2 người đang xem
Bài viết: 685 Tìm chủ đề
2950 184
Nhận xét về vai trò của chi tiết nghệ thuật trong tác phẩm truyện, có ý kiến cho rằng:

Chi tiết nhỏ làm nên nhà văn lớn - M. Gorki

Hãy chọn hai chi tiết đặc sắc "Chữ người tử tù" Của Nguyễn Tuân và "Chí Phèo" của Nam Cao để làm sáng tỏ ý kiến trên.

Bài văn mẫu hay

Mở bài

Giới thiệu Chữ người tử tù, Chí Phèo, và ý kiến của M. Gorki

Nhà văn Nguyễn Tuân từng nói rằng "Nghệ thuật là lĩnh vực của cái độc đáo". Thật vậy mỗi tác phẩm nghệ thuật đòi hỏi phải mang một dấu ấn, ấn tượng sâu sắc riêng biệt trong lòng người đọc, có như vậy tác phẩm mới có thể sống và tỏa sáng giữa dòng chảy của thời gian và sự thay đổi của thị hiếu xã hội. Tác phẩm muốn độc đáo thì nhà văn cần phải tạo sự độc đáo, ấn tượng từ những điều nhỏ nhặt nhất cấu thành nên tác phẩm, cùng với cốt truyện tình huống truyện thì chi tiết nghệ thuật cũng là yếu tố quan trọng trong tác phẩm văn chương tự sự, để tạo nên sự thành công đồng thời mang đến những dấu ấn riêng cho tác giả. Như M. Gorki nhận xét "chi tiết nhỏ làm nên nhà văn lớn", chi tiết trong tác phẩm "Chữ Người Tử Tù" của Nguyễn Tuân và "Chí Phèo" của Nam Cao, chi tiết cảnh cho chữ và bát cháo hành đã cho ta thấy rõ được điều này.

Thân bài

Giải thích ý kiến của M. Gorki

Nhà văn Nga Pauxtapxki từng nói: "Chi tiết làm nên bụi vàng của tác phẩm", dù chỉ là bụi những chi tiết lại có giá trị như vàng, rất quý giá, chi tiết là phần rất nhỏ, điểm nhỏ trong nội dung, sự việc hoặc hiện tượng, chi tiết nghệ thuật là những tiểu tiết trong tác phẩm góp phần cấu thành nên tác phẩm theo từ điển thuật ngữ văn học, chi tiết Nghệ thuật mang sức chứa lớn về cảm xúc và tư tưởng, nhà văn lớn là nhà văn có tài năng nổi bật, có phong cách riêng biệt và mỗi tác phẩm của mình là nhà văn đó đều mang lại sự ấn tượng trong lòng người đọc.

Qua ý kiến của mình M. Gorki muốn cho người đọc hiểu được rằng chi tiết nghệ thuật chỉ là một phần nhỏ trong số toàn bộ tác phẩm, nhưng cả tác phẩm lại được tạo thành sự kết hợp của các chi tiết ấy. Như vậy xây dựng một công trình muốn đạt đến độ chắc chắn, toàn mĩ, từng chi tiết cấu tạo trong quá trình xây dựng là điều quan trọng. Nhà văn có tài năng thực thụ sẽ biết cách tạo ra những chi tiết đặc biệt, đặc sắc nhất cho tác phẩm của mình và chính chi tiết đặc sắc đó sẽ tạo nên tên tuổi của tác giả. Ý kiến của M. Gorki nhằm khẳng định vai trò quan trọng của chi tiết nghệ thuật trong tác phẩm văn chương tự sự.

Chi tiết dù nhỏ nhưng lại mang giá trị lớn, chi tiết nhỏ mang sức chứa lớn về cảm xúc, tư tưởng giúp tác phẩm văn chương tự sự phản ánh được cuộc sống cả ở bề rộng và bề sâu, khám phá được những triết lý nhân sinh, sâu sắc. Chi tiết nghệ thuật thể hiện điều gì đó trong số phận tính cách nhân vật, mang giá trị nhân đạo, giá trị hiện thực, tư tưởng trong tác phẩm thể hiện nghệ thuật tác phẩm, phong cách tác giả và phản ánh phong cách nghệ thuật của nhà văn.

Phân tích, chứng minh ý kiến

Nếu như tác phẩm trữ tình thiên về hiện thực, chủ quan bộc lộ thế giới tình cảm mãnh liệt, từng cung bậc cảm xúc thì tự sự lại thiên về hiện thực khách quan. Thể hiện cả chiều sâu, lẫn bề sâu của tác phẩm, điều đó nằm ở chi tiết rất nhỏ trong truyện. Ta cần đặt chi tiết vào diễn biến cốt truyện ở cái nhìn bao quát, như vậy mới thấy được ý nghĩa mà chi tiết nghệ thuật mang lại. Nhà văn tài năng là người xây dựng được những chi tiết nghệ thuật nhỏ, mang giá trị lớn. Nguyễn Tuân và Nam Cao là những nhà văn tài năng như vậy, đặc biệt qua 2 chi tiết cảnh cho chữ và bát cháo hành trong truyện ngắn Chữ Người Tử Tù của Nguyễn Tuân và Chí Phèo của Nam Cao. Người đọc nhận ra rõ hơn tài năng của nhà văn và giá trị mà chi tiết nghệ thuật mang lại cho tác phẩm.

Phân tích Cảnh cho chữ trong Chữ người tử tù để chứng minh ý kiến

Sinh ra vào thời "rừng nho trụi lá" Hán học suy tàn nhường chỗ cho văn hóa phương Tây. Nguyễn Tuân người con của mảnh đất Hà Thành tấp nập, trước cách mạng tháng 8. Ông luôn mang trong mình những hoài niệm, những giá trị cổ xưa bị văn hóa phương Tây lấn chiếm là người suốt đời đi tìm cái đẹp, cái chân, thiện, mỹ, trong nhân gian giữa những bộn bề xáo trộn của xã hội "Tây tàu nhố nhăng", Nguyễn Tuân như vẫn mộng tưởng về ngày xưa thời con người còn chơi lan, chơi cúc, đánh bạc bằng thơ. Vì vậy Nguyễn Tuân đã cho ra đời tập truyện "vang bóng một thời", viết về những con người, đẹp giá trị đẹp, nhưng xưa cũ. Trong đó truyện ngắn Chữ Người Tử Tù là truyện ngắn đặc sắc, được đánh giá là tác phẩm cần đạt đến độ toàn mỹ. Có được điều như vậy, bởi vì Chữ Người Tử Tù là truyện ngắn được xây dựng từ những chi tiết nghệ thuật đặc sắc, trong đó đặc sắc nhất là chi tiết cảnh cho chữ giữa người tử tù Huấn Cao với viên quản ngục và thầy thơ lại.

Giáo sư Nguyễn Đăng Mạnh từng nói ở truyện ngắn, mọi chi tiết đều có vị trí quan trọng, như mỗi chữ trong bài thơ tứ tuyệt trong đó có những chi tiết đóng vai trò đặc biệt, như nhãn tự trong thơ vậy. Chi tiết cảnh cho chữ của tù nhân là nhãn tự của truyện ngắn, bởi từ đầu đề đã là Chữ Người Tử Tù. Vì vậy nhà văn Nguyễn Tuân hãy có dụng ý nghệ thuật đặc sắc cho chi tiết này. Huấn Cao là một người tù mang tội danh tày trời và phải chịu án chém, viên quản ngục trong tác phẩm là một người rất tôn sùng cái đẹp, khi biết được Huấn Cao là một anh hùng bất khuấ, t có tài viết chữ đẹp, nổi tiếng khắp tỉnh Sơn, thì cả viên quản ngục lẫn thầy thơ lại đều rất ngưỡng mộ và mong muốn có được chứ ông Huấn. Khó khăn lắm Huấn Cao mới đồng ý cho chữ, vào trước cái đêm Huấn Cao bị mang ra pháp trường chịu án chém Huấn Cao đã tặnh chữ cho viên quản ngục, cảnh cho chữ là cảnh sáng chói nhất tác phẩm đêm, "hôm đấy lúc trại giam tỉnh sơn chỉ còn văng vẳng có tiếng mõ trên võng canh, một cảnh tượng xưa nay chưa từng có đã xuất hiện". Nguyễn Tuân đã huy động toàn bộ vốn từ ngữ và dồn rất nhiều tâm huyết vào chi tiết nghệ thuật đặc sắc này, chi tiết rực sáng trong tác phẩm cũng như trong nơi ngục tù tối tăm đó, ánh sáng của bó đuốc thiên lương rực sáng. Cảnh cho chữ được xây dựng từ những sự đối lập tương phản của sự vật, đối lập giữa sự tối tăm của phòng giam chật hẹp, bẩn thỉu với ánh sáng đỏ hồng của bó đuốc rực sáng, "tẩm dầu rọi lên ba cái đầu người". Đối lập giữa sự bẩn thỉu của nhà lao, mùi ẩm mốc của đất, nền nhà đầy mạng nhện, phân chuột, phân gián với mùi thơm bốc lên từ thỏi mực và phiến giấy trắng tinh. Và hơn cả Đó là sự đối lập giữa cái dơ ruốc nơi nhà giam đê hèn, là nơi hủy hoại nhân tính con người, với thiên lương trong sáng, khí phách dạng người của người tù.

Đây là chi tiết nghệ thuật được nhà văn hết lòng chăm chút để xây dựng nên chi tiết nghệ thuật này, không những làm tỏa dạng phẩm chất thiên lương của nhân vật trong tác phẩm thể hiện quan niệm nhân sinh sâu sắc cái đẹp lên ngôi tự trị và xóa tan đi cái xấu, cái ác, bày tỏ một tư tưởng của tác giả, "nhất sinh đê thủ bái mai hoa". Không những vậy mang đầy đủ vai trò của một chi tiết đậm giá trị nghệ thuật, chi tiết cảnh cho chữ đã cho người đọc thấy được tài năng của tác giả thể hiện ở lối diễn đạt, cách hành văn và sự đặc sắc trong việc sử dụng ngôn từ. Ngoài ra chi tiết còn khẳng định một lần nữa phong cách của nhà văn, Nguyễn Tuân luôn đi tìm cái đẹp và nâng niu cái đẹp ở đời. Nếu tách riêng cảnh cho chữ ta không thể cảm nhận hết được giá trị của chi tiết, phải đặt vào toàn bộ tác phẩm, bối cảnh xã hội, con người bây giờ ta mới thấu hết được cái bụi vàng mà chi tiết nghệ thuật tạo ra cho tác phẩm. Cảnh cho chữ là cảnh rất đẹp, rất sáng chói, đẹp ở ngôn từ, đẹp ở nét chữ vuông vắn của Huấn Cao thảo trên trang giấy trắng, đẹp ở thái độ chăm chút, tập trung của người tử tù khi viết nên những nét chữ để đời và đẹp ở thiên lương của người tử tù ở tâm hồn, tôn sùng cái đẹp, nâng niu cái đẹp của viên quản ngục. Chi tiết Nghệ thuật này đẹp từ hình tượng, tư tưởng đến kết cấu. Thật xứng đáng là điểm vàng trong tác phẩm tự sự của Nguyễn Tuân, nhờ có chi tiết nghệ thuật đặc sắc này tác phẩm Chữ Người Tử Tù của Nguyễn Tuân mới có thể trở thành một tác phẩm gần đạt đến độ toàn mĩ và được người đọc đón nhận một cách nồng nhiệt, trân trọng.

Phân tích chi tiết bát cháo hành trong Chí Phèo để chứng minh ý kiến

Bên cạnh tài năng của nhà văn Nguyễn Tuân thì Nam cao cũng là một nhà văn nổi tiếng và có nhiều tác phẩm nghệ thuật thật sự đặc sắc. Tác giả Nam Cao (1917 – 1951) tên khai sinh là Trần Hữu Tri, là người con của mảnh đất Hà Nam đậm đà tình người, từ nhỏ Nam Cao sống trong một gia đình hoàn cảnh khó khăn, lam lũ lớn lên cuộc sống của ông vẫn chật vật và lay lắt đủ bề. Từ bé sống ở vùng quê nghèo khó, Nam Cao đã có cơ hội được gần gũi và thấu hiểu những nỗi vất vả khó nhọc của người nông dân nghèo trong xã hội cũ. Vì vậy trong tác phẩm của mình, ông thường viết về người nông dân, người trí thức nghèo túng, bằng ngọn bút cảm thương và luôn động lòng trắc ẩn. Trong số các tác phẩm của nhà văn Nam Cao, chúng ta không thể không kể đến truyện ngắn Chí Phèo truyện ngắn đặc sắc nhất viết về người nông dân trong xã hội cũ, để tác phẩm trở nên đặc sắc như vậy là nhờ vào những chi tiết nghệ thuật độc đáo có một không hai trong tác phẩm, đó là chi tiết "bát cháo hành", một bát cháo chan chứa lòng nhân đạo và tình yêu thương con người.

"Yếu tố quan trọng bậc nhất của truyện ngắn là những chi tiết cô đúc có dung lượng lớn và lối hành văn mang nhiều ẩn ý, tạo cho tác phẩm những chiều sâu chưa nói hết (theo từ điển thuật ngữ văn học). Chi tiết bát cháo hành trong truyện ngắn Chí Phèo là chi tiết cô đúc, nhưng lại mang một dung lượng lớn, chỉ là hành động Thị Nở nấu cháo cho Chí Phèo ăn, nhưng hành động đó lại chứa đựng nhiều ý nghĩa nhân sinh, sâu sắc mà nhà văn muốn gửi gắm. Sau khi đi tù về chí trở thành một tên lưu manh hóa, tội đồ, một con vật lạ của Làng Vũ Đại, bị cả làng khinh bỉ và xa lánh. Tưởng rằng tên lưu manh đó sẽ bỏ mạng trong một đêm sốt li bì ấy vậy mà Chí Phèo đã được Thị Nở mang về Túp Lều rách nát của mình để chăm sóc. Thị Nở nấu cháo cho Chí Phèo ăn, động viên chí" ăn đi cho đỡ xót ruột ". Qua một đêm ăn nằm với nhau Thị Nở đã coi mình với chí như" vợ chồng ", thấy như" yêu hắn "và" lo lắng "muốn chăm sóc cho Chí. Khi được Thị Nở bê bát cháo hành ra chí rất ngạc nhiên, rồi từ ngạc nhiên đến xúc động, thấy mắt mình như ươn ướt. Tại sao vậy? Bởi vì đây là lần đầu tiên hắn được một người đàn bà chăm, kể cả mẹ hắn sinh ra hắn, ra hình hài một con người cũng nhẫn tâm bỏ rơi hăn bơ vơ trên đời. Cho đến bây giờ vẫn chưa được ai quan tâm, chăm sóc mình như Thị Nở, xưa đến nay nào Hắn có thấy ai tự nhiên cho cái gì, mà hắn chỉ đi trộm mà cướp giật đem sự hung hăng của mình đi trấn lột của người khác mà thôi. Hắn cho rằng phải làm cho người ta sợ, người ta mới cho hắn những thứ hăn cần, còn thị hắn không hề dọa nạt thị nhưng thị lại cho hắn. Điều này khiến Chí Phèo ngạc nhiên và xúc động bâng khuâng. Chí Phèo thưởng thức bát cháo bằng thái độ hưởng thụ, nâng niu đến mức phải thốt lên, trời ơi? Cháo mới thơm làm sao" chí khói xông vào mũi cũng đủ làm người nhẹ nhõm ". Cháo hành Thị Nở nấu ngon đến như vậy sao? Một người dở hơi như Thị Nở lại có thể nấu ngon như đầu bếp sao? Chí Phèo tự vấn:" Tại sao mãi đến tận bây giờ hắn mới nếm mùi vị cháo ". Chắc chắn một điều rằng đây là lần đầu tiên hắn được nếm mùi vị của tình yêu thương mà người khác dành cho hắn," đời hắn chưa bao giờ được chăm sóc bởi một bàn tay đàn bà ". Bát cháo hành đã giải cảm, đồng thời đã khơi dậy niềm rung cảm trong trái tim của một con quỷ dữ, hung hăng bấy lâu nay. Chí Phèo cảm thấy muốn được làm nũng với Thị Nở, thấy mình thật là hiền, bát cháo hành đã đánh thức con người lương thiện vốn có đang ngủ mê trong Chí. Chao ôi! Hắn thèm lương thiện. Hắn muốn làm hòa với mọi người, có cái gì đó thổi lên trong tâm thức. Hắn như là ăn năn hối lỗi nhờ bát cháo hành, sự chăm sóc của Thị Nở. Chí Phèo dần trở thành một người hiền lành cũng khao khát có cuộc sống hạnh phúc, ấm êm như bao người, giản dị mộc mạc. Chỉ một bát cháo hành, một chi tiết tưởng chừng rất nhỏ nhưng lại thấm đẫm tinh thần nhân đạo của tác phẩm, nhà văn muốn hé nở một lối thoát cho nhân vật đáng thương của mình, muốn cho mọi người nhận ra rằng Chí Phèo là người lương thiện, do dòng đời đưa đẩy nên chí mới trở nên một con quỷ như vậy. Nam Cao muốn cho mọi người hiểu được điều đó để cùng cảm thông, chia sẻ, nên ông đã xây dựng nên chi tiết bát cháo hành, chi tiết bát cháo hành là chi tiết đặc sắc của truyện, mang giá trị nhân đạo sâu sắc mà Nam Cao muốn gửi gắm trong tác phẩm, giúp người đọc thêm cảm thông, xót xa cho nhân vật đáng thương. Nếu chỉ xét riêng về bát cháo hành ta chỉ thấy đó là bát cháo giải cảm, giải cơn đói nhưng xét chung về đoàn tác phẩm, bối cảnh xã hội trong tác phẩm, ta thấy bát cháo hành quả thật là một chi tiết có giá trị giữa một xã hội đầy định kiến, vùi dập, xô đẩy con người vào tận cùng của nỗi đau. Chí Phèo chính là nạn nhân của xã hội đó, của những định kiến xã hội tàn nhẫn, nhưng chính Thị Nở, chính bát cháo hành đã khơi dậy lại trong chí lòng tin yêu cuộc sống. Thông qua chi tiết bát cháo hành, tác giả như muốn gửi gắm đến chúng ta một triết lý con người, dù độc ác, hung dữ đến đâu, đều mang trong mình một phần lương thiện, chờ cơ hội để được trỗi dậy. Không những vậy chi tiết bát cháo hành còn cho ta thấy được tài năng, sự sáng tạo của nhà văn Nam Cao, đồng thời phản ánh được phong cách của tác giả trong sáng tác văn học giai đoạn 1930 đến 1945.

Đánh giá

Mặc dù hai nhà văn Nguyễn Tuân và nam cao là hai nhà văn theo khuynh hướng văn học khác nhau, Nguyễn Tuân theo khuynh hướng lãng mạn, còn Nam Cao nghiêng về mảng văn học hiện thực phê phán. Mỗi nhà văn lại sở hữu phong cách nghệ thuật quan điểm sống khác nhau, nhưng họ đều là những nhà văn lớn, sáng tạo nên những chi tiết nghệ thuật đặc sắc, độc đáo có một không hai, chi tiết cảnh cho chữ và chi tiết bát cháo hành đó là những chi tiết Nghệ thuật đắt giá làm nên tên tuổi của nhà văn, đúng như M. Gorki từng nói: Chi tiết nhỏ làm nên nhà văn lớn.

Kết bài

Không những có chi tiết Nghệ thuật độc đáo mà truyện ngắn Chữ Người Tử Tù của Nguyễn Tuân và truyện ngắn Chí Phèo của Nam Cao còn thành công nhờ vào cốt truyện hay, tình huống truyện đặc sắc, ngôn ngữ mang đậm phong cách của tác giả, một bên thì tài hoa điêu luyện, một bên thì mộc mạc chân thực. Mỗi tác phẩm lại mang đến cho người đọc những cung bậc cảm xúc, những triết lý sâu sắc mà tác giả muốn gửi gắm đến người đọc" chi tiết nhỏ làm nên nhà văn lớn", nhưng phải là một nhà văn thật sự tài năng mới có thể sáng tạo nên những chi tiết nghệ thuật gây dấu ấn cho tên tuổi của mình. Nguyễn Tuân và Nam Cao là hai nhà văn lớn, mà các tác phẩm của hai ông sẽ mãi mãi được hậu thế yêu quý và được trân trọng
 
Last edited by a moderator:
Bài viết: 678 Tìm chủ đề

Chi tiết nhỏ làm nên nhà văn lớn - Macxim Gorki​


Đề bài: Phân tích "Tiếng chửi của Chí Phèo"

Trong nền văn học viết Việt Nam, có những tác giả đã khẳng định vị trí của mình bằng sáng tác đồ sộ mang giá trị nhân văn lớn như đại thi hào Nguyễn Du với "Truyện Kiều" hoặc bằng cách phản ánh những sự kiện trong đại của đất nước như tác gia Tố Hữu, Nguyễn Tuân. Số khác thì đánh dấu bằng tuyên ngôn nghệ thuật như Vũ Trọng Phụng, Thạch Lam.. Nhưng cũng có các tác giả đã để lại ấn tượng muôn đời trong lòng người đọc chỉ bằng một một chi tiết nhỏ trong toàn bộ tác phẩm.. trong đó có Nam Cao. Và như Macxim Gorki đã khẳng định: "Chi tiết nhỏ làm nên nhà văn lớn" là vậy.

Người ta cứ nghĩ để viết nên một tác phẩm vĩ đại thì phải đi tìm những thứ to tát từ nơi xa xôi, phải thoát ly hiện thực đau khổ để tìm đến điều mơ tưởng. Không phải vậy, nhà văn – người sáng tạo ra cái đẹp – có thể chỉ tìm được nghệ thuật cao quý từ những điều bình thường nhất, nhỏ bé nhất mà lại nói lên được điều vĩ đại. "Chi tiết nhỏ" là những sự việc, sự kiện bình thường trong một tác phẩm, dường như ban đầu đọc qua ta chỉ nghĩ nó có tác dụng phản ánh hiện thực khách quan mà khi đọc kĩ càng, ta lại phát hiện trong đó một giá trị tư tưởng lớn có ý nghĩa giáo dục và thẫm mĩ cao. "Chi tiết nhỏ" nhưng mang giá trị nghệ thuật đặc sắc góp phần khẳng định lập trường và tài năng của "nhà văn lớn".

Chí Phèo là một điển hình nghệ thuật về người nông dân từ lương thiện rơi vào tha hóa trở thành quỷ dữ rồi bị gạt ra khỏi xã hội loài người, cuối cùng quay quắt trở về với bi kịch của khát vọng "làm người lương thiện". Bi kịch bị ruồng bỏ, cô đơn trước đồng loại của Chí Phèo được Nam Cao thể hiện qua một chi tiết rất nhỏ, rất bình thường và tự nhiên ngay đoạn mở đầu nhưng càng đọc, càng suy ngẫm ta lại càng thấy từng tầng nghĩa sâu sắc cả về tư tưởng lẫn nghệ thuật của tác phẩm. Đó chính là tiếng chửi của Chí Phèo.

Trong cơn say, hắn ngật ngưỡng bước đi và hắn chửi. Ban đầu hắn chửi trời vì trời sinh ra hắn một con người không hoàn thiện. Rồi hắn "chửi đời" vì đời bạc bẽo đã cưu mang hắn rồi lại vứt bỏ hắn. Tức quá, hắn "chửi cả làng Vũ Đại" đã đẩy hắn vào bi kịch tha hóa thê thảm. Nỗi cô độc đã lên đến tột độ, hắn "chửi cha đứa nào không chửi nhau với hắn"! Đau đớn nhất, Chí Phèo chửi "đứa chết mẹ nào đã đẻ ra thân hắn" làm hắn mang những bi kịch lớn của cuộc đời. Chí Phèo chửi nhưng lời của hắn lại rơi vào trong im lặng đáng sợ. Không một ai đáp lại lời của hắn. Hắn chửi nhưng chất chứa bên trong là niềm khao khát được giao tiếp, được đồng vọng dù chỉ được đáp lại bằng một tiếng chửi. Nhưng đau xót thay, cả làng Vũ Đại quay lưng với hắn để cuối cùng hắn chửi nhau với ba con chó dữ: "Một thằng say và ba con chó dữ mà làm ầm ĩ cả làng". Chí Phèo thật sự đã bị gạt bỏ khỏi xã hội loài người.

Tài hoa nghệ thuật Nam Cao được bộc lộ ngay trong đoạn mở đầu truyện ngắn. Nhà văn đã sử dụng rất thành công hình thái ngôn ngữ nửa trực tiếp để tạo nên hiện tượng đa thanh cho giọng điệu kể chuyện. Đoạn văn có lời kể khách quan xen lẫn lời nhận xét của tác giả, có cả lời nhủ thầm của dân làng: "Chắc nó trừ mình ra". Như vậy, tuy dân làng Vũ Đại không xuất hiện nhưng ta vẫn thấy hình ảnh đám đông và thái độ của họ trước lời chửi Chí Phèo. Nổi bật lên tất cả là giọng Chí Phèo vừa có phần phẫn uất lại vừa cô đơn trước đồng loại: "Tức thật! Ờ! Thế này thì tức thật! Tức chết đi được mất!.. Mẹ kiếp! Thế có phí rượi không?" Đó là lời kể của tác giả hay chính suy nghĩ, cảm xúc của nhân vật đang cất lên tiếng nói.

Nhờ tính chất đa thanh của giọng điệu kể chuyện đã dẫn đến một tính chất đặc sắc khác cho đoạn văn: Tính đa nghĩa. Tiếng chửi không chỉ là khao khát được giao tiếp mà còn là sản phẩm của một con người bị rơi vào bi kịch bị tha hóa, không được sống đúng bản chất của một con người. Bên ngoài là tiếng chửi của một kẻ say nhưng bên trong thì hắn rất tỉnh. Lời chửi rất mơ hồ, không động chạm ai, quả là một kẻ say bình thường đang chửi. Nhưng hắn rất tỉnh, rất sáng suốt, không gian trong tiếng chửi thu dẹp dần từ cao đến thấp, từ rộng đến hẹp, từ vô địa chỉ đến có địa chỉ. Từ số đông, hắn chửi một người: "Hắn cứ chửi đứa chết mẹ nào đẻ ra thân hắn, đẻ ra cái thằng Chí Phèo". Đẻ ra Chí Phèo "cả làng Vũ Đại cũng không ai biết" nhưng chúng ta, người đọc thì biết: Chính xã hội vô nhân đạo đã đẻ ra Chí Phèo – con quỷ dữ của làng Vũ Đại, đã sinh ra hiện tượng "Chí Phèo". Như vậy, hắn mượn rượi để chửi, để phản ứng với toàn bộ xã hội vô nhân đạo. Từng lời cay độc ấy thoát ra nghĩa là lòng hắn đang gào thét cuồng điên, hắn chửi để thỏa mãn lòng rực lửa đốt khi mà cả làng Vũ Đại không ai lắng nghe hắn. Họ thành kiến với hắn. Tiếng chửi của Chí Phèo vừa mang tâm trạng bất mãn vừa là lời tố cáo sâu sắc xã hội vô nhân đạo với những nếp nghĩ lạc hậu đã cướp đi quyền làm người và ruồng bỏ hắn. Tiếng chửi thật chất là một tiếng kêu cứu thảm thiết của con người đáng thương bị què quạt cả về thể xác lẫn tinh thần cố níu chiếc phao đời để mà tồn tại. Ta đã từng đau xót cho số phận nghèo khổ, tăm tối của chị Dậu, chị Dậu nghèo tới mức phải bán con, bán chó, bán sữa nhưng Ngô Tất Tố không để chị bán nhân phẩm của mình. Còn Chí Phèo, hắn đã bán cả linh hồn cho quỷ dữ với cái giá rẻ bèo và cuối cùng bị ghẻ lạnh, cô đơn trong chính xã hội loài người. Trong đoạn văn, cứ sau một lời kể khách quan mang tính chất thông báo là một lời nhận xét của tác giả. Như vậy, bằng hiện tượng đa nghĩa của giọng điệu, ta không chỉ thấy thái độ, tình cảm của nhân vật mà còn cảm nhận được trái tim nhà văn đang lên tiếng. Đằng sau lời văn lạnh lùng gần như sắc lạnh ấy lại là một tấm lòng xót thương sâu sắc cho nhân vật và cả sự căm phẫn xã hội vô nhân đạo đã đẻ ra hiện tượng Chí Phèo.

Tóm lại, đoạn văn được mở đầu bằng lời chửi của Chí Phèo không chỉ mang nét nghệ thuật dễ nhận thấy, nghệ thuật kết cấu, mà còn mang giá trị tư tưởng và giá trị nghệ thuật của ngòi bút thấm đẫm tinh thần Nam Cao. Càng đào sâu, càng nghiền ngẫm, người đọc sẽ tìm cho mình những suy nghĩ sâu sắc hơn về kiệt tác "Chí Phèo".

"Chi tiết nhỏ làm nên nhà văn lớn". Chi tiết "tiếng chửi" của Chí Phèo đã góp phần làm nên thành công của nhà văn lớn Nam Cao. Nó đã khái quát lên một chân lý nghệ thuật: Nghệ thuật chân chính không những tìm thấy cái bình thường trong sự phi thường mà còn phát hiện cái phi thường trong sự bình thường, thậm chí tầm thường. Chỉ có nhà văn lớn có khối óc và trái tim lớn mới làm được điều đó.

ST.
 
Bài viết: 685 Tìm chủ đề

Chi tiết nghệ thuật trong tác phẩm văn chương​


1. Khái niệm​


Không phải ngẫu nhiên mà văn hào vĩ đại người Nga Macxim Gorki từng phát biểu: "Chi tiết nhỏ làm nên nhà văn lớn". Hơn ai hết, tác giả những thiên truyện viết ra từ trường đại học cuộc sống, người được coi là "cánh chim báo bão của cách mạng Nga", "nhà văn của những người chân đất" là người hiểu rõ tầm quan trọng của những chi tiết nghệ thuật trong tác phẩm văn chương. Tương quan đối lập trong câu nói trên đã khẳng định: Cái làm nên tầm vóc của nhà văn không hẳn là quy mô tác phẩm mà chính là "chi tiết" – yếu tố đôi khi được coi là nhỏ, là vặt vãnh.. Chi tiết nghệ thuật không chỉ là yếu tố cấu thành tác phẩm mà còn là nơi gửi gắm những quan niệm nghệ thuật về con người, về cuộc đời.. Của nhà văn, nơi kí thác niềm ưu tư, trăn trở của nhà văn trước cuộc đời. Nhà văn chỉ thực sự là "người thư kí trung thành của thời đại" (H. Balzac) khi anh ta có khả năng làm sống dậy cuộc đời trên trang sách bắt đầu từ những chi tiết nhỏ. Lựa chọn chi tiết để xây dựng nên tác phẩm nghệ thuật không chỉ thể hiện bản chất sáng tạo của người nghệ sĩ mà còn bộc lộ tài năng, tầm vóc tư tưởng của người cầm bút.

Chi tiết không phải là một khái niệm xa lạ với đời sống

Theo Từ điển Tiếng Việt (Nxb Khoa học xã hội Hà Nội 1988) thì chi tiết là: "Phần rất nhỏ, điểm nhỏ trong nội dung sự việc hoặc hiện tượng" (Ví dụ: Kể rành rọt từng chi tiết). "Là thành phần riêng rẽ hoặc tổ hợp đơn giản nhất của chúng có thể tháo lắp được" (Ví dụ: Chi tiết máy). Như vậy, trong đời sống hàng ngày, từ "chi tiết" được hiểu và dùng như là một thành tố, một bộ phận nhỏ của một sự việc, tổng thể. Chi tiết được hiểu như là một thành phần thuộc về cấu tạo.

Trong văn học, "chi tiết" theo định nghĩa của nhóm tác giả Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (Từ điển thuật ngữ văn học, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, 1997) là: "Các tiểu tiết của tác phẩm mang sức chứa lớn về cảm xúc và tư tưởng" và họ gọi chung là chi tiết nghệ thuật. Cũng theo nhóm tác giả này thì: "Tuỳ theo sự thể hiện cụ thể, chi tiết nghệ thuật có khả năng thể hiện, giải thích, làm minh xác cấu tứ nghệ thuật của nhà văn, trở thành tiêu điểm, điểm hội tụ của tư tưởng tác giả trong tác phẩm. Chi tiết nghệ thuật gắn với" quan niệm nghệ thuật "về thế giới con người, với truyền thống văn hóa nghệ thuật nhất định"

Như vậy, chi tiết nghệ thuật được xem như linh hồn của một văn bản nghệ thuật. Muốn hiểu, nắm chắc văn bản, phải hiểu rõ chi tiết nghệ thuật. Khái niệm chi tiết được đặt ra nhằm phân biệt với tổng thể nhưng nó không tách rời tổng thể. Sự hòa hợp giữa chi tiết và tổng thể sẽ tạo thành chỉnh thể. Chi tiết nghệ thuật được xem là thành tố nhỏ nhất trong một chỉnh thể nghệ thuật.

2. Tầm quan trọng của chi tiết nghệ thuật trong tác phẩm văn chương​


- Trong truyện, nhờ chi tiết mà cốt truyện được triển khai và phát triển, thông qua chi tiết mà cảnh trí, tình huống, tính cách, tâm trạng, hình dáng, số phận của nhân vật được khắc họa và bộc lộ đầy đủ. Nhiều chi tiết trở thành những điểm sáng thẩm mĩ của tác phẩm, có vị trí không thể thiếu trong sự phát triển của cốt truyện, gắn liền với những bước ngoặt trong cuộc đời, số phận nhân vật. Thiếu chi tiết là thiếu sự đặc tả, thiếu tính cụ thể, truyện sẽ trở nên nhạt nhẽo, hời hợt, thiếu sức hấp dẫn. Tuy nhiên, nếu ôm đồm nhiều chi tiết thì rối rắm, rườm rà, giảm giá trị thẩm mỹ của tác phẩm.

- Trong thơ, nhờ chi tiết mà cảm xúc của nhà thơ có nơi nương náu. Đặc thù của thơ là cảm xúc và hình ảnh. Hình ảnh chính là chi tiết trong thơ. Một cánh chim, một làn mây, một chiếc lá, một nhành hoa hay tia nắng.. Đi vào thơ không còn là sự vật vô tri nữa. Nó là hình ảnh phản chiếu tâm trạng, cảm xúc của nhà thơ. Từ một cảnh huống, một tâm trạng mà thấy được nỗi niềm không chỉ của cá nhân thi sĩ mà của cả một lớp người, một thời đại. Cao hơn là phản ánh số phận con người của một quốc gia, dân tộc ở những chặng đường lịch sử nhất định. Đỗ Phủ, Puskin, Nguyễn Du.. Đều là những thi hào mà tên tuổi đã gắn liền với dân tộc và thời đại.

Như vậy, chi tiết nghệ thuật dù chỉ là yếu tố nhỏ lẻ của tác phẩm nhưng mang sức chứa lớn về cảm xúc và tư tưởng. Thiếu chi tiết, nhà văn không thể đúc nên tác phẩm. Chi tiết càng có sức biểu hiện, sức khơi gợi và ám ảnh càng lớn, càng góp phần nâng cao giá trị tác phẩm. Và không có một tác phẩm lớn nào mà chi tiết lại nhạt nhẽo, nông cạn, thiếu sức sống. Trong tiếp nhận văn học, càng không được xem nhẹ chi tiết. Đọc hiểu và cảm nhận tác phẩm văn chương từ cấp độ chi tiết là yêu cầu quan trọng và cần thiết, đặc biệt đối với việc dạy học Ngữ văn ở trường phổ thông.

3. Cảm nhận chi tiết nghệ thuật trong tác phẩm văn chương​


Căn cứ vào văn bản, người ta chia làm hai loại: Chi tiết trong văn xuôi và chi tiết trong thơ.

A. Chi tiết trong văn xuôi​


Chi tiết trong văn xuôi thường là chi tiết sự vật và chi tiết sự việc. Chi tiết sự vật thường gắn với 3 đối tượng: Cảnh vật, đồ vật, nhân vật.

Cảm nhận chi tiết trong văn xuôi khi học Ngữ văn ở trường phổ thông có thể không phân loại nhưng nhất thiết phải hiểu rõ chi tiết đó đóng vai trò gì trong mạch truyện, trong diễn biến tính cách, số phận nhân vật. Nói cách khác là luôn gắn chi tiết với tổng thể để thấy được tính thống nhất của một chỉnh thể nghệ thuật. Quan trọng hơn là qua đó, hiểu được ý đồ nghệ thuật, đọc được tư tưởng, tình cảm nhà văn muốn gửi gắm. Đồng thời, thấy được tài năng sáng tạo của người cầm bút.

B. Chi tiết trong thơ​


Khác với văn xuôi, thơ được xem là vương miện của nền văn học, là tinh chất của ngôn ngữ văn học. Một ngôn ngữ chưa có thơ là một ngôn ngữ chưa phát triển. Một sự đổi mới văn học mà chưa có sự đổi mới về thơ là sự đổi mới chưa hoàn thiện. Chi tiết vốn là lẽ sống của nghệ thuật, với thơ, chi tiết là hồn cốt. Bài thơ sống được hay không là nhờ chi tiết. Chi tiết trong thơ thu hẹp lại trong một giới hạn nhỏ trong thi ảnh và ngôn từ. Đối với một bài thơ, nếu nắm được thi ảnh và ngôn từ đặc sắc xem như đã nắm được linh hồn bài thơ, gọi là nắm được nhãn tự, kết tinh được thần thái linh hồn tác phẩm. Quy mô chi tiết trong thơ thường nhỏ hơn rất nhiều trong tác phẩm văn xuôi.

Trong bài thơ "Đò Lèn" (Nguyễn Duy) gồm 6 khổ, tác giả viết về một tuổi thơ nghèo khó bên cạnh người bà tần tảo. Hệ thống chi tiết cảnh vật được nhà thơ liệt kê gồm: Cống Na, đồng Quan, ga Lèn, chợ Bình Lâm, chùa Trần, đền cây Thị, đền Sòng, giúp người đọc hình dung về diện mạo một miền quê với những cảnh trí rất dân dã, gần gũi, quen thuộc. Quan trọng hơn, nó giúp Nguyễn Duy thể hiện sâu sắc thân phận người bà: Đó là thân phận con sâu cái kiến, thân phận thảo dân, mang sắc thái dân đen, đối lập với Tiên Phật, Thánh thần.. Bài thơ nói về sự ân hận, sự trưởng thành muộn màng của người cháu. Sống bên bà nhưng vô tâm với nỗi khổ của bà, sống bằng sự chăm sóc, yêu thương vất vả của bà mà cháu không hề biết.

Tôi trong suốt giữa hai bờ hư thực

Giữa bà tôi và Tiên Phật thánh thần

Người cháu đã sống rất thực với cái hư và sống rất hư với cái thực. Chữ hư mang hai nghĩa: Hư ảo và hư đốn. Nó chi phối quyết định đến mạch tâm sự mang màu sắc triết luận, thể hiện quá trình giải thiêng, giải ảo. Nhìn ở góc độ tình cảm, đó là quá trình rời khỏi niềm tin ngây thơ dành cho thánh thần để đến với tình thương dành cho người bà, từ đối tượng mơ hồ đến đối tượng thực. Đôi khi người ta phải trả giá cho những bài học vô cùng đắt. Khi biết yêu thương thì bà đã mất rồi. Nhìn từ góc độ đời sống, đó là cuộc rời bỏ những đối tượng không xứng đáng để đến với đối tượng xứng đáng hơn. Chính người dân kia mới làm nên hiện thực đời sống. Chỉ hai chi tiết "hư" – "thực" đã nói lên sự sụp đổ niềm tin của tác giả, rời bỏ thế giới của đức tin đơn thuần để đến với hiện thực cuộc đời gần gũi, đáng tin hơn.

Chi tiết trong thơ nhiều khi là một mật mã. Giải mã chi tiết tức nắm được ý đồ nghệ thuật, ý đồ tư tưởng của nhà thơ. Chỉ qua một vài con chữ trong Truyện Kiều, như chữ "tót" (Ghế trên ngồi tót sỗ sàng), chữ "cò kè" (Cò kè bớt một thêm hai) mà thi hào Nguyễn Du đã lật tẩy cả một chân dung kẻ con buôn, vô học, thô lỗ của nhân vật Mã Giám Sinh, hay một chữ "lẻn" làm lộ ra một tính cách mờ ám, lén lút, tráo trở.. Của Sở Khanh, hay hai chữ "mặt sắt" đã gọi ra một chân dung tính cách lạnh lùng, hiểm độc, tàn nhẫn và bỉ ổi của Hồ Tôn Hiến.. Các chữ "tót", "cò kè", "mặt sắt" được gọi là những chi tiết đắt giá làm nổi lên hồn cốt nhân vật.

Cảm nhận chi tiết trong thơ không chỉ là đi tìm nhãn tự, giải mã từ ngữ, cắt nghĩa hình ảnh mà cần đặt nó trong tương quan với các biện pháp tu từ, cách sử dụng ngôn ngữ, âm, vần, nhịp điệu.. Để khám phá cái hay, cái đẹp của câu thơ. Đặc biệt, cần chú ý đến tứ thơ, vì mọi chi tiết trong thơ thường xoay quanh tứ thơ. Tách rời chi tiết khỏi tứ thơ là tách rời nó khỏi chỉnh thể nghệ thuật, mọi sự khám phá sẽ thiếu tính toàn vẹn. Chi tiết có thể giống nhau nhưng tứ thơ là sáng tạo đơn nhất, không lặp lại. Gắn chi tiết với tứ thơ mới thấy được tài năng sáng tạo của thi sĩ.

Ngoài những yếu tố nêu trên, cảm nhận chi tiết trong thơ còn đòi hỏi người đọc có một năng lực thẩm thấu nhất định. Cảm thụ thơ xưa nay chưa bao giờ là điều dễ dàng, bởi đó là sự cảm thụ cái hay, cái đẹp. Để hiểu về cái hay, cái đẹp cần có sự kết hợp giữa một tâm hồn nhạy cảm biết rung động với một con mắt tinh tế biết phát hiện và một khả năng sử dụng ngôn từ chọn lọc. Cần một sự bồi đắp, trau dồi, rèn giũa lâu dài mới đạt được.

Tóm lại, khó thể phủ nhận vai trò và tầm quan trọng của chi tiết trong tác phẩm nghệ thuật. Với nhà văn, quá trình sáng tạo gắn liền với ý thức làm nên những chi tiết đặc sắc, góp phần thể hiện nội dung, chủ đề của tác phẩm. Chi tiết gánh trọng trách chuyển tải đến người đọc những thông điệp mà nhà văn gửi gắm, những cách nhìn và quan niệm sâu xa về con người và cuộc đời của người nghệ sĩ. Với người đọc, cảm nhận chi tiết nghệ thuật là mở những cánh cửa đầu tiên để đi vào thế giới nghệ thuật của một tác phẩm văn học. Nhà văn sẽ không thể làm nên tên tuổi nếu tác phẩm của anh ta không bắt đầu từ những chi tiết. Người đọc sẽ không nối được nhịp cầu tri âm với tác giả nếu không thông qua tác phẩm từ những chi tiết nghệ thuật nhỏ nhất bởi chân lí trong sáng tạo nghệ thuật luôn là: "Chi tiết nhỏ làm nên nhà văn lớn"
 
Từ Khóa: Sửa

Những người đang xem chủ đề này

Back