1,592 ❤︎ Bài viết: 1541 Tìm chủ đề
3032 139
Đề bài:

Bàn về truyện ngắn có ý kiến cho rằng: "Qua một nỗi lòng, một cảnh ngộ, một sự việc của nhân vật, nhà văn muốn đối thoại với bạn đọc một vấn đề nhân sinh". Hãy từ một truyện ngắn mà anh (chị) thích, bày tỏ quan niệm của mình về ý kiến trên.

Gợi ý:

Truyện ngắn là một thể loại được ưa thích cả với người sáng tác văn chương và người thưởng thức. Sức hấp dẫn đặc biệt của thể loại này chính là ở chiều sâu nghệ thuật rất đặc biệt và độc đáo của nó. Bàn về truyện ngắn, có ý kiến cho rằng: "'Quá một nỗi lòng, một cảnh ngộ, một sự việc của nhận vật, nhà văn muốn đối thoại với bạn đọc một vấn đề nhân sinh". Đọc truyện ngắn "Một người Hà Nội" ta sẽ nhận thức rõ hơn về những ý kiến này.

Nguyễn Minh Châu trong một cuộc nói chuyện đã đưa ra nhận định: "Văn học và cuộc sống là hai, đường tròn đồng tâm mà tâm điểm là con người". Có thể nói, cuộc sống chính là đường tròn đồng tâm lớn nhất bao trùm lên toàn bộ đời sống con người và văn học. Văn học bắt nguồn từ cuộc sống và chính là noi phản ánh cuộc sống muôn màu muôn vẻ một cách đầy sáng tạo. Mỗi tác phẩm văn học, cũng giống như bất kì một tác phẩm nghệ thuật, nào khác, đều là nơi phản ánh một vấn đề, một mảng nào đó của đời sống. Nếu như tiểu thuyết là thể loại văn học có khả năng phản ánh cuộc sống một cách rộng lớn nhất: Là toàn bộ đời sống xã hội, có khi bao trùm lên cả cuộc đời, số phận của cả một con người, cả một dân tộc trong những màng thời gian và không gian khác nhau thì truyện ngắn, do những đặc trưng thề loại, cũng phản ánh hiện thực cuộc sống nhưng ở những mảng hiện thực nhỏ hẹp hơn. Đó chính là những lát cắt của đời sống mà ở đó có ý nghĩa và ảnh hưởng lớn nhất đến cuộc đời nhân vật cũng như nội dung chính được nhắc đến trong tác phẩm. Đó là lí do tại sao truyện ngắn thường hướng tới phát hiện và khắc họa một hiện tượng mang tính bản chất nhất, quan trọng nhất trong quan hệ nhân sinh hoặc, trong đời sống của con người. Nhân vật trong truyện ngắn cũng không hắn là một cá tính điển hình, đầy đặn và phức tạp mà có thể là một mảnh đời, một khoảnh khắc của số phận. Đó cụ thể là "một nỗi lòng, một cảnh ngộ, một nhân vật". Cần phái hiểu từ "một" ở đây cần được hiểu là một từ mang tính chất ước lệ. "Một" là rất ít so với eái thế giới phức tạp, đồ sộ và bề bộn của tiều thuyết. Nói về những cái ít đó trong truyện ngắn, ý kiến nhằm khẳng định cái phải làm được của một tác phẩm truyện ngắn đích thực: Phản ánh một vấn đề nhân sinh, tức phản ánh một vấn đề về đời sống của con người. Như vậy là mặc dù chỉ là một. Lát cắt của đời sống nhưng đó cần phải là một vấn đề có ý nghĩa trong cuộc sống của con người, có ý nghĩa đối với việc thực hiện những giá trị thẩm mĩ vốn thuộc về văn học. Và nó sẽ là những khoảnh khắc đọng lại mãi trong lòng người. Tính chất đăch thù ấy khiến cho truyện ngắn phái tìm đến một giải pháp nghệ thuật tối ưu cho lời văn: Cô đọng, hàm súc, mang nhiều ỷ nghĩa truyền tải được chiều sâu của tác phẩm.

Nhận định có giá trị lý luận soi sáng trên cả hai bình diện sáng tác và tiếp nhận văn học. Đặc trưng của truyện ngắn là vậy nền nó đòi hỏi ở người sáng tác khả năng tiếp cận, chọn lọc và khái quát các vấn đề của hiện thực cuộc sống để đưa được vào trong văn học những khía cạnh của cuộc sống có ý nghĩa nhân sinh sấu sắc. Còn người đọc cần là người sáng suốt trong việc nhìn nhận ra các vấn đề được đề cập đến trong tác phẩm đó, thây được những điều mà nhà văn muốn gửi gắm trong đó. Sáng tác và tiếp nhận đúng đắn mới có thể truyền tải, khám phá được hết những giá trị văn học gửi gắm trong đó,

Có thể nói, tất cả các tác phẩm truyện ngắn đích thực được công nhận đều là những tác phẩm truyền tải được một vấn đề nào đó củá nhân sinh. Ta có thể chứng minh cụ thể điều này qua một tác phẩm tiêu biểu "Một người Hà Nội" của Nguyễn Khải.

Truyện ngắn "Một người Hà Nội" cũng như các tác phấm khác của Nguyễn Khải luôn có một giọng văn rất trải đời. Tác phẩm thể hiện cái nhìn nghệ thuật mới mô cùa Nguyễn Khải về cuộc sống và con người khác hắn với cái nhìn tinh táo, sắc lạnh, nghiêm ngặt và có phần đơn chiều của nhà văn khi khai thác hiện thực trong thế xung đột, đối lập cũ – mới, tốt – xấu, ta – địch.. trước kia. Ở "Một người Hà Nội", ta bắt gặp một cái nhìn đầy trăn trở, suy nghiệm, cảm nhận hiện thực xô bồ, hối hả, đầy biến động đổi thay nhưng cũng đầy hương sắc, chuyển mạnh từ hướng ngoại sang hướng nội, lấy việc khám phá con người làm trung tâm. Nhà văn nhìn con người trong mối quan hệ chặt chẽ với lịch sử, với quá khứ dân tộc, với quan hệ gia đình và tiếp nối thế hệ để cuối cùng bao giờ cũng khẳng định, ngợi ca những giá trị nhân văn tốt đẹp của cuộc sống và con người hôm nay. Nhân vật trung tàm là nhân vật bà Hiền, một người Hà Nội bình thường. Qua lời kể của nhà văn, tác phấm dẫn dắt người đọc. Đi qua cuộc đời bà Hiền gắn với các mốc lịch sử của dân tộc để cuối cùng tập trung vào hình ảnh một bà Hiền – một người Hà Nội ít ỏi còn giữ lại được nét văn hóa hà thành trong cuộc sống hôm nay. Qua hình tượng nhân vật chính và cuộc đời của bà, Nguyễn Khải đã đặt ra và khiến cho người đọc phải suy nghĩ về một vấn đề có ý nghĩa trong cuộc sống hiện đại: Làm thế nào để giữ gìn và phát huy được những nét văn hóa tốt đẹp của người Hà thành nói riêng và của con người Việt Nam nói chung? Nét văn hóa của người Hà thành ở đây là gì? Điều trước hết và quan trọng mà Nguyễn Khải tập trung miêu tả là lòng tự trọng. "Dẫu không thanh lịch cũng người Tràng An". Người Hà Nội xưa vốn đã mang trong mình niềm tự hào, và tự tôn rất lớn. Bẳn lĩnh văn hóa, cốt cách người Hà Nội, đức tính giàu lòng tự trọng trái qua nhiều biến động thăng trầm vẫn không hề thay đổi. Là một người phụ nữ đầy bản lĩnh, bà Hiền sống thẳng thắn, chân thành, không bao giờ giấu giếm thái độ, quan điếm của mình trước cuộc sống xung quanh. Cô phản đối việc người ta cứ mải mê mãi với chiến thắng mà không chịu bắt tay vào làm ăn, phản đối việc xưng hô kiểu cách không phù hợp, không đúng với trật tự lỗ nghi trong gia đình. Có đầu óc rất thực tế, bà tính toán mọi việc trước sau rất khôn khéo, chủ động trong cả chuyện hôn sự của mình đến việc làm thế nào để lo lắng cho cuộc sống mưu sinh của, gia đình. Nhưng dù có làm gì thì với bà Hiền, lòng tự trọng bao giờ cũng được đặt lên hàng đầu. Bà không chấp nhận làm bất cứ điều gì mà để ảnh hưởng, tốn thương đến lòng tự tọng cúa chính mình, cũng chính là giữ gìn cho lòng tự trong – nét văn hóa của người Hà Nội. Không chỉ có ý thức giữ gìn cho mình, bà còn bảo ban, dạy dồ con cháu cách sống làm một người Hà Nội lịch sự, tế nhị, hào hoa, biết giữ gìn phẩm chất và giá trị cùa người Hà Nội, từ việc nhỏ nhất là cách ngồi ăn, cách cầm đũa, each múc canh đến cái lớn là quan niệm sống, lẽ sống: "Chúng mày là người Hà Nội thì cách đi đứng nói năng phải có chuẩn, không được sống tùy tiện, buông tuồng: ." Tao chỉ dạy chúng nó biết tự trọng, biết xấu hổ. ".. Thế nên trong thời buổi khó khăn, nghèo khổ nhất thì nếp sống văn hóa ấy cũng không đổi. Trong khi gia đình tác giả'thì việc ăn uống qua quít, thậm chí là" nhồm nhoàm ", vợ chồng, con cái ăn uống lấy được, cho xong thì gia đình nhà bà Hiên thì khác hẳn. Dù ít hay nhiều, bữa ăn cũng phải được bày ra bàn, bát đũa chinh tề. Chiến tranh nố ra, bà để cho những đứa con mình ra trận dù lòng trĩu nặng bởi vì bà không muốn chùng phải hổ thẹn với bạn bè, hổ thẹn với những người xung quanh, hổ thẹn với chính mình." Tao đau đớn mà bằng lòng vì tao không muốn nó sống bám vào sự hi sinh cúa bạn bè. Nó dám đi cũng là biết tự trọng "." Tao không khuyến khích cũng không ngăn cán, ngăn cán tức là bảo nó đi tìm đường sống để các bạn nó phẵi chết cùng là một cách giết chết nó "." Tao cũng muốn được sống bình đẳng với các bà mẹ khá, hoặc sống cá, hoặc chết cả, vui lẻ thì có hay hớm gì ". Suy nghĩ bình dị như thế của bà là suy nghĩ của một người thiết tha yêu nước. Bà Hiền là một người Hà Nội bình thường, vô danh nhưng ở bà đã thấm sâu những cái tính hoâ trong bản chất người Hà Nội, là" một hạt bụi vàng "của Hà Nội, dù rất nhỏ bé nhưng lại mang giá trị quí báu, bao nhiêu hạt bụi vàng sẽ đúc thành một" áng vàng sáng chói ". Những người Hà Nội như bà đã là" những hạt bụi vàng lấp lánh đâu đó ở mỗi góc phố Hà Nội ", tất cả đang" bay lên cho đất kinh kì chói sáng những ánh vàng! ". Ánh vàng ấy là cái phẩm giá của người Hà Nội, là cốt cách người Hà Nội, Hà Nội linh thiêng và hài hòa, Hà Nội nghìn năm văn hiến.

Xung quanh bà Hiền còn là những người Hà Nội khác. Đứa con trai đầu mà bà rất yêu quý là Dũng. Anh đã sống đúng với những lời mẹ dạy về cách sống của người Hà Nội. Anh tình nguyện tham gia chiến đấu, dâng hiến tuổi xuân của mình cho độc lập dân tộc. Có biết bao bà mẹ Hà nội vô cùng thương con và đầy nghị lựe như mẹ Tuất, người mẹ cùa đồng đội anh, nén nỗi đau mất con, tiếp tục dựng xây cuộc sống này. Gặp lại người bạn chiến đấu của đứa con đã hi sinh," người bà run bần bật nhưng không khóc "và bà run rẩy nói:" Nín đi con, nín đi Dũng. Cô đã biết cả. Cô biết từ mấy tháng nay rồi ". Có thể nói, tất cả những người Hà nội ấy đã góp phần tô thắm thêm cốt cách tinh thần người Hà nội, phẩm giá cao đẹp của con người Việt Nam.

Hình tượng nhân vật trung tâm và những vấn đề đặt ra trong cuộc sống đã đặt ra một vân đề có ý nghĩa nhân sinh cao cả về niềm tự hào, việc giữ gìn và phát huy nét văn hóa Hà thành cũng như văn hóa của người Việt Nam nói chung. Nó được khắng định trong bản chất cũng như trong sự đôi lập với một sơ biểụ hiện của sự suy thoái về văn hóa trong đời sống con người. Nguyễn Khải, bên cạnh việc đưa ra sự thật về những người Hà Nội có phẩm chất cao đẹp cũng đã không ngần ngại đưa ra sự thật về những người tạo nên" nhận xét không mây vui vẻ "của nhân vật tôi về Hà Nội. Đó là một" ông bạn trẻ đạp xe như gió "đã làm xe người ta suýt đổ còn không chút lễ nghĩa phóng xe vượt qua rồi quay mặt lại chửi:" Tiên sư cái anh già "tục tằn, thô bi. Là những người mà nhân vật tôi hỏi thồm đường, 'có người trả lời, là nói sõng hoặc hất cằm, có người cứ giương mắt nhìn mình như nhìn con thú lạ"; Là cô con dâu thán nhiên cho con bú và bàn luận chuyện trò với bố chồng và bạn của bô chồng.. Họ đã và đang đánh mất đi nét văn hóa vốn là niềm tự hào của người dân Hà thành từ bao đời nay. Cuộc sống hiện đại bộn bề đang làm người ta dần đánh mất đi những nét đẹp tinh thần vốn có của bán thân và dân tộc mình. Hà Nội còn phái làm nhiều điều nữa đế' giữ gìn và phát huy cái đẹp trong tính cách người Hà Nội. Câu chuyện có nỗi buồn nhưng không hề tỏ ra bi quan. Nét đẹp của văn hóa Hà thành là nét đẹp cúa biết bao đời dồn tụ lại, nó sẽ không thế' dễ dàng mất đi chi vì một vài cá nhân đang bị cái xã hội xô bồ làm cho biến chất. Câu chuyện về cày cố' thụ ớ đền Ngọc Sơn bị bão đánh bật rễ 'lại hồi sinh gợi nhiều triết lí, suy nghĩ về lẽ đời, về quy luật bất diệt của sự sống. Cây si biểu tượng cho nét cổ kính, linh thiêng của Hà Nội. Cây si dù bị. Bật đi một phần bộ rễ vẫn hồi sinh, lại trổ cành xanh lá nhờ ý thức bảo vệ và giữ gìn của con người. Sức sống, vẻ đẹp truyền thông văn hóa Hà Nội cùng trường tồn như vậy. Nét văn hóa của người Hà Nội thanh lịch, nét văn hóa cúa con người nói chung sẽ mãi trường tồn và ngày càng được bồi đáp cho đẹp thêm bởi vẫn còn có những hạt bụi vàng như bà Hiền trên mảnh đất này, bởi người ta vần luôn có ý thức dựng lại những cây cổ thụ lỡ có không may bị gió bão làm cho bật rề.. Bài học nhân sỉnh gứi gắm vì thế mà đã vượt ra ngoài tác phẩm đã để lại trong lòng người biết bao ấn tượng và suy nghĩ sâu đậm.

Trong tiểu thuyết "Gặp gỡ cuối năm", Nguyễn Khải từng viết: "Tôi thích cái ngày hôm nay, cái ngày hôm nay ngổn ngang, bề bộn, bóng tối và ánh sáng, màu đỏ và màu đen, đầy rẫy những biến động, những bất ngờ, mới là mảnh đất phì nhiêu cho các cây bút thỏa sức khai vỡ". Và từ đó, qua một cảnh ngộ, một nỗi lòng, một sự việc cùa nhân vật, Nguyễn Khải đã đối thoại được với người đọc những vấn đề nhân sinh sâu sắc.
 
Last edited by a moderator:
1,592 ❤︎ Bài viết: 1541 Tìm chủ đề
Bàn về truyện ngắn, có ý kiến cho rằng: Qua một nỗi lòng, một cảnh ngộ, một sự việc của nhân vật, nhà văn muốn đối thoại với bạn đọc một vấn đề nhân sinh. Hãy phân tích tác phẩm Vợ nhặt - Kim LânChiếc thuyền ngoài xa - Nguyễn Minh Châu để làm sáng tỏ nhận định trên.

Gợi ý​


1. Giới thiệu vấn đề nghị luận, trích dẫn ý kiến bàn về truyện ngắn.

2. Nêu cách hiểu của bản thân về ý kiến: "Qua một nỗi lòng, một cảnh ngộ, một sự việc của nhân vật, nhà văn muốn đối thoại với bạn đọc một vấn đề nhân sinh."

Nguyễn Kiên khẳng định: "Truyện ngắn chỉ là một lát cắt, một mảnh nhỏ của cuộc sống". Nhưng để có một lát cắt thật đẹp và thật ngọt, phải là một nghệ sĩ có tài năng thực thụ.

- Người cầm bút phải có một năng lực quan sát tinh tế, khả năng nắm bắt cuộc sống để có thể nhận ra "Qua một nỗi lòng, một cảnh ngộ, một sự việc của nhân vật". Bởi cuộc sống muôn màu muôn vẻ, đôi khi những cái tầm thường che lấp cả những điều đẹp đẽ, tinh khôi, đáng trọngĐôi mắt tinh tường của người nghệ sĩ có nhiệm vụ lặn sâu dưới cuộc đời để tìm kiếm những vẻ đẹp khuất lấp ấy.

- Truyện ngắn tuy ngắn, không phải ở dung lượng mà chính là ở "cái nhìn tự sự ở dưới cuộc đời". Cái nhìn ấy sắc sảo, luôn hướng về con người, luôn luôn nói lên "một vấn đề nhân sinh". Con người và các mối quan hệ của con người đều là đề tài cho văn chương, đều được các nghệ sĩ tài năng đề cập đến.

- Văn học nghệ thuật không chỉ là tấm gương đời sống mà còn là tấm gương tâm hồn của người nghệ sĩ. Cầm bút để trải lòng cất lên tiếng đàn hồn đa thanh điệu. Cầm bút trước hết là để thỏa mãn những trăn trở, những lo lắng, băn khoăn về cuộc đời về con người. Cầm bút trước hết là đi tìm sự đồng cảm, được đối thoại.

 Nhận định vừa đúng đắn, thiết thực, thể hiện sự hiểu biết, tình yêu của tác giả đối với thể loại truyện ngắn- loại văn "vỏ mỏng lõi đầy". Nêu lên chức năng quan trọng nhất của văn học: Phản ánh cuộc sống với tâm điểm con người.

3. Chứng minh:

Học sinh phân tích tác "Vợ nhặt" - Kim Lân, "Chiếc thuyền ngoài xa" - Nguyễn Minh Châu để chứng minh. Phần chứng minh cần đảm bảo yêu cầu sau:

- Chiếc thuyền ngoài xa: Viết về cuộc sống và con người khi chiến tranh đã đi qua, nhà văn nhận ra những di chứng, căn bệnh thời hậu chiến. Cuộc sống đói nghèo, đau thương.. Thách thức con người.

+ Nhân vật Phùng: Nhà văn khai sáng Phùng và bạn đọc vấn đề đau đớn về "nhân sinh". Cuốc sống đa đoan, con người đa sự, không thể nhìn sự vật, hiện tượng đánh giá..

+ Người đàn bà hàng chài: Nhà văn muốn đối thoại với bạn đọc, phơi bày nỗi lòng của người phụ nữ ta nhận ra nguyên nhân giết chết hạnh phúc gia đình là cuộc đời, nghèo khó, bất hạnh. Con người phải mưu sinh cuộc sống.

Cảnh ngộ đáng thương của ngườ đàn bà hàng chài tác giả đặt ra vấn đề triết lý nhân sinh: Sự cảm thông cho số phận con người và kiếm tìm con đường giải thoát tội cho họ.

- Vợ nhặt: Tác giả chọn nhân vật chính Tràng và thị- những người nghèo khổ, xấu xí Dụng ý: Nhà văn muốn cho bạn đọc nhìn thấy phẩm chất cao đẹp, tình người đôn hậu có thể xuất phát từ những nơi tưởng như không thể.

Vấn đề nhân sinh: Quyền sống, quyền con người không chỉ trong thời chiến mà cho tất cả mọi thời.

* Đánh giá khát quát:

Ý kiến nêu vấn đề đặc trưng của truyện ngắn. Ngoài việc phản ánh cuộc sống như "Thư kí trung thành", văn chương giáo dục cho chúng ta vấn đề nhân sinh.

Bài làm​


Truyện ngắn luôn được xem là thể loại "vỏ mỏng lõi đầy", dung lượng ngắn nhưng sức chứa tư tưởng và cảm xúc lại vô cùng lớn. Bàn về truyện ngắn, có ý kiến cho rằng: "Qua một nỗi lòng, một cảnh ngộ, một sự việc của nhân vật, nhà văn muốn đối thoại với bạn đọc một vấn đề nhân sinh". Nhận định ấy đã chạm đến bản chất sâu xa của văn học: Từ những mảnh đời cụ thể để gửi gắm những trăn trở lớn lao về con người và cuộc sống. Qua hai tác phẩm tiêu biểu là "Vợ nhặt" của Kim Lân và "Chiếc thuyền ngoài xa" của Nguyễn Minh Châu, ta càng thấy rõ ý nghĩa đúng đắn của quan niệm này.

Truyện ngắn thường không kể một câu chuyện dài, mà chỉ chọn một lát cắt nhỏ của đời sống. Nguyễn Kiên từng khẳng định truyện ngắn chỉ là một mảnh nhỏ của cuộc sống, nhưng chính mảnh nhỏ ấy lại chứa đựng chiều sâu tư tưởng và cảm xúc của người nghệ sĩ. Nhà văn phải có đôi mắt quan sát tinh tế, khả năng phát hiện những điều tưởng chừng bình thường nhưng lại ẩn chứa vẻ đẹp và ý nghĩa lớn lao. Cuộc sống vốn muôn hình vạn trạng, cái tầm thường có thể che lấp cái đẹp, cái cao cả. Vì thế, người nghệ sĩ phải "lặn sâu" vào đời sống, nhận ra một nỗi lòng, một cảnh ngộ hay một sự việc đặc biệt của con người để từ đó đặt ra những câu hỏi về nhân sinh.

Truyện ngắn tuy ngắn về dung lượng nhưng không hề đơn giản về nội dung. Cái nhìn tự sự của nhà văn luôn hướng về con người, về những mối quan hệ, về thân phận và số phận. Văn học không chỉ là tấm gương phản chiếu hiện thực mà còn là tấm gương tâm hồn của người viết. Khi cầm bút, nhà văn không chỉ kể chuyện mà còn bộc lộ suy nghĩ, trăn trở, khát vọng đối thoại với bạn đọc. Từ một câu chuyện cụ thể, họ muốn đặt ra những vấn đề lớn: Về quyền sống, về hạnh phúc, về sự cảm thông, về cách nhìn nhận con người. Chính điều đó làm nên giá trị nhân văn của văn học.

Trong "Vợ nhặt", Kim Lân đã chọn bối cảnh nạn đói năm 1945 – một thời điểm tang thương của lịch sử dân tộc – để kể câu chuyện về Tràng và người vợ "nhặt" được. Đó là những con người nghèo khổ, lam lũ, xấu xí, sống bên lề xã hội. Nhưng chính từ cảnh ngộ khốn cùng ấy, nhà văn đã làm sáng lên vẻ đẹp của tình người. Chỉ qua một bữa ăn, một lời nói đùa, một sự gặp gỡ tình cờ, Tràng đã "nhặt" được vợ. Sự việc tưởng như phi lý ấy lại phản ánh một sự thật đau lòng: Cái đói đã đẩy con người đến bờ vực, khiến việc lấy vợ trở nên dễ dàng như nhặt một món đồ bên đường.

Nhưng đằng sau sự việc ấy không chỉ là nỗi bi thương. Kim Lân muốn đối thoại với bạn đọc về giá trị của tình người và khát vọng sống. Trong hoàn cảnh đói khát, Tràng vẫn mở lòng cưu mang một người đàn bà xa lạ; bà cụ Tứ, dù nghèo khổ, vẫn chấp nhận nàng dâu mới bằng tấm lòng bao dung; còn người vợ nhặt, từ chỗ chao chát, chỏng lỏn đã trở nên hiền hậu, biết vun vén cho gia đình. Từ một cảnh ngộ tưởng chừng tuyệt vọng, nhà văn đã khơi dậy ánh sáng của nhân tính.

Qua câu chuyện ấy, Kim Lân đặt ra vấn đề nhân sinh sâu sắc: Con người có thể bị dồn đến bước đường cùng nhưng không vì thế mà đánh mất khát vọng sống và tình thương. Quyền được sống, được yêu thương, được làm người không chỉ là quyền trong thời chiến mà là quyền muôn đời của con người. Từ những phận người nhỏ bé, nhà văn khẳng định phẩm chất tốt đẹp vẫn tồn tại, ngay cả nơi tưởng như chỉ còn bóng tối.

Nếu "Vợ nhặt" nói về tình người trong nạn đói, thì "Chiếc thuyền ngoài xa" của Nguyễn Minh Châu lại hướng đến những vấn đề nhân sinh trong đời sống hậu chiến. Tác phẩm kể về chuyến đi thực tế của nghệ sĩ nhiếp ảnh Phùng và câu chuyện của người đàn bà hàng chài. Từ một cảnh đẹp ngoài khơi – chiếc thuyền trong sương sớm – Phùng tưởng như đã bắt gặp chân lý của cái đẹp. Nhưng ngay sau đó, anh chứng kiến cảnh bạo lực gia đình đầy đau đớn. Sự đối lập ấy khiến anh nhận ra: Cuộc sống không thể nhìn bằng cái nhìn đơn giản, một chiều.

Qua nhân vật Phùng, nhà văn muốn đối thoại với bạn đọc về cách nhìn nhận con người và cuộc đời. Không thể chỉ nhìn vẻ bề ngoài mà đánh giá bản chất; không thể chỉ dựa vào cảm xúc cá nhân mà phán xét đúng sai. Cuộc sống đa đoan, con người đa sự, mỗi số phận đều chứa đựng những điều phức tạp.

Đặc biệt, hình ảnh người đàn bà hàng chài là trung tâm của vấn đề nhân sinh mà Nguyễn Minh Châu muốn đặt ra. Bà là nạn nhân của bạo lực gia đình, nhưng lại chấp nhận chịu đựng để giữ gìn mái ấm cho con. Qua lời kể của bà, ta hiểu rằng nguyên nhân của đau khổ không chỉ nằm ở con người mà còn ở hoàn cảnh: Nghèo đói, đông con, mưu sinh khắc nghiệt. Nhà văn không chỉ kể một câu chuyện bi thương mà còn gửi gắm triết lý sâu sắc về sự cảm thông. Không thể dễ dàng kết tội hay thương hại nếu chưa hiểu hết cuộc đời của người khác.

Từ cảnh ngộ của người đàn bà hàng chài, tác phẩm đặt ra câu hỏi về trách nhiệm của xã hội, về cách cứu rỗi con người khỏi bi kịch. Đó là lời nhắc nhở rằng nghệ thuật chân chính không chỉ dừng lại ở cái đẹp bề ngoài mà phải đi sâu vào bản chất cuộc sống, phải nhìn thấy những nỗi đau và tìm kiếm con đường giải thoát cho con người.

Qua hai tác phẩm, có thể thấy rõ nhận định về truyện ngắn là hoàn toàn đúng đắn. Từ một nỗi lòng, một cảnh ngộ, một sự việc cụ thể, các nhà văn đã mở ra những vấn đề lớn về nhân sinh: Về quyền sống, về tình người, về cách nhìn nhận con người, về trách nhiệm xã hội. Văn học không chỉ phản ánh cuộc sống mà còn giúp con người hiểu mình và hiểu người hơn, biết yêu thương, cảm thông và trân trọng những giá trị nhân văn.

Như vậy, truyện ngắn không chỉ là câu chuyện của riêng nhân vật mà còn là cuộc đối thoại giữa nhà văn và bạn đọc về cuộc đời. Từ những lát cắt nhỏ, văn học chạm tới những câu hỏi lớn của con người. Và chính điều đó làm nên sức sống bền lâu của những tác phẩm như "Vợ nhặt" và "Chiếc thuyền ngoài xa" – những tác phẩm không chỉ kể chuyện mà còn khiến người đọc suy ngẫm về ý nghĩa làm người.
 
Từ khóa: Sửa

Những người đang xem chủ đề này

Xu hướng nội dung

Back