1131
23
Tên bài thơ: Trèo lên cây bưởi hái hoa
Thể loại: Ca dao
Trèo lên cây bưởi hái hoa,
Bước xuống vườn cà hái nụ tầm xuân.
Nụ tầm xuân nở ra xanh biếc,
Em đã có chồng, anh tiếc lắm thay!
- Ba đồng một mớ trầu cay,
Sao anh không hỏi những ngày còn không?
Bây giờ em đã có chồng,
Như chim vào lồng, như cá cắn câu.
Cá cắn câu, biết đâu mà gỡ,
Chim vào lồng, biết thuở nào ra?
Thể loại: Ca dao
Trèo lên cây bưởi hái hoa,
Bước xuống vườn cà hái nụ tầm xuân.
Nụ tầm xuân nở ra xanh biếc,
Em đã có chồng, anh tiếc lắm thay!
- Ba đồng một mớ trầu cay,
Sao anh không hỏi những ngày còn không?
Bây giờ em đã có chồng,
Như chim vào lồng, như cá cắn câu.
Cá cắn câu, biết đâu mà gỡ,
Chim vào lồng, biết thuở nào ra?
Nguồn:
1. Việt Nam thi văn hợp tuyển, Dương Quảng Hàm, Bộ Quốc gia Giáo dục xuất bản, Hà Nội, 1951
2. Vũ Ngọc Phan, Tục ngữ ca dao dân ca Việt Nam, NXB Khoa học Xã hội, 1971
Theo giai thoại dân gian trong sách Giai thoại văn học Việt Nam, bài ca dao này thực chất là lời đối đáp giữa chúa Trịnh Tráng với Đào Duy Từ. Đào Duy Từ bỏ triều đình vua Lê và chúa Trịnh ở Đàng Ngoài vào làm quan cho chúa Nguyễn ở Đàng Trong, còn khuyên chúa Nguyễn Phúc Nguyên không nhận sắc phong và bỏ nộp cống cho nhà Lê. Chúa Trịnh biết ông là người tài, bèn sai người mang nhiều vàng bạc bí mật vào biếu, kèm một bức thư riêng với bốn câu thơ: "Trèo lên cây bưởi.. Anh tiếc lắm thay!"
Lời thơ nói đến chuyện tình nghĩa, trong đó anh ám chỉ chúa Trịnh và em chỉ Đào Duy Từ, nhắc ông rằng tổ tiên, quê quán vốn ở Đàng Ngoài, nếu trở về sẽ được triều đình trọng dụng còn nếu không thì ngầm ý đe dọa. Người ta đồn rằng Đào Duy Từ đã xây mộ cho cha mẹ tại Bình Định để tránh bị Đàng Ngoài khống chế. Vì thế Đào Duy Từ không sợ hãi chúa Trịnh trả thù và ông đã trả lại quà tặng và viết tiếp bài thơ để phúc đáp chúa Trịnh: "Ba đồng một mớ.. Biết thuở nào ra?"
Chúa Trịnh đọc thơ biết khó lòng lôi kéo được, nhưng thấy bài thơ chưa có câu kết, ý còn bỏ ngỏ, nên vẫn nuôi hy vọng, bèn cho người đem lễ vật nhiều hơn, và mang theo lá thư của chúa Trịnh vào gặp Đào Duy Từ lần nữa. Lần này, ông mới viết nốt hai câu kết gửi ra, để trả lời dứt khoát việc mời mọc của chúa Trịnh:
Có lòng xin tạ ơn lòng,
Đừng đi lại nữa mà chồng em ghen!
Cảm nhận bài ca dao
Bài ca dao là một câu chuyện tình dở dang, một tiếng thở dài đầy tiếc nuối và xót xa của những người yêu nhau nhưng lỡ mất duyên nợ.
Lời của chàng trai: Sự ngỡ ngàng và tiếc nuối muộn màng
Bốn câu thơ đầu là lời bộc bạch của chàng trai. Những hành động "trèo lên cây bưởi", "bước xuống vườn cà" thực chất chỉ là cái cớ, là sự bồn chồn, bứt rứt, đi ra đi vào để tìm kiếm bóng hình người thương. Điểm sáng nhất ở đây là hình ảnh "nụ tầm xuân nở ra xanh biếc". Trong thực tế, hoa tầm xuân hiếm khi có màu xanh biếc (thường là hồng hoặc trắng). Sự "phi lý" này lại cực kỳ hợp lý về mặt tâm lý: Đó là cái nhìn thảng thốt, sững sờ, là sự biến đổi màu sắc trong đôi mắt của kẻ đang choáng váng khi nhận ra thực tại phũ phàng "Em đã có chồng". Lời than "anh tiếc lắm thay!" bật ra thật chân chất, mộc mạc mà nhói lòng.
Lời của cô gái: Trách móc nhẹ nhàng và cam chịu xót xaSáu câu thơ sau là lời đáp trả của cô gái, đầy những cung bậc cảm xúc phức tạp:
Trách móc: "Ba đồng một mớ trầu cay / Sao anh không hỏi những ngày còn không?". Trầu cau ngày xưa rẻ mạt, sắm sửa dăm ba đồng là đủ lễ dạm ngỏ. Lời trách cứ mỏng manh mà sâu sắc: Trở ngại vật chất chẳng có gì, cớ sao ngày xưa anh lại chần chừ, do dự để rồi vuột mất cơ hội?
Bế tắc, cam chịu: Khi đã bước qua cánh cửa hôn nhân (mà thời xưa thường do cha mẹ đặt để), người phụ nữ hoàn toàn mất đi sự tự do. Hình ảnh so sánh "như chim vào lồng, như cá cắn câu" lột tả trọn vẹn sự giam hãm, tuyệt vọng và bế tắc của người con gái trong xã hội cũ. Lồng đã khóa, lưỡi câu đã mắc, có muốn vùng vẫy, luyến tiếc tình cũ cũng "biết thuở nào ra".
Thể thơ lục bát uyển chuyển cùng chất liệu đồng quê mộc mạc, dung dị của bài ca dao này chính là mạch nguồn trong trẻo đã nuôi dưỡng hồn thơ của rất nhiều thế hệ thi sĩ Việt Nam sau này. Đọc những vần thơ đẫm chất ca dao này, ta rất dễ liên tưởng đến cái hồn "chân quê" tình tứ mà đầy những lỡ làng, dang dở trong những thi phẩm của Nguyễn Bính hay sự ngậm ngùi về thân phận con người trong những trang văn hiện thực.
Last edited by a moderator:
