256 ❤︎ Bài viết: 73 Tìm chủ đề
Đọc: 81 Tìm: 0
Bài thơ: Đen

Tác giả: Thanh Tâm Tuyền


Người viết cảm nhận: Thuỷ Tô​

Nghệ thuật là vũ trụ không ngừng mở rộng, mang trong nó những chớp lóe sáng tạo, những hạt bụi vĩnh cửu và vô vàn những hành tinh, những tinh vân riêng biệt xoay quanh cái lõi riêng của nghệ sĩ, giữ lại bằng trọng lực của các giá trị cốt lõi để trở thành một chỉnh thể không bị nổ tung bởi sức ép của thời gian. Thanh Tâm Tuyền là nhà thơ miền Nam trước 1975 có nhiều trăn trở về nghệ thuật, mang tinh thần cách tân thơ mạnh mẽ không chỉ ở phương diện hình thức mà còn đổi mới trong cách nhìn, cách cảm về con người. Tiếng thơ Thanh Tâm Tuyền không tuyên ngôn cho một tư tưởng nào, không bênh vực dân tộc nào mà mang tinh thần quốc tế sâu sắc, sáng tạo với tư cách con người khi đối diện với những khát vọng thầm kín, những mặc cảm, ám ảnh trong nội tâm mình.

Bài thơ Đen là tiếng nói của nỗi đau thân phận những người mang màu da từng bị coi là thấp kém, là nô lệ, là nỗi mặc cảm khôn nguôi trong tâm hồn người nghệ sĩ da đen, là sự kháng cự lại những cái nhìn chia rẽ, những định kiến độc ác đày ải những người da màu vào cõi không được thừa nhận là người. Tiếng thơ ấy thắp lên sự đồng cảm, để con người biết nắm lấy bàn tay những người bị đẩy ra ngoài rìa thế giới, nó tham gia vào những lời ca thống thiết cất lên vì con người, vì sự bình đẳng, hạnh phúc của con người.

Nhan đề "Đen", giản đơn, sắc gọn, nhưng mang trong nó nhiều tầng vỉa hàm nghĩa. "Đen" trở thành một trong những biểu tượng của bài thơ. Đó không chỉ là màu da mà nhà thơ cất tiếng để bênh vực mà còn là màu của những ám ảnh cùng định kiến hằn trong nếp vô thức của con người. "Đen" còn gợi lên lịch sử tăm tối man rợ của nhân loại còn dư chấn đến hôm nay với những phân biệt, kì thị, bất công dai dẳng.

Bài thơ mở ra với nỗi buồn thăm thẳm, heo hút của màu "đen" : "Một người da đen một khúc hát đen/ Bầu trời đen sâu không cùng..". Tiếng hát là thanh âm của khát vọng, tình yêu nơi con người, là tiếng chới với gọi về cái đẹp. Người hát để vượt lên thân phận mình, để khẳng định sự tồn tại của con người, nhưng khúc hát ấy cũng bị nhuốm sự định danh, dán nhãn của định kiến: Người da đen thì chỉ có thể cất lên "khúc hát đen". Hay "khúc hát đen" ấy cũng là khúc hát khảng khái của con người, dám cất tiếng bằng vị thế của chính mình, bằng tâm hồn chân thành của mình, không che đậy, không mặc cảm- tiếng ca của tôi là tuyên ngôn cho sự tồn tại của tôi. Không gian bao trùm lấy con người là bầu trời đen sâu thẳm, giam con người trong sự cô đơn và bất định. Ấy là vòm trời mà những người da đen bị phần còn lại của thế giới lưu đày hay chính thế giới đang sống trong vòm trời đen do mình tạo ra? Màu đen của bầu trời có lẽ không chỉ màu da mà có lẽ là gợi lên một khoảng trời không sức sống, không tự do, không tình yêu, nó bất động và tù hãm, xây nên bởi những tâm hồn nhuốm đen sự kì thị, định kiến, phân biệt..

Một nghệ sĩ da đen đang độc diễn kèn đồng, đắm mình trong âm nhạc, tan vào âm nhạc và những thăng hoa nghệ thuật cuộn trào. Dòng nước mắt ẩn ức tủi hờn được giải thoát, tiếng nói trong tâm can của nghệ sĩ được vang lên cũng là lúc người chịu nỗi đau như bị "xé nát" khi đối diện với chính mình. "Những dòng nước mắt/ Xé nát thân thể bằng tiếng kèn đồng/ Bằng giọng của máu của tủy của hồn bắt đầu ngày tháng." Máu, tủy, hồn là phần sâu thẳm nhất trong con người, có thể coi là những nhân tố khởi sinh của sự sống, là hiện diện của sự sống. Con người nào cũng là người thân với nhau, là bản sao của một ý niệm, một bản thể người lí tưởng. Vượt qua sự đặt tên, sự định danh và phân loại dựa trên màu da, văn hóa là phần nhân văn nhân bản. Nghệ thuật phá vỡ sự giới hạn và phân biệt của tồn tại thân xác để tuyên bố: "Tôi là một con người."

"Giữa rừng không lời rừng mãi trống không..". Giọng ca, tiếng nói của chiếc kèn đồng, của nghệ sĩ da đen đã vang lên từ chỗ "rừng không lời" - một mê cung hoang lạnh, một cái "không" bất động, mênh mông im lặng. Tiếng kèn đã làm cho không gian lặng tờ vô cảm ấy phải chuyển động, đã quăng quật không gian ấy trong nỗi đau mãnh liệt và rồi không gian, thời gian đều tan vỡ: "Ném mình ném đám đông vào trần truồng tủi cực hờn xác thịt/ Tan vỡ hôm qua hôm nay kể gì ngày mai..". Con người ấy đã "ném mình" và "ném đám đông" vào nỗi tủi cực chung của xác thịt, đã lôi cuốn tất cả con người trong không gian tiếng kèn chạm đến phải ngẫm lại thân phận con người. Dù chia tách "da màu" hay "không da màu" thì chẳng phải con người nào cũng sinh ra trần truồng với xác thịt tủi cực và hữu hạn trong kiếp sống của mình đấy sao? Con người đã chẳng xấu hổ che đậy mình khi nhìn thấy nhau sau khi ăn quả cấm của trí tuệ đấy sao? Con người, vĩ đại đấy nhưng cũng nhỏ nhoi đấy, cũng chẳng thể cưỡng lại hình hài và quy luật của tự nhiên. Hay có thể hiểu rằng, tiếng kèn của nghệ sĩ da đen đã hòa chung mọi người vào tâm trạng thống thiết của người chơi nhạc. Họ tìm thấy mình trong những âm thanh khủng hoảng, tổn thương, nức nở của tiếng kèn..

"Tội rằng không quên chẳng thể được quên/ Vì Blues không xanh vì điệu Blues đen/ Trên màu da nức nở..". Điệu Blues trong âm nhạc đã trở thành một ký hiệu nghệ thuật trong bài thơ. Điệu Blues là điệu chậm và buồn. Tên của điệu nhạc ấy lại liên kết đến màu xanh, màu xanh hy vọng, màu xanh bao la, màu xanh của khát vọng tột cùng. Người da đen không thể tấu lên được điệu nhạc "xanh" hay sao? - dù chính họ là những người khai sinh điệu hát ấy để đấu tranh cho thân phận mình. Sự ám ảnh về những phân biệt, kì thị đã ngăn cản con người cất lên khát khao chân chính, chạm đến nghệ thuật chân chính. Nỗi mặc cảm đè nặng trong những con người không được thừa nhận, không được lắng nghe. Tội lỗi ấy bị gán cho màu da, thứ tội lỗi truyền đời đời, vì vậy mà "màu da nức nở" - nức nở trong niềm đau thế kỉ của sự nô lệ, phân biệt và kì thị..

Nghệ thuật vừa là sự phơi trải nỗi đau, sống với nỗi đau, là sự tuôn trào máu lệ, vừa là một sự giải thoát, là sợi dây của chiếc khinh khí giấc mơ đưa con người vượt lên nỗi tủi cực của thực tại, là lời nguyện cầu tha thiết cho linh hồn người: "Bắt đầu chảy máu thầm kín khóc cổ họng mình/ Ngón tay cấu lấy ống kèn như một bùa thiêng." Máu chảy nhưng chỉ chảy "thầm kín", hay tiếng khóc cũng "thầm kín", một nỗi đau riêng không thể tỏ bày, giữa hộp đêm hoan lạc, con người đơn độc với nỗi đau của chính mình. Và nghệ sĩ đau tột cùng nỗi đau ấy với nghệ thuật của mình. Ống kèn- nhạc cụ của nghệ sĩ biểu diễn trở thành "bùa thiêng", nghệ thuật trở thành một thứ tín ngưỡng, một sự bảo bọc và cứu rỗi, nơi con người gửi gắm hết niềm tin, lòng ham sống và sự say mê.. Hình ảnh "ngón tay cấu lấy ống kèn" làm ta liên tưởng đến một người đang bám vào vách đá bằng tất cả sức lực và lòng yêu cuộc sống để khỏi rơi xuống vực thẳm cái chết, để không bị nuốt chửng bởi sự vô tăm tích và tuyệt vọng. Nếu ở trên người "ném mình ném đám đông vào trần truồng tủi cực hờn xác thịt", thì ở đây người lại "cấu lấy" một trụ đỡ, một điểm tựa để bản thân khỏi bị quăng quật đi trong thù hận, bi ai.

Bùa thiêng nghệ thuật cho người bị tù đày trong hộp đêm, trong lịch sử, trong bóng tối của thời gian một khoảng không tự do của sự lựa chọn: "Chọn ngoài thể xác ngoài thương yêu ngoài dữ tợn/ Chọn thế giới va chạm những loài kim réo gọi..". Nếu nghĩ theo tinh thần Đông phương, vượt ra ngoài thể xác, linh hồn trở về với Đại ngã mênh mông, không còn hình thái yêu thương hay dữ tợn, để rồi từ đó chuyển hóa một cuộc sống mới, tái sinh vào thế giới đại đồng bao dung từng chỉ là ước nguyện. Hay hiểu cách khác, nghệ thuật cho con người vượt ra ngoài biên giới thể xác của chính mình, vượt ra ngoài yêu thương và thù hận, để sống trọn vẹn khoảnh khắc thăng hoa của nó. Vượt ra ngoài tất cả, để thấy đằng sau sự phân loại bề mặt giữa người này với người khác, giữa yêu và hận là sự sống, là một dòng chảy lớn, bí ẩn, đồng hóa tất cả nhưng cũng khởi sinh tất cả. Thế giới khác mà con người ấy chọn là thế giới của những khát khao "réo gọi", của những "va chạm" gặp gỡ và biến đổi. Theo quán tính sử dụng ngôn ngữ, ta muốn kéo cụm từ "những loài kim" về "những loài chim" để cho quen thuộc, dễ hiểu. Thế giới của tự do mở ra. Nhưng "những loài kim réo gọi" là một cách dùng lạ, một liên tưởng lạ thách thức người đọc. Thế giới của "những loài kim" phải chăng là thế giới của nỗi đau thường trực, vậy tại sao lại "chọn"?

Thời gian và không gian bỗng tan loãng ra, tấm màn của thực tại như bị kéo xuống, bị cuộn lại trong xoáy nước thời gian, nỗi đau trôi vào thăm thẳm kí ức, lặn vào quá khứ để nuôi dưỡng màu xanh của tương lai: "Thời gian mềm/ Không gặp thời gian/ Không gian quay thành những vòng kỉ niệm/ Rồi một buổi nào Blues hiện về xanh." Nếu Đoàn Văn Cừ từng sáng tạo nên hương sắc của thời gian: "Màu thời gian tím ngát.. Hương thời gian thanh thanh" thì Thanh Tâm Tuyền lại cảm nhận thời gian bằng xúc giác "thời gian mềm". Thời gian mềm chứ không gai góc, không làm ứa máu thêm những nỗi đau của con người mà sẽ xoa dịu, sẽ vỗ về, sẽ chữa lành, sẽ nguôi ngoai.. Nhưng ai có từng "gặp thời gian"? Thời gian không phải là cái gì trôi qua ta, cuốn lấy ta mà ở trong ta, hiện hữu trong mọi hình thái của sự sống, sự tồn tại. Những cảnh tượng, hình ảnh về không gian theo nhịp bước (hay vòng tuần hoàn) của thời gian hóa thành những "vòng kỉ niệm".

Từ chỗ quan sát nỗi đau hằn sâu vào da thịt và tâm hồn của nghệ sĩ từ bên trong, nhà thơ như viết xuống những dòng nguyện cầu. Nguyện cầu về thời gian, về kỉ niệm và về màu xanh của điệu Blues. Những đau thương và thù hận, lạc loài và chia rẽ trong con người liệu có thể được thanh lọc qua thời gian? Thời gian liệu có thể xóa mờ hết đau thương để con người tái thiết một cuộc sống mới, vấp phải những sai lầm mới chứ không phải giẫm lên những dấu chân đã cũ của chính mình? Có lẽ riêng thời gian không làm được điều đó mà trong thời gian có tình yêu của nghệ thuật. Nghệ thuật biến quá khứ đau thương thành "kỉ niệm" của loài người, thành một niềm day dứt khôn nguôi của con người trên hành trình vượt lên sự bất toàn của bản thể. Nhưng ít nhất, nghệ thuật cứu vãn sự quên của con người. Thời gian qua đi, người vẫn còn kí ức về sự tàn ác, niềm đau và ước vọng trong lịch sử của chính mình. Câu thơ cuối cùng như được phủ lên một ánh ban mai: "Rồi một buổi nào Blues hiện về xanh." Đây dường như là một sự "đối thoại lại" trong chính bài thơ, đối thoại với niềm đau nức nở của điệu nhạc bị chìm trong định kiến: "Vì Blues không xanh vì điệu Blues đen." Điệu Blues phải được vang lên và được cảm nhận trọn vẹn vẻ đẹp và nỗi buồn của thân phận người. Điệu Blues và nhạc Hip hop là cách kháng cự lại thực tại bằng âm nhạc nghệ thuật của người da đen, là một cách mà con người cất tiếng để đòi tự do, nhưng sau cùng, âm nhạc không muốn phân biệt như chính con người không muốn phân biệt. Nghệ thuật là cánh tay của một cá nhân, một dân tộc, một cộng đồng người muốn vươn ra nắm lấy phần còn lại của thế giới, để cảm nhận hơi ấm của con người giữa giá lạnh bao la của vũ trụ. Điệu Blues là sự sống, là ước mơ, là sinh mệnh trần trụi của con người như bao giai điệu, bao nét họa, câu thơ khác. Nghệ thuật là nghệ thuật, không chỉ cho "tôi" mà còn cho "người khác", không chỉ cho người da đen mà là của cả loài người, trong phút giây con người rũ bỏ mọi định kiến với nó. Nghệ thuật mở đường cho yêu thương..

Thơ là câu chuyện của trái tim nên nhiều khi lý trí bất lực khi đứng trước nó hoặc bất cẩn hiểu sai trong những bước chân vội vã nhằm đi tìm ý nghĩa, có khi làm bài thơ "chảy máu" vì những cắt nghĩa hung bạo. Tôi chép bài thơ vào tâm hồn tôi, bằng nét chữ riêng, bằng cách cảm hiểu riêng, thế là có thể không làm đau bài thơ chăng? Hỡi người thi sĩ mang tình yêu tự do chật ngực, tôi muốn bày tỏ lòng yêu và kính cẩn với nỗi đau của người, nỗi đau của sự hóa thân, lặn sâu vào tâm hồn con người để viết lên những câu thơ "của máu của tủy của hồn".. Tôi biết người đã thổi kèn đơn độc, nức nở tâm hồn, trong ước ao bất lực thanh tẩy dòng máu đen của nhân loại, để sự sống tươi đỏ tràn về, làm ấm lại trái tim, thắp lại tình thương..

(Đăng lại từ ngày 2 tháng 12 năm 2024)​
 

Những người đang xem chủ đề này

Xu hướng nội dung

Back