Khoảng cách giữa hai người vẫn được giữ nguyên, nhưng lớp không khí ở giữa đã bị ép lệch, bụi đất trên mặt nền bị dạt sang hai bên thành những vệt mỏng, các viên đá nhỏ rung lên rồi lăn chậm ra xa, như thể toàn bộ vùng trung tâm đang chịu một lực ép liên tục từ hai phía.
Trần Minh là người động trước, bàn chân hắn dịch lên nửa bước, gót vừa chạm xuống nền đá thì lực dồn từ hông đã truyền thẳng lên thân trên, thân hình theo đó trượt đi, để lại phía sau một vệt bóng kéo dài, khoảng cách giữa hai người bị rút ngắn trong một nhịp chuyển động liền mạch. Đông Văn Thành không lùi, thân người hắn xoay nhẹ sang phải, vai hạ thấp, cánh tay phải nâng lên trước ngực, lớp khí xám thép tụ lại dọc theo cẳng tay, ép sát vào da thịt thành một lớp chắn dày.
Nắm đấm của Trần Minh lao thẳng vào vùng phòng thủ đó, pháp khí trắng đen xoáy quanh cổ tay siết chặt lại, toàn bộ lực từ bước chân, hông và vai dồn vào một điểm va chạm, khi tiếp xúc với lớp xám thép liền bật ra một tiếng "cạch" ngắn và gọn, bề mặt khí xám lõm xuống trong khoảnh khắc rồi giữ lại, không để lực xuyên qua.
Lực va chạm không tản ra ngoài mà dồn ngược trở lại, cổ tay Trần Minh khựng lại trong một nhịp cực ngắn, cơ bắp từ cẳng tay đến vai căng cứng, trong khi phía Đông Văn Thành, khuỷu tay bị ép chùng xuống một góc nhỏ rồi giữ lại, lớp khí xám thép trên cẳng tay rung lên, các vệt xám kéo dài ra rồi lập tức co lại, triệt tiêu phần lực còn lại.
Hai người giữ nguyên vị trí trong khoảnh khắc va chạm, nhưng nền đá dưới chân đã không chịu nổi lực nén, các vết nứt xuất hiện từ điểm đứng của mỗi người rồi lan ra, giao nhau thành những đường rạn chồng chéo, bụi đá bị chấn bật lên khỏi mặt đất rồi rơi xuống lạo xạo.
Ngay khi lực dội ngược đạt đến điểm giới hạn, cả hai đồng thời thu tay, Trần Minh kéo khuỷu tay về sát thân, trọng tâm hạ thấp để triệt tiêu lực phản hồi, trong khi Đông Văn Thành xoay cổ tay, dẫn lực trượt sang một bên rồi hạ cánh tay xuống, bước lùi nửa bước để tái lập thế đứng.
Khoảng cách giữa họ lại được mở ra đúng bằng trước đó, ánh mắt hai người vẫn khóa chặt, không rời khỏi đối phương, pháp khí quanh thân không tản ra mà co lại sát vào cơ thể, từng luồng khí vận hành nhanh hơn, siết chặt hơn, chuẩn bị cho lần va chạm kế tiếp với lực dồn lớn hơn.
Sau lần va chạm đầu tiên, cả hai không dồn lên áp sát ngay mà giữ nguyên khoảng cách, thân người dịch chuyển trong phạm vi hẹp, từng bước chân đều được đặt xuống có kiểm soát, khiến lớp bụi mỏng trên mặt đá bị ép dạt ra thành những vệt cong, lộ ra bề mặt nhẵn phía dưới. Trần Minh hạ thấp trọng tâm, đầu gối hơi chùng, mũi chân xoay nhẹ theo từng nhịp chuyển, lực dồn đều từ chân lên hông rồi giữ lại ở vai, luồng pháp khí trắng đen quanh tay không còn tản rộng mà xoáy lại sát cổ tay, từng vòng khí chồng lên nhau, ép chặt và trượt theo chuyển động cánh tay. Đối diện, Đông Văn Thành nghiêng người về trước, vai trái hạ thấp, vai phải nâng cao, cẳng tay đặt chéo trước thân, lớp khí xám thép bám sát theo đường cơ bắp, dày lên từng lớp, mỗi lần hắn hít vào, phần khí này siết chặt lại, còn khi thở ra thì trượt dọc theo vai và cánh tay, để lại những vệt xám mờ kéo dài trong không khí.
Thế giằng co bị phá vỡ khi Trần Minh đổi nhịp di chuyển, bước chân vốn chậm rãi đột ngột tăng tốc, thân người nghiêng sang trái để kéo theo tầm nhìn đối phương rồi cắt ngang sang phải trong cùng một chuỗi động tác, quỹ đạo di chuyển gấp khúc khiến khoảng cách bị thay đổi liên tục. Pháp khí quanh tay hắn bị kéo dài theo chuyển động, tạo thành những dải xoáy chồng chéo, che khuất điểm xuất phát của đòn đánh. Đông Văn Thành không dịch chuyển nhiều, chân phải xoay nửa vòng, mũi chân làm trục, thân người nghiêng đi một góc nhỏ, vừa đủ để lệch khỏi hướng tiếp cận đầu tiên, cánh tay trước ngực vẫn giữ nguyên vị trí, lớp khí xám thép dồn về khuỷu và cẳng tay, chuẩn bị đón lực.
Ngay khi góc tiếp cận ban đầu bị né tránh, Trần Minh đổi hướng tấn công, vai hạ thấp, hông xoay mạnh để kéo lực xuống, nắm đấm chuyển từ tầm cao xuống thấp, đánh thẳng vào vùng hông với quỹ đạo ngắn và gọn, toàn bộ lực dồn vào một điểm tiếp xúc. Đông Văn Thành không lùi, cánh tay hạ xuống đúng hướng, khuỷu tay khóa lại, lớp khí xám thép ép dày tại điểm va chạm, đỡ thẳng cú đánh. Khi hai luồng pháp khí chạm nhau, một tiếng kim loại vang lên sắc gọn, bề mặt khí xám lõm xuống rồi giữ lại, triệt tiêu phần lớn lực xung kích, phần còn lại truyền qua cánh tay xuống thân thể, khiến nền đá dưới chân cả hai rạn thêm một lớp.
Không giữ thế phòng thủ, Đông Văn Thành chuyển ngay sang phản công, cánh tay còn lại quét ngang theo một đường cong thấp, vai xoay kéo theo lực từ lưng và hông, lớp khí xám thép dọc theo cẳng tay kéo dài ra thành một vệt mỏng, sắc, chém thẳng vào khoảng trống vừa lộ ra sau cú đánh của Trần Minh. Trần Minh không rút người về mà xoay ngang ngay tại cự ly gần, bàn chân làm trụ, hông xoay gấp, thân trên lệch khỏi quỹ đạo lưỡi cắt, luồng khí xám lướt qua trước ngực, ép lớp không khí phía trước lõm xuống rồi trượt đi.
Trong cùng chuyển động xoay đó, khuỷu tay của Trần Minh bật ngược lại, khoảng cách giữa hai người đã thu hẹp đến mức cú đánh không cần lấy đà, lực được dồn trực tiếp từ hông lên vai rồi nén lại ở khuỷu, pháp khí trắng đen tụ thành một điểm nhỏ, ép chặt và đẩy thẳng về phía sườn đối phương. Đông Văn Thành buộc phải điều chỉnh bước chân, lùi nửa bước để giải lực, cánh tay chặn ngang, lớp khí xám thép dồn về điểm tiếp xúc, hai luồng lực va vào nhau trong khoảng cách hẹp, không tản ra ngoài mà ép ngược vào trong, khiến không khí xung quanh rung lên thành từng đợt nhỏ, nền đá dưới chân tiếp tục nứt rộng ra theo các đường rạn chồng chéo.
Nhịp giao đấu được đẩy lên từng bước, khoảng cách giữa hai người liên tục co giãn theo từng pha áp sát rồi tách ra, không còn những khoảng chờ rõ rệt, mỗi chuyển động đều nối tiếp chuyển động trước đó trong một chuỗi liền mạch. Trần Minh dịch chuyển theo vòng hẹp, mũi chân làm trục xoay, thân người luôn giữ ở trạng thái sẵn sàng đổi hướng, các cú đánh liên tục thay đổi độ cao, khi thì ép từ trên xuống bằng lực dồn từ vai, khi lại hạ thấp trọng tâm, xoay hông để đánh ngang vào sườn hoặc cắt chéo từ dưới lên, khiến quỹ đạo tấn công không lặp lại.
Pháp khí trắng đen quanh tay hắn biến đổi theo từng đòn, khi cẳng tay quét ngang, lớp khí tản ra thành dải mỏng, trượt theo hướng tiếp xúc để làm lệch lực từ phía đối phương, còn khi chuyển sang đòn thẳng, các vòng xoáy lập tức co lại, ép chặt quanh cổ tay rồi dồn vào điểm va chạm, tạo ra lực xuyên tập trung. Mỗi lần tiếp xúc, lớp khí trắng đen không giữ nguyên hình dạng mà trượt, xoắn, rồi tụ lại, khiến lực truyền qua thay đổi liên tục, khó bị giữ cố định.
Đông Văn Thành giữ thế đứng thấp và vững, chân sau làm trụ, chân trước điều chỉnh vị trí theo từng nhịp áp sát, cánh tay luôn nằm trong phạm vi ngắn để giảm khoảng hở, lớp khí xám thép bám sát theo cơ bắp, dồn về những điểm chịu lực trước mỗi lần va chạm. Khi đỡ đòn, hắn không đẩy bật ra mà giữ lực tại chỗ, khuỷu tay khóa lại, vai và lưng hấp thụ phần xung kích, khiến đòn đánh bị chặn đứng trong phạm vi hẹp, sau đó chuyển lực sang cánh tay còn lại để phản công theo quỹ đạo ngắn nhất.
Chuỗi va chạm diễn ra liên tục, nắm đấm, khuỷu tay và cẳng tay liên tiếp chạm vào lớp khí xám thép, mỗi lần tiếp xúc đều phát ra âm thanh kim loại ngắn và gọn, lực không tản ra mà dội ngược vào thân thể hai bên, khiến bước chân phải điều chỉnh liên tục để giữ thăng bằng. Mặt đá dưới chân họ không còn nguyên vẹn, các vết nứt lan rộng từ điểm đứng, giao nhau thành những đường rạn chồng chéo, bụi đá bị ép thành từng vòng mờ rồi dạt ra xa theo từng đợt rung.
Khi Trần Minh tăng tốc áp sát, thân người hắn lệch sang một bên để mở góc đánh, cú đấm hướng vào vai bị chặn lại bởi lớp khí xám thép đã dồn sẵn, lực bị giữ lại ngay tại điểm tiếp xúc, hắn lập tức xoay cổ tay, chuyển hướng thành một cú cắt ngang vào cổ, nhưng Đông Văn Thành đã thu vai, hạ cằm, cẳng tay nâng lên chắn đường cắt, đồng thời bước chân xoay nửa vòng để giữ khoảng cách không bị phá vỡ. Ngay sau đó, Đông Văn Thành phản công bằng một cú đẩy ngắn từ cẳng tay, lực truyền từ chân sau qua hông rồi dồn lên vai, ép thẳng vào trung tuyến của Trần Minh, buộc hắn phải lùi nửa bước để giải lực, đồng thời xoay người tránh hướng đẩy trực diện.
Các pha đổi đòn tiếp tục lặp lại với nhịp tăng dần, mỗi lần va chạm đều khiến lực truyền qua rõ rệt hơn, quỹ đạo ra đòn của cả hai dần ổn định lại thành những mẫu lặp, Trần Minh liên tục đổi góc để tìm điểm xuyên qua lớp phòng thủ, trong khi Đông Văn Thành giữ nhịp ngắn, ưu tiên chặn và phản theo đường thẳng, không để lộ khoảng trống lớn. Khoảng cách giữa họ bị giữ trong một biên độ hẹp, không bên nào bị ép lùi quá xa, nhưng cũng không bên nào giữ được thế áp đảo đủ lâu để dồn đòn quyết định.
Trong quá trình trao đổi liên tục đó, mỗi lần đỡ và phản đều buộc đối phương điều chỉnh ngay lập tức, bước chân, góc vai và vị trí tay thay đổi theo từng nhịp, khiến các đòn đánh sau đó dần trở nên chính xác hơn, không còn dư thừa chuyển động. Khi Trần Minh đổi góc từ thấp lên cao, Đông Văn Thành đã kịp hạ khuỷu tay để chặn trước khi lực chạm vào, còn khi Đông Văn Thành quét ngang ở tầm trung, Trần Minh đã xoay hông lệch khỏi quỹ đạo trước khi đòn hoàn tất, các phản ứng xuất hiện sớm hơn từng nhịp, cho thấy cả hai đã nắm được cách đối phương phân bổ lực và chuyển hướng đòn đánh.
Thế giằng co vẫn được giữ nguyên, nhưng trong từng pha tiếp xúc, lực truyền qua ngày càng gọn, các chuyển động thừa bị loại bỏ dần, khiến mỗi cú ra đòn đều mang theo áp lực lớn hơn trước, báo hiệu rằng chuỗi trao đổi hiện tại đang tiến dần đến điểm mà một bên chỉ cần chậm đi một nhịp là sẽ không kịp thu tay hoặc đổi góc để phòng thủ.
Khoảng lặng giữa hai người chỉ tồn tại trong một nhịp rất ngắn, khi chuỗi trao đổi trước đó vừa dừng lại thì cả hai đã điều chỉnh tư thế, bước chân dịch chuyển trong phạm vi hẹp, giữ trục cơ thể ổn định, ánh mắt khóa chặt vào vai và hông đối phương để theo dõi điểm phát lực. Những chuyển động nhỏ dần bị loại bỏ, vị trí tay, góc vai và nhịp thở đều được giữ ở trạng thái ổn định, khiến lớp không khí giữa hai người bị ép chặt lại, bụi đá lơ lửng ở tầm thấp không rơi xuống mà trôi lệch sang hai bên.
Trần Minh siết chặt nắm tay, các vòng xoáy trắng đen quanh cẳng tay không còn tản ra mà co lại sát da, từng lớp khí ép chồng lên nhau, dồn về cổ tay và khuỷu, theo nhịp co của cơ bắp từ cẳng tay lên vai, toàn bộ lực được giữ lại trong thân người mà chưa phát ra ngoài. Đông Văn Thành cũng điều chỉnh cấu trúc phòng thủ, lớp khí xám thép không còn phân bố đều mà dồn về các điểm chịu lực, bám chặt quanh vai, khuỷu và hông, các lớp khí chồng lên nhau, ép dày, tạo thành những vùng cứng rõ rệt dọc theo cánh tay và thân trên, sẵn sàng đón lực trực tiếp.
Thời điểm chuyển từ giữ nhịp sang tấn công diễn ra trong cùng một khoảnh khắc, Trần Minh đạp chân xuống nền đá, lực từ chân sau đẩy lên, truyền qua hông rồi dồn thẳng lên vai, thân người lao tới theo đường thẳng ngắn nhất, nắm đấm giữ ở vị trí thấp trong nửa nhịp trước khi nâng lên theo quỹ đạo chéo, hướng vào vùng vai của đối phương. Đông Văn Thành không lùi, chân trước xoay làm trục, thân người nghiêng sang một góc nhỏ để giảm diện tiếp xúc, cánh tay nâng lên theo đường vòng ngắn, lớp khí xám thép dồn về khuỷu và cẳng tay, chặn thẳng vào đường đánh đang tiến tới.
Khoảng cách giữa hai người bị rút ngắn trong tích tắc, hai luồng pháp khí va vào nhau tại cự ly rất gần, bề mặt khí xám thép lõm xuống dưới lực xoáy của pháp khí trắng đen, rồi giữ lại, không cho lực xuyên qua, trong khi lực phản hồi dội ngược lên cánh tay Trần Minh, khiến cổ tay khựng lại trong một nhịp rất ngắn. Ngay tại điểm tiếp xúc, Trần Minh xoay cổ tay, chuyển lực từ cú đánh chéo thành một cú ép ngang, hòng mở lệch tuyến phòng thủ, nhưng Đông Văn Thành đã khóa khuỷu tay, vai hạ thấp để giữ trục, đồng thời dồn lực từ chân sau lên, ép ngược lại theo phương thẳng, khiến hai luồng lực va chạm trực diện rồi bị nén lại giữa hai người.
Không giữ trạng thái giằng co tại chỗ, Đông Văn Thành chuyển lực ngay sau khi chặn đòn, cánh tay còn lại quét ngang ở tầm trung, lực truyền từ hông qua lưng rồi dồn ra cẳng tay, lớp khí xám thép kéo dài thành một vệt mỏng, chém vào khoảng trống vừa mở ra. Trần Minh xoay hông lùi nửa bước theo đường chéo, thân trên lệch khỏi quỹ đạo, đồng thời kéo khuỷu tay về sát thân để giảm khoảng hở, luồng khí xám lướt qua trước ngực, ép lớp không khí phía trước lõm xuống rồi trượt đi.
Ngay khi tránh đòn, Trần Minh không tách ra mà giữ cự ly gần, chân sau đạp mạnh để đổi trục, thân người xoay trở lại, khuỷu tay bật ra theo đường ngắn nhất, lực được nén từ hông lên vai rồi dồn thẳng vào điểm tiếp xúc, pháp khí trắng đen tụ lại thành một khối nhỏ, ép chặt vào sườn đối phương. Đông Văn Thành lùi nửa bước để giải lực, cẳng tay hạ xuống chặn ngang, lớp khí xám thép dồn lại tại điểm va chạm, hai luồng lực ép vào nhau trong không gian hẹp, không tản ra ngoài mà dội ngược vào thân thể hai bên, khiến nền đá dưới chân nứt rộng thêm, các mảnh vụn bị bật lên rồi rơi xuống quanh vùng giao đấu.
Chuỗi trao đổi chuyển từ thăm dò sang va chạm trực diện trong cùng một nhịp tăng tốc, mỗi lần ra đòn đều kéo theo phản ứng tức thì từ phía đối diện, khoảng cách không còn được giữ để quan sát mà bị phá vỡ rồi tái lập liên tục, buộc cả hai phải duy trì áp lực và điều chỉnh vị trí trong từng khoảnh khắc, nếu chậm một nhịp trong việc đổi góc hoặc thu tay, đòn đánh kế tiếp sẽ chạm vào trước khi kịp dựng lại thế phòng thủ.
Nhịp giao tranh bị đẩy lên ngay sau khi khoảng cách bị phá vỡ, Trần Minh không giữ lại đà như trước mà dồn toàn bộ lực từ bước chân đầu tiên, mũi chân vừa chạm đất đã xoay làm trục, chân sau đạp mạnh, lực truyền từ bàn chân lên hông rồi dồn thẳng qua vai, thân người lao tới theo đường thẳng ngắn nhất, pháp khí trắng đen quanh cánh tay không còn xoáy rộng mà co lại thành từng lớp ngắn, ép chặt và bật ra theo nhịp chuyển động của nắm đấm. Cú đánh đầu tiên đi vào trung tuyến, khuỷu tay khép sát, quỹ đạo hẹp, lực dồn tập trung vào một điểm trước ngực đối phương, không mở góc mà ép thẳng để buộc phản ứng ngay tại chỗ.
Đông Văn Thành không dịch chuyển khỏi trục, chân trước giữ vị trí, chân sau siết chặt nền đá để giữ ổn định, cánh tay nâng lên theo đường ngắn nhất, lớp khí xám thép dồn về khuỷu và cẳng tay, bám sát theo cơ bắp, ép dày tại điểm tiếp xúc. Khi hai luồng lực va vào nhau, bề mặt khí xám lõm xuống dưới áp lực xoáy của pháp khí trắng đen, rồi giữ lại, không cho lực xuyên qua, đồng thời phần lực dư truyền ngược xuống chân, khiến nền đá dưới vị trí đứng của hắn rạn thêm, bụi đá bật lên theo vòng tròn hẹp.
Trần Minh không thu tay sau va chạm mà giữ lực tại điểm tiếp xúc trong một nhịp ngắn, cổ tay xoay nhẹ, hướng lực từ trục thẳng chuyển sang trượt ngang, lớp pháp khí trắng đen từ trạng thái ép chuyển sang xoáy, bám vào bề mặt xám thép rồi kéo lệch sang phía hông. Sự thay đổi quỹ đạo buộc Đông Văn Thành phải xoay vai theo, khuỷu tay hạ xuống để giữ điểm chặn, thân người nghiêng đi một góc nhỏ nhằm tránh bị kéo lệch hoàn toàn, nhưng chính động tác xoay này làm lộ ra một khoảng hở ngắn tại vùng sườn.
Ngay khi góc hở xuất hiện, Trần Minh đạp chân phải xuống, lực từ chân sau dồn lên hông trong cùng một nhịp, thân người xoay ngược lại, khuỷu tay trái bật ra theo quỹ đạo ngắn, không cần lấy đà, pháp khí trắng đen co lại thành một điểm nhỏ, ép chặt và đâm thẳng vào khoảng hở vừa mở. Khi điểm va chạm hình thành, lớp khí xám thép tại vị trí đó bị ép lõm sâu hơn các vùng khác, phát ra một tiếng sắc gọn, thân trên của Đông Văn Thành khựng lại trong một nhịp khi lực xuyên vào lớp phòng thủ.
Ngay tại thời điểm chịu lực, Đông Văn Thành không lùi bước mà siết chặt toàn bộ trục cơ thể, chân sau đạp xuống để giữ vững vị trí, lớp khí xám thép trên thân đồng loạt co lại, ép sát vào các điểm chịu lực, sau đó dồn ngược ra ngoài theo một hướng duy nhất từ tâm ra điểm tiếp xúc. Lực phản hồi tập trung tại vị trí khuỷu tay của Trần Minh, đẩy lệch cánh tay hắn ra ngoài quỹ đạo, phá vỡ đường tấn công đang ép vào sườn.
Tận dụng khoảng lệch vừa tạo ra, Đông Văn Thành xoay hông, chân trái làm trụ, thân trên quay theo quán tính vừa giải lực, cánh tay phải vung ngang theo đường cắt ngắn, lực truyền từ chân qua hông rồi dồn lên vai, lớp khí xám thép kéo dài dọc theo cẳng tay thành một vệt mỏng, ép chặt và sắc, chém thẳng vào vùng vai Trần Minh với quỹ đạo ngang và tốc độ cao, khoảng cách giữa hai người lúc này gần như bằng không, khiến đòn chém đi vào ngay khi cánh tay đối phương vừa bị đẩy lệch, không để lại khoảng trống để thu tay về phòng thủ.
Trần Minh không rút hẳn khỏi phạm vi đòn chém mà chỉ dịch chân sau nửa bước theo đường chéo, mũi chân xoay làm trục để lệch khỏi quỹ đạo chính, phần vai kéo lùi vừa đủ để tránh điểm cắt sâu, nhưng cự ly quá ngắn khiến lớp khí xám thép vẫn lướt sát qua thân, mép áo bị xé rách theo một đường mỏng, lực ma sát ép vào da để lại cảm giác lạnh buốt chạy dọc theo sườn. Ngay trong chuyển động tránh đòn đó, hắn không dừng lại để tái lập tư thế mà xoay hông theo quán tính, chân sau đạp mạnh để đổi trục, thân trên quay ngược lại, hai tay đồng thời mở ra rồi ép vào, pháp khí trắng đen tách thành hai dòng xoáy ngược chiều, một dòng dâng lên theo hướng từ dưới lên nhắm vào vùng vai và cổ, dòng còn lại hạ thấp, quét ngang vào phần hông và đùi, hai quỹ đạo giao nhau tại vị trí đứng của đối phương, buộc phải xử lý cùng lúc trong một cự ly hẹp.
Đông Văn Thành không tách khỏi vị trí mà giữ trục đứng, chân trước xoay nửa vòng để điều chỉnh góc đối diện, cánh tay trên nâng lên chặn đường đánh cao, khuỷu tay hạ xuống ép sát sườn để khóa tuyến dưới, lớp khí xám thép dồn về hai điểm tiếp xúc, khi dòng xoáy phía trên chạm vào, bề mặt khí lõm xuống rồi trượt theo hướng xoắn, giảm lực xuyên, trong khi dòng phía dưới bị chặn ngang, lực truyền xuống chân khiến nền đá dưới chân hắn nứt rộng thêm. Không giữ nguyên thế đỡ, hắn xoay vai theo hướng lực trên, dẫn dòng xoáy lệch khỏi trục cơ thể, đồng thời dồn lực từ chân sau lên hông rồi ép xuống khuỷu tay dưới, đẩy ngược dòng xoáy thấp ra ngoài, tạo lại khoảng đứng vừa đủ để không bị khóa tại chỗ.
Chuỗi va chạm không dừng lại ở một lần tiếp xúc mà nối tiếp ngay sau đó, Trần Minh thu tay theo đường ngắn rồi bật ra lần nữa, nắm đấm chuyển từ tầm cao xuống trung tuyến, khuỷu tay khép chặt, lực dồn từ hông lên vai rồi ép thẳng vào vùng ngực, Đông Văn Thành chặn bằng cẳng tay, lớp khí xám thép dày lên tại điểm va, lực bị giữ lại rồi truyền ngược xuống chân, hắn xoay người nửa vòng để giải lực, đồng thời vung tay còn lại cắt ngang vào sườn đối phương. Trần Minh lệch hông tránh đường cắt, bàn chân làm trụ, thân trên nghiêng đi một góc nhỏ, luồng khí xám lướt qua sát người, ép không khí phía trước lõm xuống, trong khi khuỷu tay hắn đã bật ngược lại theo hướng ngắn nhất, ép vào vùng cánh tay đang vung của đối phương nhằm chặn quỹ đạo phản công.
Các đòn đánh nối tiếp nhau trong phạm vi rất hẹp, nắm đấm, khuỷu tay và cẳng tay liên tục va vào lớp khí xám thép, mỗi lần tiếp xúc đều ép không khí xung quanh rung lên thành từng đợt nhỏ, mặt đá dưới chân không còn giữ được hình dạng ban đầu, các vết nứt chồng chéo, mảnh vụn bị nghiền nhỏ rồi bắn ra theo từng lần dồn lực. Pháp khí trắng đen xoáy chặt rồi tản ra, trượt theo bề mặt phòng thủ để tìm góc xuyên, trong khi lớp khí xám thép giữ trục, dồn lực tại điểm chạm rồi đẩy ngược theo phương ngắn nhất, khiến mỗi lần va chạm đều không tản ra ngoài mà dội lại giữa hai người.
Trong chuỗi trao đổi dày đặc đó, Trần Minh liên tục thay đổi góc đánh, từ cao xuống thấp rồi chuyển sang trung tuyến, cố kéo lệch cấu trúc phòng thủ bằng các đòn xoắn và ép ngang, nhưng mỗi lần tạo được độ lệch nhỏ, Đông Văn Thành đều xoay vai và điều chỉnh bước chân để đưa trục cơ thể trở lại vị trí ban đầu, cẳng tay và khuỷu tay luôn giữ trong phạm vi ngắn để không mở rộng khoảng hở. Khi bị ép xuống thấp, hắn dồn lực xuống chân để giữ ổn định rồi nâng trục trở lại trong nhịp kế tiếp, còn khi bị kéo lệch sang một bên, hắn xoay hông để đưa hướng lực về trung tâm, không để quỹ đạo tấn công xuyên sâu vào thân thể.
Khoảng cách giữa hai người liên tục bị phá vỡ rồi tái lập trong từng pha va chạm, không có thời gian để tách hẳn ra, mỗi lần thu tay đều đi kèm một đòn khác bật ra ngay sau đó, buộc đối phương phải phản ứng trong cùng một nhịp, nếu chậm một bước trong việc xoay vai hoặc điều chỉnh chân, đòn tiếp theo sẽ đi thẳng vào trước khi kịp dựng lại thế phòng thủ. Chuỗi áp sát kéo dài khiến lực truyền qua ngày càng gọn, các chuyển động thừa bị loại bỏ dần, nhưng cấu trúc phòng thủ của Đông Văn Thành vẫn giữ nguyên, mỗi lần bị ép lệch đều được kéo lại ngay bằng việc xoay trục và dồn lực ngược, không để hình thành khoảng hở đủ lâu để khai thác.
Nhịp giao tranh bị đẩy lên mức cao, khoảng cách giữa hai người bị rút ngắn rồi mở ra trong những quãng cực ngắn, thân hình liên tục đổi vị trí, khiến vùng không khí ở giữa bị xé thành nhiều lớp lực chồng lên nhau. Trần Minh không còn giữ cách ra đòn tiết chế, mỗi lần phát lực đều dồn từ chân lên hông rồi ép thẳng qua vai, pháp khí trắng đen không chỉ xoáy quanh cánh tay mà lan dọc theo vai và lưng, các dải khí kéo dài theo chuyển động, chồng chéo thành nhiều lớp quỹ đạo, khi đánh thẳng thì co lại thành điểm, khi quét ngang thì tản ra thành dải mỏng trượt theo hướng tiếp xúc.
Chuỗi tấn công của hắn thay đổi nhịp liên tục, có lúc đẩy nhanh bằng các cú đấm ngắn liên tiếp vào trung tuyến, mỗi cú đều giữ lực trong phạm vi hẹp để không mở khoảng trống, có lúc lại hạ tốc trong một nhịp rất ngắn, giữ tay ở trạng thái nén rồi bất ngờ xoay cổ tay, đổi hướng lực sang đường chéo nhằm kéo lệch điểm chặn. Sự thay đổi này buộc Đông Văn Thành phải điều chỉnh liên tục, nhưng thay vì bị ép rối loạn, hắn giữ trục cơ thể ổn định, chân sau làm điểm tựa, chân trước xoay theo từng góc tiếp cận, lớp khí xám thép bám sát theo cơ bắp không giữ nguyên trạng thái cứng mà co giãn theo từng lần chịu lực.
Khi đỡ đòn, lớp khí xám thép không chặn đứng hoàn toàn mà lõm xuống theo hướng lực, sau đó trượt lệch sang một bên, dẫn quỹ đạo tấn công ra khỏi trục cơ thể, phần lực còn lại được dồn xuống chân rồi trả ngược theo hướng ngắn nhất. Khi Trần Minh dồn đòn nhanh, Đông Văn Thành xoay vai để giảm diện tiếp xúc, dùng chính hướng xoáy của pháp khí trắng đen kéo lệch quỹ đạo, còn khi nhịp tấn công chậm lại, hắn tận dụng khoảng thời gian đó để chen vào các cú phản công ngắn, lực dồn trực tiếp từ hông lên cẳng tay, đánh vào những khoảng trống vừa hình thành.
Một lần va chạm mạnh xảy ra khi Trần Minh đạp chân xuống, toàn bộ lực dồn lên hông rồi ép vào vai, nắm đấm lao thẳng vào trung tuyến, pháp khí trắng đen co lại thành một điểm xoáy rất nhỏ, các vòng khí ép chặt vào nhau khiến vùng không khí quanh điểm tiếp xúc bị kéo lệch. Đông Văn Thành không né mà nâng cả hai tay, cẳng tay chéo trước ngực, lớp khí xám thép dồn lại thành một khối dày, ép sát theo hình dạng cánh tay, đỡ thẳng cú đánh. Khi hai luồng lực gặp nhau, không khí giữa hai người bị ép lại, không phát ra tiếng rõ mà chỉ rung lên, lực xung kích truyền xuống chân, nền đá nứt vỡ, một mảng đá lớn bị ép tách ra thành nhiều mảnh nhỏ bắn sang hai bên.
Ngay sau va chạm, khi lực còn chưa kịp tản hết, Đông Văn Thành không lùi mà bước lên một bước ngắn, chân trước đặt xuống ngay trong vùng giao lực, hông đẩy lên để giữ trục, khoảng cách bị xóa bỏ gần như hoàn toàn. Trong cự ly sát, hắn không mở rộng đòn đánh mà giữ cánh tay trong phạm vi ngắn, khuỷu tay khép, pháp khí xám thép ép sát vào cẳng tay, dồn lực trực tiếp từ hông vào một cú thúc ngang vào sườn Trần Minh, quỹ đạo ngắn, lực đi thẳng, không có phần tản ra ngoài.
Trần Minh xoay hông theo hướng đòn đánh, kéo phần sườn lệch khỏi điểm tiếp xúc để giảm lực trực diện, nhưng cự ly quá gần khiến phần lực vẫn truyền vào thân, hơi thở bị ép lệch trong một nhịp, cơ bắp vùng sườn siết lại để giữ thăng bằng. Ngay trong khoảnh khắc đó, Đông Văn Thành không dừng lại mà chuyển tiếp đòn, chân sau đạp lên, thân người xoay, cánh tay còn lại vung theo đường chéo từ trên xuống, pháp khí xám thép kéo dài thành một vệt mỏng ép sát theo cẳng tay, chém vào vùng vai đối phương. Trần Minh buộc phải lựa chọn trong cự ly ngắn, hoặc lùi thêm để tránh toàn bộ quỹ đạo hoặc nâng tay chặn để giữ vị trí, hắn xoay vai, nâng cẳng tay lên đỡ, lớp pháp khí trắng đen co lại tại điểm tiếp xúc, hai luồng lực va vào nhau rồi dội ngược, đẩy thân trên hắn lệch đi một góc nhỏ.
Đòn chém chưa kết thúc đã nối tiếp bằng một cú ép ngang ở tầm trung, Đông Văn Thành giữ nhịp đòn ngắn, không tăng tốc mà siết chặt quỹ đạo, mỗi lần ra tay đều đi theo đường ngắn nhất đến mục tiêu, buộc Trần Minh phải liên tục điều chỉnh chân và trục cơ thể để không bị khóa tại chỗ. Trong chuỗi phản công này, các lựa chọn bị thu hẹp lại, mỗi lần né tránh sẽ mở ra một góc khác cho đòn kế tiếp, còn mỗi lần chặn đòn sẽ giữ vị trí nhưng phải chịu toàn bộ lực truyền vào thân, khiến việc duy trì thế đứng trở nên khó hơn qua từng lần va chạm.
Không gian xung quanh vùng giao đấu bị phá vỡ hoàn toàn, mặt đá nứt vỡ thành nhiều lớp, mảnh vụn bị nghiền nhỏ rồi bắn ra, bụi mịn lơ lửng trong không khí, ánh sáng chiếu qua tạo thành những vệt mờ đan xen. Trong lớp bụi đó, hai thân ảnh liên tục áp sát rồi tách ra trong những khoảng rất ngắn, mỗi lần xuất hiện rõ đều đi kèm một pha va chạm trực diện, pháp khí trắng đen xoáy mạnh quanh Trần Minh, vẫn giữ lực bộc phát cao nhưng phải liên tục điều chỉnh để đối phó với các đòn ép ngắn, trong khi lớp khí xám thép quanh Đông Văn Thành giữ trục ổn định, dồn lực tại từng điểm chạm rồi trả ngược ngay trong nhịp kế tiếp, khiến chuỗi phản công của hắn ngày càng siết chặt không gian di chuyển của đối phương.
Trong khi chuỗi va chạm vẫn đang duy trì ở cự ly ngắn, Trần Minh không tiếp tục giữ nhịp tấn công cũ mà bắt đầu thay đổi cách vận lực, bàn chân dịch ngang theo một cung hẹp, mũi chân xoay làm trục để kéo toàn bộ thân người lệch khỏi đường thẳng đối diện, trọng tâm hạ thấp, hông siết lại để giữ lực ở trung tâm, hai cánh tay chuyển động lệch pha, một tay kéo, một tay ép, khiến pháp khí trắng đen quanh người không còn dồn về một điểm mà phân tách thành hai dòng xoáy ngược chiều, liên tục quấn vào lớp phòng thủ trước mặt. Mỗi lần tiếp xúc không còn nhằm xuyên phá trực diện mà bám vào bề mặt khí xám thép, xoắn và kéo lệch, cố tách lớp lực đang bám sát cơ thể đối phương ra khỏi trục chính.
Đông Văn Thành không phá nhịp di chuyển đó mà giữ vị trí trong phạm vi rất hẹp, chân trước liên tục xoay để điều chỉnh góc tiếp xúc, chân sau giữ lực, hông đẩy lên để ổn định trục, lớp khí xám thép không còn phân bố đều mà dồn thành từng mảng nhỏ tại các điểm chịu lực, mỗi khi dòng xoáy trắng đen quấn vào, bề mặt khí lõm xuống theo hướng xoắn rồi trượt sang một bên, không để lực bám lâu trên cùng một vị trí. Khi lực kéo lệch xuất hiện, hắn không chống lại trực tiếp mà xoay vai theo hướng kéo, đưa quỹ đạo tấn công đi chệch khỏi thân, đồng thời dồn lực xuống chân rồi ép ngược trở lại qua cẳng tay, khiến dòng xoáy bị phá trục và tản ra.
Trần Minh tăng tốc theo hướng xiên, chân sau đạp mạnh, thân người lao lệch sang phải, tay trái mở rộng theo quỹ đạo ngang, pháp khí trắng kéo dài thành một dải mảnh, quét ngang tầm trung nhằm cắt đường di chuyển, trong khi tay phải co lại sát thân, lực dồn từ hông lên vai rồi ép thẳng ra phía trước, pháp khí đen tụ thành một điểm nhỏ, nhắm trực tiếp vào vùng trước ngực đối phương. Hai hướng lực hình thành gần như cùng lúc, một hướng ép không gian ngang, một hướng xuyên thẳng vào trung tuyến, buộc đối phương phải xử lý đồng thời trong cự ly hẹp.
Đông Văn Thành không lùi khỏi phạm vi đó mà bước lên một bước ngắn, chân trước đặt vào vùng vừa bị quét ngang, vai xoay một góc nhỏ để giảm diện tiếp xúc với dải khí trắng, cánh tay nâng lên theo đường ngắn nhất, lớp khí xám thép co lại tại cẳng tay rồi ép dày tại điểm chặn, đỡ thẳng cú đâm từ phía trước. Khi điểm tiếp xúc hình thành, lực xoáy của pháp khí đen ép bề mặt xám thép lõm vào trong, nhưng ngay lập tức, phần khí bị ép đó co lại rồi dội ngược ra theo trục cánh tay, trả lực trực tiếp về phía nắm đấm của Trần Minh, khiến quỹ đạo đâm bị lệch khỏi hướng ban đầu.
Cùng lúc đó, dải khí trắng quét ngang không bị chặn hoàn toàn mà trượt dọc theo vai Đông Văn Thành, phần lực còn lại bị dẫn lệch ra sau lưng, tạo thành một vòng xoáy méo mó trong không khí. Hai luồng lực không triệt tiêu mà xoắn vào nhau, kéo theo bụi đá và mảnh vụn xung quanh bay lên, lơ lửng trong vùng giao lực trước khi bị đẩy bật ra ngoài theo hướng tản.
Trần Minh cảm nhận được lực phản hồi truyền ngược qua cánh tay, không thu tay về mà xoay cổ tay theo hướng ngược lại, cố giữ điểm tiếp xúc thêm một nhịp để kéo lệch lần thứ hai, nhưng Đông Văn Thành đã xoay hông theo, chân sau đạp xuống để giữ trục, cẳng tay hạ thấp rồi đẩy ngang, phá hoàn toàn hướng xoắn đang hình thành, đồng thời thu tay còn lại về sát thân, chuẩn bị cho một đòn phản công trong cự ly ngắn.
Khoảng cách giữa hai người lúc này gần như không còn, mỗi lần dịch chuyển đều nằm trong phạm vi một bước chân, mọi đòn đánh đều xuất phát và kết thúc trong cùng một vùng không gian chật hẹp, lực không có chỗ tản mà dội qua dội lại giữa hai cơ thể. Các dòng pháp khí trắng đen liên tục thay đổi hướng, bám, kéo rồi ép, trong khi lớp khí xám thép giữ trục, co lại tại điểm chịu lực rồi trả ngược theo phương ngắn nhất, khiến mọi nỗ lực kéo lệch đều bị triệt tiêu trước khi hình thành khoảng hở đủ sâu.
Ở phía còn lại của hang động, cự ly giữa ba con quỷ không hề được kéo giãn mà bị giữ trong một phạm vi đủ gần để mọi chuyển động đều trực tiếp va vào nhau, con quỷ sương máu treo lơ lửng trên cao, thân thể liên tục biến dạng, có lúc co lại thành một khối đặc, bề mặt dày lên như bị nén chặt, có lúc lại giãn ra, tách thành nhiều dải sương đỏ kéo dài xuống phía dưới, mỗi dải không buông rơi mà lơ lửng, uốn cong rồi quét ngang như những cánh tay mềm, mỗi lần quét đều ép lớp không khí xung quanh lõm xuống, để lại những vệt lạnh lan ra trên mặt đá.
Con quỷ xiềng xích không đứng yên dưới áp lực đó mà liên tục thay đổi vị trí theo đường vòng, chân đạp xuống nền đá tạo lực bật, thân hình xoay ngang giữa không trung, sợi xích quấn quanh tay được vung ra theo từng nhịp ngắn, không quật dồn mà đánh liên tiếp vào các dải sương đang tách ra, mỗi cú đánh ép phần sương bị kéo căng, xé rời khỏi khối chính, nhưng ngay khi lực vừa rút đi, phần bị tách đó lại co lại, các dải sương xung quanh kéo vào, lấp kín khoảng trống vừa bị mở ra, không để lại vùng rỗng đủ lâu để khai thác.
Ở phía còn lại, nữ quỷ bị khâu mắt và miệng không lao thẳng mà di chuyển sát mặt đất rồi bất ngờ đổi hướng, mái tóc kéo dài theo chuyển động, các sợi tóc không tản rời mà tụ lại thành từng bó, vươn ra theo nhiều hướng, xuyên qua các khoảng trống giữa những dải sương đỏ, khi chạm vào thì siết chặt lại, kéo ngược về phía sau nhằm giữ cố định một phần khối sương. Những sợi chỉ đỏ từ cơ thể nó kéo dài theo từng lần xuất hiện, bám vào bề mặt sương máu, quấn lại thành nhiều lớp, cố tạo ra các điểm neo để hạn chế sự lan tỏa.
Sự va chạm diễn ra liên tục trong một vùng không gian chật hẹp, xích quật ngang, tóc siết chặt, sương đỏ bị xé ra rồi lại tụ lại, nhưng mỗi lần tái hợp, các dải sương không quay về trạng thái ban đầu mà dày hơn, chuyển động chậm hơn nhưng lực ép xuống mạnh hơn. Khi con quỷ xiềng xích vung xích vào phần thân vừa tụ lại, lớp sương không bị xuyên thủng mà lõm xuống, hấp thụ lực rồi bật ngược ra, khiến sợi xích rung mạnh, đường vung bị lệch khỏi quỹ đạo ban đầu. Khi nữ quỷ siết chặt các bó tóc, các dải sương xung quanh không giãn ra mà xoắn lại, ép ngược vào các điểm đang bị khóa, khiến những sợi tóc bị kéo căng, rung lên rồi trượt khỏi vị trí bám.
Những đòn phản công của con quỷ sương máu không xuất phát từ một hướng cố định mà hình thành ngay trong quá trình biến dạng, một dải sương đang co lại đột ngột bắn ngang, quét vào phần thân của con quỷ xiềng xích, lực không tản mà dồn vào một đường hẹp, ép thân hình nó lệch sang một bên, hai chân cắm xuống mặt đá để giữ lại nhưng vẫn bị kéo trượt một đoạn. Một phần sương khác tách ra gần mặt đất, luồn qua các bó tóc đang siết, sau đó co lại rồi bật lên từ phía dưới, đánh thẳng vào phần thân nữ quỷ, khiến lớp hình thể của nó chớp mờ trong một nhịp trước khi kịp tụ lại.
Mỗi lần tiếp xúc như vậy đều để lại dấu vết rõ rệt trên hai con quỷ bị triệu hồi, vùng bị đánh trúng không giữ được độ ổn định như trước, lớp quỷ khí tại đó mỏng đi, mép rìa trở nên nhòe và rung nhẹ, khi chúng cố dồn lực để giữ hình dạng, phần khí xung quanh phải kéo vào bù lại, khiến các vùng khác yếu đi theo. Con quỷ xiềng xích vẫn tiếp tục vung xích, nhưng quỹ đạo không còn giữ được độ chính xác ban đầu, mỗi lần bị phản lực đẩy lệch đều phải mất thêm một nhịp để kéo lại, trong khi nữ quỷ dù vẫn duy trì việc siết và khóa, số lượng sợi tóc giữ được điểm bám giảm dần, nhiều bó vừa quấn chặt đã bị xoắn vặn rồi tuột ra.
Phía sau, hai anh em họ Ngô không còn giữ được nhịp điều khiển ổn định, mỗi lần kết ấn đều phải siết chặt hơn, quỷ khí từ cơ thể dồn ra theo từng đợt rõ rệt, truyền thẳng vào hai con quỷ phía trước, nhưng lượng tiêu hao tăng lên qua từng lần va chạm, khiến thời gian duy trì mỗi đợt lực ngắn lại. Khi con quỷ xiềng xích bị đẩy lệch, họ phải kéo nó trở lại trục, khi nữ quỷ bị đánh bật, họ phải dồn lực để tái lập hình thể, các động tác điều khiển nối tiếp nhau không có khoảng nghỉ, khiến nhịp thở của cả hai bị kéo nhanh, lồng ngực nâng hạ rõ rệt theo từng lần phát lực.
Con quỷ sương máu không còn duy trì chuỗi tấn công dồn dập mà giữ thân thể ở trạng thái lơ lửng gần như ổn định, các dải sương co giãn theo những nhịp đều, nhưng mỗi lần một phần thân thể tách ra đều nhắm vào những khoảng hở rất nhỏ giữa các đòn đánh của đối phương, không đánh vào nơi đang được bảo vệ mà len vào giữa hai nhịp chuyển động, khi sợi xích vừa rút về hoặc khi các bó tóc vừa thay đổi vị trí, rồi co lại và bật ra ngay tại điểm đó. Những chuyển động này không rộng nhưng chính xác, mỗi lần xuất hiện đều đi thẳng vào vùng chưa kịp được che phủ, khiến hai con quỷ còn lại phải liên tục điều chỉnh trong trạng thái bị ép, không giữ được nhịp tấn công ổn định như ban đầu.
Nữ quỷ là điểm bắt đầu lộ ra dấu hiệu không giữ được thế, các sợi chỉ đỏ vốn căng đều quanh không gian giờ bị nhuộm dần bởi lớp huyết khí bám vào từ những lần tiếp xúc trước đó, màu đỏ sậm lan dọc theo từng đoạn chỉ, làm cho kết cấu vốn mảnh nhưng ổn định trở nên nặng và chậm, mỗi lần siết lại đều xuất hiện độ trễ rất nhỏ, các sợi rung lên rồi chùng xuống trước khi kịp kéo căng trở lại. Khi nó dịch chuyển để đổi vị trí khống chế, phần thân vừa kéo đi đã bị các dải sương máu bám theo, kéo ngược lại theo hướng ngược chiều, khiến quỹ đạo di chuyển bị lệch đi, không còn giữ được độ gọn như trước.
Con quỷ xiềng xích vẫn giữ vị trí chính diện, chân liên tục đạp xuống mặt đá để giữ trục, hai tay giật mạnh sợi xích theo từng nhịp ngắn, quật thẳng vào phần sương đang tụ lại phía trước, nhưng mỗi cú đánh không còn tạo ra vùng rỗng rõ rệt, lớp sương chỉ lõm xuống theo hướng lực rồi dội ngược lại, phần huyết khí bị ép đó không tản đi mà bám dọc theo sợi xích, lan ngược lên theo từng mắt xích, làm cho bề mặt kim loại rung lên, quỹ đạo vung bị chậm lại trong nhịp kế tiếp. Khi nó kéo xích về để chuẩn bị cho đòn tiếp theo, phần bị bám dính vẫn còn lưu lại, khiến lực giật không còn dứt khoát, góc đánh lệch khỏi vị trí dự tính.
Phía sau, Ngô Văn Tĩnh siết chặt ấn quyết, lực từ cơ thể dồn ra theo từng đợt rõ rệt, truyền thẳng vào hai con quỷ phía trước, nhưng lượng tiêu hao tăng nhanh khiến mỗi lần phát lực đều kéo theo phản hồi ngược trở lại, hắn cắn chặt đến mức khóe miệng rỉ máu, hơi thở gấp, lồng ngực nâng hạ mạnh theo từng nhịp điều khiển. Ngô Thế Hải giữ pháp quyết phía sau, các ngón tay không còn ổn định mà run nhẹ khi duy trì liên tục, mỗi lần nữ quỷ bị kéo lệch, hắn phải dồn thêm lực để kéo hình thể tụ lại, nhưng ngay khi vừa ổn định, các sợi chỉ đã tiếp tục bị kéo giãn bởi huyết khí bám vào, khiến chuỗi điều khiển không có khoảng nghỉ.
Con quỷ sương máu không tiếp tục duy trì trạng thái tản ra liên tục mà bắt đầu thu lại, các dải sương đang kéo dài đồng loạt co về trung tâm, lớp ngoài ép vào lớp trong, hình thể dần thu gọn thành một khối đặc treo giữa không trung. Áp lực quanh vùng giao đấu giảm xuống trong một khoảng rất ngắn, các dải khí xung quanh không còn bị ép tản mà đứng lại trong trạng thái lơ lửng, như bị giữ lại trước khi thay đổi hướng.
Ngay khi khối sương co lại đến giới hạn, toàn bộ bề mặt rung lên theo một nhịp nén, sau đó từ trung tâm, hàng loạt tia huyết khí mảnh bật ra theo nhiều hướng, không lan rộng thành lớp mà đi thành các đường thẳng hẹp, tốc độ cao, khoảng cách giữa các tia đủ dày để phủ kín vùng không gian trước mặt. Các tia này không tản lực khi bay mà giữ nguyên độ tập trung, xuyên thẳng qua các lớp phòng thủ đang dựng lên.
Con quỷ xiềng xích nâng tay kéo xích lên chắn trước người, các mắt xích chồng lên nhau tạo thành một lớp chặn, nhưng các tia huyết khí không dừng lại ở bề mặt mà xuyên qua từng khe hở giữa các mắt xích, đâm vào thân thể phía sau. Khi điểm xuyên xuất hiện, lớp quỷ khí tại đó bị tách ra, các vết thủng mở rộng theo hướng lan của huyết khí, không khép lại mà tiếp tục bị xé ra khi các tia tiếp theo xuyên qua. Thân hình nó rung lên, chân cắm sâu xuống nền đá để giữ lại, hai tay giật mạnh sợi xích lần cuối nhằm kéo lệch vùng tấn công, nhưng lực không còn đủ để thay đổi hướng các tia đang bay tới, các vết nứt bắt đầu xuất hiện từ bên trong, lan ra theo mạng lưới, cắt qua toàn bộ hình thể. Khi các đường nứt giao nhau, cấu trúc không giữ được nữa, toàn bộ thân thể vỡ ra thành nhiều mảng nhỏ, các mảng này không rơi xuống mà tan ra thành từng lớp quỷ khí rời rạc rồi biến mất trong không trung.
Ở phía sau, nữ quỷ vừa kéo lại các sợi chỉ để tái lập vùng khóa thì đợt huyết khí thứ hai đã quét tới, các sợi chỉ bị kéo căng theo nhiều hướng cùng lúc, tại những điểm giao nhau, lực vượt quá khả năng giữ, từng đoạn đứt rời, các bó tóc đang siết cũng bị tách ra khi các tia xuyên qua, phần thân bị kéo lệch sang một bên. Khi nó cố gom lại, các phần vừa tụ chưa kịp ổn định đã bị lớp sương máu phía sau dâng lên, bao phủ từ dưới lên, các dải sương ép vào nhau, bó chặt toàn bộ hình thể bên trong. Hình dạng của nó bị nén lại, các đường nét co rút, méo lệch rồi tiếp tục bị ép nhỏ hơn, lớp quỷ khí bên ngoài bị bóc tách từng lớp, không giữ được liên kết, cuối cùng vỡ ra thành những mảnh nhỏ rồi tan vào lớp sương xung quanh.
Khi hai nguồn lực bị triệt tiêu, áp lực trong hang động dồn ngược trở lại, các dải sương máu lan rộng ra, ép không khí xung quanh xuống thấp, bụi đá bị đè sát mặt đất, các vết nứt trên nền đá mở rộng thêm. Ngô Văn Tĩnh lùi lại một bước, thân trên mất trục trong tích tắc, hai tay hạ xuống khi dòng lực bị cắt đột ngột, cơ thể chao đảo, hơi thở dồn lên cổ họng, máu còn đọng nơi khóe miệng chưa kịp lau. Ngô Thế Hải chống tay xuống nền đá để giữ cơ thể, vai trùng xuống khi lực điều khiển bị ngắt, ánh mắt dừng lại trên khối sương máu đang lơ lửng phía trước, không còn tiếp tục kết ấn mà giữ nguyên tư thế để ổn định lại hơi thở và trục cơ thể.
Ở trung tâm hang động, khối sương máu không còn tản ra như trước mà dần co lại theo một trục cố định, các lớp sương đỏ xoay quanh nhau theo quỹ đạo ổn định, lớp ngoài ép vào lớp trong rồi lại trượt ra, tạo thành một vòng tuần hoàn khép kín. Những dòng huyết khí không còn văng ra ngẫu nhiên mà di chuyển có hướng, từng lớp chồng lên nhau, giữ khoảng cách đều, khiến toàn bộ hình thể duy trì trong một trạng thái nén nhưng không vỡ. Áp lực từ nó không còn lan thành sóng mà dồn theo từng lớp, ép không khí quanh đó hạ xuống, lớp bụi mịn trên mặt đá bị ghim sát xuống nền, không còn bay lên theo dư chấn như trước.
Khi cấu trúc ổn định, các dải sương bên ngoài bắt đầu tách lớp theo từng phần nhỏ, không bung ra mà trượt khỏi khối chính theo các hướng khác nhau, dừng lại ở những điểm cố định trong không gian. Những điểm đó không ngẫu nhiên mà nằm trên các trục giao nhau giữa vị trí của Trần Minh và Đông Văn Thành, mỗi dải sương dừng lại đều kéo theo một vùng áp lực riêng, tạo thành nhiều điểm khóa chồng lấn lên nhau.
Đông Văn Thành đang giữ nhịp di chuyển quanh Trần Minh thì bước chân lệch đi nửa nhịp khi một dải sương dừng ngay trong quỹ đạo hắn chuẩn bị đặt chân xuống, lớp pháp khí xám thép quanh cơ thể lập tức co lại ở phần tiếp xúc, chuyển từ trạng thái lan đều sang tập trung cục bộ. Vai hắn hạ thấp hơn, trọng tâm dịch sang chân sau, cánh tay nâng lên không phải để tấn công mà để giữ khoảng cách với vùng áp lực mới hình thành. Luồng pháp khí quanh người không còn kéo dài thành vệt như trước mà bám sát da thịt, độ dày tăng lên rõ rệt tại các điểm đối diện trực tiếp với những dải sương đang lơ lửng.
Ở phía đối diện, Trần Minh không tiếp tục ép nhịp mà giữ nguyên vị trí trong một khoảng rất ngắn, hai dòng pháp khí trắng đen quanh tay không tản ra mà co lại, các vòng xoáy chồng lên nhau theo chiều ngược, tốc độ giảm nhưng mật độ tăng, tạo thành một lớp lực nén sát cơ thể. Hắn không đổi góc đứng mà chỉ điều chỉnh nhẹ trục vai và hông, giữ cho cả hai hướng trước và sau đều có thể phát lực ngay khi cần, ánh mắt không rời khỏi các điểm sương đang treo giữa không trung, từng vị trí được ghi nhận như các mốc cố định để tính toán quỹ đạo di chuyển.
Các dải sương không đứng yên hoàn toàn mà dao động rất nhẹ quanh vị trí đã dừng, mỗi lần dao động đều kéo theo biến đổi nhỏ trong áp lực xung quanh, khiến không gian giữa hai người không còn giữ được trạng thái ổn định. Khi Trần Minh dịch chân nửa bước sang trái để đổi góc, một dải sương phía trước lập tức trượt theo một đoạn ngắn, giữ nguyên khoảng cách tương đối với hắn, trong khi dải phía sau Đông Văn Thành cũng lệch đi theo hướng ngược lại, tạo thành một vùng giao cắt mới.
Khoảng không giữa hai người không còn là vùng trống để di chuyển mà bị chia nhỏ thành nhiều lớp, mỗi lớp mang một mức áp lực khác nhau. Khi Đông Văn Thành thử nghiêng người tiến lên một góc nhỏ để thăm dò, lớp pháp khí xám thép ở vai hắn lập tức bị ép lõm xuống theo hướng của dải sương gần nhất, buộc hắn phải xoay lại ngay trong chuyển động đó để tránh bị kéo lệch trục. Cùng lúc, Trần Minh vừa nâng tay chuẩn bị ra đòn thì một dải sương phía trên hạ thấp xuống một khoảng rất ngắn, chặn thẳng vào quỹ đạo dự tính, khiến cú đánh không thể triển khai theo hướng ban đầu mà phải giữ lại.
Các điểm khóa này không tấn công trực tiếp nhưng liên tục điều chỉnh vị trí theo từng chuyển động nhỏ của hai người, mỗi lần họ thay đổi góc đứng hay trọng tâm, ít nhất một dải sương sẽ dịch chuyển theo, giữ cho khoảng cách giữa chúng luôn nằm trong phạm vi khống chế. Không gian vì thế bị bó lại theo từng lớp, các đường di chuyển thẳng dần biến mất, thay vào đó chỉ còn những quỹ đạo cong hẹp buộc phải tính toán chính xác mới có thể đi qua.
Áp lực lạnh không dừng ở bề mặt da mà thấm dần vào bên trong khi các vùng áp lực chồng lên nhau, mỗi lần hít vào, lồng ngực như bị ép chậm lại, nhịp thở kéo dài hơn bình thường. Phía sau, Ngô Văn Tĩnh và Ngô Thế Hải không còn duy trì ấn quyết mà giữ nguyên tư thế, ánh mắt theo dõi từng lần dịch chuyển của các dải sương, bởi chỉ cần một điểm lệch, toàn bộ vùng khóa có thể dịch chuyển theo hướng mới, cuốn cả hai người đang đứng trung tâm vào.