wonjieon

W.J.E CATAN
3 ❤︎ Bài viết: 0 Tìm chủ đề
2285 0
Trăng Trôi Về Đâu

Tác giả: W. J. E. CATAN

Thể loại: Phiêu lưu, kỳ ảo, trinh thám, lãng mạn, phương Tây


RHN9k5P.png


Giới thiệu truyện:

Bạn có tin vào sự tồn tại của những người dẫn lối linh hồn? Hãy cùng theo chân Ann khám phá một thế giới mới sau khi qua đời trong một vụ án mạng. Đó là một thế giới lạ lẫm, bạo lực, đói nghèo, và có phần không-theo-kịp-thời-đại so với thế giới trước khi em mất.


Ở nơi hoàn toàn xa lạ, em phải đối mặt với nhiều khó khăn thách thức: Không hiểu ngôn ngữ, thiếu cái ăn, đời sống vật chất thiếu thốn. Điều khó khăn nhất là em phải sống trong hình hài một đứa bé gái nhỏ xíu với khuyết tật trên cơ thể. Người duy nhất em có thể nương tựa là cậu bé chăn cừu đã cưu mang lấy mình.

Trong hành trình khám phá vương quốc và tìm cách trở về thế giới của mình, em đã gặp chàng hiệp sĩ khiến em đem lòng ngưỡng mộ. Tình cảm ấy cứ âm thầm như thế, mong ngóng một ngày có thể kết trái đơm hoa.

Nhưng đứa trẻ mà thể xác của nó đang bị em chiếm giữ, lại là trung tâm của vòng xoáy tranh giành quyền lực chính trị ở thế giới này. Những ngày yên ả còn tồn tại được đến bao giờ? Khi các bí mật dần được hé lộ, Ann phải đối mặt với những lựa chọn khó khăn và trách nhiệm không thể tưởng tượng nổi. Liệu em có thể trở về, ngay cả khi phải hy sinh sự tự do, máu và nước mắt của bản thân mình?
 
Chỉnh sửa cuối:
3 ❤︎ Bài viết: 0 Tìm chủ đề
Chương 1: Khởi đầu

Có lẽ ai đó đang ôm tôi.

Thật khó để cảm nhận được rõ hành động ấy là gì vì mọi giác quan của tôi hiện giờ đã hoàn toàn tê liệt. Trước mắt tôi là màn đêm, hoặc tôi cho là thế, vì lần cuối cùng tôi còn nhận thức được mình đã chết, thế giới mà tôi thấy chỉ hiện hữu một màu đen thăm thẳm, trống rỗng đến tột cùng. Vậy thì nhìn thấy và không nhìn thấy có khác gì nhau? Tôi chỉ là một mảnh linh thể bơ vơ trôi dạt trong một không gian cô độc, không thanh, không hương, không ảnh, không tồn tại bất cứ điều gì. Ở miền câm lặng ấy, tôi đã để mặc nỗi thống khổ dày xéo tâm can, chẳng thể làm gì ngoài cuộn tròn trong nỗi đớn đau mà khóc nghẹn. Nếu cơ thể tôi còn tồn tại, hẳn là tôi đã vùi đầu vào đôi cánh tay và chui vào một góc, như cái cách tôi vẫn nhốt mình trong tủ áo thuở thiếu thời. Cơ thể tôi đã trôi đi đâu, hay nó vẫn còn ở đó, vẫn gắn liền với linh hồn này nhưng lại chẳng còn thuộc về tôi nữa? Tôi đã nghĩ nhiều về điều đó.

Nhưng khi thời gian chậm chạp trôi qua, khi những hình ảnh trong quá khứ cứ liên tục tái hiện trong ký ức tôi vô vạn lần như một cuốn băng không bao giờ kết thúc, đến một thời điểm, tôi nhận ra có tiếc nuối và hối hận cũng chẳng để làm gì. Tất cả đã không còn quan trọng. Điều đã xảy ra trong quá khứ chẳng thể nào thay đổi được. Tôi đã chết. Việc một người chết có thể làm chỉ là nhắm mắt xuôi tay, thế thôi.

Một linh hồn hoàn toàn mất đi đợi chờ và hy vọng, nó đã chọn chôn vùi bản thân trong một giấc ngủ vĩnh hằng.

Nhưng khoảnh khắc người đó bao bọc lấy tôi, tôi biết mình đã được đánh thức sau một cơn mê say đã kéo dài gần như vô tận.

Hơi nóng từ dáng hình to lớn truyền vào linh hồn tôi, bế tôi băng qua màn đêm, lao vào một vùng thiên hà bao la ngập tràn những hạt pha lê lung linh giữa không trung huyền ảo. Liệu đã đến mùa thu hoạch trên cánh đồng rồi chăng? Vì những hạt giống mà thánh thần đã gieo giữa vũ trụ rộng lớn cô đơn đã đâm hoa kết quả thành một cảnh tượng tráng lệ phi thường trên cánh đồng bạt ngàn tinh vân và thiên thể. Khí và bụi vũ trụ cuồn cuộn quấn vào nhau, tạo thành những bụi liên sao hấp thụ ánh sáng từ những vì tinh tú, như thể pha trộn giữa sức mạnh tai ương thảm khốc và phép màu rực rỡ diệu kỳ.

"Đẹp quá!" Tôi thốt lên. Thật khó để miêu tả vẻ đẹp ấy bằng bất cứ mỹ từ nào. Tôi chỉ muốn giơ tay chạm vào chúng, nắm lấy chúng trong lòng bàn tay, để chúng len lỏi vào mọi ngóc ngách linh hồn mình, cho đến khi tôi chầm chậm tan ra, vĩnh viễn chỉ còn là một phần của vũ trụ.

Như thể hiểu điều tôi đang nghĩ, bóng hình đang bế tôi chợt bật cười.

"Chúng ta đi đâu vậy ạ?" Tôi hỏi.

"Một nơi để em có thể sống." Người ấy đáp lời.

Một nơi để tôi có thể sống? Thế gian này còn tồn tại nơi ấy sao?

Tôi khẽ cười, một nụ cười cay đắng.

Rồi tôi nhìn người.

Bóng hình ấy trong veo như sương, dáng vấp như một con gấu to khổng lồ đang đứng bằng hai chân sau, với đôi tai tròn tròn xinh xắn, chiếc mõm dài, và bộ móng vuốt thô kệch. Tôi chưa từng trông thấy gấu. Nhưng so với những gì tôi biết về loài gấu, vị thần gấu này trông hiền lành hơn nhiều, lông rất mềm, cơ thể rất ấm áp. Hẳn ngài là hiện thân của chòm Đại Hùng [1], đến để đưa tiễn linh hồn lang thang này trên quãng đường ngắn ngủi còn lại. Thế cũng tốt thôi. Một chút hơi ấm này cũng đã tiếp cho tôi dũng khí, để khi tan biến tôi không hóa thành một hạt bụi lạnh lẽo cô độc cõi hư vô.

"Vâng, tùy ngài." Tôi ngoan ngoãn đáp.

Chúng tôi tiếp tục lao băng băng giữa vũ trụ bao la, rất lâu, rất lâu, chẳng ai nói với ai lời nào nữa.

Thỉnh thoảng tôi lại ngủ thiếp đi, và trong cõi mơ màng tôi thấy không gian xung quanh hoàn toàn biến dạng, cùng với đó là những tiếng vun vút như có gió lướt qua. Dường như tôi đã được chứng kiến hình dạng vật lý của âm thanh khi di chuyển nhanh, hệt như trong những bộ phim khoa học viễn tưởng.

Càng rời xa hệ mặt trời, cảnh vật càng rực rỡ tráng lệ. Mãi rất lâu sau đó, khi rời khỏi Ngân Hà mang hình dạng của một chiếc đĩa CD tròn dẹt, chúng tôi lại bước vào một vùng không gian tối, nơi không tồn tại bất cứ thiên hà nào [2] .

Nhờ thiếu ánh sáng, tôi mới phát hiện ra nơi chúng tôi đã đi qua rơi ra thứ gì đó vàng vàng, nhỏ như bụi và lấp lánh như kim tuyến. Bụi sáng ấy không tan đi mà lưu lại giữa không trung, vẽ nên một con đường ảo diệu uốn khúc nổi bần bật giữa không gian đen tuyền. Cuối con đường ấy, trông như có một chú hươu ánh bạc đang nhâm nhi những hạt bụi vàng. Cặp sừng của nó rất oai phong, nhiều nhánh chĩa ra như tán cây, kích thước to hơn hẳn thân hình của nó. Không biết nó đã đi theo chúng tôi từ lúc nào. Trông nó có vẻ rất đói ăn. Thế là tôi vỗ vai ngài Gấu, thỏ thẻ với ngài.

"Ngài ơi, xin ngài dừng chân một chút được không?"

"Sao vậy? Em mệt à?"

"Không phải thưa ngài. Ngài nhìn đằng kia xem, chú hươu kia cứ đi theo chúng ta mãi. Ngài tiến một bước nó lại tiến một bước, mãi chẳng thể đuổi kịp chúng ta. Giữa hư không thế này mà chu du lẻ loi như thế thì buồn lắm. Chi bằng chúng ta đợi nó đến cùng đi. Có thêm một người bạn đồng hành sẽ vui hơn nhiều, ngài có nghĩ thế không?"

"Ai? Nó ư?" Ngài Gấu vừa nhìn về phía con hươu, vừa bật cười thành tiếng. "Đấy là em trai ta. Nó chỉ đang làm việc của mình thôi, em không phải lo lắng đâu."

"Nhưng.." tôi định thuyết phục ngài ấy thêm một chút nhưng lại thôi. Ngài ấy đã nói chú hươu ấy đang làm việc, nếu cố nói mãi liệu ngài có giận không, có mắng tôi không. Tôi đành im lặng chẳng dám nêu ý kiến của mình nữa.

Có lẽ đã cảm nhận được suy nghĩ của tôi, ngài Gấu lặng lẽ đáp xuống một thiên thạch cằn cõi, đặt tôi xuống nhưng vẫn ngồi trong lòng ngài, cùng tôi ngóng trông chú hươu kỳ lạ đang ở tít xa kia.

"Ngài có nghĩ chúng ta đang bốc cháy hệt như ngôi sao băng không?" tôi hỏi, "thứ bụi vàng kia giống như tàn tích rơi ra từ ngôi sao khi nó bay vào quỹ đạo trái đất vậy."

"Không phải đâu. Đó là những nỗi muộn phiền em đã rũ bỏ khỏi linh hồn mình." Ngài Gấu đáp.

"Những nỗi muộn phiền của con nhiều như thế kia ư? Chẳng trách mà khi còn sống con đã chẳng thế nào chịu đựng nổi." Giờ đây khi đã ngồi yên một chỗ, tôi vẫn trông thấy những hạt bụi sáng không ngừng rơi ra, trôi lửng lờ, cuốn theo mọi tàn dư của một kiếp sống tù đày bạt bẽo. "Vậy kiếp sau con có thể sống một cuộc đời hạnh phúc đúng không?" Tôi hỏi nửa đùa nửa thật, vì đã đoán được phần nào kết cục của mình.

Nhưng câu trả lời của ngài Gấu hoàn toàn không hề như dự đoán.

"Ta sẽ cố để em được hạnh phúc."

Tôi quay người ngẩng đầu nhìn vào mắt ngài. Đôi mắt ngài rất hiền, rất chân thành, chẳng có vẻ gì hung tợn, cũng chẳng giống như đang nói ngọt để dỗ dành một đứa trẻ con. Tôi không hiểu ý ngài là gì. Liệu rằng ngài sẽ sắp xếp số mệnh cho tôi? Ngài là thần Đại Hùng, hẳn là ngài có thể an bài vận kiếp con người bằng cách kết nối những vì sao.

"Vậy ngài có thể xem xét lấy đi của con cảm giác đau buồn và sợ hãi trước khi ban cho con cơ hội được sống thêm lần nữa không? Nếu cứ mãi lo lắng khổ sở như kiếp trước thì con sẽ không bao giờ hạnh phúc được."

Ngài khẽ xoa đầu tôi, mỉm cười.

"Một con người không biết buồn, không biết sợ, chỉ là một kẻ khiếm khuyết cảm xúc mà thôi. Chính sự khiếm khuyết cảm xúc sẽ biến em trở nên tham lam, khoét rỗng tâm hồn em, lòng tham vô đáy ấy sẽ không bao giờ có thể lấp đầy. Ta không muốn em trở nên như thế, và ta biết khi em nhớ ra mình đã làm gì khi kết thúc một kiếp người, em sẽ lại hối hận và dằn vặt khôn nguôi."

"Với cả, ta không phải một vị thần, Ann ạ." Ngài tiếp lời. "Ta chỉ là một linh hồn, một linh hồn lạc lối giống em. Việc duy nhất ta có thể làm là đưa em về thế giới của ta, để em được tự do sống, tự do làm những gì vẫn còn dang dở. Ở nơi đó, ta sẽ cố gắng hết sức bảo vệ em, sẽ không để bất cứ điều gì làm tổn hại đến em. Vậy nên em cứ yên tâm và đừng lo lắng gì hết."

Nếu ngài Gấu là một người đàn ông, hẳn là tôi đã hoàn toàn đổ gục. Nhưng tôi biết thừa thứ tình cảm ấy không phải là tình yêu. Một kẻ như tôi làm gì xứng đáng để được yêu cơ chứ. Ngài chỉ ban phát cho tôi sự tử tế luôn có ở một vị thần mà thôi. Cho dù ngài bảo ngài không phải thần, nhưng đối với tôi ngài chính là thần hộ mệnh sẽ dẫn lối cho tôi đến một thế giới mới, nơi mà ngài hứa sẽ cố mang hạnh phúc đến cho tôi.

Nhẹ nhàng và đằm thắm, tôi đặt một nụ hôn lên bàn tay to lớn của ngài, như để chứng minh cho niềm tin, lòng trung thành, và nỗi biết ơn vô tận tôi sẽ khắc sâu mãi mãi trong hồi ức.

Ngài Gấu lại xoa đầu tôi, ôm tôi vào lòng, đặt lên trán tôi một nụ hôn đáp lại.

Chú hươu đã tiến đến rất gần chỗ chúng tôi. Ngài Gấu vẫy tay với nó, la lớn.

"Azur! Nhanh đến đây!"

Cố gắng chén nốt chỗ bụi sáng còn sót lại, cuối cùng chú hươu cũng đã đứng trước mặt chúng tôi. Nếu tính luôn cả cặp sừng, trông nó to cao bệ vệ hệt như ngài Gấu, với ánh nhìn uy nghiêm và điệu bộ vô cùng lịch thiệp. Có lẽ đây cũng là một vị thần đến từ chòm sao Bắc Lộc [3] .

"Huynh trưởng."

Ngài Hươu khuỵu hai chân trước, kính cần cúi đầu như một bậc trung thần. Rồi ngài ngẩng đầu lên, nhìn tôi một lát trước khi hỏi ngài Gấu.

"Có chuyện gì vậy huynh trưởng? Sao huynh không tiếp tục đi?"

"Con bé đang đợi em để chúng ta có thể cùng đi." Ngài Gấu đáp.

"Em không cần làm thế." Ngài Hươu quay sang nói với tôi.

Đôi mắt ngài nhìn chằm chằm vào tôi, như thể đọc vị được tất cả cảm xúc trong tôi. Tôi hơi sợ hãi lùi vài bước, nép mình đằng sau cánh tay khổng lồ của ngài Gấu. Ngài Hươu không hung tợn, nhưng ánh mắt thấu rõ sự đời của ngài khiến tôi không thoải mái. Nếu ngài Hươu là một con người, hẳn ngài phải là một công tố viên, người có thể tìm ra mọi lỗ hỏng trong tôi rồi đưa ra hình phạt trừng trị thích đáng.

"Em sợ ta à?" Ngài nhướng một bên mắt tỏ vẻ hoài nghi. "Ta chỉ định nói rằng ta và huynh trưởng có nhiệm vụ riêng. Huynh ấy chăm sóc em, còn ta thu thập những 'muộn phiền' của em. Vậy nên cứ đi đi và chẳng cần để ý đến ta làm gì."

"Thôi nào," ngài Gấu nói, "tất cả cùng đi chung cho không khí sôi động lên tí. Hành quân cũng phải đánh trống thì binh sĩ mới có động lực chứ."

"May là chúng ta có hai người. Lần trước bà già vừa đi vừa nhặt làm chúng ta mất gần mười triệu năm ánh sáng mới đến được cái hành tinh chết ấy."

"Mười triệu năm cơ ạ?" tôi hốt hoảng, "chúng ta đã mất đến mười triệu năm chỉ để bay trong vũ trụ thôi ạ?"

"Không phải nói em. Azur đang nói đến lần trước khi bọn ta chết và được một linh hồn khác đưa đi. Còn quãng đường em đã đi qua chỉ hơn mười vạn năm ánh sáng một chút thôi."

"Mười vạn năm.. mười vạn năm.." Tôi vừa nhẩm đếm trong đầu vừa run lập cập. Ngần ấy thời gian đã trôi qua rồi sao? Ngần ấy thời gian tôi chẳng làm gì mà chỉ lang thang không mục đích thế này sao?

Ngài Gấu vội trấn an. "Đó là cách nói của loài người ở hành tinh của em thôi. Bọn ta có cách tính khác và phương thức di chuyển cũng hoàn toàn khác. Chúng ta là linh hồn, không phải là ánh sáng."

Vẫn còn rất nhiều điều tôi muốn hỏi, nhưng ngài Gấu bảo chúng tôi nên lên đường ngay nếu không sẽ trễ giờ "ký khế ước" gì đó. Vậy là ngài lại bế tôi lên, ôm tôi trong vòng tay ngài, cuộc hành trình xuyên vũ trụ lại xuất phát.

Trên đường đi, ngài Gấu đã hỏi tôi rất nhiều, đa phần là về cuộc sống tôi muốn trải qua sau này:

"Con muốn có một mảnh đất lớn thiệt lớn để làm vườn và cất một căn nhà ngoại ô xinh xắn."

"Con muốn có anh trai, một người có thể tẩn cho bọn bắt nạt con một trận nên thân và nhường con tất cả phần bánh sô cô la mà anh ấy có."

"Con muốn trở thành một nhà bác học, một nhân vật vĩ đại, một bậc vĩ nhân mà ai ai cũng phải ngước nhìn và tôn trọng."

"Con muốn thế giới không còn chiến tranh, không còn đói nghèo, trẻ em được đến trường, phụ nữ được đối xử bình đẳng. Và nếu con có thể góp phần tạo nên điều ấy thì tốt quá. Con không muốn thấy người ta phải chết để thỏa mãn sự ích kỷ tàn độc của kẻ khác."

"Con muốn nhận thật nhiều con nuôi, cả vật nuôi nữa, như chó mèo chẳng hạn. Nhưng để làm được như thế thì phải cần rất nhiều tiền. Vậy thì con cũng muốn được trở nên giàu có nữa. Nuôi người ta mà không chăm sóc được cho người ta là vô trách nhiệm lắm."

"Mà ngài đừng quên là con đã nói con không muốn có quá nhiều cảm xúc lo lắng và sợ hãi đấy nhé."

* * *

Trong suốt chuyến du hành xuyên vũ trụ ấy, tôi đã luôn trong trạng thái lúc tỉnh lúc mơ. Khi thức tôi nói rất nhiều, khi mơ tôi cũng mơ thấy rằng mình đang nói. Tôi thích cả ngài Gấu và ngài Hươu (ít hơn ngài Gấu một chút). Vậy nên khi ngài Gấu bảo rằng đã đến đích, và ngài sắp sửa thả tôi xuống thế giới của ngài, tôi đã khóc lóc mè nheo ngài đừng để tôi đi. Ngài dỗ dành tôi, lau nước mắt cho tôi, còn ngài Hươu thì căn dặn tôi:

"Phải cẩn thận lửa đấy nhé. Nếu có cháy lớn thì tuyệt đối tránh xa không được dây dưa vào! Sẽ có nhiều vấn đề em phải tự mình giải quyết, nhưng mọi chuyện đều có quy luật của nó. Nếu em tìm ra quy luật đó thì chẳng thứ gì có thể làm hại đến em."

Ngài Gấu vuốt má tôi. "Bọn ta sẽ ở rất gần em thôi. Cho dù không trông thấy thì em vẫn phải tin rằng bọn ta không bao giờ bỏ mặc em. Hiểu chưa?"

"Hiểu rồi ạ." Tôi mếu máo. "Tạm biệt ngài Gấu! Tạm biệt ngài Hươu!"

"Thôi em đi đi."

Nói rồi ngài Gấu buông tay tôi, thả rơi tôi từ trên bầu trời cao xanh thoáng đãng.

- -Chú giải--

[1] Chòm sao Đại Hùng (Ursa Major) hay còn gọi là chòm sao Gấu Lớn, một trong những chòm sao trên bầu trời phương Bắc, được ghi nhận trong rất nhiều sử thi thần thoại, tiêu biểu nhất là thần thoại Hy Lạp.

[2] Tìm hiểu thêm về "Khoảng trống vũ trụ" (Cosmic void).

[3] Chòm sao Bắc Lộc (Rangifer), không có tên hán việt chính thức, đã bị lãng quên và loại bỏ khỏi danh sách 88 chòm sao chính thức của Liên đoàn Thiên văn Quốc tế (IAU).
 
3 ❤︎ Bài viết: 0 Tìm chủ đề
Chương 2: Có lẽ chăng là mơ?

Tôi nghĩ mình đã mơ thấy một thảo nguyên bao la dưới bầu trời hoàng hôn rực rỡ.

Mặt trời đang dần lặn đi phía bên kia ngọn đồi, tỏa ra sắc hồng ngọt ngào hòa quyện cùng bầu trời trong xanh như một chiếc kẹo bông khổng lồ. Ánh chiều tà dương hắt lên dòng suối nhỏ đang chảy róc rách về phía xa xa, trông như thể ai đó đánh rơi hàng vạn tinh thể kim cương lấp lánh dưới đáy nước.

Đằng kia trên trải đất cao nhất, nơi có độc một cây sồi to sừng sững giữa trảng cỏ tươi um, có thằng bé chăn cừu đầu đội mũ rơm đang thổi một giai điệu du dương bằng một dụng cụ gì đó tôi không rõ. Rồi có một con trong đàn cừu đang nhấm nháp từng đụm cỏ gần đó ngẩng đầu nhìn tôi.

Nó cứ thế nhìn tôi mải miết, như thể thứ giai điệu trong veo đang rót vào tai nó mật ngọt của một bản tình ca, khiến nó chỉ nhìn thấy tôi và mỗi tôi mà thôi. Có lẽ tôi là một nàng cừu xinh đẹp với bộ lông dày trắng muốt. Có lẽ nếu tôi lượn quanh một vòng, những con cừu khác đều sẽ trầm trồ nhìn tôi và ao ước được tròn xoe trắng nõn như tôi.

Tôi muốn tiến đến gần để nhìn rõ chúng hơn, nhưng tôi chợt nhận ra rằng mình không thể. Tôi không thể trông thấy bản thân mình, cũng chẳng thể cảm nhận được sự hiện diện của các bó cơ. Cơ thể tôi là một tồn tại hư không còn tâm hồn thì nhẹ bẫng. Hẳn là tôi đang mơ. Ừ, hẳn là thế.

Bỗng nhiên tôi cảm thấy hơi chao đảo rồi khựng lại. Có lẽ một cơn gió thổi qua đã đẩy đưa linh hồn tôi trôi dạt từ phía trên cao xuống một vũng lầy ngay bờ suối rồi vương lại đó. Từ đây tôi có thể thấy rõ thời gian đang chầm chậm trôi đi khi vật thể tỏa ra thứ ánh sáng dịu dàng ấm áp trên cao kia dần khuất núi.

Thằng bé chăn cừu kết thúc buổi tấu nhạc bằng một nốt sol ngân dài. Rồi nó cất cái kèn vào túi áo (tôi cho là thế), bắt đầu lùa đàn cừu về nhà trước khi trời tắt nắng. Tiếng nó quát những con chạy nhong bị át hẳn đi bởi những tiếng kêu be be như thể trêu chọc của đàn cừu. Đến nỗi thằng nhỏ phải móc cây gậy của nó vào cổ con cừu to nhất đang cứng đầu gặm nốt chỗ cỏ còn lại mà lôi đi.

Giữa cái đống lộn xộn mà các anh chị em gây ra, con cừu với ánh nhìn si mê vẫn đứng đó nhìn tôi chăm chăm. Bất thình lình, nó tách khỏi đàn chạy về phía tôi, khiến thằng nhóc chăn cừu mệt bở hơi tai bất lực đuổi theo một quãng chắc phải vài chục mét.

Hai chiếc bóng đen thui méo xệt rượt đuổi nhau trên đồng cỏ nhuốm hồng mênh mông trông hệt như cảnh chàng hoàng tử tiến vào hang ổ rồng giải cứu công chúa trong truyện cổ tích.

Hoàng tử mão rơm tung chiếc móc phép thuật để bắt con cừu rồng, nhưng một cú tấn công đơn giản nào có thể hạ gục được nó. Ngược lại con quái kéo lôi hoàng tử xệnh xệch như một thứ chiến lợi phẩm dâng lên nàng công chúa xinh đẹp bị nó nhốt dưới thủy cung.

Khi cuộc chiến giằng co gần đến hồi kết thúc bên bờ căn ngục, hoàng tử thở không ra hơi túm chặt lấy cổ con cừu rồng rồi vung tay đấm nó bôm bốp. Con quái cũng không vừa, nó hất bay chiếc mão rơm của hoàng tử xuống vũng lầy rồi vừa lách mình trốn thoát vừa cười khoái trá.

Hoàng tử giận tím mặt. Chàng dùng những lời lẽ thô tục nặng nề nhất đã học được ở chốn dân gian để rủa xả con quái mặt mày khinh khỉnh kia. Rồi chàng tức tối lội xuống thủy cung, cố tìm xem chiếc mão rơm trị giá ba củ khoai tây đã trôi đi đâu mất rồi.

Tôi sẽ không bao giờ quên được biểu cảm kinh bạt khiếp vía của thằng bé đó khi nó vươn tay nhặt lấy chiếc mũ và nhìn thấy tôi. Nó ngã uỵch xuống vũng lầy, mặt mày trắng bệch, hai mắt mở trân trân, miệng há ra cứng đờ. Mãi nó mới có thể lê lếch cái thân mềm nhũn lên bờ, khiếp đảm đến mức bỏ lại đàn cừu mà chạy mất tăm. Khi nó đi rồi, chẳng mấy chốc mà bóng tối của buổi chạng vạng bắt đầu xâm lấn nơi bình nguyên yên ả.

Trong cái bóng tối lạnh lẽo của màn đêm, tôi chìm sâu vào bầu không khí rả rích tiếng côn trùng, tiếng nước chảy và đàn cừu be be vô chủ. Mùi của thảo nguyên tản mạn trong đêm gió nhẹ làm dậy lên mùi đất ẩm nồng mang theo hương hoa dại và mùi gỗ mục. Cánh cửa tâm trí tôi dường như được bật mở, và những ký ức đẹp đẽ thuở xa xưa lại tràn về.

Căn hộ ở khu tập thể cũ, mùi mốc trên những bức tường chi chít hình vẽ trẻ con, hoa mộc lan rơi trắng xóa cả sân bóng vào cuối mùa xuân, tiếng lạo xạo dưới chân khi bước đi trên những con đường lát sỏi nhỏ xíu quanh co.

Một cơn choáng váng đập vào đầu kéo tôi ra khỏi cơn ảo mộng. Khối óc tôi quay cuồng còn cơ thể thì rát bỏng như bị xát muối vào từng thớ thịt trên người. Mắt tôi nặng trĩu như thể đã nhắm chặt từ lâu, phải khó khăn lắm tôi mới có thể kéo mở đôi mi. Một thứ ánh sáng chói lóa bất chợt tràn vào nhãn quang khiến tôi đau đớn.

Khi đã lấy lại được tầm nhìn sau nhiều cái chớp mắt, ngay trước tôi là một mái nhà tranh xập xệ. Rồi khuôn mặt một cụ ông lớn tuổi với chòm râu dài xoăn tít hiện ra. Ông lớn tiếng la lên, rồi một ai đó khác tiến đến gần.

Chú bé chăn cừu quen thuộc bước đến bên ông, nói gì đó với ông bằng thứ ngôn ngữ tôi không hiểu. Chỉ thấy ông lắc lắc cái đầu làm chòm râu ông đung đưa qua lại trông thật buồn cười. Rồi thằng bé cố hỏi tôi điều gì đó. Tôi định nói rằng tôi không hiểu, nhưng tôi chẳng thể nào mở được môi mình, thay vào đó là cái tiếng ư ư đầy khó chịu phát ra từ cuống họng dội thẳng lên ống tai.

Cuộc trò chuyện kiểu đó cứ lặp đi lặp lại, cuối cùng thằng bé cũng dừng lại rồi lắc đầu đi mất. Có lẽ nó đi theo ông cụ ra ngoài bởi tôi nghe thấy tiếng cót két của một cái bản lề đã cũ và tiếng đóng cửa khẽ khàng.

Một lúc sau, nó quay lại cầm cái bát trên tay, cẩn thận bón cho tôi từng thìa một. Cái thứ chất lỏng đặc sệt không vị ấy ban đầu trào hẳn ra ngoài, nhưng rồi cũng trôi xuống bụng tôi, khiến cơ thể tôi ấm áp hẳn ra. Toàn thân tôi dần trở nên thư giản hơn và những cơn đau cũng biến mất, kéo theo đó là cơn buồn ngủ không sao cưỡng lại.

Cho tôi ăn xong, thằng bé vắt chiếc khăn ẩm lau mặt cho tôi, rồi ngân nga một khúc đồng dao. Giọng hát trẻ con ấy cứ xa dần, xa dần, cho đến khi tôi tỉnh giấc, thằng bé đã rời khỏi tự lúc nào.

Ngày lại ngày cứ thế trôi qua, tôi cứ nằm yên đó, bất động vì cả cơ thể đều quá bóng rát đớn đau. Nhưng thật may vì tôi không cần phải một mình chịu đựng những cơn đau hành hạ như thiêu như đốt kéo dài. Vào một buổi sáng khi vừa thức giấc, đôi mắt to tròn của bé cún nhỏ xíu cứ rúc đầu vào lòng tôi khiến cho sương giá của buổi sáng tinh mơ chẳng còn quan trọng nữa. Bé con này xuất hiện vào chiều hôm qua khi trời đổ cơn mưa rào. Thằng nhóc chăn cừu nhét nó vào trong áo rồi chạy ào về trong tình trạng ướt sũng. Căn chồi đất đơn sơ chẳng dư nỗi một tấm khăn lành để dùng trong những trường hợp cấp bách thế này, thành ra thằng nhóc phải lấy tấm chăn rách của nó thay cho khăn lau.

Bộ dạng hai đứa nó ngồi co ro bên đống lửa trông đến tội, nên tôi ra hiệu bảo cả hai đến nằm cùng tôi, nhưng thằng nhóc lắc đầu nói gì đó vẻ không đồng ý.

"Fig!" Tôi gọi nó bằng cái từ mà ông bác sĩ già (tôi cho là vậy) thường hay gọi.

Thật ra nhờ thứ súp thuốc sền sệt của ông mà tình hình tôi đã khá hơn nhiều. Cổ họng tôi chẳng còn đau nữa và tôi đã liến thoắng liền tù tì một mạch để hỏi ông xem đây là đâu và làm sao mà tôi có mặt ở đây. Nhưng khổ nổi ông bác sĩ và thằng Fig chẳng hiểu gì, nên tôi đã phải cố sức cử động tay để diễn tả bằng ngôn ngữ cơ thể.

Theo trí tưởng tượng của tôi thì hẳn là tôi đã trải qua một cơn đột quỵ làm hỏng nhóm dây thần kinh vận động nào đó, bởi tôi giờ đây giống hệt một người đang phải tập vật lý trị liệu, khi mà một cái nhấc tay nhẹ nhàng lại trở nên vô cùng quá sức.

Dẫu sao thì nhờ luyện tập nhiều, tôi đã có thể giơ tay lên cao đúng vị trí mình muốn và giữ yên trong vài phút. Tôi cũng đã có thể kéo người ngồi dậy. Tuy không được lâu cho lắm nhưng đó vẫn là một thành tựu lớn.

"Fig!" Tôi lại gọi nó thêm vài lần, vừa nói vừa vỗ tay xuống chỗ trống bên cạnh mình.

Chỗ tôi nằm là một đụm rơm to rải trên đất mà tôi cho là giống hệt cái ổ ngựa. Nằm sát vách căn chồi, bên dưới cái cửa sổ duy nhất trong phòng là cái ổ bé thằng Fig mới làm sau khi nhường tôi cái ổ to. Nhưng hôm nay gió lớn và mưa dong hắt qua cửa sổ đã tạt ướt đống rơm của nó rồi. Thế là nó đành miễn cưỡng ôm chú chó nhỏ chui vào cạnh bên tôi.

Ba chúng tôi nằm kề bên nhau, chia nhau mấy củ khoai lấp đầy cơn đói. Khi đã no nê, con chó nhỏ nằm ườn ra cho tôi xoa bộ lông của nó. Ba chúng tôi cứ thế mà lã dần đi, thế là lại hết một ngày.
 
3 ❤︎ Bài viết: 0 Tìm chủ đề
Chương 3: Chuyến hành trình đầu tiên

Nếu có thể miêu tả nơi này chỉ bằng một từ, có lẽ "hiu quạnh" sẽ là từ thích hợp nhất.

Sau nhiều ngày chỉ quanh quẩn bên đống ổ, cuối cùng tôi đã có thể đứng lên, chạy vài vòng quanh căn chồi. Miếng vải băng vết thương đã long ra một đoạn, nên tôi quyết định gỡ hẳn nó ra. Cả người tôi lộ ra những mảng da non hồng phơn phớt, đôi chỗ vẫn còn đỏ tấy nhưng sờ vào chẳng có cảm giác gì. Cảm thấy sao mà man mát, tôi giơ tay lên xoa đầu thì nhận ra cảm giác nhẵn bóng chằng còn một cọng tóc.

Dẫu thế tôi chẳng lấy gì làm buồn, chỉ hơi xấu hổ vì cơ thể lõa lỗ của mình. Những ngày qua chỉ trùm kín trong chăn với vết thương bó chặt khiến tôi không nhận ra trên người mình chẳn có lấy một mảnh quần áo che thân, đã vậy lại còn bốc mùi như một con quạ. Tiện thể có bộ đồ thằng Fig phơi nắng ngoài sân, tôi thó lấy rồi chạy bay ra cái ao cạnh nhà.

Cái ao trông không lớn lắm, chỉ đủ vừa cỡ một chiếc thuyền to. Chẳng có dấu hiệu nào cho thấy có sinh vật sống trong ao, thế nên tôi cứ nhảy ùm xuống, làm nước văng lên tung tóe thấm đẫm chỗ đất trên bờ.

Tấm táp xong rồi tôi lại trèo lên ngồi ngắm mình phản chiếu trên mặt nước. Đã lâu tôi chưa soi gương nên tò mò không biết bộ dạng mình như thế nào. Trông tôi khẳng khiu nhỏ xíu như một đứa trẻ con, mặt mũi lạ hoắc như ghép vào mặt của ai.

Có lẽ tôi đã gặp tai nạn đến nỗi mặt mũi biến dạng, và ông bác sĩ đã phẫu thuật cho tôi trong lúc thần kinh tôi chưa lấy lại được nhận thức. Đã mấy tuần rồi chỉ ăn mỗi súp thảo mộc và khoai tây, hẳn cơ thể tôi đã bị thiếu chất trầm trọng.

Loay hoay suy nghĩ một hồi cũng chẳng hiểu chuyện gì đang xảy ra, mà cái bụng tôi lại réo lên inh ỏi như một chiếc đồng hồ báo thức. Tôi đứng dậy mặc trang phục cho ngay ngắn, rồi quyết sẽ đi kiếm cái gì đó để ăn. Cách đơn giản nhất là tìm thằng nhóc đang chăn cừu ở một nơi nào đó ngoài kia.

Tôi đi dọc theo con đường mòn chỉ có một lối dẫn qua rặng cây vân sam hùng vĩ. Rồi tôi băng qua cánh đồng lúa mì vàng ươm rộng lớn đến tận đường chân trời.

Cái ống quần to quá khổ cứ tuột mãi dưới mắt cá chân phiền quá đi mất. Sau khi cố gắng xắn nó lên cao mà rồi đâu lại vào đấy, tôi bất lực đành để cái ống quần lê lết trên đất, vừa đi vừa sợ ngã dập mặt mà đích đến thì chẳng biết tự nơi nào.

Con đường mòn không một bóng người dường như kéo dài đến vô tận.

Hôm nay thời tiết đột nhiên ấm hẳn lạ thường, và giờ khi mặt trời đã lên cao, mồ hôi bắt đầu tuôn ra như tấm. Sự bức bối của một cái cổ họng khát khô và lớp áo đẫm nước dính chặt vào lưng khiến tôi dần hối hận vì đã lang thang bên ngoài thế này.

Vậy nên khi đi đến đoạn có bụi cây lớn và bóng mát to, tôi tấp vào đám cỏ trông mềm mại nhất, định nghỉ chân một lát. Thế nhưng một chuyến hành trình sau bao ngày không vận động đã khiến tôi kiệt sức. Tôi ngã người nằm dài trên đám cỏ, hai mắt cứ lim dim rồi thiếp đi lúc nào không hay.

Tôi chỉ giật mình tỉnh dậy vào lúc bên tai văng vẳng tiếng chó con từ xa chạy đến. Berry bổ nhào vào lòng tôi, ra sức liếm láp khuôn mặt tôi còn ngái ngủ.

Cậu bạn mũ rơm của tôi cũng đang từ xa đi tới. Tôi cứ tưởng mình sẽ bị la một trận ra trò vì tuỳ tiện lấy đồ mà không hỏi, nhưng cậu ta chỉ nói điều gì đó mà tôi đoán là "Sao lại đi ra đây?" Tôi chỉ vào cái bụng ọp ẹp và cổ họng khô khóc của mình, nghĩa là "Tôi đang đói và khát lắm". Cậu nhóc ra hiệu tôi đi theo, thế nên tôi bế Berry đứng dậy.

Một nhánh cúc dại [1] không biết từ đâu rơi xuống bắt lấy ánh mắt tôi. Tôi nhặt lấy nó, tò mò không hiểu quanh đây sao lại có nhánh hoa đẹp thế này. Những cánh hoa trắng ngần tỏa ra từ một nhụy hoa vàng, giống như một chú ong mật yên bình cuộn tròn trên một chiếc gói trắng tinh.

Tôi giắt nhánh hoa vào cổ áo, vừa ôm Berry vào lòng, vừa lò tò chạy theo cậu bạn đã đi trước một đoạn dài.

Phải dốc hết sức chạy theo tôi mới bắt kịp. Khi hai đứa sóng bước bên nhau, tôi mới biết, thì ra Fig cao hơn tôi đến cả một cái đầu.

Điều đó khiến tôi hơi bất ngờ, bởi lẽ trông ấn tượng của tôi khi còn nằm yên một chỗ, Fig chỉ là một đứa trẻ nhỏ tuổi hơn tôi, có lẽ vừa lên trung học được một tí. Nhưng dáng vẻ cậu nhóc gầy nhòm trong cái áo tay lỡ không che giấu nỗi đôi cánh tay xương xẩu còi cọc của những ngày đói ngoắc đói ngheo.

Thế mà cậu ta vẫn không quên chia sẻ cho một người lạ như tôi một phần thức ăn kiếm được. Ngay cả khi tôi ốm yếu, cậu bạn cũng tìm bác sĩ cho tôi. Fig chăm sóc tôi và nhường tôi tất cả những gì cậu ta có.

Nghĩ đến điều đó khiến lòng biết ơn trong tôi trỗi dậy, cảm động đến mức nước mắt lưng tròng.

Khi nào tôi về nhà, tôi sẽ bảo cha mẹ thết đãi cậu ta một buổi ăn thịnh soạn, rồi cha mẹ tôi sẽ cho cậu bạn ít tiền đủ để sống qua ngày, rồi khi nào cậu ta cần giúp đỡ có thể tìm đến tôi, tôi sẽ dốc hết lòng mà trả. Hoặc cậu nhóc có thể đến ở nhà tôi. Tôi sẽ xin phép ba mẹ nuôi cả hai chúng tôi, và bọn tôi sẽ trở thành người nhà, kể cả bé chó này. Người nhà.. nhưng.. khi nào tôi sẽ được về nhà?

Nhà tôi không xa xôi hẻo lánh như thế này. Đến cả vùng thôn quê như nhà Ngoại cũng có chuyến xe buýt đi ngang mỗi ngày 2 lần vào sớm tinh mơ và khi trời sập tối. Còn ở đây người ta vẫn còn dùng ngựa truyền thống để chở hàng.

Tôi nói thế vì chẳng biết tự lúc nào chúng tôi đã đứng trước một con ngựa kéo xe to lớn. Fig ngả mũ chào bác đánh xe đang đứng trên cỗ xe kéo hai bánh trông đã cũ lắm rồi. Thằng nhóc nói gì đó có vẻ rất buồn cười khiến người đàn ông trung niên phải cười nắc nẻ. Rồi bác đưa cho chúng tôi một thứ trông như chiếc túi da mà bác giắt ngang hông.

Thằng Fig mở nắp uống một ngụm rồi đưa cho tôi, bên trong sóng sánh thứ chất lỏng giống như nước. Tôi cũng chẳng ngần ngại ngửa mặt uống cạn cả túi. Đến khi dốc mãi không còn giọt nước nào rơi ra, tôi mới nhớ đến Berry bé nhỏ. Nhưng Berry trông chẳng lấy gì làm phiền hà, ngược lại còn vẫy đuôi tíu tít nhảy vồ lên xe bác. Thằng Fig cũng nhảy phóc lên xe, rồi nó quay lại kéo tôi lên.

Bác xà ích lại hỏi gì đó, có vẻ là "Tên con bé là gì". Tôi đoán thế vì thằng nhóc chỉ tay vào nó, "Fig", rồi lại chỉ bé chó, "Berry", tiếp đến là bác xà ích, "Paul", cuối cùng nó chỉ vào tôi. Tôi lí nhí trả lời:

"Ann"

"Được rồi Ann," câu này thì tôi hiểu, bởi Fig đã nói với tôi như thế biết bao nhiêu lần.

Ông bác hô lên một tiếng, chiếc xe từ từ chuyển động trên con đường đất đá gập ghềnh. Hai đứa tôi ngôi vắt vẻo ở đuôi xe, sau lưng chất đầy hàng đống túi to dính đầy bụi đất, bắt đầu một chuyến hành trình kỳ lạ.

- - Chú giải --

[1] Hoa cúc: Đặt một nhành hoa cúc lên xác người chết là một tập tục ở Hemeti nhằm gửi lời chúc và đưa tiễn người đã khuất sang thế giới bên kia.
 
3 ❤︎ Bài viết: 0 Tìm chủ đề
Chương 4: Khúc khải hoàn

Rời khỏi ngoại ô, xe chúng tôi đi xuyên qua mảnh rừng bạt ngàn xanh thẳm xen giữa những quả đồi và tiến vào thị trấn. Ban đầu là sự xuất hiện thưa thớt của những ngôi nhà mộc mạc với cửa sổ bé tí hin, sau đó, phía cuối con đường hiện ra một tường thành sừng sững được tạo thành từ hàng vạn khối đá khổng lồ. Theo sau chúng tôi, nhiều người từ các hướng đang dần tụ lại trên những cỗ xe kéo thô sơ chất đầy hàng hóa.

Xe chúng tôi chạy chậm dần rồi dừng hẳn. Vài người đàn ông trang bị vũ trang trong chiếc áo choàng đỏ đứng chắn giữa cổng vòm, đang yêu cầu bác đánh xe điều gì đó.

Bác lôi trong túi ra một mảnh giấy được gấp làm tư đưa cho người đàn ông có vẻ là chỉ huy. Vị chỉ huy lật giở tờ giấy xem xét một lát, sau đó, ông ta sai những người còn lại kiểm tra những túi hàng. Tôi cũng không giấu nỗi tò mò nhìn thử, thì ra bên trong bao tải toàn là nông sản. Nào là hành tây, bắp ngô, củ cải, sà lách, khoai tây, và một túi đầy tràn vàng óng những hạt lúa mì.

Đợi họ kiểm tra xong, tôi bắt chước thằng Fig hì hục buộc lại bằng mấy sợi dây đay. Xem chừng mọi thứ đều ổn, họ trả lại tờ giấy cho ông bác, chiếc xe tiếp túc lăn bánh tiến vào bên trong.

Đầu tiên, đập vào tai tôi là thứ âm thanh hỗn tạp của đường xá chật ních người, tiếng trò chuyện, tiếng rao vặt và tiếng nhạc không biết từ đâu ra. Sau đó, đập vào mắt tôi là một khung cảnh nhộn nhịp vô cùng sầm uất.

Không còn những đồng ruộng đìu hiu cô quạnh, con đường vắng vẻ bỗng chốc được thay thế bằng phố xá tấp nập người đi bộ và những cỗ xe ngựa bóng bẩy chạy ngược chạy xuôi. Hai bên đường là những sạp hàng hóa đa dạng các loại mặt hàng, nào là quần áo, giày dép, trang sức, đồ thủ công, vải dệt, đá quý, gia súc, cây con, vân vân.

Không khó để bắt gặp mấy người thương nhân ra sức chèo kéo khách hàng bằng những món đồ tuyệt đẹp. Ở giữa hai quầy hàng, có người đàn ông đang đắn đo lựa chọn một trong hai con bò xem còn nào tốt hơn. Một cặp tình nhân đang ướm thử cho nhau đôi vòng cổ. Những cô gái xinh như bông như hoa đang tụ tập tại quầy phấn son. Quầy đồ sứ với thìa đĩa sặc sỡ thu hút những người phụ nữ lớn tuổi. Tiếng nhạc mà tôi nghe từ nãy được thổi từ chiếc sáo của một nhạc công ngồi trên thảm trải một hàng đạo cụ. Và hàng loạt những cảnh tượng thú vị khác tôi chưa thấy bao giờ của một phiên chợ trời vô cùng náo nhiệt.

Xe chúng tôi cố lách mình trong dòng người đông nghẹt. Tôi thì ngẩn ngơ cả người vì choáng ngợp. Thằng Fig thì mặt mày đầy hào hứng, vừa liên mồm nói chuyện với bác đánh xe, vừa giơ tay chỉ hết cái nọ đến cái kia. Berry thì khỏi phải nói, chú chó nhỏ mừng rỡ quẩy chiếc đuôi xoắn tít và nhiệt tình sủa với mấy người qua đường.

Đột nhiên, tiếng chuông ngân từ trên cổng thành phát ra leng keng khiến mọi người gần như bất động, nhưng trong tíc tắc, bầu không khí bỗng chốc lại càng thêm hứng khởi. Người ta kháo nhau dạt ra hai bên đường, chen lấn đứng tràn lên cả những bậc thềm, chừa ra một lối đi rộng ở giữa.

Xe chúng tôi khó khăn lắm mới chen được vào ngách giữa hai căn nhà. Chỗ đỗ xe nằm ngay bên dưới một cầu thang hẹp dẫn lên tầng hai ngôi nhà sát vách, thế là thằng Fig bảo ông bác điều gì đó, ông bác liền bế nó cho nó đu người lên. Lên được bên trên rồi, nó và ông bác lại hợp sức đưa tôi và Berry (lúc này đã được nhét vào áo tôi) lên, cuối cùng ông bác tự đu người leo lên.

Bốn người chúng tôi trèo lên sân thượng ngôi nhà đó, cùng với hàng trăm người khác có cùng ý tưởng như thế cũng trèo lên nóc các tòa nhà, từ trên cao nhìn xuống.

Từ ngoài cổng thành, hàng chục người đàn ông mặc áo choàng đỏ, tay cầm kèn đồng chạy vào bên trong, xếp thành hàng ngay ngắn.

Tiếp đó, xen kẽ từng người dạt qua hai bên, chiếc kèn cổ dài đặt sẵn vào vị trí. Trên mỗi chiếc kèn đều gắn lá cờ màu đỏ với gia huy hình con gấu hung tợn, viền ngoài bởi dải tua rua vàng. Người đi đầu trong số họ, tay không cầm kèn mà chỉ cầm một cây gậy, đứng nghiêm trang giữa lối đi như chờ đợi sự kiện bắt đầu.

Không để mọi người đợi lâu, từ trên cổng thành, một người cũng mặc áo choàng phất lên một ngọn cờ màu đỏ. Chỉ huy đội kèn giơ cao cây gậy, cả đội thổi lên ba tiếng kèn dài, cũng là lúc một đội quân hùng dũng tiến vào thành. Ngay lập tức, một khúc tráng ca đầy hào hùng phấn khởi được ngân lên trong tiếng hò reo chúc mừng của hàng ngàn dân chúng:

"KERNEY!" "HEMETI!" "KERNEY!" "HEMETI!"

Đoàn quân tiến vào thành, dẫn đầu bởi đội kỵ binh, đến bộ binh, cung binh, và cuối cùng là hậu cần.

Đâu đó trong số những chiếc cửa sổ hướng ra con đường, một cánh tay không ngừng ném những cánh hoa sặc sỡ đầy màu sắc. Dân chúng phía dưới cũng bắt chước làm theo. Họ truyền tay nhau ném cho những vị chiến binh những cành hoa sặc sỡ. Gió thổi cánh hoa bay ngộp trời, trông như phước lành được đấng trên cao ban phát cho các con của người, mang theo tất cả hy vọng của chúng dân, tạo ra một cảnh tượng khải hoàn hết sức hoành tráng.

Dẫn đầu đội kỵ binh là một người đàn ông vạm vỡ với mái tóc vàng đẫm mồ hôi sau một chặng đường dài. Anh ta mặc chiếc áo choàng đỏ có phần đặc biệt hơn tất thảy những người khác, thêu những họa tiết kiêm sa lấp lánh dưới ánh nắng mặt trời.

Người đàn ông trẻ tuổi nở nụ cười đón nhận niềm hân hoan mà dân chúng trao tặng, nhưng nét mặt không hề đánh rơi sự kiêu hùng của một người đã kinh qua bao trận thập tử nhất sinh. Con hắc mã chở người chiến binh ấy được thắng bộ yên cương đỏ thẫm, hiên ngang bước đi oai phong lẫm liệt.
 
3 ❤︎ Bài viết: 0 Tìm chủ đề
Chương 5: Kerney? Hemeti?

Khi tiếng kèn vừa dứt cũng là lúc đoàn quân đã khuất sau ngã rẽ cuối con đường. Chúng tôi trèo xuống theo lối cũ để tiếp tục cuộc hành trình còn dở dang. Bỏ lại phiên chợ sau lưng, chiếc xe tiếp tục lăn bánh trên con đường lát đá.

Vừa tiến vào cổng thành thứ hai, tôi đã phải thốt lên một tiếng cảm thán.

Nhà cửa ở đây trông bệ vệ, khang trang và sạch sẽ hơn hẳn nơi khu chợ. Phần lớn cửa sổ đều cỡ lớn, bên trong là khung bảo vệ gồm những ô vuông vức đều nhau. Ngay bên dưới bệ cửa sổ, những khóm hoa nở rộ tô điểm thêm vài nét chấm phá rực rỡ khiến những tòa công trình không hề khô khan vô vị.

Người dân nơi đây có nước da trắng ngần và ăn vận phục trang vô cùng lộng lẫy. Phụ nữ mặc những chiếc đầm xếp tầng xòe dài phủ gót chân, áo nịt chiết eo chặt đến nổi dải đăng ten viền trên ngực áo không thể giấu đi sự hiện diện của đôi gò bông đảo căng tròn. Mái tóc tết cầu kỳ đầy phụ kiện trang sức ánh lên dưới ánh sáng mặt trời, làm nổi bật vẻ sang trọng hệt như những quý phu nhân xuất thân giàu có.

Đi giữa những người phụ nữ kiêu sa kia là cánh đàn ông trong hai trường phái trang phục cũng phô trương không kém. Một số đội những chiếc mũ to trang trí phức tạp, mặc áo khoác dài đính khuy tinh xảo, cổ áo xếp nếp như thác nước dài đến thắt lưng, từ đầu tới chân đeo hằng hà các loại đá quý.

Số còn lại ăn vận như đoàn quân mà chúng tôi vừa gặp ở khu chợ, nhưng có phần tiết chế đi nhiều. Vẫn lấy màu đỏ làm chủ đạo, họ mặc áo tay ngắn có phần lai dài đến đầu gối bên ngoài áo dài tay, dải thắt lưng đinh tán kèm thanh kiếm bóng loáng vắt ngay hông, tay đeo găng phòng vệ được kết từ những sợi xích kiêm loại cỡ siêu nhỏ.

Cảnh tượng kỳ lạ cho đến giờ khiến tôi có cảm tưởng mình đã đi lạc vào một hội chợ hóa trang, nơi mà khách tham gia có nhiệm vụ hóa thân thành nhân vật trong các bộ truyện tranh hay trò chơi điện tử đề tài trung cổ.

Nhìn quanh các tòa nhà, tôi lờ mờ đoán được nơi đây dường như tập trung những cửa hiệu lớn nhất thị trấn với giá cả xa xỉ dành cho giới nhà giàu. Từng hàng từng kệ những khay bánh mì bày trí vô cùng công phu lướt qua mắt tôi như một cơn gió, tiếp đó là tiệm may với hai khung ma nơ canh trong trang phục đôi nam nữ bên cửa sổ. Tiếng lò rèn từng hồi từng hồi vang rền xuất phát từ tiệm vũ khí cực kỳ hoành tráng ngay bên cạnh, thu hút rất đông cánh đàn ông tấp nập ra vào. Mùi da thuộc hăng hắc ngập ngụa trong không khí khiến tôi phải bịt chặt mũi cho đến khi đã rời xa tiệm đóng giày cả một đoạn dài.

Chiếc xe ngựa lọc cọc dừng lại bên hông một căn nhà ồn ào náo nhiệt có lẽ là tiệm ăn. Ông bác thả ba chúng tôi xuống bậc thềm cùng vài túi nông sản rồi đánh xe đi mất khiến tôi bối rối cực kỳ.

Đứa bạn đồng hành dường như đã quen thuộc với hành động ấy, nó mạnh dạn gõ lên cánh cửa gỗ sờn cũ, phải mất một lúc mới có một bà lớn tuổi, lưng còng, đầu đội khăn, mặc chiếc tạp dề cũ mở cửa cho chúng tôi. Tiếng nói cười đổ ào ra như tiếng đàn ong vỡ tổ khiến cả tôi và Berry đều giật mình hết hồn. Bà già chẳng nói năng gì, chỉ đi thẳng một mạch xuống bếp, để hai đứa trẻ con kéo lê mấy chiếc túi nặng trịch vào bên trong.

Căn nhà tràn ngập mùi đủ thứ loại đồ ăn như một hình thức tra tấn mới làm cái bụng đói của tôi lại thêm một phen dậy sóng. Thằng Fig nghe thấy thế liền đưa tay bụm miệng cười, còn tôi thì xấu hổ phải biết.

Sau khi nhặt hết thứ này đến thứ kia trông bao tải lên kiểm tra, bà ta chìa ra mấy đồng xu lẻ cất trong một cái túi nhỏ đeo ngang hông. Thằng Fig cầm lấy đếm đi đếm lại, rồi nó nói gì đó khiến bà già cười khoái lắm. Bà lại đưa cho nó thêm một đồng trước khi đẩy hai đứa tôi ra cửa.

Ngay khi cánh cửa phụ đóng lại sau lưng, thằng Fig kéo tôi chạy ngược con đường vừa đi ban nãy, xông thẳng vào cửa tiệm bánh mì.

Chưa bao giờ tôi được thấy nhiều loại bánh mì như thế. Có cái vừa to vừa tròn hơn cả đầu tôi, có cái nhỏ xíu như nắm tay, có cái thuôn dài như cây bút, có cái cong cong như nửa vầng trăng, có cái màu trắng ngà, có cái màu nâu hạt dẻ, lại có cái màu sô cô la, có cái rắc đường, có cái phủ đầy vụng đậu phộng.. Tất cả những gì trông cửa hàng này cùng với cái mùi béo ngậy của nó làm tôi thèm đến chảy nước miếng.

Thằng bạn tôi nhanh chóng lấy ra một đồng xu đưa cho ông chủ tiệm. Ông chủ đưa nó một ổ bánh mì nâu đơn giản cũng khá to. Tôi đứng kế bên nhìn ông ta chằm chằm trong lúc đợi ông đưa lại tiền thối. Nhưng người đàn ông ấy chỉ đứng đó nhìn lại tôi (hoặc có thể là cái đầu không có tóc của tôi) mà chẳng nói gì. Cùng lúc đó, Fig lại kéo tay tôi ra ngoài.

Ra đến cửa là cậu ta hớn hở chia ngay ổ bánh ra làm ba, cậu ta một cái, tôi một cái, Berry một cái. Chúng tôi vừa đi vừa nhai cái bánh, bụng tôi nhanh chóng no căng nhưng đầu thì vẫn còn điều chưa thỏa đáng: Không lẽ một xu duy nhất thằng bạn tôi kiếm được từ sáng đến giờ chỉ đủ mua một ổ bánh mì?

Đã quen với cảnh ăn nhờ ở đậu, bấy lâu nay tôi quên khuấy mất không để ý thằng Fig, người bạn đã cưu mang tôi, làm thế nào mà nuôi được ba miệng ăn như thế này.

Từ hồi tôi tỉnh lại cho đến nay, mỗi ngày hai bữa tôi đều được cho ăn soup thuốc và khoai tây nướng vào buổi sáng trước khi cậu ta ra ngoài và buổi chiều tối sau khi cậu ta trở về. Nhìn đồ đạc trong căn chồi là biết, hầu như cậu bạn tôi chẳng có đồng nào để mà tiêu pha. Tôi còn không hình dung được với công việc chăn cừu như thế, cậu ta sẽ được trả công bằng cách nào. Và với cái chồi gió lùa hở trên hở dưới như thế, cậu ta làm cách nào cất giấu được mấy đồng tiền công?

Có lẽ cậu ta không nhận được một xu tiền nào, mà đổi lại trả công bằng hiện vật là mấy củ khoai tây. Có lẽ mấy củ khoai tây tôi đã ăn chính là tất cả gia sản cậu ta có được để tự nuôi sống bản thân mình.

Nhìn đứa bạn nhai ngấu nghiến miếng bánh mì mà miệng tôi bỗng trở nên đắng chát. Miếng bánh lúc nãy vẫn còn thơm mùi bơ giờ đây trở nên thật rệu rạo vì tôi không biết có nên nuốt xuống hay không nữa.

Vẫn còn lại nửa mẫu to tướng, tôi loay hoay kéo cái lai áo dài quá khổ gấp ngược lên cao thành một chỗ cất đồ rồi buộc nó lại một cách tạm bợ, định rằng sẽ ăn dè ăn xẻng cho đến khi nghĩ ra cách trở về nhà.

Mà đến cả bộ quần áo đang mặc trên người cũng không phải là của tôi nốt. Tôi lại vừa đạp nhầm vũng nước khiến lai quần bên trái ướt sũng dính dớp vào chân cực kỳ khó chịu. Nhìn xuống bên chân còn lại thấy cái ống quần tôi lê lết cả ngày đã lủng một lỗ do chà sát liên tục dưới đất, một công tắc cảm xúc trong tôi như được bật lên, khiến tôi bắt đầu rơm rớm nước mắt.

Trông thấy bộ dạng tôi lúc này, thằng bạn tôi dường như đã đoán ra vấn đề. Cậu ta lại kéo tôi đi một đoạn khá xa, phải rẽ qua liên tục mấy góc đường đến trước một tòa nhà có bậc thềm cao dẫn đến một cánh cửa cực kỳ lớn. Vừa đúng lúc chiếc chuông trên đỉnh tháp kêu lên mấy tiếng, cánh cửa được trạm khắc công phu mở toang.

Một không gian thờ nguyện giản dị xuất hiện trước mắt tôi, nổi bật bởi vách gỗ trắng đầy nắng chiều chiếu xuyên qua khung cửa sổ gothic. Căn phòng đem đến cảm giác đơn sơ và mộc mạc đến nổi nếu không có hai hàng ghế tạo ra lối đi ở giữa, tôi sẽ không thể nhận ra nó thiếu mất đi bóng dáng của những vật thường thấy trong các nhà thờ cơ đốc.

Chính giữa gian phòng, một người đàn ông trong chiếc áo chùng đen chào đón chúng tôi bằng nụ cười phúc hậu. Thằng Fig cởi chiếc mũ rơm, kính cẩn cúi chào vị tu sĩ. Tôi cũng làm theo, không quên bắt Berry (lúc này đang được tôi bế trong tay) cũng phải thực hiện hành động kính cẩn như thế.

Chúng tôi đi giữa hai hàng ghế tiến đến trước mặt ông, cậu bạn tôi trình bày với ông có lẽ là chuyện liên quan đến tôi, chỉ thấy ông gật gù tỏ vẻ đồng cảm. Sau đó ông mời chúng tôi ngồi xuống một chỗ trong hai gian ghế, còn bản thân thì loay hoay với giấy tờ và quyển sách trong tay.

Một lát sau, lác đác vài người dân cũng tiến vào nhà nguyện, cùng ngồi xuống hai bên gian ghế. Khi chỗ ngồi đã ổn định, tất cả đều đứng dậy cất tiếng hát bài bình ca. Khi giai điệu hợp xướng không nhạc đệm kết thúc, vị tu sĩ bắt đầu đọc một lời cầu nguyện, và tất thảy mọi người đều nhắm mắt cúi đầu. Buổi lễ sau đó diễn ra tương đối ngắn gọn so với suy nghĩ của tôi. Mặc dù không hiểu nhân vật chính của buổi lễ đang nói gì, nhưng tôi đã cố hết sức không gây tiếng động nào phiền nhiễu những người xung quanh. May mắn làm sao Berry cũng lăn ra ngủ say như ngất.

Kết thúc buổi lễ, vị tu sĩ nhanh chóng đánh xe đưa chúng tôi đến một căn nhà cách đó không xa.

Lần này người phụ nữ mở cửa cho chúng tôi trông bộ dạng tiều tụy hết chỗ nói. Không còn hình ảnh của những dải đăng ten hào nhoáng, người đàn bà trung niên mặc trang phục tối màu, mái tóc búi cao, hai mắt sưng húp vì khóc. Chiếc khăn mùi xoa trên tay chốc chốc lại quệt đi nước mắt nước mũi trên khuôn mặt khi bà nói chuyện với người đàn ông.

Sau một hồi trò chuyện, bà mở cửa mời ba chúng tôi vào trong. Bà lôi từ phòng ngủ ra một chiếc hòm gỗ cũ kỹ, bên trong là mấy bộ quần áo trong còn khá mới. Trước khi tôi kịp phản ứng, bà đã ướm thử nó lên người tôi. Không biết trông tôi có vừa mắt bà hay không, chỉ thấy bà lại bưng mặt khóc nứt nở. Nhờ sự an ủi của vị tu sĩ, bà lại lau nước mắt cố lấy lại vẻ bình tĩnh.

Bà dẫn tôi vào phòng, thay quần áo cho tôi như cách mà tôi vẫn thay quần áo cho mấy con búp bê của mình. Rồi bà đưa mắt nhìn tôi một lượt từ trên xuống dưới trước khi lấy trong tủ ra một chiếc khăn màu xanh lá có họa tiết hoa và buộc nó lên đầu tôi nhằm che đi mái đầu không có tóc. Cuối cùng, nhờ tấm lòng cảm thông của bà, tôi được cho cả hòm quần áo mà trong đó khoảng chừng có đến năm sáu bộ.

Thằng Fig cúi đầu chào bà vẻ vô cùng biết ơn. Tôi cũng bắt chước lặp lại hành động và lời nói đó. Bà tiếc nuối vỗ vai hai đứa tôi rồi tiễn chúng tôi ra xe đi về.

Về đến tòa nhà có đỉnh tháp chuông, người đàn ông dẫn chúng tôi ra bãi đất trống bên cạnh. Bao quanh bởi bờ giậu xanh um là rất nhiều phiến đá xám, mỗi phiến đều được khắc chữ và bao phủ bởi rêu phong. Như thể đã quá quen thuộc với nơi này, đứa bạn tôi cùng người đàn ông đi băng băng qua một loạt các phiến đá trước khi dừng lại.

Chữ trên phiến đá trước mặt chúng tôi không phải là chữ la tinh. Tôi cố lục lọi trong trí nhớ mình xem đó có thể là chữ viết của quốc gia nào nhưng chẳng thể nào nhớ được. Nhưng không khó để tôi nhận ra hình khắc bên dưới những dòng chữ đó là chân dung một đứa bé gái có mái tóc xoăn dài và đôi mắt to tròn đáng yêu.

Người đàn ông rút ra từ quyển sách ông cầm trên tay một nhành cúc trắng. Nhành hoa không nhỏ lắm, nhưng chẳng hiểu sao tôi chẳng để ý thấy ông mang nó theo bên mình trên suốt quãng đường. Ông cẩn thận đặt nó xuống rồi đọc to một lời cầu nguyện trước khi tất cả chúng tôi đều cúi đầu chào.

Rồi thằng bạn kéo tôi đến một phiến đá nhỏ hơn nằm khuất sâu trong góc vườn. Chữ trên phiến đá này ít hơn nhiều, và rất khó để người ta biết được hình dạng vị chủ nhân của nó. Cậu bạn tôi cũng đọc một lời cầu nguyện và bất chợt, cúi xuống hôn lên bia đá lạnh giá như thể trao một nụ hôn nồng ấm dành cho người thân trong gia đình.

Điều này làm tôi chợt nhớ đến đóa cúc dại mình đã gắn trên cổ áo từ ban trưa, thế là tôi lấy nó ra, tuy đã rơi mất một cánh nhưng trông vẫn còn tươi lắm. Tôi đưa cho Fig bông hoa của mình, nó vui mừng cầm lấy đặt lên trước khối bia, bịn rịn một hồi trước khi rời đi.

Chia tay người đàn ông trước bậc thềm, thằng Fig nói lời cảm ơn vì sự giúp đỡ nhiệt tình của ông. Giờ thì tôi cũng đã học được cách nói lời cảm ơn theo ngôn ngữ của họ nhờ học được từ đứa bạn tôi, một đứa trẻ ngoan và hiểu chuyện. Chúng tôi vẫy tay chào tạm biệt ông rồi nặng nề khiêng hòm quần áo đi về lối cũ.

Lúc này, nắng chiều vàng ươm đã hắt bóng cây đổ dài trên đất còn mặt trời đã xuống lấp ló sau những rặng cây. Chúng tôi gặp lại bác đánh xe trước cửa tiệm ăn nơi bác đã cho chúng tôi xuống. Mấy túi nông sản của bác đã vơi đi khá nhiều để lại chỗ trống đủ để hai đứa tôi nằm ườn ra đánh một giấc. Những tưởng đã đến lúc trở về, ấy thế mà cuộc hành trình của chúng tôi vẫn tiếp tục khi bác đánh xe đi thẳng con đường chính, tiến về phía lâu đài.
 
3 ❤︎ Bài viết: 0 Tìm chủ đề
Chương 6: Đại tiệc

Từ dưới nhìn lên, tòa pháo đài trên đỉnh đồi là một khối kiến trúc khổng lồ gồm nhiều tòa tháp cao được xây dựng trên vách đá thẳng đứng và bao quanh bởi thành lũy kiên cố. Để lên được trên kia, chú ngựa kéo phải thực hiện một nhiệm vụ hết sức vất vả là lấy hết tốc lực chạy lên con dốc uốn lượn ôm quanh ngọn đồi. Khi chạy với tốc độ nhanh, làn gió cản bước chúng tôi cũng đồng thời cuốn đi cái nóng bức của một ngày ôi ả khiến tôi lấy làm thích thú. Ánh hoàng hôn rực rỡ càng khiến khung cảnh thị trấn từ trên cao nhìn xuống thêm phần diễm lệ đậm chất trữ tình.

Lên đến nơi cao nhất, chúng tôi nối đuôi những cỗ xe kéo khác đang xếp hàng dài tiến vào cổng chính.

Đỗ ngay trước chúng tôi là một xe chở than củi. Kế đến là cỗ xe chất đầy thủng ủ rượu thường thấy trong nhưng bộ phim cao bồi miền viễn tây. Buồn cười nhất là cảnh một đoàn xe sang trọng trông như toa xe lửa hở hai đầu, bên trong là những người phụ nữ mặc xiêm y lộng lẫy và đoàn tháp tùng cưỡi ngựa theo sau, bị kẹp giữa hai xe chở cừu đã được cạo lông sạch sẽ. Và khi mà ráng chiều càng lúc càng sẫm đi như màu quýt chín, hàng đợi lại càng ngày càng dài hơn nhờ sự góp mặt của những cỗ xe chở khách được tạo tác phức tạp công phu.

Đoàn thương nhân dỡ hàng hóa từ trên xe rồi chất đống giữa khoảng sân lâu đài đang tập nập người ra kẻ vào. Bên kia dãy hành lang, khách mời đổ xô tiến vào đại sảnh đường, tay bắt mặt mừng cùng đội chiến binh, nói cười huyên náo cả một góc lâu đài.

Bác Paul dẫn chúng tôi đến phòng bếp, một nơi mà tôi đã đoán ra ngay từ khi đi dọc ngoài bờ tường bởi cái mùi đồ ăn tỏa ra qua ô cửa sổ lớn. Mọi người trong căn bếp đều mặc tạp dề bằng vải lanh, phụ nữ đầu quấn khăn, đàn ông đội mũ vải trắng che hết cả vành tai. Tất cả họ đều đang cặm cụi chuẩn bị nguyên liệu bên những chiếc bàn lớn cạnh lò sưởi, trên bàn chất đầy các rau củ vật liệu đang chờ đến lượt được cho vào vạc nấu.

Paul và Fig chào hỏi người đàn ông đội chiếc mũ nâu trông có vẻ là lớn nhất ở đây. Sau vài câu trò chuyện, hai người họ nhiệt tình đẩy tôi ra trước ánh mắt dò xét của ông ta như thể một con đại bàng đang đánh giá sinh vật trước mặt có phải miếng mồi ngon hay không. Chỉ đợi ông ta gật đầu đồng ý, ngay lập tức thằng Fig được ném cho chiếc mũ trắng và một con gà luộc để ngồi vặt lông cùng mấy bà cô trong góc phòng. Còn nhiệm vụ của tôi là nghiền hết đống lá chút chít bằng cái cối đá để rắc lên bánh mì và vắt lấy nước sốt cho món xúc xích heo.

Thỉnh thoảng tôi cũng bị sai vặt mang món ăn qua đại sảnh đường khi những dĩa thức ăn đã trang trí xong trải đầy khu bếp mà bóng dáng mấy chị hầu gái lại chẳng thấy đâu. Nhờ thế mà tôi có dịp ngó qua buổi tiệc đã khiến tôi vô cùng mất kiên nhẫn vì tò mò từ nãy đến giờ.

Mái vòm cao chót vót được nâng đỡ bởi hai hàng thức cột kiểu la mã tạo ra một cảm giác cực kỳ choáng ngợp. Nổi bật giữa bức tường chính là tấm gia huy màu đỏ hình con gấu hung tợn và cái khiên được bao quanh bởi họa tiết lá nguyệt quế và vài hình thù đặc trưng khác - một phiên bản phức tạp hơn những lá cờ mà tôi đã có dịp trông thấy ở buổi lễ sáng nay.

Ngay phía dưới đó, ngồi ở vị trí trung tâm và cao nhất là người đàn ông có mái tóc vàng trong bộ trang phục uy nghi đang nồng nhiệt uống cạn những cốc rượu mừng được dâng lên.

Thuộc hạ của anh ta ngồi đầy năm dãy bàn trải dài đến tận cửa lớn, xen giữa là những cô gái tóc xoăn tít búi cao được trang điểm lộng lẫy (và theo tôi là có phần hơi diêm dúa). Tất cả bọn họ đều trong tình trạng phấn khích tột độ nhờ men nồng của những cốc rượu nho, khiến lời nói và hành động dường như mất kiểm soát và trở nên thô bạo.

Không ít lần tôi giật nảy mình vì tiếng đồ vật rơi loảng xoảng, hay âm thanh la hét lớn tiếng của những gã đàn ông lực lưỡng, râu tóc xòm xoàm và nói năng lỗ mãng.

Thỉnh thoảng khi có tình huống căng thẳng phát sinh giữa họ, thì giọng nói ê a ngọt như đường của những cô gái cạnh bên cùng cử chỉ nũng nịu xoa dịu khiến đôi bên lấy lại bình tĩnh rồi lại thi tài nốc cạn cả thùng rượu to.

Phục vụ cho bữa tiệc thật ra chẳng khó khăn như tôi tưởng bởi thậm chỉ tôi còn chẳng cần mang những khay thức ăn đến đúng vị trí của nó. Lần nào tôi cũng chỉ cần đi dọc các dãy bàn, liền có người nào đó lấy nó đi từ trên tay tôi. Tuy nhiên sự việc xảy ra tiếp theo khó khăn hơn nhiều, khiến tôi trở nên căng thẳng và chỉ muốn chạy nhanh về bếp không quay lại nữa.

Chẳng là tôi vô tình va phải một người đàn ông to béo có bộ mặt thô kệch, ông ta càm ràm gì đó tôi không hiểu khiến tôi vô cùng bối rối. Đang định bụng nhanh chóng chuồn đi, đột nhiên ông ta kéo tôi lại, vừa nắm chặt lấy vai tôi, vừa cúi xuống nhìn chằm chằm vào mặt tôi. Rồi ông ta thô lỗ chỉ tay vào mặt tôi cười cực kỳ khoái trá, kéo theo những người khác cũng tạm ngưng cuộc vui mà nhìn về phía tôi. Rồi bằng những ngọn tay múp míp như nải chuối, ông ta khiếm nhã giật phát cái khăn tôi buộc trên đầu làm lộ ra cái đầu hói của tôi, khiến tôi vừa thẹn vừa cực kỳ giận.

Tôi cố lùi lại nhưng đám đông không biết tự lúc nào đã bu kín xung quanh khiến tôi bỗng chốc sợ xanh mặt. Họ cứ cố cầm lấy mặt tôi, hết người này đến người khác xoay mặt tôi qua lại như một trái bowling, ngắm nghía nó như thể thứ gì lạ lùng lắm. Trong thoáng chốc tôi đã nghĩ, hẳn là họ đã phát hiện tôi là người ngoài, còn cái đầu hói là nguyên nhân khiến họ chê bai giễu cợt và có thể là sẵn sàng đuổi đánh tôi ra khỏi đây bất cứ lúc nào.

Đột nhiên một tiếng nói cứng rắn dõng dạc phát ra từ đằng sau đám đông, khiến tất cả mọi người đều phải dừng lại. Lại thêm một mệnh lệnh đanh thép nữa buộc họ phải tản ra quay về chỗ cũ như thể chẳng có chuyện gì và uống nốt chỗ rượu còn dang dở.

Người đã cứu nguy lấy tôi đang đứng trên bục cao kia, chính là người đàn ông tóc vàng mà tôi đã trông thấy dẫn đầu đoàn kỵ mã. Diện mạo người đó trông nổi bật hơn hẳn những người xung quanh, với khuôn mặt ưa nhìn, phong cách gọn gàng và vóc dáng to lớn mặc dù tôi chỉ có thể nhìn thấy ở khoảng cách xa thế này.

Người đó ra hiệu tôi lui đi, thế là tôi cứ cắm đầu cắm cổ chạy một mạch về bếp, không quên nhặt lại chiếc khăn bị người ta vứt rẻ rúng dưới nền nhà.

Về đến căn bếp nghi ngút khói mà tay tôi vẫn còn run bần bật. Tôi lại ngồi xuống cạnh Fig, cố giữ bình tĩnh và đánh vảy mấy con cá đang chuẩn bị làm món phi lê bằng mấy cái chảo gang trên ngọn lửa lò sưởi.

Chẳng biết mất bao lâu, cho đến khi đôi tay tôi mỏi rã rời thì mọi người cũng dừng làm việc để ăn lấy một chút súp bánh mì lót dạ. Mấy cái vạc đồng đang treo giữa lò sưởi mới đó mà đã sôi sùng sục chín nhừ món súp thịt cừu hầm củ cải tím cùng nghệ tây và hạt tiêu đen. Thế là một lần nữa, khi một chị trong nhóm hầu gái khều tôi trước khi cầm lên bát súp, tôi biết mình lại phải trở thành con thiêu thân bay vào giữa đám người thét ra lửa mới vừa khiến tôi sợ khiếp vía trong căn phòng kia.

Chúng tôi đặt những bát súp nóng bên cạnh giỏ trái cây trước mặt những thực khách mà phần lớn trong số họ đã gục xuống mặt bàn.

Vẫn còn một phần cuối cùng còn sót lại mà lẽ ra phải được dâng lên vị gia chủ đang ngồi ở vị trí trên cao kia trước tất thảy mọi người. Tôi cẩn thận cầm lấy chiếc bát đó, tiến về phía người đàn ông đang chìm trong suy tư sau một bữa tiệc mừng ồn ào và hoành tráng.

Nhìn gần thế này tôi mới thấy, người đó hẳn là vẫn còn trẻ, với đôi mắt xanh như màu lá cây, đường nét khuôn mặt nam tính, mái tóc vàng xoăn tự nhiên hơi lòa xòa và cúp vào sau gáy.

Người đó không biết đang bận tâm điều chi, ánh nhìn cứ vô định về phía những vị khách say xỉn, tay mân mê chiếc cốc vàng, lắc lư nó khiến thứ chất lỏng tím sẫm cứ sóng sánh như muốn tràn ra bất cứ lúc nào.

Khi đã hoàn thành xong nhiệm vụ của mình và chuẩn bị rời đi, một âm thanh quen thuộc bằng thứ ngôn ngữ đất nước tôi văng vẳng bên tai khiến tôi giật mình quay ngoắt lại.

"Bé con!"

Rõ ràng là tôi đã nghe thấy thế.

Tôi đưa mắt dáo dác nhìn quanh để chắc chắn rằng mình không nghe nhầm. Nhưng, hẳn là tôi đã nghe nhầm, bởi giờ đây nơi này còn ai đủ tỉnh táo để mà quan tâm đến một con bé ngoại quốc như tôi. Người ta hoặc là lần lượt dắt díu nhau rời đi, hoặc là nhỏm dậy chén nốt miếng súp cuối cùng như một cách giải rượu, hoặc là dành trọn đêm nay trong cái đại sảnh đường này cho đến khi mặt trời hửng sáng.

Thế rồi lại giọng nói ấy, giọng nói đã cứu nguy tôi bằng thứ ngôn ngữ xa lạ được cất lên, ôn tồn nhưng dịu dàng như một hiệu lệnh dành riêng cho một đứa trẻ.

Tôi xoay người nhìn về phía người đàn ông. Người đó ra hiệu tôi tiến đến gần rồi chìa ra cho tôi bát súp.

Sau đó người ấy chỉ vào chiếc ghế trống bên cạnh có phủ vải thêu sang trọng, như thể bảo tôi: Đừng bận tâm gì cả, hãy ngồi xuống tử tế và ăn nó đi. Điều đó khiến tôi bối rối, không chỉ vì cử chỉ lịch thiệp có phần lạ lùng của người đàn ông kia, mà còn vì mấy miếng thịt cừu trong cái bát cứ mê hoặc lấy tôi, khiến cái bụng chỉ có vài ba miếng bánh mì nấu súp nhão nhoét nhạt toẹt của tôi ra tín hiệu lên cơ quan đầu não rằng còn chờ gì nữa mà hãy ăn đi.

Tôi lại đưa mắt nhìn quanh xem có ai để ý không, lúc này mấy chị hầu gái lại lẫn đi đâu không biết. Vậy là tôi rón rén ngồi xuống chiếc ghế sang trọng được chỉ định, múc lấy múc để mấy miếng thịt cừu cho ngay vào miệng.

Cảm giác lâu lắm rồi mới được ăn thịt khiến tôi hạnh phúc như trên mây. Không phải là mấy củ khoai tây vô vị hay thuốc súp đắng chát, thứ đang trông miệng tôi đã được tẩm ướp sơ qua với muối với từng thớ thịt dai dai và vị béo của mỡ, pha lẫn cái mùi hơi hăng hắc đặc trưng của thịt cừu, cũng cái vị nồng nồng cay cay của hạt tiêu. Tôi cứ ăn hết miếng nọ đến miếng kia, thậm chí còn cầm cả cục xương lên mà gặm. Tôi không còn quan tâm được bất cứ điều gì trên đời nữa. Giờ mà có bị đuổi khỏi đây và lết bộ về căn chồi thì tôi cũng thấy cam lòng.

Sau khi bụng dạ đã no căng thì tôi mới ý thức được hành động của mình có lẽ là không phải phép. Nhưng người đàn ông bên cạnh đã đưa cho tôi chiếc khăn lau tay có thêu hoa văn cầu kỳ, còn đẩy giỏ trái cây lên trước mặt ra hiệu tôi ăn đi. Tôi nhón lấy một quả nho xanh tươi cho vào miệng, lau sạch sẽ đôi tay dính bẩn rồi lại định cầm bát súp còn dư mà chuồn đi. Nhưng người đó kéo tôi lại, rồi bằng một động tác dứt khoát xé toạc một mảnh áo choàng và gói ghém giỏ trái cây trong ánh mắt kinh ngạc của tôi.

Tôi định nói lời cảm ơn mà tôi vừa học được hôm nay nhưng chẳng còn thời gian đâu mà chần chừ thêm nữa. Một trong số những người gác cổng hớt hải chạy vào, chỉ kịp để tôi ôm cái túi áo choàng nhảy xuống bậc thềm rồi lặng lẻ lẻn ra khỏi cửa.

Tôi không rõ nỗi xấu hổ khi không thể che giấu được sự tham lam của một đứa trẻ con là lý do khiến khối cơ trong lồng ngực đập liên hồi, hay vì nỗi bồi hồi được đứng cạnh bên một vị thần mang vẻ đẹp không thể cưỡng lại của những tạo vật cổ xưa.

Hình ảnh người chiến binh có đôi mắt màu nho cứ lặp đi lặp lại trong đầu tôi như một cuốn phim tua chậm, mỗi khung hình đều được áp filter rực rỡ ánh hào quang. Giọng nói của anh trầm ấm như củi cháy trong lò sưởi, bao bọc lấy tôi cùng những cử chỉ quá đỗi dịu dàng, khiến cho vẻ mặt giận dữ khi anh đập mạnh chiếc cốc trong tay xuống bàn không còn vẻ gì là đáng sợ.

Tôi nép mình vào một hõm tường tối tăm khuất sâu trong lối đi vắng vẻ, vươn mắt nhìn về hướng chậu nguyệt quế đã nở rộ những nhành hoa trắng ngần bên dưới ô cửa sổ cuối cùng của hành lang. Bóng hình người đàn ông lướt qua hàng ô cửa sổ đang sải những bước thật nhanh theo sau viên gác cổng, băng qua khoảng sân thoáng đãng lúc này đã tràn ngập ánh trăng. Tấm áo choàng khuyết đi một góc tung bay phấp phới trong không trung, như thể đó là bằng chứng cho trận đấu một mất một còn giữa mãnh thú và vị anh hùng.

Lặng lẽ đợi ở góc sân là một cỗ xe ngựa có gian ngồi hệt như trái bầu nằm giữa bụi dây leo. Trong khoảnh khắc khi ngọn đèn trên tay viên xà ích lướt qua ô cửa, để lộ một bóng hình mờ ảo ở bên trong, ánh trăng vằn vặc chiếu rọi những tia dịu dàng huyễn hoặc khiến tôi tự hỏi, liệu có phải nàng lọ lem đến dự buổi dạ tiệc của chàng hoàng tử hay không. Bởi chàng hoàng tử giờ đây đang vội vàng chạy đến giằng mạnh tấm rèm treo nơi lối vào khiến cả khối kim loại khổng lồ không ngừng lắc lư lẩy bẩy.

Liệu chàng sẽ ôm chặt lấy nàng dưới sự chứng giám của những vì tinh tú lấp lánh trên cao?

Tấm rèm kéo lên, tim tôi hẫng đi một nhịp.

Người vừa bước xuống ngã nhào vào lòng anh, khiến chàng chiến binh chật vật xoay người đỡ lấy bằng tấm lưng rắn rỏi. Chiếc áo chùng mau đen dài đến gót chân phủ phục lấy thân thể cả hai người, giấu khuôn mặt sau mũ áo chỉ để lộ lọn tóc vàng mềm mại phủ xuống bờ vai anh. Nhanh như cắt, anh vội vàng cõng nàng chạy thật nhanh, xuyên qua màn đêm, xuyên qua ánh mắt hiếu kỳ của những vị khách mời đang tản mát, rồi sau đó biến mất chỗ ngã rẽ cầu thang dẫn lên lầu.

Tôi có thể thấy ánh nến mới vừa được thắp lên tỏa ra từ một căn phòng trên tầng hai vốn đã luôn tĩnh lặng. Viên gác cổng và viên xà ích thong thả trở lại công việc của mình. Còn mấy người đầy tớ thì có vẻ chẳng mảy may hay biết gì sự xuất hiện của một vị khách mới.

Hẳn hai người họ đang ở cùng nhau, gần kề bên nhau trong một không gian riêng tư cẩn mật.

Tôi lầm lũi trở về căn bếp bừa bộn như một bãi chiến trường mà cảm giác nặng nề cứ đè mãi lên tim. Vừa chùi rửa mấy cái nồi đồng dính đày nhọ bếp, tôi vừa trông ra chỗ đám khách đang bắt đầu tàn tiệc. Một số lên xe đi về, một số khác được sắp xếp ngủ lại trong những căn phòng tối như hũ nút ở các tầng trên cao.

Khi bóng của tòa lâu đài hắt trên mặt đất đã hoàn toàn đổi hướng, cũng là lúc việc dọn dẹp đã hoàn tất và chúng tôi đã có thể nghỉ ngơi. Fig đi với bác Paul còn tôi được cho ngủ trong cái hộc để đồ bên dưới bệ cửa sổ phòng mấy thím nấu bếp.

So với tưởng tượng về một "cái chuồng cho gia nhân" với đầy gián, chuột và một đống người làm lem luốc chen chúc nhau, thì nơi tôi được sắp xếp cho ngủ trông ọp ẹp nhưng sạch sẽ và không đến nỗi nào. Có lẽ vì nền đất lạnh, hoặc có thể vì chỗ tôi nằm đem đến cảm giác ngột ngạt như trong một cỗ quan tài, khiến tôi cứ trằn trọc mãi không sau ngủ được. Nến đã tắt từ lâu, còn tôi thì lồm cồm bò dậy đứng bên cửa sổ trông ra khung cảnh bên ngoài.

Chỉ vài tiếng trước thôi, ánh đèn từ tất cả các gian phòng của lâu đài được thắp lên như hồi sinh khối công trình đã cũ. Giờ đây chỉ còn mỗi căn phòng đối diện trên cao kia hắt ra thứ ánh sáng lờ mờ xuyên qua tấm rèm chòng chành qua lại. Tôi nửa muốn ai đó tắt nó đi, nửa chỉ mong ngọn lửa đó không bao giờ tan biến.

Thượng đế hẳn đã nghe thấy những suy nghĩ rối mù trong tâm trí tôi, và ngài quyết định sẽ thêm vào đó một ít gia vị cho nó càng thêm rối rắm. Từ trên cầu thang tầng hai, một bóng đen lao vút ra khỏi cửa rồi đi xuống sân, nhanh nhẹn đến mức tôi tưởng đó là một tồn tại siêu thực. Chỉ khi cái bóng dừng lại trong một góc tường và loay hoay như đang tra chìa vào ổ khóa, tôi mới nhận ra lọn tóc vàng uốn lượn như cơn sóng. Thứ gì đó lấp lánh rơi ra từ tấm áo chùng khi người kia cất chìa, nhưng cánh cửa đã nhanh chóng đóng lại, và nàng Lọ Lem đã hoàn toàn biến mất.

Tôi nằm xuống nhắm chặt hai mắt để định thần, trong đầu vẽ ra vài kịch bản mà tôi có thể sắp xếp vai phản diện dành riêng cho cô ta. Người phụ nữ bán đứng người yêu. Người phụ nữ giết chồng cướp tài sản. Người phụ nữ dẫn đường cho giặc. Người phụ nữ ngoại tình trong đêm.

Tôi đắn đo không biết có nên chạy ra nhặt lấy bằng chứng mà cô ta để lại hay không. Một phần trong tôi dự cảm rằng dính dáng đến cô ta sẽ không đem lại chuyện tốt lành. Phần còn lại thôi thúc tôi giữ lấy nó rồi kể lại cho người ấy chuyện tôi đã chứng kiến cô ta bỏ chạy như thế nào, chuyện người đã bị phản bội ra sau. Khát vọng trở thành người hùng đã chiến thắng, trước khi đi tôi xác nhận lại một lần nữa cô ta có quay lại hay không, rồi rón rén mở cửa chạy ra nhặt lấy vật chứng.

Trời đã hửng màu xanh khởi đầu buổi bình minh. Trùng hợp làm sao thứ tôi cầm trên tay là một chiếc vòng cao cấp đính đá màu xanh lam mà tôi đoán rằng cô ta được tặng như món quà của cuộc tình này. Cánh cửa nơi cô ta đi qua đã được khóa lại. Căn phòng nơi cô ta ở vẫn còn thắp đèn. Vậy là tôi đã nắm được tình hình hiện trường và sẵn sàng ra tòa làm chứng. Giờ tôi chỉ việc quay về cái hộc và chờ sáng hôm sau sự việc được phát giác công khai.
 
3 ❤︎ Bài viết: 0 Tìm chủ đề
Chương 7: Nàng Lọ Lem

Tiếng chuông tháp canh đánh thức tôi giữa cơn say ngủ, khiến tôi choáng váng bật dậy trong trạng thái đầu óc vẫn đang chờ loading.

Căn phòng trống trơn không một bóng người còn chăn gối đã được sắp xếp ngăn nắp. Hẳn mấy thím nấu bếp đã quên khuấy mất cái thân nhỏ xíu của tôi được giấu trong cái hộc để chăn, vì ngay khi tôi đứng lên vài ba tấm chăn đã xếp nếp đổ xuống nằm ngổn ngang dưới đất.

Dưới sân đang tổ chức một buổi họp mặt. Tôi đoán thế vì binh sĩ và khách dự tiệc hôm qua đang tập trung quanh cái bục cao nơi người đàn ông tóc vàng là chủ tọa.

Bầu không khí có vẻ căng thẳng, vì tôi nghe thấy giọng hai người đàn ông sang sảng đối đáp nhau theo cách không mấy hòa nhã, còn đám đông thì thi thoảng lại la ó rần rần. Hôm nay có vẻ lại có thêm khách mời, vì xen giữa số đông nhóm người mặc áo choàng đỏ là một nhóm khác chỉ cỡ chục người đứng cùng nhau trong chiếc áo choàng xanh dương.

Nổi bật nhất trong số họ là một vị thủ lĩnh cũng có mái tóc màu vàng và trang phục đính kim sa cao cấp, đang ra sức chỉ trích một ông khách lòe lẹt trong bộ độ đính đá quý và chiếc mũ lông công.

Không biết vì chuyện gì, hai bên xanh đỏ đều có vẻ hung hăng và xem chừng sắp lao vào hỗn chiến.

Tôi vẫn tiếp tục công việc hôm qua là lúi cúi trong bếp chuẩn bị cái gì đó để ăn. Căn bếp hôm nay nhộn nhịp hơn hẳn vì mọi người đều bận xầm xì to nhỏ chuyện xảy ra ngoài kia, nên chẳng ai buồn để ý sự có mặt muộn màng của tôi. Khi đang loay hoay nhồi rau củ vào trong một con gà, tôi bỗng nghe thấy tiếng đám đông la hét thất thanh. Một chị hầu gái chạy vào nói gì đó khiến mọi người đều đổ ra ngoài đứng xem. Tôi cũng vội vã theo chân họ.

Đám đông đang di chuyển về hướng cổng lâu đài, ào ạt đổ ra như đàn kiến vỡ tổ. Thật khó để hiểu được tình huống hiện tại khi gặp rào cản ngôn ngữ như thế này. Tôi chỉ có thể trông thấy người ta kéo nhau bu quanh một cái gì đó rồi di chuyển dần xuống đồi. Trong số những người ở lại, nhóm chiến binh áo xanh và vị thủ lĩnh của họ, đang theo bước vị chủ nhân lâu đài tiến vào một căn phòng gần đó.

Khi lượng khách giảm đi cũng đồng nghĩa với không có mấy việc cần làm, và tôi cứ ngồi mãi ở bật thềm ngắm nhìn mấy thím nấu bếp loanh quanh hái rau nơi mảnh vườn nhỏ.

Trông tôi thật giống chú gà con đang đi lững thững đằng kia, đưa mắt dáo dác khắp nơi tìm kiếm gà mẹ mà chẳng thấy đâu. Sáng nay Fig và bác Paul đã đi đâu mất, và từ ngày hôm qua tôi đã không nghe thấy tiếng sủa của Berry.

Tôi tự hỏi không biết mọi người có lại bỏ quên mình mà trở về nơi vùng quê hẻo lánh kia hay không. Nếu thế thật thì tôi sẽ buồn-khá-là-nhiều. Phần còn lại của nỗi buồn-khá-là-nhiều đó lạ thường ở chỗ tôi biết mình sẽ tiếc nuối nếu buộc phải rời xa nơi này.

Thi thoảng, bóng dáng một tà ảo đỏ lướt qua trên dãy hành lang không thể nào khiến tôi không chú ý đến. Tôi đã chờ đợi một điều gì đó mà tôi biết sẽ không bao giờ có thể chạm vào.

Vị khách mới có vẻ rất được các chị hầu gái ngưỡng mộ, vì tôi thấy họ tranh giành nhau chiếc ga trải giường và lọ cắm hoa trước khi bước vào căn phòng của người đàn ông kia. Khi người kia trên đường trở về phòng và chạm mặt cả nhóm nơi ngã rẽ cầu thang, trong ai cũng bẽn lẽn và cố tỏ ra dịu dàng như thể những cái quát vào mặt nhau ban nãy chỉ là trò đùa của những cô hầu rỗi rãi.

Vào bữa ăn tối hôm ấy, tôi có cảm giác họ trở nên xinh đẹp và chăm chỉ hơn hẳn ngày hôm qua. Món ăn vừa được đổ ra đĩa đã thấy vài người trong số họ xắn tay áo lên bê đi mất. Một trong số những chị gái ấy, người mà theo tôi nhớ hôm qua vẫn còn mặc chiếc tạp dề chắp vá chằng chịt, hiện đang mặc một chiếc mới cóng tinh tươm. Và khi họ trở ra từ đại sảnh đường, không còn sự xuất hiện của những cái chau mày khó chịu và những khuôn mặt thất thần, tất cả đều tươi tắn như những bông hoa được tưới nước sau ngày nắng nóng.

Công việc lau dọn hành lang bằng cây lau cao gấp rưỡi cái thân nhỏ xíu này rốt cuộc cũng đến tay tôi và hai chị gái xui xẻo khác, một chị mặt tàn nhan và một chị lúc nào cũng trong bộ dạng co rúm như một bé nhím con. Có lẽ vì tôi là đứa bé nhất, nên hai người họ đã giúp tôi múc nước từ dưới giếng, nhiệt tình chỉ tôi cách vắt miếng giẻ rách trên đầu cây lau và mang giúp tôi cái xô lên cầu thang.

Hành lang tầng ba sáng hoắc ánh đuốc nhưng hầu như chẳng có bóng người. Dù sao cũng không ai để ý, thế là tôi nghĩ ra cách cứ khoảng vài chục phút lại kéo lê cái xô trên hành lang, mỗi lần lại vung vẩy nước ra nền để trông như thể chỗ ấy vừa được lau xong chưa kịp ráo. Thời gian còn lại tôi ngồi ngắm trăng sao và bầu trời màng đêm huyễn hoặc, mường tượng những kỷ niệm hạnh phúc khi còn được ở nhà. Sẽ ra sao nếu tôi quên mất mình là ai, quên luôn cả đường về nhà và chết đi để lại cha mẹ và bà ngoại vẫn luôn mòn mỏi ngóng tin tôi từng ngày.

Nỗi sợ hãi thoáng qua đó dẫn tôi đến một suy nghĩ táo bạo: Nếu tôi tìm đến vị chủ nhân lâu đài đã tử tế cho tôi ăn ngày hôm qua và nhờ cậy một sự giúp đỡ, liệu người ấy có tốt bụng liên lạc với cảnh sát hoặc đại sứ quán để đưa tôi về nhà hay không?

Hẳn là người ấy sẽ thế, hẳn là người ấy phải thế, vì chỉ một ánh mắt cũng đã biết người ân cần với tôi biết nhường nào. Một người ân cần như thể hẳn sẽ không bỏ mặc một hoàn cảnh khó khăn trong mảnh đời xa lạ này mà không đưa tay ra giúp đỡ.

Tôi cứ miên man trong suy nghĩ và nhúng đi nhúng lại miếng giẻ trong xô nước không biết đến bao giờ. Rồi tôi nghe thấy giọng nói thân thuộc cùng tiếng bước chân anh đang đi lên cầu thang.

Nỗi xấu hổ ập đến khiến tôi vứt cây lau vào vách tường và nép mình vào một góc khuất. Bóng anh đổ trên nền đất cùng một người khác đang nhanh chóng tiến đến chỗ tôi khiến tôi càng nín thở rút mình sâu vào bên trong cho đến khi bờ vai đụng phải cái gờ cửa sổ.

Cách đó vài bước chân, hai người họ biến mất vào trong một căn phòng, rồi từ khung cửa sổ tôi vừa va vào hắt ra thứ ánh sáng mờ mờ của những ngọn nến vừa thắp. Từ đây tôi có thể nghe rõ tiếng trò chuyện của hai người.

Đối phương rõ ràng là người áo xanh kia đang thản nhiên ngã lưng trên chiếc giường chạm trỗ hoa văn tinh xảo. Ngược lại, vị chủ nhân lâu đài chỉ khoanh tay trước mặt đừng nhìn như thể chính anh mới là khách trong căn phòng này.

Họ bàn luận vấn đề gì đó rất sôi nổi, đến mức tôi nghe thấy tiếng anh cười, những tràng cười vô cùng thoải mái mà tôi chưa từng trông thấy từ khi đến đây. Hai người họ có vẻ rất thân nhau, trái với ấn tượng ban đầu sáng nay khi cấp dưới của họ có vẻ xem nhau như cái gai trong mắt.

Trong suốt cuộc trò chuyện giữa hai người đó, tôi chú tâm lắng nghe mặc dù không hiểu nổi lấy một từ. Tôi biết điều tôi đang tò mò. Tôi biết điều tôi đang tìm kiếm. Tôi đang chờ đợi một cái tên, một danh xưng để mỗi khi tôi nhắc về anh, nhớ đến anh sau khi rời xa nơi này, sẽ không còn là một danh từ chung chung "người đàn ông ấy".

Có một từ mà người áo xanh kia đã lặp đi lặp lại nhiều lần, và vị trí xuất hiện của nó giống với cách mà chúng ta thường dùng để gọi tên một người.

Tôi ngắt vội lá và nhánh một chậu cây cảnh gần đó để khắc lên cái từ tôi vừa học được rồi kẹp nó vào cái khăn che đầu, lòng thầm ước rằng tôi đã đúng.

Lúc này trăng đã lên cao, tôi cứ nấn ná ở đó mãi, phần vì không biết làm sao với cái xô lau nhà, phần vì tôi muốn chờ được gặp anh. Đêm đã khuya mà sao họ vẫn còn chưa chịu ngủ. Thế là tôi nằm cuộn tròn trên nền đá mặc kệ hết mọi sự trên đời, tôi mệt và tôi nhắm mắt, giấc ngủ nhanh chóng ập đến đưa tôi vào cõi chiêm bao.

Không biết làm cách nào mà tôi tỉnh dậy trong một cái phòng nhỏ xíu đầy đủ giường tủ và một cái bàn con. Căn phòng trông giống phòng ngủ riêng tư của một gia nhân trong nhà mà tôi đoán chừng phải có chức vụ đặc biệt nào đó để được đặc cách có phòng riêng.

Vừa mở cửa bước ra, tôi va phải Fig đang chạy quanh tìm tôi và bị nó mắng một trận xối xả. Mắng xong rồi, nó lôi tôi qua khu bếp chào mọi người và ông bếp trưởng, người vừa chìa ra một đống tiền xu cho bác Paul khiến bác cười ngoác đến tận mang tai. Vừa quay qua quay lại đã thấy con ngựa đã được dống vào xe để chuẩn bị khởi hành, tôi chỉ có ít thời gian để đi tìm tấm áo choàng bọc trái cây hôm trước và quên khuấy mất chuyện tôi định làm ngày hôm qua.

Khi cỗ xe lăn bánh rời khỏi cổng lâu đài, tôi vẫn còn ngơ ngác không hiểu chuyện gì đang xảy ra. Berry cứ nhào vào lòng tôi ngoe nguẩy cái đuôi và hào hứng chồm lên để tôi phải ôm lấy nó. Còn thằng Fig chìa cho tôi mười đồng xu mà tôi đoán là tiền công tôi được trả cho công việc lặt vặt hai hôm nay. Với món tiền này chúng tôi sẽ không lo chết đói trong vài ngày tới. Nhưng mà.. thế còn việc trở về của tôi thì sao?

Tôi hết nhìn bác Paul, người đang vừa đánh xe vừa huýt sáo, đến nhìn thằng bạn đang vui vẻ ăn túi trái cây tôi vừa cho, rồi đến ngọn đồi tòa lâu đài vừa bỏ lại sau lưng mà trong lòng như chết lặng.

Những giọt nước mắt trong tôi cứ dâng lên, dâng lên khiến mũi tôi nghẹn đắng và hai dòng lệ tuôn rơi. Tôi òa khóc nức nở khiến cả những người đang đi hai bên đường đều nhìn tôi chằm chằm. Tôi không quan tâm, tôi không thể quan tâm nữa. Mặc cho đứa bạn cứ vỗ về và Berry dụi người vào lòng tôi như an ủi, bác Paul thậm chí còn dừng xe lại chờ cho tôi nín khóc, tôi vẫn cứ mếu máo mãi thôi. Một cảm giác bất lực trong tôi bùng nổ như ngọn núi lửa. Tôi cứ nghĩ mãi phải làm sao, phải làm sao bây giờ. Tôi nhớ nhà và muốn được trở về nhà. Nếu cứ ở mãi nơi đồng quê kia thì làm sao tôi có thể về nhà được đây.

Dẫu vậy, khi đã qua rồi cơn bùng nổ, tôi vẫn ngoan ngoãn trèo lại lên xe vì tôi biết nếu không có Fig ở cạnh tôi thì tôi sẽ chết. Tôi nằm dài trên xe nhìn bầu trời buổi sáng trong xanh, để mặc hai dòng nước mắt lăn dài rồi khô đi thành bụi muối.

Quãng trường nơi chúng tôi đi qua trước khi ra khỏi lớp tường thành cuối cùng tụ tập rất đông người đứng xem. Trên đỉnh một cây sào, một thân thể treo lững lơ trên ngọn thòng lọng đã bắt đầu thu hút bọn quạ bay đen trên trời.

Chiếc mũ lông công cùng bộ đồ đính đá được truyền tay nhau, đến cuối cùng khi những thứ trang sức lòe loẹt đã chẳng còn hiện diện trên bộ y phục màu tím sẫm, chúng được vứt giữa đường như một thứ hàng bỏ đi. Cho đến khi một đứa trẻ lang thang nhặt lấy chúng, cái mũ trơ trọi được đội lên đầu còn tấm áo khoác rộng thùng thình được mặc tròng bên ngoài bộ đồ rách rưới, quãng đời bộ trang phục lại một lần nữa được tái sinh.
 
3 ❤︎ Bài viết: 0 Tìm chủ đề
Chương 8: Một đồng vàng

Mỗi khi cảm thấy bất an tôi đều lén lúc khóc trong nhà vệ sinh. Cảm xúc ấy có lẽ quá tầm thường vì ai cũng bảo sao cứ khóc mãi toàn những chuyện bé tí hin.

Mỗi khi tôi xuất hiện trong bộ dạng mắt đỏ hoe và mũi khụt khịt, sẽ luôn có những lời bình phẩm rằng "lại sao thế?", "con bé đó lại khóc nữa à?". Vậy nên tôi đã học cách che giấu nó đi.

Mỗi khi khoé mắt bắt đầu cay cay, tôi luôn cố lau vội đi trước khi có ai trông thấy, rồi vừa cười vừa nói như thế chẳng có gì.

Và nếu xảy ra chuyện giống như hôm nay, tôi sẽ luôn tự trách mình đã không kiềm nén để người ta trông thấy bộ dạng xấu hổ thiếu khôn ngoan.

Đêm nay cũng thế.

Sau một ngày ngổn ngang và bộn bề, tôi ngồi co ro trong chiếc chăn mỏng dính bên đống lửa, lặng lẽ rơi nước mắt sau khi Fig và Berry đã ôm nhau say giấc nồng.

Tôi nghĩ về những chuyện đã qua, những nơi tôi đã đi, những người tôi đã gặp, và về cái người trên giá treo ở quảng trường. Mọi điều tôi biết về đất nước này thật mông lung. Một sự việc kinh khủng như thế xảy ra trong địa bàn dân cư mà không có bóng dáng cảnh sát hay cấp cứu đâu.

Câu hỏi về cái chết của người kia cứ quanh quẩn bám lấy tôi khiến tôi không sao chợp mắt.

Có phải đó đơn thuần là một tai nạn, hay là sản phẩm của một vụ giết người? Liệu chủ nhân tòa lâu đài và người áo xanh kia có liên quan gì đến cái chết ấy hay không? Vì sao tối hôm đó anh lại cười? Ngẫm lại thì cách anh cười vào cái đêm hôm đó chứa đầy sự ngạo nghễ đắc thắng, khiến tôi cảm thấy mình hoàn toàn là một trò đùa lố bịch trong câu chuyện này. Liệu anh có giả vờ đối tốt với tôi, như cách những kẻ bắt cóc trẻ con dụ dỗ những đứa trẻ trước khi ra tay đưa chúng vào tròng? Liệu rằng sẽ có một ngày, người tiếp theo trên giá treo cổ ấy sẽ là tôi?

Tôi khóc vì thấy mình ngu dại quá. Tôi đã ảo tưởng đến mức nào mà tin tưởng người ta vô điều kiện khi mới vừa gặp lần đầu.

Dẫu vậy, một tia hy vọng vẫn tồn tại trong tôi, nhắc nhở tôi không nên suy đoán viễn vông mà hay tin vào lý trí. Chẳng có bằng chứng nào chỉ ra anh có liên can đến sự việc kia. Thời nay còn mấy ai vừa cai quản lâu đài vừa cai quản cả vùng đất xung quanh như lãnh chúa phong kiến nữa đâu. Dù anh có là chủ đất, tôi cũng không thể vô lý đổ tội cho anh vì một sự việc đổ máu trên mảnh đất chỉ được viết tên anh trên mực giấy.

Tôi lấy chiếc lá khắc tên ra khỏi chỗ cất giấu, ngón tay mân mê từng nét chữ trên đó. Tôi không biết cách viết tên anh, và tôi không rõ đây có phải là tên anh hay không. Giá như tôi biết chữ, giá như tôi nghe hiểu những lời họ nói, tôi sẽ không phải hoang mang khổ sở như thế này. Nếu tôi biết chữ, tôi sẽ nhanh nhạy hơn trong việc phán đoán cái gì tốt cái gì xấu cho mình. Nếu như tôi biết chữ, thì đường về nhà sẽ chẳng còn mất hút xa xôi.

Khi đã trấn tỉnh bản thân bằng những ý nghĩ tươi sáng hơn, tôi lim dim thiếp đi trong tiếng ru tí tách của đám lửa hồng.

Sáng hôm sau, quyết định trở nên bận rộn hơn để quên đi những ưu phiền vừa mới chớm nở, tôi tắm sớm trong tiết trời lạnh queo lúc trời chưa sáng tỏ và lon ton theo Fig đi chăn cừu. Tiếng kim loại va vào nhau lẻng xẻng trong cái túi quần của tôi khiến đứa bạn ái ngại dẫn tôi ra một góc căn chồi, đào một cái lỗ rồi trút hết mười đồng tiền xu xuống đó. Khi chúng tôi đang lấp đất dở dang, cảm giác cộm cộm sau lớp vải áo khiên tôi thò tay vào túi lôi ra thêm một đồng vàng không biết nguồn gốc từ đâu.

Hai đứa tôi đưa mắt nhìn nhau đầy kinh ngạc.

Thằng Fig cầm lấy đồng vàng sáng bóng nghi ngờ nhìn tôi như muốn hỏi "Cậu lấy cái này ở đâu ra?". Tôi huơ tay lắc đầu hoàn toàn không biết. Tôi thề là tôi không thó bất cứ thứ gì trong lâu đài chỉ trừ túi áo choàng và.. cái vòng xanh lam. Nhưng cái vòng ấy là một tai nạn. Tôi không hề cố ý mang nó về nhà. Trước khi tôi nhận ra phải làm gì với cái vòng ấy thì tôi đã ngồi trên chiếc xe cọc cạch về gần đến căn chồi. Dẫu sao thì, chuyện quan trọng trước mắt không phải là cái vòng. Làm sao mà tôi biết được đồng vàng ấy từ đâu chui ra nằm trong túi áo tôi như một sự sắp đặt đáng nguyền rủa như thế chứ.

Sau khi lưỡng lự một hồi, hai đứa tôi quyết định thả đồng vàng chung với đống tiền xu và lấp đất lên, sau đó sửa soạn cùng Berry lên đường.

Đàn cừu của Fig không con nào còn mặc chiếc áo lông mềm dày như những đụm mây. Thì ra chỉ trong mấy ngày chúng đã bị cạo sạch sẽ nhằm chuẩn bị cho mùa kéo sợi và đan len. Nhìn bọn chúng ốm nhom đỏ hỏn khiến tôi không khỏi chạnh lòng. Nhưng chẳng mấy chốc sự đồng cảm ấy tan biến như bụi cát. Thoát được đám lông nặng nề đó, bọn cừu trở nên nhanh nhẹn hoạt bát hơn khiến ba đứa tôi đuổi theo bở hơi tay.

Những ngày sau đó tôi vẫn tiếp tục đi chăn cừu như một cách học việc. Dần dà tôi đã đọc được đường đi nước bước của bọn này và nhận ra không phải cứ liều mạng đuổi theo tụi nó thì sẽ được việc. Berry cũng đang dần thành thục kỹ năng lùa cừu. Cứ cái đà này khi cu cậu lớn hơn sẽ hoàn toàn làm chủ được cuộc chơi trở thành đệ nhất chó chăn cừu trên cái thảo nguyên này

Công việc chăn cừu thật ra không hề bận rộn. Vì vậy Fig có nhiều thời gian dạy cho tôi cái này là cái gì, cái kia nói thế nào. Chẳng mấy chốc mà tôi đã nói được và nghe hiểu nhiều.

Tôi biết phải nói gì với ông chủ đàn cừu để nhận được tiền công là mấy củ khoai tây mỗi khi dẫn bọn chúng về chuồng khi trời chuyển tối. Thỉnh thoảng ông ta hào phóng hơn sẽ cho chúng tôi bắp cải hoặc mấy con cá muối khô.

Tôi cũng biết gọi vợ của bác Paul là "cô" khiến bà ấy thích lắm, thỉnh thoảng "cô" lại cho chúng tôi ít trứng và rau màu tự trồng trên mảnh ruộng quanh nhà. Fig nói bác Paul là "một người nông dân độc lập", tức là bác được quyền làm chủ mảnh ruộng của mình mà không phải làm thuê cho bất kỳ ai. Quanh đây cũng có vài nhà nông độc lập như bác, nhưng không ai biết đủ chữ để xin giấy thông hành và có con xe ngựa oách xà lách như bác. Đó là lý do vì sao bác hay đánh xe đi bỏ mối nông sản khắp các miền thị trấn và cả những vùng đất xa hơn.

Nếu bác Paul biết chữ, chắc chắn là bác biết phải đi học ở đâu.

Việc học tiếng của tôi với Fig dần dà bị chững lại, nguyên nhân là vì bác Paul định mở một sạp rau củ trong thị trấn nhờ món tiền tích cóp được cả đời, và bác rất cần có người phụ trông coi cửa hàng khi bác đi vắng.

Nhân dịp này tôi bàn với Fig hãy để tôi thay nó đi chăn cừu, còn nó theo bác Paul lên thị trấn tìm trường học chữ. Mỗi lần trở về nó có nhiệm vụ phải dạy lại cho tôi tất cả những gì nó được học ở trường. Đứa bạn cùng nhà không có vẻ gì muốn thực hiện kế hoạch này cho lắm.

Mặc dù nó tìm đủ mọi cách để lẩn đi nhưng tôi đã cố thuyết phục nó về những lợi ích của việc đi học. Khỏi phải diễn giải sâu xa, chính bác Paul là ví dụ tốt nhất cho thấy người biết chữ luôn luôn có triển vọng thành công hơn những người không biết rất nhiều. Đặc biệt là khi chúng tôi nghèo, thì việc học lại càng cần thiết để tự tạo cơ hội vươn lên vị trí khá giả hơn.

Vấn đề lớn nhất ở đây là chúng tôi không có dư dả tiền bạc. Mặc dù tôi đã đào đống xu của tôi lên và hứa rằng tất cả chỗ tiền này sẽ chỉ dành cho nó đi học, nhưng nó vẫn một mực từ chối.

Trước tình hình này, tôi phải lên kế hoạch cho đứa bạn cùng nhà thấy rằng tôi sẽ lo được cho chúng tôi tự cung tự cấp cái ăn lâu dài.

Hôm sau, tôi không đi chăn cừu mà cầm hai xu chạy quanh làng tìm mua một con gà mái mơ tuyệt đẹp và một cặp thỏ mới lớn. Sau đó tôi vào rừng nhặt cành cây về làm chuồng gà và chuồng thỏ. Tôi khá tự tin vào kỹ năng lắp ghép lego của mình, nên việc tạo ra một thứ gì đó bằng việc ghép nối chúng với nhau là một trải nghiệm khá thú vị.

Bằng một con dao gấp nhỏ mượn từ vợ bác Paul, tôi mài nhẵn cành cây và bắt chước cách người ta tước vỏ cây bện thành dây thừng từng được phát trên ti vi. Cũng phải mất ba ngày liên tục nhặt, đan và ghép, mãi cái chuồng gà mới ra dáng cái chuồng gà, và cái chuồng thỏ mới đủ vững chắc để giữ lấy cái mái che nắng che mưa.

Khỏi phải nói đứa bạn cùng nhà tôi đã kinh ngạc đến mức nào khi trông thấy thành tựu tôi dày công tạo lập, vừa đúng lúc con gà mái mơ ban cho chúng tôi quả trứng đầu tiên trong cái ổ rơm tôi tạo ra.

Không chỉ thử chăn nuôi, tôi còn thử trồng trọt trên mảnh đất quanh căn chồi. Mặc dù không có tí kinh nghiệm nào, tôi vẫn xới đất bằng cái cuốc tự chế như những gì từng nghe nói rồi chôn xuống bất cứ loại rau củ nào chúng tôi có mà tôi cho là có thể trồng được.

Vấn đề đầu tiên phát sinh là làm sao giữ thành quả không bị chim ăn. Tôi phải tự đi ra tận ruộng lúa mì xin về một mớ rơm sau thu hoạch và hy sinh một bộ quần áo để mặc cho con bù nhìn. Trông nó điệu đàng đến nỗi tôi dám cá không có một con bù nhìn nào khác trong làng này này đẹp rực rỡ như con bù nhìn của tôi.

Vấn đề thứ hai là vào đêm nọ tôi phát hiện một con cáo đang rình trộm mấy bé động vật nhà tôi. Berry vẫn còn quá nhỏ để đối phó với con vật khôn ranh đó. Và từ khi tôi chuyển hai cái chuồng vào trong căn chồi thì con cáo lại bắt đầu trò đào trộm nông sản vào ban đêm. Chuyện này dần thực sự trở nên rất đau đầu. Tôi không thể bỏ một món tiền lớn để mua một con bò chỉ để dùng đuổi con vật tinh ranh này vì có thể dẫn đến một số rắc rối lớn chẳng hạn như ruồi và dịch bệnh. Thế là tôi lại đi nhặt những khúc gỗ lớn hơn và ngồi bện dây thừng bất cứ khi nào có thể. Nhờ đó, hàng rào mới xây phần nào giúp tôi yên tâm bảo vệ những thành viên nhỏ trong nhà mình.

Tôi thậm chí còn thử làm chỗ ủ phân hữu cơ để bón cho cây trồng. Kết quả không thể nhìn thấy được ngay lập tức vì cần phải đợi ít nhất nửa năm để đống thực vật phân hủy thành chất có lợi cho cây.

Ngày tiễn Fig đi thị trấn cuối cùng cũng đến. Tôi dúi hẳn vào tay cậu ta ba xu và dặn dò nhất định phải mua giấy bút để ghi chép lại cho tôi. Khi cậu ta đi rồi, tôi và Berry cứ nhìn theo mãi cho đến khi bóng dáng cỗ xe biến mất sau những rặng cây.

Không có Fig ở nhà thật ra tôi thấy lo lắng lắm. Tôi chưa từng tự nhóm lửa bao giờ, cũng không biết cách chăm sóc cho Berry. Trước giờ toàn là Fig chăm sóc cho hai đứa tôi còn tôi chỉ đi theo cậu ta như một sinh vật hội sinh. Mặc dù đã có thể nghe nói được một ít nhưng tôi vẫn chưa thuần thục và vẫn phải sử dụng ngôn ngữ hình thể là chủ yếu. Vậy nên tôi rất sợ cảnh tượng người ta phát hiện ra tôi là người ngoài.

Còn một điều quan trọng hơn tất thảy, tôi không nghĩ việc một đứa trẻ con, đặc biệt là trẻ em gái, sống một mình trong căn chồi tồi tàn giữa rừng là một ý kiến hay. Tất nhiên trí não của tôi hoàn toàn vượt xa với dáng vẻ bề ngoài, nhưng điều đó không có nghĩa tôi có đủ sức tự bảo vệ mình trong những tình huống khẩn cấp.

Tôi đã thử suy tính đến việc rời bỏ căn chòi và đến ở với vợ bác Paul. Chưa bàn đến việc bác ấy có đồng ý hay không, thì việc rời đi cũng không hề dễ dàng gì. Tôi khá chắc đứa bạn tôi cất giấu gia tài tích cóp của nó đâu đó bên dưới cái chòi này, và việc cứ để đống của cải y nguyên vị trí của chúng mà không có ai trông coi hay là mang chúng theo bên mình đều dẫn đến kết cục khá nguy hiểm. Chưa kể nếu không có tôi, thành tựu được gầy dựng mấy ngày qua xem như đổ sông đổ bể.

Mất cả ngày đắn đo suy nghĩ, tôi quyết định sẽ bôi tro trát trấu lên người, theo đúng nghĩa đen.

Việc cải trang thành một đứa con trai không hề khó. Tôi đã tự đan cho mình chiếc mũ rơm và mỗi ngày tôi đều lăn lộn trên đất cho lấm lem nhất có thể trước khi ra ngoài. Tôi cắt ngắn bộ đồ của Fig cho vừa với chiều cao của mình và dẹp hết tất cả đống quần áo con gái kể cả bộ đồ của con bù nhìn.

Tôi định tự gia cố lại căn chồi, nhất là cửa ra vào và cửa sổ, nhưng lại không tìm được gỗ phù hợp và sức tôi không đủ để mang vác leo trèo. Thế là tôi tự làm một cái thùng có nắp đậy kích cỡ y như cái thùng ủ phân. Tôi lót một ít rơm và nhét cái mền vào đó, buổi tối tôi chui vào đó ngủ để không một kẻ tò mò nào có thể trông thấy tôi một mình trong căn chồi.

Mỗi khi ra ngoài, tôi hạn chế tiếp xúc với người khác nhất có thể, vì tôi không muốn người ta nhớ đến sự tồn tại của một đứa trẻ như tôi. Phần lớn thời gian tôi chỉ đi chăn cừu, gặp vợ chồng bác Paul nếu hôm đó đói ăn, rồi lại trở về căn chồi đóng kín cửa. Hai cái chuồng cũng được tôi cải tạo để có thể dễ dàng di chuyển vào căn chồi khi đêm xuống, và thế là tôi không phải đốt lửa xua đuổi thú rừng vào ban đêm.

May mắn làm sao Berry càng lớn càng béo múp ra cực kỳ khoẻ mạnh. Con gà mái tơ vẫn đẻ trứng đều đều mang đến cho chúng tôi một nguồn protein ổn định. Cặp thỏ cũng đã đẻ lứa đầu tiên vừa đúng lúc vườn rau củ đang độ tốt tươi. Và Fig cũng trở về thăm tôi trông bộ dạng tươm tất rất ra dáng một cậu học trò. Khỏi phải nói cậu ta cười ngất khi trông thấy mấy việc tôi làm khi cậu ta không có ở nhà.

Tối hôm đó hai đứa tôi lại đốt đống lửa to, rồi nằm bên đống lửa kể nhau nghe những trải nghiệm mới mẻ của mình. Cậu ta không quên lời hứa dạy cho tôi tất cả những gì cậu ta học được trong thời gian qua. Với trí óc của tôi, việc học và ghi nhớ tất cả những thông tin ấy trong thời gian ngắn chỉ là chuyện nhỏ. Vậy là cứ liên tục như thế, mỗi khi Fig trở về, bọn tôi lại cùng nhau đi chăn cừu, cùng nhau học chữ, cùng nhau đi phá làng phá xóm.

Đó có lẽ là quảng thời gian tươi đẹp nhất của tôi gắn liền với ngôi làng heo hút ấy.
 
3 ❤︎ Bài viết: 0 Tìm chủ đề
Chương 9: Những giọt nước mắt đắng cay

Suốt mùa đông năm ấy khi trời rét run và tuyết rơi dày phủ lên ruộng đồng một màu trắng xóa, chúng tôi may mắn được tá túc bên dưới mái ấm nhỏ của vợ chồng bác Paul.

Ngôi nhà gỗ mộc mạc vốn đã chật chội nay lại càng không có chỗ đặt chân. Mỗi đêm, hai đứa chúng tôi đều chỉ có thể nằm sát bên tấm chắn lò sưởi bất chấp củi lửa cháy hừng hực mà chí choé xem ai được gác chân lên người ai. Lần nào Berry cũng cố chen chân vào cuộc chiến đó bằng cách chui vào giữa hai đứa tôi, hoặc ngồi lên người bọn tôi với cái thân chẳng còn bé bỏng gì nữa. Con gà mái mơ cứ chui rúc trong đống lộn xộn dưới chạn bếp, thỉnh thoảng lại ra góp vui bằng cách leo lên đầu khi cả bọn đang ngủ mê man mà không ngừng cục ta cục tác. Đàn thỏ được chúng tôi giữ chung chuồng với anh bạn ngựa to lớn để kiềm hãm quân số qua cái mùa thiếu ăn.

Cô Bennett bảo chưa mùa đông năm nào mà ngôi nhà lại được dịp nhộn nhịp như thế. Bác Paul đã từng cố thuyết phục Fig về ở luôn với vợ chồng bác, nhưng lần nào nó cũng từ chối. Chỉ khi mùa gió buốt kéo tới nó mới gom hết đồ đạc chuyển qua đây, vì căn chồi trống hoác trống huơ không thể cản nổi cái lạnh lúc nào cũng thường trực bên cửa.

Vào những mùa đông như thế, hai bác cháu thường đi câu cá trên sông băng nhằm tìm kiếm nguồn lương thực thay thế cho cây trồng đã héo khô trên những mảnh ruộng cằn cõi. Vì không thể trồng trọt, hun khói con lợn duy nhất trong chuồng là cách để đảm bảo cả nhà không đói ăn trong mấy tháng ròng. Bác Paul luôn là người gánh vác công việc nặng nề này, còn người phụ nữ duy nhất trong nhà, cô Bennett luôn nhận nhiệm vụ đan rổ từ cành liễu và gỗ cây vát mỏng với hy vọng sẽ bán được chúng trong phiên chợ thị trấn.

Nhập môn đan rổ đòi hỏi nhiều sự tỉ mỉ hơn tôi tưởng. Nếu không tập trung và bỏ quên một mối đan, việc phải tháo bỏ tất cả và làm lại từ bước sai tốn khá nhiều thời gian và mang đến một thử thách lớn cho lòng kiên nhẫn. Dẫu vậy khi tôi sai nhiều cũng là lúc tôi học được nhiều, và dần dà tôi đã tạo ra được chiếc rổ đan đầu tiên của riêng mình mặc dù trông nó vẫn còn vụng về lắm.

Khi mùa đông trôi qua và mùa xuân đến, tôi đã thuần thục món nghề này và đã bán được vài xu thành phẩm. Vì vậy tôi quyết tâm biến nó thành nghề tay trái bên cạnh công việc chăn cừu.

Tôi mê mẩn quay cuồng bên những chiếc rổ đến nỗi, có khi tôi ngủ quên giữa buổi chăn cừu vì đã thức suốt đêm qua tự mày mò kiểu đan mới. Công sức đó mau chóng được đền đáp khi cô Bennett liên tục bán được những chiếc rổ kiểu dáng mới của tôi với giá cao. Vừa nhận được tiền, chúng tôi ngay lập tức ăn mừng bằng một cái đùi dê nướng thơm phức. Tôi cũng không quên mua cho Fig một cục xà phòng mỡ lợn và một bộ đồ mới cóng thay cho những bộ đồ đã bị tôi cắt sửa te tua. Niềm hạnh phúc được tiêu pha những đồng tiền vất vả kiếm được đã cuốn lấy tôi bằng sức cám dỗ mạnh mẽ vô cùng.

Xuân qua rồi lại xuân đến, thấm thoắt tôi đã lưu lạc được hai năm. Vào một ngày, tôi vẫn nhớ như in trời âm u và mưa kéo dài từ tối hôm trước đó. Vừa mở cửa vào sáng sớm, cái ao cạnh căn chồi đã đầy tràn thu hút hai mẹ con bé hưu sao ghé thăm. Vừa nhìn thấy tôi, hai đứa nó giật mình đứng yên cảnh giác, sau đó nhanh chóng bỏ chạy mất hút vào rừng khi Berry đột ngột nhào đến tiếp cận chúng như một trò đùa tinh quái.

Tôi và Berry đang chuẩn bị đi chăn cừu như mọi khi. Trên con đường mòn dẫn đến nông trại của ông chủ đàn cừu, những vũng lầy chèm nhẹp đã khiến tôi phải nhảy tới nhảy lui tìm chỗ khô ráo đặt chân. Ngược lại, Berry cứ khoái trá lao vào đám cây bụi bờ đẫm nước rồi lại nghịch ngợm lắc mình cho nước văng tung toé, buộc tôi phải lớn tiếng mắng nó suốt cả quãng đường mà nó đâu có thèm nghe. Thằng nhóc giờ đã là một chú chó trưởng thành và nó đủ sức vật tôi ngã lăn quay nếu tôi càu nhàu quá nhiều. Nhưng đa phần nó thích chu cái mỏ lên cãi lại khiến tôi xấu hổ không biết giấu mặt đi đâu. Trông chúng tôi như hai đứa trẻ con đang cãi nhau ba cái chuyện vặt vãnh. Chuyện hai đứa mỗi sáng đều vì một lý do nào đó mà cực kỳ ồn ào như thế, dường như sắp trở thành tiếng chuông báo thức đặc trưng riêng ở ngôi làng này.

Sau khi lùa đàn cừu đến bìa rừng, nơi có cỏ mọc dày gần hàng liễu roi mà tôi chưa có dịp cho chúng dạo quanh bao giờ, tôi quyết định nơi này vừa đủ thích hợp để làm điểm đóng chân.

Những cành liễu rũ dài xuống đất như một chiếc ô khổng lồ được bao phủ bởi hằng hà những sợi dây tua rua tạo ra một khoảng không gian riêng tư rực rỡ. Khi tôi buộc chúng lại với nhau để không che đi tầm nhìn giữa tôi và đàn cứu, vô tình tạo thành hình những chiếc rèm che cửa sổ, khiến tôi tưởng mình đang ở trong một vọng lâu được bao quanh bởi những ô cửa kính khổng lồ giữa một rừng hoa. Nếu thế tôi sẽ vào vai một cô tiểu thư duyên dáng hiền thục đang tự tay làm món quà cho người mình yêu. Và đó là cách tôi lấy động lực lôi đồ nghề ra, ngồi dưới tán cây và bắt đầu công việc của mình.

Giữa trưa mây mù bắt đầu tan và những tia nắng mùa hè dần lan tỏa. Cái không khí nồm ẩm càng làm dậy lên mùi đất và mùi hơi nước bốc lên từ những bụi cây. Tôi đang chuẩn bị bước vào công đoạn cuối cùng của chiếc rổ đan và định bụng sẽ hoàn thành sau khi xơi xong miếng bánh mì nâu độn cám mà cô Bennett nướng hôm qua. Thế nhưng cái lưng mỏi nhừ và mí mắt nặng trĩu buộc tôi phải nằm dài ra đất. Sau một đêm thức trắng vì dàn đồng ca của loài lưỡng cư và tiệc chè chén của các loài côn trùng mùa hè, giờ giấc sinh hoạt của tôi bị lệch đi và đã đến lúc rơi vào tình trạng sụp nguồn ngay lập tức. Tôi tự nhủ mình sẽ ngủ một tý thôi, chỉ cần sạc pin năm phút rồi đâu sẽ vào đấy cả.

"Năm phút" lười biếng đó đã đánh đổi một cái giá quá đắt cho cuộc đời này.

Khi tôi giật mình thức giấc là lúc tôi nghe thấy tiếng Berry sủa inh ỏi. Ánh trăng chiếu rọi màn đêm đủ để trông thấy đàn cừu đang bị thứ gì đó đuổi theo chạy toán loạn khắp nơi. Berry đã cố gắng sủa lớn tiếng nhằm đe dọa chúng phải rời đi, nhưng khi một trong số chúng nhào lên buộc Berry phải lao vào trận chiến, những con còn lại ngay lập tức ập tới con mồi.

Một con cừu non vừa bị cái thứ kia tóm được, nó kêu rên thảm thiết như tiếng em bé sơ sinh khát sữa mẹ, yếu dần, yếu dần rồi hoàn toàn lịm hẳn đi. Đôi mắt long lanh của nó ánh lên tia sự sống cuối cùng, còn cái cổ nơi những chiếc răng nanh nhọn hoắc ngoạm chặt ngoẹo hẳn sang một bên.

Sói! Không chỉ một mà đến năm con!

Tôi run rẩy lần mò tìm đá đánh lửa trong túi quần, cố giữ bình tĩnh trước nỗi khiếp sợ đang bao trùm lên tâm trí. Cần phải có thứ gì đó để mồi lửa, tôi ngồi thụp xuống cố mò mẫm xung quanh. Vừa vớ được cái giỏ đan, ngay lập tức tôi chà sát hai viên đá vào nhau, cố bắt lấy những tia lửa yếu ớt.

Bỗng nhiên từ phía sau, tiếng răng rắc của một cành cây gãy phát ra khiến tôi chết đứng. Trong bóng tối, đôi con mắt long lên sòng sọc đang chậm rãi tiến đến chỗ tôi, mỗi lúc một gần.

Tôi có thể nghe thấy tiếng tim mình như muốn vỡ tung trong lồng ngực.

Vừa cẩn thận xoay người đối mặt với con quái và lùi dần ra chỗ sáng, tôi vừa ra sức đánh lửa mạnh tay. Lửa vẫn chưa bén, nhưng con quái vật ấy vẫn tiến tới không ngừng.

Nó đang chờ cơ hội tóm lấy tôi như cách nó chầu chực ăn tươi nuốt sống những con cừu.

Không còn hy vọng nào để mồi được lửa, tôi đánh hai hòn đá vào nhau, cố la hét thật to như một tín hiệu giả cho nó biết tôi không phải một món mồi dễ ăn.

Thế nhưng, việc này chỉ khiến nhưng con còn lại trong đàn thú săn mồi chuyển hướng chú ý sang tôi.

Bọn nó bắt đầu bao quanh lấy tôi trong thế gọng kìm.

"Tầm này không chạy thì chỉ có chết."

Tôi hít một hơi thật sâu. 1.. 2.. 3.. lấy hết tốc lực quay người chạy thật nhanh.

Vừa chạy đi chưa được vài chục bước, cảm giác đau đớn tột cùng ở chân cùng một sức nặng khủng khiếp quật tôi ngã xuống đất. Một con đang ra sức cắn chặt lấy chân tôi giữ cho bọn kia có thời gian lao đến.

Ngay khi đám còn lại nhe hàm răng nhọn hoắt định dứt điểm tôi bằng cú cắn chí mạng, một hình hài quen thuộc lao thẳng vào bọn chúng, không ngừng cắn táp điên cuồng.

Berry của tôi đang phải một mình chiến đấu với cả đàn sói.

Tôi đau quá. Máu cứ không ngừng chảy, còn thân thể này không sao cử động được nữa rồi.

Tiếng Berry dần lạc hẳn đi trong mớ âm thanh cắn xé hỗn độn.

Cố gắng chút sức tàn cuối cùng, tôi cầm hai viên đá lửa cọ vào nhau, mà mồi lửa chính là cái áo rách tôi đang mặc trên người.

Cuối cùng, lửa đã phừng lên như một ngọn đuốc.

Cảm giác đau đớn khủng khiếp ở chân dần chuyển thành cảm giác rát bỏng trên da thịt. Kỳ lạ thay, tôi không còn cảm thấy yếu ớt như ban đầu. Tôi đẩy người đứng dậy trên chiếc chân ban nãy đã nát tươm, bằng một sức mạnh thần kỳ nào đó mà đã ngừng ứa máu, thay vào đó là ngọn lửa rực đỏ từ đầu đến chân.

Tôi lao ngược về phía bọn chúng, biến mình thành một ngọn đuốc sống.

Đàn sói quay đầu bỏ chạy nhưng vẫn kịp cho tôi tóm lấy một con. Lông trên người nó bắt lửa từ tôi, khiến nó giãy giụa không ngừng.

Thảm cỏ tôi đi qua cũng bắt đầu bén lửa và lan ra.

Con ác quỷ chẳng mấy chốc đã bị thui đến chết, và đồng cỏ dần bị nuốt chửng với tốc độ lửa lan nhanh.

Những con sống sót trong đàn cừu đã chạy đi rất xa, để lại hai đứa tôi giữa bãi chiến trường đẫm máu.

Berry của tôi đang thoi thóp cạnh xác những con cừu, cả người đỏ hỏn toàn vết máu thấm đẫm bộ lông. Nó cứ rên rĩ gọi tôi, tiếng kêu yếu ớt ấy như xé nát trái tim tôi, ghim vào đó hàng vạn mảnh thuỷ tinh khiến tôi như uất nghẹn. Tôi chỉ muốn ôm nó vào lòng, cho nó dụi vào người tôi, nói với nó rằng "sẽ không sao đâu", như cái cách mà chúng tôi đã cùng nhau vượt qua những ngày đói khổ. Nhưng tôi không thể. Ngọn lửa địa ngục có lẽ sẽ không bao giờ tắt nếu không tiêu diệt được con mồi.

Cái cảm giác không thể ở bên cạnh người bạn mình yêu thương vào những giây phút cuối cuộc đời, đau đớn biết bao nhiêu.

Tôi gục xuống vị trí cách đó không xa, miệng không ngừng gọi tên chú chó nhỏ của mình.

"Berry à."

"Berry ơi."

Có lẽ là trăm lần, lần nào nó cũng đáp lời tôi, trung thành và run rẩy.

Nếu tôi còn có thể khóc, hẳn nước mắt đã lăn dài và nước mũi đã tèm lem. Nhưng tôi sẽ không bao giờ có thể khóc được nữa. Sẽ không bao giờ còn có thể ôm chầm lấy nhau, chia nhau miếng bánh mì, ủ ấm nhau khi gió lạnh ùa về, bảo vệ nhau những khi cô độc.

Berry của tôi, Berry yêu quý của tôi. Ước cho em luôn hạnh phúc ở kiếp sau.

Giữa biển lửa mênh mông, tôi không còn trông thấy Berry đâu nữa.

"Hai chiếc chuông báo thức sắp tắt mất rồi, Berry nhỉ." Tôi phì cười.

Chẳng còn tiếng gì đáp lại.

Không một âm thanh nào trên đời này còn tồn tại.

Không một thứ gì còn sót lại ở nhân gian.

Cơ thể tôi đã cháy thành than, đưa tôi vào cánh cửa địa ngục.
 
3 ❤︎ Bài viết: 0 Tìm chủ đề
Chương 10: Tái sinh

Tôi đã chết trên thảo nguyên, dưới bầu trời đầy sao và ánh trăng sáng tỏ.

Nhưng tôi cũng đã chết ở đây, dưới xà nhà rực đỏ và biển lửa ngút ngàn.

Những trảng khói đen cuồng cuộng sộc vào buồn phổi gây ra những cơn ho dữ dội như xé toạc phế quản, đồng thời rút cạn chút sinh lực còn sót lại.

Tôi kiệt quệ ngã đầu tựa vào thành ghế, cố gắng giật mạnh đôi bàn tay bị trói chặt sau lưng. Sợi dây cứa vào cổ tay hình như đã cắt sâu vào da thịt, chỉ một cử động nhẹ nhàng cũng gây ra nỗi đau đến xé người.

Ngọn lửa ngày càng lan đến gần, và xà nhà đang lũ lượt rơi xuống, báo hiệu thời điểm kết thúc của khối công trình. Thế nhưng cả cơ thể đã bị buộc chặt vào ghế khiến tôi không cách nào có thể thoát thân.

Tôi chỉ có thể giương đôi mắt vô vọng nhìn ngọn lửa, những giọt nước mắt bất giác tuôn ra, mang theo bao nỗi đớn đau bất lực đến cùng cực.

Mọi chuyện bắt đầu sai từ khi nào tôi cũng không rõ. Có lẽ là từ khi bước chân khỏi trốn nương thân quen thuộc. Nếu không ngu ngốc mở cửa trái tim mình thêm lần nữa, sẽ không bao giờ phải gặp lại nhau. Nếu không gặp lại nhau, nỗi thống khổ dị dạng sẽ không bị kéo lôi khỏi nơi ngụy trang của nó, để rồi len lỏi khắp mọi tế bào, lại một lần nữa tàn phá và cắn xé tôi mục ruỗng.

Hay có lẽ..

Có lẽ là từ rất lâu trước đây, từ thuở còn là một đứa hèn nhát, tôi đã mắc kẹt trong cái lồng giam của những nỗi sợ không tên, đến nỗi chẳng thể chống lại xiềng xích để tự giải thoát bản thân mình.

Cũng có lẽ.. sai lầm từ khi tôi có mặt trên cõi đời này.

Giá như tôi chưa từng tồn tại, tôi sẽ vĩnh viễn trôi dạt như một hạt vật chất trong vũ trụ bao la, chẳng phải bận tâm điều chi, chẳng phải nhớ đến điều gì. Sẽ chẳng cần ai yêu thương tôi, cũng chẳng cần được ai che chở.

Nếu cái chết là điểm kết thúc của mọi giày vò tủi khổ, thật may vì điều đó sẽ đến sớm thôi. Biển lửa sẽ hóa xác tôi thành tro, để linh hồn tôi được tự do, mãi mãi không bao giờ trở về thế gian này thêm một lần nào nữa.

Vào thời khắc cuối cùng của cuộc đời, tôi vẫn chẳng thể nào thôi hủy hoại chính mình bằng những lời cay nghiệt như thế. Không một hy vọng vào kiếp sau, không một lời cầu nguyện được đến thiên đàng. Tôi cứ ngồi đó, bất động, thẫn thờ, và chờ đợi được chút bỏ hơi thở cuối cùng, để những cơn giằng xé cả thể xác lẫn tâm hồn không còn dày vò tôi thêm được nữa.

Mắt tôi dần nhòe đi. Tôi biết thời khắc ấy đã đến. Dòng lệ cuối tuôn ra, không xót xa, không vương vấn, đó là giọt nước mắt cuối cùng tôi để lại nhân gian.

* * *

Chẳng biết thời gian đã trôi qua bao lâu, tôi cứ lang thang mãi giữa hỏa ngục mênh mông, vô định không mục đích.

Và rồi từ phía xa, tôi trông thấy hai bóng hình mờ ảo bước ra từ ánh sáng chói lóa. Họ tiến đến nắm lấy tay tôi, đưa tôi bay lên bầu trời lấp lánh ngàn ánh sao sa, xuyên qua dải ngân hà, băng qua bóng tối vũ trụ miên man vô tận.

* * *

"Ann! Ann!" - Sâu thẳm trong giấc mơ, tôi nghe thấy tiếng ai gọi tên mình khiến tôi bừng tỉnh.

Không gian xung quanh tối mờ, đậm mùi gỗ mục và mùi hôi ê của thứ gì đó lên men. Bầu không khí cũ kỹ đầy bụi khiến tôi ho khan, những hạt bụi ngay trước mũi vì thế mà bay lên, dày đặc che lấp thứ ánh sáng mờ mờ xuyên qua khe hẹp giữa những tấm ván tường gỗ.

Khó khăn lắm tôi mới có thể chống tay ngồi dậy, đầu vẫn còn ong ong sau giấc ngủ dài. Có tiếng ai vọng ra từ bên ngoài bức tường, thì thào như thể không muốn bị phát giác.

"Ann! Cháu có ở đấy không?"

"Cháu đây, Paul. Chuyện gì đã xảy ra vậy ạ?" Tôi lóng ngóng trả lời.

"Đó là điều ta đang muốn hỏi cháu. Chuyện gì xảy ra thế Ann? Ta vừa từ thị trấn về sáng nay thì nghe tin cháu bị bắt đêm qua. Mấy tay chăn gia súc bảo đêm qua mưa to mà chưa thấy cháu dẫn cừu về nên bọn chúng đổ xô đi tìm. Chúng thấy cháu ngất cạnh bìa rừng còn đám cừu và đồng cỏ thì cháy rụi sạch. Vậy là lão chủ đồn điền tức điên lên sai chúng vác cháu về. May là một người làm trong nhà là người quen của ta nên mới hỏi được tung tích cháu đấy."

Tôi bần thần lục lọi trong ký ức, cố nhớ lại cảnh tượng kinh hoàng đã xảy ra. Tôi ngủ quên và bị đàn sói bao vây. Berry vì cứu tôi mà bị bọn nó cắn chết. Tôi đã đốt lửa hòng giết sạch bọn nó nhưng không thành. Và tôi đã chết, một cái chết anh dũng huy hoàng.

Nhưng rồi tôi nhìn lại bản thân mình, tay chân lành lặn, bộ đồ rách của Fig được thay thế bằng bộ đồ khác cũng cũ mèm nhưng không phải của Fig. Tôi còn sống, nghĩa là chuyện đêm qua chỉ là ảo giác được sản sinh ra khi đầu óc tôi quá kiệt quệ, hoặc chỉ là một giấc mơ. Mắt tôi dáo dác ngó quanh tìm kiếm Berry nhưng chẳng thấy nó đâu, sao lại thế nhỉ, rõ ràng chỉ là ảo ảnh thôi mà.

"Berry đâu rồi bác? Bác có biết Berry ở đâu không ạ?" Tôi hỏi.

"Ta không biết. Chẳng phải hai đứa đi với nhau sao?"

"Vâng, nhưng.." Tôi ngập ngừng không biết phải giải thích chuyện này như thế nào. Berry đâu rồi nhỉ. Nếu tôi chưa chết nghĩa là không có gì xảy ra với nó phải không? Ôi trời ơi, mong rằng không có chuyện gì xảy ra với nó. Chắc thằng nhỏ sợ quá nên chạy về căn chồi và đang đợi tôi về cho nó ăn cũng nên. "Có lẽ nó về nhà trước rồi. Thấy cháu đốt lửa lớn như thế hẳn là nó sợ lắm."

"Vụ đốt lửa là thế nào? Mà thằng nhóc Fig đã dặn cháu tuyệt đối không được dắt cừu về muộn rồi đúng không?"

"Vâng cậu ấy có bảo thế. Nhưng cháu lỡ ngủ quên mất, khi thức dậy thì đàn sói đã giết mấy con cừu rồi nên cháu phải đốt lửa để xua chúng đi."

"Vụ này khá gay go đây. Đám gia nhân đang kháo nhau rằng lão chủ đồn điền định bán cháu đi để đền bù thiệt hại cho đàn cừu và mảnh đất. Vậy nên Bennett và ta đã đi hỏi mượn ít tiền để chuộc cháu ra. Cái lão già tham lam khốn nạn ấy! Khi ta đến hỏi trực tiếp thì lão đòi đến cả một gia tài chứ đùa."

Nghe đến việc sắp bị bán đi khiến tôi sợ phát khiếp. Tôi đi đi lại lại, cố vắt óc nghĩ xem có cách nào để thoát khỏi cảnh này. Bỗng tôi chợt nhớ ra, có một thứ khá giá trị mà có lẽ sẽ cứu nguy tôi được phần nào.

"Paul, bác nghe kỹ lời cháu nói nhé. Trong căn chồi có một cái thùng gỗ to, to nhất trong mấy cái thùng ở đó. Nếu bác mở nắp ra và lục tìm trong đó sẽ thấy một chiếc vòng bạc đính đá màu xanh. Bác đem cái vòng ấy bán đi xem sao, nhưng phải trả giá cao vào. Lẽ ra cháu không được phép làm như thế nhưng chuyện đã lỡ rồi, cháu phải ra khỏi đây trước đã rồi sẽ tính đến chuyện chuộc cái vòng về sau. Ngoài ra trong góc trái căn chồi phía hồ nước, chôn ngay bên dưới cây cột là tất cả tiền tích lũy của cháu, dù không đáng là bao nhưng bác cứ cầm hết đi nhé. À mà còn những bộ quần áo, cháu có vài bộ quần áo khá đẹp và có vẻ cao cấp. Bác cứ bán hết chúng đi giúp cháu."

"Cả đi lẫn về sẽ tốn kha khá thời gian nhưng ta sẽ gáng nhanh nhất có thể. Cháu có thể cầm cự được đến tối mai không?"

"Vâng."

"Được, vậy ta ngay đi đây."

"Nếu bác gặp Berry thì cho nó ăn giúp cháu nhé!" Tôi nói vọng theo trước khi tiếng bước chân người kia xa dần và tắt hẳn.

Hay là trốn khỏi đây nhỉ? Nhưng lỗi là do tôi thì phải thanh toán một cách sòng phẳng, nếu không sẽ làm liên lụy đến Fig và gia đình bác Paul mất. Nhưng liệu tôi có thật sự bình an thoát khỏi nơi này cho dù đã trả đủ số tiền chuộc hay không. Những câu hỏi tự đặt ra khiến đầu óc tôi xoay mòng mòng, căng thẳng đến nỗi cắn móng tay đến tứa máu. Thú thật là tôi rất sợ. Viễn cảnh bị đánh chết khi đang bỏ trốn cũng đáng sợ như cảnh bị đánh chết trong cái nhà này.

Tôi vừa nghĩ ngợi vừa đẩy nhẹ cánh cửa, đoán chắc nó đã được khóa từ bên ngoài. Bất thình lình có tiếng lách cách phát ra từ phía bên kia, cánh cửa bật mở cùng với đó là sự xuất hiện của ông chủ đàn cừu.

Vẫn như mọi khi, ông ta ném cho tôi cái nhìn hằn học và khinh thường đến mức khiến tôi co rúm cả người.

Tôi chưa bao giờ thích ông ta. Từ điệu bộ cho đến giọng nói của gã đàn ông ấy đều toát lên dáng vẻ của một lão trung niên bặm trợn và thô kệch. Bác Paul luôn gọi ông ta là "ông chủ đồn điền", một cách gọi lịch sự phù hợp với vị thế của ông ta trong cái làng này, nhưng đối với tôi lão chỉ là "gã chủ đàn cừu" không hơn không kém.

Ẩn sau thân hình to lớn đồ sộ nhờ được ăn uống no đủ trên mồ hôi xương máu người khác là một tính cách vội vàng và nóng như lửa, hở một tý lại chửi um lên mỗi khi có điều gì làm ông ta phật lòng. Không biết bao nhiêu lần tôi chứng kiến cảnh lão đánh những người chăn gia súc bằng bất cứ thứ gì trong tầm tay, khi thì cái cuốc, khi thì cái roi quất ngựa treo trên cửa chuồng. Những lúc như thế, tôi thường cố tránh khỏi tầm mắt ông ta để không bị vạ lây. Một kẻ coi thường người khác và nhục mạ người ta bằng đòn roi như đánh thú vật thì có xứng được gọi bằng thứ danh xưng lịch sự hay không? Tôi không cho là như vậy.

Chưa kịp để tôi định thần, lão cầm gáo nước tạt ngay vào mặt tôi rồi buông ra một câu khinh bỉ.

"Ồ! Nhốt mày lâu thế tưởng mày khát nước."

Nhưng ngay khi lão đưa mắt quét qua bộ dạng ướt như chuột lột của tôi từ trên xuống dưới, mặt lão liền tối sầm lại, dữ tợn hơn bao giờ hết. Sau đó, chỉ trong chớp mắt, lão nắm lấy cổ áo tôi bằng một tay, nhấc bổng tôi lên không trung khiến tôi gần như tắt thở.

"Đứa nào dám đưa bộ đồ này cho mày mặc?"

"Cháu.. k.. hông biết. Ông.. buông.. tay.. ra.. trước.. đã.." Khó khăn lắm tôi mới có thể trả lời, đôi tay cố gỡ những ngón tay ông ta đang nắm chặt, hai chân chới với vùng vẫy trong không khí.

Thế nhưng ông ta chẳng hề mềm lòng, ngược lại bằng cái thói vũ phu không nhân nhượng, lão cầm cái gáo bằng tay còn lại phang thẳng vào đầu tôi. Tôi lập tức choáng váng đến đơ người, những giọt nước mắt thất thần rơi ra theo lẽ tự nhiên khi cơn đau cực độ ập đến.

"Định!" "Mệnh!" "Mày!" "Con!" "Khốn!" "Nạn!"

Ông ta gằng giọng, mỗi một từ thốt ra đều đi kèm với một cú đập, cho đến khi cái gáo vỡ nát và tôi cảm thấy một dòng chất lỏng ấm nóng chảy dài trên mặt.

"Này, nếu nó chết ông sẽ không nhận được một cắc bạc nào đâu." Trong cơn mê sảng tôi vẫn nghe thấy cái giọng lảnh lót không lẫn vào đâu được của bà vợ ông ta, cái giọng mà chỉ cần nghe văng vẳng xa xa thôi đã đủ khiến tôi chạy biến mất dạng.

Nhưng chưa bao giờ như lúc này đây tôi thấy biết ơn bà ta đến vậy, vì ngay sau đó gã đàn ông lực điền ấy buông tay ra khiến tôi rơi xuống đất như một con chuột chết. Con chuột nằm thoi thóp, cố giành lấy từng ngụm không khí trước khi bị thần chết kéo sang thế giới bên kia.

"Chính tôi mặc quần áo cho nó đấy lão già mắc dịch!" Hơi nóng tỏa ra từ những ngón tay bà ta mân mê trên khuôn mặt tôi chỉ khiến tôi lạnh gáy. "Ôi con mèo con bé bỏng của ta, phải mau chóng chữa trị cho cháu thôi. Lão ấy đúng là đồ súc vật, cháu nhỉ? Ai lại ra tay nặng với trẻ con thế này." Rồi bà ta quát lớn, "Lão già khốn kiếp đi tìm tay bào chế về đây đắp thuốc cho nó ngay!"

Hai mắt tôi vẫn nhắm chặt cố làm như mình sắp chết, đủ để tôi nghe thấy tiếng một thứ gì đó bị đá văng vào tường rồi lăng lông lốc dưới đất, sau đó là tiếng chửi rủa sang sảng càng lúc càng xa dần.

"Hôm.. nay.. cháu.. không.. xoa.. bóp.. cho.. bà.. đâu.." Tôi thều thào khi bà vợ gã chủ đàn cừu vắt cái khăn ấm lau mặt cho tôi. Sau khi gã đàn ông độc ác ấy rời đi, bà ta sai giai nhân mang tôi vào nhà, thay cho tôi bộ quần áo khác, đắp thuốc lên những vết u sưng to như cái bát do vỡ mạch máu gây ra. Nếu không biết bộ mặt thật của người đàn bà này, hẳn là tôi sẽ quỳ rạp ra đất cúi đầu cảm tạ bà ta đã ban ơn cứu giúp. Ngược lại, những gì tôi biết chỉ khiến tôi muốn lộn mửa mỗi khi nghĩ đến.

Có một bí mật tôi đã luôn che giấu, một bí mật có lẽ quá tồi tệ để nói với bất kỳ ai.
 
3 ❤︎ Bài viết: 0 Tìm chủ đề
Chương 11: Bí mật của Fig

"Fig này, sao cậu tốt với tôi thế?"

Vào một dạo nọ, tôi đã hỏi Fig khi hai đứa chuẩn bị đi ngủ sau buổi phụ đạo tối muộn.

"Cậu giống em gái tớ."

"Cậu có em sao?"

"Ừ, một đứa. Nhưng nó mất rồi," vừa giũ bụi chiếc chăn, cậu ấy vừa nói, "cậu khiến tớ nhớ đến nó. Tên con bé là Zarina, mà theo lời mẹ tớ có nghĩa là một thỏi vàng. Cậu biết không, con bé vô cùng xinh xắn đáng yêu, quả thật là báu vật trân quý nhất trên đời. Tớ đã tự tay chăm nó từ hồi nó mới sinh đấy."

"Thế.." ngập ngừng một lát để nghĩ xem phải phản ứng thế nào, tôi cẩn thận lựa chọn ngôn từ ".. tôi có thể hỏi vì sao em ấy mất được không?"

"Lúc đó mẹ tớ vừa qua đời. Nhà chẳng còn gì ăn mà căn trọ thì tan hoang hết cả, chẳng còn sót lại một ai từ cái lần bọn giặc phương Bắc Rammabit [1] tràn vào thị trấn cướp sạch của cải và lương thực tích trữ. Vậy nên tớ phải bế em ra ngoài xin sữa. Nhưng khi đó trời nóng bức khô hanh đến độ cỏ cây héo rũ, đất cũng nứt toác ra, ngoài đường người ta chết đói nhiều lắm. Tớ thì còn có thể cắn rơm cắn cỏ cạp đất mà ăn, nhưng Zarina thì chẳng có gì bỏ bụng. Con bé cứ khóc suốt, khóc mãi đến khi kiệt sức, nhưng chẳng ai có thể giúp đỡ chúng tớ. Thế là em mất, giống hệt mẹ, Zarina cứ ngủ mãi và chẳng bao giờ thức dậy được nữa."

"Tôi xin lỗi, tôi rất tiếc."

Nhờ sự phụ đạo tận tình của Fig, tôi đã biết và cũng thấu cảm phần nào tình cảnh éo le của đất nước này, một đất nước Hemeti đã từng trải qua giai đoạn tang thương khốc liệt của chiến tranh. Dẫu đã chuẩn bị tinh thần để không quá xúc động khi nghe kể về những mẫu chuyện mất mát chia ly, thế nhưng lòng tôi vẫn đau như cắt khi có dịp chạm đến một ký ức chưa từng có dịp tỏ bày.

Vào những đêm tôi, Fig và Berry nằm bên nhau cạnh đống lửa và hồi tưởng về những kỷ niệm xưa cũ. Fig đã khoe với tôi rằng ngày xưa cậu ấy sống trong một khu phố sầm uất cách đây rất xa. Cậu và mẹ sống trên tầng hai một căn trọ lúc nào cũng tấp nập khách ra vào, vô cùng ồn ào nhất là ban đêm. Cậu ấy chẳng mấy khi có dịp được ra ngoài, mà chỉ quanh quẩn chơi với mấy cô sống cùng căn trọ. Thế nên khi lần đầu đặt chân đến thảo nguyên, cảm giác yên bình, phiêu diêu, tự do tự tại đã cuốn hút lấy cậu theo cách không thể cưỡng lại. Thế là cậu ấy chọn làng Ngã Ba này làm điểm dừng chân.

Nhưng Fig chưa từng cho tôi biết vì sao lại rời nhà để chuyển đến đây và sống lẻ loi thế này. Phần cũng vì tôi ngại không dám hỏi. Phần cũng vì tôi đoán cậu ấy chưa sẵn sàng chia sẻ những chuyện sâu hơn. Thế là tôi hỏi dò vợ chồng bác Paul và những người trong điền trang. Nhưng câu trả lời nhận về luôn là họ cũng chẳng rõ. Người ta chỉ biết Fig là đứa bé chăn cừu rất được việc, nhưng chẳng ai biết cậu xuất xứ thế nào và là con cái nhà ai.

Có lẽ đây là lúc thích hợp nhất để hỏi về chuyện này.

"Kể tôi nghe chuyện sau đó nhé, được không?"

"Người ta buộc phải thiêu những người đã qua đời để tránh phát sinh dịch bệnh, vì vậy tớ chẳng thể làm gì ngoài việc để em và mẹ ra đi cạnh hàng tá người cũng nằm trên giàn lửa. Khi tất cả chỉ còn lại một đống tro tàn, tớ theo đoàn đưa tiễn họ về nhà của Chúa. Ở đó cha Peter phân phát thức ăn và cung cấp nơi điều trị cho những người bị thương trong chiến tranh nên rất đông người kéo đến. Tớ ở tạm đó vài ngày trước khi lên đường đi tìm bố. Mẹ tớ từng nói rằng bố làm việc ở một đồn điền ở Làng Ngã Ba Vann-Ker-Blanc."

Làng Ngã Ba Vann-Ker-Blanc chính là ngôi làng mà chúng tôi đang sinh sống. Người ta gọi thế vì đây là nơi tiếp giáp lãnh thổ của ba gia tộc lớn: Vann phía tây, Kerney phía Bắc, và Blanchill phía Đông. Dù cách rất xa thủ phủ nhưng Làng Ngã Ba vẫn nằm dưới quyền kiểm soát của Vann, còn khu phố ngày xưa cậu bạn tôi từng sống nằm ở địa phận Blanchill. Nghe nói ở Blanchill người ta cấm hoạt động tôn giáo, vậy nên đứa trẻ này đã phải di chuyển trên một lộ trình rất vòng vèo sang địa phận Kerney trước khi đến được đây.

Fig của tôi, hẳn là cậu đã phải chịu nhiều vất vả.

"Thế cậu đã tìm được bố chưa?" Tôi nhẹ nhàng hỏi.

"Ừ, tìm được rồi. Nhưng ông ấy đã qua đời trước mẹ vài tháng, nghe nói là bị gấu tấn công khi đi săn trong rừng. Trong lúc tìm chỗ họ đã chôn ông thì tớ trông thấy cái chồi này. Lúc đầu tớ chỉ định tạm dừng chân ở đây vài ngày trước khi quyết định sẽ làm gì tiếp theo. Nhưng rồi tớ vô tình gặp Paul khi đang mót khoai ngoài đồng. Bác ấy bảo mấy người ở điền trang chỗ bố tớ làm việc đang cần một tay chăn cừu, thế nên tớ bảo bác ấy xin cho tớ làm."

"Khoan, đợi một chút đã." Tôi bất ngờ hỏi lại. "Điều đó có nghĩa là bố cậu từng làm việc ở điền trang nhà ông Wilmot ấy hả? Cái chỗ đang thuê chúng ta chăn cừu ấy?"

"Đúng rồi."

"Nhưng mọi người ở đó bảo không biết bố mẹ cậu là ai."

"Ừ thì tớ cũng đã bảo với họ đâu. Khi đến tìm bố, tớ chỉ bảo là đến tìm ông Tyler. Trước đó tớ đã hỏi ở những điền trang khác nhưng quanh đây chỉ có mỗi bố tớ mang cái tên đó nên họ chỉ cho tớ đến điền trang Wilmot."

"Ra là vậy." Lớp sương mù dày đặc trong đầu tôi dần tản ra từng chút một. "Tội nghiệp cậu." Tôi không biết phải nói gì hơn ngoài một tiếng thở dài sườn sượt.

"Tớ chẳng biết rõ về ông nên cũng chẳng buồn quá nhiều. Lần cuối tớ gặp ông là khi tớ còn bé, thỉnh thoảng ông mới về nhà thăm mẹ, rồi ông lại đi ngay vào ngày hôm sau. Đối với tớ, bố cũng giống như những vị khách của mẹ, chẳng ở lại lâu bao giờ. Điều khác biệt duy nhất là bố thường mua rất nhiều quà, và thường chơi với chúng tớ để mẹ được nghỉ ngơi. Ông rất tốt với chúng tớ và trông mẹ thật hạnh phúc khi được ở bên ông. Nhưng vì ông cứ đi đâu mải miết nên tớ chẳng thể thích ông lâu dài được. Thật ra đã có lúc tớ giận và ghét ông ấy lắm. Không có ông ở nhà, đêm nào mẹ cũng khóc."

"Hẳn là mẹ cậu đã chịu nhiều khổ cực khi phải một mình nuôi hai đứa trẻ. Những người họ hàng của cậu thì sao? Họ có đến thăm gia đình cậu thường xuyên không?"

"Gia đình tớ không có họ hàng, hoặc nếu có thì họ chắc cũng chẳng muốn dính dáng gì đâu. Mẹ tớ ấy mà.." dừng lại một chút như thể đắn đo điều gì đó, cậu ấy tiếp, ".. mẹ phải làm việc cả đêm. Lúc đó tớ còn bé quá không nhận thức được tình hình. Tớ chỉ biết đêm nào cũng có người đến tìm mẹ. Mẹ dặn tớ phải ở ngoan trong phòng chăm Zarina để nó không khóc. Mẹ bảo nếu em nó khóc quấy sẽ làm phiền mẹ, và rồi mẹ sẽ không có tiền để chăm lo cho chúng tớ.

Bằng một giọng điệu điềm nhiên và bình tĩnh, Fig chầm chậm tiếp tục câu chuyện.

" Mẹ chẳng bao giờ khóc trước mặt tớ. Thi thoảng từ bên kia bức tường nơi mẹ gọi là phòng tiếp khách, tớ cứ nghe thấy tiếng bà thổn thức, có khi chỉ một lát, có khi kéo dài cả đêm. Vì sao mẹ lại khóc? Người ta đánh mẹ sao? Tớ lo lắng đến phát điên lên được, chỉ muốn tẩn những kẻ đã đánh mẹ một trận cho phải lẽ. Thế là một đêm nọ, khi Zarina đã ngủ say bên con búp bê vải của nó và mẹ đã ngừng khóc, tớ đã mở cửa phòng bà với một cái cán chổi trên tay. Và rồi tớ thấy.. "

Dường như quá xúc động, cậu ấy ngưng một chút, trong đôi mắt long lanh thứ gì đó có vẻ đang trực trào ra. Tôi vỗ về cậu bằng đôi bàn tay nhỏ xíu của mình, một thoáng cảm thấy cơ thể cậu ấy đang run rẩy.

".. thôi, cậu còn bé lắm. Những chuyện này không nên kể với cậu thì hơn. "Cậu ấy ngắt ngang câu chuyện.

Vài phút yên tĩnh chỉ còn tiếng lửa cháy tí tách đủ để tôi mơ hồ nhận ra vấn đề mà đứa trẻ này đã phải đối mặt ở tuổi đời còn quá nhỏ.

" Không, tôi hiểu mà. "Tôi trả lời, cố giữ bình tĩnh trong tông giọng." Cậu có oán giận bà ấy không? "

" Có chứ. Tớ tuyệt thực và bắt đầu hành động ngỗ ngược như một cách để chống đối. Tớ ném bát đĩa để mẹ không mở cửa cho người ta vào nhà. Tớ bỏ mặc cho Zarina khóc ré lên để đuổi người ta đi. Nhưng dù tớ có quậy phá như thế nào mẹ vẫn không hề đánh tớ. Mẹ ôm tớ khóc. Mẹ van xin tớ. Nhưng tớ không thể tha thứ cho mẹ. Đã hàng trăm, hàng ngàn lần tớ dày xéo mẹ bằng những từ ngữ kinh tởm để buộc tội mẹ phản bội chúng tớ, để trừng phạt mẹ, nhưng mẹ vẫn chẳng hề phản bác. Mẹ chỉ xin tớ đừng ghét mẹ, mẹ hứa với tớ rằng mẹ sẽ không như thế nữa. Vậy là sau lần đó, cho đến khi mẹ bệnh rồi mất, chẳng còn vị khách nào ghé qua phòng trọ chúng tớ thêm nữa. Nhưng lúc đó tớ không hề biết, sau khi mẹ đi rồi tớ mới biết, mẹ nhẫn nhịn chịu đựng đắng cay nhục nhã như thế chỉ để hai đứa chúng tớ được ăn uống đủ đầy. "

Chẳng biết từ bao giờ những giọt nước mắt đã rơi trên má cậu ấy làm ướt nhòe những nốt tàn nhang trên làn da tái nhợt. Bằng một cử động nhanh chóng, cậu ta đưa tay lên lau hết chúng đi. Nhưng làm sao có thể ngăn nổi dòng nước lũ đang cuồn cuộn dâng trào trong cảm xúc, chúng cứ trào ra, rơi hết dòng lệ này đến dòng lệ khác.

Một cảm xúc đau đớn nhói lên trong tim tôi, khiến tôi nhào đến ôm chầm lấy cậu, nghiêng đầu cậu lên vai tôi, vỗ nhẹ vào lưng cậu, để cậu có thể an tâm trút hết mọi đớn đau đã luôn dày xé tâm can hàng ngày hàng giờ mà không cách nào có thể nguôi ngoai được.

Cậu ấy khóc nấc.

" Tớ hối hận lắm Ann ạ. Giá như tớ chưa từng nặng lời với mẹ như thế, giá như tớ chưa từng ngỗ ngược, giá như tớ chưa từng mở cánh cửa ấy ra, tớ sẽ không khiến bà đau khổ tuyệt vọng đến suy kiệt để rồi ốm nặng. Mẹ nổi mụn nhọt khắp người đến nỗi không thể ra khỏi giườg vì đau đớn. Cho đến một ngày mẹ qua đời trong giấc ngủ, tớ không còn cơ hội xin lỗi mẹ nữa rồi. "

Trên vai áo tôi, những hạt lệ nóng ấm chầm chậm lan ra như thiêu đốt từng tấc da thịt.

Cậu bé mười ba tuổi trước mặt tôi đây, một đứa trẻ lúc nào cũng tỏ ra vui vẻ lạc quan, vậy mà lại nấc nghẹn trong những tiếng kêu oai oán tang thương của một trái tim được bao bọc bởi kẽm gai và những mảnh thủy tinh bén ngót. Bức tường cảm xúc mà cậu ấy đã cố dựng lên nhằm che lấp mọi cảm xúc bên trong đã hoàn toàn sụp đổ. Giờ đây cậu ấy trần trụi, mỏng manh, dễ vỡ như một viên pha lê, chỉ cần gõ nhẹ cũng sẽ gây một vệt nứt toác không thể nào hàn gắn lại được.

Vậy hãy để tôi bảo vệ viên pha lê ấy.

Tôi sẽ là cha, là mẹ, là em gái, là bạn thân, là bất cứ điều gì miễn là có thể bảo vệ cậu.

Tôi sẽ là gai nhọn, là vỏ sò, là tấm khiên che chở cậu.

Tôi sẽ là sợi dây, là chiếc thang, là con thuyền để cậu bám lấy.

Tôi sẽ là tất cả miễn là cứu được cậu khỏi nỗi khốn khổ hối hận đến tột cùng.

Mãi lúc lâu sau khi tiếng thổn thức không còn nữa, bằng một giọng điệu có phần tươi sáng hơn, cậu ấy lại nở nụ cười như thể chẳng có chuyện gì.

" Xin lỗi nhé, tớ làm bẩn áo cậu rồi. "Cậu ấy nói.

Fig của tôi, đứa trẻ đáng thương của tôi lại một lần nữa che lấp nỗi khốn khổ của bản thân bằng dáng vẻ trưởng thành không đúng tuổi. Ở điểm này chúng tôi khá giống nhau, đều bơ vơ trơ trọi trong những xúc cảm quá đắng cay, để rồi phải gồng mình lớn lên mà không thể giải bày nỗi đớn đau vụn vỡ ấy thành lời.

" Ừ không sao cả. Để tôi lau mũi cho cậu."

Tôi kéo cậu bạn ra bờ ao rồi rửa mặt mũi cậu ta cho sạch sẽ. Ngay khi cậu ta đang hông khô mặt trong làn gió, tôi đột ngột đưa tay hất mạnh khiến nước văng tung tóe lên bộ đồ cậu ấy đang mặc, đồng thời khiến bản thân bị té nhào xuống ao. Chưa kịp ngôi lên, thân thể nặng trịch của Berry lại nhảy ào lên đầu khiến tôi ngụp xuống thêm một lần nữa. Thằng nhóc này tưởng chúng tôi đang nghịch nước đây mà. Thế là tôi kéo Fig xuống cùng chịu trận. Ba đứa chúng tôi đã chiến đấu hết mình với mục tiêu tạt nước buộc đối phương phải lên bờ trong tiếng cười đùa xé tan bầu không khí tĩnh mịch.

Chưa bao giờ đêm lại dài như thế.

- - Chú giải --

[1] Giặc Rammabi: Một quốc gia ở phía Bắc vương quốc Hemeti, sẽ được kể rõ hơn ở chương 17 và các chương sau.
 
3 ❤︎ Bài viết: 0 Tìm chủ đề
Chương 12: Bí mật của tôi (1) - Bão tới

Cơ duyên giữa tôi và bà Wilmot là một câu chuyện dài bắt đầu vào một chiều dông.

Bão đến nhanh kéo theo mây đen giăng kín cả bầu trời; liền sau đó là những cơn cuồng phong lướt qua đồng cỏ, cuốn bay những mảnh vỡ hàng rào ngăn cách hai bãi đất trống. Trong tích tắc, một loạt tia chớp lóe lên liên hoàn, vẽ những đường man rợ như mạch máu có màu trắng sáng, xé toạc nền trời tối mịt rồi lao thẳng xuống giữa đồi. Tiếng ầm ầm như trống vỗ dồn dập sau đó dội thẳng vào ốc tai, khiến những kẻ yếu tim liên tưởng đến tai họa đang không ngừng giáng xuống.

Thật may đàn cừu đã về tới điền trang, vì ngay khi cánh cửa chuồng vừa đóng lại, tôi nghe thấy tiếng mấy bác nông dân lớn tiếng ngoài sân, nơi mà cái mái nhà kho ủ phô mai vừa bị gió lật tung một góc, kèm với đó là mưa như trút đột ngột ào đến khiến họ không kịp trở tay.

Trong khi cánh đàn ông đang ra sức vốc cát vào bao tải chèn lên mái nhà, cánh phụ nữ vội vã che chắn hàng kệ chất đầy những mẻ phô mai đang lên men bằng bất cứ thứ gì có thể vớ được.

Giúp đỡ họ vốn dĩ không phải nhiệm vụ của tôi. Nhưng theo thói quen, tôi lao nhanh khỏi chuồng gia súc, hăng hái chạy quanh đóng cửa sổ tất cả nhà kho, rồi xách xô hứng lấy những chỗ đang rũ nước từ chiếc mái nhà bị dột. Thế là điềm nhiên, tôi trở thành một phần trong số những người làm của điền trang, tất cả đều đang ra sức gia cố những khu vực hư hỏng nhằm hạn chế thấp nhất thiệt hại do cơn bão.

Khi mọi việc đã được xử lý xong xuôi, bộ dạng ai nấy đều ướt như chuột lột. Chúng tôi tụ lại quanh đống lửa vừa thắp giữa nhà kho chính, cởi lớp áo ngoài treo lên thanh sào dựng tạm bằng cách bắt ngang cây chổi quét trần giữa hai cái bàn. Trong lúc chờ quần áo được hông khô, bà bếp ném cho mỗi người một củ khoai sẵn có trong kho để tự nướng ăn lót dạ.

Làm việc liên tục cả ngày khiến ai cũng kiệt quệ, tóc tai bết bát dính vào làn da cháy nắng đồi mồi tàn tạ hết chỗ nói. Trách sao được, mới ban nãy trời vẫn còn nắng ráo trong veo không có lấy một gợn mây. Sáng sớm nay khi tôi đến mở cửa chuồng cừu đã thấy mọi người bắt đầu làm việc. Chỗ thảo mộc khô toàn bộ được đem ra phơi nắng để không bị mốc. Mấy tấm vải len vừa mới đập chiều qua cũng được căng ra phơi lên giàn. Đôi bò nâu đã được giống vào đòn ách, sẵn sàng cho công cuộc cày cấy. Cói đã được trải trong sân và cạnh đó là hai người phụ nữ lớn tuổi ngồi tết thảm. Cuộc sống thường nhật vẫn diễn ra như mọi khi, dường như chẳng ai mảy may hay biết chỉ vài tiếng nữa thôi giông bão sẽ đến gần.

Chiếc giỏ đựng khoai to kềnh càng đã vơi đi một nửa mà mưa chẳng có dấu hiệu gì sẽ tạnh. Có vẻ hơi ấm từ con quỷ đỏ đang nhảy tanh tách trên những thanh củi gỗ chưa đủ xua đi gió luồn qua khe cửa, người ta bắt đầu rót cho nhau mấy cốc nước ngã vàng có mùi yến mạch nổi bọt trắng li ti, thứ bia tươi có thể sản sinh ra nhiệt khi trôi tuột vào bao tử. Đến lượt tôi, bà bếp bảo một chị người làm vắt cho tôi ít sữa dê nóng ấm. Cầm lấy bát sữa trong tay, tôi chậm rãi nuốt từng ngụm, từ tốn cảm nhận vì thơm béo đẫm trên đầu lưỡi. Dòng chất lỏng chảy vào dạ dày, nhiệt từ đó chầm chậm lan ra, mang đến cảm giác vỗ về tạm thời xoa dịu cơn run rẩy.

Khi sức lực đã được hồi lại phần nào, mọi người bắt đầu tụm năm tụm ba theo từng nhóm nhỏ trò chuyện rôm rả. Mình tôi vẫn ngồi thu lu một góc, nơi có chiếc ghế dài kê sát vách tường bên dưới chiếc cửa sổ bị gãy bản lề không thể đóng kín. Gió rít và mưa to đằng đẵng hú hét bên tai làm tôi thêm nhung nhớ, chỉ mong gia đình mình nơi phương xa vẫn giữ được bình an.

"Bé con đang làm gì thế?"

Chị người làm ban nãy mang bát sữa cho tôi đột ngột ngồi xuống bên cạnh khiến tôi có đôi chút giật mình.

"Em đang ngắm mưa." Chỗ bản lề cửa sổ hỏng có một cái lỗ to bằng nắm tay, nhờ đó mà tôi có thể trông ra quan cảnh những hạt mưa đang rơi xuống, bao phủ điền trang trong lớp màn đục ngầu mờ ảo.

"Sáng nào chị cũng thấy em đi loanh quanh cùng con chó và đàn cừu nhưng chưa có dịp nói chuyện với em bao giờ. Bé con tên gì thế? Thằng nhóc lúc trước đi chăn cừu với em đâu rồi?" Chị gái ấy hỏi.

"Fig đi học trên thị trấn rồi nên em đang phụ giúp cậu ấy. Em là Ann. Còn chị tên gì?"

"Gọi chị là Jody," vừa nói chị ấy vừa cười toe toét.

Chị Jody là một thiếu nữ mảnh khảnh có lẽ chỉ độ đôi mươi. Khuôn mặt chị không quá xinh với nước da nâu lấm chấm tàn nhan, chiếc mũi to và răng không đều, nhưng khi chị cười toát ra cảm giác nhiệt tình thân thiện. Mái tóc màu nâu cháy được tết thành hai bím giống nhân vật chính của cuốn tiểu thuyết "Anne tóc đỏ dưới chái nhà xanh." Giọng chị ríu rít như một con chim sẻ vui tươi và tràn đầy sức sống, khiến tôi bị cuốn theo nguồn năng lượng ấy và buông lỏng lớp rào phòng vệ mà tôi đã luôn dựng lên để cách biệt với mọi người.

"Chị Jody làm ở đây lâu chưa?" Tôi hỏi.

"Vừa xong bữa ăn mừng trưởng thành với gia đình là chị được dẫn đến đây luôn. Chắc là khoảng sáu bảy năm rồi nhỉ? Họ cho chị học việc ở lò bánh mì và giờ chị đã thành thợ chính rồi đấy."

"Thích thế!" Tôi cảm thán, vô thức đưa tay mân mê bím tóc chị. Dù chất tóc chị khá khô sơ, nhưng vì thế mà chúng tạo được một độ phồng nhất định trong khá dày dặn. Điều đó khiến tôi thầm ghen tỵ.

Cái đầu hói của tôi đã mọc tóc chỉ sau vài tháng lưu lạc, nhưng khi tóc đạt độ dài tầm 5 xăng-ti đủ để khiến tôi chú ý, tôi mới phát hiện chúng có màu xám tro trông khá kỳ cục. Ban đầu tôi định đợi xem khi dài hơn chúng có đổi sang cái màu đen vốn có không, thế mà càng ngày cái màu xám ấy càng trở nên nổi bật bên dưới tấm khăn che đầu. Thế là tôi phải nhờ cô Bennett cạo phắt chúng đi cho rồi, vì thà rằng tôi trọc lóc vẫn dễ che giấu hơn mang trên đầu cái thứ tóc quái dị chẳng giống ai đó. Khỏi phải nói, cô Bennett cũng tỏ vẻ bất ngờ ngay khi tôi cho cô xem mái đầu xấu tởn, nhưng rồi cô vẫn dịu dàng lấy kéo cắt sát chúng cho tôi, vì cô bảo cạo bằng dao thì đau lắm, mà cái màu này tệp hẳn vào da nên dù chỉ cắt sát vẫn không lộ ra ngoài. Vậy nên cứ sau một hai tuần, khi ngọn tóc có xu hướng mọc cao lên, tôi đều nhờ đến cô Bennett.

Ừ thì tóm lại là tôi ngưỡng mộ mái tóc tết của chị Jody lắm.

Thế là cả đêm tôi cứ bám lấy chị. Chị để yên cho tôi tháo chúng ra và thử tết đủ loại kiểu mà tôi biết, nào là đuôi sam, nào là xương cá, nào là thác nước. Sau đó, chúng tôi ngồi bàn về đủ loại chuyện trên trời dưới đất. Chị Jody nói rất nhiều. Tôi có cảm tưởng chuyện gì trong làng chị ấy cũng biết. Chỉ cần nhắc đến một thứ bất kỳ nào đó thôi là chị Jody có thể kể ra biết bao nhiêu là chuyện liên quan đến cái thứ đó. Vậy là máu nhiều chuyện trong tôi trỗi dậy, tôi cứ nghe hết chuyện này đến chuyện khác, thỉnh thoảng lại bình luận vài câu cảm thán. Quả thực những câu chuyện phiếm về người khác luôn luôn có sức hấp dẫn không thể chối từ.

Đêm dài cứ thế mà trôi. Mưa rả rít cả đêm cuối cùng cũng ru tất cả chúng tôi vào giấc ngủ.

Lạ chỗ nên tôi ngủ không sâu và liên tục chở mình. Tiếng ai đó ngáy to khiến tôi tỉnh giấc, và có vẻ bên ngoài mưa đã tạnh vì tôi không còn nghe thấy tiếng rì rào rơi xuống của những hạt mưa.

Tôi nhón gót nhẹ nhàng tiến đến chỗ cái cửa sổ hỏng nhìn ra bên ngoài. Phía đối diện là ngôi nhà trang viên của ông Wilmot. Vẫn là thứ kiến trúc đặc trưng thường thấy quanh đây, nhưng những bức tường bằng đá với hai tầng lầu bám đầy dây thường xuân đã giúp ngôi nhà toát lên vẻ uy nghi đặc biệt hơn nhiều. Cơn dông đã làm bật gốc vài cây to xung quanh, khiến những bộ rễ khổng lồ bung lên nằm chơ vơ giữa không trung, chĩa ra những sợi dài ngoằn uốn éo như những ngón tay thây ma xương xẩu. Trong bầu không khí tĩnh lặng, tiếng cú kêu vang vọng màn đêm càng tô vẻ thêm cảm giác ám ảnh hoang tàn.

Khi tôi đang mải mê ngắm nhìn cái chong chóng gió hình con gà đang lắc lư trên mái nhà, bất thình lình, một trong những ô cửa sổ bên dưới bật mở, và thò ra khỏi đó là một chiếc chân trần trắng bệch như tượng sáp.

Mặt tôi bỗng chốc không còn một giọt máu.

"Lại cái gì nữa không biết!" Tôi thầm nghĩ, như thể không tin vào mắt mình.

Cái chân ấy đong đưa vài giây rồi lại xuất hiện thêm một cái chân khác. Lần này tôi thấy hình dáng mờ mờ của một chiếc váy ngủ phủ lên đôi chân gầy guộc, cùng với đó là bóng dáng một người lấp ló, ngồi chênh vênh trên thành cửa sổ

Khi người đó chồm ra ngoài, ánh trăng rọi sáng khuôn mặt bằng thứ ánh sáng lạnh toát ngã màu xanh xanh, làm hiện lên đường nét méo mó kỳ dị cùng đôi con mắt vô hồn trống rỗng cứ nhìn trân trân vào khoảng không trước mặt.

Lòng tôi thắt lại khi nhận ra, đó chính là bà ta - người phụ nữ vẫn thường nhìn chằm chằm tôi từ chính ô cửa sổ đó vào mỗi buổi sáng.

Bà ta bám lấy thành cửa sổ, đôi bàn tay khẳng khiu siết chặt, rồi đột ngột đẩy người lao xuống. Tôi giật điếng người, không thể nào cất lên tiếng hét, chỉ nghe một tiếng "huỵch" nặng nề vang lên từ phía bụi rậm bên dưới. Từ độ cao đó, cú ngã không đáng sợ đến mức chết người, nhưng sự im lặng sau đó lại khiến mọi thứ trở nên đáng ngờ. Không có tiếng xào xạc của cành lá, không có bất kỳ chuyển động nào. Bà ta đã bất tỉnh rồi hay chăng?

Tôi rón rén chạy đến lay chị Jody.

"Gì th.." Chị ấy càu nhàu.

"Suỵt," tôi ra hiệu và thì thầm, "dậy đi theo em, nhanh lên."

Nhưng chị Jody với đôi mắt lờ đờ chỉ thở dài rồi ngả người ngủ tiếp. Bất lực, tôi quyết định kéo chị ngồi dậy lần nữa. Lần này, giọng tôi hoàn toàn gấp gáp, "Nhanh đi theo em! Có người vừa mới ngã lầu."

"Kệ họ." Bất chấp nỗ lực của tôi, con người này chẳng thể nào tỉnh táo ngay được. Cũng không thể trách chị ấy, chị Jody có được đào tạo như một nữ hầu đâu mà có thể phản ứng nhanh trong tình huống khẩn cấp được cơ chứ.

Vậy là tôi đánh liều một mình ra xem thử coi sao.

Tiếng cái cửa nhà kho kêu ken két có lẽ đã đánh động người trong bụi cỏ. Bà ta lập tức ngồi bật dậy rồi bỏ chạy theo hướng vào rừng, để lại tôi ngơ ngác không hiểu chuyện gì đang xảy ra.

"Bà ơi!"

Tôi gọi với theo, nhưng người đàn bà ấy dường như chẳng hề nghe thấy. Bà ta cứ cắm mặt chạy, trên người chỉ có độc một bộ đồ ngủ và đôi chân trần, trong khi gió trời vẫn còn lồng lộng. Tôi liền thó đôi giày chị Jody đặt cạnh chỗ ngủ, tức tốc đuổi theo bà ta.
 
3 ❤︎ Bài viết: 0 Tìm chủ đề
Chương 13: Bí mật của tôi (2) - Hừng đông

Trong đêm bạc, người đàn bà đầu tóc rối bù mặc chiếc váy ngủ ngả màu xám hồng đang điên cuồng lao qua vùng đầm lầy phía trước cối xay gió. Đôi chân gầy khẳng khiu chật vật bước nhanh trong đầm nước, bì bà bì bạch giữa những bụi cỏ lau mọc chen chút nhau. Tiếng rin rít của những bánh răng kẹt cứng khi gió thổi nhưng cánh quạt không thể quay nghe như tiếng rầm rì của quỷ dữ, đay nghiến vùng đất lạnh lẽo bằng thứ lời nguyền man rợ chết chóc.

Khó khăn lắm tôi mới đuổi kịp, bởi người đàn bà đầy hoảng loạn liên tục rẽ khỏi con đường đất có thể đi và đâm sầm vào nơi không có đường: Băng qua cánh đồng ngô đã xác xơ hoang dại, nhảy qua những khối đá bắt giữa con lạch nhỏ đã tràn nước lên cả hai bên bờ, giẫm đạp lên đống dây leo vườn đậu còn sót lại.

Cuối cùng khi dừng bước dưới chân ngọn đồi đã hoang tàn sau trận lỡ đất, bà ta càng trở nên điên loạn, không ngừng đào bới đống đổ nát bằng đôi tay trần trụi. Những lời rì rầm ban nãy không thể nghe rõ từ đôi môi nhăn nhúm đã trở nên quằn quại, biến thành lời gào thét đau đớn cắt da cắt thịt:

"Con ơi!"

"Con tôi!"

Động lực nào khiến một đứa trẻ vừa mới đây vẫn còn sợ hãi lại dũng cảm vứt bỏ mối hiềm nghi đã cư ngụ từ lâu để kiên trì đuổi theo một bóng ma điên loạn, tôi cũng không rõ nữa. Hẳn là vì người đàn bà ấy đã từng bật khóc bên cửa sổ. Hay nói đúng hơn, tôi đã từng vô tình trông thấy cảnh tượng gã đàn ông bặm trợn nắm chặt mái tóc dài và liên tục vung những ngón đòn tàn bạo vào thân xác người đàn bà héo hon gầy guộc. Không một lần chống trả, đôi mắt vô lực của một người quen cảnh dày vò chỉ nhìn gã cầm thú đối diện, trêu ngươi hắn bằng thứ biểu cảm bất cần. Những giọt nước mắt rơi chỉ bởi nó phải rơi, chứ không phải vì cảm xúc. Một trái tim đã chết còn có thể đau đớn hơn nữa được hay sao?

Cây cối đổ rạp cùng núi đá lẫn vào lớp đất bùn đặc quánh khiến việc di chuyển khá khó khăn, thế nhưng vẫn không thể can ngăn tấm lòng người mẹ khát con trong cơn cuồng nộ. Tôi không biết vì sao chuyện lại thành ra thế này, nhưng nếu cứ để mặc bà ta như thế, hẳn đòn roi của gã bạo tàn sẽ lại giáng xuống, và người đàn bà sẽ khó có thể qua khỏi đêm nay.

Vậy nên tôi đã thu hết can đảm, lên tiếng bằng giọng đầy run rẩy:

"Bà ơi."

Dường như bà ta không nghe thấy, nên tôi tiến đến gần, chầm chầm từng chút một, lặp lại tiếng gọi cho đến khi khoảng cách giữa chúng tôi chỉ còn khoảng một cánh tay. Người đàn bà trở nên bất động, rồi lập tức quay ra nhìn tôi.

Bằng một cử chỉ đường đột, bà ta nhào đến ôm chầm lấy tôi, ghì chặt lấy đầu tôi úp vào lòng bà, khiến đống nhem nhuốc trên người bà lây cả sang tôi.

"Con đây rồi! Con đây rồi! Con trai ta lại về với ta rồi!" - Người đàn bà liên tục lẩm bẩm, điệu bộ xem chừng vui mừng lắm.

Hẳn là bà ta không còn minh mẩn - tôi nghĩ, cố ngồi yên để giúp bà bình tĩnh trở lại. Nhưng cái mùi hăng đặc trưng trên cơ thể người già quyện cùng đủ thứ mùi hỗn tạp nhanh chóng khiến tôi ngộp thở. Tôi đẩy bà ta ra, nhẹ nhàng đề nghị:

"May trời vẫn chưa sáng, để cháu đưa bà về nhé?"

Người đàn bà chẳng đáp lời, nhưng đôi bàn tay bà vẫn nắm chặt vai không để tôi đứng dậy.

"Cháu không thể dẫn bà đi trốn đâu. Ông Wilmot sẽ giết cháu mất."

Vẫn là ánh nhìn chằm chằm thường thấy, bà ta sờ soạng cái đầu hói của tôi, nâng niu gương mặt tôi, tưởng như tôi trông giống đứa con bà đang tìm kiếm.

Rạng đông phía cuối chân trời đã bắt đầu ló dạng. Tôi đành nắm lấy tay bà, kéo bà đi theo tôi ngược con đường dẫn về điền trang. Đôi giày chị Jody trên tay còn lại sao mà nặng trĩu đến thế.

Cuối cùng, tôi không thể nào chấp nhận cảnh đôi chân trần bước đi trên đất đá gập ghềnh lạnh toát thêm được nữa. Tôi dẫn bà ra con lạch nơi chúng tôi từng đi qua, hứng dòng chất lòng bằng đôi bàn tay nhỏ xíu, rưới chúng lên đôi bàn chân bấy nhầy bẩn thỉu.

"Bà mang giày vào nhé, nhưng không được chạy đi nữa đâu đấy. Mất đôi giày này thì cả chị Jody cũng sẽ giết cháu mất."

Con đường mòn dần trở nên sáng tỏ, và chào đón chúng tôi ở lối vào ngôi nhà trang viên là ba chị hầu gái đang thầm thì đổ lỗi cho nhau xem ai mới là người phải gánh tội cho cái sơ suất này. Vừa nhìn thấy chúng tôi, một trong số họ chán ghét hất tay tôi ra, rồi bằng một cách thô bạo, họ đẩy người đàn bà tội nghiệp vào nhà, như thể hành động đối xử như một thứ của nợ này đã thành thói quen hằng ngày.

Nhưng người đàn bà bất chợt trở nên hung tợn. Bà ta kéo tôi lại gần thêm lần nữa, bao bọc tôi trong lòng rồi lớn tiếng quát.

"Lũ ôn dịch các ngươi không được động vào con trai ta."

Hành động ấy khiến tất cả họ đều bối rối đưa mắt nhìn nhau không biết phải làm gì. Nhưng ngay lập tức, chị hầu đã hất tay tôi trả lời bằng thứ giọng điệu cực kỳ đáng ghét.

"Nó không phải con trai bà. Cậu Wilmot đi đời nhà ma từ lâu rồi."

Chưa kịp để tôi giải thích, người đàn bà ngay tức khắc nắm đầu chị ta như cái cách ông Wilmot đã làm, kéo nó ra đằng sau bằng sức mạnh không biết từ đâu ra, khiến chị người hầu đau đến khóc thét. Hai người còn lại cố giằng tay bà khỏi mái đầu xù xì, nhưng điều đó chỉ càng khiến bà ta điên tiết.

"Câm cái miệng lại hoặc ta sẽ khiến đống bùi nhùi này vĩnh biệt cái đầu của ngươi! Nó còn sống! Con trai ta còn sống! Nó là con trai ta! Con trai ta! Nghe rõ chưa thứ bần hèn ti tiện!"

Cảnh tượng trước mắt khiến tôi không thể nào tin được. Cả thái độ xấc xược của người hầu lẫn thái độ giận dữ của người đàn bà đều trái ngược hoàn toàn với những gì trong tưởng tượng. Vốn dĩ tôi vẫn luôn mơ hồ không biết bà ta là ai, nhưng qua những lời này, khả năng cao đây chính là bà vợ ông Wilmot, còn nhiệm vụ của mấy chị hầu có lẽ là canh chừng không cho bà ta trốn mất.

Một gia đình phức tạp đến không ngờ.

Cuộc giằng co ồn ào đã đánh thức nhóm người trong nhà kho chính. Họ kéo nhau ra xem, tiện thể tách mấy người đàn bà đang dính chặt vào nhau, mặt mày đỏ gay, miệng không ngừng phun ra những từ tục tĩu.

Cứ thế này người chết trước sẽ là mình - nghĩ thế, tôi liền tìm cách chạy biến đi trước khi lão chủ đàn cừu thức giấc và phát giác ra vụ cãi cọ này tất cả đều là do tôi. Nhưng bàn tay người đàn bà nắm lấy tôi cũng chặt như bàn tay bà nắm lấy chị hầu, giữa đống lộn xộn, bà ta quát.

"Con đi đâu? Con đi đâu? Lại định đi tìm con ả đó sao? Con lại định bỏ mẹ mà đi tìm ả gái điếm đó sao?"

"Bà buông chị ấy ra rồi cháu không đi nữa." Hoàn toàn kinh hoảng, tôi nói. "Cháu xin bà, xin bà đừng gây chuyện nữa. Ông Wilmot mà biết thì tất cả chúng ta đều không sống nổi mất."

Mãi bà ta mới chịu buông cái vật trong tay, kèm với đó là cú đẩy mạnh khiến ba chị hầu ngã uỵch ra sau. Kế đó, thản nhiên như không, bà ta kéo tôi đi băng băng qua đám đông, tiến thẳng vào cửa lớn ngôi nhà trong ánh nhìn kinh ngạc của mọi người.

Cầu trời tôi giữ được mạng mình, để ít nhất tôi còn có thể trả lại đôi giày đã mượn mà không nói lời nào với chủ nhân của nó.
 
3 ❤︎ Bài viết: 0 Tìm chủ đề
Chương 14: Bí mật của tôi (3) - Bữa sáng

Căn phòng tối mù chỉ nhận được thứ ánh sáng nhá nhem hắt vào từ sau cánh cửa mở dẫn ra lối cầu thang và những ngọn nến treo trên vách tường. Bên ngoài khung cửa sổ đóng kín, những giọt nước trên mái hiên rơi từng nhịp đều đặn như cái đồng hồ báo thức cứ kêu lắc cắc mỗi khi kim giây nhích thêm một khắc. Tiếng xì xèo sôi sùng sục của một cái ấm nước bỏ quên trên bếp lò ngày càng chói tai, phải hai, ba phút sau mới có người nhấc xuống, ngưng không cho nó hú hét tra tấn màng nhỉ thêm nữa. Hơi nước từ cái ấm đun dường như lan ra, tỏa vào bầu không khí lượng nhiệt đủ lớn xuyên qua vách những căn phòng, nung lớp da bên dưới tấm áo vải lanh, khiến nó tuôn những giọt mồ hôi hầm hập bí bách, thấm đẫm miếng đệm bông màu nâu hạt dẻ lót trên bề mặt cái ghế tựa cũ mèm, để rồi ẩm ương như tấm giẻ lấy ra từ trong máy giặt.

Bầu không khí thật ngột ngạt.

Dạ dày quặn lên những cơn co thắt khiến tôi muốn nôn khan, nhất là khi món súp trứng củ cải vừa được chị hầu mang đến có cái mùi thum thủm của trứng gà vữa. Khi chị ta bắt đầu mở toang nắp đậy chiếc bát, một mùi ngai ngái khó chịu sộc ra hệt như mùi của cái bồn cầu tiêu không dội nước đã đóng nắp suốt mấy ngày. Tôi nhanh chóng đưa tay bịt mũi, tay còn lại đẩy bàn tay đang cầm bát súp kia ra xa khỏi tầm hít thở của mình.

Đột nhiên, bàn tay đó đặt mạnh chiếc bát xuống bàn nghe một tiếng "cạch" rõ to. Người phụ nữ trẻ đỏm dáng tối sầm mặt, liếc nhìn tôi bằng đôi con mắt sắt bén như lưỡi dao cạo. Thì ra là chị hầu gây sự ban nãy. Giờ đây chị ta đã quần áo chỉnh tề, mái tóc bù xù sau cuộc xung đột đã được quấn gọn trong tấm khăn trùm của người giúp việc. Điều duy nhất kỳ lạ là đôi môi đỏ mọng như quả anh đào và chiếc khăn buộc cổ màu đỏ bầm thêu hoa văn chìm chẳng ăn nhập gì với bộ đồ tồi tàn khiến tôi suýt nhầm chị ta là con gái cả của người đàn bà đàn ngồi đối diện.

Vậy mà người đàn bà chẳng có vẻ gì bận tâm. Bà ta sai chị hầu cắt cho tôi mẩu bánh mì và một lát pho mát, khiến chị ta lại được dịp "dằn mâm xắn chén" khứa những nhát dao lộn xộn bầy hầy và kết thúc bằng một cú buông rơi con dao xuống mặt bàn làm nó xóc nảy va vào mấy cái dĩa kêu leng keng trước khi dừng hẳn.

Nếu tôi là một con mèo, hẳn tôi đã rụng mất một trong chín chiếc đuôi.

Lúc này, khuôn mặt nhăn nheo đằng sau chiếc tách sứ nghi ngút khói mới dần lộ ra, khoé môi cong lên, ra lệnh bằng một giọng điềm tĩnh.

"Mau ăn đi."

Những tưởng người đàn bà sẽ giận dữ quát mắng ả vô lại, thế nhưng bà ta chẳng mảy may quan tâm đến sự hiện diện của con sếu đầu đỏ cứ mổ cò vòng quanh.

"V.. vâng." Tôi trả lời, hết đưa mắt nhìn thái độ người đàn bà đến vẻ mặt đầy thách thức của chị hầu. Chiếc muỗng bạc tinh xảo đã phai màu chầm chậm được cầm lên, nhưng rồi lại như mắc kẹt trên những ngón tay, mãi chẳng thể nhúc nhích thêm được.

"Con sao thế? Mọi khi đây vẫn là món khoái khẩu của con mà?" Người đàn bà lại lên tiếng.

"Cháu không đói."

"Không ăn sẽ không có sức đi đường đâu. Hôm nay chúng ta sẽ đi Blanchill để đăng ký nhập học cho con."

"Chắc là.. để khi khác bà ạ." Tôi mân mê chiếc muỗng trên đầu ngón tay, vô thức vẽ những vòng tròn nhỏ tương ứng với mớ bòng bong đang rối nùi trong dòng suy nghĩ. Mãi sau một hồi đắn đo, tôi mới quyết định trả lời thành thật. "Hình như.. đến giờ dắt cừu ra đồng rồi. Xin phép bà.." tôi thỏ thẻ, ".. xin phép bà cho cháu được ra ngoài trước."

Dường như lấy làm không vừa ý, bà ta rời mắt khỏi chiếc tách, nhíu mày nhìn tôi nghi hoặc.

"Chẳng phải chính con đòi được học dự bị Chánh quan ở Học viện Nội các Blanchill sao? Ta đã viết thư cho ông Ngoại rồi. Trưa ngày mai ông sẽ đón con ở cổng chính và đưa con đi làm thủ tục nhập học."

Ả sếu đầu đỏ phì cười, cũng chẳng thèm giả vờ bày ra dáng vẻ không biết gì đáng ra phải có ở một kẻ hầu khi đang nghe chuyện của chủ. Cái miệng nhếch lên của chị ta trông thật đáng ghét, khiến tôi thầm ước bà phu nhân mau mau thấy gai mắt mà tống cổ chị ta đi.

Nhưng bà phu nhân lại tiếp lời.

"Bọn người hầu báo rằng sáng sớm nay cha con đã theo đoàn thương lái Ratigan lên cao nguyên tìm mua giống bò sữa mới. Vừa hay chuyến đi dự kiến sẽ mất ba, bốn ngày, nếu chúng ta tranh thủ đi trong hôm nay vẫn kịp để con tham gia lễ nhập học dành cho Tân dự bị sinh."

Rồi bà hạ giọng.

"Con trai yêu dấu của ta, ta biết con chẳng muốn, và dù có nài ép thì cái danh xưng người thừa kế điền trang cũng chẳng thể giữ được con khỏi những hoài bão cao xa. Nơi đây không thuộc về con. Không một hạt bụi nào trên đất này xứng với con. Đôi tay con sinh ra là để cầm bút, ngòi bút lông ngỗng đẫm màu mực lướt trên giấy da, chứ không phải để cày bừa, lưỡi bừa nặng trĩu dãi mưa sa đào ngàn tất đất, càng không phải để cầm gươm, ngọn gươm bén ngót tanh mùi máu xuyên vào xác thịt. Tạ ơn Đức Thánh Linh trên cao đã dẫn lối cho con, ban cho con phép màu được lựa chọn, bởi khi lựa chọn của con được thành đạt cũng là lúc nguyện vọng của ta được thành toàn. Cả đời nhẫn nhục đắng cay này ta chỉ sống duy nhất vì một lẽ, đó là được dõi theo con trên Tháp Danh Vọng ở Quảng trường thủ đô [1], và trông thấy con yên bề gia thất bên người vợ quý phái trâm anh, người có thể hậu thuẫn con sau chính trường nghiệt ngã. Vậy nên con phải nhanh đi đi. Đi và thực hiện hoài bão của con đi. Sẽ chẳng còn cơ hội đưa con rời khỏi nếu cứ nấn ná mãi nơi này, bởi cha con sẽ ngăn cấm một khi ông ta về tới. Đến lúc đó sẽ là quá muộn cho cả hai ta."

Chẳng biết từ lúc nào người đàn bà đã rời khỏi chỗ ngồi nắm chặt lấy bả vai tôi, chặt đến nỗi tôi phải nhăn mặt vì đau điếng. Bà ta nhìn tôi nhưng trong đôi mắt sâu hoắm như đang lạc trôi ở một thế giới đâu đâu, đầy viễn cảnh u mê và ảo ảnh.

"Con trai yêu dấu của ta. Ở Blanchill con sẽ được tự do, sẽ không còn ai cấm cản con làm điều con muốn. Chúng ta không cần thiết tha cái điền trang này, vì tất cả ngân khoản thừa kế trị giá năm mươi vạn ben [2] ta đều sẽ chuyển sang tên con. Ngôi nhà trang viên của ông ngoại ở Cathail rồi cũng sẽ thuộc về con. Xưởng dệt, xưởng rượu, xưởng đóng tàu, tất cả mọi thứ đều sẽ là của con một khi con trở thành Chánh quan. Chẳng ai có thể cưỡng lại sức hút của một Chánh quan đặc biệt là tính nữ, và mọi thiếu nữ trong vương quốc này đều sẽ đem lòng xi mê con, kể cả những tiểu thư danh gia vọng tộc. Con ơi, hãy nghe lời khuyên của mẹ con, hãy đi cùng ta khỏi đây càng nhanh càng tốt."

Tôi đưa mắt nhìn chị hầu cầu cứu, nhưng đáp lại sự khẩn khoản của tôi là bộ dạng tự ngắm mình và chỉnh trang đầu tóc bằng chiếc gương lớn kê trên chiếc bàn đặt lọ hoa sát tường, điềm nhiên như một gia chủ.

Còn người đàn bà quẫn trí cứ nắm chặt lấy tôi không buông, lây người tôi như trẻ con đang chơi một con búp bê vải. Bất lực, tôi đẩy bà ta ra bằng sức hèn yếu ớt, nhẹ nhàng dỗ dành.

"Bà buông cháu ra đã rồi cháu sẽ đi với bà."

Đôi mắt bà già bỗng chốc sáng rỡ. Bà ta mỉm cười hài lòng xoa đầu tôi, rồi đứng dậy vuốt thẳng những nếp gấp áo do cúi người gây ra. Đoạn bà ta quay trở lại ngồi vào bàn, lại cầm chiếc tách đưa lên môi trong dáng vẻ cao sang quý tộc. Dường như nước trong tách đã cạn, bà ta nhỏ nhẹ gọi chị hầu.

"Hayer, rót trà."

Chị hầu đang bôi thứ gì đó lên môi trông như quả mọng giật mình đánh rơi thứ quả tròn tròn đỏ au không khác gì một trong những thứ quả bày biện trên dĩa bàn ăn. Chị ta nhìn bà phu nhân như đánh giá xem bà ta vẫn còn điên hay đã tỉnh, rồi ngay khi bà ta gọi cái tên "Hayer" thêm một lần nữa, chị ta mới lật đật đổ bỏ phần còn lại trong tách rồi rót vào đó thứ nước hơi ngà vàng từ chiếc ấm sứ mẻ tay cầm.

"Ngươi nghĩ những thứ này đem cho heo thì chúng có ăn không?" Người đàn bà vừa nhâm nhi thứ nước trà vừa buông một lời bâng quơ.

Nhưng khuôn mặt chị hầu lại đột nhiên trở nên xám ngắt.

"Tôi sẽ bảo nhà bếp mang lên món mới." Chị ta trả lời.

"Thế à? Vậy mà ta đang định phần người đấy."

Chị hầu không đáp lời, nhưng đôi con mắt long lên sòng sọc của chị ta đã nói lên tất cả. Bực dọc dọn đi thứ tạp nham do chính mình bày ra trên bàn ăn, chị ta cứ mấp mấy môi điều gì đó tôi đoán là lời chửi rủa.

Mãi một lúc tận khi chị ta khuất bóng dưới cầu thang, tôi vẫn phải miễn cưỡng ngồi đó không biết phải làm gì. Người đàn bà vẫn uống trà. Nước trên mái hiên vẫn rơi từng nhịp. Xem chừng phải đợi chị hầu thêm ít lâu nữa, tôi đánh bạo hỏi dò.

"Ban nãy bà bảo ông Wilmot đi xa là thật ạ?"

"Ta dối gạt con làm gì?" Bà ta cười.

"Vậy.. nếu cháu đi với bà thì khi nào cháu có thể về lại đây?"

"Con không hiểu à. Chúng ta sẽ ra đi vĩnh viễn không bao giờ quay lại nữa. VĨNH VIỄN." Bà ta nhấn mạnh như thể sợ tôi không nghe thấy.

"Nhưng chắc bà nhầm lẫn.." tôi ngập ngừng, ".. cháu đâu phải.. người thân của bà. Cháu đang ở nhà bác Paul gần chỗ đồi thông nên nếu bà muốn cháu đi cùng thì phải đợi cháu nói với bác ấy.."

Như thể chạm phải gai nọc, người đàn bà ngay lập tức rít lên hung hãng, tức giận đập tay xuống mặt bàn liên hồi khiến nó rung lên bần bật. Bộ tách sứ cũng theo đó mà nhảy dựng lên, những tưởng sẽ vỡ tan ngay lập tức.

"Thằng ngựa già chết tiệt lại khiến con từ chối nhận người mẹ này phải không? Lão khốn nạn! Thứ lăng loàn chó má! Cầu trời đánh thánh vật lão đi! Lẽ ra ta phải giết lão! Lẽ ra ta phải giết lão cả trăm lần! Thằng già đó phải chết! Chỉ khi lão chết lão mới buông tha chúng ta.." và hàng tràn những lời nhục mạ cay độc.

Người đàn bà lại rơi vào tình trạng mất kiểm soát. Bà ta giật phăng cái khăn trải bàn khiến mọi thứ trên bàn lật nhào xuống sàn vỡ tan tành. Ngay sau đó bà ta chụp lấy lọ hoa héo rũ ném nó vào chiếc gương trên bàn. Tiếng gương vỡ vụn loảng xoảng nghe đinh tai nhức ốc, khiến đám gia nhân trong nhà kéo nhau đến rình trộm từ dưới cầu thang. Tôi sợ đến nhảy cẫng khỏi ghế, chỉ biết len lén nhích từng bước ra góc phòng định chạy vọt ra khỏi cửa. Nhưng những chuyển động của tôi không lọt khỏi mắt người đàn bà. Bà ta dáo dác ngó quanh rồi tức thì chĩa cái nĩa vào mặt tôi, hét lớn.

"CON ĐI ĐÂU?"

Tôi giơ hai bàn tay trước mặt nhằm xoa dịu tình hình, những ngón tay lạnh ngắt không ngừng run rẩy.

"Bà bình tĩnh. Cháu.. cháu đi xem chị hầu chuẩn bị đồ ăn đến đâu rồi."

"Con không được đi đâu hết! Về phòng đi! Về phòng ngay cho ta! Khi nào ta bảo con đi con mới được đi, nghe rõ chưa?"

Vừa dứt lời, bà ta nắm lấy cổ tay tôi lôi đi xềnh xệch. Trong khoảnh khắc, tôi tưởng mình đã trông thấy một cảnh tượng deja vu, cũng là lối hành lang dài và hẹp, cũng là đám người đang giương mắt ra đứng nhìn. Tôi chẳng biết phải kêu ai, mà có kêu la cũng chẳng biết phải nói gì. Tôi chỉ có thể câm lặng để mặc bà ta tống tôi vào căn phòng cuối cùng tối tăm bụi bặm. Ngay khi cánh cửa sau lưng đóng sầm, tôi nghe thấy tiếng lịch kịch của thứ gì đó qua tấm ván gỗ. Chẳng ngoài suy đoán, dù có kéo tay nắm cửa bao nhiêu lần, tấm ván chặn lối vào vẫn chẳng hề nhúc nhích. Thật quen thuộc làm sao. Thật.. cay đắng làm sao.

Tôi ngồi phịch xuống sàn, cố mò mẫm xem có chỗ nào nằm được. Căn phòng dường như chất đầy đồ đạc, vì mỗi khi giơ tay ra tôi lại chạm phải thứ gì đó nham nhám bám đầy thứ vật chất li ti. Cái nóng hầm hập và màn đen đặc kịt trước mắt dường như đã hấp thụ hết ô-xi khiến đầu tôi váng vất. Càng ngày tôi càng không thể nào thở nổi. Hẳn là bóng tối đang cuộn chặt lấy tôi và nhai nuốt tôi từng chút một. Thế là tôi nằm xuống trong trạng thái co ro như một con cuốn chiếu, một bên mặt áp xuống sàn, đôi cánh tay đan vào nhau rút vào trong thân thể, hai mắt nhắm nghiền, cố tưởng tượng trong đầu đã đến giờ đi ngủ, vì chỉ có chìm vào giấc ngủ mới khiến tôi quên đi thực tại này. Nhưng giấc ngủ chẳng hề đến nhanh như mong muốn.

Dẫu có tự vỗ về rằng sẽ không sao đâu, đã bao đêm dài tôi tự nhốt mình trong cái hộp ngủ trong căn chồi vắng bóng người mà tôi còn chẳng sợ, thì bao nhiêu thử thách này có nhằm nhò gì, nhưng những lo lắng viễn vông cứ bóp nghẹt buồn phổi tôi, khiến tôi khó lòng giữ được bình tĩnh. Trong giấc ngủ của tôi luôn có tiếng thở của Berry, thằng nhóc thường nằm cạnh cái hộp canh giữ tôi và đám động vật của tôi được an toàn. Giờ đây tôi chỉ toàn nghe thấy tiếng ho khan, tiếng bước chân chạy đôn chạy đáo, tiếng người đàn bà la hét và tiếng xì xầm của những kẻ đầy tớ trong nhà, giống hệt ngày xưa ấy.

Nhưng ngày xưa ấy là khi nào tôi cũng không rõ nữa. Tôi nghĩ thế, và tôi khóc.

Tôi chỉ sợ hãi, và sợ hãi. Tôi muốn trốn chạy khỏi đây, tôi muốn rời khỏi nơi này, nhưng tôi chẳng biết phải kêu ai. Liệu người ta sẽ giải thoát tôi khỏi nơi tối tăm cô độc này, hay sẽ lại mắng chửi tôi, hành hạ tôi, rồi lại đuổi tôi đi trong hình hài xác xơ tàn tạ. Và rồi tôi nghĩ giá như thời gian đừng trôi nữa, giá như tôi hóa thành hư không, để chẳng ai có thể trông thấy tôi, tổn thương tôi thì tốt biết mấy. Trong bóng tối, những giọt lệ nóng ấm cứ thế lăn dài, và tôi tự nói với chính mình:

"Thật nhục nhã."

Ngày hôm đó, tôi không rõ mình đã ở đó bao lâu, vì sau mỗi giấc ngủ tự ép mình để tránh né cái hiện thực mù mịt, tôi lại mở mắt ra trong trạng thái chẳng thấy gì. Dần dà tôi chẳng rõ mình đang tỉnh hay đang mơ, bởi cái nóng hầm hập làm cổ họng tôi khát khô vì mất nước, và cơn đói cồn cào cứ kêu gào trong bụng dạ khiến tôi ngày càng kiệt sức.

Bất thình lình giữa một cơn mê man, tôi nghe thấy tiếng người ta la hét, tiếng rầm rập của một đám đông, và không lâu sau là tiếng bước chân ai huỳnh huỵch chạy trên hành lang mỗi lúc một gần. Sau một loạt âm thanh di dời đồ đạc, cánh cửa đột ngột bị hất tung khiến ánh sáng ào vào lóa mắt. Tôi không nhìn rõ người đứng ở cửa là ai, và dù giọng nói quen thuộc có vang lên đầy hào hứng, tôi cũng chẳng còn sức đâu để chú tâm nghe người đó đang nói gì. Chỉ đến khi đôi bàn tay nhớp nhúa dựng tôi ngồi dậy, ôm tôi vào lòng khiến cái mùi tanh tưởi sộc vào mũi, tôi mới nghe rõ từng câu từng chữ:

"Lão chết rồi con ơi! Lão chết rồi!"

"Đi khỏi đây thôi, chúng ta tự do rồi!"

- - Chú giải --

[1] Tháp Danh Vọng: Chỗ ngồi cao nhất tại Đại Quảng Trường Hemeti dành cho các quan chức cấp cao trong chính phủ.

[2] Ben: Đơn vị tiền tệ Hemeti
 
3 ❤︎ Bài viết: 0 Tìm chủ đề
Chương 15: Bí mật của tôi (4) - Đường hầm

Nhá nhem đằng sau cánh rừng là vài ánh đuốc đang di chuyển như những ngọn ma trơi. Âm thanh hỗn độn của tiếng người và tiếng chó sủa dường như hòa cùng tiếng kêu của những loài động vật sống về đêm, nghe thật thê lương sầu thảm.

Giữa những mái đầu nhấp nhô vàng cháy, trông ai như bác Paul cao lêu nghêu với dáng đi khệnh khạng đang dắt theo con gì cứ vừa đi vừa dúi đầu xuống đất. Ở khoảng cách xa thế này, tôi vẫn nghe rõ bác gọi tên tôi, tìm kiếm tôi tận rừng già sâu thẳm.

Tôi gắng với tay về phía bác, huơ huơ đôi bàn tay nhỏ xíu đen thui bám đầy bụi bẩn mong bác có thể nhìn thấy tôi, nhưng thứ đang giữ chặt tôi lao mình xuống con dốc dài, và bác Paul cùng đoàn người cứ thế mà mất hút.

"Chúng ta đi đâu thế ạ?" Tôi thì thào hỏi người đàn bà vừa ôm tôi trên vai vừa tiến vào một cái hang nhỏ hẹp ẩn sau bụi rậm.

"Một cái mỏ cũ," bà ta trả lời, "chúng ta sẽ đến chỗ cái xe bằng lối này."

Phải thêm ít nhất một giờ đi đường nữa (hoặc thế, vì có lẽ tôi chẳng còn đong đếm được thời gian), khi cái mùi kim loại hen gỉ cùng mùi đất ẩm ngày càng nồng nặc, và người đàn bà dường như đã rẽ qua mấy ngõ đường, chúng tôi mới dừng lại giữa một không gian gập ghềnh sỏi đá tối như hũ nút.

Bà ta thả tôi xuống, rồi bỗng dưng rời tay khỏi người tôi, để lại tôi bơ vơ một mình trong bóng đêm đậm đặc. Tôi tưởng mình sẽ lại bị vứt bỏ, thế là tôi lần mò theo hướng phát ra tiếng lạo xạo của bước chân, vừa đi vừa hỏi:

"Bà đi đâu thế?"

Chẳng có ai trả lời.

"Bà Wilmot! Bà đi đâu vậy ạ?"

Chỉ còn tiếng tôi vang vọng sâu trong lòng đất.

Tôi dừng lại, chưng hửng như con gà đồ chơi đứt cót giữa đường. Vậy là bà già ấy bỏ lại tôi, vậy là bà ta bắt tôi chỉ để bỏ lại tôi như thế này. Sao mà bà ác thế? Tôi đã làm gì có lỗi với bà đâu. Tôi kêu gào, và tôi khóc.

"Bà Wilmot! Bà Wilmot! Bà đâu rồi, bà Wilmot!"

Vệt môi nứt toác vì thiếu nước lại được dịp rách ra, đau râm ran như có con gì cắn. Nhưng thế thì có nề hà gì, kể cả cái dạ dày teo tóp trống rỗng cũng chẳng nề hà gì, tôi chỉ không muốn người ta ruồng bỏ mình, để rồi cô độc bỏ mạng tại đây.

"Ngoan nào con yêu, ta chỉ đi đây một lát thôi. Một đứa trẻ ngoan thì không nên nhõng nhẽo."

"Bà.. bà đang làm gì thế?" Tôi nức nở quệt tay lau nước mắt.

"Con xem này," một ánh sáng le lói hắt lên khuôn mặt người đàn bà đang ngồi thụp trong bóng tối, "đúng như ta nhớ vẫn còn sót lại ít nến."

Trên tay bà ta là một cây nến to dài đã được thắp và một hộp diêm quẹt. Ánh sáng từ ngọn nến phát ra soi rọi một góc căn hầm sâu thăm thẳm, khiến tôi nhận ra bề ngang căn hầm không lớn lắm, chỉ cỡ một sải tay người trưởng thành. Bên cạnh người đàn bà có một lối rẽ, khi tôi đến gần xem thử mới biết đó là đường cùng, và ngay dưới chân bà già là một cái thùng gỗ mở nắp.

"Gì thế ạ?" Tôi vừa hỏi vừa chỉ chiếc thùng.

"Một món quà từ quá khứ," bà ta đáp, "Chỗ này vừa đủ để đến chỗ chiếc xe."

Rồi người đàn bà cởi tấm chăn buộc trên người trải xuống đất và đặt tôi ngồi đó, đoạn đưa tôi một chiếc túi da đựng đầy sữa dê.

"Con trai ngồi đây đợi ta một lát."

Chẳng nghĩ ngợi gì nhiều, tôi nâng chiếc túi lên uống cạn. Cái mùi hăng của sữa dê chưa bao giờ làm tôi thèm thuồng đến thế, vậy là tôi hỏi xin người đàn bà thêm một túi nữa nhưng bà ta lắc đầu:

"Bọn hầu cất hết nguyên liệu nấu ăn rồi. Ta chỉ kịp tìm một ít cho con thôi."

"Nhưng không sao, ra khỏi nơi này ta sẽ mua cho con bất cứ món nào con thích." Người đàn bà rút từ trong váy một chiếc túi nhỏ, trút ra tay những hạt tròn tròn óng ánh như những viên trân châu. "Lỗi do ta khiến con không kịp dự lễ nhập học, nhưng con đừng lo lắng, bởi vì ông ngoại đang đợi và sẽ ngay lập tức đưa con vào trường khi chúng ta đến nơi."

Cái trường dự bị ấy là gì tôi không dám hỏi. Và tôi nghĩ chẳng cần thiết phải biết để làm gì, vì ngay sau khi uống sữa vào tôi lại thấy khoẻ khoắn hơn, mí mắt chẳng còn nặng như chì và cả người chẳng còn rã rời vô lực. Tôi muốn chạy và tôi sẵn sàng chạy. Nhưng ở một nơi hệt như địa đạo với nhiều ngã rẽ thế này rất dễ bị lạc nếu không biết đường. Vậy thì tôi sẽ nhẫn nhịn cho đến khi ra khỏi cái hang, lúc đó tôi sẽ bỏ trốn và tìm đường về với Fig.

Tôi ngồi đó yên lặng nhìn người đàn bà nhặt những cây nến từ bên trong chiếc thùng. Bộ váy ngủ sáng màu lộ ra dưới ánh vàng những mảng đen loang lỗ kỳ lạ. Đôi bàn tay bà già cũng đen đuốc bẩn thỉu, nhưng cái màu đen ấy lại không lem nhem ra vật khác như đống bụi trên tay tôi. Rồi khi cái đầm di chuyển trên nền bóng tối sâu thẳm của đường hầm, hình như trông nó sáng hơn và thiên về màu đỏ đậm. Nhìn lại quần áo mình cũng dính đầy thứ màu đỏ đậm ấy, tôi đưa lên mũi ngửi thử và nhận ra đúng là cái mùi của con gái khi đến kỳ. Lời bà già nói khi vừa xông vào phòng ban nãy hiện ra trong đầu tôi, và một cơn rùng mình chạy dọc sống lưng khiến tôi nổi gai óc.

"Bà.. bị thương ở đâu ạ?" Tôi hỏi dò dù đã biết rõ câu trả lời.

Bà ta ngừng tay lại, nghiêng đầu nhìn tôi một lúc rồi khẽ cười. "Chẳng biết bao lâu rồi con trai ta mới lại nhớ đến ta làm ta vui mừng quá."

Làm sao nụ cười ấy lại dường như quá đỗi dịu dàng như thế được? Hoặc là tôi đang điên, hoặc là người đàn bà đang diễn một vở kịch quá hoàn hảo, hoàn hảo đến mức khiến tôi mụ mị cả người chẳng biết đâu là giả đâu là thực. Tôi nghi ngờ chính bản thân mình, liệu rằng có phải tôi đã tưởng tượng quá nhiều hay không? Dường như tôi chỉ là một ánh nến, cứ đong đưa nhảy nhót trong những suy nghĩ của riêng mình, lại còn chập chờn không biết khi nào sẽ vụt tắt, tan theo cơn gió chỉ còn lại tàn dư.

Chúng tôi nhanh chóng khởi hành sau khi gói ghém những cây nến tốt bằng chiếc chăn lót nền. Người đàn bà xách chiếc chăn một bên tay, tay còn lại nắm bàn tay tôi cùng tiến về phía trước. Cây nến trên tay tôi hơi nghiêng, để khi sáp nến chảy xuống không làm bỏng tay mà rơi thẳng xuống đất. Đến ngã ba đường, trong lúc tôi còn phân vân thì người đàn bà đã chỉ ra lối mà bà ta cho là đúng đắn.

"Làm sao bà biết chúng ta phải đi lối nào?" Tôi hỏi.

"Kể từ khi mỏ quặng này cạn kiệt và bỏ hoang, ta là người thân thuộc đường lối nơi này hơn bất cứ ai."

"Làm sao bà biết trong chiếc thùng ban nãy có nến? Ý cháu là bên trong này tối đen như mực, và khi bà đột nhiên buông cháu ra thì cháu chẳng còn trông thấy bà đang ở đâu nữa, vậy thì làm sao bà thấy được cái thùng đó ở đâu mà tìm?"

"Vì chính ta đã để nó ở đó. Tất nhiên ta không phải là người mang nó xuống đây, nhưng người cuối cùng mở nó ra và để nó ở cái hốc đó chính là ta. Ta nhớ số bước chân từ miệng hang đến cái hốc, ngay cả trong mơ ta cũng chưa bao giờ ngừng đếm, vì ta biết sẽ có ngày ta trở lại nơi này."

"Cháu tưởng.." tôi ngập ngừng, ".. cháu tưởng bà là một quý phu nhân. Khi bà uống trà trông thật duyên dáng, và khi bà bình tĩnh trông chẳng giống một người tầm thường chút nào. Vậy mà bà lại biết rõ nơi này như thể chính tay bà xây nên nó."

"Ta đồng ý với ý kiến của con. Ta là một quý phu nhân, ít nhất thì điều đó đã từng tồn tại. Và cũng chính tay ta xây nên nơi này, theo một cách khác, hoàn toàn từ máu thịt và nước mắt."

"Cháu không hiểu lắm? Chẳng phải những quý phu nhân thường được sinh ra và lớn lên trong những gia đình giàu có hay sao? Điều gì dẫn bà đến đây để bà phải biết đến một nơi chẳng hề liên quan như thế?"

Người bên cạnh bỗng nhiên dừng bước.

Tôi ngước nhìn người đàn bà vừa thở dài như thể lo lắng điều gì, và như nhìn thấu ánh mắt tôi, bà ta xoa đầu tôi và nói:

"Chuyện đến nước này ta cũng chẳng muốn giấu con thêm nữa."

Rồi chúng tôi tiếp tục đi.

"Lão già con vẫn gọi là cha không phải cha ruột con. Lão đã giết cha con, chiếm đoạt ta và cướp con đi khi con mới lọt lòng. Tất cả chỉ vì để đoạt được khối tài sản ông ngoại con đã hứa sẽ để lại cho ta và đứa con trai ta sẽ sinh ra trong một cuộc hôn nhân môn đăng hộ đối."

"Sao.. ạ?" Tôi bần thần hết cả người, kinh ngạc vì những gì vừa nghe thấy.

"Ta là đứa con gái duy nhất của ông ngoại con, và cha ruột con vốn là một thợ làm vườn ở trang viên nhà ta. Tuổi tác chúng ta xêm nhau và ta đã ở bên chàng từ khi ta còn nhỏ vì mẹ chàng là người vắt sữa bò sống trong trang viên. Ta và chàng đã thề nguyện sẽ kết hôn sau khi ta tròn mười sáu tuổi, nhưng cha ta biết được liền đuổi việc mẹ con chàng. Ông chê xuất thân chàng thấp kém và cấm chàng đến gần ta. Vậy là ta đã trốn đi tìm chàng và nguyện lòng cả đời làm vợ một anh nông dân nghèo khổ.

Cha ta biết tin thì vô cùng tức giận. Ông cho gọi đứa con rể ông đã chấm là gã Wilmot khốn nạn đến và bảo hắn tìm cách khuyên ta. Cha ta biết hắn si mê ta và cái điền trang của hắn là giải pháp để nhà ta mở rộng nguồn cung hàng hóa. Nhưng tin tức ta bỏ nhà đi đã khiến ông đối mặt với nguy cơ bị huỷ khế ước giao dịch với các đại gia tộc, và rõ ràng là chẳng còn chàng trai nào môn đăng hộ đối đồng ý lấy một đứa con gái đã có một đời chồng. Thế là ông hứa với hắn chỉ cần hắn lấy ta thì ông sẽ để lại gia sản cho đứa con trai của ta và hắn.

Lúc hắn tìm thấy ta là khi con vừa ra đời được vài tháng. Khi ấy chúng ta nghèo mà lại gặp cảnh mất mùa không có tiền đóng thuế, vậy là hắn gài bẫy cha con vay tiền nặng lãi rồi giết chàng dàn dựng thành tự sát. Hắn bắt ta và con trên danh nghĩa những món đồ thế chấp, và khi ta chống trả hắn đã cưỡng đoạt rồi nhốt ta trong chính căn hầm này."

Ngọn nến trên tay tôi run run, những giọt sáp nóng chảy rơi lên những ngón tay đỏ hỏn đang cố nắm chặt một thứ quá to so với cỡ của chúng. Nhưng tôi chẳng dám than vãn gì, ngược lại, chỉ lặng im nhìn vào bóng tối u ám chẳng thấy điểm dừng đang đợi chờ ngay trước mắt.

"Ta đã sống trong bóng tối suốt nhiều tháng trời ròng rã. Tên súc vật đã lấp kín miệng hang chỉ để lại một cái lỗ đủ để hắn đưa thức ăn cho ta mỗi ngày. Hắn ép ta phải về thưa với cha rằng ta đồng ý gả cho hắn. Ta thà chết, ta đã muốn chết, nhưng ta vẫn còn có con, ta phải tìm lại con. Chính những nhớ nhung lo lắng mòn mỏi vì con đã thành động lực để ta phải sống tiếp. Vậy là trong bóng tối ta men theo đất đá, đếm từng bước chân, ghi nhờ từng ngã rẽ để tìm lối thoát. Và rồi may mắn sao ta tìm được thùng chứa nến đã bị lãng quên, nhờ đó ta tìm được lối ra chính là con đường ta đang dẫn con đi. Khi ta về nhà tìm cha, gã vô lại đã nhanh hơn một bước. Hắn nói với cha ta rằng con chính là kết quả giữa ta và hắn nhưng ta đã bỏ con lại và chạy theo nhân tình. Cha ta không nghi ngờ gì mà đồng ý cho hắn lấy ta và nhanh chóng tống ta đi.

Thứ súc sinh ấy chỉ coi ta như một thứ đồ tiêu khiển thú dâm dục. Ban ngày ta là quý phu nhân, ban đêm ta còn chẳng bằng một con chó cái. Ta biết nếu cứ tiếp tục như thế thì ta sẽ sống không bằng chết, vậy nên ta thà tự huỷ hoại chính mình còn hơn sinh ra thứ sinh vật mang dòng máu bẩn thỉu đê hèn.

Còn về phần con, dù hắn không thương con nhưng vẫn nể nang ông ngoại con mà giữ con bên cạnh. Nhờ đó mà ta có thể nương tựa vào con, sống vì con và hy sinh hết cho con tất cả những gì ta có. Con là tương lai, là hy vọng, là lẽ sống đời ta. Ta sẵn sàng chết vì con chỉ để bảo vệ con và cho con một tương lai tốt đẹp. Vậy nên xin con hãy tha thứ cho ta. Ta biết con đã thấy, và ta hiểu những gì con đang nghĩ. Nhưng con yêu ơi ta đã nhẫn nhịn quá nhiều, và ta không muốn phải nhẫn nhịn thêm nữa. Hắn phải trả giá cho những gì hắn đã gây ra cho cha con, cho ta, và cho cả con nữa. Gia đình ta đã mất mát quá nhiều, và ta không muốn lại mất đi con, máu mủ duy nhất, hạt giống quý báu mà cha con đã để lại cho ta trên cõi đời này."

Tôi không biết phải phản ứng như thế nào. Tôi không biết phải trả lời ra sao. Trái tim đầy khao khát tự do trong tôi đột nhiên lại trĩu nặng, như thể ai đó vừa treo lên một túi đá để nó không thể mọc cánh mà bay đi. Tôi cứ đi, đi mãi, và thỉnh thoảng, trong một vài khoảnh khắc tôi đã mong sao phía trước là đường cùng. Tôi không thể đưa ra lựa chọn. Tôi ghét phải lựa chọn. Làm sao người ta có thể dễ dàng lựa chọn giữa một con chó và một con mèo, một quả táo và một quả cam, hay một chiếc dương cầm và một chiếc ghi-ta, khi mà họ biết rõ con chó bị thọt chân và con mèo bị câm điếc, quả táo bị sâu ăn và quả cam phun đầy thuốc, hay dương cầm bị lệch phím và ghi-ta bị đứt dây đàn?

Dù tôi có đắn đo nhiều như thế nào cũng chẳng thể chống lại dòng chảy của thời gian. Cuối cùng cũng đã trông thấy xa xa ánh sáng của một bầu trời rộng lớn. Tôi chùng bước, rồi lại bước. Và rồi cũng đã đến lúc những tia nắng ấm áp chiếu rọi khuôn mặt tôi, in lên đó nụ hôn của nàng sương, trao cho tôi một cái ôm của làn gió. Tôi biết mình sẽ phải làm gì.
 
3 ❤︎ Bài viết: 0 Tìm chủ đề
Chương 16: Bí mật của tôi (5) - Anh chăn bò

Chúng tôi đứng trên đường lớn suốt từ khi những chiếc bóng vẫn còn in nghiêng cho đến khi chúng sắp hòa làm một với bản thể, chẳng thấy chiếc xe mà người đàn bà đã nói rằng sẽ đến rước chúng tôi đâu cả. Thỉnh thoảng nghe thấy tiếng xe kéo đang đi đến, chưa kịp trông thấy bóng dáng chiếc xe đâu bà già đã có vẻ bồn chồn, nhưng rồi khi nhận ra những cỗ xe thô sơ đó là của các bác nông dân, bà già chỉ lắc đầu vẻ hụt hẫng rồi lại tiếp tục lặng im chờ đợi.

"Bà có chắc là hôm nay xe sẽ đến không? Có lẽ bà nhớ nhầm ngày chăng?"

"Không thể nào. Trong thư ta đã ghi rõ là ngày mười bốn ông ngoại con sẽ phải cho người đến đón chúng ta ở đây."

"Bà có nhận được thư hồi âm không ạ? Nếu ông ấy đã đọc thư của bà hẳn là sẽ gửi lại một lá thư xác nhận."

Người đàn bà trông có vẻ hoang mang.

"Thư hồi âm sao? Hình như.. ta không nhớ có lá thư hồi âm nào cả."

Thật ra tôi cũng đã đoán được phần nào. Trong tình trạng bà ta hiện nay rất khó để cam đoan tính chính xác của những mẫu thông tin. Vậy là tôi kéo tay áo bà ta, nhẹ nhàng đề nghị:

"Hay là chúng ta đi bộ được không ạ? Chúng ta đến thăm ông.. ờ.. ngoại.. trước rồi sau đó đi cùng ông đến trường dự bị sẽ tiện hơn. Dẫu sao không có sự giới thiệu của ông, chỉ có mỗi cháu và bà thì người ta không mở cửa cho vào đâu. Bà còn nhớ đường đi chứ?"

Hai chúng tôi một già một trẻ, toàn thân bẩn thỉu gớm guốc, dắt tay nhau đi trên con đường vắng vẻ khiến những bác nông dân đang gặt lúa mì dưới cánh đồng phải ngước đầu nhìn.

Đi được một hồi lâu, bà già có vẻ mơ hồ chẳng biết phải rẽ hướng nào, tôi đành phải lao xuống cánh đồng túm lấy một bác nông dân để hỏi.

"Bác có biết trang viên nhà Rhodes ở Cathail đi đường nào không ạ?"

"Cathail? Còn xa nữa mới tới. Các người cứ thẳng hướng đông bắc mà đi, nhưng đi bộ thế này thì chẳng đến được Cathail trong ngày đâu."

"Vậy bác có biết đường đi Học viện dự bị.. cái gì mà.. chánh quan ở Blanchill không ạ?

" Học viện Nội các? Thế thì phải đi hướng đông nam. Nếu khởi hành từ giờ đến thủ đô cũng chập choạng tối, đến Học viện chắc là cũng tầm ấy. "

Vậy là Cathail và học viện nằm ở hai hướng khác nhau. Đành phải đi xa một chút để gửi gắm bà ấy cho gia đình vậy. Tôi cảm ơn bác nông dân rồi lại chạy về bên người đàn bà.

" Bác ấy bảo là đi Cathail xa lắm. Tối nay chắc cháu và bà phải tìm nơi nghỉ chân thôi rồi sáng mai chúng ta đi tiếp. "

Người đàn bà gật đầu.

Rồi chúng tôi tiếp tục đi. Trên đường tôi đã cố tình ngó lơ tiếng hai cái bụng đói cồn cào cứ kêu rọt rẹt vì tôi sợ rằng một khi dừng lại tôi sẽ chẳng còn sức đâu mà đi tiếp. Nhưng khi trông mặt người đàn bà có vẻ tím tái đi nhiều, vừa may cạnh con đường có vườn hồng đang say trĩu quả, tôi bảo bà ta ngồi đợi rồi chạy vào xin được hai quả hồng mềm mại đỏ au.

" Bà mau ăn đi nhé. Tối qua bà nhường cả cho cháu còn gì. "Tôi vừa nói vừa bóc vỏ quả hồng đưa cho bà già." Lần sau bà định đi đâu thì phải nhớ mang quần áo theo. Bác chủ vườn vừa trông thấy cháu đã giật mình suýt ngã từ trên cây. Bác ấy sợ nên chỉ cho hai quả rồi đuổi cháu đi nhanh nhanh. "

Người đàn bà gật đầu rồi thong thả ăn quả hồng tôi đưa.

Không biết đã bao giờ bà ấy được bình yên như thế này chưa, vì dường như trong đôi mắt bà dõi về phía xa xa ánh lên những tia nắng cuối chiều, và khoé miệng bà khẽ nhếch lên trông hạnh phúc lạ thường.

" Con có muốn biết "người đàn bà đột ngột hỏi tôi," cha ruột con là người như thế nào không? "

" À.. vâng, "tôi bối rối đáp lời. Dù chẳng phải việc của tôi nhưng nghe qua một chút chắc là không sao nhỉ.

Bằng giọng điềm đạm, người đàn bà bắt đầu.

" Reytlor là một chàng trai đôn hậu. Khi bé chàng thường chạy việc vặt cho lão làm vườn lâu năm của nhà ta, nhưng lần đầu tiên ta được tiếp xúc và có ấn tượng sâu sắc về chàng là khi chàng cứu ta khỏi bọn nhóc trấn lột đầu đường xó chợ trong một chuyến dạo chơi bí mật ngoài thị trấn. Chân ta đau và chàng đã cõng ta về điền trang, dù đường rất xa và chàng cũng chẳng lớn hơn ta nhiều lắm. Ta thấy chàng dễ thương, và sau lần đó, mỗi khi ngắm chàng đang làm việc từ xa, ta lại càng thấy chàng dễ thương hơn những lần trước. Dần dần ta đã cảm mến chàng, ta ao ước được làm vợ chàng, dù chẳng mấy khi có dịp để ta có thể đến gần chàng. Ta biết chàng cũng để ý đến ta, vì mỗi sáng thức dậy đều có một nhành hoa tuyệt đẹp được đặt trên bệ cửa sổ phòng ta. Tình yêu của chúng ta đã bắt đầu lặng thầm và dịu dàng như thế.

Vài năm sau đó, Reytlor được cha ta gửi đi học việc cho một tên kỵ sĩ. Nhưng tên kỵ sĩ đó là một gã bất tài. Hắn giao hết cho Reytlor mọi việc từ đóng móng ngựa, đánh bóng vũ khí, đến cưỡi ngựa chiến đấu trong các cuộc tranh tài hiệp sĩ. Trong một cuộc đấu thương[1] dưới danh nghĩa gã kỵ sĩ, chàng đã từ chối đâm chết đối phương, khiến gã kỵ sĩ mất mặt và hắn đuổi chàng về lại trang viên.

Tất nhiên sự trở về của chàng làm ta hạnh phúc lắm. Ta đã nhớ nhung chàng biết bao nhiêu. Ta lén ra vườn hoa gặp chàng, một đêm, hai đêm, rồi dần dần, hầu như đêm nào ta cũng đến. Mẹ ta mất sớm, cha ta lại xa cách, chỉ mỗi chàng nâng niu ta, trân trọng ta, đưa ta vào vương quốc say đắm ngọt ngào, cho ta nếm thử dư vị dâng trào cảm xúc, dạy ta biết thế nào là tình yêu - thứ tình cảm mà cha ta không bao giờ nhắc tới. "

Nói đến đây, người đàn bà đột nhiên thở dài.

" Ta khao khát chàng. Ngoài tiền bạc, chàng có tất cả mọi thứ mà những gã thanh niên nhà giàu không có được. Chàng cao to, chàng ưa nhìn, chàng khoẻ mạnh, chàng chăm chỉ, chàng tốt bụng. Bọn hầu nữ cứ nhìn chàng thèm khát. Bọn chúng không hề dè dặt đề cập đến chàng và làm sao để chàng xiêu lòng chúng nó. Vậy nên ta đã có một quyết định, ta muốn chàng hoàn toàn thuộc về ta, chỉ một mình ta. Nhưng ta đã không biết rằng một khi chàng trở thành chồng ta, mọi nỗ lực phấn đấu cả đời chàng đều không thể bù đắp được gánh nặng chăm sóc một người vợ xuất thân từ tầng lớp khác. "

Đôi con mắt bà già long lanh, từng giọt từng giọt rơi ra. Giọng bà ta run run, nhưng câu chuyện vẫn còn tiếp tục.

" Vì nghèo khó mà chúng ta cãi nhau nhiều, nhưng không vì thế mà chúng ta hết yêu nhau. Bằng chứng là con, sự tồn tại của con là mình chứng cho tình yêu của ta và chàng. Từ khi có con ta đã biết sống cần kiệm hơn. Ta nhận làm công việc quay len kéo sợi, một công việc mà khi là một tiểu thư ta không bao giờ phải đụng tay tới, vì ta muốn con lớn lên được no ấm đủ đầy. Những đồng tiền ít ỏi ta kiếm được ban đầu đã giúp gia đình chúng ta bớt vất vả phần nào. Cả nhà ta lẽ ra đã hạnh phúc từ đó.

Cha con không phải một người hay tính toán thiệt hơn. Chàng nhiệt tình, tốt bụng và thành thật. Nhưng chính những đức tính ấy đã lấy đi của chàng khả năng cảnh giác trước những lão cáo già như Wilmot. Dẫu vậy, khi biết mình bị lừa, chàng không nề hà mà phản kháng. Một người không ra tay kết liễu đối thủ không có nghĩa là người đó không có khả năng sát thương. Nhưng một khi người đó đã vung kiếm lên thì chắc chắn đấy sẽ là trận tử chiến. Cha con là người như thế. Một người như thế lại chọn cách tự sát vì tiền, có chết ta cũng không bao giờ tin. Ta đã thề sẽ trả thù cho chàng, và cuối cùng ta đã làm được. "

Rồi ba ta quay về phía tôi, nắm lấy bàn tay tôi giữ trong lòng bà.

" Con giống cha con, cũng ưa nhìn, chăm chỉ và tốt bụng hệt như ông ấy. Điều đó khiến ta sợ rằng rồi sẽ có ngày ta cũng đánh mất con. Ta biết việc ta làm cũng độc ác chẳng kém gì lão già Wilmot, nhưng ta làm tất cả là vì con. Xin con đừng ghét ta, đừng giận ta, xin đừng bỏ lại ta, được không con? "

Câu chuyện buồn kết thúc. Suốt cả quãng đường đi ấy, chúng tôi chẳng nói gì với nhau nữa. Lòng tôi bề bộn, cơ thể mỏi mệt của tôi nhói đau mãi không thôi. Người đàn bà đang mong chờ điều gì ở một kẻ xa lạ như tôi? Tôi cứ tự hỏi bản thân mình. Một người như tôi có đáng để bà phó thác nhiều hy vọng như thế không? Những câu hỏi cứ bủa vây, và tôi nghĩ, có lẽ điều tệ nhất khi phải làm một việc khó chính là đánh mất bản thân mình.

Chúng tôi tiếp tục men theo đường lớn mà đi, lúc đói khát lại xin nhờ ai đó. Đêm đến chúng tôi rẽ vào đồng cỏ xen kẽ những khu rừng già, lót lá cây làm giường, mái nhà là bầu trời đêm thoáng đãng ngập tràn ánh sao sa. Cảnh đêm tuyệt diệu phần nào làm lòng tôi vơi đi những cảm xúc hỗn loạn.

Tôi nhớ lại hồi Fig còn ở nhà, thỉnh thoảng tôi lại kéo đứa bạn ra trước cửa căn chồi giả vờ chơi trò cắm trại. Cũng đều nằm giữa thiên nhiên và trước mắt là dải ngân hà đầy tinh tú, nhưng cảm giác ngủ trong rừng giữa những rạng cây cao chót vót và một cái hõm trời chỉ đủ để thấy một vùng thiên không khác hẳn cảm giác ngủ giữa đồng cỏ mênh mông không một thứ gì che đi tầm mắt.

Thì ra là thế này.. thì ra là thế..

Vẻ tráng lệ rực rỡ của bầu trời những đêm hè hôm ấy thật khó có thể miêu tả bằng bất cứ mĩ từ nào. Nếu vũ trụ là một nàng tiên, thì chiếc váy đen tuyền dệt bởi vô vàn những vì sao lấp lánh như những hạt kim sa khiến tôi gục ngã, ngã vào trái tim nàng là mảnh trăng ánh bạc tròn đầy sáng tỏ trên cao. Tôi muốn thốt lên rằng tôi đã bị nàng mê hoặc. Tôi yêu mến nàng biết bao, tôi say đắm nàng, tôi sẵn sàng chết để được bay đến bên nàng, lao vào vòng tay nàng, dù cho sức mạnh từ đôi tay ấy nghiền nát tôi, vĩnh viễn khiến tôi hòa mình vào một chiều không gian bao la vĩnh cửu.

Nàng tiên ấy đã ban phát cho tôi một sức mạnh, để tôi ngỡ mình đã sống trọn vẹn cõi đời này, với một trái tim tràn đầy hạnh phúc không vướng bận dù chỉ một chút sầu bi.

Giấc ngủ sau đó đến với tôi khá nhanh. Tôi không nhớ mình đã mơ thấy những gì, nhưng trong giấc mơ cơ thể và khối óc tôi hoàn toàn trở nên thư thái. Tôi quên mất đôi chân mỏi nhừ vì đi bộ đường dài, cũng chẳng bận tâm cái bụng teo tóp đã tiêu hóa hết sạch đồ ăn. Cái thân thể đau nhứt do vận động mạnh kéo dài lẽ ra phải hành hạ tôi về đêm nay lại hoàn toàn hồi phục. Và cứ thế, những nơ ron thần kinh trong đầu tôi giãn ra, giũ sạch những phiền muộn đắn đo, trả chúng về với bầu trời cao ấy.

Sáng ngày thứ tư, tôi thức giấc trong bãi nước bọt của một con bò. Cái mặt đần độn của nó cứ dúi vào đầu tôi mà liếm láp khiến cái khăn buộc rơi ra, để lộ cái đầu húi cua màu xám tro xấu đau xấu đớn. Vậy là những gì đẹp đẽ đến với tôi những đêm qua đã hóa thành công cốc.

" Đi ra! Tao không phải cỏ của mày! "Tôi quát.

Nhưng con bò chẳng sợ tí nào. Nó cứ lè lưỡi liếm cái đầu của tôi như một người yêu mèo nghiện cảm giác bị mèo liếm, mà so sánh thế thì có phần hơi khập khiễng, vì bọn mèo nào có chủ động đi liếm người bao giờ.

Dẫu sao thì vì con bò mà mới sáng sớm tôi đã phải chửi thề:

" Biến ngay! Đầu đã không có tóc mà cứ liếm liếm liếm thì tóc nào mọc được! "

Người đàn bà không biết vừa nãy đã đi đâu mà giờ mới xuất hiện. Bà ta thích thú đứng nhìn tôi vật lộn với còn bò một một lúc rồi mới dụ nó đi bằng một nhúm quả rừng xanh dương chín mộng. Con bò mắt sáng rỡ phủi đít quay đi, bỏ lại tôi trong tình trạng bấy nhầy bực mình không chịu nổi.

Tại con bò mà tự dưng phải đi tắm. Giờ thì chẳng biết lấy quần quần áo sạch đâu mà mặc.

Sau khi dẫn con bò ra xa chỗ tôi, người đàn bà cầm cái chăn mà chúng tôi đã từng dùng để gói nến, bảo tôi:

" Con bẩn rồi. Mau theo ta ra suối để ta tắm cho con nào. "

Không đời nào, tôi cáu kỉnh, dù chỉ là đứa trẻ nhưng tôi không muốn bất cứ ai trông thấy mình khỏa thân. Kể cả Fig, cả cô Bennett, cả bác Paul.

" Thôi ạ, bà để cháu tự đi. "

Tôi cầm cái chăn đi ra suối, nhưng người đàn bà cứ nhất mực đi theo mặc cho tôi đã từ chối nhiều lần. Đây là lần đầu tiên sau khi đến xứ sở này, tôi cảm thấy phiền hà và cáu bẩn đến như vậy.

" Con không thể đi một mình được đâu! Nguy hiểm lắm! "

" Cháu đã bảo là cháu không thích rồi mà! Bà ra kia ngồi đợi đi! ", tôi hét lớn.

Người đàn bà ngay lập tức sượng trân. Nụ cười trên môi bà ta dần tắt ngủm, thay vào đó là vẻ mặt nhăn nhúm như thể đang nặn nước mắt rơi ra.

Bỗng dưng tôi thấy cực kỳ tội lỗi.

Rõ là tôi chẳng làm gì sai, chẳng hiểu sao phải gánh vác cái tội lỗi này. Vừa hối hận vừa bực mình, cơn giận trong tôi cũng vì thế càng lúc càng sôi sùng sục. Tôi ném trả chiếc chăn cho bà già rồi quay lưng bỏ đi, chẳng nói chẳng rằng, mặc bà ta muốn làm gì thì làm.

Tôi ngồi bên suối hùng hục tát nước lên đầu lên mặt. Cơn giận làm tôi lóa mắt, và tôi quên hẳn chiếc khăn buộc đầu đang vắt lả lơi trên vai. Vậy nên sau vài lần cúi đầu, cái khăn rơi ra theo dòng nước trôi đi đâu mất. Khi tôi thấy bóng dáng cái gì quen quen như cái khăn của mình thì nó đã trôi tít đằng xa, loáng cái đã hoàn toàn mất dạng.

Đệt! Đến cả cái khăn cũng đổ lỗi cho mình!

Tôi bực dọc quay lại đồng cỏ, tìm một gốc cây to rồi ngồi dựa lưng vào đó, để mặc cho áo quần ướt nhem. Người đàn bà thì chẳng thấy đâu, nhưng vậy thì càng tốt, đợi quần áo khô rồi tôi sẽ một mình quay lại Làng Ngã Ba.

Dưới cái nắng hè chói chang, chắc là tôi đã ngủ được một hai giấc. Khi tỉnh lại mặt trước bộ quần áo đã tạm khô (mặt sau thì vẫn y nguyên lúc tôi vừa ngồi ở đó, thậm chí còn in vết hai bờ mông đẫm nước trên mặt cỏ), tôi đứng dậy định đi ngay thì nghe tiếng ai gọi mình.

" Nhóc đi đâu đấy? Hết giận rồi thì đến đây ăn cá nào. "

Cách chỗ tôi ngồi hơn chục mét bỗng dưng xuất hiện một ông anh người ngợm đen đuốc gầy nhom, khuôn mặt hốc hác chỉ còn mỗi da bộc xương, miệng ngặm nhành hoa dại cười hếch lên tận mang tai, tay thoăn thoắt quay một cái gì đó trên đám lửa, làm khói bay mù mịt nhưng cũng tỏa ra cái mùi thơm thơm. Cạnh bên anh ta là người đàn bà dở hơi ấy. Bà ta ngồi khép nép trên một tảng đá nhỏ, chăm chú nhìn vật đang quay trên đống lửa của anh chàng.

Tôi định không trả lời nhưng ông anh lại một lần nữa gọi với theo.

" Không đói bụng à? Không nhanh chân lên là chú mày hết phần đấy nhé! "

" Anh là ai thế? "Tôi hét lớn.

" Chủ của con bò vừa bị chú mày đánh đuổi đây. "

À à, thì ra là anh ta. Giờ thì tôi biết tìm ai để bắt đền rồi. Tôi cóc thèm đến, mà chỉ trả lời.

" Em không có đánh nó. Chính bò nhà anh gây sự trước. Nó liếm sạch tóc em rồi này! "Vừa nói tôi vừa chỉ chỉ cái đầu tròn xoe.

" Thế thì đến đây ăn. Coi như anh xin lỗi. "Anh ta cũng chỉ chỉ tay vào con cá đang nướng và ra hiệu tôi đến gần.

Lẽ ra tôi sẽ không bị cám dỗ dễ dàng như thế. Nhưng mùi cá thơm quá, mà trông mặt ông anh này cũng chẳng có vẻ gì là nguy hiểm. Thế là tôi mon men bước qua chỗ anh ta. Tôi vẫn giận bà già, nên tôi chọn chỗ ngồi bên phía tay còn lại của ông anh, để lỡ bà ta mà khóc thì tôi còn chạy ngay cho kịp.

" Anh lấy con cá này ở đâu thế? "Tôi hỏi.

" Anh không 'lấy' ở đâu cả. Anh bắt được nó. "Anh ta cười tươi rói.

" Ý em là từ đâu anh 'bắt' được con cá này? "Tôi vặn lại. Ông anh này rõ man mát hệt như con bò anh ta nuôi. Tôi có cần biết anh làm gì để có được con cá đâu.

" Từ chỗ con suối em vừa tắm đấy. Em không thấy à? Bọn cá bơi nhiều thế cơ mà. "

" Vâng, em KHÔNG THẤY! "Gì đây? Ông anh này từ đâu chui ra định kiếm chuyện với tôi vậy?

Những tưởng anh ta sẽ bốp chát lại tôi, nhưng anh ta chỉ cười cười rồi tiếp tục quay cá. Con cá chín, anh ta lấy nó xuống để lên chiếc lá sung vĩ cầm. Con cá to vừa bằng cái lá, dài khoảng hai gang tay ông anh. Tức thật! Lớn thế vậy mà tôi lại không nhìn thấy nó!

" Ăn ngay hay đợi nguội? "Anh ta hào hứng hỏi.

" Đợi nguội đi ạ. "Tôi đáp. Giữa đồng không mông quạnh thế này chẳng lấy đâu ra muỗng nĩa cho bà già được. Nếu phải ăn bóc tay thì tôi nghĩ tốt hơn là con cá nên nguội bớt để không làm bà già bị thương. Dù sao thì.. bà ấy cũng lớn tuổi rồi.

" Được thôi. "Ông anh tán thành." Vậy trong lúc đợi nguội, quý bà đây có thể vui lòng hái giúp chúng tôi thêm một ít quả việt quất được không, thưa quý bà? "Vừa nói anh ta vừa quay sang người đàn bà, giọng trìu mến.

" Được thôi, ta rất sẵn lòng. "Bà ta đồng ý rồi lại lẩn thẩn đi đâu mất, tuyệt nhiên chẳng đá động gì đến chuyện ban nãy.

Còn lại hai chúng tôi, ông anh tiếp lời.

" Ổn rồi. Giờ thì đến lượt chú nhóc. Anh phải nói cho chú bé biết rằng anh đây đã chứng kiến mọi chuyện và anh rất không hài lòng về lối cư xử của chú mày. "

" Em chẳng làm gì sai cả. "Tôi đáp, vừa mới quên đi đã lại bực mình.

" Chẳng làm gì sai cả à? Này nhé, có đứa trẻ ngoan nào lại cãi lời mẹ, ném đồ vào mẹ, rồi lại làm mẹ khóc như thế không? May là chú nhóc còn mẹ đấy nhé, chứ mẹ anh thì đã bỏ anh từ lâu rồi. Nên cái việc chú coi thường mẹ như thế làm anh chướng mắt lắm đấy. "

" Bà ấy không phải mẹ em. "Tôi gào lên.

Phỉ phui cái mồm! Vừa nói xong thì tôi chợt nhớ ra bà già rất nhạy cảm với câu này. Tôi ngó trước ngó sau xem bà ta có ở gần đây không. Hình như bà ta đang loay hoay làm gì đó trong bụi rậm, vậy là tôi sửa lại ngay lập tức.

" Ý em là.. bà ấy là.. mẹ.. em. Nhưng em không muốn bà ấy tắm cho em. Anh hiểu không? Em lớn rồi và em có thể tự tắm cho mình. "

" Anh đánh giá cao tinh thần tự lập của nhóc, nhưng so với anh thời anh vừa bị bỏ thì nhóc vẫn còn bé quá. Lại đây xem này, đấy đấy, chú nhóc thấy không? Nhóc còn chẳng đứng đến hông anh. Rồi giờ qua bên đây, một, hai, ba, thấy không? Anh chẳng phải hạng nặng cân mà còn vác nhóc lên như bó rau thế, vậy dưới làn nước suối chảy siết, lỡ xảy chân thì chú nhóc nghĩ chú có trụ lại được không? "

" Nhưng em bị thương, "tôi bắt đầu nghĩ ra một lý do tạm bợ," và.. và.. và anh xem này. Do em bị thương nên mới vây cả máu sang áo váy mẹ đây này. Mẹ em không được tỉnh táo cho lắm, nên em không muốn để mẹ thấy vết thương trên người em. Nếu không mẹ sẽ lại lo lắng mất. "

" Ừ anh hiểu rồi. Nhưng ít nhất chú mày cũng phải nói với anh chứ. Anh là người lớn, và một người lớn tử tế thì sẽ không bỏ mặc đứa trẻ đang cần giúp đỡ. Nếu chú nhờ anh, anh có thể giúp trông nom chú bé mà. Vậy thì mẹ chú bé sẽ không cần lo lắng nữa. Và chú bé sẽ không cần gắt gỏng với mẹ như thế. "

" Anh buồn cười thật! Em còn chẳng biết anh là ai. Mà nãy giờ em thấy anh kỳ lạ lắm nhé. Bỗng dưng anh xuất hiện rồi lại quan tâm những chuyện không liên quan đến mình. Rốt cuộc anh muốn gì? "

" Không không, không cần phải đa nghi như vậy. "Anh ta lắc đầu." Sáng nay lúc anh và Lucy đến thì trông thấy hai mẹ con nhóc. Bà phu nhân hỏi anh có gì cho chú nhóc ăn không, bà ấy sẽ trả anh một viên trân châu. Anh bảo anh không có, và trân châu anh cũng không cần. Nhưng anh biết chỗ có thể tìm thức ăn, và anh chỉ bà ấy bụi việt quất mà anh vẫn thường nhấm nháp. Bà phu nhân hái được một ít cho chú bé nên bà ấy vui lắm. Nhưng anh nghĩ tầm đó thì ít quá, thế là anh ra suối bắt một con cá cho mẹ con chú. À, có cái này anh nghĩ là chú nhóc sẽ thích- "

Vừa nói anh ta vừa lôi trong túi quần ra mảnh vài màu xanh xanh.

" Ôi trời, cái khăn buộc đầu của em. "Tôi thốt lên, vui mừng cầm lấy cái khăn từ tay ông anh. Cái khăn đã khô ráo hoàn toàn và chẳng hề có mùi, hẳn là anh ta đã giúp tôi giặt và phơi dưới nắng.

Nhưng như thế vẫn chưa đủ để xóa đi mối nghi ngờ trong lòng tôi.

" Vậy là bỗng dưng anh gặp một người lạ và anh muốn làm người ta vui để anh bớt rảnh rỗi. Nghe như mặt trời mọc đằng tây. "

Anh ta ngửa đầu cười lớn.

" Anh thích cách nhóc so sánh đấy. Nhưng đó là châm ngôn sống của anh. Cuộc đời này vất vả thế thì giúp nhau một chút có khó khăn gì đâu, nhóc không nghĩ thế sao? "

" Không. Em chỉ thấy anh rất kỳ thôi. "

Ông anh lại cười lớn.

Xem chừng cá đã nguội, người đàn bà cũng đã quay lại mang theo một nắm việt quất trong lòng bàn tay. Chúng tôi chia nhau mỗi người một phần ba số quả mọng, và ông anh bắt đầu xé cá bằng những ngón tay xương xẩu. Phần bụng nhiều thịt ít xương anh ta chia cho người đàn bà, phần đuôi bé hơn anh đưa nó cho tôi, còn bản thân chỉ ăn đầu cá và một ít thịt cổ còn sót lại.

Bà già vẫn chẳng nói gì, chỉ lặng lẽ nhường tôi phần bà.

Tôi biết nhưng vẫn ra vẻ không quan tâm. Tôi sẽ chỉ ăn đúng phần mình được chia thôi.

" Nào, trước khi dùng bữa, kẻ tôi tớ này đây có đôi điều muốn trình bày. "

Ông anh bỗng dưng bắt đầu một bài phát biểu trang trọng bằng giọng điệu rất kịch không hề phù hợp với anh ta.

" Quý bà đây là một người có tấm lòng nhân hậu và thương yêu con vô bờ bến. Nhưng quý công tử đây từ chối tình cảm ấy cũng vì có lý do riêng của mình. Nay quý công tử đã chân thành hối lỗi, vậy theo truyền thống người Hemeti, mời quý công tử nói đôi lời bày tỏ tấm lòng sắc sâu của mình. "

Anh có điên không? Tôi trừng mắt nhìn anh ta. Lẽ ra ngay từ đầu tôi phải bóp chết anh.

" Em không có gì để nói. "Tôi bảo.

" Thôi nào. Mạnh dạn lên chú em. Biết nhận lỗi và sửa lỗi là cột mốc của sự trưởng thành đấy. "Vừa nói anh ta vừa thúc vào khuỷu tay tôi.

Tôi không can tâm. Tôi có phải người Hemeti đâu mà phải tuân theo truyền thống gì gì đó. Vậy mà ông anh nhiều chuyện này cứ tiếp tục thì thào trong kẽ răng, cốt đề bà già không nhìn thấy anh ta đang thôi thúc tôi." Nói đi nào, nhanh lên. "

Nhìn bà già hiền quá tôi có chút không quen. Ngẫm lại ngoài những lúc lên cơn thì bà ta đối xử với tôi không tệ. Chần chừ một lát, tôi hít một hơi thật sâu trước khi cất lời.

" Cháu xin lỗi vì đã hành xử như thế. Mong bà hiểu cho, cháu lớn rồi và cháu cần không gian riêng tư, nhất là khi.. ừm.. vệ sinh cá nhân. "Cảm thấy chưa đủ thuyết phục, tôi lại bắt đầu vẽ chuyện." Cháu muốn trưởng thành mau mau và cháu nghĩ là sẽ tốt hơn nếu cháu học cách tự làm mọi việc, để khi không có bà bên cạnh cháu vẫn có thể chăm sóc bản thân mình. Cháu không có ý làm tổn thương bà và cũng không định khiến bà phải rơi nước mắt vì cháu. "

" Tốt lắm. "Ông anh đứng kế bên vỗ tay như một tràng pháo thưởng." Vậy còn phu nhân? Phu nhân có đồng ý tha lỗi cho quý công tử vẫn còn trẻ dại này không? "

Lúc này bà già mới lên tiếng, lần đầu tiên sau cuộc cãi vã, bà ta mới lại nói những lời ngon ngọt với tôi.

" Con trai yêu quý của ta, làm sao ta có thể giận con cơ chứ. "Rồi bà ta ôm chầm lấy tôi, vỗ về lên lưng tôi như người mẹ đang giỗ em bé." Tất cả những điều ta làm cho con là vì ta yêu con. Tha lỗi cho ta, con yếu dấu. Ta đã không nhận ra rằng việc ta đòi hỏi ở con khiến con không thích. Ta yêu con và ta không muốn mất con. Chỉ cần con đừng rời bỏ ta, từ giờ ta sẽ không ngăn cản con làm điều con muốn nữa. "

Những lời người đàn bà nói, cách bà ta vỗ về tôi, thật sự khiến tôi tin rằng mình là con trai bà trong khoảnh khắc. Nhưng rồi tôi chợt bừng tỉnh. Tôi không phải con bà, và nhiệm vụ của tôi lúc này chỉ là đưa bà về với gia đình của bà thôi. Tôi không cần phải đồng cảm với bà. Tôi chỉ cần làm đúng trách nhiệm của một người tốt và rồi đường ai nấy đi. Chấm hết!

Bà già cứ ôm tôi mãi. Nhưng tôi đói. Nên tôi đánh mắt ra hiệu cho ông anh kết thúc nhanh màn thổ lộ tình cảm sến súa này.

Đã hiểu ý, anh ta tách chúng tôi ra, và sau đó là bữa ăn sáng kỳ cục bắt đầu.

Màn kịch ông anh bày ra kéo dài quá lâu nên con cá đã trở nên lạnh ngắt. Nếu không có sự ngăn cản của tôi, ông anh vô tri đã ném cái đầu cá vào ngọn lửa trở lại và quay cho đến khi nó cháy khét đen. Trông anh ta vừa buồn cười vừa tội nên tôi đã chia bớt cho anh ta một nửa miếng cá của mình.

" Anh ăn đi. Em không thích cá cho lắm. Em thích những quả việt quất này hơn. "

" Không cần lo cho anh đâu chú bé. Lucy và anh thân đến nỗi nó ăn được gì là anh ăn được tất. "Cùng với đó là điệu cười giòn giã.

Chẳng biết anh ta đùa hay đang nói thật. Chắc là không có chuyện anh tranh ăn cỏ với một con bò đâu nhỉ? Tôi nghĩ thầm.

Bữa sáng loáng tí là xong.

" Giờ thì bụng dạ đã no nê. Xin phép tôi được hỏi quý bà và quý công tử đi đâu mà lạc đến nơi đồng không mông quạnh này vậy? "

" Chúng ta đang trên đường đến Trang viên nhà thương nhân Rhodes ở Cathail. "Người đàn bà trả lời.

" Cathail? Đây chính là địa phận Cathail. Nhưng một tên chăn bò như tôi quá thiếu học thức để biết Trang viên nhà Rhodes nằm ở đâu. Nếu quý bà và quý công tử không chê thì xin hãy để kẻ hèn mọn tôi đây chở hai người dạo quanh một vòng thủ phủ, biết đâu sẽ tìm được nơi cần tìm. "Ông anh này có lẽ mơ ước trở thành một diễn viên, vì cách anh ta nói chuyện với bà già nghe phô trương hết sức.

" Anh thôi cái điệu bộ ấy đi được không? "Tôi cằn nhằn." Em sẽ không cưỡi con bò này đâu. KHÔNG BAO GIỜ! "Tôi nhấn mạnh.

Người đàn bà lại có vẻ rất hài lòng. Bà ta lôi cái túi trân châu ra đưa cho anh ta hai viên, nhưng ông anh thẳng thừng từ chối.

" Không cần đâu thưa bà, "anh ta lại cười tươi rói," tuy chỉ là một tay chăn bò nhưng tôi luôn có máu phiêu lưu. Sẵn giúp đỡ bà và chú bé đây, tôi định sẽ làm một chuyến viếng thăm thủ phủ. Ái chà, đã lâu rồi tôi không đến thủ phủ, không biết đường xá có thay đổi gì không. "

Nói rồi anh ta chui vào bụi rậm lôi ra một chiếc xe kéo cũ kỹ nhỏ hơn xe ngựa của bác Paul.

" Con xe kéo này tôi luôn để sẵn ở đây, phòng những lúc cần thì còn có cái mà dùng. "

Con bò Lucy không thích bị gióng vào đòn kéo. Nó cứ lắc tới lắc lui nhưng cuối cùng chiếc xe bò kéo cũng hoàn thành láp ráp.

Kể từ khi xuất hiện, ông anh kỳ lạ này đã không ngừng đưa tôi đi từ bất ngờ này đến bất ngờ khác. Đến cả một chiếc xe kéo mà anh cũng lấy ngay ra được.

" Nào, mời quý bà và quý công tử. Nếu không còn quên thứ gì thì chúng ta khởi hành thôi. "

Chiếc xe bắt đầu lăn bánh.

Suốt quãng đường đi anh chăn bò cứ nghêu ngao hát. Dù tôi chẳng biết bài hát này nhưng tôi biết ngay là anh ta đang hát trật nốt, bởi bình thường chẳng có bài hát nào được viết ra với cái mục đích tra tấn lỗ tai người nghe như thế cả. Tôi vốn chẳng hay nói lời mích lòng, nhưng ngay cái ông anh này thì tôi phải nói cho anh ta rõ.

" Anh chẳng có năng khiếu âm nhạc gì cả. "

" Thế vết thương trên người nhóc sao rồi? Có cần anh xem cho không? "

" Anh be bé cái mồm thôi! "

- - Chú giải --

[1] Đấu thương: Hai kỵ sĩ mặc giáp phục, tay cầm thương, lao vào nhau với tốc độ cao từ hai hướng, kỵ sĩ nào ngã ngựa xem như thua cuộc. Cần lưu ý rằng vào thời trung cổ, trò đấu thương thường được tiến hành với ý nghĩa thách đấu, và người hiệp sĩ phải chấp nhận tham gia để chứng tỏ bản lĩnh đàn ông. Điều đó cũng có nghĩa, phần lớn người chơi bỏ mạng hoặc mang thương tật suốt đời vì cây thương được sử dụng trong trận thách đấu là thương thật. Sau khi bước vào thời đại súng ống, trò này được phát triển thành trò" Cò quay Nga "và trò" Đọ súng tay đôi".
 
3 ❤︎ Bài viết: 0 Tìm chủ đề
Chương 17: Bí mật của tôi (6) - Đích đến đầu tiên

Chiếc xe bò không nhanh cho lắm, nhưng để đi đường dài thì thế này là tốt lắm rồi. Anh chăn bò là một tay khôi hài và lanh lợi. Những câu chuyện cười anh ta kể khiến tâm tính bà già vui vẻ hơn, và chuyến đi cũng đỡ chán hơn rất nhiều.

"Anh này, anh bỏ việc đi chơi xa thế chủ anh có mắng anh không?"

"Nếu ý nhóc là một lão chủ giàu xụ, cau có, chưa bao giờ nói 'cảm ơn' dù chỉ một lần mà chỉ giỏi nghĩ ra những việc trời ơi đất hỡi để người khác phải vắt cổ ra làm.. thì đây," anh ta dừng lại một chút, rồi vỗ lên mông con bò béo tròn đang chậm rãi bước đi với cái đầu lúc lắc. "Xin giới thiệu: Lucy, bà chủ đáng kính của tôi!"

"Anh nói cái gì thế?" Tôi nhướng mắt không khỏi nghi ngờ.

"Bụng sữa này đủ để anh mày phải cúi đầu mỗi ngày với hy vọng vắt đầy một xô đấy nhé. Đừng có mà xem thường một xô sữa. Biết ăn uống cần kiệm thì vẫn dư cả một đống Ben cuối tháng."

Anh ta cười giòn.

"Mỗi lần bà chủ Lucy 'moo' lên với cái mồm nhồm nhoàm là anh hiểu ngay nó đang phì một bãi nước bọt vào mặt anh mà bảo 'cỏ chưa đủ đâu anh bạn, làm việc nhanh lên'. Rồi như thể anh chưa có đủ việc để làm, đôi lúc nó chạy biến đi đâu mất để anh phải chạy tìm khắp nơi vì đột nhiên nó muốn đi chơi. Cỏ già không ăn, cỏ đắng không ăn, chỉ toàn lựa cỏ ngon, đôi lúc còn lén chạy xuống đồng lúa mì mà ăn. Như thế không phải chủ thì là gì?"

Nghe anh ta phân tích mà tôi và bà già phải phụt cười. Phải, thật hiếm có ai lại nhìn ra triết lý cuộc đời từ một con bò như ông anh này.

"Vậy trước khi đi chăn bò anh có từng thử làm việc gì đó đỡ vất vả hơn chưa?" Tôi tò mò hỏi.

Anh chăn bò thoáng ngẩng lên nhìn tôi, nụ cười nở nhẹ như thể vừa nhớ lại một thời oanh liệt nào đó. "Nhóc đừng xem thường anh đây. Trước khi phải đội trời đạp đất đi theo con Lucy béo này, anh từng là một kẻ chạy việc rất mẫn cán bên cạnh ngài Thống Soái đấy nhé!"

"Ngài Thống Soái ư?" Tôi không giấu nổi vẻ kinh ngạc.

"Phải. Một thời anh đã tháp tùng ngài trong những cuộc viễn chinh kéo dài đến tận chân trời góc bể. Chỉ tiếc là sức người có hạn, còn vó ngựa và lệnh hành quân thì chẳng bao giờ biết mệt. Khi đôi chân anh yếu dần và đôi vai không còn đủ sức mang hành trang nữa, anh đành xin lui về làm bếp cho đám lính giữ thành. Một việc tưởng như nhẹ nhàng và yên ổn, nhưng, hỡi ôi.." Anh ta thở dài, như thể hồi tưởng lại một cơn gió đã từng cuốn phăng tất cả.

"Cái thân xác bệnh tật này cuối cùng vẫn thắng được ý chí sắt đá của anh." Anh ta cười nhạt, một nụ cười pha chút tự giễu. "Thế là anh xin giải ngũ. Ngài Thống Soái may thay vẫn thương tình cấp cho anh một mảnh vườn và con bò này. Ngài bảo 'mang nó theo và gáng sống cho tốt vào'. Và nhóc thấy đấy, đến hôm nay anh vẫn sống sót - nhờ vào bà chủ Lucy đáng kính kia."

Anh ta nói đoạn, vừa đưa tay vỗ về con bò như một tri kỷ lâu năm, vừa ngửa mặt cười, như thể tự thấy mình thật may mắn giữa cái cuộc đời bấp bênh này.

"Chắc ngài Thống Soái gì đấy là người tốt anh nhỉ? Em chưa thấy ai nghỉ việc mà được chủ cũ đối xử nhiệt tình như thế kia bao giờ."

Anh chăn bò bật cười khẽ, ánh mắt thoáng chút suy tư. "Phải, so với vị cựu Thống Soái đời trước, ngài ấy nhân từ hơn rất nhiều. Nhưng này, chú nhóc đừng có dại mà nói điều đó trước mặt dân thành Cathail. Người Cathail có thể chấp nhận mất mạng, nhưng sẽ không bao giờ chấp nhận mất đi lòng kiêu hãnh của mình. Đặc biệt là sau cuộc Chiến tranh Núi Mù Sương, khiến lãnh thổ chia cắt và nhà Kerney hưởng lợi, thì việc giao quân đội cho một vị Thống Soái nhân từ không đem lại ích lợi gì hết"

Kerney.. một âm thanh chợt vang lên trong trí nhớ tôi, quen thuộc như thể đã nghe thấy ở đâu đó. Tôi tò mò hỏi, "Em không hiểu. Gia tộc Kerney thì có liên quan gì hả anh? Hai gia tộc đánh nhau giống như Chiến tranh Hoa Hồng ở Anh cuối thế kỷ mười lăm ấy ạ?"

"Trời đất!" Anh chăn bò vỗ tay lên trán một tiếng bốp rõ kêu, như thể lời tôi vừa thốt ra là thứ kỳ quặc nhất trên đời. "Không ai dạy cho nhóc lịch sử à? Lại còn nói linh ta linh tinh gì thế kia?"

Nói rồi anh ta xoay sang bà già, giọng quở trách. "Phu nhân ơi, bà thật bất cẩn quá. Quý công tử đây chẳng biết tí gì về lịch sử Hemeti. Cậu ta có thật là người Hemeti không đấy?"

Bà già lúc này lại làm bộ như chẳng nghe thấy gì.

Tôi thở dài, cố nén ý định cãi lại. "Anh thôi châm chọc em đi. Anh nhìn em xem. Với điều kiện thế này tất nhiên là em không biết rồi."

"Này, thật là một sự xúc phạm đến toàn thể dân tộc Hemeti đấy nhé!" Anh chăn bò vươn người lên như thể chuẩn bị diễn thuyết một tràng dài vô tận. "Nhóc không biết đất nước chúng ta mất đến hơn 20 năm chống lại bọn Rammabit xâm lược khi thành Cathail thất thủ à? Thế còn vụ thảm sát gia tộc Astier? Nhìn mặt chú mày là hiểu, không biết đúng không? Vụ thay thế toàn bộ lãnh đạo các gia tộc thì sao? Vậy thì hẳn là vụ một gia tộc thấp hèn nhỏ bé như Kerney lại dám nuôi quân binh rồi đem quân chống xâm lược chắc chú mày cũng chưa hề nghe qua rồi. Nhờ vụ đó mà tất cả tội lỗi đều đổ lên đầu Cathail, khiến bọn ta phải cắt nửa lãnh thổ phía Tây Bắc chia cho chúng nó."

Tôi vội xua tay, sợ anh ta không vui sẽ ném bỏ chúng tôi giữa đường.

"Anh bình tĩnh đã. Em có được nghe rằng Hemeti mới vừa thoát khỏi chiến tranh chỉ vài năm gần đây, nhưng em không biết rõ chi tiết như thế."

"Thế này thì không được rồi. Khi nào đến thành Cathail anh đây phải tống nhóc cho mấy tay lính tráng ở đấy dạy dỗ một trận ra trò mới được."

Tôi thở dài, "Ơ anh, không phải anh hứa giúp em và mẹ tìm đường đến Trang viên nhà Rhodes sao?"

"Đúng vậy, vừa hay người đứng đầu thành Cathail có thể cho chú mày một ít thông tin đấy."

Nói đoạn, anh ta bỗng mạnh tay thúc dây cương. "Đi nào, Lucy! Nhanh lên, hôm nay chúng ta có việc lớn đấy!"

Con bò tội nghiệp dường như bị giật mình, chạy loạn xạ như thể có ai đang đuổi theo. Nó nghiêng trái, lượn phải, sốc lên rồi lại nảy xuống khiến tôi và bà già phải ôm lấy nhau, run lẩy bẩy như hai con chim sẻ giữa cơn gió lốc. Cuối cùng, thành Cathail hiện ra trước mắt chúng tôi, vững chãi và trầm mặc.


"Chết rồi anh ơi! Em không có giấy thông hành!" Tôi lo lắng nói với anh chăn bò khi vừa trông thấy toán lính gác cổng đang đi đi lại lại từ tít đằng xa. "Họ sẽ không cho chúng em vào đâu."

"Không sao, anh đây lo hết." Anh chăn bò trấn an chúng tôi.

Dẫu anh ta đã buông lời chắc nịch, lòng tôi vẫn thấp thỏm không yên. Nhìn cái bộ dạng nhếch nhác, bẩn thỉu lại thêm những vệt máu khô lem nhem trên quần áo chúng tôi, đến tôi còn cảm thấy đáng nghi ngờ huống chi là bọn lính gác. Cuối cùng, tôi đành bảo bà già ôm chặt lấy mình, rồi cuộn người trong lòng bà như một đứa trẻ yếu ớt, giả vờ ngủ mê để trông cho ra dáng một cặp mẹ con thực thụ.

Khi xe dừng lại trước cổng thành, viên lính gác mặt mũi cau có, giọng khàn khàn dữ tợn cất tiếng hỏi: "Giấy tờ đâu?" Nhưng chưa kịp để chúng tôi trả lời, đôi mắt ông ta chợt sáng lên.

"Ra là Tom à! A ha, lâu quá không gặp chú mày."

"Chào ông anh, vẫn khoẻ chứ?" Anh chăn bò đáp lại bằng điệu bộ rất nhiệt tình.

"Làm sao mà khoẻ được!" Viên gác cổng lớn tiếng. "Từ hồi chú mày đi nhà bếp loạn hết cả lên."

"Đúng vậy! Vẫn là đồ ăn do chú Tom nấu ngon đáo để." Một người khác lên tiếng.

"Tay đầu bếp mới chẳng nấu được cái gì ra hồn cả! Làm cả đám tiêu chảy cả tuần suýt thì đi tong cả lũ."

Anh chăn bò thích chí cười to. "Cảm ơn các ông anh đã nhớ đến thằng bếp tép tôm này. Hôm nào có dịp em đây sẽ lại trổ tài nấu cho các ông anh một bữa thịnh soạn."

"Thế hôm nay chú mày đi đâu đây?"

"Thằng nhóc này bị ngã núi gần chỗ em làm việc. Em đây thấy tội mẹ con nó quá nên đưa vào thành tìm thầy thuốc băng bó xem sao."

"Thế à? Vậy mà bọn này cứ tưởng khẩu vị chú thay đổi rồi chứ?" Rồi cả đám bọn họ cười ồ lên.

"Ha ha. Các ông anh cứ đùa. Em đây thân thể yếu nhớt làm gì có sức mà đổi khẩu vị."

"Biết đâu được. Thằng nhỏ trắng tươi giống mẹ thế kia chắc là chú mày dỗi chứ gì.. ha ha ha!"

Bọn họ lại cười ngặt nghẽo như thể vừa kể một câu chuyện cười xuất sắc.

"Được như thế thì em cũng mừng." Anh chăn bò cười xòa. "Nhưng em không có được cái thế mạnh mẽ oai hùng như mấy ông anh nên phúc phần này đành chừa em ra vậy."

Chẳng cần nghe tiếp đoạn sau tôi cũng hiểu bọn họ đang nói gì. Tôi giả vờ rên rĩ để đánh ý anh chăn bò đi nhanh cho tôi nhờ.

Hết sức thô lỗ! Hết sức bất lịch sự! Điều khiến tôi bực mình hơn cả là cái anh này đúng là kẻ giảo hoạt. Anh ta cứ gió chiều nào nghiêng chiều ấy như thế khiến tôi vừa mới tin tưởng anh ta một chút nay lại nghi ngờ ngay lập tức.

Tôi phải ỉ ôi kêu rên thêm vài lần anh ta mới chịu tỏ vẻ nghiêm túc hơn.

"Mà các anh này, không biết ngài thống soái có ở doanh trại không nhỉ? Em đây có tí việc muốn tâu với ngài."

"Có. Ngài ấy vẫn ở Tháp Bắc đấy."

"Vâng, vậy xin phép mấy ông anh, em đưa mẹ con họ vào thành kẻo trễ nãi việc cứu người. Khi nào xong việc hẹn các ông anh tại Quán rượu Tròn Vo chúng ta cùng đánh chén." Anh chăn bò nói.

Cuối cùng lỗ tai tôi cũng được tư do. Chiếc xe lăn bánh được một lúc, tôi rời khỏi lòng người đàn bà, lên giọng trách mắng.

"'Khẩu vị' anh đa dạng quá nhỉ?'Thân thể yếu nhớt' cơ đấy! Mỗi cái miệng anh cũng đủ giúp anh lên đời rồi thì sợ gì không được hưởng 'phúc phần' nữa."

"Đàn ông là thế. Khi chú mày lớn chú mày cũng sẽ như thế thôi."

"Em cóc thèm trở thành người như thế!" Tôi bực dọc nói.

Suốt cả quãng đường còn lại đi Tháp Bắc, tôi không nói với thêm một lời nào. Người đàn bà lại ho xù xụ. Có lẽ không khí ở đây không được tốt, khiến chứng ho kinh niên của bà ta lại được dịp tái phát. Tôi vuốt lưng cho bà già. Nhìn bà ta thế này, tôi mới buông một lời nhắc nhở nhẹ nhàng.

"Anh đừng giống họ. Đừng nói thế trước mặt người anh yêu nhé. Cô ấy sẽ buồn lòng lắm đấy."

"Kẻ tật nguyền này làm gì có cơ hội được cô ấy để vào mắt. Chú cứ khéo lo."

"Sao anh cứ phải bốp chát với em thế nhỉ? Cô nào xui xẻo rơi vào tầm ngấm của anh thế? Xinh không? Cô ta có xem thường anh như cách anh và mấy người bạn của anh xem thường phụ nữ không?" Tôi hét lên.

Chẳng đoái hoài gì đến phản ứng giận dữ của tôi, anh ta vẫn cười cợt.

"Nhóc mà cùng bàn mấy chuyện này à?"

"Chứ sao? Em lớn rồi. Sợ gì chứ!"

"Xinh. Rất xinh. Không một tiểu thư danh giá nào ở vùng Cathail có thể sánh được vẻ xinh đẹp của cô ấy."

"Thế thì xui. Quá xui cho cô ta." Tôi lầm bầm.

"THẰNG LÕI KIA!" Lúc này anh chăn bò đã phát bực. "Không được nói cô ấy như thế!"

"Anh nói mẹ con em được mà em không được phép nói lại à? Anh là người lớn nghĩa là anh đúng hết hay sao? Còn em là con nít nghĩa là em sai hết hay sao?" Tôi sừng cổ cãi lại.

Chiếc xe bò phanh gấp làm thùng xe giật nảy lên. Người đi đường đều đổ dồn mắt nhìn chúng tôi. Nhưng giờ phút này thì quan tâm người ta dòm ngó làm gì. Tôi cứ muốn dằn mặt anh ta đấy.

Đột nhiên, anh ta nhảy phắt khỏi con xe bò, quay lại túm cổ áo tôi.

"Anh CHƯA BAO GIỜ.." anh ta gằng giọng, ".. CHƯA BAO GIỜ anh nói một lời nào xúc phạm hai người! Đừng có mà đánh đồng anh với những người khác. Anh rất tôn trọng mẹ con chú mày. Có ai lại đánh xe đưa người không quen biết đi xa thế này không? Ngoài anh ra chú mày có thấy ai khác làm thế không? Nghĩ kỹ xem! Dùng cái đầu mà suy nghĩ đi! Mở con mắt cho to ra và nhìn đi! Nhìn xem bộ dạng chú mày đang như thế nào!"

"Thôi ngay!" Lúc này bà già mới lên tiếng cắt ngang hai chúng tôi. Khuôn mặt bà ta tối sầm, hơi thở gấp gáp, chẳng nói thêm gì nữa mà nặng nhọc giơ tay lên.

Ngay lập tức, bà ta buông một cú tát trời giáng.

Bà ta tát tôi.

Bà ta TÁT TÔI.

Bà già ấy TÁT TÔI!

"Con không được cư xử như thế! Người nhà Rhodes không cư xử như thế! Con trai của Reytlor không cư xử như thế! Ta không có phép con hỗn xược phách lối như vậy. Con không giống thằng già Wilmot. Con không giống lão. Con trai ta không được phép giống lão." Bà già lại phát điên la hét ầm ĩ.

Tôi ôm chặt bờ má sưng tấy đau rát mà chết trân. Tôi biết bà ta điên. Nhưng tôi không ngờ bà ta điên đến mức ra tay đánh tôi.

Anh chăn bò cũng sốc trước cảnh tượng này. Anh ta cứ đứng yên đó nhìn hai chúng tôi. Người kéo đến xem ngày một đông. Trong đám người tụ tập như kiến săn mồi có tiếng reo hò "Đánh nữa đi!", "Đánh cho nó khôn ra!", rồi còn "Cắt lưỡi thằng nhóc láo toét ấy đi!". Bà già lại càng mất bình tĩnh. Bà ta bắt đầu vò đầu bứt tay, rồi lại lên cơn ho nặng đến ngã khỵu. Anh chăn bò nhanh chóng đỡ lấy bà ta, dìu bà ta ngồi xuống.

Tôi nhìn hai người họ, rồi nhìn lũ người man rợ không liên can cứ đổ dầu vào lửa xung quanh. Nước mắt tôi bắt đầu rưng rưng. Tôi không khóc vì đau, mà khóc vì vừa thẹn vừa giận. Cả một đám người lớn hùa vào bắt nạt một đứa trẻ con..

Bỗng nhiên, từ đâu tôi nghe thấy tiếng một người đàn ông dõng dạc.

"Làm loạn gì thế Tom?"

Người vừa bước ra từ ngọn tháp trên cao đang nhìn xuống chúng tôi. Người đó có hàng ria mép rậm rạp, mặt chiếc áo choàng màu xám, đầu đội mũ giáp sắt có sừng. Trong phút chốc, ông ta dang tấm áo choàng như đôi cánh chim, phi thẳng từ trên ngọn tháp xuống như trong phim siêu anh hùng, rồi đáp đất với tư thế cuối người ngoạn mục.

Ông ta đưa mắt nhìn một lượt tất cả chúng tôi, rồi dừng lại ở người đàn bà.

"Katherine? Katherine Mayer Rhodes?"
 
Chỉnh sửa cuối:
3 ❤︎ Bài viết: 0 Tìm chủ đề
Chương 18: Bí mật của tôi (7) - Trang viên Rhodes

Bốn vòng tròn kim loại cồng kềnh vác trên mình một cỗ xe sang trọng đang lọc cọc lăn bánh trên con đường đầy sỏi đá. Trái ngược với khung cảnh nhộn nhịp của phố phường, bên trong chiếc lồng bọc vải cao sang là người đàn bà già cỗi đầy căng thẳng nhìn vào một điểm. Bà ta cố giữ vẻ bình tĩnh trong dáng ngồi đoan trang, nhưng những ngón tay không ngừng cọ vào nhau làm bong lớp da khô tróc đến tứa máu. Đôi khi tôi nghĩ, thà rằng bà ta quằn quại trong những cơn ho dai dẳng có khi lại tốt hơn, bởi đó dường như là liều thuốc duy nhất ngay lúc này kéo bà khỏi những suy tưởng triền miên để rồi lại tự làm tổn thương chính mình theo cái cách điên rồ này.

Chẳng thể giúp được gì, tôi chỉ đành xé vài mảnh áo nhỏ cũ mèm bọc lên những vết thương đang không ngừng nhỏ giọt.

Chúng tôi mất thêm nửa ngày đường, từ lúc nắng còn bốc khói trên đỉnh đầu cho đến khi bóng chiều ngã đen trên chiếc chảo ngập dầu vàng rộm. Khung cảnh bên ngoài dần yên bình hơn, dọc hai bên đường là những ngôi nhà nông thôn được bao quanh bởi hàng rào đá và những cây sơn trà trĩu quả vươn cành thành tán rộng vượt hẳn ra khỏi hàng rào. Vài đứa trẻ vừa đi bắt ếch về, trông thấy cỗ xe khiến chúng tròn xoe đôi mắt nô nức đuổi theo chúng tôi một quảng rất xa.

Cỗ xe dừng lại phía trên một ngọn đồi. Viên thống soái trèo xuống khỏi lưng con ngựa phía trước rồi bước đến đỡ lấy tay người đàn bà sau khi tấm màn lối vào đã được buộc cố định lên khung sắt. Nhưng bà già giằng mạnh tay ra và đáp trả người đàn ông bằng đôi mắt giận dữ đầy vẻ khinh miệt, y như cái lúc ông ta cố đỡ bà lên xe vào ban sáng.

"Tránh ra!" - Bà gằn giọng.

Người đàn bà rắn rỏi xách nhẹ chiếc váy lấm lem, tự bước đôi bàn chân run rẩy xuống từng bậc gỗ. Phải đến khi thực sự đặt chân lên lối đi lát đá bám đầy rêu và cỏ dại, tôi mới bàng hoàng nhận ra phía sau cổng rào là một vườn cây cối um tùm và rậm rạp như thể đã bị quên lãng từ lâu. Giờ mà mở cái cổng ấy ra chưa chắc có thể tìm ra được hướng đi đúng đắn. Thấy thế, anh chăn bò nhặt một nhánh cây khô dài vươn trong bụi rậm, vừa tiến về phía trước vừa dò từng viên đá lát đường. Hết tán cây này đến tán cây khác cứ lướt qua mặt chúng tôi, có cái mềm mại như lông hồng, có cái gai góc làm xước da đến rỉ máu.

Đi đường xa làm cổ họng tôi hơi khô rát, nên trông lúc hai người đàn ông đang loay hoay giữa đám rừng, tôi kéo người đàn bà đến chỗ cái bệ cao trông như cái đài phun nước dành cho chim đã trở nên đen nhẻm. Người tôi hơi thấp nhưng cũng đủ để nhón chân xem thử nước còn chảy hay không. Nhìn vào thành bệ, ngoài đất và bụi chẳng thấy bóng dáng một miếng rêu nào, vì vậy tôi đoán chắc cái vòi bị hỏng từ lâu lắm rồi.

Có tiếng ngài thống soái kêu tên người đàn bà, chắc họ đã nhận ra chúng tôi bị tuột lại phía sau. Tôi kéo tay áo bà già và tặc lưỡi.

"Thôi bà ạ. Chúng ta đi tiếp xem sao."

Nhưng người đàn bà cứ đứng như trời trồng, ánh mắt dõi về cái mái nhà nhọn hoắc nhô lên nền trời phía sau đám dây thường xuân, trên đó vẫn còn một lá cờ rách tươm phấp phới bay trong gió. Thì ra đám dây leo đã ngụy trang cho khối công trình trông không khác gì một cái bồn cây siêu lớn. Men theo bờ tường, tôi vòng thử ra sau và bắt gặp bậc thêm đá vừa dài vừa cao, tiếp đó là một khoảng không đen ngòm tan hoang và đổ nát. Sau lưng tôi, người đàn bà với đôi mắt vô hồn đang cố bước lên bật thềm mặc cho tôi ngăn cản. Lẽ nào..

Nhìn từ bên ngoài, lối vào nơi từng là sảnh chính đã mất đi cánh cửa dùng để che chắn bên trong, làm lộ ra sàn nhà đầy gỗ mục và gạch vỡ, cùng hành lang dẫn sang những gian phòng khác cũng xuống cấp không kém. Càng tiến sâu, tàn tích từ những món đồ gia dụng hỏng hóc lộ ra từ mọi ngóc ngách dưới cái ánh sáng nhá nhem. Và tôi đã phải kinh hoàng hét lên khi một cái đầu người đột nhiên rơi xuống từ bên trên cầu thang dẫn lên lầu ngay khi tôi vừa đặt một chân lên đó.

Đệt! Lẽ ra tôi phải kiếm cớ đau bụng và chuồn về với Fig ngay trước khi họ lôi tôi vào cái đống của nợ này! Ngay từ đầu tôi đã thấy chỗ này có gì đó sai sai rồi. Chúng tôi đang đi tìm trang viên nhà Rhodes chứ có phải đi khám phá nhà ma đâu!

Tôi cứ thế cắm mặt chạy một mạch theo lối cũ ra ngoài không dám quay đầu lại. Nhưng xui thay, chắc vì nghe thấy tiếng hét của tôi nên hai người kia đã quay lại và va phải tôi ở ngay chỗ cái đài phun nước. Ngài thống soái lập tức nắm chặt vai tôi không để tôi có cơ hội trốn thoát.

"Sao thế? Phu nhân đâu?"

"Trong kia." Tôi chỉ ngón tay run cầm cầp về phía tòa nhà.

Người đàn ông vừa buông tôi ra để lao theo hướng đó thì anh chăn bò đã tức tốc túm lấy tôi.

"Chuyện gì vậy? Nhóc sao thế?"

Tôi hoảng loạn gỡ tay anh ta ra.

"Anh gạt em! Anh bảo đi trang viên nhà Rhodes mà anh dẫn tụi em đi đâu thế này? Anh có biết cái nhà đó có người chết hay không? Không biết chừng kẻ sát nhân vẫn còn lảng vảng bên trong kia kìa! Em xin lỗi nhưng em phắn trước đây, anh cũng phắn chung luôn đi. Chuyện của họ không liên quan đến chúng ta!"

Đã nói đến thế mà cái anh này vẫn còn ngơ ngác chưa hiểu chuyện gì. Bàn tay anh ta càng siết chặt.

"Nói nhảm gì thế? Còn mẹ em thì sao?"

Tôi bực mình quát.

"Anh buông ra! Em có phải con bà ấy đâu!"

Trong lúc hai chúng tôi vẫn còn giằng co thì đột nhiên có tiếng gì đó phát ra từ đám dây leo thường xuân bám trên bức tường. Như một con chuột nhắt, tôi co rúm người núp sau lưng anh chăn bò, lòng thầm cầu trời khẩn phật không phải bỏ mạng tại đây.

"Không sao không sao. Nhìn kìa!"

Giữa những tiếng sột soạt không ngớt, anh này cứ vỗ vỗ lên đầu tôi buộc tôi phải len lén giương đôi mắt nhìn lên đám dây leo bám chặt trên tầng hai. Có thứ gì đó giống như kim loại phản chiếu ánh sáng đang di chuyển thành hình chữ Ⅰ. Không lâu sau, mảng tường chỗ đó đột nhiên bật mở, thì ra là một ô cửa sổ đã bị che khuất bởi đám thực vật xâm lăng. Cánh cửa bật ra mạnh đến nỗi va vào tường, khiến một trong hai cánh gãy bản lề và rơi thẳng xuống đất vỡ tan tành.

Người trưởng đoàn nhoài người ra khỏi đó, đoạn ra hiệu bằng cách ngoắc tay.

"Tom, lên đi."

"Vậy thôi, tạm biệt!" Tôi vừa quay người chưa được hai bước đã bị nắm cổ áo lôi sềnh sệch trở vào trong ngôi nhà gớm ghiếc.

"Có anh ở đây chú mày sợ cái gì?"

Đành thôi vậy. Trời cũng tắt nắng rồi. Bảo tôi một mình băng qua đám rừng kia tôi cũng sợ, thà rằng cứ ở lại bên ông anh này còn hơn. Hình như ngày xưa anh ta cũng từng đi lính mà nhỉ?

Bỏ qua tầng trệt giờ đã tối tăm và âm u như cái hũ nút, hai chúng tôi lên thẳng cầu thang nơi có ánh đuốc và tiếng ngài thống soái. Trời ơi, cái đầu vẫn chưa được che lại. Và khi bước đến bậc thang cuối cùng, tôi trông thấy phần còn lại của thi thể nằm vắt ngang hành lang, nửa cái cổ trống trơn ló ra lan can đã khô đét không còn một giọt máu.

Người đàn ông chĩa kiếm về hướng hành lang ngược lại, cái hướng mà cho đến tận lúc ra khỏi đó tôi vẫn không có can đảm nhìn thử xem sao.

"Bọn tù vượt ngục thanh lý nhau. Dám để chuyện này xảy ra trong địa phận Cathail chắc là lũ Chánh Quan chán sống rồi nhỉ?"

"Có cần báo tin cho người dọn dẹp không ạ? Dù sao đây cũng là dinh thự nhà Rhodes.."

Viên thống soái ra hiệu im lặng trong lúc đẩy cửa căn phòng cuối cùng. Bên trong đã được thắp nến vàng rực, có một cái bóng lắc lư qua lại hắt trên bức tường, cùng với đó là tiếng hát phụ nữ nghe sao thật thê lương.

Người đàn ông càng đi xa thì chỗ hai chúng tôi càng tối. Tôi không muốn đi sau chót vì thường những kẻ này sẽ thành vật hy sinh đầu tiên. Vì vậy, tôi đành buông tay anh chăn bò, chạy vào kẹp giữa hai người họ và bước vào trong căn phòng.

Người đàn bà đang bế một cái gì đó trông như con búp bê, ngồi đung đưa trên cái ghế bập bênh kêu kẽo cà kẽo kẹt cạnh cái giường công chúa và một chiếc nôi mây. Ngoài những thứ đó ra, căn phòng chẳng còn mấy đồ đạc còn nguyên hình nguyên trạng nữa. Nhưng những gì còn sót lại của những mảnh rèm mục nát chứng tỏ rằng người trước kia từng sống trong căn phòng này đã từng là một cô tiểu thư lớn lên trong nhung lụa.

Ba chúng tôi cứ đứng đó như những chàng lính ngự lâm cùng nhìn về một hướng. Phía trên bức tường đối diện, khuất sau một tấm rèm rách là bức tranh một thiếu nữ xinh đẹp dù đã phai mờ đi ít nhiều. Tôi đoán lý do nó vẫn còn ở đó mà không bị khoắng đi như những thứ có giá trị khác là vì câu chuyện về người đàn bà này chăng? Tôi cũng không rõ nữa.

Đợi người đàn bà hoàn toàn kiệt sức và ngừng hát, ngài thống soái bế bà ta lên nằm gọn gàng trong cánh tay ông. Rồi chúng tôi men theo đường cũ quay lại cỗ xe ngựa, tiếp tục cuộc hành trình xuyên qua màn đêm bất định.
 
3 ❤︎ Bài viết: 0 Tìm chủ đề
Chương 19: Bí mật của tôi (8) - Lâu đài Cathail

*Lưu ý: Truyện lấy bối cảnh giả tưởng. Mọi xưng hô trong truyện đều KHÔNG tuân theo quy tắc chính thống phương Tây.

Chiếc rèm cửa sổ bay phần phật khi cỗ xe lao nhanh trong gió phát ra thứ âm thanh thật khó chịu. Tôi gối đầu bà già lên tấm nệm lót bệ ngồi, nhanh chóng tháo cái rèm và quấn nó quanh người cho đỡ lạnh. Giữa mùa hè mà vùng đất này vẫn còn mắc kẹt trong khối khí se lạnh của nàng xuân, khiến bộ đồ rách rưới của tôi chẳng khác gì một chiếc áo phông giữa mùa đông buốt giá. Khi đã giữ được ấm người, tôi lại ngồi vào chỗ cũ, đỡ lấy đầu bà già đặt lên đùi tôi. Thế này thì không sợ bà ấy ngã.

Cảnh vật hai bên đường là hai thể đối cực. Bên trái là những bóng cây đen ngòm vùn vụt lướt qua dòng sông yên ả sẫm màu xám xanh đang soi bóng ánh trăng trên mặt nước. Bên phải là vách đá dựng đứng đâm thẳng lên trời, tạo nên tấm canvas sần sùi và bức tranh bóng người trong cái lồng sắt méo xệt không ngừng nhấp nhô dưới ánh sáng ngọn đèn dầu vàng vọt.

Ổ bánh mì, hũ mật ong, vài củ cà rốt từ thùng trang bị dưới bệ ngồi đã cứu cánh cho chúng tôi rất nhiều, cả tôi, cả bà già, cả anh Tom và con ngựa đánh xe không-phải-của-ảnh. Ngài thống soái vẫn lạnh lùng thúc ngựa về phía trước, chẳng một lần dừng lại nhìn xem chúng tôi có theo kịp hay không. Nhưng anh Tom là một tay đánh xe có nghề. Chưa một phút nào anh để chúng tôi tuột lại quá xa mà luôn duy trì khoảng cách không quá năm mét theo sau ngài thống lĩnh. Anh bảo chúng tôi rằng sắp về tới lâu đài rồi. Nếu họ không tranh thủ trước khi trăng treo đỉnh núi thì cả bọn sẽ biến thành mồi cho thú dữ.

Bóng dáng lâu đài Cathail hiện lên bên sườn núi khi đêm đã muộn, yên tĩnh và trầm mặc chứ không ồn ào hoa lệ như một công trình cổ kính tương tự tôi từng có dịp đặt chân vào. Mở cổng là toán lính gác đêm, sau đó là khoảng chục người hầu cùng viên quản gia đang đợi ngay lối vào sảnh chính.

"Chuẩn bị phòng cho khách," người đàn ông ra lệnh ngay khi vừa xuống khỏi yên ngựa.

Rồi ông ta bước đến vén tấm màn. Người đàn bà đã tỉnh giấc và bám chặt lấy tôi. Kể cả khi bước xuống bậc thang, kể cả khi viên quản gia mời bà đi theo ông ta về phòng nghỉ cho khách, bà vẫn nắm lấy cánh tay tôi không có ý định tách rời.

"Đứa trẻ thì sao, thưa ngài?" Viên quản gia là một lão già biết đọc vị tình hình. Nhưng những người dưới trướng ông lại không như thế. Khoảnh khắc mấy chị hầu cân đo đong đếm từng xen-ti-mét vải trên người tôi, tôi đã dự đoán cho mình một đêm lạnh căm ủ người trong đống cỏ khô chuồng ngựa.

"Phòng khách khu đông." Đó là một chỉ thị dứt khoát không hề do dự.

"Khu đông?" Lão già cố kiềm nén sự kinh ngạc trong tông giọng. "E rằng thằng bé sẽ gây bất tiện cho tiểu thư Carreen."

"Không sao. Carreen sẽ tự biết phải làm gì," ngài thống soái trả lời.

Khi mấy chị hầu đưa bà già vào trong tòa lâu đài, món hàng đính kèm biết đi vẫn chưa thể rơi ra khỏi dây tag. Tôi bị bà ấy lôi theo trong tình trạng bối rối chưa nắm được tình hình. Vậy là tối nay không phải ngủ chuồng ngựa đúng không?

Giữa sảnh, một cô gái trẻ trong bộ váy đầm lộng lẫy nhún người chào duyên dáng khi chúng tôi đi ngang qua. Tôi tưởng mình nhìn lầm. Nhưng khi ánh mắt chị va phải ánh mắt tôi, chị lại gật đầu chào thêm lần nữa.

Tôi không nhớ mình đã từng trông thấy một người xinh đẹp như thế bao giờ chưa, không chỉ vì mái tóc bạch kim gợn sóng ánh lên dưới những ngọn đèn dầu, mà còn vì đường nét khuôn mặt và dáng hình hoàn hảo đến phi thực. Đôi mắt chị ấy xanh và trong vắt như ngọc be-rin. Sống mũi thẳng tấp khiến khuôn miệng duyên dáng và gò má ửng hồng lại càng thêm thánh thiện. Chiếc váy không bó sát cũng không để lộ phần trên theo lẽ thường, nhưng vẫn thấy rõ vòng eo mảnh khảnh và đôi gò bông đầy đặn được giấu đi dưới nhiều lớp vải. Trang sức được phối hết sức đơn giản vẫn mang đến cảm giác của một nàng thơ.

Tôi cứ nhìn theo cô tiểu thư ấy mãi. Cả lúc lên cầu thang. Cả lúc cánh cửa hàng lang vừa đi qua đã đóng lại. Tôi không hiểu vì sao chị ấy lại lịch sự như vậy. Chị ấy trông quen quá, dường như chúng tôi đã từng gặp nhau ở đâu rồi.

Chị lao đến bên người đàn ông, đặt một nụ hôn lên chiếc mặt nạ sắt. "Papa," chị ấy gọi thế. Thì ra đó là nàng công chúa của vị chủ nhân tòa thành.

Dỗ bà già ngủ trong căn phòng sang trọng kiểu quý tộc là một nhiệm vụ vất vả. Tôi muốn ngắm nhìn dáng vẻ cổ kính xa lạ này thêm một chút, nhưng người đàn bà cứ liên tục nói mơ và không thể sâu giấc, nên mấy chị hầu nhờ tôi cho bà ăn bát súp và bảo rằng nó sẽ giúp bà dễ ngủ hơn. Xong việc, các chị ấy mời tôi ra ngoài nơi mà vài chị hầu khác đang đợi. Họ dẫn tôi đi ngược hành lang tối tăm, băng qua cây cầu nối giữa hai tòa tháp, dừng lại trước căn phòng có cái bàn, tấm gương và một lọ hoa trước cửa.

Căn phòng đẫm mùi nước hoa khiến đầu tôi váng vất, phải bảo mấy chị hầu giúp mở cửa sổ cho bay mùi. Hẳn lúc thi công công trình này, thợ xây đã trộn nhầm tinh dầu với vữa trát tường mới có thể tạo nên cái mùi thơm lừng kinh khủng như thế.

Bữa ăn nhẹ nhanh chóng được mang lên, bày trên bàn là một dĩa trái cây và vài lát phô mát. Sau đó, một cái thùng tắm được đặt giữa phòng, nhỏ như con thuyền mini chắc là không chèo nỗi khi giông bườm ra khơi. Mấy chị hầu thay phiên nhau mang nước lên, không quên mang khăn tắm và trang phục đặt ngay ngắn trên giá. Đoạn tất cả bọn họ lui hết ra ngoài, một chị tiến lại gần bảo tôi cởi đồ để chị ta tắm cho tôi.

"Đừng! Chị về phòng nghỉ ngơi đi. Em có thể tự làm."

Chị hầu vẫn giữ cái nhìn vô cảm. Bằng một giọng lạnh lùng, chị đáp lời tôi như thể chị không nghe thấy tôi nói gì.

"Mời ngài thay ra kẻo nước nguội mất."

Điệu bộ đanh lãnh làm tôi thấy sợ. Tôi cởi đồ và chui tọt vào cái thùng, để mặc chị ta cầm cây gậy có gắn miếng sơ mướp nhúng vào thứ nước xà phòng sền sệch, kỳ cọ hết chỗ nọ đến chỗ kia. Rồi chị ta bảo tôi bước ra để chị lau thêm một lần nước sạch bằng khăn ẩm nhúng vào trong một thùng nước khác. Cuối cùng chị choàng chiếc khăn lớn nhất cho tôi, lau người tôi cũng bằng chiếc khăn mềm như lông thú đó. Chắc vì quen sống cảnh nghèo túng nên tôi đã cảm thán sự mềm mại của cái khăn ấy rất lâu, dù rằng thật ra nó chỉ là chiếc khăn bình thường tôi hay dùng khi còn ở nhà thôi. Nhưng nhờ có nó, tôi đã quên khuấy đi việc không nên để chị ta tắm cho mình thêm lần nào nữa nếu không muốn có một mái đầu thật sự trọc lóc.

Quay lại chuyện chị hầu, bỗng dưng chị ta không mặc quần áo cho tôi mà lại đề nghị lui ra ngoài lấy bộ đồ khác. Được đó. Trông hơi rắc rối nhưng đống dây nhợ trên bộ trang phục không thể làm khó được đứa trẻ từng tự tay làm hàng rào như tôi. Tôi đứng trước gương, tự mình khám phá cách buộc cho cọng dây quần không bung ra nếu lỡ có vận động mạnh. Hình như tôi mặc sai rồi. Tôi cười tủm tỉm, vừa cởi quần vừa xoay ngược nó lại xem sao. Chắc là Fig cũng mặc thế này khi đi học trên thị trấn nhỉ?

Chị hầu quay về, trên tay là một cái đầm hồng và một cái váy ngủ ba bốn lớp. Chị ta bảo tôi thay ra và mặc cái váy ngủ vào. Tôi từ chối.

"Em đâu có mặc cái váy này được!"

"Tại sao cô không mặc cái váy này được?" Chị ta hỏi lại.

"Vì con trai thì không mặc váy," tôi nói.

Ánh mắt nghi ngờ của chị khiến tôi nhận ra rằng mình đã lỡ lời. Chết thật! Nói dối quen mồm! Tôi bối rối nhìn chị không biết phải chống chế như thế nào, lỡ chị ấy mách lại với bà già thì tệ lắm. Thế là tôi vội sửa. "Vì.. em không quen mặc váy."

Tôi tưởng mình sẽ bị mắng, nhưng chị hầu chỉ nhướng mày.

"Cô chắc không?"

"Chắc ạ."

Quy trình cũ lặp lại. Tôi phải đợi bọn họ mang cái thùng tắm và tất cả chỗ nước ra ngoài mới có thể yên tĩnh nhấm nhấp lát phô mai quý giá trên dĩa trái cây. Lúc này tôi đã mệt đừ. Vừa đặt lưng lên tấm nệm giường vừa mềm vừa ấm, tôi mê man chìm vào giấc ngủ từ lúc nào không biết.

Sáng hôm sau, tôi thức giấc và ngỡ rằng mình đang mơ. Không còn cảnh màn trời chiếu đất, thay vào đó là trần nhà trải đầy vải dệt đắt tiền, nệm giường còn sót lại chút mùi nước hoa, cửa sổ mở tung tràn ngập ánh sáng trên tấm thảm trải sàn, tiếng chim hót và tiếng người lao động nghe vừa quen vừa lạ.

Chị hầu mang chậu nước để rửa mặt và thay đồ cho tôi. Bộ trang phục mới hình như được làm từ lụa, họa tiết tinh xảo được thêu bằng chỉ bạc. Lần này có thêm chiếc khăn che đầu phải xếp nếp phức tạp theo kiểu thương nhân mới có thể sử dụng, đó là chị hầu nói thế vì tôi không rõ lắm quy tắc trang phục ở nơi này. Danh tính bất minh của tôi có lẽ đã khiến chị ta bối rối. Chính tôi cũng bối rối không kém khi chị hỏi tôi có muốn đổi sang cái đầm hồng và đội mũ mạng - thứ trang phục thường thấy ở những tiểu thư quý tộc hay không. Chắc là không cần đâu nhỉ? Một con nhóc chăn cừu mà cố tròng người vào thứ phục trang không phải của mình thì lố bịch quá.

Một lúc sau, viên quản gia gõ cửa và bảo rằng ngài thống soái muốn mời tôi cùng bà phu nhân dùng bữa trưa thân mật với gia đình ngài. Lúc này tôi mới nhớ ra, tức tốc theo chân ông già băng qua tòa tháp bên kia xem thử tình hình người đàn bà thế nào rồi.

Đứng từ đầu hành lang tôi đã nghe thấy tiếng đồ vật rơi loảng xoảng, tiếng chửi đổng của bà già và tiếng khóc đau đớn của mấy chị hầu. Cánh cửa phòng bật mở. Một chị hầu ngã sóng xoài bị bà già đè lên người và nắm tóc dựt ra phía sau khiến chị ấy phải quằn quại thét lên. Các chị còn lại ra sức can ngăn nhưng không sao kéo được bà già ra khỏi người chị hầu.

"Con ta đâu? Trả con lại cho ta!" Bà già gầm lên trong đôi mắt long lên sòng sọc.

Mặt chị hầu đỏ gay, nhắn nhúm và giàn giụa nước mắt.

"Mày lại cướp nó đi đúng không? Thứ đĩ điếm! Đồ lăng loàn!"

Viên quản gia xanh mặt ra lệnh một chị hầu nhanh chóng báo tin cho người chủ lâu đài. Đợi ngài thống soái đến e rằng chị kia nguy mất. Tôi cắn môi nhìn cái giường bị lật tung chỏng vó lên trời, những chậu cây vỡ nát tạo thành đống bừa bộn lấm lem trên tấm thảm trải sàn đắt đỏ, rèm cửa rách rưới te tua như cố tình phá hủy bằng chiếc kéo bén ngót. Tôi lau giọt mồ hôi tuôn ra trên trán, quyết định sẽ làm một chuyện động trời.

Tôi gằng giọng hét lớn.

"Mẹ!"

Người đàn bà dừng tay, đôi mắt hung tợn giương về phía tôi.

"Mẹ làm gì thế? Mẹ buông chị ấy ra ngay!"

Bà già vẫn không nhúc nhích. Nhưng đôi mắt đỏ lờm đã dịu đi ít nhiều chứng tỏ cách này có hiệu quả với bà.

"Sao mẹ lại cư xử như thế?" Vừa nói tôi vừa tiến tới gỡ tay bà già. Bà già ngoan ngoãn làm theo chỉ dẫn của tôi và rời khỏi người chị hầu.

"Người nhà Rhodes không cư xử như thế." Tôi lặp lại đúng lời bà từng nói vì chẳng thể nhớ nỗi còn có thể nói gì để bà ta bình tĩnh trở lại.

Bà già bỗng dưng bật khóc. Bà đứng dậy, ôm chặt tôi vào lòng mà nức nở khiến tôi suýt không thở nỗi. Tôi kéo bà ta khỏi căn phòng hổ lốn, ra dấu cho viên quản gia biết đã kiểm soát được tình hình. Chúng tôi được sắp xếp vào căn phòng bên cạnh, nơi bà già được tắm táp sạch sẽ, chải chuốt và ăn vận như một người phụ nữ quý tộc thực thụ. Tội nghiệp mấy chị hầu. Vừa mới bị hành hạ xong lại phải cắn răng cung phụng người đã đánh mình như một bà chúa. Không hiểu ngài thống soái và bà ta có quan hệ gì mà lại hỗ trợ quá nhiều như thế nhỉ?

Bữa ăn trưa khởi đầu hết sức nhẹ nhàng. Trong căn phòng sang trọng đầy hoa và một bàn tiệc ê hề thức ăn, tôi và người đàn bà ngồi một phía, viên thống soái, cô tiểu thư và một thiếu gia trẻ tuổi ngồi phía bên kia bàn tiệc. Chúng tôi bắt đầu ăn mà chẳng nói với nhau quá nhiều trừ những lời khách sáo mời dùng bữa.

Cô tiểu thư trông có vẻ bình thản nhất trong số những người có mặt ở đây. Chị hay cười dịu dàng khi va phải ánh mắt tôi, nhờ người hầu cắt đồ ăn cho tôi và mang sang những món ngon mà cánh tay ngắn ngủn không thể với tới.

Thiếu gia có vẻ là một người lạnh nhạt và ít nói. Từ đầu đến cuối anh ta chỉ giữ mãi một biểu cảm vô hồn và nhàm chán. Chàng thiếu niên này là phiên bản nam của cô tiểu thư, cũng mái tóc bạch kim và đôi mắt màu ngọc be-rin, nhưng không toát lên cảm giác rực rỡ như người con gái ấy.

Người khiến tôi bất ngờ nhất là ngài thống soái vì ngài đã cởi bỏ cái mũ giáp sắt có sừng. Tóc ngài trắng và bộ râu đã hoàn toàn mất màu, khuôn mặt còn có vết chân chim. Nhưng vóc dáng cao lớn và mạnh mẽ khiến ấn tượng ngày hôm qua trở nên vô cùng kỳ lạ. Tôi không thể đoán được rốt cuộc người này vẫn ở độ trung niên hay vừa bước vào hàng ngũ lão niên. Vẻ ngoài oai phong và hành động dứt khoát chứng tỏ ông ta chưa bao giờ lơ là việc rèn luyện cơ thể. Quả không hổ danh người cai quản thành Cathail.

"Katherine, đây là con trai và con gái ta. Ambert Sedric Cathail và Carreen Sedric Cathail."

"Con trai ta, Bradley Rhodes." Bà già ung dung đáp lời.

Màn giới thiệu vội vàng này là thứ kém được tôi mong chờ nhất. Một cảm giác ớn lạnh chạy dọc sống lưng. Ngài thống soái nhìn tôi bằng ánh mắt nghi ngờ. Nhưng ngài không hỏi thêm gì mà chỉ buông một lời bâng quơ.

"Thế à?"

Tôi uống vội cốc nước, cố làm trôi đi miếng thịt gà mắc nơi cuống họng. Cô tiểu thư có vẻ hơi bất ngờ. Chị ấy nhìn tôi, nhìn cha mình, rồi lại nhìn người đàn bà như đang mong chờ một câu trả lời hợp lý. Điều đó càng làm lòng tôi thêm bất an. Bữa ăn này trông vậy mà dở tệ.

Thiếu gia Ambert là người đứng lên đầu tiên sau khi đã hoàn tất bữa trưa của mình. Anh ta xin phép được rời đi vì cần phải duyệt binh. Không lâu sau, lần lượt mọi người đều lau miệng, bữa ăn kinh khủng đã được dọn đi.

"Katherine, ta có thể xin chút thời gian của ngài trẻ Rhodes được không?" Viên thống soái lên tiếng khi tôi khoác tay bà già định dẫn bà đi dạo vườn hoa.

Tôi lén nhìn bà già bằng đôi mắt khẩn khoản. Hãy nói rằng bà cần cháu đi! Hãy nói rằng bà muốn hít thở không khí trong lành! Hãy từ chối ông ta! Bà không thể rời xa cháu cơ mà!

"Nhanh lên. Ta không có nhiều thì giờ đâu," bà ta đáp.

"Ở đây không tiện, mời ngài theo ta." Nói rồi ông ta xoay người bước thẳng ra hành lang.

Tôi nghĩ mình sắp ngất đến nơi rồi. Hôm nay tôi đã uống nước rất nhiều, không hiểu sao môi vẫn khô và miệng thì đắng chát. Biết phải giải thích thế nào cho ông ta hiểu đây? Liệu ông ta có treo cổ tôi lên ngay khi tôi thú nhận rằng mình đã giả vờ là một quý tộc chỉ để làm vui lòng bà già không? Hay ông ta sẽ chặt chân tôi vì đã vào thành mà không có giấy thông hành? Giấy thông hành.. Lẽ nào ông ta nghi ngờ tôi là gián điệp trà trộn vào đất nước này? Trẻ con có được tha không nhỉ? Hay tôi giả vờ điên theo bà già và bám chặt lấy bà ta để chạy tội? Trong lúc đầu óc tôi tràn ngập biển máu của cái ngọn đầu đài, cánh cửa phòng đã đóng lại sau lưng.

Đó là một căn phòng trống không không có cửa sổ, được thắp sáng bằng những ngọn nến le lói dọc hai bên tường. Cuối căn phòng là một chiếc ngai bạc bệ vệ trên bục cao, đằng sau ngai là bức gia huy màu xám tro mang biểu tượng con dê núi và những chiếc rìu chiến.

Hành động hất áo choàng và ngồi lên ngai, từ trên cao liếc xuống bằng ánh mắt sắc lạnh khiến tôi không khỏi rùng mình. Ngài thống lĩnh không còn dáng vẻ bao dung khi ông ta tiếp đãi bà già. Thay vào đó, nét mặt ông ta hiện rõ sự đanh thép và tàn nhẫn nhờ hiệu ứng đổ bóng trong căn phòng.

"Đây không phải nơi ngươi nên đến."

Giọng nói lạnh lẽo giáng xuống đầu tôi như một cực hình. Mồ hôi tôi vã ra như tấm, bàn tay trở nên lạnh ngắt, không biết phải trả lời từ đâu.

"Quân vương có biết việc ngươi rời Rừng Xám[1] không?"

Lại một câu hỏi kỳ lạ. Tôi đang phải vắt óc nghĩ xem có chi tiết nào trong những câu chuyện phiếm mà anh Tom từng kể dùng được vào lúc này không. Kerney? Không. Chiến tranh Núi Mù Sương? Không. Còn gì nữa nhỉ? Vụ thảm sát gì đó? Cũng không nốt. Chết tiệt! Lẽ ra tôi phải hỏi cho bằng hết trước khi để anh ta đi mới phải!

"Ta sẽ tiếp quản vụ việc của phu nhân Rhodes tại đây. Còn ngươi, chiều nay Tom sẽ đưa ngươi về Greywood[2] ."

Câu chuyện đang trở nên vô cùng kỳ lạ. Hình như ngài thống lĩnh đã hiểu lầm gì đó chăng?

"Cháu.. cháu có thể.. về Làng Ngã Ba Van-Ker-Blan được không ạ? Hoặc nếu.. nếu ngài biết đất nước Keria ở đâu, mong ngài cho phép cháu được về nhà."

Sắc mặt đối phương chuyển biến phức tạp đến mức tôi không biết phải mô tả nó như thế nào.

"Ngươi.."

Một khoảng lặng kéo dài đủ bóp chết người ta như bóp chết một con kiến.

"Đó không phải việc ta có thể đồng ý. Ngươi là Greywood. Cả thể xác, cả linh hồn, cả dòng máu chảy trong người ngươi đều thuộc về Hemeti."

"Cháu không hiểu điều ngài đang nói." Tôi nuốt khan, cố tìm cách thích hợp nhất để diễn giải vấn đề này. "Cháu bị lạc. Cháu là người Keria, không phải người Hemeti. Cháu không cố tình nói dối để lừa gạt ngài và bà phu nhân. Cháu chỉ vô tình bị cuốn vào vấn đề của bà ấy thôi. Xin hãy tin cháu. Xin ngài giúp cháu được về nhà. Ngài cũng có con chắc ngài cũng hiểu ba mẹ đang mong cháu về biết nhường nào."

Tiếng cười lạnh lẽo bật ra khiến gai ốc tôi dựng ngược. Ông ta nhíu mày như những ngọn đinh tán đâm thẳng vào mắt đối phương.

"Ngươi có biết tội phản bội sẽ bị xử lý như thế nào ở Cathail không?"

Những ngón tay ông ta nhịp trên thành ghế như đang đếm số nhịp tim đang đập trong lồng ngực kẻ thù.

"Đầu của chúng sẽ được treo trên cổng thành, để quạ tha và toàn bộ dân chúng thành Cathail phỉ nhổ cho đến khi chỉ còn lại hộp sọ dùng để lát đường. Mỗi một tấc đất ngươi đi qua trong thành Cathail là một cái đầu đã rơi xuống. Bọn ta không tắm máu sông Kane chỉ để những kẻ như các ngươi có cơ hội luồn lách sang bên kia biên giới rồi quay lại chà đạp vương quốc này."

Nói rồi ông ta đi thẳng đến chỗ tôi. Dường như thần chết đang đồng hành cùng người đàn ông ấy, gieo rắc nỗi bất hạnh lên người tôi bằng những lời sắc như cung tên.

"Một đứa trẻ bị nuôi dạy sai lệch sẽ trở thành mầm mống ung nhọt trong tương lai. Ta sẽ viết thư cho Quân vương yêu cầu tách ngươi khỏi những kẻ đã nuôi dạy ngươi thành ra như thế này. Quay trở về Greywood và chịu tội trước Quân vương đi. Đó là cách duy nhất ngươi giữ được cái mạng của mình."

Tiếng bước chân như kéo lê cái máy chém ngày một xa dần. Cánh cửa sau lưng mở ra rồi lại đóng. Tôi gục hẳn xuống sàn nhà, những giọt nước mắt đầy phẫn uất rơi xuống lòng bàn tay nặng trĩu. Mới cách đây vài ngày tôi còn tự do chạy chơi trên đồng cỏ, đói thì đào khoai mà ăn, khát thì gục đầu xuống ao mà uống. Tôi chỉ ngồi một chỗ chờ Berry lùa cừu ra thảo nguyên, chờ Fig đi học về, chờ bác Paul mang rau củ sang cho, chờ cô Bennett cắt dùm mái đầu gớm ghiếc. Tôi là cọng cỏ mọc dại bên vệ đường, không gây hại cho ai, cũng chẳng có sức đâu mà gây hại cho người khác.

Cái cuộc sống chết tiệt này!

Tôi đâu có làm gì nên tội với các người!
Cớ sao tôi phải chịu cảnh cực hình khốn nạn này cơ chứ!

-- Chú giải --

[1] [2] Rừng Xám và Greywood, tuy một mà hai. Greywood là tên một gia tộc và vùng lãnh thổ được bao bọc bởi Rừng Xám.
 
Chỉnh sửa cuối:

Những người đang xem chủ đề này

Xu hướng nội dung

Back