255 ❤︎ Bài viết: 667 Tìm chủ đề
2313 4
1. HỮU THỌ - HỒN THƠ THƠM NGÁT ÂN TÌNH

"Thơ trước hết là cuộc đời sau đó mới là nghệ thuật.." Người làm thơ chắc chẳng ai xa lạ với nhận định ấy của nhà lý luận văn học người Nga - Bêlinxki, bởi nếu chẳng có "cuộc đời" thì lấy đâu ra chất liệu để thi sĩ gửi gắm tâm hồn, xúc cảm của mình vào câu chữ mà làm nên các tác phẩm văn chương nghệ thuật. Nhà thơ Hữu Thọ - Hội viên Hội VHNT Vĩnh Phúc đã có trên 50 năm làm thơ, viết báo với không ít thành công, không ít tác phẩm đã khắc sâu vào tâm hồn người đọc nhiều thế hệ. Chất liệu làm nên các tác phẩm của Hữu Thọ chính là những "ân tình" ông nhận được và cho đi trong chính cuộc đời và sự nghiệp đầy tự hào của mình. Hơn 200 bài thơ in trong tuyển tập thơ "Duyên tình của núi" được Hữu Thọ trình làng năm 2024 là hơn 200 nhịp đập trái tim, cảm xúc tâm hồn.. rất đẹp, rất thiêng liêng mà ông dâng tặng vườn thơ quê nhà.

507002676_1083406897009941_7428864323253697191_n.png

Được sinh ra, lớn lên, học tập, trở thành một giáo viên dạy học tại vùng biên cương của Tổ quốc, rồi làm một nhà báo xông pha trên mặt trận truyền thông.. Hữu Thọ đã thấy mình được nhận về bao ưu ái từ (tình quê, nghĩa Đảng, lòng người), từ nơi đã cho mình hai tiếng "thầy giáo" thân thương, hai tiếng "phóng viên" thật nhiều tình nghĩa. Chúng ta có thể thấy nhiều bài thơ của ông mang đậm một chữ "tình" với lòng biết ơn sâu sắc như: Tình quê ngọt ngào; Tình rừng; Tình ca đường mới; Tâm tình với thơ; Duyên tình đằm thắm như thơ.. Bài thơ "Tình đất lúa" đã diễn tả sinh động, sâu sắc vẻ đẹp, sự thịnh vượng của nơi chôn nhau cắt rốn mà suốt đời nhà thơ không quên"Ơi Vĩnh Tường - quê lúa/ Xanh như sắc mây trời/ Lúa chín vàng màu nắng/ Vựa lúa - quê mình ơi!.. Rạ rơm phơi tới cửa/ Thóc chật ních sân nhà/ Xóm thôn như ngày hội/ Níu giữ người đi xa." Đặc biệt bài "Duyên tình của núi" ông đã thể hiện một cách chi tiết, sâu sắc tình cảm gắn bó thân thiết, nồng ấm, tràn đầy niềm yêu thương với người bạn văn chương Ma Văn Kháng (Hội viên Hội nhà văn Việt Nam) cùng chung đam mê, cùng chung sở thích khi họ kết thân với nhau tại núi rừng Lào Cai từ hơn 50 năm trước: "Trên rừng xanh núi tía/ Xa mờ nơi biên cương/ Gặp người anh tốt bụng/ Ân tình bạn văn chương.. Ơi người anh xa nhớ/ Nhân cách như hiền tài/ Danh thơm - người cầm bút/ Thăng hoa - nguồn Lào Cai". Riêng bài thơ "Tâm tình người làm báo" - Một chữ "tình" khác mà Hữu Thọ muốn gửi tới bạn đọc. Đó là chữ "tình" của niềm đam mê, của bản lĩnh, của khát vọng cống hiến mà nghề làm báo đã mang đến cho ông và các đồng nghiệp trong những lần tác nghiệp nơi "tuyến đầu" : "Tìm mật, yêu hoa, - con ong vàng nho nhỏ/ Gom niềm vui trong mỗi chuyến đi về. / Biền biệt xa em lẻ bóng nơi quê/ Ai có thấu cho tình anh - nghề báo? / Mùa thu ơi, trời nguội dần mưa bão/ Thuyền lên ngôi, lướt tới bến bờ xa". Với mỗi nơi nhà thơ đi qua, mỗi công việc nhà thơ làm trong cuộc đời, ông đều nhận được những "ân tình" ngọt ngào, tươi đẹp, đầy sức sống mà nơi ấy đã hào phóng dành tặng cho ông.

Không chỉ nhận về mà nhà thơ luôn có ý thức trao đi những "ân tình" riêng mang trong tâm hồn mình cho quê hương đất nước, cho gia đình, người thân, những bạn bè ông gặp trên đường đời, đường thơ, đường báo mà mình đi qua. Chúng ta có thể thấy tâm tình mà nhà thơ gửi gắm tới cuộc đời nhiều nhất đó là nỗi nhớ. Nhà thơ: "Nhớ quê; Nhớ Đầm vạc; Nhớ phố Me; Nhớ bạn thơ; Nhớ em mùa vải chín; Nhớ nhà báo Trần Văn Liên; Nỗi nhớ trường xưa; Nỗi nhớ biên cương; Nhung nhớ chị ơi; Nỗi nhớ một loài hoa..". Dù là cảnh hay người, dù là sự vật hay sự việc, thì những nỗi nhớ ấy luôn thường trực trong tâm khảm nhà thơ, nhắc nhớ ông về những gì đã qua trong quá vãng, bồi tụ vẻ đẹp tâm hồn tình cảm, giúp ông thăng hoa trong các sáng tác của mình. Nếu nỗi nhớ là biểu hiện của một tâm hồn, một cách nghĩ, một lối sống cặn kẽ, chân tình, sâu sắc thì lòng "biết ơn" chính là "đỉnh cao" của sự sâu sắc ấy. Thường trực trong tâm khảm Hữu Thọ là niềm: "Ơn quê; Ơn người đi trước thời gian; Ơn người khai sáng; Ơn Đảng - Bác hồi sinh.." . Từ lòng biết ơn nhà thơ đã viết lên những bản tình ca dung dị, ca ngợi cuộc sống, ca ngợi vẻ đẹp chân, thiện, mỹ, ích của tình người. "Bài ca cấp uỷ; Bài ca đổi mới; Bài ca xe tuyến; Bài ca U23 Việt Nam; Tình ca đường mới.." là những bài thơ mang âm hưởng vui tươi, nhịp điệu nhanh, khỏe, rộn ràng đã thể hiện rất rõ nhiệt huyết trong trái tim nhà thơ Hữu Thọ với cuộc đời, với lý tưởng cao cả và nghiệp văn chương đầy kiêu hãnh mà ông theo đuổi từ thủa thanh xuân cho đến nay.

Nói về "ân tình" trong thơ Hữu Thọ không thể không nhắc tới bài thơ "Theo Đảng - Bác" . Đây là bài thơ được bạn bè văn nghệ sĩ, những người yêu thơ ông rất tâm đắc và thường xuyên ngâm ngợi mỗi khi gặp nhau trong hội nghị hay trong những lúc trà dư tửu hậu: "Bạn thơ ơi, đôi lời tâm huyết/ Khi chia xa - nào biết gặp nhau/ Thơ và đời là máu thịt đằm sâu/ Ôi hạnh phúc - được bạn bè yêu quý/ Tám mươi xuân - người thơ chưa nghỉ/ Nghiệp văn chương - theo Đảng Bác nên người/ Dù mai này, như một cánh sao rơi/ Ta viên mãn được trở về Đất mẹ/ Lại mộng mơ - khi tuổi hồng - thơ trẻ/ Xanh cho Đời - thắp lửa trong tôi." . Chân thật, tình cảm, trước sau vẹn toàn, tin yêu đủ đầy, nồng nàn hứng khởi.. là những điều mà bài thơ kết đọng, lắng sâu và thể hiện rõ nhất "hồn thơ" Hữu Thọ trong suốt sự nghiệp thơ ông. "Nghiệp văn chương - Theo Đảng Bác nên người.." câu thơ ý nghĩa quá, cao đẹp quá.. nó đã "thắp lửa trong tôi", giúp những "người trẻ" như chúng tôi hôm nay có thêm nhiều động lực, niềm hứng khởi và niềm tin yêu để viết tiếp, sáng tạo tiếp những tác phẩm văn chương đích thực. Cảm ơn nhà thơ Hữu Thọ với những "ân tình" ông dành cho thơ, cho đời để các tác phẩm của ông còn được lưu truyền mãi về sau.

Có lẽ không cần nói nhiều về "thi pháp" thơ Hữu Thọ bởi chúng ta cứ đọc "Duyên tình của núi" sẽ thấy hết khả năng sử dụng ngôn ngữ Tiếng Việt và cách xây dựng tứ thơ, thổi hồn vào những hình ảnh thơ của Hữu Thọ "chuyên nghiệp", "tài tử" và "tinh xảo" đến nhường nào.. Xin được gửi tới nhà thơ kính quý vài lời gọi là "tâm thơ" của kẻ hậu sinh với mong muốn ông sẽ đóng góp thêm nhiều tác phẩm hay cho vườn thơ quê nhà trong tương lai.


Xuân 2024

Lê Gia Hoài
 
255 ❤︎ Bài viết: 667 Tìm chủ đề
2. ĐẰM THẮM "TỰ KHÚC MỘC MIÊN" CỦA MAI PHƯƠNG

Dù chẳng bao giờ coi mình là những đóa mộc miên rực rỡ vào những ngày xuân. Nhưng những thi phẩm mà nhà thơ Mai Phương - Hội viên Hội VHNT Vĩnh Phúc viết lên đều là những dòng "tự khúc" lắng sâu, đằm thắm tình người, tình đời như những đóa mộc miên vẫn luôn thắm đỏ mỗi dịp xuân chín đầy trời. 50 thi phẩm trong thi tuyển "Tự khúc mộc miên" do NXB Hội Nhà văn ấn hành quý III/2023 là minh chứng rõ nét cho vẻ đẹp của cảm xúc, nhịp đập trái tim về những điều "đáng viết", đáng ngợi ca mà nhà thơ Mai Phương muốn dâng lên cuộc sống.

Tuyển thơ "Tự khúc mộc miên" là tập hợp những bài thơ thuộc nhiều đề tài khác nhau, với nhiều cách thể hiện khác nhau. Đó là những bài thơ viết về: Quê hương đất nước Việt Nam yêu dấu; Đảng Bác, cách mạng; lịch sử, văn hóa, con người Vĩnh Phúc (nơi chôn nhau cắt rốn của nhà thơ) và là tập hợp của những cảm xúc riêng mang ghi lại dấu ấn cuộc đời trong tâm hồn nhà thơ từ thuở thiếu thời đến ngày nay.


481023072_613149008275621_2797014703348505738_n.jpg

Tổ quốc Việt Nam yêu dấu, nguồn đề tài bao la rộng lớn là nguồn cảm hứng bất tận cho thi nhân. Với nhà thơ Mai Phương thì "Tổ quốc trong tôi là điều thiêng liêng nhất/.. thiêng liêng như máu thịt" . Bởi Tổ quốc trong thế giới quan của nhà thơ là những gì gần gũi, bình dị nhất. Đó là: "rạ rơm sau mùa gặt, cánh vạc, cánh cò trong lời ru của mẹ, biên ải trập trùng đá, ánh điện đêm đêm như dải ngân hà, Đảng, quân, dân son sắt một lòng) . Tất cả những điều bình dị ấy làm nên vẻ đẹp tuyệt vời của Tổ quốc Việt Nam thân yêu để " Xin hát giữa thênh thang đất trời lồng lộng/ Ngợi ca Tổ quốc mình lời hứa tự trái tim " (Tổ quốc trong tôi). Bên cạnh đó, hình ảnh Tổ quốc hiện hữu trong thơ Mai Phương là những điều thiêng liêng cao cả tràn đầy cảm xúc. (Lễ chào cờ trên đỉnh trời Lũng Cú) diễn tả rất rõ sự trang nghiêm, niềm tin yêu phơi phới của nhà thơ khi được chào cờ nơi biên ải thiêng liêng: " Đỉnh núi Rồng cờ Tổ quốc tung bay/ Chúng tôi.. Hát "Tiến quân ca" bằng lửa trái tim mình.. / Càng vững tin về một miền biên ải.. " linh thiêng, bất khả xâm phạm. Hơn thế nữa, còn là những vần thơ đau đáu niềm thương, đau đáu xót xa bởi sự mất mát hy sinh của bao thế hệ cha anh để Tổ quốc trường tồn mãi mãi muôn sau: " Sau bốn mươi năm trở lại Vị Xuyên.. / Gia tài mang đi tuổi mười tám đôi mươi.. / Nghiêm trang cúi chào các anh hùng bất tử - Đất nước ơi " (Nơi địa đầu tổ quốc).

Hòa cùng tình yêu Tổ quốc thiêng liêng cao đẹp là những vần thơ ca ngợi quê hương Vĩnh Phúc (nơi chôn nhau cắt rốn) của nhà thơ trong suốt chiều dài lịch sử đi lên cùng đất nước Việt Nam thân yêu. Quê hương hiện lên trong (Ký ức tuổi thơ) đằm thắm tình quê, tình người với: " tiếng chuông chùa vang vọng, lũ trẻ mục đồng nghễu nghện lưng trâu, cánh chuồn bay mãi, mẹ gom nắng cho lúa lên bông.. " . Những hình ảnh gần gũi, bình dị của quê hương đẹp đến nao lòng đã" ban tặng đầu đời "để hồn thơ Mai Phương bừng nở mang lại niềm hạnh phúc lớn lao trong sự nghiệp văn chương của bà. Nếu (Trầm tích làng) là vẻ đẹp của bản sắc văn hóa truyền đời " Gạch nghiêng lát ngõ đi về/ Bờ tre cổ tích trưa hè râm ran/ Đình làng cột mốc rêu phong/ Án hương nương náu tâm linh bao đời.. " thì (Đồng quê ban mai) lại mang vẻ đẹp của sự tươi mới, rộn rã, tinh khôi " Những con chim hót gọi ban mai.. / Nhịp sống mới dâng tràn khắp nẻo đồng quê.. " . Nếu (Vĩnh Phúc với Bác Hồ) là lòng biết ơn sâu sắc tình cảm mà vị cha già dân tộc dành cho Vĩnh Phúc; là tâm nguyện sắt son một lòng học tập, làm theo tấm gương Người " Hứa với Bác, dù chông gai phía trước/ Vĩnh Phúc kiên cường cùng đất nước đi lên. " thì (Vĩnh Phúc nơi khởi sắc đất trời) lại là niềm tự hào sâu sắc về mảnh đất quê hương nơi có Vĩnh Yên lộng lẫy, Đồng Đậu Linh thiêng, Cà Lồ thao thiết chảy, Bình Lệ Nguyên trù phú, đỉnh Phù Vân thánh thót tiếng đại ngàn.. Tất cả, tất cả những địa danh mang đậm dấu ấn lịch sử ấy đã mang đến niềm cảm khái sâu sắc trong tâm hồn để nhà thơ thốt lên" Vĩnh Phúc yêu thương nơi khởi sắc đất trời " .

Không chỉ có vậy, những miền quê yêu dấu trên địa bàn Vĩnh Phúc cũng được nhà thơ ghé thăm và có nhiều vần thơ đẹp lưu dấu tâm hồn về nơi ấy. Ta có thể bắt gặp trong " Tự khúc mộc miên " hình ảnh Bình Xuyên đầy khát vọng vươn lên " Với niềm tin, sức trẻ tuổi thanh xuân " ; khu công hiệp " Bá Thiện nơi thắp sáng niềm tin " ; khu du lịch Tam Đảo " Một miền quê yên bình đang vào mùa khởi sắc ", luôn được nhà thơ gửi lòng " Mơ về thành phố tương lai " với niềm tin nơi đây sẽ là điểm đến du lịch đẹp nhất Miền Bắc nước ta. Nhiều hơn thế, khi viết về " Mùa xuân trên miền đá dựng ", nhà thơ đã dành những ngôn từ đẹp nhất để ca ngợi vẻ đẹp của miền đất Lập Thạch anh hùng giàu bản sắc. Ở nơi ấy có cầu Bến Gạo bắc ngang dòng Phó Đáy với phố trong làng, làng trong phố luôn nhộn nhịp âm thanh Sịnh ca Cao Lan và " Những mái nhà hạnh phúc ấm êm " để rồi nhà thơ phải thốt lên " Miền đá dựng quê mình đẹp mãi " . Còn rất nhiều những bài thơ, câu thơ hay về những miền đất như thế mà trong khuôn khổ bài viết này khó có thể thống kê hết. Cũng qua đây mới thấy được sức đi, sức cảm và sức khai mở của tâm hồn nhà thơ Mai Phương lớn đến như thế nào!

Bên cạnh những vần thơ ca ngợi vẻ đẹp thiêng liêng của Tổ quốc, của quê hương yêu dấu chúng ta còn bắt gặp trong thi tuyển những " tự khúc " về tình yêu trong sáng, lãng mạn và đầy thi vị mà nhà thơ gửi tới độc giả trong tuyển tập này. Mỗi" tự khúc "là một" rung cảm "riêng biệt chất chứa trong tâm hồn những người yêu nhau để rồi " Chỉ khi giữa thinh không tĩnh lặng/ Ta lắng hồn mới cảm được về nhau " . Đó là" đề từ ", là thông điệp mà nhà thơ muốn gửi đến bạn đọc khi tiếp cận với những bài thơ tình của bà khi đọc được đâu đó trên đường đời. Có những" tự khúc "nhà thơ nhớ lại mối tình đầu đầy biến động khi tình yêu đôi lứa gắn vời tình yêu Tổ quốc thiêng liêng. Tình yêu ấy có xúc cảm nồng nàn đắm say " Hôn tóc em, thì thầm.. thăm thẳm tháng ngày.. ", có chờ đợi mỏi mòn" Giấu nỗi niềm.. biền biệt tháng năm ", có sự đớn đau mất mát " Vắng anh trong đoàn quân chiến thắng trở về ", có sự chấp nhận và một niềm tin vào tương lai " Mong anh? Dắt em qua những tháng ngày giông bão. " – (Những tháng ngày giông bão). Có những" tự khúc "thật nhẹ mà lắng sâu, chỉ thoảng qua mà làm ta nhớ mãi. Đó là khi đứng ngắm " Chiều đông bên phủ Tây Hồ ", lòng vời vợi " Chợt bóng người xưa " hiện ra trong tâm trí, để " Một thời cháy bỏng " đã làm thẫn thờ tâm hồn thi nhân. Với" tự khúc "riêng mang " Viết gửi anh " nhà thơ đã tự ru mình bằng những vần thơ dung dị với cảm quan lãng mạn tích cực ".. Tiếng cười anh vẫn ấm lòng năm tháng/ Đến tận cùng chứng giám một tình yêu " . Có thể nói thơ tình xuất hiện không nhiều trong " Tự khúc mộc miên " nhưng những thi phẩm hiện diện trong tuyển tập là những bài thơ tình hay, với những rung cảm đằm sâu của một trái tim đã đi qua hết thảy các cung bậc mê đắm của tình yêu từ thuở thanh xuân đến nay.

Làm nên thành công cho tuyển thơ " Tự khúc mộc miên " không chỉ là cách lựa chọn sáng tạo chủ đề, làm nên sự đa dạng về đề tài mà còn là sự thành công về mặt" thi pháp "mà nhà thơ Mai Phương thể hiện trong từng tác phẩm của mình. Thơ tự do của bà chiếm số lượng lớn trong thi tuyển. Đó là những tứ thơ đẹp, nhịp điệu uyển chuyển, thi ảnh mượt mà, giàu sức biểu cảm, khả năng liên kết ý tứ chặt chẽ, gợi liên tưởng sâu rộng. Nhà thơ thường viết những bài thơ có dung lượng vừa phải, tức không quá dài hoặc quá ngắn. Kết cấu mỗi bài thơ có mở, thân, kết theo trật tự tuyến tính được sắp xếp có dụng ý rõ ràng làm mỗi bài thơ có tính" minh triết cao ", đặc biệt những bài thơ mang đề tài" cách mạng "của bà. Bên cạnh đó là khả năng sử dụng ngôn ngữ Tiếng Việt" điệu nghệ "giúp thơ bà có nhiều câu thơ vào loại" đặc sắc "ru lòng người đọc.

Như sắc mộc miên rực rỡ những ngày xuân đến. " Tự khúc mộc miên" của thi sĩ Mai Phương như một bản tình ca đẹp, tỏa hương thơm ngát miền thơ Vĩnh Phúc. Đây cũng là thành tựu của một người thơ với trái tim nhạy cảm, biết yêu, biết sống và sẵn sàng cống hiến tất cả cho vẻ đẹp của nghệ thuật ngôn từ. Chúc mừng nhà thơ Mai Phương, chúc mừng Hội VHNT Vĩnh Phúc có thêm một đóa mộc miên xinh tươi, đằm thắm như chính tâm hồn thi nhân vậy.


Lê Gia Hoài
 
Chỉnh sửa cuối:
255 ❤︎ Bài viết: 667 Tìm chủ đề
3. ĐẾN "PHỐ VỢ CŨ" MÀ GÁ TÌNH DUYÊN

Ở thành phố cảng Hải Phòng có bác sĩ Thy Nguyên (Thy) chuyên làm xét nghiệm, chẩn trị bệnh tình cho nhiều người. Cứ làm xét nghiệm của bác sĩ này là ra bệnh. Nam yếu tiền liệt tuyến, nữ hỏng tuyến thượng thận. Tìm ra bệnh rồi, Thy không cấp thuốc chữa bệnh mà kê đơn (đơn dài tận 96 trang với 47 vị thuốc và ghi rõ đơn vị cấp phép là NXB Hội Nhà văn). Có đơn rồi các bệnh nhân đến "Phố vợ cũ" mà mua thuốc điều trị. Khỏi hay không bác sĩ không quan tâm. Nhưng vấn đề là các bệnh nhân tìm đến đây rồi thì 99% là khỏi bệnh và sống dai, yêu dài hơn người thường rất nhiều. Vậy "Phố vợ cũ" có gì mà hiệu nghiệm thế chứ? Thôi thì cứ điểm qua như này để ai chưa đến, chưa chạm vào con phố kỳ diệu ấy biết sơ sơ vậy. Ở "Phố vợ cũ" có:

480906701_617107827879739_2015859234547441370_n.jpg

- Thiên nhiên tươi đẹp, khác biệt và ấn tượng vô cùng với: "Lá Xuân mùa trước – Mưa mắc cạm lòng người/ Em già như cát bỏng"; với "Trăng lạnh và mưa già – Díu dan ngày em hạnh/ Chưa một lần dự cảm đa đoan.."; nơi này còn có "Gió mùa – Nhiều úa phai đã ở cuối con đường"; có "Góc Thu – không trọng lượng.. / Trăng ngày xưa rớt xuống gối ngủ ngồi..".

- Dấu ấn văn hóa miền biển cả đậm đà bản sắc với các địa danh đã thành thương hiệu văn hóa xứ hoa phượng đỏ như: Thủy Nguyên, phà Bính, núi Đèo, sông Giá, chùa Mỹ Cụ, người Chính Mỹ, núi Rồng.. với "Đá trơ tuế nguyệt thao thiết gầy.." rất khác biệt.

- Thời gian được xác lập bằng nhịp điệu phản ứng của cỏ cây hoa lá mỗi mùa đi qua, của đất trời bốn ngả hay của tháng ngày hữu hình và có khi bằng nhịp đập tinh tế của trái tim những người "vợ cũ", "chồng cũ". Thế nên ai đến đây cũng thấy: "Tháng Ba – Nở bao lơ lửng vào ngon ngót mềm.."; "Tháng Tư – hoa xoài rụng bầm gốc nhãn/ Em hoài thai cô đơn"; "Gửi tháng Bảy – Gặt những hơn thua đổi lấy yên lành.. / Đợi những yêu thương nơi tháng Bảy nảy mầm."; "Cuối năm – Cánh cửa mở đón ngọn đông phong xù xì..". Tất nhiên thời gian ở đây cũng có linh hồn, cũng đa đoan, đa cảm như con người vậy.

- Tình cảm mà những người "vợ cũ" dành cho gia đình đầy ắp giá trị nhân văn với nỗi: "Nhớ mẹ - Dặn con lớn lên" lấy chồng gần "..."

Nhớ mẹ chồng – Đã thua lẽ mọn đã vừa mặn môi.. ";" Lời ru tháng ba – Lênh khênh bèo dâu tập tênh hoa gạo/ Tháng ba võ vàng run run mưa Xuân.. ";" Bố ốm – Ru đời mình bằng lời ru người đàn bà ngã sáu.. ";" Lặng im nhớ con – Hai tay hai chân huơ lên chiều co giật.. ";" Đưa con đi thi – Mưa như trút xuống con đường mẹ chở.. / Những trật tự già nua nơi mẹ đứng.. ";" Tiễn con đi ở trọ - Mẹ nắn nót chân mình đặt lên vết chân con.. ". Họ thật hiền ngoan, thật đằm thắm và rất tuyệt vời. Khối cái ở họ chẳng cũ tý nào.

- Sống trong phố ấy có những người" đàn bà "thanh xuân chín muồi, đẹp từ trong ra ngoài, từ trên xuống dưới, vẻ đẹp vượt qua thời gian, vượt qua quy chuẩn thông thường của những quy định mang tính chất" điều lệ "mà xã hội áp đặt cho họ từ xưa đến nay. Đó là những người đàn bà có:" Mắt nến; Tóc hát.. ", biết:" Tập tênh; Tự vấn; Đong đếm; Nghe ca trù cửa đình; Ngắm hoa; Viết ngắn.. và đặc biệt là họ có vẻ đẹp của sự tự tin cao vời vợi "Tôi đãi tôi/ Tôi ái mộ tôi/ Bữa tiệc đời chỉ bài thơ viết dở - Tôi".

Đến đây chắc các bạn đã mường tượng sơ qua về "Phố vợ cũ" rồi chứ nhỉ! Ai thấy mình cần tìm bạn, người tri âm hay người tình cứ đầu tư lấy một đơn thuốc của Thi (có 98.000đ/ 1đơn) rồi đến "Phố vợ cũ" mà chiêm nghiệm, mà mua sắm, mà "lấy" cho mình nguồn sống, nguồn sinh lực để tiếp tục cuộc yêu còn dang dở với đời. Bản tin quảng cáo cho "Phố vợ cũ" đến đây là hết rồi. Chúc mọi người sẽ tìm thấy cái đẹp mình cần khi đến với "Phố vợ cũ" của bác sĩ Thy Nguyên nhé!

Lê Gia Hoài
 
255 ❤︎ Bài viết: 667 Tìm chủ đề
4. HÌNH ẢNH NGƯỜI LÍNH TRONG TUYỂN TẬP TRUYỆN NGẮN

"GƯƠNG MẶT THỜI GIAN" CỦA NHÀ VĂN VŨ HẢI ĐĂNG

Trong dòng chảy văn xuôi ở Vĩnh Phúc những năm đầu thế kỷ XXI xuất hiện không nhiều các tác phẩm về đề tài "Chiến tranh cách mạng". Tuy nhiên đã có một vài tác giả lại khá thành công với mảng đề tài này. Một trong số đó phải kể đến tập truyện ngắn "Gương mặt thời gian" của Đại tá nhà văn Vũ Hải Đăng (Hội viên Hội VHNT Vĩnh Phúc). Tác phẩm được NXB Hội Nhà văn ấn hành quý III/2023.

Với 14 truyện ngắn, mỗi truyện dài trên dưới 3000 từ làm nên 242 trang in là thời lượng khá "xinh" gây hứng thú và để người đọc không "hoảng" vì sách dày, thời lượng lớn và không thờ ơ vì sách quá mỏng, nội dung sơ sài, thiếu hấp dẫn. Trong 14 truyện thì đã có 10 truyện ngắn viết về hình ảnh người lính hoặc có liên quan đến người lính thời hiện đại. Chính vì vậy nội dung tư tưởng chính trong toàn tập truyện ngắn này là "ca ngợi vẻ đẹp của người lính cụ Hồ" không chỉ trong chiến đấu mà còn trong hiện thực đời sống xã hội ở thời bình. "Cuốn sách không chỉ dừng ở chân dung những người lính trong cuộc kháng chiến chống Mỹ mà còn có cả những người chiến sĩ trong cuộc chiến tranh bảo vệ biên giới phía Bắc và thời hậu chiến sau này – Lời nói đầu".


481060023_619985710925284_5298417682473191319_n.jpg

Có 4 truyện ngắn không viết người lính. Truyện ngắn lịch sử "Một ngày như huyền thoại vua Lê" với nhân vật chính là Vua Lê Thánh Tông trong một chuyến vi hành cứu giúp đồng bào bị lũ lụt gần hồ Dâm Đàm, Thăng Long (Hà Nội ngày nay). Truyện ngắn lấy bối cảnh dịch Covid "Người về từ tâm dịch" kể về tình hữu nghị của nhân dân, doanh nghiệp hai nước Việt Nam – Trung Quốc. Tình bạn, tình đồng nghiệp, tình yêu của hai nhân vật Vũ (Vũ Hán – TQ) với Xuyên (Vĩnh Phúc – VN) và mối giao tình của gia đình đôi bạn trẻ đã làm toát lên vẻ đẹp của tình hữu nghị giữa hai đất nước có nhiều điểm chung về lịch sử văn hóa và sự phát triển. Qua cuộc chiến chống lại dịch Covid 19 chúng ta thấy được sức mạnh của sự đoàn kết, không có biên giới nào có thể làm mất đi sức mạnh của tình đoàn kết ấy. Truyện ngắn "Con đường trong mưa" kể về sự hy sinh thầm lặng của một con người bình thường đã giúp cho vợ chồng nhân vật Lê Thanh thoát khỏi rắc rối, thậm chí là nguy hiểm khi hai vợ chồng đi làm về dưới trận mưa to, bão lớn. Mỗi người được giúp đỡ một kiểu nhưng đều đến từ sự thầm lặng của một người bình thường đang sống quanh ta. Truyện ngắn "Chợ quê" kể về tình nghĩa của những người dân sống quanh đầm Vạc, thành phố Vĩnh Yên trong đại dịch Covid. Tất cả đều rất nghĩa tình, yêu thương, đùm bọc nhau như người thân trong gia đình.

Những nhân vật là hiện thân của những người lính xuất hiện trong các truyện ngắn ở tuyển tập "Gương mặt thời gian" đều được khắc họa với những nét tính cách đặc trưng của những người lính thời đại Hồ Chí Minh: Anh dũng, kiên cường, bất khuất, căm thù giặc sâu sắc, sẵn sàng hy sinh.. trong chiến đấu; tình nghĩa, thủy chung, một lòng vì đồng chí, đồng đội, yêu quê hương đất nước.. trong thời bình. Mỗi truyện ngắn một nhân vật, một cá tính khác biệt làm nên "những gương mặt" tiêu biểu đại diện cho một thế hệ "sẵn sàng sống, chiến đấu vì nền độ lập tự do của Tổ quốc". Họ là những anh hùng thời đại Hồ Chí Minh, là những công dân tiêu biểu của Tổ quốc Việt Nam anh hùng.

Có 3 truyện ký (kể về chính tác giả) trong tuyển tập. Truyện ký "Nhớ cái Tết đầu tiên trong đời bộ đội" là những dòng hồi tưởng hết sức chân thật của tác giả xuất hiện trong ngôi kể thứ nhất. Nhân vật "tôi" đã tái hiện lại hình ảnh một chàng tân binh vừa háo hức vừa ngô nghê lao vào cuộc chiến đấu với tâm thức "Đường ra trận mùa này đẹp lắm". Để rồi anh còn nhớ mãi cảnh ăn Tết có "rượu, đài, pháo nứa và những vũ điệu lăm vông trên đất Lào" năm 1973 đầy xúc động. Cái Tết ấy, tấm chân tình của đồng bào Lào ngày ấy đã khắc sâu vào lòng tác giả một kỷ niệm không bao giờ phai nhạt. Truyện ký thứ 2 "Bướm vàng ơi đi đâu" kể về cuộc gặp gỡ hết sức xúc động của hai anh em, một là "tôi" và một tên Bình (em trai đồng đội với tôi). Từ cuộc gặp gỡ ấy cảm xúc từ 45 năm trước của nhân vật "tôi" lại ùa về. Đó là câu chuyện giữa "tôi" và Hòa cùng đơn vị chiến đấu đã dành được nhiều chiến tích huy hoàng. Tuy nhiên trong một lần đi vận động dân bản cán bộ Hòa bị bọn Phun-rô băn lén và Hòa đã hy sinh giữa Thung lũng Tình yêu ở Đà Lạt. Nay "tôi' gặp lại Bình giữa thành phố ngàn hoa, thấy em trai đồng đội đã là một người thành đạt mà mừng quá. Một chú bướm vàng xuất hiện như linh hồn Hòa đón bạn cũ về thăm lại chiến trường xưa. Truyện ký thứ ba " Hai lần lên biên giới " kể về kỷ niệm nho nhỏ của tác giả khi lên biên giới Tây Bắc. Kỷ niệm đầu kể về cuộc gặp gỡ với các" cô nuôi "dí dỏm, hài hước, nhiệt tình và cũng rất dũng cảm. Kỷ niệm thứ hai là việc tác giả mang hai bản nhạc tặng sư đoàn 431, sư đoàn tổ chức dàn dựng, tham gia hội diễn toàn quân và đã đạt giải thưởng. Tuy một lần đi nhưng hai lần đến với biên giới, đó là những kỷ niệm thật đẹp của tác giả.

Tám truyện ngắn còn lại đều là những truyện trực tiếp viết về hình ảnh người lính trong chiến đấu. Có truyện tác giả là nhân vật chính, có truyện tác giả kể lại nội dung truyện được nghe, chứng kiến hoặc gián tiếp tham gia vào tình huống truyện do người khác kể lại.

Truyện ngắn " Mái trường " kể về những ngày đầu tiên mà tác giả tham gia quân đội. Đó là những kỷ niệm xúc động của tác giả với mẹ ở quê nhà, với đồng đội ở khu huấn luyện và với thầy cô ở trường Học viện kỹ thuật quân sự. Tình huống truyện không có gì đáng nói, chỉ tình cảm, cảm xúc trong truyện để lại nhiều dư ba trong lòng bạn đọc. Truyện ngắn " Tiếng chuông chiều " kể về người nữ Thanh niên xung phong tên Thoan và cuộc tình lãng mạn của cô với anh chiến sĩ H trong một lần gặp gỡ ở" ngầm Ly Tôn – Quảng Trị ". Chỉ có 12 giờ cho cuộc gặp ấy nhưng đó là tất cả mấu chốt vấn đề. Thoan đã đợi chờ và thất vọng, để rồi quyết định đi tu để hóa duyên mối tình éo le ấy. Truyện ngắn " Thành phố bình yên " là một cuộc tình đẹp đến nao lòng của một cô sinh viên sư phạm với người lính trải qua hai cuộc kháng chiến chống Mỹ và chống Tàu. Mặc dù người chiến sĩ đã hy sinh nhưng cô sinh viên ấy đã coi anh như người chồng và giữ mãi trong lòng mình mối tình đẹp đẽ ấy. Cô sinh viên ấy đã chịu thiệt thòi khi không lấy được người mình yêu nay lại chấp nhận nối duyên chị," lấy anh rể "cũng là một sĩ quan Quân đội Nhân dân Việt Nam để các con của chị gái không phải khổ. Trải qua nhiều biến động đau thương cuối cùng chị Yên" tên nhân vật "cũng thành toại viên mãn với chồng con tại thành phố đáng sống Đà Nẵng. Truyện ngắn " Gương mặt thời gian " cũng là tựa cho cả tập truyện là hình ảnh một người thầy giáo - bộ đội với nhiều biến động trong cuộc đời. Rời bục giảng vào chiến trường chiến đấu, trở về với bục giảng. Khi đi chiến đấu anh là hiệu phó khi trở về anh là một giáo viên bình thường, sống âm thầm lặng lẽ. Sau này thầy kết hôn với học trò cũ và có cuộc sống viên mãn. Thông điệp tác giả muốn gửi tới bạn đọc là cuộc đời đều có giá của nó. Bạn có thể thiếu thốn khiếm khuyết cái này nhưng sẽ được cuộc đời dựng xây bù đắp bằng cái khác. Bạn có thể mất mát điều này nhưng sẽ được ở điều khác.

Truyện ngắn " Tình rừng " là truyện ngắn lãng mạn và tình cảm nhất trong tuyển tập. Cuộc tình" chớp nhoáng "giữa anh lính trinh sát và cô giao liên tại Hương Thủy – Thừa Thiên Huế đã làm cho người trong cuộc không thể nào quên được, để rồi sau 50 năm họ gặp lại, nhận ra nhau thì cả hai cũng đã bước sang tuổi" cụ ". Tình rừng đẹp bởi nó kết thúc có hậu giống như câu chuyện cổ tích thời hậu chiến. Sống đẹp sẽ có ngày gặp được phúc đức! Truyện ngắn " Thông gia " là những hồi ức khó quên của hai người lính ở hai bên chiến tuyến. Ngày xưa họ tìm mọi cách để" tiêu diệt nhau "để bây giờ các con của họ lại tìm mọi cách để" cưới nhau ". Sự éo le ấy chỉ nói lên một điều: Chiến tranh thật tàn khốc, con người trên thế giới này cần hòa bình và tình yêu thương. Khép lại quá khứ đau thương hướng tới tương lai tốt đẹp là con đường duy nhất để chúng ta cùng phát triển! Truyện ngắn " Ân nhân " là truyện ngắn cuối trong tuyển tập kể về hai nhân vật Hùng và Dũng, hai người bạn, hai người lính ở hai đầu chiến tuyến.. Họ gặp lại nhau trong buổi họp lớp, cùng nhau ôn lại quãng đời binh nghiệp đầy khốc liệt. Họ chạm mặt nhau, bắt được tù binh, thả về phái bên kia và nay gặp lại." Các bạn trong lớp ai cũng mừng cho hai người bạn thân ở hai bên chiến tuyến, từ hàng ngàn cây số sau bao năm xa cách, hôm nay mới gặp lại ". Thực sự quá xúc động với hình ảnh hai người lính già bắt tay nhau với tinh thần" hòa giải "hết sức chân tình và đầy tính nhân văn.

Mười bốn truyện ngắn trong tuyển tập" Gương mặt thời gian "của nhà văn Vũ Hải Đăng là rất nhiều hình ảnh, số phận những người lính chiến" một thời đạn bom, một thời hòa bình ". Hình ảnh của họ đại diện cho lớp người mang trên vai xứ mệnh chiến đấu vì sự thống nhất của Tổ quốc. Cuộc đời binh nghiệp của họ gắn với cuộc chiến tranh của đất nước. Dù ở phía nào thì họ cũng là những con người phải hứng chịu sự mất mát đau thương đến từ cuộc chiến tàn khốc, gây đau thương mất mát cho cả hai phía. Họ đã hoàn thành xứ mệnh vào ngày 30/04/1975 nhưng những vết thương lòng còn âm ỉ cháy mãi tới hôm nay và còn cả thời gian về sau nữa. Họ là nhân chứng sống để các thế hệ trẻ hôm nay trên đất nước Việt Nam thanh bình, phát triển nhìn vào để tiếp tục phấn đấu cho một Việt Nam hùng cường sánh vai với các cường quốc năm châu như lời Bác Hồ từng nhắc nhớ.

Có thể nói bút pháp của nhà văn Vũ Hải Đăng khá chững chạc và điêu luyện trong việc xây dựng tình huống, triển khai cốt truyện, tạo dựng lớp lang, khắc họa tính cách, phân tích tâm lý nhân vật và sắp xếp bố cục.. Tất cả đã làm nên thành công rất đáng" ngợi ca "của tuyển tập truyện ngắn" Những gương mặt thời gian"của nhà văn Vũ Hải Đăng – Hội viên Hội VHNT Vĩnh Phúc.


Lê Gia Hoài
 
255 ❤︎ Bài viết: 667 Tìm chủ đề
5. KHẮC KHOẢI CÙNG "MIỀN NHỚ CÒN XANH" CỦA CHU THANH TRUNG

Miền nhớ còn xanh . Những rung động từ sâu thẳm trái tim được chưng cất thành những vần thơ đầy mê đắm. 70 thi phẩm là 70 tiếng lòng được thi nhân Chu Thanh Trung gửi gắm qua nghệ thuật ngôn từ đầy tình cảm thiết tha.

Một tập thơ ra đời. Một niềm thiêng liêng được cất lên từ thẳm sâu tâm hồn thi sĩ đa cảm. Như đất, như trời, như gió, như mây, như bản tình ca đong đầy miền nhớ. Đó là miền tuổi thơ rưng cánh "Phượng buồn" để "Mùa chưa vàng lá" cất "Lời trong mưa".. Là miền tình yêu đôi lứa rực rỡ, ngất ngây như "Mùa hoa phượng", trong trẻo như "Khúc giao mùa", óng ánh bâng khuâng như "Chiều tháng tư", ngọt ngào, đắm say hơn "Đêm chợ tình" nhưng cũng có những nỗi xa xót "Khi đã vời xa".. Đó còn là ký ức miền quê hương bao nghĩa, bao tình với "Đình làng" thâm nghiêm cổ kính, với nơi chôn nhau cắt rốn "Vĩnh Tường miền hương sắc" đất Phủ in đầy dấu vết thi nhân, với "Đêm ký ức Hội An" mê đắm "Từ trăm năm ký ức lại hiện về".. Hơn thế nữa đó còn là miền gia đình chan chứa yêu thương nơi "Quê còn có mẹ" để mỗi "Mùa Vu Lan" trở về con thêm nhớ cha mẹ nhiều hơn..


480684631_612301768360345_8681348791541253328_n.jpg

Chu Thanh Trung không bàn thế sự, không lên gân thuyết giảng, chỉ thuần cảm xúc thấm đẫm những rung động hồn người: "Đi dù nhiều nhưng chưa hết ngõ quê/ Chỉ quẩn quanh qua Xuân - Thu - Đông - Hạ/ Mấy chục năm một hành trang đầy đặn/ Nay trở về tắm lại nắng hoàng hôn" (Tự nói với mình ). Những tâm tư, những rung động ấy kết thành tứ thơ trong nội tâm thi sĩ một cách tự nhiên như hơi thở cuộc sống vậy. Cũng chính lẽ đó anh đã chọn cách sử dụng ngôn từ "thuần Việt", thể thơ thông dụng (đặc biệt thể lục bát), kết cấu, vần điệu, nhịp điệu theo phong cách truyền thống, cho nên âm hưởng thơ anh như "Lời trong mưa", như "Khúc ru chiều", như "Tiếng vọng xưa".. lan tỏa trong tâm hồn độc giả một niềm hứng khởi vô cùng.

Từ thành công của Miền nhớ còn xanh . Chúc nhà thơ Chu Thanh Trung ngày càng dồi dào bút lực, sớm cho ra đời những thi phẩm, những tuyển tập mới trong tương lai.


Lê Gia Hoài
 
255 ❤︎ Bài viết: 667 Tìm chủ đề
6. "ÂM VANG KHÚC QUÂN HÀNH"

LẮNG SÂU NHỊP NHẬP TRÁI TIM NGƯỜI LÍNH

"Thơ của Hà Văn Định có tình yêu thương trong sáng vô bờ, có trách nhiệm trước nhân dân và Tổ quốc, rất cao thượng và đầy nhân văn". Đây là nhận định hoàn toàn xác đáng và đầy đủ nhất của nhà thơ Nam Phương (Chi hội trưởng chi hội thơ Việt Nam tại Vĩnh Phúc) về tập thơ đầu tay " Âm vang khúc quân hành " của Đại tá, nhà thơ Hà Văn Định (Hội viên Hội Văn học Nghệ thuật Vĩnh Phúc), thường chú tại Phường Liên Bảo, thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc.

Quả đúng như vậy! Sau khi gấp lại trang sách cuối của cuốn sách nhỏ, xinh với 45 bài thơ được trình làng trong tuyển tập "Âm vang khúc quân hành" do Nxb. Hội Nhà văn ấn hành của "thi sĩ - chiến sĩ" Hà Văn Định; trái tim tôi cứ khắc khoải theo nhịp đập rộn ràng và lòng tôi cứ không thôi ngân vang niềm hứng khởi dâng trào bởi những thanh âm vừa ngọt ngào, vừa lắng sâu, vừa mạnh mẽ rắn rỏi mà đầy niềm tin yêu.. do nghệ thuật câu từ trong tập thơ mang lại.


480492709_612422965014892_5673624632713916660_n.jpg

Trong tập thơ, nhà thơ Hà văn Định không cố công lựa chọn đề tài, ý tưởng và xác định cách viết theo dự kiến. Các thi phẩm hiện lên theo dòng cảm xúc được tác động bởi những cảm quan từ mắt thấy, tai nghe, từ những rung động rất tinh tế trong tâm hồn.. mà thi sĩ lưu giấu xúc cảm qua sự dồn nén, chắt lọc để rồi từ đó bật lên ý tứ mà thành thơ. Tất nhiên không thể phủ nhận đề tài chủ đạo, chi phối không nhỏ tới cảm quan sáng tác của ông là: Đời sống chiến đấu, lao động và học tập của những quân nhân trong quân đội. Có đến quá nửa các bài thơ của ông có nội dung đề cập đến tâm tư, tình cảm, mơ ước, khát vọng và những nỗi niềm của những người lính nơi tiền phương. Một trong những số đó phải kể đến các thi phẩm với những câu thơ mang đầy chất lính, mạnh mẽ, hào sảng mà vẫn thấm đẫm tình cảm dung dị, lắng sâu đầy nhân văn: "Chưa bao giờ trái tim tôi dồn dập/ Gấp gáp nao nao như buổi lên đường.. / Cháy nỗi nhớ rực lòng người lính trẻ/ Rất giống nhau, thương nhất mẹ trên đời" - (Buổi lên đường) ; "Bình yên ca gác giữa đêm/ Lung linh ánh điện hừng lên sáng trời/ Vòm khuya vọng tiếng vạc rơi/ Dòng sông chao sóng vỗ lời nước non" - (Ca gác bình yên) ; "Mỗi buổi sáng ra, tuyết đầy đồi phủ trắng/ Nước trong thùng, trong chậu cũng đóng băng/ Chỉ có bọn anh những người giữ chốt/ Chẳng có lạnh nào đóng băng được em ơi!" - (Mùa Đông biên giới).. Đây cũng là điều dễ hiểu khi nhà thơ đã gắn bó cả thời thanh xuân, cả sự nghiệp cuộc đời mình với Quân đội Nhân dân Việt Nam từ lúc chiến tranh tới hòa bình.

Không chỉ viết về mình, về các đồng đội, về những nhịp bước quân hành.. "Âm vang khúc quân hành" còn là những giai điệu thiêng liêng, niềm tự hào sâu sắc về hình ảnh quê hương đất nước Việt Nam tươi đẹp, giàu có, con người sống kiên cường bất khuất, nhân ái, thủy chung; nơi ánh sáng của Đảng luôn soi đường chỉ lối, dẫn dắt và đưa toàn dân tộc đi lên thực hiện thắng lợi các cuộc Cách mạng. "Chú có thấy không lòng dân, tình Đảng/ Tình anh em bạn hữu xa gần/ Tôn vinh chú" Người có công với nước "/ Thật đáng tự hào những gì mình có được/.. Vẫn một lòng trọn niềm tin với Đảng.." - (Viếng chú). Đan xen những vần thơ đầy ắp niềm tin tưởng với Đảng quang vinh còn là những vần thơ dung dị, mộc mạc chan chứa niềm kính yêu vô hạn với Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại - Vị cha già của dân tộc, điểm tựa vững trãi cho tất cả những thắng lợi vẻ vang của Quân đội Nhân dân Việt Nam trong lịch sử. Trong tâm tưởng nhà thơ "từng bước quân hành" của mỗi người lính đều có hình ảnh "Bác vẫn cùng chúng cháu hành quân" thật gần gũi, bình dị mà thiêng liêng vô ngần: "Trong gian khổ vẫn ngời tin tưởng/ Vẫn ngân vang giọng nói Bác Hồ.. / Không có gì quý hơn độc lập tự do.. / Lời của Bác là lời non nước/ Giục giã lòng ta.. / Chính Người là sức mạnh niềm tin". Có thể nói những vần thơ viết về Đảng, Bác là điểm nhấn có giá trị tư tưởng sâu sắc góp phần không nhỏ làm nên thành công của tập thơ.

Những vấn đề lớn lao, cao cả mang tầm cỡ quốc gia, dân tộc đã được "người lính - người thơ" Hà Văn Định trải lòng bằng những thi phẩm dài mang hơi hướng trường ca. Còn những vấn đề nhỏ bé chỉ là những "cái tôi cá nhân" trong cuộc sống đời thường đã được khắc họa bằng những bài thơ ngắn, nội dung phản ánh chỉ là những "giãi bày" hết sức cô đọng, xúc tích kể cả những bài thơ viết về tình yêu đôi lứa như: "Tấm hình em"; "Thi xong thơ nhé"; "Anh hiểu rồi".. mặc dù là những lát cắt nhỏ của cuộc sống nhưng tác giả đã gợi ra rất nhiều vấn đề để bạn đọc phải suy ngẫm. Có khi chỉ là việc "ông cháu nhớ nhau" nhưng nhà thơ đã đúc rút thành quy luật của cuộc sống: "Cháu tập nhiều điều có tập nhớ ông không.. / Mà ông điện về chờ mãi cháu chẳng nghe/ Quy luật của tự nhiên là thế/ Nước chảy xuôi ào ào lũ lượt/ Khi nước trở về chảy ngược chỉ là hơi!" - (Quy luật của tự nhiên).

Không chỉ thành công trong phản ánh đời sống muôn màu qua lăng kính nghệ sĩ của một người lính có trình độ Thạc sĩ về khoa học kỹ thuật quân sự mà nhà thơ Hà Văn Định còn rất thành công trong vận dụng các thủ pháp nghệ thuật khi xác định "cách viết" với một sự hiểu biết sâu sắc về thể thơ, nhịp thơ, vần thơ, tính nhạc, tính họa, tính tư tưởng.. trong thơ, làm cho mỗi câu thơ, khổ thơ, bài thơ ông viết đều rất dễ đọc, dễ nhớ và dễ được yêu thích.

Sẽ có rất nhiều thi phẩm trong tuyển tập được vang lên trên các thi đàn, hội diễn.. nhân dịp đất nước chào mừng ngày thống nhất 30/04 hằng năm. Thành công ấy có lẽ nào không phải do tập thơ "Âm vang khúc quân hành" luôn "Lắng sâu nhịp đập trái tim người lính!".


Lê Gia Hoài
 
255 ❤︎ Bài viết: 667 Tìm chủ đề
7. XÚC CẢM THIÊNG LIÊNG THÀNH KÍNH DÂNG NGƯỜI

(Nhân đọc tập thơ "Bác đã về đây với chúng con" của Nguyễn Bá Thẩm – NXB Hội Nhà văn – 2023)

Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại! Vị cha già kính yêu của toàn thể dân tộc Việt Nam. Người không chỉ là niềm tin tất thắng trong các cuộc Cách mạng mà Người còn là nguồn cảm hứng vô tận cho các Văn nghệ sĩ làm nên các tác phẩm văn học nghệ thuật đặc sắc với giá trị tư tưởng, giá trị nhân văn vô cùng sâu sắc và cao đẹp. Một trong những nhà thơ đã làm nên những thành công ấy khi khắc họa một cách đậm nét và đầy tinh tế về hình tượng Chủ tịch Hồ Chí Minh trong những lần người về thăm và làm việc với Đảng bộ và Nhân dân Vĩnh Phúc. Đó là nhà thơ Nguyễn Bá Thẩm với tuyển tập thơ: "Bác đã về đây với chúng con" .

Cũng giống như bao tác giả khác, nhà thơ Nguyễn Bá Thẩm chưa một lần được gặp Bác trong đời. Nhưng bằng những cảm quan nhạy bén, khả năng cảm thấu hết sức tinh tế khi ông được tiếp cận với những bài báo, cuốn sách, bộ phim tư liệu hay qua lời kể trực tiếp của những nhân vật hiện thời được sống, làm việc hoặc được gặp Bác lúc sinh thời.. mà nhà thơ đã cho ra đời 60 tác phẩm "rất đẹp" về ân tình của Bác Hồ với Vĩnh Phúc và niềm kính yêu vô hạn của Nhân dân Vĩnh Phúc với Bác Hồ.


481103380_612420835015105_791080409693110465_n.jpg

Qua ngòi bút tinh tế của nhà thơ Nguyễn Bá Thẩm, hình tượng Bác Hồ đến với quê hương Vĩnh Phúc thật đơn sơ, mộc mạc, giản dị mà vô cùng thiêng liêng, cao đẹp, thánh thiện, giống một vị tiên ông giáng trần cùng làm, cùng vui với tất cả mọi người. Khi về với huyện Đông Anh năm 1958 (Thời kỳ này huyện Đông Anh thuộc tỉnh Vĩnh Phúc), Bác đã trực tiếp tát nước chống lụt cùng bà con nông dân: "Chưa một lần gặp Bác/ Chỉ nhớ tuổi nhớ tên/ Giờ gặp cụ như tiên/ Cùng với dân tát nước.." (Bác về Vĩnh Phúc năm xưa). Khi về đến xã Lai Sơn, huyện Tam Dương năm 1958 Người đã: ".. Đến từng ruộng trũng đường xa/ Những ai nghèo khó từng nhà Bác thăm/ Trưa về cơm nắm Bác ăn/ Vĩ nhân người sống như dân làm mùa.." (Lai Sơn ghi khắc ơn Người). Đâu chỉ có thế, khi về thăm huyện Bình Xuyên vào ngày Tết cổ truyền của dân tộc Người đã có những lời chúc tốt đẹp và đầy ý nghĩa với bà con nơi đây: ".. Thân thương như tiếng mẹ hiền/ Bác mừng chúc Tết, Bác khen mọi nhà/ Chung tay trên thuận dưới hòa/ Hôm qua đánh giặc, nay là làm ăn.." (Bác Hồ sống mãi trong lòng Bình Xuyên). Hơn thế nữa, khi Bác về với nhân dân Phúc Yên, Bác đã có những lời dăn dạy, chỉ bảo hết sức ân cần với cán bộ, Đảng viên trong công cuộc bảo vệ và xây dựng Tổ quốc Việt Nam thân yêu: ".. Bác hỏi thăm, chúc mọi người/ Bác dặn cán bộ từng lời trước sau/ Kháng chiến có thể dài lâu/ Cán bộ là phải đi đầu tiên phong/ Mọi thắng lợi mọi thành công/ Bí quyết là ở tấm lòng người dân.." (Phúc Yên ơn Bác muôn đời). Không chỉ trực tiếp đến với Vĩnh Phúc, Người còn dành cho Vĩnh Phúc những bức thư khen ngợi thành tích xuất sắc trong công cuộc kiến thiết quê hương đất nước. Thôn Thượng, xã Tuân Chính, huyện Vĩnh Tường đã nhận được vinh dự ấy vào ngày 02/03/1966. "Thôn Thượng Tuân Chính Vĩnh tường/ Sáng nay như có mười phương nắng về/ Ngọt ngào hương lúa đồng quê/ Đón tin thư Bác gửi về ngợi khen.." (Bác khen thôn Thượng Vĩnh Tường).. Bên cạnh việc khắc họa những lời dạy, việc làm thiết thực của Bác với Nhân dân Vĩnh Phúc, còn là những vần thơ đầy cảm khái về tình yêu thương và sự ân cần của Bác với các cá nhân, đoàn thể.. trên khắp mọi miền đất nước: "Bác đến Đền Hùng", "Bác nói về biển đảo", "Bác nói về độc lập tự do", "Chị Thanh của Bác", "Bác chia tay Út Huệ", "Thư Bác gửi cụ Bùi Bằng Đoàn".. là những bài thơ tiêu biểu cho tình cảm ấy của Bác.

"Bác đã về đây với chúng con" không chỉ đơn thuần là những thi phẩm khắc họa chân dung Bác cùng vẻ đẹp của một vĩ nhân mà còn là những xúc cảm thiêng liêng đong đầy niềm tin yêu, kính trọng và tôn thờ Bác của không chỉ Nhân dân Vĩnh Phúc mà còn là của tất cả những người dân Việt Nam đang được sống dưới thời đại của Người. Trong tuyển tập, nhà thơ không dùng những lời lẽ "đao to búa lớn", "hô vang khẩu hiệu".. để diễn tả niềm kính ngưỡng của Nhân dân với lãnh tụ. Mà ông đã dùng những lời lẽ, ngôn từ rất đơn sơ, mộc mạc - đơn sơ, mộc mạc như chính tâm hồn, lối sống và suy nghĩ của những người dân bình thường trong đời sống hằng ngày, để diễn tả tình cảm thiết tha trong sáng của người dân với vị cha già vô vàn đáng kính.

Được đón Bác về thăm là niềm vinh hạnh lớn lao với bất kể cá nhân hay tổ chức đoàn thể nào. Chính vì vậy người dân đã không thể nén được niềm vui vỡ òa khi được diện kiến Người: "Bác về rồi, Bác về rồi! / Nghe hân hoan tiếng mọi người truyền nhau/ Ầm ầm kẻ trước người sau/ Thỏa lòng mơ ước bấy lâu mong chờ/ Nềm vui như nước vỡ bờ/" Nghe đâu Người ở Thủ đô Người về" " (Phúc Yên Vĩnh Phúc Bác về) ;".. Sáng hôm ấy náo nức / Tiếng trống ếch vang lừng / Cả làng xóm tưng bừng / Chạy ùa ra đón Bác.. " (Bác về Vĩnh Phúc năm xưa). Những lời chỉ dạy ân cần, những bức thư khuyến khích động viên của Người là ngồn sinh lực mạnh mẽ, to lớn như tiếp thêm sức mạnh, như bồi đắp thêm ý chí, nghị lực và khát vọng.. cho toàn thể Nhân dân để rồi các cách làm mới, các mô hình sản xuất mới đã được ra đời và được nhân lên trên khắp mọi miền đất nước. Đã có nhiều tấm gương tiêu biểu, nhiều đoàn thể xuất sắc được cả nước biết tới với niềm ngưỡng mộ sâu sắc. " Thế là Hợp tác đầu tiên/ Có năng suất lúa vượt lên bất thường / Làng trên, xóm dưới phố phường/ Ai ai cũng hỏi: Vĩnh Tường là đâu? " (Bác khen thôn Thượng Vĩnh Tường) ; " Là Bí thư Tỉnh ủy - Đảng trao/ Thương nông dân thiếu bát cơm manh áo/ Đó là lời Bác truyền chỉ bảo/ Day dứt đêm ngày tần tảo lo toan.. / Người đã về với đất trời cây cỏ/ Bưng bát cơm thơm nhớ người (khoán hộ).. " (Nghĩ về ông Kim Ngọc). Có thể nói chính nhờ những lời dạy ân cần đầy trách nhiệm ấy của Bác mà chúng ta đã có Bí thư Kim Ngọc nức tiếng với chủ trương" khoán hộ "đầy táo bạo.. đặt nền móng cho sự phát triển vượt bậc của Vĩnh Phúc hôm nay. Hơn thế nữa, lòng biết ơn của Nhân dân Vĩnh Phúc với Bác đã được nhà thơ Nguyên Bá Thẩm khắc họa một cách mạch lạc, chi tiết đầy cảm xúc qua câu thơ: " Sáu mươi năm đã trôi qua/ Chúng con nhớ mãi cha già kính yêu. " (Lai Sơn ghi khắc ơn Người) đã làm nên những ấn tượng sâu sắc về hình ảnh con người Vĩnh Phúc ân tình, trung nghĩa, giàu lòng nhân ái trong lòng bạn đọc trên khắp mọi miền đất nước.

Ngoài sự thành công về đề tài" viết về lãnh tụ "tuyển tập" Bác đã về đây với chúng con "còn để lại những dấu ấn lớn bởi các thủ pháp nghệ thuật nhuần nhuyễn, mang đậm phong cách sáng tạo" rất có nghề "của nhà thơ Nguyễn Bá Thẩm. Thể thơ lục bát truyền thống của Việt Nam được ông sử dụng kết hợp với giọng điệu tự sự rất thành công. Chính vì vậy mỗi bài thơ của ông giống như một câu chuyện sinh động về Bác, về tình cảm của mọi người dành cho Bác. Có đến hơn nửa số bài viết ông đã sử dụng thể thơ này như: " Bác nói về biển đảo "," Bác nói về các cháu mồ côi "," Vụ án Trần Dụ Châu "," Bác về một tỉnh miền quê ".. là những ví dụ tiêu biểu.

Bên cạnh việc sử dụng thành công thể thơ lục bát trong tuyển tập " Bác đã về đây với chúng con " còn là sự thành công về việc xây dựng hình ảnh và sử dụng ngôn ngữ. Có thể nói hệ thống" thi ảnh "xuyên suốt từ bài đầu đến bài cuối của tập thơ là những hình ảnh được kết tạo bởi những từ ngữ" cơ bản thuần Việt "rất bình dị, dễ hiểu, dễ nhớ, dễ thuộc. Thế nên, từ thủ pháp dẫn dụ, điểm tô, khắc tạc.. đến kĩ thuật tạo lớp lang, mở rộng tứ thơ, gợi trường liên tưởng.. đều được nhà thơ kỳ công xây dựng với cảm xúc trào dâng, niềm kính yêu lãnh tụ vô hạn, đã làm nên những câu thơ, khổ thơ vô cùng sinh động, làm đẹp thêm hình tượng Bác Hồ trong lòng mỗi độc giả khi đến với thơ Nguyễn Bá Thẩm.

Năm 2023, Đảng bộ và Nhân dân Vĩnh Phúc long trọng tổ chức kỷ niệm 60 năm ngày Bác Hồ về thăm Vĩnh Phúc (02/03/1963 – 02/03/2023). Đây là dịp để tất cả các cán bộ Đảng viên và Nhân dân Vĩnh Phúc ôn lại những kỉ niệm tươi đẹp, rạng rỡ cùng vị Chủ tịch kính yêu của dân tộc trong từ 60 năm trước. Cũng là dịp để mỗi Đảng viên, mỗi người dân Vĩnh Phúc thể hiện lòng quyết tâm thực hiện thắng lợi lời dạy của Người " Phải làm cho Vĩnh Phúc trở thành một trong những tỉnh giàu có, phồn vinh nhất ở miền Bắc nước ta. " Cũng như thực hiện thắng lợi Chỉ thị 05-CT/TW về công cuộc " Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh " do Đảng ta phát động trong hiện tại và tương lai. Với tập thơ " Bác đã về đây với chúng con " nhà thơ Nguyễn Bá Thẩm đã góp thêm một tiếng nói, góp thêm một tiếng lòng của Văn nghệ sĩ, của Nhân dân Vĩnh Phúc tri ân sâu sắc tình cảm mà lúc sinh thời Bác Hồ dành cho Vĩnh Phúc cũng như lòng biết ơn vô hạn của Nhân dân Vĩnh Phúc với Bác Hồ kính yêu. " Vĩ nhân đây có Bác Hồ/ Đã đưa ta đến bến bờ vinh quang" (Người đưa ta đến bến bờ vinh quang).


Vĩnh Phúc tháng 05/2023

Lê Gia Hoài
 
255 ❤︎ Bài viết: 667 Tìm chủ đề
8. "BÓNG AI DẤU TRONG HỒN" CUỐN SÁCH THEO SUỐT THANH XUÂN ĐỜI TÔI

Đã từng đọc đi đọc lại nhiều lần từ gần 20 năm trước nhưng không hiểu sao cuốn sách ấy vẫn cứ mãi lay động tâm hồn tôi, cứ mãi thúc giục niềm say mê khám phá trong trái tim tôi. Nhiều lần, rất nhiều lần, mỗi khi tôi nhìn thấy nó trên giá sách, chẳng cầm lòng được, tôi lại lôi nó ra và bình tâm mà ngấu nghiến, say sưa mà hộc tốc.. đọc từ trang đầu đến trang cuối, đọc từ tác phẩm cuối tới tác phẩm đầu. Có thể nói đó là tập truyện tình yêu và hôn nhân mà tôi yêu thích nhất thời thanh xuân của mình.

Đã có không biết bao nhiêu tác giả trong nước và trên thế giới viết về tình yêu, tất nhiên có nhiều cây bút đã thành công, thành danh với mảng đề tài này. Ai là fan của ngôn tình mà không biết đến Quỳnh Giao, Emily Bronte, Conlleen McCulough, Nhất Linh, Khái Hưng, Võ Thu Hồng, Trang Hạ.. và 37 câu chuyện về tình yêu trong tuyển tập truyện ngắn này thì thật đáng tiếc biết bao. Bởi 37 câu chuyện trong tập sách là 37 sắc diện, 37 giai điệu của tình yêu mà mỗi bạn trẻ sắp, sẽ và đang yêu cần biết tới để có thêm những hiểu biết, có thêm những trải nghiệm trong cuộc sống tình yêu đời mình.


anh-hoang-hon-buon-1.jpg

Những truyện tình được nhà văn kể lại với những cốt truyện hấp dẫn, cách xây dựng tình huống truyện khá đơn giản, tình tiết diễn ra nhanh và kết thúc bất ngờ đã làm cho 37 câu chuyện như 37 thước phim ngôn tình dẫn dắt người đọc đến với nhiều cảm xúc của nhiều trạng huống khác nhau. Có những mối tình đầy si mê, lãng mạn, những cặp đôi trong cuộc vô cùng hạnh phúc, họ sinh ra là để cho nhau, trao nhau sự ngọt ngào, thăng hoa, viên mãn. Mối tình của Ba và Má người kể chuyện trong "Những cành phong lan tím" là một ví dụ minh họa. Ba và má đã yêu nhau ngay từ lần gặp đầu tiên và họ đã được chúa che chở, ban phước để tình yêu của họ trọn vẹn như màu phong lan muôn đời tím biếc. Có những mối tình chỉ thoáng qua như mây trôi, gió thoảng nhưng đã để lại bao luyến nhớ đầy vơi cho những trái tim non trẻ mới yêu lần đầu. Mối tình giữa Trà và Thắng trong "Hoa ly cho ngày thứ bảy" có lẽ là mối tình rất đẹp nếu Thắng hiểu biết hơn, bớt những ghen tuông vô lối thì anh đã không mất đi người yêu không chỉ xinh đẹp mà còn rất tài năng. Bên cạnh đó còn là những câu chuyện về tình yêu đơn phương đầy luyến tiếc, Kim yêu đơn phương Thắng – Bóng ai dấu trong hồn là một ví dụ; tình yêu độc chiếm đầy ích kỷ; tình yêu tay ba đầy rắc rối.. Mỗi kiểu tình yêu là một nốt nhạc, có lúc thăng, có lúc giáng và đều mang lại những cảm xúc, những suy tư có thể vui, có thể buồn, nhưng đều khắc vào tâm hồn người đọc những xúc cảm hết sức mạnh mẽ.

Bên cạnh những câu chuyện về tình yêu là những câu chuyện về hôn nhân. Quá nửa số truyện trong tuyển tập nói về đời sống hôn nhân và gia đình. Có những cuộc hôn nhân rất hạnh phúc, những đôi vợ chồng tha thiết yêu nhau; có những cuộc hôn nhân được làm lại từ hai phía nhưng rất đẹp, rất lãng mạn; có những cuộc hôn nhân đổ vỡ do ghen tuông, do không hợp nhau, do áp lực công việc, do hai bên cha mẹ thất hòa.. Câu nói "Hôn nhân giết chết tất cả những gì đẹp đẽ nhất của tình yêu.." của nhân vật Vân trong "Cái chết của nhân vật chính" đã nói lên tất cả. Quả đúng như vậy, đời sống hôn nhân không phải trò chơi lãng mạn của tuổi trẻ. Nó là hiện hữu của bao mối quan hệ phức tạp, bao sự ràng buộc đan xen, đòi hỏi những người bây giờ là vợ, là chồng, là rể, là râu.. cần biết cân bằng, hài hòa giữa đời sống riêng tư với đời sống chung của gia đình, của xã hội để "hoàn thành" nghĩa vụ của mình. Tác giả đã lý giải rất cặn kẽ, chi tiết những sự đổ vỡ của bao cặp đôi với bút pháp hiện thực, tỉnh táo và rất công tâm. Nghệ thuật khai thác tâm lý nhân vật đạt đến đỉnh cao giúp người đọc thấu hiểu từng nỗi đau, từng nỗi uất nghẹ của những nhân vật trong hoàn cảnh "tình yêu tan vỡ". Với trái tim phụ nữ đa cảm, giàu yêu thương, nữ văn sĩ tài năng đã cất một tiếng nói bênh vực những số phận phụ nữ bất hạnh trong cuộc sống tình yêu và hôn nhân thời chúng ta đang sống.

Tuyệt phẩm mà tôi muốn tới là tập truyện ngắn "Bóng ai giấu trong hồn" của nhà văn Thùy Dương. Đến năm 2022 này "Bóng ai giấu trong hồn" đã tròn mười tám tuổi và có thể nói đây là cuốn sách đáng đọc ít nhất một lần trong đời. Rất mong muốn rằng NXB Phụ Nữ sẽ sớm tái bản tuyệt phẩm này để các sáng tác của Thùy Dương một lần nữa được bay cao, bay xa đến tay những người yêu sách ngôn tình, yêu văn Thùy Dương và để "Bóng ai giấu trong hồn" thêm một lần tái sinh trong niềm say mê của người đọc, nhất là các bạn đọc trẻ hôm nay.

Lê Gia Hoài
 
255 ❤︎ Bài viết: 667 Tìm chủ đề
9. GỬI VÀO LỤC BÁT –

BẢN GIAO HÒA CỦA THƠ TRUYỀN THỐNG VÀ HIỆN ĐẠI

Trong không gian thi ca Việt Nam đương đại, giữa lúc nhiều thể nghiệm thơ hiện đại đang ngả nghiêng tìm kiếm tiếng nói mới, thì nhà thơ Nguyễn Khắc Thông – Hội viên hội Văn học Nghệ thuật Vĩnh Phúc, lại chọn cách "trở về", một sự trở về với thơ lục bát truyền thống. Nhưng "trở về" ở đây không phải là để hoài cổ hay giữ lại, mà là một cuộc hành hương thẩm mỹ cho sự phát triển, với tâm thế của người yêu quê hương, yêu văn hóa dân tộc một cách sâu sắc. Tập thơ "Gửi vào lục bát" được Nxb Hội Nhà văn ấn hành quý II (2025) là kết tinh của một hành trình lặng lẽ, chân thành mà nồng nàn. "Gửi vào lục bát" là nơi thi sĩ "gửi" cả cuộc đời, tâm tư, cảm xúc, ký ức và tình yêu vào từng vần thơ lục bát.

506913353_1406627760655392_5481814113565330133_n.png

Điều dễ nhận thấy nhất trong "Gửi vào lục bát" là tình yêu quê hương sâu nặng. Không phải thứ tình yêu hời hợt, mà là sự khắc khoải, gắn bó máu thịt với từng bờ tre, mái nhà, ao chuôm, giàn trầu, câu hát. Thi sĩ không chỉ miêu tả quê mà "sống" trong quê, "nợ" tình quê và để niềm quê ấy "buộc chặt một đời trong tôi" như lời kết gan ruột của nhà thơ trong bài thơ "Nợ quê buộc chặt một đời" : "Nợ quê nửa củ sắn lùi/ Khói lùm mái rạ, thơm mùi canh chua/ Nợ quê con bống, con cua/ Võng ru kẽo kẹt, song thưa mái nghèo.." Cái "nợ" ở đây không phải món nợ vật chất mà là món nợ tâm hồn, nợ ân nghĩa, nợ những mùa mưa nắng, khói rơm, tiếng mẹ ru, gió đồng, và cả cái nghèo khó mà vẫn thơm mùi canh chua. Đó là món nợ không bao giờ trả hết, là sợi dây ràng buộc thi sĩ với cội nguồn văn hóa quê hương.

Không ngẫu nhiên mà nhà thơ chọn lục bát để "gửi". Vì như ông tự sự: "Ai gieo câu lục ven đê/ Để cho câu bát tái tê mạn thuyền/ Sóng xô câu lục nên duyên/ Tôi đem câu bát nối liền tháng năm". Lục bát là thể thơ dân tộc, là mạch máu ngàn năm của thi ca Việt. Nguyễn Khắc Thông hiểu rõ điều ấy. Ông mượn thể thơ này để tái hiện cả một thế giới quê hương – nơi mà mỗi câu chữ như một nhịp thở, mỗi vần điệu như một bước chân người mẹ tảo tần.

Trong sự sáng tạo của ông, lục bát không đơn thuần là "khuôn mẫu" mà được "làm mới" bằng cảm xúc đời thường, bằng thi ảnh lặng mà sâu. Ví dụ như trong bài "Mái nhà mẹ tôi", ông vẽ lại không gian sống bằng thơ như một bức tranh quê sống động: "Dẫu đi muôn dặm thế gian/ Nhớ con gà mẹ cõng đàn gà con/ Góc sân bé chạy lon ton/ Thả diều lông vịt mắt tròn như sao.." Ở đó, mỗi hình ảnh là một mảnh ghép của ký ức, như một tấm bản đồ để người đọc "lội ngược" về miền thương nhớ.

Không dừng ở những tình cảm gia đình, làng xóm, tập thơ còn mở rộng biên độ cảm xúc ra đến những miền đất khác, nơi có dấu chân lịch sử, có máu thịt dân tộc đã đổ xuống vì độc lập tự do. Bài thơ "Ba mươi tháng Tư", "Trở lại chiến khu xưa", hay "Lời của Người đưa lối chúng con đi".. đều gợi mở cảm hứng từ những dấu mốc lớn lao của đất nước. Thơ lúc ấy trở thành sử thi cá nhân hòa vào sử thi cộng đồng: "Cờ Tổ quốc trên nóc hầm Đờ Cát/ Trên nóc Dinh Độc Lập lại tung bay/ Từ thuở mang gươm đi mở nước.. đến hôm nay/ Muôn ngả đổ về.. những li ti mạch máu.." Hình ảnh thơ sử dụng dung dị, không hô hào, nhưng đầy ám ảnh. Nó nói lên tầm vóc của người lính, của nhân dân, của một dân tộc biết hy sinh để giữ gìn đất nước.

Tình yêu là mạch ngầm chảy xuyên suốt tập thơ. Đó là tình yêu với vợ "Lục bát dáng em", với người con gái xưa "Hẹn người năm sau", với người phụ nữ giữa biển "Trần gian hóa thiên đường".. Mỗi bài là một lát cắt, nhưng đều gặp nhau ở cái nhìn đầy trân trọng, bao dung, thủy chung: "Canh tư bếp lửa em nhen/ Cơm vừng em gói, anh đem lên tàu/ Rời ga mình cứ nhìn nhau/ Dáng em chấm nhỏ cuối màu trời xanh.." Không ủy mị, không làm dáng, những vần thơ tình của Nguyễn Khắc Thông thấm thía bởi sự đời thường, nhưng lại ngân nga bởi chiều sâu cảm xúc.

Trong những bài thơ như "Đạo trà", "Lên chùa Đồng Yên Tử", hay "Chấp như thế chưa đúng", thi sĩ dường như đi tìm một nẻo thiền, nơi lặng lẽ của tâm hồn. Thơ ông lúc này như một lời gõ nhẹ vào cánh cửa nhân sinh. Lúc này ta thấy "Gửi vào lục bát" Thơ và Thiền đã gặp nhau trong sự thăng hoa của tư tưởng: "Trúc vin nghìn bậc non trèo/ Chùa Đồng Yên Tử, trăng treo ngang trời/ Bản lai diện mục, ngẫm đời/ Mõ chuông thây lẩy, đầy vơi Ta bà.." Câu chữ thanh đạm, không quá dụng công, nhưng đủ để chạm đến tầng sâu của chiêm nghiệm, của minh triết phương Đông.

Không tìm kiếm hào quang, không khoác lên mình áo choàng cách tân, thơ Nguyễn Khắc Thông lặng lẽ như một dòng sông quê, đôn hậu như tấm lòng người quê. Nhưng trong sự "lặng lẽ" ấy lại chứa đựng sức mạnh. Mỗi bài thơ là một lời trò chuyện đầy yêu thương với người đọc: "Trái tim đang cằn cỗi/ Bỗng nảy lộc đâm cành/ Mùa xuân trên đôi cánh/ Thơ bật mầm yến oanh.." Đó là những tâm tưởng giản dị mà xúc động, như chính con người thi sĩ vậy.

"Gửi vào lục bát" là một tập thơ có giá trị nghệ thuật và cảm xúc cao. Nó không chỉ kế thừa vẻ đẹp lục bát truyền thống mà còn góp phần làm mới thể thơ này trong thời đại hiện đại. Qua tập thơ, Nguyễn Khắc Thông đã cho thấy một tâm hồn thơ đôn hậu, thủy chung, tài hoa và đầy bản lĩnh. Với chất liệu ngôn ngữ giàu cảm xúc, hình ảnh sinh động, và tư duy nhân văn, tập thơ không chỉ là lời tâm sự với quê hương, với người thân, mà còn là một lời gửi gắm đến bạn đọc hôm nay và mai sau về lòng yêu nước, yêu người, yêu cái đẹp trong đời sống bình dị. Chính bởi thế "Gửi vào lục bát" góp phần xứng đáng làm giàu cho dòng thơ lục bát hiện nay trên thi đàn.


Lê Gia Hoài
 
Chỉnh sửa cuối:
255 ❤︎ Bài viết: 667 Tìm chủ đề
10. "MÙA XUÂN VỀ TRÊN CAO" –

NHỮNG CHUYẾN BAY THI CA TỪ CẢM XÚC CỦA LƯU THẾ QUYỀN

Trong dồng chảy thi ca đất Việt hôm nay, tập thơ "Mùa xuân về trên cao" của nhà thơ Lưu Thế Quyền xuất hiện như một chuyến bay đầy ấn tượng từ những cao độ cao vọt của đất trời Thanh Lãng, Bình Xuyên, Vĩnh Phúc. Đây không chỉ là một tập thơ về mùa xuân, về tình yêu hay ngợi ca quê hương đất nước đơn thuần, mà là một chuyến du ngoạn tinh thần giữa thơ đời - đời thơ, nơi ngôn ngữ trở thành bàn đạp của cảm xúc, và làn ranh thơ - nhạc – đời thường được dung hòa làm một.

496508903_740324375162830_8718950453173290602_n.jpg

1. Lấp lánh trong thi tuyển: Một mùa xuân bát ngát tầm nhìn cao rộng

Ngay từ tiêu đề "Mùa xuân về trên cao", người đọc đã thấy một ý niệm thi ca mang chiều cao tinh thần, một mùa xuân không chỉ nổ hoa, nở lốc, mà còn nở trong ý thức văn hóa, trong ánh nhìn chiêm nghiệm, hồi tưởng. Các bài thơ trong tập trở thành những đường gân của mùa xuân - có khi rốn rã niềm vui, có khi lẳng lẽ suy tư, có khi xôn xao khát vọng.

Từ "Vĩnh Phúc mùa xuân", "Xuân quê", cho tới "Tự hào Bình Xuyên", "Yên Lạc vút bay".. nhà thơ vẻ nên bức trảnh xuân nơi đất lắm, người hiền, đấm màu nủa thực nửa mơ. Đó là xuân Tam Đảo trong màu mây trắng vấn vương linh thiêng, xuân Đại Lải trong góc nhìn đô thị trẻ, xuân đầy ngập tiếng cười và ánh điện Yên Lạc, xuân nghĩa tình trong câu chào làng nghề mộc Thanh Lãng..

Tác giả Lưu Thế Quyền dùng lời thơ để chống lại sự quên lãng. Thơ anh giống như những vể vang gọi lại những góc phố, dải đường, dòng sông, đình chùa, một thời lửa rực trên đồng, một thuở yêu dấu, một ánh mắt em gái Vĩnh Phúc giữa Sapa.. Đó là cái xuân vì người, vì đất, vì cây hoa cợi làng nghề, vì những tịnh cảm khó phai trong đêm trống rỗng.


2. Từ những mùa xuân của đất trời tới những mùa xuân của lòng người

Những trang thơ của Lưu Thế Quyền đặc sắc vì anh không chỉ dững lại ở việc ngợi ca phong cảnh, mà luôn hướng về những chuyển biến tinh thần. Ở đó xuân trở thành một đối chiếu nội tâm, một trạng thái tâm hồn: Xuân giữa những dởng trồng vắng vẻ, xuân trong ký ức thời chinh chiến, xuân trong nỗi lòng người trở về sau bao năm tha hương..

Anh đề cập tới mùa xuân với tâm thế một người đã đi qua chiến trường, trở về làm thầy, rồi làm cán bộ văn nghệ, người chuyển lửa văn chương. Nên mỗi chốn xuân về trong thơ anh đều mang dấu chân con người đã thấu đồi mối niềm vui này bằng nhiều nỗi đau, hy sinh:

"Xuân trở về trên đất cũ/ Lấm lánh một không gian vẫn nghiên/ Mạch đất xưa như mối nổi duyên/ Người lái để đời có chỗ nghiên"

(Một khổi thơ đặc sác trong tập)


3. Dấu ấn ngôn ngữ và kỹ thuật biểu đạt trong thơ Lưu Thế Quyền

Một trong những điểm nổi bật làm nên bản sắc thơ Lưu Thế Quyền chính là khả năng kết hợp giữa lối viết truyền thống giàu nhạc tính với tinh thần hiện đại, sắc sảo mà vẫn giàu cảm xúc. Tác giả sử dụng nhiều biện pháp tu từ cổ điển như hoán dụ, ẩn dụ, so sánh, nhưng không gượng ép mà rất tự nhiên, nhuần nhị. Những câu thơ trong tập như tự tuôn ra từ dòng chảy cảm xúc, vừa mềm mại vừa có lực:

"Trời đất có hẹn nhau đấy chăng/ Mà tháng giêng ngỡ lòng mình nảy lộc"

Hay:

"Xuân rắc nắng vàng lên vai mẹ/ Trái tim cha thổn thức tiếng chim về"

Cách dùng từ của ông vừa dân dã, gần gũi, lại vừa sang trọng, tinh tế. Câu chữ gợi mở nhiều tầng nghĩa, có chiều sâu văn hóa và triết lý sống. Thơ ông không câu nệ hình thức nhưng vẫn giữ nhịp điệu mượt mà, mang chất nhạc nội tâm, như một bài dân ca trầm ngâm giữa đồng bằng.

Một điểm đáng chú ý khác là kỹ thuật xây dựng không gian - thời gian trong thơ. Lưu Thế Quyền nhiều khi để các không gian đồng hiện: Hiện tại và ký ức, làng quê và đô thị, ngày xuân và những mùa cũ.. tạo nên hiệu ứng hồi tưởng nhẹ nhàng, xúc động. Thời gian không trôi tuyến tính mà lắng đọng, đan cài như nếp gấp của ký ức, làm tăng chiều sâu cho cảm xúc thơ.

Ông cũng sử dụng những nhịp thơ ngắn, ngắt dòng linh hoạt, đẩy tiết tấu bài thơ thành những trường đoạn vừa cảm xúc, vừa logic. Một số bài thơ mang âm hưởng của thơ mới, một số lại gợi cảm hứng sử thi, cho thấy khả năng biến tấu phong phú, tự nhiên theo từng cảm hứng chủ đề.


4. Lời kết – Một mùa xuân không tàn trong tâm hồn thi sĩ

Tập thơ "Mùa xuân về trên cao" của Lưu Thế Quyền không đơn thuần là một bản hợp âm mùa xuân, mà là nhật ký tâm hồn của một thi sĩ từng trải – người đã sống, đã yêu, đã chiến đấu và nay lắng lại để hồi tưởng, để thắp lên niềm tin cho mai sau. Ở đó, mỗi bài thơ như một đóa hoa xuân vừa hé nở trong tâm tưởng, mang theo hương sắc quê nhà, kỷ niệm và khát vọng.

Lưu Thế Quyền đã biến mùa xuân trở thành một hình tượng sống động – không chỉ là hiện tượng tự nhiên, mà là biểu tượng của sự sống, của niềm tin, của hy vọng. Thơ ông nhắc nhở người đọc biết nâng niu cái đẹp, biết gìn giữ ký ức, biết trân trọng những mùa xuân đã, đang và sẽ đến.

"Mùa xuân về trên cao" là tập thơ dành cho những ai yêu đất, yêu người, yêu cuộc đời này một cách chân thành. Là lời nhắn gửi dịu dàng rằng: Mùa xuân thật sự không bao giờ tàn trong trái tim người thi sĩ.


Lê Gia Hoài
 
Chỉnh sửa cuối:
255 ❤︎ Bài viết: 667 Tìm chủ đề
11. NGHE "SẤM THÁNG BA" KỂ NHỮNG CHIẾN CÔNG

Nhà thơ Trọng Quyết – Hội viên Hội VHNT Vĩnh Phúc; Chủ nhiệm CLB thơ TTVH tỉnh Vĩnh được bạn đọc khắp nơi biết đến là một tác giả viết khỏe, nhiều giải thưởng trong các cuộc thi thơ trong và ngoài tỉnh Vĩnh Phúc. Trong 20 năm qua các tập thơ: Hương quê (2003) ; Lá đợi (20070; tự sự với mùa xuân (2009) ; Bên đồi mua vẫn nở (2015) ; Chủ sự tí hon (thơ thiếu nhi 2019) và Sấm tháng ba (2023) ra đời là minh chứng rất rõ cho sức viết ấy của ông.

Tập thơ ra đời gần đây nhất "Sấm tháng ba" do Nhà xuất bản Hội Nhà văn ấn hành quý II năm 2023 dày 144 trang với 44 bài thơ và một ký sự dài. Đây là những trang viết phản ánh sâu sắc những chiến công hiển hách của nhân dân ta trong hai cuộc kháng chiến trường kì và những chuyển biến của quê hương đất nước trong thời kỳ tái đổi mới và phát triển.


496513620_1781541862765722_8522085908192926_n.jpg

Lấy cảm hứng sáng tác từ hiện thực hai cuộc kháng chiến vĩ đại chống lại các thế lực thực dân đế quốc hùng mạnh của dân tộc Việt Nam, nhà thơ đã có nhiều bài thơ diễn tả cảnh lên đường đi chiến đấu của cha anh thật hiên ngang, hùng dũng, bất chấp hy sinh gian khổ. Nếu "Từ Nà Ngần, Phai Khắt các anh đi" là những đoàn binh còn non trẻ ".. Diệt đồn thù, những chiến sĩ tay không/ Lập trang sử đầu tiên – Mốc son chói lọi.." thì đến "Nhớ về Khoa Bộ" quân đội ta đã trưởng thành ".. Giáng cho địch những đòn sấm sét/ Bao xác thù cùng tàu chiến tan thây.." và đến "Tiếp bước cha anh" thì quân đội ta đã rất lớn mạnh "Toàn mặt trận ào lên công kích/ Trận cuối cùng kết thúc cả chín năm..". Đây là những bài thơ mang âm hưởng mạnh mẽ, hào sảng, đầy sức chiến đấu.. giúp người đọc như lạc vào những trấn đánh xục xôi, quyết liệt của quân dân ta hơn nửa thế kỷ trước.

Mạch cảm xúc về các trận đánh lớn còn được nhà thơ tiếp tục thể hiện rõ nét, sinh động hơn nữa trong các bài thơ viết về công cuộc thống nhất đất nước. Khi miền Bắc đã bước vào thời kỳ xây dựng XHCN thì miền Nam còn đó kẻ thù xâm lược. Nếu "Túi bom ở ngã ba Đồng Lộc" diễn tả sự khốc liệt của chiến tranh với rất nhiều mất mát đau thương ".. Bao nhiêu đường đất nát nhàu/ bấy nhiêu xương máu nối cầu xe qua.." thì "Hát trên cầu Vĩnh Bình" lại là những vần thơ khắc họa những giờ phút chiến đấu đầy quả cảm của những người lính trên mặt trận ".. Đồng đội ôm anh vào lòng xe tăng/ Đầu ngẩng cao hướng về phía địch/ Như hãy còn chỉ huy xung kích/ Vào Sài Gòn chỉ với một tầm tay..". Hai cuộc kháng chiến thần thánh, vĩ đại của dân tộc đã kết thúc thắng lợi trong chiến dịch mùa xuân lịch sử với tên gọi "Chiến dịch Hồ Chí Minh". Trận đánh cuối được kể với âm điệu hào hùng biết bao ".. Đại quân ta đang bước vào chiến dịch/ Pháo lớn xe to ầm ầm truy kích/ Sức nóng chiến trường rung chuyển cả thành đô/ Biển người dâng và biển sao cờ/ Hạnh phúc lắm khi non sông một mối/ Sung sướng khóc, cười nước mắt tuôn rơi.." (Gặp nhau giữa Sài Gòn). Thật vui mừng, hạnh phúc xiết bao khi quân ta đã làm chủ Sài Gòn, đất nước đã thống nhất và hòa bình đã trải khắp non sông Việt Nam. Trong lời tựa tập thơ ông đã khẳng định: "Vinh quang này, thắng lợi này trước hết thuộc về nhân dân Việt Nam anh hùng, của Đảng cộng sản Việt Nam quang vinh. Chúng ta tự hào về lực lượng vũ trang anh hùng"

Không chỉ kể về những chiến công hiển hách mà "Sấm tháng ba" còn kể về những mất mát hy sinh, những nỗi đau hậu chiến thật khó lòng nguôi ngoai trong một sớm một chiều. "Ai xuôi Thạch Hãn; Tấm huân chương của mẹ; Những em bé ở Nghĩa trang Trường Sơn; Những người đi qua cuộc chiến.." là những bài thơ như thế. Những vần thơ khắc khoải, ám ảnh về một thời binh lửa đã qua ".. Bạn ở đâu? Bạn ở đâu/ Sài Gòn giải phóng từ lâu lắm rồi.." (Tháng tư ngày ấy

Bên cạnh những bài thơ viết về kháng chiến, "Sấm Tháng ba" còn để lại những ấn tượng sâu sắc trong lòng bạn đọc với những lời thơ ngợi ca vẻ đẹp quê hương đất nước, tâm hồn con người, đặc biệt là hình ảnh đất và người Vĩnh Phúc trong cuộc sống đương đại. Đó có thể là hình ảnh "Cây di sản trao cháu con gì giữ" để "Rạng danh truyền thống giữ làng thôn" thật đơn sơ mộc mạc; hình ảnh "Dân hân hoan đón Bác về thăm" với lời dạy "phải làm cho Vĩnh Phúc giàu lên" thật tưng bừng phấn khởi; hình ảnh các thầy cô giáo làm nên "Những chuyến đò nhân nghĩa đã sang sông" giàu yêu thương tình nghĩa hay hình ảnh "Ý Đảng, lòng dân chung tay phấn đấu" rất đẹp để ta phải tự hào "Trang sử anh hùng có bóng dáng quê tôi".. Tất thẩy đều là những xúc cảm yêu thương da diết, tràn đầy của nhà thơ với quê hương Vĩnh Phúc thân yêu.

Các thủ pháp nghệ thuật trong "Sấm tháng ba" là điểm nhấn quan trọng làm nên thành công của tuyển tập. Cách lập tứ của nhà thơ Trọng Quyết luôn rõ ràng, rành mạch, thể hiện nhiều tầng ý nghĩa trong mỗi bài thơ. Từ hình ảnh thực ngoài đời sống được ông cách điệu đưa vào thơ không khác biệt bao nhiêu, thế cho nên có lúc đọc thơ ông mà ta như thấy những thước phim đang diễn ra trước mắt. Hình ảnh sinh động, âm thanh rõ nét tạo trường liên tưởng rất mạnh mẽ nơi người đọc. Ngôn từ tạo nên các tác phẩm không cầu kỳ đẽo gọt, không khoa trương cách điệu mà rất "thuần Việt" nên hợp với nhiều lứa tuổi bạn đọc. Các thể thơ đa dạng, lối diễn đạt gần gũi, bình dị, ít khuân mẫu kinh viện làm thơ ông giàu nhạc tính, giàu xúc cảm nên rất dễ nhớ, dễ thuộc và đặc biệt rất dễ phổ nhạc.

Với "Sấm tháng ba" nhà thơ trọng Quyết đã làm đầy thêm hành trang thơ của mình. Đó không chỉ là niềm tự hào của riêng ông mà còn là niềm tự hào của những bạn thơ cùng ông sinh hoạt trong các tổ chức thơ ở quê hương. Lời tự sự trong bài thơ cuối tập "Tôi về với sấm tháng ba/ Lúa ngô tươi tốt vườn cà đã xanh/ Sấm mang mưa nắng ngọt lành/ Sum suê cây trái, yến oanh theo về.." như tình cảm chân thành nhất ông dành tới bạn đọc yêu quý thơ mình. Chúc nhà thơ Trọng Quyết ngày càng có nhiều sáng tác mới.


Lê Gia Hoài
 
Chỉnh sửa cuối:
255 ❤︎ Bài viết: 667 Tìm chủ đề
12. NGHÊU NGAO CA – (THANH TRẮC NGUYỄN VĂN) DÒNG THƠ TRỮ TÌNH HIỆN ĐẠI

Nhà thơ Thanh Trắc Nguyễn Văn hội viên Hội Nhà Văn Tp. HCM, hội viên CLB thơ Việt Nam tên thật là Nguyễn Văn Tạo hiện đang là giáo viên giảng dạy môn Vật lý tại trường THPT Võ Thị Sáu thuộc sở GD&ĐT Tp. HCM. Các tập thơ chính đã xuất bản: Hoa sứ trắng (1997) ; Hạ nhớ (1999) ; Cỏ hoa thì thầm (2002) Quà tặng mùa đông (2007) Giọt lệ trăng (2010) Huyền thoại người lái đò (2013) và Nghêu ngao ca (2018). Những thi phẩm xuyên suốt quá trình sáng tác trong hai mươi qua năm của anh là những "bản tình thơ" đẹp, trong sáng, lãng mạn được kết tinh từ sự rung cảm đầy chất nhân văn, đầy sự sáng tạo trong thẳm sâu con người nghệ sĩ. Tình yêu quê hương đất nước, tình yêu đôi lứa, khát vọng vươn lên và những khắc khoải trong từng nhịp đập con tim của cái tôi cá nhân trong cuộc đời đi vào thơ anh như những nốt nhạc lúc thăng lúc giáng, lúc trầm lúc bổng, lúc du dương khắc khoải, lúc ào ạt bão giông.. Nó lắng đọng kết tụ trong lòng người đọc những xúc cảm những suy tư để rồi các độc giả cảm thấy vô cùng yêu thích, vô cùng hứng thú khi nhận ra vẻ đẹp của ca từ, thi tứ và tìm thấy sự đồng điệu với tâm hồn tác giả khi khép lại những tập thơ của anh.

494865203_1389541135501902_132492574022612990_n.png

Tập thơ "Nghêu ngao ca" được NXB Hội Nhà Văn ấn hành năm 2018 sau 5 năm không ra tập mới kể từ 2013 của anh. Trong tập thơ có 42 thi phẩm, 41 bài được in trong tập và 1 bài được in trong trang bìa đó là bài "Yêu" được giải thưởng của báo Tài Hoa Trẻ năm 1996. Trong tập thơ theo sự tổng hợp của Thanh Hải (bạn học của nhà thơ) có bốn mảng đề tài được nhà thơ khai thác rất thành công đó là: "1, Mái trường; 2, Quê hương; 3, Xúc cảm về cái đẹp và sự cô đơn và 4, Những vần thơ thời sự. Quả đúng như vậy: Bốn đề tài trong" Nghêu ngao ca "không mới nhưng qua" lăng kính "của Thanh Trắc ta như được lạc vào thế giới của tình yêu, của niềm đam mê và của những trăn trở suy nghĩ về tình yêu thương, về thế sự về cuộc đời. Ở mảng nào ta cũng thấy thơ anh khai thác một cách tận cùng, ngóc ngách và rất đỗi trữ tình những vấn đề ẩn sâu trong nội tại của đề tài, từ đó giúp cho người đọc có được những liên tưởng và hiểu một cách sâu sắc giá trị đích thực của nghệ thuật ngôn từ.

Thể tài trong" Nghêu ngao ca "cũng đa dạng như đề tài trong tập. Có 26 bài lục bát, 2 bài 4 chữ, 1 bài 5 chữ, 3 bài 7 chữ và 10 bài thuộc thể thơ tự do. Thơ lục bát trong tập được anh sử dụng nhiều nhất, có đến hơn một nửa số bài." Những câu thơ lục bát của anh ngày càng được biến hóa rất nhiều về nội dung và hình thức. Sự cố gắng tìm tòi, sáng tạo của anh đã khiến thể lục bát trong tập thơ càng phong phú thêm về cách diễn đạt ". (Thanh Hải – Trang 15). Đúng vậy; những vần thơ lục bát trong tuyển tập này là những vần thơ rất đẹp về tình yêu đôi lứa, về trường xưa lớp cũ, về mẹ, về quê hương đất nước.. tất cả đều toát lên những hình tượng lấp lánh vẻ đẹp của cuộc sống. Điều tôi đặc biệt chú ý là những bài thơ" Lục bát tứ tuyệt "của anh. Mỗi bài thơ là một tác phẩm hoàn chỉnh cả về tứ thơ và kết cấu với đầy đủ các yếu tố mở, thân, kết và mang lại những thông điệp rất rõ ràng với người thưởng thức." Kìa em áo mỏng như mây/Phải tiên nữ xuống đợi ngày ta yêu? /Vườn đông gió lạnh tiêu điều/Sáo em gọi nắng tan chiều cô đơ "(Thiếu nữ thổi sáo – 26). Có thể nói không phải ai cũng làm được" Lục bát tứ tuyệt "nếu không có tư duy hình tượng và tư duy logic tốt. Thanh Trắc đã rất thành công ở thể tài này.

Chất trữ tình vừa gợi mở, vừa lắng sâu trong" Ngêu ngao ca "nằm trong nội hàm của tứ thơ. Anh lập tứ một cách nhẹ nhàng, có thể là những chi tiết, hình ảnh rất nhỏ, rất gần gũi, rất bình dị như ta vẫn thấy, vẫn thường xuyên chạm vào nó. Đó là mưa trăng, áo dài, bạn cũ, quê nghèo, ký ức, người đẹp, mẹ hay con đường.. Có thể đó là những vấn đề lớn mang tính thời cuộc, mang tính thế sự rộng lớn như: Lịch sử, địa lý, giáo dục hay ước mơ, khát vọng hoài bão của một cuộc đời con người.. Chất trữ tình còn đọng lại trong các biện pháp nghệ thuật tu từ vô cùng thuần thục và điêu luyện khi anh triển khai những tứ thơ thành các thi phẩm cụ thể. (Xin lưu ý - Đây là điều khác biệt lớn nhất để có thể phân biệt được đẳng cấp của các cây bút chuyên nghiệp với nghiệp dư). Có thể nói nghệ thuật tu từ thành công nhất trong tập là nghệ thuật ẩn dụ. Mỗi bài thơ mang đến một thông điệp tình thơ khác nhau để rồi từ đó mỗi độc giả chiêm nghiệm thấy" có mình ở trong đó ". Ví như ai là thi sĩ lại không bật cười với" Thơ Ế - 78" "Gánh thơ rao phố đông người /Giai nhân, người mẫu xúm cười.. Không mua! Gánh thơ rao trước cổng chùa /Sư ông thương tặng lá bùa bình an! Gánh thơ rao giữa chợ làng /Mắm khô hút khách.. bàng hoàng thơ đau! Gánh thơ lên cõi trăng sao /Thiên Lôi chận hét:" Thằng nào bán thơ? ". Rõ là vui, rõ là hài. Có lẽ thơ chỉ dành cho em, cho tình yêu của anh thôi, còn bán ai mua..

Chất trữ tình không chỉ hiện lên trong tứ, trong hình ảnh mà còn lắng sâu trong giai điệu thơ. Giai điệu của Thanh Trắc ngọt ngào, mượt mà, tươi mới.. như vẻ đẹp của chiếc áo dài duyên dáng mà các thiếu nữ vẫn chưng diện mỗi khi đến trường hay tham gia vào các buổi lễ hội." Áo dài bước nhẹ rồi xoay/Nụ cười xinh xắn ngất ngây đất trời/Em đừng cười nữa em ơi/Kẻo tôi hóa đá một đời tương tư. "(Áo Dài - 30). Để làm nên các giai điệu ngọt như vậy thì cách gieo vần và tạo nhịp cho các câu thơ, khổ thơ đã được Nguyễn Văn thể hiện với một tư duy vô cùng" chuyên nghiệp ". Ví như vần bằng trong lục bát, vần chân liền trong ngũ ngôn hay vần chân cách trong thể thất ngôn đều được anh sử dụng chuẩn mực như" dòng mực hệt "trong thước ngắm của người thợ. Hãy xem vần" ươi "trong khổ thơ này:" Xuân đến đung đưa những tiếng cười/Áo bào ba thắm tuổi đôi mươi/Nón lá chợt nghe hồn trinh nữ/Để người ngơ ngác ngắm xuân tươi. "(Xuân trên đất phù sa - 62). Vần" ươi "gợi mở. Vần" ươi "lan tỏa giúp ta thấy không khí xuân như ùa vào trong tâm hồn. Còn nhịp thơ tạo chất trữ tình không mấy người giỏi hơn Thanh Trắc. Thơ lục bát có khi được ngắt nhịp (có 6 bài lục bát) được ngắt nhịp theo kiểu xuống dòng làm cho mạch thơ được chuyển đổi hướng sang một cung bậc khác của dòng xúc cảm tạo" Khoái cảm "cho người đọc. Hãy xem nhà thơ ngắt nhịp:" Em còn nguyên đó nụ cười/Áo dài tím/Để một người ngẩn ngơ/Lỡ quen/Tím nhớ/Tím chờ/Lỡ yêu/Tím hết dại khờ trăm năm. "(Lỡ - 128). Có thể nói vần và nhịp đa dạng đã làm cho thơ Thanh Trắc dễ đọc, dễ thuộc hơn bao giờ hết.

Xin phép được dùng lời nhận xét của nhà thơ Mỹ Hạnh – hội viên hội văn học tỉnh Sơn La trong bài cảm nhận về thi phẩm" Hoa Vông Vang "để kết thúc bài viết này." Thơ anh rất đa dạng và sâu sắc, mang tính giáo dục cao, mảng thơ tình của anh mang nhiều tâm sự của lứa tuổi mới lớn, mộng mơ đang tuổi cắp sách tới trường. Tuy khá nổi tiếng nhưng anh là một người thầy thực sự, rất giản dị gần gũi và đầy suy tư trăn trở với đời, tuy chưa găp anh ngoài đời, nhưng đọc chữ cũng thấu hiểu phần nào tâm hồn người viết ". Cảm ơn nhà thơ Thanh Trắc Nguyễn Văn đã luôn quý mến và trân trọng tặng tôi tập thơ này. Với sở học ít ỏi của mình tôi xin phép được cảm nhận tập" Nghêu ngao ca "theo cách hiểu riêng của mình. Rất mong nhận được sự quan tâm và góp ý của tác giả và của độc giả đã từng và sẽ yêu thơ Thanh Trắc Nguyễn Văn. Sắp đến 20/11 ngày truyền thống ngành giáo giục xin kính chúc anh và các đồng nghiệp tại trường Võ Thị Sáu luôn an vui, hạnh phúc và thành công. Mùa Say Đắm xin được trân trọng giới thiệu 10 bài thơ" Lục bát tứ tuyệt "hay nhất của nhà thơ có trong" Nghêu Ngao Ca"và được đăng trên trang Mùa Say Đăm.

Lập Đông 2018.


Lê Gia Hoài.
 
Chỉnh sửa cuối:
255 ❤︎ Bài viết: 667 Tìm chủ đề
13. "NGƯỜI CHA - ĐỨC PHẬT"

TẬP THƠ CỦA MINH TRIẾT VÀ YÊU THƯƠNG

Trong hành trình sáng tạo của thơ ca, có những tác phẩm không chỉ dừng lại ở việc truyền tải cảm xúc, mà còn mở ra những chiều kích mới của tư tưởng, đạo lý, chiêm nghiệm và tình yêu thương. Tập thơ "Người cha - Đức Phật" của nhà thơ Phùng Quang Ngọc - Hội viên Hội Văn học Nghệ thuật Vĩnh Phúc là một trong những cột mốc đáng chú ý như thế. Với một cách viết lặng lẽ mà thấm đẫm ánh sáng nội tâm, tập thơ không chỉ chạm đến những câu chuyện của quê hương đất nước trong quá khứ mà còn hé mở cõi lòng của một con người có đời sống tâm hồn luôn biết đặt niềm yêu thương lên trên hết.

504538489_1205018947603272_6007266370329967807_n.png

Thơ ca chính luận vốn là một mảnh đất đầy thử thách với thi sĩ: Phải dung hòa được tư tưởng lớn lao của thời đại với xúc cảm chân thành của con người. Phải thuyết phục bằng lập luận, đồng thời lay động bằng chất trữ tình. Trong dòng chảy ấy, tập thơ "Người cha - Đức Phật" nổi bật như một cột mốc vừa kế thừa truyền thống thơ cách mạng Việt Nam, vừa mở ra một hướng đi mới - nơi chính luận thấm đẫm tinh thần thiền, và lòng dân hòa quyện cùng ý Đảng trong một thể thơ đầy nhân văn, xúc cảm.

Tác phẩm tập trung khắc họa hình tượng Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, không chỉ như một nhà lãnh đạo kiệt xuất của dân tộc, mà còn như một biểu tượng đạo đức, trí tuệ - một "người cha già Đức Phật" của nhân dân Việt Nam hôm nay. Từ tư tưởng, hành động đến lối sống và phẩm hạnh, hình ảnh ấy được nhà thơ nâng lên tầm lý tưởng nhưng không tách rời thực tiễn - một thứ thơ vừa bay lên, vừa neo vào lòng người.

Ngay từ bài thơ mở đầu "Người đốt lò vĩ đại", người đọc đã cảm nhận được một không khí thơ mang hồn sử thi thời hiện đại. Nhà thơ không hô hào bằng những từ ngữ khuôn mẫu, mà thay vào đó là giọng thơ bình dị, gần gũi, khắc họa chân dung một người lãnh đạo "Bảy mươi chín tuổi xuân/ Vẫn chăm lo việc nước". Hình ảnh Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng hiện lên không như một nhân vật chính trị xa cách, mà như một người cha của dân tộc, cặm cụi, lặng thầm, dấn thân giữa "giặc nội xâm tàn phá/ nhóm lợi ích hoành hành." Giọng thơ giản dị nhưng đầy dũng khí - biểu hiện của một cây bút dấn thân vì sự thật, vì lẽ phải. Cách nhà thơ gọi Tổng Bí thư là "Người cha già Đức Phật" chính là một cách nói đầy sáng tạo và hàm súc. "Đức Phật" là biểu tượng của trí tuệ, lòng từ, và sự hy sinh vô điều kiện. Tổng Bí thư, trong thơ, được ví như một vị Phật sống giữa trần gian - một người hành động vì dân, nhưng cũng là người thiền định giữa chính trường, lấy đạo đức làm kim chỉ nam. Câu thơ "Cả thế giới điện buồn/ Một tâm hồn vĩ đại" vang lên như tiếng chuông ngân giữa ngày quốc tang, không chỉ tiễn đưa một con người, mà như tiễn đưa một thời kỳ lịch sử mà người đứng đầu đã mang cả tâm lực để cải hóa. Ở bài thơ "Bác đi thật rồi", người thơ trở lại với cảm xúc tang lễ - nhưng không than khóc thảm thiết, mà như đang tiễn đưa một vị tướng ra đi sau chiến thắng. Câu thơ "Bác đâu đã về/ Dẫu tuổi tám mươi/ Bác đang xông trận" mang âm hưởng của hào khí Đồng Khởi, của truyền thống "già không nghỉ trận", "tuổi cao chí càng cao" của người cách mạng.

Bên cạnh đó tập thơ còn là là một công trình nghệ thuật sâu sắc, thể hiện lòng kính yêu và sự tri ân sâu nặng đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh - vị lãnh tụ vĩ đại của dân tộc Việt Nam. Trong bài thơ Tổ quốc.. "bay trong gió", hình ảnh Bác Hồ như một ngọn đèn soi sáng con đường cách mạng của dân tộc. Bài thơ Ông Ké đã khắc họa hình ảnh Bác Hồ như một người cha già gần gũi, giản dị nhưng đầy uy nghiêm. Từ hình ảnh "Lán Nà Nưa, Tân Trào" đến "Áo chàm chân đi dép", tác giả đã vẽ nên bức tranh sinh động về cuộc sống giản dị của Bác trong những ngày đầu cách mạng. Sự gần gũi ấy không chỉ thể hiện trong lối sống mà còn trong cách Bác quan tâm, chăm sóc từng người dân, từng chiến sĩ. Trong bài thơ "Mùa thu tuyên ngôn", Phùng Quang Ngọc đã kết nối quá khứ hào hùng với hiện tại đầy thách thức. Từ hình ảnh Bác Hồ đọc Tuyên ngôn Độc lập đến những khó khăn trong thời kỳ đổi mới, tác giả đã thể hiện sự tiếp nối của tinh thần cách mạng qua các thế hệ. Đây là lời nhắn nhủ về việc giữ vững niềm tin và tiếp tục phát huy những giá trị tốt đẹp mà Bác Hồ đã để lại cho dân tộc Việt Nam.

Không những vậy tập thơ "Người cha - đức Phật" của nhà thơ Phùng Quang Ngọc còn là món quà tặng cho trẻ thơ với bản hòa ca của ký ức, của tình yêu gia đình, quê hương và khát vọng nhân văn trong trẻo. Với cách thể hiện giản dị, ngôn ngữ trong sáng, hình ảnh sinh động, tập thơ là một cuốn nhật ký bằng thơ ghi lại những lát cắt tinh tế của tuổi thơ, qua đó gieo vào lòng bạn đọc nhỏ tuổi những hạt mầm yêu thương, lòng biết ơn và ý thức cộng đồng sâu sắc. Bên cạnh dòng thơ mang tính ký ức và truyền thống, tập thơ còn có những bài phản ánh sinh hoạt, trò chơi dân gian đầy sinh động, như Chơi ô ăn quan, Gấu bông, Cục ta cục tác.. Những trò chơi tưởng như đã bị lãng quên nay được Phùng Quang Ngọc thổi hồn sống động bằng hình ảnh và vần điệu nhẹ nhàng. "Cõng nắng đi xa", nhà thơ đã mang đến một hình ảnh đầy chất thơ và gợi mở. "Cõng nắng" - một hành động tưởng như hư cấu, phi thực, lại hóa ra đầy nghĩa tình trong mạch cảm xúc của bài thơ cùng tên. Hình ảnh người mẹ "chắt chiu giọt nắng", người cha "tần tảo sớm hôm" gợi nhớ đến một thời làm muối vất vả. Tác phẩm là lời tri ân sâu sắc đối với lao động thầm lặng của cha mẹ, đồng thời khơi dậy trong các em nhỏ lòng thương kính cha mẹ và quá khứ lao động lam lũ. Khi "ông mặt trời cõng nắng đi chơi rất xa rồi", cũng là lúc hiện thực khắc nghiệt làm phai mờ những giá trị xưa cũ. Bài thơ Nuôi ong đánh giặc, Phùng Quang Ngọc đưa độc giả nhỏ tuổi về với những ngày tháng kháng chiến chống thực dân. Nhưng thay vì những hình ảnh súng đạn dữ dội, ông kể bằng giọng kể của người ông hiền từ, bằng chất liệu dân gian rất đỗi gần gũi: "Nuôi ong đánh giặc" . Những đàn ong trở thành "binh lính" trong thế trận của nhân dân, hình ảnh này không chỉ gợi nên sự thông minh, sáng tạo của dân tộc mà còn thắp sáng tinh thần yêu nước từ những câu chuyện nhỏ, dễ tiếp cận.

Những bài thơ thiếu nhi trong tuyển tập không chỉ là hành trang nuôi dưỡng tâm hồn trẻ em hôm nay, mà còn là cầu nối giữa các thế hệ. Những ký ức đẹp, những bài học sâu sắc được chuyển tải qua ngôn ngữ nhẹ nhàng, hình ảnh sống động đã và đang giúp trẻ em cảm nhận được vẻ đẹp của cuộc sống, của con người và của chính bản thân mình. Trong một thời đại mà công nghệ số đang lấn át, những vần thơ mộc mạc nhưng chan chứa yêu thương như thế thực sự quý giá và cần được gìn giữ, lan tỏa.

Tập thơ "Người cha - đức Phật" là một tác phẩm nghệ thuật có giá trị, không chỉ về mặt văn học mà còn về mặt giáo dục tư tưởng, đạo đức. Qua những vần thơ chân thành, tác giả đã truyền tải những thông điệp sâu sắc về lòng yêu nước, yêu con người, tinh thần cách mạng và sự tri ân đối với những vĩ nhân của dân tộc. Đây là một tác phẩm đáng đọc, đáng suy ngẫm và là nguồn cảm hứng cho các thế hệ tiếp theo trong việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh.


Lê Gia Hoài
 
Chỉnh sửa cuối:
255 ❤︎ Bài viết: 667 Tìm chủ đề
14. NHỮNG MÙA SÔNG THỨC GỌI –

BẢN GIAO HƯỞNG ĐA TẦNG CỦA CẢM XÚC

Trong dòng chảy thi ca Việt Nam hiện đại, tác giả Bùi Quốc Bình – Hội viên chi hội thơ của Hội Văn học Nghệ thuật Vĩnh Phúc là một hiện tượng âm thầm nhưng sâu lắng, kiên trì như mạch ngầm dưới lòng đất. Tập thơ "Những mùa sông thức gọi" (NXB Hội Nhà văn, 2023) là kết tinh mới nhất trong hành trình thi ca đầy suy tư, trải nghiệm và trách nhiệm xã hội của ông. Với 68 bài thơ, trong đó có đến 18 bài trực tiếp viết về sông nước – hình ảnh ám dụ xuyên suốt tập thơ. Nhà thơ Bùi Quốc Bình đã tạo nên một bức tranh thơ vừa rộng lớn vừa thấm đẫm chất đời, chất tình và tư tưởng nghệ thuật đầy nhân bản.

Như nhà thơ Trần Khoái nhận định: "Cứ thấy mạch chảy của thơ ông tựa như dòng sông Lô, nơi ông sinh ra, lớn lên và một đời gắn bó" . Quả vậy, hình tượng dòng sông không chỉ là cảnh quan quê hương, mà đã trở thành linh hồn biểu tượng trong thơ Bùi Quốc Bình. Đó là dòng sông của ký ức, của tình mẹ, của nỗi hoài niệm và cũng là biểu tượng của dòng chảy văn hóa dân tộc.

494823257_715718628057644_3845554652594225066_n.png

[COLOR=rgb(0, 0, 0) ]Trong bài thơ văn xuôi "Khúc thủy cầm", người đọc như được phiêu du trong một bản trường ca về mẹ, về quê hương, về lịch sử dân tộc. Khúc đầu của bài thơ ngân lên đầy xúc cảm:[/COLOR] [COLOR=rgb(0, 0, 0) ]"Mẹ gửi ước ao vào mầm xanh bờ bãi.. / Dòng sông chảy vào đời con từ tấm bé.."[/COLOR] [COLOR=rgb(0, 0, 0) ]Những câu thơ là lời ru của đất trời, là ngôn ngữ của huyết mạch văn hóa, nuôi dưỡng tâm hồn thi sĩ và thế hệ tiếp nối. Đến khúc cuối, nhà thơ khát vọng "ôm sông và bóng hình của mẹ" – một cái ôm tâm linh thiêng liêng giữa con người và dòng chảy văn hóa muôn đời.[/COLOR]

Bên cạnh vẻ đẹp trữ tình sâu lắng, thơ Bùi Quốc Bình còn là tiếng chuông tỉnh thức, cảnh báo trước những đổi thay tiêu cực của môi trường sống, những đổ vỡ trong đạo lý làm người. Bài thơ "Thương về Phó Đáy" là minh chứng tiêu biểu. Một dòng sông quê đầy chất dân ca, nhưng đang mang thân phận cạn khô, ô nhiễm: ".. đẻ đau núi đồi, thắt lòng đồng bãi/ Bao giờ trẻ lại nguồn xanh trong.." Đây không chỉ là tiếng lòng của một thi sĩ yêu quê, mà còn là câu hỏi xoáy vào trách nhiệm của cộng đồng, của mỗi cá nhân với di sản thiên nhiên. Thơ ông không dừng lại ở cảm xúc mà luôn hướng về hành động, lay động lương tri người đọc.

Một tuyên ngôn nghệ sĩ mạnh mẽ và sâu sắc hơn cả là bài thơ "Tôi muốn viết". Tác phẩm như một bản tuyên cáo nghệ thuật đầy tính nhân văn: "Tôi muốn viết cho dòng sông bật dậy những cây cầu/ Các em thơ vùng xa, vùng sâu không còn phải loi ngoi lội dòng đến lớp.." Và rồi khép lại: "Tôi muốn viết/ Viết nhiều hơn thế/ Nếu có luân hồi, tôi lại viết. Thế thôi." Cái "thế thôi" ấy tưởng nhẹ tênh, nhưng lại là lời thề, là định mệnh đời người với nghiệp chữ, là cốt cách nhà thơ lấy chữ làm sự sống, lấy thơ làm nghĩa vụ công dân.

Tập thơ "Những mùa sông thức gọi" là minh chứng cho sự chắt lọc hình thức thơ Việt đương đại. Bùi Quốc Bình sử dụng đa dạng thể loại: Từ thơ tự do, thơ văn xuôi, lục bát, thất ngôn.. Mỗi bài thơ được viết ra như một "cấu trúc mở", vừa gợi, vừa hiện; vừa âm vang truyền thống, vừa bừng nở cảm xúc hiện đại. Tác phẩm "Giặt nắng" là một thi phẩm gợi hình rất độc đáo: "Nhúng áo vào biển nắng/ Những làn sóng mặt trời/ Gió làm bàn chải".

Ngôn ngữ thơ kết tinh từ lao động, từ thiên nhiên và từ ký ức gia đình – tạo nên một hình tượng vừa bất ngờ vừa sâu sắc. Những hình ảnh đời thường: "áo mẹ", "ruộng cày", "cánh cò", "cọng rơm".. được nâng tầm biểu tượng, mang giá trị nhân văn về sự tảo tần và hi sinh của cha mẹ. Hay như bài "Ký ức sông Hồng", nhà thơ hòa nhập vào mạch nguồn tổ tiên, từ đó kiến tạo nên một bản hùng ca cá nhân: "Tôi lớn lên trong vòng tay sóng/ Xanh mát dân ca châu thổ sông Hồng/ Cha tôi quăng chài nuôi tôi con chữ/ Mẹ tôi tảo tần hạt lúa dải khoai". Những câu thơ như khắc họa chân dung của một thế hệ được nuôi dưỡng bởi phù sa, bởi truyền thống lao động và giá trị cội nguồn.

Hệ thống thi ảnh trong "Những mùa sông thức gọi" mang đậm chất biểu cảm dân tộc, được kiến tạo từ lớp lang tầng sâu văn hóa nông nghiệp và tâm thức Việt. Những hình ảnh như "giếng làng", "gầu dây", "trầu cau", "giàn mướp", "thúng mẹ", "con đò", "cây sa mộc", "giọng hát Trống quân", hay cả những hình tượng có sức gợi thiêng liêng như "áo nâu mẹ", "chân cha quăng chài", "cánh cò bay ngang trời nắng" đều không chỉ là mô tả hiện thực mà còn là ký hiệu thẩm mỹ, chuyên chở tâm tình, bản sắc và ký ức cộng đồng. Đặc biệt, nhà thơ khéo léo làm sống lại nhiều thi ảnh truyền thống trong diện mạo mới mẻ, đậm tính cá nhân hóa. Nhờ vậy, thơ ông không sa vào sáo mòn mà vẫn gợi được chiều sâu văn hóa, một "vùng quang ảnh" sống động, ngân vang giữa cổ tích và hiện thực, giữa khúc dân ca xưa và những nhịp đời đương đại đang cuộn trôi theo dòng sông thơ bất tận.

Điều làm nên bản sắc thơ Bùi Quốc Bình chính là cảm xúc luôn chân thành, gần gũi và nhân hậu của một tâm hồn thi sĩ đầy yêu thương. Ông không bao giờ làm thơ để "trưng bày kỹ thuật", mà làm thơ như thở, như tâm sự, như sẻ chia, như dấn thân. Dù viết về tình yêu quê hương, người mẹ, dòng sông hay cô gái vùng cao, cảm xúc trong thơ ông đều mộc mạc nhưng sâu lắng. Như Trần Khoái từng viết: "Đọc một tập thơ, dĩ nhiên người đọc luôn nhận được cái hay cái đẹp và rất nhiều chia sẻ, suy ngẫm để từ đó tạo cho tâm hồn trở nên phong phú, cao thượng."

"Những mùa sông thức gọi" không chỉ là một tập thơ, mà là một dòng sông ngôn từ chan chứa yêu thương, hoài niệm và trách nhiệm. Đó là dòng sông thức gọi thi ca. Đọc thơ Bùi Quốc Bình, người ta không chỉ thấy một nhà thơ – mà thấy một người con của đất, của nước, của dân tộc đang sống trọn vẹn với tình yêu và trách nhiệm của mình. Thi ca ấy không chỉ để ngâm nga, mà còn để nghĩ ngợi, hành động, và nối dài mạch sống của văn hóa Việt.

Lê Gia Hoài
 
Chỉnh sửa cuối:
255 ❤︎ Bài viết: 667 Tìm chủ đề
15. VẺ ĐẸP CỦA NHỮNG VẦN THƠ QUÊ HƯƠNG VÀ TÌNH YÊU

Đi qua năm tháng dài rộng của đời người ta mới thấy cuộc sống thật vi diệu, nó có rất nhiều điều khó để nói thành lời, khó để diễn tả một cách cặn kẽ, chân xác bằng thứ ngôn từ thông dụng nếu cuộc đời này chẳng có thơ. Câu danh ngôn trứ danh của nhà thơ Đuy Blay "Thơ chính là người thư ký trung thành của trái tim" như một lời xác nhận không thể tuyệt vời hơn về vẻ đẹp và sự hữu dụng của thơ ca với thế giới này. Tất nhiên không phải ai cũng có thể diễn tả được những tâm tư, tình cảm, cảm xúc, nỗi niềm.. của mình bằng thơ. Nhưng với nhà thơ Nguyễn Khoan người Đông Triều, Quảng Ninh thì điều đó lại là một nhu cầu không thể thiếu được trong đời sống nội tâm của anh. Viết thơ không chỉ để thỏa mãn niềm đam mê bẩm sinh, thứ có sẵn trong máu của anh mà những vần thơ anh viết giống như một sự trải nghiệm của cuộc đời hay nhiều hơn nữa là để thỏa mãn nhu cầu được mang đến vẻ đẹp chân, thiện, mỹ cho cuộc sống này. Tập thơ "Quê hương và tình yêu" của Nguyễn Khoan ra đời chính là sự kết hợp tuyệt vời của những điều ấy.

496513359_1227387139113803_7635367207748606125_n.jpg

Vẻ đẹp của "Quê hương và tình yêu" là vẻ đẹp của những vần thơ mang trong mình sức sống của một con người có tâm hồn chất phác, mộc mạc nhưng cũng rất lắng sâu, một con người đã kinh qua không biết bao nhiêu thăng trầm của cuộc sống nhưng vẫn luôn giữ được vẻ lãng mạn, tươi mới trong trái tim mình. Ta bắt gặp trong dòng thơ trữ tình viết về quê hương, viết về quá khứ với bao hoài niệm của một người lính đã đi qua sự tàn khốc của cuộc chiến trang chống Mỹ cứu nước những giai điệu đẹp, những tầng cảm xúc ẩn đầy tâm tư. Những bài thơ viết về mình và đồng đội, viết về thời "Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước" của "Đông Triều thi sĩ" thật hào hùng, thật tráng lệ và mang đậm dấu ấn của "chất lính" đầy lạc quan yêu đời và tin tưởng vào chiến thắng: Trường Sơn ngày ấy ta qua/Bao nhiêu kỷ niệm như hoa cuộc đời/Trường Sơn rạng rỡ đất trời/ Ghi vào trang sử sáng ngời chiến công. (Thăm lại Trường Sơn).

Đời binh nghiệp như dấu lặng ẩn trầm trong xúc cảm lòng anh để rồi khi trở về cuộc sống thường nhật làm giảng viên dạy lái xe tại trường lái xe ở Sơn Tây – Hà Nội ngày nay, anh luôn khắc khoải trong mình một nỗi nhớ về đồng đội, về thời xưa oanh liệt, và có thể là về người em gái nhỏ mà anh đã nặng lòng yêu thương khi bắt gặp trên đường hành quân xưa: Một thời để nhớ tình đầu/Biết bao kỷ niêm trao nhau ngọt lời/Hoa sim nở tím ven đồi/Ai chờ ngày ấy như lời hẹn nhau . (Kỉ niệm đồi sim).

Thơ đầu tiên là xúc cảm, là nỗi niềm chất chứa, là tâm tư dồn nén rồi đột ngột bung nở như cánh hoa gặp mùa xuân chín chẳng thể kìm lòng mà ẩn mãi nụ nhụy. Vẻ đẹp của tình yêu quê hương trong tâm hồn Nguyễn Khoan hiện lên vừa thuần phác, vừa cổ kính mà cũng không kém phần xinh tươi, rạng rỡ. Ta thêm yêu thiên nhiên, thêm yêu đất nước này hơn khi đọc những vần thơ về dáng hình của đất Quảng Ninh - quê hương anh: Đâu ngờ lạc giữa cảnh thần tiên/Sóng gợn lăn tăn vỗ mạn thuyền/Nắng ngả sườn non chiều lạnh lẽo/Sương vờn mặt nước, sớm bình yên/Buông mình cá nhảy xa bờ bến/Sải cánh cò bay đến mọi miền/Lữ khách như nhìn tranh thủy mặc/Đâu ngờ lạc giữa cảnh thần tiên. (Hồ Khe Chè quê tôi)

Cũng qua đây ta mới thấy tâm hồn anh luôn hướng về những điều rất giản dị nhưng cũng rất thanh cao trên quên hương mình. Chúng ta hãy nghe Nguyễn Khoan tâm sự về mình và về thơ để hiểu rõ hơn nữa những gì anh đã, đang và sẽ theo đuổi: "Là một người đã từng đi gần hết chiều dài của đất nước, đến đâu tôi cũng cảm nhận được là: Đất nước mình đẹp lắm, con người trên đất nước mình thân thiện, sống giản dị, chân thành, biết yêu thương và tôn trọng lẫn nhau.. Tình yêu quê hương, đất nước, tinh yêu con người, yêu thiên nhiên, yêu cuộc sống.. đã ăn sâu vào trong tâm khảm của tôi. Những bài thơ của tôi viết về những tình yêu như thế" Tình yêu bao giờ cũng huyền nhiệm, bí ẩn và mang đến cho chúng ta những điều lạ lẫm. Tình có thể đẹp, có thể còn nhiều nuối tiếc nhưng Nguyễn khoan đã cho ta thấy vẻ đẹp của tình yêu chỉ đơn giản là: Mỗi người có một trái tim/Biêt yêu, biết quý, biết tìm đến nhau/Tình yêu đẹp, có sao đâu/Càng yêu, càng thấy mái đầu xanh thêm. (Mùa Say Đắm).

Lê Quý Đôn từng nói: "Thơ khởi phát từ trong lòng người". Một Nguyễn Khoan rất lãng mạn, rất mê đắm, rất nồng say trong tình yêu đôi lứa là điều dễ thấy với người mang tâm hồn thi nhân đã quá hiểu những vẻ đẹp của tình yêu say đắm. Tình yêu hiện lên trong thơ anh thật sự rất ấn tượng, nó vừa có sự chín chắn của một người đã có nhiều va vấp, vừa có sự thăng hoa của mạch nguồn cảm xúc vô cùng thi vị như hương lòng vốn có của tình yêu vậy: Sao mà nhớ thế em ơi/Nhớ em như nhớ cuộc đời của anh/Như chim nhớ tổ nhớ cành/Như cá nhớ nước như hình nhớ gương. (Nhớ). Khi ta đọc những vần thơ này của anh thử hỏi có ai không thấy nồng nàn say đắm, thấy ngả nghiêng theo những nỗi nhớ bâng khuông da diết của tác giả..

Nhà thơ Đỗ Hàn trong lời giới thiệu tập thơ Mùa Say Đắm tập một đã nhắc tới Nguyễn Khoan như một người hội đủ những phẩm chất để tạo nên hồn thơ đẹp: "Nguyễn Khoan lại trầm lắng với những trải nghiệm. Anh là người cao tuổi nhất trong nhóm bạn vong niên này. Anh có vẻ đi nhiều, viết nhiều và thể nghiệm trên nhiều thể loại thơ. Ở bài nào của anh cũng toát lên sự yêu đời, yêu người. Dù đó là bạn đồng ngũ, là bạn qua facebook, là hàng xóm, là người.. chưa hề quen biết. Anh có sự đắng đót qua những dòng nói về tình yêu, về thế sự: Nhâm nhi chén rượu trên tay/Nỗi niềm nặng trĩu những ngày chiến tranh.." (Mùa xuân nhớ về đồng đội). Anh cũng có một dạng đắm say rất triết học. Yêu nhau rồi mà đêm ngày vẫn khát khao, một ngày nào đó, nắng hay gió sẽ đưa tình yêu đến. Theo đó ta thấy rằng cái say đắm hôm qua, hôm nay vẫn chưa là gì so với cái say đắm của ngày sắp tới. Với những gì đã có trong vốn sống, vốn thi ca, chúng ta có quyền hy vọng ở Nguyễn Khoan những mùa say đắm nồng nàn ở những năm tháng tiếp theo ". (Những hạt vàng trong Mùa Say Đắm).

Một tập thơ ra đời. Một" Quê hương và tình yêu "hiện hữu. Một niềm thiêng liêng đáng đón đợi. Như hương, như hoa, như vẻ đẹp của vườn chiều ngát màu thương nhớ. Có gì còn lại, có gì phai đi. Ta cho nhau hôm nay niềm vui, ngày mai ta nhận lại nụ cười. Cảm ơn Nguyễn Khoan đã gieo thêm vẻ đẹp vườn thơ Bích Động vốn đã lung linh huyền ảo một màu sắc mới, một hương thơm mới thật đáng để đắm say mơ mộng mỗi khi tìm về. Chúc cho" Đông Triều Thi Sĩ"ngày càng dạt dào thi hứng và có nhiều hơn nữa những sáng tác hay để phục vụ cộng đồng người yêu thơ!

Vĩnh Phúc Thu 2020

Lê Gia Hoài.
 
255 ❤︎ Bài viết: 667 Tìm chủ đề
16. TÂM CON ĐÃ HÓA "NIỀM THƠ DÂNG NGƯỜI"

Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại là nguồn thơ, nguồn cảm hứng sáng tạo cho bao thế hệ văn nghệ sĩ nước nhà. Được sáng tác, được ngợi ca công ơn trời biển của Người là niềm vinh hạnh lớn lao đối với mỗi người cầm bút. Với cảm xúc dạt dào và niềm hứng khởi trào dâng từ cuộc vận động sáng tác, quảng bá tác phẩm văn học, nghệ thuật, báo chí về chủ đề "Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh giai đoạn 2020 - 2025" do Ban Tuyên giáo Trung ương và Tỉnh uỷ Vĩnh Phúc phát động; bằng sự cố gắng không ngừng nghỉ, nhà thơ Nguyễn Trưng Dụng (Hội viên Hội Văn học nghệ thuật Vĩnh Phúc) đã xuất bản tập thơ "Niềm thơ dâng Người" do Nhà xuất bản Hội Nhà văn ấn hành quý IV, năm 2023.

480586177_612302748360247_1855581233529183995_n.jpg

Cảm xúc chủ đạo trong "Niềm thơ dâng Người" là những tình cảm chân thành, mộc mạc, thiêng liêng, thành kính.. cùng những nguyện ước bình dị, thiết thực.. của không chỉ tác giả mà còn là của Nhân dân các dân tộc tỉnh Vĩnh Phúc với Chủ tịch Hồ Chí Minh - Vị lãnh tụ thiên tài, vị cha già kính yêu của dân tộc Việt Nam.

Khắc họa hình tượng Bác Hồ, nhà thơ không chỉ nói về vẻ đẹp chân dung giản dị của Người với: "Chòm râu, mái tóc bạc phơ", "Áo nâu, dép lốp đơn sơ".. mà còn là vẻ đẹp của nhân cách sống, tâm hồn, trí tuệ vô cùng cao quý mà Bác dành cho Nhân dân, đặc biệt là Nhân dân Vĩnh Phúc. Kể từ năm 1953 Bác đã tám lần về thăm và nói chuyện với cán bộ, Đảng viên và Nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc. Mỗi lần Bác về là một lần Vĩnh Phúc như được đón ngày hội vui: ".. Bác về - Làng trên xóm dưới/ Thêm vui lời hát câu ca/ Sán Dìu - Người kinh gắn bó/ Lòng vui nở khắp muôn hoa.." (Bác về Phúc Yên). Bên cạnh niềm vui được đón Bác về thăm, cán bộ, Đảng viên và Nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc còn luôn biết ơn và khắc sâu lời dạy bảo cũng như kỳ vọng của Người: "Phải làm cho Vĩnh Phúc trở thành một trong những tỉnh giàu có, phồn vinh nhất ở miền Bắc nước ta" . Tấm lòng tin yêu, ân nghĩa lớn lao đó của Bác là nguồn sức mạnh tinh thần to lớn để mỗi cán bộ, Đảng viên và Nhân dân các dân tộc tỉnh Vĩnh Phúc lấy đó làm động lực phấn đấu, cùng đồng tâm, đồng lòng vượt lên gian khó đưa Vĩnh Phúc phát triển như Bác hằng mong đợi "Tấm lòng quyết chí dâng cao/ Người người đoàn kết cờ đào tung bay/ Toàn dân ơn Bác - hôm nay/ Quyết đưa Vĩnh Phúc ngày ngày tiến lên!" (Vĩnh Phúc ơn Bác). Tròn sáu mươi năm khắc ghi lời dạy của Người, Vĩnh Phúc đã không ngừng nỗ lực phấn đấu để hôm nay phát triển trở thành tỉnh giàu có, phồn thịnh. Đây chính là niềm tự hào sâu sắc của người dân Vĩnh Phúc với quê hương mình. "Mời về đất Vĩnh Phúc/ Đại lộ rộng thênh thang/ Kinh tế tăng vững vàng/ Nhà cao tầng san sát" (Vĩnh Phúc hôm nay).

Bên cạnh những vần thơ "ơn Bác" như: "Phúc Yên ơn Bác", "Ngọc Thanh ơn Bác", "Thương binh ơn Đảng - Bác", "Công an Vĩnh Phúc ơn Đảng - Bác".. nhà thơ Nguyễn Trưng Dụng còn thể hiện những cảm xúc thân thương của cá nhân, tập thể trong học và làm theo tấm gương vĩ đại của Người. Đó là:

(Học theo Bác) gắn với những việc làm cụ thể, thiết thực, ý nghĩa như: "Mỗi ngày học Bác những điều hay/ Thể dục - thể thao tập hàng ngày.." .

(Làm theo Bác) từ việc nhỏ, việc lớn đều chu toàn và trọn vẹn trước sau: "Học Bác từ những điều nhỏ nhất/ Xây dựng quê hương thật sáng tươi" ; sống gương mẫu, mực thước, biết khuyên nhủ, dạy bảo con cháu những điều hay lẽ phải: "Ước mơ đã trọn vẹn rồi/ Từ nay con đã là người Đảng viên.. Cho nên con phải từng ngày/ Noi gương của Bác thẳng ngay một đời..".. Đó không chỉ là tâm nguyện mà còn là lời hứa quyết tâm của mỗi cá nhân với "vị cha già" trong việc tu dưỡng, rèn luyện, phấn đấu để trở thành tấm gương sáng sống có ích cho cuộc đời.

Cùng những nội dung trên, tuyển tập "Niềm thơ dâng Người" còn là những tình cảm sâu lắng, cao đẹp về tình yêu quê hương đất nước, tình yêu đồng bào, tình yêu gia đình, tình yêu đồng chí đồng đội và tấm lòng nhân ái bao la, thắm sâu tình người đáng để chúng ta trân trọng trong cuộc đời.

Dấu ấn nghệ thuật trong "Niềm thơ dâng Người" là cách chọn và lập tứ thơ bám sát chủ đề của cuộc vận động "Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh". Hệ thống thi ảnh trong sáng, tươi đẹp, giàu sự sáng tạo trên nền tảng hình ảnh có thực của lãnh tụ ngoài đời. Thể thơ lục bát truyền thống được sử dụng "khá dày" và nhuần nhuyễn trong tuyển tập. Giọng điệu, âm hưởng thơ nhẹ nhàng, vui tươi đan cài trong cảm xúc "biết ơn", "tự hào" làm cho các câu thơ, đoạn thơ, bài thơ trở nên lưu loát giúp bạn đọc dễ nhớ, dễ thuộc. Mỗi bài thơ trong tuyển tập giống như một "tiếng lòng" chất chứa những cảm xúc thiêng liêng, thành kính của một người con dành cho cha nên đọc lên ta không khỏi bâng khuâng xao xuyến.

Khép lại "Niềm thơ dâng Người" là bài thơ "Để Bác ngủ yên" như lời tâm sự đầy trách nhiệm của một công dân, một văn nghệ sĩ với công cuộc phát triển đất nước trong giai đoạn cách mạng mới hiện nay. Nhà thơ mong ước quê hương đất nước ngày thêm đổi mới, phát triển; Nhân dân được thụ hưởng những thành quả từ công cuộc đổi mới của Đảng đã và đang tiến hành để niềm vui, hạnh phúc đến với mọi người, mọi nhà thêm trọn vẹn, đủ đầy "Bầu trời nắng vẫn trong veo/ Chúng con nguyện mãi làm theo gương Người/ Việt Nam sẽ mãi xanh tươi/ Suối vàng mong Bác ngậm cười ngủ yên!" . Tin rằng, những vần thơ thành kính, thiêng liêng này sẽ nhận được sự đồng cảm, đón đọc của quý độc giả xa gần, để từ đó, nhà thơ Nguyễn Trưng Dụng có thêm "nhựa sống", thai nghén và "chào sân" những bài thơ hay hơn nữa về quê hương, đất nước, về lãnh tụ kính yêu của dân tộc Việt Nam.


Lê Gia Hoài
 
255 ❤︎ Bài viết: 667 Tìm chủ đề
17. RUNG CẢM ĐẰM SÂU TRONG "NỖI NHỚ" CỦA TRẦN HÀO HIỆP

Mỗi cuộc đời là mỗi trang thơ. Trang thơ ấy "Là âm nhạc của tâm hồn, nhất là những tâm hồn cao cả, đa cảm" (Voltaire). Tác giả Trần Hào Hiệp - mang trên vai quân hàm sĩ quan cao cấp trong lực lượng CAND; nguyên phó giám đốc Sở Cảnh sát PCCC Vĩnh Phúc nhưng ông lại là người mang trong mình tâm hồn thi sĩ với nhân sinh quan hết sức cao đẹp và tích cực. Ông đã dành không ít thời gian trong cuộc đời để viết lên những vần thơ ẩn tàng nhiều nét đẹp mà ông cảm nhận được qua những gì đã gặp, đã thấy, đã trực tiếp tham gia.. trên hành trình gần 80 năm đời mình. Tập thơ "Nỗi nhớ' được NXB Hội nhà văn ấn hành quý II năm 2024 là kết quả của những rung cảm đằm sâu trong một hồn thơ cao cả, đa cảm như thế.

480685758_612311731692682_587306472265010980_n.jpg

Nếu nói " Nỗi nhớ " là những rung cảm đằm sâu trong tầm hồn tác giả thì rung cảm đầu tiên mà ta nhận thấy trong tuyển tập là những rung cảm mà tác giả dành cho quê hương đất nước, cho Đảng, Bác kính yêu, cho sự nghiệp Cảnh sát đầy tự hào mà Trần Hào Hiệp đã được thừa hưởng trong hành trình đời mình. Mỗi khi nhớ về (Quê hương) tác giả lại bâng khuâng, xao xuyến trong lòng với" Xứ Đoài nỗi nhớ khôn nguôi/ Nương dâu, bãi mía triền đồi xanh xanh "và luôn nguyện ước" Về quê vui với khoảng trời/ Trăm năm viên mãn một đời bình yên. " . Đó là nơi ông sinh ra, lớn lên trong tiếng ru hời từ đất mẹ bao la. Còn với (Xúc cảm Vĩnh Yên) lại là những xúc cảm khác biệt bởi đây là nơi đã cho ông sự nghiệp thăng hoa cùng những thành công rực rỡ được nhiều người nể trọng:" Tôi thầm nghĩ ơn Đảng, Bác, Nhân dân thị xã/ Sự đổi thay nhiều - Quê mẹ đất tôi yêu. " . Là người Đảng viên của Đảng cộng sản Việt Nam quang vinh, ông vui và tự hào khi được (Về dự đại hội Đảng) cùng các đồng chí trong chi bộ: ".. Hoa tươi, niềm nở đón chào/ Đại hội Chi bộ tự hào Đảng viên.. " . Là công dân, cán bộ dưới thờ đại Hồ Chí Minh" lừng lẫy năm châu "ông luôn xác định cho mình tâm thế" là công bộc "của Nhân dân theo đúng lời dạy của Người lúc sinh thời: " Đi theo Đảng nguyện làm người đầy tớ/ Vì Độc lập - Tự do - Hạnh phúc Bác hằng mong. " . Bên cạnh đó còn là những xúc cảm cao đẹp của Trần Hào Hiệp về đồng chí, đồng đội, những tấm gương sáng trong xã hội đương thời như :(Người chiến sĩ công an đường phố; Em gái dân phòng chữa cháy; Mùa xuân và người lính; Phượng hồng và chị lao công hay Em và siagames.). Tất cả những con người ấy đi vào thơ Trần Hào Hiệp như những ánh sao xa chói sáng trên bầu trời đất Việt quang vinh.

Bên cạnh " Nỗi nhớ " về những vấn đề" lớn lao "mang nét chung của đất nước, dân tộc, thời đại, sự nghiệp là những tâm tư, tình cảm hết sức bình dị của tác giả về" cái tôi "nhỏ bé, riêng tư mang đậm dấu ấn cá nhân mà tác giả muốn gửi gắm vào các trang viết để bộc lộ lòng mình với mọi người, với cuộc đời. Nổi bật trong tuyển thơ " Nỗi nhớ " là những xúc cảm về tình yêu đôi lứa, về một" thời thanh xuân "tươi đẹp đã đi qua cuộc đời tác giả. Khi viết về (Nỗi nhớ) người yêu, Trần Hào Hiệp đã thốt lên: ".. Bao nhiêu là nỗi nhớ về nhau/ Sao chẳng có nỗi nhớ nào giống cả/ Lúc mạnh mẽ, ồn ào hơn sóng biển/ Lúc dịu dàng, âu yếm thật bao dung.. " . Mỗi khoảnh khắc nhớ về người yêu là mỗi khoảng khắc con tim rung động theo từng nhịp đập khác nhau, nên chẳng nỗi nhớ nào giống nỗi nhớ nào đó là điều rất bình thường mà ai trong" cuộc yêu "chẳng từng có những cung bậc cảm xúc như vậy. Tình yêu cho ta nỗi nhớ và nỗi nhớ khơi gợi cho ta ước mơ được :(Bên em; Yêu em; Yêu thương) để rồi có lúc phải thốt lên (Anh có lỗi gì) khi coi em là (Sắc nắng), là (Một vì sao), là (Hoa cùng người), là (Tình yêu của anh).. Có thể nói những cung bậc tình yêu trong tâm hồn chàng trai" Cảnh sát trẻ một thời "vừa nồng nàn mãnh liệt, lại vừa tha thiết đắm say; có sự lãng mạn tinh tế của một trí thức mà cũng có những mộng tưởng hết sức chân thực và đầy khát khao của tuổi trẻ hừng hực niềm đam mê. Trong bài thơ (Tình yêu) ông đã làm một phép so sánh để tự bộc lộ" cách yêu "," cường độ yêu "và" hình thức yêu ".. của nam và nữ có sự khác biệt đáng kể: " Anh và em/ Có cùng một tình yêu/ Nhưng khác nhau bởi/ Tình yêu ở anh/ Luôn xao động/ Còn em/ Một màu tím lặng/ Thủy chung " . Hàm ý từ nội dung bài thơ giống như (Quy luật) của tình yêu mà ta có thể bắt gặp ở bất cứ đâu trên cuộc đời này.

" Nỗi nhớ " không chỉ là cảm xúc thuần chất về tình yêu lứa đôi của tuổi trẻ mà ở đó còn là những rung cảm sâu xa, tinh tế và tràn đầy năng lượng về tình yêu gia đình, những người thân quanh cuộc đời tác giả. Đó có thể là tình yêu vô bờ bến với các con, với khúc ruột máu thịt nối liền với khúc ruột tác giả trong cuộc đời. Với các con ông luôn thể hiện đó là niềm:" Yêu con - Yêu nhất trên đời/ Phút giây chờ đón, "Ông trời" hiểu cho "; là niềm" Hạnh phúc chào đời - Sáng nay cất tiếng chào đời/ Cả nhà phấn khởi vui cười bên con/ Mẹ tròn, "Bum" khỏe vàng, son/ Đúng ngày hội lớn cha, con chúng mình "; là sự" Mừng vui - Yêu thương, đoàn tụ, tuyệt vời/ Cả nhà hạnh phúc tiếng cười trẻ thơ "; là niềm vui vô bờ khi con được" Hoa điểm mười - Con cười trong giấc ngủ/ Ba mẹ vui mừng hạnh phúc bên con ".. Và hơn thế nữa là những tình cảm thật thiêng liêng, sống động của ông dành cho các cháu nội, ngoại như:".. Thằng Bư - Cả nhà vui vẻ cười tươi/ Cái tên bướng bỉnh "Bư" thời từ đây.. "hay" Bé kẹo yêu - Sinh ra hoàn cảnh đáng thương/ Vừa dịch covid- Mẹ thường vắng chăm.. ". Đó cũng có thể là cảm xúc thân thương đầy tinh thần" khoái hoạt "khi gặp những đồng chí, đồng đội, những người" trong ngành "với nhau như khi gặp:" Bác Hồng - Vui, cười, thoải mái, hả hê/ Quên đi cái mệt nặng nề ốm đau.. ". Gặp những người bạn như bác Hồng là dịp để tác giả bộc bạch tâm tư, tình cảm với những người mà ông từng kết giao lâu năm và đã khá hiểu nhau, cảm phục tinh thần của nhau từ những năm tháng thanh xuân đời mình. Thế mới thấy xúc cảm thơ Trần Hào Hiệp đa dạng và lắng sâu biết nhường nào!

Có thể nói tuyển thơ " Nỗi nhớ " của Trần Hào Hiệp là những cảm xúc thuần nhất của người yêu thơ, người muốn dùng thơ để bộ lộ tâm tư, tình cảm của mình với cuộc đời. Bởi thế nên không thể đòi hỏi cao về" kỹ thuật thi pháp "như khi đọc thơ của những" nhà thơ chuyên nghiệp "mà ta thường thấy. Tuy nhiên tác giả Trần Hào Hiệp lại gây ấn tượng với bạn đọc bởi cách tạo lập tứ thơ đơn giản, dễ hiểu, sử dụng ngôn ngữ chân thật, giàu tình cảm, cách xây dựng hình ảnh" trực diện "gần gũi với đời sống thường nhật.. đó là những điều rất dễ nhận thấy khi tiếp xúc với các bài thơ của ông.

" Thơ ghi lại những khoảnh khắc đỉnh cao và hạnh phúc nhất của tâm hồn ", (Percy Bysshe Shelley). Đúng như vậy. Thơ đã giúp Trần Hào Hiệp tìm đến với" những tâm hồn đồng điệu ", giúp ông có thêm nhiều năng lượng, nhiều niềm hứng khởi trong đường đời. Chúng ta tiếp tục chờ đợi và có quyền hy vọng tác giả của " Nỗi nhớ" sẽ tiếp tục trình làng nhiều bài thơ được nhiều độc giả yêu thích trong tương lai.


Xuân 2024



Lê Gia Hoài
 
255 ❤︎ Bài viết: 667 Tìm chủ đề
18. TUYỂN TẬP "THƠ VIẾT TẶNG CHA" VÀ NHỮNG XÚC CẢM YÊU THƯƠNG

Là người yêu sách từ thời thơ bé và là người thích khám phá những chân trời mới lạ qua các tác phẩm văn nên trong gia đình tôi có đến vài giá sách. Có những cuốn sách rất cổ do ông nội tôi để lại, có những cuốn sách kinh điển của nền văn học Xô Viết do cha tôi sưu tầm từ thời bao cấp. Vả lại do công việc biên tập cho một tạp chí văn học nên tôi đã mua, đã được tặng rất nhiều sách, chủ yếu là sách văn học do NXB Văn học, Hội Nhà văn.. ấn hành. Tuy nhiên trong hàng ngàn cuốn sách ấy có một cuốn sách mà tôi vô cùng yêu thích do NXB Phụ Nữ ấn hành vào quý IV/2011, đó là tuyển tập thơ "Thơ viết tặng cha" do nhà thơ Nguyễn Cảnh Tuấn (Hội viên Hội Văn học Nghệ thuật Vĩnh Phúc) biên soạn và giới thiệu.

504932810_692391833549634_8463919438446669211_n.png

Tuyển tập "Thơ viết tặng cha" dày 214 trang với 101 bài thơ của 101 tác giả trên khắp mọi miền đất nước. Đây là tập hợp các bài thơ đã đạt các giải thưởng trong các cuộc thi thơ, hoạc đã được công bố trên báo, tạp chí, sóng phát thanh truyền hình trong nước và nước ngoài từ khoảng 50 năm trở lại đây. Với sự tham góp của rất nhiều tác giả nổi tiếng như: Huy Cận, Xuân Diệu, Chế Lan Viên, Nguyễn Bính, Tố Hữu, Lê Đạt, Tế Hanh, Nguyễn Phan Hách, Hữu Thỉnh, Vũ Duy Thông, Ngô Văn Phú, Nguyễn Ngọc Tung.. đã làm cho tuyển tập có giá trị nghệ thuật rất cao, rất đáng thưởng thức trong đời mỗi người.

Về nội dung tuyển tập "Thơ viết tặng cha" có thể chia thành hai phần:

Phần thứ nhất là hình ảnh người cha thân yêu, mẫu mực, sẵn sàng gánh mọi gian lao cuộc đời, sẵn sàng hy sinh hết thẩy vì sự khôn lớn trưởng thành của những đứa con. Đó là hình ảnh người cha "Lẻ buồm cha ngược dốc đời/ Cau xanh một bóng nồng vôi thay trầu/ Một đời đi muộn về mau/ Cõi còm cha chắt mỡ màu dành con" (Cha – Lâm Bằng) ; "Bóng cha vắt trên luống cày chỉ hướng/ Cào cỏ phân tro nhịp thở mùa màng" (Cha tôi -Trương Quang Khiêm) ; "Bàn tay cha chai sạn/ Rắc mùa xanh trên những cánh đồng" (Cha tôi – Nguyễn Phan Kế Mai) "Cha ta cầm quốc trên tay/ Nhà ta xơ xác hơn ngày xa xưa/ Lưng còng bạc nắng thâm mưa/ Bụng nhăn lép kẹp như chưa có gì" (Về làng – Nguyễn Duy) "Cha đã dạy con một bài học lớn/ Đau thương kiên quyết làm người" (Cha tôi – Lê Đạt).. Mỗi người cha là một ngọn "núi Thái Sơn" luôn hiện hữu trên bước đường ta đi. Sự vĩ đại của cha có lẽ chẳng ngòi bút nào có thể diễn tả tường tận thấu suốt. Chúng ta chỉ có thể thấu cảm sự vĩ đại ấy qua từng vần thơ, qua từng hình ảnh cụ thể trong từng bài thơ qua tuyển tập "Thơ viết tặng cha".

Phần thứ hai là những cung bậc cảm xúc yêu thương, kính trọng và tôn thờ cũng như lòng biết ơn sâu sắc, vô bờ bến của những đứa con với đấng sinh thành dưỡng dục, với công lao to lớn không gì sánh được của cha dành cho con. Lòng biết ơn vô hạn ấy hiện hữu mọi lúc, mọi nơi, cho dù cha đang còn trên đời hay đã yên giấc ngàn thu. Nó thể hiện đầy đủ và nhân văn nhất của chữ "Hiếu" trong đạo làm người mà mỗi chúng ta ai cũng phải biết. "Thương cha trong dạ bời bời/ Các anh các chú lên chơi cha nằm/ Thắp lòng viếng nén hương trầm/ Chuyện cha chiến đấu.. bên ngầm Nậm Lay" (Thương cha – Trần Lâm Bình) ; "Em ngồi thương bố/ Một mình đơn côi" (Thương bố - Nguyễn Thị Minh Thông) ; "Ta tìm cha từ thuở hồng đôi má/ Thuở mai vàng rắc giữ rừng thông/ Ta tìm cha nghe sóng vỡ trong lòng/ Và con phố đêm chờ đêm băng giá" (Tìm cha – Bảo Thanh) ; "Con ơi trước khi nhắm mắt/ Cha con dặn con suốt đời/ Phải làm một người chân thật" (Lời mẹ dặn – Phùng Quán) ; "Giỗ thầy vẫn chỉ hương hoa/ Mà sao nước mắt cứ òa mặt con" (Giỗ thầy – Ngô Văn Phú).. Tấm lòng hiếu kính mẹ cha, biết ơn tổ tông là biểu hiện cụ thể của đạo lý "Uống nước nhớ nguồn; Ăn quả nhớ người trồng cây" của dân tộc ta từ ngàn đời nay. Mỗi người con phải có trách nhiệm với song thân để xứng đáng với công ơn của mẹ cha, của những người "Gánh cả trần gian cho ta vui".. Đó là thông điệp mà cuốn sách "Thơ viết tặng cha" muốn gửi tới quý bạn đọc trên khắp thế giới này.

Cảm ơn các Biên tập viên NXB Phụ Nữ đã dày công biên tập để làm nên cuốn sách đặc biệt giúp chúng ta thấy được vẻ đẹp vĩ đại của những người cha, những tấm lòng hiếu kính chân thành sâu sắc của những đưa con trong cuộc đời này. Hãy yêu quý và ủng hộ các xuất bản phẩm của NXB Phụ Nữ. Xin một phiếu mua hàng cho "Thơ viết tặng cha" của tác giả Nguyễn Cảnh Tuấn.


Lê Gia Hoài
 
255 ❤︎ Bài viết: 667 Tìm chủ đề
19. "THỨC CÙNG CHUÔNG GIÓ" NGHIỆM THƠ HÀ THÀNH

Danh là trai đất Tổ hào hoa lãng tử nên Hà Thành (Hà lão đại) mang gen trội của "Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương & Hát xoan ghẹo Phú Thọ" thế nên thơ anh mới độc, lạ, hay và cuốn hút hơn bình thường là vậy. "Thức cùng chuông gió" ra đời như một tuyệt phẩm trữ tình ngang qua trời thơ Phú Thọ làm bao thi nhân thành phố ngã ba sông miền Đông Bắc đất nước phải lên tiếng ngợi khen và có lời chúc mừng tới tác giả.

Sáu chín thi phẩm là 69 nhịp rung đầy đặn cảm xúc của nhà thơ với cuộc đời. Với vẻ đẹp quê hương đất nước Hà lão đại giăng trải tình yêu cùng: "Đền Hùng ở Tây Đô, Tản mạn sông Thao, Thức với đêm Đà Lạt, Nỗi niềm với Huế, Một thoáng Tây Đô, Gửi từ làng nón Sai Nga, Trở về thị xã Trung Du, Thao thức Lào Cai, Lê Tam Đảo, nhớ lắm miền Tây, Hòn đá, Viết trên đồi chè Long cốc, Đêm Năm Căn..". Chẳng biết Hà làm được bao con tim độc giả xao động mà thấy anh hết lời ca ngợi, hết lời nhớ thương các vùng quê từ Bắc tới Nam, từ rừng tới biển, từ nông thôn đến thị thành.. cũng làm tôi yêu thêm quê hương đất nước mình – Nếu là con gái chắc tôi sẽ sớm "..."

Làm đàn bà mất thôi.


481254360_617103281213527_6506175826674985666_n.jpg

Ừ thì ai sinh ra mà chẳng yêu quê hương, lấy quê hương làm điểm tựa mà lớn khôn, trưởng thành.. Nhưng quê hương là nguồn cớ để Hà viết về vẻ đẹp của con người, của tình yêu đôi lứa và gửi gắm những tâm tư riêng mang là có thật. Hà "Thức cùng chuông gió" để thấy "Điểm G trái tim – Lung linh như sắc cầu vồng sau mưa"; "Nõn nà tháng Giêng – Ngọc ngà cuối Chạp mãi còn trong nhau.."; "Ấm lại phía không nhau – Vòng tay ôm tin cậy se lòng"; "Mưa nhớ - Nỏ thần tình yêu quả là thiện xạ/ trái tim xanh bị bắn rụng mất rồi:"; "Gửi trăng mười sáu – Nụ cười em mãi trong ngần/ anh như thảm cỏ dưới chân địa đàng..".. Chẳng nói nhiều về "chất tình" trong thơ Hà bởi nó rất ám ảnh, rất "quy luật" ai cũng thấy mình như đã từng hiện diện trong những tình huống, cung bậc tình yêu mà Hà gửi tới trong thi tuyển lần này.

Viết về tình yêu ta bắt gặp thế giới quan trong nội tâm Hà thuở 17 đầy háo hức cuồng điên.. Nhưng đọc những dòng thơ suy tư, chiêm nghiệm về cuộc đời ta lại thấy lý trí Hà từng trải hơn người đã 57 cái thanh xuân trên vai. Hà khuyên đời: "Hãy cứ xanh như cỏ - làm dịu những mùa đau"; Hà tin vào tình đất: "Đất ấm tình người – hãy đùm bọc, chở che nét khuất để đất lành/ dìu dịu cánh chim câu.."; Hà khóc trong "Giấc mơ – Có lúc trốn vào câu thơ mà khóc/ cho hồn mình trong trẻo mãi không thôi.." và "Cho dù mai sau" cuộc đời có thế nào Hà vẫn muốn "Nghe lá hồi sinh", muốn "Tản mạn lục bình", muốn "Gửi trăng 16", muốn "Đợi nắng trong mưa".. để rồi trong cuộc mưu sinh giữa dòng đời ta có cái mà yêu, có nơi mà về để trái tim không đơn chiếc giữa bao la khó nhọc cuộc đời. "Chiều mưa đọc lại vần thơ cũ/ Chỉ mong lửa ấm mãi tim ta/ Thì thôi cứ diễn tròn vai phụ/ Cũng thấy xế chiều nắng ngân nga".. Vâng! Khi còn thấy nắng, thấy ánh dương soi sáng, ngân nga giữa trái tim là còn thấy tình yêu. Hà lão đại vẫn đang yêu, yêu say đắm, "yêu quá cuộc đời này.."

Thưởng thức thơ Hà lão đại, ta thường có cảm giác dễ chịu bởi nhịp điệu thơ rất êm ái, nhẹ nhàng, dịu dàng, tình cảm.. như ánh mắt, giọng ca, điệu múa của các "xoan nương" mỗi dịp giao duyên nơi cửa đình miền đất Tổ. Ngôn từ trau chuốt, chắt lọc, nhãn tự đúng nơi, đúng điểm, hệ thống thi ảnh được gọt giũa tỉ mỉ.. đã phát huy tối đa vẻ đẹp của ngôn ngữ tiếng Việt đưa thơ Hà lão đại thành món ăn tinh thần thơm ngon, bổ dưỡng như "bánh chưng, bánh dày" những ngày giỗ Tổ.. Nếu các bạn chẳng tin (.) có 120.000/ cuốn thôi mà. Ủng hộ Hà thi nhân đi các bạn yêu thơ.. Hế hế.


Lê Gia Hoài
 
255 ❤︎ Bài viết: 667 Tìm chủ đề
20. TIẾNG VỌNG TỪ "LỜI BÁC LỜI NON SÔNG"

Tập thơ (Lời Bác lời non sông ) của nhà thơ Lỗ Trọng Bường – Hội viên Hội Văn học Nghệ thuật Vĩnh Phúc được NXB Hội Nhà văn ấn hành vào quý I/2022. Đây là tập hợp của 45 bài thơ viết về hình ảnh Chủ tịch Hồ Chí Minh qua những lần về thăm, nói chuyện với cán bộ Đảng viên và nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc; cũng như tình cảm vô cùng to lớn của cán bộ, nhân dân Vĩnh Phúc dành cho vị lãnh tụ kính yêu của dân tộc Việt Nam.

Trong tập thơ tác giả đã dày công nghiên cứu, sưu tầm các tài liệu để viết, để khắc họa hình ảnh Chủ tịch Hồ chí Minh với những câu nói, những lời dạy hết sức ân cần thiết thực với cán bộ và nhân dân Vĩnh Phúc. Câu nói nổi tiếng của Bác vào ngày 2/3/1963 trước 16.000 cán bộ, Đảng viên, nhân dân và bộ đội trong cuộc mít tinh chào mừng Bác tại vườn hoa thị xã Vĩnh Yên: "Phải làm cho Vĩnh Phúc thành một trong những tỉnh giàu có, phồn vinh nhất ở Miền Bắc nước ta" đã được tác giả đặt in trang trọng trên đẫu mỗi trang sách.


494817241_4055387131373152_518578236545068579_n.jpg

Hình ảnh "Bác lên Tảm Đảo, Bác về xông đất, Lai Sơn ngày ấy Bác về, Lời Bác dạy.." là những hình ảnh vô cùng xúc động khi tác giả đã khắc họa một cách rõ nét và rất tinh tế về vẻ đẹp mộc mạc, giản dị nhưng rất đỗi thân thương trìu mến của Bác khi về với nhân dân Vĩnh Phúc thân yêu. Hình ảnh Bác hiện lên chủ yếu qua những lời dạy của Người với nhân dân: "Lời Bác là khúc ca dao/ Là câu tục ngữ dệt vào non sông/ Lời Bác chỉ lối dẫn đường/ Nông thôn no ấm, phố phường đẹp tươi". (Lời Bác). Những lời căn dặn của Người như kim chỉ nam hành động cho mỗi cán bộ lãnh đạo cũng như nguồn sức mạnh to lớn tiếp sức cho mỗi người dân tiến lên phía trước chinh phục những khó khăn gian khổ để đi đến thắng lợi trọn vẹn. "Bác thăm nhà ở bếp ăn/ Bác dặn cán bộ, công nhân ân cần/ Khôi phục đất nước vươn tầm/ Gạt tấm đổ nát hoang tàn chiến tranh". (Bác lên Tam Đảo) "Tổ đổi công dân phải vào/ Xây nông thôn mới giúp dân xóa nghèo". (Bác về xông đất) "Bác khen cán bộ đi đầu/ Trẻ, già, trai, gái thi nhau cùng làm/ Làm ăn khấm khá, giỏi giang/ Hợp tác kiểu mẫu nhiều đoàn đến thăm" (Lai Sơn ngày ấy Bác về).

Bên cạnh hình ảnh Chủ tịch Hồ Chí Minh giản dị, ân cần với những lời dạy bảo chân tình mà hết sức sâu sắc đã ngấm vào tâm tư duy, suy nghĩ mỗi người dân Vĩnh Phúc thì trong tuyển tập "Lời Bác lời non sông" còn là những tình cảm kính trọng, yêu thương chân thành của mỗi người dân Vĩnh phúc dành cho vị lãnh tụ kính yêu của đất nước, dân tộc mình. "Trái tim rộng lớn bao la/ Tình yêu là bạn là cha muôn nhà/ Là sao Khuê sáng Ngân Hà/ Thân thương vĩ đại đậm đà vĩ nhân" (Cha của muôn nhà). Mỗi người dân quê hương Vĩnh Phúc anh hùng đều cảm thấy rất đỗi vinh dự và tự hào khi được làm công dân dưới thời đại của Người. Mặc dù Bác đã đi xa nhưng những nỗi nhớ thương Bác vẫn luôn thường trực trong trái tim của mỗi người dân nơi đây. "Điển hình miền Bắc nước ta/ Vinh dự được đón cha già về thăm/ Bác dặn trồng cây phải chăm/ Toàn dân ghi nhớ chuyến thăm của Người" (Lạc Trung nhớ Bác). Không chỉ là nỗi nhớ thương mà còn là lòng biết ơn sâu sắc những công ơn to lớn của Bác dành cho quê hương, người dân Vĩnh Phúc. "Vĩnh Phúc đâu cũng xanh tươi/ Làm theo lời Bác người người trồng cây/ Mùa vàng quả chín vàng sây/ Dâng hương ngào ngạt lòng đầy nhớ ơn" (Ơn Người).

Nỗi niềm nhớ thương ấy, lòng biết ơn sâu sắc ấy đã biến thành hành động để các Cấp ủy và nhân dân hôm nay tiến lên xây dựng Vĩnh Phúc trở nên "giàu có, phồn vinh" như lúc sinh thời Người hằng nhắc nhớ. Trong bài thơ (Vĩnh Phúc làm theo lời Người) nhà thơ Lỗ Trọng Bường đã thể hiện rõ nét những thành công của Đại Hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc lần thứ III vào ngày 16/07/1963. Hãy đọc khổ thơ này để thấy rõ niềm vui, niềm hân hoan của toàn Đảng, toàn dân khi lĩnh hội được ý kiến của Bác để xây dựng Vĩnh phúc ngày càng phát triển. "Làm tốt Đại Hội thành công/ Đó là ý Bác non sông mong chờ/ Bác ơi từ đó đến giờ/ Giương cao ngọn cờ Vĩnh Phúc đi lên". Thật tự hào khi Vĩnh Phúc hôm nay đã là một trong những ngọn cờ đầu trong phát triển trên đất nước ta!

Học tập và làm theo Bác, mỗi tổ chức đoàn thể, mỗi Đảng viên, mỗi người dân Vĩnh Phúc có cách làm riêng thể hiện sự năng động, sáng tạo vốn có của người Vĩnh Phúc để từ đó đạt được những kết quả cao nhất trong công việc. Nếu (Yên Lạc làm theo lời Bác) là hình ảnh một miền quê yên ả, đời sống nhân dân ấm no, hạnh phúc nhờ chương trình "Nông thôn mới" : "Năm mươi năm Bác đi xa/ Những lời Bác dạy mãi là nước non/ Trồng cây xanh xóm xanh làng/ Xây nông thôn mới đời càng ấm no", thì (Một đời học Bác) lại là hình ảnh người mẹ già làm công việc buôn bán phế liệu đã quyết tâm thực hiện lời Bác dạy theo một cách rất riêng và mẹ đã thành công, mẹ đã nuôi ba con của mình thành tài: "Sắt, nhôm, đồng, nhựa, ni lông/ Ai có phế liệu bán không? Mua nào.. / Học Bác mẹ cố vượt lên/ Phải cần phải kiệm kế bền tương lai.. / Mẹ thường hay nói câu này/ Già đây học Bác từ ngày còn thơ". Một cách thể hiện hình ảnh rất mộc mạc mà sự lan tỏa lại vô cùng to lớn. Có thể nói nhà thơ đã rất may mắn khi được sống và viết bên cạnh những tấm gương cao quý mà bình dị như vậy.

Bên cạnh sự thành công về chủ đề "Học tập và làm theo lời Bác" thì tuyển tập (Lời Bác lời non sông ) cũng đã một phần khắc dấu vào lòng người đọc về những giá trị nghệ thuật, thể hiện năng lực sáng tạo khá độc đáo của tác giả. Thể thơ lục bát – thể thơ truyền thống của dân tộc Việt Nam được tác giả sử dụng một cách nhuần nhuyễn, chau truốt kết hợp hệ thống thi ảnh mộc mạc giản dị và khả năng tả, cảm hết sức tinh tế đã làm mỗi người đọc cảm thấy hứng thú khi tiếp cận với tác phẩm. Mong rằng, với cảm hứng đã có và với tình cảm thiêng liêng, đặc biệt của người Vĩnh Phúc dành cho vị lãnh tụ kính yêu của dân tộc, nhà thơ Lỗ Trọng Bường sẽ tiếp tục cho ra đời những bài thơ hay hơn nữa về Bác Hồ trong tương lai.


Lê Gia Hoài
 

Những người đang xem chủ đề này

Xu hướng nội dung

Back