1.1. Lý do chọn đề tài
Những năm gần đây hiện tượng biến đổi khí hậu thất thường, không theo quy luật, khí hậu trái đất có xu hướng nóng lên: Nhiệt độ của bề mặt trái đất đã tăng lên 0, 8 ºC kể từ năm 1860. Cơ chế của sự nóng lên toàn cầu là do: Phát thải khí nhà kính (GHG) từ cuộc sống của con người, quá trình hình thành bẫy nhiệt, phát thải từ tia nắng mặt trời, phản xạ của tia nắng bằng bẫy nhiệt.
Từ năm 2007, thế giới hình thành thị trường tín chỉ các-bon rừng theo cơ chế được xác lập trong khuôn khổ Công ước khung về biến đổi khí hậu của Liên hiệp quốc. Theo cơ chế trao đổi tín chỉ các-bon, các nước
phát triển có hạn ngạch phát thải khí nhà kính thấp, đang phát thải vượt quá hạn ngạch cho phép sẽ tìm mua tín chỉ/giấy phép các-bon rừng từ kết quả hoạt động REDD+ tại các nước đang phát triển chưa sử dụng hết hạn ngạch phát thải khí nhà kính.
Việt Nam là một nước đang có lợi thế về diện tích rừng rộng. Không chỉ vậy, Rừng tại đây rất phong phú và đa dạng. Lợi ích mà rừng mang đến rất to lớn về mặt kinh tế - văn hóa, xã hội.. Bên cạnh đó không thể không kể đến việc rừng là một bể lọc khí khổng lồ. Nước ta vinh dựu là nước đưuọc thí điểm trong việc bán tín chỉ CO2 và việc này mở ra một cơ hội lớn cho nghành lâm nghiệp nói riêng và kinh tế nước ta nói chung.
Nhằm xây dựng và phân tích quy trình đánh giá khả năng tích lũy CO2 của thảm thực vật cũng như tìm hiểu về nguyên tắc khi thiết lập các ô tiêu chuẩn để đánh giá khả năng tích lũy cacbon của thảm thực vật là vô cùng cần thiết. Tác giả thực hiện nghiên cứu này nhằm đóng góp các tri thức toàn diện và cụ thể về tín chỉ rừng và cơ chế phát triển sạch. Nghiên cứu này cập nhật các nội dung mới nhất và toàn diện nhất về tín chỉ rừng và cơ chế phát triển sạch tại Việt Nam, cũng như tạo tiền đề cho các nghiên cứu ứng dụng trong lĩnh vực này.
Mục tiêu nghiên cứu
- Xây dựng và giải thích quy trình đánh giá khả năng tích lũy CO2 của thảm thực vật
- Trình bày nguyên tắc khi thiết lập các ô tiêu chuẩn để đánh giá khả năng tích lũy cacbon của thảm thực vật.
- Hoàn thiện bảng số liệu về khả năng hấp thụ Cacbon của các khu rừng trồng Keo lai
Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu về tín chỉ rừng và cơ chế phát triển sạch một nghiên cứu tổng hợp với yêu cầu các thông tin tổng quát cả trong và ngoài nước. Vì vậy phương pháp quan trọng nhất được sử dụng trong đề tài là
Phương pháp thu thập tài liệu thứ cấp . Phương pháp thu thập tài liệu thứ cấp hay còn gọi là phương pháp nghiên cứu tài liệu với mục đích nhằm tìm hiểu những luận cứ từ trong lịch sử nghiên cứu mà đồng nghiệp đi trước đã làm, không mất nhiều thời gian lặp đi lặp lại những công việc đã được thực hiện. Nghiên cứu này tham khảo và tổng hợp các tài liệu có liên quan bao gồm: Các báo cáo khoa học, các bài báo trong và ngoài nước, báo cáo của chính quyền địa phương về điều kiện kinh tế xã hội, các dữ liệu thống kê của các cơ quan quản lý.
1.2. Một số khái niệm có liên quan
Cơ chế phát triển sạch (CDM – Clean Development Mechanism) : Là một cơ chế được bắt nguồn từ điều 12 của Nghị định thư Kyoto, 1997. Là một chương trình cắt giảm phát thải khí nhà kính thông qua việc hợp tác giữa các nước phát triển (các nước thuộc phụ lục I) – các nước mà đã cam kết cắt giảm lượng khí nhà kính ở một mức nhất định trong nghị định thư Kyoto - với các nước đang phát triển, các nước không thuộc danh mục I của công ước trên cũng như là không có bất kỳ một cam kết về việc cắt giảm phát thải khí nhà kính
Sinh khối: Là dạng vật liệu sinh học từ sự sống, hay gần đây là sinh vật sống, đa số là các cây trồng hay vật liệu có nguồn gốc từ thực vật.
Ô tiêu chuẩn: Là một giới hạn diện tích, thường là dạng hình vuông, được sử dụng trong sinh thái học và địa lý học nhằm tạo ra một đơn vị tiêu chuẩn của khu vực có diện tích lớn để nghiên cứu về sự phân bố của đối tượng nghiên cứu. Ô tiêu chuẩn trong thực tế có thể là hình chữ nhật, hình tròn hoặc đa giác lồi không đều dựng lên nhờ căng dây hoặc khung kim loại, thích hợp để lấy mẫu thực vật, động vật di chuyển chậm và một số sinh vật dưới nước.