69
0
Sự phát triển của tiểu thuyết ở Việt Nam &
Sự nghiệp viết tiểu thuyết của Vũ Trọng Phụng
Sự nghiệp viết tiểu thuyết của Vũ Trọng Phụng
I. Thể loại tiểu thuyết
1. Khái niệm
Tiểu thuyết là một thể loại văn xuôi hư cấu (thể loại cao cấp nhất thuộc phương thức tự sự), phản ánh bức tranh xã hội rộng lớn và những vấn đề của cuộc sống con người trong tính toàn vẹn, phức tạp, nhiều chiều thông qua nhân vật, hoàn cảnh, sự việc.
2. Đặc điểm
Phân chia theo lịch sử thì tiểu thuyết có hai phần là tiểu thuyết truyền thống và tiểu thuyết hiện đại. Một số đặc điểm của tiểu thuyết là thường dựng cả một không gian có bối cảnh lịch sử, kinh tế, văn hóa rộng lớn, thời gian dài, nhân vật có quá trình phát triển, có nhiều tuyến truyện, nhiều xung đột đa tầng, đặc biệt tiểu thuyết hiện đại tập trung phân tích tâm lý nhân vật sâu sắc. Tiểu thuyết mang bản chất tổng hợp. Nó có thể dung nạp thông qua ngôn từ nghệ thuật những phong cách nghệ thuật của các thể loại văn học khác như sự rung động tinh tế của thơ, xung đột xã hội của kịch, hiện thực thực đời sống của ký; những màu sắc, thanh âm, cấu trúc đối xứng - những thủ pháp nghệ thuật của những loại hình ngoại biên như hội họa, âm nhạc, điêu khắc, điện ảnh; và thậm chí cả các bộ môn khoa học khác như tâm lý học, phân tâm học, đạo đức học và các bộ môn khoa học tự nhiên, khoa học viễn tưởng vân vân. Thêm nữa, về sắc độ thẩm mỹ, trong khi các thể loại văn học khác thường chỉ tiếp nhận một sắc thái thẩm mỹ nào đó để tạo nên âm hưởng của toàn bộ tác phẩm, như bi kịch là cái cao cả, hài kịch là cái thấp hèn, thơ là cái đẹp và cái lý tưởng thì ở tiểu thuyết không diễn ra quá trình chọn lựa màu sắc thẩm mỹ khi tiếp nhận hiện thực mà nội dung của nó thể hiện sự pha trộn, chuyển hóa lẫn nhau của các sắc độ thẩm mỹ khác nhau: Cái cao cả bên cái thấp hèn, cái đẹp bên cái xấu, cái thiện lẫn cái ác, cái bi bên cạnh cái hài..
3. Giá trị
Người ta nói rằng "truyện ngắn chính là cách cưa lấy một khúc đời sống", "mỗi truyện ngắn cần có một ý, một ý thôi", hoặc truyện ngắn "Không có cái gì được thừa". Ngôn ngữ truyện ngắn là ngôn ngữ súc tích, ngắn gọn.. Truyện ngắn chỉ có thể chọn lọc vài ba số phận tiêu biểu, một vài vấn đề cốt tử của đời sống, lấy một tình huống, một kiểu xung đột làm trung tâm. Còn tiểu thuyết bao giờ cũng chứa đựng một dung lượng hiện thực lớn hơn nhiều, có thể chỉ quan tâm đến một cảnh đời, một số phận, nhưng có khi là hàng trăm con người, hàng trăm số phận, đề cập đến hàng loạt các vấn đề đời sống. Cũng vì thế mà thi pháp tiểu thuyết cho phép sử dụng nhiều góc nhìn, nhiều quan niệm, nhiều chiều nhiều tầng lớp thời gian, không gian, ngữ nghĩa, trong khi truyện ngắn chỉ dừng lại ở vài khía cạnh, tâm trạng, đòi hỏi nói ngay, nói gọn, để chừa một khoảng trống để từ đó người đọc suy ngẫm thêm..
Nhưng truyện ngắn không hề nhẹ cân hơn tiểu thuyết về chiều sâu tư tưởng. Ví dụ Chí Phèo của Nam Cao chỉ tập trung vào bi kịch nhân vật Chí Phèo, nhưng qua đó tác phẩm phản ánh được cả một cơ chế làng xã phong kiến, quá trình tha hóa nhân tính và hiện thực khổ cực của nông dân nô lệ bị tước cả quyền làm người. Vậy tại sao tiểu thuyết vẫn có vị thế riêng? Thậm chí người ta còn nói hai thể loại giữ vai trò nòng cốt và xung kích trong văn xuôi của nhiều nước trên thế giới là tiểu thuyết và truyện ngắn?
Nhà khoa học Nga M. Bakhtin đã đề cao vai trò của tiểu thuyết trong hệ thống thể loại văn học thời hiện đại rằng: "Tiểu thuyết là thể loại văn chương duy nhất luôn luôn biến đổi, do đó nó phản ánh sâu sắc hơn sự biến chuyển của bản thân hiện thực. Chỉ kẻ biến đổi mới hiểu được sự biến đổi. Tiểu thuyết sở dĩ đã trở thành nhân vật chính trong tấn kịch phát triển văn học thời đại mới, bởi vì nó là thể loại duy nhất do thế giới mới ấy sản sinh ra và đồng chất với thế giới ấy về mọi mặt. Tiểu thuyết về nhiều phương diện đã và đang báo trước sự phát triển tương lai của toàn bộ nền văn học."
Quả thật, tiểu thuyết chính là thể loại để người ta "cân đo" sức vóc và nội lực của một nền văn học thực sự lớn mạnh. Tiểu thuyết là hình thức nghệ thuật biểu đạt đầy đủ nhất ý thức lịch sử và ý thức cá nhân của một dân tộc ở thời hiện đại. Nếu sử thi từng ghi lại ký ức tập thể trong xã hội cổ đại, thì tiểu thuyết đảm nhận vai trò này trong bối cảnh xã hội phân tầng, đô thị hóa và cá nhân hóa. Ở Pháp thế kỉ 19, bộ liên hoàn tiểu thuyết Tấn trò đời của Balzac không đơn thuần là chuỗi các truyện về những số phận riêng lẻ, mà 2000 nhân vật trong đó liên kết mạch lạc tạo nên một bản đồ khắc họa toàn diện xã hội Pháp nửa đầu thế kỷ XIX từ quý tộc đến bình dân, phơi bày sự hoài nghi, tham vọng, và quyền lực tiền bạc, đặt nền móng cho chủ nghĩa hiện thực phê phán. Tại Nga, Chiến tranh và hòa bình của Leo Tolstoy thông qua hai biến cố lớn là chiến tranh năm 1805 và cuộc xâm lược của Napoleon năm 1812 đã khắc họa chi tiết xã hội Nga đầu thế kỷ 19, từ tầng lớp thượng lưu hào nhoáng đến những người lính bình thường, dựng nên một thế giới lịch sử triết học, nơi cá nhân và vận mệnh dân tộc đan cài. Còn Tội ác và trừng phạt của Fyodor Dostoevsky không chỉ tường thuật tội ác mà đi sâu vào diễn biến tâm lý hoảng loạn, sự méo mó trong tư duy của nhân vật trước và sau khi gây án, phân tích sự tha hóa do lý thuyết cực đoan, chỉ ra hình phạt thực sự nằm ở nội tâm thay vì pháp luật, hướng con người tới sự sám hối và ánh sáng. Ở Trung Quốc, Hồng lâu mộng của Tào Tuyết Cần phơi bày sự suy tàn của một đại gia tộc quý tộc, qua đó phản chiếu cả cấu trúc văn hóa đạo đức thời nhà Thanh. Còn ở Việt Nam thế kỷ 20, có Ngô Tất Tố dùng Tắt đèn để tái hiện sâu sắc cơ chế sưu thuế nông thôn Bắc Bộ và bản chất bóc lột của giai cấp thống trị.
Qua các tác phẩm kinh điển và có giá trị cao này thì ta thấy sức nặng của tiểu thuyết nằm ở khả năng kiến tạo một thế giới nghệ thuật tương đương với thế giới thực: Nó không chỉ phản ánh hiện thực mà còn tổ chức, phân tích và đối thoại với hiện thực ấy. Một nền văn học có hệ thống tiểu thuyết lớn thường là nền văn học đã đạt tới mức độ tự ý thức cao về xã hội và con người. Nơi đó cá nhân không còn hòa tan, mờ nhạt trong cộng đồng mà trở thành trung tâm của xung đột lịch sử. Tiểu thuyết cho phép văn học vượt khỏi chức năng trữ tình và minh họa cho đạo đức để trở thành không gian suy tư triết học. Vì vậy, sự phát triển của tiểu thuyết thường song hành với mức độ phức tạp của đời sống tinh thần dân tộc: Nó là nơi các hệ giá trị liên tục được thử thách, nơi một nền văn hóa tự soi mình trong tấm gương dài hơi, đa thanh và không khép kín của tự sự hiện đại.
II. Tiến trình phát triển tiểu thuyết Việt Nam
Ở Việt Nam tiểu thuyết xuất hiện khá muộn. Như ở trên chúng tớ đã đề cập, tiểu thuyết mang bản chất tổng hợp nhiều đặc điểm của các thể loại văn học. Nên sau một thời gian hàng trăm năm gắn bó với thơ, nước ta phải trải qua một giai đoạn dài phát triển phương thức tự sự và thể loại văn xuôi thông qua truyện truyền kỳ, ký, tùy bút.. Rồi mới thai nghén ra được tiểu thuyết. Nhìn chung thì thời trung đại (từ thế kỉ X đến thế kỉ XIX), hệ thống thể loại văn học Việt Nam ảnh hưởng toàn diện và sâu sắc bởi hệ thống thể loại văn học Trung Quốc cổ điển.
Giai đoạn hình thành
- TK 14-16: Xuất hiện những sáng tác văn xuôi cổ như Lĩnh Nam chích quái, Truyền kỳ mạn lục. Các tác phẩm mới chỉ dừng lại ở việc ghi chép các yếu tố truyền thuyết, thần thoại, cổ tích đến phản ánh những chuyện đời thường thôi, nhưng cũng đặt những nền móng sơ khai cho tư duy thể loại văn xuôi.
- TK 18: Bắt đầu cho thấy sự nở rộ thể loại tự sự với các tác phẩm như Thượng kinh ký sự của Lê Hữu Trác, Vũ trung tùy bút của Phạm Đình Hổ và đặc biệt là Hoàng Lê nhất thống chí, tác phẩm chí xuất hiện với tầm vóc tiểu thuyết, và được coi là tiểu thuyết lịch sử đầu tiên của Việt Nam có giá trị văn học đặc sắc. Hoàng Lê nhất thống chí tái hiện một cách sống động bức tranh xã hội rộng lớn thời vua Lê, chúa Trịnh thông qua kết cấu chương hồi tương tự tiểu thuyết thời Minh-Thanh của Trung Quốc. Giai đoạn trung đại của Việt Nam là văn sử triết bất phân, nên tác phẩm lịch sử này cũng được tính là tiểu thuyết, nhưng tiểu thuyết thời này chưa có đặc điểm rõ ràng, nổi bật, đáp ứng đầy đủ đặc điểm của tiểu thuyết thế giới, vẫn còn rất sơ khai.
Giai đoạn hiện đại hóa
- 1900–1930: Tiểu thuyết quốc ngữ sơ khai: Hồ Biểu Chánh (1912–1930) là đại diện tiêu biểu ở Nam Bộ
Giai đoạn này, chữ Quốc ngữ phổ biến rộng rãi. Báo chí Nam Kì phát triển mạnh mẽ. Tầng lớp thị dân và trí thức mới hình thành. Văn học Pháp thâm nhập sâu vào đời sống văn hóa. Hồ Biểu Chánh từng làm quan trong chính quyền Nam Kì thuộc Pháp, có điều kiện tiếp xúc văn học phương Tây, nên tiểu thuyết của ông nhận sự ảnh hưởng rất lớn. Các tác phẩm của ông bắt đầu có cốt truyện chặt chẽ, không gian rộng lớn, nhân vật được miêu tả nội tâm chi tiết hơn. Tiểu thuyết của ông xoay quanh gia đình, hôn nhân, xung đột giàu nghèo, tái hiện một Nam Bộ đang biến đổi mạnh mẽ dưới tác động kinh tế thị trường và chế độ thuộc địa. Với 60 tác phẩm viết từ năm 1912–1930, ông được xem là người đưa tiểu thuyết Việt Nam ra khỏi hình thức chương hồi truyền thống, là cây bút tiểu thuyết tiêu biểu của Nam Bộ, đặt nền móng cho tiểu thuyết quốc ngữ hiện đại trước khi phong trào Tự Lực văn đoàn và tiểu thuyết hiện thực phê phán bùng nổ ở thập niên 1930.
Giai đoạn chín muồi
- 1930 - 1945: Phải đến những năm 30 của thế kỷ 20, văn học Việt Nam mới xuất hiện tiểu thuyết với đầy đủ tính chất của thể loại hiện đại. Cùng phong trào Thơ Mới, tiểu thuyết hiện đại Việt Nam 1930-1945 có những bước tiến vượt bậc và thành tựu lớn với hai khuynh hướng sáng tác:
+ Khuynh hướng hiện thực phê phán
Tiểu thuyết trở thành công cụ phơi bày bản chất xã hội thuộc địa nửa phong kiến. Một số cây bút nổi tiếng là Ngô Tất Tố, Nam Cao, Vũ Trọng Phụng, Nguyễn Công Hoan, Nguyên Hồng. Tác phẩm nổi bật là Số đỏ của Vũ Trọng Phụng châm biếm xã hội thị dân Âu hóa lố lăng, Bỉ vỏ của Nguyễn Hồng viết về số phận người phụ nữ bị đẩy vào đáy xã hội và Tắt đèn của Ngô Tất Tố khắc họa bi kịch người nông dân dưới ách sưu thuế.
+ Khuynh hướng lãng mạn:
Nhóm Tự Lực Văn Đoàn góp phần định hình tiểu thuyết lãng mạn, đề cao cái tôi cá nhân, khát vọng tự do hôn nhân, tình yêu và cá tính. Nổi bật có Đoạn tuyệt của Nhất Linh, Nửa chừng xuân của Khái Hưng. Nửa chừng xuân kể về cuộc tình trắc trở giữa Mai, cô gái thông minh có cá tính, và Lộc, chàng trí thức thành thị. Mối tình bị bà Án (mẹ Lộc) cấm đoán bởi định kiến phong kiến, dẫn đến bi kịch ly biệt. Tiểu thuyết này không chỉ là câu chuyện tình buồn mà còn là bức tranh phản ánh khát vọng cách tân văn hóa và giải phóng con người khỏi những trói buộc xã hội thời bấy giờ.
Trong thời gian này các thể loại đua tranh nảy nở, ngay cả đến tiểu thuyết cũng có đến 9 hình thức thể loại như: Tiểu thuyết phong tục, tiểu thuyết luận đề, tiểu thuyết luân lí, tiểu thuyết truyền kỳ, tiểu thuyết phóng sự, tiểu thuyết hoạt kê, tiểu thuyết tả chân, tiểu thuyết xã hội, tiểu thuyết trinh thám.
- 1945-1975:
Trong 2 cuộc chiến tranh vệ quốc (chống Pháp và chống Mỹ), đội ngũ các nhà tiểu thuyết Việt Nam đã ngày càng đông đảo (Nguyễn Huy Tưởng, Tô Hoài, Nguyễn Đình Thi, Nguyễn Khải, Nguyễn Minh Châu, Nguyên Ngọc). Ít nhiều tiểu thuyết Việt Nam có thành tựu tiệm cận với thể loại tiểu thuyết-sử thi vốn mang đề tài hoành tráng và dung lượng đồ sộ.
Văn học nói chung và tiểu thuyết nói riêng của thời này bước vào quỹ đạo phục vụ kháng chiến và xây dựng xã hội mới. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, văn học được coi là vũ khí sắc bén, nhà văn cũng là chiến sĩ. Văn học trở thành một phần của sự nghiệp chính trị, xoay quanh hai đề tài chính là đề tài Tổ quốc (bảo vệ đất nước, đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước) và đề tài Chủ nghĩa xã hội (đề cao lao động, ngợi ca những phẩm chất tốt đẹp của người lao động, của con người mới trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc sau ngày giải phóng, hàn gắn vết thương chiến tranh). Nổi bật là tác phẩm Vỡ bờ của Nguyễn Đình Thi và Dấu chân người lính của Nguyễn Minh Châu. Nhân vật thường mang tầm vóc cộng đồng và ngợi ca chủ nghĩa anh hùng. Cảm hứng lãng mạn thể hiện sự lạc quan, niềm tin vào chiến thắng.
Giai đoạn đổi mới
- 1986 đến nay:
Sau 1986, lịch sử tiểu thuyết Việt Nam sang trang mới với những sáng tác của Ma Văn Kháng, Lê Lựu, Bảo Ninh, Nguyễn Huy Thiệp, có nội dung sâu sắc hơn về phản tư, nhìn lại chiến tranh, khai thác chiều sâu tâm lý và thân phận con người, có dấu hiệu manh nha của văn chương hậu hiện đại. Văn học hậu hiện đại là trào lưu văn học phương Tây xuất hiện sau Chiến tranh thế giới thứ hai, kiểu chối bỏ sự thật khách quan tuyệt đối và phá vỡ cấu trúc truyền thống, sử dụng các kỹ thuật như phân mảnh, siêu hư cấu, nghịch lý và châm biếm để thể hiện một thế giới phi trật tự, và thường mang tính chủ quan cá nhân từ góc độ trải nghiệm, cảm nhận, suy tưởng của người viết.
Có thể thấy về số lượng tiểu thuyết ở Việt Nam khiêm tốn hơn so với các nước như Trung Quốc, Nga, Pháp.. Xét về hoàn cảnh lịch sử, khi châu Âu đang ở đỉnh cao của tiểu thuyết (Thế kỷ 19), văn học Việt Nam vẫn đang ngự trị bởi văn vần và thơ Nôm. Quan niệm thẩm mỹ truyền thống của người Việt là đề cao biểu tượng hơn hiện thực, coi trọng sáng tác thơ hơn là văn. Tiểu thuyết hiện đại Việt Nam thực chất chỉ mới bắt đầu từ đầu thế kỷ 2, nhưng phần lớn thế kỷ này chúng ta đã dành để viết nên "cuốn tiểu thuyết bằng máu và lửa" (2 cuộc chiến tranh lớn giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước). Vì vậy, số lượng tiểu thuyết hư cấu có thể ít hơn. Nhưng giá trị hiện thực là vô cùng đồ sộ. Tiểu thuyết Việt Nam luôn gắn chặt với những bước ngoặt lịch sử dân tộc, và mỗi lần lịch sử biến động là một lần tiểu thuyết đổi hình thái.
Như vậy tiểu thuyết Việt Nam đã góp dấn ấn gì cho dòng chảy văn học nhân loại?
Nếu đặt tiểu thuyết Việt Nam trong tương quan với dòng chảy văn học thế giới, cần thừa nhận một thực tế: Nó xuất hiện muộn, non trẻ, phát triển trong điều kiện lịch sử đứt đoạn và phần lớn chịu ảnh hưởng từ các mô hình ngoại nhập. Tiểu thuyết Việt Nam luôn là tấm gương chiếu hậu của những trào lưu, trường phái, khuynh hướng từ quốc tế. Chúng ta còn rất ít khi đưa nó lên được mức độ điển phạm, ngang bằng với cái gốc. Tiểu thuyết của ta không có quy mô trường thiên đồ sộ như Chiến tranh và hòa bình hay tầm khái quát xã hội rộng lớn như Tấn trò đời. Nhưng nói như vậy không có nghĩa là ta hoàn toàn phủ nhận thành tựu của tiểu thuyết Việt Nam trong cuộc hội nhập với các dòng chảy tiểu thuyết trong khu vực và trên thế giới. Việt Nam vẫn ghi được một dấu ấn đặc sắc về tính lịch sử đặc thù và chiều sâu của ý thức sinh tồn trong một dân tộc trải qua chiến tranh, thuộc địa và tái thiết.
Trước hết, tiểu thuyết Việt Nam đã đưa vào văn học thế giới một hình ảnh con người sống trong hoàn cảnh chiến tranh kéo dài nhưng không bị giản lược thành biểu tượng tuyên truyền. Sự chuyển giọng từ sử thi sang phản tư, tiêu biểu ở Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh, đã góp phần mở rộng cách nhìn toàn cầu về chiến tranh: Chiến tranh không chỉ có chiến thắng hay thất bại, mà nó còn có ký ức chấn thương, có sự đổ vỡ niềm tin trầm trọng. Trong bối cảnh văn học hậu chiến thế giới, tác phẩm này thường được đặt cạnh những tiểu thuyết phản chiến khác nổi tiếng như Phía tây không có gì lạ của Erich Maria Remarque để thấy một tiếng nói Á Đông độc lập nhưng tương đồng.
Thứ hai, tiểu thuyết Việt Nam đã góp vào bản đồ văn học thế giới một hình ảnh sống động, chân thực về xã hội thuộc địa. Những tác phẩm như Số đỏ của Vũ Trọng Phụng không chỉ là một hiện tượng châm biếm, mà còn là một minh chứng cho quá trình "bắt chước văn minh" ở các xã hội thuộc địa – một chủ đề có tính toàn cầu trong nghiên cứu hậu thực dân.
Cuối cùng, đóng góp quan trọng hơn cả nằm ở việc tiểu thuyết Việt Nam thể hiện khả năng dung hòa giữa truyền thống tự sự phương Đông và kỹ thuật tiểu thuyết phương Tây. Nó cho thấy quá trình hiện đại hóa không chỉ là sao chép mô hình châu Âu, mà là sự Việt hóa đầy sáng tạo. Sự kết hợp giữa tính trữ tình, nhạy cảm đạo đức Á Đông với cấu trúc tự sự hiện đại đã tạo nên một sắc thái riêng: Tiểu thuyết Việt Nam thường không tuyệt đối hóa cá nhân cực đoan, mà đặt con người trong mạng lưới quan hệ gia đình, cộng đồng, lịch sử. Vì thế, dấu ấn của tiểu thuyết Việt Nam trong dòng chảy nhân loại không phải là một "đỉnh cao khổng lồ", mà là một tiếng nói có kinh nghiệm lịch sử độc đáo, góp phần làm phong phú nhận thức toàn cầu về chiến tranh, thuộc địa, ký ức và căn tính. Trong bản hợp xướng văn học thế giới, đó là một giọng điệu nhỏ nhưng không thể thay thế, bởi nó mang theo lịch sử, tâm thức và nỗi trăn trở của một dân tộc từng nhiều lần phải viết lại chính số phận mình.
III. Sự nghiệp viết tiểu thuyết của Vũ Trọng Phụng
1. Bối cảnh
Trong tiến trình hiện đại hóa tiểu thuyết Việt Nam giai đoạn 1930–1945, sự xuất hiện của Vũ Trọng Phụng không phải là một hiện tượng ngẫu nhiên mà là kết quả tất yếu của hoàn cảnh lịch sử – xã hội đương thời. Xã hội thuộc địa nửa phong kiến lúc bấy giờ đang rơi vào khủng hoảng sâu sắc: Những chuẩn mực đạo đức truyền thống bị lung lay, trong khi hệ giá trị mới lại méo mó và lai căng. Tầng lớp thị dân hình thành và phát triển nhanh chóng trong bối cảnh đô thị hóa, kéo theo sự lên ngôi của lối sống thực dụng, hình thức và giả tạo. Chính trong môi trường ấy, đạo đức giả trở thành một thứ "mỹ phẩm xã hội", che đậy những toan tính vị kỷ và suy đồi. Tất cả tạo nên một "mảnh đất màu mỡ" cho tiểu thuyết hiện thực phê phán phát triển, và Vũ Trọng Phụng đã xuất hiện đúng vào thời điểm mà ngòi bút sắc bén của ông có thể chạm thẳng vào những mâu thuẫn cốt lõi nhất của thời đại bấy giờ.
2. Sự nghiệp viết tiểu thuyết của Vũ Trọng Phụng
Vũ Trọng Phụng sinh ngày 20 tháng 10 năm 1912, quê ở tỉnh Hưng Yên nhưng ông lớn lên và qua đời tại Hà Nội. Ông là một trong những lứa thanh niên Việt Nam đầu tiên được giáo dục bằng tiếng Pháp và chữ Quốc Ngữ. Đó là nguyên nhân khiến ông luôn thần tượng nền văn hóa Pháp và là lớp nhà văn tích cực truyền bá văn học chữ Quốc Ngữ. Sau hai năm làm ở các sở tư như nhà hàng Gôđa, nhà in Viễn Đông, ông chuyển hẳn sang làm báo, viết văn chuyên nghiệp.
Bước vào làng văn bằng truyện ngắn đăng trên báo từ năm 1931, qua đời ở tuổi 27 với cuốn tiểu thuyết còn dang dở, những tác phẩm tiêu biểu của văn nghiệp Vũ Trọng Phụng thuộc về 2 thể tài tiểu thuyết và phóng sự tả chân. Trong đó về tiểu thuyết ông đã viết được 9 cuốn.
Tác phẩm gây sự chú ý của dư luận đương thời đối với Vũ Trọng Phụng là phóng sự đầu tay Cạm bẫy người. Năm sau, cũng trên báo này, ông lại cho in thêm phóng sự thứ hai Kỹ nghệ lấy Tây. Và chỉ với 2 phóng sự này, ông được liệt vào hàng vài ba "nhà văn mở đầu cho nghề phóng sự của nước ta" và được tôn vinh là "ông vua phóng sự của đất Bắc". Mãi đến năm 1934, Vũ Trọng Phụng mới cho ra mắt cuốn tiểu thuyết tâm lý đầu tiên Dứt tình (còn có tên khác là Bởi không duyên kiếp) đăng trên tờ Hải Phòng tuần báo. Với tiểu thuyết này, ông chứng tỏ là "ngòi bút tả chân thực đã khéo léo" và tác phẩm có thể coi là "một bức tranh.. Phỏng theo sự thực của cuộc đời, không tô điểm cho đẹp thêm, cũng không bôi nhọ cho xấu đi" (Tràng An).
Song, sang năm 1936, ngòi bút tiểu thuyết của ông nở rộ, đạt kỷ lục xuất sắc: Chỉ trong vòng 1 năm, 4 cuốn tiểu thuyết được lần lượt xuất hiện trên báo, thu hút sự tìm đọc của công chúng. Đó là Giông tố (trên Hà Nội báo từ số 1-01/01/1936) ; rồi Số đỏ (cũng trên Hà Nội báo, từ số 40, 7/10/1936). Tiếp đó là Vỡ đê (trên báo Tương lai, từ số ngày 27/09/1936) rồi đến Làm đĩ (đăng trên Sông Hương, phát hành tại Huế năm 1936).
Giông tố bắt đầu bằng sự việc lão Nghị Hách - một đại tư sản trong lúc đợi sửa xe đã lừa rồi cưỡng bức cô gái quê Thị Mịch làng Quỳnh Thôn. Trớ trêu thay, Thị Mịch lại có hôn ước từ trước với Long - cậu người làm của con trai Nghị Hách. Từ đây chuỗi kiện tụng đầy mùi bất công và những bi kịch dần cuốn từng nhân vật vào vòng xoáy của nó. Nhân vật Nghị Hách gian manh, dâm ô, dùng tiền bạc và quyền lực để che đậy tội ác, gieo rắc bi kịch cho bao gia đình là công cụ để Vũ Trọng Phụng vạch trần bộ mặt giả tạo của giai cấp thống trị.
Số đỏ chỉ trích nặng nề trong xã hội tư sản ở thành phố Việt Nam dưới thời Pháp thuộc vì trong khi người dân bắt đầu sống theo lối sống xa hoa, tân thời lố lăng thì lại bỏ quên nếp văn hóa truyền thống của Nho giáo. Tác phẩm này mang tính chất hài hước, mỉa mai và cay đắng, khiến độc giả dễ dàng hình dung được. Số đỏ có một hệ thống nhân vật khá phong phú, bao gồm các nhân vật như Xuân Tóc Đỏ – một tên lưu manh, bà Phó Đoan – một người phụ nữ dâm đãng, cô Tuyết – một cô gái ngây thơ, ông Phán – một người đàn ông mọc sừng, ông Joseph Thiết, và một số cảnh sát như Min Đơ, Min Toa.. Những nhân vật này phản ánh thực tế thối nát của tầng lớp thượng lưu đương thời. Trong chương "Hạnh phúc của một tang gia", Số đỏ miêu tả một "đám ma gương mẫu" làm cho những ai đọc tác phẩm này cười tấn bi. Đám tang này như một lễ hội với giai điệu vui tươi và cả những người trẻ lịch sự cũng có thể vừa đi đưa tang vừa trò chuyện, chọc ghẹo và cười đùa với nhau. Số đỏ được xem như tác phẩm lớn nhất của Vũ Trọng Phụng. Một vài nhân vật, câu nói trong Số đỏ đã đi vào ngôn ngữ đời sống hằng ngày. Những cái tên như Xuân Tóc Đỏ, ông Phán mọc sừng, hay cụm từ "Em chã" của cậu Phước, "Hạnh phúc của một tang gia" đã trở thành danh từ, tính từ phổ biến để chỉ sự bịp bợm, giả tạo, sự ỷ lại hoặc tình huống tréo ngoe trong đời sống.
Vỡ đê xoay quanh nhân vật chính là Phú, một trí thức trẻ phải bỏ học vì hoàn cảnh gia đình khó khăn. Lúc đầu, Phú lạc quan và kỳ vọng rằng Chính phủ Bình Dân Pháp có thể mang lại sự đổi thay tích cực cho cuộc sống người dân. Nhưng thực tế đã khiến anh vỡ mộng: Từ việc bị cưỡng ép làm phu đắp đê, chứng kiến cảnh vỡ đê tàn khốc, đến trải nghiệm nạn hạn hán nghiêm trọng và chứng kiến những trò giải trí sa đọa ở chốn thị thành. Những biến cố này giúp Phú nhận ra sự thối nát và bất công của xã hội, cũng như bản chất thật của bộ máy thực dân và tầng lớp quan lại tay sai. Sự thức tỉnh này khiến anh dần quan tâm hơn đến những lý tưởng cách mạng và những người đấu tranh vì đất nước. "Vỡ đê" đã vạch trần sự tàn bạo của thực dân và quan lại, đồng thời phản ánh nỗi đau khổ của người dân nghèo khổ và mô tả sự trỗi dậy của phong trào đấu tranh cách mạng. Tác phẩm được đánh giá cao về giá trị hiện thực và khả năng phê phán mạnh mẽ, làm nổi bật bức tranh xã hội Việt Nam đầy bất công vào thời kỳ đó.
Cuối cùng, Làm đĩ kể về cuộc đời tha hóa của nhân vật Huyền, qua đó phơi bày sự thối nát của xã hội Việt Nam thời Pháp thuộc, nạn mại dâm và lên tiếng thức tỉnh về giáo dục giới tính. Tác phẩm khắc họa quá trình từ một cô gái tử tế trở thành "đĩ" do hoàn cảnh, giáo dục sai lầm và đạo đức giả.
Phong cách viết của Vũ Trọng Phụng thường hài hước và châm biếm, khiến một số người so sánh ông với nhà văn Pháp Honoré de Balzac. Tuy nhiên, các tác phẩm của Vũ Trọng Phụng cũng chứa đựng yếu tố tình dục và miêu tả hiện thực một cách thẳng thắn, dẫn đến nhiều tranh cãi trong suốt cuộc đời của ông. Nhà cầm quyền thực dân Pháp ở Hà Nội triệu ông ra tòa vì tội "xúc phạm đạo đức công cộng," với lý do lối viết và chủ đề tình dục của ông.
Vũ Trọng Phụng mất ngày 13 tháng 10 năm 1939 do bệnh lao phổi, khi mới 27 tuổi.
3. Phân tích
Từ nghìn năm trước người ta đã nói rồi: Lập ngôn cùng với lập đức, lập công là ba sự nghiệp bất hủ của người đời. Còn Lý Bạch trong bài Giang Thượng Ngâm còn nói thêm: "Khuất Bình tứ phú huyền nhật nguyệt, Sở Vương đài tạ không sơn khâu" (Thơ phú của Khuất Nguyên lưu truyền soi sáng cùng mặt trăng, mặt trời/Còn lâu đài của vua Sở ngày nay chỉ còn là núi gò) Câu thơ ca ngợi việc lập ngôn bền vững, cao đẹp hơn lập công, lập đức. Lập ngôn ở đây là việc sáng tác, phát biểu hoặc truyền đạt các tư tưởng, quan điểm, và tri thức sâu sắc thông qua lời nói hoặc văn tự để lại cho đời sau, còn lập công, lập đức là chỉ quyền lực, vật chất. Người nắm quyền lực như Sở Vương có thể biến mất, di tích trở thành hoang phế, nhưng văn chương, tinh thần của bậc tài danh như Khuất Nguyên sẽ vẫn tồn tại mãi mãi, soi sáng nhân gian như nhật nguyệt. Điều đáng nói ở đây là, cuộc đời và tác phẩm của Vũ Trọng Phụng đã cung cấp cho ta một bằng chứng thật quý hiếm, đầy sức thuyết phục về chân lý ấy.
Phía trước chúng tớ đã nói rằng có một thời gian dài tiểu thuyết của Vũ Trọng Phụng không được số đông đón nhận tích cực. Nhớ lại không khí căng thẳng của đời sống văn học những năm 60, 70 của thế kỷ trước, có vụ Nhân văn - Giai phẩm như một cao trào của không khí đấu tranh tư tưởng gay gắt trong đời sống văn nghệ, khi vấn đề tự do sáng tác và quan hệ giữa văn học với chính trị bị đặt dưới sự kiểm soát chặt chẽ, kéo theo những cuộc phê phán, quy kết nặng nề đối với nhiều khuynh hướng và tác giả văn học tiền chiến. Sau vụ đó người ta đổ lên đầu Vũ Trọng Phụng đủ mọi tội lỗi ghê gớm nhất: Trốt-kít, chống cộng, đạo văn, đầu cơ chính trị, mật thám cho Tây, lưu manh, truỵ lạc, chỉ có độc cái tài xỏ xiên, văn chương thì dâm uế, tự nhiên chủ nghĩa, thuộc dòng văn học phục vụ giai cấp tư sản mục nát v. V.. Người ta đã vùi Vũ Trọng Phụng xuống tận bùn đen. Ấy vậy mà chỉ mươi năm sau, tác phẩm Vũ Trọng Phụng, như những mầm cây đầy nhựa sống, lại tiếp tục vươn lên, chọc thủng lớp lớp bùn đất, nảy nở tốt tươi, đơm hoa, kết trái dưới ánh sáng mặt trời.
Theo lời của những nhà văn quen biết Vũ Trọng Phụng (Nguyễn Tuân, Vũ Đình Liên, Bùi Huy Phồn, Lưu Trọng Lư, Như Phong, Nguyên Hồng), Vũ Trọng Phụng không biết đánh bạc, sống rất đứng đắn, mực thước. Đối với mẹ, là một người con chí hiếu, đối với vợ, là một người chồng mẫu mực, đối với bạn bè, đồng nghiệp, tuy nghèo túng thật, nhưng ứng xử rất đàng hoàng, đầy tự trọng.. Thế mà đọc tác phẩm của ông, ta thấy ông viết về các mánh khoé cờ bạc như một tay sành sỏi. Và thế giới nhân vật của ông thì đầy rẫy những thằng cha đểu giả, xỏ xiên, bịp bợm, dâm ô, độc ác.. Đọc Kỹ nghệ lấy Tây, thấy có nhân vật xưng "tôi" - người kể truyện - đích thân lên tận Thị Cầu (Bắc Ninh), vào hẳn cái làng me Tây bên trại lính lê dương để điều tra sự thật. Cơm Thầy cơm Cô cũng vậy. Vẫn cái nhân vật xưng "tôi" ấy đóng vai một anh cơm thầy cơm cô, thâm nhập vào thế giới những con sen, thằng nhỏ, chị vú, anh bồi để tìm hiểu thực tế. Nhưng sự thật có phải thế đâu! Vũ Trọng Phụng bịa đặt, hư cấu ra thế thôi. Vậy thì giải thích như thế nào về những bức tranh hiện thực rất chân thật, rất sinh động trong các tác phẩm của ông? Thế thì chúng ta phải nghe một chút câu chuyện về xuất thân và cuộc đời của Vũ Trọng Phụng dù bài này ta đang đi tìm hiểu về sự nghiệp viết tiểu thuyết của ông.
Khả năng của nhà văn hiện thực phê phán này có lẽ nằm ở tư tưởng nghệ thuật của riêng ông. Đó là tập hợp lý trí, tình cảm, cảm xúc, cả tiềm thức, vô thức, được huy động triệt để trong giờ phút cảm hứng vào việc nhận thức và diễn tả thế giới. Nó tạo ra ở tâm hồn nhà văn một thứ nam châm riêng có khả năng bắt lấy, hút lấy rất nhạy và làm sống dậy trong trí tưởng tượng của người viết tất cả những gì đáp ứng yêu cầu của nó, kể cả những tư liệu gián tiếp thu lượm từ sách vở báo chí hay nghe ai đó thuật kể lại. Vũ Trọng Phụng là người rất ham đọc, ham học. Ông là một nhà báo, nên phải đọc đủ thứ sách vở, báo chí, tiếng Tây, tiếng ta để nhặt tin tức. Ông lại có một người bà con tên là Trưởng Tạo cùng ở một căn hộ, người tầng trên, người tầng dưới. Trưởng Tạo là tay ăn chơi lõi đời, rất thạo các ngón cờ bạc. Ông ta là một kho tư liệu sống, thường xuyên cung cấp "thực tế" cho Vũ Trọng Phụng.
Tất nhiên tư tưởng nghệ thuật cũng có nguồn gốc từ đời sống thực tế. Nó được hình thành ở nhà văn từ tuổi ấu thơ, do tác động của môi trường sống, bao gồm môi trường gia đình, môi trường xã hội, môi trường thiên nhiên, môi trường văn hóa. Vũ Trọng Phụng xuất thân trong một gia đình dân nghèo thành thị, mồ côi cha từ nhỏ, nhà có bệnh lao gia truyền (ông nội, ông thân sinh và bản thân Vũ Trọng Phụng đều mất sớm vì bệnh lao. Khi Vũ Trọng Phụng qua đời, cảnh nhà rất bi thảm: Ba người đàn bà góa trong một gia đình). Vũ Trọng Phụng học hết bậc tiểu học đã phải đi làm để kiếm sống. Chạy được chân thư ký quèn cho một nhà in, rồi một hãng buôn, thì cả hai lần đều bị sa thải vì nạn kinh tế khủng hoảng. Một thiếu niên vừa bước chân vào đời thì mọi con đường lập thân, lập chí đều tắc nghẽn hết. Hoàn cảnh ấy đã tạo ra ở Vũ một tâm trạng phẫn uất mãnh liệt đối với cái xã hội mà ông gọi là "chó đểu" - một xã hội mà kẻ có quyền, có tiền làm chủ tất cả, chi phối tất cả. Tư tưởng nghệ thuật của Vũ Trọng Phụng được tạo nên từ đó. Ông lại sống chủ yếu ở phố Hàng Bạc, trong một căn gác xép. Vùng phố này là một trong những trung tâm buôn bán và ăn chơi của Hà Nội. Kề chung quanh là Hàng Đường, Hàng Đao, Hàng Buồm, Đồng Xuân, Mã Mây, Sầm Công, Tạ Hiện, nhan nhản những tiệm ăn, tiệm hút, rạp tuồng, rạp hát.. Cạnh nhà Vũ Trọng Phụng lại sừng sững dinh cơ của bà Bé Tý, một mụ me Tây cao cấp nổi tiếng một thời. Vậy là hàng ngày giễu qua giễu lại trước mắt Vũ Trọng Phụng là một thế giới nhân vật, như muốn trêu ghẹo, chọc tức ông: Giàu là con buôn, me Tây, bọn công tử bột ăn chơi, nghèo là bồi săm, bồi tiêm, ma cô, lưu manh, gái điếm.. Tất nhiên ở đâu chẳng có những người dân lương thiện. Nhưng với tâm trạng phẫn uất, thái độ bi quan, cái nhìn của Vũ dễ bị hút nhiều hơn về phía đen tối của "nhân loại", dễ bắt lấy nhiều hơn những mặt trái của cuộc đời.
Tạo ra thế giới nhân vật của Vũ Trọng Phụng, vẽ ra những bức tranh hiện thực của Vũ Trọng Phụng, là cái tư tưởng nghệ thuật ấy. Một số kiếp đầy bất hạnh, một cuộc đời "Tài cao, phận thấp, Chí khí uất" (Tản Đà), một tâm trạng căm thù không bao giờ nguôi đối với cái xã hội "chó đểu" ngày trước, đó là nguồn gốc tài năng của Vũ Trọng Phụng, là linh hồn của chủ nghĩa hiện thực có sức công phá ghê gớm của Vũ Trọng Phụng.
Viết văn, nhất là viết tiểu thuyết, phải có khả năng khái quát tổng hợp. Không phải khái quát bằng những khái niệm trừu tượng thuộc lý trí mà bằng sức mạnh tưởng tượng: Tạo ra một thế giới nghệ thuật có khả năng phản ánh một cách tổng hợp những mảng hiện thực rộng lớn của xã hội trong một thời kỳ lịch sử.
Nam Cao và Vũ Trọng Phụng đều có khả năng ấy, nhưng họ thực hiện ngược chiều nhau. Nam Cao thường đi từ những cái nhỏ nhặt đời thường, từ một điểm vi mô mà nâng lên, khái quát lên bằng suy tưởng triết lý, đến những vấn đề ở bình diện vĩ mô, có khi liên quan đến vận mệnh của cả đất nước, của cả nhân loại. Vũ Trọng Phụng thì ngược lại: Thâu tóm, dồn nén cả một xã hội, cả một thời đại vào trong vài trăm trang sách. Như Giông tố chẳng hạn, biết bao nhân vật sinh sống trên nhiều vùng đất khác nhau, thành phần xã hội và số phận khác nhau, cứ đan chéo vào nhau, đâm sầm vào nhau, huých đạp lẫn nhau, tạo nên bao cảnh lên voi xuống chó, xuống chó lại lên voi, đầy tính bi hài..
Không nên hiểu khái quát tổng hợp ở đây là cứ theo dòng tự sự đơn tuyến, lần lượt miêu tả, thuật kể vùng đất này rồi vùng đất khác, cảnh ngộ này rồi cảnh ngộ khác, loại người này rồi hạng người khác một cách rời rạc. Vũ Trọng Phụng không làm như thế. Ông sáng tạo ra một xã hội hẳn hoi, vận hành theo quy luật nội tại của nó. Những số phận cá nhân có vẻ rất ngẫu nhiên, như là do vận may vận rủi bày ra như vậy, kỳ thực đều bị chi phối bởi những quy luật tất yếu và nghiệt ngã của xã hội một thời.
Hầu hết các tiểu thuyết của Vũ Trọng Phụng được xếp vào thể loại tiểu thuyết phóng sự. Nhà nghiên cứu Phạm Thế Ngũ trong công trình Việt Nam văn học sử giản ước tân biên (gồm 3 tập, xuất bản năm 1961) đã đưa ra nhận xét rằng: "Bước sang giai đoạn 1932, với sự phát triển của báo chí một loại văn mới, thích hợp với tờ báo được tung ra: Bài phóng sự. Tác giả, nhà báo, đến tận nơi hỏi han điều tra về một cảnh sinh hoạt, một nghề nghiệp, một hạng nhân vật, rồi cứ sự mắt thấy tai nghe mà chép lên báo. Ở hình thức giản dị nhất thì đó chỉ là một tường thuật, nhằm cái mục đích chung của tờ báo là thông tin, giúp độc giả trông nghe những điều xa xôi ẩn dấu mà có thật. Phóng sự khi đó khác với tiểu thuyết bởi vì tiểu thuyết cần sự xếp đặt cho thành một câu truyện, sự góp sức chủ quan của tác giả, của trang sức văn chương, cho thành một sáng tác có màu văn nghệ, còn phóng sự chỉ là hình ảnh chụp lại sự thật một cách vô tư, những hình ảnh vụn vặt và khách quan. Tuy nhiên nhiều bài phóng sự, dưới một cây bút nhà văn, sự việc được tập trung quanh một đề tài, trình bày cho ra mọi thứ mục gót đầu, cảnh tình, nhân vật, nhất thiết linh động, cuối cùng lại nói lên một ý nghĩa chung, những bài ấy ta đọc thấy thú vị và cũng không xa tiểu thuyết là bao. Lại có trường hợp, tuy câu truyện bịa đặt, nhưng chỉ bịa đặt có những danh riêng còn sự việc, khung cảnh là thật, tác giả lại chủ ý công hiên cho ta những tài liệu thật vê xã hội, phong tục, tỉ mỉ, khi đó thiên phóng sự tiến đến biên giới tiểu thuyết và gọi là tiểu thuyết phóng sự".
4. Đóng góp của Vũ Trọng Phụng cho kho tàng tiểu thuyết của Việt Nam
Di sản văn chương mà Vũ Trọng Phụng để lại là vô cùng quý giá, dồi dào chất hiện thực của cuộc sống đương thời, quyết liệt trong sức mạnh tố cáo, phê phán những cái xấu xa, đồi bại, bất công của một xã hội thối nát, trong đó người lao động lương thiện bị bóc lột, đè nén, bị bần cùng và tha hóa, bên cạnh đó tầng lớp trên thì ăn chơi trác táng, xa hoa, phè phỡn, lố lăng. Ông cho rằng xã hội đương thời với những vết thương trầm trọng, thối rữa đến tận xương tủy như thế thì có gì phải giấu giếm. Phải vạch trần chân tướng xấu xa của nó, phanh phui những ung nhọt của nó, từ đó làm cho dân chúng căm hờn, phỉ nhổ vào những tệ nạn, bất công mà đấu tranh cho sự công bằng và những điều tốt đẹp. Ví dụ viết Làm đĩ, phẫn nộ lên án cái dâm đãng đồi trụy, nhơ nhớp, ông đòi hỏi con người phải được giáo dục chu đáo từ nhỏ để có sức vượt lên cái bản năng thấp kém, bài trừ những sự quá đáng trong sinh hoạt dục tình của người ta, để cảnh tỉnh, chế ngự những mặt trái của hiện tượng thuộc tâm sinh lý có tính chất xã hội phổ biến này (xoay quanh 3 khía cạnh: Tả những cái dâm đãng trong sự phú quý để phê phán sự ích kỷ, hưởng lạc; tả cái dâm ở tuổi dậy thì của người con gái và đề xuất cần phải giáo dục trẻ em về sự dâm để tránh hư hỏng về sau này; tả nạn mại dâm do nghèo đói, thống khổ mà có để khống chế nó). Các tác phẩm của ông có thể được xem là trợ thủ đắc lực trong cuộc đấu tranh lâu dài vì tiến bộ, dân chủ, dân sinh và công bằng xã hội.
Bên cạnh nội dung hiện thực sắc sảo, Vũ Trọng Phụng còn làm giàu đáng kể cho thi pháp tiểu thuyết hiện đại. Nghệ thuật trào phúng trong sáng tác của ông không dừng ở tiếng cười đả kích đơn thuần mà đạt đến tầm tư tưởng, trở thành công cụ nhận thức và phê phán xã hội. Kết cấu tác phẩm chặt chẽ, giàu kịch tính, các tuyến nhân vật được tổ chức theo logic phát triển của mâu thuẫn xã hội, tạo nên một chỉnh thể nghệ thuật có sức nén cao. Nhân vật của ông được xã hội hóa ở mức độ sâu sắc: Họ mang tính điển hình không phải vì bị giản lược, mà vì hội tụ những đặc điểm bản chất nhất của một tầng lớp đang vận động và biến dạng. Chính nhờ những đóng góp ấy, Vũ Trọng Phụng không chỉ là một cây bút nổi bật trong văn học 1930–1945, mà thực sự là một đỉnh cao của tiểu thuyết hiện thực phê phán Việt Nam trước Cách mạng tháng Tám.
Tiếp bước các nhà văn đi trước như Nguyễn Công Hoan, Ngô Tất Tố, Vũ Trọng Phụng, các nhà văn lớp sau: Nguyên Hồng, Tô Hoài, Mạnh Phú Tư, Nguyễn Đình Lạp, Nam Cao.. Xuất hiện vào đầu những năm 40 của thế kỷ trước đã giương cao ngọn cờ của văn học hiện thực, đem lại những thành tựu mới cho trào lưu văn học này.
Kết
Vậy là từ chỗ "thiếu thiếu một thể loại quen thuộc" trong chương trình học, hôm nay chúng ta đã lần theo hành trình của tiểu thuyết, từ những mầm mống tự sự trung đại đến sự nở rộ hiện đại, từ những bước đi chập chững của quốc ngữ đến những thành tựu phản tư hậu chiến. Nếu sử thi từng lưu giữ ký ức cộng đồng thời cổ đại, thì tiểu thuyết chính là tấm gương dài hơi để một dân tộc thời hiện đại soi chiếu chính mình.
Trong dòng chảy ấy, Vũ Trọng Phụng không chỉ là "ông vua phóng sự đất Bắc", mà còn là một trong những người đã đẩy tiểu thuyết Việt Nam đến trình độ tự ý thức sâu sắc về xã hội. Ông gom cả một thời đại hỗn loạn vào vài trăm trang sách, dựng nên một thế giới nơi cái bi và cái hài đan cài, nơi con người bị ném vào guồng quay quyền lực và tiền bạc, và nơi văn chương trở thành lưỡi dao mổ xẻ hiện thực không khoan nhượng.

