọ mực thắt cổ bồng bằng sứ trắng, cho mực vào nhỡ có lăn nghiêng cũng không bị đổ, tôi quẳng ở nhà, kiếm lọ thủy tinh thay thế. Thước kẻ mới, tôi lấy đồng chinh mài hết lớp sơn và chữ số, trơ lại phần gỗ nham nhở. Cứ khoảng ba ngày tôi lại nhờ dì bảo mẹ mua bút. Mẹ ca cẩm:

- Thằng này gặm bút thay cơm chắc?

Bố cầm bút săm soi: Hạt gạo ngòi bút tòe làm đôi, con cá mè khắc ở lòng ngòi toác thành hai mảnh; đuôi quản bút bị hàm răng tôi nhai giập như đầu chổi xể. Bố rút roi dâu trên mái nhà bắt tôi nằm trên giường, kéo tụt lưng quần xuống. Mỗi tội ba roi, tổng cộng hàng chục roi. Tùy theo từng hôm, lúc vụt ba, lúc vụt năm. Số còn lại bố cho nợ. Nếu cứ tính nợ, mỗi kỳ học tôi còn nợ bố đến mấy nghìn roi.

Sau mỗi lần tôi bị bố cho ăn roi, các chị và anh trai xanh lét mặt đứng nhìn. Mẹ tảng lờ như không biết, nhưng mắt lại đưa sang nhìn dì ra hiệu. Dì đến bên bố:

- Thôi! Anh cho thằng Thừa nó chịu. Nếu lần sau còn phạm phải, anh đánh cháu gấp đôi.

Bố lừ lừ cài roi lên mái nhà. Dì nâng tôi dậy, kéo quần che những vết lằn như lươn, như chạch trên mông, đưa tôi ra rửa mặt. Một lúc sau, giọng tôi ê a:

- Hai lần một là hai

- Hai lần hai là bốn..

Bố bảo:

- Có mỗi bảng cửu chương mà học đến hàng tháng trời không thuộc.

Mẹ đến ngồi cạnh tôi, nói:

- Con đừng nghịch, chịu khó học bố sẽ không đánh.

Dì an ủi:

- Cu Thừa học giỏi, hôm nào hội làng Chi Đông dì cho về xem.

Anh trai mon men đến:

- Em cố học sang năm thi vào trường anh, để hàng ngày anh em mình đi cùng.

Ai cũng muốn tôi học giỏi, ngoan. Nhưng mọi người biết đâu rằng tôi cũng muốn lắm chứ! Khốn một nỗi, học khó hơn chơi nhiều. Muốn được một chữ phải bao nhiêu chữ cái ghép vào mới thành. Không như chơi đáo, mỗi đứa chơi góp năm "xèng" thả trúng lỗ, hoặc dùng cái đáo đánh bật quân đáo ra khỏi vạch là ăn.

Nhớ hôm đầu bố đưa đến nhà thầy. Nhà thầy giáo tôi còn lạ gì! Ở ngay chỗ bọn trẻ con hay tụ tập. Bố dáng vẻ rất cẩn trọng. Ông đeo kính trắng, đầu đội khăn xếp, mặc áo the, quần trắng, đi giày da Gia Định dẫn tôi đến. Bảo tôi đứng ngoài cửa chờ, ông bước vào, hai tay vòng lại thi lễ:

- Kính thầy giúp cho việc hôm trước tôi đã thưa.

Thầy giáo vòng tay lại đáp lễ trả, rồi mời bố ngồi xếp vòng cùng ông trên phản:

- Tôi gốc là thầy đồ. Vì chưng thời vận xoay vần nên đành phải theo Quốc ngữ. Cũng là bất đắc chí. Nhưng cũng đủ chữ để dạy. Thôi được, nể tình cùng trong Hội tế, tôi nhận răn bảo cháu giúp ông. Ông cho cháu vào nhận thầy.

Bố quay ra cửa gọi:

- Thừa đâu? Vào chào thầy giáo đi con.

Tôi sợ sệt bước vào, lí nhí mấy câu trong miệng, không dám ngẩng mặt vì sợ thày nhận ra đấy là thằng bé chuyên môn hò hét trước cửa lớp thầy dạy học, nhiều lần ông phải dùng đến gậy xua bọn tôi đi cho khỏi ồn ào. Chợt thầy nói to:

- Trò Thừa?

- Dạ.. - Tôi ấp úng.

- Phàm là quân tử, ăn nói phải rõ ràng minh bạch. Chào lại!

Tôi vòng tay chào. Ông cao giọng:

- Chưa phải giọng của trang nam tử đứng chữ Đinh. Nói lại, nói to lên!

Lần này tôi nói to như gào:

- Con - chào - thầy - ạ!

- Được! Cho trò Thừa lui.

Tôi quay ra cửa mà miệng suýt bật cười vì cách nói của thầy giáo; hệt như nhân vật đóng vua hay diễn ở rạp hát trên đầu phố tôi ở. Vai đóng vua mỗi lần nghe xong cũng nói câu:

- Cho bay lui!

Buổi nhập môn và bài học đạo lý đầu đời mà tôi được dạy là như thế!

Bố cùng thầy giáo đàm đạo lâu lắm. Đứng ngoài được một lúc, chờ mãi chẳng thấy bố ra, tôi mon men đi vào ngôi nhà lợp lá dùng làm lớp học.

Tôi hay đến ngõ này chơi, nhưng chưa bao giờ vào đây. Nóc nhà mạng nhện chăng như lưới vó treo bán ngoài chợ. Trên vách trát đất treo tấm bằng lam nham chỗ đen chỗ bạc phếch, dưới chân bằng treo một mớ giẻ rách khô cong; trong nhà kê lổng chổng mấy bộ bàn ghế, mực tím đỏ như máu quả mùng tơi nhoe nhoét. Tôi ngồi xuống, tay thọc vào ngăn bàn vớ được một cục phấn. Tiện tay vẽ lên mặt bàn mấy nét chẳng ra hình thù gì.

Thằng "tên" thấy vậy hỏi:

- Cậu vẽ rắn hay lươn của nhà mình à?

- Rắn hay lươn là việc của tớ! Can gì tới cậu? - Tôi đáp trả lời.

Thằng "tên" cao giọng:

- Nói thế là không đúng rồi! Bố nộp khai sinh mang tên Nguyễn Văn Thừa vào trước xong mới đến lượt cậu vào đây nhé!

Tôi tảng lờ coi như không nghe thấy, trong lòng bực tức: "Đã đẻ ra rồi lại còn phải đặt tên. Cứ như mình thì mình cóc cần!". Như đoán được ý nghĩ của tôi, Thằng "tên" nói:

- Trên đời này ai sinh ra cũng phải có tên.

- Cần tên để làm gì? - Tôi vặn lại.

- Có tên để phân biệt giữa người này với người kia -

Thằng "tên" giảng giải - Đặt tên để con ngưòi phải có trách nhiệm với dòng họ của mình. Làm rạng rỡ hay bôi nhọ dòng họ là tại chính con người do mẹ đẻ ra và cái tên do bố đặt ra. - Thằng "tên" giảng giải - Trên đời này, tất cả đều là loài, nhưng chỉ có loài người mới có họ, có tên, còn các loài khác đều không có, cậu hiểu chưa?

Tôi cãi lại bây bứa:

- Cậu bảo chỉ con người mới có tên. Thế sao con chó nhà mình được đặt tên là Lu; con béc-giê của lão Đội Tây gọi là Bốp? Con ngựa của lão người Tàu tên là Hồng Ô?

Không ngờ đòn phản công của tôi lại có hiệu quả, Thằng "tên" nghe chừng tắc tị, rụt vào chỗ ẩn thường ngày trên người tôi, lơ lơ ra vẻ không nghe thấy.

Chương ba - 2
 
282 ❤︎ Bài viết: 1159 Tìm chủ đề

Chương ba - 2​


20261004-130953-cd2275c321.png


Chương ba - 2

Trước khi đi Châu Lam thăm hồ Đại Ngọc, Nguyễn Thừa rủ Hải Linh:

- Ăn sáng xong hãy đi!

Dãy hàng ăn ở trong con phố nhỏ nằm giữa trung tâm thị trấn. Nguyễn Thừa rất thích tới đây ăn. Không những bởi các hàng ăn ở đây sạch sẽ, nấu ngon, mà còn vì mỗi lần đến, ký ức của anh lại trở về thuở ấu thơ. Nơi đây, nhà cửa đã thay đổi, nhưng đường phố vẫn giữ nguyên chia theo ô bàn cờ từ hồi Pháp tạm chiếm. Con đường và khu phố nhỏ gợi cho anh nhớ lại bao khuôn mặt bạn bè, vòng xoắn xoáy tít của con quay sừng; vệt bi lăn để dấu trên mái cát mịn màng; đồng Xanh-căng và tệp xu đồng cùng những bàn tay lấm lem mực tím xúm quanh lỗ đáo. Lớp học, nơi anh tập tọng đọc những vần quốc ngữ đầu tiên cách đây mấy chục năm, nay là một quán phở ngon có tiếng ở Phúc An.

Mọi lần Nguyễn Thừa đi vào, thể nào cũng nhao nhao những lời mời:

- Bác ăn bún riêu?

- Bác xơi hộp gà tần?

- Bánh cuốn nóng bác?

* * *

Nhưng hôm nay tuyệt nhiên không một lời chào hỏi. Rặt những con mắt tò mò nhìn hai người. Nguyễn Thừa biết tại mình đi cùng với Hải Linh. Một cô gái trẻ lạ hoắc, đèo một ông già có tuổi cha chú đưa nhau đi ăn. Ở đâu chứ ở thị trấn này, điều đó đối với anh và ngay cả đối với những người biết anh cũng thấy lạ lùng.

Cô bán hàng từng thuộc cả khẩu vị ăn quen của anh cũng giương mắt đứng nhìn. Cô còn trẻ, nhưng trẻ so với Nguyễn Thừa chứ thực ra có lẽ phải hơn Hải Linh đến hàng chục tuổi. Cô mải nhìn quên cả múc nước phở chan vào bát cho khách. Mấy chàng thanh niên, khách quen ăn cùng quán lẳng lặng cái xuống bát phở, mắt liếc trộm sang hai người. Nguyễn Thừa biết, nếu như mọi bận thể nào mà chúng chẳng lên tiếng: "Chào bố" inh ỏi cả quán.

Nguyễn Thừa quyết định mở đột phá khẩu:

- Quên cả chào nhau rồi hả các bạn?

- Tại bố hôm nay.. Lạ quá! - Một cậu thanh niên tuổi chừng đôi mươi nói.

- Lạ là lạ thế nào? - Nguyễn Thừa vờ hỏi, mắt nhìn Hải Linh nháy.

- Thôi anh! - Hải Linh nói nhỏ. Rồi cô ra chỗ người bán hàng - Chị cho xin hai bát. Một bát đừng cho bột ngọt.

Tranh thủ, một cô bé đang húp nước phở xoàm xoạp, ngừng húp ngẩng lên hỏi:

- Bác với cô ấy là thế nào?

Nguyễn Thừa đáp:

- Là bạn!

- Eo ôi.. - Kêu xong cô bé quay lại bát phở, tiếng xoàm xoạp lần này hình như nghe to hơn.

Quán đông người, Hải Linh tháo chiếc máy ảnh KÔĐAT đặt xuống gầm bàn, cố lấy bình tĩnh ngồi xuống nhưng vẫn thấy mặt mình nóng ran. Nguyễn Thừa hỏi:

- Đây có phải quán phở em kể không?

Hải Linh cau mày không đáp. Nguyễn Thừa biết câu hỏi của mình rất vô duyên. Chờ người phục vụ bê phở đi, anh nói với Hải Linh như một lời xin lỗi:

- Anh chợt nhớ ra chứ không có ý..

- Có gì đâu! Thôi, ăn đi anh.

- Hay là em ngại? - Nguyễn Thừa gặng.

Hải Linh gắp sang bát anh mấy miếng thịt.

- Em không có thói quen ân hận việc mình đã làm.

Lúc hai người lên xe đi còn nghe tiếng nói theo:

- Được đấy!

- Già còn chơi trống bỏi!

- Dân văn nghệ mà lại..

Ra khỏi thị xã Hải Linh nói:

- Từ ngày ấy đến bây giờ em mới lại ăn phở ở đây. Cũng là cái quán ấy, nhưng trước kia là một ông già bán. Chắc ông ấy chết rồi?

Hai người dừng lại, cho xe rẽ vào cây xăng. Nguyễn Thừa bảo người bán hàng: "Đổ cho tôi thật đầy bình".

Người bán xăng hỏi:

- Chắc hai bố con bác đi xa?

Nguyễn Thừa nhìn đồng hồ, móc ví lấy tiền, không thèm trả lời. Khi ra khỏi cây xăng, Hải Linh đập tay nhẹ lên lưng anh:

- Chuyện vặt, nghĩ làm gì anh! - Rồi cô nhắc - Hôm nay ngày nghỉ, thanh niên nam nữ ở Hà Nội vào hồ chơi đông lắm đấy, anh đi cẩn thận.

Vào tới hồ, hai người thuê thuyền bơi ra Đảo Khỉ. Đi sâu mãi vào giữa đảo, không thấy bóng dáng một chú khỉ nào. Hải Linh ca cẩm:

- Mang tiếng là Đảo Khỉ mà chẳng thấy một mống nào!

Nguyễn Thừa dí dỏm:

- Có hai con khỉ thì đã tiến hóa thành người cả rồi, còn lấy đâu ra khỉ nữa mà tìm?

Cả hai cùng cười, tiếng cười vang khắp vùng hồ. Chọn một bãi cỏ Nguyễn Thừa ngồi xuống:

- Bây giờ em kể tiếp cho anh nghe đi.

"Ngoài rạp cưới - Hải Linh kể - Một tốp bạn nghề đến muộn uống rượu sau cùng, tiếng chú rể và khách nâng cốc chúc tụng nhau sặc sụa mùi men. Em lấy lý do mệt xin phép vào buồng nằm nghỉ. Một tay thợ chụp ảnh nhìn theo cười ngả ngớn:

- Cô dâu làm gì mà vội thế? Để cho chú rể uống rượu chịu phạt đã. Đêm tân hôn còn dài.

Để một mình chú rể tiếp khách, em vào buồng nằm ệch xuống giường. Tấm gương gắn ở tủ đầu giường in hình mắt vải ga trắng muốt, chiếc gối đôi thêu hoa hồng và đôi chim cắn mỏ nhau quấn quýt. Chiếc màn tuyn dệt muôn ngàn lỗ tổ ong lấp lánh dưới ánh sáng của bóng điện. Trên tường, dưới chữ" hỉ "và chữ lồng cắt bằng xốp trắng là bức tranh hai đứa bé hồng hào ngồi khoanh tròn giữa cây cải bắp, trên đầu đội tàu lá thay mũ trông thật ngộ nghĩnh. Gian phòng thoảng mùi nước hoa. Tất cả thuần khiết trắng trong.

Nhìn những thứ người đàn ông chuẩn bị cho đêm hưởng thụ hoan lạc đầu tiên, em thấy lòng day dứt. Liệu em có quá tàn nhẫn không? Em tự thấy mình không đáng đặt tấm thân nhơ nhớp lên mặt thảm tinh khôi ấy. Ồ.. Có sao đâu! Trước khi cưới em, tay thợ chụp ảnh trong trắng gì cho cam? Biết bao đứa con gái và những cuộc tình đã qua tay người đàn ông lọc lõi ấy rồi. Em là kẻ thứ bao nhiêu? Em cố tìm lý do bôi xấu hình ảnh chú rể để biện bạch cho mưu mô và hành động của mình.

Như con thú bị dồn vào ngõ cụt, buộc phải tìm cách thoát thân, em cần một điểm tựa danh dự, cần có người ở vị trí làm chồng để ngụy tạo cho một chỗ đứng trong xã hội. Mầm sống em mang trong người cần có một chỗ dựa để tồn tại.

Mục đích đưa tay thợ chụp ảnh vào tròng, là kẻ lĩnh" trách nhiệm "cái hình hài trong bụng bảo vệ danh dự cho bố mẹ với họ hàng, làng xóm đã hoàn thành. Nhưng đổi lại, khi đối diện với trinh bạch, sự ô uế hiện ra bao bẽ bàng. Em thấy lòng mình day dứt, trái tim hụt hẫng, trống rỗng. Thay cho hưng phấn, là nỗi xót xa thảm hại.

Nhưng, như kẻ đã cưỡi lên lưng cọp, không thể xuống được nữa, đành phải tiếp tục sự dối trá của mình qua cách học được của nhưng người từng trải. Tay vuốt nhẹ mặt vải mềm, mượt như nhung, nơi em sẽ đặt tấm thân nhơ nhớp xuống, móc trong túi ra một cái lọ đựng máu gà đã hãm cho khỏi đông, dốc ra, bôi xuống mặt ga. Những vết nhờ nhờ lổ đổ trên mặt ga trắng như khẳng định sự trinh tiết của một người con gái vừa trải lần thử thách. Sờ thử thấy đã khô, em nằm, mông đè lên vết máu, tay vắt trán say nghĩ, trong đầu phác kế hoạch xử trí mọi tình huống. Phần ngụy tạo hiện trường giả cho sự trinh bạch đã xong, điều bây giờ em sợ là sự từng trải của chú rể. Trước ngày cưới, có người bóng gió xa xôi rằng chú rể thuộc vào loại chơi gái khét tiếng. Em lo việc chung đụng sẽ ảnh hưởng đến cái thai sắp hai tháng. Em đưa tay xoa bụng thì thầm:" Cảm thông cho mẹ con nhé! Dẫu thế nào mẹ vẫn phải làm trọn nhiệm vụ của cô dâu trong đêm tân hôn ".

Gần nửa đêm đám ăn nhậu mới tan. Chú rể loạng choạng bước vào, như bị dồn nén từ lâu, không kìm nổi, chồm qua người, chống tay sang hai bên đắm đuối nhìn em. Đôi tay lần cởi từng chiếc cúc áo. Bỗng nhiên chú rể nhấc cô dâu bổng lên, vục đầu vào ngực hà hít. Mớ tóc xoăn cù vào da thịt làm em nôn nao, em vặn vẹo, chú rể nhẹ nhàng đặt cô dâu về chỗ cũ như đặt một vật làm bằng đồ dễ vỡ. Vết máu gà bôi trên mặt ga gờn gợn ve vuốt lưng em. Đôi mắt chú rể nhỏ như sợi chỉ, đỏ đọc, đắm đuối, mê muội, hơi rượu phá nồng nặc. Em nhắm nghiền mắt mặc cho đôi tay, đôi môi thèm khát sục sạo lên mặt, lên môi và hai núm vú cương cứng trên vầng ngực. Em oằn người từ chối bàn tay nồng nàn khi định cởi nốt mảnh vải bé xíu trên người. Sự phản ứng của em làm bàn tay chú rể ngập ngừng:

- Sao thế em?

- Không, không, anh ra khép cửa, cứ mặc em.

Trong lúc chú rể ra khép cửa, em liếc mắt xuống mặt tấm ga kiểm tra, rồi co chân, tụt nốt chiếc xi líp, đặt mình đúng vị trí, hai chân khép lại chờ đợi.

Chú rể lên giường, quỳ gối trên đệm, khóe mép đùn ra một đám bọt, mặt đờ đẫn trước vẻ hoang sơ trần trụi đầy cám đỗ. Như kể mua được vật quý, mắt ngắm nghía, tay ve vuốt những đường cong mềm mại trên vật thể mình ham thích. Như một kẻ sành chơi hoa, dùng mũi hít hà nhụy hương trước khi tận hưởng. Như con vật kiếm được con mồi hợp khẩu vị, vần vò cho dịch vị tiết ra mới nhấm nháp.

Em oằn người, hơi ưỡn lên khi thân xác đàn ông chạm vào da thịt. Nhiệt lượng tưởng có thể bốc cháy vì sự cọ xát, nhưng không vì thế mà em quên mất vai diễn của mình khi chú rể mang đến hành động ân ái. Em chú trọng cố tình làm sao cho chú rể nhận ra sự sợ sệt các cô dâu có cảm giác" lần đầu bị phá trinh ". Em suýt xoa rên, thảng thốt tạo ra như do người bị dao cứa toạc. Chú rể luồn cánh tay từng trải vòng xuống lưng em siết chặt vì vui sướng và không một chút nghi ngờ. Đang vào vai diễn, đột nhiên, hình ảnh Tổ trưởng và cuộc tình trên bãi cỏ trước sân đình hiện rõ mồn một.. Quên bẵng vai mình đang đóng, quên sự e thẹn giả tạo, cơn nứng bừng bừng mãnh liệt, ngón tay vô thức cấu vào lưng, ghì xuống, gồng lên.. Cảm xúc cùng Tổ trưởng trở về trỗi dậy, bạo liệt như nước vỡ bờ tràn ra ào ạt muốn nhấn chìm tất cả.

Trong khoảnh khắc, em hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ: Ngụy tạo sự trinh bạch, hiến dâng ái tình và hưởng thụ niềm hoan lạc. Đáp lại, chú rể ùa vào dòng chảy, đôi tay ra sức khoát, hai chân đập cuồng loạn trên sóng, rồi bỗng nhiên như vận động viên bơi lội về đích đầu tiên, nấc lên từng hồi sung sướng, thỏa mãn.

Chú rể đã bước đến được vị trí làm chồng và cô dâu đã bước qua ngưỡng để trở thành vợ. Cả hai kẻ đều đạt được mục đích của mình trong đêm tân hôn.

Không ngủ được vì lạ giường. Vả lại, tiếng ngáy rền rĩ làm em khó chịu. Em lấy tay khẽ động vào người chồng. Tiếng ngáy im bặt được một chút rồi lại nổi lên như thợ rèn kéo bễ. Em nhổm dậy tìm quần áo mặc. Tìm được cái áo còn chiếc quần bị chân chồng đè lên. Em lấy tay nhấc ống chân đầy lông lá ra, người đàn ông đổi tư thế nằm, lật ngửa tênh hênh, hai chân dạng háng dạng hếch, cái" của nợ "chun, rụt, quặn quẹo như đầu con chạch bị phơi nắng. Mồm lẩm bẩm ú ớ mê sảng, họng phát ra âm thanh" khục, khục", mùi rượu nồng lẫn mùi tanh của uế khí xộc lên khiến em buồn nôn. Vớ vội cái quần, không kịp mặc, tụi khỏi giường em mở cửa ra đầu hiên ngồi ọe. Và đấy cũng là lần đầu tiên em biết thế nào là ốm nghén. Ậm ọe mãi bã cả người mà không nôn nổi. Mệt quá, em gục đầu xuống đùi, nỗi buồn vò xé, nước mắt tự nhiên chảy ra xối xả. Quá khứ hiện về như một giấc mơ..

Bố mẹ và họ hàng rất ngạc nhiên khi tay thợ chụp ảnh đèo xe máy em về nhà báo cáo và xin phép cưới. Không đầy một tháng, kể từ lúc gặp lại tay thợ chụp ảnh, đám cưới được tổ chức. Bố mẹ chia cau, báo cho cả làng biết mình có con gái sắp đi lấy chồng.

Đêm trước hôm đón dâu, mẹ nằm ôm em thì thào:

- Con có.. Rồi phải không?

Em rúc vào ngực mẹ thút thít thú nhận, mẹ xoa lưng nựng:

- Âu cũng là cái số. Có cái lúc con đi lấy chồng, bố mẹ nghèo chẳng có gì làm của hồi môn.

Mẹ không nói hết câu. Bố ngồi bó chân trên phản thở dài:

- Nếu có con sớm, mẹ sẽ lên trông nom cho.

- Chồng nó làm thuê cho hiệu ảnh chứ có phải nhà ở của nó đâu mà lên được?

Em thưa:

- Chồng con bảo: Cưới xong thôi không làm ở đây nữa! Anh ấy về quê mở hiệu ảnh và xin cho con chuyển về công tác ở xã dưới ấy.

- Dưới ấy sao bảo vùng bãi sông Hồng?

Em cười buồn:

- Thì không trồng lúa thì trồng ngô, đỗ tương, rau mầu.. Cũng trong ngành nông nghiệp cả mà mẹ.

- Giá ở gần đây vẫn tốt hơn.

Bố góp chuyện:

- Cách có hai chục cây số chứ mấy? Vả lại, con gái là con người ta.. - Bố khóa câu ca dao bằng một tiếng thở dài.

Pháo đón dâu nổ vang trời. Xác pháo nở bung, bay như hoa rụng. Đám trẻ con tranh nhau nhặt quả xịt. Đứa đứng gần dây pháo nhà trai đốt bảo pháo nhà trai kêu to; đứa đứng cạnh dây pháo nhà gái cãi pháo nhà gái nổ giòn, chúng cãi nhau chí chóe. Ông cựu Chủ nhiệm kiêm chỉ huy dân quân được bố nhờ làm chủ hôn đành xuống làm trật tự viên đẹp lấy lối cho nhà trai vào.

Chú rể, nơ cài ngực, mặt rạng rỡ, tay ôm hoa đi vào phòng đón cô dâu. Em được một người phụ nữ ăn mặc lối tỉnh do nhà trai thuê mang váy cưới và trang trí làm cho em xinh đẹp hơn mọi ngày. Chị ta bảo gì em làm nấy, như con trâu, vắt thì vắt, giệt thì giệt.. Chú rể dìu em ra chào mọi người cho kịp giờ đón. Tiễn con ra cổng, mặt mẹ buồn như đưa đám, bố cười gượng như mếu. Cả hai người không muốn chụp ảnh cùng em sợ vì mình mà ảnh xấu. Vợ chồng bác cả phát vốn và căn dặn, em cúi đầu không dám nói, sợ nói sẽ òa khóc, nước mắt túa ra làm phấn son hoen ố khuôn mặt.

Tiếng xe máy nổ và tiếng nói cười của đám phù rể ầm ĩ. Cả đoàn rầm rộ kéo ra khỏi làng như đội quân giành được chiến thắng. Ra khỏi ngõ, ngoảnh lại em nhìn thấy ngọn cây ổi bà trồng trồi khỏi nóc nhà, chùm lá xanh biếc rung rinh như vẫy chào. Em nấc lên nức nở.

Khi tới ngã ba, một ngã rẽ về làng Quyết Chiến và một ngã rẽ về làng Quyết Thắng. Bất giác, linh tính như báo cho em biết có người nhìn. Qua tấm khăn choàng, Tổ trưởng mặt buồn rười rượi, đứng lẫn trong đám đông ven đường xem đám rước đâu. Em quay ngoắt đi coi thường khinh bỉ. Và, như đã trả thù, em xoay lại bó hoa, ngả đầu áp vào lưng chú rể ra vẻ mình hạnh phúc lắm. Đi được một quãng, nhìn lại vẫn thấy Tổ trưởng đứng nhìn theo. Nỗi xót xa, cay đắng, tủi hổ tràn ngập trong lòng em.

Có tiếng trở mình rồi tiếng chồng từ trong buồng vọng ra:

- Em đâu rồi Linh? Vào đây với anh!

Em vội lau nước mắt, đứng dậy. Nhưng cứ nghĩ tới mùi tanh tưởi trên giường cưới lại nhủn cả người. Không thấy em thưa, người đàn ông cứ tồng ngồng thế chạy ra. Em chưa kịp nói đã bị bế thốc lên đưa vào giường. Nỗi đam mê của ái tình và sự cuồng khát mãnh liệt của dục tính cuốn hút em vào cuộc truy hoan. Phút chốc, em quên mình đang ốm nghén.

Chương ba - 3
 
282 ❤︎ Bài viết: 1159 Tìm chủ đề

Chương ba - 3​


20261004-131131-903d535dca.png


Chương ba - 3

Cứ mỗi khi gió từ vùng núi Thằn Lằn thổi về, sớm sớm giăng mùng trên đường phố Phúc An, hơi lạnh cuối thu nhuộm đỏ lá bàng, gốc cây sần sùi, chuyển sang màu xám bạc. Thi thoảng vài chiếc lá héo sớm lác đác rơi xuống mặt đường đá. Mẹ lại thở dài:

- Sắp đến giỗ bà Lang và Thầy Mo rồi đấy!

Dì lẩm bẩm:

- Giỗ này là giỗ thứ năm.

Bố nói:

- Thoắt một cái đã thành người thiên cổ. Cu Thừa chắc chẳng còn nhớ gì nữa.

Tôi ngồi học bài, tay viết nhưng tai vểnh lên nghe lỏm. Thấy bố nói vậy tôi quay lại:

- Sao con lại không nhớ?

- Nhớ gì mày! Có bài học thuộc lòng còn chẳng nhớ nữa là chuyện xửa chuyện xưa.

Dì nghe hai bố con nói với nhau, quay lại:

- Nếu nó không nhớ, nay mai khi lớn cũng nhắc lại cho nhớ.

Tôi chẳng cần ai phải nhắc! Những gì xẩy ra vào hôm ấy làm sao tôi quên được! Học có thể tôi dốt, và dẫu năm tháng đã trôi qua xa rồi, nhưng hình ảnh về bà Lang với ông Thày Mỏ đã khắc ghi vĩnh viễn vào cái đầu nhỏ bé của tôi.

* * * Bọn quỉ đội lốt người ngây dại trước sắc đẹp của người đàn bà thân khỏa trần dưới làn nước trong vắt, giữa non ngàn trùng điệp. Bà hất mái tóc lên để lộ khuôn mặt rắn rỏi, đôi mắt căm hờn nhìn thẳng vào lũ quái vật.

Sau cơn ngây lả những tiếng cười sằng sặc. Lũ quái vật ùa đến lôi bà ra khỏi dòng nước. Cả bọn lột phăng áo quần trần trụi như bầy đàn nguyên thủy râu tóc, lông lá xồm xoàm, hiện hình thành lũ quỷ dâm dục. Tồng ngồng điên loạn, miệng hét lên từng âm thanh man rợ sâu chuỗi thành điệp khúc vang dội núi rừng; chúng nhẩy nhót cuồng loạn, chờn vờn quanh con mồi.

Chúng muốn biến bà thành vật hiến tế cho sự ô trọc.

Lũ quỷ vác kim bài của ma vương địa ngục. Lớp ngoài kim bài được che đậy bằng vỏ bọc hào nhoáng; trương khẩu hiệu nhân danh cho nền Văn Minh đến đây "Bảo hộ". "Khai sáng" mở lối cho Bác ái, Tự do. Trước bà, chúng trần trụi hiện nguyên hình là những kẻ xâm lược, đem chết chóc, tang thương, đau khổ cho dân lành. Chúng muốn đóng đinh lên mảnh đất này cây Thập tự của Tử thần.

Mặt trời lẩn sau những đám mây; chớp lóe sáng, tiếng sấm ì ầm vọng lại. Đất trời cố kìm nén cơn phẫn nộ. Ngàn vạn cây rừng ủ rũ như cờ tang rủ. Mạch nguồn ngập ngừng lúc ào ào lúc ắng lặng..

Nữ Thủy thần sắp bị một bọn người xa lạ từ đâu tới làm hoen ố danh tiết. Như bông hoa rừng bị bàn tay cuồng loạn bóp nát. Như hạt sương long lanh đậu trên vạt cỏ non mềm chứa sắc màu rực rỡ bị bàn chân quỷ Sa Tăng chà đạp.

Bầy đàn man rợ dùng vũ điệu khởi đầu để chuẩn bị cho lễ hội hành quyết. Một thằng quỷ cao to, râu đỏ như râu ngô, ức trần rực như máu, đôi mắt xanh lè như mắt thú bắt đèn tiến đến. Bà lùi lại, liền bị những con quỷ từ phía sau đẩy về phía trước. - Con quỷ muốn bà làm đồ dâng hiến cho Thần dục vươn hai bàn tay lông lá về phía bà..

Bỗng từ trong khe suối, một mũi tên căng sức bay, cắm "phập" vào lưng con quỷ. Đôi bàn tay lông lá chưa đặt được lên tấm thân tuyệt đẹp của nữ Thủy thần đã bị ngấm thuốc độc của mũi tên làm cho lỡ đà chới với.. Đầu con quỷ ngẩng lên, đôi mắt mở to, từ trạng thái ngạc nhiên đến tuyệt vọng. Cả tấm thân như khối đá gục xuống dưới chân nữ Thủy thần. Máu từ lưng con quỷ phun thành vòi.

Cả bọn bàng hoàng vì sự việc xẩy ra quá nhanh, lũ quỷ ngơ ngác chưa hiểu ra sao, thì từ rừng xanh, một con người, đầu đội mũ lông chim, lưng khoác nỏ, tay cầm dao dài cán nhảy ra, xông vào giữa lũ quỷ. Con dao bản to, lưỡi sắc như cật nứa, loang loáng như tia chớp đầu nguồn, mạnh mẽ như con hổ, con gấu, nhanh nhẹn như con báo, con trăn của rừng núi Châu Lam. Cả nhà tôi cùng reo:

- Thầy Mo!

Thày Mo hiện thân thành tráng sĩ Thạch Sanh đánh trăn tinh. Con dao: Xưa phát cây làm cái nương cái rẫy; nay biến thành vũ khí trừ tà diệt ác.

Tôi ngắm nhìn ông như ngắm nhìn một Thiên tướng trên trời xuất hiện. Hôm qua, ông đuổi Thần chết mang sự hồi sinh cho tôi. Hôm nay, ông tung hoành ngang dọc, che chở cứu người đàn bà yếu đuối mảnh mai thoát khỏi bàn tay hung bạo, dâm loàn của lũ quỷ háo dục. Cả bọn quỷ run sợ trước sự xuất hiện đột ngột và oai linh lẫm liệt của ông. Những con quỷ bị ông chém kêu la thảm thiết. Giọng chúng ồ ồ như tiếng bò rống.

Có mấy thằng nhẩy đến chỗ để súng, hò gọi nhau bằng tiếng mẹ đẻ. Tiếng lên đạn "rụp roạp". Mặc! Thầy Mo quay lại cầm lấy tay bà Lang. Bà chợt nhận ra trên người mình không một tấm vải che. Bà ngúng nguẩy ẩy tay thầy, dùng hai tay ôm mặt xấu hổ ngồi thụp xuống. Thầy Mo như không để ý, ông giằng tay bà quát:

- Đi nhanh à.. Đứng ở đây bọn Tây làm bẩn cái người mình à..

Nói rồi ông kéo bà chạy về phía cửa rừng, nơi có hai cây thông cao vút, ngọn cây như hai mũi dao chĩa thẳng lên trời xanh, còn những cành thấp là là, chìa ra như bàn tay của từng xanh giơ ra đón. Từ xa nhìn, hai người dắt tay nhau, hệt như đôi tình nhân rủ nhau vào rừng tìm nơi tình tự. Bước chân của họ đã sắp tới cửa rừng, họ đã dắt nhau đến chỗ có đường nước dẫn ra. Chỉ còn vài bước nữa cây rừng sẽ che cho họ.. Có tiếng súng nổ. Hai người đã chạy đến gần hai cây thông. Thêm những tiếng nổ liên tiếp. Thầy Mo dừng lại đẩy bà Lang chạy lên phía trước, cả thân người ông che cho bà. Bỗng Thầy Mo khựng lại, loạng choạng.. Ông cố lấy lại thăng bằng, nhưng người cứ nghiêng như muốn ngã, con dao rơi xuống đất. Bà Lang quay lại, tay Thầy Mo hất hất ra ý cho bà Lang "Chạy đi".

Bố thảng thốt:

- Thôi chết! Thầy Mo trúng đạn rồi.

Bà Lang không chạy. Bà cúi xuống đỡ ông. Ông đưa thay quàng lên vai bà. Máu từ bờ vai ông nhỏ lên tấm lưng trần trắng muốt của bà. Bà nâng Thầy Mo dìu đi.. Bỗng lại liên tiếp những tiếng nổ chát chúa. Thầy Mo buông tay ngã xuống, bà Lang oằn lưng, ưỡn người về phía sau giật giật.

Dì lấy tay dụi mắt:

- Không có nhẽ..

Bà Lang cố đứng vũng, nhưng không được. Cả thân người bà lảo đảo. Bà xoay lại tựa lưng vào thân cây thông cho khỏi gục xuống, mắt nhướng về nơi gia đình tôi ẩn náu. Cả người bà nhuộm máu. Nắng sang tầm chiều rực rỡ, thân thể bà hồng rực như bó đuốc đang cháy. Một cánh tay gắng gượng giơ lên làm dấu phép.

Hình như trước khi ngã xuống cạnh thân thể Thày Mo, bàn tay bà vẫy vẫy như muốn gửi lời chào từ biệt những người thân lần cuối?

Cả nhà tôi chết lặng. Gió rừng ào ào thổi, tiếng lá thông vọng vi vút giữa tầng không như tiếng rừng nức nở.

Bọn giặc lăm lăm tay súng, dàn hàng ngang tiến lên. Chúng dò dẫm từng bước.

Chúng sợ người con của núi rừng sống lại, sợ lưỡi thép của con dao rừng vung lên dồn lòng căm hờn vào chúng; sợ đôi mắt chất chứa sự hận thù, sợ ý chí kiên cường, coi cái chết nhẹ tựa lông hồng của nữ Thủy thần. Còn cách một quãng, chúng giương súng, xả đạn như vãi trấu vào chỗ hai người nằm rồi hò nhau rút lui.

Chúng cho thằng chết vào bao buộc túm lại rồi bắt hai thằng khiêng. Bọn què tựa vào bọn lành thất thểu dìu nhau ra khỏi cánh rừng. Một lúc sau, từ phía làng khói lửa bốc rần rần, tàn than bay mù nịt, tre nứa gặp lửa nổ như tiếng súng.

Mẹ hỏi bố:

- Bây giờ làm thế nào?

- Chờ lúc nữa - Bố trả lời - Mình trông các con, tôi ra tắm rửa cho họ rồi tìm cách chôn chứ bỏ mặc thế nào được.

Dì nói:

- Em ra cùng anh.

Mẹ lắc đầu:

- Cả nhà cùng ra. Ơn nghĩa lắm mọi người ơi! - Nước mắt mẹ rơi lã chã.

Người lớn thì không nói làm gì. Riêng chị hai, chị ba và anh trai đã từng nhìn thấy chó gặm xác người, tranh nhau với người chết trôi một cây chuối hồi năm bốn nhăm nên không sợ. Chỉ còn tôi là chưa bao giờ thấy cảnh người chết. Biết tôi có ý sợ, thằng "tên" khích bác:

- Cậu vãi tè ra rồi chứ gì?

Lòng tự trọng của tôi bị tổn thương:

- Đứa nào sợ chứ thằng này không sợ!

Lời tôi nói quả quyết, thằng "tên" im bặt, tịt ngắc.

Bố hỏi:

- Còn nắm hương nào không dì?

- Có đấy, nhưng lúc vội chạy, em không kịp mang theo.

Bố im lặng đi trước, đến gần chỗ hai người nằm. Bố dặn:

- Tất cả ngồi đây, chờ rửa ráy cho hai người xong, mọi người hãy đến trông mặt lần cuối coi như là phát tang.

May nhất là chỗ hai người ngã xuống gần khe nguồn. Bố kéo ống bương nước chảy lại gần. Máu sệt đông lại từng đám. Bố lấy khăn rửa mặt, lau người cho Thày Mo, còn dì tắm rửa cho bà Lang. Dì cởi chiếc yếm đang mặc che ngực, cởi khăn vuông đội đầu che chỗ kín của bà. Dì cùng bố bế từng người đặt lên chỗ cao. Sườn núi nghiêng hai người nằm sóng đôi, trông như đôi tình nhân đang ngủ.

Mẹ lấy chiếc áo trắng đang lót cho tôi, gỡ chỉ khâu, xé thành từng mảnh làm khăn tang bảo chị nhớn đeo cho các em. Mẹ lấy cái to nhất quấn một vòng quanh đầu tôi. Mẹ và dì chực khóc. Bố khuyên:

- Thấy cảnh này ai chả đau lòng, thương tâm? Nhưng khóc bây giờ bọn Tây nghe thấy, quay lại đây thì chết cả.

Chỉ còn nghe tiếng thút thít, nghẹn nấc cố ghìm lại. Mẹ than trách:

- Chết mà chẳng có nổi cỗ áo quan.

Bố dùng dao đào đất cạnh gốc hai cây thông, nói:

- Chỗ này bán sơn địa, âm dương hài hòa. Táng ở đây cho ông bà luôn được mát mẻ.

Bỗng dưng người Trưởng làng xuất hiện. Mọi người chưa kịp hoàn hồn vì hãi, đã thấy ông quỳ bên cạnh xác hai người. Ông cúi xuống thì thầm nói mấy câu bằng tiếng dân tộc, rồi đưa tay rờ rờ lên mặt từng người. Ông tháo cây nỏ đeo trên người, cởi tấm áo đang mặc phủ lên người Thày Mo, nhổ ba chiếc lông chim trên mũ Thầy Mo cài vào ống đựng tên của mình. Bố giảng giải:

- Ông ta lấy đem về để vào nơi thờ cúng.

Ông Trưởng làng rút con dao đeo cạnh hông cùng bố đào huyệt. Đất núi gần khe ẩm, dễ đào. Nhưng đào sâu được chừng hơn thước gặp rễ thông mọc ngang không đào thêm được nữa. Ông Trưởng làng xua tay ra hiệu có ý bảo bố thôi không đào nữa.

Hai người, mỗi người một đầu, khiêng từng người xuống. Bố đặt bà Lang bên phải, Thầy Mo bên trái. Mẹ thì thào:

- Giai tay trái, gái tay phải.

Không hiểu sao, mẹ nói cứ như hai người đã là vợ chồng?

Trước khi lấp đất, cả nhà tôi cùng ông Trưởng làng đi xung quanh ba vòng, mỗi người cầm ít đất ném xuống mộ. Tôi được dì đưa cho hòn đất cầm ở tay, dì bảo:

- Cháu sống được là nhờ ông bà đấy! - Nói rồi dì cầm tay tôi vẩy mạnh, hòn đất tí xíu rơi xuống huyệt.

Đấy là lần đầu trong đời tôi biết thế nào là người chết.

Xong việc, bố hỏi ông Trưởng làng:

- Bọn Tây còn đây không?

Ông lắc đầu rồi nói:

- Bọn chúng đốt làng xong về bốt Thằn Lằn rồi. Lũ này ác quá!

Đấy là câu đầu tiên ông nói kể từ khi xuất hiện. Bố bàn với mẹ:

- Cu Thừa còn yếu lắm! Theo Việt Minh lên rừng không thuốc men chữa, có mệnh hệ gì biết làm sao? Chi bằng ta quay về Phúc An xem sao đã?

Mẹ đưa mắt nhìn ông Trưởng làng. Ông Trưởng làng nhìn khắp lượt cả nhà rồi nói:

- Không đi cũng được mà. Chờ tối mình đưa đi theo đường tắt không phải qua núi Thằn Lằn à.

Trước khi đi, cả nhà tôi bùi ngùi lưu luyến nhìn hai ngôi mộ như không muốn rời xa. Gió từ thung sâu ào ào, lá thông reo "Uuuuu.." như tiếng âm hồn vọng về.

Trưởng làng đến gần bố:

- Đi thôi vớ!

Cả nhà lầm lũi bước theo ông.

Nhờ ông Trưởng làng dẫn lối theo đường tắt, gần sáng, chúng tôi đến lối rẽ về Phúc An. Lúc chia tay, thấy bố cúi chào, ông Trưởng làng lắc đầu:

- Mình làm nhiệm vụ của Kháng chiến giao cho mà. Ông nắm hai tay gật lên gật xuống như làm lễ, chân bước giật lùi vài bước, rồi quay lại, hướng về rừng núi Châu Lam mà đi.

Chương ba - 4
 
282 ❤︎ Bài viết: 1159 Tìm chủ đề

Chương ba - 4​


20261004-131307-e51ae4e4c2.png


Chương ba - 4

Ngôi nhà chúng em thuê gần quê chồng em. Vợ chồng chủ nhà đi làm ăn ở nước ngoài. Nhà ba gian, mặt chính phố thị chạy dọc đường 23, chân đê sông Hồng, sát bến phà Chèm. Xưa, đây là huyện lỵ. Từ ngày cắt về thành phố Hà Nội, phố huyện trở thành xã ngoại thành. Phố thưa nhà, chừng vài chục nóc. Từ ngày về đây mở hiệu ảnh, chồng em ra dáng một ông chủ. Thời ấy ảnh màu mới phát triển, đối với vùng quê đó là khoa học hiện đại. Chụp xong đem vào nội thành in rồi mang về trả cho khách.

Ủy ban xã nằm ngoài bãi ven sông, cách nhà dăm cây số. Ngày mưa bùn ngập đầu gối, bữa nắng bụi lút bàn chân. Em vác bụng đi làm, có lần ngã thai bị động, nằm liệt hàng tuần. Sợ hỏng đứa bé, chồng em bắt ở nhà dưỡng thai và giúp chồng chụp ảnh.

Tiếng là cán bộ Nông nghiệp do huyện tăng cường, nhưng em không đi làm. Thời buổi bao cấp, nơi em công tác mang tiếng gần Hà Nội nhưng lại xa trung tâm huyện. Trình độ dân trí thấp. Nhưng người "thức thời" như chồng em là mẫu người hiện đại. Chỉ cần giúp vợ chồng ông Chủ tịch xã một cuộn phim khi nhà có đám hoặc thuê hộ con gái ông Bí thư bộ váy cưới là họ "cười như nghé". Bỏ làm, nhưng năm nào em cũng được bầu là cá nhân xuất sắc. Cuối năm đến nghe tổng kết, nhận bằng khen, liên hoan. Việc đánh trống ghi tên bấy giờ là thường.

Chồng em ít văn hóa học nhưng va chạm xã hội nhiều. Sống với nhau, dần dần em hiểu bản chất người đàn ông đang ở với mình.

Về nghĩa vợ, tình chồng, chồng em dứt khoát:

- Đạo chồng như đạo cha! Bố chết con thờ ba năm, chồng chết vợ thờ ba năm. Đàn ông khi vợ chết chỉ phải thờ có một năm thôi!

Về tình yêu, chồng em bảo:

- Chỉ cần một thằng con trai nào chạm vào gấu áo của em, anh đã không chịu nổi.

Về bạn bè đồng nghiệp, chồng em khẳng định:

- Bạn bè gì? Đàn ông chỉ muốn "xơi" vợ của nhau, đàn bà chỉ muốn lợi dụng để vay tiền.

Về kinh tế, chồng em triết lí:

- Thằng chồng ngu mới để vợ nắm hầu bao.

Và còn vân vân.. Những mớ lí luận chồng em đưa ra để dạy em. Ngoài công việc dạy học, chồng em cấm em quan hệ giao du với bạn bè. Viện lý do sợ em mang thai vất vả không cho em tham gia công tác xã hội. Nhất nhất mọi hành vi của em bị quản lý.

Khẳng định cho việc dạy vợ, chồng em nói:

- Các cụ xưa bảo: "Dạy con từ thuở còn thơ - Dạy vợ từ thủa bơ vơ mới về".

Em cam chịu, gắng làm tròn trách nhiệm người vợ, cố quên tình cũ để vui duyên mới, giống như ngày xưa các cụ lấy nhau không tìm hiểu mà sống rất hạnh phúc. Nhưng sao không đuợc? Hình như đó là sự trả giá cho những lỗi lầm lừa dối của em? Em có ý định thú nhận nhưng không biết bắt đầu như thế nào? Em không muốn lương tâm mình bị dày vò, không muốn sống trong dối lừa. Nhưng sự dũng cảm của con người đâu phải lúc nào cũng sẵn?

Thời gian dần trôi, khi đứa con trai đầu lòng cất tiếng khóc chào đời, ba mẹ chồng lên chơi nói với con trai:

- Tôi đẻ mấy bận, chẳng đứa nào ra sớm như thằng bé này?

Câu nói là dây cháy châm ngòi nỗi hoài nghi, ngờ vực. Chồng em săm soi từng tế bào da thịt tới đôi mắt, cái mũi và mọi thứ của đứa trẻ. Ghen là con dao găm tự giết hai con người, nhưng lại là dịch men ủ bầu cay đắng. Nó luồn trong dòng máu người đàn ông, khuếch đại hình thành những chuỗi sự kiện và được mã hóa từng chi tiết có góc cạnh. Nó buộc được giải thoát bằng nhiều cách. Chồng em chọn cách giải theo phương pháp của một thợ ảnh đen trắng. Một bước đi, một bước theo đõi. Với quá khứ, bất chấp, đốt và phá hết những gì liên quan tới những mối dây quan hệ xưa kia của em.

Trong quan hệ vợ chồng, để khỏa lấp, lên giường trong nhưng cơn say, bắt em làm tình và dâng hiến theo lối phương Tây, dùng thân xác thực hành những động tác gây hưng phấn tình dục trái với sinh hoạt bình thường. Liên tiếp là các cuộc truy hoan như vậy. Em bị dìm trong những lớp sóng tình nhầy nhụa. Ngoài tình cảm đơn thuần của tình vợ chồng, còn là sự thể nghiệm đến tận cùng của cách ái ân. Trước khi làm vợ, em không nghi người đàn ông có thể ngủ với vợ một đêm nhiều lần như thế.

Sau những lần ân ái như vậy em sợ. Em sợ khi màn đêm buông xuống, sợ bóng tối đồng lõa với những lạc thú bệnh hoạn kỳ quái lạ lùng.. Tránh né, chồng em dằn hắt:

- Cố để dành cho thằng nào?

Em không để dành cho ai, nhưng em cũng không chịu nổi cách làm tình và đành đối phó bằng cách ì như khúc gỗ, mặc kệ chồng muốn làm gì thì làm. Em như cái bao cát cho võ sĩ tập đấm bốc, như quần áo bị vò nhàu trong chậu giặt..

Chán chường vì sự ham thích không được hưởng ứng, chồng em tìm thú vui nơi khác. Những buổi em đi làm, chồng em đưa gái về nhà hành lạc. Biết, nhưng em không dám phản đối. Cái người đàn ông cần ở người đàn bà, em không đáp ứng được, em có quyền gì mà nói?

Một lần, quay về lấy cuốn sách để quên, em bắt gặp hắn cùng hai người phụ nữ trần như nhộng trên giường. Em trừng mắt nhìn lũ khốn. Hắn thản nhiên:

- Cô là gì mà có quyền đuổi họ? Họ có cái để cho tôi. Còn cô? Hơn con chó đực là có cái l..

Đêm ấy em ôm con khóc suốt. Em biết lỗi lầm do mình, nhưng sự tàn nhẫn của cuộc sống dành cho em mới khốn nạn làm sao. Em muốn tự lột mặt nạ mình. Nhưng..

Nhưng, như kẻ ăn cắp có tâm trạng: Nửa muốn đem vật trót lấy mang trả lại, nửa muốn giữ lại làm của mình mãi mãi. Cuộc sống gia đình và nơi làm việc an bài như mặt sông phẳng lặng. Em sợ khua mái chèo làm mặt nước bị khuấy lên thành những lớp sóng. Nhuệ khí của lòng tự trọng tan biến khi sợ bị mất những gì mình đã ăn cắp được. Cứ vậy em lần lữa mãi.. Biết lừa dối là xấu, nhưng tay nhúng chàm lại thấy màu chàm có vẻ đẹp riêng của nó.

Thực oái oăm, lúc em muốn giấu thì đứa bé lại là vật chứng tố cáo. Càng lớn, hình ảnh của Tổ trưởng càng nổi rõ trên khuôn hình đứa trẻ như mũi dao chích vào trái tim em. Nó chích vào em một, nó chích vào chồng em hàng chục, hàng trăm..

Với em, sự thật như một phép tính cộng đơn gian: 1 + 1 = 2. Nhưng sự nghi ngờ của chồng em là phép nhân có nhiều số 0 để biến thành nỗi ghen thường trực.

Sẵn xe làm phương tiện, lợi dụng nghề chụp ảnh, chồng em mở cuộc dò xét, lục tìm quá khứ. Mỗi lần đi về đem theo một mớ tài liệu "nửa thực, nửa hư" cộng với men rượu. Nửa thực, nửa hư và men rượu là thang thuốc được chưng cất ra một loại thuốc vừa để quên, vừa để nhớ. Thực ra, những người biết sự việc về em chỉ có tổ trưởng. Còn ai cũng chỉ trả lời cho qua chuyện hoặc tránh né. Kẻ cáo cạnh, lọc lõi nghe hỏi, buông một câu lửng lơ, hầu kích thích lòng ích kỷ và sự ghen tuông. Con bệnh luôn kịch phát, và thang thuốc nhớ, quên là thứ ma túy chồng em nghiện cần sử dụng hàng ngày để tăng dũng khí. Chỉ cần một chuyện nhỏ chồng em cũng sẵn sàng vè vặc..

Ngày chủ nhật, em đạp xe đạp đưa con về thăm ông bà ngoại. Đến ngã ba đường rẽ về làng, một chiếc xe Honda 67 vượt lên rồi đỗ lại. Em nhận ra ngay khuôn mặt Tổ trưởng, dẫu bây giờ đẫy đà hơn, tóc húi cao, dáng người thấp, hệt như vị chỉ huy làng Quyết Thắng cầm gậy phang vào trán vị chỉ huy dân quân làng Quyết Chiến hồi bắt giặc lái Mỹ. Tổ trưởng hỏi:

- Em cho con về chơi chủ nhật à?

- Anh cần gì? - Em trả lời, tay tóm chặt lấy thằng bé như sợ Tổ trưởng cướp mất nó.

- Có chuyện này anh muốn nói với em.

- Tôi không còn chuyện gì để nói! Anh dẹp ra để tôi về.

- Không! Anh chỉ muốn đưa cho em ít tiền để nuôi con..

- Mẹ con tôi không cần. Nó không phải là con của anh. Nói rồi em vằng mạnh gói tiền, tiền tung ra, gió thổi bay tứ tung. Mấy đứa trẻ chăn trâu ở làng chạy đến. Vài người làng làm có lúa dưới ruộng chạy vội lên. Một thằng bé hô:

- Thằng cán bộ người làng Quyết Thắng bắt nạt chị Linh chúng mày ơi!

Tổ trưởng cuống cuồng:

- Thôi, chào hai mẹ con, hẹn lúc khác gặp lại.. - Nói rồi, Tổ trưởng lên xe vù ga phóng vội.

Em nói với mọi người:

- Không có chuyện gì đâu, anh ta trả tiền nợ tôi đấy mà.

Tưởng thật, lũ trẻ nhặt tiền đưa cho em.

Câu chuyện đến tai chồng. Bão tố, phong ba đổ ập xuống đầu em. Tiếng rít lọt qua hai kẽ răng xít lại:

- Cô lấy lý do về nhà để thì thụt gặp người tình cũ phải không?

Không nhận được câu trả lời, cơn giận dữ bùng như lửa gặp gió:

- Tôi có đói đâu mà khiến cô ngủ với trai để lấy tiền nuôi tôi?

Em không hẹn hò với người tình cũ, nhưng có gặp. Em không ngủ với trai nhưng có cầm tiền của đàn ông. Em biết nói thế nào? Sự im lặng không thay được lời thanh minh. Mà thể như lời thừa nhận.

Khi cơn giận vượt qua, sẽ biến thành hành động cụ thể: Chồng em mặc cho đứa trẻ khóc, túm tóc em vật ngửa, dí sát đôi mắt như sợi chỉ căng ngang và đỏ màu máu, hỏi:

- Mày có dám nhận không?

Im lặng.

- Có phải thằng bé kia của nó không?

Im lặng.

Chân tóc của em bị căng ra như sắp đứt khỏi da đầu:

- Đồ đĩ bợm. - Kèm sau lời rủa, cái tát át cả tiếng con khóc. Mắt em hoa lên vì tác động của xương thịt.

Cái tát như cốc nước ứ tràn khỏi li, là bước chân quá đà vượt khỏi vạch đích trên đường đưa cuộc sống.

Đánh xong, chồng em dắt xe ra.

- Ngày mai đưa thằng bé về. Nếu còn ở đây "ông" sẽ băm nát cả hai mẹ con.

Sáng hôm sau, em xin phép cơ quan nghỉ đưa con về gửi ông bà ngoại. Chiều về, không thấy đứa bé, chồng em gầm lên.

- Thế là cô thừa nhận nó không phải con tôi nhé!

Em cãi:

- Anh bảo sao tôi làm vậy!

- Á! Bây giờ cô lại dám xưng "tôi" cơ à? Bố cô dạy cô thế phải không?

- Anh muốn làm gì tôi thì làm. Anh đừng động đến bố tôi.

- Sợ cái con c.. Tao đây này. Con đẻ mẹ mày. Đồ đĩ!

- Thế này thì quá lắm! Em xấu, em tồi, muốn làm tình làm tội thể nào em cũng chịu! Nhưng động vào bố mẹ em là không xong! - "Lành làm gáo, vỡ làm muôi". Em vớ cái máy ảnh ném thẳng vào mặt hắn. Hắn né, cái máy ảnh bay vào chiếc tủ có tấm ảnh ngày xưa hắn chụp em làm mẫu. Tấm kính nát vụn như tãi ngô, tấm ảnh rơi xuống, lẫn trong mảnh vụn thủy tinh, đôi mắt người thiếu nữ ngây thơ, ngơ ngác nhìn em như một dấu hỏi..

Hồ Đại Ngọc đẹp và tĩnh lặng. Từ xa, nắng rực rỡ trải trên sườn núi; tiếng lá thông reo như muôn tiếng vĩ cầm vi vút vọng trên không; từng thung lũng, màu xẫm loang lổ chỗ đậm, chỗ nhạt. Nguyễn Thừa nằm thả dài trên bãi cỏ, Hải Linh ngồi tư lự, nhặt lá thông đưa lên miệng, dùng răng bứt từng đốt, từng đốt.

Thời gian trôi qua bao lâu rồi hai người không biết nữa! Đêm ập xuống, bức tranh thiên nhiên chuyển thể. Cả vàng hồ chìm trong màn sương, những dãy nhà bậc thang phía trên như chồng lên dãy nhà dưới thấp, ánh sáng điện từng quầng trắng cài vào nhau lấp lóa. Nhạc từ hộp đêm phía bờ xa vọng tới tan trong ngàn tiếng thông reo. Hải Linh ngồi như hóa đá, cô thôi bứt lá thông, đầu gục xuống đùi. Nguyễn Thừa ngồi dậy, cố xua đi những ý nghĩ vẩn vơ. Câu chuyện Hải Linh kể làm lòng anh trĩu nặng. Anh cố đứng về phía người đàn bà yêu quý để biện minh cho hoàn cảnh. Nhưng anh ngại sẽ lầm lẫn giữa sự vô tình và sự cố tình gây ra lỗi của từng con người, của trái tim đau khổ vì tình yêu và sự dối trá vì cuộc sống cần tồn tại.

Nguyễn Thừa quay sang nhìn Hải Linh. Bờ vai cô rung rung. Anh muốn tìm lời an ủi, nhưng chưa nghĩ ra một câu nào thích hợp. Thường là vậy, những con tim dạn dầy khổ đau không chấp nhận sự thương hại. Trái tim ấy dễ bị dị ứng với chính cả sự xót thương của người mình yêu quý nhất.

Một làn gió lạnh từ dưới hồ ùa đến, Nguyễn Thừa cởi áo ngoài khoác lên người Hải Linh. Cô giật mình:

- Mấy giờ rồi anh?

- Em có đói không? - Anh che tay xem dạ quang trên mặt đồng hồ. - Gớm, tám rưỡi rồi.

- Em đoảng quá, rủ anh đi chơi mà để cho anh đói.

- Không sao đâu em. Lát nữa ăn cũng được. Đêm nay chúng ta sẽ căng võng ngủ tại đây, sáng sớm mai bơi thuyền sang đảo Hai Người.

- Chuyện của em kể buồn lắm phải không anh?

- Tất cả đã qua rồi em. - Nguyễn Thừa an ủi.

- Đêm nay, em sẽ kể cho anh nghe nốt chặng đời em đã đi qua. Sắp bước sang kỷ nguyên mới rồi. Em muốn giũ bỏ dĩ vãng, giã từ quá khứ, sống thanh thản với những gì mình yêu quý. Anh đồng ý chứ?

- Cảm ơn em - Nguyễn Thừa thì thầm.

Trăng lấp ló trên đỉnh núi, mỏng và mảnh như con diều chao gió. Tiếng cầm thu não nuột thả vào đêm từng sợi buồn sâu lắng.

Chương ba - 5
 
282 ❤︎ Bài viết: 1159 Tìm chủ đề

Chương ba - 5​


20261004-131434-51dae6a4d3.png


Chương ba - 5

Một buổi sáng, bõ già giúp việc trong nhà thờ ở xứ đạo nhặt được một hài nhi đẹp như Chúa hài đồng nằm trước cổng. Thiên thần nhỏ lớn lên trong sự chăm sóc của trại tế bần. Cha xứ rửa tội, lấy tên Maria đặt cho bé. Ngay từ thuở ấu thơ, ngoài những lúc đến trường học, bé chắp tay thành kính, ngước đôi mắt trong veo hướng lên tượng Chúa ngắm nguyện. Dòng kinh thánh và những điều răn dạy của Chúa chảy trong huyết quản nuôi sống đức tin.

Maria như mầm non rực rỡ dưới nắng ban mai. Người đời vứt bỏ, nhưng Chúa lại tạo cho trần gian một nàng Eva xinh đẹp. Nhiều chàng trai xứ đạo ước muốn được là Ađam dẫu có phải mắc tội bị đày ải xuống địa ngục trần gian. Nhưng hình như Chúa Trời muốn giữ cho vườn địa đàng nơi xứ đạo sạch sẽ, nên đưa Maria vào ở với các xơ. Đức tin chồng chất đức tin. Maria nguyện hiến dâng cả phần hồn lẫn phần xác. Hàng ngày Maria đến nhà hộ sinh làm việc, cô không nề hà gì sự bẩn thỉu, ghi nhớ những động tác khéo léo của các xơ khi đỡ các thai nhi ra khỏi bụng mẹ.

Cô thầm ước một ngày nào đó sẽ tự tay mình nâng niu chào đón những sinh linh xinh xắn. Với cô, mỗi hài nhi ra đời là một Thiên sứ do Chúa Trời ban tặng. Cô còn nói với các xơ rằng: Một lúc nào đấy cô muốn tự mang trong bụng mình một vật thể do Chúa ban. Các xơ nghe niềm ao ước chảy trong lòng cô, rồi nhìn cô bằng đôi mắt của Mẹ Đồng Trinh, và nói với cô bằng một giọng hà khắc:

- Đó là ý nghĩ tội lỗi! - Và khuyên cô lấy cuộc sống của các xơ để làm gương soi.

Dẫu cố gắng lấy phẩm hạnh của các xơ làm mẫu, nhưng bản năng trong cô tự thức. Nhiều đêm, trong mơ, cô lạc vào vườn địa đàng. Bàn tay Chúa biến thành bàn tay tình nhân dang rộng ghì chặt cô vào lòng.. Cô bàng hoàng thức giấc, xấu hổ vì sự ham muốn tội lỗi. Cô đứng dậy, thắt lưng, ép xác khỏi mọi điều cám dỗ, quỳ trước tượng Chúa sám hối hàng trăm lần. Nhưng những quyến rũ mơ hồ mang tính dục đêm đêm vẫn luẩn quẩn vương vất trong giấc chiêm bao.

Bởi Maria chưa hình dung ra được những tội lỗi của Ađam và Eva mang xuống trần gian, nên mỗi lần sự khao khát thèm muốn dâng hiến trỗi dậy, bào mòn đức tin, cô lại đến phòng rửa tội.

Cha Phêrô, người cai quản phần hồn cho các con chiên nơi xứ đạo. Cha trẻ đẹp, hiển thị như tranh treo trong giáo đường. Khuôn hình cao, dáng thanh thoát, mái tóc quăn lượn sóng, màu mắt xanh, sống mũi dài, da trắng. Cha nói tiếng Việt rất sõi. Mỗi lần rao giảng, giọng trong vắt, rõ ràng, khúc chiết. Nếu không nhìn mà chỉ nghe, sẽ nghĩ Cha là người bản xứ.

Maria thổ lộ:

- Thưa Cha, con cố xua đi những thèm khát của bản năng, nhưng càng xua đi, thể xác của con càng đam mê cám dỗ.

- Tối tối trước khi đi ngủ, con hãy đọc thêm vài trăm lần kinh để củng cố đức tin.

Maria:

- Thưa Cha, con có thể sống như người đời không ạ?

Cha Phêrô:

- Con đang bị ma dẫn lối, quỷ đưa đường. Con đã thuộc về ta, tức là con đã thuộc về Chúa. Chỉ có Chúa mới định đoạt được đời con.

Sợ Maria lầm đường cha bảo:

- Ta thấy đức tin nơi lòng con đang lung lay. Hình ảnh Chúa trong con bị lu mờ. Nhân danh Chúa, hàng ngày cha mở rộng cửa cho con đến để cha răn dạy. Đem ánh hào quang của Chúa soi đường cho con khỏi u mê lầm lạc..

Trong phòng, nơi Cha soạn kinh, một bức tượng Chúa tử nạn bằng gỗ đứng trong vòm tủ, trên đầu Người muôn ánh hào quang tỏa chiếu, dưới chân, hai ngọn bạch lạp sáng lung linh. Những bức tranh treo trên tường kể về đời sống vĩnh hằng dành cho người ngoan đạo sau khi chết sẽ được tới. Tất cả huyền ảo, mung lung.

Maria quỳ gối, hai tay cô đặt lên nơi có trái tim đang đập, khuôn mặt Eva cúi xuống sùng kính lắng nghe. Tiếng bổng trầm và lời thuyết giáo của Cha đưa cô đến với thánh đường, nơi Chúa tạo dựng ở Thiên Đàng. Tâm hồn Maria biến thành đôi cánh, bay lượn quanh vòm trời kỳ diệu. Cùng bay lượn với cô là Đức Mẹ Đồng Trinh. Đức Mẹ Đồng Trinh vẫy đôi cánh trắng hướng cô tới nơi các Thiên thần đang tụng ca bài hát "Chúa sinh ra đời". Hào quang và sự nhẫn chịu của Chúa xua tan bóng tối, xua đi những cám dỗ tầm thường.

Mỗi lần như vậy, lòng Maria vơi nhẹ, ánh sáng của Chúa soi rọi vào tâm hồn, thổi bay lớp bụi u mê, lạc lõng. Trái tim thiếu nữ nhỏ nhoi được bao phủ bóng nhoáng lớp men đức tin.

Cha Phêrô là Chúa Đức Tin nơi cô. Chính vậy, lòng sùng kính nhiều khi làm cô lầm lẫn giữa Chúa và Cha. Chúa ở trên trời và chưa bao giờ Maria được thấy. Có chăng, đó là hình hài giáo dân đắp gọt, đặt vào nơi tưởng niệm trong những ngày lễ trọng - rồi thành kính tưởng tượng ra những quyền lực vô song.. Còn Cha, không có quyền lực phi phàm, nhưng hiển hiện bằng xương bằng thịt. Ngôn từ toát ra thuyết phục, cuốn hút, làm cho trái tim cô se thắt, cuồng tín đến ngây dại.

Theo thánh kinh, tất cả vạn vật đều do Thượng Đế sinh ra. Không hiểu sao, khi sinh ra vạn vật. Đấng Tối Cao lại không nhào nặn cho mọi thứ Toàn Thiện, Toàn Mỹ. Mà cho mỗi thứ chịu một nửa kia của một nửa này? Sự dở dang trở thành một quy luật đối nghịch giữa đêm và ngày; tối và sáng; thiện và ác; vui và buồn; trái và phải; được và mất; cao và thấp, béo và gầy; đẹp và xấu. Mọi thứ theo một quy luật đồng hành nhưng không đồng nhất. Thỏa thuận tưởng có lý mà vô lý. Mọi điều kiện dẫu lý giải bằng mọi luận chứng đều phản bác lại ý muốn đòi hỏi của Đấng Tối Thượng. Luôn xảy ra sự tranh chấp, giành giật nhằm duy trì, bảo thủ cho một sắc thái riêng.

Chắc bản thân khi Thượng Đế được Vũ trụ sinh ra chưa Toàn đủ, nên vạn vật được Người nặn ra cũng không hoàn thiện? Hoặc giả Thượng Đế muốn vạn vật của Người phải biết vươn lên cái đích Vô cùng bằng những cuộc chiến dài lâu không khoan nhượng?

Cha Phêrô là người thay mặt Chúa quản lý giáo dân vươn tới cái đích ấy! Để đạt được sứ mệnh của Đấng Tối Cao trao cho, Cha Phêrô phải chăm sóc từng góc tối của mọi linh hồn. Qua phần hồn, Cha muốn hướng phần xác của giáo dân luôn làm việc Chúa răn dạy. Maria hiểu nỗi nhọc nhằn nơi Cha đến. Những gì Cha làm cho xứ đạo giống như Chúa làm cho nhân loại.

Tuy vậy, trong xứ đạo, không phải ai cũng hiểu Cha Phêrô như Maria. Có người hoài nghi ý thiện của Cha Phêrô. Họ thì thầm:

- Cha cố là mật thám.

- Trước khi làm Cha cố, cha Phêrô đã từng bắn giết Cộng sản, cắt lấy tai xâu thành chuỗi.

Họ đặt điều:

- Trong nhà thờ có hầm tra khảo những người Cách mạng.

Maria không thanh minh giúp Cha Phêrô, nhưng lòng phiền muộn vì trong xứ đạo còn những kẻ không tường ý Chúa. Cô ra sức cầu kinh mong đức tin thay thế cho sự nghi ngờ. Dù chưa bao giờ Maria biết Cộng sản mày ngang, mũi đọc thế nào, nhưng cô tin Cha Phêrô nói: Cộng sản là kẻ vô đạo, họ muốn xứ đạo không có Chúa! - Cộng sản không có đức tin, họ muốn đưa con người trở lại thời ăn lông ở lỗ. Vậy giáo dân không tẩy chay Cộng sản để có lúc bị Cộng sản làm ruỗng lòng tin ư? Để mất Chúa ư?

Càng nhiều người nghi ngờ, cô càng thương Cha. Cô đem chuyện trăn trở nói lại cho Cha nghe. Cha nói:

- Giu-Đa phản bội chỉ mình Chúa chịu. Cộng sản bắt được Chúa thì cả cõi thế bị nạn đại hồng thủy.

Đâu phải Cha thay Chúa coi sóc một xứ đạo. Cha còn lo số phận cho cả loài người đấy thôi! - Maria liên tưởng giữa cha và đấng Tối Thượng về đức hy sinh vì nghĩa cả với sự sống còn của loài người dưới trần gian.

Cha Phêrô ngước đôi mắt xanh biếc nhìn thân thể Chúa Cứu Thế, buông tiếng thở dài nói với đức tin:

- Con đừng thương xót cha. Đây là lúc Chúa đang thử thách lòng tin nơi cha. Con giãi bày lòng con là con đang đứng về nơi Chúa đúng. Cha với con có trách nhiệm tìm ra kẻ hưởng ân huệ của Chúa lại rắp tâm phản bội Chúa. Cùng giáo dân xứ đạo tìm ra bọn Cộng sản đội lốt con chiên.

- Thưa Cha - Đức tin Maria băn khoăn- Những người con biết đều là giáo dân một lòng kính Chúa, chăm lo lễ mọn, hiền lành, chất phác. Những người đó chẳng lẽ lại là Cộng sản ư?

- Chỉ có đấng Toàn Năng mới biết đâu là Quỷ đâu là Người. Ta có biết, cũng là để mang lời của Chúa răn dạy cho kẻ lầm đường rời cõi u mê đi theo đường sáng.

Maria lo sợ bọn Cộng sản tà đạo cướp mất linh hồn của giáo dân. Tự bản thân đức tin thấy cần có trách nhiệm bảo vệ, che chở, cứu giúp họ. Maria thổ lộ cho Cha biết về những con chiên đang lầm lỡ. Mắt Cha Phêrô sáng rực khi nghe cô nói.

Đức tin của lòng trung thành là đức tin tuyệt đối.

Khi lòng tin của con người trở thành chân lý, khoảng cách được đồng nhất. Giới hạn bằng 0. Giữa cha đạo và con chiên là khoảng cách của người truyền đạo và người nhân đạo. Mối tương tác đồng hành làm nghĩa vụ giám hộ của Đấng Tối Thượng ủy thác.

Mấy ngày sau, những người dân nơi xứ đạo phỉ báng Cha đêm đến bị bắt mang đi. Maria đem điều thắc mắc đến nơi tôn nghiêm. Cha Phêrô ra dấu phép trả lời:

- Những kẻ quá u mê lầm lạc, cần phải đưa đến nơi có quyền lực vô song để giáo dưỡng.

Maria không hỏi nữa nhưng sương mờ giăng trong lòng cô, trái tim đập thắc thỏm. Những người giáo dân bị bắt đi lâu quá chưa về. Xứ đạo bao trùm một màu ảm đạm, dân xứ đạo nhìn Maria như Chúa nhìn lũ tà giáo. Khi họ đang nói, thấy cô lại gần họ im bặt. Cửa nhà đang mở, thấy cô đến, họ đóng vội. Ngay cả các xơ cũng xa lánh, nhìn cô bằng con mắt sợ sệt, hoài nghi..

Maria mất ngủ, hành động và thái độ xa lánh của dân xứ đạo cho lòng cô hẫng hụt. Maria thấy mình cô đơn, lạc lõng dẫu vẫn sống giữa bầy đàn của Chúa. Dân xứ đạo mặc nhiên coi Maria sinh ra để dành riêng cho Cha Phêrô.

Đêm dần trôi.. Vũ trụ choàng lên đất thánh tấm áo nhung đen, vòm trời như chiếc mũ miện, mây trắng quấn quanh tua te tựa vành nguyệt quế, trên vương miện gắn những ngôi sao lấp lánh. Vườn cây nhà thờ nép vào tà áo đêm. Dường như tất cả chìm trong giấc ngủ triền miên. Tiếng côn trùng nỉ non, sương đậu trên lá thả từng giọt xuống lối đi. Maria ngước nhìn lên đỉnh tháp, nơi ngự trị cây thập tự Vĩnh Hằng của Đấng Sáng Tạo.

Đêm nay, dẫu đã hàng trăm lần ngắm nguyện, lòng cô vẫn vật vã, trăn trở. Đã bao nhiêu ngày Chúa Nhật, những con chiên có tội phải đi giáo dưỡng chưa về.

Cô không dám nhìn vào đôi mắt những người thân của họ. Trước thánh đường: Bạc nhược, khiếp đảm; sau Chúa: Hờn căm, oán giận; với Maria: Khinh bỉ, tởm lợm. Maria những tưởng làm thế cho xứ đạo thanh bình. Ai ngờ, cô thấy mình đem đến cho họ sự đau khổ vì chia ly. Nỗi niềm giằng xé trái tim người thiếu nữ.

Cô ngồi xuống gốc cây sứ hoa vàng. Xơ già thường nhắc:

- Cây hoa này bằng tuổi con.

Maria tựa lưng vào thân cây, cô nhặt hoa rụng dưới gốc cầm lên ve vuốt, cô tưởng tượng ra những bông hoa, cánh cong nửa trắng nửa vàng non mềm tinh khiết, kết thành vòng dâng lên Gia đình Chúa vào những kỳ Lễ Trọng. Sắc của hoa, hường của nhụy ngây thơ, dịu dàng trong trắng biết bao nhiêu..

Bỗng có tiếng động ngoài cổng nhà thờ. Một tốp người mở cổng phụ bước vào. Khi toán người đi ngang chỗ cô ngồi, cô thấy đầu hàng, một người vai khoác súng, tay cầm dây dắt tốp người đầu bị trùm kín, hai tay bị trói giật cánh khuỷu. Còn một người nữa đi sau, lăm lăm tay súng, nòng súng áp sát người bị trói đi cuối.

Cô ngạc nhiên khi thấy họ đưa toán người đi về phía cửa buồng hầm chứa đồ. Đây là nơi bõ già trông coi. Tiếng cửa sắt rít trong đêm tối nghe lạnh người. Maria định nhỏm dậy đi theo thì cửa phòng ngủ của Cha Phêrô mở. Có hai người đi ra. Dáng quen thuộc của Cha Phêrô nổi bật giữa màn đêm.

Họ dùng đèn pin soi, đi về phía cửa tầng hầm. Trước cửa hầm, người lính bồng súng đứng đón. Khi Cha và người kia đến, người lính giơ tay lên vành mũ chào. Rồi tất cả đi xuống hầm. Tiếng cửa rít lạnh tanh, vô hồn, ghê rợn.

Người Maria run cầm cập, cố lấy lại bình tĩnh đứng lên. Một chút lưỡng lự.. Rồi cô quyết định men theo tường rào đi về phía căn hầm.

Cửa hầm khóa trái, im lìm như nấm mồ.

Maria chợt nhớ đến lối vào hầm sau thánh đường. Hồi còn bé, trong lúc chạy nhảy đùa nghịch, đã bao lần Maria trốn các xơ chui xuống đấy. Maria vòng về phía cửa phụ nhà thờ vào nhà thờ, đi qua những hàng ghế dành cho con chiên ngồi, qua phòng rửa tội, theo cánh gà vào góc trong thánh đường, cúi đầu chui qua gầm cầu thang gỗ làm lối bước lên bục giảng đạo. Đã lâu, một lớp bụi dày phủ trên mặt sàn. Cô lấy tay gạt, bụi bay xộc vào mũi, Maria nén ho, nhấc tấm ván, miệng hầm lộ ra, sâu hun hút. Cô chống tay co mình đu xuống. Lối đi hẹp, hai bên là tường. Nhiều lúc cô phải ngồi xuống dò dẫm từng bước. Qua hết dãy hành lang đến phòng đựng đồ thờ. Gian phòng rộng, chứa toàn những thứ phục vụ cho công việc nghi lễ thờ đạo. Phòng này có lần cô đã theo bõ già xuống lấy nến thắp. Cửa phòng khóa, cạnh cửa tựa chiếc thang gỗ chuyên dùng để thắp nến trên chùm đèn treo trong nhà thờ.

Từ cánh cửa ra vào ở cuối căn phòng, ánh sáng mé bên kia tường hắt lên sáng rực. Maria đến gần. Cánh cửa đóng ván bụng kín. Thoáng trông tưởng đó là cửa lách cùng căn phòng để đồ, nhưng thực ra nó là cửa thông sang một căn phòng khác. Tiếng động phía bên kia vọng sang. Maria quyết định tìm cách xem sự thể ra sao. Cô bỗng thấy mình bình tĩnh lạ thường. Cô cảm tưởng đây là câu trả lời giải tỏa nỗi mung lung đè nặng trong lòng cô từ mấy tháng nay.

Maria quay lại theo lối hành lang đi vòng về phía sau. Đã lâu cô không xuống nên ngạc nhiên khi nhìn thấy căn hầm được xây dựng lại như vậy. Cô đến gần bức tường ngăn. Ánh sáng soi rõ những mảnh thủy tinh cắm chằng chịt trên mặt tường, nhọn hoắt như hàng ngàn mũi dao chĩa ngược. Cô sờ vào tường, hơi lạnh làm cô rùng mình, tay cô đụng phải nhiều chỗ rêu mọc trơn tuột, mùi ẩm mốc bốc lên.

Loay hoay mãi Maria không làm sao tìm cách nhìn được sự thể bên kia tường. Chợt nghĩ tới chiếc thang dựng trước cửa phòng để đồ, cô vác về dựng vào chỗ giáp giữa tường căn phòng để đồ.

Cô thận trọng trèo lên. Gan bàn chân đặt lên thanh tre đau nhói. Cô tựa người vào góc tường lồi ra của căn phòng, nghiêng mặt nhìn xuống: Một người trong đội linh kèn của nhà thờ, tay xách đèn Măng xông giơ lên ngang mặt. Cha Phêrô đứng cạnh viên sĩ quan Pháp mặc quần soóc, áo phanh ngực. Viên sĩ quan này có lần Maria đã gặp khi hắn ăn cơm cùng với Cha. Tên lính người Việt còn lại lăm lăm chĩa nòng súng vào tốp người bị bịt mặt, tay bị trói, máu me bê bết đứng úp mặt vào tường. Cha Phêrô quay lại xì xồ với viên sĩ quan rồi rút trong tấm áo lễ ra một khẩu súng lục.

Cùng lúc, viên sĩ quan Pháp rút súng ra khỏi bao. Cả hai bước lên, gí nòng súng vào dưới góc bao trùm đầu những kẻ bị trói. Liên tiếp năm tiếng nổ vang lên. Tiếng súng nổ trong hầm nghe chát chúa. Bốn người ngã, chết ngay. Còn một kẻ giãy giụa. Cái bao bố bít kín mặt tuột khỏi đầu. Maria suýt thét lên kinh hoàng vì nhận ra đấy là người đã nói với cô: Cha Phêrô là mật thám! Thân hình ông quằn quại, đầu lắc liên hồi, chiếc khăn bị nhét vào mồm vung như phất cờ. Viên đạn bắn trượt xuống vai, khuông ức ngực trần đẫm máu, kẻ vệt theo từng giẻ xương căng dây trói. Máu từ hố bị đạn xuyên phun thành cột, chảy dòng, tuôn như suối. Ông cố nhỏm dậy, đầu ngật ngật ra phía sau.

Cha Phêrô bước đến giơ súng lên ngắm thẳng vào mặt ông bóp cò. Viên đạn thứ sáu trúng đích, cả thân hình đầy máu đổ ập, đầu kẻ bị bắn giật giật mấy cái, rồi lật ngửa mặt lên, mắt mở trừng trừng nhìn về nơi Maria đang đứng. Cô co rúm người, cái nhìn của ông ta như cái nhìn của Chúa nhìn sự phản bội của tông đồ Giu-Đa.

Chiếc thang rung bần bật. Maria cắn chặt môi, cấu tay bám vào bờ tường cho khỏi ngã. Sự thật vượt quá sức tưởng tượng.

Dưới kia:

Người trao đức tin đang cướp lại lòng tin nơi cô. Con người ấy hiện nguyên hình là quỷ dữ.

Trên này:

Từng dòng kinh thánh trong người Maria tan loãng chảy theo máu của những kẻ bị hành quyết.

Chương ba - 6
 
282 ❤︎ Bài viết: 1159 Tìm chủ đề

Chương ba - 6​


20261004-131609-90f181040e.png


Chương ba - 6

Buổi mít tinh được tổ chức tại bãi cỏ sau chùa làng Quyết Thắng. Vô tình, chỗ dựng kỳ đài chính là nơi em và Tổ trưởng tình tự. Vì bụng to, em ngồi tận dưới. Tuy dân làng đã được thông báo trước hai làng giờ đây đã được hợp nhất thành một xã, nhưng khi tập trung, mọi người vẫn cố tình chia làm hai nơi. Duy đằng trước, sát kỳ đài, là các em thiếu niên, nhi đồng của toàn xã hòa đồng, kết vào nhau riu rít như đàn chim non - như hàng trăm bông hoa xinh xinh muôn màu, muôn sắc. Mùa thu nhả tơ, nắng vàng óng mượt, rực rỡ tỏa trên tấm phông trang trí cờ sao và ảnh lãnh tụ giữa kỳ đài. Gió từ đầm Vực thổi về, mang vị nồng nồng hương lúa hết đòng từ những thửa ruộng. Từng ngọn tre uốn câu lả lướt trên nên trời xanh vời vợi; dãy cờ đuôi nheo cắm trên đỉnh tấm phông vẫy phần phật.. Hương vị và màu sắc quê hương trên ngập, thấm đẫm. Chương trình văn nghệ chào mừng được mở đầu do các em học sinh biểu diễn. Bầy chim non ríu rít, tíu tít hát những bài ca bằng âm thanh của riêng mình. Cảnh vật thổi vào hồn em một luồng sinh khí mới! Em nhớ đến những gì đã lãng quên từ lâu. Giữa những tâm hồn thơ ngây, em tìm lại chính mình. Nếu không có đứa con năm tuổi bằng xương, bằng thịt và cái bụng đang chửa thì em ngỡ mình đang là những đứa trẻ vô tư trong sáng kia.

Nhớ hôm cầm quyết định đến văn phòng Ủy ban xã. Bà Phó chủ tịch để tóc dài. Chiếc cặp tóc bằng nhựa màu nâu nằm vắt chéo trông như con đỉa trâu bám; bà mặc áo sơ mi vải Pôpơluyn xanh trứng sáo, ngoài khoác vỏ áo bông màu tím than, ve cổ hình cánh sen, không cài khuy. Bà đón tiếp em bằng hai hàm răng vẩu, thịt lợi trơ đỏ au:

- Thế chồng đâu mà không lai đi?

Em nói dối chồng em bận đi chụp ảnh. Bà Phó chủ tịch nhanh nhảu:

- Ừ, mùa này thợ ảnh "trúng quả" phải biết! Đám ma lắm, đám cưới nhiều, tha hồ "nháy". - Bà cười khơ khớ.

Em trình cho bà tờ quyết định.

- Nhận rồi! Quyết định thuyên chuyển của cô, Ủy ban nhận được từ hôm kia rồi. - Bà nói như reo. - Sao không ở lại quê chồng? Chắc vùng bãi ven sông Hồng vất vả lắm hả? - Không thấy em trả lời, bà nói tiếp. - Nhưng sao đận trước lên họp, thấy Trưởng Phòng nói chỗ này ưu tiên dành cho con, cháu ông nào trên mạn ngược chuyển về cơ mà?

- Dạ, thưa cô, cháu không biết.

- Thôi, thế càng tốt! Người cùng làng cùng xã càng dễ bàn bạc. Vừa qua Quốc hội điều chỉnh lại khu hành chính các tỉnh. Cắt trả huyện mình về Vĩnh Phú. Lợi dụng giao thời, nhiều vị đang "chạy" nào nội thành, tranh thủ chuyển người thân quen của mình ở mạn ngược về gần. Cán bộ, nhân viên các phòng ban nháo nhào vì không biết rồi sẽ thế nào? Mặc kệ! - Bà bảo em - Đâu cũng cơm gạo Nhà nước cả! Em về cùng chúng tôi gánh vác công việc chung.

- Phải cái.. - Bà liếc nhanh xuống cái bụng chửa của em.

- Tháng nào nằm ổ?

- Dạ thưa cô, năm tháng nữa ạ!

- Chắc sau tết! - Phó chủ tịch gật đầu. - Còn việc này nữa. - Ngưng một chút rồi bà nói quả quyết. - Mâu thuẫn của hai làng thuộc về quá khứ. Nay Quyết Chiến và Quyết Thắng hợp nhất thanh một xã, chị em mình có trách nhiệm vận động bà con đoàn kết lại để đẩy mạnh nền nông nghiệp của xã đúng với tinh thần.

Em buột miệng:

- Cháu nghe nói chưa thống nhất được tên gọi của xã phải không cô?

Bà Phó chủ tịch trả lời:

- Xong rồi! Chờ tổ chức mít tinh công bố quyết định cho tất cả dân làng là xong. Gớm! Bàn có mỗi việc lấy tên xã là Quyết Thắng hay Quyết Chiến thôi mà Đảng ủy Ủy ban họp hai ngày mới xong. - Bà chép miệng. - Bây giờ gọi là xã Chiến Thắng. Mỗi làng lấy một chữ. Kể ra bên Quyết Thắng còn ấm ức, vì tên của mình lót sau. Nhưng thế mới vần chứ chẳng lẽ lại gọi là Thắng Chiến à? Nghe sao được? Ngang phè! - Bà Phó chủ tịch nói xong cười ha hả, đến nỗi cả răng lẫn lợi tưởng nhảy ra khỏi miệng - Đấy. - Bà nói thêm - Em đến không gặp Chủ tịch ở nhà là vì hôm nay cậu ấy phải lên mời lãnh đạo huyện về dự Lễ hợp nhất hai làng và công bố tên xã mới đấy!

Em thắc mắc:

- Thế cán bộ giải quyết thế nào ạ?

- Huyện đành phải đứng ra dàn xếp chứ làm thế nào? Tên làng đổi thành tên thôn. Thôn nào cũng muốn người làng mình giữ vị trí chủ chốt của xã. Căng đến đận cấp trên phải cử người thôn Quyết Thắng làm Chủ tịch còn Bí thư là người làng Quyết Chiến. Cán bộ nghiệp vụ phân cho đều, chia cho sòng.

- Thế sao Phúc An đang là thị xã lại thành trị trấn hả cô?

- Ờờờ.. Ààà.. - Cái này.. - Bà Phó chủ tịch ấp úng - Chắc mấy ông lãnh đạo huyện muốn thị xã trở thành phố huyện?

Ơ.. Hay nhỉ? Tuy vậy câu trả lời của bà không làm em thỏa mãn.

* * *Tùng.. Tùng.. Tùng.. Tiếng trống dứt em ra khỏi ý nghĩ. Trên lễ đài, ông Bí thư người làng em vung dùi đĩnh đạc nện mạnh vào mặt chiếc trống một hồi với ba tiếng lẻ. Âm thanh chuyển động vang dội trong không gian. Chờ cho thanh âm lắng hẳn, ông sang sảng đọc quyết định của tỉnh công bố hợp nhất hai làng và công nhận tên mới của xã. Tiếng trống và lời tuyên bố của Bí thư làm rạo rực lòng người. Sau khi đọc xong, em nghe ông phân tích lợi ích của việc hợp nhất hai làng, về nghĩa vụ công dân, rồi vụ chiêm xuân sắp tới, thoắt cái ông nhảy sang đề cập tới những vấn đề Quốc hội vừa họp; nói đến nhiệm vụ Quốc phòng toàn dân. Ông còn mở rộng đến vấn đề chiến sự tại Trung Đông, tình hình Hồng Kông chuẩn bị được bàn giao trả về cho Trung Quốc..

Quả thật, người ta bảo vì Bí thư có tật nói nhiều và dai cũng chẳng quá! Mặt trời nhô cao, gió ngừng thổi, nắng tãi lên mặt các em thiếu niên học sinh xếp hàng dưới sân, mồ hôi ròng từng giọt. Đứa lớn lấy khăn quàng đỏ lau, đứa bé lấy vạt áo quệt. Chúng nghe nhưng không hiểu nên chúng ngoảnh đầu, chun mỏ vào nhau hót chuyện. Nơi chỗ em ngồi, các bà, các chị ngồi giãi thẻ nói chuyện vặt, mặc cho Bí thư nói Bí thư nghe. Họ kể cho nhau nghe chuyện gia đình này có cô con dâu hay cãi mẹ chồng, nhà kia chuẩn bị cho con ra ở riêng..

Mấy cậu thanh niên đeo băng đỏ làm trật tự chạy xuống nhắc:

- Đề nghị giữ trật tự.

Nhưng chỉ sau một lát, những cái mỏ chim xinh xinh lại ríu rít, chí chóe. Chúng chưa hiểu được những vấn đề xã hội phức tạp của vị lãnh đạo đang nói. Em nhìn lên hàng ghế đại biểu: Đại biểu ngồi chia thành hai phe. Quyết Chiến một bên, Quyết Thắng một bên. Giáp giữa hai hàng ghế, ngay đầu, ông chủ nhiệm kiêm chỉ huy dân quân, bây giờ đang giữ chức nhân viên tạp dịch ở Ủy ban xã cùng bố em, mặc quần áo bộ đội vải Tô Châu ngồi cạnh nhau. Thỉnh thoảng, hai người chụm đầu thì thào nói chuyện. Nắng xiên vào cái hõm sẹo trên trán ông cựu Chủ nhiệm trông rõ mồn một, bóng nhẫy. Bên hàng ghế đối diện, tác giá sản sinh ra cái sẹo, ngồi vênh mặt, dùng hai ngón tay vê vê cái cằm nhẵn thín không kém gì vầng hói trên đầu. Nhìn, em thoáng nhanh một ý nghĩ: "Sao bố con nhà ấy giống nhau thế không biết!".

Tiếng vỗ tay lẹt đẹt tiễn vị Bí thư về chỗ. Rồi tiếng người dẫn chương trình vang lên:

- Xin trân trọng kính mời đồng chí Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã lên phát biểu ý kiến.

À, chẳng kém cạnh miếng nào! Gà nhà mình gáy, gà hàng xóm cũng lên tiếng "cúc cù cu.. Cu". Thế này chỉ khổ người nghe. Em nhìn người đại diện cho chính quyền xã bước lên khán đài ngờ ngợ.. Ngỡ đây là vị chỉ huy làng Quyết Thắng lên phát biểu. Em quay lại nhìn hàng ghế ông ta vừa ngồi. Không! Ông ta vẫn ngồi nguyên. Hai tay vẫn đang vê cằm.. Em bỗng bàng hoàng nhận ra người đứng trên kỳ đài không phải ông mà chính là con trai ông ta. - Trời ơi! Đúng là nguyên mẫu. Chưa tin, em ngẩng lên, nhìn lại để khẳng định cho chính xác. Và, quả thực câu nói "trái đất tròn" có lý! Đã lâu em không gặp. Tổ trưởng (bây giờ là Chủ tịch xã) mặc bộ vét màu tím, cái trán di truyền được chải, phủ những sợi tóc mai loăn xoăn che bớt chỗ hói. Khuôn hình đẫy đà chững chạc, tiếng nói mạnh vừa đủ vang lên trong không gian. Tai em ù, mặt cúi gằm như ngại người phát biểu nhìn thấy. Nếu biết thế này mình sẽ không xin về đây. Em cúi xuống, giấu mặt vào hai đùi và không nghe thấy vị đại diện chính quyền nói những gì và xong lúc nào chẳng biết.

Bỗng có tiếng nhắc:

- Đề nghị cô Linh cán bộ Trung cấp Nông nghiệp do Phòng Nông nghiệp huyện tăng cường cho xã lên sân khấu.

Nghe tên mình, em ngẩng phắt lên. Hóa ra đã tới phần giới thiệu thành phần cán bộ xã. Thấy em ngần ngừ, một người lên tiếng giục:

- Lên đi, người ta nhắc mấy lần rồi kìa.

Cực chẳng đã, em đứng dậy, ngay người cố che bớt lùm bụng, mặt cúi xuống nhìn đường đi. Tai em nóng ran, mường tượng; trong hàng trăm con mắt nhìn, có đôi mắt Tổ trưởng đang nhìn..

Nhưng tại sao em phải thế chứ? - Em xấu hổ, đấu tranh với ý nghĩ bạc nhược của mình. Em đâu phải là "kẻ chạy làng" mà em phải ngượng? Sự phản bội, tráo trở không nằm ở phía em. Em quyết định thả lỏng bụng, thậm chí còn cố tình ưỡn phưỡn bụng, mặt vênh lên như vừa trêu ngươi vừa chọc tức người đang nhìn.

Đó là ngày 5 tháng 9 năm,

Chương ba - 7
 
282 ❤︎ Bài viết: 1159 Tìm chủ đề

Chương ba - 7​


20261004-131730-c3f902af0c.png


Chương ba - 7

Maria bỏ xứ đạo. Cô đi mà không biết mình sẽ đi đâu? Lầm lũi, vật vờ như tầu lá bị gió thổi. Khát, vục nước ven đường uống. Đói, nhặt được gì ăn được là ăn. Đêm nằm vạ vật nơi nhà ga, bến xe, quán chợ, lề đường. Thân thể bẩn thỉu, hôi hám, áo quần tơi tả, dở mê, dở tỉnh, dật dờ lang thang khắp nơi, mọi chốn. Mắt nhìn về phía trước, bước gấp gáp, cố xua đi những hình ảnh xảy ra dưới tầng hầm nhà thờ. Và cũng không hiểu sao, từ hôm bỏ xứ đạo cô thôi cầu kinh? Không phải quên, mà cô không định thần được. Những lời kinh lộn xộn trôi tuột khỏi tâm trí cô.

Ra khỏi xứ đạo cô mới thấy thế giới của Chúa Trời tạo ra vô cùng rộng lớn. Trước đây, cô nghĩ nơi đâu cũng giống xứ đạo, dân chúng như đàn cừu hiền lành được chăn dắt. Bây giờ, trên đường đi, cô gặp nhiều nơi không có nhà thờ, kẻ ngoại đạo cũng đông hơn. Ngực không đeo thánh giá và mở mồm là văng tục, đánh, chửi nhau. Cô đi qua, họ nhìn, coi cô như một loài trên vật, dưới người. Ai xót thương bố thí cho bát cơm, manh áo. Kẻ khinh bỉ, xua đuổi như xua đuổi một con thú hôi hám tanh tưởi.

Maria đói, cô vào sân đợi trong nhà ga xe lửa tìm, nhặt cái ăn. Giữa đống rác rưởi, một mảnh dưa hấu ăn dở nằm chềnh ềnh, cô nuốt nước bọt đưa tay định nhặt. Đám ruồi nhặng bu lẫn trong đám hạt dưa đen nhánh và trên đống rác bay lên vù vù. Hình như chúng phản đối không muốn cô giành khẩu phần ăn mà người đời đã bố thí cho chúng. Maria chợt nhớ tới lời răn ".. Cởi nốt chiếc áo sơmi còn lại..". Cô bỏ đi, lũ ruồi lập tức đáp xuống bậu lên miếng dưa. Còn một vài con vo ve bay lượn trước mặt cô tỏ vẻ cảm ơn. Cô mỉm cười lấy tay bóp bụng, tựa vào hàng rào nhà ga, lơ đễnh nhìn đoàn người nối đuôi nhau xếp hàng ra ga. Trong hàng, một chú bé hồng hào chừng hai tuổi được mẹ bế. Đứa bé cầm nửa chiếc bánh mì vẫy vẫy đùa nghịch. Đói quá, mũi cô thoảng mùi bánh nướng, lưỡi thấy vị bột bùi, ngậy, cô ứa nước dãi.. Cô mong chú bé đánh rơi. Đột nhiên cô xấu hổ vì ý nghĩ tham lam của mình. Cô rời khỏi chỗ đứng, lắc đầu cố xua hình ảnh chiếc bánh. Nhưng không hiểu sao chân cô lại bước theo. Vô tình, cô lọt vào hàng, đi sau hai mẹ con, xếp hàng sau cô là một người đàn ông da tái, môi thâm xịt như người mắc bệnh sốt rét; tóc thưa, xác như rơm vò; quần áo may bằng vải diềm bâu màu cháo lòng; ngón tay dài bợt như bị ngâm nước. Hàng người chậm rãi nhích lên. Tiếng ồn ào náo động cả sân ga:

- Ai ăn bánh bột lọc không nào.. - Tiếng rao kéo dài giọng.

- Ai mua mía không nào? Mía tím đây, mía tím đây..

Có tiếng hỏi:

- Phải tàu Phòng về không các bác?

- Phải! - Tiếng đáp cộc lốc.

- Tàu đỗ ở ga có lâu không hả các bác?

- Nửa giờ!

- Chiếc bánh trên tay chú bé như cục nam châm hút hồn, cô lọt vào hàng người, đi sau chú bé, mắt chăm chăm ngước nhìn cái bánh trên đôi bàn tay bé xíu. Người mẹ bế vác lên vai, mặt nó ngoảnh về phía Maria. Tay nó cầm bánh vung lên, vung xuống đập lên mặt Maria. Tưởng chú bé bón cho mình, cô há miệng, nhưng mỗi khi sắp ngoạm được thì cái bánh lại nhấc lên. Ngỡ Maria đùa, chú bé ngoạc miệng cười. Bụng Maria nhộn nhạo, không chịu được nữa, cô giằng phắt lấy cái bánh, đút vào mồm mình. Đứa bé bị cướp đột ngột, ré khóc ngặt nghẽo. Người mẹ quay lại, dang tay tát vào mặt Maria:

- Đồ ăn cướp!

Cái bánh văng xuống đất. Má Maria đỏ lựng hằn vệt ngón tay. Người đi sau Maria lên tiếng:

- Chấp làm gì người rồ.

- Con trẻ mà đã mắc vào tình duyên ngang trái! Rõ khổ.

Người đàn bà bế con tru tréo:

- Rồ gì nó! Rồ mà biết ăn cướp à?

Thấy đứa bé khóc, Maria cúi xuống nhặt nửa cái bánh rơi cầm đưa trả. Người mẹ ghê tởm dùng chân đạp mạnh vào người cô, mồm tru tréo:

- Xéo đi, đồ điên! Người ngợm thế mà đứng gần người ta.

Cú đạp làm Maria mất thăng bằng ngã ngồi xuống.

Thấy ầm ĩ, một culít chạy tới, sau tiếng còi "toét, toét" là câu hỏi:

- Có gì vậy?

Người đàn bà phân bua, tay chỉ vào Maria:

- Nó định ăn cắp đồ của tôi.

Khuôn mặt nhà chức trách đanh lại:

- Alê vào đồn. - Chiếc dùi cui vung lên..

Maria nhắm mắt tránh. Nhưng có một bàn tay xòe ra đỡ lấy chiếc dùi cui:

- Người ta quẫn trí, sao lại đánh?

Chiếc dùi cui nện hụt, mắt culít trừng trạo:

- Định dây vào nhà chức trách hả?

Người đàn ông nói câu gì đó, nhưng tiếng nói của ông bị khỏa lấp trong tiếng mọi người phản đối tên culít:

- Người ta điên biết gì mà bắt vào đồn?

- Đừng vu oan cho người ta mà phải tội!

- Người quê đâu mà khổ thế?

Maria chống tay nhổm người đứng lên, tay nắm chặt mẩu bánh.

- Trật tự! - Tiếng còi "toét toét" trấn an vang lên. - Điên cho vào nhà thương điên - Người culit nói, rồi dùng dùi cui thúc vào lưng cô - Đi! Cút mẹ mày đi! Toa còn thấy mày ở đây toa cho vào tù. - Nói rồi, nhà chức trách vung dùi cui dứ dứ vào mặt Maria mấy cái rồi bỏ đi.

Maria quay lại nhìn Người đàn ông bênh cô, như thấy Chúa lòng lành vừa xuất hiện. Maria thở phào - May quá! Chiếc bánh mì trong tay cô vẫn còn. Cô định quay lại trả bánh cho chú bé, nhưng chợt nhớ tới chiếc dùi cui và viên culít. Cô đi ra đường, tìm lối ra ga. Trong đầu cô vẫn văng vẳng tiếng khóc ngặt nghẽo của đứa bé. Cô quên cả đói. Nỗi dằn vặt ân hận dâng lên trong lòng. Cô tránh đi vào hàng người xếp hàng, sợ người culít bắt đuợc. Cô vòng xuống phía dưới nhà ga một đoạn, đi qua chỗ bẻ ghi, rẽ đường sắt, xoải chân bước lên những thanh tà vẹt bằng gỗ bắc ngang. Đi qua nơi cấp nước cho đầu máy, cô đặt miếng bánh xuống, bụm tay hứng vào đầu ống tong tỏng nước vốc uống. Một người cầm cờ hiệu đi ngang qua chỗ cô quát:

- Tàu chuẩn bị vào ga. Tránh xa ra.

Maria cầm vội miếng bánh đi về phía sân ga. Len lỏi vào đám người đợi tàu, nghển cổ tìm nhưng không nhìn thấy chú bé đâu. Bỗng cô giật mình vì tiếng còi tàu hú vang, và tiếng rít của kim loại xiết vào nhau lẫn trong tiếng "xình xịch" từng nhịp. Rồi đoàn tàu như con rết khổng lồ bò vào ga. Hơi nước giật nhịp thành từng vầng thổi thẳng lên trời. Maria dán mắt nhìn theo "con rết" biết chạy, người lâng lâng như muốn chạy theo toa tàu.. Một người nắm áo kéo cô lại:

- Muốn tự tử hay sao, mà lao vào đấy?

Quay lại, cô nhận ra đấy là người đàn ông đỡ chiếc dùi cui của tên culít đánh cô. Đoàn tàu chạy từ từ rồi dừng hẳn, người lên xuống tấp nập. Có tiếng gọi:

- Toa đen dưới kia, đây là toa hàng nhì.

Maria ngơ ngác nhìn cảnh người đi lại hỗn loạn. Cô nghĩ: Chắc chú bé đã lên tàu. Nghĩ vậy, cô leo lên bậc.

Bỗng có tiếng:

- Vé đâu?

Người soát vé đứng trên sàn giơ đèn lên hỏi. Maria ngơ ngác không hiểu. Chừng như nhận ra đây không phải là người bình thường, người soát vé giơ bàn chân đi giày lên:

- Xuống! Đây là toa dành cho các ông lớn, bà lớn hiểu chưa? Cút xuống toa đen!

Maria tụt xuống ngơ ngác đứng nhìn. Người đàn ông bước đến gần cô:

- Cô đi về đâu? Nếu lên tầu thì theo tôi.

Maria đi theo ông ta về phía cuối đoàn tàu. Cô bắt chước ông ta trèo lên toa, leo vào trong. Toa đen không có ghế, lổn nhổn những đầu là đầu. Maria bị những người phía sau chen ẩy đu đi đu lại, chân bổng lên, đạp bừa phải những cái đầu. Tiếng làu nhàu, chửi bới, đéo xíu ầm ĩ. Có ai đấy huých vào sườn cô một cái rõ đau, cô ngã xuống sàn tầu, nhiều cái chân giẫm lên người cô. Dù vậy, bàn tay cô vẫn không buông mẩu bánh. Có ai đấy nâng cô dậy, nhích ra cho cô ngồi, Maria nhận ra người nâng mình là người đàn ông ban nãy.

Đây là lần đầu tiên Maria được đi xe lửa. Tiếng chuyển động "xình xịch" và tiếng va đụng của các toa đập, dội thành một hợp âm nhức nhối. Cây cối, nhà cửa hai bên đường như biết đi, khoảng trời ở khoang cửa hiện ra chạy loanh quanh như đèn cù. Mọi người trong toa chen chúc như lợn bị nhốt chặt trong lồng. Maria co hai tay ôm bầu vú, khép chặt hai đùi. Người đàn ông bảo:

- Cô ngồi vào phía trong cho khỏi gió. - Nói rồi ông ta nhổm dậy.

Maria nghe lời, xoay người tựa lưng vào thành tàu, người ông khách như tấm chắn, chắn luồng gió lọt qua khe cửa của tàu thốc vào. Thân thể tạm được nghỉ thì cái bụng nhắc bị đói. Cô cầm cái bánh đưa lên mũi ngửi, nước rãi trong miệng đùn cộn đầy lưỡi. Ý định tìm đứa bé để trả lại mẩu bánh tan biến. Cô ăn, miếng bánh lấm cát, lạo xạo trong mồm. Không dám nhai, răng dứt từng miếng một và nuốt chửng.

Tiếng tàu chạy đều đều như ru ngủ. Maria thỉnh thoảng lại tỉnh giấc vì tiếng ồn ào của hành khách lên xuống mỗi khi tàu dùng ở ga. Cô hé mắt một chút rồi lại nhắm nghiền lại. Ông khách bó gối ôm chiếc túi cói, thi thoảng đảo mắt nhìn quanh như trông chừng bọn ăn cắp.

Chương ba - 8
 
282 ❤︎ Bài viết: 1159 Tìm chủ đề

Chương ba - 8​


20261004-131845-4fb21abc26.png


Chương ba - 8

Mít tinh xong, em thoái thác lý do vì mệt không ở lại liên hoan. Thực ra, sau mặt nạ bất cần là tâm trạng buồn nản, chán chường. Về tới nhà, mẹ ôm thằng bé đang ngủ ngồi trên hiên hè. Em lặng lẽ ngồi xuống cạnh, nhìn vào khuôn mặt đứa trẻ. Quá khứ đè nặng trong lòng. Mối tình đầu như chiếc dằm ẩn sâu trong da thịt; thi thoảng nhôi, xé rách miệng làm vết thương nhướm máu. Ý định toan tính đào sâu chôn chặt kỷ niệm không thành. Tưởng cố quên là xong, ai ngờ, càng cố quên, kỷ niệm càng hiện ra, trỗi dậy vò xé tâm can. Cuộc gặp gỡ sáng nay như sự trớ trêu của định mệnh. Em không thoát nổi phải đối mặt với chứng nhân lịch sử của đời mình. Như bức tranh vẽ vội, xóa nhưng không sạch, đốt nhưng tro tàn còn vương lại. Lòng dấy lên nỗi niềm cay đắng. Em thề với mình không chấp nhận gì hết ở con người bạc bẽo ấy.

Càng không thể khi bà Phó chủ tịch vô tình nói.

- Tốt nghiệp Trung cấp nông nghiệp xong, lên huyện công tác. Học xong Đại học tại chức, bây giờ được bổ nhiệm về làm Chủ tịch xã. Nói năng đâu ra đấy! Vùng này mấy ai được như cậu ấy? Vợ đẹp nõn nà, phải cái mãi mà chẳng đẻ đái gì.

Hay bởi tại em ghen? Không! Chỉ có lòng thù hận tràn ngập. Những người đàn ông em đã gặp, em đong vào một ruộc. Tổ trưởng - tay thợ ảnh - ông Trưởng phòng, em tưởng tượng họ như ba con giòi bơi trong tương, nổi phềnh, ngo ngoe, ngọ nguậy. Giòi bọ nào mà chẳng giống nhau? Nếu có khác, chẳng qua được phối giống sinh nở ở từng nơi - ở tương là giòi tương; ở phân là ở giòi phân.. Với em, cả ba là giòi đời! Những con giòi đời còn ngoe nguẩy trong cuộc sống của em đến bao giờ? Cho đến ngày em xuống mồ chăng?

- Sao thế con? Có chuyện không vui à? - Mẹ hỏi.

Em lau vội nước mắt:

- Có gì đâu mẹ!

- Con người ta có số con ạ. - Mẹ an ủi. Trời cho gì mình được nấy. Cứ vui lên mà sống. Có gì đã có bố mẹ. Em nhìn mẹ xót xa. Những tưởng nuôi con lớn để nhờ cậy. Ai ngờ, em mang gánh nặng cuộc đời mình chất chồng lên vai bố mẹ. Ai đã từng phải giả vờ vui mới thấy nỗi khổ đau vì phải lấy hạnh phúc giả ngụy trang lên cuộc đời thật.

Bố về, thấy mẹ con, bà cháu ngồi tụm trên hè, ông hỏi:

- Sao lúc liên hoan con lại về?

- Con mệt.

- Cậu Chủ tịch đến chào bố, hỏi mãi về con.

- Con có gì mà hỏi?

- Cậu Chủ tịch còn gửi cho thằng bé quả quýt đây này. Gớm! Quýt đâu mà to lạ?

Nghe bố cứ một điều "cậu Chủ tịch" hai điều "cậu Chủ tịch", làm em khó chịu, đâm bẳn:

- Bố chỉ thấy người sang bắt quàng làm họ thôi! - Em xẵng giọng, rồi đứng dậy đi vào nhà.

Mẹ mắng:

- Con Linh ăn nói với bố hay nhỉ?

Bố cười:

- Ngày trước thấy hai đứa chơi thân với nhau bố mới nhận. Chứ có phải cậu ta là Chủ tịch mà bố nhận đâu?

Mẹ nói:

- Ông đừng nói chuyện ngày xưa nữa. Bế cháu cho tôi vo gạo. Ông ăn liên hoan no chán rồi, định để cho mẹ con tôi đói hử?

Bố đón đứa bé dênh nựng:

- Nào, ông bế cháu của ông nào. Ăn no chóng lớn, nay mai học giỏi mà đi thoát ly làm cán bộ Nhà nước cho sướng, làm nông dân như ông khổ lắm.

Mẹ bưng rổ gạo ra đến giữa sân, nghe bố nói, đứng lại cười:

- Gớm! Con Linh nghe bố mày nói xem. Từ ngày được phụ trách Hội cựu chiến binh ăn nói ra dáng.

Em ngồi đọc sách trong nhà, mắt nhìn vào sách nhưng tai lại vểnh lên nghe bố nói:

- Cậu Chủ tịch khá ra phết. Nói năng đâu ra đấy. Nghe cậu ấy phân tích về tương lai các khu công nghiệp mà sướng cả tai, thế mà dân làng ta cố chấp chửi là đồ phò mã tốt áo.

- Con nó đã không thích nói đến cậu ta, ông cứ nhắc! - Mẹ ngắt lời.

- Ầy.. Có thế nào tôi nói vậy chứ có tô vẽ gì đâu? Yêu ghét phân minh, xấu tốt rạch ròi, đâu cứ vơ đũa cả nắm thế được. Hai làng bây giờ là một rồi, phải đoàn kết lại thì mới khá được. Đời bố khác đời con khác!

- À, - Bố nói như chợt nhớ. - Cậu Chủ tịch bảo tôi về làm đơn trình bày trường hợp hy sinh của bà ngoại gửi lên để xã xem xét lại.

- Chắc gì được? Hồi trước nhờ mãi ông Chủ nhiệm làm đơn kêu đấy thôi. - Mẹ nói.

- Thì trên đã phổ biến mình cứ làm. Được thì tốt, chẳng được mình cũng chả ân hận. Hồi xưa bận đánh Mỹ, bây giờ chắc Nhà nước có điều kiện?

- Được rồi, mai tôi nói con Linh làm đơn. - Chợt mẹ kêu - Thôi chết! Nồi cá kho cháy rồi. - Sau câu nói và tiếng chân bước thình thịch của mẹ là mùi cá cháy khét lẹt bay vào tận buồng.

Tiếng bố nựng thằng bé:

- Cá cháy mặc cá cháy cháu nhỉ! Hai ông cháu cứ vào buồng kềnh kếnh cang làm một giấc đã. Vài hôm nữa ông cho cháu ra Ủy ban nghe phổ biến chính sách đền bù cháu nhỉ.

Nghe bố nói, em chột dạ. Hay là bố biết chuyện? Em không chắc, nhưng có điều này em biết; khuôn mặt của đứa bé y hệt khuôn mặt Tổ trưởng, đôi mắt màu tro, khóe miệng đỏ và tươi hồng như môi con gái, và đặc biệt là cái trán, hai bên nhẵn và hói, được phân đôi bởi một mớ tóc non tơ mềm mại, quăn tự nhiên rủ xuống. Đối với người từng trải như bố, điều em muốn giấu kín đâu có thể dễ dàng qua mặt được ông. Vả, lối quan tâm trên mức thông thường của Chủ tịch và xem thái độ cố tình xa lánh của em đã mách bảo cho ông một điều gì đó chăng? Bất chợt em nói to thành tiếng:

- Chuyện đâu để đấy! Họp hành hay ăn uống ở đâu, bố đừng vui chuyện mà nói linh tinh.

Không có tiếng bố trả lời. Mẹ từ bếp đi lên:

- Chắc hai ông cháu ngủ tít rồi? Thằng bé bện ông ngoại lắm!

Em đứng dậy, phủi quần, ngó qua cửa sổ; đứa bé gác chân lên ngực ông ngoại; ông ngoại ngoẹo đầu, mồm há, ngáy như kéo bễ.

Em ra sau nhà, ngồi xuống gốc cây ổi. Gió thổi, cành lá rì rào như một lời nhắc, sắp đến giỗ bà ngoại rồi.

Chương ba - 9
 
282 ❤︎ Bài viết: 1159 Tìm chủ đề

Chương ba - 9​


20261004-131950-d03d022ba9.png


Chương ba - 9

Tiếng náo động đánh thức Maria dậy. Nắng kẻ vệt lọt qua thành cửa chạy loang loáng theo nhịp bánh tàu lăn. Hành khách nhốn nháo nhìn về cuối toa. Người đàn ông kiễng chân, nghển mặt, mông đít chìa sát mặt Maria. Màu quần vàng ệch như màu da làm Maria ngỡ ông ta cởi truồng. Maria vịn thành toa đứng dậy. Người đàn ông quay lại:

- Cô thức rồi à? Giữ hộ tôi cái bị để tôi xuống xem có việc gì.

Nói rồi ông đưa cho Maria chiếc bị cói. Có tiếng đàn bà:

- Đàn ông đàn ang biết gì chuyện đẻ đái mà mò tới chỗ ấy không biết?

Thêm một tiếng giễu cợt:

- Biết đâu ông ta biết đỡ đẻ thì sao?

Tiếng cười rộ lên. Người đàn ông lấy tay gạt, rẽ lấy lối đi. Hai từ đỡ đẻ kích thích trí tò mò, Maria ôm cái bị trước ngực bước theo,

Góc toa xe, một người phụ nữ độ tuổi ngoài hai mươi, bụng chửa, nằm vật vã, tóc xòa bết mồ hôi, mặt nhăn nhúm, tay ôm bụng. Một người đàn bà trung tuổi ngồi cạnh, đang xoa bụng người chửa:

- Chọn lúc nào chẳng chọn, lại chọn đúng lúc đi tàu mà đẻ?

- Giời ơi là giời, đau thế này thì chết mất thôi.. Người phụ nữ chửa kêu.

Người đàn ông hỏi:

- Hai bác về đâu?

Người đàn bà trung tuổi dừng tay xoa:

- Tôi cũng như ông, thấy người ta vậy, thì chạy đến chứ quen thuộc gì.

Người đàn ông nghe giọng biết ngay gặp phải người đàn bà đáo để. Ông lựa lời:

- Bà khuyên chị ấy cố nhịn, đẻ ra ở đây thì chết cả mẹ lẫn con.

Người đàn bà trung tuổi nói xấn xổ:

- Nhịn là nhịn thế nào? Nói thế mà cũng nói. Đàn ông các người chỉ biết "ấy".. Là giỏi, chứ biết gì đẻ đái mà nói? Gái này cữ mấy bận biết rồi; có bận, mải làm, thấy chuyển dạ, chửa kịp cởi quần trèo lên giường, thằng cu đã tọt ra suýt thì rơi.

- Tưởng còn ít ngày nữa mới vào cữ, ai ngờ lại sớm thế. - Người chửa rên rẩm kể lể rồi bỗng thét lên - Ối! Ối, ối đau quá các ông, các bà ơi! - Rồi chị ta víu chặt vào tay người đàn ông thở dốc.

Người đàn ông lẩm bẩm thành tiếng:

- Không biết tàu sắp đến ga chưa?

- Chuyến này không đỗ ga xép, mà chạy thẳng đến ga Phúc An mới dừng lại để tiếp nước. - Người đàn bà trung tuổi nói, ra vẻ người bôn ba.

Maria đăm đăm nhìn người đàn bà chửa lăn lộn.

Hình ảnh nhà hộ sinh nơi xứ đạo hiện về trong tâm trí. Cô nhớ đôi bàn tay mềm mại, ướt đẫm nhớt máu của xơ già và tiếng oa oa khóc của những sinh linh bé nhỏ. Đột nhiên như bừng tỉnh, cô xô mọi người giạt ra:

- Làm ơn cho tôi vào. - Quay lại cô bảo người đàn ông - Tìm cho tôi ít giẻ để lau. - Ngồi thụp xuống, cô lấy cái bị cói kê đầu người phụ nữ chửa - Thôi nào.. Thôi nào.. Bác cứ nằm ngửa ra cho dễ thở. Đừng thẹn! Con so hay con dạ?

- Dạ, dạ, con, con, đầu. - Người chửa hổn hển trả lời.

Maria nắn bụng:

- Đầu đứa bé đây rồi. May! Thai thuận! Đừng lo, chị nằm ngửa dạng hai chân ra. - Maria kéo hai chiếc túi của hành khách đi tàu kê vào khoeo chân bà chửa - Đâu rồi?

- Maria hỏi - Đã chuẩn bị giẻ cho tôi chưa? - Cô cởi phắt tấm khăn trùm đầu, nâng mông người chửa, luồn tấm khăn xuống dưới.

Người đàn ông nhìn quanh, bàn tay bụm miệng làm loa gọi:

- Đề nghị bà con ai có mảnh vải hay quần áo thì giúp đỡ. - Ông cởi phăng cái áo đang mặc trên người đưa cho Maria.

Nhoáng cái, có vài tấm áo chuyển tới. Người đàn ông đưa cho cô:

- Thế này đủ chưa cô?

- Để đấy rồi ra ngoài kia! Đàn ông ai lại xem bà đẻ? Phải tội.. - Maria nhắc y như lời xơ già thường nói khi đỡ đẻ.

Người đàn ông đỏ mặt lùi ra phía sau. Chợt Maria gọi giật giọng:

- Này, bác!

Ông ta quay lai. Maria đưa cái áo ông vừa cởi:

- Bác mặc vào, ngần này đủ rồi.

Người đàn bà trung tuổi xuýt xoa:

- May nhá! Phúc tổ bẩy mươi đời thế nào trên tàu lại có mụ đỡ.

- Đúng là buồn ngủ gặp chiếu manh. - Tiếng một người đế vào.

Trong phút chốc, Maria thành mụ đỡ. Mụ đỡ nhìn quanh:

- Lấy cho tôi ít nước.

- Tàu đang chạy thế này thì lấy đâu ra? - Người đàn bà trung tuổi trả lời. Mụ đỡ kéo dải rút quần của bà chửa:

- Ôi vỡ rồi! Đừng thẹn! Đừng kêu! Dành sức, khi nào tôi bảo rặn mới được rặn!

Người chửa mím môi, đầu nhổm lên đặt xuống, vai vặn và vặn vẹo, da bụng căng, mạch máu xanh nổi trông tựa chùm rễ cây:

- Đã thấy nó chưa?

Mụ đỡ hỏi vọng:

- Ai có chanh cho xin một quả!

Tiếng người đàn ông đứng ngoài xướng theo:

- Ai có chanh cho bà đỡ xin một quả!

Mụ đỡ như chợt nhớ:

- Kiếm cho tôi con dao thật sắc!

Những thứ mụ đỡ yêu cầu được người đàn ông chuyển vào. Không chỉ có một mà hàng chục quả chanh và vài con dao được chuyển tới. Tay mụ đỡ lựa, đặt tay vào mom đầu tí xíu nằm thập thò ở cửa mình bà đẻ:

- Tốt rồi.. Bây giờ chuẩn bị nhé! - Mụ đỡ bảo bà đẻ. - Khi nào tôi bảo rặn là rặn. Nào.. - Mụ đỡ hô. Rặn.. Rồi.. Rồi.. Thế.. Thế.. Cố.. Cố nào..

Người chửa bám chặt tay vào đống hàng hóa để cạnh, gồng người, khuôn mặt rúm ró, hai chân co ngược, bàn chân khua khó khăn, tiếng ậm è nặng nhọc như người đẩy thuyền ngược thác - Ự, ựựựự. Ự!

- Ẹẹẹ. Oeoeoeoeoe - Tiếng đứa trẻ đột ngột tức tưởi át cả tiếng tàu chạy. Tiếng mụ đỡ vang lên:

- Giêsuma! Con gái mọi người ơi! Con gái! - Mụ đỡ cầm hai chân dốc ngược đầu đứa bé reo.

Hành khách trong toa nghển cổ nhìn, trút một hơi thở dài. Tiếng khóc của đứa trẻ làm dãn nếp nhăn trên mặt, trả lại sự thanh bình trong lòng họ. - Đứng là trời có mắt! Không hiểu sao trong lúc khó khăn lại có sự tình cờ như vậy! Hay là trời phật đã xếp đặt sẵn?

Mụ đỡ khòng khuỷu tay ẵm đứa trẻ, tay kia gại lưỡi chứ dao - Lưỡi nào cũng cùn! Cắt thế này thì đứa trẻ sẽ đau, mà rốn sẽ không đẹp! - Mụ đã nghĩ. Chợt nhìn thấy cái liềm. Mụ đỡ cầm lên, ngón tay cái chạm hơi lạnh của lưỡi niềm sắc lẹm. Mũ đỡ tì đầu ngón tay vào sát bụng đứa trẻ ngoắt tay: "Xoẹt" một nhát gọn, búi nhau rơi xuống sàn toa. Nhìn máu nhướm từ cuống ruột vừa cắt, mụ đỡ kêu to:

- Ai có chỉ khâu cho xin một đoạn?

- Trên tàu lấy đâu ra kim chỉ? - Có tiếng ai đấy trả lời.

Người đàn bà trung tuổi lấy răng xé tấm áo, rút lấy vài sợi đưa cho mụ đỡ:

- Chỉ ở đây chứ chỉ ở đâu!

Mụ đỡ ngoằng hai vòng thắt cuống rốn, rồi nói với người đàn bà trung tuổi:

- Bổ giúp tôi quả chanh.

Bà trung tuổi xăng xái bổ liền mấy quả, mùi chanh làm miệng bà ứa nước dãi:

- Tôi chưa thấy ai đỡ đẻ dùng chanh bao giờ cả?

- Bảo bổ thì cứ bổ, sao mà lắm nhời? - Có tiếng phụ nữ đứng ngoài nói.

Bà trung tuổi ngoắt lại, nhưng tiếng khóc rật rã của đứa trẻ khiến bà ta quên phắt ý định tìm người vừa nói để cà khịa.

Mụ đỡ vắt nước chanh vào mắt đứa bé, nó gào như phải bỏng. Mụ đỡ nựng:

- Khóc nữa đi con, khóc nhiều càng nở phổi - Mụ đỡ lấy tay gợt nhớt, dùng vải mềm thấm cho khô, quấn nó vào một chiếc áo sạch, rồi đặt xuống cạnh người mẹ. - Ôm lấy cháu!

Người mẹ gượng sức nói:

- Cảm ơn cô. Không có cô hôm nay mẹ con tôi chết. - Ơn Chúa trời chứ ơn gì tôi? - Maria nói giọng đặc sệt giọng xơ già. Nói rồi cô kéo quần mặc cho bà, thu dọn các thứ bẩn thỉu gói vào một gói. Người đàn bà trung tuổi đứng cạnh bảo cô:

- Gói riêng cái nhau để bà ấy đem về nhà chôn ở giọt gianh cho đứa bé được mát da mát thịt.

- Ôi dào! Tàu bè thể này đẻ được đã là phúc rồi còn lo chuyện vớ vẩn! Tàu đang chạy, quẳng mẹ nó xuống! - Có tiếng đai lại.

- Bà bảo ai vớ vẩn? - Người đàn bà trung tuổi vặc - Đã không biết còn gàn dở.

- Bà biết sao lúc nãy không vào mà đỡ?

Người đàn ông đứng ngoài thấy vậy gàn:

- Thôi đi các bác! Có gì mà cãi nhau? Cùng là hành khách cả, ai giúp được gì thì giúp. - Ông quay sang nói với Maria - Cô gói lại, chốc nữa tàu đỗ ga tôi đem bỏ xuống cho.

Người đàn bà trung tuổi ra chừng vẫn còn bực. Mở bao tượng lấy cối trầu ra nghiền lấy nghiền để.

Đứa bé được hưởng hơi ấm của mẹ thôi khóc nằm im. Người mẹ nhờ người đàn ông:

- Trong đẫy của tôi có cơm nắm muối vừng, bác làm ơn lấy giúp.

Mùi muối vừng thơm đánh thức cái đói. Maria cảm thấy như lâu lắm rồi mình mới được ăn. Cô quên cả làm dấu phép, lau tay qua loa, cầm lát cơm chấm vừng ăn ngon lành. Bà mẹ dúi vào tay người đàn ông:

- Không đói bác cũng phải ăn với cô ấy một miếng. Không có vợ chồng bác hôm nay là mẹ con em chết!

Người đàn ông đỡ lời:

- Tôi với cô gấy cùng lên tàu ở ga Gia Lâm. Có quen biết gì cô ấy đâu!

- Thế mà em tưởng bác và cô ấy.. - Người đàn bà trung tuổi góp chuyện, đưa tay quệt nước trầu chảy cạnh mép.

- Chợt có tiếng cười reo:

- À.. Phải rồi, cô này bị thằng culít đánh ở sân ga đây mà! Thế sao ai cũng nói cô ấy bị rồ? Rồ mà biết đỡ đẻ thế này thì ai mà chả muốn rồ?

Maria đã ăn xong, không chú ý tói mọi lời bàn tán. Miệng cô vẫn còn vương vị bùi của cơm và mùi thơm của vừng, và nghĩ: "Không ngờ ước mơ được đón một sinh linh bé bỏng ra đời lại ở trên chuyến tàu này.". - Theo thói quen, cô lần ngực tìm thánh giá, nhưng rồi cô nhớ cô đã quẳng nó đi rồi. Một chút ân hận nhen vào tâm trí, Maria chắp tay lên ngực như muốn hối lỗi và tỏ lòng cảm ơn Chúa trời đã ban cho cô sức lực và trí tuệ để vượt qua thử thách đầu tiên.

Nhìn Maria, chừng như hiểu cô gái kia đang gặp hoàn cảnh éo le, bà mẹ nói:

- Đến ga Phúc An, mời cô xuống thăm nhà để gia đình tôi cảm ơn đã. Muốn đi mai tôi lại đưa ra ga.

- Phải đấy! - Có tiếng phụ họa - Cô xuống chơi cho biết nhà bác ấy.

Maria lưỡng lự nhìn người đàn ông như hỏi. Người đàn ông chủ động:

- Tôi cũng xuống ga đấy mà. Đến ga, cô bế cháu bé, còn tôi đỡ bác ấy xuống. Tàu đỗ ở ga này mười lăm phút để tiếp nước cơ mà.

Tàu chạy từ từ vào ga. Người đàn ông rút chốt đẩy cửa, ló đầu ra quan sát. Trên sân ga lố nhố lính Tây và Cảnh binh đứng. Một người thở dài:

- Chắc lại có chỉ điểm nên lính mới ra đông thế này?

Tàu đỗ, mọi người rẽ lối cho Maria xuống, tất cả hành khách nhìn theo cô thân thiện, trìu mến. Đứa bé được mọi người trên tàu chuyển tay nhau đưa ra cửa. Từng người vạch tấm áo ủ đứa bé lên nhìn nó một chút như gửi lời chào tạm biệt, có người còn cúi xuống thơm vào đôi má gây gây mùi nước ối. Người đàn ông xách hành lý nhảy xuống, ông cầm chiếc bị cói đưa cho Maria, nói nhỏ:

- Cô che kín giúp tôi cái bị, đừng để bọn lính nhìn thấy.

Maria làm theo, cô vắt dọc tấm khăn, buông xõa che kín đứa trẻ và chiếc bị. Mắt cô nhìn, thấy người đàn ông khác với mọi người; lòng dâng trào sự cảm mến không cắt nghĩa nổi..

Người mẹ được người đàn ông dìu, chị ta còn yếu, da trắng xanh vì mất máu và mệt mỏi. Bà khoanh tay cúi chào mọi người, những giọt nước mắt tạ ơn trên mí mắt của chị lăn từ từ trên má rồi rơi xuống sân ga. Nắng chiều tắt hẳn, xa xa, ba ngọn núi nhọn hoắt, in trên nền trời tím sẫm, ngang chừng núi, một dải lửa cháy, cách quãng từng khúc như thân con rồng quấn quanh sườn núi. Người phụ nữ trung tuổi xách cái gói đựng nhau đưa cho người đàn ông;

- Bác nhớ chôn giúp vào chỗ giọt gianh cho cháu nhỏ. - Giọng nói méo xệch.

Tàu hú còi, tiếng vọng đập lại nghe âm vang. Người đàn bà giơ tay lên vẫy. Đoàn tàu chuyển bánh, "xình xịch, xình xịch.." lao vào màn sương chiều lãng đãng rồi xa khuất.

Trời tối nhanh, trên sân ga nhìn đã nhọ mặt người ở cửa kiểm soát, ánh sáng từ chiếc đèn đất treo trên cao tỏa rộng. Nhân viên soát vé mặt cau có như khỉ, cầm vé giơ lên soi vào đèn như soi bạc giả. Bên ngoài, nhân viên thuế vụ lục soát tất cả hàng hóa hành khách gồng gánh.

Nhìn người đàn ông dìu bà đẻ, ai cũng ngỡ họ là vợ chồng. Ông ra vẻ cúi xuống nhìn để bước, nhưng thực ra, ông cố tình đi chậm, có ý tránh con mắt của bọn lính. Maria bế đứa bé đi về phía cửa kiểm soát, ông muốn gọi bảo cô chờ, nhưng ngại bọn lính để ý.

Maria theo hành khách đi ra cửa. Cô bị chặn lại:

- Vé đâu?

Maria ngơ ngác, không hiểu vé là cái gì? Người soát vé gạt cô ra:

- Dẹp, lấy lối cho người khác! - Hắn dùng tay đẩy cô sang bên cạnh. - Có vé mới được ra!

Một gã đội mũ phớt, lưng tựa bờ tường nhà ga, khuất trong bóng tối nhập nhoạng, chiếc kính đen mù mịt như mắt xẩm, liên láo soi mói hành khách xuống tàu. Thấy điệu bộ Maria, đôi mắt đen của gã dừng lại. Linh tính, nghiệp vụ bảo cho gã biết đây là người xứ khác lạc tới. Rời khỏi chỗ đứng, gã lượn qua lượn lại, lấy tay lật khăn trùm đứa bé. Hơi lạnh lùa vào làm đứa bé ọ ọe.. Mùi gây hôi sục vào khứu giác nhạy như chó của gã chỉ điểm làm gã khó chịu:

- Lên tàu từ đâu mà không mua vé?

Maria lắc đầu, gã chỉ điểm nghĩ mình gặp phải một kẻ vừa câm vừa điếc, chửi:

- Đồ con tườu.. Câm điếc mà biết đẻ? Lên tàu biết trốn vé?

Nói rồi - gã lượn về nơi gã vừa đứng, đôi kính đen chuyển sang những khách xuống tàu đang trả vé.

Người đàn ông dìu người đàn bà đến chỗ Maria. Ông nói nhỏ với hai người:

- Không có vé không chừng sẽ lôi thôi to. - Ông đưa cho người đàn bà tấm vé - Chị thông cảm với hoàn cảnh của cô ấy. Nếu cưu mang được thì giúp hộ..

- Thế còn bác? - Người đàn bà hỏi.

- Tôi đã có cách. - Ông dúi vào tay người đàn bà túi hành lý và bọc nhau - Nếu bọn lính hỏi, chị trả lời không quen tôi. - Ông nói với Maria - Cho tôi xin cái bị. À, em tên là gì? Cho tôi biết để nay mai còn tìm.

- Maria. - Cô trả lời lí nhí.

- Maria, Maria - Người đàn ông lẩm bẩm - Cái tên đẹp và dễ nhớ quá - Chợt ông đặt tay lên vai cô, giọng ấm áp - Em đừng đi lang thang nữa! Theo về nhà với bác ấy. - Những ngón tay nóng hổi của ông riết róng lấy vai cô - Thôi, tôi đi Maria nhé! Hẹn có ngày sẽ gặp lại nhau.

- Người đàn ông cầm bị, đi nhanh về phía mấy toa hàng nằm lù lù trên đường ray phụ, rồi lẩn nhanh vào đêm tối.

Gã chỉ điểm quay lại, nhìn hai người đàn bà dìu nhau đi qua cửa soát vé. Gã cau mặt, cố nhớ xem như thiếu một cái gì mà mắt hắn vừa chụp và óc vừa ghi nhận được? - Người đàn bà đi cùng với con mụ câm điếc! Thế còn gã đàn ông đâu? Thôi chết rồi! Hắn sững người tự trách mình mất tập trung. Hắn rảo bước đến chỗ mấy thằng lính đang đứng, tay chỉ trỏ ra hiệu. Maria lo lắng nhìn tụi lính đi về phía các toa hàng.

Thằng chỉ điểm chặn hai người lại:

- Các người có quen người đàn ông đi cùng không?

Mặt Maria ngây thuỗn như không hiểu, còn người phụ nữ trả lời:

- Chúng tôi không biết!

- Không biết mà để nó dìu?

- Thấy tôi không đi được ông ta giúp đỡ chứ quen biết gì?

- Thế hắn ta có nhờ các người cầm hộ gì không?

- Không có gì cả.

Gã chỉ điểm giơ đèn soi:

- Cái gì đây? - Gã hỏi.

Người đàn bà trả lời:

- Không có gì.

Gã chỉ điểm giằng bọc nhau:

- Đưa đây xem. - Hắn thọc tay vào cái bọc, chợt rút vội - Cái gì thế này? - Hắn giơ tay lên - Năm ngón tay nhuộm máu và nước bẩn.

Người đàn bà nói:

- Tôi đã bảo không có gì mà ông còn khám.

Gã chỉ điểm hầm hầm:

- Sơ ý một tý để sổng mất thằng Cộng sản nòi. - Gã bỏ đi, mồm văng lại một câu chửi tục.

Nghe hai tiếng "Cộng sản", Maria hỏi:

- Sao họ ghét Cộng sản thế nhỉ?

- Tại vì Cộng sản hay thương người. - Người đàn bà trả lời.

Người ấy là Cộng sản? - Maria nghĩ - Thế sao Cha Phêrô lại căm thù người Cộng sản? - Khuôn mặt người đàn ông hiền lành hiện ra trong tâm trí cô: Bờ vai, nơi bàn tay riết róng của người đàn ông còn ấm nóng; tai văng vẳng lời người đàn ông ước hẹn.. "Tôi đi nhé! Hẹn có ngày sẽ gặp lại nhau". Maria ghì chặt đứa bé vào lòng, ngước mắt nhìn bầu trời sao. Trong triệu triệu ngôi sao, có hai ngôi sao nhìn Maria nhấp nháy.

Đó là mùa thu Phúc An năm 1936.

Chưng ba - 10
 
282 ❤︎ Bài viết: 1159 Tìm chủ đề

Chương ba - 10​


20261004-132234-33c60b55f9.png


Chương ba - 10

Em xót xa nhìn những thửa ruộng trồng thử nghiệm giống lúa mới. Vừa hôm trước cấy, sáng nay ra thăm đã thấy bị đổ xiêu đổ vẹo. Tiếng vịt quàng quạc báo cho em đấy là nguyên nhân. Bực bội, em xăm xăm chạy đến chỗ con bé chăn vịt có ý định mắng cho một mẻ.

Nhưng khi đến nơi, em ngây người nhìn con bé, nó nhỏ và gầy như một que tăm, mái tóc rối bù, mặt nhem nhuốc, vết bẩn ở mũi chảy ra không được lau đọng thành ngấn trên gò má. Hai ống tay áo thõng thẹo, đung đưa, phơ phất như hình nhân làm bằng giấy đặt trước gió. Thấy em tới, con bé luống cuống:

- Cô ơi, cháu quát mãi mà chúng chẳng nghe. Cháu cháu cháu.. Cháu sẽ bảo bố cháu ra cấy lại..

Nhìn con bé, em quên phắt ý định. Em nói:

- Nhà cháu ở đâu?

Cái vai con bé cụng cưa theo đôi mắt hướng về căn lều nằm giữa vườn có những khóm chuối va một chiếc lều lợp mái rạ phía gần đầm Vực:

- Thưa cô, nhà cháu chỗ có bờ rào bằng dâm bụt kia kìa.

À, em chợt nhớ có ai đã kể: Có người thương binh sau khi bị vợ bỏ đi, bế con ra đầm Vực dựng lều làm nhà, phá đất làm vườn để sinh sống. Dân làng thấy hoàn cảnh của anh ta vậy không ai nỡ nói. Nhìn cạnh nó có cuốn sách và cây bút chì, em hỏi:

- Thế cháu cũng đi học à?

- Thưa cô, nhà trường họ không nhận. Đây là bố cháu dạy. - Con bé trả lời:

Em ái ngại nhìn vào hai ống tay áo nó. Như biết ý, nó nói:

- Cháu viết bằng chân được mà cô. Cháu còn biết cả đuổi vịt cơ!

Rồi như sợ em không tin, nó cặp chiếc que có buộc mảnh vải nhảy lò cò trên bờ ruộng xua đàn vịt. Tiếng "mà cô" của đứa bé tật nguyền nghe não lòng. Cùng với hành động của nó làm tim em nhói lên một cảm xúc vừa thương xót vừa đau đớn. Em lấy khăn mùi xoa lau mặt và lấy tay vuốt mái tóc nó.

- Thế cháu muốn đi học lắm hả? Để cô xin giúp cháu!

- Tại một lần cháu nghe đài kể chuyện về anh Nguyễn Ngọc Ký, thế là tự nhiên cháu muốn được làm như anh ấy. Cô ơi, cháu muốn làm được như anh Ký. Nếu cháu được đi học, cháu chỉ xin ngồi ghé thôi mà cô. Ngồi đất cũng được, cháu sẽ mang chiếu đến.

Giọng nói và ngôn ngữ của con bé vừa trẻ con lại già dặn làm em chạnh lòng:

- Để hôm nào cô trình bày với bà Phó chủ tịch xem có giúp được cho cháu không! Thế bố cháu có đồng ý không?

Con bé nhảy cẫng lên vì vui sướng:

- Thế mà bố cháu bảo người chửa khó tính lắm.

Người bình thường chửa mới khó tính cô nhỉ! Còn cô là cán bộ nhưng cũng làm ruộng nên có chửa cũng khác cô nhỉ? - Giọng con bé trong veo, còn thân người nó nghiêng ngả như sắp ngã.

- Ấy kìa, ngã bây giờ - Em giơ tay ra như muốn đỡ lấy nó.

Con bé cười:

- Cháu còn biết bơi cơ! - Nó nói như khoe - Cháu còn đi chăn trâu thuê đấy cô ạ.

Nghe em kể, bà Phó chủ tịch bảo:

- Cậu ấy người làng Quyết Thắng, bố mẹ chết sớm, đi bộ đội về lấy một cô rõ xinh xắn. Đẻ đứa đầu bị chết lưu, đến con này thì bị tật nguyền. Mẹ nó đẻ xong thấy vậy bỏ hai bố con đi biệt tăm biệt tích. Gia đình xa lánh, anh ta bế con ra đầm Vực phá đất làm nhà. Rõ khổ, chẳng có chế độ gì. Nhà nước ta sao ấy? - Bà phàn nàn, quên cả mình đương chức Phó chủ tịch. - Toàn bộ tuổi trẻ và sức khỏe của họ hy sinh, để cả trong chiến trường rồi. Con vậy, bố thì nay cấp cứu, mai cấp cứu, rõ khốn nạn cái thân! May mà được cậu Chủ tịch can thiệp, hàng tháng đề nghị xã trợ cấp theo diện hộ nghèo chứ không thì đói. Nếu em nhận đỡ đầu thì tôi sẽ nói với các đồng chí trong Ban Giám hiệu nhà trường. Có cái em làm là tự buộc khó cho mình đấy!

Mẹ biết chuyện ca cẩm:

- Làm phúc thì phải tội con ạ! - Nói vậy nhưng hôm nào em ở tổ thí nghiệm về mẹ cũng hỏi - Nó học được không? - Rồi mẹ lẩm bẩm giọng thương xót - Ai đời viết bằng tay đã vất, bây giờ lại dùng chân mà viết.

Bố nói:

- Thà không có thì thôi, còn đè ra thiếu cái này cái nọ hoặc lại chẳng biết gì thì khổ người nuôi.

Em biết nói câu này bố có ý nhớ tới lần đưa mẹ đi đẻ ở bệnh viện Phúc An. Hình như bố mẹ rất sợ nhắc đến chuyện đau lòng ấy. Tuy vậy, đến giao thừa năm nào cũng vậy, cúng xong mẹ đem trang phục trẻ con làm bằng giấy mua ở chợ Phúc An cùng với đồ cúng cho ông bà ngoại ra sau nhà hóa. Em để ý thấy mỗi lần mẹ mua, áo quần năm nay to hơn năm trước. Có lần mẹ nói:

- Giá em nó thành người thì năm nay cũng học cấp ba rồi đấy!

Chắc mẹ nghĩ trần sao âm vậy, đứa em không hình người của em ở dưới âm phủ cũng lớn lên như vậy.

Khi làm giấy tờ nhập học, em mới biết con bé đã mười tuổi, nhưng vì tạng người và chắc bởi ăn uống không đầy đủ nên trông nó còm nhom, yếu dớt. Con bé dùng chân trải chiếu giữa hai hàng ghế ngồi của học sinh. Trông nó viết, cảm tưởng, như đang đánh vật với từng con chữ. Hai ngón chân gân guốc cặp chặt cán bút, chân kia đè lên, mông con bé nhấp nhổm, lưng gập thấp, đầu gối chân nhô cao hơn, ngực của nó tì sát xuống làm căng giãn vạt áo lưng, in từng rẻ xương sườn thành hình cong vát sang hai bên lườn, đôi vai luôn ngọ ngoạy khổ sở; mồ hôi từ thái dương chảy, nhỏ thành giọt tong tong rơi xuống cuốn sách; mớ tóc xém cháy vì nắng trời và gió của đầm Vực, thưa và mỏng xõa xuống trán chạm vào những dòng chữ màu tím. Thi thoảng em đến, đứng ngoài cửa sổ nhìn vào. Nó ngẩng lên nhìn em, nét mặt rạng rỡ, em có cảm giác con bé vui sướng lắm! Và, đôi mắt của nó trở nên không bình thường nữa, giống như công việc nó đang làm, đôi mắt hóa thành hai ngôi sao rực cháy, ngời ngời, chói sáng, cả khuôn hình như bông hoa nắng, được sinh ra từ ánh sáng ban mai ấm áp.

Buổi sáng đi học, buổi chiều nó lùa vịt ra đồng chăn. Lúc rỗi em kèm cặp dạy thêm cho nó. Được cái con bé nhận thức nhanh. Hình như đấng sáng tạo thấy mình vô lý nên cho nó phép bù trừ. Thân thể thiếu một phần, nhưng đôi chân của nó như biết làm phép. Những lúc em bận, nó làm cỏ, tung phân bón ruộng, tháo nước từ bờ mương vào.. Còn bố con bé thì cảm ơn em bằng cách chặt cành rong tre rào phần ruộng thí nghiệm.

Một hôm, bà Phó chủ tịch gọi em sang phòng:

- Em biết chụp ảnh phải không?

- Dạ, thưa cô, cháu biết võ vẽ chứ không giỏi.

- Thì phải dần dần chứ ai mà giỏi ngay được. - Phó chủ tịch nói - Thế này nhé! Tôi được cậu em đi Nhật về cho cái máy ảnh. Nhưng ở trường chẳng ai biết chụp cả. Từ đây lên phố huyện lại xa. Các đồng chí lãnh đạo bên Ủy ban nhờ em có hội nghị quan trọng nào của địa phương thì chụp để làm kỷ niệm hoặc bức ảnh nào giá trị thì lưu vào tài liệu trong nhà truyền thống xã. Như vậy theo ý Linh thế nào?

Một ý nghĩ và hình ảnh Chủ tịch thoáng nhanh trong đầu, em ngập ngừng:

- Thưa cô, cháu bụng mang dạ chửa thế này..

- Ối dào, thi thoảng mới chụp chứ chụp như ở hiệu đâu mà sợ? - Bà Phó chủ tịch nói như đóng sống cho em phải nhận.

Nhưng khi nhìn thấy chiếc máy ảnh nhãn hiệu Canon đẹp như một tạo vật trong tay đã hút hồn em. Em cảm thấy nó là vật dành cho mình. Chiếc máy mà đối với nhiều thợ ảnh chuyện nghiệp còn là niềm ao ước.

Ngay chiều hôm ấy, em được lệnh sang phòng họp Ủy ban xã chụp ảnh hội nghị. Chủ tịch xã mon men tới:

- Linh vào uống nước.

Em quay ngoắt không thèm trả lời, lẳng lặng chụp. Xong việc em ra đầu hè đứng, mặc cho ông nhân viên Ủy ban mời thế nào cũng không vào văn phòng. Thấy vậy, bà Phó chủ tịch góp ý:

- Dù không hợp nhau nhưng vì quan hệ công tác nên em cần tỏ ra là người có văn hóa. Nhất là mình lại là cán bộ dưới quyền.

Em cãi lại yếu ớt:

- Cháu đang có chửa nên ngại vào chứ có gì đâu cô?

Phó chủ tịch khuyên:

- Muốn gì cũng phải đối mặt với sự thật Linh ạ.

Linh tính như mách bảo em rằng bà Phó chủ tịch biết chuyện quan hệ giữa em với Chủ tịch xã. Chẳng gì hai người cũng là họ hàng với nhau. Chủ tịch xã gọi Phó chủ tịch là cô họ. Quả vậy, trừ những ngày em ra đồng, còn hầu như ngày nào em có mặt ở phòng, Chủ tịch xã cũng lấy cớ sang chỗ em xin số liệu hoặc hỏi tình hình về phát triển nông nghiệp. Nếu không, thì Chủ tịch cũng cố tình lấy lý do sang phòng Phó chủ tịch. Phòng làm việc của em nằm sát với phòng bà Phó chủ tịch nên đi qua chỗ em mới sang đấy được. Dẫu không muốn em vẫn phải nhìn, mỗi lần thoáng nhìn thấy, em quay ngoắt vào phía trong có vẻ như không để ý. Nhưng lâu mãi thành thông lệ, như một thói quen khó quên, nếu hôm nào Chủ tịch không sang là em lại thấy như thiêu thiếu. Và như cố tình, cuộc họp nào Ủy ban cũng yêu cầu mang máy sang chụp. Dần dần em không tránh né nhưng cố tình không tiếp chuyện. Thậm chí, có lúc đứng trước mặt, coi như không có, thậm chí lúc đi em còn đung đưa cái bụng như trêu ngươi. Em đã chạm vào đúng nỗi đau nhất của anh ta: Lấy nhau lâu rồi mà vợ vẫn không có thai.

Nhờ có chiếc máy ảnh, cuộc sống của em được cải thiện. Thấy em có máy, bà con hai làng có việc cần chụp ảnh đều đến nhờ. Tuy còn kỳ thị làng nọ làng kia nhưng việc em nhận đỡ đầu cô bé bị tật nguyền nên dân cả hai làng coi em như một ngoại lệ còn chuyện xích mích của hai làng vẫn âm ỉ.

Chương ba - 11
 
282 ❤︎ Bài viết: 1159 Tìm chủ đề

Chương ba - 11​


20261004-132345-93ea783e01.png


Chương ba - 11

Ngày giỗ, tôi theo mẹ và dì mang lễ vào chùa. Từ sau tuần cúng thứ bảy, mẹ mời các vãi làm lễ cầu siêu rước vong hồn bà Lang và Thầy Mo vào chùa Nhuế. Có người hỏi mẹ:

- Sao không đưa hồn hai người lên chùa Cẩm hay chùa Thập Phương có phải vừa to vừa đẹp hơn chùa làng Nhuế không?

- Lúc sống bà Lang nương nhờ chùa Nhuế. Sư già muốn đưa vong linh ông bà về đây cho gần gặn, sớm khuya hương đèn cho ấm cúng.

Không biết ngôi chùa xây dựng từ đời nào? Những gốc duối móc ken nhau, già đáu đía, thân mốc thếch, vỏ xù xì, cành ngắn cũn, lá xanh ngắt. Sân chùa rêu mọc kín, chừa lại một vệt đi nhẵn thín, cánh giại che nắng bằng tre, đan lóng mốt thưa huếch hoác. Không khí lặng tờ, quạnh hiu, rờn rợn như trong truyện trinh thám tả.

Nhìn cảnh chùa cô quạnh, mẹ nói:

- Từ ngày Tây cấm hội họp, nghe chừng chùa vắng. Con nhang đệ tử đến hương khói ít?

Dì đẩy cửa, ngó cổ nhòm vào, tiếng cửa kẹt làm tóc gáy tôi dựng đứng. Có tiếng khản đục trong buồng vọng ra:

- Ai đấy? Người làng hay khách thập phương đến vãn chùa?

- Cụ ơi, con đem hương hoa, nhờ cụ nhang đèn, siêu sinh tịnh độ cho bà Lang và Thầy Mo - Mẹ trả lời.

- Thế hử? Mở rộng cửa ra cho sáng.

Dì mở cửa, ánh sáng ùa vào. Trên mái, ánh nắng xuyên qua những chỗ ngói thủng, chiếu rọi, như hàng trăm tia hào quang phủ lên mình Phật Bà nghìn mắt nghìn tay tọa lạc trên đài sen và những đồ thờ rực rỡ sơn son thếp vàng. Dì thắp dèn, đốt nến, mẹ sắp sửa đồ cúng. Một lát, tiếng mõ nhặt khoan và lời lầm rầm đọc kinh của sư già. Mẹ, dì và tôi quỳ đằng sau. Tôi cảm tưởng, trên rương thờ, Đức Thánh Mẫu đang lắng nghe tiếng ngâm nguyện của mẹ và dì. Trong óc tôi, hình ảnh những giây phút cuối cùng của bà Lang và Thầy Mo hiển hiện - Mỗi khi nghĩ tới, tôi ân hận vì thái độ kỳ thị, vô ơn của mình.

Tụng kinh xong, ba người ngồi uống nuớc, sư già chép miệng:

- Giá ngày xưa bà Lang nghe lời tôi xuống tóc, tu thân tĩnh tại ở chùa thì đâu nên nỗi. Có nhẽ bà ấy còn nặng lòng với bên đạo? Chẳng vậy hưởng lộc chùa bao nhiêu vẫn không quên làm dấu. Đuợc cái, ngày rằm, mồng một siêng lễ lạt lắm. Bà ấy nói với tôi: "Bạch cụ, con nghiệm bên giáo hay lương đều khuyên nhủ người ta làm điều thiện. Kẻ nào ăn ở hai lòng mới có dã tâm phản lại rời răn của Đức Chúa, phản lại lời dạy của Phật Tổ". - Sư già đưa cho mẹ và dì mỗi người miếng trầu - Nói cho bằng tâm, chùa này được như bây giờ cũng nhờ tiền cắt thuốc, đỡ đẻ cung tiến của bà ấy. Nam mô A Di Đà Phật. Từ ngày bà Lang theo hầu Phật, cây thuốc sau vườn chùa chẳng ai chăm nom, còn mỗi cây ngải cứu chẳng cần ai chăm bón mà cứ mọc tràn lan.

- Con nghe nói bà Lang ở với cụ ăn lộc giời, học được nghề cứu thế từ cụ? - Dì hỏi.

- Tôi truyền cho bà ấy một, bà ấy học thiên hạ mười. Đi đâu thấy bài thuốc hay lại mang về ghi ghi chép chép. Ai phải bệnh nào chữa trị bệnh ấy. Con người thế mà chết oan chết ức. Thôi, âu cũng là số phận. Bà Lang sớm được về với Đức Phật ngày nào đỡ phải nhìn thấy cảnh trái ngang nơi trần thế!

Lời của sư già thật khó hiểu. Những người đáng kính và giàu lòng nhân ái như bà Lang và Thầy Mo có tội tình gì mà không đáng sống? Tại sao Đức Phật nghìn mắt nghìn tay, quyền phép vô song, uy vũ khôn lường không hóa phép ra tay giết hết lũ quỷ Tây đội lốt người, từ đâu sang đây ức hiếp những người dân vô tội?

Trên đường về, tôi hỏi mẹ:

- Sao ngày đó mẹ không cho bà Lang ở nhà mình?

Mẹ đáp:

- Lúc ấy cô Maria chưa làm nghề đỡ đẻ và làm bà Lang. Hàng ngày cô nấu cơm thợ, giặt giũ giúp mẹ và dì. Nhưng thằng chỉ điểm nghi ngờ, cho người theo dõi, thấy cô Maria không câm điếc, nó tư giấy cho Lý trưởng bắt cô lên đồn Cảnh binh tra xét. Nó buộc tội cô giả vờ câm điếc để lừa mật thám và lính Tây đánh tháo cho người đàn ông Cộng sản chạy. Bố phải mất bao nhiêu tiền lo lót cô ấy mới được thả. Cô Maria không có giấy tờ tùy thân, Lý trưởng không cho cô ở. Để được yên thân, mẹ nhờ sư già chùa Nhuế cho cô vào nương nhờ cửa Phật, hàng ngày phụ sư già bốc thuốc, học nghề, có người đẻ gọi thì làm mụ đỡ.

- Từ ngày ấy có thấy người đàn ông tìm về không chị? - Dì hỏi.

Mẹ đáp:

- Cho tới ngày Việt Minh cướp Chính quyền vẫn không thấy anh ta về. Mấy lần có người trong làng đánh tiếng muốn hỏi cô làm vợ, nhưng cô ấy nói với họ: "Con gái bên đạo không lấy hai chồng. Em tin thể nào rồi anh ấy cũng tìm về. Anh ấy chẳng hẹn hò rồi đấy thôi?"

Đêm ấy ngủ, tôi mơ:

Bà Lang dắt tay người đàn ông về nói với mẹ:

- Anh chị làm lễ cưới cho chúng em. Trong mơ, đám cưới của hai người được tổ chức ở phố cũ; nhà tôi còn nguyên lành như lúc chưa xảy ra chiến sự. Rạp cưới chăng đèn, kết hoa rực rỡ. Người các phố ở thị xã Phúc An đến đông nghịt. Ngoài sân, bố và tốp thợ ở xưởng, cởi trần thịt lợn, thui bò. Dưới nhà ngang, mẹ và mọi người tấp nập giã bánh dày, thổi xôi, đóng oản. Lũ trẻ con mặc quần áo mới chạy xung quanh hát trêu: "Cô dâu chú rể, đội rế lên đầu..". Pháo nổ giòn rã, ông Thầy Mo dắt tay bà Lang đi giữa những tiếng hoan hô và tiếng hò reo náo nhiệt của mọi người. Ông Trưởng làng cùng dân xứ Châu Lam dắt trâu bò, đồ lễ, khênh kiệu đến rước dâu, ai nấy tươi cười, hát ca, nhảy múa rộn ràng..

Tôi len lỏi đi tìm người đàn ông Cộng sản và cô Maria nhưng không thấy. Tôi òa khóc nức nở bắt đền. Mẹ cười, nói:

- Con nhìn xem, hai người ở kia thôi.

Ông Thầy Mo hóa thành người đàn ông Cộng sản, bà Lang biến thành cô Maria. Cả hai người nắm tay nhau, người đàn ông mặc quần áo, diện như cậu Phán trên Tòa Chánh sứ, cô Maria mặc áo tân thời như nữ sinh trường con gái. Nụ cười rạng rỡ trên khuôn mặt thiên thần. Đứng quây tròn xung quanh là bộ đội và tự vệ. Tất cả mọi người vỗ tay bắt nhịp hát, tiếng hát bay vút, ngân nga như tiếng chuông nhà thờ mỗi khi chiều buông..

Bỗng nhiên, ông Trưởng làng xuất hiện hô vang:

- Bà con ơi, bọn Tây đến.. Bọn Tây đến.. - Kèm vào đây là tiếng quát tháo ầm ầm.

Tôi choàng dậy, mặc dù vậy, trước khi tỉnh hẳn, tôi còn kịp mơ thêm một chút: Cô Maria dắt tay người đàn ông của mình bay thẳng lên trời..

Dụi mắt, tôi ngơ ngác, rồi nhận ra lão Lý trưởng Phúc An cầm tờ giấy, đứng cạnh là quan Chánh cẩm, đầu đội mũ phớt, mắt đeo kính đen, mặt bự áo ka - ki cộc tay màu vàng cho trong quần, bụng phồng to, lặc lè vòng thắt lưng nhà binh. Mấy tên lính đang lục lọi, khám xét. Những thứ trong nhà tôi bị chúng lật lung tung bành. Dì đến giường bế tôi, một thằng lính quay ngang khẩu súng lùa hai dì cháu:

- Cút ra ngoài kia. - Hắn bật cười nhìn theo bước chân cà nhắc của dì.

Bố, mẹ, và mọi người trong nhà bị dồn ra đứng ngoài hè. Người hàng phố đứng xem đông nghịt. Một tên lính quát:

- Xê ra cho các quan tìm đồ quốc cấm.

Lão Lý trưởng từ trong nhà đi đến chỗ bố đứng:

- Có tài liệu hay truyền đơn gì của Cộng sản thì nộp. Đừng để đến khi các quan khám được thì tù mọt gông.

- Bẩm ông, - Bố nói - Nhà tôi làm gì có gì mà nộp.

Lão Lý trưởng ngoắc ngoắc chiếc ba toong:

- Hừ.. Tùy ông thôi! - Lão quay ngoắt, nói vọng vào nhà. - Khám thật kỹ.

Từ ngày ở ngoài vùng tự do về, Lý trưởng nghi bố làm gián điệp cho Việt Minh. Lão cầm giấy đến nhà:

- Quan Chánh cẩm yêu cầu những gia đình dinh tê mỗi lần ra ngoài phạm vi tỉnh Phúc An phải trình Chính quyền sở tại.

Nhiều gia đình đi tản cư bỏ về, sợ, phải đem quà lễ đến nhà lão. Riêng bố tôi không làm vậy nên lão thù. Bố tôi nói với ông Ký ga:

- Làm thế không nhẽ người quân tử phải lụy kẻ tiểu nhân?

Thế là kẻ tiểu nhân hôm nay được ngày đắc chí. Lão Lý trưởng xông vào, cùng tụi lính bới móc, lục lọi từng khe, kẽ và các đồ đoàn mà lão và bọn chúng nghi ngờ. Khi một tên lính định cạy nắp hòm gian kê làm bàn thờ, bố nói:

- Trong ấy có rắn độc đấy!

Tên lính Pháp không nghe hoặc giả nó không biết tiếng Việt, gạt đôi cây nến gỗ rơi xuống đất rồi bật nắp, thò tay vào.. Bỗng nó rú lên hãi hùng, tay rút vội, mặt xám ngoét:

- Ố la la.. Ố la la.. - Khẩu súng tuột khỏi vai, tay ôm tay lăn lộn dưới đất gào khóc.

Bố nói to:

- Tôi đã nói trong hòm có rắn độc mà các vị không nghe.

Miệng hòm, vài ba cái đầu rắn nhô lên, ngóc cao, phùng bạnh mang, giương đôi mắt vô cảm, lưỡi phóng liên tục, trông như những tia chớp màu đen. Bọn lính cùng một lúc ồ lên chạy giạt ra, đứa nọ xô vào đứa kia. Lão Lý trưởng nháo nhào chạy, vập phải quan Chánh cẩm, chiếc ba toong vô ý đập bốp vào lưng quan. Quan Chánh cẩm quay phắt lại, rút khẩu súng bé xíu chĩa vào mặt Lý trưởng:

- Đồ con lợn! Bắt nó đậy vào.

Quả thật, dân Phúc An đồn quan Chánh cẩm nói tiếng An Nam sõi hơn người An Nam không ngoa. Nghe lệnh, lão Lý trưởng quát:

- Quan lệnh nhốt rắn lại.

Mẹ đi vào, mấy cái đầu rắn hổ mang cụp lại, lủi xuống đáy. Mẹ nhặt nắp hòm đậy lại. Quan Chánh cẩm há hốc mồm ngạc nhiên, rồi bỗng nói to:

- Đàn bà An Nam tốt! Tốt!

Quan Chánh dùng tiếng "tốt" thay cho tiếng "giỏi" để khen mẹ.

Lúc này, tên lính bị rắn cắn được khiêng ra đường, nằm sõng soài, mặt mày tím tái, xanh như vỏ quả đu đủ; bên cánh tay bị rắn cắn sưng to vì dây buộc ngăn nọc độc chạy vào tim. Bố lật bàn tay, lấy dao nhíp rạch vết rắn cắn cho rộng, rồi áp miệng hút mạnh. Những người đứng xem ghê sợ nhắm mắt lại. Bố nhổ máu đen lẫn nhớt rãi đầy ra đất.

Được một lúc, tên lính thôi kêu, hơi thở đều, mắt lim dim. Lão lý trưởng hỏi:

- Liệu thể có khỏi không?

Bố không trả lời, hai tay nhúm nắm lá dì vừa giã, đắp vào chỗ rắn cắn, rồi bảo:

- Dì buộc hai nút cho chặt - Bố dặn tên lính - Mỗi ngày đến đây thay hai lần lá. Làm hai chục ngày là khỏi.

Tên lính nhổm dậy, quỳ gối, chắp hai tay lễ. Bố nói:

- Tôi cứu chữa vì cái tình con người chứ đâu vì sợ.

Lão Lý trưởng hầm hừ:

- Lại định huyên truyền phải không?

- Ngu! Tuyên truyền chứ không phải huyên truyền. - Quan chánh cẩm mắng Lý trưởng. - Tiếng mẹ đẻ còn không thuộc.

Những người dân phố quay đi, giấu nụ cười khinh bỉ kẻ tay sai ngô ngọng.

Nhưng, không phải việc làm nào dẫu là tốt cũng được mọi người nhìn nhận một cách quang minh chính đại. Việc bố chữa rắn cắn cho người lính Tây đồn ra khắp tỉnh, dân trong thị xã có kẻ nhìn bố với con mắt miệt thị và khinh bỉ. Thấy bố băn khoăn, mẹ nói:

- Cứu một người phúc đẳng hà sa.

Dì đồng tình:

- Mình ăn ở thế nào đã có giời, ai nghĩ thế nào thì nghĩ.

Người lính sau khi được bố chữa khỏi tỏ ra ân cần với gia đình tôi lắm. Chủ nhật nào cũng mang bánh mì và pho mát cho chị em tôi. Thấy vậy người hàng phố ra nguýt vào lườm, có kẻ còn đổng đảng:

- Tưởng thế nào? Bỏ Việt Minh về ôm đít Tây.

Bố nhờ ông Ký ga phiên dịch nói với anh ta:

- Việc cứu chữa cho anh là vì tình người. Còn bây giờ khỏi rồi, anh đừng đến nhà nữa.

Người lính Pháp nói:

- Tôi sang đây làm nghĩa vụ vì nước Pháp. Chẳng may bị nạn. Ông bà là người sinh ra tôi lần thứ hai. Tôi muốn làm con nuôi.

Bố lắc đầu không chấp nhận:

- Tôi là người Việt Nam máu đỏ da vàng; anh là Tây da trắng, không cùng chủng tộc, nuôi được nhau ngày nào đâu mà nhận.

Ông Ký ga thay bố nói với người lính Pháp một hồi. Cuối cùng chừng như anh hiểu, nhưng tỏ ra lưu luyến lắm, mắt đỏ hoe như muốn khóc. Khi anh về rồi, ông Ký ga nói với bố:

- Anh ta kể với tôi: Anh ta hết hạn rồi nhưng không được về mà sắp phải ra trận.

Một hôm, anh ra nhà mang theo rất nhiều kẹo bánh cho chúng tôi, và tặng bố mẹ tôi một bức ảnh. Trong ảnh một người phụ nữ trẻ, da trắng tóc vàng, mắt xanh ngả đầu tựa vào ngực anh. Anh nói tiếng Việt chọ chọe:

- Vợ tôi đấy!

Sau lần ấy cả nhà tôi không gặp lại anh nữa. Nhưng bức hình của anh tặng gia đình tôi lại gây cho bố tôi rất nhiều phiền phức. Đấy là chuyện về sau, còn bây giờ xin độc giả cùng tôi quay lại những gì đang xảy ra.

Một hôm thầy giáo lên chơi với bố. Sau một tuần trà, thầy giáo nói:

- Có nhẽ tôi phải đóng cửa trường. Hôm qua có giấy báo gọi khám quân dịch.

- Thầy tuổi vậy mà Chính phủ vẫn bắt? - Bố hỏi.

Thầy giáo thì thào:

- Quân đội Pháp đang xây dựng cứ điểm ở Tây Bắc. Thiếu người, tổng động viên, không đánh nhau thì làm phu - Rồi thầy giáo nói rất nhỏ vào tai bố.

Thầy giáo về, bố đem chuyện nói lại với mẹ. Mẹ hỏi:

- Phải đóng cửa trường à? Thế còn chuyện học hành của cu Thừa nhà ta?

- Ở nhà chứ biết làm thế nào. Muốn đi học phải chờ hết năm.

Đối với bố, con cái không được học là một thiệt thòi, nhưng với tôi không phải đi học lại là một điều thích thú. Thấy thái độ tôi vậy, thằng "tên" lên tiếng miệt thị:

- Đồ lười, không chịu động não. Nay mai lớn lên chỉ chuyên ăn bám, rồi hổ danh tên tớ.

Dào ơi, tên với tuổi! Mặc, cần gì! Tôi cầu trời khấn phật cho thầy giáo phải đi lính. Nhủ vậy, rồi tiện chân đá cái túi đựng sách bay vào gậm giường như quả bóng. Nếu thầy giáo đi lính tôi sẽ thoát cái cảnh suốt buổi hơi một tý là:

- Trò Thừa ngửa tay ra! - Năm thước vì tội viết ẩu.

- Trò Thừa úp tay xuống! - Năm roi vì tội không thuộc bài.

- Trò Thừa quỳ gai mít! - Vì tội đánh nhau gây mất trật tự trong lớp.

Nếu không phải đi học, tôi trở thành người tự do, muốn đi đâu chơi chả được.

Tôi nói với thằng "tên" :

- Cậu cần danh, cần tiếng chứ tớ chỉ cần ăn và chơi thôi.

Vài ngày sau, điều tôi mong đã thành sự thật. Nhưng khác là thầy giáo không đi lính mà bỏ trốn. Còn đi đâu không ai biết. Chỉ thấy khắp thị xã dán cáo thị truy nã và lão Lý trưởng dẫn lính ngồi trên xe gíp chạy loạn phố, con chó béc giê chồm hỗm ngồi cạnh, tai con chó dựng đứng cao hơn cả đầu lão. Chiếc xe chạy loạn xị ngậu khắp phố Phúc An rồi đỗ xịch trước cửa nhà tôi, con chó nhảy xuống trước hung hăng lôi lão Lý trưởng xềnh xệch theo sau. Mấy tên lính sục thẳng vào nhà, nhìn sau, ngó trước. Lý trưởng ngồi phịch xuống phản, hỏi:

- Có người bẩm với quan đồn: Trước khi đi anh ta có đến gặp ông bà?

Bố trả lời:

- Tôi với thầy giáo cùng ở trong Hội tế; con tôi là học trò của thầy. Chúng tôi đi lại chơi với nhau cũng là lẽ thường.

Lý trưởng gườm gườm nhìn bố, con chó béc - giê ngồi cạnh chỉ chực chờ lệnh:

- Nếu tôi biết lão giáo trốn đâu mà ông cố tình che giấu thì đừng trách chúng tôi - Lão nói thêm - Thầy giáo gì mà toàn huyên truyền tư tưởng Việt Minh Cộng sản? - Rồi lão hằm hằm dọa. - Sáng sớm ngày mai ra pháp trường mà xem xử tử Cộng sản.

Nghe lão Lý trưởng nói ngoài trường bắn hôm sau có vụ xử tử Cộng sản, anh trai nhảy cẫng lên:

- Mai rủ mấy thằng trốn học đi xem mới được.

Tôi đòi theo, anh dọa:

- Em còn nhỏ, ra đấy tụi lính đuổi chạy không kịp nó bắt được thì đi tù. - Và anh nhét cho tôi một nắm kẹo cao su và mấy quả bóng bay - Ở nhà, bao giờ lớn anh cho theo.

Anh trai biết thóp tôi sợ bị tù lắm và tưởng cho tôi kẹo là tôi sẽ sướng mà không đòi đi theo anh nữa.

Quả thực hồi bé cứ nghe tiếng "tù" là tôi sợ. Chả là hồi được ba tuổi, một lần lính Tây giải một xâu tù nối nhau bằng dây xích thành chuỗi đi qua cửa nhà. Chân tay của người tù bị xích. Sợi xích to chằng qua hai chân, làm cho những bước đi nặng nề, mỗi lần bước tiếng xích kêu loảng xoảng. Mắt người nào cũng hõm hòm hòm, đầu cạo trọc lốc, da sần sùi, mụn mọc nham nhở chỗ trắng chỗ đỏ. Thi thoảng mấy người lính áp giải giơ dùi cui quật xối xả vào đầu, vào mặt, máu me chảy ròng ròng. Tôi cùng lũ trẻ lấm lét nhìn. Từ đó, đêm nào tôi cũng mê, rồi vùng dậy chạy, mồm la hét thất thanh. Mẹ sợ tôi bị mắc bệnh tâm thần phải đến nhà lão Tầu ô cắt thuốc cho tôi uống mới đỡ bệnh.

Nhưng chuyện xử tử Cộng sản lại kích thích trí tò mò của tôi. Vả, bây giờ tôi đã lớn, những đứa bằng tuổi anh trai ở phố tôi "mày, tao" hết. Cứ theo chuyện anh trai kể, thì hồi anh trai cùng hai chị trốn nhà đi xem người chết, rồi bị nước lụt cuốn thì anh trai còn bé hơn tôi. Thế mà bây giờ lại ra về.. Có cái là anh, tôi phải chịu, nhưng kiểu "cậy lớn" là không được! Nghĩ vậy, tôi nhổ toẹt thanh kẹo cao su ra khỏi miệng, ném phắt mấy quả bóng bay vào gậm giường và hậm hực nghĩ cách. Thằng "tên" nghe chừng cũng muốn đi xem nên im lặng, nhưng nó không kìm nổi hồi hộp, tôi nghe rõ tiếng tim đập thình thịch, tôi bảo:

- Liệu ra đấy nhìn thấy máu cậu có tè ra người tớ không đấy?

Thằng "tên" ngóc cổ ra đối lại:

- Chẳng biết đứa nào vãi tè ra trước đấy! Có còn nhớ lần bị "Tào Tháo đuổi" ở trong rừng không? Lúc ấy đứa nào sợ chết?

Tôi cáu:

- Cậu có câm đi không? Đồ tiểu nhân! Chuyện cũ rích rồi mà còn nhai nhải nhắc đi nhắc lại.

Thấy tôi nổi khùng, thằng "tên" thụt cổ vào. Tôi không thèm nói nữa. Vả, tôi còn phải tính làm sao ngày mai không ngủ quên để khỏi nhỡ giờ xử tử. Tôi nghĩ mình sẽ phải dậy trước và ra khỏi nhà trước anh trai, nếu để ai bắt gặp thì đừng hòng mà đi.

Đêm ấy, tôi cố tình nằm xa dì. Thấy vậy, dì cười:

- Cu Thừa hôm nay lại không thèm dì xoa lưng cho cơ đấy!

Tôi im re, làm sao dì biết được âm mưu của tôi? Buổi chiều, trèo lên cây khế, tôi vặt lấy hơn chục quả đem về giấu dưới gậm giường. Tôi còn tước một sợi dây chuối rõ dài, lừa lúc đi ngủ buộc vào chiếc dép của anh trai rồi luồn qua giát giường cầm sẵn vào tay, để phòng nếu có ngủ quên khi anh trai dậy xỏ chân vào dép tôi sẽ biết liền. Tôi căng mắt cố chống đỡ cơn buồn ngủ. Thi thoảng lại cắn một miếng khế. Khế non, vừa chát xít lại vừa chua gắt làm răng và lưỡi tôi ê ẩm. Đầu tiên còn được, sau, nhấm được một lúc trong miệng trơ khấc, mất hết cảm giác, nước khế vào miệng chẳng còn thấy mùi vị gì nữa, mắt cứ díp lại. Sợ ngủ quên, tôi vùng dậy mở cửa sau đi đái. Nhưng ra ngoài trời tối om, cả bầu trời đen kịt, gió thổi xào xạc, những thân cây chuối và cảnh vật trong vườn sau trở nên huyền bí, khoảng vườn hẹp mà sao thấy mênh mông? Óc tôi lại tưởng tượng ra những hình ảnh kinh dị đầy ma quái, tôi vụt chạy vào nhà, trèo vội lên giường ôm lấy dì. Tiếng động gây cho chiếc giường lâu ngày cọt kẹt, cọt kẹt. Dì cằn nhằn:

- Uống cho lắm vào..

Sợ dì phát hiện ra âm mưu, tôi lật ngửa, một tay xoắn vòng đây buộc dép vào tay, tay kia vắt lên tran, mũi khò khò giả vờ ngáy, còn óc lẩm nhẩm bài học thuộc lòng trong sách Tân quốc văn mà tôi thuộc nhất:

"Trần Bình Trọng anh hùng ngàn thu bước

Đem tấm thân bẩy thước, chống sơn hà

Mạng lo đền nợ trước trả thù nhà.

Trong tâm khảm nặng tình yêu Tổ quốc.

Nhưng than ôi! Tài trai dầu thao lược

Hùm thiêng kia khôn địch một bầy hồ

Vì sa cơ nên bị bắt cầm tù.."

Đọc đến đấy, tôi tưởng tượng ngày mai ra pháp trường sẽ gặp được một người Cộng sản, hiên ngang như ông Trần Bình Trọng nhìn vào kẻ thù mà tuyên bố:

* * * "Quân bay lầm! Dù dâng cả ngai vàng

Không lay chuyển lòng ta thờ Tổ quốc

Nếu còn sống ta làm dân đất Việt

Chết ta thề làm quỷ nước Nam ta.."

Tôi chưa gặp người Cộng sản, nhưng tôi tin người Cộng sản nào cũng tốt như người Cộng sản đã hẹn với cô Maria và dũng cảm như ông Thầy Mo đã xua tà ma cứu sống tôi trong rừng núi Châu Lam. Cứ thế, tôi ư ử đọc chán, tôi cố nhớ xem có bài nào nữa không, nhưng chẳng có bài nào tôi còn nhớ cả. Suốt mấy năm học, có mỗi bài này là tôi thuộc nhất. Chả thế mà khó tính như thầy giáo cũng phải khen và cho tôi điểm mười.

Thấy tôi vậy, dì làu nhàu:

- Ngủ đi, hôm nay giở chứng à? Có nghe thằng anh mày ngáy như kéo bễ không?

Bên kia giường đối diện, anh trai thở rõ to. Tôi có cảm tưởng như anh trai đang thức và cũng giả đò ngáy. Tôi thôi đọc, nằm tưởng tượng ra cuộc xử tử ngày mai để chống lại cơn buồn ngủ. Thằng "tên" cũng hồi hộp không kém gì, nó luôn luôn trở mình có ý bảo với tôi rằng: Ta cũng đang thao thức đây! Từ chiều, nó có vẻ biết điều, thấy tôi giở mọi thủ đoạn chống buồn ngủ nó không nói, chắc nó không dám gây sự gì sợ tôi tự ái bỏ cuộc là cả hai thằng mất xem. Nó thủ thỉ:

- Cậu mệt cứ ngủ đi, có gì tớ sẽ gọi.

Nghe vậy, tôi có phần cảm động về sự quan tâm của nó, nhưng nghe chừng không tin tưởng lắm, tôi nói:

- Tớ mà ngủ rồi thì có thánh cũng chẳng đánh thức nổi?

Thằng "tên" im lặng ra vẻ xác nhận điều ấy là đúng. Từ ngày mẹ tôi theo đơn thuốc của lão người Tầu, lấy Thần sa hấp với tim lợn, cho tôi ăn để chữa tính ngủ mê, tôi ngủ đúng như con vật tôi cầm tinh. Chả thế sáng nào đi học chị tôi phải hò tôi như "hò đò sông cái" (chị tôi nói vậy) tôi mới tỉnh. Tôi vừa nghĩ vừa lơ mơ, thấy vậy thằng "tên" hỏi:

- Cậu ngủ đấy à?

- Đâu? - Tôi lẩm bẩm rồi lại thiếp đi.

Trước khi lịm hẳn tôi còn nghe thằng "tên" ca cẩm:

- Đúng là cầm tinh Trư Bát Giới, vừa nói nhem nhẻm đã "tít" ngay được.

Đang say sưa, bỗng có ai vằng mạnh tay. Tôi choàng bật dậy, ngơ ngác không hiểu mình đang ở đâu? Chiếc dây buộc ở tay nhắc tôi nhớ ra mọi điều. Chợt tiếng dì thì thào:

- Nằm xuống ngủ đi con. Gớm, ban ngày đùa nghịch cho lắm vào rồi đêm lại mê ngủ.

À.. Ra là tại dì tôi dậy đi giải nên vướng vào chiếc dây tôi cầm. Mặc cho dì tưởng tôi mê ngủ, tôi nằm xuống, xoay người nhìn sang giường anh trai, tiếng ngáy của anh vẫn rõ to. Tôi yên chí định ngủ tiếp nhưng đột nhiên nghe tiếng con gà trống trong chuồng sau nhà vỗ cánh phành phạch rồi cất tiếng: "Cúc cù cu cu.. Cúc cù cu cu.. Cúc cù cu cu". Nó gáy ba tiếng. Như vậy mới đến cạnh ba (dì tôi bảo gà gáy mấy tiếng là ngần ấy canh). Tôi nằm im chờ dì vào, nhưng nằm mãi không thấy. Hay là dì bị ngã cảm? Chân tay thế dễ ngã lắm! Trong óc tôi tưởng tượng ra mọi điều. Tôi định gọi bố nhưng lại sợ mọi người dậy sẽ phát hiện ra âm mưu. Tôi trở dậy, tụt khỏi giường đi ra sân sau.

Khác với hồi đêm, trời mờ sáng, mọi vật nhìn rõ hơn, tôi định vòng bờ giếng ra nhà xí, lúc qua bếp, tôi nghe có tiếng động lục cục và tiếng người lào thào trong bếp. Tôi áp sát tai vào vách nhưng không nghe rõ. Tôi bỗng nhớ phía tường bếp đằng sau bố khoét một lỗ nhỏ cho chó chui, từ ngày Tây cấm nuôi chó, cái lỗ vẫn chưa lấp. Tôi cúi xuống nhìn vào, tối om, nhưng rõ ràng có những tiếng thở hổn hển và huỳnh huỵch như vật nhau ở trong ấy. Tôi đang không hiểu thế nào thì thấy im ắng, rồi tiếng dì thổn thức:

- Làm thế này là em có tội với chị.

Đáp lại lời dì là tiếng bố:

- Tôi biết, nhưng tôi thương hoàn cảnh dì chân tay thế nay..

Tôi nghe dì khóc, tiếng thút thít to dần.. Rồi tiếng bố dỗ dành;

- Thôi nín đi, đừng khóc to, mọi người biết đấy!

Lát sau nghe dì nói:

- Anh lên trước đi, mặc em ngồi đây một lúc,

Nghe vậy, tôi đứng vội đi lên nhà. Lúc sau, nghe tiếng kẹt cửa, cái bóng to lớn của bố hiện ra, rồi ông mở cửa vào buồng, có tiếng mẹ hỏi:

- Canh mấy rồi mình?

Không nghe bố trả lời. Tôi thắc thỏm suy nghĩ không hiểu chuyện gì xẩy ra giữa bố và dì mà lại giấu mẹ?

Nhưng thôi, đấy là chuyện của người lớn, còn bây giờ đây tôi nóng lòng sợ dì mà cứ ngồi mãi dưới bếp thì làm sao tôi đi được.

Thao thức hồi lâu thì dì lên. Dì rón rén nằm xuống giường, ôm tôi vào lòng riết chặt, cái cằm thon nhỏ nồng nàn ấm áp xoa xoa dịu dàng lên má tôi. Tôi im lặng tận hưởng và định đánh một giấc như mọi khi. Nhưng chợt có tiếng gà gáy, tôi đếm được năm tiếng "ò ó o.." liền giả vờ ú ớ đẩy dì ra. Bên giường anh trai chắc đã ngủ say nên không thấy tiếng ngáy nữa. Một lúc sau, tiếng dì thở đều đều. Tôi vờ động vào người xem dì ngủ chưa? Dì lật người ngoảnh vào vách, tôi ngồi dậy. Thằng "tên" lào thào:

- Đi hả?

Không trả lời, tôi dò dẫm tìm dép, chân quờ phải cái dây buộc dép anh trai, cái dây tuột từ bao giờ không biết!

Trong lòng hơi ngạc nhiên không hiểu vì sao lại bị tuột ra? Thây kệ! Tôi lò dò ra xoay quả đấm khóa, mở cửa thông ra phố, ló đầu nhìn đường; chưa có cửa nhà ai mở. Tôi nhẹ nhành lách ra rồi khép cửa lại lon ton chạy về phía cuối phố, rẽ lên dốc xuống chợ. Tôi quyết định đi tắt.

Cũng phải nói với độc giả một chút về khu chợ mới này. Từ ngày Tây chiếm lại Phúc An, chúng dồn dân, xây dựng lại chợ mới ở trước phố Đệ Nhất, sát cổng chùa Thập Phương. Còn chợ cũ, nơi anh trai kể chuyện gặp chó ăn thịt trẻ con hồi năm đói và bãi tập liền kề đấy, nay bọn Pháp san thành bãi đá bóng.

Còn sớm, nên trong chợ mới có dãy bán thịt dọn hàng. Những con lợn bị cạo lông, da trắng lốp, phanh bụng nằm chềnh hênh trên bệ xây, máu đỏ chảy loang cả đường. Tiếng liếc dao pha thịt của đồ tể nghe rợn tóc gáy. Tôi nhẩy lò cò qua những vũng máu rồi men theo lối ruộng rau muống cạnh cổng chùa. Từ hồi chiếm lại Phúc An, Tây ra lệnh cấm không cho khách thập phương đến tụ tập cúng lễ nữa! Trong chùa còn một sư già và ông "người thật" mà thôi. Tuy vậy, tôi chưa được gặp ông ta bao giờ.

Lên đến đầu phố Đệ Nhị, tôi gặp nhiều toán người đi, ai nấy bước lặng lẽ. Thấy tôi, họ nhìn có vẻ tò mò. Tôi kệ! Vào gần đến khu nhà tù, tất cả rẽ về phía đồi thông. Đây là chỗ Tây dựng pháp trường xử án và làm trường bắn gần nhà tù cho tiện và sợ Việt Minh đánh tháo tù.

Trên đỉnh đồi, cạnh ngôi chùa cổ, tán cây đa xum xuê, rễ thả từng chùm từ trên cành cao xuống đất. Tôi nhớ chuyện chị hai kể vào những năm Việt Minh giành được chính quyền, đội thiếu nhi của các chị sau khi hội họp xong thường chạy lên đồi, vào chùa xin lộc, và chơi đùa dưới gốc đa, túm rễ đa đánh đu. Nhưng bây giờ Tây cấm, chùa bị hoang vắng, cây cối um tùm, mái ngói xô lệch. Phía mé đồi có mả Tây, so với thời kỳ gia đình tôi ở đấy thì mộ bây giờ nhiều hơn. Những cây thập tự bằng đá dựng trên những hàng mộ chạy dài đến tận gần sát đường. Còn mé dãy phố, nơi tôi được bà đỡ đón ra, bây giờ bọn Pháp xây thành pháo đài và kho tàng chứa xe cộ và vũ khí. Cứ cách một đoạn lại có một chiếc lô cốt đổ bê tông cốt thép, xù xì như da cóc nằm nửa chìm nửa nổi chạy dọc đến giáp đường Quốc lộ 2. Lỗ châu mai tông hống như những con mắt nhìn ra các hướng. Trên nóc lô cốt đặt một khẩu súng quay tròn, mũi nòng súng đen sì ghếch lên trời, họng súng loe to như miệng gương sen.

Tôi cố nhận ra phố cũ, nhưng không tài nào nhớ được chỗ nào ra chỗ nào. Mà thực ra, khi tôi được sáu tháng, thì đã phải chạy tản cư thì làm sao tôi nhớ được. Những chuyện trên tôi nghe người lớn và được anh trai kể, tôi cố tưởng tượng để có dịp bốc phét với bạn bè đấy thôi.

Pháp trường dựng ngay ở bãi cỏ dưới chân đồi. Khi tôi tới, có bốn người tù mặc quần áo sọc đen trắng khênh một chiếc bục gỗ khum khum hình móng ngựa từ trên xe cam nhông xuống, bê vào đặt trước lều bạt căng thành hình chữ A. Trong lều đặt ba chiếc bàn gỗ. Những tên lính mặc quần áo màu xanh xám, đầu đội mũ sắt, lăm lăm súng cầm tay, mặt lạnh như nước đá cây. Ngăn giữa những người đến xem xử tử và pháp trường là hàng rào dây thép gai. Chắc mới giăng vì tôi thấy những đầu gai còn sáng lóa và nhọn hoắt. Tôi lách qua đám đông chui vào phía trong, đến sát hàng rào chọn chỗ ngồi thì thằng "tên" bỗng thì thào:

- Anh trai kìa!

Tôi nhìn theo hướng nó nói: Anh trai cùng mấy đứa bạn đã có mặt từ lúc nào rồi. Lạ nhỉ! Rõ ràng là tôi ra khỏi nhà trước cơ mà! Tôi đang thắc mắc tự hỏi thì anh trai cũng nhìn về phía tôi đứng. Anh dụi mắt như chưa tin, nhưng sau khi khẳng định đó là em mình, anh giơ tay ngoắc ngoắc ra hiệu có ý bảo: "Lỏi con, lại đây!"

Tôi lưỡng lự, nhưng rồi quả quyết đi tới. Anh phủ đầu:

- Ai cho mày đi?

Tôi:

- Em khắc đi!

Anh:

- Tao về mách bố oánh cho mày một trận!

Tôi:

- Em cũng về mách mẹ!

Thấy tôi cãi, anh giơ tay định bợp tôi một cái, vừa lúc đó đám đông ồ lên:

- Xe tù ra rồi! Xe tù ra rồi!

Anh trai và tôi quên cãi nhau, quay phắt về phía cổng pháp trường: Từ trên chiếc xe hòm kín mít, cánh cửa mở rộng, tên sĩ quan Pháp mặc đồng phục ka - ki màu vàng, đội mũ lưỡi trai nhảy xuống, theo sau là một toán lính, chúng dàn thành hai hàng, tay bồng súng trường lê tuốt trần. Cuối cùng, là một người tù mặc quần áo màu xanh nhạt, bị bịt kín mặt bằng một cái mũ có chóp nhọn hoắt như chóp mũ của ông già Nô - en trong lễ Giáng sinh, có cái khác là chiếc mũ của ông già màu đỏ, còn của người tù thì màu trắng phủ trùm quá vai và được khoét hở hai mắt. Người tù được hai tên lính đỡ từ trên ô tô xuống. Đôi chân trần bị xích, còn tay bị còng bằng chiếc khóa mầu sáng loáng. Người tù không bước mà lê từng chân, những ngọn cỏ đẫm sương đổ rạp thành vệt theo chân lết nặng nhọc của người tù.

Cả pháp trường lặng ngắt. Những người xem căng thẳng theo dõi: Người tù đi về phía chiếc bục hình móng ngựa, khi gần tới, hất hàm ra ý hỏi tên sĩ quan. Tên sĩ quan gật đầu. Người tù điềm tĩnh bước vào đứng giữa chỗ hõm của chiếc bục. Hai tay người tù đặt hẳn lên mặt gỗ. Tôi cho rằng người tù cố tình để tay như thế cho đỡ mỏi.

Bỗng lại có tiếng người ồ lên:

- Quan án ra rồi! Quan án ra rồi!

Một tốp người vừa người ta vừa người Pháp đi vào. Tôi nhận ra ngay lão Lý trưởng đi sau, mặc áo chùng đen, quần trắng, đội khăn xếp, tay cầm ba - toong. Hôm nay không thấy lão dắt theo chó. Tất cả đi vào lều bạt, ngồi xuống ghế, riêng lão Lý trưởng đứng hai tay vo vo vào nhau, lưng cúi thấp vẻ khúm núm. Tên sĩ quan chỉ huy toán lính chạy bộ đến trước mặt giơ tay chào. Tên quan tòa gật gật đầu rồi đứng lên cầm tờ giấy đọc. Hắn đọc gì tôi nghe lõm bõm toàn tiếng Tây. Tên sĩ quan rập gót quay lại tiến tới chỗ người tù tháo cùm tay và nhấc bỏ chiếc mũ trùm đầu ra.

Cả đám đông ồ lên:

- Tù là đàn bà.. Tù là đàn bà.

Người tù đứng quay lưng về phía những người đến xem. Mái tóc buông thõng bung ra che gần kín lưng, dài đến ngang thắt lưng, dày dặn mượt mà. Trên đôi vai đầy đặn hở ra phần cổ cao tròn trĩnh da trắng nõn nà như một đường viền đỡ cái đầu được chải rẽ ngôi, có cài chiếc lược sừng cong hình lưỡi liềm.

Tôi cố nghển lên để nhìn cho rõ nhưng không được. Cả đám đông cũng vậy. Ai cũng muốn nhìn rõ người đàn bà bị kết án. Ở thị xã Phúc An, từ trước tới nay, việc bắt bớ, tra tấn, tù đày đối với người Việt xảy ra là chuyện thường, cơm bữa! Việc Tây xử án, bắn nhiều người, nhưng toàn Cộng sản đàn ông thôi! Còn bắn Cộng sản đàn bà thì lần này là một! Bỗng anh trai kéo tay tôi:

- Thừa! Kìa kìa..

Tôi vằng tay anh trai:

- Gì?

Anh trai chỉ tay:

- Ông ấy kia kìa!

- Ai? - Miệng hỏi nhưng mắt tôi nhìn về phía tay anh chỉ: Ngay gần chỗ góc pháp trường, một người cao to, mặc quần áo nâu sồng kiểu nhà chùa, một bàn tay của ông chắp lên ngực, còn một tay bám chặt hàng rào dây thép gai. Tôi thấy từ bàn tay ông nắm hàng rào, một dòng máu ứa ra, nhưng đôi mắt không chớp đăm đăm nhìn người tù. Anh trai nói:

- "Ông người thật" ở chùa Thập Phương đấy!

Ừ, đúng rồi! Đúng là nhân vật trong chuyện anh trai kể cho tôi nghe hồi bé, thế mà tôi không nhận ra. Thế thì.. Tôi vừa chợt nghĩ ra thì anh trai đã kêu lên:

- "Bà mặt đẹp" Thừa ơi!

Tiếng anh trai thảng thốt như bị nghẹt lại giữa muôn ngàn tiếng kêu thảm thiết của đám đông. Anh trai ngồi thụp xuống, tôi lấy tay đỡ kéo anh đứng lên, anh như bị mất hết sinh lực, ôm ghì lấy tôi riết róng.. Bỗng nhiên, tôi cảm thấy mình như có bổn phận phải che chở, tôi dùng tay xoa xoa vào lưng anh, như người anh vỗ về khi đưa em bị sợ hãi. Anh trai nép vào ngực tôi nhìn về phía người "đàn bà mặt đẹp".

"Người đàn bà mặt đẹp" quay về phía nhân dân. Khuôn mặt bừng rạng trong vầng sáng ban mai; bà cười, hàm răng đều đặn trắng ngần, khóe miệng xinh xắn, đôi môi tươi tắn như bông hoa bừng nở; bà lấy tay vuốt những sợi tóc vương lòa xòa trên mặt. Vầng trán cao thánh thiện, đôi mắt hiền từ, phúc hậu đúng như lời anh trai kể "đẹp như Đức Mẹ trong nhà thờ", bà nhìn bao quát đám đông, bà như muốn tìm ai? Chợt bà dừng lại chỗ anh em tôi đứng. Cả thân người bà nhướn về phía trước, đôi mắt nhạc nhiên, như muốn hỏi vì sao nơi đây lại cho trẻ con tới? Nhưng rồi, bỗng bà như nhận ra - Tôi cảm giác (hay là tôi tưởng thế) bà nhận ra anh trai tôi - đứa bé đã thay con bà rúc rúc khóe miệng như chim non, hớp vào bầu vú tròn trịa, hồng hào có những hạt sần sụi, đón dòng sữa nóng hổi và thơm mát.. Đôi mắt bà bao trùm lên anh em tôi, bất giác, anh trai giơ bàn tay lên vẫy, "người đàn bà mặt đẹp" đáp lại bằng cái nhìn hiền từ như người mẹ nhìn con. Anh trai ôm ghì lấy tôi nức nở..

Rồi bà giơ cao bàn tay bầm giập vì gông cùm đưa lên vẫy, bà dừng lại rất lâu ở chỗ "ông người thật" đứng, đôi mắt như muốn gửi gắm một điều gì. Lúc này "ông người thật" không chắp tay trên ngực nữa, mà ông úp đôi bàn tay vào mặt, vai run run, chiếc áo nâu sồng thấm đẫm những giọt nước mắt lẫn trong máu thấm từ bàn tay. Ông không dám nhìn vào sự thật phũ phàng sắp diễn ra. Những người đến dự như đồng cảm, họ quây lại phía sau ông, có người đặt tay lên vai ông an ủi. Ông ngước nhìn lên trời như muốn cầu mong điều huyền diệu sẽ xảy ra, nhưng bầu trời chỉ có mây bay và gió thổi. Ông cúi xuống nhìn đất, đất lặng im, cùng cỏ cây cảm nhận vào mình những giọt lệ biệt li.

Chương bốn - 1
 

Những người đang xem chủ đề này

Xu hướng nội dung

Back