Bạn được hieunt2 mời tham gia diễn đàn viết bài kiếm tiền VNO, bấm vào đây để đăng ký.

Admin

Nothing to lose.. your love to win..
23,469 ❤︎ Bài viết: 3750 Tìm chủ đề
1963 2
HỊCH TƯỚNG SĨ

HƯNG ĐẠO ĐẠI VƯƠNG TRẦN QUỐC TUẤN

qt-660x440.jpg

Ta thường nghe: Kỷ Tín đem mình chết thay, cứu thoát cho Cao Đế; Do Vu chìa lưng chịu giáo, che chở cho Chiêu Vương; Dự Nhượng nuốt than, báo thù cho chủ; Thân Khoái chặt tay để cứu nạn cho nước. Kính Đức một chàng tuổi trẻ, thân phò Thái Tông thoát khỏi vòng vây Thái Sung; Cảo Khanh một bầy tôi xa, miệng mắng Lộc Sơn, không theo mưu kế nghịch tặc. Từ xưa các bậc trung thần nghĩa sĩ, bỏ mình vì nước, đời nào chẳng có? Ví thử mấy người đó cứ khư khư theo thói nhi nữ thường tình thì cũng đến chết hoài ở xó cửa, sao có thể lưu danh sử sách cùng trời đất muôn đời bất hủ được?

Các ngươi vốn dòng võ tướng, không hiểu văn nghĩa, nghe những chuyện ấy nửa tin nửa ngờ. Thôi việc đời trước hẵng tạm không bàn. Nay ta lấy chuyện Tống, Nguyên mà nói: Vương Công Kiên là người thế nào? Nguyễn Văn Lập, tỳ tướng của ông lại là người thế nào? Vậy mà đem thành Điếu Ngư nhỏ tày cái đấu đương đầu với quân Mông Kha đường đường trăm vạn, khiến cho sinh linh nhà Tống đến nay còn đội ơn sâu! Cốt Đãi Ngột Lang là người thế nào? Xích Tu Tư tỳ tướng của ông lại là người thế nào? Vậy mà xông vào chốn lam chướng xa xôi muôn dặm đánh quỵ quân Nam Chiếu trong khoảng vài tuần, khiến cho quân trưởng người Thát đến nay còn lưu tiếng tốt! Huống chi, ta cùng các ngươi sinh ra phải thời loạn lạc, lớn lên gặp buổi gian nan. Lén nhìn sứ ngụy đi lại nghênh ngang ngoài đường, uốn tấc lưỡi cú diều mà lăng nhục triều đình; đem tấm thân dê chó mà khinh rẻ tổ phụ. Mệnh Hốt Tất Liệt mà đòi ngọc lụa để phụng sự lòng tham khôn cùng; khoác hiệu Vân Nam Vương mà hạch bạc vàng, để vét kiệt của kho có hạn. Thật khác nào đem thịt ném cho hổ đói, tránh sao khỏi tai họa về sau. Ta thường tới bữa quên ăn, nửa đêm vỗ gối, ruột đau như cắt, nước mắt đầm đìa; chỉ giận chưa thể xả thịt, lột da, ăn gan, uống máu quân thù; dẫu cho trăm thân ta phơi ngoài nội cỏ, nghìn thây ta bọc trong da ngựa, cũng nguyện xin làm.

Các ngươi ở lâu dưới trướng, nắm giữ binh quyền, không có mặc thì ta cho áo; không có ăn thì ta cho cơm. Quan thấp thì ta thăng tước; lộc ít thì ta cấp lương. Đi thủy thì ta cho thuyền; đi bộ thì ta cho ngựa. Lâm trận mạc thì cùng nhau sống chết; được nhàn hạ thì cùng nhau vui cười. So với Công Kiên đãi kẻ tỳ tướng, Ngột Lang đãi người phụ tá, nào có kém gì?

Nay các ngươi ngồi nhìn chủ nhục mà không biết lo; thân chịu quốc sỉ mà không biết thẹn. Làm tướng triều đình đứng hầu quân man mà không biết tức; nghe nhạc thái thường đãi yến sứ ngụy mà không biết căm. Có kẻ lấy việc chọi gà làm vui; có kẻ lấy việc cờ bạc làm thích. Có kẻ chăm lo vườn ruộng để cung phụng gia đình; có kẻ quyến luyến vợ con để thỏa lòng vị kỷ. Có kẻ tính đường sản nghiệp mà quên việc nước; có kẻ ham trò săn bắn mà trễ việc quân. Có kẻ thích rượu ngon; có kẻ mê giọng nhảm. Nếu bất chợt có giặc Mông Thát tràn sang thì cựa gà trống không đủ đâm thủng áo giáp của giặc; mẹo cờ bạc không đủ thi hành mưu lược nhà binh. Vườn ruộng nhiều không chuộc nổi tấm thân ngàn vàng; vợ con bận không ích gì cho việc quân quốc. Tiền của dẫu lắm không mua được đầu giặc; chó săn tuy hay không đuổi được quân thù. Chén rượu ngọt ngon không làm giặc say chết; giọng hát réo rắt không làm giặc điếc tai. Lúc bấy giờ chúa tôi nhà ta đều bị bắt, đau xót biết chừng nào! Chẳng những thái ấp của ta không còn mà bổng lộc các ngươi cũng thuộc về tay kẻ khác; chẳng những gia quyến của ta bị đuổi mà vợ con các ngươi cũng bị kẻ khác bắt đi; chẳng những xã tắc tổ tông ta bị kẻ khác giày xéo mà phần mộ cha ông các ngươi cũng bị kẻ khác bới đào; chẳng những thân ta kiếp này chịu nhục đến trăm năm sau tiếng nhơ khôn rửa, tên xấu còn lưu, mà gia thanh các ngươi cũng không khỏi mang danh là tướng bại trận. Lúc bấy giờ, dẫu các ngươi muốn vui chơi thỏa thích, phỏng có được chăng?

Nay ta bảo thật các ngươi: Nên lấy việc "đặt mồi lửa dưới đống củi nỏ" làm nguy; nên lấy điều "kiềng canh nóng mà thổi rau nguội" làm sợ. Phải huấn luyện quân sĩ, tập dượt cung tên, khiến cho ai nấy đều giỏi như Bàng Mông, mọi người đều tài như Hậu Nghệ, có thể bêu đầu Hốt Tất Liệt dưới cửa khuyết, làm rữa thịt Vân Nam Vương ở Cảo Nhai. Như thế chẳng những thái ấp của ta mãi mãi vững bền mà bổng lộc các ngươi cũng suốt đời tận hưởng; chẳng những gia thuộc ta được ấm êm giường nệm, mà vợ con các ngươi cũng trăm tuổi sum vầy; chẳng những tông miếu ta được hương khói nghìn thu mà tổ tiên các ngươi cũng được bốn mùa thờ cúng; chẳng những thân ta kiếp này thỏa chí, mà đến các ngươi, trăm đời sau còn để tiếng thơm; chẳng những thụy hiệu ta không hề mai một, mà tên họ các ngươi cũng sử sách lưu truyền. Lúc bấy giờ, dẫu các ngươi không muốn vui chơi, phỏng có được không?

Nay ta chọn lọc binh pháp các nhà hợp thành một tuyển, gọi là Binh Thư Yếu Lược. Nếu các ngươi biết chuyên tập sách này, theo lời ta dạy bảo, thì trọn đời là thần tử; nhược bằng khinh bỏ sách này, trái lời ta dạy bảo thì trọn đời là nghịch thù.

Vì sao vậy? Giặc Mông Thát với ta là kẻ thù không đội trời chung, mà các ngươi cứ điềm nhiên không muốn rửa nhục, không lo trừ hung, lại không dạy quân sĩ, chẳng khác nào quay mũi giáo mà xin đầu hàng, giơ tay không mà chịu thua giặc. Nếu vậy, rồi đây, sau khi dẹp yên nghịch tặc, để thẹn muôn đời, há còn mặt mũi nào đứng trong cõi trời che đất chở này nữa? Cho nên ta viết bài hịch này để các ngươi hiểu rõ bụng ta.


Chú thích:


Kỷ Tín: Tướng của Hán Cao Tổ Lưu Bang. Khi Lưu Bang bị Hạng Vũ vây ở Huỳnh Dương, Kỷ Tín giả làm Hán Cao Tổ ra hàng, bị Hạng Vũ thiêu chết. Hán Cao Tổ nhờ thế mới thoát được.

Do Vu: Tướng của Sở Chiêu Vương thời Xuân Thu. Theo Tả Truyện, Sở Chiêu Vương bị nước Ngô đánh phải lánh sang phương Đông, một đêm bị cướp vây đánh. Do Vu đã chìa lưng ra đỡ giáo cho vua mình.

Dự Nhượng: Gia thần của Trí Bá thời Chiến Quốc. Trí Bá bị Triệu Tương Tử giết, Dự Nhượng bèn nuốt than cho khác giọng đi, giả làm hành khất, mưu giết Tương Tử để báo thù cho chủ.

Thân Khoái: Quan giữ ao cá của Tề Trang Công thời Xuân Thu. Trang Công bị Thôi Trữ giết, Thân Khoái bèn chết theo chủ.

Kính Đức: Tức Uất Trì Cung đời Đường. Khi Đường Thái Tông (bấy giờ còn là Tần Vương Lý Thế Dân) bị Vương Thế Sung vây, ông đã lấy mình che chở, hộ vệ cho Thái Tông chạy thoát.

Cảo Khanh: Họ Nhan, một bề tôi trung của nhà Đường. Khi An Lộc Sơn nổi loạn, đánh đuổi Đường Huyền Tông và Dương Quý Phi, ông đã cả gan chưởi mắng An Lộc Sơn và bị cắt lưỡi.

Vương Công Kiên: Tướng tài nhà Tống, giữ Hợp Châu, lãnh đạo quân dân Tống cầm cự với quân Mông Cổ do Mông Kha chỉ huy ở núi Điếu Ngư suốt bốn tháng trời. Mông Kha cuối cùng bị loạn tên chết, quân Mông Cổ đành phải rút lui.

Điếu Ngư: Tên ngọn núi hiểm trở ở Tứ Xuyên, ba mặt nhìn xuống sông. Đời Tống, Dư Giới đắp thành ở đó.

Mông Kha: Tức Mongka, anh của Nguyên Thế Tổ Hốt Tất Liệt, làm Đại Hãn Mông Cổ từ năm 1251. Mông Kha trực tiếp chỉ huy cuộc viễn chinh sang Trung Quốc và các nước phía Đông. Ông bị tử trận năm 1259 dưới chân thành Điếu Ngư trong cuộc vây hãm đội quân Tống do Vương Công Kiên chỉ huy.

Cốt Đãi Ngột Lang: Tức Uriyangqadai, tướng giỏi của Mông Cổ, con của viên tướng nổi tiếng Subutai. Cốt Đãi Ngột Lang nhận lệnh của Mông Kha, cùng Hốt Tất Liệt đánh chiếm nước Nam Chiếu. Cốt Đãi Ngột Lang cũng là viên tướng chỉ huy đạo quân Mông Cổ xâm lược Đại Việt lần thứ nhất (1258).

Xích Tu Tư: Chép Xích theo Hoàng Việt Văn Tuyển. Đại Việt Sử Ký Toàn Thư chép Cân. Hai chữ gần giống nhau, không biết quyển nào chép nhầm. Hiện nay, chưa có tài liệu nào nói gì về viên tướng này, và việc khôi phục lại tên Mông Cổ từ Hán tự cũng không phải là chuyện đơn giản.

Nam Chiếu: Nước nhỏ nằm ở khoảng giữa tỉnh Tứ Xuyên và Vân Nam ngày nay; thủ đô là Đại Lý, thuộc Vân Nam.

Hốt Tất Liệt: Tức Qubilai, em ruột và là tướng của Mông Kha. Sau khi Mông Kha tử trận ở Điếu Ngư, Hốt Tất Liệt tự xưng làm Đại Hãn ở Khai Bình, khiến xảy ra cuộc nội chiến tranh giành ngôi báu với em ruột là Ariq-Buka. Năm 1264, Ariq-Buka đầu hàng, Hốt Tất Liệt bèn dời đô về Yên Kinh (tức Bắc Kinh ngày nay), xưng Nguyên Thế Tổ, lập nên nhà Nguyên.

Vân Nam Vương: Tức Hugaci hay Thoát Hoan, con ruột Hốt Tất Liệt, được phong làm Vân Nam Vương năm 1267 với nhiệm vụ khống chế các dân tộc thiểu số vùng này cũng như mở rộng biên cương nhà Nguyên về phía Nam. Thoát Hoan là người chỉ huy quân Nguyên xâm lược Đại Việt lần thứ hai năm 1285 và lần thứ ba năm 1287-1288.

Nghìn thây ta bọc trong da ngựa: Điển tích lấy từ câu nói của viên tướng khét tiếng Mã Viện đời Hán chép trong Hậu Hán Thư - Đại trượng phu dương tử ư cương trường, dĩ mã cách khỏa thi nhĩ. Bậc đại trượng phu nên chết ở giữa chiến trường, lấy da ngựa mà bọc thây.

Thái thường: Tên loại nhạc triều đình dùng trong những buổi tế lễ quan trọng ở tông miếu. Bấy giờ là thời kỳ ngoại giao căng thẳng giữa ta và quân Nguyên, trong những buổi yến tiệc tiếp sứ Nguyên, triều đình nhà Trần nhiều khi phải buộc dùng đến nhạc thái thường để mua vui cho sứ giả. Trần Quốc Tuấn xem đó là một điều nhục nhã.

Thái ấp: Phần đất vua Trần phong cho các vương hầu.

Đặt mồi lửa dưới đống củi nỏ: Từ câu văn trong Hán Thư - phù bão hỏa, thố chi tích tân chi hạ nhi tẩm kỳ thượng, hỏa vị cập nhiên nhân vị chi an. Ôm mồi lửa, đặt dưới đống củi rồi nằm lên trên, lửa chưa kịp cháy vẫn cho là yên.

Kiềng canh nóng mà thổi rau nguội: Xuất xứ từ một câu văn trong Sở Từ - trừng ư canh nhi xuy tê hề. Người bị bỏng vì canh nóng, trong lòng đã e sợ sẵn, dù gặp rau nguội đi nữa, cũng vẫn thổi như thường.

Bàng Mông: Danh tướng đời nhà Hạ, có tài bắn cung trăm phát trăm trúng.

Hậu Nghệ: Một nhân vật bắn cung giỏi nữa trong thần thoại Trung Quốc.

Cảo Nhai: Nơi trú ngụ của các vua chư hầu khi vào chầu vua Hán ở Trường An.

Mãi mãi vững bền: Nguyên văn chữ Hán là vĩnh vi thanh chiên. Sách Thế Thuyết chép chuyện Vương Tử Kính đêm nằm ngủ thấy bọn trộm vào nhà "sạch sành sanh" vét mọi vật. Ông từ tốn bảo chúng rằng: Cái nệm xanh (thanh chiên) này là đồ cũ của nhà ta, các ngươi làm ơn để lại. Tác giả dùng điển tích này để chỉ những của cải được lưu truyền từ đời này sang đời khác.

Binh Thư Yếu Lược: Tức Binh Gia Diệu Lý Yếu Lược, nay đã thất truyền. Tác phẩm với đầu đề tương tự được lưu truyền hiện nay không phải là văn bản thực thụ, trong đó có các đoạn chép vài trận đánh thời Lê Nguyễn sau này.

Dẹp yên nghịch tặc: Nguyên văn chữ Hán là bình lỗ chi hậu. Có dịch giả đoán Bình Lỗ là tên đất ở đâu đó vùng Phù Lỗ thuộc tỉnh Vĩnh Phú ngày nay. Đây, chúng tôi theo Ngô Tất Tố và Phan Kế Bính dịch thoát là bình định nghịch tặc nói chung.

Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn.
 
Chỉnh sửa cuối:
1,580 ❤︎ Bài viết: 1462 Tìm chủ đề

Đôi nét về Trần Quốc Tuấn​


Trần Quốc Tuấn (1231? - 1300), tước Hưng Đạo Vương.

Ông là một danh tướng kiệt xuất của dân tộc thời Trần.

Năm 1285 và năm 1287, quân Nguyên - Mông xâm lược nước ta, lần nào ông cũng được Trần Nhân Tông cử làm Tiết chế thống lĩnh các đạo quân, cả hai lần đều thắng lợi vẻ vang.

Vào đời vua Trần Anh Tông, ông về trí sĩ ở Vạn Kiếp (nay là xã Hưng Đạo, huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương) rồi mất ở đấy.

Nhân dân tôn thờ ông là Đức thánh Trần và lập đến thờ ở nhiều trên đất nước.

Các tác phẩm của ông: Dụ chư tỳ tướng hịch văn (Hịch tướng sĩ), Binh gia diệu lý yếu lược (Binh thư yếu lược), Vạn Kiếp tông bí truyền thư (Sách bí truyền của tông phái Vạn Kiếp, đã bị thất lạc).

Giới thiệu về Hịch tướng sĩ​


Thể loại​


Hịch là thể văn nghị luận thời xưa, thường được vua chúa, tướng lĩnh hoặc thủ lĩnh một phong trào dùng để cổ động, thuyết phục hoặc kêu gọi đấu tranh chống thù trong giặc ngoài.

Hịch có kết cấu chặt chẽ, có lí lẽ sắc bén, có dẫn chứng thuyết phục.

Đặc điểm nổi bật của hịch là khích lệ tình cảm, tinh thần người nghe.

Hịch thường được viết theo thể văn biền ngẫu (từng cặp câu cân xứng với nhau).

Một bài hịch thường gồm các phần: Phần mở đầu có tính chất nêu vấn đề; phần thứ hai nêu truyền thống vẻ vang trong sử sách để gây lòng tin tưởng; phần thứ ba nhận định tình hình, phân tích phải trải để gây lòng căm thù giặc, phần kết thúc nêu chủ trương cụ thể và kêu gọi đấu tranh.

Hoàn cảnh sáng tác​


Hịch tướng sĩ do Trần Quốc Tuấn viết vào khoảng trước cuộc kháng chiến chống Mông - Nguyên lần thứ hai (1285).

Bài hịch được làm để khích lệ tướng sĩ học tập cuốn Binh thư yếu lược (Sách tóm tắt những điều cốt yếu về binh pháp) do chính Trần Quốc Tuấn soạn.

Bố cục​


Gồm 4 phần:

Phần 1. Từ đầu đến "còn lưu tiếng tốt" : Nêu gương các bậc trung thần nghĩa sĩ.

Phần 2. Tiếp theo đến "ta cũng vui lòng" : Vạch trần tội ác của giặc và lòng căm thù của vị chủ tướng.

Phần 3. Tiếp theo đến "vui vẻ phỏng có được không?" : Sai trái của tướng sĩ dưới quyền.

Phần 4. Còn lại: Lời kêu gọi tướng sĩ ra sức học tập "Binh thư yếu lược".

Nhan đề


Hịch tướng sĩ còn có tên là Dụ chư tì tướng hịch văn.

Bài hịch được Trần Quốc Tuấn viết nhằm khích lệ tướng sĩ học tập cuốn Binh thư yếu lược (Sách tóm tắt những điều cốt yếu về binh pháp) do chính Trần Quốc Tuấn soạn.

Tóm tắt


Hịch tướng sĩ của Trần Quốc Tuấn là bài văn kêu gọi, thức tỉnh tinh thần yêu nước và ý chí chiến đấu của tướng sĩ trước nguy cơ xâm lược của quân Nguyên – Mông.

Mở đầu, tác giả nêu gương các bậc trung thần nghĩa sĩ trong lịch sử Trung Quốc và cả những tấm gương gần thời để khẳng định từ xưa đến nay, người trung nghĩa luôn sẵn sàng hy sinh vì vua, vì nước và nhờ đó mà lưu danh muôn đời. Qua đó, ông khơi dậy lòng tự hào, ý thức trách nhiệm của đội ngũ tướng lĩnh.

Tiếp theo, Trần Quốc Tuấn bày tỏ nỗi căm thù giặc sâu sắc trước sự ngang ngược, tàn bạo và tham lam của sứ giả nhà Nguyên, đồng thời thể hiện nỗi đau xót, lo lắng cho vận mệnh đất nước. Ông nhấn mạnh mối thù mất nước là nỗi nhục không thể dung thứ.

Sau đó, tác giả nhắc lại ân nghĩa, sự quan tâm và đãi ngộ của mình đối với tướng sĩ, từ vật chất đến tinh thần, để làm rõ mối quan hệ gắn bó, sống chết có nhau giữa chủ tướng và binh lính. Trên cơ sở đó, ông phê phán gay gắt thái độ thờ ơ, ham hưởng lạc, mải mê thú vui cá nhân của một bộ phận tướng sĩ, chỉ ra hậu quả thảm khốc nếu đất nước rơi vào tay giặc.

Cuối cùng, Trần Quốc Tuấn kêu gọi tướng sĩ hãy tỉnh ngộ, chăm lo luyện tập binh pháp, rèn luyện quân đội, sẵn sàng chiến đấu để bảo vệ non sông, giữ gìn danh dự bản thân và gia đình, đồng thời lưu danh thơm muôn đời. Bài hịch thể hiện sâu sắc tinh thần yêu nước, ý chí quyết chiến quyết thắng và tài thao lược, nghệ thuật thuyết phục bậc thầy của Hưng Đạo Vương.

Nội dung​


Hịch tướng sĩ của Trần Quốc Tuấn là áng văn chính luận tiêu biểu, thể hiện sâu sắc tinh thần yêu nước và ý chí chống giặc ngoại xâm của dân tộc.

Trước hết, tác giả nêu gương các trung thần nghĩa sĩ trong lịch sử để khẳng định giá trị của lòng trung nghĩa, sẵn sàng hy sinh vì nước, qua đó khơi dậy niềm tự hào và trách nhiệm ở tướng sĩ. Tiếp đó, ông bộc lộ nỗi căm thù giặc Nguyên – Mông và nỗi đau xót trước cảnh đất nước bị uy hiếp, coi đó là mối nhục lớn không thể khoanh tay đứng nhìn.

Bên cạnh đó, Trần Quốc Tuấn nhấn mạnh ân nghĩa, sự quan tâm của mình đối với quân sĩ, đồng thời phê phán mạnh mẽ lối sống hưởng lạc, thờ ơ với vận mệnh quốc gia của một bộ phận tướng sĩ, chỉ ra hậu quả thảm khốc nếu mất nước. Cuối cùng, bài hịch kêu gọi mọi người phải thức tỉnh, chăm lo rèn luyện binh pháp, đoàn kết chiến đấu để bảo vệ giang sơn, giữ trọn danh dự và lưu tiếng thơm cho muôn đời sau.

Qua nội dung ấy, Hịch tướng sĩ thể hiện tư tưởng yêu nước nồng nàn, tinh thần trách nhiệm cao cả và nghệ thuật lập luận sắc bén của Trần Quốc Tuấn.

Nghệ thuật​


Hịch tướng sĩ có giá trị nghệ thuật đặc sắc, góp phần làm nên sức lay động mạnh mẽ của tác phẩm. Trước hết, bài hịch sử dụng hệ thống lập luận chặt chẽ, logic rõ ràng, kết hợp nhuần nhuyễn giữa lý lẽ và cảm xúc, khiến lời văn vừa thuyết phục vừa giàu sức truyền cảm. Tác giả khéo léo dẫn chứng nhiều điển tích lịch sử tiêu biểu, so sánh quá khứ với hiện tại để làm nổi bật trách nhiệm của tướng sĩ trước vận mệnh đất nước.

Bên cạnh đó, giọng văn biến hóa linh hoạt, khi tha thiết chân thành, khi căm phẫn gay gắt, lúc lại nghiêm khắc răn đe, tạo nên âm hưởng hùng tráng, mạnh mẽ. Nghệ thuật liệt kê, đối lập và phóng đại được sử dụng hiệu quả, giúp khắc sâu hậu quả của thái độ thờ ơ và làm nổi bật tinh thần quyết chiến quyết thắng. Tất cả đã tạo nên một áng văn chính luận mẫu mực, giàu tính chiến đấu và sức cổ vũ to lớn.

4. Dàn ý phân tích tác phẩm Hịch tướng sĩ​


(1) Mở bài

Dẫn dắt, giới thiệu khái quát về Hịch tướng sĩ của Trần Quốc Tuấn

(2) Thân bài

A. Nêu gương các bậc trung thần nghĩa sĩ

Các gương trung thần nghĩa sĩ hi sinh vì chủ:

Từ quá khứ: Kỷ Tín, Do Vu, Dự Nhượng, Kính Đức, Cao Khanh

Đến hiện tại: Vương Công Kiên, Cốt Đãi Ngột Lang..

=> Làm nổi bật tinh thần quên mình vì chủ, vị vua, vì nước.

B. Vạch trần tội ác của giặc và lòng căm thù của vị chủ tướng

Tội ác và sự ngang ngược của giặc: Đi lại nghênh ngang, sỉ mắng triều đình, bắt nạt tể phụ, đòi ngọc lụa, thu bạc vàng..

Nỗi lòng chủ tướng: "Ta thường tới bữa quên ăn.. Ta cũng cam lòng".

=> Bộc lộ niềm uất hận dâng lên trong lòng người chủ tướng. Đồng thời khơi gợi sự đồng cảm ở người đọc, người nghe.

C. Sai trái của tướng sĩ dưới quyền

Hành động hưởng lạc, thái độ bàng quan trước vận mệnh đất nước.

Những thú vui tầm thường: Chọi gà, cờ bạc, săn bắn, vui thú vườn ruộng, quyến luyến vợ con.

=> Chỉ rõ những hành động sai trái của tướng sĩ dưới quyền để răn đe, cảnh tỉnh.

D. Lời kêu gọi tướng sĩ ra sức học tập "Binh thư yếu lược"

Vạch rõ ranh giới giữa hai con đường chính và tà.

Kêu gọi, khích lệ tinh thần tướng sĩ học tập "Binh thư yếu lược".

(3) Kết bài

Khẳng định giá trị nội dung và nghệ thuật của Hịch tướng sĩ.
 
Từ khóa: Sửa

Những người đang xem chủ đề này

Xu hướng nội dung

Back