263 ❤︎ Bài viết: 133 Tìm chủ đề
1131 23
Tên bài thơ: Trèo lên cây bưởi hái hoa

Thể loại: Ca dao


Trèo lên cây bưởi hái hoa,

Bước xuống vườn cà hái nụ tầm xuân.

Nụ tầm xuân nở ra xanh biếc,

Em đã có chồng, anh tiếc lắm thay!

- Ba đồng một mớ trầu cay,

Sao anh không hỏi những ngày còn không?

Bây giờ em đã có chồng,

Như chim vào lồng, như cá cắn câu.

Cá cắn câu, biết đâu mà gỡ,

Chim vào lồng, biết thuở nào ra?​

Nguồn:

1. Việt Nam thi văn hợp tuyển, Dương Quảng Hàm, Bộ Quốc gia Giáo dục xuất bản, Hà Nội, 1951

2. Vũ Ngọc Phan, Tục ngữ ca dao dân ca Việt Nam, NXB Khoa học Xã hội, 1971

55128282390_be8efc79c4_o.png


Theo giai thoại dân gian trong sách Giai thoại văn học Việt Nam, bài ca dao này thực chất là lời đối đáp giữa chúa Trịnh Tráng với Đào Duy Từ. Đào Duy Từ bỏ triều đình vua Lê và chúa Trịnh ở Đàng Ngoài vào làm quan cho chúa Nguyễn ở Đàng Trong, còn khuyên chúa Nguyễn Phúc Nguyên không nhận sắc phong và bỏ nộp cống cho nhà Lê. Chúa Trịnh biết ông là người tài, bèn sai người mang nhiều vàng bạc bí mật vào biếu, kèm một bức thư riêng với bốn câu thơ: "Trèo lên cây bưởi.. Anh tiếc lắm thay!"

Lời thơ nói đến chuyện tình nghĩa, trong đó anh ám chỉ chúa Trịnh và em chỉ Đào Duy Từ, nhắc ông rằng tổ tiên, quê quán vốn ở Đàng Ngoài, nếu trở về sẽ được triều đình trọng dụng còn nếu không thì ngầm ý đe dọa. Người ta đồn rằng Đào Duy Từ đã xây mộ cho cha mẹ tại Bình Định để tránh bị Đàng Ngoài khống chế. Vì thế Đào Duy Từ không sợ hãi chúa Trịnh trả thù và ông đã trả lại quà tặng và viết tiếp bài thơ để phúc đáp chúa Trịnh: "Ba đồng một mớ.. Biết thuở nào ra?"

Chúa Trịnh đọc thơ biết khó lòng lôi kéo được, nhưng thấy bài thơ chưa có câu kết, ý còn bỏ ngỏ, nên vẫn nuôi hy vọng, bèn cho người đem lễ vật nhiều hơn, và mang theo lá thư của chúa Trịnh vào gặp Đào Duy Từ lần nữa. Lần này, ông mới viết nốt hai câu kết gửi ra, để trả lời dứt khoát việc mời mọc của chúa Trịnh:

Có lòng xin tạ ơn lòng,

Đừng đi lại nữa mà chồng em ghen!


55127890856_253fe3a4c8_o.png


Cảm nhận bài ca dao​


Bài ca dao là một câu chuyện tình dở dang, một tiếng thở dài đầy tiếc nuối và xót xa của những người yêu nhau nhưng lỡ mất duyên nợ.

Lời của chàng trai: Sự ngỡ ngàng và tiếc nuối muộn màng

Bốn câu thơ đầu là lời bộc bạch của chàng trai. Những hành động "trèo lên cây bưởi", "bước xuống vườn cà" thực chất chỉ là cái cớ, là sự bồn chồn, bứt rứt, đi ra đi vào để tìm kiếm bóng hình người thương. Điểm sáng nhất ở đây là hình ảnh "nụ tầm xuân nở ra xanh biếc". Trong thực tế, hoa tầm xuân hiếm khi có màu xanh biếc (thường là hồng hoặc trắng). Sự "phi lý" này lại cực kỳ hợp lý về mặt tâm lý: Đó là cái nhìn thảng thốt, sững sờ, là sự biến đổi màu sắc trong đôi mắt của kẻ đang choáng váng khi nhận ra thực tại phũ phàng "Em đã có chồng". Lời than "anh tiếc lắm thay!" bật ra thật chân chất, mộc mạc mà nhói lòng.

Lời của cô gái: Trách móc nhẹ nhàng và cam chịu xót xaSáu câu thơ sau là lời đáp trả của cô gái, đầy những cung bậc cảm xúc phức tạp:

Trách móc: "Ba đồng một mớ trầu cay / Sao anh không hỏi những ngày còn không?". Trầu cau ngày xưa rẻ mạt, sắm sửa dăm ba đồng là đủ lễ dạm ngỏ. Lời trách cứ mỏng manh mà sâu sắc: Trở ngại vật chất chẳng có gì, cớ sao ngày xưa anh lại chần chừ, do dự để rồi vuột mất cơ hội?

Bế tắc, cam chịu: Khi đã bước qua cánh cửa hôn nhân (mà thời xưa thường do cha mẹ đặt để), người phụ nữ hoàn toàn mất đi sự tự do. Hình ảnh so sánh "như chim vào lồng, như cá cắn câu" lột tả trọn vẹn sự giam hãm, tuyệt vọng và bế tắc của người con gái trong xã hội cũ. Lồng đã khóa, lưỡi câu đã mắc, có muốn vùng vẫy, luyến tiếc tình cũ cũng "biết thuở nào ra".

Thể thơ lục bát uyển chuyển cùng chất liệu đồng quê mộc mạc, dung dị của bài ca dao này chính là mạch nguồn trong trẻo đã nuôi dưỡng hồn thơ của rất nhiều thế hệ thi sĩ Việt Nam sau này. Đọc những vần thơ đẫm chất ca dao này, ta rất dễ liên tưởng đến cái hồn "chân quê" tình tứ mà đầy những lỡ làng, dang dở trong những thi phẩm của Nguyễn Bính hay sự ngậm ngùi về thân phận con người trong những trang văn hiện thực.
 
Last edited by a moderator:
1,603 ❤︎ Bài viết: 1653 Tìm chủ đề

Ý nghĩa bài thơ trèo lên cây bưởi hái hoa​


Bài ca dao "Trèo lên cây bưởi hái hoa" là một trong những câu hát dân gian rất quen thuộc trong kho tàng văn học Việt Nam. Dù lời thơ mộc mạc, giản dị nhưng ẩn chứa trong đó là nỗi tiếc nuối, sự muộn màng của một mối tình lỡ dở.

Nỗi tiếc nuối của tình yêu đến muộn​


Mở đầu bài thơ là hình ảnh rất quen thuộc của làng quê:

"Trèo lên cây bưởi hái hoa,

Bước xuống vườn cà hái nụ tầm xuân
"

Những hình ảnh cây bưởi, vườn cà, nụ tầm xuân tạo nên một không gian rất đời thường của thôn quê Việt Nam. Tuy nhiên, đó không chỉ là tả cảnh mà còn là cách dẫn dắt để nói về chuyện tình cảm.

Khi chàng trai gặp lại người con gái mình thương thì mới biết rằng:

"Em đã có chồng, anh tiếc lắm thay!"

Câu thơ ngắn nhưng chứa đầy sự nuối tiếc. Tình cảm vốn có thể nảy nở nhưng vì sự chậm trễ, vì chưa kịp ngỏ lời nên đã trở thành một mối duyên lỡ.

Lời trách nhẹ của người con gái​


Người con gái trong bài thơ không trách móc gay gắt mà chỉ nói một câu rất giản dị:

"Ba đồng một mớ trầu cay,

Sao anh không hỏi những ngày còn không?
"

Ngày xưa, trầu cau là biểu tượng của hôn nhân. Câu nói này mang ý nghĩa: Nếu chàng trai thật lòng thì đã có thể đến hỏi cưới từ trước. Nhưng vì anh chậm trễ nên cơ hội đã trôi qua.

Đó là một lời trách rất nhẹ nhàng, nhưng cũng đầy xót xa.

Bi kịch của người phụ nữ trong xã hội xưa​


Hai câu thơ sau thể hiện rõ nỗi bất lực của người con gái:

"Bây giờ em đã có chồng,

Như chim vào lồng, như cá cắn câu.
"

Hình ảnh chim vào lồng, cá cắn câu cho thấy thân phận bị ràng buộc. Trong xã hội xưa, khi người phụ nữ đã lấy chồng thì gần như không còn quyền lựa chọn cho cuộc đời mình nữa.

Đó vừa là lời than thở, vừa là sự chấp nhận số phận.

Sự bế tắc của mối tình dang dở​


Hai câu cuối là sự khẳng định cho tình cảnh không thể thay đổi:

"Cá cắn câu, biết đâu mà gỡ,

Chim vào lồng, biết thuở nào ra?
"

Mối tình đã lỡ thì không thể quay lại. Người con gái đã có gia đình, còn chàng trai chỉ có thể mang theo nỗi tiếc nuối.

Câu ca dao vì thế vừa buồn vừa sâu sắc: Nó nói về sự chậm trễ trong tình yêu, về duyên phận và cả thân phận của con người trong xã hội cũ.

Giá trị của bài ca dao​


Bài ca dao này thể hiện rất rõ tâm hồn người Việt: Tình cảm chân thành, cách nói giản dị nhưng giàu hình ảnh. Qua những hình ảnh quen thuộc của làng quê, người xưa đã gửi gắm một triết lý rất đời thường: Tình yêu nếu chậm một bước có thể trở thành cả đời tiếc nuối.

Vì vậy, dù chỉ vài câu ngắn ngủi, bài ca dao vẫn khiến nhiều thế hệ người nghe cảm thấy bâng khuâng và đồng cảm.
 
Từ khóa: Sửa

Những người đang xem chủ đề này

Xu hướng nội dung

Back