- Xu
- 754,346,752
4722
371
Về làng
Làng ta ở tận làng ta
Mấy năm một bận con xa về làng
Gốc cây, hòn đá cũ càng,
Trâu bò đủng đỉnh như ngàn năm nay
Cha ta cầm cuốc trên tay,
Nhà ta xơ xác hơn ngày xa xưa
Lưng trần bạc nắng thâm mưa
Bụng nhăn lép kẹp như chưa có gì
Không răng! Cha vẫn cười khì
Rượu tăm vẫn để dành khi con về
Ngọt ngào một chút men quê
Cay tê cả lưỡi, đắng tê cả lòng
Gian ngoài thông thống gian trong
Một đời làm lụng sao không có gì
Không răng! Cha vẫn cười khì
Người còn là quí kể chi bạc vàng
Chiến tranh như trận cháy làng
Bà con ta trắng khăn tang trên đầu
Vẫn đồng cạn, vẫn đồng sâu
Chồng cày vợ cấy con trâu đi bừa
Đường làng cây cỏ lưa thưa
Thanh bình từ ấy sao chưa có gì
Không răng! Cha lại cười khì
Đời là thế, kể làm chi cho buồn
Mẹ ta vo gạo thổi cơm
Ba ông táo sứt lửa rơm khói mù
Nhà bên xay lúa ù ù
Vẫn chày cối thậm thịch như thuở nào
Các em ta vác cuốc cào,
Rủ nhau bước thấp bước cao ra đồng
Mồ hôi đã chảy ròng ròng
Máu và nước mắt sao không có gì
Không răng! Cha vẫn cười khì
Đời là thế, kể làm chi cho rầu
Cha con xa cách bấy lâu
Mấy năm mới uống với nhau một lần
Bụng ta thắt, mặt ta nhăn
Cha ta thì vẫn không răng cười cười
Ta đi mơ mộng trên đời..
Để cha cuốc đất một đời chưa xong.
Tác giả: Nguyễn Duy
Cảm nhận bài thơ Về Làng – Nguyễn Duy
Về Làng là một bài thơ buồn lặng, thấm sâu, không ồn ào mà ám ảnh dài lâu. Nguyễn Duy không kể chuyện quê bằng hoài niệm lãng mạn, mà bằng cái nhìn thẳng thắn, đau đáu trước sự nghèo khó bền bỉ của làng quê và số phận người cha. Trở về làng sau nhiều năm xa cách, người con đối diện với những gì hầu như không đổi: cảnh vật cũ, nhịp sống cũ, và nỗi nhọc nhằn cũ vẫn đè nặng lên vai người ở lại.
Điều khiến bài thơ chạm mạnh vào người đọc là hình ảnh người cha "không răng" nhưng luôn cười. Nụ cười ấy không phải vô tư, mà là nụ cười cam chịu, nhẫn nại, như một cách tự bảo vệ mình trước những thiếu thốn kéo dài. Trong khi người con "đi mơ mộng trên đời", thì người cha lặng lẽ cuốc đất suốt một đời chưa xong. Sự đối lập ấy không mang tính trách móc, nhưng đủ để làm nhói lên cảm giác day dứt và nợ nần trong lòng người đọc.
Bài thơ không than khóc, không kêu gọi, chỉ lặng lẽ đặt ra một câu hỏi đau: vì sao sau chiến tranh, sau bao hi sinh, làng quê và con người vẫn "không có gì"? Về Làng vì thế là một bản tự vấn sâu sắc về giá trị của lao động, của hi sinh thầm lặng, và về khoảng cách giữa những giấc mơ cá nhân với đời sống lam lũ của quê hương.
Chỉnh sửa cuối:

