

Tác giả:
Nhà thơ Lê Anh Xuân tên thật là Ca Lê Hiến. Ông sinh ngày 5 tháng 6 năm 1940 tại Châu Thành, Bến Tre. Ông hy sinh ngày 24 tháng 5 năm 1968 ở vùng ven Sài Gòn: Ấp Phước Quảng, xã Phước Lợi, huyện Cần Đước, Long An.
Khi nhỏ, ông sống với cha mẹ ở vùng kháng chiến miền Tây Nam bộ. Năm 1952, ông làm việc ở nhà in Trịnh Đình Trọng, thuộc Sở Giáo dục Nam bộ. Năm 1954, nhà thơ theo gia đình tập kết ra Bắc và học ở trường học sinh miền Nam (Hải Phòng), trường Nguyễn Trãi (Hà Nội) và trường Đại học Tổng hợp Hà Nội. Tốt nghiệp Đại học, ông làm phụ giảng một thời gian ngắn tại khoa Sử của trường. Cuối năm 1964, tình nguyện về Nam và công tác ở tiểu ban Giáo dục thuộc Ban Tuyên huấn Trung ương cục rồi chuyển sang công tác ở ngành văn (Hội Văn nghệ Giải phóng).
Tác phẩm:
Thơ: Tiếng gà gáy (thơ, 1965), Có đâu như ở miền Nam (thơ, in chung, 1968), Nguyễn Văn Trỗi (trường ca, 1968), Hoa dừa (thơ, 1971), Thơ Lê Anh Xuân (tuyển thơ, 1981).
Văn xuôi: Giữ đất (1966).
Giải thưởng
Giải nhì cuộc thi thơ của tạp chíVăn nghệ năm 1961 với bút danh Ca Lê Hiến (bài thơ Nhớ cơn mưa quê hương ).
Giải thưởng Nhà nước về Văn học nghệ thuật đợt I, năm 2001.
Cảm nhận về bài thơ: "Gửi miền Bắc"
Bài thơ nói về tinh thần đoàn kết, tình cảm yêu thương của miền Nam dành cho miền Bắc cùng nhau chung sức chống Mỹ cứu nước. Bài thơ: "Gửi miền Bắc" của tác giả Lê Anh Xuân sáng tác bằng tất cả tấm lòng, tình cảm yêu thương chan chứa, đậm tình quê hương. Vẻ đẹp của thiên nhiên, cuộc sống, con người luôn hiện hữu trong tâm trí của tác giả. Dù ở bất cứ đâu thì hình ảnh về quê hương, lòng kiên cường, ý chí, quyết tâm hào hùng của dân tộc trong cuộc kháng chiến chống Mỹ vẫn luôn in đậm trong lòng tác giả. Đến với thơ Lê Anh Xuân, ta sẽ cảm nhận được sức sống mãnh liệt, tình yêu thương chân thật dành cho quê hương, đất nước và con người Việt Nam.
Gửi Miền Bắc
Tác giả: Lê Anh Xuân
Nhà thơ Lê Anh Xuân tên thật là Ca Lê Hiến. Ông sinh ngày 5 tháng 6 năm 1940 tại Châu Thành, Bến Tre. Ông hy sinh ngày 24 tháng 5 năm 1968 ở vùng ven Sài Gòn: Ấp Phước Quảng, xã Phước Lợi, huyện Cần Đước, Long An.
Khi nhỏ, ông sống với cha mẹ ở vùng kháng chiến miền Tây Nam bộ. Năm 1952, ông làm việc ở nhà in Trịnh Đình Trọng, thuộc Sở Giáo dục Nam bộ. Năm 1954, nhà thơ theo gia đình tập kết ra Bắc và học ở trường học sinh miền Nam (Hải Phòng), trường Nguyễn Trãi (Hà Nội) và trường Đại học Tổng hợp Hà Nội. Tốt nghiệp Đại học, ông làm phụ giảng một thời gian ngắn tại khoa Sử của trường. Cuối năm 1964, tình nguyện về Nam và công tác ở tiểu ban Giáo dục thuộc Ban Tuyên huấn Trung ương cục rồi chuyển sang công tác ở ngành văn (Hội Văn nghệ Giải phóng).
Tác phẩm:
Thơ: Tiếng gà gáy (thơ, 1965), Có đâu như ở miền Nam (thơ, in chung, 1968), Nguyễn Văn Trỗi (trường ca, 1968), Hoa dừa (thơ, 1971), Thơ Lê Anh Xuân (tuyển thơ, 1981).
Văn xuôi: Giữ đất (1966).
Giải thưởng
Giải nhì cuộc thi thơ của tạp chíVăn nghệ năm 1961 với bút danh Ca Lê Hiến (bài thơ Nhớ cơn mưa quê hương ).
Giải thưởng Nhà nước về Văn học nghệ thuật đợt I, năm 2001.
Cảm nhận về bài thơ: "Gửi miền Bắc"
Bài thơ nói về tinh thần đoàn kết, tình cảm yêu thương của miền Nam dành cho miền Bắc cùng nhau chung sức chống Mỹ cứu nước. Bài thơ: "Gửi miền Bắc" của tác giả Lê Anh Xuân sáng tác bằng tất cả tấm lòng, tình cảm yêu thương chan chứa, đậm tình quê hương. Vẻ đẹp của thiên nhiên, cuộc sống, con người luôn hiện hữu trong tâm trí của tác giả. Dù ở bất cứ đâu thì hình ảnh về quê hương, lòng kiên cường, ý chí, quyết tâm hào hùng của dân tộc trong cuộc kháng chiến chống Mỹ vẫn luôn in đậm trong lòng tác giả. Đến với thơ Lê Anh Xuân, ta sẽ cảm nhận được sức sống mãnh liệt, tình yêu thương chân thật dành cho quê hương, đất nước và con người Việt Nam.

Gửi Miền Bắc
Tác giả: Lê Anh Xuân
Quê tôi có những mái nhà lá nhỏ
Bên bờ Cửu Long xa cách sông Hồng
Nhưng tuổi thơ trong những giờ sử ký
Theo Quang Trung tôi từng đến Thăng Long.
Nhớ những chiều nhìn về phương Bắc
Thấy xa xa đàn cò trắng bay về
Tôi ngỡ trên lưng cò có chút bùn miền Bắc
Dù cánh cò chẳng bay tới ngoài kia.
Tôi lớn lên giặc ngăn chia đất nước
Nhưng súng gươm đâu ngăn được tình thương
Đâu ngăn được mặt trời đỏ rực
Khi lòng tôi đã hóa hướng dương.
Tôi lắng nghe tim tôi đập vội
"Đây là đài tiếng nói Việt Nam"
Nghe ngoài đó gió mùa đông bắc thổi
Tôi muốn gửi lòng tôi chút nắng Hậu Giang
Tôi vui theo từng mái trường ngói đỏ
Từng vỉa than đen, từng gié lúa vàng.
Tôi đau đớn Mỹ dội bom tàn phá
Tất cả những gì tôi quí, tôi yêu
Dù đèo Ngang tôi chưa từng đến
Thơ bà huyện Thanh Quan tôi đã thuộc lòng
Hoa lá cỏ cây có bị bom cháy xém?
Mái nhà kia dưới núi có còn chăng?
Ôi mảnh đất bốn nghìn năm lịch sử
Đã chôn vùi bao lũ xâm lăng.
Hôm nay lại đánh tan giặc Mỹ
Xác phản lực rơi cạnh mũi tên đồng.
Tôi nhớ mãi từng tên sông, tên núi
Tên những chiến công, tên những anh hùng.
Tin chiến thắng từ quê hương kết nghĩa
Vọng về Nam giục giã những bàn chân
Cả hai miền cùng một ngôi sao đỏ
Cùng ánh trăng soi ngọn súng trường.
Hố bom trong này giống hố bom ngoài đó
Cả hai miền cùng một kẻ thù chung.
Từng tảng đất ở miền Nam phá lộ
Đang chuyển ra miền Bắc sửa đường
Than Cẩm Phả đã cháy bùng ngọn lửa
Bập bùng soi giữa đỉnh Trường Sơn
Ôi miền Bắc nơi lòng tôi yêu quý
Nơi bùng lên một chân lý Bác Hồ
Nơi đang dựng một thiên đường hùng vĩ
Nơi còn đây di chỉ của người xưa
Nơi tôi đã yêu thương từ thuở nhỏ
Trong máu tôi có dòng máu cha ông
Như trái sầu riêng trên dòng sông Nam bộ
Có hương phù sa của nước sông Hồng.
Gửi miền Bắc cả trái tim tôi đó
Ngày ngóng trông, đêm thương nhớ xiết bao
Gửi miền Bắc lòng miền Nam chung thuỷ
Đang xông lên chống Mỹ tuyến đầu.
Bên bờ Cửu Long xa cách sông Hồng
Nhưng tuổi thơ trong những giờ sử ký
Theo Quang Trung tôi từng đến Thăng Long.
Nhớ những chiều nhìn về phương Bắc
Thấy xa xa đàn cò trắng bay về
Tôi ngỡ trên lưng cò có chút bùn miền Bắc
Dù cánh cò chẳng bay tới ngoài kia.
Tôi lớn lên giặc ngăn chia đất nước
Nhưng súng gươm đâu ngăn được tình thương
Đâu ngăn được mặt trời đỏ rực
Khi lòng tôi đã hóa hướng dương.
Tôi lắng nghe tim tôi đập vội
"Đây là đài tiếng nói Việt Nam"
Nghe ngoài đó gió mùa đông bắc thổi
Tôi muốn gửi lòng tôi chút nắng Hậu Giang
Tôi vui theo từng mái trường ngói đỏ
Từng vỉa than đen, từng gié lúa vàng.
Tôi đau đớn Mỹ dội bom tàn phá
Tất cả những gì tôi quí, tôi yêu
Dù đèo Ngang tôi chưa từng đến
Thơ bà huyện Thanh Quan tôi đã thuộc lòng
Hoa lá cỏ cây có bị bom cháy xém?
Mái nhà kia dưới núi có còn chăng?
Ôi mảnh đất bốn nghìn năm lịch sử
Đã chôn vùi bao lũ xâm lăng.
Hôm nay lại đánh tan giặc Mỹ
Xác phản lực rơi cạnh mũi tên đồng.
Tôi nhớ mãi từng tên sông, tên núi
Tên những chiến công, tên những anh hùng.
Tin chiến thắng từ quê hương kết nghĩa
Vọng về Nam giục giã những bàn chân
Cả hai miền cùng một ngôi sao đỏ
Cùng ánh trăng soi ngọn súng trường.
Hố bom trong này giống hố bom ngoài đó
Cả hai miền cùng một kẻ thù chung.
Từng tảng đất ở miền Nam phá lộ
Đang chuyển ra miền Bắc sửa đường
Than Cẩm Phả đã cháy bùng ngọn lửa
Bập bùng soi giữa đỉnh Trường Sơn
Ôi miền Bắc nơi lòng tôi yêu quý
Nơi bùng lên một chân lý Bác Hồ
Nơi đang dựng một thiên đường hùng vĩ
Nơi còn đây di chỉ của người xưa
Nơi tôi đã yêu thương từ thuở nhỏ
Trong máu tôi có dòng máu cha ông
Như trái sầu riêng trên dòng sông Nam bộ
Có hương phù sa của nước sông Hồng.
Gửi miền Bắc cả trái tim tôi đó
Ngày ngóng trông, đêm thương nhớ xiết bao
Gửi miền Bắc lòng miền Nam chung thuỷ
Đang xông lên chống Mỹ tuyến đầu.