Tên: Cúng Đình
Tác giả: Hồng Lăng
Thể loại: Tản Văn
Văn án:
Không biết từ bao lâu rồi tôi mới được cầm trên tay tấm thiệp có chữ kính gửi mà không ghi rõ mời ai. Đó là cái đặt trưng của cái thiệp mời đến dự lễ Kỳ Yên Đình Thần xã.
Tôi không biết ở vùng khác thế nào, nhưng xứ tôi, cái thiệp năm nào cũng chỉ một kiểu, đã nhiều năm rồi tôi cầm trên tay cứ ngỡ thời còn nhỏ, tấm thiệp màu trắng, có dòng kính gửi:. Không như thiệp đám cưới, đám hỏi hay sinh nhật gì mà điền tên từng hộ, chỉ để trống đó thôi, dù không ghi rõ, mà chắc hẳn quần dân ở đây chắc cũng đi đủ, không thiếu.
Tôi thấy họ đi đủ vì cái nhộn nhịp của buổi lễ. Phía dưới cái cổng màu vàng, xây nên từ xi măng cát đá, biên lên đó chữ Đình Thần Xã màu đỏ, trong con đường nhỏ lót đan, kế cái cống chợ, men theo dòng sông, đi một đoạn tầm trăm, hai trăm mét là thấy được cái đình xã nhà tôi. Không rộng cũng không chật. Sân đình như nữa vầng trăng, được bo tròn trên con lộ. Đi vô trong là có hai cái miếu hai bên, bàn ông thiên, bước vào thì khói nhang nghi ngút.
Đối diện đình là sân khấu, được xây bên mé sông, nó cũng nhạt màu nhưng vẫn chắc chắn mà vững chải. Tôi không biết lí do gì nhưng cứ mỗi năm lễ kỳ yên là có hát cải lương hồ quảng.
Bận nay tôi về quê, mẹ vừa coi livestream vừa nói: "Nay cúng đình ở dưới hát hồ quảng, mà vắng quá chừng!". Tôi mới giật mình hỏi lại thì mới biết nay là ngày lễ, xẹt qua đầu tủ cầm lên tấm thiệp, tôi rủ nhỏ em đi xuống đình chơi.
Không biết do tối rồi nên không còn ai chơi lễ, hay họ chỉ chơi lễ qua cái được gọi là đồ công nghệ hiện đại, điện thoại thông minh. Chắc nhiều người như mẹ tôi lắm! – Nghĩ thầm.
Tôi nhớ lúc nhỏ cũng giờ này mà đi, là trên đường người đi người về nườm nượp. Họ cười nói, choàng tay nhau, rồi nói với nhau mấy tiếng bằng cái giọng thân thương, sang sảng: "Đình hả chị!", "Ồ, về rồi đó hả, dắt nó đi chơi nè!", "Ghé bà Hoa ăn bún nước lèo đi, nay nấu ngon!".. Đi xuống cái đường hồi chưa lót đan, người ta đập gạch đá nhuyễn lót lên cái đường sìn, từ đằng trên bán đồ xuống tới đằng dưới, nào là đồ chơi, nước mía, bún, hột vịt lộn, chả chiên.. Rồi có bà già cặm cụi ngồi với một thau củ năng (Củ năng nhỏ nhỏ, ăn bùi bùi, già thì cứng cứng) cứ đong đầy một chung là 2 ngàn bạc, bỏ bọc đem đi. Đến sân đình, người ngồi ghế, người lót chiếu, người lót dép, cứ vậy mà hướng mắt lên sân khấu, với giọng ca oang oẳng, vang vang trong một đêm của những nghệ sĩ hát tuồng, họa trên mặt đầy nét bi, hài, độc, chính, đèn sáng chiếu lung linh, chói lên những mảng kim tuyến rực màu trên những bộ đồ diễn, thâu vào trong mắt những con người chân chất, hiền hòa mà dân dã.
Trong kia lư nhang nghi ngút khói, đứng ngoài thềm có thể bị sặc, rồi cay mắt. Người người ra vô thắp nhang cúng lễ. Mấy ông, bác, chú già thì ngồi uống trà, ngó ra ngoài sân khấu, rồi nói chuyện. Có cái bàn để đó, ai cúng đình thì ghi tên vô, rồi bỏ tiền vô thùng. Tiền đó để đình chi trả nhang khói, rồi đãi ăn uống buổi sáng, cũng như là dùng để làm việc thiện, phát gạo tháng bảy này kia.
Nhớ có năm đi buổi sáng với ông bà nội, cầm trên tay 20 ngàn mà tôi muốn ghi tên cho bốn người, cha, mẹ, tôi và em gái. Lúc đó nghĩ ghi tên ai thì người đó mới có phước.
Anh bán nước hỏi tôi uống gì. Giật mình tỉnh hồn lại, kêu một ly trà đường.
Nhìn lại bây giờ. Vắng quá! Tôi không thấy những khung cảnh mình từng thấy ở đâu hết. Những xe bán đồ ngày càng ít, thay vào những món xưa xưa là bánh tráng nướng, lạp xưởng nướng đá, kem khói.. Cũng nướng đó nhưng cái khói đó không thơm bằng cái khói của cây bò lá lốp, hay cái mùi khô nướng khét thoang thoảng bên mũi, cũng là kem nhưng ngày xưa không có khói, nó là một cục kem để trên cái ốc quế, hay những ly đá bào nhiều màu. Những bà cụ, đứa trẻ sắp lớp hướng mắt lên sân khấu để xem, để nghe những người nghệ sĩ hát trên đó cũng không còn nhiều, loe hoe, lát đát vài người, rồi cũng từ từ mà về, có người thì cũng trụ lại, nhưng mắt thì chỉ hướng về cái màn hình điện thoại nhỏ xíu mà thôi.
Ngó dọc ngó nghiêng. Tôi lại thấy trong cái đình kia, khói hương nghi ngút. Những làn khói mơ màng cay mắt đó, có lẽ do nó đưa tôi về với những gì tôi muốn thấy.
Thật ra ngày càng hiện đại, phát triển thì nhu cầu con người ta cũng thay đổi. Tôi không thể nào ép buộc những đứa nhóc phải ngồi xuống nghe những câu cải lương thay vì nó lướt những trang mạng để tìm hiểu những gì nó thích, tôi không thể kêu những ông bà cô bác lớn tuổi ngồi lại sân đình để nghe những khúc ca mùi mẫn, trong khi họ có thể ở nhà mà nghe mười tuồng trong chăn êm nệm ấm.
Nhưng thực chất, ở đây, vẫn có những con người trụ lại như tôi, cũng có là lớp già, lớp thanh niên, rồi lớp thiếu nhi, có đủ. Tôi sẽ sai khi trách xã hội này quá phát triển để cho cái lễ hội trở nên tẻ nhạt. Có người đi mà!
Nhìn lại thì những tấm thiệp vẫn phát đầy đầu trên xóm dưới, họ vẫn đi, và nhận định ban đầu của tôi vẫn đúng. Nhưng chỉ khác cái thời gian thôi! Sáng hay trưa hay xế họ lại đi nhiều!
Một buổi tối buôn bán nhiều đồ, gánh hát sáng đèn, âm vang khắp xóm, nhưng không còn là cái thu hút của những con người hiện đại. Có lẽ cái thu hút con người ta tới lễ không còn là tiếng cười rộn rã, hay cái không khí nhộn nhịp. Mà nó là cái quan niệm mỗi năm phải đến cúng và nói lên câu cầu chúc: "Mưa thuận gió hòa, quốc thới dân an". Họ vẫn đến dâng hương, hoa, bánh trái, vẫn cầu nguyện cho một năm được bội, vẫn cúng tiền. Nhưng hơi gấp, và đó như cách họ duy trì những nét văn hóa đời xưa để lại một cách ngắn gọn theo thời theo thế.
Không thể trách những người kiếm tiền để sống. Nhìn lại, ai cũng cố gắng nối tiếp những nét văn hóa của quê hương xứ sở, những phong tục tập quán lâu đời, nhưng dần sẽ là những cách khác nhau. Tuy nhiên nó vẫn còn là được. Hội không đong nhưng vẫn còn cái lễ là được.
Không mong sao thế hệ sau này cầm bức thiệp mời đi lễ Kỳ yên Đình Thần, lại không biết là gì ở đó.
Và đừng như chính tôi, vẫn hỏi mẹ đình thần cúng ai, và lên google để biết được trong đó có gì!
(Hồng Lăng)

70
0