Cả vũ trụ vang lừng nhã nhạc, gió hiền dâng lên man mác, hương hoa ngào ngạt không gian, ánh dương lồng lộng với biển trời một màu xanh biếc. Râma thắng trận, cử Vidhĩshana đức hạnh lên ngôi báu Lankâ. Nhưng mọi người đều lấy làm ngạc nhiên khi thấy Râma không tiếp nhận Sĩtâ. Chàng nói sở dĩ phải giết Râvana và giải thoát cho nàng là vì bổn phận và danh dự thế thôi. Để chứng tỏ lòng đoan chính của mình, Sĩtâ cương quyết lên dàn hỏa thí. Khi lửa bốn bề bùng cháy, nàng được thần lửa Agni đỡ lấy, đem trả lại cho Râma và minh oan cho nàng. Khi ấy Râma cho biết sự thực chàng không hề ngờ vực Sĩtâ. Sở dĩ chàng để nàng phải chịu hỏa thí vì cần chứng tỏ cho mọi người thấy rõ sự trong trắng của Sĩtâ. Hai vợ chồng lại xum họp và lên đường trở về kinh đô.
Nhân dân Koshala hân hoan đón mừng Râma. Sau đó ít lâu, dư luận lại ngờ vực tiết hạnh Sĩtâ và e ngại rằng nền đạo đức của phụ nữ trong nước có thể vì vậy mà bị đe dọa.
Râma muốn dân chúng không thể chê trách chàng về bất cứ điều gì, nhân dịp Sĩtâ vừa có mang và nàng ngỏ ý muốn hành hương tới những am thất của các vị ẩn sĩ sống bên bờ sông Hằng, Râma ưng thuận, cử Lakshmana tháp tùng, dặn em khi tới nơi thì nói thực quyết định của chàng là muốn Sĩtâ ở lại nơi đó, đừng trở về nữa. Khi tới bờ sông Hằng, gần am thất của đạo sĩ Vâlmiki, Lakshmana ứa lệ, nói thực với chị dâu điều quyết định của anh mình.
Sĩtâ đau đớn sững sờ, sau cùng nàng cũng nói là nàng hiểu vì Râma có trách vụ cai trị cả một vương quốc nên bất đắc dĩ phải có thái độ đó để thần dân không thể chê trách chàng vào đâu được. Nàng chỉ hờn oán sao thần dân đã chứng kiến cách ăn ở của nàng trong bao nhiêu lâu mà vẫn còn nỡ nghi ngờ lòng nàng như vậy.
Sĩtâ trú ngụ tại am thất của đạo sĩ Vâlmiki, và mấy tháng sau sinh hạ được hai đứa con sinh đôi là Kusa và Lava. Năm tháng trôi qua, hai đứa trẻ lớn lên, được Vâlmiki nhận làm đệ tử, đồng thời Vâlmiki cũng bắt đầu sáng tác thiên
anh hùng ca Râmayana này.
Đến một ngày kia, Râma tổ chức một lễ giết ngựa tế thần (Ashva-medha) rất long trọng. Vâlmiki đem theo hai đệ tử tới dự. Trước sự hiện diện của Râma, Kusa và Lava đã hát bản anh hùng ca Râmâyana gồm 500 đoạn, dài 24.000 câu thơ đôi, mỗi ngày hát được hai mươi đoạn và hát liền trong hai mươi lăm ngày mới hết. Râma nhận ra chúng là con mình. Chàng không thể cầm được hai hàng lệ chứa chan và thương nhớ nàng Sĩtâ hiền thục đoan chính. Ramâ nhờ đạo sĩ Vâlmiki đưa nàng về triều. Khi tái ngộ, Râma chỉ yêu cầu nàng một lần nữa công khai phát thệ vềlòng ngay thẳng của nàng để yên lòng toàn thể nhân dân.
Giữa cảnh hoàng cung lộng lẫy, trước sự chứng kiến của thần linh và đại diện thần dân tự khắp các miền trong vương quốc, Sĩtâ âu yếm nhìn chồng con ngời sáng như những vì sao mới mọc, nhưng cũng chua chát lòng tự nhủ lòng: "Hoàng hậu Râma mà phải hạ mình cầu xin thần dân chứng giám ư? Một hiền phụ lòng vằng vặc như trăng rằm đâu cần phải ai chứng giám!"
Hai hàng nước mắt chứa chan, nàng quỳ xuống gục đầu trên mặt đất:
Tự lòng đất mẹ sinh con,
Ở ăn vằng vặc lòng son tột vời.
Đinh ninh trăng sáng biển trời,
Thần linh chứng giám những lời con thưa.
Cuộc đời não gió sầu mưa,
Mẹ ơi xin đón con thơ mẹ về.
Cùng với lời cầu xin não nề của nàng, lòng đất mở ra, một chiếc ngai vàng dâng lên : "Mẹ ơi xin đón con thơ mẹ về", đúng như lời nàng ước nguyện. Nàng Sĩtâ hiền thục ra đi vĩnh viễn!
Râma kinh hoàng đau đớn van nài thần Đất đem trả lại Sĩtâ, nhưng thần Brâhma hiện ra, an ủi cho biết sau này chàng sẽ gặp nàng ở cõi trời.
Quả vậy, sau đó chàng nhường ngôi báu cho con, về trời, trở lại với bản thân nguyên thủy là thần Vishnu và xum họp với nàng Sĩtâ, chẳng phải ai khác chính là nữ thần Tài Lộc Lakshmĩ vậy.
Hết.