Cầu an:
Ý nghĩa: Cầu mong sự bình an, yên ổn, tai qua nạn khỏi,
sức khỏe và sự an lạc cho bản thân và gia đình.
Ngữ cảnh sử dụng: Rất hay đi liền với các dịp lễ bái như "dâng sớ cầu an", "lễ cầu an", "cầu an độ mạng". Đây chính xác là cụm từ diễn tả việc con người hướng về các đấng bề trên (Phật, thánh) để mong nhận được sự bình yên trong tâm hồn và cuộc sống.
Khi nói về việc đi chùa lễ bái, mong ước sự yên bình, phước lành, bạn nên dùng từ "cầu an" mới là chuẩn xác và thuận tai nhất theo phong tục tiếng Việt.
Phổ Hiền (tên tiếng Phạn là Samantabhadra, dịch nghĩa là "Biển hạnh" hoặc "Đại hạnh") là một trong tứ đại Bồ Tát quan trọng và tôn quý bậc nhất trong Phật giáo Đại thừa. Ba vị Bồ Tát còn lại là Quan Thế Âm, Văn Thù Sư Lợi và Địa Tạng Vương.
Dưới đây là những nét chính về Phổ Hiền Bồ Tát:
Ý nghĩa tên gọi: "Phổ" có nghĩa là khắp cõi, "Hiền" có nghĩa là nhân hậu, tốt lành. Phổ Hiền mang ý nghĩa là người có đạo hạnh lớn lao, lòng từ bi phổ độ khắp chốn, hiện diện ở khắp mọi nơi để cứu giúp chúng sinh.
Hình tượng đặc trưng: Trong nghệ thuật Phật giáo, Phổ Hiền Bồ Tát thường được khắc họa ngồi trên con voi trắng sáu ngà.
Voi trắng sáu ngà tượng trưng cho sức mạnh trí tuệ vượt qua mọi chướng ngại (sáu ngà biểu thị cho lục độ: Bố thí, Trì giới, Nhẫn, Tinh tiến, Thiền định, Trí tuệ).
Ngài thường cầm cành hoa sen hoặc ngọc như ý, tượng trưng cho sự thanh tịnh và viên mãn.
Vai trò: Phổ Hiền là vị Bồ Tát tượng trưng cho Lý, Định và Hạnh (Đại hạnh), đi đôi với Văn Thù Bồ Tát (tượng trưng cho Trí tuệ). Nếu Văn Thù đại diện cho sự thấu tỏ chân lý, thì Phổ Hiền đại diện cho việc thực hành những hạnh nguyện đó vào trong đời sống thực tế thông qua "Thập đại nguyện vương" (mười điều nguyện lớn), tiêu biểu là hạnh nguyện kính lễ chư Phật, rộng tu cúng dường, và độ hóa chúng sinh.
Trong ngữ cảnh bài thơ trên, mình mượn hình tượng Phật Mẹ Quan Âm (đại diện cho lòng từ bi) và Phật Cha Phổ Hiền (đại diện cho hạnh nguyện lớn lao, sự chở che vững chãi) để tôn vinh công ơn sinh thành, dưỡng dục muôn phần của cha mẹ chính là những đấng thiêng liêng cao cả nhất ngay tại trần gian.
Ý của câu thơ: "Đừng chờ lạy lục đó đây" là khuyên chúng ta một bài học về lòng hiếu thảo thực tế và thiết thực trong cuộc sống:
Không hướng ngoại, quên thực tế: Nhiều người có thói quen đi lễ bái khắp nơi, cầu xin ơn phước xa xôi, lạy lục ở những chốn linh thiêng xa lạ.. Nhưng lại vô tình quên đi việc chăm sóc, phụng dưỡng và quan tâm đến cha mẹ ngay trong chính ngôi nhà của mình.
Đạo hiếu là thực hành: Ý thơ muốn nhấn mạnh rằng cha mẹ chính là "Phật sống" ở đời. Việc thành kính, hiếu thảo, phụng dưỡng và mang lại niềm vui cho cha mẹ mỗi ngày mới chính là công đức lớn nhất, quý giá nhất, còn hơn vạn lần việc đi cầu cõi Phật xa xôi mà bỏ bê đấng sinh thành.
Nôm na là: Đừng chỉ mải đi cầu Phật phương xa hay lạy lục khắp chốn linh thiêng mà quên mất việc đối xử tốt và hiếu kính với cha mẹ ở ngay bên cạnh mình.
Lạy lục là một từ láy chỉ hành động quỳ lạy, van xin, cúi đầu sát đất một cách khẩn khoản, liên tục và có phần nài nỉ, cầu xin tha thiết trước một ai đó hoặc trước các đấng bề trên (như thần linh, Phật thánh).
Trong ngữ cảnh thông thường, từ này mang các sắc thái:
Nghĩa gốc: Chỉ động tác thể hiện sự tôn kính tột cùng, cúi rạp người xuống để lạy.
Nghĩa trong câu thơ: Ý nói đến việc đi khấn vái, cầu xin khắp nơi, lạy bái tứ phương một cách hình thức.
Trong câu thơ trên, mình dùng từ "
lạy lục" để nhấn mạnh việc nhiều người mải miết đi tìm kiếm sự che chở, cầu phước từ những nơi xa xôi mà quên mất việc hiếu kính với cha mẹ ngay cạnh mình.